NGÀY TẾT – TÌM HIỂU VỀ NGŨ PHÚC (2/2)

NGŨ PHÚC LÀ GÌ ?

(Kỳ 2 – tiếp theo và hết)

壽 THỌ

Thọ là sống được ngoài 70 tuổi. Thời Đỗ Phủ it người sống được đến tuổi đó. Ngày nay tuổi thọ trung bình ở cỡ 75, nên chữ thọ là một chữ trong ngũ phúc tương đối có nhiều người đạt được nhất.

Nhiều người tin rằng đặt đưọc chữ tho chỉ vì thường ăn mì, hay ăn trái đào.  Ước mong đạt được tuổi thọ biểu lộ qua những bức hoành phi có nhưng câu như 壽  比  南  山, thọ bỉ nam sơn, nghĩa là thọ tựa như núi Nam, hay câu 萬  壽  無  疆, vạn thọ vô cương, thọ vạn năm chẳng cùng, hoặc 龜  齡  鶴  壽, quy linh hạc thọ, nghĩa là thọ như rùa hạc. Những lời chúc tụng như  萬 壽, vạn thọ có trong ngôn ngữ Trung Quốc từ đòi nhà Thương nhà Chu, cả mười thế kỷ trước công nguyên, mà giới khảo cổ thường thấy khắc trên những đỉnh vạc đời nhà Chu.  Tín đồ đạo Khổng tin rằng kẻ ở hiền thì sống lâu,  kẻ ở ác thì chết sớm: 仁  者  壽, 惡  者  夭. Hình tương tương trưng chữ thọ là cây thông, cây đào, con hạc con rùa. Các bậc thần tiên đều bất tử, tỷ như Tây Vương Thánh Mẫu.

Hình tượng lão thần là một cụ già có bộ mặt tươi cười, một tay chống gậy đầu long một tay cầm trái đào tiên bất tử.  Tương truyền, lão thần  là một trong Nhị Thập Bát Tú, nguyên là sao Giải Kháng  (Canopus), hay còn gọi là Nam Cực Lão Nhân Tinh, trong  Đông Phương Hạng Long Thất Tú (SudArgo) Ngưòi xưa tin rằng tinh tú ảnh hường tới tuổi thọ con người, và Nam Cực Lão Nhân là vì tinh tú quyết định số mạng con người. Nhà viết sử Tư Mã Thiên đời Hán, tác giả bộ Sử Ký Thiên Cung Thư, cho biết là người xưa tin ràng: 老  人  星 見, 治  安, 不  見  兵  起, lão nhân tinh kiến, trị an; bất kiến binh khởi, nghĩa là sao Lão Nhân hiện ra, thì trị an, không hiện ra là điểm khởi binh biến.

Có nhiều tryện truyền kỳ về thọ thần. Truyện thứ nhất là Bạch Xà Truyện. Tương truyền xuất xứ từ đời nhà Minh, rồi sau cải biến thành một vở tuồng. Bạch Xà hóa thân thành một thiếu nữ sắc đẹp tuyệt vời. Nàng yêu một chàng trai tên là Hứa Tiên, và kết duyên cùng chàng. Một hôm nàng uống lầm một chén rưọu thuốc khiến nàng tái hiện nguyên hình thành một con rắn trắng. Hứa Tiên quá sợ mà chết. Bạch xà về núi Côn Lôn để tìm linh chi tiên thảo có khả năng cứu chồng nàng sống lại được. Chẳng may Bạch Xà không thắng nổi hai tráng sĩ có nhiệm vụ canh gác khóm linh chi thảo. Trước hoàn cảnh đáng thương của nàng, Thọ Thần mủi lòng ban cho nàng linh chi thảo để về kịp cứu chồng.

Truyện thứ hai là một truyện có từ thời Lục Triều. Sách Sưu Thần Ký kể rằng có một thiếu niên tên là  Nhan Siêu, mười chín tuổi, được một lão ông cho hay là sớm mai thì chàng tận số. Nhan Siêu lậy van xin lão ông cứu mạng, nhưng lão ông cho biết là lão không thể nào thay đổi số mệnh được, và lão dục chàng trai mau về giã biệt cha mẹ. Nghe tin, cha mẹ chàng trai gấp tìm gặp lão ông và cùng khấu đầu xin lão ông cứu mạng cho con. Lão ông cho biết là hai người phải về sắm sửa rượu thịt để sáng mai Nhan Siêu bê ra dâng cho hai ông lão chơi cờ ở dưới bụi dâu bên đầu nhà. Ông lão còn dặn kỹ là Nhan Siêu không được mở miệng nói một tiếng. Sáng hôm sau, Nhan Siêu thấy hai ông lão bầy cuộc cờ bên bụi dâu. Đúng y như lời dặn chàng bê mâm rượu thịt ra để bên hai bàn cờ. Sau vài ván cờ, hai ông lão ngẩng lên thấy Nhan Siêu, và cũng nhận ra là đã dùng hết mâm rượu thịt. Hai ông lão bàn nhau thay đổi một vài chữ trong tập mệnh sách để thưởng công cho chàng trai. Ông lão ngồi bên mé Bắc nói rằng việc đó không phải là dễ. Ông lão ngồi bên mé Nam, dở cuốn mệnh sách ra xem kỷ lưỡng rổi nói là việc đó có thể làm được, đoạn lấy bút ra sửa số mười chín thành chín mươi mốt. Người chép truyện bàn rằng ông lão ngồi bên mé Bắc là Bắc Đẩu coi việc sống chết và ông lão ngồi bên mé Nam là Nam Tào chính là thọ thần coi việc tăng giảm tuổi thọ cho con người.

Người Trung Quốc thường dùng hình tượng nhiều loại cây để tiêu biểu cho tuổi thọ. Cây thông bốn mùa xanh lá, ngay cả tại những vùng núi cao, trong ngày đông tháng giá lạnh lẽo, thế nên cây thông là tiêu biểu quen thuộc nhất tuổi thọ. Trong ngôn ngữ Trung Quốc có nhưng thành ngữ quen dùng như 不  老  松, bất lão tùng, nghĩa là cây thông không già, hoặc 松  匊  延  年, tùng cúc diên niên, nghĩa là tùng cúc tăng thọ. Lá thông mọc thành từng cặp, tương trưng cho một cuộc hôn phối êm đẹp. Cây thông còn có tác đông xua đuổi tà ma tới tác quái với người chết trong mộ, nên người ta thường trồng thông tại các tha ma mộ địa.

Người Trung Quốc có truyện truyền kỳ về cây thông như sau. Xưa có người tên Triệu Cù, đau ốm đã nhiều năm. Thấy chàng đã gần ngày tận số, gia đình mang chàng về nhà trong núi chờ chết. Ít lâu sau, có một tiên ông đi qua, thương hại chàng cho một it thuốc bảo phải uống liền một trăm ngày. Sau trăm ngày Triệu Cù khỏi bệnh, da dẻ tươi tắn lại như ngày chưa bệnh. Ngày tiên ông trở lại, Triệu Cù quỳ dưới chân tiên ông để cám ơn cưu mạng, và xin hỏi tiên ông đã dùng thần dược gì để cứu chàng. Tiên ông cho biết vị thuốc chính là dầu thông. Triệu Cù về lại nhà sống đến trăm tuổi tăng không rụng, tóc không bạc. Ngày nay người ta công nhân rằng dầu thông có tác dụng kéo dài tuổi thọ.

Đi đôi với cây thông là cây bách. Trong tiếng việt bách còn có nghĩa là một trăm; trong tiếng Trung Quốc 柏 (cây bách) và 百(một trăm) cùng đọc là bai, tương trưng cho chữ thọ. Bách đi  đôi với tùng trong câu chúc tụng 柏 松 長 青, bách tùng trường thanh, nghĩa là bách tùng trẻ mãi. Kết hợp hình ảnh cây thị vói cây bách thành lời chúc mừng của người Trung Quốc 百 事  如  意, bách sự như ý, nghĩa là trăm sự như ý, vì chữ 柿 và chữ sụ 事, đồng âm trong tiếng Trung Quốc. Cũng như cây thông, cây bách cũng thường được trồng tại nghĩa trang để xua đuôi ma qủy bảo vệ nguời chết năm dưới mồ.

Đứng sau cây thông để tượng trưng chữ thọ là cây trúc, bởi lá trúc cũng giống lá thông xanh tươi suốt năm. Trúc còn tương trưng cho lòng can trường dẻo dai, người xưa mô tả trúc bằng câu: 不  剛  不  柔,  非  草  非  木, bất cương bất nhu, phi thảo phi mộc, nghỉa là không cứng không mền, chẳng là cỏ chẳng là cây. Người ta còn đặt cây mai đứng sau tùng trúc là hai loại cây xanh tươi cả năm, vì cùng tùng trúc xanh tốt, mai là thứ hoa độc nhất nở  vào mùa đông, thế nên người Trung Quốc gọi chung ba cây này là 歲  寒  三  友 tuế hàn tam hữu, ba người bạn thân trong ngày đông tháng giá. Vì đốt trúc thẳng và rỗng lòng, dịch bốn chữ 節  直  心  虛 tiết trực tâm hư, nên từng là biểu hiệu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Đốt một đốt trúc thường gây một tiếng nổ tựa như tiếng pháo. Ngày xưa tiếng nổ dùng để xua đuổi tà ma, thế nên người Trung Quốc có câu 竹報  平  安, trúc báo bình an; và vì chữ trúc 竹 đồng âm với chữ chúc 祝 trong tiếng Trung Quốc, nên câu trúc báo bình an trở thành một lời chúc tụng bình an.

Tiếp tới là cây mai, vì mai là loài hoa nở vào mùa đông, nên hoa mai trắng được chọn làm biểu tương cho chữ thọ, đồng thời còn tiêu biểu cho trinh tiết phụ nữ đài trang. Kết hợp hoa mai với cành trúc thành lời chúc song phúc: 竹  梅  雙  喜, trúc mai song hỷ, thường dùng trong những dịp cưới hỏi.

Sau mai là cúc, một loài hoa nở vào cuối thu và đầu đông, và cũng là một biểu tượng của chữ thọ. Ngoai ra, trong tiếng Trung Quốc, chữ cúc 菊 (hoa cúc) và chữ  cửu 久 (mãi mãi) đều đọc là jiu, thế nên hoa cúc cũng thành biểu tượng cho chữ thọ.

Về mùa xuân ở Đông Á có hoa thủy tiên, kết hợp một khóm thủy tiên với một tảng đá và mấy cành trúc thành cảnh mô tả bởi bốn chữ 群  仙  祝  壽, quần tiên chúc thọ, bởi như trên đã nói, chữ chúc 祝 này đông âm với chữ trúc 竹 và tảng đá tiêu biểu cho tuổi thọ. Không những trái đào, mà hoa đào cũng là một biểu tượng của chữ thọ. Thế nên không lạ gì ở vùng bắc Việt Nam, ngày tết người ta thường trưng cành đào. Trong thơ hoa đào tiêu biểu cho sắc đẹp các thiếu nữ còn trẻ.

Trái đào tiên là một trong những hình ảnh chủ chốt trong truyện thần thoại Tây Du Ký. Chương 5 truyện này kể rằng cây đào tiên ba ngàn năm mới ra hoa, ba ngàn năm sau mới kết trái, ăn được một miếng đào này sẽ sống đưọc sáu trăm năm.Sau khi đại náo thiên đình, Tôn Ngộ Không được Ngọc Hoàng Thượng Đế phong làm Tề Thiên Đại Thánh, lại cho cai quản vườn đào. Từ đó Tề Thiên lén ăn gần hết vườn đào. Tây Vương Mẫu, định mở hội, mời chư quần tiên, sai bẩy Tiên Nữ tới vườn đào hái đào chín mang về làm tiệc bàn đào tại điện Bửu Các. Bẩy Tiên Nữ gặp Tề Thiên cho Tề Thiên biết là Tề Thiên không được mời tới dự tiệc. Tức giận Tề Thiên đằng vân tới điện Bửu Các, ăn một hơi tàn tiệc, uống rượu quý đến say mèm. rồi chợt tỉnh thấy mình lén ăn gần hết vườn đào tiên, nay lại phá tàn tiệc bàn đào, bèn sợ hãi quay về tư dinh, nhưng quá say lạc vào cung Đâu Xuất, dinh của Thái Thượng Hoàng Lão Quân. Vào dinh Thượng Hoàng Lão Quân, Tề Thiên thấy năm chiếc bầu đựng thuốc trường sinh. Tề  Thiên không e ngại nuốt trọn cả năm bầu. Thế là Tôn Ngộ Không vừa ăn đào tiên, vừa uống được linh  đơn, hai thức cực qúy để trường sinh bất tử.

Theo truyền thoại, Tây Vương Mẫu là một nữ thần linh của Đạo Giáo, không những cai quản vườn đào tiên lại có trong tay  môn thuốc trưòng sinh. Nhiều bức tranh dân gian tượng trưng Tây Vương Mẫu như một thần nhân : thời thái cổ Tây Vương Mẫu có nửa người như người thường, có hàm răng cọp, có mái tóc dựng đứng, nửa ngưởi dưới mang hình con báo; sau dần dần biến hóa thành một người nữ. Có thoại nó Tây Vương Mẫu là vợ Ngọc Hoàng Đại Đế, tức là vợ vua trên trời. Một thoại khác kể rằng, ngoài hai ngàn năm trước, Tây Vương Mẫu dáng xuống trần, mang tặng vua Vũ Đế nhà Hán, bốn trái đào tiên, ai ăn được một trái sống được sáu trăm năm. Ăn hết đào vua Hán giữ hột, mong trồng với hy vọng gây được đào tiên nơi hạ giới. Tây Vương Mẫu biết truyện tâu lên vua rằng, đất đai hạ giới không đủ mầu mỡ để nuôi dưỡng cây đào tiên, phải qua sáu ngàn năm mới có quả. Truyện ăn đào tiên từ đó tới nay chỉ là giấc mộng trường sinh bất tử của con người.

Đứng sau TâyVương Mẫu, có nữ thọ thần. Trong truyền thuyết, nũ thọ thần tên là Ma Cô, trên nhiều tranh dân gian, nữ thọ thần thường cỡi hạc, hay cỡi hươu, trong tay thường có trái đào, hoặc trái phật thủ hay bình rượu. Dung nhan  thọ thần thường là một thiếu nữ trẻ tuổi, chừng mười tám đôi mươi, nhưng thật ra Ma Cô là một vị nữ thần không tuổi tác. Nữ thọ thần được ai quản biển Đông, kể từ ba lần dâu biển, kỳ nọ cách kỳ kia cả triệu năm.

Theo sách thần thoại Tây Du Ký, Ma Cô cũng là khách mời của Tây Vương Mẫu. tới dự tiệc bàn đào, và nhân dịp này Ma Cô dâng tăng Tây Vương Mẫu rượu thần cất bằng linh chi. Tích này tới triều nhà Thanh (1661-1911) cải biến thành tuồng 痲  姑  獻  壽  酒 , Ma Cô hiến thọ tửu, thường trình bày nhân dịp chúc thọ trung cung vua.

Theo sách Thần Tiên Truyện, từ đời nhà Tấn, thọ thần Ma Cô là một thiếu phụ nhan sắc tuyệt trần, có nhiều phép lạ, như có thể đi trên mặt nưóc, biến gạo thành linh đan. Anh ruột thọ thần tên là Vương Phương Bình, làm quan tại Đông Hải, là một nhà bói toán nổi danh, suốt đời nghiên cứu dịch số, sau chết thành tiên bay về núi.

Trong sách đời nhà Minh (1368-1644),  Liệt Tiên Toàn Truyện, cha của Ma Cô vốn là tướng Ma Thu hống hách với thuộc hạ thời Lục Quốc (304-439). Để xây cất doanh trại, ông bắt một toán thợ làm suốt đêm, cho tới khi gà gáy sáng mới được nghỉ. Động từ tâm, thương đám thợ vất vả, Ma Cô có biệt tài giả tiếng gà gáy. Mỗi khi nàng gáy, gà trong khắp xóm gáy theo, toán thợ được nghỉ sóm. Truyện này đến tai Ma Thu, ông tức giận và cho người đi lùng bắt con gái, nhưng nàng trốn vào núi và trỏ thành nữ thọ thần.

Sau nữ thọ thần, đến truyện Hằng Nga, nữ thần ngự trị trên cung trăng, cũng là một vị nữ thần trưòng sinh bất tử. Tương truyền Hằng Nga là vợ Hậu Nghệ, một xạ thủ có tài bắn cung. Thủa đó có chín con quạ biến thành chín mặt trời nung nấu trần gian. Hậu Nghệ trổ tài bắn cung bắn rơi cả chín mặt trời. Tây Vương Mẫu, thường công cứu nạn cho dân ban cho chàng một viên linh đan bất tử, và dậy rằng Hậu Nghệ phải nhịn đói một năm rồi mới uống thuốc thì mới linh nghiệm. Hậu Nghệ mang thuốc về cất kỹ trong nhà. Nhân lúc Hậu Nghệ vắng nhà, Hằng Nga lấy trộm thuốc, nuốt trọn,. Người nàng trở thành vô cùng nhẹ và bay xuyên mây lên mặt trăng. Hậu Nghệ cố tình bay theo mà không nổi. Lên tới mặt trăng, Hàng Nga bị phạt  biến thành con Thiềm Thừ hay con cóc  và viên thuốc bất tủ thành Ngọc Thỏ, và từ đó Hằng Nga vĩnh viễn sống đơn côi trên Cung Quảng.

Sau đó, trong dân gian lại có truyện về Hằng Nga như sau. Trải qua không biết bao nhiêu ngàn vạn năm, Hàng Nga lấy lại được nhan sắc diễm lệ ngày trước, và hàng năm, vào ngày rầm tháng tám âm lịch, người trần thế lại thấy nàng hiện về nhân dịp lễ Trung Thu.

Ngoài những nhân vật thần thoai như Tây Vương Mẫu như Hằng Nga có biệt tài bất tử, người trần thế đạt nổi được tới cỡ bất tử này có Bát Tiên, tức tám vị tiên đạo giáo. Tám vị tiên này là : Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Thiết Quầy Lý, Tào Quốc Cậu, Lữ Đồng Tân, Hà Tiên cô, và Lam Thái Hoà. Tất cả đều sinh ra đời như mọi người, nhưng vì dầy công tu luyện, nhờ đạo đức can trương hỷ xả mà đạt đưọc tới cõi tiên.

Tám người không sinh ra cùng thời. Tiểu truyện từng người lưu truyền trong dân dan trải dài trên sáu trăm năm, từ đời Đường đến đời Tống. Nhưng từ đời nhà Nguyên dân gian bắt đầu thờ tám vị tiên này chung một nhóm tại các quán đạo.

Truyện truyền kỳ phổ thông nhất về tám vị tiên này là bộ Bát Tiên Quá Hải. Tây Vương Mẫu vời tám vị tiên này về dự tiệc tại Dao Trì. Trong bữa tiếc cả tám vị uống rượu tiên tới say mèm. Tiệc tan, từ giã Tây Vương Mẫu, cả tám người ai dùng bửu bối của người nấy, vượt biển đông về hạ giới. Lý Thiết Quài, dùng một cây gậy sắt, Trương Quả Lảo cỡi con ngựa giấy, Lữ Đồng Tân dùng một ống sáo, Hàn Tương Tủ ngồi trong một rỏ hoa, Lam Thái Hoà và Tào Quốc Câu ngồi chung một tấm bàn ngọc, Hà Tiên cô dùng một chiếc dù, Hán Trung Li dùng một chiếc quạt lông. Long Vương ở biển Đông có hai con là  Ma Yết và Long Độc, theo rõi chuyến vượt biển đông hi hữu này, bèn lập mưu bắt đưọc Lam Thái Hoà cướp tấm ngọc bàn. Bẩy vị tiên tức khác đuổi theo và lân phiên giao chiến anh em Ma Yết và Long Độc. Kết cục giết được Ma yết và đánh trọng thương Long Du. Để trả thù, Long Vương cầu cứu Long Vương khắp bốn bể, nhưng cũng không thắng nổi bát tiên. Cuộc chiến kéo dài, Đức Như Lai và Phật Bà Quan Âm phải đứng ra dàn xếp, cuộc chinh chiến mới chấm dức. Bát tiên được người đời kính trọng vì không nhưng cả tám vị đều có tài cao tuyệt thế mà còn biết đồng tâm hiệp sức lo cứu nạn cho nhau.

Truyện truyền kỳ về chữ thọ thường nói tới nấm linh chi, một loại dược thảo giúp con ngường trở thành bất tử. Đây là một loại nấm, có tên khoa học là Polyporus lucidus rất được đông y coi trọng vì có phẩm chất dinh dương cao. Nấm này tiêu biểu cho thuốc trường sinh cũng như đặc tính hồi sinh cấp cứu. Theo truyền thuyết Dạo Giáo, nấm linh chi mọc tại đảo Bồng Lai ngoài biển Đông, nơi thần tiên ccu ngụ, và thuốc trường sinh nhiều như nước tù nhưng giếng ngọc ohun lên. Trên các tranh dân gian, nấn linh chi thương đi kèm với hình con hươu con hạc, nhưng hình tượng thông dụng tiêu biểu chữ thọ, để tạo thành những hình tưọng tiêu biểu cho song thọ thường thấy dùng trang trí trên tường các quán đạo. Trên nhiều bức khác, nấm linh chi thưòng kết hợp với hình cá trê, nguyên tiếng Trung Quốc đọc là niên, toàn bộ bức tranh đọc thành câu chúc tụng niên niên như ý.

Sau nấm linh chi, củ nhân sâm cũng được dùng tiêu biểu cho chữ thọ. Củ nhân sâm có hình thái tựa như hình người và có giá tri dược liêu rất cao, dùng làm thuốc chữa nhiều thứ bệnh và cũng dùng làm thuốc bổ.

Mỳ sợi dài cũng được người Trung Quốc lấy làm tiêu biểu cho chữ thọ. Có một hãng làm mỳ bán chạy nhất Trung Quốc lấy chữ thọ đặt tên cho mỳ họ sản xuất. Truyện kể rằng, dưới triều vua Đường Huyền Tôn, trong buổi khó khăn hoàng hậu phải đổi một tấm khăn lấy một bát mỳ dâng hoàng thương nhân dip sinh nhật. Cho tới ngày nay, người ta ăn mỳ vẫn kiêng không cắt ngang nhưng sợi mỳ vì tin rằng cắt ngang sợi mỳ là làm giảm đời sống.

Người Trung Quốc cũng như người Việt, không ăn mừng ngay sau khi có con chào đời, mà chờ cho con đầy tháng. Nhân dịp này người ta thường tặng cho đứa nhỏ hoặc một chiếc dây đeo cổ, gọi là trường mệnh tỏa, hoặc một chiếc khánh bằng kim khí khắc bốn chữ 長  生  百  歲, trường sinh bách tuế, nghĩa là sống lâu trăm năm, đeo bằng một sợi giây năm mầu. Người ta tin rằng sợi giây năm mầu này có khả năng xua đuồi tà ma quấy phá đứa nhỏ. Ở Việt Nam, có nhiều gia đình cho đứa nhỏ đeo vào chân một sợi dây chuyền, bằng bạc hoặc bằng vàng, tùy gia cảnh, cũng có cùng ý nghỉa với sợi dây trường mệnh tỏa.

Ngày nay, ngay tại Bắc Kinh, tục tặng cho trẻ sơ sinh một chiếc trưòng mệnh tỏa bằng đồng, nhân ngày đầu tháng vẫn còn thịnh hành.

Có hai linh vật tiêu biểu chữ thọ.  Một là con hạc. Hạc là một giống chim chân dài cổ dài, hiện coi là một loài chim đang dần dần tuyệt giống. Tù lâu rồi hạc tiêu biểu cho chũ thọ. Trong thơ Đương có bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu, kể lại tích người tiên bất tử cỡi hạc về trời. Hạc được coi là một loài chim bất tử. Kệt hợp với cây thông thành bức tranh mang tên 鶴  壽  松  齡 , hạc thọ tùng linh, biểu thị ước vọng được sống dai như hạc như tùng. Hình tượng hạc kết hợp với rùa, thành câu 龜  鶴  齊  齡, quy hạc tề linh cùng ý nghỉa sống lâu như hạc như quy. Ngoài ra hình ảnh một con hạc, đứng trên một tảng đá, trên mặt sông ngưóc nhìn vê phía mặt trời tiêu biểu cho ước vọng của ngưòi làm quan mong đạt đưọc tới mức nhất phẩm triều đình, bởi hạc đươc coi là nhất phẩm điểu, loài chim đứng đầu hàng chim, và mặt sông tiêu biểu cho dòng nước thủy triều bởi chữ 潮 trong chữ thủy triều và chữ 朝 trong từ ngữ triều đình đọc như nhau trong tiếng Trung Quốc và trong tiếng Việt Nam.

Trong nhiều truyện truyền kỳ, người thường biến thành hạc bay về cõi tiên. Trong tiểu thuyết Sưu Thần Ký, thời nhà Tấn, kể lại truyện người Đinh Linh Uy, ẩn cư tại núi Linh Hư, luyện linh đan, đắc đạo thành tiên, một ngàn năm sau biến thành con hạc trắng, bay về quê xưa, đậu trên cửa Đông, ngâm bài thơ dưới đây:

有  鳥  有  鳥  丁  令  葳 hữu điểu hữu điểu Đinh Linh Uy

去  家  千 年 今  始  回 khứ gia thiên niên kim thuỷ hồi

成  郭 如  故  人  民  非 thành quách như cổ nhân dân phi

何  不  學  仙  去, 空  伴  家  累  累 hà bất học tiên khứ,  không bạn gia lụy lụy.

Yên Huỳnh

NGÀY TẾT – TÌM HIỂU VỀ NGŨ PHÚC (1/2)

NGŨ PHÚC LÀ GÌ ?

Bao gồm : 1- Phúc, 2- Lộc. 3- Thọ, 4- Song Hỷ  và 5- Tài

Sống hạnh phúc là điều chẳng ai không mong ước. Đón đợi hạnh phúc, con người thường tạo ra những vật tượng trưng cho hạnh phúc, không những là vật đeo trên người mà còn là những vật trang trí trong nhà. Người Đông Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, có chung một gốc văn hóa, nên dùng chung những hình tượng trang trí, tiêu biểu cho hạnh phúc, trong ngôn ngữ, tiểu công nghệ, kiến trúc và cả trong những vật dụng hàng ngày.

Trải qua hàng ngàn năm, mối tương quan của những vật trang trí này với ý nghĩa mong đợi hạnh phúc, dường như phai nhạt, cũng như việc chuyển ngữ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng khác có thể làm sai lạc ý nghĩa của hình tượng biểu thị chữ phúc, nhưng nhiều hình tượng cổ vẫn còn thông dụng. Tỷ như trên nhiều bức trạm, người ta thường thấy hình con năm con giơi, để tượng trưng cho ngũ phúc, tức năm điều hạnh phúc; nhưng không mấy ai còn nhớ con giơi, viết theo chữ Trung Quốc 蝮  đồng âm với 福 cùng đọc là fú, cùng có chữ phú để ghi âm, nhưng có bộ trùng để chỉ con giơi và có bộ để biểu thị chữ phúc.

Sang tiếng Việt, chữ 蝠 đọc là bức và chữ 福 đọc là phúc, tuy nhiên hình tượng năm con giơi vẫn biểu thị năm điều hạnh phúc của chung người Trung Quốc và người Việt Nam : phúc, lộc, thọ, hỷ và tài.

Bài viết này trình bày mối tương quan giữa một số hình tượng thông thường biểu thị năm điều hạnh phúc kể trên, cùng những truyện truyền kỳ liên hệ tới những hình tưọng đó mà ngày nay ngay tại những đô thị Âu Mỹ ngày Tết người Đông Á vẫn còn dùng để đón xuân.

福 PHÚC

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tưọng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

Từ đời nhà Minh (1368-1644), người ta thường khắc trên cánh cửa chính một chữ phúc lớn như để đón đợi hạnh phúc tới nhà, đúng như lòi cầu mong của người Trung Quốc: 福  星  高  詔, phúc tinh cao chiếu, nghĩa là sao phúc từng cao chiếu xuống hay câu: 多  福 多  壽 , đa phúc đa thọ, nghĩa là nhiều may nhiều tuổi thọ, thường dùng để chúc nhau. Ngoài hình con giơi tượng trưng cho chữ phúc, người ta còn dùng trái phật thủ hay tranh ảnh vị phúc thần và vị môn thần dán trên cửa hay khắc trên mặt cửa vào đình chùa dinh thự.

Ngày Tết nguyên đán, người Trung Quốc có tục treo thuận hoặc treo ngược chữ Phúc ở trên cửa.  Có hai truyện truyền kỳ giải thích truyện này.

Truyện thứ nhất là một truyện từ đời nhà Minh (1368-1644) về chữ phúc viết thuận. Một hôm Minh Thái Tổ, Chu Nguyên Chương, vi hành tới một thị trấn nhỏ. Nhà vua thấy một đám đông người cười rỡn bên một bức  họa. Tới gần, nhà vua thấy đó là một bức vẽ một bà già có bàn chân lớn quá khổ, tay ôm một trái dưa hấu. Nhà vua nhận ra bà già này chính là hoàng hậu.

Nổi giận, nhà vua sai quân hầu theo dõi từng người trong đám người hỗn sược này về tận nhà, và viết chữ phúc trên cửa, để ngày mai nhà vua sẽ phái quân tời bắt. Trở về hoàng cung, nhà vua kể lại truyện này cho hoàng hậu nghe. Hoàng hậu vốn sẵn từ tâm, bà khẩn sai quân hầu hỏa tốc tới thị trấn này viết chữ phúc trên cửa mọi nhà dân. Sáng mai quan quân tới sau, không còn cách nào nhận ra được những ai là kẻ bị nhà vua cho lệnh tới bắt. Từ đó, người ta tin rằng chữ phúc, viết có thể dùng làm bùa hộ mạng cho mọi người.

Truyện thứ hai là  truyền thoại từ đời nhà Thanh (1661-1911) về chữ phúc viết hay treo ngược. Chiều ba mươi tết, quan phủ lý của thái từ Cung Thân, cho lệnh treo chữ phúc trên cửa những  chính ra vào đông cung. Có một tên lính hầu không biết chữ, treo ngược chữ Phúc. Thái từ nhìn thấy, nổi giận định trừng phạt tên lính hầu này. Quan phủ lý vốn là người giầu từ tâm, liền nghĩ ra cách gỡ tội cho tên lính hầu. Quan còn biết lòng thái tử khao khát may mắn để sớm lên ngôi báu. Ngài tâu thái tử : chữ phúc treo ngược là chữ phúc đảo, 倒, theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ đáo 到, nghỉa là tới. Vậy chữ phúc treo ngược là điềm báo phúc đang tới. Thái tử hài lòng, không những không trừng phạt tên lính hầu mà còn trọng thưởng qua phủ lý và ban cho mỗi tên lính hầu năm lạng bạc. Quả là phúc đã tới với đám người này trong đêm trừ tịch đó.

Người Đông Á thường bày một bộ tam đa : phúc lộc thọ và hỷ. Theo truyền thuyết ba vị này vốn là ba vị phúc tinh, nguyên là ba ngôi sao trên trời. Giáng xuống trần gian vị phúc thần này hiện hình như một vị quan to, khuôn mặt phúc hậu, vận triều phục, tay cầm hốt ngà hay bế một đứa nhỏ kháu khỉnh.

Theo sách Tam Giáo Nguyên Lưu Sưu Thần Đại Toàn, Phúc Thần là một nhân vật có thật, tên là Dương Thành, người đất Đạo Châu, thuộc Hồ Nam. Dưới triều Hán Vũ Đế, nhà vua ra lệnh bắt nhưng ngưòi lùn về cung làm nô lệ, để hầu hạ làm vui cho nhà vua. Lệnh này khiến gia đình ngưòi lùn oán thán. Dương Thành dâng biểu xin tha cho những người lùn này, vì họ cũng là thần dân như mọi người khác, chứ không phải sinh ra để làm nô lệ. Hán Vũ Đế, nghe theo lời tâu bãi bỏ lệ bắt người lùn làm nô lệ. Gia đình người lùn biết ơn Dương Thành, đã giúp cho gia đình họ được đoàn tụ, họ bèn tôn làm Phúc Thần. Tục này lan tràn khắp Trung Quốc, và lưu truyền tới ngày nay. Tới đời nhà Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị, sáng tác áng thơ Đạo Châu Dân 道  州  民 ca tụng công nghiệp này của Duơng Thành.

Có truyền thuyết khác kể là, theo lời Trương Đạo Lăng, một đạo sĩ sáng lập ra Huyền Lão, người đời Đông Hán thì Phúc Thần là một trong tam quan. Tam quan gồm có Thiên Quan Tứ Phúc, Địa Quan Xá Tội, Thủy Quan Giải Nguy. Địa quan xá tôi xét việc tha tội cho người chết; Thủy quan giảm tội giảm tội cho nguời chết. Thiên Quan Tứ Phúc là vị quan trên trời, coi việc ban phúc cho ngưòi còn sống, nên được người người trông đợi và chọn làm phúc thần.

Cửa ngoài nhiều đền đài dinh thự lón thường trạm hình hai vị môn thần. Tục này có từ đời nhà Hán (25-220) với mục đích xua đuổi tà thần, phụ trì cho người sống sau cánh cửa. Lúc ban đầu hình tượng môn thần thường tạc trên gỗ cây đào, và treo trên cánh cửa. Sang tới đời nhà Tống (960-1279) người ta vẽ hình môn thần trên giấy hồng điều dán lên của, và tục này con truyền tới ngày nay, trong dịp tết nguyên đán.

Truyền thoại kể rằng vua Thái Tông nhà Đường (618-907) thường thấy qủy sứ hiện hình chạy trong cung, phá giấc ngủ của vua. Các quan trong triều ai nấy đều lo lắng cho long thể. Có hai võ tướng, tên là Tần Quỳnh và Uý Trì Cung, (có nơi chép là Trần Thúc Bảo và Uý Trì Kính Đức), không biết sợ ma qủy, tình nguyện canh giữ trắng đêm. Sau mấy đêm liền ngủ được yên giấc, nhà vua ca ngợi lòng dũng cảm của hai vị tướng.  Thửa biết là không thể nào hai vị vũ tướng đó có thể mãi mải thức trắng đêm như vậy được, nhà vua sai người vẽ hình hai vị tướng, đũ cả giáp dầy gươm dài treo ngoài cửa cung. Ma qủy cũng không tới phá giấc ngủ của nhà vua nữa. Thần dân biết truyện theo gương họa hình hai vị môn thần này để giữ an ninh cho toàn gia.

Đằng khác, theo Sơn Hải Kinh, trên núi Độ Sóc, ngài biển Đông, có một cây đào sống đã cả ngàn năm cành lá xum xuê kết thành  cổng Qủy Môn, thường thường qủy sứ phải đi qua cái cổng đó mới lên tới trần gian gieo rắc tội lỗi. Ngọc Hoàng Thượng đế sai anh em Thần Trà và Úc Điệp canh gác cổng này không cho qủy dữ lọt qua. Có qủy dữ nào cố tình trái mệnh thì Ngọc Hoàng cho phép hai anh em môn thần bắt trói và ném cho cọp trên đỉnh núi ăn thịt. Lại cho tạc hình tưọng hai vị môn thần treo trên cánh cồng qủy môn: ảnh tượng Úc Điệp treo bên trái, ảnh tượng Thần Trà bên phải, để trừ tà ma.

Theo truyền thoại thứ hai, cây đào ngàn năm trên núi Độ Sóc kết trái đào tiên, ai ăn được cũng sống ngàn năm. Ở miệt Đông Bắc núi có tên tướng cưóp độc ác Dã Vương Tử, ttự xưng làm vua và mặc sức bóc lọt dân đen khắp vùng. Một hôm tướng cướp biết truyện đào tiên, sai đàn em đến cướp về cho gã. Nhưng Thần Trà và Ức Điệp dẹp tan bọn côn đồ đó dễ dàng. Dã Vương Tử giận dữ tập họp ba trăm đàn em đương đêm tối trá hình tới vây đánh Thần Trà và Ức Điệp để cướp đào tiên và trả thu cho đồng bọn. Thần Trà và Ức Điệp, thấy xuất hiện bọn qủy sứ mắt biếc tóc đỏ, liền ra tay bắt cả bọn, trói chặt ném cho hổ đói ăn thịt. Chiến thắng của Thần Trà và Úc Điệp vang dội khắp vùng, từ đó người ta tạc  hình hai vị môn thần bằng gỗ đào để xua đuổi tà ma nghịch tặc.

Ngoài hình tượng phúc thần và các môn thần treo trên hai cánh cửa, ngày đầu xuân người Đông Á thường dán hai bên cửa một đôi câu đối, viết mực tầu trên giấy đỏ, thưòng thưòng mội vế có năm hoặc bẩy chữ, đôi khi dài hơn. Nội dung thường là lời cầu mong được bình an, làm ăn phát tài, trong năm tới, nhưng nhất thiết phài theo đúng luật đối vần đối ý khe khắt. Tục treo câu đối này có từ đời Ngũ Đại (907-960), câu đối thưòng khắc trên gỗ đào. Truyền thoại kể rằng Mạnh Sưởng nước Sở, sai quan hàn lâm học sĩ, làm một đôi câu đối đón xuân, nhưng không được vừa ý, ông tự tay sáng tác và tạc một đôi cho thật hài lòng. Từ đó câu đối đón xuân của nhà nào cũng thường do chính chủ nhân nhà ấy sáng tác. Rồi tại Việt Nam, khi bút sắt thay thế bút lông, có mấy cụ đồ già viết thay những chủ nhà muốn treo câu đối đỏ mà không biết viết. Cũng theo truyền thoại, vua Minh Thái Tổ, đêm trừ tịch thường vi hành đọc câu đối đón xuân để biết rõ dân tình.

Ngoài câu đối, người Đông Á còn dùng nhưng bức niên họa dán trưóc của để đón xuân. Từ đới Tống (960-1279) niên họa thường in trên giấy, vẽ những cảnh sinh hoạt ngày đầu năm, hơặc hình ảnh chim muông hoa lá kèm theo nhưng lời chúc tụng, sống lâu giầu bền, con đàn cháu đống …

Trước kia, người ta dùng vào dịp đầu xuân, những cặp tượng đồng nam đồng nữ, mang tên Đại A Phúc tượng trưng hai đứa trẻ một trai một gái kháu khỉnh. tiêu biểu lời chúc tụng may mắn thêm con thêm cháu trong năm mới. Ngày nay tượng đồng nam đồng nữ trở thành một món quà đám cưới cổ điển mừng cô dâu.

Theo truyền thoại, cặp Đại A Phúc này xuất phát từ vùng núi Tích Huệ tỉnh Giang Tô. Trong núi có một cặp sư tử mầu xanh biếc, chuyên vồ trẻ thơ. Dân tình kinh sợ, lập đàn cầu cứu Ngọc Hoàng. Lời kêu cầu thấu tới tai Ngọc Hoàng. Ngưòi sai một cặp đồng nam đồng nữ, mang tên Đại A Phúc, xuống trần trị cặp sư tử không bắng sức mà bằng mưu mẹo. Cặp Đại A Phúc từ khi thắng đôi sư tử trở thành hai vị thần bảo trợ cho người Trung Quốc.

Hoa quả cũng được dùng làm biểu tượng cho lòng ước mong hạnh phúc của người Đông Á. Người ta tin rằng quả bầu nậm, tượng trưng cho trời đất, kiền khôn, chứa đựng tinh khí có khả năng xua đuổi tà ma. Người ta thường treo một trái bầu nậm nhỏ để thay bùa hộ thân, dưới cửa sổ hay cửa ra vào chính, trên đầu giường và trước mặt tài xế lái xe hơi. Theo kinh sách Đạo Giáo, trái bầu nậm, còn gọi là hồ lô, đựng thần dược của Lý Thiết Quài, một trong Bát Tiên Quá Hải.

Chiếc hồ lô đã vào văn học Trung Quốc qua chương 33, truyện thần thoại Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân,  một tác giả thế kỷ XVI. Truyện kể rằng Tôn ngộ Không biết rằng có bọn tiểu yêu rắp tâm dùng hồ lô để hại mình, liền hóa phép thành một chân nhân đạo giáo đi gặp bọn tiểu yêu. Bọn nó khoe có một chiếc hồ lô có sức chứa ngàn người; Tôn Ngô Không cho hay chiếc hồ lô của ông, có sức chứa cả trời đất. Bọn tiểu yêu kinh ngạc xin Tôn Ngô Không cho xem phép lạ của hồ lô của ông và nếu quả vậy thì chúng xin nộp chiếc hồ lô của bọn chúng. Tôn Ngộ Không niệm chú, khiến ánh sáng mặt trời mặt trăng và cả tất cả tinh tú trên trời đều tắt ngẩm trong một giờ, khiến bọn tiểu yêu nghĩ là đã bị Tôn Ngộ Không hóa phép bỏ vào hồ lô. Lũ chúng năn nỉ xin nộp hồ lô của bọn chúng để được tha.

Ngoài quả bầu nậm, người Trung Quốc còn dùng trái phật thủ (Citrus medica) để tiêu biểu cho hạnh phúc, bợi lẽ chữ Phật 佛 đồng âm vói chữ phúc 福, đọc là . Người ta thường bày trái phật thủ cạnh trái đào và trái lựu để tương trưng ba điều ược vọng đầu năm: trái đào tiêu biểu cho tuổi thọ, trái lựu tiêu biểu cho sinh dục, và trái phật thủ là hình ảnh bàn tay đang bắt ấn quyết của nhà Phật. Ba trái để cạnh nhau dường như lời cầu phép Phật cho người già tăng tuổi thọ cho ngưòi trẻ có thêm con. Hình ảnh ba trái này tưong tự như hình ảnh mâm quả của người Việt Nam gồm một trái mãng cầu, một trái đu đủ và một trái soài, biểu thị ý nguyện : cầu vừa đủ s(o)ài.

Hình ảnh thiên nhiên biểu thị ước mong hạnh phúc là hình ảnh những áng mây. Mây, viết theo tiếng Trung Quốc: 雲, đọc là yún đồng âm với chữ 運, đọc là yùn. Đọc theo âm Việt Nam, theo thứ tự là vân nghĩa là mây vận nghĩa là dịp may. Chữ vân trong từ ngữ tường vân biểu thị đám mây mang may mắn tới cho người chờ đợi hạnh phúc. Đám mây này còn gọi là đám mây năm mầu: ngũ sắc vân, tiêu biểu cho ngũ phúc, tức năm niềm hạnh phúc. Hình ảnh đám mây thường gặp trong những nền trang trí trên tường, hoặc trên nền lụa may quần áo. Hình dạng đám mây gợi nên hình ảnh cây nấm linh chi tiêu biểu cho tuổi thọ bất tử. Mây cũng là nơi thần tiên ngao du như trong từ ngữ đằng vân.

Hạnh phúc mong đợi thường còn được tiêu biểu bởi một linh vật, tỷ như hình con rồng. Rồng đứng đầu tứ linh : long, ly, quy và phượng. Thời thượng cổ người ta cầu Long Vương để có mưa đủ nước trồng trọt. Rồng là linh vật lúc ẩn lúc hiện, lúc ở đáy nước lúc ở mây cao, lúc phun lửa lúc nhả mây. Giới cổ tự học cho biết là chữ long 龍 có từ đời nhà Thương, trước công nguyên gần ba ngàn năm, khắc trên những mu rùa dùng vào việc bói toán. Rồi trải qua nhiều triều đại, rồng là biểu tượng của đế quyền. Hình ảnh con rồng dành riêng cho hoàng đế qua nhưng danh từ như long sàng là giường vua, ngôi rồng là ngai vua, long bào là áo vua, long thể là mình vua… Rồng hiện ra là điềm báo có qúy nhân giáng thế: tương truyền à có rồng hiện ra trước khi Khổng Khâu ra đời. Sử Việt Nam cho biết có rồng hiện ra khi vua nhà Lý thiên đô nên đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Trung Quốc có tục múa đầu rồng, gọi là long vũ, trong các kỳ lễ hội cầu mưa khi hạn hán, thường tổ chức vào dịp đầu năm dể cầu phước lộc cùng xua đuổi tà ma.

Từ đời Tam Quốc (220-265) ngoài múa rồng còn có múa sư tử trong các kỳ hội hè của dân gian. Tục này lan sang Việt Nam: trong dịp lễ Trung Thu vào tuần trăng tròn tháng tám âm lịch cũng thường có múa rồng và múa sư tử.  Theo phân tích của Trần Văn Khê trong một buổi thuyết trình, truyện múa rồng tại Trung Quốc và Việt Nam, tuy nhìn bề ngoài chẳng mấy khác nhau, nhưng ý nghĩa khác hẳn nhau. Tại Trung Quốc thì đó là một cuộc đấu sức giữa ngưòi và rồng hay sư tử. Tại Việt Nam thì đó là hoạt cảnh rồng mẹ âu yếm rồng con.

Sau linh vật, người Đông Á còn dùng bình để cám hoa trang trí tiêu biểu cho ưóc mong được hạnh phúc nhân dịp đầu năm. Người Việt Nam thường dùng một chiếc bình lớm cắm một cành hoa đào hay một cành hoa mai vàng. Chữ bình 瓶 (là cái lọ) đồng âm với chữ 平 trong từ ngữ bình an. Tặng nhau một bình hoa là chúc nhau đưọc bình an vô sự. Mang bình hoa tặng ngưòi ốm là chúc người ốm mau bình phục. Trong ba ngày tết, người Trung Quốc nếu lỡ tay đánh vỡ bát đĩa, thường nói câu sui sui ping an, 歲 歲 平 安, nghĩa là bình an năm này năm khác. Tục này dường trái với tục người Việt Nam, đầu năm đánh vỡ bát đĩa coi là điềm sấu sợ rông cả năm.

Trở lại truyện dùng hình tượng con giơi để tiêu biểu chữ phúc, người ta còn dùng hình hai con giơi, mầu đỏ tạo nên hình tương song phúc 雙  福. Hình con giơi ngậm đồng tiền cũng là một cách chơi chữ của người Trung Quốc.

Hình tượng này gợi ý thành bốn chữ : phúc tại nhãn tiền: 福 在  眼  前, nghĩa là phúc thấy trước mắt. Con giơi còn là biểu tượng chữ thọ. Sách thuốc Bản Thảo Cương  Mục, 本  草   綱  目, xuất hiện từ thế` kỷ thứ XVI, cho biết là giơi là giống vật có đời sống rất dài, máu giơi, mật giơi và cả cánh giơi đều có dược tính chữa bệnh mắt già và kéo dài tuổi thọ. Hình tương năm con giơi  đậu quanh chữ thọ quen gọi là ngũ phúc phủng thọ 五  福  捧  壽 là hình tượng rất thông dụng để chúc phúc thọ.

Hình tượng cầu phúc quen biết với mọi ngưòi quen đi ăn tiệm Trung Quốc là chiếc, 籤 語  餅, thiêm ngữ bỉnh, quen gọi là fortune cookie thường dùng làm đồ tráng miệng. Trong lòng bánh có một thẻ giấy đoán thời vận của người ăn bánh. Tục này không phải do người tại Hoa Lục phát minh, mà do một người Trung Quốc mở tiệm ăn tại San Francisco, California tìm ra vào khoảng năm 1920.

祿 LỘC

Đứng sau chữ phúc là chữ lộc, nghĩa là những gì của trời ban cho con người như khoa bảng, địa vị xã hội, danh giá, tăng thưởng, lương bổng. Lộc càng dồi dào, cuộc sống vật chất càng hạnh phúc dễ dàng. Lộc là thành công trên hoạn lộ, nên lộc khác với tài, chỉ riêng  truyện  thịnh đạt về tiền bạc trên thương trường. Lộc 祿 đồng âm với 鹿 là con hươu, nên người ta thường dủng con hươu làm biểu tượng cho chữ lộc, như trong từ ngữ bách lộc 百 祿. Truyền thuyết cho rằng hươu có thể sống lâu trăm tuổi, nên nhiều khi con hươu còn là hình tượng của chữ thọ. Thọ thần không cỡi ngựa cỡi bò mà cỡi hươu trong nhiều bức tranh dân gian, vì hươu có thể tìm ra được nấm linh con hươu, trên chi dùng làm thuốc trường sinh bất tử. Hình tượng bộ tam đa gôm ba vị phúc thần phúc,  lộc,  thọ biến thể thành hình tượng lưng có chữ phúc, trong bụng có chữ thọ. Tại điểm này, con hươu đứng cùng hàng với con hạc để biểu thị người cao tuổi.

Cũng như liên quan tới chữ phúc có phúc thần, liên quan tới chữ lộc dưới trần  có lộc thần, trên trời có lộc tinh như trong thành ngữ lộc tinh cao chiếu 祿  星  高  照, biểu thị lòng người Trung Quốc ngưỡng mộ tinh tú này. Chữ lộc, đọc theo tiếng Trung Quốc đồng âm với chữ lục chỉ số 6, thế nên không lạ là nhiều người coi số sáu là một con số mang lại nhiều may mắn trên đường sự nghiệp. Hình ảnh chữ lộc trong dân gian là cảnh tiến sỉ vinh quy, có cờ có bảng có ngựa anh đi trước võng nàng theo sau. Trên sân khấu, chữ lộc trải dài trên ba cảnh. Cảnh thứ nhất thường là cảnh giáo tuồng, nghẹ nhân đeo mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, ra sân khấu đi liền ba vòng với nụ cười trên môi, nhưng không nói một lời. Lần thứ hai hiện ra trên sân khấu vời một đứa bé kháu khỉnh trên tay, và cũng đảo ba vòng sân khấu. Lần sau cùng, người đó mang theo một tấm vải đề bốn chữ 加  官  進  祿 gia quan tiến lộc nghĩa là thăng quan tiến lộc.

Theo truyền thuyết, hàng năm trên sông Hoàng Hà, hàng đàn cá chép bơi ngược dòng sông tới Vũ Môn, con nào nhẩy qua đươc Vũ Môn thì hoá rồng. Từ đời nhà Tống (960-1279) ngôn ngữ Trung Quốc có câu : 鯉  魚  跳  龍  門, lý ngư khiêu long môn, nghĩa là cá chép vượt cửa rồng, dùng dể chỉ nhưng kẻ may mắn đả đỗ các kỳ thi hương thi hội hay thi đình để ra làm quan với triều đình. Nhưng kỳ thi hương đề mở ra cho tất cả mọi người. Được bổ làm quan là bắt đầu một cuộc sống giầu sang, không nhưng riêng cho thân mình mà có khi cả họ được nhờ. hai  chữ 鯉 (lý) và 祿 (lộc) trong tiếng Trung Quốc là hai tiếng đồng âm, thế nên hình ảnh con cá chép là hình ảnh sự thi đỗ thành đạt. Tại Việt Nam, vào dịp tết trung thu, cha mẹ thưòng mua cho con trai một chiếc đèn cá chép, phải chăng cũng là hy vọng đứa con sẽ đỗ đặt thành tài, ra làm quan.

Ước mong của những thư sinh xuất sắc không phải chỉ là vưọt qua được vũ môn, mà phải giật được chức giải nguyên 解  元, tức chức thủ khoa, hay đỗ đầu khoa thi. Có vậy mới mong chiếm được ấn phong hầu. Chữ giải 解  này đồng âm với chữ 蟹 là con cua nên hình tượng con cua được dùng làm lời chúc tụng nhưng thí sinh lều trõng đi thi.

Vượt qua được Vũ Môn, con người lại uớc mong hanh thông trên hoạn lộ, và hình tượng con người may mắn này là hình ảnh con khỉ, chữ Trung Quốc là 猴 đoc là hóu và đọc theo âm Việt Nam  là hầu. Trong cả hai ngôn ngữ chữ này đồng âm với chữ 候 , nghỉa la một chức quan lớn trong triều. Kết hợp hình tượng con khỉ với con ngựa, người Trung Quốc có thành ngữ 馬 上  封  候, mã thượng phong hầu, dùng biểu thị cảnh thang quan tiến chức lẹ làng trên hoạn lộ. Hình ảnh tiêu biểu người làm quan ước mong lên tới mức nhất phẩm triều đình là hình ảnh một con khỉ đang đu mình trên ngọn cây bắt lấy một chiếc ấn và gọi là 封  候  掛  印, phong hầu quải ấn.

Con gà trống kết hợp với bông hoa mào gà thường được dùng thay lời chúc tụng cái may mắn được thăng quan tiến chức mau lẹ. Bởi lẽ mào gà tiếng trung quốc là chữ quan 官, chữ này còn có nghĩa là ông quan hay chiếc mũ, thế nên kết hợp con gà trống với bông hoa mào gà biểu thị bốn chữ 官  上  加  官, quan thượng gia quan, ngụ ý thăng quan tiến chức liên tiếp mau mắn. Con gà trống còn tiêu biểu cho một linh vật có khả năng xua đuổi tà ma.

Có nhiều loại hoa được chọn làm hình tượng cho chữ lộc. Loại thông dụng nhất là hoa mẫu đơn. Hoa này được mệnh danh là hoa phú qúy. Mẫu đơn vàng hay tím là hai loại mẫu đơn rất được ưa chuộng. Mẫu đơn còn tiêu biểu cho mùa xuân và tượng trưng sắc đẹp giai nhân. Bộ ba mẫu đơn, ngọc lan và hải đường kết thành 玉  堂  富  貴, ngọc đường phú qúy, nghĩa là cảnh giầu sang nơi điện ngọc. Kết hợp  hoa sen, hoa cúc, hoa mận với mẫu đơn thành 四  季  平  安,  tứ qúy bình an, nghĩa là bình an suốt bốn mùa.

Yên Huỳnh post

(Còn 1 kỳ nữa)

Bạn có tin Lá Số Tử Vi không ? (2/2)

DIỄN ĐÀN TÂM LINH (2/2)

CÓ NÊN TIN TỬ VI

ĐẨU SỐ KHÔNG ?

Vào thời nhà Tống, văn hóa Trung Hoa thời đó rất thành đạt về nhân học. Có nhiều triết gia, tâm học, đạo học chuyên nghiện cứu con người để tìm giải pháp cho cuộc sống, tìm quy tắc cho việc xuất thế, ngõ hầu mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và tập thể.

Nền triết học Tống thời đó đã xuất hiện nhiều trường phái như Nông Gia, Pháp Gia, Âm Dương, .. bên cạnh các học thuyết lớn như Nho học, Đạo học. Hầu hết các môn nhân vận chuyên khảo cứu con người và xã hội, cần thiết cho việc tu tâm, trị nước, xuất thế.

Đứng về mặt bói toán mà xét, khoa tử vi xuất hiện tương đối chậm, vì đi sau khoa bói dịch, nhưng tử vi đã khai mào cho một học thuật riêng, hệ thống hóa được nghành bói toán bằng lý số theo một khảo hướng đặc thù. Mặc dù mượn nơi sở học của người thời đại, nền tảng triết lý Âm Dương Ngũ Hành, nhưng khoa tử vi vẫn giữ được nét độc đáo nhờ có một đường lối khảo sát lạ, có thể xem như một cuộc cách mạng, hoặc chí ít cũng như một phát minh biết lập trong phái học tướng số của thời đó.

Thủy tổ của tử vi học là một đạo sĩ biệt hiệu là Hi Di, tên thật là Trần Đoàn, sống vào thời nhà Tống (Trung Hoa). Đạo sĩ Trần Đoàn đã cố gắng bày ra cách xếp vận mệnh con người vào một lá số, ghi trên một mảnh giấy chỉ có vỏn vẹn 1 trang, những tổng kê hết cá tính và đời người vào 12 cung và hơn 100 vì sao, được gán cho nhiều ý nghĩa và ngũ hành khác nhau, ngõ hầu giúp con người suy diễn những chi tiết về kiếp số của mình. Tóm tắt cuộc đời phức tạp của con người vào một mảnh giấy một cách hệ thống hóa, và biểu đồ hóa một cách khúc chiết.

Mặc dù công trình này không tránh được một vài sơ khoáng cố hữu nhưng nó vẫn không mất đi giá trị khai sáng một bộ môn bói toán hãy còn được tôn sùng ngay trong thế kỷ khoa học không gian ngày nay.

Lời đầu :

Tử vi là một dạng thức khoa học hay chỉ là một hình thức bói toán mang đầy yếu tố mê tín và lừa đảo? Câu trả lời còn đang tranh cãi. Tuy nhiên, có thể nói, với tính chất khoa học thần bí mờ ẩn và hư ảo, Tử vi là một đối tượng nghiên cứu khá thú vị.

Tử vi – khoa học mà huyền bí

Trong những kiểu bói toán, khoa Tử vi thường được coi là một trong những kiểu bói toán có tính chính xác cao và được nhiều người tín nhiệm. Trước khi khoa Tử vi ra đời, Trung Hoa đã có nhiều hình thức bói toán khác như “bốc phệ” do Văn Vương đời nhà Chu dựa trên Hà đồ (bức vẽ ở sông Hà, vẽ bát quái của vua Phục Hi) tạo thành 64 quẻ bói hợp thành.

Sau đó nền triết học Trung Hoa đã đi qua nhiều luận thuyết như thuyết Âm Dương Ngũ Hành dựa trên sự tương sinh tương khắc của 5 yếu tố cơ bản – kim, mộc, thủy, hỏa, thổ – nhằm giải thích đời sống và tùy từng cặp yếu tố kết hợp với nhau nó sẽ cho ra những kết quả khác nhau với độ biến thiên rất phức tạp. Đây là học thuyết có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khoa Tử vi sau này.

Về phạm trù số mệnh được đề cập ở vị trí trung tâm của khoa Tử vi, thực ra trước đó đã có nhiều nhà triết học có những cái nhìn khác nhau. Khổng Phu Tử nói “Tận nhân lực, tri thiên mệnh” nghĩa là hãy cố gắng làm hết sức mình rồi thành bại thế nào mới biết được mệnh trời. Trang Tử thì cho rằng con người thành bại, nghèo hèn hay giàu sang đều do định mệnh, ngay cả vận nước cũng do thiên mệnh chi phối không thể thay đổi. Còn Tuân Tử thì phủ nhận sự tồn tại của số mệnh và cho rằng tất cả họa phúc con người đều do chính hành động của họ tạo nên.

Đến thời Tống, nền văn minh Trung Hoa đã có bước phát triển mạnh mẽ trong việc nghiên cứu về nhân học. Nhiều triết gia đã chuyên tâm nghiên cứu về con người nhằm tìm ra những nguyên tắc về cuộc sống. Khoa Tử vi tuy ra đời chậm nhưng đã tổng hòa được những tinh hoa của bói dịch, nhân tướng học, thiên văn học của Trung Quốc cổ đại. Tử vi đã quy nạp lại cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng. Một số quan điểm trong Tử vi tuy không được chứng minh nhưng vẫn được áp dụng trong đời sống hằng ngày, như áp dụng lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành vào y học. Với những nét đặc trưng độc đáo của mình, khoa Tử vi được nhiều nhà khoa học ngày nay xem như là một bước tiến về nhân học Trung Hoa thời Trung đại.

Đối tượng nghiên cứu của Tử vi chính là con người và số mệnh con người. Con người trong Tử vi là con người gắn liền với gia đình và những mối quan hệ xã hội. Có thể coi Tử vi là một dạng thức khoa học kết hợp triết học một cách khá sơ khai và chất phác. Loại hình nghiên cứu của nó dựa trên tính trực quan và mang nhiều yếu tố triết học ở dạng sơ kỳ. Tử vi dùng nhiều phương pháp nghiên cứu kết hợp, đó là phân tích, tổng hợp và động. Trong đó chia thành đại phân tích và vi phân tích. Những triết lý bói toán cũng được hệ thống hóa dựa trên nền tảng của triết lý Âm Dương Ngũ Hành. Tử vi vận động theo các vì sao ở 10 can, 12 chi dịch chuyển và biến đổi theo lý thuyết Bát Quái, tương tác với nhau theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành.

Vậy Tử vi là gì và ai là người đã có công sức hình thành và phát triển nên dạng thức khoa học thô sơ này ?

Hi Di – Trần Đoàn lão tổ

Ông tổ của khoa Tử vi là một đạo sĩ tu trên núi Hoa Sơn có tên hiệu là Hi Di và tên thật là Trần Đoàn, sống vào thời nhà Tống. Dựa vào Kinh Dịch cùng những khai triển về lý thuyết âm Dương Ngũ Hành của Đổng Trọng Thư, một triết gia thời Hán, ông đã lập ra khoa Tử vi với mục đích tìm hiểu con người và số phận con người dựa trên hệ thống quy luật biến hóa của triết thuyết về vũ trụ thời đó. Bằng cách tích hợp những biến số của đời sống dựa trên ngày sinh tháng đẻ, Trần Đoàn đã tìm ra nguyên tắc viết nên “lá số tử vi”, rất gọn gàng với 12 cung và hơn 100 vì sao nhằm tiên đoán số phận của con người. Lá số Tử vi gồm 10 Chính tinh và nhiều Phụ tinh an định trên 12 Cung nằm trên một Thiên Bàn.

Những vì sao và cung mệnh có mối quan hệ tương tác rất phức tạp, có ảnh hướng tích cực hay tiêu cực đến bản mệnh. Trong những ngôi sao bản mệnh, sao Tử vi là ngôi sao quan trọng nhất (Tử là màu tím, Vi là huyền diệu). Tử vi là tên ngôi sao Chủ tinh của con trưởng vua Văn Vương đời Chu: Trung cung Tử vi đại đế cai quản hai cung Nam Tào, Bắc Đẩu nắm giữ chuyện sinh tử của thiên hạ trong tay. Các vua chúa ngày xưa cũng coi Tử vi chính là sao tướng tinh của mình và cho rằng cung sao Tử vi trên bầu trời tương ứng chính hoàng cung.

Trong một lá số Tử vi, nhiều nhất người ta có 118 sao. Mỗi ngôi sao có một ý nghĩa. Sao này khi tương tác với sao khác lại có ý nghĩa khác. Dù sự chính xác của khoa Tử vi còn phải bàn cãi nhưng việc “mã hóa” và “sơ đồ hóa” số mệnh của con người vào một lá số Tử vi đã cho thấy tham vọng lớn lao của khoa Tử vi. Ngày nay, dưới con mắt khoa học, khoa tử vi được coi như một loại hình khoa học huyền bí kết hợp với nhân học và phân tích độc đáo trong việc tiên đoán số mệnh con người. Thực tế để xem chuẩn một lá số tử vi là một điều bất khả vì nó là một hàm số có quá nhiều biến số tương tác lẫn nhau. Nếu coi các nguyên tắc tương tác giữa các sao là một hàm số, thì lá số Tử vi của một người là một hàm số có tới hơn 100 biến số. Đây là hàm số quá phức tạp và không có lời giải thấu triệt.

Cũng có nhiều trời cho rằng thực ra Hi Di lão tổ Trần Đoàn không là người sáng tạo ra khoa Tử vi mà chỉ là người hệ thống hóa lại. Tử vi cũng không nên được coi là một khoa học độc lập mà nên coi nó là sự kết hợp của nhiều nguyên lý khoa học khác trong triết học Trung Hoa.

Tử Vi : Khoa học hay mê tín

Khoa Tử vi vừa mang tính khoa học thống kê vừa mang tính bói toán và có phần dị đoan. Nếu xét theo những điều kiện cần thì khoa Tử vi có thể được coi là một khoa học theo một mặt nào đó. Khoa Tử vi có hệ thống lý luận riêng với những thuật toán riêng và cách tiếp cận nghiên cứu nhân học độc đáo. Ngoài ra, khoa Tử vi cũng có tính lập luận và logic học rõ ràng từ đó đưa ra được những trải nghiệm và chứng minh từ thực tế đời sống. Các cung trên lá số Tử vi là những hàm số căn bản. Trong các cung có Chính tinh và Phụ tinh. Những ngôi sao này tương với nhau theo quy luật âm Dương Ngũ Hành khiến một lá số Tử vi trở thành một “đa hàm số” với nhiều biến số biến đổi rất phức tạp. Tuy nhiên điều đó cũng phần nào thể hiện bản mệnh của con người cũng vốn thật phức tạp, không có một phản ứng nhất định nào theo nguyên lý của lý trí hay tình cảm. Nhưng điều đó cũng khiến nhiều người yêu sự rõ ràng trong khoa học cảm thấy đặt niềm tin vào Tử vi là không cần thiết.

Khoa Tử vi là một phương pháp, một công thức, một đồ biểu nhưng nó không đo lường được về lượng cũng như về chất một cách chính xác. Nó là một hệ thống tương quan giữa các yếu tố phức tạp, và khi đưa ra không thể lý giải một cách máy móc hay bằng một ước đoán cụ thể nào.

Khoa Tử vi khiến người ta nghĩ về sự liên hệ giữa các yếu tố trong cuộc đời và kết luận về một lá số Tử vi đòi hỏi phải là kết luận dựa trên sự tổng hợp các nhận định cục bộ. Con người và bản mệnh trong khoa Tử vi là một con người toàn diện, bao hàm cả thể chất lẫn tinh thần, cả di truyền lẫn bản tính cá nhân, cả môi trường gia đình và xã hội, cả công danh lẫn tài lộc. Con người đó chính là “sự tổng hòa của những mối quan hệ xã hội”. Khoa Tử vi không tách rời các phương diện và xem xét con người ở một thế giới quan tổng hợp, có tương tác với môi trường xã hội chứ không phải biệt lập ở một phương diện cụ thể.

Tuy nhiên, cũng có những thiếu hụt trong chính khoa Tử vi khiến nhiều người cho rằng khoa Tử vi không phải là một khoa học dù vẫn cần phải nhìn nhận giá trị của nó. Khoa Tử vi chỉ là một quá trình xét đoán dựa trên những hàm số và biến số được thể hiện bằng những ngôi sao trên lá số Tử vi. Chính vì vậy tính chính xác của Tử vi không được bảo đảm bao giờ. Việc mỗi sao khi ở một cung lại mang những ý nghĩa khác nhau và ý nghĩa đó thay đổi khi nó kết hợp với những sao khác nhau tạo thành nhiều luận đoán khác nhau trên một lá số Tử vi khiến tính huyền bí của Tử vi học càng nhiều hơn.

Cách tính giờ của khoa Tử vi cũng có nhiều thay đổi khiến người ta càng nghi ngờ vào tính xác thực của Tử vi. Từ xưa người ta tính giờ dựa vào mặt trời. Kể từ khi ảnh hưởng của phương Tây, thời gian trong ngày được chia làm 24 múi. Quy ước này khác với quy ước của khoa Tử vi chia một ngày làm 12 múi. Khoa Tử vi cũng có hạn chế về việc coi người tu hành không nằm trong vòng cung Mệnh nên không xem được. Nó cũng không giải thích được sự khác nhau giữa số mệnh của những người sinh cùng thời điểm. Tai hại hơn nữa, từ việc sùng bái Tử vi dẫn đến việc một số gia đình cho mổ lấy trẻ em vào giờ tốt để có lá số Tử vi tốt là một việc làm mù quáng, đầy mê tín và thiếu khoa học.

Thiết nghĩ khoa Tử vi là một nhánh nghiên cứu nhân học khá lý thú. Nó dựa trên các sao trong Tử vi để mệnh danh một yếu tố trong con người và sự tương tác qua lại giữa chúng nhằm đưa ra những nhận định dựa trên những suy đoán qua thống kê về số phận và tính cách con người. Nếu ta biết gạn đục khơi trong, nhìn nhận những giá trị khoa học và triết học cơ bản cũng như loại trừ những yếu tố mê tín dị đoan của khoa Tử vi thì đây chính là một trong những vấn đề khoa học rất đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc.

Nguồn gốc khoa Tử vi

Khoa Tử vi bắt nguồn từ thời nào? Cho đến nay sách sử không ghi lại ai là người khai sáng ra nó. Các Tử vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán tử vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến nay, lịch sử khoa này vẫn còn lờ mờ. Thậm chí có người còn lầm lẫn khoa Tử vi với những chuyện truyền kỳ hoang đường.

Đời Gia Tĩnh (vua Minh Thế Tông) có lưu truyền cuốn Tử vi Đẩu số Toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.

Bài tựa viết như sau :

“Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.

Tôi vì muốn biết nên đă tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.

Các sách về Tử vi sau này cũng đều thống nhất rằng người đầu tiên tổng hợp, hệ thống lại thành môn bói này là Trần Đoàn tức Hi Di Lão Tổ, sống vào đời Bắc Tống, Trung Quốc.

Trần Đoàn, tự Hi Di, người đất Hoa Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Tương truyền rằng khi ra đời, ông bị sinh thiếu tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi, thủa nhỏ thường đau yếu liên miên. Trần Đoàn học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.

Thân phụ Trần Đoàn là một nhà thiên văn, lịch số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh, khi Trần Đoàn yết kiến Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (năm 963 Dương lịch) có nói : “Ngô kim nhật thất thập hữu dư” nghĩa là “tôi năm nay trên bảy mươi tuổI”. Vậy có thể Trần Đoàn ra đời vào khoảng 888-893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Trần Đoàn bắt đầu học thiên văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh thuật rằng :

“Tiên sinh 8 tuổi mà tính còn thơ dại. Lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo:

– Con có thấy sao Tử Vi kia không ?

Đáp : – Thấy.

Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi : – Con có thấy sao Thiên Phủ kia không ?

Đáp : – Thấy

– Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và Thiên Phủ là bao nhiêu ? Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng trên nữa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa :

– Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm Thiên phủ có 8 sao. Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa thiên văn và lịch số”.

Du nhập vào Việt Nam

Tuy xuất phát từ Trung Quốc, Tử Vi không được nổi bật lắm trong các môn bói toán khác. Nhưng khi du nhập vào Việt Nam, nó trở thành môn học được ưa chuộng nhất. Có rất nhiều học giả Việt nam đã cống hiến thêm cho môn nầy, trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn. Dần dần, Tử Vi Việt Nam có thêm những dị biệt so với Tử Vi nguyên thủy của Trung Quốc.

Những dị biệt giữa Tử Vi Việt Nam và Trung Quốc :

Cách an mệnh của Tử Vi VN bắt đầu từ cung Dần, trong khi Trung quốc bắt đầu từ cung Sửu Cách tính tuế hạn của Tử Vi VN tùy thuộc vào chi của tuổi người xem. Trong khi tuế hạn của Trung quốc cố định.

Các sao trong Tử vi

Bộ Tử Vi Chính Nghĩa được coi như là chính thư không thấy nói về số sao. Song xét trong mục dạy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào.

Có môn phái Tử vi an tới 118 sao. Mỗi ngôi sao có một ý nghĩa. Sao này khi tương tác với sao khác lại có ý nghĩa khác.

Theo Hi Di tiên sinh thì 93 sao đó là :

14 chính tinh

Vòng Tử Vi có 6 sao : sao Tử vi, Thiên cơ, Thái dương, Vũ khúc, Thiên đồng và Liêm trinh.

Vòng Thiên Phủ có 8 sao : Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát và Phá quân.

Các phụ tinh : Các sao này mang bản sắc riêng biệt được an định trong 12 Cung trên một Thiên Bàn.

Vòng Thái tuế – 5 sao là Thái tuế, Tang môn, Bạch hổ, Điếu khách, Quan phù. Các phái khác thêm vào 7 sao nữa là: Thiếu dương, Thiếu âm, Trực phù, Tuế phá, Long đức, Phúc đức, Tử phù.

Vòng Lộc tồn – 17 sao là Lộc tồn, Kình dương, Đà la, Quốc ấn, Đường phù, Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ.

Vòng Trường sinh – 12 sao là Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Các sao an theo tháng – 7 sao là Tả phụ, Hữu bật, Thiên hình, Thiên giải, Địa giải, Thiên riêu, Thiên y.

Các sao an theo giờ – 6 sao Văn xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo, Thiên không, Địa kiếp. Vị trí chính của sao Thiên Không được các phái khác thay bằng sao Địa Không, còn sao Thiên Không thì được an liền sau sao Thái Tuế và đồng cung với Thiếu dương.

Các sao an theo ngày – 4 sao là Tam thai, Bát tọa, Ân quang, Thiên quý.

Tứ trợ tinh – 4 sao là Hóa khoa, Hóa quyền, Hóa lộc, Hóa kỵ.

Các sao an theo Chi – 17 sao là Long trì, Phượng các, Thiên đức, Nguyệt đức, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên mã, Hoa cái, Đào hoa, Phá toái, Kiếp sát, Cô thần, Quả tú, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên khốc, Thiên hư. Hai sao Hỏa tinh và Linh tinh được các phái khác an theo giờ sinh.

Các sao an theo Can – 5 sao là Lưu hà, Thiên khôi, Thiên việt, Tuần không, Triệt không.

Các sao cố định – 4 sao là Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng.

LÁ SỐ TỬ VI

Lá số tử vi được trình bày trên Thiên bàn, địa bàn. Thiên Bàn ở giữa, chung quanh là Địa Bàn với 12 cung.

Tại Thiên bàn, ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, mệnh và cục.

Địa Bàn gồm 12 cung cố định, được đặt tên theo mười hai địa chi, mỗi cung phản ảnh một lĩnh vực, một mặt của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức, cha mẹ… Các cung trên địa bàn lần lượt mang các tên là: Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu thê, Huynh đệ.

Những phương thức để xác định vị trí của khoảng 110 sao lên trên địa bàn được gọi là “an sao”.

Yên Huỳnh (tổng hợp)

Bạn có tin Lá Số Tử Vi không ? (1/2)

DIỄN ĐÀN TÂM LINH (1/2)

BẠN CÓ TIN TỬ VI KHÔNG ?

Lịch Sử Khoa Tử Vi

Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra không phải là Hy-Di tiên sinh. Ông chỉ là người kết hợp các khoa lại. Chính ông, ông cũng công nhận khoa này có trước ông. Ông chỉ là người bổ túc và đưa nó trở thành một khoa nổi tiếng.

Trong thập niên 1960 trở lại đây, VN ở hoàn cảnh chiến tranh, biến cố diễn ra liên miên. Hôm nay thế này, ngày mai bừng mắt dậy đã khác, nên khiến con người muốn tìm hiểu số mệnh mình bằng các khoa học huyền bí. Trong các khoa học huyền bí, thì khoa Tử-vi được coi là có nhiều tính chất khoa học, giải đoán được mọi sự kiện của cuộc đời và mở rộng. Bởi vậy khoa Tử-vi được nghiên cứu rất nhiều. Từ những người cao niên, học thức uyên thâm, tới những sinh viên học sinh, thi nhau tìm hiểu khoa này. Cho đến năm 1973-1975, một bán nguyệt san được xuất bản với tên Khoa Học Huyền Bí do ông Nguyễn Thanh Hoàng sáng lập và làm chủ nhiệm. Tạp chí này mang tên Khoa học huyền bí nhưng gần như là nơi quy tụ những kết quả của các nhà nghiên cứu Tử vi. Người yêu khoa Tử vi thì nhiều, mà sách vở ấn hành không được là bao. Tựu trung có các bộ sau đây :

– Tử-vi đẩu số tân biên của Vân Điền Thái Thứ Lang.

– Tử-vi áo bí của Hà Lạc Dã Phu.

– Tử-vi Hàm-số của Nguyễn Phát Lộc.

– Tử-vi đẩu số toàn thư của La Hồng Tiên do Vũ Tài Lục dịch nhưng chỉ có một phần ngắn.

Trong bốn bộ sách Tử-vi trên thì từ tính chất các sao, đến cách an sao, giải đoán hầu như quá khác biệt nhau, khiến cho người nghiên cứu không biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là sự thật mà đi theo. Thậm chí có sách đi vào những chi tiết thần kỳ chí quái, hoang đường trái hẳn với khoa Tử-vi nguyên thủy, đó là bộ Tử vi Áo bí của Hà lạc Dã Phu.

Hiện (1977) khoa Tử-vi ở VN, bị coi là một khoa nhảm nhí bị cấm tuyệt. Tuy nhiên trong dân chúng, vẫn nghiên cứu, và các thầy Tử-vi vẫn đông khách. Tại hải ngoại, người Việt lại tiếp tục nghiên cứu khoa này, số người nghiên cứu hầu như đông đảo hơn hồi 1975 về trước nữa.

Lý do, khi tiếp xúc với văn minh cơ giới Âu-Mỹ không giải quyết được lẽ huyền bí của con người với vũ trụ. Hơn nữa khoa Tử-vi nhiều tính chất khoa học hơn các khoa chiêm tinh khác. Lý do thứ ba khiến khoa Tử-vi được nhiều người nghiên cứu là, khi ra ngoại quốc, người Việt không ít thì nhiều đều tìm cách học thêm. Học nhiều thì kiến thức rộng. Kiến thức càng rộng thì việc nghiên cứu càng sâu rộng hơn. Một vài nơi như Pháp, Canada, Úc, Hoa-kỳ, họ đã thành lập những hội nghiên cứu Tử-vi, hơn nữa có nhiều bạn trẻ dùng vi tính lập lá số, giải đoán lá số; thực là một điều đáng khuyến khích.

Tuy nhiên trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại, lấy đâu ra sách vở tài liệu để họ nghiên cứu ? Sách vở căn bản không có, rất dễ dàng đi đến sai lạc, khiến cho khoa Tử-vi bị mất giá trị, mà mất luôn sự tin tưởng và mất luôn ngày giờ của người nghiên cứu.

Bởi vậy chúng tôi mạo muội mở đầu cho phong trào, bằng một bài nghiên cứu về lịch sử khoa Tử-vi, để độc giả có một cái nhìn tổng quát, khiến nó không bị ngộ nhận là nhảm nhí và đồng hóa với những khoa huyền bí thiếu biện chứng khác.

Nhận xét của Nguyễn Hiến Lê

về khoa Tử vi Tử bình – Hà lạc

Trong cuốn Luyện lí trí (1965) chương VII tôi đã đưa ra vài nhận xét về khoa Tử Vi và Tử bình rồi kết như sau : “Tôi không quả quyết rằng những khoa Tử vi, Tử bình hoàn toàn vô giá trị. Vì tôi đã thấy những trường hợp nó đúng một cách không phải là ngẫu nhiên.

Tôi lấy thí dụ một gia đình nọ gồm bốn anh em mà tôi được biết. (Chính là tôi và ba em tôi). Khi mới sanh, mỗi người đều có một lá số tử vi. Số đoán rằng một người con trai sẽ khá nhất, càng đi xa càng khá, một người con trai nữa sẽ chết yểu, một người con gái được nhờ chồng, một người nữa không được nhờ chồng mà được nhờ con. Hiện nay, sau nửa thế kỷ, tôi thấy những điều đó đều đúng mà đúng tới vậy thì không thể cho là ngẫu nhiên được. (…)

Tôi lại nghiệm thấy rằng coi qua những số của các bà con, bạn bè cũng có thể đoán ngay được mỗi người vào hạng nào trong xã hội, nghĩa là số tốt hay xấu. Mà những lời đoán đó phần nhiều đúng, đúng về đại cương, đúng một cách tương đối. Và vấn đề nhân sự, hoàn cảnh vẫn là quan trọng”. (trang 174-175).

Ngày nay (1980) tôi có thể nói thêm : lấy theo Tử vi thì 10 lá số chỉ đúng độ 6, 7 lá; những lá đúng đó, thì mười điều cũng chỉ đúng được 6, 7, càng đoán về tiểu tiết thì càng sai. So sánh ba khoa Tử vi, Tử bình, Hà lạc, tôi thấy :

– Tử vi cho con người chịu ảnh hưởng kết tụ của các vì sao (tinh đẩu), mà như vậy mọi việc đã an bài sẵn. Không thể cải được mệnh. Tử vi dùng trên trăm sao và có tới 12 cung : Mệnh (Thân), Thiên Di, Tài Bạch, Quan Lộc. Phúc Đức, Phụ Mẫu, Phu Thê, Tử Tức, Huynh Đệ… cho nên đoán được nhiều chi tiết : tính tình mỗi người, sang hèn, giàu nghèo ra sao, cha mẹ, vợ con, anh em, cả bạn bè, bệnh tật, mồ mả tổ tiên, nhà của, ruộng nương…, nhiều chi tiết hơn Tử bình và Hà lạc; có lẽ chính vì vậy mà nhiều người thích khoa đó; nhưng đi vào chi tiết thì dễ đúng mà cũng dễ sai; mà tâm lí chung của mọi người là để ý đến những điều đúng hơn là những điều sai, cho nên khoa đó được nhiều người tin là đúng.

Sự thực, theo tôi thì khoa Tử vi không hợp lý vì dùng âm lịch, mà âm lịch có tháng nhuận; gặp người sinh tháng nhuận thì đành phải coi thuộc về tháng trước hay tháng sau, như vậy hai người sinh cách nhau một tháng, người sinh trong tháng 6 chính chẳng hạn, người sinh tháng 6 nhuận, ngày giờ giống nhau thì số y hệt nhau : điều đó không chấp nhận được.

Khoa Tử Bình gọi năm, tháng, ngày, giờ bằng can chi hết; có 4 can, 4 chi, do đó gọi là bát tự (8 chữ). Không có tháng nhuận, vì dùng dương lịch (tính năm, tháng theo thời tiết) cho nên hợp lí hơn nhiều. Nó dùng luật ngũ hành tương sinh tương khắc và theo qui tắc cứ quân bình là tốt: hễ “hành” nào thiếu thì đi vào vận có hành đó hoặc có một hành sinh ra nó (ví dụ thiếu hỏa, di vận có hỏa hoặc có mộc sinh hỏa) mới tốt. Điều đó cũng hợp lý. Lại thêm nó dùng ít sao, ít có trường hợp sao này tương phản với sao khác, nên đoán ít sai. Nhưng chính vì ít sao, đoán được ít chi tiết, nên nhiều người không thích khoa đó.

Hà Lạc gọi là bát tự vì cũng gọi năm, tháng, ngày, giờ bằng can chi; nhưng khác hẳn Tử Bình ở chỗ đổi những can chi đó ra số Hà lạc, để lập thành một quẻ kép trong kinh Dịch, quẻ này biến thành một quẻ kép khác nữa, sau cùng cứ theo ý nghĩa của mỗi quẻ, mỗi hào trong kinh Dịch mà đoán vận mạng (mỗi hào âm là 6 năm, mỗi hào dương là 9 năm; còn Tử vi và Tử bình thì mỗi vận là 10 năm). Như vậy Hà lạc chỉ cho ta biết sơ về số mạng (giàu sang hay nghèo hèn, thọ hay yểu) và mỗi hạn 6 hay 9 năm tốt xấu ra sao, chứ không cho ta biết gì về gia cảnh, cha mẹ, vợ con… Sau mỗi hào có lời khuyên nên cư xử ra sao, tiến thoái, hành xử ra sao cho hợp với nghĩa tùy thời trong kinh Dịch.

So sánh ba khoa đó, tôi thấy Tử Vi thích hợp với đàn bà (?), họ muốn biết nhiều chi tiết; Tử Bình hợp lý, thích hợp với giới trí thức; Hà Lạc thích hợp với người học đạo cư xử ở đời. Ba khoa đó phương pháp đều huyền bí, rất khác nhau mà lạ lùng thay, kết quả nhiều khi giống nhau tới 7 phần 10.

Thí dụ trường hợp của tôi. Tôi sinh năm Tân Hợi, tháng 11, ngày 20, giờ Dậu (Tây lịch: 8-1-1912), bát tự là năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Quí Mùi, giờ Tân Dậu. Số Tử vi đoán tính tình, khả năng của tôi đúng, về phúc, thọ của tôi cũng đúng, về vợ con cũng đúng nữa; nhưng về cung quan lộc thì đúng một phần thôi, về đại hạn 43-52 tuổi thì sai nhiều.

Số Tử bình đoán đại khái cũng đúng gần như Tử vi, tuy ít chi tiết hơn, và riêng đại hạn 41-50 tuổi thì đúng hơn Tử vi.

Số Hà lạc cũng đoán rất đúng về đại hạn đó, còn về phúc, thọ, tư cách thì cũng giống Tử vi và Tử bình. Về gia đình tôi, Hà lạc không đoán, như tôi đã nói.

Ba khoa nguyên tắc khác hẳn nhau mà kết quả hợp với nhau như vậy thì đáng gọi là kỳ dị. Nhưng tôi cũng thấy mấy người trong họ hàng tôi số Tử vi, Tử bình khác nhau xa; và có khi gần hoàn toàn sai cả nữa. Vậy ba khoa đó bảo là vô căn cứ thì sai mà bảo là đáng tin hẳn thì cũng không được.

Tò mò đọc cho biết thì nên, bỏ trọn đời để nghiên cứu thì tôi e mất thì giờ mà chưa chắc đã phát kiến được gì. Cho nên tôi không muốn lấy số cho trẻ trong nhà. Và tôi cho cứ tận lực của mình là hơn cả. Nếu có số thì con người có khi cũng thắng được số. Tất cả các sách số đều khuyên vậy : “Tín mệnh bất tín lực, thất chi viễn hĩ” (Tin số mà không tin sức mình thì lầm lớn).

Vả lại người ta có thể sửa được số. Cổ nhân tin rằng số giàu mà mình không ham giàu, tránh giàu thì sẽ tăng tuổi thọ; số sang mà mình tránh sang thì được hưởng phúc nhiều hơn. Cổ nhân còn nói: “vận nước thắng vận người” (Quốc mạng thắng nhân mạng). Những lời đó đều đúng cả.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ (Pháp quốc)

Khoa lý Tử vi

có làm mất niềm tin không ?

Người sành tử vi, đều biết rõ mỗi lục thập hoa giáp có 518,000 dạng lá số (tạm gọi 518,000 lá số), nhân loại ngày nay khoảng 6 tỉ người (tức là cứ 12,000 người có chung một lá số, thế nhưng trong 12,000 cùng một lá số ấy có ai giống ai đâu ? Vẫn là 12,000 sứ mệnh khác nhau ! Điều này đã làm cho giới trí thức đâm ra bi quan và nghi ngờ giá trị xác thực của khoa nghiệm lý Tử vi. Thật ra, cổ nhân khi lập thành khoa lý học này, không phải để người ta dựa vào đó mà luận sự sang giàu, nghèo hèn mà muốn hệ thống hóa cái đặc loại (type) của con người, rồi do theo đó mà dạy dỗ, giáo dục từng đặc loại (theo các phương pháp riêng biệt, tỷ dụ dạy trẻ thông minh thần đồng thì dạy khác, dạy trẻ câm điếc lại cách khác nữa) sao cho tất cả mọi người cùng xứng đáng với nghĩa làm người !

Trải qua thời gian, khoa tử vi dần dần bị biến chất, hạ thấp thành phú đoán dị đoan (cốt xem vận mệnh, công danh, phú quí ra sao để trục lợi). Thuật đối nhân xử thế tiềm tàng trong mỗi lá số Tử vi, chính là cái tự do của con người (để sống hòa hợp với bao nhiêu phiền toái và ràng buộc của con người với tạo vật, tạm gọi là môi sinh). Vậy thì tử vi không là một kiểu định mệnh độc ác và bất khả chối từ đâu ! Người hiện đại, nhất là giới trí thức đều nghĩ không có định mệnh nào làm sẵn theo kiểu “nhất ẩm nhất trác giai do tiền định” cả, không thể có một tha lực nào bắt con người phải nô lệ cho một định mệnh !

Mỗi lá số tử vi có một cung cách chung cho 12,000 người, nhưng đồng thời lại có đủ 12,000 trình độ xử thế khác nhau (do con người chủ động cách suy nghĩ và cách hành động của bản thân), và từ đó phát sinh ra 12,000 cái sứ mệnh khác nhau, không ai giống ai (ví như một lớp học, tuy cùng một trình độ, có người hạng nhất, có người hạng trung bình và có người xếp hàng chót). Người khoa học là người chịu khó quan sát nhiều lần cái ngẫu nhiên giống nhau, mà qui nạp thành cái tất nhiên (gọi là qui luật). Cổ nhân (gồm nhiều thế kỷ xa xưa kinh nghiệm, tích lũy được) cũng làm theo hệ thống này mà tạo thành khoa nghiệm lý tử vi để hậu thế hiểu thêm giá trị sống ở đời (mà vừa thích nghi vừa chế ngự thiên nhiên, hoàn cảnh).

Mỗi lá số tử vi có một cấu trúc thật diệu kỳ (thật huyền ảo) của 14 chính tinh (chưa nói các phụ tinh khác), ta tạm chia làm ba cách phân bổ :

– Nhân cách là tính nhị hạp của Liêm với Lương, của Phá với Cơ, của Vũ với Nguyệt, của Nhật với Phủ, của Đồng với Tham

– Địa cách là tính xung đối của Phá với Tướng, của Sát với Phủ

– Thiên cách là cái tính hại của Tử với Cự, của Tướng với Cơ, của Nhật với Sát

Sự hình thành chặt chẽ các thế đứng của tinh đẩu vừa nêu ở trên (dù đóng ở bất cứ cung nào), chính là một cách ẩn tàng khuyên bảo người ta nên đối nhân xử kỷ sao cho xứng danh “Nhân linh ủ vạn vật”, từ đó nâng cao cuộc sống vật chất và nhân cách của bản thân (Nguyễn Du: Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều)…

…. một vị thứ xếp hạng riêng biệt trong 12,000 người cùng một lá số tử vi người này vẫn khác người kia. Mỗi lá số tử vi có cái thuận lợi riêng và cái bất lợi riêng của nó. Người sành tử vi biết số của mình, không phải là biết khi nào vào vòng thái tuế, lúc nào đáo vận thiên không, cái biết này chỉ là cái “dụng” tầm thường, quan trọng hơn là ta phải biết cái “thể” rõ rệt mà xử lý với đời như thế nào cho phải đạo. Nhân sinh quan của người thích tử vi có phần tích cực và lạc quan (chứ không chịu dị đoan, yếm thế đâu). Nhìn vào lá số của mình trong thiên bàn tử vi, suy gẫm về nhân cách (là các sao nhị hạp), ta thấy bàng bạc các lời khuyên bảo chí tình :

– Sống thanh bạch phải giữ cho được phẩm cách thanh cao, đấy mới là khó ở đời (Liêm trinh với Thiên lương)

– Muốn đổi cũ thay mới, phải biết cân nhắc, tính toán cẩn thận và khôn ngoan, không thể phủ định tất cả (Thiên cơ với Phá quân)

– Phải sống có tình cảm nhân hòa nhân ái, chứ không vì đồng tiền mà cô đơn, lẻ loi, ti tiện (Thái âm với Vũ khúc)

– Phú quí song toàn, có nghĩa khi sống ở địa vị sang cả phải có lòng nhân hậu trong sáng (Thái dương với Thiên phủ)

– Phải thành khẩn tu tâm, hối cải các lầm lỗi, để diệt bớt dục vọng, đừng tham lam mà chỉ trích chuyện canh cải sửa đổi hời hợt (Tham lang với Thiên đồng)

Suy gẫm về địa cách (các sao xung đối), rõ ràng là thuật xử thế :

– Lấy độc trị độc, cao nhân tất hữu cao nhân trị (Phá quân với Thiên tướng)

– Lấy đạo cương nhu mà dung nạp nhau, đạo đức kiềm chế bớt hung bạo (Thất sát với Thiên phủ)

– Suy gẫm về thiên cách (là tính hình hại của các tinh đẩu. Tỵ hại Dần, Ngọ hình hại Sửu) cho thấy lối chỉ dạy kinh nghiệm sống ở đời phải biết:

– Khi có địa vị cao sang, phải biết nghe lời phê phán. Sự bình phẩm của xã hội là cách tu sửa bản thân thêm chính đáng (Tử vi với Cự môn)

– Trí và Dũng không cân xứng là đau khổ, thiếu cái này là mất ngay cái kia (Thiên tướng với Thiên cơ)

– Quân tử khó chung đụng với tiểu nhân, dự trong sáng nghiêm túc không dung chứa tà mị vũ phu (Thái dương và Thất sát)

Nếu mỗi người chịu sống là làm theo “ẩn ngộ” trong cấu trúc của các chính diệu nêu trên thì rõ ràng là đã giúp mình tìm một vị thế riêng trong 12,000 người cùng một lá số tử vi.

Cụ Thiên Lương nêu cao hai chữ Tài, Thọ, để thế nhân hoán cải phần số của mình, thiết tưởng không bỏ qua cả những cơ cấu chặt chẽ của tinh đẩu hình hại, tinh đẩu đối cung và tinh đẩu nhị hạp (mà cụ Thiên Lương là người đầu tiên phát hiện rõ sự trạng này) để ta thấy rõ cái bản thể của ta hơn.

Đời người theo tình lý của khoa tử vi chỉ là một “project schematique”, không một tha lực nào độ mạng cho ta được, đời ta là do ta gây dựng mà thôi. Cái thú chơi tử vi là vậy đấy. Khoa nghiệm lý tử vi không có tà thuật gì cả. Nó chỉ là một khoa chứa đựng nhiều tinh túy nhân bản của người xưa, nói về đạo sống ở đời. Ta thuộc về một lá số nào, thì ta phải cố mà bảo trì phát huy cái thuận lợi chứa trong lá số của mình từ đó các tật xấu (hoa hại) sẽ bớt đi. Chẳng khác nào ta biết được cái ưu, cái nhược của cái xe ta đi, nương theo đó mà bảo trì, sửa chửa thì xe lâu hư lâu cũ! Vậy thì, không nên chê trách các lá số kiểu Thiên không, mà cũng không nên tôn sùng quá đáng các lá số Thái tuế ! Xe honda có mau hơn tốc độ, nhưng xe đạp vẫn giúp ích cho đời nghèo chứ ? Vấn đề là dựa vào cấu trúc nhân cách (tính nhị hạp) địa cách (tính xung đối) thiên cách (tính hình hại) trong tử vi mà xử thế với đời, hai chữ thiên tài, thiên thọ nghiêm túc duy trì chính là học làm người tốt lành trong xã hội tiến bộ.

Nhìn chung mọi lá số tuy chứa 12,000 người kỳ thật lại xếp hạng từ thứ nhất, thứ nhì tới thứ 12,000 cả thẩy 512,000 lá số cho ta đủ 6 tỉ người có vị thứ khác nhau (mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười), đấy là sự thật rõ ràng nhất !

Hoàn cảnh sống, dòng dõi, nền giáo dục được hấp thụ, tất cả đúc kết lại thành “môi sinh” để mỗi người tự vươn lên, do đó việc có cùng một lá số tử vi, mà không ai giống ai (kể cả việc anh em song sinh) là tất nhiên vậy thôi. Lại nữa, con người cũng là một thứ sinh vật (như bao sinh vật và vật chất khác) luôn biến dịch theo luật tuần hoàn của vật chất, nghĩa là cùng chịu những chi phối của môi sinh (đồng thời cũng tác động lại để cải biến môi sinh), nên dù ở loại lá số nào (và xếp hạng cao thấp trong mỗi lá số) vẫn phải theo qui luật của môi sinh để trường tồn (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong, thiên ở đây là cái lý tất nhiên tối cao, chứ không phải là mô thức Thượng đế nào). Tỉ dụ như muôn loài động vật đêm tối thì đi ngủ, trời mưa gió thì tìm chỗ ẩn náu.

Cái vi diệu của cuộc sống xã hội là có rất nhiều cái lý tối cao chi phối con người, nên dù ở lá số nào, người ta vẫn làm theo cái lý tối cao ấy (hoặc bằng vật chất, hoặc bằng tư duy) rồi trong khi thi hành theo lý tối cao của môi sinh, ta lại thấy có các trật tự khác nhau (vẫn là khác nhau!) giữa người này với người kia. Chẳng khác nào việc ta cùng nắm trong tay nhiều hòn bi màu (là các lá số khác nhau) rồi cùng một động tác duy nhất là ném ra xa (do một lý tối cao chi phối), thử xem kết quả ra sao? Không hòn bi nào nằm ngang cùng một khoảng cách đến bàn tay ném ra cả !

Cái trật tự, do lý tối cao chi phối các hòn bi ấy vẫn có mức độ khác nhau. Vậy thì cùng một môi sinh hun đúc các lá số tử vi vẫn phát triển một cách khác nhau. Đời người có may mắn có họa hại, chẳng qua là do cung cách đối nhân xử thế của mỗi cá nhân không có tha lực (thần quyền) nào dẫn dắt chúng sanh đâu !

Tác động qua lại giữa bản thể của ta với môi sinh, chính là nguồn gốc của họa phúc. Khoa tử vi giúp ta thấy được bản thể (cái thể xác thực là lá số tử vi của ta đang thuộc về) rồi tùy ta (tự do tính) định liệu xử lý với ngoại cảnh (cái dụng chân thành). Thể và dụng là chuỗi dài quá trình sinh hóa của con người khác nhau giữa người với người là chính ở ta “sống với môi sinh” của ta như thế nào thôi.

Cái thú của khách mộ điệu tử vi không phải là làm việc “bất xuất hô tri thiên hạ”, không phải làm “thầy” để “bói” đời hẳn nhiên chỉ ở chỗ: “Bất khuy dữ kiến thiên đạo” (không sống thừa không sống thiếu là thấy cái lý cùng thông của tạo vật, trong đó có ta).

Toán học thuần lý cho rằng “Les elements des nombres sont les des choses”, thì khoa tử vi cũng vẫn nghiệm cái lý: làm chủ bản thân hòa hợp với xã hội khi nào ta biết rõ cái số của ta vậy.

GS Lê Trung Hưng

(diễn đàn này còn 1 kỳ)

CÂY KIỂNG KHAI VẬN NĂM MỚI

LỊCH SÁCH “TỬ VI HUỲNH LIÊN”

NĂM TÂN MÃO 2011

Là cuốn sách lịch xem ngày tốt ngày xấu trong năm, mỗi năm ký giả Võ Lương con của cố ký giả Việt Nhân (bạn huynh đệ với cố chiêm tinh gia Huỳnh Liên từ thưở ra đời lập nghiệp) vẫn đều đặn mỗi năm xuất bản một cuốn.

Năm Tân Mão 2011 này cũng không loại trừ, đã phát hành trên toàn thế giới (trừ Việt Nam) cuốn “Lịch sách Tử Vi Huỳnh Liên năm Tân Mão 2011” (ảnh).

Ngoài ký giả Võ Lương cùng ký giả Thiên Việt hợp soạn cuốn lịch sách trên, còn có nhiều cây bút tên tuổi khác trong làng sách báo “khoa học huyền bí”.

Đặc điểm của lịch sách Tử Vi Huỳnh Liên năm Tân Mão 2011, được 2 ký giả Võ Lương – Thiên Việt soạn theo Âm Dương Lịch kể từ 1/1/2011 đến 22/1/2012 tức từ 27/11 Âm Lịch năm Canh Dần đến hết ngày 29 tháng Chạp Âm Lịch năm Tân Mão, đầy đủ ngày tốt ngày xấu nên làm hay không nên làm, giờ hoàng đạo v.v… cũng như Tử Vi Năm Tân Mão cho mỗi tuổi (như tuổi Tý có tuổi Giáp Tý, Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Tý và Bính tý v.v… đủ 12 con giáp từ nhỏ đến lớn), Sao hạn, Tam Tai các tuổi Âm lịch.

Cuốn lịch sách rất bổ ích cho mọi người và mọi nhà. Giá # 22USD/cuốn. Ở xa có thể liên lạc với ký giả Võ Lương mua qua địa chỉ : PO Xox 2295 Montclair, CA 91763. Tel & Fax (909) 626.7999 hoặc (626) 806.2433.

Quế Phượng

7 LOẠI CÂY KHAI VÃN NĂM MỚI

Năm mới sắp đến, hãy lựa chọn cây cảnh trang trí cho ngôi nhà thêm đẹp và mang đến nhiều may mắn hơn nữa cho mọi người trong gia đình.

Theo quan niệm của phong thủy, một số cây cảnh có tác dụng phong thủy như hoa cúc, hoa đào, hoa lan… Trồng những loại cây đó trong nhà sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho gia đình trong năm mới.

Hoa cúc

Ngày Tết, người ta thường thấy xuất hiện hoa cúc trong nhà, đặc biệt là hoa cúc vàng và đỏ… Bởi vì theo phong thủy, hoa cúc là biểu tượng của sự sống, tăng thêm phúc lộc cũng như sự hoan hỉ đến nhà. Trồng những chậu cúc nhỏ hay cắm hoa cúc có thể giúp ổn định phúc khí trong nhà. Cũng lưu ý rằng, hoa cúc nên đặt nơi có nhiều ánh sáng trong nhà để sự may mắn thêm mạnh mẽ và rực rỡ.

Cây quýt (quất)

Cây quất (hoặc quýt) tượng trưng cho sự thu hoạch và cũng là một khởi đầu tốt đẹp. Vì thế, vào đầu năm mới, ta thường thấy mỗi gia đình thường mua một cây quất (quýt) quả vàng xum xuê, lá xanh tốt với mong muốn khởi đầu một năm mới tốt đẹp, giúp gia tăng tiền tài và vận may cho các thành viên trong gia đình.

Hoa mai

Hoa mai thích hợp với khí hậu ở miền Trung và miền Nam nước ta. Mai vàng tượng trưng cho sự phú quý, giàu sang. Trong ngày Tết, mọi người thường mua cây (hoặc cành) mai vàng nhiều lộc bởi theo quan niệm của phong thủy, hoa mai nở đúng lúc giao thừa hay sớm mùng một sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng và hạnh phúc sẽ đến với gia đình trong năm đó.

Hoa đào

Nếu miền Nam chuộng hoa mai trong ngày Tết thì miền Bắc nước ta lại thường mua những cành đào để trang trí cho căn nhà vào những ngày đầu Xuân. Hoa đào không chỉ có tác dụng xua đuổi tà ma mà còn có thể mang đến nguồn sinh khí mới, giúp mọi người trong nhà luôn khỏe mạnh và bình an trong năm mới.

Hoa thủy tiên

Hoa thủy tiên được xem là loài hoa thanh tao, quyền quý. Trồng hoa thủy tiên có tác dụng khử tà, mang lại cát tường như ý cũng như tăng thêm tài khí cho gia đình.

Hoa thủy tiên là loại hoa rất khó trồng, hoa thường được trồng trong nước, hình dáng giống như củ hành tươi. Trước khi mua về, bạn nên tìm hiểu cách chăm sóc để cây hoa có thể sống thật lâu trong nhà.

Cây sung cảnh

Cây sung là loại cây khá dễ trồng và dễ sống. Chọn một cây sung có dáng đẹp và nhiều quả trang trí trong nhà vào ngày Tết cũng có thể mang đến sự no đủ và nhiều điều tốt lành cho năm mới.

Hoa đồng tiền

Cây hoa đồng tiền còn gọi là cây kim tiền. Trong những dịp đầu xuân năm mới, nếu trồng hoa hoặc cắm hoa đồng tiền sẽ mang đến nhiều tài lộc và tiền của cho gia đình.

PHÚC LỘC THỌ – CÁC CỤ LÀ AI ?

Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu : “Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”

Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.

Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…

Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.

CỤ PHÚC : Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau.

Người Việt ta có câu : “Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”. Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy.

Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm ! Phúc to, phúc dày lắm lắm ! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói :

– Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng :

– Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…

Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.

CỤ LỘC : Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.

Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:

– Lộc ta để cho ai đây ? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta ?

CỤ THỌ : Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua.

Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.

Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:

– Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì. Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo :

– Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao ?

Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội. Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì ?

Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.

Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi. Nhưng trong dân gian khi nói đến 3 cụ Phúc Lộc Thọ là nghĩ ngay đến điều này :

Ông Phúc thường được đặt ở giữa tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành. Tương truyền, Ông Phúc là một quan thanh liêm của triều đình. Theo quan niệm xưa, nhà đông con là nhà có phúc nên đôi khi còn thấy có một đứa trẻ đang nắm lấy áo Ông Phúc, hoặc nhiều đứa trẻ vây quanh ông, hay là có hình ảnh con dơi bay xuống ông (dơi phát âm giống “phúc”).

Ông Lộc hay Thần Tài tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng. Theo truyền thuyết, Ông Lộc được sinh tại Giang Tây, sống trong thời Thục Hán của Trung Quốc, ông còn là một quan lớn của triều đình, có nhiều tiền của. Ông thường mặc áo màu xanh lục vì trong tiếng Hoa, “lộc” phát âm gần với lục”, tay cầm “cái như ý” hoặc thường có một con hươu đứng bên cạnh (hươu cũng được phát âm giống “lộc”).

Ông Thọ tượng trưng cho sự sống lâu với hình ảnh là một ông già râu tóc bạc trắng, trán hói và dô cao, tay cầm quả đào, bên cạnh thường có thêm có con hạc.

Thùy Hương & Yên Huỳnh (Theo Dương Duy Ngữ)

NHỮNG HIỆN TƯỢNG KỲ BÍ

Mặc dù có sức mạnh vô địch nhưng khoa học vẫn không thể lý giải được mọi thứ. Trang Live Science đã thống kê 10 hiện tượng kỳ bí nhất mà cho tới nay khoa học vẫn “bó tay”.

1/- Sự kết nối giữa cơ thể và trí não

Y học chỉ đang bắt đầu hiểu được những cách thức trí não tác động đến cơ thể. Ví dụ như, công dụng của giả dược cho thấy con người đôi khi có thể giảm nhẹ các triệu chứng bệnh hoặc đau đớn bằng cách tin tưởng các liệu pháp chữa trị sẽ hiệu quả dù chúng thực tế có thể như vậy hoặc không. Sử dụng các quá trình hiện vẫn chưa được hiểu hết, khả năng tự hàn gắn, chữa trị của cơ thể đáng ngạc nhiên hơn nhiều so với tác dụng của bất cứ loại dược phẩm hiện đại nào có thể tạo ra.

2/- Sức mạnh tâm linh và ngoại cảm

Sức mạnh tâm linh và nhận thức ngoại cảm (ESP) được xếp vào top 10 hiện tượng chưa được lý giải vì đông đảo công luận tin vào chúng. Nhiều người cho rằng, trực giác là một dạng của sức mạnh tâm linh, một cách tiếp cận kiến thức phức tạp hoặc đặc biệt về thế giới hoặc tương lai.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra những người tuyên bố có sức mạnh tâm linh, mặc dù các kết quả thu được dưới những điều kiện kiểm soát bằng khoa học cho đến nay vẫn tiêu cực hoặc không rõ ràng.

Một số người lập luận rằng, sức mạnh tâm linh không thể kiểm tra được hoặc vì lý do nào đó đã bị giảm bớt trước sự hiện diện của những người hoài nghi hoặc các nhà khoa học. Nếu điều này là đúng sự thật, khoa học sẽ không bao giờ có thể chứng minh hay bác bỏ sự tồn tại của sức mạnh tâm linh.

3/- Các trải nghiệm cận chết

Những người từng cận kề cái chết đôi khi kể về việc đã có những trải nghiệm thần bí khác nhau (ví dụ như đi vào một đường hầm và xuất hiện trong ánh sáng hoặc được đoàn tụ với những người thân yêu hay một cảm giác yên bình, …), có thể gợi mở về một sự tồn tại bên kia thế giới.

Dù các trải nghiệm đó là rất sâu sắc, không một ai hồi tỉnh lại với bằng chứng hoặc thông tin có thể kiểm chứng được từ “thế giới bên kia”. Những người hoài nghi nhận định, các trải nghiệm này có thể được lý giải như các ảo giác tự nhiên và dễ đoán của một bộ não bị tổn thương. Tuy nhiên, hiện vẫn không có cách nào để biết chắc về những gì gây ra các trải nghiệm cận kề cái chết hoặc liệu chúng có thực sự là hình ảnh của “thế giới bên kia” hay không.

4/- UFO

Chẳng có mấy người nghi ngờ về sự tồn tại của các vật thể bay không xác định (UFO). Nhiều người đã nhìn thấy vố số các vật thể trên bầu trời mà họ không thể phân biệt được, từ các trực thăng cho tới sao băng. Liệu bất kỳ vật thể hay ánh sáng ấy có phải là phi thuyền của người ngoài hành tinh hay không lại là một vấn đề hoàn toàn khác, căn cứ vào các khoảng cách dị thường và nỗ lực liên quan nhằm tới Trái đất từ trên vũ trụ, một kịch bản có vẻ như không thể xảy ra.

Tuy nhiên, dù các cuộc điều tra cẩn thận đã hé lộ nguyên nhân của hầu hết các báo cáo nhìn thấy UFO, một số sự cố UFO vẫn luôn không giải thích được.

5/- Hiện tượng deja vu (ký ức ảo giác)

Deja vu là một cụm từ tiếng Pháp có nghĩa “đã thấy”, đề cập tới cảm giác khác biệt, khó hiểu và bí ẩn của việc từng trải nghiệm một loạt hoàn cảnh nhất định nào đó trước đây. Ví dụ, một người phụ nữ có thể đi vào một toà nhà ở nước ngoài, nơi cô chưa bao giờ đến, và có cảm giác rằng địa điểm này thân thuộc một cách kỳ lạ. Một số người quy hiện tượng deja vu vào các trải nghiệm tâm linh hoặc những hé lộ tự nhiên về kiếp trước. Như với trực giác, nghiên cứu về tâm lý con người có thể cung cấp các giải thích theo khoa học tự nhiên, nhưng rốt cuộc nguyên nhân và bản chất của bản thân hiện tượng vẫn còn là một bí ẩn.

6/- Các bóng ma

Từ vở kịch “Macbeth” của Shakespeare tới chương trình “Medium” của kênh NBC, các linh hồn của người chết từ lâu đã hiển hiện trong nền văn hóa của chúng ta. Nhiều người thông báo đã nhìn thấy bóng ma của cả những kẻ xa lạ trong bóng tối và những người thân yêu đã qua đời. Mặc dù rất khó tìm được bằng chứng rõ ràng về sự tồn tại của các bóng ma nhưng các nhân chứng trung thực tiếp tục kể đã tận mắt chứng kiến, chụp ảnh và thậm chí cả giao tiếp với ma. Các chuyên gia “săn ma” hy vọng một ngày nào đó có thể chứng minh được rằng, người chết có thể liên lạc với người chết, cung cấp câu giải đáp cuối cùng cho bí ẩn này.

7/- Mất tích bí ẩn

Con người biến mất vì những lý do khác nhau. Nhiều nhất là các vụ chạy trốn, một số không chống nổi tai nạn, một số ít bị bắt cóc hoặc bị giết, nhưng đa phần các trường hợp cuối cùng cũng được tìm thấy. Điều này không hề xảy ra với các vụ biến mất bí ẩn thực sự. Từ thủy thủ đoàn của tàu Marie Celeste đến Jimmy Hoffa, Amelia Earhart và Natalee Holloway, một số người dường như đã biến mất không để lại dấu vết.

Những người mất tích thường được tìm thấy do công của cảnh sát, sự thú tội hoặc “thám tử tâm linh” chuyên điều tra các vụ tai nạn. Tuy nhiên, khi thiếu bằng chứng hoặc mất các dấu vết, ngay cả cảnh sát và khoa học pháp y cũng không thể phá được án.

8/- Trực giác

Cho dù chúng ta gọi đó là “giác quan thứ sáu” hay thứ gì khác, tất cả chúng ta từng trải nghiệm trực giác một lần nào đó. Tất nhiên, trực giác đôi khi sai lầm nhưng chúng có vẻ đúng trong một khoảng thời gian dài. Các chuyên gia tâm lý nhấn mạnh rằng, con người thu nhận thông tin về thế giới xung quanh theo tiềm thức. Điều này hướng chúng ta tới quá trình dường như cảm nhận hoặc nhận biết thông tin mà không biết chính xác về cách thức hoặc tại sao chúng ta biết nó.

Tuy nhiên, một số trường hợp trực giác khó có thể được chứng minh hoặc nghiên cứu, và tâm lý học chỉ có thể góp phần nhỏ giải đáp hiện tượng này.

9/- Dã nhân

Suốt nhiều thập niên, các nhân chứng khắp châu Mỹ thỉnh thoảng thông báo đã nhìn thấy quái thú to lớn, lông lá, có hình dáng giống người. Bất chấp việc trên thế giới có thể tồn tại hàng ngàn dã nhân nhưng cho đến nay người ta chưa từng tìm thấy thi thể của bất cứ sinh vật nào như vậy.

Không một dã nhân nào từng bị thợ săn giết hại hay chết vì bị xe đua nghiến phải hoặc thậm chí do các nguyên nhân tự nhiên. Do thiếu vắng các bằng chứng đáng tin như như răng hoặc xương của dã nhân nên người ta chỉ biết về sự tồn tại của sinh vật này qua lời kể, những bức ảnh và thước phim không rõ ràng của các nhân chứng.

Một số người nhận định, khoa học sẽ không bao giờ có thể chứng minh được rằng các sinh vật như dã nhân và quái vật hồ Loch Ness không hề tồn tại và có thể những sinh vật bí ẩn này đang lánh xa khỏi các con mắt tò mò.

10/- Tiếng vo vo ở Taos

Một số cư dân và du khách ở Taos – thành phố nhỏ tại New Mexico nhiều năm nay luôn cảm thấy khó chịu và đau đầu với một tiếng vo vo bí hiểm, tần suất thấp trong bầu không khí sa mạc. Kỳ quặc là, chỉ khoảng 2% cư dân ở Taos báo cáo nghe thấy tiếng động đó. Một số người tin rằng, tiếng động kỳ lạ đó xuất phát từ những âm thanh khác thường. Số khác nghi ngờ những người khác nghi ngờ đó là sản phẩm kích động quần chúng hoặc vì một mục đích bí mật, nham hiểm nào đó.

Dù được mô tả như một tiếng nổ, tiếng kêu vo vo, vù vù hay là sản phẩm của tự nhiên, tâm lý hoặc siêu nhiên, cho tới hiện tại, không có bất kỳ ai có thể xác định được nguồn gốc của âm thanh đó.

Yên Huỳnh

NÓI TIẾP CHUYỆN “ĐẦU THAI” KỲ LẠ !

CHUYỆN “THẰNG NHỎ HỖN LÁO”

Đêm qua, nhân dịp ghé thăm anh bạn hàng xóm và nghe một câu chuyện mà tôi phải ghi lại đây để gọi là làm chứng từ cho hiện tượng “đầu thai”. Vâng, đúng là chuyện li kì, mà nếu không nghe từ chính miệng anh tôi kể thì chắc tôi sẽ gạt phắt là chuyện tầm phào …

Câu chuyện bắt đầu từ một bài báo (chúng tôi đăng trong bài “Những chuyện đầu thai kỳ lạ”) nhưng lại trùng hợp với câu chuyện của anh bạn tôi. Nhân dịp ghé chơi nhà anh bạn, tôi kể cho các bạn bè nghe câu chuyện tôi mới đọc, viết về một em bé được tin là đầu thai sau vài năm chết vì một tai nạn.

Nghe xong, anh bạn tôi (tên D) thản nhiên hỏi lại “vậy ông có muốn nghe chuyện của tôi không”. Câu chuyện của anh cũng li kì không kém, và có nhiều nét tương đồng với câu chuyện đầu thai đã kể …

Nhà anh D ở một làng ven sông thuộc tỉnh Trà Vinh. Gia đình anh có 4 anh chị em, nhưng chỉ có một mình anh đi vượt biên và đã định cư ở Úc gần 30 năm qua. Năm nay anh đã 60 tuổi. Sau ngày anh đi Úc, Ba anh đã qua đời, để lại má và mấy anh em.

Gia đình vẫn làm nghề nông và cuộc sống vẫn trôi theo thời gian một cách bình thản, cho đến một ngày câu chuyện “thằng nhỏ hỗn láo” xảy ra. Ở đầu sông có một cậu bé khoảng 7 tuổi, là con đầu lòng của cặp vợ chồng, có những lời nói bất thường. Cứ mỗi lần thấy má anh D đi ngang nhà, cậu bé cứ chỉ vào bà và nói “Nó là vợ tao đó”.

Thoạt đầu, má anh D và mấy người hàng xóm chỉ cười vì nghĩ thằng bé nó tập nói, nên chẳng ai chấp nhứt cả. Nhưng cậu bé nói câu đó rất nhiều lần như thế mỗi khi thấy mặt má anh D, làm cho má anh nổi giận và mắng cặp vợ chồng trẻ không biết dạy con. Thế là cậu bé ăn đòn. Nhưng dù ăn đòn thế nào đi nữa, nó vẫn khẳng định điều nó nói. Chẳng những thế, cậu bé còn chỉ mặt những người trong gia đình anh, và nói giọng kẻ cả “thằng này là con tao, nó thứ 3; con kia thứ 4”, và kể ra vanh vách những chuyện và thông tin mà chỉ có gia đình anh mới biết. Đến lúc đó thì không ai có thể xem là thằng bé hỗn láo hay nói bậy.

Anh em bên nhà gọi điện sang anh D và kể câu chuyện li kì trên, rồi hỏi anh phải làm gì. Trong một chuyến về thăm nhà anh quyết định tìm hiểu và tự mình chứng kiến mới tin.

Ngày đầu tiên về thăm nhà, anh mua một con heo quay và mâm trái cây đem ra mộ để cúng ba anh, như là một việc làm rất thông thường của những người con đi xa mới về quê. Xong việc cúng bái, anh ghé thăm nhà người hàng xóm đầu sông (vốn không phải là chỗ quen biết hay bà con với gia đình anh).

Vào nhà, anh gặp thằng bé và hỏi “Con có ăn gì không ?”. Cậu bé thản nhiên nói “Ăn hết một con heo quay rồi, no lắm rồi”. Anh kể nghe xong câu trả lời mà anh lạnh cả người.  Anh thử hỏi thêm “biết tôi là ai không”, cậu bé cũng thản nhiên nói “Mày là thằng Hai chứ ai, mày ở xa mới về”. Lúc anh rời Việt Nam thì cậu bé chưa ra đời (và ba anh vẫn còn sống). Dù đã có vài ý niệm rằng con mình là một trường hợp đặc biệt, nhưng nghe qua cuộc đối thoại, cha mẹ của cậu bé cũng ngạc nhiên. Lại thêm những câu hỏi về những kỉ niệm riêng tư mà chỉ anh D và ba anh biết, và cậu bé trả lời vanh vách, không sót một chi tiết nào.

Điều đáng nói là cậu bé thản nhiên xưng “tao” và gọi anh là “mày” y như là ba anh lúc sinh tiền, nếu có khác thì giọng nói của một đứa bé ! Đến đây thì anh tin rằng đứa bé chính là hiện sinh của ba anh, hay nói theo dân gian là ba anh đã “đầu thai”.

Sự xuất hiện của đứa bé làm cho gia đình anh khó ứng xử. Má anh không biết gọi cậu bé bằng gì, mấy người anh em cũng không biết gọi nó là “ba” hay không. Ba má cậu bé cũng lúng túng. Cả làng ai cũng biết câu chuyện ba anh đầu thai. Không giống như câu chuyện trước đây, đứa bé vẫn ở nhà của cha mẹ nó, chứ không về ở nhà anh D. Nay thì cậu bé đã lớn và lên thành phố theo học, nên ít ai nhắc lại chuyện xưa, dù ai trong làng cũng biết.

Tôi vẫn thường hay nghe người khác kể những câu chuyện đầu thai, và cũng đọc nhiều chuyện như thế trong sách báo phương Tây. Nhiều câu chuyện đầu thai (hay reincarnation) bên Tây còn li kì hơn câu chuyện tôi vừa kể. Nhưng thú thật tôi chỉ nghe và bỏ ngoài tai, chứ chẳng quan tâm. Một phần vì tôi chẳng thấy có bằng chứng khoa học nào nên làm sao tin được; một phần khác tôi nghĩ những câu chuyện đó bạn tôi chỉ nói cho vui hay nghe chuyện “tam sao thất bổn”. Thế nhưng khi đọc phóng sự về một vụ đầu thai kỳ lạ, và chính tôi nghe qua câu chuyện của anh bạn thì tôi bắt đầu giao động …

Dù quen anh bạn rất lâu năm, nhưng anh D chưa bao giờ nói chuyện này cho đến hôm qua tôi thuật lại câu chuyện trong bài báo trên. Anh nói tôi nên kể cho họ biết. Anh bạn tôi thuộc vào nhóm người nghiêm chỉnh, không thích đùa giỡn. Không một ai trong bạn bè đặt dấu hỏi về sự thật của câu chuyện gia đình anh, nhưng không ai giải thích được hiện tượng đầu thai. Trong khi những câu hỏi với mẫu tự w và h (what, when, where, why, how) cứ lởn vởn trong đầu, tôi nghĩ mình nên ghi lại câu chuyện để xem như là một bằng chứng thực tế cho những ai quan tâm và nghiên cứu về hiện tượng đầu thai.

Trích theo NVT

Vụ “đầu thai” những “bằng chứng” khó giải thích

Trong cuốn sách phật Hương Hiếu Hạnh xuất bản năm  2007, câu chuyện về “con lộn” Tiến – Bình đã được đưa vào sách với nhan đề “Một trường hợp tái sinh ở Vụ Bản”. Cuốn sách không đưa ra sự phủ nhận hay khẳng định mà chỉ ghi nhận đó là trường hợp người thật việc thật đang hiện diện tại Vụ Bản. Và câu chuyện kỳ lạ nay cũng đã đến tai những người nghiên cứu về tâm linh.

Anh Tân cho biết (cha đời trước của bé Tiến trong bài “Những chuyện đầu thai kỳ lạ”), nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người đã nhiều lần điện thoại gặp anh chị để xin được tìm hiểu, nhưng anh Tân từ chối. Hiện Tiến đã đi học và cũng bình thường như bao đứa trẻ khác. Anh Tân không muốn sự việc lại trở nên phức tạp và được thêu dệt thêm.

Trước khi gặp gia đình anh Tân, tôi thật sự ái ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, trái hẳn với lo lắng của tôi, anh Tân rất vui vẻ kể lại câu chuyện một cách tỷ mỉ. Thậm chí, đang giờ hành chính nhưng anh vẫn gọi chị Thuận về để hai vợ chồng kể chuyện Tiến – Bình cho tôi nghe.

Tuy nhiên, hôm tôi đến nhà, Tiến đang đi học, cháu học cả ngày và trưa ở lại trường. Để giúp tôi hiểu rõ hơn, trưa đó chị Thuận đã đón cháu về nhà. Vừa về đến cổng, Tiến đã nhanh miệng gọi bố, thấy tôi, Tiến khoanh tay chào rất lễ phép. Cháu rất khôi ngô, nói chuyện tự nhiên. Vừa vào nhà là kể chuyện cô, chuyện lớp, hết chuyện này sang chuyện khác. Cháu cứ ôm lấy anh Tân mà kể, chẳng biết ngại ngùng mặc cho lúc đó trong nhà có rất nhiều người, và cả mẹ đẻ của cháu, chị Dự.

– Bình này, chú ở trong bản Cọi ra đưa cháu về với mẹ Dự đây? (Tôi hỏi cháu)

– Cháu là Tiến chứ

– Không. Cháu là Bùi Văn Bình, hôn nay trong bản có lễ hội chú ra đưa cháu về xem

– Không về đâu, cháu là Nguyễn Phú Quyết Tiến, cháu không phải Bình, cháu ở với bố Tân mẹ Thuận cơ !

Anh Tân ngồi cạnh cháu cũng thêm vào :

– Chú nói đúng đó, con là Bình không phải Tiến đâu

– Bố nói dối, con là Tiến. Bố đừng đuổi con nghe bố, bố thương con mà

Nói rồi thằng bé rơm rớm nước mắt, hai tay ôm chặt lấy anh Tân như van xin trông đến tội nghiệp.

Lúc mới về, Tiến còn vui mừng nói cười và mỗi lần thấy tôi cầm máy ảnh lên cháu lại làm dáng. Thế nhưng khi nói đưa cháu đi về bản Cọi cháu chẳng còn nói cười nữa mà chỉ ôm lấy bố Tân.

Câu chuyện đang dang dở với Tiến thì cũng là lúc cháu phải vào lớp. Trước lúc đi, Tiến lại khoanh tay dõng dạc chào chú và không quên dặn “cháu không về bản Cọi đâu nhé !”. Thời gian tiếp xúc với cháu không được bao lâu nhưng tôi thật sự ấn tượng với thằng bé. Tiến thật khôn và lanh lợi nhất là khi tiếp xúc với người lạ, mới 6 tuổi hiếm có cháu nào được như Tiến.

Bây giờ, mỗi tuần anh Tân lại đưa Tiến (đầu thai sang cha mẹ sau được đặt tên là Bình) về ở với mẹ đẻ của mình một lần. Dù Tiến chẳng muốn về, nhưng anh Tân buộc phải làm như vậy, bởi anh muốn cháu luôn biết rằng : chị Dự mới là người sinh thành ra cháu. Anh Tân luôn khẳng định, Tiến giờ hoàn toàn bình thường như các bạn cùng trang lứa. Chuyện của cháu ở Vụ Bản ai cũng biết, anh cũng chẳng có ý định dấu giếm điều gì.

Trước, đây là đề tài “hot” được bàn tán từ đầu làng đến cuối ngõ, nhưng bây giờ mọi người cũng đã quen với sự hiện diện của Tiến – Bình tại nhà anh Tân, chị Dự.

Trích tin Kiên Trung

8 LINH VẬT CHO

CUỘC SỐNG TRƯỜNG THỌ

Nữ phong thủy Lillian Too cho rằng trái đào chín, bình hồ lô hay rùa đầu rồng luôn biểu trưng cho cuộc sống lâu dài.

Gia tăng tuổi thọ của mọi thành viên trong gia đình bằng cách trưng những biểu tượng của tuổi thọ trong nhà, kích hoạt tác động của những biểu tượng đó là một yếu tố quan trọng của thuật Phong Thủy.

Dưới đây là 8 vật phong thủy được bậc thầy phong thủy Lillian Too đề cập đến trong bài viết đăng trên trang The World of Feng Shui (Tạm dịch : Thế giới Phong Thủy) :

Thọ tinh công

Tranh ông thọ hay Nam cực Tiên ông luôn đi cùng với hình ảnh trái đào và hạc tiên.

Ông Thọ là biểu tượng được trưng bày rất phổ biến trong các gia đình ở Trung Quốc. Đây là một trong ba vị tiên Phúc – Lộc – Thọ được biết đến nhiều nhất với hình ảnh một ông già mặc áo choàng vàng, tay cầm gậy có treo một quả đào (trái đào là biểu tượng của sự bất tử) và một nậm rượu.

Theo nữ phong thủy Lillian Too, treo tranh ông Thọ ở nơi thoáng, rộng, nơi tầm mắt gia chủ dễ hướng đến nhất (thường là lối ra vào chính của căn phòng), sẽ có tác dụng mang tới sức khỏe tốt cùng cuộc sống trường thọ, êm đềm cho gia chủ.

Bình hồ lô

Người Hoa cho rằng hình dáng của quả hồ lô tượng trưng cho trời và đất thống nhất trong một thể thu nhỏ.

Bình hồ lô hay một bầu rượu là biểu tượng đầy quyền năng của cuộc sống trường thọ, may mắn và dào dạt phước lành. Ta thường thấy trong tranh ông Thọ, có hươu và hạc đi theo, đồng thời vị tiên này cũng mang theo một bầu rượu mà dân gian vẫn cho rằng nó chứa rượu trường sinh bất tử.

Hình dáng chiếc hồ lô cũng là biểu tượng cho trời và đất được nối bằng một đoạn eo tý hon, trong đó nửa trên tượng trưng cho thiên đường, nửa dưới là trái đất.

Vì thế, người Hoa luôn quan niệm rằng treo bình hồ lô ở một góc nào đó trong nhà mình là điềm tốt. Nữ phong thủy Lillian Too thì khuyên tốt hơn hết là đặt bình hồ lô bên cạnh giường ngủ để giúp người ốm mau khỏi bệnh hay có tác dụng hóa giải tâm trí bực dọc, khó chịu của người nằm trên giường đó.

Chim hạc

Ở Việt Nam, chim hạc là con vật của đạo giáo. Những hình ảnh hạc đậu trên lưng rùa để nhấn mạnh sự giao thoa hài hòa của âm dương.

Việc sử dụng hạc (hay “Nhất phẩm điểu”) làm biểu tượng của sự may mắn và sự trường thọ bắt nguồn từ xa xưa, dưới thời của hoàng đế Phục Hy (Trung Hoa). Mỗi tư thế của chú hạc đều mang một ý nghĩa nhất định :

Nếu là hạc đang bay vút lên lên trời, nó tượng trưng cho một thế giới bên kia tốt đẹp, phiêu du, bởi vì khi ai đó chết đi, linh hồn của người ấy sẽ ngồi trên lưng hạc và được hạc chở lên thiên đường. Cũng bởi lý do đó, trong đám tang của người Hoa, con hạc thường được đặt ở giữa nắp áo quan. Riêng với hạc thấp thoáng giữa những đám mây lại tượng trưng cho tuổi thọ, sự uyên bác, sáng suốt và cuộc sống vương giả. Hình ảnh ấy còn hàm ý chủ nhân đang vươn tới một vị trí cao, đầy quyền lực.

Trên trang web phong thủy của Lillian Too, bà nhấn mạnh loài “chim tiên” này biểu trưng cho tính trường tồn, hạnh phúc và những chuyến bay suôn sẻ. Người ta trưng tượng con hạc ở trong nhà hay ngoài vườn để kích hoạt sự giao thoa đồng điệu của hạnh phúc và tính hài hòa nói chung.

Nếu đặt một bức tượng hạc nhỏ hoặc treo tranh hạc ở phía Nam thì con hạc đó sinh sôi nhiều cơ hội tốt; nếu ở phía Tây thì nó mang vận may cho con trẻ nhà gia chủ; phía đông thì hạc chở khí tốt có lợi cho con trai và cháu trai; và nếu nằm ở phía Tây Bắc, nó kích hoạt sự trường tồn cho cả dòng tộc nhà gia chủ, đặc biệt là tuổi thọ của tộc trưởng.

Hươu

Hươu được xem là con vật phong thủy mang nhiều điềm lành nhất.

Người Trung Quốc quan niệm hươu là biểu tượng cho tốc độ, tính bền vững và cuộc sống lâu dài.

Chữ “hươu” trong tiếng Hoa được đọc là “lu”, phát âm hơi giống một chữ Hoa khác có nghĩa “thu nhập tốt và giàu có”. Chính vì thế người ta hay treo tranh hươu trong văn phòng làm việc để cầu mong công ty mình ăn nên làm ra, hoặc treo trong nhà để cả gia đình gia chủ đó có thể an hưởng cuộc sống lâu dài nhưng êm đềm và sung túc.

Rùa

Rùa đầu rồng hay Long quy, có tác dụng hóa giải tranh cãi, đem lại nhân duyên tốt.

Con rùa nhỏ bé là một trong bốn sinh vật thiên đàng của bà Mẹ Thiên Nhiên còn tồn tại cho đến ngày nay. Truyền thuyết vẫn quan niệm rằng nuôi rùa sống trong nhà thì người đứng đầu dòng tộc ấy sẽ thọ cả trăm tuổi.

Con rùa giấu trong cơ thể và trong những hoa văn trên mai nó tất cả bí mật của trời và đất. Tục truyền rằng khi Ban Cố tạo ra thế giới, ông đã dùng những chú rùa như những chiếc cột chống để giữ vạn vật. Phần gù ở lưng con rùa được coi là trời và phần bụng của chúng là đất, khiến nó trở nên bền vững với thời gian.

Nếu nhìn kỹ con rùa, người ta sẽ nhận thấy nó có một chiếc đầu rắn và một chiếc cổ rất dài. Các nhà phong thủy thường hay trưng trong nhà con rùa đầu rồng để có thật nhiều vận may. Các doanh nhân trưng hình ảnh này phía sau chỗ làm việc thì sẽ can đảm hơn trong việc ra quyết định đồng thời tránh được những rủi ro trong kinh doanh.

Rùa không chỉ là biểu tượng của cuộc sống trường tồn, đó còn tượng trưng cho sự bảo vệ, hỗ trợ vô hình lẫn sự giàu sang thịnh vượng. Trong khoa học phong thủy, Lillian Too chỉ ra hình tượng con rùa đồng nghĩa với những quả đồi phòng vệ nằm ở phía bắc. Tượng rùa nằm ở phía bắc nhà gia chủ được cho là thu hút vượng khí giàu sang, sức khỏe tốt; nếu đặt ở phía bắc phòng làm việc, bạn sẽ nhận được nhiều năng lượng hỗ trợ vô hình cho công việc và sự nghiệp của mình.

Trái đào

Trái đào chín là bộ phận có giá trị tượng trưng nhất của cây đào.

Không có thứ hoa trái nào giàu tính biểu tượng như trái đào, thậm chí mỗi bộ phận trên cây đào cũng chứa đựng hàm ý riêng: cây đào xum xuê trái là lời cầu mong sức khỏe đến mọi thành viên gia đình, gỗ đào để chống lại những linh hồn quấy phá hoặc yêu ma (thời xưa cung tên, mũi tên thường được làm bằng gỗ đào). Nhưng nhìn chung, bộ phận có giá trị biểu tượng lớn nhất vẫn là quả đào.

Theo truyền thuyết, đào là một những loài cây được trồng trong vườn Bất Tử ở núi Thánh và trong khu vườn của Vương Mẫu nương nương, nổi tiếng đến mức Vua khỉ Tôn Ngộ Không thèm khát đến độ phải đi ăn trộm thứ quả này để được trường sinh bất lão… Bày một cành đào bằng ngọc bích hoặc treo tranh vườn đào tiên trong phòng khách sẽ giúp kích hoạt nguồn năng lượng trường thọ trong ngôi nhà gia chủ.

Cây tre

Treo tranh cây tre trong văn phòng và nhà ở sẽ tạo ra năng lượng bảo vệ và đem may mắn cho gia chủ, đặc biệt dễ vượt qua những giai đoạn kinh doanh khó khăn và ngày càng phát đạt.

Cây tre từ lâu đã được xem là biểu tượng của tài lộc trường kì bởi tính kiên cường và khả năng xanh tốt cả bốn mùa, đặc biệt là những ngày đông.

Những mắt tre có ngạnh tượng trưng cho trường thọ và thịnh vượng, có khả năng sống từ hết thế hệ này qua thế hệ khác của khóm tre; trong khi thân tre cứng cáp và dẻo dai lại biểu tượng cho cuộc sống không bệnh tật và ốm đau. Tất cả những bộ phận đấy đều ngầm ý đem lại vượng khí cho sức khỏe các thành viên trong gia đình.

Trưng cây tre ở góc phía đông phòng khách hoặc trong thư viện/phòng học trong nhà đều có tác dụng kích hoạt nguồn năng lượng bảo vệ và may mắn với sức khỏe cho gia chủ.

Bát tiên (The Eight Immortals)

“Bát Tiên quá hải” là một trong những hình ảnh thường thấy.

Người ta thường treo tranh Phúc Lộc Thọ trong ngày xuân để mong được vừa Phước, con cái đầy nhà, mong Lộc tài sản đầy kho và Thọ lâu trăm tuổi để được hưởng hết những thứ này. Trong khi đó, có nhiều nhà treo tranh Bát Tiên để mong nhận được phép lạ trường thọ và may mắn từ một trong tám vị tiên này.

Tám vị Bát Tiên này, trong đó có sáu tiên ông và hai tiên bà (có giai thoại cho rằng chỉ có duy nhất một người phụ nữ trong Bát Tiên), được người Hoa lưu truyền rằng họ từng sống tại những mốc thời gian lịch sử khác nhau, giữ những quyền năng riêng, nhưng đều có một điểm chung là sống bất tử trong mọi hoàn cảnh nào do họ được nếm qua rượu vào đào tiên; Chính vì thế, người ta thường vẽ tranh Bát Tiên đang cầm những nậm rượu tiên và trái đào chín trên tay.

Theo nữ phong thủy Lillian Too, nên đặt tượng hoặc treo tranh Bát Tiên trong phòng khách để ngôi nhà của gia chủ có thể hút được nhiều điềm lành cho sức khỏe, hạnh phúc và may mắn.

Yên Huỳnh post

SAO HẠN TAM TAI NĂM TÂN MÃO

SAO HẠN NĂM TÂN MÃO CÁC TUỔI ÂL :

1- Các tuổi Tý :

– Bính Tý (Thủy) 16 & 76

16 nam Kế Đô – Địa Võng – nữ  Thái Dương – Địa Võng,

76 nam Thái Bạch – Tán Tận – nữ  Thái Âm – Huỳnh Tuyền

Giáp Tý (Kim) 28

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

Nhâm Tý (Mộc) 40

Nam Thái Bạch – Thiên Tinh – nữ Thái Âm – Tam Kheo

Canh Tý (Thổ) 52

Nam Kế Đô – Địa Võng – nữ Thái Dương – Địa Võng

Mậu Tý (Hỏa) 64

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

2- Các tuổi Sửu :

– Ất Sửu (Kim) 27

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyền – nữ Thủy DiệuTán Tận

Quý Sửu (Mộc) 39

Nam Thủy Diệu – Thiên Tinh – nữ Mộc Đức – Tam Kheo

Tân Sửu (Thổ) 51

Nam Vân Hớn – Thiên La – nữ La Hầu – Diêm Vương

Kỷ Sửu (Hỏa) 63

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyền – nữ Thủy Diệu – Tán Tận

Đinh Sửu (Thủy) 75

Nam Thủy Diệu – Thiên Tinh – nữ Mộc Đức – Tam Kheo

3- Các tuổi Dần :

– Bính Dần (Hỏa) 26

Nam Thái Âm – Huỳnh Tuyền – nữ Thái Bạch – Tán Tận

Giáp Dần (Thủy) 38

Nam Thổ Tú – Ngũ  Mộ – nữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

Nhâm Dần (Kim) 50

Nam Thái Dương – Tán Tận – nữ Thổ Tú – Huỳnh Tuyền

Canh Dần (Mộc) 62

Nam Thái Âm – Diêm Vương – nữ Thái Bạch – Thiên La

Mậu Dần (Thổ) 74

Nam Thổ Tú – Ngũ  Mộ – nữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

4- Các tuổi Mão :

– Đinh Mão (Hỏa) 25

Nam Kế Đô – Địa Võng – nữ Thái Dương – Địa Võng

Ất Mão (Thủy) 37

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

Quý Mão (Kim) 49

Nam Thái Bạch – Tán Tận – nữ Thái Âm – Huỳnh Tuyền

Tân Mão (Mộc) 61

Nam Kế Đô – Địa Võng – nữ Thái Dương – Địa Võng

Kỷ Mão (Thổ) 73

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

5- Các tuổi Thìn :

– Mậu Thìn (Mộc) 24

Nam Vân Hớn – Thiên La – nữ La Hầu – Diêm Vương

Bính Thìn (Thổ) 36

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyềnnữ Thủy Diệu – Tán Tận

Giáp Thìn (Hỏa) 48

Nam Thủy Diệu – Thiên Tinh – nữ Mộc Đức – Tam Kheo

Nhâm Thìn (Thủy) 60

Nam Vân Hớn Thiên La – nữ La Hầu – Diêm Vương

Canh Thìn (Kim) 72

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyềnnữ Thủy Diệu – Tán Tận

6- Các tuổi Tỵ :

Kỷ Tỵ (Mộc) 23

Nam Thái Dương – Tán Tận – nữ Thổ Tú – Huỳnh Tuyền

Đinh Tỵ (Thổ) 35

Nam Thái Âm – Diêm Vương – nữ Thái Bạch – Thiên La

Ất Tỵ (Hỏa) 47

Nam Thổ Tú – Ngũ  Mộ – nữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

Quý Tỵ (Thủy) 59

Nam Thái Dương – Thiên La  – nữ Thổ Tú – Diêm Vương

Tân Tỵ (Kim) 71

Nam Thái Âm – Diêm Vương – nữ Thái Bạch – Thiên La

7- Các tuổi Ngọ :

Canh Ngọ (Thổ) 22

Nam Thái Bạch – Thiên Tinh – nữ Thái Âm – Tam Kheo

Mậu Ngọ (Hỏa) 34

Nam Kế Đô – Địa Võng – nữ Thái Dương – Địa Võng

Bính Ngọ (Thủy) 46

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

Giáp Ngọ (Kim) 58

Nam Thái Bạch – Tán Tận – nữ Thái Âm – Huỳnh Tuyền

Nhâm Ngọ (Mộc) 70

Nam Kế Đô – Địa Võngnữ Thái Dương – Địa Võng

8- Các tuổi Mùi :

Tân Mùi (Thổ) 21

Nam Thủy Diệu – Ngũ  Mộ – nữ Mộc Đức – Ngũ  Mộ

Kỷ Mùi (Hỏa) 33

Nam Vân Hớn – Thiên La  – nữ La Hầu – Diêm Vương

Đinh Mùi (Thủy) 45

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyền – nữ Thủy Diệu – Tán Tận

Ất Mùi (Kim) 57

Nam Thủy Diệu – Thiên Tinhnữ Mộc Đức – Tam Kheo

Quý Mùi (Mộc) 69

Nam Vân Hớn – Địa Võng – nữ La Hầu – Địa Võng

9- Các tuổi Thân :

Nhâm Thân (Kim) 20

Nam Thổ Tú – Tam Kheo – nữ Vân Hớn – Thiên Tinh

Canh Thân (Mộc) 32

Nam Thái Dương – Tán Tận – nữ Thổ Tú – Huỳnh Tuyền

Mậu Thân (Thổ) 44

Nam Thái Âm – Diêm Vươngnữ Thái Bạch – Thiên La

Bính Thân (Hỏa) 56

Nam Thổ Tú – Ngũ  Mộnữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

Giáp Thân (Thủy) 68

Nam Thái Dương – Thiên La  – nữ Thổ Tú – Diêm Vương

10- Các tuổi Dậu :

Quý Dậu (Kim) 19

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

Tân Dậu (Mộc) 31

Nam Thái Bạch – Thiên Tinhnữ Thái Âm – Tam Kheo

Kỷ Dậu (Thổ) 43

Nam Kế Đô – Địa Võng – nữ Thái Dương – Địa Võng

Đinh Dậu (Hỏa) 55

Nam La Hầu – Tam Kheo – nữ Kế Đô – Thiên Tinh

Ất Dậu (Thủy) 67

Nam Thái Bạch – Tán Tận – nữ Thái Âm – Huỳnh Tuyền

11- Các tuổi Tuất :

Giáp Tuất (Hỏa) 18 & 78

18 nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyềnnữ Thủy Diệu – Tán Tận

78 nam Vân Hớn – Địa Võngnữ La Hầu – Địa Võng

Nhâm Tuất (Thủy) 30

Nam Thủy Diệu – Ngũ  Mộnữ Mộc Đức – Ngũ  Mộ

Canh Tuất (Kim) 42

Nam Vân Hớn – Thiên La  – nữ La Hầu – Diêm Vương

Mậu Tuất (Mộc) 54

Nam Mộc Đức – Huỳnh Tuyềnnữ Thủy Diệu – Tán Tận

Bính Tuất (Thổ) 66

Nam Thủy Diệu – Thiên Tinhnữ Mộc Đức – Tam Kheo

12- Các tuổi Hợi :

Ất Hợi (Hỏa) 17 & 77

17 nam Thái Âm – Diêm Vương nữ Thái Bạch – Thiên La

77 nam Thái Dương – Thiên La  – nữ Thổ Tú – Diêm Vương

Quý Hợi (Thủy) 29

Nam Thổ Tú –  Ngũ  Mộ nữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

Tân Hợi (Kim) 41

Nam Thái Dương – Tán Tận – nữ Thổ Tú – Huỳnh Tuyền

Kỷ Hợi (Mộc) 53

Nam Thái Âm – Diêm Vươngnữ Thái Bạch – Thiên La

Đinh Hợi (Thổ) 65

Nam Thổ Tú – Ngũ  Mộnữ Vân Hớn – Ngũ  Mộ

CÚNG SAO HẠN

Về sao chiếu mạng có 9 vị tinh quân gồm :

1- Sao La Hầu tên gọi Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân (Khẩu thiệt tinh). Sao xấu, kỵ tháng giêng, tháng bảy nhất nam giới.

Cúng sao vào canh hai, ngày 8 ÂL, lúc cúng viết sớ giấy màu vàng với 9 ngọn đèn mà khấn.

2- Sao Kế Đô tên gọi Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Hung Tinh). Kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới, thuộc sao xấu.

Cúng vào lúc canh hai, ngày 18 ÂL, sớ màu vàng với 20 ngọn đèn.

3- Sao Thái Dương có tên Nhựt Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân (Thái dương tinh) sao tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp với nữ giới.

Cúng vào lúc canh hai, ngày 27, sớ màu vàng cùng với 12 ngọn đèn.

4- Sao Thái Âm có tên Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân (Chủ dương tinh) sao tốt vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười một cho cả nam lẫn nữ, tuy nhiên nữ giới không nên sinh trong năm có sao Thái Âm chiếu mạng.

Cúng vào canh một, ngày 26 sớ màu vàng cùng với 7 ngọn đèn.

5- Sao Mộc Đức (Mộc tinh) có tên Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân (Triều ngươn tinh). Tốt vào tháng mười và tháng chạp. Nam giới hay bệnh về mắt, nữ giới bị bệnh về máu huyết.

Cúng vào ngày 25 lúc canh một, lập sớ màu xanh cúng với 20 ngọn đèn.

6- Sao Vân Hớn (Hỏa tinh) có tên Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân (Tai tinh) xấu vào tháng hai và tháng tám.

Cúng vào lúc canh hai, ngày 29 viết sớ màu đỏ cúng với 15 ngọn đèn.

7- Sao Thổ Tú (Thổ tinh) có tên Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân (Ách Tinh) sao xấu vào hai tháng tư, tháng tám.

Cúng sao vào ngày 19 lúc canh hai, sớ màu vàng với 5 ngọn đèn.

8- Sao Thái Bạch (Kim tinh) có tên Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân (Triều dương tinh) sao này rất xấu, cần giữ gìn trong việc kinh doanh vào tháng năm và kỵ màu trắng quanh năm.

Cúng vào lúc canh một, ngày rằm sớ viết màu trắng với 8 ngọn đèn.

9- Sao Thủy Diệu (Thủy tinh) có tên Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân (Phước lôc tinh) sao tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám.

Cúng vào lúc canh một, sớ màu đen với 7 ngọn đèn.

Về hạn có tám hạn Thần dành cho mỗi người hàng năm :

1- Hạn Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài

2- Hạn Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi

3- Hạn Ngũ Mộ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của

4- Hạn Thiên Tinh (Xấu) bị thưa kiện, thị phi

5- Hạn Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài

6- Hạn Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên

7- Hạn Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội

8- Hạn Diêm Vương (Xấu) từ xa đem tin buồn

Khi cúng Sao Hạn đứng trước bàn thiên luôn vào ban đêm, day mặt nhìn về hướng chánh Tây để khấn vái.

Trong khấn vái, theo quan niệm mỗi năm có một ông hành khiển và một ông hành binh cai quản số mạng mỗi người qua Sao Hạn trong năm đó, coi việc thưởng phúc phạt ác qua cách hành xử mỗi người trong việc làm và sự an nguy.

Năm Mão này có thần Trịnh Vương hành khiển, và thần Thạch Tinh Liễu Tào hành binh.

Nên khi cúng cúng sao hạn ngoài vị Đường Niên Chi Thần trong Thập Nhị Chi Thần Hành Khiển (Mão Vương Chi Thần) nên xướng tên 2 vị thần Hành Binh – Hành Khiển nói trên cùng tên Sao Hạn.

BÀI VĂN KHẤN MẪU

GIẢI SAO HẠN

NĂM TÂN MÃO

(Dùng khấn giải sao hạn, lá sớ có màu sắc và nội dung tùy theo tên Sao Hạn mà ghi theo mẫu sau đây, vừa đọc vừa vái). Đốt ba cây nhang quỳ lạy ba cái rồi đọc :

Cung Thỉnh :

(Thí dụ) : – Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Sao Kế Đô chiếu mạng) – Địa Võng Tôn Thần chư vị (Hạn Địa Võng)

(Ai gặp sao hạn nào, đọc tên sao hạn đó như đã dẫn phần trên).

Đệ tử lòng thành đốt nén nhang,

Cầu xin Phật Thánh giải tai ương,

Giúp trong lê thứ đều khương hão,

Gia nội nhân nhân đắc kiết tường..

Lại lạy 3 cái,rồi khấn tiếp :

– Việt Nam quốc, tỉnh thành……. con đang ở tại ngôi gia số…… đường……… Quận………. (địa chỉ).

– Tên là ……………. Niên canh……. (tuổi Can Chi) ……….. (mấy tuổi)

Năm nay vận gặp Tinh Quân Hạn Thần : (theo thí dụ) Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân, Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Thành tâm thiết lễ xin giải hạn nhương tinh, Lòng thiền cúi lạy khả tấu khẩn cầu :

Trung Thiên Tinh Chủ Bắc Cực – Tử Vi Đại Đế Ngọc Hoàng Bệ Hạ. Đương Niên Hành Khiển Mão Vương Chi Thần.

Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân – Địa Võng Tôn Thần chư vị.

Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh Liễu Tào hành binh chư vị.

– Các ngài đang cai quản mạng căn, xem xét vận hạn, từ bi liên mẫn, phổ tế phàm thai, ân cao đức cả, soi thấu lòng thành.

Cầu cha mẹ an sinh trường thọ,

Phật Thánh đồng gia hộ cháu con,

Trong nhà đều hạnh phúc tăng long.

Lớn nhỏ thảy đều an lạc.

Nguyện xin Tinh Quân – Hạn Thần, giải trừ họa tai, bệnh tật. Dứt tà hung, gặp điều lành.

Con lòng thành khấu đầu khẩn xin.

Lạy ba lạy và niệm câu :

– Nam mô A Di Đà Phật !

– Nam mô Tiêu tai Giáng kiết tường Bồ tát.

CÚNG TAM TAI :

1. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp năm Dần, Mão, Thìn thì có Tam Tai. Năm Dần là đầu Tam tai, năm Mão giữa Tam tai, năm Thìn cuối Tam Tai.

2. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp năm Thân, Dậu, Tuất thì có Tam Tai.

3. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp năm Tỵ, Ngọ, Mùi có Tam Tai.

4. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp năm Hợi, Ty, Sửu có Tam Tai.

Cúng thần Tam Tai : cổ nhân thường căn cứ Tam Tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai. Xem bảng sau đây:

Năm Tý: Ông Thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc

Năm Sửu:  Ông Đại Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc

Năm Dần: Ông Thiên Hình, cúng ngày 15, lạy về hướng Đông Bắc.

Năm Mão: Ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy hướng Đông

Năm Thìn: Ông Thiên Cướp, cúng ngày 13, lạy hướng Đông Nam.

Năm Tỵ: Ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy hướng Đông Nam.

Năm Ngọ: Ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy hướng Tây Nam

Năm Mùi: Ông Bạch Sát, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Thân: Ông Nhơn Hoàng, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Dậu: Ông Thiên Họa, cúng ngày 7, lạy hướng Tây.

Năm Tuất: Ông Địa Tai, cúng ngày 6, lạy về hướng Tây Bắc

Năm Hợi: Ông Địa Bại, cùng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.

Lễ cúng :

Trầu cau: 3 miếng, thuốc lá: 3 điếu, muối, gạo, rượu, vàng tiền, hoa, quả. Lấy một ít tóc rối của người có hạn Tam Tai, bỏ vào một ít tiền lẻ, gói chung lại với gạo, muối, còn tiền vàng thì hóa. Cúng tại ngã ba, ngã tư đường, vái tuổi và tên của mình, đem bỏ gói tiền có tóc và muối gạo đó ở giữa đường mà về thì hạn đỡ.

Thiên Việt