Tử Vi Đẩu Số (4-Hết)

Bai 1-4Tử vi đẩu số của Trần Đoàn (bài 4- hết)

CÁCH LẬP ĐẠI TIỂU HẠN

TRONG LÁ SỐ TỬ VI

– Thiên Việt

Trong bài 2 chúng tôi đã hướng dẫn tường tận cách lập thành một lá số Tử Vi, trong bài này là cách lập :

14- Đại, tiểu hạn :

Đã an xong 111 tinh đẩu tọa thủ tại các cung, sau đó ghi các phần đại, tiểu và nguyệt hạn.

A/- ĐẠI HẠN :

Đại hạn cho biết vận mệnh trong 10 năm cát hung. Nên theo Lập cục mà có số tuổi nằm trong đại hạn.

Thủy Nhị Cục ghi số 2  tại cung an Mệnh

Mộc Tam Cục            ghi số 3                      –

Kim Tứ Cục               ghi số 4                      –

Thổ Ngũ Cục            ghi số 5                       –

Hỏa Lục Cục            ghi số 6                       –

Tiếp theo người Dương Nam – Âm Nữ theo chiều thuận, người Âm Nam – Dương Nữ theo chiều nghịch, ghi cung tiếp theo số cục cộng thêm 10, những cung kế bằng số lũy tiến. Như Thủy Nhị Cục là 2, tiếp 12, 22, 32 v.v…

B/- TIỂU HẠN :

Tiểu hạn còn gọi là tuế vận, hạn trong một năm. Ghi tiểu hạn trong cung Thiên bàn sát với 12 cung số.

Cung khởi lưu niên tùy theo Địa Chi năm sinh :

– Sinh năm      Tỵ, Dậu, Sửu     cung khởi là           Mùi

–                       Hợi, Mão, Mùi            –                       Sửu

–                       Thân, Tý, Thìn             –                       Tuất

–                       Dần, Ngọ, Tuất          –                       Thìn

Tiếp theo nam theo chiều thuận, nữ theo chiều nghịch, ghi Địa Chi năm sinh vào, và tiếp tục ghi các hàng Chi theo thứ tự 12 con giáp.

Thí dụ : nam tuổi Mùi, cung khởi lưu niên cạnh cung Sửu, ghi năm sinh là Mùi, theo chiều thuận thì cung Dần là Thân, cung Mão là Dậu cho đủ 1 vòng 12 năm.

Xem tiểu hạn năm nào an thêm các tinh đẩu sau đây vào các cung phù hợp trong năm.

Lưu ý : khi lập số dùng năm sinh, nhưng khi an tiểu hạn (tuế vận), lấy Thiên Can hay Địa Chi năm hiện hành để vận dụng cách vận hành tinh đâu tọa thủ.

– Các tinh đẩu an trong tiểu hạn :

– 12 sao vòng Thái Tuế

– 12 cát tinh gồm Lộc Tồn, Long Trì, Phượng Các, Giải Thần, Thiên Mã, Hồng Loan, Đào Hoa, Thiên Hỉ, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Đức, Nguyệt Đức.

– 9 hung tinh gồm Kình Dương, Đà La, Thiên Không, Kiếp Sát, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú, Hỏa Tinh, Linh Tinh.

C/- NGUYỆT HẠN :

Tức hạn trong tháng. Nam nữ đều từ cung ghi lưu niên tiểu hạn. Khi tính năm muốn xem kể là tháng giêng, đếm nghịch đến tháng sinh, rồi từ cung này kể là giờ Tý, tính thuận đến giờ sinh trúng cung nào tức cung Nguyệt hạn của tháng giêng. Những cung tiếp theo đi theo chiều thuận là tháng hai, tháng ba âm lịch v.v…

Như tiểu hạn, an các tinh đẩu sau đây theo tháng hiện hành : Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Giải, Địa Giải, Thiên hình và Đẩu Quân.

D/- NHẬT HẠN :

Nhật hạn là hạn trong 12 giờ âm lịch, nam nữ từ cung lưu Nguyệt hạn của tháng định xem, tính là ngày 1 theo chiều thuận, cung kế tiếp là ngày 2 quay vòng đủ 29 đến 30 ngày tùy theo tháng thiếu đủ.

Như Tiểu, Nguyệt hạn an các tinh đẩu sau đây theo ngày hiện hành : Ân Quang, Thiên Quý, Tam Thai, Bát Tọa.

Bảng dưới đây là hình minh họa cho một lá số mẫu.

A tuvi mau

LUẬN VỀ CÁC TINH ĐẨU TRONG SỐ TỬ VI

Thời vua Nghiêu (2356 – TK 23 Tr.CN) ông Hy Bá và ông Hòa Bá biết căn cứ vào Mặt trời, Mặt  trăng và các tinh  đẩu để soạn ra lịch, theo tài liệu vào thời gian này cổ nhân mới phát hiện được các sao Hỏa tinh, Thổ tinh, Mộc tinh, Kim tinh và Thủy tinh và 28 sao khác ở bốn phương tức nhóm Nhị thập bát tú.

Xét như thế để đối chiếu các tinh đẩu trong dãy ngân hà với các tên sao trong Tử Vi khác biệt ra sao, vì có sách cho rằng Hi Di Trần Đoàn đã sử dụng hầu hết các tinh đẩu trong vũ trụ vào thuật toán bằng danh-từ-hóa hay là hình-dung-từ để ứng với 64 quẻ trong Chu dịch.

Bai 1-1Nhưng khi so sánh chỉ vài tên tinh đẩu là có sự trùng hợp, còn đa số các tên đều trùng với tên tinh đẩu trong lịch vạn sự, hình thức vận hành cũng không khác các tinh đẩu trong lịch pháp “Hiệp kỷ biện phương thư” của nhà Thanh sau này.

Trong sách của La Hồng Tiên “Tử vi đẩu số toàn thư” (NXB Trúc Lâm – Taipei), cho rằng môn Tử Vi của Trần Đoàn chỉ có 64 tinh đẩu trong 85 tên có trong lá số, được phân tán trong 12 cung, gồm 14 chính tinh, 2 vòng sao Thái Tuế, Bác Sĩ là trung tinh.

– Ngoài 14 chính tinh, 3 vòng Thái Tuế, Bác Sĩ và Trường Sinh chỉ có 2 vòng Thái Tuế, Bác Sĩ là tinh đẩu, còn vòng Trường Sinh chỉ là phần tham khảo để tính sự trưởng thành, vượng, thịnh và suy diệt trong biện chứng thuyết Âm dương Ngũ hành vào các tinh đẩu, ngoài ra vòng Thái Tuế cũng chỉ có 5 tinh đẩu gồm Thái Tuế, Tang môn, Quan phù, Bạch hổ và Điếu khách.

Còn Tuần – Triệt đúng theo nghĩa đen, cũng không phải là tên tinh đẩu, vì theo vòng Trường sinh cứ từ Tuyệt đến Thai qua chu kỳ12 cung tròn một giáp sẽ gặp Tuần, và cứ hết Thập can thì gặp Triệt. Nên theo biện chứng Âm dương là khi khí đã lão thì trong khí sinh ra khí ấu (sự luân chuyển của khí âm dương từ ấu – tráng – lão), như vậy Tuần Triệt chỉ là cái ngưng nghỉ để biến đổi của Ngũ hành.

Tổng cộng lại theo Tử vi đẩu số toàn thư chương Chư tinh vấn đáp luận của La Hồng Tiên (vì chưa dám khẳng định đây là sách của Trần Đoàn truyền lại), trong khoa Tử Vi chỉ có đúng 64 tên sao, gồm :

14 chính tinh, 17 trung tinh của vòng Thái Tuế – Bác Sĩ, cù̀ng 33 phụ tinh là :

– Văn xương, Văn khúc, Tả phù, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Thiên mã, Lộc tồn, Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, Hóa quyền, Hóa khoa, Hóa lộc, Hóa kỵ, Thiên không, Địa kiếp, Thiên thương, Thiên sứ, Thiên đức, Nguyệt đức, Long trì, Phượng các, Thai phụ, Phong cáo, Hồng loan, Thiên hỉ, Tam thai, Bát tọa, Thiên hình, Thiên riêu và Đẩu quân.

Còn NXB Hương Cảng Côn Luân xuất bản năm 1972 của 2 ông Phan Hy Doãn và Dương Nhất Vũ, ghi trong lời tựa đây cũng là sách Tử Vi của Trần Đoàn, do La Hồng Tiên biên soạn từ thế kỷ 15, môn này chỉ gồm 82 tinh đẩu, gồm 19 chính tinh (do cộng thêm 5 tên tinh đẩu là Lộc tồn, Văn xương, Văn khúc, Tả phù, Hữu bật). 63 phụ tinh trong đó gồm đủ 3 vòng Thái Tuế (có 7 tên sao vì thêm Tuế phá, Trực phù), Bác Sĩ (đến 13 sao vì Phi liêm có 2 vị trí trên cung) và Trường Sinh, cùng 28 sao trung tinh và bàng tinh (33 – 5 tinh đẩu đã đưa lên hàng chính tinh = 28) chỉ thiếu Thai Phụ.

Cùng năm 1972 tại Taipei cho ấn hành cuốn “Phi tinh Tử vi đẩu số” cho rằng trong khoa Tử Vi của Trần Đoàn thực tế có đến 110 tinh đẩu. Còn khoa Tử Vi ở nước ta đã phát sinh thêm 26 tên sao khác là :

– Đào hoa, Thiên tài, Thiên thọ, Phá toái, Địa không, Kiếp sát, Thiên y, Thiên trù, Thiên giải, Địa giải, Giải thần, Ân quang, Thiên quý, Cô thần, Quả tú, Lưu hà, Thiên quan, Thiên phúc, Đường phù, Quốc ấn, Thiên khốc, Thiên hư, Lưu niên văn tinh, Thiên la, Địa võng và Hoa cái.

– Vòng Thái Tuế, Bác sĩ và Trường sinh có đầy đủ các tên sao (mỗi vòng là 12 tên sao)

Bai 1-3Còn tại các vùng thuộc lãnh thổ Trung Hoa (Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao), hiện nay trong “Tử Vi Trần Đoàn” có thêm các tinh đẩu rất lạ như :

– Thiên vu (ý nghĩa tính chất : thăng giáng), Thiên nguyệt (bệnh hoạn), Âm sát (tiểu nhân), Phàn an (công danh), Tướng tinh (sự dữ hóa lành), Tuế dịch (thay đổi trong năm), Tức thần (u mê), Tai sát (ưu tư), Thiên sát, Nguyệt sát (khắc cha mẹ, khắc vợ chồng khi nằm trong cung Phụ mẫu hay Phu thê), Chỉ bối (phỉ báng), Hàm trì (đào hoa), Vong thần (đại bại), Tuế  kiện (xui xẻo trong năm), Quán sách (bị tù) và Hối khí (nhiều rủi ro).

– Ngoài ra còn có những tên tinh đẩu không mang một ý nghĩa nào, hoặc đây là sự giải đoán ngay trong lá số, như Thiên tặc, Thiên xá, Ân xá, Hồng diễn, Tử biệt, Sinh khí, Gian thần, Giảo thần, Tử thần, Câu thần, Liêm báo, Lục bại và Thánh tâm.

Qua các phân tích trên, chúng ta thấy môn Tử Vi quá lộn xộn, mỗi thầy chấm số đều cho là đúng, và ai muốn thêm bớt tên tinh đẩu như thế nào vào lá số tùy tiện, khiến cho môn Tử Vi không còn giữ được cái hay lúc ban đầu.

Như vậy bản thân môn Tử Vi đã không có nguồn gốc rõ ràng, tinh đẩu lại quá lộn xộn. Nên việc tin vào lá số Tử Vi đã trở nên mơ hồ !

THIÊN VIỆT

Tử Vi Đẩu Số (3)

H Xem ngayTử vi đẩu số của Trần Đoàn (bài 3)

CÁCH LẬP LÁ SỐ

TỬ VI ĐẨU SỐ (tiếp theo)

– Thiên Việt

B- Nhóm trung tinh và bàng tinh

Nhóm này có 3 vòng sao cần an trước :

1- VÒNG SAO TRƯỜNG SINH : gồm 12 tinh đẩu, an theo Cục (xem phần Lập Cục) :

– Thủy và Thổ cục an Trường Sinh  ở                Thân

– Mộc cục                                           –                       Hợi

– Kim cục                                            –                       Tỵ

– Hỏa cục                                            –                       Dần

Người Dương Nam – Âm Nữ đi theo chiều thuận, người Âm Nam – Dương Nữ đi theo chiều nghịch : an tiếp mỗi cung 1 sao từ Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Tính chất tinh đẩu thuộc vòng Trường Sinh :

– Vòng Trường Sinh thuộc ngũ hành Ấu Tráng Lão, như Ấu mới sinh chưa thể phát huy tính cát hung cao như Tráng đã trưởng thành, hay Lão không còn sức công phá như thời trai tráng.

Thời kỳ ngũ hành Ấu Tráng Lão phải qua 12 cung mỗi cung 30o, để tính Sinh Vượng Tử Tuyệt theo 360o, gặp Thai, Dưỡng, Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng là cát, vì 7 cung này đang ở giai đoạn phát triển từ Ấu đến Tráng, còn 5 cung Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt là hung, do đang ở giai đoạn từ Tráng qua Lão.

– Thai (Thổ) là khí kết tinh khi Âm Dương mới vừa kết hợp. Chủ về thụ thai, mê muội.

– Dưỡng (Mộc) khí đã hình thành (thiếu dương). Chủ về nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ.

– Trường Sinh (Thủy) khí phát triển (thiếu dương còn non). Chủ phúc thọ, bền vững.

– Mộc Dục (Thủy) khí bắt đầu trưởng thành. Chủ tắn gội, làm dáng, dâm dật.

Thuộc Ấu khi từ khí thiếu dương (Thai, Dưỡng) chuyển sang khí thái dương (Sinh, Dục tức đủ lông đủ cánh).

– Quan Đới (Kim) khí bắt đầu tăng trưởng. Chủ về quyền tước, địa vị.

– Lâm Quan (Kim) khí đã thịnh (thái dương đầy đặn). Chủ về khoe khoang, tự mãn.

– Đế Vượng (Kim) khí tráng cực. Chủ về sự thành đạt và thịnh vượng.

– Suy (Thủy) bắt đầu suy yếu, đã qua thời kỳ tráng kiên (thái âm băt đâu phát sinh). Chủ về suy bại, phát tán.

– ThuộcTráng khi khí dương cực thịnh (Đới, Lâm, Vượng) sang suy yếu (Suy).

– Bệnh (Hỏa)  khí đã già nua. Chủ về bệnh tật, suy nhược, yếu thế.

– Tử (Hỏa)      khí đã tận (thái âm đã trưởng thành). Chủ vê đau buôn, chêt chóc.

– Mộ    (Thủy) khi đang hấp hối. Chủ về ngu dốt, lầm lẫn và tang ma.

– Tuyệt (Thổ) không còn dương vì khí âm đã cực thịnh. Chủ về bế tắc, tiêu diệt, giảm thọ.

– Thuộc Lão, khi khí âm hình thành thì khí dương cạn kiệt đến diệt vong (Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, gặp bệnh tật, tuổi già mà chết). Với khí Âm cũng theo chu kỳ này.

2- VÒNG SAO LỘC TỒN : gồm 12 tinh đẩu, tính theo hàng Can năm sinh, an Lôc Tôn :

– Sinh can       Giáp    an Lộc Tồn     tại cung           Dần

–                       Ất                                –                               Mão

–                       Bính, Mậu                   –                             Tỵ

–                      Đinh, Kỷ                      –                              Ngọ

–                       Canh                           –                                Thân

–                       Tân                              –                                Dậu

–                       Nhâm                          –                                Hợi

–                       Quý                             –                                 Tý

Sau đó người Dương Nam – Âm Nữ theo chiều thuận, người Âm Nam – Dương Nữ theo chiều nghịch, mỗi cung 1 sao từ Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tâu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, đến Quan Phủ.

Tính chất của 12 sao Lộc Tồn :

– Lộc Tồn (sao Bắc đẩu, Dương Thổ đới Thủy) : Chủ phúc thọ, quyền lộc. Sao này còn cứu giải được các tai nạn và bệnh tật, nhưng mang tính cô độc.

bệnh tật, nhưng mang tính cô độc.

– Lực Sĩ (Hỏa) : Chủ sức khoẻ, quyền tước. Nếu gặp thêm Thiên Mã đường công danh rất thành đạt.

– Thanh Long (Thủy) : chủ về mừng vui, thịnh vượng, thành đạt. Ảnh hưởng tốt cho việc cầu về hôn nhân cưới hỏi, sinh nở, khai trương. Còn là sao cứu giải các tai ương tật ách.

– Tiểu Hao, Đại Hao (Hỏa) : chủ về phá tán, vì là tinh đẩu thuộc bại tinh.

– Tướng Quân (Mộc) : chủ về uy quyền.

–  Tấu Thư (Kim) : chủ về cầm kỳ thi họa, người có năng khiếu văn chương, thơ phú và đơn từ.

– Phi Liêm (Hỏa) : chủ vui vẻ, nhanh nhẹn, nhưng tính ưa cô độc.

– Hỷ Thần (Hỏa) : chủ về vui mừng. Ảnh hưởng tốt cho việc cưới hỏi, khai trương, thi cử, địa vị.

– Bệnh Phù (Thổ) : chủ về bệnh tật, ốm yếu.

– Phục Binh (Hỏa) : chủ về hình thương, quan sự, âm mưu, đạo tặc (trộm cướp).

– Quan Phủ (Hỏa) : chủ về sự ngăn trở, phiền toái, hay gặp kẻ tiểu nhân phản hại.

3- VÒNG SAO THÁI TUẾ : vòng sao này an theo hàng Chi năm sinh. Nếu sinh vào năm nào thì Thái Tuế an tại cung đó. Như tuổi Mậu Tý, thì Thái Tuế an tại cung Tý.

Tiếp theo nam nữ đều tính theo chiều thuận, mỗi tinh đẩu 1 cung từ Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu khách đến Trực Phù.

Tính chất 12 tinh đẩu của vòng sao Thái Tuế :

– Vòng Thái Tuế là sao hạn một năm, như ông vua cai trị có đủ quyền sinh sát. Thái Tuế chỉ là tên một ngôi sao độc lập, nhưng là thủ lĩnh cả một chòm sao.

Trong thiên văn học sao Thái Tuế là Mộc Tinh (Jupiter), mỗi năm đi qua một cung trên đường Hoàng Đạo, 12 năm đi giáp một vòng quỹ đạo.

Khi Thái Tuế đi qua mỗi cung ứng với một tinh đẩu đang tọa thủ, nó sẽ mang thêm tính chất tăng giảm cường độ hung kiết của mỗi sao :

– Sao Thái Tuế (Âm Hỏa) : Chính tinh, chủ tranh chấp, kiện thưa hay tranh luận.

Và di động 12 năm giáp một vòng qua các vệ tinh :

– Sao Thiếu Dương (Hỏa) : Chủ phúc thiện.

– Sao Tang Môn (Mộc) : Chủ về bệnh hoạn, tang tóc.

– Sao Thiếu Âm (Thủy) : Chủ phúc thiện.

– Sao Quan Phù (Hỏa) : Chủ tranh chấp kiện tụng.

– Sao Tử Phù (Hỏa) : Chủ rắc rối

– Sao Tuế Phá (Hỏa) : Chủ phá tán

– Sao Long Đức (Thủy) : Chủ phúc thiện, giải trừ bệnh.

– Sao Bạch Hổ (Kim) : Chủ hình thương.

– Sao Phúc Đức (Thổ) : Chủ phúc thiện, giải tai nạn

– Sao Điếu Khách (Hỏa) : Chủ về ăn chơi phóng đảng, thích khoe khoang.

– Sao Trực Phù (Kim) : Chủ rắc rối, tang thương.

Gặp năm đúng sao Thái Tuế tọa thủ (vào năm tuổi) sẽ rất xấu, không được động thổ cất nhà, xây mồ mả hay cưới gả, bằng không sẽ gặp tai họa. Còn những năm khác do các vệ tinh cai quản, tùy theo tính cát hung mà tính cường độ tốt xấu; tuy nhiên dù do vệ tinh cai quản nhưng hàng năm vẫn có sao Thái Tuế xuất hiện, nên hung càng hung, còn cát  sẽ làm giảm đi tính chất tốt đẹp.

4- Tinh đẩu theo ba vòng sao :

Theo vòng sao Lộc Tồn : có Bác Sĩ, Kình Dương, Đà La, Đường Phù, Quốc Ấn.

– Bác Sĩ (Thủy) : luôn đồng cung với sao Lộc Tồn. Chủ về sự thông minh, nhân hậu, ảnh hưởng tốt đến việc học hành, thi cữ, giải trừ tật bệnh.

– Kình Dương và Đà La (Bắc đẩu – Âm Kim đới Hỏa) : Kình Dương tọa thủ ở cung trước Lộc Tồn, còn Đà La ở sau cung Lộc Tồn. Thuộc sát tinh rất đại hung, chủ về sát phạt.

– Đường Phù (Mộc) : chủ về uy quyền, đường bệ, giúp cho sự nghiệp thành đạt, nhà cửa thêm cao rộng. Tính cung Lộc Tồn là cung thứ nhất, đếm nghịch 8 cung an Đường Phù.

– Quốc Ấn (Thổ) : chủ về quyền lãnh đạo một bộ phận dưới quyên, rất uy nghi dũng mãnh. Tính cung Lộc Tồn là cung thứ nhất, đếm thuận 9 cung an Quốc Ấn.

Theo vòng sao Thái Tuế : có sao Thiên Không, an ngay sau cung Thái Tuế theo chiều thuận.

– Thiên Không (Hỏa) : thuộc sát tinh, chủ về sự gian manh, xảo trá, phá tán mọi việc.

5- Tinh đẩu theo giờ sinh

– Địa Không – Địa Kiếp (Hỏa) : cả hai đều là sát tinh, chuyên phá tán, gây bênh tât tai họa.

Từ cung Hợi kể là giờ Tý, tính thuận đến giờ sinh an Địa Kiếp, tính nghịch đến giờ sinh an Địa Không.

– Văn Xương (Dương Kim đới Thổ) : Từ cung Tuất kể là giờ Tý, tính ngịch đến giờ sinh an Văn Xương.

– Văn Khúc (Dương Kim đới Hỏa) : Từ cung Thìn kể là giờ Tý, tính thuận đến giờ sinh an Văn Khúc.

Cả 2 sao Xương – Khúc thuộc văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, khoa bảng.

– Thai Phụ và Phong Cáo (Kim) thuộc nhóm bàng tinh, chủ về danh vọng, khoa trương, tự mãn. Trước cung Văn Khúc cách 1 cung an Thai Phụ; sau cung Văn Khúc cách 1 cung an Phong Cáo.

6- Tinh đẩu theo tháng sinh

– Tả Phù : Từ cung Thìn kể là tháng giêng đếm thuận đến tháng sinh an Tả Phù.

– Hữu Bật : Từ cung Tuất kể là tháng giêng đếm nghịch đến tháng sinh an Hữu Bật.

Cả hai thuộc Dương Thổ đới Thủy. Thuộc phù trợ tinh, chủ về trợ giúp.

– Thiên Hình (Hỏa) : chủ về uy dũng, sát phạt, thuộc bàng tinh. Từ cung Dậu kể là tháng giêng, đếm thuận đến tháng sinh an Thiên Hình.

– Thiên Riêu và Thiên Y (đều thuộc Thủy) : Từ cung Sửu kể là tháng giêng, đếm thuận đến tháng sinh an Thiên Riêu và Thiên Y.

Thiên Riêu chủ đa nghi, háo sắc, dâm đảng. Còn Thiên  Y chủ cứu nạn về bệnh tật.

– Thiên Giải (Hỏa) và Địa Giải (Thổ) : Từ cung Thân kể tháng giêng đếm thuận đến tháng sinh an Thiên Giải. Còn Địa giải tính từ cung Mùi đếm thuận đến tháng sinh.

Thuộc bàng tinh nhưng chủ về phúc tinh, giải trừ bệnh tật, tai họa, gia tăng tuổi thọ.

7- Theo tháng sinh và giờ sinh

– Đẩu Quân (Hỏa, còn gọi là Nguyệt Tướng) : chủ về cô độc và sự khắc nghiệt. Từ cung an Thái Tuế kể là tháng giêng tính nghịch đến tháng sinh, rồi kể là giờ Tý tính thuận đến giờ sinh an Đẩu Quân.

8- Tinh đẩu theo ngày sinh

– Tam Thai – Bát Tọa : Từ cung Tả Phù kể ngày 1 đếm thuận đến ngày sinh an Tam Thai (Hỏa). Từ cung Hữu Bật đếm nghịch đến ngày sinh an Bát Tọa (Mộc). Cả hai thuộc đài cát tinh, chủ về sự thanh nhàn, sang trọng.

– Ân Quang – Thiên Quý : Từ cung Văn Xương kể ngày 1 đếm thuận đến ngày sinh, lùi lại 1 cung an Ân Quang (Môc). Từ Văn Khúc đếm nghịch đến ngày sinh, lùi lại 1 cung an Thiên Quý (Thổ). Đều thuộc phúc tinh, quý tinh chủ về sự nhân hậu, từ thiện, có tính giải trừ tai họa, bệnh tật.

Lưu ý : một tháng có đến 29, 30 ngày, nhưng chỉ có 12 cung; nên khi ngày sinh chỉ đến ngày 12 vẫn đếm bình thường, còn chưa đến ngày 24 được trừ một lần 12, và ngày sinh từ 25 trở lên được trừ hai lần 12. Nếu không sẽ đếm theo vòng nhiều lần mất thời gian.

Thí dụ : sinh ngày 19 – dưới 24 – được trừ một lần 12 tức còn 7 (19-12 =7), tính ngày sinh là ngày 7; hay sinh ngày 27 – trên 25, được trừ 2 lần 12 = 24 còn 3 (27-24 =3), tính ngày sinh là ngày 3.

9- Tinh đẩu theo Địa Chi năm sinh

– Long Trì – Phượng Các : Từ cung Thìn kể năm Tý đếm thuận đến năm sinh an Long Trì (Thổ). Từ cung Tuất đếm nghịch đến năm sinh an Phượng Các (Mộc). Cả hai chủ về hỉ sự, thành đạt và phú quý.

– Giải Thần (Mộc) : đồng cung với Phượng Các. Chủ giải trừ tai ương, tật bênh, tai nạn.

– Thiên Khốc – Thiên Hư (đều thuộc Thủy) : Từ cung Ngọ kể năm Tý đếm nghịch đến năm sinh an Thiên Khốc. Từ cung Thiên Khốc đếm thuận đến năm sinh an Thiên Hư. (Lưu ý : Thiên Hư luôn đồng cung với Tuế Phá thuộc vòng sao Thái Tuế). Thuộc bại tinh, chủ về ưu phiền, bệnh tật.

– Thiên Đức – Nguyệt Đức (đều thuộc Hỏa) : Từ cung Dậu kể năm Tý đếm thuận đến năm sinh an Thiên Đức. Từ cung Tỵ đếm thuận đến năm sinh an Nguyệt Đức. Thuộc phúc tinh, chủ về giải nạn.

– Hồng Loan – Thiên Hỉ : Từ cung Mão kể năm Tý đếm nghịch đến năm sinh an Hồng Loan (Thủy), chủ về hỉ sự.

Còn Thiên Hỉ (Thủy), chủ về cầu công danh, cưới hỏi, sinh nở, an ở cung đối với Hồng Loan. Thí dụ : Hồng Loan ở Tý thì Thiên Hỉ ở Ngọ, Hồng Loan ở Thìn thì Thiên Hỉ ở Tuất.

– Thiên Tài – Thiên Thọ (đều thuộc Thổ) : Từ cung an Mệnh kể năm Tý đếm thuận đến năm sinh an Thiên Tài. Từ cung an Thân đếm thuận chiều đến năm sinh an Thiên Thọ.

Thiên Thọ chủ về phúc thiện, gia tăng tuổi thọ. Thiên Tài có ảnh hưởng như Tuần – Triệt, nhưng cường độ không mạnh, gặp sao tốt làm bớt tốt, gặp sao xấu làm cho bớt xấu.

– Cô Thần – Quả Tú (đều thuộc Thổ) chủ về sự cô độc, khắc nghiệt. An theo Địa Chi dưới đây :

Hợi – Tý – Sửu :  Cô Thần ở             Dần –  Quả Tú ở        Tuất

Dần – Mão – Thìn        –                       Tỵ                    –           Sửu

Tỵ – Ngọ – Mùi            –                       Thân                –           Thìn

Thân – Dậu – Tuất      –                       Hợi                  –           Mùi

– Đào Hoa – Thiên Mã – Kiếp Sát – Hoa Cái :

– Đào Hoa (Mộc) chủ vui vẻ, tính hoa nguyệt, lãng mạn.

– Thiên Mã (Hỏa đới Mộc) chủ về tài năng, sự di chuyển, đổi mới.

– Kiếp Sát (Hỏa) chủ về sự bất chính, hay gây tai họa, giết chóc.

– Hoa Cái (Kim) chủ về cái đẹp, duyên dáng, đài các, ảnh hưởng tốt cho đường công danh.

Bốn sao này không cùng nhóm, Thiên Mã thuộc trung tinh, ba sao còn lại thuộc bàng tinh.

An các sao vào cung theo Địa Chi năm sinh theo tam hợp, như bảng kê.

A Dao hoa

– Phá Toái (Hỏa đới Kim) : theo Địa Chi năm sinh tứ xung, an Phá Toái vào cung :

– Tý – Ngọ – Mão – Dậu          ở cung            Tỵ

– Dần – Thân – Tỵ – Hợi                                  Dậu

– Thìn – Tuất – Sửu – Mùi                                Sửu

Sao Phá Toái chủ trở ngại, phá tán tài sản, thất bại.

10/- Tinh đẩu theo Thiên Can năm sinh

– Thiên Khôi (Dương Hỏa) – Thiên Việt (Âm Hỏa) :Thuộc văn tinh, quý tinh, chủ về văn chương, quyền tước. An theo Thiên Can năm sinh sau đây :

Giáp, Mậu      : Thiên Khôi ở Sử̉u – Thiên Việt ở         Mùi

Ất, Kỷ              :           –           Tý                    –                       Thân

Bính, Đinh       :           –           Hợi                  –                       Dậu

Canh, Tân      :           –           Ngọ                 –                       Dần

Nhâm, Quý     :           –           Mão                –                       Tỵ

– Thiên Quan (Hỏa) – Thiên Phúc (Thổ) : là hai quý nhân, thuộc phúc tinh. Chủ về nhân hậu, bác ái, giải trừ tai họa, tật bệnh. Hạn chế được tính ong bướm của Đào Hoa, Hồng Loan và đem lại nhiều may mắn.

An theo Thiên can năm sinh vào các cung :

Giáp    :           Thiên Quan ở Mùi     –    Thiên Phúc ở               Dậu

Ất        :                       –           Thìn     –           –                                   Thân

Bính     :                       –           Tỵ        –           –                                   Tý

Đinh    :                       –           Dần     –           –                                   Hợi

Mậu     :                       –           Mão    –           –                                   Mão

Kỷ        :                       –           Dậu     –           –                                   Dần

Canh                           –           Hợi      –           –                                   Ngọ

Tân      :                       –           Dậu     –           –                                   Tỵ

Nhâm                          –           Tuất     –           –                                   Ngọ

Quý     :                       –           Ngọ     –           –                                   Tỵ

– Lưu Hà, Thiên Trù, Lưu niên văn tinh : Ba sao này không cùng nhóm, thuộc bàng tinh.

– Lưu Hà (Thủy) chủ gian hiểm, tiểu nhân, gây họa, kỵ đường sông nước.

– Thiên Trù (Thổ) chủ về ăn uống.

–  Lưu niên văn tinh (Hỏa)  ảnh hưởng tốt về học hành, thi cử.

Cả ba sao này an theo Thiên Can năm sinh theo bảng được lập sẵn sau đây :

A Luu ha

– Tứ Hoá (gồm Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kỵ) những tinh đẩu này thuộc trung tinh, chỉ có Hóa Kỵ là sao xấu, còn lại đều thuộc sao đại cát.

– Hóa Lộc (Mộc đới Thổ) : chủ phúc lộc

– Hóa Quyền (Mộc đới Thổ) : chủ uy quyền

– Hóa Khoa (Mộc đới Thủy) : chủ khoa giáp, còn là phúc tinh giải trừ tai họa, tật ách.

– Hóa Kỵ (Thủy) : thuộc ác tinh, có tính ích kỷ, hay ghen ghét mọi người, hãn địa còn là kẻ tiểu nhân, phá phách.

An Tứ Hóa vào cung có các tinh đẩu đang tọa thủ theo như bảng dưới.

A Tu hoa

(Ghi chú : Th. Dương : Thái dương. Th.Lương : Thiên lương. Th. Đồng : Thiên đồng)

11- Theo Địa chi năm sinh và giờ sinh

– Hỏa Tinh (Dương Hỏa) – Linh Tinh (Âm Dương Hỏa) : Cả 2 tinh đẩu đều thuộc sát tinh, chủ về phá hoại.

Trước khi an 2 tinh đẩu này, phải tính cung làm chuẩn để an Hỏa Tinh và Linh Tinh. Lấy Địa Chi năm sinh tam hợp tính cung làm chuẩn :

Tỵ – Dậu – Sửu           : Hỏa Tinh ở Mão – Linh Tinh ở        Tuất

Hợi – Mão – Mùi :                   –           Dậu                 –           Tuất

Thân – Tý – Thìn :                    –           Dần                 –           Tuất

Dần – Ngọ – Tuất :                  –           Sửu                 –           Mão

– Hỏa Tinh : Từ cung làm chuẩn kể là giờ Tý. Người Dương Nam, Âm Nữ tính theo chiều nghịch; còn Âm Nam, Dương Nữ tính theo chiều thuận, đến giờ sinh an Hỏa Tinh.

– Linh Tinh : Từ cung làm chuẩn kể là giờ Tý. Người Dương Nam, Âm Nữ tính theo chiều nghịch; còn Âm Nam, Dương Nữ tính theo chiều thuận, đến giờ sinh an Linh Tinh.

12- Tính theo Lục Giáp

– Tuần – Triệt không vong : tính về ngũ hành khi Tuần hay Triệt đóng ở cung nào, thì ngũ hành sẽ mang tên nơi cung đó. Thí dụ : Tuần tọa thủ tại Dần – Mão thuộc Mộc, thì Tuần mang hành Mộc.

Tuần Triệt có đặc tính chế giảm những sao cát, hoặc những sao hung, tức không còn tốt lắm hay không quá xấu.

Sao Tuần theo Can Chi năm sinh trong Lục Giáp :

Tuần không : (đóng giữa 2 cung)

Từ Giáp Tý đến Quý Dậu : Tuần đóng tại            Tuât – Hợi

–     Giáp Tuất  –   Quý Mùi     :           –                       Thân – Dậu

–     Giáp Thân –   Quý Tỵ       :           –                       Ngọ – Mùi

–     Giáp Ngọ   –  Quý Mão   :           –                       Thìn – Tỵ

–     Giáp Thìn   –  Quý Sửu    :           –                       Dần – Mão

–     Giáp Dần   –  Quý Hợi     :           –                       Tý – Sửu

Triệt không : (đóng giữa 2 cung) an theo Thiên Can

– Giáp – Kỷ      :           Triệt đóng tại          Thân – Dậu

– Ất – Canh      :                       –                       Ngọ – Mùi

– Bính – Tân     :                       –                       Thìn – Tỵ

– Đinh – Nhâm :                      –                       Dần – Mão

– Mậu – Quý    :                       –                       Tý – Sửu

13- Theo những cung nhất định

– Thiên Thương (Thổ) : hung tinh, chủ gây mầm mống bệnh tật, tai họa. Bao giờ cũng tọa thủ trong cung Nô Bộc.

– Thiên Sứ (Thủy) : tính chất như sao Thiên Thương. Bao giờ cũng tọa thủ tại cung Tật Ách.

– Thiên La – Địa Võng : thuộc lưới trời, lưới đất, là ác tinh, chủ ngăn trở, bắt bớ, giam cầm. Thiên La luôn đóng tại cung Thìn, còn Địa Võng luôn đóng tại cung Tuất.

(Xem bài 4 cách lập đại tiểu hạn)

Tử Vi Đẩu Số (2)

Tử vi đẩu số của Trần Đoàn (bài 2)

CÁCH LẬP LÁ SỐ TỬ VI ĐẨU SỐ

– Thiên Việt

Bai 1-4Như đã phân tích trong bài 1, môn Tử Vi Đẩu Số không còn chính xác, là môn toán học như từng được mọi người ái mộ, xưng tụng. Trong bài này, chúng ta thử tham khảo cách lập thành một lá số Tử Vi, theo các trình tự sau đây :

A/- CÁCH LẬP LÁ SỐ

Cách lập một lá số Tử Vi hiện nay phải dựa vào ngày tháng năm và giờ sinh tính theo Âm Lịch, và ghi đến 111 tên tinh đẩu được phân tán trên 12 cung cho một mệnh vận đời người.

Sau đây trình tự để lập thành một lá số Tử Vi :

1/- Đối chiếu Âm – Dương lịch

Bước đầu tiên là đối chiếu ngày tháng năm và giờ sinh từ dương lịch sang âm lịch (theo các thí dụ đã dẫn).

Về giờ tính theo mặt trời đứng bóng theo giờ âm lịch, mỗi giờ gồm 2 tiếng dương lịch, mang các tên :

Giờ TÝ       =   từ        23g   đến        01g Đêm        = canh ba

Giờ SỬU    =             01g                    03g                 = canh tư

Giờ DẦN    =              03g                  05g                 = canh năm

Giờ MÃO    =   từ      05g   đến        07g Sáng

Giờ THÌN   =               07g                 09g

Giờ TỴ        =  từ        09g    đến       11g Trưa

Giờ NGỌ    =               11g                   13g

Giờ MÙI     =  từ         13g   đến        15g Chiều

Giờ THÂN  =              15g                 17g

Giờ DẬU     =  từ       17g   đến        19g Tối

Giờ TUẤT   =             19g                 21g                 = canh một

Giờ HỢI      =             21g                 23g Đêm        = canh hai

Tuy nhiên theo tháng âm lịch, có tháng ngày ngắn đêm dài, hay ngược lại ngày dài đêm ngắn, là do quỹ đạo mặt trăng xoay quanh trái đất, và trái đất quay theo trục của nó theo quỹ đạo mặt trời, từ đông sang tây, nên vĩ độ mỗi tháng đều khác nhau. Có sự xê dịch từ 10 đến 20 phút.

Nên lấy giờ cho lá số theo giờ mặt trời đứng bóng mỗi tháng theo bảng kê dưới đây :

Các tháng mặt trời đứng bóng đúng 12 giờ trưa là :

Tháng Giêng (Dần) – Tháng 3 (Thìn)

Tháng 7 (Thân) và Tháng 9 (Tuất)

Các tháng mặt trời đứng bóng lúc 12g15 trưa là :

Tháng 2 (Mão) – Tháng 8 (Dậu)

Các tháng mặt trời đứng bóng lúc 12g20 trưa là :

Tháng 4 (Tỵ) – Tháng 6 (Mùi)

Tháng 10 (Hợi) và Tháng Chạp (Sửu)

Các tháng mặt trời đứng bóng lúc 12g10 trưa là :

Tháng 5 (Ngọ) – Tháng 11 (Tý)

Đồng thời còn tính theo giờ chính thức. Kể từ năm 1943, múi giờ ở nước ta đã thay đổi nhiều lần, có khi nhanh từ 1 đến 2 tiếng, đến năm 1976 mới trở lại giờ chính thức. Cũng nên biết hiện nay chúng ta chỉ sử dụng duy nhất một loại lịch và một múi. Trong đó năm tháng ngày giờ âm lịch được tính theo sự vận chuyển của mặt trăng trên quỹ đạo trái đất, và theo giờ kinh tuyến 105o Đông, tức múi giờ thứ 7 GMT.

Trước đó với những nguyên nhân thời cuộc, nên có thay đổi giờ chính thức nhiều lần. Đến ngày 3/6/1975 khi đất nước thống nhất và lấy trở lại giờ kinh tuyến 105o Đông cho đến ngày nay. Bảng dưới đây là giờ thay đổi ở nước ta.

A Chinh gio

2/- Sửa soạn lá số

Lá số có 12 cung theo hình thức như hình minh họa dưới đây :

A 12 cung tuvi

Cung Thiên bàn dùng để ghi tên tuổi, ngày tháng năm giờ sinh, mệnh, cục v.v…

Lưu ý : Tên các cung trên hình minh họa chỉ mang tính ghi nhớ. 12 cung trên còn được chia ra ba nhóm :

Nhóm Tứ Sinh gồm  : Dần – Thân – Tỵ – Hợi

Nhóm Tứ Mộ gồm : Thìn – Tuất – Sửu – Mùi

Nhóm Tứ Tuyệt gồm : Tý – Ngọ – Mão – Dậu

3/- Phân định tuổi nam nữ Âm Dương

– Sinh năm Dương tuế :

Theo hàng Can : Giáp – Bính – Mậu – Canh – Nhâm

Theo hàng Chi : Tý – Dần – Thìn – Ngọ – Thân – Tuất

Nếu là nam được gọi Dương Nam, nữ là Dương Nữ.

– Sinh năm Âm tuế :

Theo hàng Can : Ất – Đinh – Kỷ – Tân – Quý

Theo hàng Chi : Sửu – Mão – Tỵ – Mùi – Dậu – Hợi

Nếu là nam được gọi là Âm Nam, nữ là Âm Nữ

Trong cách lập số lại chia thành 2 cặp đi đôi nhau là :  Âm Nam – Dương Nữ và Dương Nam – Âm Nữ.

Sau khi ghi tên, ngày tháng năm và giờ sinh âm lịch, tiếp theo ghi rõ Dương nam, Dương nữ, Âm Nam hay Âm nữ vào cung Thiên bàn.

4/- Tìm bản mệnh :

Bản mệnh mình thuộc Ngũ hành nào, xem bảng Lục Thập Hoa Giáp, thí dụ người tuổi Mậu Tý có bản mệnh là Hỏa (Tích Lịch Hỏa). Ghi thêm vào cung Thiên bàn.

5/- Cách an cung mệnh :

Thí dụ : người Dương Nam, sinh ngày 6 tháng 5 năm Mậu Tý, giờ Mùi (âm lịch).

Muốn an cung Mệnh, tính từ cung Dần (3) là tháng giêng, theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ) mỗi tháng lên 1 cung đến tháng sinh (là tháng 5) tức cung Ngọ (7).

Từ cung Ngọ kể là giờ Tý đếm ngược (chiều kim đồng hồ) mỗi giờ xuống 1 cung, đến giờ Mùi tức cung Hợi (12) an Mệnh tại đây.

Cung Mệnh tại Hợi, lần lượt theo chiều thuận an các cung Tý (1) là Phụ Mẫu chủ về cha mẹ, Sửu (2) Phúc Đức chủ về ông bà, tổ tiên, Dần (3) Điền Trạch chủ về đất đai, nhà cửa, Mão (4) Quan Lộc chủ về công danh sự nghiệp, Thìn (5) Nô Bộc chủ về bạn bè, người phục dịch, Tỵ (6) Thiên Di chủ về thay đổi, đi xa, Ngọ (7) Tật Ách chủ về bệnh tật, tai nạn, Mùi (8) Tài Bạch chủ về tiền của, Thân (9) Tử Tức chủ về con cái, Dậu (10) Thê Thiếp (nữ là Phu quân) chủ về vợ hay chồng, Tuất (11) Huynh Đệ chủ về anh chị em ruột.

6/- An cung Thân

Mệnh và Thân khác nhau, có thể nói xem Mệnh chỉ trong lứa tuổi vừa sinh ra đến năm 30 tuổi, còn xem Thân từ 30 tuổi trở  về sau.

Cách an cung Thân như an cung Mệnh, từ cung Dần kể là tháng giêng thuận đến tháng sinh kể là giờ Tý, lại tiếp tục đếm thuận đến giờ sinh thì an Thân.

Theo thí dụ tuổi Dương Nam, sinh giờ Mùi, an cung Thân tại Sửu.

7/- Lập Cục

Muốn lập Cục phải căn cứ vào hàng Can năm sinh và cung an Mệnh (xem bảng kê sau đây).

A Lap cuc

Thí dụ : người Dương Nam tuổi Mậu Tý, hàng Can mang chữ Mậu, và cung an Mệnh tại Hợi. Xem bảng dưới đây, theo hàng dọc là cung an Mệnh, nhìn cột “hàng Can năm sinh” có chữ Mậu, nhìn giao điểm Hợi – Mậu tại Thủy Nhị Cục. Ghi vào Thiên Bàn : Thủy Nhị Cục.

8/- An các sao :

A- Nhóm chính tinh : gồm 14 tinh đẩu có tên và tính chất sau đây :

– Tử Vi (Nam – Bắc đẩu, Dương Thổ) : chủ về quyền thế, tài lộc và phúc đức. Tính thông minh, trung hậu, giải được tai ương, bệnh tật. Nếu đóng tại Mão, Dậu người kém thông minh, yếm thế và cơ khổ.

– Thiên Cơ (Âm Mộc) : thuộc thiện tinh, chủ về mưu kế nhưng tính tình lại nhân từ, bác ái.

– Thái Dương (Dương Hỏa) : thuộc quý tinh, chủ về đường công danh sự nghiệp, hợp cho nam giới.

– Vũ Khúc (Âm Kim) : thuộc tài tinh, chủ về tài lộc. Tính tình uy dũng, cương trực, và thích yên tĩnh, cô độc.

– Thiên Đồng (Dương Thủy) : thuộc phúc tinh, chủ phúc thọ. Nhưng tính hay tranh luận và bất nhất.

– Liêm Trinh (Âm Hỏa) : thuộc đào hoa tinh và tù tinh. Chủ về công danh sự nghiệp, nếu đóng tại Tỵ, Hợi, Mão, Dậu trở thành hung tinh, trai háo sức gái lăng loàn.

– Thiên Phủ (Âm Thổ) : thuộc tài tinh và phúc tinh. Chủ về thông minh, từ tâm bác ái, gia tăng tài lộc, cứu giải tai nạn, bệnh tật.

– Thái Âm (Âm Thủy) : thuộc phú tinh, chủ về tính thông minh, khiêm tốn, giàu có. Hãm địa tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ sẽ phá tán tiền của.

– Tham Lang (Âm Thủy đới Mộc) : thuộc hung tinh và dâm tinh, chủ về hung bạo, ăn chơi trác táng, ở miếu địa là có quyền uy và phú quý.

– Cự Môn (Âm Thủy) : thuộc ám tinh, chủ về tai tiếng, thị phi, thích lý sự, xảo tá và thường hay náo tụng đình.

–  Thiên Tướng (Dương Thủy) : thuộc quyền tinh hay ấn tinh. Chủ về quyền lộc. Tính cương trực, dũng mãnh,và nóng nảy. Gặp

Tuần hay Triệt sẽ có chuyện lành ít dữ nhiều.

– Thiên Lương (Âm Mộc) : thuộc thọ tinh, chủ về phúc thọ. Tính trung hậu, thật thà, giải được bệnh tật.

– Thất Sát (Dương Kim) : thuộc về dũng tinh, chủ về uy quyền, người có tính can đảm, nhưng hay vui giận bất thưoờng nhưng rất quân tử.

– Phá Quân (Âm Thủy) : thuộc hao sát tinh, chủ về dũng cảm. Tính cương nghị, liều lĩnh. Hãm địa thì gây nhiều tai họa cho bản thân.

Muốn an 14 chính tinh, trước nhất phải tìm vị trí cho sao Tử Vi tọa thủ. Cách tìm : tính theo Cục số như đã nói phần Lập Cục, và an sao Tử Vi theo ngày sinh.

Dưới đây là 5 bảng kê Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cục, xem sinh vào ngày nào an sao Tử Vi tại cung đó.

THỦY NHỊ CỤC : – An vào cung Tý nếu sinh ngày 22, 23 – Sửu : 1, 24, 25 – Dần : 2, 3, 26, 27 – Mão : 4, 5, 28, 29 – Thìn : 6, 7, 30 – Tỵ : 8, 9 – Ngọ : 10, 11 – Mùi : 12, 13 – Thân : 14, 15 – Dậu : 16, 17 – Tuất : 18, 19 – Hợi : 20, 21.

MỘC TAM CỤC : – An vào cung Tý nếu sinh ngày 25 – Sửu : 2, 28 – Dần : 3, 5 – Mão : 6, 8- Thìn : 1, 9, 11 – Tỵ : 4, 12, 14 – Ngọ : 7, 15, 17 – Mùi : 10, 18, 20 – Thân : 13, 21, 23 – Dậu : 16, 24, 26 – Tuất : 19, 27, 29 – Hợi : 22, 30.

KIM TỨ CỤC : an vào cung Tý nếu sinh ngày 5 – Sửu : 3, 9 – Dần : 4, 7, 13 – Mão : 8,11, 17 – Thìn : 2,12, 15,21 – Tỵ : 6, 16,19,25 – Ngọ : 10, 20, 23, 29 – Mùi : 14, 24, 27 – Thân : 18, 28 – Dậu : 22 – Tuất : 26 – Hợi : 1, 30.

THỔ NGŨ CỤC : an vào cung Tý nếu sinh ngày 7 – Sửu : 4, 12 – Dần : 5, 9, 17 – Mão : 10, 14, 22 – Thìn : 3, 15, 19, 27 – Tỵ : 8, 20, 24 – Ngọ : 1, 13, 25, 29 – Mùi : 6, 18, 30 – Thân : 11, 23 – Dậu : 16, 28 – Tuất : 21 – Hợi : 2, 26.

HỎA LỤC CỤC : an vào cung Tý nếu sinh ngày 9, 19 – Sửu : 5, 15, 25 – Dần : 4, 11, 21 – Mão : 12, 17, 27 – Thìn : 4, 18, 23 – Tỵ : 10, 24, 29 – Ngọ : 2, 16, 30 – Mùi : 8, 22 – Thân : 14, 28 – Dậu : 1, 20 – Tuất : 7, 26 – Hợi : 3, 13

Sao Tử Vi tọa thủ tại cung nào, đi theo chiều thuận :

– Cách Tử Vi    3 cung                      : an Liêm Trinh

– Cách Liêm Trinh  2                       : an Thiên Đồng

– Sau Thiên Đồng tiếp tục an sao Vũ Khúc, Thái Dương mỗi sao 1 cung.

– Cách Thái Dương 1 cung : an Thiên Cơ

An Thiên Phủ phải theo vị trí tọa thủ của sao Tử Vi :

– Nếu Tử Vi ở Dần, sao Thiên Phủ đồng cung                     (Dần)

–           –           Mão                                         –          ở                     Sửu

–          –           Thìn                                         –                                   Tý

–           –           Tỵ                                            –                                   Hợi

–           –           Ngọ                                         –                                   Tuất

–           –           Mùi                                          –                                   Dậu

–           –           Thân                                        –   đồng cung         (Thân)

–           –           Dậu                                         –                                   Mùi

–           –           Tuất                                         –                                   Ngọ

–           –           Hợi                                          –                                   Tỵ

–           –           Tý                                            –                                    Thìn

–           –           Sửu                                         –                                   Mão

Sau khi Thiên Phủ tọa thủ tính theo chiều thuận mỗi cung 1 sao : Thái, Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát.

–          Cách Thất Sát  3 cung : an Phá Quân

–                                                                          (Còn 1 kỳ cách lập lá số)

Tử Vi Đẩu Số (1)

H Xem ngayTử vi đẩu số của Trần Đoàn (bài 1)

LUẬN BÀN VỀ MÔN

TỬ VI ĐẨU SỐ

– Thiên Việt

Lâu nay khoa Tử Vi có nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều tầng lớp người, do nhiều người muốn có một lá số để dự đoán mệnh vận, vì chỉ cần một lá số là có thể đoán được số mệnh trong một khoảng thời gian, như xem trọn đời, xem đại hạn, xem tiểu hạn, xem nguyệt, nhật và thời hạn, mà không dùng đến lịch vạn sự.

Có phải môn Tử Vi là một thuật toán có cơ sở khoa học hơn những môn bói toán khác, khi trong lá số có các phương trình hàm số, nếu lý giải được những hàm số, môn Tử Vi chắc sẽ giúp ích cho các dự đoán thêm tính chính xác hơn chăng ?

Hi Di Trần Đoàn ông tổ môn Tử Vi là ai ?

Bai 1-1Hiện nay nhiều người lập số và giải đoán Tử Vi, nhưng ít người hiểu môn Tử Vi này đã sai trên mấy trăm năm nay qua, nên việc giải đoán khó có thể được xem là chính xác . Vì kể cả nơi xuất xứ của môn Tử Vi, cũng không có được bản gốc của môn thuật toán này, như ông Vũ Tài Lục từng viết trong cuốn “Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư” :

-“… Chỉ biết từ đời Gia Tỉnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư do La Hồng Tiên biên soạn… trong lời tựa, La Hồng Tiên nói tác giả của bộ mệnh thuật này là của Hi Di Trần Đoàn.

“La Hồng Tiên viết tiếp : – Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi, ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quý trên đời, vì ai cũng có số mệnh cả.

“Tôi vì muốn biết, nên đã tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Trần Đoàn đắc đạo, để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thấy một vị cao niên, thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo – đây là Tử Vi Đẩu Số toàn tập của Hi Di tiên sinh.

“Mang về mở ra xem, ban đầu các sao mang nghĩa lý thật ảo diệu, càng đọc thấy lời bàn luận xác đáng…

Bai 1-4“Bởi thế tôi muốn được đem những lời dạy của Hi Di tiên sinh mà phổ biến cho khắp thiên hạ …”

Như vậy theo phân tích, tác giả La Hồng Tiên chỉ là người chấp bút, phổ biến môn Tử Vi Đẩu Số vào dân gian, còn tác giả chính danh là Hi Di Trần Đoàn. La Hồng Tiên sống vào thời Minh triều (cùng nhóm tượng số với Thiệu Khang Tiết, vào thế kỷ 14 – 17), tức sau đời nhà Tống đến vài thế kỷ, mà cuốn Tử Vi Đẩu Số ông ta nhận được có đúng là của Hi Di Trần Đoàn hay không, đến nay vẫn còn là ẩn số.

Nhiều người cho rằng, những năm từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 17, 18, việc bảo quản tư liệu còn rất hạn chế, nhất là sách viết tay nằm trong dân giả, đã qua vài trăm năm cuốn sách này e không còn nguyên vẹn để ông La Hồng Tiên đưa ra phổ biến trong dân gian !?

Những bậc lão thành chuyên nghiên cứu các môn mệnh thuật trong lịch sử Trung Hoa cũng cho biết, trong lịch sử văn hóa Trung Hoa không có sách nào nói đến tên Trần Đoàn, nhưng trong truyền thuyết dân gian thì có đề cập đến, nên không ai rõ thân thế của Hi Di Trần Đoàn là ai.

Trong truyền thuyết có kể mơ hồ về thân thế của Hi Di Trần Đoàn như sau :

– Từ thời hậu Đường chuyển qua nhà Tống, đất nước Trung Quốc bấy giờ đã trải qua nhiều biến chuyển về chính trị. Trần Đoàn được sinh ra trong thời gian này (cuối thiên niên kỷ thứ nhất), ông lớn lên trong hoàn cảnh loạn lạc, là một nho sinh cảm nhận nổi đau đớn của sự thăng trầm trong xã hội, đã bỏ đời lên núi tu tiên tránh họa (tức lên Hoa Sơn).

Trên Hoa Sơn, Trần Đoàn gặp được một dị nhân không tên, không tuổi, chỉ có biệt danh là Ma Y đạo giả. Trong thời gian này Trần Đoàn được dị nhân truyền cho các lẽ huyền vi của tạo hóa qua thuật xem Bát Quái, Âm Dương Ngũ Hành (theo Cổ nhân danh số kỳ mộng cho là học được sách của Nam Hoa tiên ông, mà Ma Y đạo giả thuộc hàng hậu bối mấy mươi đời truyền lại), nên ông hạ sơn với ý đồ qua các học thuật đã học từ Ma Y đạo giả, đì tìm người anh hùng có chân mạng thiên tử để ra mặt an giặc chăn dân.

Bai 1-2Khi Trần Đoàn xuống núi, ông gặp một bà lão đang gánh thúng, mỗi thúng có một đứa bé đang ngồi bên trong. Khi xem qua tướng mạo hai đứa trẻ, Trần Đoàn biết đã tìm thấy minh quân, nên có bao nhiêu tiền liền đem tặng hết cho bà lão, và báo cho bà ta biết hai đứa bé này sau lớn lên sẽ làm vua, vậy nên cố gắng nuôi chúng thành người.

Sau đó từ đời hậu Chu là Chu Thế Tôn, người đi bước đầu trong việc thống nhất đất nước, vì từ thời Hậu Đường đến đời hậu Chu, đất nước Trung Quốc đang chia năm xẻ bảy, mỗi anh hùng cát cứ một phương coi như giang sơn riêng của mình. Chu vương chỉ mới gồm thu đất nước nhưng chưa bình định, trong thời gian 5 năm thì mất.

Đến cuộc chính biến tại Trần Kiều do hai anh em ruột Triệu Khuông Dẫn và Triệu Khuông Nghĩa lãnh đạo, đánh dẹp nốt các phương các trấn, bấy giờ Trung Quốc mới mở ra trang sử mới, đất nước thống nhất. Hai anh em họ Triệu lập ra nhà Tống.

Triệu Khuông Dẫn xưng đế là Tống Thái Tổ. Sau khi Tống Thái Tổ băng hà, Triệu Khuông Nghĩa lên nối ngôi xưng đế là Tống Thái Tôn.

Hai vị vua đời Tống đó chẳng ai khác hơn là hai đứa bé ngồi trong thúng, được Trần Đoàn nhận ra tướng mệnh thiên tử. Trong truyền thuyết còn nói, vua Tống Thái Tổ có cho người lên Hoa Sơn mời Trần Đoàn ra làm quan nhưng ông từ chối, sau này lên tìm một lần nữa thì không gặp.

Vua Tống được Hoàng Thái Hậu kể lại chuyện xưa, nên phong tặng Trần Đoàn danh hiệu Hi Di (có nhiều sách còn viết ngoài hiệu Hi Di, Trần Đoàn còn có hiệu là Đồ Nam).

Nói như thế ông tổ của môn Tử Vi là Hi Di Trần Đoàn chỉ do truyền thuyết, còn lịch sử văn hóa Trung Hoa không có tên ông trong mọi phương diện hay góc độ nào.

A/- MỨC ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA TỬ VI

Muốn chấm một lá số Tử Vi, chúng ta phải đổi ngày tháng năm và giờ sinh ra âm lịch. Nhưng khi đổi ngày giờ ra âm lịch như thế nào mới gọi là đúng ?

– Hiện nay có người cứ tra lịch 100 năm (lịch thế kỷ XX : 1901 – 2000 hay XXI : 2001 – 2100) để đổi từ ngày dương lịch ra âm lịch, và giờ thì tính từ 23g hôm trước đến 01giờ sáng hôm sau là giờ Tý …cho đến 21 g – 23 g là giờ Hợi.

Nhưng nhiều người lại tính chi li theo lối Bát Tự :

– Nếu ai sinh gần đầu tháng, nên xem ngày giao tiết.

Thí dụ : sinh ngày 3 tháng 4 năm 1998, lúc đối chiếu nhằm ngày mùng 7 tháng 3 năm Mậu Dần. Nhưng tiết Thanh Minh đến vào ngày 9/3 năm Mậu Dần, và theo các nhà chiêm tinh khi vào tiết Thanh Minh mới gọi là tháng 3, vì thế lá số sẽ ghi ngày tháng là : mùng 7 tháng 2 năm Mậu Dần, thay vì ghi mùng 7 tháng 3. Theo cách này, nếu gặp tháng nhuận năm 13 tháng cũng không ảnh hưởng đến tháng sinh.

– Còn giờ, thí dụ sinh lúc 03g10 phút, có người cho đó là giờ Dần (từ 03g đến 05g), nhưng tính toán theo vòng quay trái đất với mặt trời, tháng 2 giờ Dần bắt đầu từ 03g15 đến 05g15, vậy 03g10 vẫn còn trong giờ Sửu.

Trên đây mới nói đến 2 hình thức thay đổi ngày giờ từ dương lịch qua âm lịch; và theo thí dụ còn những người sinh trong thời gian trước ngày 3 tháng 2 năm 1998 như sau : Theo lệ thường sẽ tính sinh vào năm Mậu Dần, nhưng theo cách tính theo Tiết khí như đã nói, năm sinh trên đây vẫn thuộc năm Đinh Sữu, và là tháng 12 âm lịch. Vì ngày 4 tháng 2 mới vào tiết Lập xuân, mới kể là tháng giêng năm Mậu Dần.

Vậy từ các đầu mối này cho thấy khoa Tử Vi không nhất quán một hệ thống hoán chuyển ngày tháng năm và giờ sinh như thế nào cho đúng, mỗi thầy lập số tính theo cách của mình và bảo lưu tập quán đó, như người đã đọc qua môn Bát Tự Hà Lạc thấy cách tính âm lịch theo Tiết Khí là đúng hơn cả, vì hai môn Tử Vi và Hà Lạc đều do Trần Đoàn biên soạn, không lẽ ông lại có hai cách tính âm lịch khác nhau qua chính hai môn thuật số của mình ?

Bai 1-3Trên thực tế các cách trên đều sai. Do môn Tử Vi được khai sinh từ thời nhà Tống vào thế kỷ thứ 10. Trong thời gian này đất nước Trung Hoa vừa yên nội loạn sứ quân, Triệu  Khuông Dẫn mới bắt đầu bình định đất nước lên ngôi xưng đế, đất nước lúc đó vẫn chưa có người phương Tây đặt chân đến để có dương lịch 365 ngày trong một năm 12 tháng, mà chỉ có lịch Can Chi Tiết Khí : Ngày Giáp Tý, tháng Canh Ngọ, năm Mậu Dần, giờ Đinh Sữu v.v…, không có ngày 7, tháng 2 … như môn Tử Vi khi lập số.

Nếu môn Tử Vi có từ thời nhà Tống, vậy cách tính ngày giờ của môn thuật toán này vào lúc ấy hẳn không giống bây giờ tính bằng các con số, và hoán đổi ngày giờ theo những cách đã nói trên.

Còn khoa Tử Vi lúc khởi thủy được tính ngày tháng năm và giờ sinh như thế nào, đến nay nhiều người còn tìm hiểu. Nếu quả thật môn Tử Vi là của Hi Di Trần Đoàn thì cách lập số không phải như bây giờ, còn nếu không môn Tử Vi Đẩu Số chỉ là sách đời sau mượn danh Trần Đoàn mà thôi.

B/ – LẬP ĐƯỢC BAO NHIÊU LÁ SỐ

Môn Tử Vi có những giới hạn rất rõ rệt, theo cách lập trình của vi tính, môn này chỉ lập không đầy 518.400 lá số cho trên hơn 7 tỷ người trên trái đất. Tức tỷ lệ gần 0,8/10.000 %.

Khi lập trình tổng quát, sẽ có các số liệu như sau :

– Số năm = 60 (Lục thập hoa giáp)

– Số năm nam và nữ : 60 x 2 = 120

– Số tháng : 12 tháng x 120 lá số  =  1.440

– Số ngày : b/q 30ngày/tháng x 1.440 = 43.200

– Số giờ : 12 giờ âm lịch x 43.200 = 518.400

Nếu tính đúng tính đủ chỉ có 512.640 lá số.

Cho thấy một lá số Tử Vi không hoàn toàn dành cho một người mà cả chục ngàn người, tính chính xác không thể gọi là cao vì xác suất quá thấp.

Lá số Tử Vi cũng không thể nói lên được việc song sinh mỗi người sẽ có một lá số riêng, những người ái nam ái nữ, dị dạng, thân thể dính nhau, không thể lập thành một lá số v.v… Tử Vi hạn chế nhiều mặt như đã nói, nhưng nhiều người vẫn cho rằng môn này có thể áp dụng để xem mệnh vận cho cả một tập thể, như dùng ngày thành lập để chấm số như môn Mai Hoa ?! Chính các lẽ trên mà môn Tử Vi sau này bế tắc.

Những người nghiên cứu Tử Vi, nhận xét môn thuật toán này chỉ đúng từ 60 đến 70% vào giai đoạn chưa lập thân, tức sống còn dựa vào gia đình, khi ra đời xác suất chỉ ở mức từ 40 đến 50%, khi lập gia đình chỉ đúng khoảng trên 30%, do môn Tử Vi ở thế TĨNH, mọi tên tinh đẩu khi tọa thủ trên lá số là bất di bất dịch không dời đổi, mà theo thuyết Âm dương Ngũ hành thì mọi vật đều có sự chuyển đổi, biến hóa không ngừng, không ở một nơi, không có gì nhất  định, chỉ có biến hóa mới thật có vận khí của trời !

Những cái khác biệt của môn Tử Vi không rõ có từ bao giờ, khi đúc kết có những cái sai cơ bản như đã trình bày, nên sự lệch lạc trong phần lấy lá số là thế, còn phần giải đoán số lại càng làm mọi người không nắm được mục đích cuối cùng của ý nghĩa của từng tên tinh đẩu. Bởi các tên tinh đẩu hiện nay được thêm bớt quá nhiều.

Và khi người chấm số đi vào phần ghi đại hạn 10 năm, tiểu hạn 1 năm, nguyệt hạn, nhật hạn và thời hạn, thì lá số trở thành “cuộc chiến giữa các vì sao”.

Người cần mẫn còn ghi phần Âm dương Ngũ hành cho từng tinh đẩu, vị trí miếu hãm trên các cung. Còn người chỉ lợi dụng môn bói toán làm kế sinh nhai, chẳng ai chú thích những vị trí và sự biến đổi âm dương trên từng tinh đẩu đó.

Bai 1-4Nhiều người cứ giải đoán theo 14 chính tinh tọa thủ trên lá số, mà không cộng hưởng những gì từ trung tinh đến bàng tinh làm ảnh hưởng đến độ số. Cứ xem có Tử Phủ Vũ Tướng là số quý cách; có Liêm Trinh là người có tình dục mạnh mẽ, đa dâm, háo sắc; có Cự Môn thì hay gặp lời tiếng thị phi, khẩu thiệt; có Thiên Tướng nếu làm văn phòng thì giữ chức vị cao, trong quân đội chức nhỏ cũng từ cấp tá v.v..

Xem số Tử Vi là phải nắm rõ biện chứng Âm Dương tiêu trưởng, Ngũ hành sinh khắc, độ số từng tinh đẩu tọa thủ, nhưng có mấy ai nắm hết các thông số này, để loại trừ tăng giảm  cho nhau ?!

(Xem bài 2 cách lập lá số Tử Vi)

Tìm hiểu các môn Mệnh thuật

– Thiên Việt

KHÁI QUÁT CÁC MÔN MỆNH THUẬT

Trước khi nói đến các môn Mệnh thuật, chúng ta cần tìm hiểu quá trình của các môn này. Vì xem mệnh vận có rất nhiều môn mệnh thuật dùng để giải đoán mệnh vận, từ Đông sang Tây đều có đủ.

Bai 1-1Các môn Mệnh thuật được phát sinh từ các yếu tố sau đây :

1/- Trong dân chúng còn tin vào thần quyền, thấy điều lành thì làm, lánh xa điều dữ, ngày xưa bằng cách coi thiên văn, coi sự thay đổi của vạn vật. Mỗi thay đổi thấy được là một điềm báo hiệu cho sự tốt đẹp hay xấu xa v.v…

Nên từ đời vua Hạ, vua Thương trong triều chính đều có những quan Thái Bốc chuyên coi sao trên trời và nghiên cứu Dịch lý, để mỗi khi thấy sự thay đổi trong trời đất mà suy ra tai trời ách nước, báo cho vua cho dân biết đề phòng.

2/- Do đó mọi người thường trông cậy vào các môn bói toán, để xác định mệnh vận cho cá nhân. Vì thế bói Dịch được phái tượng số cho ra đời đầu tiên, có từ đời Hán Cao Tổ trước Công nguyên, đã phát triển mạnh trong dân chúng.

Người được xem sáng lập ra phái Tượng Số vào thời gian này là Trâu Diễn, khi ông lý luận về thuyết Âm Dương tiêu trưởng, Ngũ Hành sinh khắc; về sau được Đổng Trọng Thư biến thành những môn thuật toán xem được mệnh vận đời người, và hai ông được coi là cha đẻ phái Tượng Số từ đó.

Từ đời nhà Đường đến đời Tống, phái tượng số rất được dân chúng ngưỡng mộ, các môn thuật toán được phổ biến rộng rải và thịnh hành mọi nơi, do ứng dụng thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Can Chi Tiết Khí vào mệnh thuật với nhiều phương pháp dễ xem, dễ hiểu khi đã thuộc nằm lòng các nguyên tắc cơ bản của Dịch Lý.

Các môn mệnh vận lúc đó có nhiều, nhưng căn bản nằm trong 5 học thuật chính :

1- Sơn thuật : tức phép tu tiên. Sau này phát triển thành các môn như Huyền điển, Dưỡng sinh và Tu mật.

2- Y thuật : là phép chữa bệnh, sau này là Châm cứu, Phương tể và Linh trị.

3- Mệnh thuật : tức phép tính đời người bằng toán, sau này có Tử Vi, Tử Bình, Mai Hoa, Hà Lạc.

4- Bốc thuật : là phép chiêm đoán, sau này gồm có Kỳ môn, Lục nhâm, Khổng minh, Thái ất  v.v..

5- Tướng thuật : cách coi hình thể một thực tế có thật, như diện mạo con người, coi phong thổ (địa lý phong thủy).

Bai 1-2Năm học thuật trên đều dùng thuyết Âm dương Ngũ hành dựa trên Dịch Lý mà hình thành.

3/- Đến đời Tống (thế kỷ thứ 10), Hi Di Trần Đoàn được mô tả là người khởi xướng các môn Tử Vi Đẩu Số, Hà Lạc Lý Số và Nhân tướng học (theo tương truyền Trần Đoàn học được các học thuật từ Ma Y Đạo Giả, hậu bối của Nam Hoa Tiên Sinh).

Phải nói các môn thuật toán rất cực thịnh vào thời Tống Thái Tổ, nhưng môn Tử Vi Đẩu Số đã làm các môn bói toán khác phải nhường bước, kể cả đời nhà Minh (thế kỷ 14 – 17) có nhóm của Thiệu Khang Tiết cũng không thể đưa môn Mai Hoa Dịch Số ra làm đối trọng.

Các môn mệnh thuật như Tử Vi, Tử Bình, Hà Lạc và Mai Hoa có chung một sách, dùng Dịch Lý để xem mệnh vận. Nhưng dù môn Tử Vi, Hà Lạc chi li trong cách lập và giải đoán số mệnh, môn Mai Hoa lại dễ dàng trong lúc lập quẻ; nhưng hai môn mệnh thuật của Hi Di Trần Đoàn được mọi người ưa chuộng hơn, vì cả hai mang ý niệm diễn đạt mệnh vận con người trong từng năm tháng ngày giờ, duy trì tính sùng bái thần linh và tính phúc đức qua luật nhân quả.

Đồng thời môn Tử Vi và Hà Lạc đều có lý thuyết vững vàng, sâu sắc trong cách giải đoán, để mọi người thấy luật chi phối của vũ trụ. Còn Mai Hoa quá hời hợt trong các cách giải quẻ không làm mọi người thỏa mãn tính hiếu kỳ. Chúng tôi sẽ trình bày khái quát các môn học thuật này nơi những phần sau.

Như trong Kinh Dịch nói :…”Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh… vi đạo dã lũ thiên, biến hóa bất cư, chu lưu n sở thích”. Có nghĩa – Đạo trời biến hóa, mọi vật theo biến hóa đó mà xoay mà đổi tính mệnh… Đạo chuyển dời luôn, biến hóa chứ không ở một chỗ, chan hòa khắp nơi, trên dưới không chừng, không có gì nhất định, chỉ có biến hóa mới thật là đạo trời.

Ngoài Trần Đoàn, Thiệu Khang Tiết đã nói, các thuật sĩ khác cũng đều lấy lời tượng trong Chu Dịch hay Thập truyện trong Kinh Dịch làm mục tiêu để soạn các môn mệnh thuật khác.

Từ đời nhà Tống trở lại đã phát sinh ra nhiều môn bói toán khác nhau.

Xin được lược kể một vài môn như :

Bai 1-3– BÓI DỊCH : phép bói được sáng tạo từ trong Chu Dịch, dùng 64 quẻ 384 hào âm dương để giải đoán, sau khi lắc mu rùa hay thi bốc (bói cỏ), ưởng bốc (bói bằng tiếng), ngõa bốc (bói bằng ngói), mễ bốc (bói bằng gạo) hoa thảo bốc (bói bằng hoa, lá, cỏ cây) v.v…

Quẻ Dịch được soạn theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, được Chu Văn Vương đặt là̀ thoán từ tức lời giải từng quẻ; còn Chu Công Đản đặt ra hào từ là lời giải đi từ hào sơ đến hào lục; đến đời Khổng Tử đặt ra tượng giải thích cho thoán từ của Chu Văn Vương, hào từ của Chu Công Đản.

Trong đó môn Hà Lạc Lý Số được xem là tinh hoa của Dịch Lý. Tuy nhiên các nhà chiêm tinh lại ít dùng xem số mệnh, dù biết môn này có tính chính xác cao, nhưng mất nhiều công đoạn và thời gian; vì thế họ thường dùng môn Tử Vi hay Mai Hoa, bởi ít rối rắm khi lập số, lập quẻ.

Ngoài ra các môn bói Dịch còn có :

– Thuật “thi bốc” tức xem cây cỏ, phải dùng 50 cọng cỏ, được cắt đều nhau dài chừng ba tấc ta (một thước ta bằng 40 cm thước tây) bỏ vào trong một cái túi; khi xem mới đưa chúng ra trước bàn hương, khấn vái xin những điều cần dự đoán tính cát hung lành dữ.

Sau đó đưa xuống lấy ra 1 cọng cỏ bỏ lại vào túi, còn 49 cọng chia làm hai phần tùy tiện. Đoạn tay trái cầm lấy một nắm cỏ bên trái, tiếp theo lấy 1 cọng bên phải cài vào khe ngón tay trái, được gọi là tam tài.

Qua hai việc trên, bấy giờ tay phải mới đếm các cọng cỏ đang nắm bên tay trái. Cứ 4 cọng một lần đếm, được gọi là thủ tượng hay tứ thời. Đếm như thế nếu sau cùng còn thừa từ 1 đến 4 cọng cỏ, thì cài vào khe ngón tay còn trống.

Đếm xong trả những số đếm về phía trái, rồi cầm nắm cỏ bên phải mà đếm bằng tay trái. Cách đếm này cũng như lúc đếm nắm cỏ bên trái; số cỏ thừa lại cài vào khe ngón giữa và nắm cỏ vừa đếm xong đê lại bên phải.

Bấy giờ mới hợp cả ba số cỏ cài trên ngón tay mà đặt xuống bàn. Đó là một lần đếm.

Lần thứ hai dồn những cọng cỏ hai bên trái phải vào nhau, rồi lại chia hai như lúc đầu mà đếm tiếp. Lần thứ ba cũng theo cách hai lần trước.

Với ba lần đếm, mới hợp số cỏ hai bên trái phải còn trên bàn mà đếm như sau :

– Nếu còn 36 cọng cỏ tức gặp hào lão dương, gọi là trùng, vạch một biểu tượng vòng tròn (khuyên) làm dấu.

– Còn 32 cọng cỏ là thiếu âm tức gặp hào sách; vạch hai nét như chữ bát (tiếng Việt nghĩa là tám) làm dấu.

– Gặp 28 cọng cỏ là thiếu dương, gọi là đơn, vạch thành chữ nhất làm dấu.

– Gặp 24 cọng cỏ là lão âm, gọi là giao, vạch chéo chữ thập làm dấu.

Ba lần đếm mới ra 1 hào (bắt đầu bằng hào sơ); khi xong lại hợp lại mà đếm như những lần trước.

Đếm đủ 18 lần sẽ được 6 hào hay một quẻ thoán. Lúc này mới dùng lời Thoán lời Từ để giải đoán cho quẻ và 6 hào, từ hào sơ đến hào lục ấy.

– MAI HOA DỊCH SỐ : là cách bói chiết tự, do Thiệu Khang Tiết đời Minh (thế kỷ thứ 14 – 17) soạn sẵn lời giải cho từng quẻ và bói tùy theo ý (lời giải này “Thế giới tâm linh” có bài viết trong blog).

Muốn xem Mai hoa, người xem phải viết ra một chữ, muốn viết chữ gì cũng được. Khi đó thầy mới nhìn vào nét chữ, hay đếm nét mà đoán ra quẻ, khi đó xét theo quẻ mà giải. Có người còn lấy ý của chữ mà dự đoán thêm.

Mai hoa dịch số hiện nay không còn thông dụng, bởi khi xưa còn dùng chữ Hán hay chữ Nôm trong văn từ, nên có thể dùng để chiết tự; còn nay với chữ quốc ngữ (chữ la-tinh), các thầy chỉ giải đoán được qua nét bút và ý chữ chứ không chiết tự như xưa (thí dụ về chiết tự : người xem viết ra chữ TỬ khi hỏi chuyện hôn nhân, người thầy sẽ lấy trong chữ Tử ra có chữ nhất ở trên, còn dưới là chữ uyên, sẽ giải “nhất sàng cầm bị túc uyên ương”, có nghĩa một giường chăn gấm chim uyên ngủ; tức việc hôn nhân tốt đẹp).

– KIM TIỀN BỐC : có từ đời Hán Cao Tổ (thế kỷ thứ 2 Tr.CN), sau được Giả Hạc lập sẵn lời giải cho các quẻ, nên còn gọi là bói Giả Hạc.

Khi xem Kim tiền bốc, người thầy sẽ gieo 3 đồng tiền kẽm sau lời khấn, do thân chủ đến nhờ xem các việc như gia đạo, tiền tài, công danh sự nghiệp…

Nếu ba đồng tiền đều nằm ngửa gọi là trùng, nếu cùng nằm xấp gọi là giao, còn một xấp hai ngửa gọi là đơn, một ngửa hai xấp gọi là sách.

Mỗi lần gieo được một hào, trùng là hào thái dương, giao là hào thái âm, còn đơn là hào thiếu dương, và sách là hào thiếu âm.

Thầy gieo 6 lần mới thành một quẻ Thoán, đoán 6 hào từ dưới đoán lên, hào nào động, hào nào tĩnh để biết mọi sự kiết hung. Sáu hào từ đều mang ý nghĩa nhất định để xem động tĩnh thế nào như : Phụ mẫu (đường phúc đức từ tổ tiên, ông bà, cha mẹ để lại), Thê tài (đường chồng vợ và sự nghiệp bản thân), Huynh đệ (đường anh em, bạn bè), Tử tôn (đường con cái, dâu, rể, người làm) và Quan lộc (đường công danh trong xã hội) còn hào cuối cùng là coi chung vận số.

Còn nhiều cách xem quẻ xem bói khác, nhưng đều phải được soạn thành tám chữ Can Chi, hay ra âm lịch của năm tháng ngày giờ sinh mới dự đoán được mệnh số mỗi người. Tuy vậy muốn xem các quẻ Dịch, các thầy phải tinh thông môn biện chứng về Âm Dương tiêu trưởng, Ngũ Hành sinh khắc, biết được nhật thần (ngày) nguyệt tướng (tháng) ra sao trong 64 quẻ Dịch, cùng ý của 384 hào v.v…

Ngoài môn bói Dịch còn những môn bói khác, như xem tinh đẩu tọa thủ trong năm, trong ngày qua các lịch vạn sự được soạn sẵn, như lịch Đổng Công, Thông Thư, Tử Vi v.v… Những loại lịch này đều có nguyên tắc nhất định gọi là lịch pháp. Tuy nhiên trong mỗi loại lịch, các môn phái đều đưa tên các tinh đẩu lạ không giống với lịch nào, cũng như cách dự đoán cũng khác nhau, có lẽ vì muốn phô trương trường phái coi chiêm tinh của mình, như :

– ĐỔNG CÔNG TUYỂN TRẠCH NHẬT : lịch được soạn dựa theo các tinh đẩu trong bộ Hiệp Kỷ Biện Phương Thư thời nhà Thanh, Trung Quốc, chỉ thêm lời bàn cát hung cho từng năm tháng ngày giờ, các thầy dựa vào đó cộng với tuổi tác của thân chủ mà đoán ngay mệnh vận.

Lời dự đoán trong cuốn Đổng Công Tuyển Trạch Nhật chia thành 2 nhóm :

– Nhóm xem ngày : giải nghĩa các kiết hung của tinh đẩu, bằng cách diễn giải thật chi tiết.

– Nhóm tổng hợp : có bảng kê ngày tốt ngày xấu trong tháng, ảnh hưởng như thế nào cho những tuổi gì v.v… nhưng nội dung chủ yếu lịch Đổng Công chuyên về địa lý phong thủy (dương trạch, âm trạch), như ngày cất nhà, ngày an táng, cải táng,động quan, động thổ, hạ huyệt v.v…

Lịch Đổng Công dựa vào 12 ngày Trực và Can Chi Tiết Khí của Âm dương Ngũ hành, nên muốn sử dụng phải biết rỏ ngày Can Chi – Ngũ Hành -12 Trực – Nhị Thập Bát Tú trong ngày tháng năm hiện hành (xem bảng kê thí dụ dưới đây) :

A Dong cong

– THÔNG THƯ TRẦN TỬ TÁNH : cũng bao gồm một phần Đổng Công Tuyển Trạch Nhật, nhưng do phái Thông Thư của Trần Tử Tánh nghiên cứu biên soạn, chú trọng nhiều về hôn nhân gia đạo và xây dựng

Muốn xem lịch Thông Thư, trước hết phải biết cung Phi để xem môn “Hiệp hôn định cuộc” tức xem tuổi cưới hỏi, xem người Đông trạch, Tây trạch để định hướng xây dựng.

Bai 1-4– TỬ VI ĐẨU SỐ : là thuật giải đoán bằng lá số cho mỗi cá nhân, hay đoán tinh đẩu qua lịch vạn sự dùng chung cho mọi người. Lịch pháp trong Tử vi đẩu số cũng vận hành không khác lịch Đổng Công hay Thông Thư.

Cách làm lịch hay soạn lá số tương đối đơn giản, như tìm hiểu Can Chi – Ngũ Hành của năm, tháng, ngày, giờ âm lịch để an 14 chính tinh, tiếp đến 3 vòng sao Thái tuế, Bác sĩ và Trường sinh, sau đó đến các trung tinh và bàng tinh gồm 40 sao kiết và 21 sao hung, có 111 tinh đẩu trong năm.

Trên đây là những môn mệnh thuật của phương Đông, còn phương Tây ngoài cách xem Horoscope, có môn xem bói bài Tarot cũng rất phổ biến trong dân chúng.

Đón xem Thuật lập số và giải đoán TỬ VI

Thiên Việt

Tin Văn Nghệ Sài Gòn

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

MA SƯ TRẢ HẬN & BA CÔ GÁI SUỐI MA

2 TIỂU THUYẾT MỚI CỦA NGUYỄN LÊ QUAN

Trong tháng 9/09 các nhà sách trong nước đều bày bán hai cuốn tiểu thuyết kinh dị mới của nhà văn Nguyễn Lê Quan tức Khách Giang Hồ mang tựa “Ma sư trả hận” và “Ba cô gái suối ma” trong chủ đề Ly kỳ truyện.

Xin giới thiệu đến bạn đọc những lời dẫn truyện của hai cuốn tiểu thuyết nói trên :

BA CÔ GÁI SUỐI MA

Trong chúng ta có lẽ ai cũng đã nghe qua hoặc xem sách báo phim ảnh, nói về các loài ma quỷ xuất hiện đi phá quấy hay xâm hại đến tâm linh con người. Nhất là trong thời đại văn minh, màn ảnh và truyền hình thường quảng bá những bộ phim kinh dị nói về các loài ma quỷ một cách kinh dị gớm ghiết.

Suoi maThật sự trên thế gian này có ma quỷ hay không ?

Ở phương Tây, đa số người biết đến ma quỷ là loài ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình có răng nanh chuyên đi hút máu, sống trà trộn cùng loài người. Nhưng trong thực tế ma cà rồng hoàn toàn không có thật, nó chỉ là truyền thuyết sau trở thành huyền thoại, bởi sự hư cấu của các nhà văn châu Âu từ đầu thế kỷ 19 trở lại đây. Còn trong thế giới tâm linh phương Đông, không ai nói đến ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình nói trên; mà chỉ nhắc đến những loài ma quỷ vốn vô hình vô sắc, thường xâm nhập vào phần xác con người rồi dùng linh hồn ma quỷ để chi phối con người đi thực hiện những chuyện tàn bạo ác nhân thất đức.

Hay rùng rợn hơn khi nói đến quỷ nhập tràng, ma sói, tương tự như loài ma cà rồng nơi phương Tây vừa nói mà thôi.

Nhưng dù là ma hay quỷ, hữu hình hay vô hình, nhưng chưa ai đã thấy được hình dáng của ma quỷ, nếu có là chỉ do óc tưởng tượng mà hình thành trong tâm trí mọi người. Nên có người cho rằng, ma quỷ xuất hiện chỉ do ảo giác sinh ra ảo ảnh, hay dùng triết lý để nói “người cũng là ma, ma cũng là người”, vì cái tâm của người khi không tốt là chính linh hồn của loài ma quỷ đang dựa vào phần xác để thực hiện những thứ tội ác mà “trời không dung, đất không tha” kia thôi.

Cuốn truyện không đọc lúc nửa đêm này có tựa “3 cô gái Suối Ma”, tác giả xin diễn đạt đến người đọc ba câu chuyện về ma quỷ trong một nội dung liên hoàn, và cho thấy lưới trời thật lồng lộng không bao giờ dung tha cho thứ “luật của ma quỷ”, để các hồn ma tự đi xâm hại mọi người, bởi ma quỷ cũng sẽ phải đón nhận thứ quy luật bị “quả báo” như con người sống trên thế gian này.

Nội dung truyện hoàn toàn hư cấu, không ngoài mục đích tạo ra một sáng tác kinh dị để mọi người đọc giải trí, đồng thời nói đến những ân oán tình thù gây ra hiện tượng hồn ma báo oán, như vậy có phải “người cũng là ma, ma cũng là người” không !

MA SƯ TRẢ HẬN

Hồn ma báo oán luôn là đề tài trong các truyện kinh dị, và trong chúng ta có lẽ ai cũng muốn nghe hoặc xem các sách báo, phim ảnh nói về ma quỷ thường hay xuất hiện trả thù.

Ma su

Mà tại sao lại có hiện tượng ma báo oán?

Nếu bạn đã xem bộ phim “Oan hồn” chiếu trên màn ảnh nhỏ, kể về một thanh niên bị giết oan ức vì thế linh hồn không thể siêu thoát, anh ta phải trả xong mối thù tức phải báo oán, đồng thời làm thêm điều thiện, cuối cùng linh hồn anh cũng đã được giải thoát lên cõi vĩnh hằng.

Cuốn phim trên rất tương hợp với cuộc đời thường do nội dung và hình ảnh đã diễn đạt đến hiện tượng: ma luôn ở cạnh mọi người, nhưng người lại không bao giờ thấy được ma hoặc chỉ có những nhà ngoại cảm, người sống trong thế giới tâm linh mới thấy ma luôn xuất hiện xung quanh chúng ta.

Vì thế, nếu không có thù sẽ không có oán để hồn ma đến trả hận. Cho nên, nếu chúng ta không tham sân si thì không bao giờ phải gặp ma, dù chỉ do ảo giác, ảo ảnh từ tâm linh sinh ra những tưởng tượng đến mê tín.

Cuốn truyện không đọc lúc nửa đêm này, tác giả muốn diễn đạt đến người đọc câu chuyện về một võ sĩ khi chết vì quá uẩn ức mà sinh lòng thù hận với mọi người, để rồi có những lúc hiện về báo thù thật kinh dị đến rợn người. Nhưng dù ma quỷ có ma lực hơn người, nhưng trái lại con người lại thông minh trí tuệ hơn chúng, không để ma quỷ tự tung tự tác, mà phải trừ diệt để đem đến sự an lành cho mọi người.

Nội dung cho thấy lưới trời lồng lộng không bao giờ dung tha cho thứ “luật ma quỷ” đi xâm hại người… và cuối cũng ma quỷ cũng phải chịu quy luật “quả báo” như con người đang sống trên thế gian này.

Nội dung cốt truyện hoàn toàn hư cấu, không ngoài mục đích tạo ra một sáng tác kinh dị, tạo ra một sáng tác kinh dị để bạn đọc giải trí, đồng thời nói đến những thù oán mới gây ra hiện tượng hồn ma báo oán…

Trang blog xin giới thiệu cùng các bạn đọc bốn phương. Cả hai cuốn tiểu thuyết “Ma sư trả hận” và “Ba cô gái suối ma”, sách đều dày 144 trang giá bìa 23.000đ của NXB Lao Động, nhà sách Văn Chương tổng phát hành tại địa chỉ 78-80 đường Nguyễn Chí Thanh, Q10.

NHÀ VĂN HOÀNG HẢI THỦY… CHƯA CHẾT !

Một nguồn tin xuất phát từ hải ngoại, báo tin cho một họa sĩ sắp lên đường qua Mỹ triển lãm tranh, nói bằng giọng như thật “Công tử Hà Đông” đã qua đời chỉ sau nhà văn Nguyễn Thụy Long có mấy ngày. Tin này lan tràn khắp giới văn nghệ Sài Gòn. Khi “Văn nghệ người Sài Gòn” soát lại nguồn tin mới hay “Công tử Hà Đông” tức nhà văn Hoàng Hải Thủy vẫn sống khoẻ ở Mỹ. Đây là tin chính xác xin thông báo quý anh chị em văn nghệ Sài Gòn.

HH ThuyHoàng Hải Thủy tên thật là Dương Trọng Hải. Sinh năm 1933 tại Hà Đông. Ngoài bút danh Hoàng Hải Thủy, ông còn có các bút hiệu khác như Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn …

Nhìn vào cuộc đời và sự nghiệp, nhà văn Hoàng Hải Thủy vào Nam năm 1951, làm phóng viên cho nhật báo Ánh Sáng, Sài Gòn Mới. Các tác phẩm đã xuất bản trước năm 1975 gồm Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 (Phóng tác), Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác)…

TẬP TRUYỆN DÂM THƯ “I’ AM ĐÀN BÀ” ?

Trước đây có những nhà văn nữ viết truyện “dâm” như Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng (“Văn nghệ người Sài Gòn” đã có bài viết trong blog), còn bây giờ đang rộ lên nhiều nữ tác giả mà giới phê bình văn học cho rằng họ viết “dâm thư”, có thể kể tác phẩm “Bóng Đè” của Đỗ Hoàng Diệu bị kết án là sex, “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư cũng bị kết án gắt gao. Nay thì “I’m Đàn Bà” tập truyện mới phát hành của nhà văn nữ Y Ban, cũng đang làm xôn xao dư luận.

Y ban 2

Tác phẩm “I’am đàn bà” được nhà xuất bản Phụ Nữ cho phép phát hành. Sau đó bị cấm phổ biến và bị tịch thu, nên tác phẩm tự nhiên nỗi tiếng và làm nhiều độc giả tò mò muốn xem nhà văn nữ Y Ban đã viết gì mà bị lên án là một tác phẩm dâm thư, đầy chất gợi dục, nên mới bị tịch thu và cấm phát hành như vậy.

Theo dư luận nói về hình thức in ấn, cuốn sách nhỏ, mỏng, như loại sách bỏ túi, trình bày luộm thuộm, nhiều chữ đánh máy sai chính tả, nên khi đọc có hơi bực mình. Còn nộ dung “I’m đàn bà” gồm 10 truyện ngắn: I’m đàn bà, Gà ấp bóng, Cái Tý, Tự, Người đàn bà đứng trước gương, Sau chớp là dông bão, Tôi và gã, Cuộc chiến tranh giữa các nền văn hóa, Hàng khuyến mãi, Hai bảy bước chân là thiên đường.

Đọc qua tập truyện “I’m đàn bà”, Y Ban đã đi sâu vào việc mô tả những hình ảnh sex rất hiện thực. Như truyện Tự, có đoạn :

“…Nó bằng plastic màu đỏ, trông như món đồ chơi của trẻ con. Dầu vậy tôi cũng bắt đầu nóng bừng. Nhưng cái đầu tôi lại tỉnh táo đến kỳ lạ, tạnh không, có một sự liên hệ. Chỉ còn lại một vài hình ảnh trong phim mà tôi đã từng được xem qua. tôi đến trước gương. Tấm gương to, rất sáng. Tôi nhìn thấy trước tiên là khuôn mặt dài dại. Có kẻ khôn nào mà hành động như vậy không. Rồi ánh mắt cũng dài dại. Đôi tay dài dại run rẫy cởi bỏ áo quần. Trong gương thịt da sáng loáng. Một tấm thân tròn mình cá trắm, với hai cái vú bánh dày, một đôi chân dài và cái bụng đã qua một lần sinh nở mà vẫn thon, tịnh không có vết nứt. Cái tấm thân cha mẹ sinh ra thế là quý lắm, khối người đã mất bao nhiêu tiền để thẩm mỹ mà có nổi tấm thân đó đâu…

“Tôi lấy catalog để đọc hướng dẫn sử dụng: Nằm ngửa trong tư thế thật thoải mái trên giường. Người nào có đầu óc tưởng tượng thì cứ nghĩ đến một cảnh thật lãng mạn, sau đó dùng hai tay tự kích thích vào các điểm nhạy cảm như hai núm vú và âm vật. Như vậy sẽ tạo hưng phấn để cửa mình mở ra. Trường hợp nếu không thể tự làm được thì như đã hướng dẫn thì sẽ dùng dầu bôi trơn xoa lên dụng cụ rồi đưa từ từ vào cửa mình. Chú ý: Phải thật từ từ nếu không sẽ gây tổn thương, khó lường…”

Chỉ mô tả một đoạn ngắn biết ngay Y Ban đang mô tả người phụ nữ đang “tự xử” sự thèm khát từ bản thân. Đúng là hơn cả truyện “Mưa chưa ướt đất” của Trùng Dương khiến “Đàn ông đọc nằm sấp, đàn bà đọc nằm ngửa”. Chỉ tiếc rằng bây giờ mọi người mới hay mà sách bị tịch thu và cấm bày bán !

Còn ý kiến của Y Ban khi trả lời trong một phỏng vấn :

– Không chỉ các nhà văn Việt Nam hiện nay, mà cả một số nhà văn nữ của Trung Quốc như Vệ Tuệ cũng phá cách bằng cách khai thác về cuộc sống tình dục. Đối với các nhà văn nữ trẻ, họ đang trong giai đoạn sung sức, tình dục đối với họ là dĩ nhiên, bởi vậy họ đưa nó vào trong tác phẩm. Còn đối với các nhà văn nữ đã qua tuổi thanh xuân, bắt đầu vào tuổi trung niên, thì họ lại hồi tưởng lại một thời son trẻ. Tuy có thể bề ngoài của họ đã già đi, nhưng ẩn chứa trong đó vẫn là một tâm hồn lãng mạn, tinh tế và nồng nhiệt. Bởi vậy, họ cũng bị ám ảnh nhiều về sex.

Vài nét về Y Ban, tên thật là Phạm Thị Xuân Ban. Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1961, tốt nghiệp Đại học Y khoa, từng dạy học tại Trường Cao đẳng Y tại Nam Định. Tác phẩm đã in : Người đàn bà có ma lực (truyện ngắn, 1983), Người đàn bà sinh ra trong bóng đêm (truyện ngắn, 1995), I’ am đàn bà (truyện ngắn, 2006)

NHÀ VĂN NGUYỄN THỤY LONG QUA ĐỜI

Nguyen Thuy Long 1Trang Blog nhận được tin buồn, nhà văn Nguyễn Thụy Long, tác giả nổi tiếng qua cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung (từng được thực hiện thành phim do hãng Cosunam film sản xuất, với các diễn viên  Thanh Nga, Huỳnh Thanh Trà…)  đã từ trần tại nhà riêng 156/3  đường Nhiêu Tứ, P.7, Q. Phú Nhuận (ráp ranh với P.3 Q. Bình Thạnh) vào lúc 20g30 ngày 3/9/2009

Nhà văn Nguyễn Thụy Long sinh năm 1938 hưởng thọ 72 tuổi, đã hôn mê từ ngày 23/8/2009 được đưa vào nằm tại bệnh viện Gia Định (tên cũ BV Nguyễn Văn Học). Và sau 10 ngày chống chỏi với thần chết, đã thở hơi cuối cùng, vĩnh viễn xa văn đàn văn nghệ.

Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc linh hồn người nghệ sĩ sớm siêu thăng về miền lạc cảnh.

Anie-02CÔ DÂU MẤT TÍCH TRƯỚC NGÀY CƯỚI

Trên mạng đều loan tin cảnh sát bang Connecticut, Mỹ, vừa tìm thấy một thi thể giấu trong một hốc tường ở tầng hầm tòa nhà đại học Yale, nơi cô dâu gốc Việt tên Annie Le biến mất. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy cô vào tòa nhà từ ngày 8/9/2009. Thông tin trên được các bác sỹ pháp y công bố vào ngày 14 tháng 9. Le 24 tuổi, đang theo học sau đại học ngành dược tại đại học Yale và dự định sẽ cưới vào đúng ngày cảnh sát tìm thấy thi thể của cô.

Theo các nhà điều tra, họ tìm thấy vải dính máu nằm rải rác khắp tòa và chúng được giấu trên các viên gạch ở phần trần phụ. Theo các nhà điều tra đã tìm thấy bóp tiền, chìa khóa và túi xách của cô vẫn để ở đây. Cảnh sát hiện chưa cho biết thêm thông tin nhưng tin rằng đây là một vụ giết người có chủ đích. Và một kẻ tình nghi đã bị bắt giữ, không phải là vị hôn phu của Le.

Le biến mất khi chỉ còn 5 ngày nữa là tới đám cưới. Lần cuối cùng cô viết trên trang facebook cá nhân là vào ngày 6/9, khi đó tỏ ra hồ hởi vì lễ kết hôn gần kề. Đồng nghiệp của cô cũng cho hay, Le rất hào hứng về đám cưới này.

Ngày 15/9 cảnh sát và đặc vụ FBI đã lục soát nhà của một chuyên viên nghiên cứu động vật của Đại học Yale tên Raymond Clark, 24 tuổi,  sau đó còng tay dẫn đi trong sự hoan nghênh của những người hàng xóm khi thấy họ đã tìm ra manh mối của vụ giết hại đang gây chấn động nước Mỹ.

Anie-01Tuy chưa có cáo buộc Clark là thủ phạm, nhưng đã bắt anh ta sau khi tìm thấy các bằng chứng về DNA và những bằng chứng khác có liên quan đến vụ giết hại Annie Le, như tóc, móng tay và nước bọt của Clark cùng với hơn 150 mẫu bằng chứng thu thập được tại hiện trường.

Hoàng Vân thân mến,

Mấy ngày qua anh đọc mẫu tin trên thật dửng dưng, không nghĩ Annie Le là con gái em với nhà báo Hoàng Phương, vì ngày 26/8 em còn online với anh về đám cưới của con gái, sắp tổ chức ở bang California; và trước đó hồi đầu năm em về VN đưa thiệp báo tin đến mọi người.

Cho đến hôm qua anh Thân Bình gọi điện cho anh biết, tin “cô dâu Việt mất tích trước ngày cưới” các báo ở VN đăng, chính là Lê An (Annie Le) con gái em, làm anh sửng sốt vô cùng. Bởi anh không thể ngờ được sự việc đau buồn lại diễn ra ngẫu nhiên đến như thế, nhưng trên thế gian này không có gì là không thể. Chỉ mong mất mát này sẽ chóng trôi qua.

Cho hai anh gửi lời chia buồn cùng em. (Nguyễn Việt và Thân Bình)

1 A Ben tam hon 1BẾN TÂM HỒN

MỘT THỜI SÀI GÒN” RA MẮT

Những ngày đầu tháng 9 vừa qua, nhà thơ Thiên Hà ở Sài Gòn đã hoàn thành cuốn Hợp tuyển Bến Tâm Hồn mang chủ đề “Một thời Sài Gòn” do anh chủ trương thực hiện.

Sách dày 252 trang, khổ 13×19 cộng 16 trang phụ bản, tập hợp 30 văn-nghệ-sĩ một-thời-Sài Gòn đã thành danh từ thập niên 50-60 của thế kỷ trước được nhiều người mến mộ.

Trong tập hợp tuyển này với 30 khuôn mặt Thơ – Nhạc và Họa, gồm những người còn sống hay đã chết. Những người ở trong nước hay hải ngoại còn sống đều đã trên tuổi lục tuần như Kiên Giang Hà Huy Hà, Tô  Kiều  Ngân, Phong Sơn, Phạm Cung, Thiên Hà, Lý Thụy Ý, Trương Đạm Thủy, Hàn Song Tâm, Phan Bá Thụy Dương, Ngọc Hoài Phương, Trang Thanh Liêm, Chúc Mai, Lệ Khánh, Vi Vi,  Miên Đức Thắng, Lan Thương, Lương Truờng Thọ, Trần Huiền Ân.

Cùng các khuôn mặt đã qua đời như Bùi Giáng, Sơn Nam, Phạm Thế Mỹ,  Ngọc Linh, Hoàng Anh Tuấn (đạo diễn), Thục Vũ, Hoàng Trúc Ly, Trường Anh, Tâm Đạm Dương Trữ La, Kim Tuấn,  Anh Việt Thu, Phương Triều…

Hiện sách đã phát hành trong và ngoài nước. Xin hân hạnh giới thiệu cùng độc giả. Đọc Bến Tâm Hồn để nhớ một-thời-Sài Gòn để yêu hơn Sài Gòn hôm qua và Sài Gòn hôm nay.

bia Huong rungHƯƠNG RỪNG PHƯƠNG NAM ĐANG TỚI NHÀ IN

Trước 1975, Phan Thanh Bằng từng chủ trương tờ tuần báo Sân Khấu Mới cùng ký giả Văn Lương – Đặng Tấn, tờ báo chuyên tạo scandal trong giới nghệ sĩ tân cổ. Bây giờ anh đã lớn tuổi nên ngồi nhà viết sách, nhưng không phải viết lại các vụ scandal năm xưa mà viết địa phương chí theo cung cách cuốn “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam.

Phan Thanh Bằng cho biết, lúc còn sống nhà văn Sơn Nam thường khuyến khích anh viết một cuốn về tỉnh Vĩnh Long xưa khi còn gọi là “Vãn Long”, cho nên anh quyết tâm viết và có tựa “Hương rừng Phương Nam” dày gần 300 trang. Sách có nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Dương Hà, nhà văn Thiên Hà và Nguyễn Lê Quan viết lời tựa và giới thiệu.

Để xem “Hương Rừng Phương Nam” nói về tỉnh Vĩnh Long thời chống Pháp ra sao, nghe nói sách đã có giấy phép và đang bắt đầu in ấn sắp phát hành nay mai.

NS Bao PhucKHI NÀO GẶP PHẢI “PHẠM PHÒNG” ?

liên quan bài “Bóng ma trên sàn diễn”

trong my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Đọc bài của Khách Giang Hồ về “Bóng ma trên sàn diễn” nói về cái chết đột tử của nhạc sĩ Bảo Phúc. Mà hiện nay theo dư luận đang đồn đoán, anh chàng nhạc sĩ 51 tuổi này mắc phải chuyện “Phạm Phòng”. Xin cho biết thế nào là mắc chuyện “Phạm Phòng” ?

(hothihuong@….)

Đáp : “Phạm Phòng” còn được người đời gọi là mắc “Thượng Mã Phong” hay chết trên mình “ngựa cái”, nói theo khoa học là người đàn ông bị trúng gió khi đang ân ái. (Đọc trong loạt bài Hạnh phúc lứa đôi).

Thượng mã phong chỉ xảy ra cho nam giới khi bị trúng gió, lúc đó dương vật to cứng còn thân thể lạnh ngắt, mắt mở trừng trừng, mặt tái, chân tay bất động. Đây mới chỉ là một hình thức “chết giả”, nếu người vợ, người tình, không biết cách chữa trị sẽ biến nạn nhân “đột tử” gây ra cái chết thật.

Nhiều phụ nữ chưa gặp cảnh đối tượng bị mắc Thượng Mã Phong sẽ rất sợ hãi, thường xô đẩy họ ra khỏi người, như thế rất khó cứu chữa.

Để trị việc trúng gió dẫn đến mắc chứng Thượng Mã Phong, người phụ nữ ấy phải dùng những vật nhọn như trâm cài, kim khâu để giải quyết, phải thật bình tĩnh tay ôm lấy lưng đối tượng để truyền thêm hơi ấm, còn một tay lấy trâm chích dưới hốc xương chậu cho máu độc chảy ra.

Nếu người nam không có lông mao nơi hậu môn mà người nữ cũng không có sẵn trâm hay kim, mới lấy tay giật từng túm tóc mai cho thật đau. Chỉ một lúc sau người đó sẽ dần hồi tỉnh, bấy giờ mới nhẹ nhàng đẩy người đàn ông ra khỏi người, rồi mới nên kêu người vào trợ giúp.

CS Ho Q Huong 1CÓ HỒN MA QUẤY NHIỄU THẬT KHÔNG ?

liên quan bài “Bóng ma trên sàn diễn”

trong my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Qua thông tin ca sĩ Hồ Quỳnh Hương đã ở bên nhạc sĩ Bảo Phúc lúc anh bị đột tử, và bây giờ hồn ma Bảo Phúc cứ hiện về quấy nhiễu không cho Hồ Quỳnh Hương hát có đúng không ?

(talashotgun2005@…..)

Đáp : chuyện này chỉ suy đoán theo lời đồn, chứ có mấy ai đã thấy được ma trong thế giới vô hình. Còn chuyện ca sĩ Hồ Quỳnh Hương đã ở bên nhạc sĩ Bảo Phúc lúc anh bị đột tử, do web Dân Trí viết : “trước khi nhạc sĩ Bảo Phúc ra đi mãi mãi  thì cô ca sĩ cuối cùng còn làm việc với anh chính là Hồ Quỳnh Hương” nên tác giả Khách Giang Hồ chỉ chấp bút viết lại.

Xe lanTỐN 30 TRIỆU ĐỂ KẾT NẠP VÀO

HỘI “VĂN NGHỆ VĂN GỪNG” ?!

liên quan  bài : Nhà văn “xe lăn” trong

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Một tin đăng trên “Văn nghệ người Sài Gòn” có nói đến ông nhà văn xe lăn “Toán Tiền”, do có tiền (đong xăng gian lận) mới được kết nạp vào Hội Văn Nghệ Văn Gừng gì đó. Nhưng vì ông ta chỉ mới có 4 quyển sách in ra dùng để tặng, trong lúc người có mấy chục tác phẩm được phát hành rộng rãi lại không được kết nạp, nên ở quán Văn Nghệ 81 người ta nói ông “Toán Tiền” phải lót tay đến 30 triệu cho một người có uy tín trong Hội lên tiếng đề nghị để được kết nạp. Và để “rửa tiền”, vị này đã viết cho ông nhà văn “Toán Tiền” một bài giới thiệu tràng giang đại hải, nhằm không cho ai biết chuyện ở sau hậu trường. Có đúng vậy không ?

(dancaubacang)

Đáp : đó là lời đồn thôi, ai có thấy ông Toán Tiền đưa 30 triệu cho vị ấy đâu. Còn ông nhà văn xe lăn sở dĩ được kết nạp vào Hội Văn Nghệ Văn Gừng này, rất có thể do văn chương của ông thuộc loại siêu phàm; còn các nhà văn, nhà thơ chưa được kết nạp là do văn chương thi phú không bốc lên mùi tiền đó thôi.

Cafe 1KÝ GIẢ CÀ PHÊ LÀ GÌ ?

trong loạt bài “Nghề làm báo”

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : ở loạt bài “Nghề làm báo” các kỳ 1, 2, 3, 4 có nói đến ký giả cà phê, theo em được biết, họ là những ký giả hay ngồi uống cà phê trong giờ làm việc nên mới được gán ghép cho mấy chữ này ?

(mongbinhthuong@….)

Đáp : không phải vậy đâu, bởi ký giả là người hay chạy nhông nhông ngoài đường, hoặc đi đến các cơ quan săn tin, đâu ai quản lý về giờ giấc. Chẳng những họ uống cà phê, đôi khi còn uống cả bia, rượu, và nếu “trúng mánh” còn có thể vô nhà hàng karaoke để “ôm” đào nữa kìa.

Bốn chữ “ký giả cà phê “ chỉ là hình dung từ để ám chỉ một người viết báo có chân thường trực trong một tờ báo nào đó, thường xuyên viết về một đối tượng nào đó, thí dụ đối tượng bị táo bón, xổ mũi ấm đầu, mất ngủ hay mất cắp hột xoàn đều được đăng lên xoành xoạch cho bàn dân thiên hạ hay biết, để tháng tháng lấy tiền lại quả; mà đôi khi còn là người “ái mộ” đối tượng viết dùm tin tức không công bất vụ lợi. Như có một cô em đang hành nghề viết báo mục văn nghệ, thường xuyên viết về anh chàng ca sĩ Mr. Khỉ Gió, nên cũng được liệt vào hàng ngũ “ký giả cà phê”.

len dongNGHỆ SĨ “ĐỒNG BÓNG”

Hỏi : người ta đồn mấy anh hề trên sân khấu hài, có anh pê đê lại cái, có anh thích lên đồng. Tôi từng theo dõi blog “Văn nghệ người Sài Gòn” có lúc đề cập đến 2 anh hể HL và DP hay “lên đồng” ở đền Sòng trên đường Nguyễn thiện Thuật, Q3, có đúng không vậy ?

(dancaubacang)

Đáp : câu hỏi này rất đúng, chỉ có HL “lên đồng” ở đền Sòng, còn DP ở đền Ông Tề hay một đền gì đó tuốt bên Khánh Hội. Nay đang tháng 8 ÂL theo câu “tháng tám giỗ cha, tháng ba tiệc mẹ”, hai anh hề này sắp sửa soạn khăn áo để đi hầu đờng, mà không chừng năm nay còn có một anh MC cũng nối bước theo HL và DP nữa không chừng.

“Văn nghệ người Sài Gòn” đang theo đuổi để chụp vài pô ảnh chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy, mà cũng khó lắm, bởi mấy ông đồng nam này thường lên đồng vào lúc nửa đêm, hạn chế người vào lễ Thánh, nên chưa dám hứa chắc chụp được hình này.

Nguyen Tat Nhien 2NHÀ THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN MẮC TÂM THẦN ?

trong bài “tài danh sớm bạc mệnh”

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Đọc bài “Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, một tài danh sớm bạc mệnh” khiến tôi quá đổi sửng sốt, khi biết thi sĩ này từng mắc bệnh tâm thần, từng ở trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, mà sao Nguyễn Tất Nhiên làm thơ tình hay quá. Rồi lại thêm tin Nguyễn Tất Nhiên do treo cổ tự tử mà chết chứ không phải nằm chết trong xe hơi như tin trên mạng. Vậy những tin này có đúng không ?

(nusinhtrungvuong2005@…)

Đáp : chuyện nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên có thời gian nằm trị bệnh trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa là đúng, đây là lời do nhạc sĩ Phạm Duy tiết lộ, một người từng phổ rất nhiều thơ của anh. Còn chuyện Nguyễn Tất Nhiên có treo cổ tự tử hay không, chuyện này chỉ có cảnh sát ở bang California nắm rõ và nhất là gia đình cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên biết, do tin trên chỉ là lời đồn.

NGUYỄN LÊ QUAN

Tự giải đoán Mệnh vận (bài 2)

Tính qua các trị số Âm Dương

– Thiên Việt (Bài 2)

Kỳ trước trang blog đã đưa ra các công thức để tìm ngày Dương lịch ra Âm lịch, hay tìm tên CAN CHI cho năm tháng ngày giờ sinh (rất cần thiết để xem được thuật toán Mai Hoa và Bát Tự).

Kỳ này giải đáp những trị số đó.

Bang tong so AD

BẤT TÚC, TRUNG HÒA, THÁI QUÁ :

Bất cứ tổng số Âm Dương sẽ có một trong ba thứ hạng gồm Bất túc (ít), Trung hòa (vừa) hay Thái quá (nhiều), số nào cũng có thể là tốt cũng có thể là xấu, tùy theo thuận hay nghịch thời theo quẻ Nguyệt lệnh.

Thí dụ : người sinh trong tiết Đại Tuyết (khoảng tháng 11, Tý), khi khí Nhất Dương Sinh vừa hình thành (chỉ có 1 hào dương tại hào sơ), Nguyệt lệnh là quẻ PHỤC, thì tổng số Dương nên ít, dưới số tối đa 25 được xem là thuận thời, nếu trên 28 hoặc nhiều hơn là nghịch thời, tức sai hình tượng quẻ Nguyệt lệnh (quẻ Phục).

Nếu người sinh trong tiết Hàn Lộ (tháng 9, Tuất) quẻ Nguyệt lệnh là BÁC gồm 5 hào âm, vậy tuổi có tổng số Âm trên 30 tức đi lên từ 33 và tổng số Dương ít hơn 25 là thuận thời; trái lại Âm ít (dưới 30) Dương nhiều (trên 28) được xem là nghịch thời.

Độ số khi thuận hay nghịch thời được tính như sau (Lưu ý : đầu tháng tức 15 ngày đầu vào Tiết, còn giữa tháng là15 ngày khi khởi Khí) :

– Tổng số Dương thuận thời

– Bất Túc (Ít) : từ khí Đông Chí (giữa tháng Tý) đến cuối tiêt Lâp Xuân (đầu tháng Dần), 2 tháng Tý, Sửu và đầu tháng Dần, mang quẻ Phục có 1 hào dương : tổng số Dương phải ít hơn 25 mới tốt, nhiều hơn 25 bắt đầu xấu, cao đến 35 trở lên sẽ bị hình khắc như làm liều chuốc lấy tai vạ, mạo hiểm nhưng không thành, gặp tán tài, nạn tai.

Bang Nguyet lenh– Trung Hòa (Vừa) : Từ khí Vũ Thủy (giữa tháng Dần) đến cuối tiết Kinh Trập (đầu tháng Mão), 2 tháng Dần, Mão, mang quẻ Thái có 3 hào dương và 3 hào âm : tổng số Dương không chênh lệch nhiều ít với 25 là tốt, còn ít hơn là nghịch thời, kém về tài lộc, gia đạo rối ren, tử tức hiếm con trai.

– Thái Quá (Nhiều) : Từ khí Cốc Vũ (giữa tháng Thìn) đến cuối tiết Lập Hạ (đầu tháng Tỵ̣), 2 tháng Thìn, Tỵ, gặp quẻ Quải có 5 hào dương, quẻ Kiền có 6 hào dương : tổng số Dương từ 28 trở lên là thuận thời, không nhiều với 25 là số bình thường, còn ít hơn 25 nên lo.

Dương thuộc nam giới, nên mọi việc tốt xấu đều thuộc Dương, như xem đường con cái nếu bất túc sẽ hiếm muộn con trai, trung hòa là bình thường, còn thái quá sẽ có nhiều con trai, xem đường quan lộc thì theo võ tốt hơn theo văn, xem đường tài lộc thuộc kim ngân tức vàng bạc, đường gia đạo lại không nhiều vợ nhưng nhiều bạn nam v.v…

– Tổng số Âm thuận thời

– Bất Túc (Ít) : từ khí Hạ Chí (giữa tháng Ngọ) đến cuối tiết Lập Thu (đầu tháng Thân) 2 tháng Ngọ, Mùi, và đầu tháng Thân, mang quẻ Cấu gồm 1 hào âm 5 hào dương, tiết trời còn nóng bức, nên tổng số Âm phải ít hơn 30 mới tốt, nhiều hơn 30 bắt đầu xấu, còn cao từ 35 trở lên rất xấu, trong khi đó́ tổng số Dương cần cao hơn 25.

– Trung Hòa (Vừa) : từ khí Xử Thử (giữa tháng Thân) đến cuối tiết Bạch Lộ (đầu tháng Dâu) 2 tháng Thân, Dậu, mang quẻ Bĩ có 3 hào âm và 3 hào dương : tổng số Âm không chênh lệch với 30 nhiều là thuận thời, còn ít hơn là nghịch thời, không phát triển mọi mặt, tính tình lại nhu nhược.

– Thái Quá (Nhiều) : Từ khí Sương Giáng (giữa tháng Tuất) đến cuôi tiêt Lâp Đông (đầu tháng Hợi) 2 tháng Tuất, Hợi, gặp quẻ Bác có 5 hào âm 1 hào dương, quẻ Khôn có 6 hào âm : tổng số Âm nhiều hơn 30 trở lên là thuận thời, không chênh lệch nhiều ít với 30 là số bình thường, còn ít hơn 27 là nghịch thời.

Âm thuộc nữ giới, nên mọi việc đều thuộc về Âm tính, như xem đường phu quân, tử tức : nếu bất túc thì hiếm muộn con cái, nhưng chồng có uy dũng – ở đây một là quan quyền, hai là kẻ vũ phu, nếu có số Dương nhiều – trung hòa là bình thường, còn thái quá sẽ có nhiều con gái hơn con trai. Xem đường công danh sự nghiệp, có người trở thành mệnh phụ phu nhân, có người làm vượng chồng tốt con (vượng phu ích tử), có người cũng có thể làm kỷ nữ, gái lầu xanh v.v…

Trong quẻ Kiền nếu số Dương thiếu, hay quẻ Khôn có số Âm thiếu, khi có tông số Dương hay tổng số số Âm cao hơn tiêu chuẩn là thuận thời.

Tổng số Âm – Dương thuận thời hay nghịch thời trên đây, để xem về mệnh vận có hợp Nguyệt lệnh với tháng sinh hay không. Còn xem tiểu hạn có những tiêu chí sau đây :

Số Âm Dương theo tiểu hạn :

a/- Tổng số Âm Dương bằng hay thấp hơn (Bất túc) số tối đa (Tổng số Dương là 25 – Tổng số Âm là 30) :

– Số Dương bằng 25 : số Dương biểu tượng cho nam giới không có lợi cho nữ. Tháng lẻ thuộc Dương có công danh phú quý, tháng chẵn thuộc Âm thường gian nan.

– Số Âm bằng 30 : Số Âm có lợi cho nữ giới, nhưng không hoàn toàn toại ý. Tháng chẵn có tài lộc, còn tháng lẻ sẽ gặp số cô độc, hình khắc.

– Số Dương ít hơn 25 : Chỉ có từ 9 đên 24, vào tiết Đại Tuyết, Tiểu Hàn (tháng Tý, Sửu) là thuận thời, số khá vững nhưng không được toại ý; vào tiết Lập Xuân đến tiết Lập Hạ (từ tháng Dần đến tháng Tỵ) là nghịch thời, số khắc, kém đường phúc đức.

– Số Âm ít hơn 30 : Chỉ từ 18 đến 28, sau khí Hạ Chí đến tiết Lập Thu (từ tháng Ngọ đến tháng Thân) là thuận thời; từ khí Thu Phân đến trước khí Tiểu Tuyết (từ tháng Dậu đến tháng Hợi) số kém phước, khắc gia đạo.

– Số Dương quá thấp : Chỉ có từ 4 đến 8, nam giới buồn phiền, gian nan; nếu gặp tháng chẵn còn có may mắn hơn gặp tháng lẻ.

– Số Âm quá thấp : Có từ 8 đến 12, nữ giới gặp gian nan; số xấu thường hay cô độc.

b/- Số Âm Dương nhiều hơn (Thái quá) số tối đa :

– Số Dương nhiều hơn : Nhiều hơn 25 trên 30, vào tiết Thanh Minh, Lập Hạ (tháng Thìn, Tỵ) có quẻ Nguyệt lệnh là Quải, Kiền (có 5 và 6 hào dương) thì thuận thời. Nếu những tiết khác là nghịch thời, tính ngang bướng, cố chấp, nóng nảy vô cớ nên thường hư mọi sự.

– Số Âm nhiều hơn : có từ 38 trở lên sẽ gặp hình khắc, nữ khắc chồng, nam sợ vợ gia đạo bất hòa. Nếu từ sau tiết Lập Đông đến trước khí Đông Chí (tháng Hợi, Tý) sẽ gặp điều tốt lành, vì Nguyệt lệnh lúc này là quẻ Khôn có 6 hào âm là thuận thời, những tiết khác là nghịch thời.

c/- Số Âm Dương không chênh lệch (Trung hòa) :

Tức số Âm Dương không nhiều hay ít hơn, có chênh lệch không đáng kể như số Âm tối đa là 30, tính được 28, 29 hay 31, 32, số Dương tối đa là 25 tính được 23, 24 hay 26, 27 thêm quẻ Nguyệt lệnh phù hợp, thì trăm việc đều thành, được sở cầu như ý.

– Đoán cát hung :

Để dự đoán tính cát hung trong tháng, theo thí dụ của tuôi Canh Ngọ, muôn xem tháng ba âm lịch tốt hay xấu. Khi có tổng số Âm là 30/30 và tổng số Dương là 37/25.

Tháng ba mang Nguyệt lệnh quẻ QUẢI, gồm 5 hào dương và một hào âm, tức dương cực thịnh (thái quá) còn âm đang sinh (bất túc), xem theo tiêu chí hạng số Âm Dương theo tiểu hạn, tuổi Canh Ngọ được dự đoán :

– Số Dương nhiều hơn : Nhiều hơn 25 trên 30, có quẻ Nguyệt lệnh là Quải được xem là thuận thời, tức mưu sự gì cũng đều tốt, đạt được thành công nhất định.

– Số Âm bằng 30 : Số này có lợi cho nữ giới nhiều hơn vì tổng số âm bằng với số âm tối đa, nhưng sẽ không hoàn toàn toại ý. Còn với nam khi cùng tổng số Dương được quẻ Quải là tốt hoàn toàn trong tháng ba, do có có dương phù âm trợ.

Thiên Việt