Năm Cọp nói chuyện tâm linh

CỌP TRONG 

THẾ GIỚI TÂM LINH

– Thiên Việt

Hình ảnh của mười hai con giáp thì chúng ta ai lại không biết về nó và thuộc lòng từ Tý, Sửu, Dần, Mẹo… đến Hợi.

Năm nay là vào Thiên Can thứ bảy và Địa Chi thứ ba nên mang tên Canh Dần. Canh là một trong Thập Can; và Dần là một trong Thập nhị Chi. Cả hai tính về Âm Dương, thuộc Dương, nên được gọi năm Dương Tuế. Còn ngũ hành thuộc Mộc (Tùng Bá Mộc – Cây tùng già) – Tính theo độ số Ấu Tráng Lão trong Ngũ Hành thì thuộc Tráng ứng vào cung Quan Đới của vòng Trường Sinh tức bắt đầu trưởng thành, chủ về quyền tước, địa vị. Là hướng thịnh. Tuy nhiên gặp năm hay gặp tuổi tính về Sinh xuất hay Khắc nhập như sợi dây treo cổ thường gặp phải tai ương bệnh tật.

Năm nay thuộc Canh Dần, chúng ta thử tìm hiểu đôi điều về Cọp. Một số địa phương còn gọi là Hổ, Hùm hoặc trong tín ngưỡng dân gian gọi cọp là Ông Dinh hay ông Ba Mươi để tránh phạm húy, vì cọp còn được thờ phụng trong các đình miếu

Đa số người còn muốn biết về tính chất của hai chữ Canh Dần qua các yếu tố tâm linh, đồng thời có thêm một số kiến thức về Cọp. Chúng tôi xin lần lượt nói đến…

1/- TÍNH CHẤT TÂM LINH

Dần mang 5 ngũ hàng tính theo thứ tự theo năm sinh âm lịch (tính vào năm Canh Dần 2010) :

– Mậu Dần 13 tuổi và 73 tuổi : Thành Đầu Thổ

– Bính Dần 25 tuổi : Lư Trung Hỏa

– Giáp Dần 37 tuổi : Đại khê Thủy

– Nhâm Dần 49 tuổi : Kim Bạch Kim

– Canh Dần 1 tuổi và 61 tuổi : Tùng Bá Mộc

Trong Mệnh Lý học hai chữ Canh Dần được diễn đạt qua biện chứng Can Chi – Âm Dương – Ngũ Hành như sau :

– CANH thuộc Dương Kim nằm thứ bảy trong Thập Can, chủ về kim loại. Còn DẦN thuộc Dương Mộc nằm thứ ba trong Thập Nhị Chi, tượng hình của khí động, vạn vật muốn vùng lên mà đâm chòi nảy lá. Cả hai thuộc Dương tức số lẻ.

Qua tính chất trên có thể nói năm Canh Dần thuộc vào năm con “cọp thép”, lạnh lùng mà năng nổ, không chịu phục tùng ai như chúa sơn lâm muốn làm chủ một cánh rừng. Luôn luôn có ý chí tự tiến thân.

Tuy nhiên để được ảnh hưởng về độ số may mắn còn tùy thuộc vào ai hợp với năm Canh Dần, như hợp về Thiên Can Địa Chi, Âm Dương Ngũ Hành. Phân tích các điều kiện trên chúng ta diễn đạt được như sau, về :

– Thiên Can ngũ hợp hóa :

Tuổi Canh hợp với Ất (tuổi hay ngày tháng mang chữ Ất), vì Ất Âm Mộc còn Canh Dương Kim gặp hóa Kim. Lưu ý Kim đây không phải kim tiền mà thuộc Ngũ Hành, người mang chữ Canh hoặc mạng Kim gặp chữ Ất là hợp.

– Thiên Can tương xung :

Giáp xung Canh tức hướng Đông xung với hướng Tây. Nói về phong thủy, ai mang chữ Canh không nên đi về hướng Đông, nhất là tạo dựng nhà cửa sẽ gặp nhiều điều xui rủi, không may mắn.

– Thiên Can tương khắc :

Bính khắc với Canh : Bính thuộc Dương Hỏa, Canh Dương Kim, là Hỏa khắc Kim, Canh bị Khắc Nhập.

– Canh khắc với Giáp : Giáp thuộc Dương Mộc, là Kim khắc Mộc. Canh được Khắc Xuất.

Khắc Nhập (xấu) Khắc Xuất (bình hòa)

Địa Chi lục hợp :

Dần hợp với Hợi hóa Mộc, vì Dần Dương Mộc còn Hợi Âm Thủy, là Thủy sinh Mộc tức Dần được Sinh Nhập (tốt).

– Địa Chi tam hợp :

Dần Ngọ Tuất tam hợp sinh Hỏa cục, ai mang mạng Hỏa sẽ được tốt đẹp nhiều phần.

– Địa Chi lục xung :

Dần Thân xung nhau, vì Dần Dương Mộc còn Thân Dương Kim, là Kim khắc Mộc. Tuổi Dần gặp chữ Thân kém đi phần phúc.

– Địa Chi phá nhau :

Dần phá Tỵ vì Tỵ thuộc Âm Hỏa, là Hỏa khắc Kim, nên tuổi Dần gặp chữ Tỵ mất phần phúc.

– Địa Chi tứ hành xung :

Dần Thân Tỵ Hợi thường xấu theo từng cặp trong Lục Xung như Dần với Thân và Tỵ với Hợi, hay Dần với Tỵ, còn Dần với Hợi thuộc Địa Chi lục hợp chỉ xung khi tuổi Hợi mang hành Kim gặp khắc nhập mà thôi.

– Ngũ Hành biện chứng :

Qua tính cách Thiên Can Địa Chi năm Canh Dần như vừa diễn giải. Nhưng không phải trong xung khắc hay hóa hợp đều tốt hay xấu như đã nói, vì chúng còn ảnh hưởng về thuật biện chứng trong Ngũ Hành. Như bảng Ngũ Hành Vượng Tướng Hưu Tử Tù dưới đây :

Cách xem : Thí dụ như Canh Dần ngũ hành là Tùng Bá MỘC (cây tùng già), nhìn vào cột Ngũ Hành sở tại nơi chữ Mộc, thì những ai mang hành Hỏa sẽ được may mắn vì gặp vượng, hành Mộc thành đạt vì “Lưỡng Mộc thành lâm” thuộc tướng, hành Thủy sẽ suy do gặp hưu, hành Thổ bị Khắc Nhập do gặp tử, còn hành Kim gặp hao tổn tù. Lý do :

Mộc sinh Hỏa : được Vượng là do Hỏa được sinh còn Mộc hao tổn, vì cây bị lửa đốt cháy rụi. Nên Hỏa được sinh nhập có phần phúc, còn Mộc gặp sinh xuất mất phần phúc.

Lưỡng Mộc thành lâm : được Tướng, vì cây cùng cây hội lại thành rừng, từ rừng thưa thành cánh rừng rậm.

Thủy khắc Mộc : gặp Hưu, vì Thủy là nước chăm bón cho cây được xanh tốt nên suy kiệt. Nên chỉ có Mộc lợi không bị hao tổn gì.

Mộc khắc Thổ : gặp Tử, như Thủy, đất dùng để trồng cây bao nhiêu màu mỡ đều bị cây hút hết làm đất cằn cỗi.

Kim khắc Mộc : gặp Tù, cây bị búa chặt phá, cả hai đều bị hao tổn, cây chết mà búa cũng phải mòn. Mộc bị Khắc Nhập (xấu) còn Kim gặp Khắc Xuất (thứ hung).

Qua các thí dụ trên, sự tương sinh hay tương khắc chỉ có một chiều như Mộc sinh được Hỏa chứ Hỏa không sinh được Mộc; Mộc khắc Thổ chứ Thổ không khắc được Mộc…

Đây chỉ là phần cơ bản trong thuyết biện chứng, bởi trong Mệnh Lý học trong khắc có sinh hay trong sinh có khắc, muốn diễn giải cặn kẽ phải soạn ra một cuốn sách dày.

2/- RÂU VÀ NANH CỌP

Theo người xưa qua những kinh nghiệm từng trải, cho rằng con cọp khi chết đi thân xác nó có nhiều tác dụng :

Về nanh cọp :

– Trẻ con hay người lớn đeo nanh cọp trước ngực sẽ tránh được phong hàn, gió độc.

– Nam nữ thanh niên xem nanh cọp như thứ bùa yêu, ai đeo nó trong người sẽ ăn nói rất có duyên, dễ gây cảm tình với người khác phái.

– Bọn trộm đạo có nanh cọp trong người sẽ không còn sợ chó dữ sủa cắn.

– Có người còn nói có nanh cọp tên bắn không thủng, đạn ghim không chết, đi rừng gặp thú dữ nào cũng không sợ chúng tấn công.

Bởi thế từ xưa mọi người thường đi tìm nanh cọp để phòng thân, và tạo nó thành món hàng trang sức độc đáo, nhưng trong 10 nanh cọp tỷ lệ nanh cọp thật chỉ có một hai cái, do con buôn làm ra từ sừng trâu hoặc từ ngà voi.

Về râu cọp :

Thông thường người đi săn cọp, khi hạ được cọp liền đốt râu ria của chúng không để tồn tại.

Mọi người cho rằng, ai có được râu ria của cọp nuôi thành sâu để dùng hại người. Do khi râu cọp đựng trong ống tre nứa chôn sâu dưới đất đủ 100 ngày, mỗi sợi râu biến thành một con sâu độc.

Sâu độc bò qua thức ăn, chén, muỗng, đũa, ai dùng phải sẽ trúng độc mà chết. Sâu bò qua áo quần sẽ trở bệnh phong cùi ghẻ lỡ v.v…

3/- ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CỌP

Cọp nằm trong họ Mèo, là loài động vật to khỏe nhất. Đầu to, cổ ngắn, tai nhỏ, bốn chân to khỏe, móng sắc nhọn, đuôi dài bằng nửa thân. Một con cọp nặng trung bình từ 150 đến 200 kg, thân dài 1,5m đến 2m, còn đuôi khoảng 1m. Đa số da cọp màu vàng có vằn đen, phía bụng và trong chân có lông trắng. Có loại Bạch Hổ (cọp trắng) nhưng rất hiếm. Ở VN nơi khu du lịch Đại Nam gần thị xã Thủ Dầu Một có nuôi một con cọp trắng để mọi người tham quan.

Cọp có tất cả tám giống, thường sống ở những vùng rừng núi nhiều cỏ tranh. Tuy nhiên trong thời gian giao cấu hoặc nuôi con, cọp đực cọp cái và cọp con thường sống quây quần bên nhau, nhưng chỗ ở không cố định. Ban ngày cọp nằm phục một chỗ về đêm mới hoạt động tìm ăn. Thức ăn của cọp là hươu nai, sơn dương hay các loài ăn cỏ khác như lợn rừng, đặc biệt cọp có thể tìm bắt những súc vật nuôi như chó, trâu, bò, heo có khi ăn cả thịt người.

Mỗi con cọp cái có thể đẻ từ 2 đến 4 con, sau 3 – 4 năm thì cọp con trưởng thành. Cọp có giá trị kinh tế rất lớn, thịt ngon và bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi bông; xương dùng để làm thuốc.

4/-  CHẾ BIẾN XƯƠNG VÀ LÀM CAO HỔ CỐT

Muốn săn cọp có thể dùng bẫy để bắt sống hay dùng tên độc, súng săn. Tùy theo cọp to cọp nhỏ mà xương của nó to nhỏ. Nếu cọp dưới 100kg nhỏ quá sẽ ít thịt, xương nấu cao hổ cốt sẽ có phẩm chất kém. Vì trung bình một bộ xương nặng từ 10 có thể tới 15-16 kg, còn con nhỏ chỉ có 4-5 kg . Căn cứ vào sức nặng của xương, người ta xác định được giá trị và phẩm chất của loại cao hổ cốt. Bộ xương nặng dưới 4 kg thuộc loại xấu.

Toàn bộ xương cọp đều tốt, nhưng xương 4 chân và đầu được coi quý hơn cả, đặc biệt xương chân trước không thể thiếu khi nấu cao, do tỷ lệ xương chân trước chiếm chủ yếu, và xương chân trước (humerus) có một lỗ hổng đặc biệt gọi là mắt phượng có thể để phân biệt chân cọp thật giả.

Như trong một bộ xương cọp nặng hơn 6 kg, thì xương đầu nặng 1kg chiếm 15 %, xương 4 chân nặng 3,390 kg chiếm 52 %, xương sống kể cả xương cổ nặng 0,900 kg chiếm 14 %, xương sườn có 13 đôi nặng 0,355 kg chiếm 5,5 % (không có xương ức), xương chậu nặng 0,355 kg (cả hai mảng) chiếm 5,5%, xương bả vai nặng 0,260 kg chiếm 4 %, xương đuôi nặng 0,146 kg (kể cả xương cùng) chiếm 2,2 %, còn hai xương bánh chè nặng 0,030 kg chiếm 0,45 %. Người nấu cao hổ cốt dùng nguyên bộ xương mà lọc bỏ hết gân thịt mới đem đi nấu.

– Cách nấu cao hổ cốt.

Với toàn bộ xương cọp như đã nói, số lượng tùy theo nhiều ít. Việc nấu cao hổ cốt trước đây thường chỉ nấu ở miền rừng núi vì ở đồng bằng nhiều người mê tín cho rằng nấu cao hổ trong nhà sẽ gặp nhiều chuyện không may.

Theo kinh nghiệm trong dân gian ít khi người ta chỉ sử dụng một thứ xương cọp, mà phải phối hợp với nhiều loại xương động vật khác cùng các vị thuốc thảo mộc như thiên niên kiện, địa liên v.v… Tốt nhất phải kiếm đủ 5 bộ xương gồm chủ yếu xương cọp còn lại là xương khỉ, xương sơn dương hay heo rừng, hươu nai; vì cọp là chúa sơn lâm cần có các vị quần thần theo hầu, nghĩa là có vua có quan.

Trước khi nấu cao hổ cốt, xương cọp phải lóc hết thịt rồi cho vào một cái dỏ lớn bằng tre, đem ngâm trong suối chừng hai tuần lễ. Trong thời gian này thịt còn sót sẽ thối rữa trôi theo nước. Sau đó treo dỏ xương lên cây cho khô. Trước đây người ta cho làm như vậy để “khu phong” nghĩa là loại bỏ các khí xấu. Thời gian cũng dài khoảng hai tuần.

Chế biến như vậy xương sẽ sạch không có mùi hôi. Lấy chày đập thành mảnh nhỏ để dễ rửa sạch hết tuỷ. Lại đem ngâm một ngày một đêm vào nước rau cải luộc. Ngày hôm sau lại rửa xương cọp bằng nước rồi lại ngâm xương vào rượu có gừng để cho hết mùi hôi tanh. Cuối cùng cho nước vào đủ ngập chừng vài phân rồi nấu nhiều lần. Hiệu suất trung bình 100 kg xương cọp cho chừng 30 kg cao hổ cốt.

Ngoài cách nấu cao hổ cốt, người ta dùng xương 4 chân, xương đầu và xương cổ của cọp, loại xương có màu vàng là tốt. Khi chế biến dùng chày đập vỡ, cạo bỏ tủy, đoạn đổ rượu hay giấm vào xương rồi đem nướng trên than ra màu vàng nhạt dùng để sắc uống hay dùng ngay xương này để ngâm rượu.

– Công dụng của cao hổ cốt

Xương cọp và cao hổ cốt là vị thuốc được tín nhiệm trong dân gian, chủ yếu dùng để trị những bệnh đau xương, tê thấp, đi lại khó khăn, đau nhức hoặc dùng làm thuốc bổ.

Theo tài liệu, xương cọp có vị cay tính ôn vào 2 kinh can và thận; có tác dụng làm hết đau, mạnh gân cốt. Nếu hồi hộp lo phiền nên dùng xương đầu, chân tay đau nhức nên dùng xương chân. Tuy vậy người huyết hư hỏa thịnh không dùng cao hổ cốt hay xương được .

Một hình thức dùng cao hổ cốt làm thuốc bồi dưỡng là làm thịt một con gà giò, mổ bỏ ruột. Cho vào bụng gà một miếng cao hổ cốt khoảng 10 – 20g. Rồi đặt con gà có nhét cao hổ cốt vào một cái liễn sứ hay ca tráng men, thêm vào đó chừng một chén rượu nhỏ, không cho nước vào rồi đun cách thủy. Nước trong thịt con gà sẽ bốc lên sẽ làm chín thịt và hòa tan chất cao hổ cốt vào trong thịt gà, đến khi thịt chín nhừ. Chỉ lấy chất nước tiết ra cho người yếu ăn. Cách dùng cao hổ cốt này thường dùng cho những người mới đau ốm vừa tỉnh ăn cho lại sức.

5/- MẠN ĐÀM VỀ CỌP

Bây giờ xin mạn đàm theo ý của “Đồng Nai Công Tử” :

Người xưa có câu “Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần…” Như vậy có Trời trước, kế đến có đất rồi sau mới có Người.

Đúng ! Mấy ông nhà Nho xưa dựa sách Tầu nói nghe cũng có lý. Nhưng mà “Thiên khai ư Tý” hồi nào, cái Big Bang ấy cách nay 25 tỷ năm, 30 tỷ năm ? Chưa ai dám nói chắc. Rồi cái “Địa tịch ư Sửu” ấy hồi nào ? 3 tỷ năm, 4 tỷ năm trước đây ? Người ta cũng phỏng chừng chứ chưa ai dám khẳng định. Còn chuyện “Nhân sinh ư Dần”, thì người ta nói cái vụ này xảy ra ở Phi Châu, cách đây khoảng 2 triệu năm. Đúng hay không đúng? Mấy cái chuyện ấy xa xôi quá.

Hồi thời Pháp, có cụ Nguyễn Khoa Vy, sinh năm 1881, người phủ Thừa Thiên có làm một bài thơ 8 câu mà kể đủ mười hai con giáp. Cái lắt léo của bài thơ là phải dùng ca dao, tục ngữ để nói về các con vật của đủ mười hai chi mà không được nói thẳng ra. Cụ Vy làm bài thơ ấy như sau:

1- Tha ra, cắp lấy, bộ loay hoay (Tuất – Chó & Mão – Mèo)

2- Đào lỗ không nên tiếng cả bầy. (Tý -Chuột)

3- Lạc ngõ theo đuôi trâu dễ bước, (Trâu – Sửu)

4- Cả gan bóp dái chẳng gờm tay. (Ngựa – Ngọ)

5- Cám treo nhịn đói nhăn răng chịu, (Heo – Hợi & Khỉ – Thân)

6- Cối vẫn ăn no, ỉa miễu đầy. (Gà – Dậu & Dê – Mùi)

7- Cá gáy hóa ra, chi có cánh, (Rồng – Thìn & Hùm – Dần)

8- Mồng năm len lét trốn đi ngay. (Rắn – Tỵ)

Trong câu 1, tác giả nói đến chó, mèo qua câu tục ngữ “Chó tha ra, mèo cắp lấy.” Câu 2 : theo câu tục ngữ : “Chuột bầy đào không nên lỗ.” Câu 3 : “Lạc ngõ theo đuôi trâu.” Câu 4 : “Cả gan bóp dái ngựa.” Câu 5 : “Cám treo để heo nhịn đói” và câu “nhăn răng như khỉ ăn ớt.” Câu 6 : câu tục ngữ : “Gà què ăn quẫn cối xay” và câu “Nuôi dê để ỉa miễu.” Câu 7 : “Cá chép hóa Rồng” và câu “Cơ chi hùm có cánh.” Câu 8 : “Len lét như rắn mồng năm.” Đúng là một bài thơ hết sức công phu.

Điểm qua điểm lại, mười hai con giáp ấy rất quen thuộc với loài người. Trừ Rồng là một con vật tưởng tượng, còn mười một con giáp kia, người ta ai cũng từng gặp qua, kể cả con Cọp có vẻ hơi khó gặp nhưng không một sở thú nào là không có.

Giận ai, người ta hay nói : Cái bản mặt thằng đó mười hai con giáp không giống con giáp nào ! Nói vậy là bậy vì giận quá mất khôn. Không giống con giáp nào còn đỡ, giống một trong mười hai con giáp mới khó coi. Một cái bộ mặt chuột, mặt trâu, mặt rắn, mặt mèo đâu có hay ho gì ! Đến như đồ mặt heo, cái tù mặt chó, cái bản mặt dê xồm, cái thứ mặt gà mái, cái mặt dài như mặt ngựa, thứ đồ mặt khỉ… thì quả là tệ hại.

Đến như mặt cọp. Ai dám nói người mang mặt cọp là một con người đẹp trai ? Còn nếu các bà, các cô lại càng nguy hiểm : đàn bà con gái gì mà dữ như cọp ! Quanh đi quẩn lại chỉ có mặt rồng là quý. Long nhan là mặt vua. Thế nhưng nhìn cho kỹ, cái bộ mặt con Rồng cũng không lấy gì làm dễ coi. Con mắt thì lộ, lỗ mũi thì to.

Và vì mười hai con giáp là những con vật quen thuộc cho nên tính đi tính lại, mười hai con ấy đều bị người ta ăn thịt. Có người sẽ cãi: Thịt rồng ở đâu mà ăn ? Thưa có ! Lý ngư hóa long, cá chép sẽ hoá rồng sau khi vượt tam cấp Vũ môn. Ăn cá chép tức là ăn con rồng lúc chưa tung mây, lướt gió. Còn mười một con kia thường quá. Có hai con giáp bị người ta ăn gần như hàng ngày, là anh Hợi và chị Dậu. Tuất, Sửu và Mùi thì thỉnh thoảng. Đối với một số người ở thành phố thì Tý và Tỵ là hai thứ hiếm. Ngọ và Mão ít người ăn. Đến ông Dần lại càng hiếm hơn nữa, hiếm hơn cả ông Thân mà chỉ vùng rừng mới có.

Ai đã từng “lội” về vùng Mộc Hoá, Kiến Tường, Mỹ An, Cao Lãnh thì phải nhớ đến chuột và rắn. Rắn kho muối ớt, rắn bông súng nấu canh chua với trái chòi mòi, chuột nướng lửa củi tràm… thay cho những hộp thịt ba lát đã ngấy lên tận cổ. Rồi đến thịt mèo chẳng chê, thịt ngựa cũng chẳng chối từ.

Trong mười hai con giáp chỉ có rồng là con vật thần thoại, còn bao nhiêu đều là những con vật rất quen thuộc, kể cả con cọp. Chẳng nói đâu xa, hồi thập niên 50, thế kỷ trước, ở Việt Nam, người đi đêm vẫn còn gặp các ông kễnh ra ngồi ngắm trăng trên đèo Rù Rì.

Tại sao toàn những con vật quen thuộc ? Có người trả lời là lúc đó con người Đông phương biết bắt đầu làm lịch họ lấy ngay những con vật đã được thuần hóa như Trâu, Ngựa, Mèo, Chó, Gà, Heo, Dê hoặc những con vật sống ngay trong nhà như Chuột, Rắn hoặc gần nhà như Cọp để đặt tên cho mười hai con giáp. Cũng có thể, có thể thôi. Chuyện không lấy gì làm chắc lắm.

Trong mười hai con giáp, con cọp có vẻ đáng sợ nhất. Trong hai loài cọp, cọp cái đáng sợ hơn. Điều này đã được 3 tỷ đàn ông con trai trên trái đất xác nhận. Cọp cái làm chúa tể trong… nhà.

Xin được kể một chút về chuyện Cọp tự sa “cạm bẫy tự nhiên” như sau :

Có một con cọp lớn về làng vào ban đêm, ngồi giữa cây cầu bắc qua con suối ngăn cách làng và bìa rừng, gầm gừ rất dữ tợn. Dân làng đóng chặt cửa, đánh trống nổi tù và ầm ỉ… Sáng hôm sau, cọp cũng chẳng bỏ đi như mọi lần. Đến trưa, đến chiều… đến sáng hôm sau cọp vẫn ngồi lù lù một đống giữa cầu. Lâu lâu cọp lại nhón lên như muốn đứng dậy rồi lại ngồi xuống, cất tiếng gầm thật lớn, đưa chân trước quào quào trong không khí, hay quào trên mặt cầu sồn sột. Đến ngày thứ tư, con vật vẫn còn đó, nhưng không còn vẻ dữ tợn nữa. Đến chiều, dân làng đã dám đến gần cầu. Cọp vẫn trong tư thế ngồi, nhưng đầu gục xuống, rãi nhớt nhiễu chảy dài hai bên mép coi rất thảm não, rõ ràng là cọp kiệt sức… Lật xác cọp lên, mọi người ngạc nhiên khi thấy dường như cọp vừa bị… thiến, vết thương còn dính bê bết máu…

Theo người kể lại câu chuyện hy hữu này nhưng lại cả quyết là có thật, giải thích rằng con cọp bị nạn trong câu chuyện là một con cọp già. Cọp già nên “bị đạn” cũng hơi xệ – như người về già. Cầu làm bằng những thân tre lớn, kết dây mây khá chắc chắn và có những khe. Cọp ngồi giống như mèo, đứng hai chân trước, quì hai chân sau, chẳng may “băng đạn” thõng xuống khe cầu. Cọp lại nhè vùng vẫy “gầm thét khúc ca rừng dữ dội… lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” (thơ Thế Lữ) nên lại đưa “băng đạn” tới chỗ khe hẹp hơn. càng vùng vẫy lại càng gậm một mối căm hờn “băng đạn” kẹt trong khe cầu. Bộ phận bị kẹt lại quá nhạy cảm, cọp càng vùng vẫy càng đau đớn…

Chuyện kể lúc dân làng lật xác cọp lên, hai viên đạn… xệ đựng trong băng đạn còn kẹt dính ở khe cầu.

Thiên Việt

Vận mệnh theo mùa sinh

BỐN MÙA XUÂN HẠ THU ĐÔNG

THỜI VẬN NÀO TỐT NHẤT

TRONG ĐỜI BẠN ?

– THIÊN LÝ NHÃN

Đời người thường xảy ra biết bao thăng trầm nhưng cơ hội để bạn có được hạnh phúc lại không nhiều. Vì vậy nếu biết phối hợp thời kỳ tốt đẹp của cuộc đời vào những việc trọng đại như hôn nhân, xin việc, chuyển ngành, mở mang cơ nghiệp thì cuộc sống của bạn sẽ khá hơn. Thời vận đỏ chính là thời kỳ khí số của bạn đang sung mãn nhất. Nếu bạn biết nắm bắt lấy nó, như vậy là đã nắm bắt được hạnh phúc của mình ở mức độ cao hơn.

Người ta thường nói đến thời vận lúc trẻ, thời vận lúc thanh niên, thời vận lúc trung niên và thời vận khi về già. Tổng hợp cả bốn loại thời vận trên, chúng ta hãy gọi là “bốn loại thời vận”, trong bốn loại thời vận ấy, thời vận thời nào của bạn là rực rỡ nhất ?

Đó là mối quan hệ rất mật thiết giữa mùa sinh của một người, với bốn loại thời vận :

– Người sinh vào mùa Xuân (từ tháng Giêng đến tháng Ba) thuộc loại sơ niên vận (từ khi sinh ra đến năm 20 tuổi) vận số cực thịnh.

– Người sinh vào mùa Hạ (từ tháng Tư đến tháng Sáu) thuộc loại thanh niên vận (từ 20 đến 35 tuổi) vận số cực thịnh.

– Người sinh vào mùa Thu (từ tháng Bảy đến tháng Chín) thuộc loại trung niên vận (từ 35 đến 50 tuổi vận số tốt đẹp).

– Người sinh vào mùa đông (từ tháng Mười đến cuối tháng Chạp) thuộc loại vãn niên vận (từ 50 tuổi trở lên vận số tốt đẹp).

Nếu thời gian vận số tốt nhất của cả đời đến với bạn mà bạn biết nắm lấy cơ hội thì bạn sẽ gặt hái thành công.

Thí dụ bạn là người cầm tinh con Ngựa, được sinh vào mùa Hạ. Những người cầm tinh con Ngựa sinh vào mùa Hạ thuộc loại vận số tốt nhất vào độ tuổi thanh xuân. Người sinh năm Ngọ có số vận đỏ vào năm Dần và năm Mùi trong khoảng thời gian của vận số tốt.

1- NGƯỜI SINH VÀO MÙA XUÂN

Một năm được chia ra làm bốn mùa. Mùa Xuân tứ đầu tháng Giêng đến cuối tháng Ba. Mỗi mùa ba tháng.

Những người sinh vào mùa Xuân thuộc loại sơ niên vận.

Bởi vì mùa Xuân là mùa mà vạn vật hân hoan tiến vào thời kỳ phồn vinh, hoa lá đua nhau khoe sắc, ong bướm rập rờn, cây cối đâm chồi nảy lộc mọi thứ trên đời đều như trẻ lại. Đồng thời vào xuân, băng tuyết đã bắt đầu tan chảy, khắp nơi hoa nở, chim hót rộn ràng và các loại động vật ngủ đông cũng đã bắt đầu thức giấc. Vạn vật đều tràn trề sức sống.

Chính vì vậy ông cha ta đã gọi cuộc sống của mỗi con người thời trai trẻ là “tuổi thanh xuân”. Và vận số loài người cũng bị ảnh hưởng bởi niềm hân hoan bước vào thời kỳ phồn vinh ấy. Những người sinh vào mùa Xuân ngay từ lúc còn nhỏ đã được ông trời ưu đãi, quá trình trưởng thành của họ chẳng khác gì hình vẽ của một ngọn núi lửa .

Bạn trẻ có thể trưởng thành nhanh chóng hay không đều dựa vào trạng thái tinh thần của bậc làm cha, làm mẹ. Tức là tinh thần của họ cũng được thoải mái , thư thái trong không khí của mùa Xuân và sinh ra đứa con với tinh thần thư thái ấy. Những đứa con này lớn mạnh nhanh chóng, đó là lẽ đương nhiên.

Trong không khí hân hoan tiến tới sự phồn vinh ấy, lại được cha mẹ nuôi dạy, chăm sóc, yêu thương khi trong lòng họ tràn đầy sắc xuân, vận số của đứa trẻ ấy từ khi được sinh ra cho tới năm hai mươi tuổi vốn được ông trời đặc biệt ưu đãi. Mà cái gọi là “được ông trời đặc biệt ưu đãi” ấy không phải chỉ thỏa mãn về phương diện vật chất mà còn có cả tình yêu thương của cha mẹ nữa. Nó còn bao hàm tổng hợp tất mọi ưu đãi trong đời sống, môi trường.

Vì vậy, đứa bé có được nhân tố tuyệt với để trưởng thành có thể nói là những đứa bé sinh vào mùa Xuân đều có đầy đủ. Vì vậy, đối với những đứa trẻ được sinh vào mùa Xuân, trong quãng thời gian “Sơ niên vận” của mình vốn là thời kỳ vận số tốt. Nếu chúng biết nắm bắt lấy thời điểm “vận số tốt” ấy thì ngay từ lúc còn trẻ chúng đã có thể xuất đầu lộ diện, tiến lên cao, cả đời thuận buồm xuôi gió.

Những người sinh vào mùa Xuân cần phải lưu ý đến vận xấu của mình ở độ tuổi trung niên.

Những người sinh vào mùa Xuân cần phải đặc biệt chú ý đến những năm hạn.

Vì vậy nếu bạn được sinh vào mùa Xuân, nên cố gắng vươn lên ngay trong thời kỳ rực rỡ nhất “Sơ niên vận” của mình, cố gắng nắm lấy thời vận lúc đang lên, đồng thời cũng phải lưu ý đến độ tuổi trung niên là lúc thời vận của mình đang xuống, phải thật cẩn thận trong lời ăn tiếng nói và công việc.

Bạn nên thận trọng khi làm một việc lớn mới vào năm vận hạn. Những người sinh vào mùa Xuân nếu có sự cạnh tranh, tranh chấp xảy ra vào độ tuổi trung niên tức là lúc vận hạn của mình thì dù bạn không sai nhưng người gánh chịu phần thua thiệt vẫn chính là bạn.

2- NGƯỜI SINH VÀO MÙA HẠ

Mùa Hạ vào khoảng từ đầu tháng Tư đến cuối tháng Sáu. Nếu bạn là người sinh vào mùa Hạ thì vận số cả đời của bạn, thuộc loại “Thanh niên vận” Đối với những người sinh vào mùa Hạ thì vận số thịnh nhất vào khoảng lúc tuổi thanh niên. Bất kể họ làm việc gì đều tự do tự tại. Đồng thời, nếu bạn biết vận dụng tốt quãng thời gian có vận số thịnh nhất của mình thì cuộc đời của bạn sẽ phát triển tốt.

Vào mùa Hạ mặt trời rực rỡ, chiếu rọi khắp nơi, mọi vật đều tràn đầy sức sống. Trong thời gian này lúa đang trổ bông, phấn hoa lan tỏa khắp không gian để chuẩn bị kết trái. Mùa Hạ là mùa mà vạn vật vận động mạnh mẽ nhất trong bốn mùa. Mùa Hạ chính là ngưỡng cứa của mùa Thu, là mùa thu hoạch. Nếu dùng bốn mùa để ví với cuộc sống của một đời người thì đó là mùa mà người ta có nhiều biến động lớn nhất. Nếu nói theo màu sắc thì biểu tượng của mùa Xuân là màu xanh lục còn màu đỏ là biểu tượng của mùa Hạ.

Những người sinh vào mùa Hạ cần phải biết nắm lấy vận đỏ vào độ tuổi thanh niên của mình.

Nếu bạn là người được sinh vào mùa Hạ thì đến khi về già, quay đầu nhìn lại vận mệnh cả đời của mình, nhất định bạn sẽ thấy vận mệnh của mình phát triển rực rỡ nhất vào độ tuổi tứ 25 đến 30 của mình.

Nếu bạn là người sinh vào mùa Hạ, dù cho thửa nhỏ của bạn trôi qua không được êm đềm cho lắm nhưng tuyệt đối bạn chớ nên nhụt chí. Những người thành công đều là những người đã vượt qua được thử thách của hoàn cảnh, ngay từ nhỏ đã theo đuổi mục tiêu của cuộc đời, biết dũng cảm tiến lên phía trước, luôn nỗ lực phấn đấu không biết mệt mỏi.

3- NHỮNG NGUỜI SINH VÀO MÙA THU

Ai cũng biết rằng mùa Thu có ba tháng, kéo dài từ đầu tháng Bảy đến cuối tháng 9. Các bạn thử hình dung lại mùa Thu ở vùng ngoại ô xem sao. Đầu tiên, mùa thu chính là mùa thu hoạch. Lúa hay các loại hoa mầu khác đều được thiên nhiên ban thưởng hậu hĩnh, cuối cùng cũng đã tới lúc chín muồi, tạo cho người nông dân cảm giác vui vẻ khi thu hoạch mùa màng về nhà. Vùng ngoại ô miền núi cũng khoác lên mình nét đẹp rực rỡ. Đó chính là một trong những đặc trưng cua mùa Thu.

Thế nhưng sau khi mùa màng đã được thu hoạch xong, khung cảnh ngoài đồng lại khiến người ta có cảm giác cô tịch, vắng lặng, không thể che giấu nổi nỗi buồn mang mác của mùa. Thu trước phong cảnh tiêu điều, cô tịch của vạn vật.

Những người sinh vào mùa Thu, vốn bị ảnh hưởng của mùa thu hoạch. Như biểu đồ đã chỉ, vào độ tuổi trung niên, độ tuổi chín chắn của cuộc đời vận số thịnh nhất sẽ đến với họ.

Vận số của bạn có chiều hướng đi xuống vào độ tuổi trước trung niên. Các bạn chớ ngại khi liên tưởng đến cây lúa, trước khi trổ bông kết trái đã phải trải qua sự khảo nghiệm của mưa gió. Tức là vào mùa Hạ, nhưng đợt gió mạnh thổi qua làm thân cây nghiêng ngả, rập rờn. Như vậy cây lúa mới có được điều kiện thụ phấn giữa hoa đực và hoa cái, mới có được vụ thu hoạch vào mùa Thu. Cũng giống như đạo lý trên, những người sinh vào mùa Thu trước khi bước vào cuộc tranh thắng phụ đều phải trải qua các cuộc khảo nghiệm kỹ lưỡng.

Có vượt qua được các cuộc khảo nghiệm ấy hay không, điều này phụ thuộc bởi vận mệnh của những người sinh vào mùa Thu. Những người sinh vào mùa Thu phải biết cần cù cố gắng ở độ tuổi thanh niên.

Ngoài ra còn một vấn đề cần phải nói nữa, cuộc sống nửa trước của cuộc đời họ đa số đều trải qua một cách bình lặng. Do đó, thông thường mà nói, họ không đủ lòng kiên nhẫn để đợi cho qua kỳ ngủ đông này, thường có những hành vi khinh xuất manh động, tự đào mồ chôn mình hay oán trời chẳng chiều người, cảm thấy vô cùng thất vọng trong cuộc sống, có rất nhiều người vứt bỏ mọi sự cố gắng của mình đi. Kết quả là dù vận số cực thịnh thời trung niên của họ có tới , không những họ không biết nắm lấy, thậm chí họ để nó trôi đi một cách tự nhiên còn mình thì chết dần trong sự buồn bực.

Ngược lại, những người biết nuôi hy vọng cho tương lai của mình trong thời kỳ ngủ đông này, vẫn liên tục cố gắng một cách không biết mệt mỏi tất đến độ tuổi trung niên họ sẽ thu được thành quả mĩ mãn của mình.

Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa. Đối với những người sinh vào mùa Thu, làm việc vất vả thời thanh niên nhất định sẽ được dền bù xứng đáng về sau này. Hơn nữa tôi cũng muốn khuyên những người sinh vào mùa Thu một điều là : Chớ nên theo người của mình. Nếu bạn làm được như vậy, bất luận bạn theo đuổi sự nghiệp gì, qua độ tuổi 35 của mình, nhất định bạn sẽ gặt hái được thành công. Còn đối với công việc chuyên ngành hay đổi sang công việc mang tính tự do thì bạn vẫn cần phải cẩn trọng trong thời thanh niên, tuyệt đối chớ nên manh động.

Ví dụ như những người cầm tinh con Cọp vốn rất hay thay đổi công việc, chính vì vậy mà không ít người đã để thời điểm vận số cực thịnh của mình qua đi một cách phí phạm. Nhưng nếu những người sinh vào mùa Thu có khuynh hướng ấy, thời thanh niên họ liên tục thay đổi công việc, kết quả giành cho họ là trăm điều hại mà chẳng có lấy một chút lợi nào, trở thành kẻ thất bại của cuộc đời.

Nhưng nếu họ thay đổi công việc vào thời kỳ vận số thịnh nhất ở độ tuổi trung niên của mình, rất có thể họ sẽ đạt được những thành tích khiến người khác phải ngưỡng mộ, từ đó tạo ra một cuộc sống phát triển mạnh mẽ, hoàn toàn mới của mình.

Cũng giống như việc thay đổi ngành nghề vậy. Trên phương diện hôn nhân, đa số những người sinh vào mùa Thu nếu kết hôn muộn sẽ có cuộc sống gia đình, hạnh phúc. Nếu họ kết hôn sớm thì không tốt, dễ thay đổi.

Bội thu ở độ tuổi từ bốn mươi đến năm mươi.

Tóm lại, những người sinh vào mùa Thu sẽ có vận số cực thịnh ở độ tuổi trung niên của mình. Dù nhắc đến những nhân vật thành danh thì họ đều thuộc số những người bắt đầu phát ở độ tuổi từ ba mươi đến bốn mươi, đến độ tuổi trung niên họ bắt đầu gặt hái thành công to lớn.

4- NGƯỜI SINH VÀO MÙA ĐÔNG

Mùa Đông dài ba tháng, vào khoảng từ đầu tháng Mười đến hết tháng Chạp. Nếu bạn sinh vào mùa Đông, như vậy vạn số của bạn sẽ thuộc loại “Vãn niên vận”.

Bởi bạn được sinh vào mùa Đông, hoa cỏ tàn tạ phải gánh chịu gió lạnh tuyết rơi và cũng là mùa ngủ đông của các loài động vật. Đó chính là cách tự bảo tồn của các loài động, thực vật để vượt qua mùa Đông lạnh lẽo, chờ đợi mùa Xuân ấm áp.

Tức là nhùng người sinh vào mùa Đông như bạn vốn trời ban cho số vừa phải ẩn mình đợi đến mùa Xuân, vừa phải dưỡng thần, tích luỹ nhuệ khí, vốn có sức nhẫn nại lớn vô cùng. Dù bạn gặp phải bất cứ nghịch cảnh gì, bạn đều có thể điềm nhiên chấp nhận. Và bạn cũng có khả nàng tự khắc phục cực kỳ siêu việt. Vì vậy, so với những người sinh vào các mùa khác, vào độ tuổi trung niên trở về trước thì bạn không bằng được họ nhưng vì bạn biết dựa vào tính nhẫn nại và khả năng khắc phục chính mình nên lúc về già có thể bạn sẽ thành danh, cuộc sống dễ chịu.

Phải chăng vận số của những người sinh vào mùa Đông không tốt bằng “sơ niên vận”, “thanh niên vận” , “Trung niên vận” ? Chưa hẳn đã thế.

Như trên đã nói, dù quãng thời gian vận số cực thịnh của cuộc đời họ đến muộn nhưng vẫn có những năm vận số tốt đều đặn đến với họ theo một chu kỳ nhất định.

Và nếu can chi của họ có vận số tốt (ví dụ như người cầm tinh con Rồng, Hổ, Rắn, Khỉ, Lợn vốn là những con vật có vận số mạnh hơn những loài khác trong mười hai địa chi) lại kết hợp với thời gian sinh, thậm chí với cha mẹ bạn học có duyên số tốt thì bạn cũng có thể có vận tốt may mắn đến.

Những người sinh vào mùa Đông đã giành được đại thắng nhờ tính nhẫn nại và công phu chờ đợi của mình.

Dù bạn nắm bắt được vận tốt vào độ tuổi thanh niên nhưng vận số lúc ấy của bạn vẫn chưa phải là vận số thực sự. Xét theo một khía cạnh khác thì vận số đó không có một chút tính chắn chắn nào. Tức là dù bạn có thể xuất đầu lộ diện từ lúc bạn còn trẻ nhưng e rằng bạn khó có thể giữ nó lại cho đến lúc bạn già.

Những người sinh vào mùa Đông dường như phải đợi đến lúc về già mới nắm bắt được hạnh phúc thực sự của mình. Vì vậy vào độ tuổi thanh xuân dù luôn gặp phải nghịch cảnh có tài mà không được trọng dụng, không nắm được vận đỏ thì bạn cũng chớ lấy đó làm bi quan. Hãy vui vẻ thoải mái, bình tâm tĩnh trí đợi đến khi thời cơ đã chín muồi.

Thiên Lý Nhãn

NÓI CHUYỆN NGƯỜI SINH NĂM DẦN (2)

NĂM CANH DẦN NÓI CHUYÊN NGƯỜI SINH TUỔI DẦN

ẢNH HƯỞNG TÍNH CHẤT

VỀ THÁNG SINH NĂM DẦN

– Thiên Lý Nhãn (bài 2)

1- Người sinh tháng Giêng năm Dần :

Tính cách : Người cầm tinh con cọp sinh vào tháng Giêng bị ảnh hưởng bởi tuổi con Trâu nên tuy họ vẫn có cá tính khoáng đạt của người cầm tinh con cọp nhưng những đặc tính khác của những người cầm tinh con Hổ lại không được biểu hiện rõ lắm ở họ. Người cầm tinh con cọp sinh vào tháng Giêng rất chú trọng đến sự tinh tế nhẹ nhàng. Họ rất cẩn thận và linh hoạt trong công việc. Họ thường cho rằng phương pháp của mình là hoàn toàn chính xác. Bởi họ luôn cho mình là đúng nên dễ sinh ra độc đoán, ngoan cố và không chịu nghe người khác.
– Nghề nghiệp

Người sinh năm Dần tháng Giêng luôn có thái độ cần cù trong công việc, có vận số tiến đều. Nếu họ rơi vào xã hội luôn có tính biến động mạnh, thì họ khó thích nghi với hoàn cảnh mới.

– Hôn nhân :

Người đàn ông sinh năm Dần tháng Giêng vốn không giỏi ăn nói, khi gặp phụ nữ họ chỉ biết nói chuyện với họ theo kiểu điều tra lý lịch nên tương tự đánh mất đi những cơ hội giao lưu tốt đẹp. Vì vậy, họ cần phải học thêm nhiều về cách ăn nói, học cách biểu đạt tình cảm của mình.

Đối tượng lý tưởng trong hôn nhân của họ là những người có tính tình tương đồng, không thích hư vinh. Sau khi kết hôn, họ nên cởi mở tâm sự với vợ những điều trong lòng họ đang nghĩ tới. Vấn đề này rất quan trọng đối với đời sống hạnh phúc sau hôn nhân của họ. Người phụ nữ sinh vào năm Dần tháng Giêng rất hợp với người đàn ông sinh vào tháng Ba năm Mùi hoặc sinh vào tháng Chín năm Mão. Đối tượng kết hợp lý tưởng của người đàn ông sinh vào năm Dần tháng Giêng là những phụ nữ sinh vào tháng Tám năm Hợi hoặc tháng Chín năm Thìn.

2- Người sinh tháng Hai năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng Hai năm Dần có dáng vẻ rất nhàn nhã nhưng khi bắt đầu làm việc, họ tỏ ra nhanh nhẹn hoạt bát. Họ thuộc loại điển hình của những người cầm tinh con cọp.

– Nghề nghiệp :

Họ chỉ cần hiểu được một cách đại khái là bắt tay vào làm ngay vì họ cho rằng chỉ cần làm việc cần cù thì công việc tất sẽ hoàn thành, không cần phải hiểu về nó quá nhiều. Họ thường yêu cầu chính mình phải có thái độ cần cù trong công việc hành động nhanh nhẹn, linh lợi.

– Hôn nhân :

Người sinh vào năm Dần tháng Hai không chú ý lắm đến thời gian. Khi hẹn với một người khác rồi chính họ lại lỡ hẹn. Phụ nữ tuổi Hổ sinh vào tháng Hai có làn da mịn màng như trẻ con. Người đàn ông lại thuộc người ưa mộng tưởng và rất kiên cường. Phụ nữ cần cù lao động. Tóm lại, người tuổi Dần sinh vào tháng này thích hợp với những đối tượng có tính tình tương đồng, biết hiểu nhau. Nếu họ là bạn học hoặc bạn thanh mai trúc mã lấy nhau nhất định sẽ xây dựng được mối nhân duyên tốt đẹp.

Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng Hai hợp với người đàn ông sinh vào tháng Bảy năm Ty hoặc tháng Ba năm Tuất. Người đàn ông sinh năm Dần tháng Hai họp với người phụ nữ sinh vào tháng Sáu năm Tý hoặc tháng Chín năm Dần.

3- Người sinh tháng Ba năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng ba năm Dần có tình cách tinh tế. Họ luôn đồng cảm với người có hoàn cảnh đáng thương. Họ có vẻ hào phóng nhưng thực không hẳn là như vậy. Nếu họ tạo được cho mình năng lực biết phân biệt tốt xấu, không do dự, có thể họ sẽ nổi tiếng ngay từ khi còn trẻ.

– Nghề nghiệp :

Họ có thể làm tốt công việc như bác sĩ, nhà giáo, lãnh đạo cơ quan, có người còn trở thành nghệ sĩ giỏi.

– Hôn nhân :

Những người sinh năm Dần tháng Ba thường kết bạn với những người có tính cách tương tự như mình, tình bạn ấy dần dần phát triển thành tình yêu, đi đến hôn nhân. Người phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng Ba thích hợp với người đàn ông sinh vào năm Mão tháng Năm hoặc năm Dậu tháng Hai. Đối tượng thích hợp của người đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng Ba là những người phụ nữ sinh vào năm Mão tháng Một hoặc năm Tuất tháng Bảy.

4- Người sinh tháng Tư năm Dần :

Tính cách : Cá tính của những người sinh vào tháng Tư năm Dần là sự kết hợp của các đặc tính của người sinh năm Dần như lạc quan, độc lập và nỗ lực, cố gắng. Sau độ tuổi ba mươi họ có thể trở thành những người chủ quản nhỏ. Họ rất thích trở thành kẻ độc tài. Họ có sức sống rất mạnh. Vì vậy rất giỏi trong các công việc điều tra, suy luận. Tuổi trẻ của họ trôi qua bình lặng nhưng càng về sau càng có triển vọng tốt.

– Nghề nghiệp :

Những người sinh vào tháng Tư năm Dần có đức tính cẩn thẩn thường thích hợp với những công việc như : Bác sĩ, giáo viên, phù hợp với công việc lãnh đạo cơ quan.

– Hôn nhân :

Người tuổi Dần sinh vào tháng Tư luôn phân định rạch ròi giữa gia đình và công việc. Vì vậy họ nên chọn lấy người vợ có tinh thần biết tự giải quyết tốt những công việc nhỏ nhặt, đảm đang tốt công việc gia đình. Đối với phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng Tư hợp với những người đàn ông tuổi Tuất sinh vào tháng Sáu và tuổi Dậu sinh vào tháng Một.

5- Người sinh vào tháng Năm năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào năm Dần tháng Năm là người lạc quan, khoáng đạt, từ thái độ cho đến dáng vẻ đều rất hoàn mỹ, như một pho tượng được người xung quanh sùng bái. Họ thường là linh hồn không thể thiếu trong các hoạt động đoàn thể. Những người này rất có chủ kiến. Vì vậy, họ không chịu nghe lời khuyên của người khác. Kết quả là thường làm cho công việc rối tinh lên. Họ còn là những người thân thiết, có tính hơi xấu hổ, thường do dự, không dám phát biểu ý kiến của mình. Họ cần giảm bớt nóng nẩy và biết giữ gìn phép tắc để làm được nhiều việc tốt.

– Nghề nghiệp :

Họ không thích hợp với các công việc cùng làm chung với đồng nghiệp mà thích hợp với công việc độc lập. Họ có thể làm chủ một cơ sở kinh doanh nhỏ sửa chữa xe, v.v. . .

– Hôn nhân :

Người đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng Năm có cử chỉ ôn hoà nho nhã dễ lôi cuốn người khác phái, người như họ phải cố gắng tránh những người phụ nữ có tính nóng nảy, gặp việc gì cũng chỉ muốn giải quyết cho nhanh. Đối tượng hôn nhân thích hợp của họ là nhưng người phụ nữ sinh vào tháng Tám năm Tý hoặc tháng Hai năm Tuất. Còn về phụ nữ sinh năm Dần tháng Năm lại thích hợp với những người đàn ông sinh vào tháng Hai năm Sửu hoặc tháng Năm năm Ty.

6- Người sinh tháng Sáu năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào năm Dần tháng Sáu không chú ý lắm tới mối quan hệ giữa lợi và hại trong công việc, có tính nông nổi nghĩ gì trong đầu thường biểu đạt ra ngoài . Họ luôn sống trong không khí gia đình hạnh phúc. Đa phần số người này có gia thế tốt đẹp, cha mẹ để lại cho họ tài trí và cua cải dồi dào. Họ có cá tính khoáng đạt, không phải chịu đựng gian khổ mà vẫn có được danh lợi, địa vị.

– Nghề nghiệp :

Người sinh vào năm Dần tháng Sáu có một số người có cách xử lý trong công việc rất hoang đường, khá phù phiếm. Họ rất nhiệt tình, thẳng thắn nên rất dễ thân cận với người khác. Họ có thể làm tốt công việc : Nhà báo, kiến trúc sư, lái xe, chủ doanh nghiệp nếu có trợ lý tốt.

– Hôn nhân :

Người sinh năm Dần tháng Sáu có vầng trán rộng rất quyến rũ người khác. Người đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng Sáu rất thích những người phụ nữ có thân hình nở nang, đầy đặn. Người như họ rất hợp với phụ nữ tuổi Tý sinh vào tháng Năm và tuổi Sửu sinh vào tháng Mười. Còn về phụ nữ họ không thích lý luận trong tình yêu họ thuộc người phụ nữ rất chăm chỉ. Họ hợp với người đàn ông tuổi Mão sinh vào tháng Bảy và người sinh vào năm Mùi tháng Hai.

7- Người sinh tháng Bảy năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng Bảy năm Dần có đặc tính hành động nhanh nhẹn, cuộc đời của họ luôn luôn thuận lợi. Họ có phong cách của một vận động viên chạy vượt rào, luôn duy trì ở vị trí thứ hai, lúc gần tới đích mới bắt đầu tăng tốc độ để trở thành người chiến thắng cuối cùng.

– Nghề nghiệp :

Những người sinh tháng Bảy năm Dần nhanh chóng thích nghi với môi trường và sự thay đổi trong công việc. Vì vậy, dù làm việc gì họ cũng không hề cảm thấy mệt mỏi, rất biết cảm nhận hơi thở của cuộc sống.

Người sinh vào tháng Bảy năm Dần khi bước qua độ tuổi bốn mươi có thể sẽ gặp phải tình trạng không tốt lắm trong công việc. Nhưng những lúc bình thường họ sống rất nghĩa khí với người khác. Nên trong lúc gặp khó khăn họ thường nhận được sự giúp đỡ hào hiệp của bạn bè.

Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng Bảy một mặt biết lo lắng công việc gia đình, mặt khác họ cũng tham gia và làm tốt công việc xã hội. Người sinh năm này, nam hay nữ đều thích kết hôn với người có cá tính, có tư duy không giống với mình. Vì vậy, cuộc sống gia đình của họ có rất nhiều dáng vẻ khác nhau, có nhiều hứng thú. Họ luôn quan tâm giáo dục con cái, biết chọn lựa và áp dụng các phương pháp để dạy cho con có tính cách độc lập tự chủ.

– Hôn nhân :

Người phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng Bảy hợp với người đàn ông sinh vào tháng Mười hai tuổi Sửu hay tháng Sáu tuổi Tuất. Người đàn ông tuổi Dần sinh tháng Bảy lại hợp với người phụ nữ sinh vào tháng Năm năm Sửu và tháng Mười một năm Dần.

8- Người sinh tháng Tám năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng Tám năm Dần có dáng vẻ của một thân sĩ rất giỏi giao tiếp hay dáng của một thục nữ. Nhưng bản chất của họ là rất cương quyết. Phụ nữ sinh vào tháng Tám năm Dần thường hẹp hòi nhưng lại rất tuyệt vời đối với con cái của họ.

– Nghề nghiệp :

Những người sinh vào tháng Tám năm Dần có tài nhìn xa trông rộng trước sau như một, hiểu đạt bốn bể, một tay giữ vững thiên hạ, được người nể phục, trời ban, thông minh nhanh nhạy hoạt bát, văn chương tái thế, danh vang tứ phương. Họ tự tin vào khả năng của mình. Trong công việc mình không giải quyết được cũng quyết không chịu dựa vào người khác.

– Hôn nhân :

Người phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này rất hợp với những người đàn ông sinh vào tháng Mười năm Thân hoặc tháng Mười hai năm Mão. Người đàn ông sinh vào tháng Tám năm Dần lại thuộc loại người rất gọn gàng, ngăn nắp, thường sắp xếp công việc gia đình đâu vào đấy và họ cũng luôn yêu cầu các thành viên trong gia đình mình phải như vậy. Vì vậy, họ cần phải lựa chọn những người phụ nữ vô lo vô nghĩ nhưng không được luộm thuộm làm vợ. Nếu họ lấy được người như vậy, cuộc sống gia đình luôn giữ được hạnh phúc. Phụ nữ
sinh vào tháng Hai năm Sửu và tháng Năm năm Hợi chính là đối tượng lý tưởng của họ.

9- Người sinh tháng Chín năm Dần :

Tính cách : Những người sinh vào tháng Chín năm Dần có hai loại tính cách điển hình. Một là hành động nhanh nhẹn, mẫn tiệp, hai là âm thầm làm việc. Bất luận loại tính cách nào của họ đều thích có đời sống đa dạng của các bậc công tử hào hoa, họ thường chú ý đến ăn mặc. Dù họ đã ở vào độ tuổi bốn mươi nhưng vẫn thích mặc những bộ quần áo màu sắc rực rỡ và thích một cuộc sống đầy biến động.

Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này luôn coi việc giúp đỡ người làm nguồn vui của mình. Đặc biệt là những người phụ nữ sống trong điều kiện khá giả, họ không bao giờ quên việc giúp đỡ người nghèo hơn mình.

– Nghề nghiệp :

Họ có thể trở thành người tổ chức lãnh đạo các đoàn thể xã hội, làm nhà ngoại giao kỹ sư kiến trúc sư v.v. . .

– Hôn nhân :

Đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng này lại thích theo đuổi phụ nữ có sắc đẹp. Loại người đàn ông như họ cần có một người v o nhà chăm lo cho họ như chăm lo cho trẻ con. Họ thích hợp với người phụ nữ sinh vào tháng Mười năm Mùi hoặc tháng Tư năm Tỵ. Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này họ chấp nhận vô điều kiện mọi sự sắp đặt của người yêu Người đàn ông thích hợp của họ chính là những người sinh vào tháng Ba năm Tý và tháng Hai năm Dần.
Người sinh vào tháng Chín năm Dần cần phải chú ý đến các loại bệnh như thận, phong thấp, viêm khớp v.v…

10- Người sinh vào tháng Mười năm Dần :

Tính cách : Đây là tháng có vận số mạnh nhất của những người cầm tinh con cọp. Họ là người thông minh, nhanh nhạy và hiền lành nghĩa khí hào hiệp. Họ thường lập nghiệp xa nhà. Cuộc đời tuy gian truân vất vả nhưng sẽ gạt hái thành công.

– Nghề nghiệp :

Người tuổi Dần sinh vào tháng này có địa vị xã hội, có thể là chủ công trình, có rất nhiều cơ hội kiếm tiền. Họ có quan hệ xã hội rộng rãi. Trong công ty, họ luôn được lãnh đạo đề bạt, cất nhắc, ở nhà họ có vợ hiền và là người chồng tốt. Đó chính là đặc tính lớn nhất của họ. Có điều, bởi phạm vi tiếp xúc của họ rộng nên thường dẫn đến tình trạng không thể bao quát hết. Họ luôn có thái độ lạc quan thái quá trong vấn đề đánh giá công việc. Vì vậy, thường chịu phần thua thiệt bởi tính thiếu cẩn thận của mình.

– Hôn nhân :

Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này thường có cặp mắt rất quyến rũ, thích hợp với người đàn ông không coi việc gia đình là lặt vặt, phiền phức. Họ thích những người đàn ông có sống mũi thẳng hơn nữa ngay từ nhỏ họ đã mong muốn người bạn đời của mình nhất định không thua kém cha mình. Vì vậy, họ rất hợp với người đàn ông sinh vào tháng Tám năm Thân hoặc tháng Mười năm Tuất.

Người đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng Mười không chú ý lắm đến cách ứng xử giao tiếp. Vì vậy, họ cần phải tìm một ngưòỉ phụ nữ tinh tế làm bạn đời để người ấy bù đắp cho những khiếm khuyết của mình.
Người phụ nữ tuổi Mão, sinh tháng Mười hoặc sinh vào tháng Hai năm Hợi rất hợp với họ.

11- Người sinh tháng Mười Một năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng Mười Một năm Dần rất thẳng thắn, cứng rắn, quyết tranh thắng bại bằng tinh thần kiên cường, bất khuất. Người phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này họ sống rất tình cảm. Nhưng thường bị quyến rũ bởi sức hấp dẫn của công việc mà lỡ mất hôn nhân.

– Nghề nghiệp :

Người tuổi Dần sinh vào tháng Mười Một họ thích công việc bên ngoài hơn ngồi lỳ bên trong phòng. Họ thích làm các chức vụ có thể đưa ra quyết sách that chủ tịch hội đồng quản trị. Người sinh vào tháng Mười Một năm Dần cũng rất cố chấp. Nếu việc gì họ coi là tốt nhất họ sẽ theo đuổi đến cùng vì sự ngoan cố trong công việc ấy khiến họ có lúc bị tai hoạ đến thân. Họ cần phải để ý đến vấn đề này.

– Hôn nhân :

Người phụ nữ ở tuổi này nếu lấy chồng trước độ tuổi hai mươi hai sẽ có cuộc sống hạnh phúc. Nếu đến khi tuổi đã lớn mới nghĩ đến hôn nhân, lúc ấy họ sẽ rất chú ý đến kinh tế, địa vị của đối tượng. Vì vậy, họ cảm thấy rất khó khăn trong quyết định. Và lúc này, họ thường chấp nhận những đối tượng do cấp trên giới thiệu cho. Họ hợp với người đàn ông sinh vào tháng Một năm Thìn hoặc tháng Bảy năm Dần. Người đàn ông tuổi Dần sinh vào tháng Mười ruột thích hợp với người phụ nữ tuổi Tý, sinh tháng Mười một hay sinh vào tháng Hai năm Mùi.

12. Người sinh tháng Chạp năm Dần :

Tính cách : Người sinh vào tháng Chạp năm Dần luôn tự tin vào thực lực của mình, luôn mơ ước danh lợi, địa vị hơn người. Họ luôn cho rằng chỉ cần dựa vào năng lực của mình nhất định sẽ đạt được mục tiêu. Để đạt tới mục tiêu, họ dám hy sinh tất cả những gì mình có. Một khi quá khát vọng về danh lợi, họ dễ trở nên tham tàn như con mãnh hổ tham mồi. Ngược lại, cũng có những người sinh vào tháng này năm Dần rất đạm bạc, thích tán dương người khác, họ biết cách động viên người khác, họ biết cách khen ngợi, tán thưởng người khác đúng lúc.

Họ có tài trong lĩnh vực thuyết phục người khác, thường khiến người khác khó từ chối yêu cầu của họ. Phụ nữ tuổi Dần sinh vào tháng này thường tạo cho người khác cam giác tự tin, có thể phát huy năng lực trên mức mình có. Họ có nhiều tham vọng trong công việc của mình. dù họ đã có con nhỏ, có thể họ sẽ gửi con cho người khác trông, còn mình tiếp tục tích cực trong công việc. Họ có thể trở thành trợ thủ đắc lực của chồng. Dù công việc của họ mang tính nấp sau lưng chồng nhưng trên thực tế, mọi quyền lực chỉ huy đều nằm cả trong tay họ.

– Nghề nghiệp :

Họ có năng lực để làm tốt nhiều công việc như chủ doanh nghiệp, nhà giáo, bác sĩ, kiến trúc sư. Họ có thể trỏ thành nhà quân sự nếu biết tự kiềm chế và tuân theo kỷ luật.

– Hôn nhân :

Phu nữ tuổi Dần sinh vào tháng này phù hợp với người đàn ông sinh vào tháng Hai năm Mão hoặc tháng Ba năm Mùi. Người đàn ông sinh vào tháng Mười hai năm Dần cọ bản tính không vui vẻ thân thiện với người trong gia đình. Vì vậy họ nên kết hợp với người phụ nữ tuổi Tý, sinh vào tháng Ba hoặc tháng Một năm Thân mới có được hạnh phúc trong hôn nhân.

THIÊN LÝ NHÃN

NÓI CHUYỆN NGƯỜI SINH NĂM DẦN (1)

NĂM CANH DẦN NÓI CHUYÊN NGƯỜI SINH TUỔI DẦN

NAM NỮ SINH NĂM DẦN

MỆNH VẬN NHƯ THẾ NÀO ?

– Thiên Lý Nhãn (bài 1)

Ông bà ta xưa thường nói, con gái mà sinh năm Dần cao số, suốt đời tình duyên lận đận, u uất về đường chồng (nhưng lại có số sướng, không khổ vì thiếu tiền) vì nhiều lý do, nhưng nhiều nhất là về mặt tâm linh.

Dù “tiền là Tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ sức khoẻ cho tuổi già” nhưng tiền vẫn không là tất cả, nếu cuộc sống không có Tình (tình cảm, tình yêu, tình dục). Vì thế đã không ít cô sinh năm Dần thường khai tăng hoặc bớt tuổi để tránh những lời dị nghị, là dữ như cọp, cao số, là sát phu v.v… Thêm bớt tuổi là cách nhằm “qua mặt” những bà mẹ chồng có hơi hướng mê tín dị đoan, thường đi coi tuổi hỏi vợ cho con ở các thầy bói toán.

Trong khi đó, đàn ông tuổi Dần thì hoàn toàn trái ngược, nhận được những lời hay ý đẹp, nào là tài giỏi, uy dũng, giàu có, và còn có số đào hoa nữa. Mấy ông thầy chấm tử vi thường tư vấn thêm cho mấy cô tuổi Dần, kiểu như gái tuổi Dần muốn sống yên ổn phải lấy chồng muộn, cứ phải qua tuổi 30 (tam thập nhi lập) mới có thể lên xe hoa bấy giờ mới yên bề gia thất, nếu lấy sớm sẽ chóng ly tán.

Còn bây giờ có nhiều người lý luận, chúng ta thử làm một phép tính đơn giản : cứ 12 năm lại có một năm Dần theo chu kỳ vòng Lục Thập Hoa Giáp. Nếu ai cũng ngại sinh con gái năm Dần thì chẳng lẽ con gái tuổi Dần phải chịu ế chồng hết hay sao ?! Nhưng đã là định kiến biết làm sao thay đổi, tuy nhiên các cô gái tuổi Dần đã sinh vào năm Mậu Dần 1998 đừng lo, vì sau năm con Heo vàng 2007, theo thống kê thì trai sẽ thừa còn gái thiếu nhiều sau năm 2020, nên con gái tuổi Dần dù cao số cũng có giá lắm lắm, tha hồ mà thách cưới. Bởi lúc đó các cô Mậu Dần chỉ mới hơn 20 tuổi đâu sợ thành gái già “bà tổ cô”. Cho nên nếu phụ nữ nào sinh con gái vào năm Canh Dần 2010 tới đây cũng nên bớt sầu muộn, bớt lo cho con gái đã sinh ra nhằm năm Dần.

Nói vậy thôi, trên đây chỉ là lý thuyết, còn dù xưa hay nay dù trai thừa gái thiếu, nếu các cô gái – dù sinh tuổi nào đi nữa – muốn có chồng được an khang hạnh phúc thì cần phải hội đủ nhiều yếu tố :

Muốn tránh cho mình khỏi dang dở cuộc hôn nhân, các cô chỉ có cách phải tìm hiểu đối tượng thật kỹ, cứ yêu khoảng vài năm thì xấu, tốt của người yêu sẽ lộ ngay ra chân tướng bản chất để tự dự đoán được tương lai (nhưng đừng vì yêu quá mà nên dại dột), linh tinh bản thân mách bảo cũng được thanh thản khi cuộc tình có trục trặc, vì xã hội đâu chỉ có một nam nhân mà phải đau khổ thất tình. Còn đã lập gia đình rồi, trong hạnh phúc lứa đôi cả hai phải biết hòa đồng trong tình dục (xem bài “Hạnh phúc lứa đôi” đã đăng trong Thế Giới Tâm Linh) thì dù không hợp mạng với chồng, hay cao số cũng sẽ lướt qua mà hạnh phúc bền vững, con đàn cháu đống v.v…

Sau đây xin nói qua về mệnh lý :

TUỔI DẦN QUA MỆNH LÝ

ĐÔNG VÀ TÂY PHƯƠNG

Như đã nói âm lịch mà chúng ta đang sử dụng có nguồn gốc từ nền văn hóa cổ Trung Quốc, tức 12 con giáp trong âm lịch (hình) từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành, gắn với Dịch lý được tìm ra từ trong bản Hà Đồ Lạc Thư từ thời Phục Hy, Hạ Vũ, sau này được các nhà thuật số dùng làm nền tảng cho sự phát triển các môn học thuật.

Theo phân tích, 12 con vật được chọn làm biểu tượng được đăt tên chung là Thập Nhị Chi, bao gồm vừa là các vật nuôi, vừa là loài thú hoang dã, cũng vừa có thật cũng vừa tưởng tượng (như hình tượng con rồng), đáp ứng cho nguyên tắc âm dương, chẵn lẻ.

Các con vật được chọn đều có phẩm chất chẵn – lẻ mang tính đặc trưng đúng loài của chúng, thể hiện qua số ngón chân. Như :

Tý : con chuột = 5 ngón, lẻ – thuộc Dương.

Sửu : con trâu (trong thiên văn Trung Hoa : Sửu là con bo) = 2 ngón, chẵn, thuộc Âm

Dần : con cọp (hổ)    = 5 ngón, lẻ,thuộc Dương

Mão : con mèo (trong thiên văn Trung Hoa là Thố con thỏ) = 4 ngón, chẵn, thuộc Âm

Thìn : con rồng (con vật trong truyền thuyết) = 5 móng, lẻ, thuộc Dương

Tỵ : con rắn (theo truyền thuyết bị chặt chân và bị chẻ lưỡi) = lưỡi chẻ đôi, chẵn, thuộc Âm

Ngọ : con ngựa = 1 ngón, lẻ,thuộc Dương

Mùi : con dê = 2 ngón, chẵn, thuộc Âm

Thân : con khỉ = 5 ngón, lẻ, thuộc Dương

Dậu : con gà  = 4 ngón, chẵn, thuộc Âm

Tuất : con chó = 5 ngón, lẻ, thuộc Dương

Hợi : con heo (lợn) = 4 ngón, chẵn, thuộc Âm

Như vậy số ngón tối đa là 5, tối thiểu là 1, còn lại là 2 và 4. Tuyệt nhiên không có số 3. Vì số 3 được đưa vào hệ tam tài Thiên-Địa-Nhân, tức Trời Đất và Người đóng vai trò chính yếu trong vũ trụ.

Và tính chất của nam nữ sinh năm Dần (Cọp – Hổ) theo mệnh lý Đông và Tây phương mang những  ý nghĩa như sau :

– Theo Đông Phương :

– DẦN con Cọp (Hổ) luôn tọa thủ vào tháng Giêng Âm lịch, tức bắt đầu tiết Lập Xuân và khí Vũ Thủy. Thuộc mùa Xuân, hướng Chánh Đông. Về Âm Dương Ngũ Hành thuộc Dương Mộc.

Dần thuộc vị trí đầu năm, khi khí hậu đang chuyển động giao mùa. Nước dưới lòng đất muốn dâng trào lên nhưng âm khí còn cứng. Vạn vật đang vùng vẫy để đâm chồi kết lá.

Người tuổi Dần rất nhạy cảm, đa tình, và thường có đời sống nội tâm cao, nên hay do dự khi quyết định vấn đề tình cảm. Tuổi này thích giao du với người ít tuổi, không thích kết bạn với người có tuổi cao hơn họ.

Tính tình quả cảm, kiên nhẫn nhưng thiển cận đến ích kỷ. Rất dữ vía làm ma quỷ gặp cũng phải tránh đường. Do đó nhiều gia đình thường cầu có con trai tuổi Dần, nhưng với con gái thì trái lại họ cao số trong tình yêu và gia đạo.

Theo đường Hoàng đạo, tuổi Dần tượng trưng cho đối nghịch, nên có dáng dấp to khoẻ, mạnh mẽ, tính thận trọng, thích tranh đấu, ghét các tật xấu có hại bản thân, dám lao mình vào những công việc đầy rủi ro để thử thách bản lĩnh.

Về tình cảm, tuổi Dần được người khác phái yêu mê say nhưng ngược lại cũng dễ bị thù ghét vì sự ganh tỵ. Họ không kìm hãm được tình cảm nửa vời, muốn đi đến mục đích dù biết đối tượng đang lừa dối, đấy là do tính lãng mạn thiên bẩm, cuồng nhiệt trong tình yêu.

– Hợp Xung Khắc : Dần và Mão làm nên nghiệp lớn, Dần và Ngọ cùng tính độc lập tự lập không ỷ lại, Dần và Dậu thích lao vào chuyện đầy rủi ro, Dần và Tuất tính dịu hiền tạo nên gia đình hạnh phúc, Dần và Hợi hỗ trợ nhau khi nguy khốn. Dần khắc với các tuổi Sửu, Tỵ và Thân.

Trên đây nói về tính chất chung những người sinh năm Dần trong mệnh lý phương Đông qua sách Thuyết Văn, một cuốn sách cổ của Trung Quốc. Do nhiều người chưa hiểu hết về Dịch Lý, nên thường có lo nghĩ các điều tương sinh tương khắc trên. Thật ra việc sinh khắc còn mang nhiều yếu tố khác, như khi Âm Dương Ngũ Hành gặp nhau sinh biến đổi, có lợi hoặc có hại qua phần biện chứng (chúng tôi cũng đã có bài viết này trong Thế Giới Tâm Linh).

Còn theo mệnh lý Tây Phương :

– Theo Tây Phương :

Tuổi Dần ứng với người sinh tuổi Nhân Mã (Sagittarius) tức người sinh từ 23-11 đến 21-12. Nằm ở vị trí 240o đến 270o trên cung Hoàng Đạo. Thuộc Khí : Tiểu tuyết – Tiết : Đại tuyết. Hình tượng đầu người mình ngựa.

– Tuổi Nhân Mã chủ về sự nhanh nhẹn và trí thông minh sáng tạo, có trí thông minh và nhớ lâu, rất tháo vác, có tư tưởng vươn cao, không muốn thua sút trước gia đình, bạn bè. Vì thế cuộc đời tuổi Nhân Mã có người phải sa chân vào tội lỗi, nhưng lại không muốn chịu trách nhiệm do có tính tự cao, tự kỷ trước mọi người; đồng thời do tính không thích bị ra lệnh, chỉ muốn tự chủ bản thân và cuộc sống.

Nghề thích hợp nhất cho tuổi Nhân Mã là về kỹ sư điện, nước, địa chất, cũng như với nghề luật sư, bác sĩ, dược sĩ để ít bị sai khiến. Nữ giới thích làm đẹp và thích được khen ngợi, thích hợp với nghề ca múa, diễn xướng, nhưng lý tưởng nhất là làm kế toán, theo dõi chứng khoán, nghiên cứu chiến lược, vì có đầu óc thông minh, nhanh nhẹn, phán đoán và ứng xử kịp thời. Khi lấy chồng sẽ trở thành người nội trợ giỏi

Tuổi Nhân Mã thích tham dự vào các đám đông để được mọi người chú ý, nên hay trưng diện, thích mạo hiểm và cảm giác mạnh, có sở thích xem phim bạo lực, kinh dị, tiểu thuyết trinh thám và âm nhạc kích động. Những ai hiểu biết tính tình người Nhân Mã dễ tiếp cận và lôi kéo họ.

Trong tình yêu cũng như việc làm, người Nhân Mã thường hay sa ngã, quá đà, nhưng không bi quan, vì tuổi này dễ làm người khác chú ý và biết tạo dựng cuộc sống mới.

Về tài chánh người tuổi Nhân Mã rất thành đạt trong các nghề kinh doanh về tài chánh, như mua bán bất động sản, trao đổi chứng khoán, cho vay tín dụng.

oOo

Qua hai mệnh lý Đông và Tây Phương, chúng ta nên kết hợp cả hai để suy luận dự đoán về tầm ảnh hưởng những ai sinh tuổi Dần sẽ thế nào.

Trong đó, về mệnh lý Đông Phương còn chia ra 5 loại tuổi Dần như : Mậu Dần (mạng Thổ), Canh Dần (mạng Mộc), Nhâm Dần (mạng Kim), Giáp Dần (mạng Thủy)  và Bính Dần (mạng Hỏa). Dần nào sẽ tương sinh hay tương khắc tuổi nào. Đừng nghĩ Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung, bởi Dần với Hợi là Nhị Hợp (nhưng đa số tuổi nữ thường làm lợi cho tuổi nam), Dần với Ngọ và Tuất là Tam Hợp hoặc Dần với Thân mới tương xung, luôn ngày khẩu chiến v.v…

5 loại tuổi Dần nói trên còn phải xét qua yếu tố Ấu Tráng Lão và Vượng Tướng Hưu Tù Tử nữa mới thấy tuổi Dần nào cao số với mạng nào.

Dưới đây là bảng  tính chất người sinh năm Dần và sinh trong các tháng âm lịch :

TÍNH CHẤT CHUNG NGƯỜI TUỔI  DẦN,

Tuổi Dần thường là những người dũng cảm, mạo hiểm nhưng độc đoán, luôn kiên trì với chủ kiến của mình. Vì loài cọp (hổ) vốn là tượng trưng của quyền lực, là vương, là tướng trên mặt đất (chúa sơn lâm).

– Tính cách chung :

Những người sinh năm Dần vốn có tài trí hơn người, luôn ấp ủ trí lớn, thường rời khỏi quê hương tìm đến những nơi phồn hoa đô hội để mưu cầu lập nghiệp và phát triển. Có tinh thần độc lập cao, thường độc lai độc vãng. Đặc trưng của những người cầm tinh con cọp ưa độc lập tự chủ không thích a dua, không thích nhờ vả.

Trong 12 địa chi, Cọp là đại diện của chi Dần. Nếu tính theo thời gian của một ngày thì giờ Dần ứng vào khoảng từ 3 đến 5 giờ sáng. Nếu tính theo mùa, chi Dần ứng vào tháng Hai. Đó chính là lúc thời tiết vào Xuân, cây cối đang đâm chồi nay lộc. Người sinh năm Dần có cá tính rất cẩn thận nhưng họ cũng rất lạc quan. Dù có gặp phải việc không như ý, cũng không để trong lòng, và luôn giữ vững niềm tin.

Cho nên khi người tuổi Dần đã quyết định làm một việc gì đó, họ sẽ làm một mạch cho xong mới thôi. Dù có vấp phải những thất bại cũng không vì thế mà phiền lòng. Họ là những người luôn tràn trề dũng khí, luôn vượt qua cửa ải khó khăn với nụ cười trên môi.

Người sinh năm Dần tuy thường để lại cho người khác cảm giác họ phải gánh chịu phong ba bão táp nhưng cuối cùng vẫn bước tới sự thành công. Và ngay trong bản thân cũng luôn giữ vững niềm tin này.

Những người cầm tinh con Hổ cũng có tính cách cực kỳ ôn hòa. Dường như giống Hổ được thừa kế tính nết này của loài Mèo vậy. Kỳ thực loại người này ngoài mặt tỏ ra rất ôn hòa nhưng ẩn sâu trong lòng họ vẫn là tính cách của những con cọp dữ, dũng mạnh, giàu nghị lực. Và những người cầm tinh con cọp tuy ngoài mặt làm ra vẻ ôn hòa nhưng luôn có ý đồ riêng có mục đích về nhiều điều kỳ vọng khác; thái độ ôn hòa chỉ làm như vậy để chờ thời hay rình thời cơ mà thôi.

Người sinh năm Dần cả đời có vận số cường thịnh (nhất lá nam giới), đã có những thành công từ hồi còn rất trẻ. Nhưng chỉ vì quá tin tưởng vào nghị lực nên có lúc cũng rơi vào cảnh sức cùng lực kiệt, nên đôi khi có những thành công nhưng không bền vững.

Cuộc đời của người tuổi Dần có những bước thăng trầm rất lớn, thường gặp phải trở ngại trên bước đường đời. Nhưng đều vượt qua được tất cả để giành lấy thành công. Những người đàn ông cầm tinh con cọp này thông thường đều rất bận rộn với công việc; không bao giờ chịu ngồi yên trong nhà. Vì vậy họ cần tìm một người vợ khiến họ yên tâm trong công việc mà không phải bận tâm đến chuyện gia đình.

Còn những người phụ nữ cầm tinh con cọp thì sao ? Đây thuộc loại người kiên nghị, có tính tự lập rất cao. Phụ nữ tuổi Dần tuy không phải lo lắng đến vấn đề kinh tế của gia đình nhưng để phát huy năng lực, họ cũng thường tìm việc làm để tăng thu nhập cho gia đình, song song theo đó họ vẫn hoàn thành tốt công việc của một người vợ người mẹ, không bao giờ chịu bỏ lơ con cái. Ngoài ra, những người phụ nữ cầm tinh con cọp thường có khuynh hướng thích lý luận. hay họp bàn, thảo luận, không chịu làm một người phụ nữ bình thường, kẻ dưới cơ một ai.

Nghề nghiệp người tuổi Dần :

Người sinh năm Dần rất thích hợp với những công việc mang tính lãnh đạo như phải có quyền hành dưới tay có người giúp việc. Nhưng vì người cầm tinh con cọp thường có tính “đứng núi này trông núi nọ” nên thường thay đổi nghề nghiệp liên tục.

Nam giới thường bôn ba ở bên ngoài, luôn bận rộn nên thường không có thời gian quan tâm tỷ mỉ đến gia đình. Họ gần như là những người chồng độc tài, chi tiêu tiết kiệm.

Còn phụ nữ cũng có tính độc lập cao lại hiếu thắng. Nói tóm lại, thuộc giới phụ nữ không cam chịu ngồi yên trong nhà. Sau khi xây dựng gia đình, dù nền kinh tế khá vững vàng nhưng vì muốn phát triển tài năng của mình, mà họ vẫn thích ra ngoài tìm việc làm hơn; cũng là một người nội trợ đãm đang. Thời chưa lập gia đình, phụ nữ tuổi Dần vốn là những người rất nghiêm khắc nhưng cũng rất tình cảm nếu bĩ cú sét ái tình.

Tóm lại, phụ nữ tuổi Dần dường như không bao giờ chịu ở yên trong nhà, không thuộc loại chỉ biết im lặng ngồi nhà đợi chồng. Hơn nữa hay thích suy đoán lý luận, cho nên người chồng nào có số đào hoa cũng sẽ bị họ cầm chân và luôn đi đúng giờ về đúng giấc như một người máy.

(Còn 1 kỳ : Tính cách người sinh trong những tháng năm Dần)

PHẢN HỒI : theo một phản ánh từ trang web T2T, thì năm Dần ứng với Bảo Bình. Đó là một phản ánh sai, vì tuổi Nhân Mã (sinh từ 23/11 đến 21/12) ứng với năm Dần  tháng Tý theo Dương Lịch; còn tuổi Bảo Bình (sinh từ 21/1 đến 19/2) ứng vào năm Tý tháng Dần. Có lẽ do lẫn lộn từ tháng Dần như vừa giải thíchbtrên đây.

RƯỢU “ÔNG UỐNG BÀ CHỜ…” (2)

TOA RƯỢU

MINH MẠNG

VÀ HẠNH PHÚC

LỨA ĐÔI

Nguyễn Lê Quan (tổng hợp, bài 2)

Rượu này trở thành một đặc sản của Việt Nam. Cái gì thuộc về vua chúa thời nhà Nguyễn thường được xưng tụng, trong đó có toa thuốc của Vua Minh Mạng. Toa thuốc này truyền tụng từ lâu ở Huế, được đồn là do vài vị ngự y chép được. Trong sách “Nguyễn triều cố sự” có chép ra hai bài thuốc ngâm rượu của vua Minh Mạng như sau (theo tài liệu của Lương Y Tuệ Tâm) :

Bài 1 –  “Nhất dạ ngũ giao” :

Thành phần : 1- Nhục thung dung 12g, 2- Táo nhân 8g, 3- Xuyên Qui 20g, 4- Cốt toái bổ 8g, 5- Cam cúc hoa 12 g, 6- Xuyên ngưu tất 8g, 7- Nhị Hồng sâm 20g, 8- Chích kỳ 8g, 9- Sanh địa 12g, 10 -Thạch hộc 12g, 11- Xuyên khung 12g, 12- Xuyên tục đoạn 8g, 13- Xuyên Đỗ trọng 8g, 14- Quảng bì 8g, 15- Cam Kỷ tử 20g, 16- Đảng sâm 10g, 17- Thục địa 20g, 18 – Đan sâm 12g, 19- Đại táo 10 quả, 20- Đường phèn 300 g

Toa này có người nói là « Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử » nghĩa là có một lần làm thụ thai… song sinh!!

Cách ngâm : Đường phèn để riêng, 19 vị thuốc trên đem ngâm với 3 lít rượu nếp ngon trong 5 ngày đêm. Ngày thứ sáu, nấu nửa lít nước sôi với 300 g đường phèn cho tan ra, để nguội, rồi đổ vô thẩu, trộn đều đến ngày thứ 10 thì đem ra dùng. Ngày 3 lần sáng, trưa , tối, mỗi lần 1 ly trà. Dùng liên tục.

Bài 2 « Nhất dạ lục giao »

Thành phần : 1-Thục địa 40g, 2- Đào nhân 20g, 3-Sa sâm 20g, 4- Bạch truật 12g, 5- Vân qui 12g, 6- Phòng phong 12g, 7- Bạch thược12g, 8- Trần bì 12g, 9-Xuyên khung 12g, 10- Cam thảo 12g, 11- Thục linh 12g, 12- Nhục thung dung 12g, 13- Tần giao 8g, 14-Tục đoạn 8g, 15- Mộc qua 8g, 16- Kỷ tử 20g, 17-Thường truật 8g, 18-Độc hoạt 8g, 19- Đỗ trọng 8g, 20- Đại hồi 4g, 21- Nhục quế 4g, 22- Cát tâm sâm 20g, 23- Cúc hoa 12g, 24- Đại táo 10 quả.

Cách ngâm : 24 vị  thuốc trên ngâm với hai lít rưỡi rượu tốt trong vòng 7 ngày.  Lấy 150 g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội rồi đổ vô keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa , chiều trước bữa ăn. Bã thuốc còn lại ngâm nước hai với một lít rưỡi rượu ngon- một tháng sau dùng tiếp.

Chủ trị : Cả hai bài rượu Minh Mạng trên có tác dụng đại bổ thận, bồi bổ thần kinh, gia tăng khí huyết, tăng cường sinh lực, mạnh gân cốt, bán thân bất toại, dương sự kém, tăng tuổi thọ.

Lưu ý trong hai bài thuốc trên, về cân lượng người ta dùng đơn vị Gramme (g). Ngày xưa ở Trung Hoa dùng cân (chin), lượng (liang), phân (fen). Nhưng bây giờ người ta dùng những hệ thống khác nhau về cân lượng, như 16 lượng, 12 lượng, 10 lượng; thậm chí ở các vùng quê, người dân còn dùng hệ thống 18 lượng, 20 lượng và 24 lượng.

Những ấn định về đo lường trong nhiều triều đại đã làm cho vấn đề cực kỳ trở nên phức tạp. Kể từ năm 1979, các miền Hoa lục đã chuyển theo hệ thống thập phân (metric system) thay vì hệ thống cân lượng đã nói, nên trong nhiều sách thuốc in tại lục địa (khác với sách Hong Kong, Đài Loan), hệ thống trọng lượng được thống nhất như sau, để dễ bề tính toán :

1 lượng = 30 g (hiện nay chính xác hơn là 31 .25 g); 1 tiền = 3g; 1 phân = 0,3g

Vậy về phân lượng trong  2 toa thuốc Minh Mạng trên, không rõ lương y chúng ta dựa vào toa nguyên gốc mà đổi ra gờ-ram hay phỏng chừng đổi theo cách thực dụng cho tiện việc cân khi mua thuốc.

Trong toa “Nhất dạ ngũ giao”, những vị thuốc bắt buộc phải kén chọn theo nguồn gốc sản xuất, vì các tên thuốc có kèm tên vùng thổ sản như Tứ Xuyên, Cam túc, vùng Lưỡng Quảng, ví dụ chẳng hạn như phải đòi hỏi thuốc từ Tứ Xuyên như Đương Qui, Ngưu Tất, Tục đoạn, Đỗ trọng, Xuyên khung. Trong khi trong toa “Nhất nhật lục giao”, chỉ có Vân Qui và Xuyên Khung là gốc Vân Nam và Tứ Xuyên, còn những vị Tục đoạn, Đỗ trọng, Kỷ tử thì không nói rõ ở đâu

Hai điều nói trên đây rất quan trọng, là phân lượng những thành phần kê ra trong một toa thuốc Bắc phải dựa trên tình trạng của mỗi bệnh nhân như thể chất yếu hay khỏe, bịnh trạng nặng hay nhẹ, bệnh tình mới hay đã lâu. Thành ra hai bài thuốc kê trên không phải là loại toa rượu đã định chuẩn.

Do đó, với tư cách người viết dù có vô tư nhưng cũng rất thận trọng về ý thức trách nhiệm.

Một điều khác nữa, muốn nêu ra về công hiệu của những ngự tửu. Như trường hợp của rượu Minh Mạng với những tên “Nhất dạ ngũ giao” hay “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” có tính cách khoa trương huyền thoại  chăng ?

Chúng ta hãy thử duyệt lại số con cái của vua chúa nhà Nguyễn :

Chín đời chúa là :

– Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) có 12 con: 10 trai và 2 gái

– Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563- 1635) có 15 con: 11 trai và 4 gái

– Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1601 – 1648) có 4 con: 3 trai và 1 gái

– Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620 – 1687) có 9 con: 6 trai và 3 gái.

– Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1650 – 1691) có 10 con: 5 trai và 5 gái

– Chúa Minh vương (Quốc chúa) Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725) có 42 con : 38 trai và 4 gái (theo nhiều sử ghi có đến 146 con ! Nhưng theo Richard Orband trong Les tombeaux des Nguyễn (1914) và Nguyễn Phúc tộc thế phả (1995) thì chỉ ghi có 42 con)

– Chúa Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ ( 1697 – 1738) có 9 con: 3 trai và 6 gái

– Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ( 1714 – 1765) có 30 con: 18 trai và 12 gái

– Chúa  Định vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1753 – 1777) có một gái

Mười ba đời vua là :

– Gia long (1762 – 1819) có 31 con :13 trai và 18 gái

– Minh Mạng (1791 – 1840) có 142 con: 78 trai và 64 gái

– Thiệu trị (1807 – 1847) có 64 con: 29 trai và 35gái

– Tự Đức (1829 – 1883) không có con tuy nhiều vợ

– Dục Đức (1853- 1883) có 19 con: 11 trai và 8 con gái, chết vì bị giam đói

– Hiệp Hòa (1847 – 1883) có 17 con: 11 trai và 6 gái, chết vì bị ép uống thuốc độc

– Kiến Phúc (1869 – 1884) chưa có vợ con, chết bí mật

– Hàm Nghi (1871- 1943) một vợ, có 3 con: 1 trai và 2 gái

– Đồng Khánh (1864 – 1889) có 5 vợ, 10 con: 6 trai và 4 gái

– Thành Thái (1878 – 1954) nhiều vợ, có 45 con: 19 trai và 26 gái (Vua Thành Thái là một người phát dục rất sớm. Số con của ông còn rơi rớt rất nhiều mà thế phả nhà Nguyễn chưa kiểm tra được. Cung tần chưa đủ cho ngài gần gũi mà còn muốn vi hành ra ngoài nên mới có câu : Kim luông con gái mỹ miều /, Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm liều, trẫm đi !)

– Duy Tân (1900 – 1945) có 2 đời vợ , có  3 trai và 2 gái

– Khải Định (1885 – 1925) có 1 trai

– Bảo Đại (1913 – 1997) có 5 con: 2 trai và 3 gái

Duyệt qua danh sách trên, ta thấy có hai đỉnh cao về con số đông con :

– Đỉnh cao thứ nhất trong đời các chúa có Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ứng vào giai đoạn mà Chúa Nguyễn ở phía Nam (đàng trong) tuyên bố xác định vương quyền độc lập chống  lại vua Lê chúa Trịnh xứ Bắc (đàng ngoài) bằng việc dùng vương ấn và lập kinh đô ở Thuận Hóa.

– Đỉnh cao thứ hai trong đời các vua với vua Minh Mạng ứng với giai đoạn tuyên xưng đế quyền, tuyệt đối với sự ban bố bài Đế Hệ thi 20 chữ trong tham vọng con cháu của ông sẽ làm vua trong 20 đời nữa.

Chính ý niệm  xác định Vương quyền và Đế quyền phải chăng tạo ra nhu cầu sinh sản nhiều tử tức hậu duệ ?! Và “bộ máy đẻ” của nhà Nguyễn là hệ thống cung tần mỹ nữ. Đời Võ vương, vợ lớn nhỏ của chúa không gọi là Chánh hay Thứ phu nhân như bá tính mà đổi ra gọi vợ cả là Tả hành lang và vợ thứ là Hữu hành lang, con cái đẻ ra sợ chuyện ma quỉ bắt (nạn hữu sanh vô dưỡng ) nên Chúa mới đặt ra tục gọi cáccon trai là Mệ, Mụ.

Trong cung cấm nhà Nguyễn, có chín bậc gọi các bà vợ vua từ cao đến thấp gọi là Cửu giai (là : Nhất giai Phi, Nhị giai Phi, Tam giai Tân, Tứ giai Tân, Ngũ giai Tiếp , Lục giai Tiếp Dư, Thấp giai Quý Nhân, Bát giai Mỹ Nhân, Cửu giai Tài Nhân. Người cuối là Cửu giai Tài Nhân có nghĩa  là chưa vô ngạch mà chỉ chuẩn bị còn đang xem xét, chưa thể là một phi cung. Trong thế phả Nguyễn Phúc tộc, một bà tên Cung Nga có lẽ là cung nữ chưa vô ngạch Cửu giai !

Vua nhà Nguyễn không phong vợ lớn là Hoàng Hậu (trừ vua Bảo Đại sau này), vì sợ nạn quốc thích chuyên quyền như các triều Lý, Trần, tước hiệu Hoàng Hậu chỉ phong sau khi chết.

Chính vì hệ thống phi tần mỹ nữ đã làm cho những ông ngự y phải tìm những thang thuốc bổ thận cho vua chúa và những toa thuốc dưỡng thai cho các bà Cửu Giai khi mang bầu, như thế làm gì không đông con. Thức ăn ngự thiện đương nhiên gồm những thứ bổ béo mà bá tính cung tiến .

Vua Minh Mạng chỉ sống đến 50 tuổi vì nghe đâu chết vì té ngựa, thế mà đã có 142 con, nếu vua thọ thêm 20 năm nữa, con cái trực hệ còn đông đến đâu. Hệ của Minh Mạng là hệ nhì chánh (hệ nhứt chánh là hệ hoàng tử Cảnh), là hệ đông nhất gồm 56 phòng và phái nam được 1800 người.

Như vậy những cái tên Nhất dạ Ngũ giao hay Lục giao của Minh Mạng thang là những cái tên đời sau bịa ra cho thần kỳ, chứ mỗi khi một cung phi nào được vua vời tới long sàng, thì tên tuổi và ngày tháng ấy đều được ghi chép cẩn thận để sau này còn chẩn đoán thai kỳ và xác nhận phụ hệ. Những chuyện về:

Cái đêm hôm ấy đêm gì.

Bóng dương trùng bóng trà mi chập chùng

là chuyện thâm cung bí sử, ai mà rõ “ngũ giao” hay “lục giao”. Trong đống văn khố chứa trong Tàng thơ lâu, nếu còn lưu lại những y án hay phương dược của các ngự y dâng lên vua,  đâu là tài liệu xác nhận rằng vào một đêm nào đó có 5 bà phi trong bụng tiếp nhận “long chủng” qua lần ân ái với vua và tên những hoàng nam hay hoàng nữ đó là ai ?

Dựa vào kiến thức y học, câu chuyện “lục giao sanh ngũ tử “ có lẽ là ngoa ngôn hay phóng đại. Chỉ ở trong thần thoại Hy lạp, mới có thần Hercule trong một đêm gần .. 50 cô gái đã làm thụ thai 49 cô. Dẫu sao, xét về số con của vua Minh Mạng thì hậu thế phải công nhận ông thuộc vào loại có khả năng tình dục tuyệt luân. Tính theo mỗi lần giao cấu chỉ bắn tinh khí ra khoảng 2 phân khối rưỡi đến 3 là cùng sau nhiều ngày kiêng giao cấu, mà muốn làm thụ thai, mỗi phân khối tinh khối phải chứa 100 triệu tinh trùng và số tinh trùng quái dị phải dưới 20 % (Xem loạt bài Hạnh phúc lứa đôi đẫ đăng trong blog). Khối lượng và sự đậm đặc của tinh khí thường giảm xuống mau chóng sau nhiều lần giao cấu liên tục.

Như vậy trong một đêm 5 lần 6 lượt giao hợp, thường không phải sinh con mà sinh ra …. bắn súng nước hay bắn khói !

Theo sử sách, hằng đêm, vua thức khuya để coi chương sớ từ  các phiên trấn gửi về đến canh ba (11 giờ khuya) mới đi ngủ. Hoạt động chăn gối về đêm hăng như thế mà ban ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt chứng tỏ Minh Mạng là một người có một “thể chất tiên thiên “ bẩm sinh cường tráng. Những toa thuốc mà vua dùng chỉ là trợ lực cho đường sinh lý chứ không phải là chủ trị quyết định. Hãy nhìn trường hợp của vua Tự Đức (1847- 1883) thể chất tiên thiên bất túc và lúc mới lớn bị đậu mùa, dù là vua có nhiều vợ và được các ngự y chữa trị vẫn không có con.

Nhìn vào thành phần những món thuốc trong hai toa Minh Mạng thang nói trên, chúng ta thấy toàn là những vị bổ dược mà tiệm thuốc Bắc nào cũng có bán và hiệu lực của chúng theo y lý được coi là tư âm bổ dương, tăng cường tinh khí, nâng đỡ thể trạng, chứ không phải là những thức kích dục nhất thời làm cương cứng ngọc hành; hoặc những vật liệu chế từ những tạng phủ hay bộ phận của những con thú nổi tiếng mạnh về sinh lý. Thành ra rượu Minh Mạng chỉ là một loại rượu bổ chống mệt mỏi tổng quát, chứ không giống như những viên thuốc hứng dục như viên Okasa của Pháp chứa Testostérone và Yohimbine, Cantharidine hay những viên Viagra hiện nay chỉ có tác dụng cục bộ làm cương cứng ngọc hành.

Nhiều  y sĩ cho rằng sự mệt mỏi thường là nguyên nhân làm giảm hứng thú khi ân ái. Vua Minh Mạng vốn là một người có thực lực tình dục quán chúng do bẩm sinh nên vấn đề dùng thuốc bổ là sự trợ lực. Nếu phàm nhân tục tử vốn liếng chẳng bao nhiêu không biết tự lượng sức mình, mỏi gối chồn chân mà cứ dùng thuốc kích dục để tiếp tục leo trèo thì quả là tai hại !

Trước 1975 có quyển “Vạn thị Phụ Nhân khoa” do ông Nguyễn văn Tỷ chủ nhà thuốc Hồi Xuân trên đường Nguyễn Thiện Thuật, Sàigòn xuất bản. Trong sách có một đoạn bàn về các toa thuốc bổ tính dục và bí quyết sinh quí tử đại ý như sau :

– Đàn ông muốn sanh quí tử phải đạt đủ ba điều kiện trên ba tiêu chuẩn gọi là Tam chí (Can chí, Tâm chí, Thận chí). Can tức là gan. Can chủ về mộc can tức là gân. Gân khỏe (Can chí) thì gân mới đủ sức cương cứng mà hành sự;

Tâm tức là tim, chủ về huyết hỏa hay năng lượng. Tim tốt (Tâm chí) thì trí não quân bình, năng lực phương cương, sức lực bề dai, tinh trùng mới đủ sức bơi ngược giòng tử cung để thụ thai. Thận tức là cơ quan tính dục gồm dịch hoàn và các hạch nội tiết nang thượng thận, chủ về thủy, tức là tinh khí. Thận khỏe (Thận chí) thì tinh khí đặc, chứa nhiều tinh trùng nên dễ thụ thai.

Suy diễn như trên, cho thấy việc giao hợp lý tưởng là độ cương dương vật đầy đủ, một trí óc quân bình, một nguồn sản xuất tinh khí dồi dào về phẩm và lượng. Như thế, một người thận yếu, tinh khí loãng, cơ thể bạc nhược, gân thịt bèo nhèo mà dùng thuốc kích dục chẳng khác nào quất roi thúc ngựa ròm tiến bước trên con đường xa gập ghềnh.

Một toa thuốc bổ dương hoàn toàn không phải là một toa thuốc chỉ bổ thận kích dục mà theo biện chứng của Đông Y, phải nhắm vào việc bổ dưỡng toàn thân, bằng cách  bồi bổ nội tạng Can, Tâm, Thận.

Tây Y chủ trương đánh thẳng và mau vào ngọn nên hữu hiệu vào những trường hợp cấp tính; còn  Đông Y đánh bền và lâu vào gốc bệnh ly, nên thích hợp cho các chứng kinh niên mãn tính.

Nhìn chung, dùng rượu thuốc là một tập quán, một đặc thù văn hóa của dân ta đã chịu ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sống trong thời hiện đại, mọi người phải có một thái độ suy luận thận trọng trên thực tế khi phải dùng thuốc, ngay cả khi dùng thuốc bổ không phải thuốc bổ nào cũng tốt cả như cái tên được khoa trương “ngũ giao“, “lục giao“… Một vị thuốc nào cũng vậy, bên cạnh công năng trị liệu, còn có thể có nhiều tác dụng phụ. Rượu làm khí huyết lưu thông (Tửu năng dẫn huyết) nhưng đối với những người có chứng huyết áp cao và chứng thống phong (gout) thì không nên dùng.

Tóm lại, rượu thuốc vẫn là rượu bổ nhưng nên dùng thận trọng.

Tiểu sử vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng hay Minh Mệnh (chữ Hán: 明命, 17911841) thời nhà Nguyễn, tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị vua thứ hai (ở ngôi vua từ năm 1820 đến 1841). Ông tên là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈). Được xem là vị vua năng động và quyết đoán, đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội cácCơ mật việnkinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thànhGia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳNam kỳ.

Vua Minh Mạng là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kỳ thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài.

Ngoài việc trừ nội loạn (Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam), Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra.

Do không có thiện cảm với phương Tây, vua Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc. Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo.

Thụy hiệu do vua con Thiệu Trị đặt cho ông là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế (體天昌運至孝淳德文武明斷創述大成厚宅豐功仁皇帝).

RƯỢU “ÔNG UỐNG BÀ CHỜ…” (1)

RƯỢU

“TRỊ BÁCH BỆNH”

THEO DÂN GIAN ?!

– Nguyễn Lê Quan (tổng hợp)

Dân Việt biết uống rượu từ thời thượng cổ, như cuốn “An Nam chí lược”, và “Văn Hiến thông khảo” ghi, rượu được dùng trong cung vua khi khai yến, như chuyện Cù thái hậu bầy tiệc ruợu để ám hại tướng Lữ Gia, chuyện vua Lê Đại Hành và vua Trần Anh Tông ghiền ruợu. Còn theo cuốn “Việt Nam phong tục” cụ Phan Kế Bính viết vào đầu thế kỷ 20 cho thấy :

– “Rượu thì nấu toàn bằng gạo nếp, ủ men rồi cất ra. Trong thứ rượu ấy hoặc ướp thêm hoa sen, hoa cúc, hoa hồng, hoa cau, hoặc hoa nhài v.v.. gọi là ruợu hoa; hoặc tẩm với các vị thuốc bắc gọi ra rượu thuốc.  Rượu hoa quí nhất là rượu sen, rượu cúc, mà rượu thuốc quí nhất là rượu sâm nhung”

Về rượu hoa, chỉ có rượu hoa cau là có vẻ đặc thù Việt Nam, vì các thứ hoa khác thì Ta với Tầu đều có. Còn hoa cau thì chỉ Việt Nam mới có sẵn và có nhiều, vì tục ăn trầu cau ở ta; trồng cau cốt lấy trái ăn, ít ai dám hy sinh lấy hoa cau mà cất rượu, nên rượu hoa cau trở nên quí; cũng như trong Nam, ăn đuông chà là, đuông dừa, nhất là cù hủ dừa chỉ có dân VIP, dân giàu mới dám ăn vì phải đốn nguyên cây mà chặt lấy cái  tù hũ dừa!.

Theo Lê Quí Đôn, nước ta là xứ sản xuất nhiều cây thuốc nên bên Trung Hoa thường phải mua của chúng ta. Nếu người Trung Hoa mua dược thảo sống về bào chế ra thuốc chín hay thuốc Bắc, thì chúng ta dùng dưới dạng tươi hoặc phơi sấy gọi là thuốc Nam. Còn giới “ma tửu” lại có truyền thống ngâm rượu với các thổ sản tùy theo đặc sản từng vùng như rượu mơ, rượu mít, rượu vỏ cam… Còn ngâm những toa thuốc hay ngâm những động vật thì nguồn gốc có lẽ ảnh hưởng theo cách ngâm Y dược của người Trung Hoa. Như ngâm rượu thuốc với sâm nhung, các thứ cao (hổ cốt, ban long…)…  và những thứ động vật dân dã hoặc quý hiếm khác. Đó là nói theo sách, còn thực tế ít ai chế biến các thứ rượu thuốc đúng theo toa của các thầy lang.

Đừng nghĩ các quán nhậu và kể cả các tiệm thuốc Bắc, nhất là ở vùng rừng núi Tây Nguyên hay miệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, người ta bày bán các loại rượu thuốc đúng tiêu chuẩn 100%.

Thật ra với một xị ghi giá từ 13.000đ đến 18.000đ đôi khi đến 25 hay 30 ngàn đồng/xị (một lít tương đương 50.000đ, 70.000đ) thuộc nước 1, nhưng chỉ là rượu nước 2 và 3 được pha thêm nước và đế. Còn muốn đúng chủng loại, chẳng gì bằng chúng ta tự mua “nguyên vật liệu” về ngâm chế thì mới thật công hiệu để khi “ông uống bà khen ngon”.

Rượu thuốc hay rượu dân tộc là tên gọi, chỉ các loại rượu ngâm rất phổ biến trong hệ thống đồ uống của ẩm thực, và thường được quảng cáo là các loại rượu cường dương hay bổ âm. Rượu ngâm đa số là rượu trắng có nồng độ cao, ngâm với các nguyên liệu như dược thảo hoặc động vật có dược tính theo các phương pháp cổ truyền, với ý nghĩa không chỉ để cho chúng ta thưởng thức hương vị của rượu mà hầu hết sử dụng như một loại thuốc. Hầu như gia đình nào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đều có một vài bình rượu thuốc trong nhà và có những bình được để rất lâu.

Rượu ngâm thảo dược

Thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) được sơ chế và ngâm trong rượu. Có rất nhiều loại rượu ngâm với các loại thảo dược, thường theo hai phương thức : hoặc ngâm rượu riêng từng loại hoặc ngâm hỗn hợp theo các bài thuốc cổ truyền. Trong thực tế, tùy địa phương, vùng miền có nhiều bí quyết ngâm rượu riêng, tuy nhiên người ta thường thấy rượu được ngâm với dâm dương hoắc, sâm các loại, kỷ tử, táo tàu, cùi nhãn, cùi vải, củ và rễ đinh lăng, cây mật gấu, thục, ba kích, chuối hột, , tầm gửi (đặc biệt tầm gửi gỗ nghiến), quế chi, xuyên khung, nhục thung dung, hà thủ ô v.v.

Rượu ngâm động vật

Các loại động vật hoặc một phần của động vật được ngâm rượu, ngoại trừ những loại đã được kiểm nghiệm là có dược tính cao độ (rắn, tắc kè, bìm bịp, hổ cốt, cá ngựa…), nhiều loại chỉ được ngâm theo kinh nghiệm với nguyên tắc “đồng tạng trị liệu” (phương thức chữa bệnh dựa trên cơ sở dùng phần nào của cơ thể động vật làm thuốc hay thức ăn sẽ bổ cho phần cơ thể của con người), chẳng hạn dương vật hổ, tinh hoàn được ngâm rượu với ý nghĩa dùng để bổ dương.

Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, chỉ sơ chế qua và không nấu chín. Cá biệt có một số loại được ngâm nguyên con. Một số động vật (tắc kè, hải mã) và thực vật (tam thất, nấm linh chi) phơi, sơ chế được bày bán trên các phố lớn được dùng để ngâm rượu thuốc

Rượu ngâm nguyên con thường gặp rượu rắn ngâm theo số lẻ một con (thường là rắn hổ mang, hổ chúa), 3 (rắn hổ mang, rắn ráo), 5 con hoặc nhiều hơn; rượu tắc kè; bìm bịp, chim sẻ, cá ngựa (hải mã), ong đất, ong bò vẽ (có thể ngâm nguyên cả mảng sáp tổ ong với mật, phấn hoa, nhộng và con ong hoặc ngâm con ong riêng); rượu hải long (rồng biển, sao biển); rượu tằm; rượu sâu chít, rượu hải sâm, rượu sò huyết, rượu ngán v.v.

Rượu ngâm từng phần tạng phủ động vậ t: rượu ngâm bào thai (dê, bê, hổ, khỉ), tinh hoàndương vật (dê, hải cẩu, hổ), tiết động vật (rắn, dê), mật (mật gấu, mật rắn, mật trăn), óc (khỉ), tay (gấu) v.v.

Rượu ngâm các loại cao động vật : cao xương hoặc cao toàn tính (nấu cao cả xương và thịt động vật) được ngâm với rượu, thường thấy rượu cao hổ cốt, rượu cao khỉ, rượu cao trăn, rượu cao sơn dương v.v.

Trong thực tế, thường gặp là các loại rượu ngâm hỗn hợp cả động vật và thực vật. Một số loại rượu ngâm động vật rất tanh (như rượu rắn) tuy ngâm riêng nhưng khi uống vẫn thường được pha với các loại rượu thực vật có tinh dầu thơm (như quế chi) để át mùi tanh.

Uống rượu rắn :

Chúng ta thường nghe nói đến uống rượu với máu rắn. Sách “Thoái thực ký văn” của Trương Quốc Dung (từng làm quan tri phủ ở đất Tân Bình, Gia định, thời Minh Mạng có chép :

– “Tục Nam kỳ lấy rắn hổ mang làm món ăn quí, thường dùng đi lễ quan trên và đãi khách. Lấy máu nó hòa với ruợu uống bảo là trị phong thấp”

Trong khi ở đất Bắc thường chỉ biết ăn rắn do người Tầu (Trung Hoa) nấu ở mấy tiệm cao lâu qua món “Long Hổ hội” (nấu một con rắn cạp nong đen, một con mèo đen cùng với chân giò heo thêm vài vị thuốc bắc. Nhưng qua cuốn “Thoái thực ký văn” chúng ta mới thấy dân miền Nam rất độc đáo ly kỳ trong việc dùng rắn dùng để ăn hay ngâm rượu. Người dân vùng núi hay vùng đầm lầy Nam Bộ người dân hay tự nuôi lấy rắn “ống tre” để ăn. Cách nuôi ghi theo cuốn “Đất lề quê thói” của Nhất Thanh, như sau :

– “ Bỏ đầu và đuôi năm tấc (20 phân) cho là độc ở đó. Có nhà  nuôi rắn ấy dùng ống tre vài lóng, một đầu để mắt, đầu kia để trống bỏ rắn vào, bịt lại. Đằng mắt tre xuyên một lỗ nhỏ, giã hành thun tẩm que tre để vào lỗ. Rắn sợ hành co mình lại, một tuần sau thay que tre cũng tẩm hành mà đẩy vào thêm, rắn càng co mãi, lâu dần ngắn bằng con chạch, vẩy trắng ra, rất béo ngon” .

Cách thức ngâm rượu những loại rắn trong cuốn “Trung Quốc Trà Tửu Từ điển” có kê ra Ô Xà tửu và Xà Đảm tửu tức dùng mật của 3 thứ rắn Nhãn kính xà,  Kim Hoàn xà, Ngân Hoàn xà, nói là công hiệu khu phong, khử thấp, minh mục, ích can, cường cân tráng cốt.)

Theo “Bản thảo cương mục”, rắn thuộc hướng đông nam nên ứng vào phong, tác dụng vào Can và Thận. Do đó, ăn rắn và uống rượu rắn dân Á Đông tin là trị được chứng phong thấp, đau xương và rút gân. Mật rắn quí vì  thuộc về hành Mộc, khí Phong, ứng với tạng Can phủ Đảm, nên bao nhiêu tinh chất của rắn cô đọng trong túi mật. Đó là luận thuyết theo Y lý khí hóa của Đông phương. Còn người dân ít học trong con mắt của họ do lý luận bắt nguồn vào sự quan sát thực tại, nghĩa là bản chất sự vật thế nào thì hình hài của nó hiện ra thế ấy (như chữ ký vậy), rắn bò sở dĩ thoăn thoắt uyển chuyển chính là nhờ khớp xương lưng nó mềm mại, và dẻo dai. Hiện nay, người ta đã thực nghiệm chế những thuốc trị đau khớp với thuốc Chondroitin và Glucosamine lấy từ sụn xương lưng của cá mập, cá nhám (Kình ngư). Vi cá được coi là sản phẩm quí giá trong các món súp , món nhồi bồ câu và nhân bánh Trung thu vì sự tin tưởng trên.

Nên uống rượu rắn, khi ngâm rắn càng độc càng quý, như hổ mang, cạp nong, cạp nia…

Cách ngâm : Rắn 1 bộ khoảng 3-5 con, các vị thuốc gồm : thương truật, xuyên khung, tần giao, mộc qua, thiên niên kiện 150g; xuyên quy, độc hoạt 200g; dây đau xương 300g, (các loại này các tiệm thuốc Bắc khắp cả nước đều có bán), rượu trắng 5-7 lít. Thời gian ngâm càng lâu càng tốt, tối thiểu là một tháng có thể dùng được.

Rượu hà nàm và tử hà xa :

Chuyện lấy hà nàm (bào thai) loài thú không phải là chuyện lạ, nhất là những vùng săn bắn hay bẫy được thịt rừng.

Hà nàm thông thường là hà nàm nai. Mới đây có nhóm học sinh ở phía Bắc đã quay một cảnh phim tài liệu (được giải thưởng sơ khảo từ trong nước, và được mời đi Nhật dự vòng chung kết) đồn rằng các dân VIP, hay mấy phụ nữ cần dưỡng thai, rất  thích tẩm bổ bằng “hà nàm người”(?!). Điều này bị báo chí cho rằng, nhóm học sinh chỉ dàn dựng chứ không có việc người ăn “hà nàm người”; nhưng ăn những nhau người (cuốn rún trẻ  sơ  sinh vớiI người mẹ khi sinh đẻ. Sách thuốc gọi là “tử hà xa” vì hình tròn như lá sen).

Với chuyên môn của một bác sĩ sản khoa, xác nhận là có việc ăn nhau người. Ở Bệnh viện Quảng Đông, Từ Dũ, Hùng Vương trước đây có những người lấy những lá nhau con so tốt đem về ngâm rượu. Lá nhau chứa kích thích tố Chrionic Gonadotrophin nên có một dạo người ta có phong trào uống xia rô nhau và cấy nhau theo phương pháp Filatov của Nga.

Bây giờ nhiều nhà bảo sanh rất quý nhau người, các bác sĩ phân loại nhau người  như sau : loại A là nhau con so, loại B là nhau con thứ 2 mà mẹ khỏe mạnh, nhau lấy ra trọn vẹn để đem chế xia rô hay cấy nhau, còn loại C là nhau con rạ thì đem làm thực phẩm nuôi gia súc, nhất là cho heo ăn chóng lên ký. Một vị bác sĩ làm việc ở bệnh viện Quảng Đông cho biết, máu của các sản phụ khi người ta sổ nhau được, hứng rồi giao cho những ao nuôi cá sẽ làm cá sanh đẻ nhiều, điều này cũng lô- gíc vì thứ máu này có chứa nhiều chất : ngoài kích thích tố chorionic gonado trophin., máu đẻ còn chứa những chất hữu cơ như hồng huyết tố, chất sắt v.v…

Thành ra ruợu hà nàm thú vật trên nguyên tắc là một thứ ruợu bổ, nhưng không ai dám nói những hàm chất tươi sống của nó có bị tiêu hủy vì ngâm rượu không ?

Theo sách “Trà Tửu từ điển”, rượu ngâm hà nàm nai gọi là Lộc thai tửu.

Về bộ phận sinh dục của thú vật, dân nhậu trong Nam còn  có rượu ngâm hòn dái dê (Ngọc dương tửu). Ngoài ra, tiệm thuốc bắc bán rất đắt món Hải cẩu thận (gồm dương vật và ngọc hoàn của con hải cẩu) trị chứng hư lao, liệt sinh lý, yếu bại lưng gối. Món Đông trùng hạ thảo (Cordyceps) cũng là một dược liệu quí trị liệt dương, di tinh , đau lưng gối bán rất mắc

Rượu bìm bịp :

Mé chân cầu Ngã Bảy Phụng Hiệp qua tỉnh Hậu Giang trên con đường xuyên Việt có một khu chợ nổi tiếng về cung cấp đặc sản rùa rắn, các loài chim. Đến đây muốn mua loài chim nào cũng có: Gà nước, ốc cao, cuốc, tràng kịch… Vài năm gần đây có thêm món hàng “độc” là chim bìm bịp cho giới ma tửu. Khách mua từ khắp nơi đổ về, người bán cũng góp mặt từ các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… Những nơi đó có rừng tràm rậm rạp cho bìm bịp sinh sôi trú ngụ.

Giới mê tửu dược cho rằng bìm bịp là “số 1” về tính năng bổ thận, tráng dương… do loài chim này thường sống chung với rắn độc, lại ăn thịt rắn độc nên xương thịt nó có thêm dược tính của rắn. Bìm bịp ngâm rượu cùng vài vị thuốc bắc chữa chứng đau lưng, mỏi gối, làm cánh đàn ông thêm… “sung sức”.

Nên dân miền Nam coi rượu bìm bịp là một rượu quý, trị nhức mỏi và cứng gân cốt. Ở nơi có bìm bịp làm tổ người ta thường đến tổ bìm bịp mới sinh con, bẻ gãy chân những con bìm bịp con, sau đó chờ cho mẹ chúng tha những cây thuốc về trị bệnh cho chim con. Lúc bấy giờ bắt chim non và cây thuốc (nếu có) đem về ngâm rượu, vì cho rằng trong con bìm bịp con có chứa những cây thuốc có đặc tính tiếp cốt vừa được bìm bịp mẹ mớm cho.

Cách ngâm : bìm bịp 2 con để nguyên tính, tiểu hồi 6g, rượu trắng 2 lít. Ngâm trong 3 tháng là có thể dùng được.

C ó những bài thuốc ngâm rượu khác :

– Bìm bịp 2 con (1 lớn, 1 nhỏ) làm thịt, để tươi; tắc kè 1 con, làm thịt, phơi khô; củ sâm cau 100 g phơi khô. Tất cả ngâm với 1 lít rượu 30-40 độ, càng lâu càng tốt. Ngày 2 lần, mỗi lần uống 30 ml.

Ruợu bao tử nhím :

Nhím là loài hay bới đào để ăn rễ những cây thuốc mọc sâu dưới đất, nên dân miền Nam cũng bắt nhím mổ lấy bao tử ngâm rượu cho rằng rất tốt. Con nhím chữ Nho là Hào trư (nhím chồn) và Thích vị (nhím chuột), nhưng trong “Tuệ tĩnh toàn tập” thì không thấy nói đến dùng bao tử nhím mà chỉ nói thịt của nhím chồn s ẽ làm tiêu bệnh cổ trướng (bụng báng nước), trị nhiệt phong; còn da nhím chuột (nhím gai) giết được trùng bệnh  trĩ, đau lưng, đau bụng. Sách thuốc Trung Hoa không thấy nói về rượu ngâm bìm bịp và bao tử nhím như ở xứ ta.

Ruợu Nhung :

Nhung là gạc non của con hươu khi cái gạc già rụng đi, có màu đen xám hay vàng mơ, nếu mọc vào tiết Hạ Chí thì gọi là mê nhung, bổ phần âm huyết; còn mọc vào tiết Đông Chí thì gọi là lộc nhung, bổ phần dương khí. Mê nhung thường lớn hơn lộc nhung. Còn về phẩm chất, thường tùy theo xuất xứ : gạc nhung vùng Chợ Bờ (miền Bắc) tốt 10, vùng Thanh hóa tốt 8, vùng Lào thì xấu, vùng Đà lạt vừa dùng. Ở vùng biên giới giáp hai nước Việt – Trung, các lái buôn bán gạc Nhung phần lớn mua lại từ Thái Lan cũng không được tốt. Nói chung, về trị liệu thì Nhung tư âm bổ thận, chữa bệnh âm hư lao tổn và những chứng thuộc phần huyết (phụ nữ cũng nên dùng) hoặc gân xương lưng gối đau nhức (phục vụ người già).

Cách ngâm : 20-40g nhung hươu trong 500ml rượu, sau 7 ngày có thể dùng được; hoặc nhung hươu 30g, bỏ lông thái lát, sơn dược 30g, cho cả 2 dược liệu vào túi lụa buộc lại cho vào bình rượu khoảng 500-1.000ml, ngâm trong 7 ngày có thể lấy ra uống. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa, chừng 30ml. Thông thường Nhung phối hợp với Sâm. Sâm đây là Nhân sâm mà xứ ta không có nhưng mua tại các tiệm thuốc Bắc lớn thì có.

Ruợu Lộc Nhung của Trung Hoa (kén chọn hươu ở Liễu Ninh hay Cát lâm) thường ngâm thêm gân hươu, các vị thuốc bắc như bắc kỳ, thục địa và nhiều vị khác. Phân chất Lộc Nhung thấy những thành phần : Steroids, Cholesterol; về chất béo lipids có proteolipids, ganglioside, sphingomyeline; và muối khoáng thì có Calcium phosphate, Calcium carbonate.

Rượu hổ cốt  :

Trong họ Mèo, cọp là loài động vật to khỏe nhất. Đầu to tròn, cổ ngắn, tai nhỏ ngắn; bốn chân to khỏe, móng rất sắc và nhọn, đuôi dài bằng nửa thân, có giá trị kinh tế rất lớn, thịt ăn ngon và bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi thành cọp bông; còn xương cọp dùng làm thuốc chữa bệnh yếu xương, viêm xương.

Trung bình một bộ xương cọp lớn nặng từ 10 có thể lên đến 16 kg, còn cọp nhỏ chỉ cho xương chỉ chừng 4-5 kg. Căn cứ vào sức nặng của bộ xương, người ta xác định được giá trị và phẩm chất của Cao Hổ Cốt, và giá mua xương cọp cũng đã khác nhau.  Bộ xương cọp dưới 4 kg được coi là loại xấu.

Toàn bộ xương cọp đều tốt trong việc nấu cao, nhưng xương 4 chân và xương đầu được coi quý nhất, đặc biệt xương chân trước không thể thiếu, vì tỷ lệ xương chân trước có một lỗ hổng đặc biệt gọi là mắt phượng, có thể dùng phân biệt thực giả.

Theo kinh nghiệm người miền núi, khi nấu cao hổ cốt ít khi sử dụng một loại xương cọp, mà phối hợp với xương nhiều con vật khác và các vị thuốc thảo mộc như thiên niên kiện, địa liên v.v… Và theo kinh nghiệm, toa Hổ cốt mộc qua ngâm rượu rất thông dụng.

Phân chất Hổ cốt thì thấy có nhiều Kalium carbonate hay muối bồ-tạt. Sách “Trung Hoa trà tửu từ điển” nói rằng, bào chế Hổ cốt tửu Bắc kinh (chắc là rượu vua dùng), ngoài xương ống chân cọp (hĩnh cốt) là chính, còn ngâm thêm  đủ thứ như nhân sâm, lộc nhung, xạ hương, hồng hoa, mộc qua, nguyên hoạt, ngưu tất… cọng cả thẩy 147 vị thuốc bắc.

Nên khi nấu tốt nhất kiếm đủ 5 bộ xương : gồm một cọp, một khỉ, một sơn dương vì xương cọp là vị thuốc chủ yếu (vua) đi kèm theo hai vị thần (quan), có nghĩa có vua có quan.

Tại nước ta ít khi thấy dùng xương cọp làm thuốc, nhưng tại Trung Hoa người ta dùng xương 4 chân, xương đầu và xương cổ, nhưng phải loại xương màu vàng mới tốt. Khi dùng lấy chày đập vỡ, cạo bỏ tủy, đổ bằng rượu hay bằng dấm. Rồi nướng trên than thành màu vàng nhạt dùng để sắc uống hay dùng ngay xương này để ngâm rượu.

Xương và cao hổ cốt là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong dân gian, chủ yếu dùng trong những bệnh đau xương, tê thấp, đi lại khó khăn, đau nhức và còn dùng trong những bệnh cảm gió hay bị điên cuồng.

Một hình thức dùng cao hổ cốt làm thuốc bồi dưỡng : làm thịt một con gà giò, mổ bỏ ruột. Cho vào bụng con gà một miếng cao hổ cốt nặng chừng 10 – 20g. Rồi đặt con gà có cao hổ cốt vào một cái nồi đất hoặc nồi tráng men (tránh nồi kim loại) có nắp. Thêm vào một chén rượu nhỏ, không cho nước vào nồi. Đặt tất cả vào nồi để nấu cách thủy. Nước trong thịt con gà sẽ hòa tan cao và các chất trong thịt gà cho thật chín nhừ. Chỉ lấy chất nước tiết ra mà cho người đau yếu ăn.

C òn theo dân dã thì cách chế biến, lấy một bộ xương ống chân hổ sao vàng, giã nhỏ rắc men ủ thành rượu; hoặc cho vào trong cái bao bằng vải rồi dầm rượu. Công dụng : Rượu cao hổ cốt chữa đau trong ống chân, nhức các khớp xương và chữa thận, bàng quang lạnh.

Rượu rùa

Rùa sống lâu đến 500 năm, dù nhịn đói hai ba tháng  cũng không chết. Chế “Qui nhục tửu” bằng cách lấy thịt rùa hòa lẫn với men, rồi ủ cho thành rượu. Ruợu này chữa chứng ho lâu năm, chứng phong co quắp tay chân hay bại xuội. Mu rùa là “Qui bản” trị các chứng xích đái, bạch đái, thấp nhiệt lở ở hạ bộ, chứng trĩ và thóp trẻ con không liền được. Phân chất mu rùa thấy có nhiều muối Calcium. Ngoài ra, sách Trung Hoa có nói về “Qui giao tửu” dùng mu rùa đen nấu thành cao, rồi ngâm rượu với câu kỷ, kim anh tử, đảng sâm,  đương qui; có tác dụng tư âm, bổ thận, cường thân tráng thể . Qui Lộc tửu rất quí lại dùng mu rùa (qui bản), nhung hươu và 10 vị thuốc khác mà chế ra.

Rượu tắc-kè:

Muốn rượu có công hiệu phải ngâm tắc kè còn nguyên đuôi, nếu có cả con đực và con cái đang “dính chặt” với nhau thì càng tốt. Tắc kè vị mặn, tính bình, hơi độc, công dụng hư lao, ho lao, ho ra máu, hen suyễn, tiểu đường (đái tháo đường), suy nhược thần kinh, liệt dương, di mộng tinh, suy giảm khả năng tình dục… (đây là thứ rượu “ông uống bà khen ngon” thật tuyệt vời). Khi dùng bỏ mắt và kỳ trên sống lưng, tẩm rượu nướng khô mới dùng.

Còn khi ngâm tắc kè bao giờ người ta cũng ngâm với một số vị thuốc khác như nhân sâm, hạnh nhân, phục linh. Ngâm càng lâu càng tốt.

Trong Nam phân biệt tắc-kè (hay cắc-kè) với cắc-ké kỳ nhông : Theo Việt Nam tự điển của Lê văn Đức & Lê ngọc Trụ, tắc kè là loài bò sát dài độ 20 cm, bụng to đuôi ngắn, sống trong kẹt hóc, không ưa ánh sáng, thường kêu ban đêm (có những loại tắc kè bông, tắc kè lửa). Còn  cắc-ké kỳ nhông là loài bò sát mình ba góc thon dài, gáy có gai, đuôi dài, mình màu xanh, tím vàng đỏ đổi màu tùy theo chỗ, sống trên cây cối, ăn sau bọ, đẻ trứng thật nhiều dưới đất sâu. (Cắc-ké kỳ nhông hay còn gọi cắc ké lục chốt chỉ thuộc hạng thấp thỏi chầu rìa).

Tắc- kè có tên chữ nho là cáp-giới, đọc theo âm Tàu là Ke-Chieh, kỳ thực là tiếng kêu khi chúng muốn bắt cặp, con đực kêu tắc tắc như con thạch sùng, con cái đáp kè.

Sách thuốc Trung Hoa nói tắc kè rất nhiều ở Quảng Đông và Quảng Tây.  Hiệu lực làm thuốc của tắc kè  là phải có đủ nguyên cái đuôi; khi người ta rình bắt nó, nó thường cắn đuôi bỏ chạy. Khi tắc kè đực cái bắt cặp thì chúng ôm nhau sát, rồi cùng té xuống đất mê man không còn biết trời trăng, khó mà gỡ ra được. Do đó, người ta mới bắt cả cặp bỏ vô rượu, hấp rồi phơi khô để bán là thuốc khích  dâm cường dương.

Tắc kè vị mặn, tính bình, hơi độc, công dụng khai phế khí, chữ hen suyễn, ho lao, lợi thủy thông kinh, chữa què gẫy.  Mắt nó độc, nhưng đuôi lành.. Khi dùng bỏ mắt và kỳ trên sống lưng, tẩm rượu nướng khô mới dùng. Con nào đứt đuôi thì dược lực kém không nên dùng.

Theo sách Trung Hoa “Trà Tửu từ điển”, Cáp giới tửu đủ 2 con đực cái dính cặp mới thiệt tốt. Người ta dùng cắc kè còn tươi sống phối hợp với lộc nhung, đảng sâm, câu kỷ tử , viên nhục, huỳnh tinh, hoài sơn, hắc táo, tỏa dương, đương qui, bắc kì, nhục thung dung, xuyên khung… cùng vài thứ linh tinh khác ngâm trong rượu gạo thứ thiệt. Hương vị rượu rất thuần hòa, hiệu lực nuôi âm, bổ thận, bổ huyết dưỡng nhan (bổ máu và làm tăng sắc đẹp ở phụ nữ).

Những công thức khác :

– Tắc kè 50g; ba kích, hà thủ ô, hoàng tinh hoặc thục địa mỗi vị 100g; đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35 độ để được 30 0ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với rượu 35 độ để được 700 ml. Hòa lẫn hai rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 15-20 ml sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.

– Hoặc Dâm dương hoắc 12g; ba kích, sa sâm mỗi vị 16g; thỏ ty tử, nhục thung dung, kỷ tử mỗi vị 12g; đỗ trọng, đương quy mỗi vị 8g; cam thảo 6g; đại táo 3 quả. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, ngâm với 1 lít rượu 35-40 độ (càng lâu càng tốt). Uống trong vòng 1 tuần.

– Dâm dương hoắc 60 g, ngài tằm đực 100 g, kim anh 50 g, ba kích 50 g, thục địa 40 g, sơn thù du 30 g, ngưu tất 30 g, kỷ tử 20 g, lá hẹ 20 g, đường kính 40 g. Tất cả ngâm với 2 lít rượu 40 độ. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 ml trước hai bữa ăn chính và khi đi ngủ.

Rượu cá ngựa (còn gọi Hải Mã) :

Hải mã đã chế biến 30g, bàn long sâm 30g, cốt toái bổ 20g, long nhãn 20g. Tất cả ngâm với một lít rượu trắng trong 5-7 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 20-40 ml. Người không uống được rượu đặc, pha thêm nước và mật o­ng mà uống.

(CÒN 1 KỲ : RƯỢU MINH MẠNG)

Thế giới thần bí (2)

NHỮNG ĐIỀU KỲ BÍ TRONG THẾ GIỚI TÂM LINH

TỤC VAY TIỀN THÁNH

– THIÊN VIỆT (bài 2)

Tục vay tiền Thánh có thể xuất hiện từ thế kỷ XVIII tại nước ta, theo các sách nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, chuyện vay tiền Thánh có xuất xứ với tích Bà Chúa Kho, càng về sau qua tục thờ Mẫu, thờ Ông khắp nước, đến các đền miếu như Bà Chúa Xứ, Linh Sơn Thánh Mẫu, Chùa Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Ngọc, đền Đức Thánh Trần , Ông Bổn, Chùa Ngọc Hoàng, Lăng Ông Lê Văn Duyệt v.v… đều được bá tánh thập phương đến vay tiền hàng ngày.

Ngược dòng lịch sử ta tìm hiểu về tục vay tiền từ truyền thuyết của Bà Chúa Kho.

Bà Chúa Kho là một nữ thần được dân chúng tôn kính rất mực, tên gọi phần lớn do dân gian sùng bái mà thành, nhưng tiểu sử của Bà lại là một nữ nhi quả cảm, một phụ nữ đứng ra lo việc lương thực cho muôn binh dưới thời đại nhà Lý.

Bà xuất thân trong một gia đình nghèo ở làng Quả Cảm, được vua Lý (không rõ đời vua Lý nào, vì triều đại nhà Lý có 9 đời vua kế tiếp trị vì đất Đại Việt đến 215 năm, từ 1010 đến 1225) lấy lam vợ.

Khi ấy đất nước còn chưa khai hoang lập ấp nhiều, ruộng đất còn bỏ hoang, Bà liền xin vua cho đi chiêu dân khai khẩn đất trồng lúa. Tháng tám vào mùa nước nổi, nhưng Bà không hề ngại gian khổ, tay đeo quai tay vãi trấu từ Quả Cảm đến núi Bãi, trấu trôi đến đâu Bà cắm địa giới đến đó.

Triều đình nhà Lý bấy giờ có đặt ở Cổ Mễ và Thượng Đồng (Bắc Ninh) những kho lương thực lớn, nhà vua giao Bà trông nom, cùng số tù binh người Champa và Trung Hoa bắt được mỗi lần giao chiến, để phục vụ trong trang ấp.

Có tất cả 72 trang ấp có những tù binh như thế, Bà bắt họ làm ruộng, gặt hái xong số thóc gạo được đưa về kho. Nên lương thực trong nước không bị thiếu hụt nếu có thiên tai địch họa xảy đến.

Sau khi Bà chết, dân chúng nhớ đến ơn Bà liền lập đền thờ tại Cổ Mễ (Vũ Ninh, Bắc Ninh) và lấy ngày 10/1 âm lịch làm ngày giỗ hàng năm.

Lai lịch ngôi đền Bà Chúa Kho được lập năm nào cũng chưa thấy sách nào nói rõ, nhưng hiện nay ngôi đền được trùng tu có quy mô hơn xưa, nằm tại núi Kho và có tên “Chủ Khố Linh Từ”. Bà còn được phong là “Truy nương tướng thần nữ” và “Linh Từ Quốc Mẫu”.

Truyền tích về Bà Chúa Kho không mang tính thần kỳ như những nữ Thần, nữ Thánh khác. Tuy vậy theo các nhà nghiên cứu lịch sử, Bà không phải là hoàng hậu của vua Lý, mà là công chúa thứ 6 của vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072), có tên Lý An Quốc, sinh ngày 12/4 năm Giáp Ngọ, con của thứ phi Lê Thị Mai, sau khi Lý An Quốc lên hai thì bà mất (An Quốc là con gái đầu lòng của bà, sở dĩ đứng hàng thứ 6 vì Hoàng hậu Thượng Dương sinh được năm người con cũng là gái). Do hai người vợ đều không có con trai, nên vua Lý Thánh Tông cưới thêm bà Ỷ Lan lập làm Nguyên phi, bà Ỷ Lan sinh được Hoàng thái tử Càn Đức (sau kế tục ngai vàng lấy tên triều đại là Lý Nhân Tông 1072-1128).

Sau khi mẹ chết, Lý An Quốc ở với Hoàng hậu Thượng Dương, lớn lên được tiếng học giỏi thông minh, lanh lẹ tháo vác được cả triều đình yêu mến. Tới tuổi cập kê, vua Lý Thánh Tông gả An Quốc cho Hoàng Lục người Cao Bằng.

Năm 1076, nhà Tống bên Trung Hoa sai Quách Quỳ tiến quân đánh chiếm đất Đại Việt. Phò mã Hoàng Lục chồng công chúa Lý An Quốc tử trận tại Cao Bằng (Hoàng Lục sau hiển Thánh, vì vậy trong đạo thờ Tứ phủ có ông Hoàng Lục nhưng ít về nhập vào các giá đồng), khi đoàn quân thứ hai của Tống triều do Miên Lý phó tướng của Quách Quỳ dẫn quân vào ngả này.

Tướng quốc Lý Thường Kiệt cho xây phòng tuyến từ Thái Nguyên đến Phả Lại. Tại sông Cầu, ông giao Lý An Quốc giữ chức hậu cần, đóng kho ở vùng Trúc Lác (phía bắc sông Cầu) và kho Vũ Ninh (phía nam sông Cầu) để phân phối lương thực cho quân sĩ từ Thái Nguyên đến Phả Lại.

Sau khi Quách Quỳ chiếm Lạng Sơn, công chúa An Quốc biết khó lòng giữ vững phòng tuyến phía bắc sông Cầu, Bà ra lệnh giải phóng kho phía bắc qua phía nam, mặt khác cho dân vay thóc không lấy lãi, còn người nghèo được phát thoc cứu tế để lương thực không rơi vào tay giặc Tống.

Tháng giêng năm 1077, phó tướng thứ hai là Yến Anh của Tống triều đánh chiếm được phía bắc, thừa thắng chúng xua quân xuống phía nam, nhưng bị lực lượng của tướng quân Lý Thường Kiệt đánh chận. Quân Tống cạn lương thực muốn chiếm kho lương tại Vũ Ninh, nên bao vây và gửi thư chiêu dụ Lý An Quốc giao kho lương thì Bà và quân sĩ sẽ an toàn tính mạng.

Biết thế giặc mạnh, Bà giả vờ thuận ý để kéo dài thời gian chỉnh đốn lại binh mã, rồi sai người dùng diêm sinh lưu huỳnh, dầu phọng chuẩn bị thiêu hủy dãy quân lương Vũ Ninh gồm 9 kho gạo, 2 kho vũ khí để không còn thóc gạo rơi vào tay quân Tống.

Chuẩn bị xong, Lý An Quốc ra lệnh phóng hỏa và cho quân sĩ mở đường về đông nam, đánh với giặc theo kế điệu hổ ly sơn, mặt khác cho quân chạy ra hướng tây bắc đến Yến Phong. Còn Bà ở lại chỉ huy cánh quân đông nam, dặn dò quân sĩ nếu Bà có mệnh hệ mà hy sinh thì phải giấu xác không cho giặc cướp thây.

Quả đúng như Lý An Quốc suy tính, vào giờ thìn ngày 16/2/1077 (tức 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ), Bà anh dũng hy sinh sau khi bị 24 mũi tên của giặc, khi đó Bà mới 23 tuổi vừa chết chồng và chưa có con.

Nguyên phi Ỷ Lan rất thương tiếc, sai lập miếu thờ Bà tại chân núi Vũ Ninh (tức đền Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh ngày nay) và phong Bà chức “Lý chiêu phong chi cục hậu cần”.

Tuy nhiên đền thờ Bà Chúa Kho không chỉ có ở Cổ Mễ, tại Hà Nội có đền Giảng Võ cũng thờ Bà Chúa Kho với một sự tích khác như sau :

– Đời nhà Trần, Lý Quýnh quê Cổ Pháp (Đình Bảng, Bắc Ninh) làm chức Điện Bộ Binh Lương, chuyên về kho vận quốc phòng. Kho lương này đóng ngay kinh thành Thăng Long, nên ông lấy thêm bà Nguyễn Thị Duyên, còn bà cả tên Trần Thị Đoan có với ông bốn người con trai. Bà Trần Thị Duyên sinh ra một gái lấy tên Lý Thị Châu, thương  gọi Châu nương.

Châu nương tài sắc vẹn toàn, lớn lên thường giúp cha trông coi sổ sách và cả những công việc mà cha cô làm mỗi ngày. Ai cũng khen Châu nương thông minh tài giỏi. Năm cô lên18, Lý Quýnh mất, sau khi mãn tang cha có viên quan họ Trần tên Thái Bảo xin cưới làm vợ. Ông này làm Đốc bộ ở Hoan Châu (Hưng Nguyên, Nghệ An). Châu nương thuận lòng, ăn ở rất hạnh phúc.

Khi giặc Nguyên lấy cớ mượn đường đánh xuống Chiêm Thành, Phù Nam, vua Trần không ưng thuận, chúng liền đánh thẳng vào nước ta. Trần Thái Bảo, chồng của Châu nương được lệnh chống giặc ngoại xâm, Châu nương liền hiến kế cho chồng, cứ chặn giặc nơi tiền phương còn Bà lo bảo vệ kho lương, cùng tập luyện quân binh. Cho nên vào lúc tiền phương thiếu hụt lực lượng hay lương thực, liền được Châu nương tiếp viện kịp lúc, quân Nguyên không tràn vào chiếm Hoan Châu được và thua tại trận tuyến này.

Vua Trần Nhân Tông hay tin liền ngơi khen hai vợ chồng Trần Thái Bảo là giỏi, phong Thái Bảo chức Tiền Quân Dực Thánh coi về lực lượng bảo vệ hoàng cung; còn Châu nương chức coi kho lương ở phủ Phụng Thiên.

Năm 1285, vua Nguyên sai Thoát Hoan đem 50 vạn quân xuống đánh Đại Việt và 10 vạn quân từ Chiêm Thành đánh lên theo thế gọng kềm. Vua Trần Nhân Tông thấy binh lực của mình không thể địch nổi 60 vạn quân Nguyên, nên cho rút quân ra khỏi Thăng Long để bảo toàn lực lượng. Trần Thái Bảo trấn nhậm phía sông Hồng chống giặc và tử trận tại đây. Châu nương hay tin buồn đau vô hạn, nhưng Bà cố nén đau thương để hoàn thành nhiệm vụ vua giao.

Giặc mạnh nên Châu nương biết rằng khó bảo toàn được kho lương thực, bà đem chôn giấu và đem thóc lúa ra phân phát cho dân chúng. Khi giặc vây tỏa Thăng Long, Châu nương bị chúng bắt. Bà đành lấy cái chết để báo đền ơn nước, trọn nghĩa với chồng.

Về sau trong đám quân sĩ theo Bà nói rằng, khi Bà hóa, chiếc khăn lụa hồng mà Châu nương thường mang theo vuột khỏi người bay về Giảng Võ, nơi chôn nhau cắt rốn của Bà. Còn lúc quân Nguyên tràn vào kho lương, bị một con mãng xà to lớn dữ tợn phóng ra ngăn cản lại.

Sau khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẹp tan giặc Nguyên, vua Trần Nhân Tông truy tặng Châu nương chức “Quảng chưởng Quốc khố công chúa” (Bà Chúa Kho quốc gia), và ra lệnh cho hai nơi là Giảng Võ  (Hà Nội) và Diễn Châu (Nghệ An) lập đền thơ Bà.

Với các truyền thuyết về Bà Chúa Kho như vừa kể, một người đời Lý ở Cổ Mễ, một người đời Trần ở Giảng Võ, các nhà nghiên cứu chưa thật rõ ai mới chính là Bà Chúa Kho, chỉ biết rằng dân tộc ta có một phụ nữ cai quản kho lương thực rất đảm đang công chính và sau khi hóa thân thành thần Bà rất linh hiển.

Hiện nay dân chúng thường về Vũ Ninh, Bắc Ninh cúng bái, xem đền thờ Bà Chúa Kho nơi đây là chính. Và cũng tại đền thờ này tôn hiêu của bà là “Linh Từ Quốc Mẫu”. Sau này vì nhớ công ơn Bà trước khi hóa Bà đã mở kho lương cho dân chúng vay mượn hay phát chẩn cho dân nghèo, nên khách hành hương đến đền Cổ Mễ rất đông, nhất là vào ngày lễ vía Bà vào mung 10 tháng giêng, ngoài lòng sùng bái còn có mục đích xin tài xin lộc hay đến vay mượn lộc của Bà.

Có vay có trả, người đến vay đã đông còn người đến trả lễ cũng không kém phần náo nhiệt, tiếng thiêng đồn xa ai cũng cho rằng đền Bà Chúa Kho rất linh ứng.

Việc người dân đến đền Bà Chúa Kho vay tiền có lẽ xuất phát từ thế kỷ XVIII, các vị thủ từ cao niên ở đền Bà cho biết, sắc phong của Bà có rất nhiều, từ đời Cảnh Hưng Lê Hiển Tông 1740 – 1786 năm thứ 44 (ban 2 đạo), Chiêu Thống Lê Mẫn Đế 1787 – 1788 năm thứ nhất (1 đạo), Gia Long Nguyễn Phúc Ánh 1802 – 1819 (1 đạo), Thiệu Trị Nguyễn Miên Tông 1841 – 1847 năm thứ tư (2 đạo), Tự Đức Nguyễn Hồng Nhiệm 1848 – 1883 (2 đạo, vào năm thứ 3 và 23), Khải Định Nguyễn Bửu Đảo  1916 – 1925 (1 đạo) các vị vua trên đều ban sắc cho đền, nhưng do thời gian và chiến tranh, việc bảo quản các sắc phong đã bị thất lạc hoặc bị mất mát. Cho đến nay đền chỉ con giữ được 2 sắc phong của vua Gia Long và Khải Định.

Từ những sắc phong như thế tại đền Bà, người dân tôn vinh Bà như nữ Thánh, việc vay tiền Thánh trở thành một hiện tượng vừa mang tính tín ngưỡng dân gian vừa mang tính sùng bái mê tín.

Trở về sau hiện tượng “vay tiền Thánh” đã thành nếp tại các đền thờ Mẫu, thờ Ông những vị được phong Thần phong Thánh, khách hành hương đến ai cũng mở tục vay tiền Thánh như thế.

Ngoài Bà Chúa Kho, tục “vay tiền Thánh” trong dân chúng còn sùng bái hai Thánh Mẫu khác là Bà Thiên Hậu và Bà Chúa Ngọc, vì hai Bà cũng rất linh ứng khi có người đến đền vay tiền, càng về sau bá tánh thập phương còn hướng đến vay tiền Bà Chúa Xư tại Châu Đốc, Linh Sơn Thánh Mẫu tại Tây Ninh, Đền Đức Thánh Trần tại Kiếp Bạc, Lăng tả quân Lê Văn Duyệt, Đền Ngọc Hoàng, Đền Ông Bổn tại TP.Hồ Chí Minh…

Theo tục vay tiền, đầu năm (thường đến hết tháng giêng âm lịch, và vào các ngày vía, ngày mùng 10 cúng Thần Tài, ngày rằm tháng giêng) đi vay tiền Thánh, cuối năm vào tháng chạp âm lịch đến trả lễ. Có người đến trả bằng cách cúng dường bằng tiền cho các đền thờ bảo dưỡng, hay cúng một con heo quay v.v…

Còn theo tục người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, vào rằm tháng giêng ÂL là ngày đi vay tiền Bà Thiên Hậu, tại chùa Bà trong Chợ Lớn hay chùa Bà Bình Dương, vay tiền Ông Bổn ở Chợ Lớn, Gò Vấp… khi trả lễ, người Hẹ chọn ngày rằm tháng 11 ÂL, người Quảng Đông, Quảng Tây, Triều Châu, Phước Kiến, Hải Nam đến trả nợ vay vào tháng chạp âm lịch.

 THIÊN VIỆT