Thế Giới Huyền Bí

NĂM CÂU CHUYỆN

NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ

Câu chuyện thứ nhất

Cuộc sống tâm linh của dân tộc Việt rất phong phú và chứa đựng nhiều bí ẩn mà khoa học không thể giải thích. Gọi hồn, lên đồng…. các bạn có tin không ? Có lẽ ai đã từng chứng kiến nhà ngoại cảm Bích Hằng tìm mộ, cũng sẽ tin có một thế giới linh hồn…

Nhưng nếu tồn tại một thế giới linh hồn, thì thuyết luân hồi trở thành vô giá trị. Tại sao các linh hồn còn ở đó. Đúng ra theo nghiệp lực các linh hồn sẽ lập tức đầu thai hoặc siêu thoát. Lâu nhất theo Phật giáo Tây Tạng thì cũng chỉ lưu lại 49 ngày.

Chính vì vậy vẫn tồn tại rất nhiều tranh cãi về sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn. Nhưng với những người đã gặp và chứng kiến nhà ngoại cảm Bích Hằng tìm mộ, hay những người đi gọi hồn người thân… họ đều khẳng định niềm tin mạnh mẽ vào thế giới linh hồn

Một buổi “lên đồng” đáng sợ

Năm 18 tuổi, tôi lén lút cùng 2 bà đi gọi hồn. Tuổi mới lớn, tò mò, thích khám phá, chả có điều gì ngăn cấm được việc “bí mật” thử “lên đồng” 1 lần cả.

Nghe các bà nói là có ma, hồn có thể nhập vào điều khiển người. Thầy giáo dạy vật lý thì khẳng định có trường sinh học. Ma thì chưa nhìn thấy, quỷ thì may ra nhìn thấy trên phim, tưởng tượng qua lời người khác.  Nên “Trường sinh học”, “giác quan thứ 6” chưa được cảm nhận 1 lần.

Không mê tín, cũng chẳng tin là có ma quỷ gì hết, nhưng cứ muốn thử. Thử để biết. Thử để thoả mãn tính tò mò. Thế là thử.

Vừa bước tới ngõ nhà “Cô” đã thấy run run. Nhà không có khách, không gian tĩnh mịch, hương khói vẫn nghi ngút. Thẳng cửa chính là cái điện thờ, vừa bước chân qua cửa nhà, tim đã nhảy tưng tưng (còn hồi hộp hơn cả lần đầu tiên kiss nữa ấy chứ) chỉ muốn nhảy ra khỏi ngực. Ngồi vào giường, quay mặt về phía điện thờ (chính Nam), mặt quay so với hướng bắc chắc khoảng 23,5 độ (chính Bắc), khoanh chân, tay để như thiền, nhắm mắt. Không cần trùm khăn áo gì cả, cứ như ngồi thiền vậy.

Lời cầu khấn bắt đầu rì rầm bên tai. 30 giây sau, 2 luồng điện đánh rẹt vào người : 1 từ trên thẳng đỉnh đầu xuống, 1 từ dưới bàn chân chạy ngược lên. Cả 2 gặp nhau ở rốn. Người tê cứng, ruột gan rối bời, nóng như có lửa đốt, tay chân không cử động được. Cái đầu vẫn trên cổ mình nhưng sao lại không quay đầu được thế này !? Ruột gan thì như lửa đốt, nhưng 2 tay, chân bắt đầu lạnh. Lạnh ngắt ! Lạnh như là bao nhiêu nhiệt nó chạy hết vào bụng rồi vậy. Tiếng người nói, khấn xung quanh vẫn rì rầm nhưng đã dần ù đi, mắt lờ đờ… Tới lúc đó thật là sợ ! Như hồn mình thoát khỏi xác vậy ! Mình đã “mất xác” rồi sao ? Sợ mà không làm gì được !

Tình trạng đấy kéo dài chắc khoảng 10 phút. Mọi người hỏi vẫn có thể nghe được, vẫn biết là mình đang nói, nhưng đấy không theo suy nghĩ của mình… Nghe “Cô” phán “hồn xuất !”, luồng điện đang chất chứa nơi rốn bỗng chạy ngược bật ra phía trước ngực. 1 chưởng lực vô hình như đánh trúng giữa ngực, ngã vật ngửa người về sau. Bụng hết nóng ngay lập tức, tay chân dần ấm trở lại. Một cảm giác mệt mỏi, mệt như là mình vừa vác cả chục tấn than vậy ! Chân tay bải hoải, các khớp rã rời.

Hớp ngụm nước chanh đường cho lại sức, được “Cô” khen “thằng này hợp bóng âm lắm, ngồi cái được ngay, hiếm người ngồi được như vậy”.  Từ hôm đó, sợ ma.

Câu chuyện thứ hai

Chúng ta hãy cùng nghe câu chuyện của bạn Ngọc Phan Thị :

Tôi tin là có thế giới khác với thế giới chúng ta đang sống, vì chính tôi cũng đã có thể gọi là người trong cuộc của chuyện này. Tôi có 1 chị gái sát tuổi tôi mất khi mới trên dưới 2 tuổi, khi đó tôi mới hơn 1 tuổi thôi, không hề có ấn tượng hay nhớ kỷ niệm gì về chị cả. Tôi là con út nên ngủ với ba mẹ nhiều nhất, các bạn có thể tưởng tượng được không, đêm 30 tết nào chị cũng về đứng dưới cuối giường của ba mẹ. Đứng suốt đêm đến tờ mờ sáng.

Tôi đến bây giờ vẫn còn nhớ đó là bóng trắng, tóc dài mờ mờ hư ảo. Sáng mùng 1 tết, Mẹ bao giờ cũng hỏi tôi hôm qua có gặp chị không con, chị về phù hộ cho cả nhà mình đấy… Nghĩa là không chỉ tôi mà cả mẹ cũng gặp chị, có lẽ cả ba nữa. Bởi vì ba tôi không khóc trong những ngày thường nhưng bao nhiêu năm qua, đến bây giờ vẫn vậy, đêm giao thừa nào ba cũng khóc vì nhớ và thương chị, làm cả nhà lại khóc theo. Tôi tin ba tôi cũng gặp chị. Còn bây giờ tôi cũng không hỏi là chị có về nhà hay không nhưng chỉ biết là chị luôn luôn phù hộ cho mọi người trong gia đình.

Câu chuyện thứ ba

Còn bạn Hoàng khẳng định về sự tồn tại của linh hồn :

Thế giới thứ 2 là có thật, nhưng trường hợp của mình thì không cần gọi mà hồn tự hiện ra, đó là anh của người bạn nối khố, nhà có 3 anh em dưới là cô em gái út, hôm đó mình và một người khác nữa ngồi chơi với em gái nó ở giường nhà nó, đang nói chuyện thì em gái nó kêu đau đầu và chóng mặt quá, nhăn nhó trong vài giây rồi nhắm mắt nằm từ từ ra giường rồi cũng chỉ trong tic tắc lại ngồi dậy và bắt đầu nói quay ngay sang mình hỏi han và còn hỏi cả anh trai mình (vì anh trai mình chơi với anh trai nó), rồi còn nhờ mình bóp hộ chân (ông ấy mất vì tai nạn bị đâm gãy đùi) mình không còn hồn vía nào nữa, hai tay bóp chân mà run lẩy bẩy.

May sao lúc đó mẹ anh ấy về thế là mình lại chứng kiến 2 mẹ con ôm nhau khóc nói chuyện hỏi han như bình thường, mẹ anh ấy hỏi thế con ở dưới đấy thế nào ? Anh ấy trả lời là con vẫn đang phải đứng gác (lúc đó anh ấy chưa giỗ đầu) anh ấy phải gác đúng ở chỗ đường bị tai nạn đó theo nhiệm vụ là phải bắt được 1 người đã được chỉ định thì mới được chuyển lên chỗ khác chắc là nhàn hạ hơn, rồi anh ấy còn quay sang mình bảo khi nào mấy đứa rỗi thì ra mộ đắp lại mấy cái lỗ bị chuột khoét cho anh anh lạnh lắm…

Có thể mình kể câu chuyện này ra các bạn không tin,và bản thân mình cũng không tin vào bói toán và chưa bao giờ đi gọi hồn nhưng đây là câu chuyện thật 100% mình vẫn nhớ như in hồi đó mình học lớp 8. Còn đoạn cuối 2 mẹ con ôm nhau khóc bịn rịn chia tay, thì đứa em gái từ từ nằm ra giường có vẻ rất mệt mỏi, trong khi nó nằm thì mẹ nó quay sang bọn mình hỏi han về mọi chuyện diễn ra như thế nào rồi quay sang vỗ vỗ vào nó, nó bắt đầu mở mắt như vừa ngủ dậy, mặt ngơ ngác rồi mẹ nó cùng với cả bọn mình hỏi nó là cảm thấy trong người thế nào, có nhớ gì không, nó trả lời là không biết gì chỉ thấy đầu nặng trỉu, rồi khi nghe mẹ nó và bọn mình kể lại nó mới biết và òa khóc…

Câu chuyện thứ tư

Câu chuyện và cảm nghĩ của bạn Bạch Văn Kháng :

Tôi tin là có linh hồn. Nhưng có quá nhiều người lợi dụng nó để tư lợi. Chuyện này rất nhạy cảm và đụng chạm đến nhiều người. Về phía tôi thì tôi cho là “có linh hồn và sự nhập hồn”. Ngay trong nhà tôi, tôi nghe các bà trong nhà kể :

– Trong ngày giỗ ông tôi mới cách đây mấy năm thôi, khi mọi người đang khấn cúng thì con bé con trong nhà tự dưng trợn mắt lên và gọi các bà trong nhà ra nói chuyện như là ông của tôi thật vậy. Cũng xưng anh và gọi tên từng bà một như hồi ông còn sống. Đứa trẻ con ngồi nói lại chuyện cũ một cách rõ ràng và rất tự nhiên.

Câu hỏi đặt ra ở đây là nếu như các bà nói đúng thì phải chăng linh hồn là có thật ? Vì một điều dĩ nhiên là 1 đứa trẻ con mới hơn 10 tuổi không thể biết được những chuyện của ông nó hồi còn trẻ được.

Một câu chuyện khác, theo cô giáo cấp 3 của tôi kể là trong 1 lần đoàn trường đi về nghĩa trang Trường Sơn thắp hương, những người quản trang kể lại là mỗi khi có đoàn khách nào đến thắp hương là đêm đó lại nghe thấy tiếng hô như những người chiến sĩ đang hành quân vậy.

Không biết phải giải thích như thế nào nhưng theo tôi thì vẫn có một thế giới khác tiếp diễn khi chúng ta đi hết cuộc sống này. Chết không phải là hết. Cơ bản là chúng ta phải sống như thế nào để không phải chịu hậu quả đến kiếp luân hồi.

Câu chuyện thứ năm

Lúc nhỏ, tôi từng nghe mẹ kể rằng khoảng giữa năm 1948, một lần đi bán rong nước mắm lại làng Mỹ Đức, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình bỗng thấy bà con dân làng xôn xao, nháo nhác vì có một đám tang gặp sự cố “xưa nay hiếm”. Đó là khi con cháu, người thân sắp hạ quan tài xuống huyệt thì bỗng nghe tiếng “lộp cộp, lộp cộp” từ trong quan tài phát ra.

Linh cảm điều lạ, người ta liền mở nắp quan tài thì ông cụ, người đã chết 3 ngày sắp sửa bị chôn ấy thản nhiên ngồi dậy. Câu đầu tiên “người chết” nói là : “Bây nhốt tao đến chết khát đây này !”.

Người làng Trung Bính, xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình quê tôi cho đến nay cũng biết chuyện người chết sống lại đã từng xảy ra. Nhân vật là bà Nguyễn Thị Kỳ (tên thường gọi là bà Táy – tên con gái đầu). Bà sinh năm 1898, lấy chồng từ năm 16 tuổi. Bà sinh được 10 người con 6 trai, 4 gái, trong đó có anh Nguyễn Văn Bảy, con trai thứ hai, nguyên là Đồn trưởng Đồn Công an thị xã Đồng Hới giai đoạn 1964-1970. Chồng qua đời năm bà 42 tuổi. Năm 1950, sau hai tuần ốm nặng, không ăn uống gì, tim bà ngừng đập. Cả nhà khóc nức nở bên thi thể bà đã nằm bất động.

Ông Nguyễn Ty, một người trong họ của bà Kỳ được phân công khâm liệm. Phải đợi cô con gái đầu là chị Nguyễn Thị Táy lấy chồng xa về gặp mẹ lần cuối nên ông Nguyễn Ty chỉ làm các thủ tục cần thiết trước khi nhập quan.

Nhưng khoảng 2 tiếng đồng hồ sau khi bà chết, ông Nguyễn Ty ngồi bên bỗng nghe thấy bà Kỳ kêu “ú ớ, ú ớ” và tờ giấy điều đắp trên mặt bà động đậy rồi hai tay vung mạnh. Ông Nguyễn Ty tiến lại gần, giở tờ giấy điều thì thấy bà Kỳ mở mắt. Bà thều thào : “Cho tao chén nước, khát quá !”. Mọi người xúm vào đỡ bà dậy. Sau khi uống cạn cốc nước, bà Kỳ chớp mắt và hỏi :

– Làm gì mà tụ đập đông đến thế ? Hôm nay cúng ai mà có hương đèn ?

Sau đó, biết hết những gì đã xảy ra với mình, bà Kỳ kể rằng, bà đói, khát, phải đi xin ăn nhưng đều bị từ chối. Cuối cùng là một ông già khỏe mạnh từ trong nhà chạy ra, vác cái dùi to tướng đuổi đánh bà tới tấp. Sợ quá bà vừa chạy vừa hét. Tiếng hét làm bà tỉnh lại…

Sau khi “chết” một lần, bà Kỳ đã sống tiếp 31 năm nữa, tức vào năm 1981 bà mới quy tiên. Tôi đã đến gặp chị Nguyễn Thị Bơ, vợ anh Đào Tiến Trung tại tiểu khu 3, phường Đồng Sơn, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Biết tôi có ý định viết bài báo về người chết sống lại, chị vui vẻ dẫn vào chuyện ngay :

Mẹ tôi là bà Phạm Thị Cháu, người làng Đồng Hải, thị xã Đồng Hới. Mẹ tôi không có con trai nên lúc ở với con này, khi ở với con khác trong ba chị em chúng tôi. Năm 1992, mẹ tôi bước vào tuổi 79 nhưng vẫn còn mạnh khỏe, minh mẫn. Một buổi chiều đi chơi nhà hàng xóm về bà bảo mệt. Mặc dù chúng tôi xức dầu, xoa bóp, nhưng độ một giờ sau thì bà bất động, chân tay lạnh toát, hai mắt nhắm nghiền và tim ngừng đập.

Tin mẹ tôi chết nhanh chóng lan truyền trong tiểu khu. Một số người trong Hội Người cao tuổi đã đến cùng gia đình bàn soạn cho việc tang lễ. Mọi việc chuẩn bị chu đáo chờ tới giờ nhập quan, thì bất ngờ mẹ tôi cựa mình sống lại.

Sau đó, bà thuật lại chuyện vào chợ mua gì ai cũng không bán, xin ăn không ai cho, lại bị một người to khỏe bắt nhốt vào một cái chum rồi đậy kín lại. Ngạt thở, bà vung tay ưỡn người, giãy giụa, và thế là mở mắt…

Chị Nguyễn Thị Bơ còn cho biết, bà Phạm Thị Cháu sống khỏe mạnh thêm 11 năm, hưởng thọ 90 tuổi. Theo tác giả Quang Long trong bài Một xã có 2 người chết sống lại in trong Tri thức trẻ, phụ trang của báo Tiền Phong số 110 (tháng 9-2003) thì tại thôn 2, xã Xuân Lam, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh có cụ Trần Thị Ban, 83 tuổi. Năm 40 tuổi cụ lâm bệnh nặng và “qua đời”. Người ta đắp chiếu từ đầu hôm đến mờ sáng. Bà mẹ lại gần, đột nhiên thấy con cử động rồi kêu toáng lên :

– “Bay ơi, con Ban sống lại rồi đây này”.

Quả nhiên, lật chiếu thì bà Ban ngồi dậy. Hiện nay cụ Ban đang sống cùng người con gái của cụ trong ngôi nhà nhỏ ở thôn 2. Cũng tại địa phương trên, nhưng ở thôn 3 có cụ Trần Cảnh… Năm nay cụ 95 tuổi. Ngày 17/6/2002, cụ đau nặng. Đến 17 giờ cùng ngày thì tim ngừng đập, chân tay lạnh toát. Anh Trần Việt Tăng, trưởng nam đã cùng gia quyến cáo phó. Thầy cúng làng bên lục tục xách chiêng trống sang. Bà con nội ngoại lại gần. Cụ đi thật rồi ! …

Mọi việc chuẩn bị chu đáo, ban tang lễ được lập ra, bỗng nhiên khoảng 5 giờ sáng, cụ Trần Cảnh cựa quậy. Mọi người xôn xao. Chả ai tin, phải để đến vài giờ sau, cụ Trần Cảnh mới tỉnh hẳn. Anh Tăng đỡ cụ ngồi dậy, câu đầu tiên cụ nói :

– “Bây mần cái chi chi mà ầm ĩ lên rứa ?”.

Đến nay cụ Trần Cảnh vẫn khỏe mạnh. Chỉ có điều sau lần chết đi sống lại ấy, tai cụ có phần nghễnh ngãng và mắt nhìn không được chuẩn cho lắm. Báo ANTG số 150 ra ngày 3/6/2004 tại trang 32 có đăng mẩu chuyện lạ, nhan đề Đặt chuông trong quan tài để cứu người chết sống lại.

Theo bài báo, do các công ty chuyên về bốc mồ mả thường xuyên phát hiện có các vết cào cấu bên trong quan tài, chứng tỏ không ít người chết chôn xuống đất đã sống lại nên trong mỗi quan tài họ bán đều có gắn một loại chuông báo động. Theo đó, nếu người chết khi chôn, sau đó nếu có sống lại thì có thể bấm để mọi người tới đào lên kịp thời.

Khi đem tất cả các chuyện này trao đổi với anh Hồ Văn Chấn, bác sĩ Bệnh viện Việt Nam – Cuba Đồng Hới, được giải thích như sau :

– Những người chết kiểu ấy chỉ là chết lâm sàng, nhưng bộ não của họ vẫn còn hoạt động. Trong quá trình hoạt động đó, nếu bộ não gặp một hiện tượng chấn hưng, lập tức kích thích các bộ phận trong cơ thể làm việc trở lại. Bác sĩ Hồ Văn Chấn còn cho biết, những trường hợp hy hữu ấy thường thuộc những người có một quá trình sống lành mạnh, không đau ốm, ăn uống điều độ, không sử dụng các chất kích thích, thường xuyên lao động hoặc năng tập thể dục thể thao.

Lời kết

Tóm lại thế giới tâm linh còn rất nhiều điều huyền bí mà khoa học hiện nay chưa thể giải thích được rõ ràng. Tuỳ theo tín ngưỡng của nhiều người mà người ra cho rằng có linh hồn hoặc không có linh hồn, có thế giới bên kia hoặc không có . Chúng ta không nên áp đặt 1 cách thái quá ý nghĩ của mình vào chuyện này. Vì xét cho cùng nếu có linh hồn thì cũng chẳng sao vì linh hồn chưa gây tổn hại gì cho chúng ta.

Quế Phượng (Theo ANTG)

HÀNH QUYẾT DÃ MAN KIỂU TÀU

NGHỆ THUẬT GIẾT NGƯỜI 

Đọc bài viết về những phương cách hành quyết dã man bên Tàu ngày xưa.

Nghệ thuật giết người của Tàu

Ở trong chăn mới biết chăn có rận ! Viết về nghệ thuật giết người của Tàu thì chỉ những văn sĩ Tàu viết mới chính xác, mới không bị mang tiếng là vẽ rắn thêm chân !

Chuyện này viết lại theo Đàn Hương Hình của Mạc Ngôn, một Văn Sĩ Tàu thời nay.

Xử tử phạm nhân thì thường là chặt đầu hay treo cổ,  ác hơn thì là đánh bằng gậy, kẹp chả, bó giò, bỏ bao tải thả trôi sông, năm ngựa phanh thây, chặt làm tám khúc … ác nữa thì như ở Trung Đông cho ném đá hoặc đóng đinh câu rút nạn nhân trên cây thập Tự Giá cho phạm nhân chết từ từ vì khổ sở, đau đớn mất máu … Nhưng giết người mà để cho đau đớn đến cùng cực, đau khổ đến phải toát hết mồ hôi trong người ra rồi mới được chết và người hành hình cũng phải vận dụng hết khả năng, tay nghề và cũng phải toát hết mồ hôi mới thi hành xong bản án thì  chỉ có ở bên Tàu !

Người thi hành án tử hình được gọi là Đao Phủ (dù có khi thi hành án không dùng đao). Ở bên Tàu, Đao Phủ là một nghề hẳn hoi  có ông Tổ đàng hoàng nên trước khi hành hình, Đao Phủ phải lấy trong làn ra một bó hương quí, nhẹ nhàng rút ra ba nén, châm lửa từ cây nến trên bàn thờ Tổ, rồi cắm vào lư hương, quì xuống khấn vái xin Tổ phù hộ, độ trì thì Tổ mới độ cho công việc được xuông sẻ.

Tương truyền rằng ông Tổ nghề Đao Phủ tên Cao Đào, một bậc đại hiền, một trang anh kiệt  thời Tam Hoàng Ngũ Đế,.  Suýt nữa kế vị ngôi vua của Đại Vũ. Các loại hình phạt ngày nay là do ông Tổ chế định ra. Ông này mắt phượng mày ngài, mặt đỏ như táo chín, mắt sáng như sao, râu ba chòm, tướng mạo như Quan Công thời Tam Quốc. Sư Tổ này giết người không cần dùng đao, chỉ dùng mắt nhìn vào gáy phạm nhân rồi lướt ngang một cái là đầu phạm nhân rơi ngay xuống đất !

Người đời vẫn quan niệm rằng Đao Phủ là loại tiện nhân và không được liệt vào một trong chín hạng người trong xã hội Tàu ! Nhưng Đao Phủ lại đại diện cho sự tôn nghiêm của đất nước. Đất nước có nghìn vạn pháp qui, nhưng thực thi thì phải nhờ vào Đao Phủ. Đao Phủ tuy là hạng đốn mạt nhưng công việc mà Đao Phủ đảm nhiệm không đốn mạt. Nghề này người đứng đắn không làm, kẻ lười biếng, ươn hèn không làm nổi. Nghề này mà phát triển thì triều đình hưng thịnh, nghề này tiêu điều thì khí số của triều đình cũng hết. Nó tiêu biểu cho tinh, khí,t hần cuả triều đình. Thiên hạ coi thường nghề Đao Phủ, nhưng một khi đã làm nghề này thì coi thường tất cả mọi người ! Từ người dân đen cho đến quan cực phẩm nếu có tội đều phải ngửa cổ ra cho Đao Phủ trị tội.

Thời Phong Kiến, Đao Phủ không được vào biên chế vì thế Đao Phủ năm không bổng lộc, tháng không lương phạn, họ sống nhờ bán những thứ thu nhặt từ người chết để làm thuốc và một đôi khi cũng được vua, quan thưởng cho chút ít.

Triều nhà Thanh, Ngục Áp Tư thuộc Bộ Hình chỉ có bốn Đao Phủ. Người cao tuổi nhất, kinh nghiệm nhất, tay nghề giỏi nhất được gọi là Già, (thí dụ người đó tên Kiệt thì gọi là Già Kiệt). Ba người còn lại căn cứ vào kinh nghiệm và tay nghề lần lượt có tên là Dì Cả, Dì Hai, Dì Út. Người giúp việc cho các Dì và Già được gọi là Cháu Ngoại. Đã là Đao Phủ thì phải là Đao Phủ của Ngục Áp Tư của Bộ Hình, chứ Đao Phủ của các Phủ, Huyện thì là những Đao Phủ tầm thường chỉ biết chặt đầu treo cổ… như một tên Đồ Tể mà thôi !

Muốn trở thành Đao Phủ thì trước nhất phải là cháu ngoại, làm những việc lặt vặt như quyét nhà, nấu cơm, giặt giũ… phải thực tập ở cửa hàng thịt lợn cho đến khi chọc một dao là đúng ngay yếu huyệt cổ, đường dao đi ngọt như đâm vào tảng đậu hũ, ấn thêm một nhát nữa, lưỡi dao rồi cả cán dao lút sâu trong cổ lợn, tiếng kêu im bặt, chỉ còn tiếng nấc cụt, rồi tiếng nấc cụt cũng không còn, con lợn run rẩy, chân run, da run, đám lông cũng run, rút dao ra không một giọt máu nhưng khi nghiêng con lợn, để chỗ cắt tiết chiếu thẳng xuống chậu hứng, vỗ một cái một giòng máu nóng sẽ vọt ra, phun thẳng vào cái chậu để ở xa !

Kỹ thuật đâm đã vậy, Kỹ thuật cắt, chặt cũng phải điêu luyện, cắt làm sao mà hô một lạng, một cân… là cắt đúng một lạng một cân… không hơn không kém, chặt cũng vậy, vết chặt phải chính xác, dứt khoát, chặt đâu trúng đó, chặt đứt rời thì dứt khoát phải đứt rời, nhưng chặt đứt tới da thì dứt khoát khi chặt xong thịt xương đứt nhưng da vẫn phải còn…

Sau khi học xong kỹ thuật đâm, cắt , chặt (chém) cháu ngoại sẽ được Già và các Dì tùy điều kiện chỉ bảo về cơ thể con người như kinh mạch, huyệt đạo… chỗ nào trong cơ thể con người đụng vào máu chảy nhiều, ít, chỗ nào làm tim đập nhanh chậm, chỗ nào làm hơi thở mạnh, yếu …., tóm lại Đao Phủ phải tinh thông về cơ thể con người như một bác sĩ khoa Phẩu-Thuật ngày nay .

Đao Phủ tinh thông được những việc trên phải là người có năng khiếu và phải mất thời gian khá lâu chứ không thể một sớm một chiều là đã có thể hành nghề được, nhưng đạt được như thế thì cũng mới chỉ là một Đao Phủ tẩm thưởng. Đao Phủ cũng giống như Thái Giám trong cung, Thái Giám dùng dao đoạn bộ đồ nghề để tịnh thân, thân tịnh rồi nhưng tâm chưa chết. Đao Phủ hành nghề bằng cây đao, bộ đồ nghề vẫn còn, thân chưa tịnh mà tâm thì đã chết rồi ! Một Đao Phủ xuất sắc thì đứng gần phụ nữ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện ấy. Còn nghĩ đến chuyện ấy thì tâm vẫn còn động, tâm động thì hành xử sẽ không chính xác và công việc sẽ không được xuông sẻ !

Một Đao Phủ hạng nhất phải là một cao thủ chặt đầu người, một chuyên gia tinh thông các hình phạt tàn khốc của mọi thời đại, lại còn biết bổ xung thêm vào đấy những phát minh sáng tạo của riêng mình.

Trước khi thi hành án, theo đúng tục lệ thì sau khi sư phụ khấu đầu xong, các đệ tử cũng phải khấu đầu chín cái rồi đứng lên lùi sau sư phụ ba bước, Hai Dì chạy ra ngoài, một Dì bê vào một cái chậu men xanh, một Dì cầm chân, xách con gà trống lông trắng, mào đen, cả hai thứ được đặt trước bàn hương án. (phải là loại gà trống có lông trắng, mào đen thì mới linh thiêng và có nhiều tiết).  Một Dì quì trước hương án, tay cầm đầu, tay cầm chân căng cổ con gà ra cho Dì kia cắt tiết  (nếu cắt mà không chảy máu là điều thi hành án không thuận). Khi gà đã chảy hết máu, hai Dì dâng liễn tiết lên bàn thờ, vái một vái rồi bước lùi ra sau. Đao Phủ sẽ dầm tay trong liễn tiết như là muốn cho tay uống no tiết, sau đó xoa hai bàn tay lên mặt mình cùng Đao Phủ phụ việc, lúc này mặt của cả hai đều đỏ như mặt Sư Tổ. Phải bôi mặt bằng máu gà là để tà ma, quỉ quái biết rằng đây là đệ tử của Sư Tổ Cao Đào đi thi hành án. Lúc thi hành án thì Đao Phủ không phải là con người, mà là thần linh, là phép nước. Vì tượng trưng cho phép nước tôn nghiêm nên khi đứng trên Đài gặp Vua Đao Phủ cũng không phải chào, trong những buổi hành hình có Vua ngự lãm, lúc Vua đến, bá quan van võ đều phải phủ phục xuống chào thì Đao Phủ vẫn hiên ngang đứng như một tượng đá .

 Trước và trong khi thực hiện bản án phải nghiêm trang kính cẩn, cấm không được cười đùa, một câu nói gở, lỡ miệng, phạm húy… là rước hốn ma về nhà.

 Có một qui luật bất thành văn nhưng Đao Phủ phải làm là hàng năm cứ đến ngày 12 tháng 12 ÂL phải đến chùa ăn cháo thí vì ngày ấy chùa nào cũng có nấu cháo phát không cho những người nghèo khó. Hành đông này là để cáo với Phật Tổ rằng hành nghề đao phủ cũng như hành nghề ăn xin, chẳng qua là kiếm miếng ăn chứ không phải thích giết người, hành động ăn cháo thí là hòa đồng thân phận đao phủ với dân nghèo là một. Dù ở Ngục Áp Tư ngày nào cũng cơm thịt, nhưng cháo thí thì năm nào Đao Phủ cũng phải ăn .

Thi hành án xử trảm thì quá đơn giản với Đao Phủ, chỉ cần quan Giám Hình hô lớn : – Thi hành án.

Lập tức Đao Phủ phụ việc bước lên kéo ngược tóc phạm nhân để cổ vươn dài ra, bằng kinh nghiệm của mình, thoáng cái Đao Phủ đã nhìn thấy đót xương cổ cần thiết và sau một cái vặn người đúng cách Đao Phủ phụ việc đã nâng cao đầu phạm nhân trên tay cùng với tiếng :  – Mời đại nhân nghiệm thu .

 Có đầu lìa khỏi cổ rồi mắt vẫn còn trợn ngược, chân mày dựng đứng, hai hàm răng đánh vào nhau phát thành tiếng, có đầu ứa nước mắt, cũng có đầu nhắm mắt thanh thản và người ta tin rằng ngay lúc ấy cái đầu vẫn còn tiếp tục suy nghĩ ?

 Chém treo ngành thì cũng giống xử trảm chỉ khác ở chỗ đầu không đứt hẳn mà dính với người bằng một lớp da, Đao Phủ trong trường hợp này phải thật là điêu luyện vì nếu không thì một là đầu rơi xuống đất, hai là đầu không gục xuống được, cả hai trường hợp đều xem như thất bại !

Còn một cách chém ghê rợn hơn là chém ngang lưng. Chuyện kể về việc tên coi kho bạc của Hoàng Gia.

 Ngày xưa,những tên coi kho đều là những tên chuyên gia về trộm cắp. Coi kho tuy đồng lương rẻ mạt nhưng tên nào cũng nhà cao cửa rộng, thê thiếp đầy đàn. Khi vào kho tên nào cũng phải trần truồng, khi ra cũng vậy nhưng ngân khố năm nào cũng thâm hụt, không biết bao nhiêu quan coi kho đã bị chết, nhưng không ai nghĩ là bọn coi kho dở trò ma mãnh. Hàng ngày chúng dùng cái chùy bằng gỗ đàn hương để nống hậu môn. Chùy có hình dạng giống cu của con lừa chia ba cỡ, nhỏ, vừa và to. Lúc đầu nhỏ, sau vừa và cuối cùng to, ngày nào cũng nống, đêm nào cũng nống cho đến khi không còn nống được nữa mới thôi. Hậu môn là nơi da mỏng, bình thường một hạt cát không lọt nên chẳng ai khám xét nơi đó. Hôm ấy tên coi kho  to lớn tham lam nhét vào hậu môn tới ba đỉnh bạc, lúc rời kho hắn thở hổn hển, mông cành ra như kẹp cả một bọng cứt, viên quan thấy điệu bộ của hắn bất thường bèn đạp vào mông hắn một cái, tên coi kho quỵ xuống và một đỉnh bạc rớt ra khỏi hậu môn. Viên quan đạp thêm mấy đạp, hai đỉnh nữa chui ra, thế là mánh lới của những tên coi kho bị phát hiện ! (sau này những tên coi kho khi ra về đều bị vạch hậu môn ra khám)

Sự vụ tâu lên Vua, Vua ra lệnh cho Ngục Áp Tư nghĩ ra hình phạt, kết quả là những tên coi kho bị giết bằng những thanh sắt nung đỏ xiên vào hậu môn, riêng tên bị bắt quả tang thì bị tội chém ngang lưng, xử công khai coi như phân trần với xã hội sự oan uổng của những quan coi kho bị giết trước đây.

Đêm trước khi xứ án, đích thân Già phải mài lưỡi búa Tuyên Hóa vì từ thời Sư Tổ, chém ngang lưng thì phải chém bằng búa, Dí Cả, Dì Hai chuẩn bị thừng chạc, đôn, ghế … và để đề phòng còn mang thêm một thanh Đại Đao nữa.

Buổi sáng, tên coi kho được giải lên bục thi hành án. Tên này uống hơi nhiều rượu đoạn hồn nên say xỉn, mắt đỏ ngầu như mắt cá chày, miệng sủi bọt y hệt một con trâu điên. Vai hắn hích nổi ngàn cân nên khi hắn cựa Dì Cả, Dì Hai không sao giữ nổi. Hắn càng quậy người xem càng ồ lên thích thú  hắn càng quậy dữ ! Chật vật lắm mới trói được hắn vào cái đôn bằng gỗ, Dì Cả đè đầu, Dì Hai đè chân, hắn không hiền chút nào, hai tay vung loạn xạ, hai chân đạp như ngựa đá, xương sống uốn như rắn, lưng gồng lên như sâu đo. Quan Giám Hình sốt ruột, không đợi trói xong đã ra lệnh thi hành án. Già vung lưỡi búa lên quá đỉnh đầu rồi chém mạnh xuống, Soạt … một luồng ánh sáng trắng kéo theo một làn gió, Phụt… một làn sóng đỏ bắn tung tóe vào mặt Dì Cả  Dì Hai, mặt của  hai Dì dính đầy máu. Nhát chém không gọn, chỉ đứt có một nửa vì khi lưỡi búa hạ xuống, tên phạm vặn mính một cái, nên chỉ đứt một bên bụng ! Tiếng gào thảm thiết của hắn át cả tiếng reo hò của người xem, ruột của hắn tuồn ra ngoài bụng. phủ kín cái đôn gỗ. Lưỡi búa đã bập sâu vào đôn, cán búa dính đầy máu, trơn tuột không rút ra được để chém thêm nhát nữa, công chúng lại reo hò vì nghịch cảnh xảy ra. Tên phạm nhân tay nào chân nấy quẫy đạp lung tung, tiếng gào của hắn kinh thiên động địa, ngay lúc ấy Dì Cả tự động tiến lên vung đao, nghiến răng chặt một nhát, tên phạm đứt làm hai đoạn, Già quay lại bẩm Giám Quan  : – Án đã thi hành xong, mời Đại Nhân nghiệm thu !

Các Đại Nhận ngồi im như phỗng, mặt tái nhợt. Nửa người dưới của tên phạm vẫn đang co giật nhưng không mạnh, còn nửa người trên thì kinh khủng, tên phạm gần như hóa thân của con chuồn chuồn, mất nửa người dưới mà còn định cất cánh bay. Hắn chống hai tay xuống đất, dựng thẳng người lên, nhảy lóc cóc trên bục hành hình, máu và ruột gan của hắn quấn quanh chân của hai Dì, mặt hắn như dát vàng, nhẵn bóng, miệng hắn rộng như chiếc tam bản, gào to mà không nghe rõ gào câu gì ? chỉ thấy bọt máu phun phì phì. Kỳ dị nhất là cái đưôi sam cứ cong dần lên như đuôi con rết, dựng đứng sau gáy một lát, rồi mệt mỏi thả xuống, thẳng đuỗn. Công chúng nín thở, người yếu bóng vía thì hai tay bưng mặt, có người lợm giọng, nôn khan . Tên phạm vật vã khoảng hút tàn một tẩu thuốc mới ngã xuống, ngã rồi miệng vẫn nhai chóp chép, bịt tai lại cứ tưởng đó là tiếng trẻ con bú sữa ! Cả Già và hai Dì đều ướt đẫm mồ hôi !.

Nhưng giết người bằng cách chém như kể trên chỉ là để xử những vụ án tầm thường, có những vụ án lớn cần xử để làm gương thì Đao Phủ phải nặn óc, lật sách  tìm tòi rồi đưa ra những hình phạt được xem là khốc liệt nhất để cấp trên chọn lựa.

Như đã nói, Đao Phủ hạng nhất luôn có những phát minh sáng tạo của riêng mình thì Đai Diêm Vương là một hình phạt được xem như một thí dụ.

 Đai Diêm Vương còn gọi là  “Hai rồng vờn ngọc”. Chế tạo hình cụ này cực kỳ phiền phức, chỉ riêng cái đai thép, cứng không được mà mềm cũng không xong, nó phải là loại thép dẻo cao cấp mà chỉ thợ rèn lão luyện mới làm được ,khi đã có đai thép rồi thì lại phải mua da trâu chưa thuộc về cắt thành sợi, bện thừng dể lồng vào đai thép, phải ước chừng cái đầu phạm nhân cỡ nào dể khi chụp đai thép lên đầu thì hai mắt của hắn khớp với hai lỗ trên đai. Mục đích của Đai Diêm Vương là giết gà dọa khỉ, giết người này để răn đe những người khác, nên thời gian thụ hình chí ít cũng phải một giờ, phải hấp dẫn hơn là xem kịch, phạm nhân phải chảy cạn mồ hôi mới được chết, người hành sự cũng phải mồ hôi đầm đìa thì mới chứng minh được trình độ và giá trị của Đai Diêm Vương.

Người bị hành hình bị trói vào cột. Sau khi có lịnh thi hành án thì hai Đao Phủ bước tới chụp đai thép vào đầu phạm nhân, chụp xong, mỗi người lùi lại hai bước kéo căng sợi da trâu trong tay vừa kéo vừa dừng, sợi dây da trâu cũng vừa căng vừa dừng cùng với tiếng rú của phạm nhân, cứ căng là rú, dừng là im, căng rú, dừng im.. Đao Phủ lúc này là một Nhạc Sư cao thủ không phải đang giết người mà đang tạo ra những âm hưởng làm kinh động lòng người !

Thường thì chỉ một thời gian ngắn, phạm nhân sẽ ỉa đái trong quần, mùi xú uế sẽ bốc lên, người xem mặt xanh như tàu lá, không dám thở mạnh, có người ngất xỉu, thế là đã đạt được mục đích răn đe.Trong lúc đó Đao Phủ vẫn vận sức căng đều, cái đai xiết chặt từng li một, đầu nạn nhân thắt lại như quả bầu be, phạm nhân đã cạn mồ hôi. giờ đây rỉ ra một chất như mỡ cá, vừa tanh vừa khẳm vượt xa mùi cứt đái ở trong quần. Đó là lúc Đao Phủ quyết định, cả hai cùng ngả người về sau, đai thép kẹp hết cỡ hai con mắt phạm nhân lòi dần ra ngoài qua cái lỗ của đai thép, càng lồi càng to giống như quả trứng gà chui ra tứ lỗ đít con gà mái, sau đó là hai tiếng Bụp, Bụp vang lên, hai con ngươi của phạm nhân sẽ treo lủng lẳng dưới Đai Diêm Vương ! Gia hình đến đây thì Đao Phủ cũng ướt đẫm mồ hôi, nạn nhân cũng vẫn chưa được chết, chỉ mới ngất lịm đi thôi, lúc này thì đầu đã vỡ và tất nhiên máu với óc phải vọt ra lênh láng ! Chừng tàn một tẩu thuốc sau đó thì nạn nhân mới chết hẳn !

Đai Diêm Vương tuy là một cách hành hình ghê rợn nhưng chỉ khoảng một giờ là phạm đã chết, để nâng cao tính răn đe thì cái đau khổ phải được nâng cao liên tục, cái chết cũng phải được kéo dài hơn và án Lăng Trì là một điển hình !

Ai cũng từng biết lăng trì là xẻo từng miếng thịt cho đến chết nhưng ít người biết xẻo như thế nào ? Miếng nào trước, miếng nào sau, phải xẻo bao nhiêu nhát…? Muốn biết thì phải tìm đọc sách : ”Sách không phổ biến nơi thư quán“, sách này của một Già đời Minh truyền lại. Trong sách ghi rất nhiều loại hình phạt, cách thức thi hành án và những điều cần chú ý. đây là một trứ tác kinh điển về nghề đao phủ. Sách giải thích cặn kẽ cho Đao Phủ về hình phạt lăng trì. Lăng trì có ba cấp độ :

– Cấp một xẻo ba nghìn ba trăm năm mươi bảy miếng (3357)

 – Cấp hai xẻo hai nghìn tám trăm chín mươi sáu miếng (2896)

– Cấp ba xẻo một nghìn năm trăm tám mươi lăm miếng (1585)

Bất kể xẻo bao nhiêu miếng, nhưng miếng cuối cùng phải là vừa xẻo xong, phạm nhân chết liền. Do vậy, phải bắt đầu xẻo từ chỗ nào, miếng trước cách miếng sau bao lâu đều phải tính toán chính xác căn cứ vào giới tính, thể trạng của phạm. Nếu chưa xẻo đủ miếng mà phạm đã chết, hoặc đã đủ số miếng mà phạm  chưa chết thì phải coi đó là lỗi của Đao Phủ. Tiêu chuẩn tối thiểu của lăng trì là các miếng phải sàn sàn như nhau, đưa lên bàn cân không chênh lệch nhau mấy ! Điều này đòi hỏi khi thi hành án Đao Phủ phải bình tâm tĩnh khí, tâm phải chi li như sợi tóc, phải quyết đoán khi ra tay, vừa như thiếu nử thêu hoa, vừa như đồ tể giết lừa. Bất cứ sự nhu nhược chần chừ nào, bất cứ sự lơi lỏng nóng vội nào đều ảnh hưởng tới tay dao, làm cho động tác bị biến dạng. Làm được như trên không phải dễ, vì cơ bắp con người, sự liên kết giữa các bộ phận và đường gân, thớ thịt không giống nhau nên hướng dao và dùng sức ít nhiều đều dựa vào linh cảm. Những đao phủ thiên tài như Sư Tổ Cao Đào, cụ Trương Thang đều dùng tâm, dùng mắt xẻo thịt chứ không dùng dao dùng tay ! Xưa nay có hàng vạn án lăng trì nhưng thi hành đạt đến mức hoàn mỷ thì gần như không có, đại để là chỉ xẻo cho chết thôi, vì thế càng về sau số nhát dao càng ít đi, cho đến triều Thanh thì năm trăm nhát là nặng nhất. Nhưng thực hiện được năm trăm nhát thì cũng hiếm như lông phượng sừng lân rồi !

Đao Phủ bộ Hình hành sự cẩn trọng theo đúng qui củ của người xưa để lại, là xuất phát từ lòng tôn kính một chức nghiệp thiêng liêng lâu đời. Còn ở Châu, Phủ, Huyện.. rồng tôm lẫn lộn, hành nghề đao phủ đa số là bọn lưu manh, thổ phì, bọn chúng bớt xén, phạt xẻo năm trăm miếng mà xẻo được hai ba trăm là đã giỏi lắm rồi, phần lớn chặt người ra làm tám khúc, hoặc đâm chém lung tung cho đến chết.

 Đại để một vụ xử án Lăng Trì như sau :

Khi vừa có lệnh Khai đao thì Đao Phủ được đệ tử nhét vào tay một con dao nhỏ chuyên dùng xẻo thịt, khi phạm nhân còn đang hồi hộp thì đã bị vỗ một cái thật mạnh vào tim làm cho mắt trợn ngược lên, cùng với cái vỗ, tay kia đã khoanh một nhát ở ngực bên phải của phạm, miếng thịt được găm vào dao rồi đưa lên cho mọi người xem, ngay lúc ấy tên đồ đệ đứng gần bên đếm : Miếng thứ nhất ! Theo cách gọi của người trong nghề thì miếng thứ nhất để tạ trời.

 Nhát thứ hai bên ngực trái cũng chính xác và bằng như miếng thứ nhất, trên ngực của phạm giờ đây đã có hai cái lỗ bằng đồng xu nhưng chảy máu rất ít nguyên do trước khi khai đao, trái tim phạm nhân bị co rút bất chợt do cú vỗ nên tốc độ tuần hoàn của máu chậm hẳn lại .Đồ đệ tiếp tục đếm : Miếng thứ hai !

Đao Phủ trình làng những gì xẻo được trên người phạm là dựa trên cơ sở pháp luật và tâm lý : Một là biểu lộ sự vô tư của pháp luật, sự cẩn trọng của đao phủ, hai là tạo sự chấn đông tâm linh trong dân chúng đến xem hành hình để họ bớt phạm tội. Miếng thứ hai vứt xuống đất là để tạ đất .

Có một cái khăn lau làm bằng da bụng con dê dấp nước muối để lau vết cắt cho phạm, để nhát cắt giống như vết mới cắt trên vỏ cây. Miếng thứ ba cắt liền kề vết cũ nhưng vẫn phân minh,v ết nào ra vết nấy, có người gọi hình phạt lăng trì là xẻo vẩy cá, gọi như vậy thì hình tượng và xác đáng hơn. Miếng thứ ba quăng lên trời để tạ quỉ thần. Đồ đệ lại đếm  :Miếng thứ Ba !

Xẻo đến miếng thứ năm mươi thì cơ bắp trên ngực phạm đã hết, đến đây thì đồ đệ đổi dao mới cho Đao Phủ vì dao gặp máu người rất mau cùn, thường thì đến đây  các phạm đều gào thét vì đau đớn gây kinh sợ cho người xem, như thế mới  đạt mục đích giết gà dọa khỉ, nhưng nếu gặp phải phạm gan lì, không rên la thì đao phủ có kinh nghiệm sẽ có cách trị ! Số là các hảo hớn không sợ róc da, rút gân nhưng lại sợ mất bộ đồ nghề trong đũng quần, vì rằng không chỉ đau kinh khủng khi bị cắt cái đó, mà còn nỗi khiếp hãi về mặt tâm linh, sự nhục nhã về mặt nhân cách. Tuyệt đại đa số đàn ông thà chịu chặt đầu chứ không chịu thiến đi con giống, người đàn ông dù hung hăng đến mấy chỉ cần cắt bỏ cái trong đũng quần là mất sạch oai phong. Trong trường hợp này Đao Phủ sẽ dùng tay trái lôi cái ấy ra khỏi ổ và tay phải nhanh như chớp Soat .. và đồ đệ cao giọng đếm : Miếng thứ năm mươi mốt !

  Phạm nhân dù có gan lì đến mấy thì bây giờ cũng phải gào lên, càng gan lì thì tiếng gào càng khủng khiếp, cùng với tiếng gào là tiếng chửi rủa, thóa mạ, ở đây sẽ có một phá lệ là để tránh bớt bị xúc phạm, quan sẽ hạ lịnh cắt lưỡi, cắt lưỡi là không đúng trình tự, vì phạm sẽ mau chết, muốn phạm không chết trước nhát thứ năm trăm thì Đao Phủ phải múa tay cắt thật nhanh, đệ tử cũng phải đếm như máy và thịt của phạm liên tiếp bay ra như mưa đá …..!

…. Đến nhát thứ chín trăm bốn mươi bảy thì theo qui định có hai cách lựa chọn một là khoét đôi mặt , hai là xẻo đôi môi, thường thì Đao Phủ chọn khoét hai mắt. Khoét mắt để phạm trở thành con ma biết an phận, mắt không nhìn thấy thì tâm không loạn, xuống âm tào địa phủ khỏi phá khuấy, dương gian không cho phép quậy, âm gian cũng không cho phép quậy. Bất luận ở đâu, quậy là không cho phép. Nhát thứ bốn trăm chín mươi chín xẻo mũi và năm trăm là nhát dao đâm trúng tim phạm nhân !

Đến nhát thứ năm trăm thì phạm nhân xem như đã chết mà Đao Phủ thì cũng mệt đứt hơi vì phải mất cả nửa ngày mới xong công việc .

Song, nếu chỉ đến như vậy thì cũng chưa  nói lên hết được nghệ thuật giết người của Tàu, một đất nước có số dân đông nhất thế giới, một đất nước tự hào là nằm ở trung tâm của vũ trụ thì cũng phải có những cái sáng kiến gầm trời cuối đất không đâu có được, phải là Tàu thì mới có biệt tài làm cho tội nhân phải đau khổ đến tận cùng, đau khổ mà muốn chết cũng không xong, muốn sống cũng không được.

Đất nước Tàu thì cái gì cũng có, họ có một loại gỗ tên rất đẹp là Đàn Hương. Gỗ Đàn Hương rất cứng nhưng lại dẻo, thân gỗ có mùi thơm và luôn tiết ra chất dầu trơn tuột. Một Tổ Sư trong nghề đao phủ đả nghĩ ra cách dùng gỗ Đàn Hương vót thành một cái cọc đâm từ lỗ đít lên gáy rồi trói phạm vào một gốc cây. Hình phạt này gọi là Đàn Hương Hình.

 Thoạt nghe qua thì thật đơn giản nhưng khi hành sự thì mới thấy là cả một nghệ thuật mà không một dân tộc nào trên thế giới có thể nghĩ ra được.

 Án muốn thi hành thì phải có thời gian, trước hết là phải dựng một cái đài cao bằng gỗ, trên đài dựng một cây cột, trên cột đính một thanh ngang. Một bên đài phải lát một con đường bằng ván cho người thi hành án lên xuống. Những thứ cần dùng là hai thanh gỗ đàn hương loại tốt được vót nhọn hình thanh kiếm, hai trăm cân dầu thơm đã tinh luyện để đun kiếm đàn hương ít nhất một ngày, một đêm (như vậy mới bảo đảm đâm không dính ruột, không thấm máu), mười sợi dây thừng bằng da trâu chưa thuộc, một dùi đục bằng gỗ táo, một con gà trống lông trắng, mào đen, dao bầu hai con, gạo tẻ một trăm cân, bột trắng một trăm cân, trứng gà một trăm quả, thịt lợn hai mươi cân ,thịt trâu hai mươi cân, nhân sâm loại một, nửa cân, ấm sắc thuốc một cái, củi đun ba trăm cân, thùng gánh nước, hai cái, ang đựng nước một cái, chảo to một cái, chảo nhỏ một cái.

Đầu tiên là việc vót hai thanh kiếm, đầu nhọn nhưng lưỡi không sắc, dùng giấy nhám thô, rồi mịn đánh đi đánh lại cho đến khi có thể soi gương rồi thả hai thanh gươm vào trong chảo dầu đang sôi sùng sục, kế đến là nhào bột thả vào chảo dầu để đàn hương thấm mùi ngũ cốc, thanh kiếm đàn hương sẽ đi từ cốc đạo rồi xuyên suốt lên trên, đàn hương nhiễm vị ngũ cốc sẽ có lợi cho cơ thể phạm nhân. Bột xong thì bỏ thịt vào, thịt làm cho kiếm đàn hương thấm mùi thịt sau khi thấm mùi ngũ cốc, thấm mùi thịt thì gỗ đàn hương mới dẻo. Số thịt còn lại thì khi phạm thụ hình, đao phủ sẽ ăn thịt còn phạm thì húp nước.

Sau một ngày một đêm  hai thanh gỗ được vớt lên bóng lộn và nặng hơn trước nhờ đã thấm dầu nên vùa cứng vừa trơn.

Trước khi thi hành Đàn Hương Hình thì Đao Phủ cũng như thường lệ, phải bái Tổ, giết gà, bôi máu lên mặt. Phạm nhân phải nằm sấp trên một tấm ván, đao phủ phụ việc sẽ tiến hành việc trói chặt, sao cho không thể luồn được ngón tay dưới dây thừng. Khi nhận lệnh bắt đầu hành hình thì đao phủ phụ việc túm lấy đít quần của phạm khoanh một nhát lộ cả mông đít ra rồi nắm lấy cái dùi đục làm bằng gỗ táo, trong khi Sư Phụ đứng bên trái phạm nhân lựa mũi nhọn cắm vào dưới xương cụt, hai tay giữ chặt ra hiệu cho đệ tử bắt đầu đóng, cách đóng cọc này cũng phải có nghệ thuật, phải đều đều, không nhanh không chậm, không mạnh không nhẹ, cứ mỗi lần đóng thì chiếc cọc lại cắm sâu vào trong cơ thể, phạm nhân có gan dạ cách mấy thì cũng phải run lên bần bật, cái đầu cũng phải ngọ nguậy, cái cổ cũng phải dài ra, mồ hôi cũng phải chảy từng dòng đặc quánh như cháo vừa múc ra khỏi nồi. Gỗ đàn hương vốn đã trơn lại được tẩm dầu và cắm sâu từ từ nên không làm tổn thương nội tạng, thật là một án phạt tàn độc nhất trong thiên hạ !

 Phạm nhân có lỳ lợm cỡ nào thì rồi cũng phải kêu gào thảm thiết, tiếng kêu gào tự nhiên hòa hợp nhịp nhàng với tiếng dùi cui đóng vào cọc gỗ ,một ban nhạc chỉ có phạm nhân và đao phủ nhưng phát ra những âm thanh mà người nghe yếu bóng vía phải bưng mặt, bịt tai, có người run chân đứng không vững… Phải một hồi lâu thì cái cọc mới xuyên ra vai, phải một hồi lâu phạm nhân chịu đau khổ mà không địa ngục nào có thể so sánh được và, phải một hồi lâu người ta vẫn nghe tiếng kêu gào thảm thiết của phạm nhân !

Giờ đây phạm nhân đã thành một người bị cọc xiên từ đít lên tới vai và, tấm ván có phạm nhân được khiêng lên đài, tại đây phạm nhân sẽ được cắt dây trói và để hạn chế tiêu hao sức lực cũng như tránh tổn thương nội tạng do dãy dụa, người ta trói hai chân vào cột, hai tay vào xà ngang chỉ cái đầu là được tự do. Không lâu sau khuôn mặt phạm nhân sẽ bị xung huyết sưng to, miệng rỉ máu, mắt chỉ còn là một kẽ hở, lúc này người ta sẽ dùng một cái tù và bằng sừng trâu có đục lỗ để nhét đầu nhỏ vào mồm, đầu lớn hướng lên trên để đổ sâm cho phạm, có nước sâm thì mặt bớt sưng và miệng không rỉ máu. Từ đây cứ đúng giờ là phạm lại được đổ nước sâm, nước thịt.

Theo kinh nghiệm thì sau hai ngày hai đêm, ở đầu cọc nhô ra và đuôi cọc phía dưới sẽ làm mủ chảy nước vàng, mùi hôi thối sẽ xông lên nồng nặc quyến rũ lũ ruồi nhặng ở đâu bay tới, người phạm nhân nóng như lò lửa, tóc khô khốc như rơm gác bếp, trong lồng ngực thì có tiếng khò khè nhưng phạm nhân vẫn chưa được chết, người ta vẫn đổ nước thịt, nước sâm để phạm nhân phải sống cho đến ngày mà người ta muốn, nếu cần thì cho thầy thuốc tới tẩy rửa vết thương, làm mọi cách để ruồi nhặng không bu vào đẻ trứng, đổ thêm nước thịt, nước sâm.. .tóm lại là không được phép để cho phạm chết trước ngày đã định !

Đến ngày thứ tư thì thân hình của phạm nhân đã ngót đi nhiều, mặt nhỏ lại, mắt to ra, xương sườn hiện rõ sau làn da, chỉ đến khi ấy nước thịt cùng sâm cũng đã hết, người ta cũng đã mệt mỏi, chán chường thì phạm nhân mới được từ từ chết !

Giết người mà có tính toán chi li từng đường tơ kẽ tóc, có nghiên cứu tỉ mỉ từng chi tiết, có sách vở truyền lại từ đời này qua đời kia, có bổ sung thêm bớt theo từng thời đại, có ông Tổ phù hộ độ trì cho, đã thành một ngành nghề  thì cái cách giết người ấy đã không còn đơn giản nữa, nó đã trở thành một quốc sách, một nghệ thuật mà trên thế giới không nước nào sánh được  ! !

(Những ngày đầu năm Tân Mão) Đoàn Hồng post

Kiếp luân hồi

TÁI SINH Ở PHƯƠNG TÂY

(Reborn in the West)  

của Vicki Mackenzie

– Nguyên Ngọc chuyển Việt ngữ

            Vào một buổi chiều lười biếng ở Sydney, tôi mở Tivi và thấy chương trình Oprah Winfrey đang tranh luận về kiếp trước kiếp sau, cuộc tranh luận rất sôi nổi. Đây là một “talk show” của Mỹ. Khách mời là Dr. Hazel Denning, bác sĩ phân tâm học, là một phụ nữ có tuổi, thông minh, ăn nói rất lưu loát và là sáng lập viên của hội Association for Past life and Therapies (Hội Nghiên cứu kiếp trước kiếp sau để ứng dụng vào việc chữa trị). Là một người tiền phong trong lãnh vực này, bà đã đi nhiều nơi trên thế giới thuyết giảng về luân hồi.

Ngoài tài ăn nói rõ ràng lưu loát về đề tài luân hồi, về vấn đề kiếp trước ảnh hưởng đến kiếp hiện tại, bà còn là một bác sĩ tâm lý trị liệu rất giỏi. Tôi nghĩ công trình nghiên cứu của bà về luân hồi vào khoa tâm lý trị liệu ở Tây phương sẽ là những tài liệu quý báu cho tôi, nên tôi tìm cách hội kiến với bà.

Máy bay hạ cánh xuống một phi trường nhỏ ở miền Nam California. Giáo sư Denning thân hành ra đón tôi. Người nhỏ thó, lưng thẳng đi đứng nhanh nhẹn tuy đã ngoài tám mươi. Bà ung dung lái xe về nhà ở Riverside, nơi sản xuất cam nổi tiếng của Cali. Trong căn phòng làm việc của bà treo đầy bằng cấp, chứng chỉ : hai bằng tiến sĩ, hai bằng thạc sĩ, bằng cấp cử nhân và rất nhiều văn kiện chứng thực bà rất uyên bác về khoa thôi miên và khoa cận tâm lý (Parapsychology).

Trong hai ngày tôi ở lại nhà bà, bà kể cho tôi nghe về công việc của bà và giải thích lý do bà chọn công việc này. Từ hồi nhỏ, giáo sư Denning hay thắc mắc muốn tìm hiểu “tại sao” về việc này việc nọ, tại sao con người phải chịu khổ đau. Bà không tin đó là ý Chúa (God). Bà cho là tin như vậy có vẻ không hợp lý.

Năm ngoài hai mươi tuổi, tình cờ bà được đọc một cuốn sách về luân hồi. Bà vui mừng,”Ôi chao ! Tôi đã tìm được giải đáp cho những thắc mắc của tôi rồi. Tôi quá đổi vui mừng và suy nghĩ : cuối cùng thì tôi cũng tìm được một lời giải hợp lý, có thể lý giải được tất cả những bất công của thế gian”.

Hồi đầu thì bà chưa tin lắm. Bà tìm đọc những tài liệu xưa để xem những thức giả đời trước nghĩ sao về luân hồi, và khám phá ra rằng tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới đều tin luân hồi kể cả Thiên chúa giáo cho đến năm 533 sau Tây lịch, thì một ông vua La Mã và bà hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi nữa. Có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách. Ít người biết biết đến dữ kiện này. Cũng không mấy ai biết chuyện những cha cố ngày xưa như cha Origin và ông thánh Augustin đều tin có luân hồi. Bà nói, “Vậy những người nào nói rằng tin có luân hồi là trái với giáo điều Thiên chúa giáo là không biết những chuyện này”. Bà càng thích thú hơn khi khám phá ra những nhân vật nổi tiếng từ cổ chí kim đều tin có luân hồi, từ Plato, Aristotle, Socrates đến Henry Ford, Gladstone, Thomas Edison, đại tướng Patton và nhiều người khác nữa. Bà áp dụng những hiểu biết về luân hồi vào khoa chữa bệnh tâm thần để tìm hiểu nguyên do sâu xa do đâu mà bệnh nhân dường như sống ở một thế giới khác, hay có nhiều sợ hãi vô lý (phobia).

Tôi nóng lòng muốn biết giáo sư Denning làm sao dung hòa được hai vai trò có vẻ trái ngược, vai trò của một bác sĩ tâm thần và vai trò của một người dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về kiếp trước. Làm sao bà có thể chấp nhận lối giải thích của các bác sĩ tâm lý trị liệu hiện nay dùng chữ nghiệp (karma) để giải thích rằng những gì xảy ra trong đời này đều do nghiệp chướng đương sự đã tạo nên từ nhiều đời trước.

Giáo sư Denning không tin môi trường sống là tác nhân chính ảnh hưởng đến cách hành xử của một người. Bà công nhận hoàn cảnh bao quanh đời sống cũng đóng một vai trò khá quan trọng nhưng không phải là yếu tố chỉ huy. Theo bà thì mục đích của đời sống ở thế gian là để tu tâm hướng thượng. Một người tái sanh ở lại cõi trần là để thanh toán, thành tựu những gì mình làm dang dở trong những kiếp trước. Bà nói có những đứa trẻ sanh ra với một bản tánh yêu đời, đứa khác thì hay cáu giận, tức là mang theo chủng tử của kiếp trước.

Theo bà thì số phận (destiny) của mỗi người không thể thay đổi được những phước báu của cha mẹ hay môi trường chung quanh có thể làm cho đời sống của người ấy thoải mái hơn hay khó khăn hơn.

Vì thế giáo sư Denning quyết định trở nên một nhà thôi miên chuyên nghiệp. Bà muốn dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về sống lại kiếp trước của mình. Bà rất cẩn trọng, tỉ mỉ và trung thực trong công việc này. Bà không tìm cách khống chế tư tưởng của bệnh nhân. Bà nói ngày trước trong khoa thôi miên người ta thường dạy phương pháp gợi ý cho bệnh nhân (post-hypnotic suggestion) dùng những câu như “Không được ăn thức ăn này. Thức ăn này ghê lắm v.v…”. Tôi không dùng phương pháp ấy, trái ngược với nguyên tắc của tôi. Tôi tìm được cách riêng của tôi mà không cần khống chế tâm ý của bệnh nhân. Vì thế tôi muốn dùng cụm từ “đổi đời” (altered state) thay vì hai chữ thôi miên”.

            Năm 1980 bà lập hội “Association for Past Life Research and Therapies” và vui mừng thấy hội phát triển nhanh hơn dự tính, vì số người tin và muốn tìm hiểu luân hồi ngày càng đông. Bà khẳng định rằng khoa hướng dẫn bệnh nhân nhớ lại kiếp trước (Past Life Therapy) trở nên một dụng cụ hữu hiệu trong khoa tâm lý và y khoa toàn diện – chữa trị cả thân và tâm. Đường hướng này không những phát triển nhanh ở Mỹ mà còn lớn mạnh ở các nước khác trên thế giới. Bà được mời đi nói chuyện nhiều lần ở Á châu và ở trường đại học Ultrecht của Hòa Lan, một trường đại học xưa nhất, mà cũng là trường đại học đầu tiên có giảng dạy môn cận tâm lý (parapsychology).

Ở Mỹ những người tìm đến với Dr. Denning gồm đủ mọi thành phần xã hội. Bà dùng phương pháp thông thường trước. Nếu không có kết quả thì bà đưa bệnh nhân trở về kiếp trước để tìm hiểu nguyên nhân. Bệnh nhân của bà gồm đủ mọi hạng người, mục sư có, chuyên viên có, rất nhiều nhà giao, nhiều quân nhân và các thành phần khác. Thường thường ai cũng muốn hỏi. “Mục đích của đời sống là gì?”, “Tôi đang làm gì ở đây”, “Tôi trở lại lần này để làm gì?”

Bệnh nhân của bà thường ở lứa tuổi ba mươi đến bốn mươi, nhưng có một cô bé chín tuổi xin cha mẹ đến gặp bà để tìm hiểu tại sao cô sợ máu lắm. Mới chín tuổi nhưng cô rất chững chạc. Vừa thiếp đi cô bé thấy kiếp trước của mình là một ông già đang giẫy chết vì bệnh tim. Bỗng dưng cô la lên, “Không, tôi không phải chết vì bệnh mà vì tôi quá đau khổ”. Rồi cô bắt đầu kể đến ông già – tức là tiền thân của cô – đưa vợ đi ăn tiệm. Một tên cướp vào tiệm bắn chết nhiều người trong đó có vợ ông. Cô thấy người “vợ” chết trong vũng máu – ấn tượng hãi hùng đó theo thần thức qua đến đời này. Thêm vào đó là mặc cảm tội lỗi đã không cứu được người “vợ” của mình ray rức hành hạ cổ, bà kết luận.

            Quan điểm của giáo sư Hazel Denning về vấn đền này rất rõ ràng vì bà chứng kiến hàng ngàn bệnh nhân đã đổi đời, bà đã thấy rõ bao nhiêu thảm cảnh trong nhiều kiếp của họ và bà đã triển khai riêng lý thuyết của bà. Cuộc đàm thoại sau đây giữa cô Mackenzie với giáo sư Denning, vì vậy, không những có giá trị về mặt thông tin mà còn rất thù vị và hào hứng.

Vicki Mackenzie: Tại sao lại có hiện tượng tái sanh ?

Hazel Denning: Khi đưa một người trở về kiếp trước và tìm hiểu tại sao đương sự chọn tái sanh vào gia dình này, và mục đích của họ trở lại thế gian để làm gì thì ai cũng có câu trả lời tương tự: “Quả thật tôi không muốn trở lại thế gian chút nào. Ép mình vào cái xác phàm như đi vào tù, ngột ngạt lắm”. Khi tôi hỏi lại : “Vậy tại sao ông/bà lại trở về, có ai bắt mình ở lại đâu?” thì câu trả lời luôn luôn là : “Vì thế gian là một trường học để rèn luyện nhân phẩm của mình. Muốn trau dồi tâm linh, muốn hướng thượng thì phải trở lại thế gian. Mà thật tình tôi muốn tu tâm nên tôi phải trở lại thế gian này”. Đó là câu trả lời tôi ghi lại.

Vicki Mackenzie: Theo kinh nghiệm của bà thì người ta trở lại thế gian này bao nhiêu lần ?

Hazel Denning: Vô lượng kiếp, cho đến khi họ học hỏi thành tựu được những điều mong muốn. Ngay cả trong đời hiện tại này có người phải mất nhiều năm mới thấy rõ ý nghĩa của những chướng ngại khó khăn xảy ra cho mình. Có một bà khi đến phòng mạch lần đầu tuyên bố rằng, “Tôi đến đây muốn hỏi về tình yêu lứa đôi”. Trả lời thế nào với bà này ? Là bác sĩ chuyên môn về khoa tâm lý, tôi không thể nói bà cứ yêu đi rồi sẽ được yêu. Bà vẫn đến phòng mạch nhưng không thường xuyên. Mãi đến mười tám năm sau bà mới tìm ra “chân lý”.

Trong thời gian không gặp mặt, bà có một đời chồng, ly dị, ăn ở với một ông khác, lấy chồng lần thứ hai, rồi cũng ly dị, ăn ở với năm, sáu ông khác nữa cho đến một hôm bà không chịu đựng được cảnh sống một mình nữa và cương quyết đi gặp tôi mỗi ngày cho đến khi nào tìm được nguyên nhân tại sao bà không thể chung thủy với một người. Cuối cùng thì bà thấy kiếp trước bà là con gái của một gia đình giàu có ở Hy Lạp. Khi chừng mười bốn tuổi, cô bé yêu cậu người làm cùng tuổi. Khi biết được, cha cô nổi trận lôi đình đày người yêu của cô ra một hòn đảo và bán cô cho một người đàn ông lớn tuổi. Quá đau buồn uất ức, cô tự tử chết. Trước khi chết, cô nguyện rằng. “Tôi thề sẽ không bao giờ, không giờ thương yêu ai nữa”.

Qua bao năm kinh nghiệm với công việc này, tôi thấy tư tưởng hay ý nguyện cuối cùng trước khi chết, nếu là tiêu cực sẽ theo người đó qua kiếp sau. Thí dụ nếu mình chết với lòng giận dữ, với tâm thù hận thì kiếp sau mình phải tu tâm dưỡng tánh để rửa lòng, để xả bỏ những thù hận của kiếp trước.

Trở lại chuyện bà khách. Sau khi biết tiền kiếp của mình, bà gặp được một người chồng tử tế và có hai đứa con. Bà đang hụp lặn trong hạnh phúc mà trước đây bà không thể tưởng tượng có ngày bà có thể được hưởng.

Sau khi chứng kiến câu chuyện bà này, tôi nghiệm rằng có nhiều người không thể một sớm một chiều mà tìm được lời giải. Họ cần phải trải qua nhiều biến cố nữa trước khi thấy cái nghiệp của mình. Và câu chuyện này cũng giúp tôi đi đến kết luận rằng mình không thể tự dối lòng. Cho đến khi mình thấy được cái nhân của đời trước, mình mới có thể giải quyết giải quyết cái quả của đời này. Nhiều khi phải đi sâu vào nhiều đời trước mới thấy được cái “nhân” chính đang chi phối đời sống hiện tại.

Vicki Mackenzie: Có những người đa nghi cho rằng bệnh nhân tưởng tượng ra những hình ảnh, thêu dệt nên những câu chuyện trong tiềm thức của họ để biện minh cho những đau buồn ưu não của họ ?

Hazel Denning: Nếu quả đúng như vậy thì khoa tâm lý học phải giúp được bệnh nhân giải quyết mọi ẩn ức của họ chứ. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Có nhiều bệnh nhận của tôi theo khoa tâm lý trị liệu trong nhiều năm mà không ăn thua gì.

Vicki Mackenzie: Bà có cho rằng chính mình tự chọn đời sống của mình không ?

Hazel Denning: Đúng vậy. Để tôi kể cho cô nghe một chuyện rợn tóc gáy. Một người đàn bà đến nói với tôi rằng: “Mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi thì chết rồi. Cả cha lẫm mẹ tôi bầm dập sờ mó tôi hồi tôi mới ba tuổi cho đến năm tôi mới mười ba tuổi”. Khi thiếp đi, bà sống lại cảnh tượng bị cưỡng hiếp hồi còn bé và la lên, “Cha ơi đừng, đừng làm con đau!” và bà nói tiếp liền “Tôi muốn tha thứ cho mẹ tôi trước khi bà chết nhưng tôi thấy khó tha thứ quá, tôi thù ghét cả cha lẫn mẹ”.

Nếu một người muốn sẵn sàng tha thứ, muốn quên hận thù cũ thì người đó đã được một sự chuyển hóa tâm linh cao và có thể hóa giải được. Nhưng nếu người nào nói ra rằng, “Đừng nói đến chuyện tha thứ những quân dã man đó, Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho họ. Tôi thù ghét họ”. Thì đừng tìm cách giúp họ tha thứ vì tâm họ chưa sẵn sàng.

Đối với bà này, tuy bà nói sẵn sàng tha thứ cho cha mẹ, nhưng tôi nghĩ “Làm sao tôi có thể giúp bà ta tha thứ cho người cha, người mẹ đã làm những chuyện ghê tởm như thế đối với con mình” ? Tôi bức rức, dằn vặt mãi và cuối cùng chính bệnh nhân đã giúp tôi tìm câu giải đáp. Bà thấy kiếp trước, thời Đức Quốc Xả, bà là một đứa trẻ bụi đời, sống lang thang đầu đường xó chợ và đã giết chết một đứa trẻ khác. Sau đó họ bị bắt vào Auschwitz, một trại giam người Do Thái, và bắt phải làm công việc kiểm soát những đứa trẻ Do Thái bị giết đã chết hẳn chưa. Lúc đầu công việc không làm bà phiền hà mấy, nhưng ngày lại ngày nhìn bao nhiêu xác trẻ con, bà chịu không được nên đã bỏ trốn và bị bắn chết. Bệnh nhân nói thêm rằng, “Đời sau, khi tái sanh, tôi muốn cha mẹ tôi hành hạ tôi để tôi trả nghiệp cho mau. Vì vậy tôi phải cám ơn hai vị này đã giúp tôi trả nghiệp báo”.

Vicki Mackenzie: Có bao giờ bà chứng minh được những mẫu chuyện tiền thân này thật sự xảy ra không ?

Hazel Denning: Có chứ. Tôi vẫn để tâm theo dõi mỗi khi có dịp tốt. Thí dụ trường hợp một thân chủ nhất định không cho các con đi coi đoàn biểu diễn của gánh xiếc. Bà biết cấm đoán như vật thật là vô lý nhưng bà không thể làm gì khác hơn. Khi được đưa trở về kiếp trước thì bà thấy chính bà là “con mụ mập” (the fast lady) của một gánh xiếc và bà ghét cay ghét đắng vai trò của mình. Bà nhớ cả tên người đàn bà mập ấy và cả tên thành phố nữa. Có một bệnh nhân khác có mặt hôm đó biết thành phố này. Ông tình nguyện sẽ tìm đến xem thì quả nhiên đầu thế kỷ 20, ở thành phố đó có một bà mập tên đó đã theo đoàn hát xiếc kiếm ăn như lời bà kia tả lại. Trong đời hiện tại bà này cũng mập.

Một bệnh nhân khác nhớ lại kiếp trước bà là một phú thương đàn ông bị chết chìm theo chiếc tàu Titanic. Bà nhớ tên tuổi của người đàn ông này. Về sau tìm xem sổ sách thì quả nhiên người đàn ông ấy là hành khách trên chiếc tàu Titanic. Bà kể khi nhìn thấy tên trong sổ bà rùng mình ớn lạnh!

Ngoài những chứng cớ cụ thể này, những chứng cớ cho thấy những chuyện tiền thân mà các thân chủ tôi nói ra là có thật, và nó rất hợp tình hợp lý với bối cảnh riêng của từng người. Nhờ đó họ có thể đổi đời, có thể thoát được những ray rứt, những sợ hãi vô lý làm xáo trộn đời sống hiện tại của họ.

Vicki Mackenzie: Có ai tỏ ra có mặc cảm tội lỗi khi nhìn thấy những việc xấu họ đã làm trong những đời trước ?

Hazel Denning: Không hẳn như thế sau khi họ hiểu mục đích của sự tái sanh và duyên nghiệp. Tôi giải thích cho họ thấy rằng những chuyện xảy ra trong quá khứ không quan trọng mấy. Quan trọng chăng là những gì mình học hỏi được từ những biến cố ấy, và dường như đây mới là nguyên tắc căn bản.

Có một trường hợp rất lạ lùng. Một bệnh nhân vừa bước vào phòng mạch là ngồi phịch xuống ghế, đấm mạnh hai tay vào thành ghế và la lớn, “Tôi ghét Chúa! Jesus Christ là một kẻ lừa đảo! Tôi đã cố gắng làm hết mọi thứ, đã đi tìm thầy chuyên môn, đã học hết kinh Thánh mà vẫn không thay đổi gì được cuộc sống của tôi. Tôi khổ quá!” Bà gặp toàn chuyện xui. Rờ tới cái gì thì hỏng cái đó mặc dù bà là một người có khả năng xuất chúng. Sự nghiệp làm ăn bà gây dựng nên tưởng như thành công, cuối cùng cái gì cũng thất bại. Đường chồng con cũng xấu. Tuổi còn trẻ mà trông như một bà già. Bác sĩ nói cơ thể của bà già trước tuổi đến hai chục năm.

Khi được hướng dẫn trở về kiếp trước thì thấy bà là một hồng y trong Tòa Án Dị Giáo (The Inquisition) do giáo hội La Mã Thiên Chúa chủ trì để trị tội những người ngoại đạo. Sự việc này làm đức hồng y (tiền thân của bà) rất đau khổ. Ngài biết trị tội những người ngoại đạo là sai lầm, nhưng đó là việc giáo hội muốn làm. Khi được hỏi tại sao bà trở thành công cụ chính trong Tòa Án Dị Giáo thì bà buột miệng nói rằng, “Đó là để cải tổ lại giáo hội vì giáo hội thời ấy quá hủ hóa, và tôi được giao trọng trách này”. Qua những chuyện tương tự, tôi thấy rằng những việc làm khủng khiếp đều có mục đích riêng.

Vicki Mackenzie: Đứng trên góc độ này, nghiệp báo trở nên khúc mắc, ly kỳ khó hiểu, phải không thưa bà? Vì nếu quan niệm những kẻ phạm tội ác chỉ là những công cụ giúp người kia trả nghiệp thì họ đâu có tội lỗi gì ?

Hazel Denning: Thật ra thì cũng khó nói lắm. Trùng trùng duyên khởi, cái nọ xọ cái kia, khó mà giải thích chữ nghiệp một cách rốt ráo. Mọi vật hiện hữu trên đời đều phụ thuộc tương tác lẫn nhau, chúng nương nhau mà sống. Nói một cách giản dị,có thể lấy ví dụ của một người chỉ thấy hạnh phúc trong sự đau khổ (masochist) có thể thỏa mãn nhu cầu của một người chỉ thấy vui sướng trên sự đau khổ của kẻ khác (sadist). Hai loại người này nương tựa vào nhau mà sống. Không có cái gì xấu hoàn toàn. Mỗi kinh nghiệm là một bài học. Ta có thể là thủ phạm làm điều ác trong một kiếp nào đó nhưng cũng có thể là nạn nhân trong một kiếp khác. Và cứ như thế, con người sống từ đời này qua đời khác cho đến khi nào họ học được bài học.

Tôi tin rằng chính chúng ta tự chọn con đường mình đi, dễ dàng hay chông gai là cũng do mình. Một khi mình nhận chân được sự thật đó và chấp nhận mục đích của đời sống hiện tại thì hoàn cảnh chung quanh có thể thay đổi. Nếu một người biết nhận trách nhiệm của mình thì người đó có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Còn những kẻ ngu muội không biết nhận trách nhiệm của mình mà cứ đổ lỗi cho người khác thì họ chưa sẵn sàng thay đổi. Chúng tôi, bác sĩ chuyên môn, phải thấy và biết rõ điểm này.

Khi đạt đến mức tỉnh thức tối thượng thì linh hồn (the soul) tự dưng hiểu thấu mọi lẽ – hiểu được mình là ai, tại sao mình hiện hữu ở đây; thấy những gì mình đã làm trong kiếp trước, và những gì mình sẽ làm về sau này vân vân và vân vân. Nhưng chính cá nhân người đó phải tự mình học hỏi. Và tôi cũng không hiểu lý do tại sao chúng ta phải học hỏi nhiều quá như vậy, nhưng tôi không phải là người tạo ra những quy luật ấy mà chỉ tìm cách phân tích lý giải chúng thôi.

Có người thật sự không muốn thay đổi hoàn cảnh không mấy tốt đẹp của mình như chuyện một bà nọ sinh ra với hai con mắt gần như mù. Bà phải đeo mắt kiếng dầy cộm. Sau khi soi căn, bà biết rằng chính bà muốn mắt mình như thế để ít thấy những phù du vật chất, để quên cái ngã của mình, để quay nhìn vào bên trong. Từ đó, bà vui vẻ với cặp mắt gần như mù của mình và không chịu tìm cách làm cho mắt sáng hơn.

Vicki Mackenzie: Bà có thấy ai chọn trở về gần gũi với những người họ quen biết từ nhiều kiếp trước không ?

Hazel Denning: Có, Nhưng vai vế thì thay đổi. Có người tái sanh với nhau để giải quyết nhiều vấn đề còn dang dở. Có người muốn trở lại để giúp đỡ những người thân. Tôi cho rằng các thánh tử đạo, hay những người chọn cái chết vì chính nghĩa là họ tự nguyện làm như vậy để thức tỉnh lương tri của nhân loại. Cho nên nói rằng nghiệp báo chỉ thể hiện như một sự trừng phạt thì không đúng, cũng có nghiệp dữ, nghiệp lành. Đó là luật nhân quả.

Tôi có quen biết một bà bác sĩ, một người đàn bà rất dễ thương mà lấy một ông chồng dễ ghét nhất trần gian. Khi nào ông cùng mè nheo, gắt gỏng, độc ác mà chính ông không cố tình độc ác. Dần dần, bà chán nản không còn thương chồng nữa. Nhưng không bao giờ bà có ý định ly dị.

Một hôm bà đến xin soi căn và thấy rằng bà đã gặp ông này ở một kiếp trước khi ông là một linh hồn lạc lỏng. Bà hứa kiếp sau sẽ lấy ông làm chồng và sẽ giúp ông tìm lại linh hồn mình. Và sau đó thì bà thay đổi thái độ, thật tình yêu thương ông, dịu dàng kiên nhẫn với ông và chỉ một năm sau thì ông cũng đổi tính. Ông đi nhà thờ với bà, ông lái chiếc xe sport màu đỏ rong chơi khắp phố phường. Ông nói năng vui vẻ, hài hước ai cũng thích.

Tôi dùng câu chuyện này để khuyên răn những gia đình có chồng nghiện rượu. Tuy người vợ tha thứ sự nghiện ngập của chồng nhưng tình cảm đối với chồng thì đã sứt mẻ. Tôi nói với họ rằng. “Nếu chị thật tình thương yêu và muốn cải hóa chồng thì chị không nên dùng giọng lời gay gắt với chồng mà nên bộc lộ tình thương, ăn nói dịu dàng thì ông sẽ thay đổi”. Có nhiều bà nghe lời và đã thành công.

Vicki Mackenzie: Bà cho biết sau khi chết, hồn có một thời gian nhất định để đi đầu thai không ?

Hazel Denning: Có người tái sanh trong vòng vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính tráng chết ngoài trận mạc. Họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang. Họ muốn nhập xác liền. Có lẽ lý do này giải thích được hiện tượng thiên hạ sinh đẻ nhiều sau những trận chiến tranh. Có nhiều người thì mấy trăm năm sau mới tái sanh. Có nhiều linh hồn từ thời Atlantean Age mà bây giờ mới trở lại trần gian. Có lẽ họ chờ đúng thời cơ để đem những hiểu biết mới giúp cho sự chuyển tiếp qua thời đại mới. (New Age).

Vicki Mackenzie: Có khi nào bà đã gặp những người đã từng sống ở hành tinh khác hay cõi giới khác không ?

Hazel Denning: Thỉnh thoảng cũng có. Rất nhiều người cho rằng hạ giới là hành tinh thấp nhất trên cột luân hồi (the totem pole). Có mấy người nói rằng trước kia họ sống trên một hành tinh khác. Có một ông viết một thứ chữ lạ hoắc rồi dịch lại tiếng Anh. Ông nói hành tinh ấy có một văn hóa khắc hẳn. Ông còn nói khi ấy ông hiểu được “nguyên lý đồng thời” – hiện tại, quá khứ và vị lai đều đang thể hiện ở giây phút này. Thật là khó hiểu.

Vicki Mackenzie: Bà có biết những kiếp trước của bà không ?

Hazel Denning: Có chứ. Đời trước kiếp này của tôi rất lạnh lẽo. Tôi là một phụ nữ sinh ra ở nước Anh, lấy chồng là một người làm ngoại giao giàu có, nhà cao cửa lớn, có nhiều gia nhân hầu hạ, tiệc tùng liên miên nhưng tôi rất cô đơn, sống không có tình thương. Khi gần chết, tôi còn nhớ gia nhân rón rén bước không dám gây tiếng động, tôi đã nắm tay em gái tôi và nuối rằng, “Nếu chị được sống lại từ đầu, chị sẽ thương yêu nhiều hơn”.

Và trong đời này, một em gái tôi chết lúc chín tuổi, tôi mới mười một tuổi. Tôi đã thương khóc em trong hai năm. Tôi cần kinh qua sự đau khổ như vậy mới lấy lại được cảm xúc bình thường.

Nhưng kỷ niệm khó quên nhất xảy ra lúc tôi đang ở trong phòng tắm. Tôi bị đau gan từ lúc học lớp tám. Tôi hay bị những cơn đau túi mật hành hạ, đau đầu đến buồn nôn làm tôi khổ sở lắm. Hồi trước tôi cũng hay nóng nảy. Có hôm cơn giận nổi lên khiến hai mạch máu nhỏ ở cổ bị đứt. Có nhiều lúc tôi có cảm tưởng như cơn giận làm chóp đầu của tôi có thể bay đi mất. Nhưng không ai biết vì tôi không để lộ ra ngoài. Cách đây chừng mười năm, một hôm tôi đang tắm dưới một vòi sen thì cơn nhức đầu kéo tới. Tôi dằn giọng nói lớn, “Chúa ơi, tôi muốn biết tại sao tôi bị bệnh gan hành hạ, tại sao tôi phải chịu đau khổ như thế này ?”

Vừa dứt lời bỗng nhiên tôi thấy mình là một người lính theo Thập Tự Chinh thời Trung Cổ, vừa bị một giáo xuyên qua gan. Tôi tức giận sắp phải chết vì một “chính nghĩa” mà tôi không còn tin tưởng nữa. Tôi chán ghét những việc chúng tôi đang làm – đốt phá những đền đài đẹp đẽ – nhưng tôi không làm gì được hơn. Tôi biết tôi sắp chết và sẽ không bao giờ thấy lại được người vợ và hai đứa con trai. Tôi chết trong giận dữ, và chứng đau gan bây giờ là biểu hiện của cơn giận xa xưa ấy. Giây phút ấy trong phòng tắm, tôi nghe một giọng thì thầm: “Nguyên do của tính nóng giận của ngươi bắt nguồn ở đây”. Từ ngày đó, tôi không bị cơn đau túi mật hành hạ nữa.

Vicki Mackenzie: Biết được kiếp trước của mình có lợi ích gì trong kiếp sống hiện tại không ?

Hazel Denning: Những hiểu biết về kiếp trước kiếp sau giúp tôi sống an nhiên tự tại. Đối với tôi, thế giới kia cũng rất thật như thế giới này. Cho nên khi mẹ tôi mất, rồi chồng và con trai lần lượt qua đời, tôi không đau buồn mấy. Ngày con tôi tử nạn xe mô tô, tôi vẫn tiếp tục đi thuyết giảng tại một trường đại học đã được sắp đặt trước. Khi biết ra, một giáo sư ở trường hỏi sao tôi có thể dửng dưng trước cái chết của con như vậy. Tôi đã trả lời rằng đối với người ngoài thì tai nạn ấy là một thảm cảnh, nhưng đối với tôi thì khác. Tôi biết con tôi là thầy tu trong ba kiếp trước.

Trở lại lần này là cậu muốn nếm mùi đời. Cậu sống mau, sống vội, bất chấp nguy hiểm. Tôi biết con trai tôi không muốn kéo dài đời sống như vậy và cậu quyết định rời bỏ cõi trần sớm trước khi chuyện gì xấu có thể xảy ra. Tuy tôi thương tiếc con, và cũng như những bà mẹ khác, tôi vẫn mong được thấy ngày con khôn lớn, nên người v.v… nhưng trong thâm tâm, tôi mừng cho con đã giải thoát vì tôi biết con tôi sống trong đau khổ. Trường hợp chồng tôi cũng thế. Một buổi sáng đang chơi tennis, ông gục chết trên sân cỏ.

Sau khi được tin, tôi vào phòng đọc sách gọi điện thoại báo tin cho gia đình và bỗng dưng một cảm xúc kỳ diệu chưa từng có đã đến với tôi. Căn phòng như sáng hơn và ấm áp hơn. Lông măng trên hai tay tôi dựng đứng hết và tôi cảm thấy được an ủi, khích lệ và sung sướng lạ lùng dường như được ôm ấp bởi tình yêu của nhà tôi, khi ấy tôi nghe tiếng ông thầm thì : “Em ơi, anh sung sướng được ra đi như ý muốn”. Tối hôm ấy tôi vẫn đi dự buổi họp ở trường. Tan họp, tôi mới báo cho mọi người biết tin và ai cũng xúc động thương tiếc làm tôi phải đi an ủi từng người.

Khi người thân qua đời thì đau buồn là chuyện thường tình, nhưng tôi không chịu được cảnh người ta tỏ ra bi thương thái quá, vì như vậy chứng tỏ họ có mặc cảm tội lỗi gì với người chết.

Vicki Mackenzie: Theo như bà nói thì mọi chuyện xảy ra đều có lý do? Và cuối cùng thì cũng đưa đến sự tốt đẹp ?

Hazel Denning: Đúng thế… Tôi cho rằng con người được sinh ra với một trí tuệ sáng tạo vô bờ mà chúng ta đã ngu muội không thông hiểu, đã phá hoại và lãng quên những khả năng ấy. Thời đại này là thời đại chúng ta có thể trở về với bản năng chân thật của chúng ta.

Cũng giống như những mẫu đối thoại với các vị “gurus” Tây phương khác về luân hồi, buổi nói chuyện với Dr. Denning thật là hứng thú. Những điều tôi học được ở bà cũng như ở nhiều nhà chuyên môn khác về kiếp trước kiếp sau cũng không khác những điều tôi đã được nghe mấy Lạt Ma của phương Đông giảng dạy. Chi tiết về trường hợp tái sanh có thể khác nhau nhưng chân lý thì chỉ có một, là chân lý mà Lama Yeshe và Lama Zopa đã nói cho chúng tôi nghe trong chiếc lều trên sườn núi của Kopan rằng sau khi chết sẽ có một đời sống khác; rằng đời sống kế tiếp như thế nào là do nghiệp báo của bao đời trước quyết định; rằng trạng thái tâm thần khi hấp hối đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đời sau; rằng người ta thường trở lại sống với những người có nghiệp duyên với chúng ta; rằng những đau khổ của đời này là chính chúng ta tạo ra v.v… Không nên oán ai, đổ lỗi cho ai vì chính mình vẫn luôn luôn làm chủ đời mình.

De Nguyen

(Trích: Đặc San Hoa Nghiêm, Mừng Xuân Tân Mão, Phật lịch 2554 – 2011)

GIẢI MÃ PHONG THỦY – TIÊN TRI

BÍ ẨN PHONG THỦY

CỦA TÒA BẠCH ỐC

– Có thể nói Nhà Trắng hay còn gọi là Tòa Bạch Ốc (Tòa Bạch Cung) là tòa nhà quan trọng nhất của nước Mỹ. Đó là nơi ở và làm việc chính thức của Tổng thống Mỹ và các quan chức cao cấp của quốc gia, nơi người ta sẽ quyết định những vấn đề liên quan đến kế sách và vận mệnh của cả Hoa Kỳ.

Chính vì thế, người ta đã tìm thấy những mối liên hệ mật thiết giữa kết cấu Tòa Bạch Cung với những thảm họa xảy ra trên nước Mỹ trong vài thập niên trở lại đây….

1/. Nhà Trắng được đặt tại bờ phía đông của sông Rock Creek, một nhánh nhỏ của dòng Potomac, phía nam là một quảng trường rộng còn phía bắc chính là khu Washington phồn hoa của thủ đô nước Mỹ.

Vào năm 1772, nước Mỹ quyết định xây dựng Dinh Tổng thống tại Đặc khu Columbia sau khi chọn nơi này làm thủ đô Hoa Kỳ vào ngày 16/7/1790. Người lựa chọn địa điểm này chính là tổng thống vĩ đại của nước Mỹ George Washington. Tuy nhiên, cho tới khi tòa nhà này được xây dựng xong vào năm 1800, thì người đến sinh sống đầu tiên tại Dinh Tổng thống không phải là George Washington mà là Tổng thống John Adams.

Tuy nhiên, kể từ đó, thủ đô Washington và Dinh Tổng thống hoa lệ không phải lúc nào cũng yên lành hưởng thái bình. Vào năm 1812, trong cuộc chiến tranh với Anh, thủ đô Washington mới được xây dựng đã bị phá hủy một cách nghiêm trọng. Dinh Tổng thống cũng bị binh lính Anh dùng lửa đốt rụi, chỉ còn lại những bức tường chỏng chơ. Cho đến năm 1814, khi chiến tranh kết thúc, trong lúc tái thiết, người ta đã sơn màu trắng cho tất cả những phần của Dinh Tổng thống bị khói hun đen bằng màu trắng. Và cũng từ đó, Dinh Tổng thống Mỹ được gọi bằng cái tên Nhà Trắng.

Kết cấu của Nhà Trắng giống như một cây thánh giá mà chiều đông – tây thì dài còn chiều nam – bắc lại ngắn, trong đó, đầu phía bắc lại dài hơn phần phía nam, loại kết cấu này trong phong thủy gọi là “nhà thiếu góc”, tức là về mặt tổng thể, kiến trúc của tòa nhà đó thiếu đi cung Càn phía tây bắc và cung Cấn ở phía đông bắc. Hướng đông nam và tây nam cũng thiếu góc nhưng thiếu không nhiều. Cung Khảm ở hướng chính bắc mặc dù không “thiếu góc”, nhưng hướng này lại có một con đường dẫn tới, thiết kế này khiến cho hướng này cũng không hẳn tốt. Hướng đẹp nhất của tòa Bạch Cung chính là hướng nam, cung Ly. Hướng này có tầm nhìn rộng rãi, sáng sủa với một bãi cỏ rất rộng, phía xa còn có thể nhìn thấy sông. Đây chính là cung đại cát. Đáng tiếc, tại nơi đây, sau đó người ta lại cho xây dựng Đài tưởng niệm Washington.

Công trình cao 169 mét được xây dựng bằng cẩm thạch, granit này khiến hàng Bính (Bính vị) của tòa bạch ốc xuất hiện “Chu Tước ngẩng đầu”. Đây chính là điểm kìm hãm lớn nhất đối với kết cấu phong thủy của Nhà Trắng. Nhìn xa về  phía tây nam có một chiếc ao và một đền thờ thần Dớt. Đền thờ nằm ở  phía tây nam vốn là tốt, tuy nhiên, cung Khôn và Cấn ở đây lại hợp thành một đường mà phong thủy gọi là “đường quỷ thần”, thêm nữa, tòa miếu lại bị bao quanh bởi chiếc ao lớn, thành ra cũng không thể nói là tốt được.

Theo như phân tích này thì kết cấu phong thủy của Nhà Trắng không phải là tốt lành gì. Vậy lý do vì sao, từ khi được thành lập đến nay, nước Mỹ ngày càng trở nên giàu mạnh ? Các chuyên gia phong thủy cho rằng, nguyên nhân là vì, trong kết cấu của Nhà Trắng, có hai nơi tạo nên thế đại cát.

Thứ nhất, ở phía tây của Nhà Trắng có một dòng sông lớn, hướng dòng chảy theo chiều từ tây bắc xuống đông nam, lượng nước rất lớn. Nước ở phía tây là dấu hiệu của tiền tài, còn hàng Canh xuất hiện nước chạy, lượng lớn là dấu hiệu của tiềm lực quân sự hùng mạnh. Điều này vừa đúng với 2 đặc điểm quan trọng nhất của nước Mỹ : Dẫn đầu thế giới về kinh tế và quân sự.

Điểm “đại cát” thứ hai của tòa Bạch Cung chính là lượng nước lớn nằm ở phía nam. Nếu tính từ trung tâm Nhà Trắng, thì hướng chính nam của tòa nhà này sẽ nhìn thẳng ra một ngã ba sông. Nếu như không tính tới thế “Chu tước ngẩng đầu” ở hàng Bính do Đài tưởng niệm Washington gây ra thì hàng Ngọ và hàng Đinh ở hướng nam vẫn có thể coi là phát về đường tài lộc.

Giống như một người con gái chỉ có một nét duyên ngầm nhưng che khuất được tất cả những nét chưa hoàn hảo khác, chính vì sức mạnh của hai đặc điểm “đại cát” này đã che đi rất nhiều điểm bất lợi trong kết cấu phong thủy của Nhà Trắng. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà những đặc điểm xấu này không đem lại những tai họa cho nước Mỹ.

2/. Phải nhắc đến đầu tiên chính là Đài tưởng niệm Washington. Đài tưởng niệm này xuất hiện ở hướng chính nam của bãi cỏ rộng lớn phía nam của Nhà Trắng. Nếu như dùng la bàn đo từ cửa của Nhà Trắng hoặc trung tâm của tòa nhà thì đài tưởng niệm này nằm trên hàng Bính. Nếu chiếu theo năm tháng thì tương ứng với nửa cuối của năm 2001. Ai cũng biết về cuộc tấn công khủng bố diễn ra vào ngày 9/11 của năm này, khiến tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới đặt tại thành phố New York sụp đổ hoàn toàn và gần 3 nghìn người thiệt mạng. Đến nay, sự kiện này vẫn còn là một nỗi ám ảnh đối với nhiều người dân Mỹ. Tuy nhiên, ít người biết rằng, nó không hoàn toàn ngẫu nhiên.

Chưa hết, ở hướng chính đông của Đài tưởng niệm chính là tòa nhà quốc hội Mỹ. Theo phong thủy, chính đài tưởng niệm này sẽ trở thành “Bạch Hổ sát” của tòa nhà quốc hội. Thời gian phát tác của Bạch Hổ sát là vào năm Dậu, năm con gà. Nếu xét lại những sự kiện lớn xảy ra tại nước Mỹ trong 10 năm trở lại đây, có thể thấy, vào năm 2005, năm Ất Dậu, quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch tấn công Iraq dẫn đến một cuộc chiến hao người tốn của và cho tới nay vẫn chưa có hồi kết. Đến năm 2006, khi Thái Tuế vận hành đến hướng tây bắc. Như đã nói, hướng tây bắc của Nhà Trắng thiếu một góc lớn, chiếu theo phong thủy thì kết cấu Nhà Trắng thiếu đi cung Càn, đây là một điềm dữ, rất bất lợi.

Chính vì thế, trong năm 2006, nguy cơ hàng kém chất lượng bắt đầu xuất hiện ở nước Mỹ. Đồng thời giống như một hiệu ứng domino, nó kéo dài trong suốt hơn một năm sau đó. Suy thoái kinh tế cũng bắt đầu manh nha. Đến năm 2008, phong thủy vận hành đến hướng chính bắc, hàng Tý.

Hàng Tý hợp với núi chứ không hợp với nước. Đáng tiếc Nhà Trắng không hề dựa vào núi, chỉ là cao hơn so với nền đất một chút. Điều xấu nhất chính là có một con đường lớn dài hàng trăm kilomet chạy theo hướng chính bắc thẳng đến trung tâm của Nhà Trắng. Trong phong thủy có câu, “Đường thẳng 3 dặm ắt có ma quỷ”, huống chi con đường chạy thẳng đến trung tâm Nhà Trắng này lại dài tới hàng trăm kilomet. Điểm bất lợi mà nó gây ra cho Nhà Trắng theo đó, sẽ vô cùng khủng khiếp.

Chắc nhiều người vẫn chưa quên cuộc “Đại suy thoái” của nền kinh tế thế giới bắt nguồn từ nước Mỹ vào năm 2008. Trong năm này, tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ đã tăng từ mức 4,9% vào tháng 12/2007 lên 9,5% vào tháng 6/2009. Nhiều ngành kinh tế của Hoa Kỳ thu hẹp sản xuất. Ngành chế tạo ô tô bị khủng hoảng nghiêm trọng đến mức Big Three phải bán đi một số thương hiệu và chi nhánh của mình. Nhiều công ty, tập đoàn kinh tế đã phải chịu phá sản và chấp nhận tái cơ cấu dưới sự giám sát của Chính phủ. Đó là một năm thực sự kinh hoàng đối với nền kinh tế và người dân nước Mỹ. Và vào cuối năm đó, Tổng thống George Bush sau hai nhiệm kỳ giữ chức tổng thống, đã buộc phải trao trả tòa Bạch Cung cùng với một cục diện rối ren cho “người hùng” mới của nước Mỹ, vị tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, B. Obama.

Bước sang năm 2009, vị trí của vận hành phong thủy Nhà Trắng đến hướng chính đông, hàng Sửu. Sự thiếu góc ở hàng Sửu của Nhà Trắng là điều rất dễ nhận thấy. Thiếu góc, trong phong thủy gọi là “Cán dao”, ý chỉ sự đen đủi. Đây cũng chính là lý d vì sao, dù rất nỗ lực trong suốt 2 năm, 2009 và 2010 nhưng vị tổng thống mới của nước Mỹ vẫn không thể khôi phục lại được nền kinh tế đang trên đà suy thoái của nước Mỹ. Chính điều này đã biến cuộc suy thoái kinh tế trở thành một cuộc “đại suy thoái” trên toàn thế giới.

Vào năm 2011, khi phong thủy vận hành đến hướng chính đông, thì nguồn nước ở hướng tây Nhà Trắng sẽ có điều kiện phát huy tác dụng. Thêm vào đó, phía đông lại không thiếu góc như những hướng khác. Chính vì vậy, trong năm này, nền kinh tế nước Mỹ chắc chắn sẽ bước vào thời kỳ phục hồi. Kết quả của sự phục hồi ra sao vẫn chưa thể khẳng định, nhưng chắc chắn nó sẽ là một liều thuốc trợ tim mạnh đối với nền kinh tế Mỹ. Vào cuối tháng ba này, khi Tổng thống Obama xuất hiện trên truyền hình, ắt người ta sẽ không còn thấy khuôn mặt trầm tư rầu rĩ trong suốt hai năm qua nữa, thay vào đó chắc chắn là một nụ cười rạng rỡ.

Tuy nhiên, những tai họa mà tòa Bạch Cung này đem đến cho nước Mỹ do kết cấu phong thủy của nó gây ra vẫn không phải đã hết. Chính quyền Mỹ chắc chắn nên lưu ý đến năm 2014, năm kỷ niệm 12 năm sự kiện ngày 9/11. Đây là thời điểm sao Thái Tuế chuyển đủ một vòng và lại ứng với hướng chính nam, nơi có Đài tưởng niệm Washington. Nhiều người cũng đã cảnh báo một tai họa sẽ đổ xuống nước Mỹ vào năm con ngựa này. Muốn tránh được đại họa, trừ khi là người ta phá bỏ hoặc di chuyển Đài tưởng niệm Washington. Tuy nhiên, ai cũng biết, điều này là không thể xảy ra.

Huỳnh Văn Yên post (Theo Hải Phong dịch từ báo chí Trung Quốc)

NOSTRADAMUS

NHÌN THẤU TƯƠNG LAI

Michel de Nostradamus là một trong những nhà tiên tri nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại. Những lời tiên đoán của ông được thể hiện dưới dạng những bài thơ tứ tuyệt có vần.

Nhà tiên tri Nostradamus.

Nostradamus sinh ngày 14/9/1503 tại tỉnh St Remy, miền nam nước Pháp. Ông là con trai của một nhà buôn lúa mì gốc Do thái nhưng gia đình ông đã cải sang đạo Thiên chúa. Ngay từ khi còn nhỏ, Nostradamus đã bộc lộ năng khiếu toán học, thiên văn và chiêm tinh. Ông theo học y khoa tại Đại học Montpelier và tốt nghiệp tú tài năm 1525. Nạn dịch hạch bùng phát khiến ông phải tạm nghỉ học và đi cứu chữa bệnh nhân khắp nước Pháp. Thời gian này, ông được gặp và trò chuyện với nhiều bác sĩ, nhà giả kim, giáo sĩ đạo Kabbala và các nhân vật thần bí nổi tiếng thời Phục hưng.

Năm 1537, nạn dịch hạch cướp đi sinh mạng của vợ và hai người con ông. Nostradamus tiếp tục đi du lịch tới nhiều vùng của Pháp và Italy. Năm 1547, ông định cư ở Salon, kết hôn với một goá phụ giàu có là Anne Ponsarde Gemelle, người sinh cho ông 6 người con. Thời gian này, Nostradamus xao lãng y khoa để tập trung vào các ngành khoa học huyền bí và buôn mỹ phẩm. Năm 1550, ông viết một cuốn niên giám. Thành công bất ngờ, ông quyết định sẽ “xuất xưởng” mỗi năm một cuốn.

Nostradamus cũng bắt đầu kế hoạch viết hơn 1.000 bài thơ thứ tuyệt và trở thành những lời sấm truyền nổi tiếng. Tuy nhiên, để tránh bị soi xét và kiểm duyệt, ông thường dùng biện pháp chơi chữ, dùng các ngôn ngữ Hy Lạp, Latin, Italy, Do thái và Ảrập.

Bộ sách Lời tiên tri (còn gọi là cuốn Những thế kỷ) tổng hợp những bài thơ tứ tuyệt của ông nhận được những phản ứng trái ngược khi xuất bản. Nhiều người cho rằng : Nostradamus là sứ giả của quỷ dữ, một kẻ dối trá và ngông cuồng. Nhưng nhiều thành viên của giới quý tộc lại ủng hộ ông.

Catherine de Medici, hoàng hậu của vua Henry II của Pháp, là người lớn tiếng ủng hộ nhà tiên tri này. Bà mời ông đến Paris, nhờ ông giải thích ý nghĩa bài thơ thứ 35 liên quan đến số phận của chồng và các con bà. Khi Nostradamus qua đời ngày 1/7/1566, Catherine phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.

Nostradamus còn biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký : “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”. Nostradamus thậm chí còn biết trước, mộ của ông sẽ bị đào bới. Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791. Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791.

Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ bảy của năm 1999. Tuy nhiên, đây chỉ là dự báo về một hiện tượng tự nhiên hoàn toàn có thể biết trước được vào thời đại của ông : nhật thực diễn ra vào ngày 11/8/1999, ngày cuối cùng của tháng 7, tính theo lịch thời đó.

Phần lớn lời tiên tri của Nostradamus ứng vào các thảm hoạ như nạn dịch hạch, động đất, chiến tranh, lụt lội, ám sát, hạn hán… Nhưng nhiều câu của ông bị hiểu sai, thậm chí là suy diễn sai có chủ đích chỉ để chứng minh rằng, nhà thông thái này có thể dự đoán nhiều loại sự kiện khác nhau. Bước vào kỷ nguyên Internet, những lời sấm của Nostradamus bất ngờ được tuyên truyền rộng rãi khiến ông ngày càng nổi danh. Ví dụ như khi xảy ra sự kiện tấn công khủng bố vào toà tháp đôi WTC ngày 11/9/2001 tại New York, Mỹ, trên Internet nhan nhản bài thơ (và nhiều biến thể) được gán là của Nostradamus :

“Tại thành phố York sẽ có sự sụp đổ lớn

Hai anh em sinh đôi bị xé nát do hỗn loạn

Khi thành trì đổ vỡ người lãnh đạo tối cao sẽ thất bại

Cuộc chiến lớn thứ ba sẽ bắt đầu khi thành phố bùng cháy”.

Hoá ra đây là bài thơ được một sinh viên Canada tên là Neil Marshall viết trước khi xảy ra sự kiện 11/9, trong một nghiên cứu của anh năm 1997. Các học giả khẳng định, Nostradamus chưa bao giờ đề cập tới “Cuộc đại chiến thứ ba” cả.

Những lời tiên tri của Nostradamus thường rất tối nghĩa và khó hiểu, hoặc có thể diễn giải theo nhiều nghĩa. Ngoài việc ông thường kết hợp nhiều ngôn ngữ, chơi chữ và nói bóng gió, còn có một lý do khác nữa : ông nhìn thấu suốt sự phát triển của nhân loại đến năm 7.000. Ông khó có thể nói về các sự kiện khoa học kỹ thuật của thế kỷ 20 và 21 khi dùng tiếng Pháp của thế kỷ 16 vì… túng từ.

Một số lời tiên tri được diễn giải chính xác và dễ hiểu :

Cái chết của vua Henry II

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già

Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh

Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng

Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

(Quyển Thế kỷ 1, câu 35)

Tháng 6/1559, Henry II phớt lờ những cảnh báo Nostradamus đưa cho ông, quyết định tham gia cuộc đấu thương với Bá tước Montgomery. Hai đối thủ cùng đeo chiếc khiên khắc nổi hình sư tử và Montgomery trẻ hơn Henry 6 tuổi.

Theo đúng quy định, cuộc đấu đó chỉ diễn ra một trận duy nhất. Montgomery lỡ đà, chậm hạ chiếc thương xuống, khiến nó đâm vào miếng che mắt mạ vàng của nhà vua. Ngoài vết thương nhỏ ở mặt và cổ, Henry bị hai vết thương rất nặng : ông bị mù một mắt và bị chiếc khiên xiên vào thái dương. Henry II từ trần sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

Hoả hoạn ở London năm 1666

Nostradamus viết :

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London

Thành phố sẽ cháy vào năm 66

Vị phu nhân mất địa vị tối cao

Và nhiều nơi bị hủy hoại.

(Quyển Thế kỷ 2, câu 51)

Một vụ hoả hoạn lớn đã xảy ra tại thủ đô London của Anh năm 1666. Đây là một trong những lời tiên tri hiếm hoi của Nostradamus có ghi rõ năm. Ngay cả những người hoài nghi nhất cũng phải thừa nhận tính chính xác của lời tiên đoán này. Vụ hoả hoạn đã thiêu rụi 3/4 London.

Dự báo về thất bại của Napoleon ở nước Nga

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga

Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố

Quân chủ lực sẽ phản công

Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

Những câu thơ này được hiện thực hoá trong trận chiến lịch sử : quân dân Nga thực hiện chính sách “tiêu thổ kháng chiến”, sau đó đạo quân của tướng Kutuzov phản công. Quân đội của Napoleon bị truy sát trên đường rút chạy và chết gần hết trên tuyết trắng của nước Nga.

Dự báo về số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém

Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh

Nơi nhà tieỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm

Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba

Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa

Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang

Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Napoleon bị lưu đày tại đảo Elba nhưng trốn ra sau 100 ngày giam cầm. Sau khi thất bại trong trận Waterloo, ông bị tước mọi quyền lợi và lưu vong tại đảo St. Helena cho tới khi qua đời. Đó là lời tiên tri của nhà tiên tri nostradamus nổi tiếng.

Hiện tượng vật thể bay không xác định

Vật thể lạ trên quảng trường Đỏ.

Một vật thể bay hình tháp lượn lờ phía trên điện Kremlin ở Matxcơva khiến người ta nghi ngờ rằng đây là đĩa bay của người ngoài hành tinh.

Telegraph hôm nay cho biết vật thể lạ kia được so với con tàu Imperial trong phim Star Wars. Vật thể bay này xuất hiện cùng thời điểm một cột ánh sáng hình xoắn ốc kỳ bí chiếu sáng trên bầu trời Na Uy.

Một số nhân chứng cho biết vật thể bay hình nón lượn vòng trên quảng trường Đỏ nhiều giờ đồng hồ và có thể có đường kính gần 1,5 km. Hai đoạn clip ghi lại hình nón kể trên được phát đi phát lại trên đài truyền hình Nga. Một clip được quay ban ngày, một quay ban đêm từ trong xe ôtô.

UFO bay trên quảng trường Đỏ

Ánh sáng lạ trên bầu trời Na Uy

Nick Pope, cựu chuyên gia về vật thể bay không xác định của Bộ Quốc phòng Nga, cho biết hai đoạn băng kể trên là những video về UFO kỳ lạ nhất mà ông từng thấy. Pope cho biết thêm lúc đầu ông nghĩ đó là hình ảnh phản chiếu nhưng sau đó nó dường như di chuyển phía sau đường dây diện nên giả thiết đó bị bác bỏ.

Lan caysu

Thử đọc lại LỜI TIÊN TRI !

“GIAO LƯU”

VỚI NGƯỜI CÕI ÂM

Từ lâu nay, địa chỉ của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng (viết tắt là UIA) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tại số 1 Đông Tác, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội đã trở nên khá nổi tiếng. Nhiều người dân không chỉ ở Hà Nội mà còn ở nhiều địa phương khác tìm đến để giao lưu với hương linh vừa qua đời hay gia tiên quá cố đã lâu.

5h sáng gia đình bà Hoàng Thị Nhân ở quận Cầu Giấy đã thức dậy và kính cẩn thắp hương lên bàn thờ gia tiên, lầm rầm khấn theo lời dặn trước. 6h30, tôi đi cùng gia đình bà đến số UIA, lúc này trước cửa đã có hàng chục gia đình đứng đợi. Trong lúc chờ đợi, bà Nhân tâm sự :

– Vì niềm tin tâm linh trước đây gia đình bà đã đến nhiều nơi khác nhau để được gặp “vong hồn” tổ tiên. Nhưng hết “gọi hồn” rồi “lên đồng”… đều không đem lại cho gia đình bà niềm tin nội tâm nên khi được người quen mách, bà đến đăng ký ở UIA để có hy vọng trên cơ sở khoa học.

Khi đến đăng ký, gia đình bà được nhân viên trung tâm hướng dẫn chi tiết cách thắp hương thỉnh hương linh tổ tiên, các vấn đề liên quan khi tham gia khảo nghiệm, không được mang theo bùa chú, các đồ liên quan đến mê tín dị đoan…

Căn phòng khoảng 40m2 chật kín người. Sau khi ổn định, một người trong trung tâm phổ biến nội quy, yêu cầu mọi người thực hiện nghiêm túc, tiếp đó hướng dẫn cách giao lưu với hương linh, cách ngồi thiền, tâm tĩnh, hướng lòng cầu gặp hương linh người thân. Không khí trở nên tĩnh lặng, hương khói quyện lên nhè nhẹ.

Chừng 30 phút, bỗng ở một góc nhà bỗng vang lên tiếng nức nở, thì ra một người phụ nữ bỗng òa khóc. Đó là hương linh bố của chị nhập vào. Mọi người trong gia đình đó bắt đầu được giao lưu, những tiếng hỏi han, tiếng cười, tiếng khóc đan xen. 1, 2, 3 rồi 4, 5… gia đình đã có linh ứng khi bắt đầu giao lưu được với hương linh người thân thông qua việc hương linh “nhập” vào người sống nhưng cũng có một số gia đình chưa thấy “ai” nhập.

Chỉ một lát sau, hương linh đã “về” để giao lưu với người thân. Lúc này, những người được “nhập” vào hoàn toàn biến thành người “nhập” về, cười nói, trò chuyện theo đúng giới tính, suy nghĩ của người đó, khoảng cách âm – dương như xóa nhòa, căn phòng trở nên rộn ràng như niềm vui đoàn tụ. Cán bộ khảo nghiệm cầm sổ ghi chép tỷ mỷ từng diễn biến của các gia đình.

Đúng ba tiếng, cuộc khảo nghiệm buổi sáng kết thúc, đa số các gia đình đều đã “gặp” được hương linh người thân nhưng cũng một số gia đình không “gặp” được. Cán bộ khảo nghiệm phân tích rằng có thể do sóng năng lượng chưa đủ hoặc do gia đình chưa tập trung cần thiết. Đối với những người bị “nhập” đều mệt lả, cán bộ khảo nghiệm cho biết đó là do sự tiêu hao năng lượng trong quá trình tiếp nhận sóng âm.

Tại phòng khách chị Nguyễn Thị Hoàng Hiệp ở Đại Mỗ, Từ Liêm đang ngồi nghỉ, cho biết, chỉ sau 20 phút tĩnh tâm, thành tâm thỉnh cầu theo hướng dẫn của trung tâm, chị bỗng thấy người nhẹ bẫng, đầu óc không còn biết gì nữa, chỉ đến khi tỉnh lại chị mới được người nhà nói biết được ông nội “về” và giao lưu với con cháu.

Còn gia đình chị Nguyễn Thị Hiền vẫn chưa hết xúc động khi vừa được giao lưu với người mẹ ruột bị tai nạn giao thông mất, không kịp trăng trối với con cháu điều gì. Chị bảo cũng bõ công gia đình lặn lội từ Yên Bái xuống và thỏa tâm nguyện bấy lâu.

Ông Tổng giám đốc UIA, thành viên Ban Chủ nhiệm Chương trình nghiên cứu khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt của con người cho biết: đây là chương trình được thực hiện dưới sự hợp tác của UIA, và Trung tâm bảo trợ và nghiên cứu tiềm năng con người (viết tắt là RCTCT), đã được sự đồng ý của các cơ quan chức năng, có sự tham gia của Viện Khoa học hình sự (C21 – Bộ Công an) nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, phục vụ cộng đồng và khoa học chứ không có mục đích tư lợi.

Ông Ngô Tiến Quý – Viện trưởng Viện khoa học hình sự cho biết thêm, việc tham gia của C21 vào Chương trình nghiên cứu khảo nghiệm khoa học về các khả năng đặc biệt của con người là có thật và đã được sự đồng ý của các cấp lãnh đạo. Từ nhiều năm nay, C21 đã cử cán bộ tham gia tổng hợp số liệu và phân tích để cùng khảo nghiệm các luận cứ khoa học nhằm phát hiện các khả năng đặc biệt của con người, có thể ứng dụng trong công tác kỹ thuật hình sự nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung, cũng như phục vụ các lợi ích của cộng đồng.

Riêng trong lĩnh vực an ninh trật tự, theo các nhà khoa học và chuyên gia phòng chống tội phạm, hiện nay, trên thế giới, một số nước tiên tiến như Nga, Mỹ, Đức… cũng đã và đang tiến hành các chương trình nghiên cứu các khả năng đặc biệt của con người để ứng dụng trong công tác an ninh trật tự phòng chống tội phạm, đặc biệt trong khoa học hình sự.

(Theo Nguyễn Hoàng Đoàn)

Khoa học lý giải như thế nào ?

Báo KH&ĐS đã có cuộc trò chuyện với GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh.

Ông là một nhà khoa học rất tâm huyết trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về tâm linh. Ông nghĩ sao về sự  tương tác giữa khoa học và tâm linh ?

Thế kỷ XX, vật lí  học hân hoan chào đón sự ra đời của Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Thế kỷ XXI, theo như tiên đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là sự nhận thức được rằng Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau. Nó là hai mặt đối ngẫu bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại. Pauli, nhà vật lí nguyên tử lừng danh của thế kỷ XX đã nhận định rằng : “Nếu Vật lý và Tâm linh được xem như các mặt bổ sung cho nhau của thực tại thì sẽ cực kỳ thỏa mãn”.

Nhưng có một thực tế, là những gì không lý giải được, những gì  hư hư, thực thực, thậm chí vô lí thì một số người cho rằng : Phật bảo thế, Thánh bảo thế…

– Einstein đã nói lên quan điểm về sự tương đồng giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo. Có thể dẫn ra một ví dụ  minh họa như sau : Tiên đề của thuyết lượng tử  là “Nguyên lý bổ sung đối ngẫu” khẳng định rằng Sóng và Hạt là hai mặt bổ sung cho nhau của thực tại. Nguyên lí này dẫn đến một hệ quả cực kỳ quan trọng là vật thể vi mô chuyển động không theo bất cứ một quỹ đạo xác định nào, có nghĩa là chuyển từ vị trí này sang vị trí khác theo vô số con đường cùng một lúc.

Suy rộng ra là vật thể vi mô có thể cùng một lúc có mặt tại vô số vị trí khác nhau, cùng một lúc có thể ở vô số trạng thái khác nhau, cùng một lúc có thể làm vô số việc khác nhau. Điều này gợi cho ta liên tưởng tới Kinh Phật nói về các đức Phật, các chư vị Bồ tát phân thân ra trăm nghìn vạn ức hóa thân đi khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, giáo hóa cứu độ chúng sinh.

Cần sự hỗ trợ  của “trực ngộ chân như”

Các hoạt động tâm linh hiện nay chưa được số đông ủng hộ. Phải chăng đó là vì bản thân vấn đề tâm linh chưa tự chứng minh được sự trong sáng, mặt tích cực, lợi ích cho đời sống xã hội ?

– Trong những thập niên gần  đây, ngày càng dồn dập thông tin về những khả  năng đặc biệt của con người, những hiện tượng kỳ  bí mang tính tâm linh thể hiện rất đa dạng trong đời sống cộng đồng trong nước cũng như trên thế giới. Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan với thái độ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều người. Bên cạnh đó, cũng có những hiện tượng tiêu cực dẫn đến những hệ quả không tốt, làm hại đến uy tín của những người hoạt động chân chính.

Vậy theo ông có cách nào  để kìm chế được mặt tiêu cực đó ?

– Ngoài việc tăng cường quản lý  Nhà nước, việc làm sáng tỏ về mặt khoa học các hiện tượng mang tính tâm linh cũng là một  đóng góp rất hữu hiệu.

– Ông có tin vào số phận không thưa ông ?

– Về mặt lí thuyết chưa ai chứng minh được là có hoặc không có số phận. Ở đây, tùy thuộc vào lòng tin và sự trải nghiệm của mỗi người. Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm rằng, những thành tựu của vật lí học hiện  đại rọi những tia sáng mới vào khoa học dự báo. Dự báo liên quan mật thiết đến phạm trù  không gian – thời gian. Einstein đã phát biểu rằng : “Quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là những ảo tưởng cố hữu”. Schrodinger, tác giả của phương trình cơ bản trong Thuyết lượng tử đã phát biểu : “Muôn đời và mãi mãi chỉ có bây giờ… Hiện tại là cái duy nhất không có kết thúc”.

Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác

Theo tôi được biết, ngay trong khoa học cũng có những thứ được chứng minh, nhưng không xuất hiện một cách tường minh ?

– Tạo hóa đã ban cho vũ  trụ chúng ta các dạng tương tác một cách tối  ưu bao gồm tương tác mạnh, tương tác yếu, tương tác điện từ và tương tác hấp dẫn. Đó là các loại tương tác cơ bản nhất tạo nên bức tranh của cả vũ trụ chúng ta.

Bất kỳ một loại tương tác nào, một hiện tượng nào dù phức tạp đến mấy, từ vi mô đến vĩ mô cũng đều bắt nguồn từ các loại tương tác đó. Một hướng nghiên cứu có tính thời sự nhất hiện nay là xây dựng Lí thuyết thống nhất, tức là tìm một cơ cấu thiết kế chung gắn kết các loại tương tác với nhau trên cùng một nền tảng và phương hướng được xem là có nhiều triển vọng nhất để xây dựng Lí thuyết thống nhất nói trên chính là Lí thuyết Dây.

Điều đặc biệt là trong lí thuyết Dây nhất thiết phải có các trường “Vong”. Các trường “Vong” này giữ vai trò then chốt trong cơ cấu của lí thuyết, chi phối các cơ chế tương tác nhưng không hề xuất hiện một cách tường minh trong thực tế.

Ở góc độ là một nhà khoa học, ông muốn nhắn nhủ điều gì đến cả những người đang làm công tác nghiên cứu tâm linh, những người có khả năng đặc biệt ?

Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa Khoa học và Tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà khoa học và các nhà ngoại cảm. Chúng ta có cơ sở để hy vọng rằng cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học và công nghệ, dần dà sẽ tiếp cận được những hiện tượng mà cho tới nay vẫn được xem là huyền bí hoặc hầu như là phi lý. Chúng ta sẽ có được những phương pháp hữu hiệu và thực hiện những bước tiến theo tinh thần “Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác”.

(theo Việt Nga thực hiện)

“KỲ QUÁI” CHỮA BỆNH

NAN Y BẰNG… BẮT TAY

Nhiều tháng nay, hàng trăm người dân Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận rộ lên thông tin bà Phạm Thị Chanh có khả năng chữa được bệnh ung thư và các căn bệnh nan y khác mà y học hiện đại phải bó tay, bằng một cách rất đơn giản.

Chữa bệnh kiểu “kỳ quái”

Sáng ngày 8/12/2010, chúng tôi tới nhà bà Phạm Thị Chanh ở thôn Viên Du, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc để mục sở thị khả năng chữa bệnh đến khó tin của bà.

Tiếp xúc với chúng tôi, hàng trăm người dân đang tụ tập chật kín trong khoảng sân rộng nhà bà Chanh đều quả quyết họ đã được bà Chanh chữa khỏi bệnh nan y theo cách đó dù trước đó họ đã bị các bệnh viện trả về chờ lo hậu sự.

Điển hình là trường hợp của chị Phùng Thị Thùy (SN 1978, trú Đông Nghĩa, Đồng Tâm, Vĩnh Phúc), mang trên mình một cánh tay khổng lồ như cái cột nhà. Chị Thùy cho biết, đầu năm 2010 tự nhiên cánh tay trái của chị to dần lên đến mức không thể xỏ vừa ống tay áo. Chị Thùy đi khám ở bệnh viện Vĩnh Yên, được các bác sĩ chẩn đoán là ung thư xương, tiêu xương và chuyển lên viện K (Hà Nội) để làm xét nghiệm, điều trị.

“Lên đến viện K, các bác sĩ nhìn thấy đều lắc đầu và trả tôi về nhà chờ lo hậu sự. Nhưng còn nước còn tát, gia đình đưa tôi đến nhà cô Chanh, nhờ cô Chanh bắt tay và hát cho nghe những bài ca ngợi đất nước. Đến nay gần 8 tháng trôi qua, tôi thấy bệnh tình thuyên giảm đi rất nhiều. Người khỏe hơn, da không còn bị tím đen như những ngày đầu…”, chị Thùy nói.

Chị Thùy cho biết cánh tay chị trước đây to như cột nhà, sau nhiều tháng điều trị tại nhà bà Chanh đã giảm đi đáng kể. Cách chữa bệnh của bà Chanh rất đơn giản : Sau khi cầm tay người bệnh, bà lấy cho bệnh nhân một ít loại cỏ cây, hoa, lá bất kì cho bệnh nhân về uống, sau đó bệnh sẽ… tự nhiên khỏi.

Ngồi bên cạnh, bế đứa cháu nội kháu khỉnh tên Nguyễn Thiện Quang, ông Nguyễn Như Vinh (phường Đồng Tâm, Vĩnh Phúc) cũng cho biết, khi đứa cháu trai của ông sinh ra được 9 tháng thì trên mắt trái của cháu mang một khối u. Đi khám tới 3 bệnh viện tuyến trung ương, các bác sĩ đều kết luận “cháu bị u ác tính, không thể động dao, kéo”. Sau nửa tháng điều trị tại bệnh viện, bệnh cháu không thuyên giảm, mắt cháu không thể mở được.

Sau đó gia đình ông Vinh đã đưa cháu Thiện Quang về và được bà Chanh “chữa” bằng cách cầm tay và cho một ít “biệt dược” cỏ, cây, hoa, lá mang về nhà đun sôi lên uống. Trong vòng 4 ngày, mắt cháu Quang đã từ từ mở ra và 20 ngày sau, đôi mắt cháu đã mở được hoàn toàn, khối u ác tính đã biến mất.

Một người nữa cũng hết sức khâm phục tài chữa bệnh của bà Chanh là chị Nguyễn Thị Liên (trú thôn Viên Du). Chỉ đứa con trai mình đang bế trên tay, chị khẳng định khi đang mang thai đứa con này, chị đi siêu âm, các bác sĩ đều khẳng định thai nhi trong bụng không lành lặn, khuyên chị nên bỏ. Nhưng chị Liên đã tìm đến xin lá thuốc của bà Chanh về uống và sinh ra thằng cu kháu khỉnh.

Ngoài những trường hợp kể trên, hàng trăm người dân khác đang có mặt tại nhà bà Chanh cũng đều khẳng định họ đã được bà Chanh chữa khỏi bệnh. Vì thế, người nọ đồn người kia, người dân kéo đến nhà bà Chanh mỗi ngày một đông.

Điều đáng nói là dù người bệnh rất đông, nhiều không đếm xuể nhưng bà Chanh hoàn toàn không lấy tiền công khám, ngoại trừ số tiền thuốc là 1.500đ/thang. Nhiều người còn khẳng định bệnh nhân nghèo đến nhà bà Chanh chữa bệnh còn được bà cho tiền lộ phí. Và nhiều khi bệnh nhân đến quá đông, bà Chanh không kịp chữa hết, bà rất buồn.

Giải thích cho chúng tôi về kiểu khám, chữa bệnh bằng cách bắt tay, nhìn mặt và cho uống nước cỏ, cây, hoa, lá…, bà Chanh nói chung chung: “Bắt tay chỉ để cho vui, cỏ cây hoa lá chỉ như là tượng trưng, nhưng chính cái đó lại làm cho người ta khỏi bệnh”.

“Chưa cần quan tâm đến hình thức mà hãy nhìn vào hiệu quả”

Khi thông tin bà Chanh chữa được nhiều bệnh nan y theo kiểu kì lạ rộ lên, chiều ngày 6/12/2010, chính quyền xã Thanh Vân đã mời bà Phạm Thị Chanh lên trụ sở UBND xã làm việc. Tuy nhiên, hàng trăm người dân đã kéo đến UBND xã Thanh Vân tự nhận mình là những con bệnh đã từng mắc bệnh vô phương cứu chữa, bị viện trả về, nhưng lại được bà Chanh cứu sống. Họ cực lực phản đối chuyện các cơ quan chức năng đình chỉ bà Chanh chữa bệnh.

Trao đổi với báo chí, Chủ tịch UBND xã Thanh Vân Nguyễn Công Lương cho biết, chính quyền địa phương đang rất lúng túng trước sự việc này. Diễn biến vụ việc ở xã Thanh Vân có khả năng bị đẩy đi xa hơn, dẫn đến hậu quả xấu về an ninh trật tự, trước tình trạng hàng trăm người dân đã và đang kéo về xã Thanh Vân với sự “cuồng tín” rất đáng lo ngại.

Để giải thích về “hiện tượng lạ” bà Chanh, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải – Trưởng bộ môn Thông tin Dự báo thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. Theo ông Hải, kiểu chữa bệnh như bà Chanh là hết sức kì quái và nhiều người cho rằng có sự thần bí. Nhưng từ những năm 70 của thế kỉ trước, nhà văn hóa Tâm linh Nguyễn Đức Cần cũng đã từng chữa khỏi bệnh cho rất nhiều người bằng phương pháp hết sức kì lạ.

Ví dụ, bệnh nhân bị đau, ông ấy chỉ cần xé cho mảnh giấy đắp vào vết đau là tự nhiên bệnh nhân sẽ khỏi. Về bản chất thì những mảnh giấy đó chỉ là những mảnh giấy bản, nhìn không có gì khác lạ so với mảnh giấy bình thường.

Hay trường hợp một người có khả năng đặc biệt chữa hóc xương bằng cách nung lưỡi dao nóng đỏ lên rồi hà hơi vào lưỡi dao, sau đó thổi phì phì vào người bị hóc xương thì tự nhiên người đó khỏi hóc… Ngoài ra còn có rất nhiều trường hợp khác có kiểu chữa bệnh hết sức kì quái mà chúng ta chưa khám phá hết.

Theo ông Hải, những người có khả năng đặc biệt như vậy, họ đã truyền cho người bệnh một nguồn năng lượng nhất định nào đó thông qua một vật thể hoặc trực tiếp đến người bệnh. Nhưng xét về hình thức để đem giải thích thì chúng ta thấy không “ăn khớp” gì với khoa học hiện đại.

Nó có cùng bản chất là bằng cách nào đó, người ta truyền cho người bệnh một luồng sóng, một nguồn năng lượng trực tiếp hoặc thông qua một vật thể. Cái vật thể đó, có thể là cốc nước hay là một mảnh giấy…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải : “Chưa cần quan tâm đến hình thức mà hãy nhìn vào hiệu quả”.

Do đó nếu nhìn về hình thức, chúng ta cũng cần đưa ra quy tắc: Chúng ta chưa cần quan tâm đến hình thức vội mà hãy quan tâm đến kết quả chữa bệnh. Nếu thực tế là hình thức đó chữa khỏi bệnh với một tỉ lệ cao, đáng tin cậy thì chúng ta phải chấp nhận nó. Còn cách giải thích thì sớm muộn con người cũng sẽ tìm ra.

“Nếu xét về quy định của ngành y tế thì việc chữa bệnh của bà Chanh như vậy là không vi phạm. Bởi ngành y quy định rằng: Những người không có bằng cấp y học nhưng tự ý dùng những phương pháp trong ngành y để chữa cho người khác mà gây ra hậu quả xấu cho người bệnh thì người đó vi phạm. Nhưng đằng này bà Chanh hoàn toàn không sử dụng gì đến chuyên ngành y để chữa bệnh nhưng bệnh nhân lại vẫn khỏi bệnh…”, ông Hải phân tích.

Theo ông Hải, trong xã hội hiện nay cũng có không ít người lợi dụng lòng tin của người dân để làm những việc không tốt bằng cách dùng một số thủ thuật có vẻ thần bí để kiếm lời. Điều đó đã phần nào làm ảnh hưởng đến những người có khả năng đặc biệt thật sự.

Ông Hải cho rằng để việc chữa bệnh của bà Chanh được chứng minh khách quan thì bà Chanh nên cử người làm một cuốn sổ thống kê như là bệnh án của bệnh nhân, ghi chi tiết tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng người bệnh trước và sau khi đến chữa bệnh tại nhà. Sau đó nhờ các cơ sở y tế có đủ chuyên môn để kiểm chứng lại. Việc này giống như Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người từng giúp bà Phú ở thị xã Sông Công, TP Thái Nguyên – người cũng được cho là “hiện tượng kì lạ” chữa khỏi bệnh cho nhiều người bằng cách giẫm lên lưng bệnh nhân.

Nguyễn Văn Danh post (theo Hồng Ngân)

THỬ ĐỌC LẠI LỜI TIÊN TRI

Cầu cho tiên đoán của nhà tiên tri Vanga năm 2014 và năm 2016 lần này lần sai lầm.

Hai tiên đoán về năm 2011 của nữ tiên tri mù nổi tiếng người Bulgaria Vanga đã dần trở thành hiện thực. Bà còn đưa ra những lời tiên đoán về năm 2014 và 2016.

Về năm 2011, bà Vanga đã nói :

– “Do những đợt mưa phóng xạ nên mọi sinh vật ở Bắc Bán cầu sẽ bị tiêu diệt. Tiếp đó, người Hồi giáo sẽ tiến hành cuộc chiến tranh hoá học chống lại những người châu Âu còn sống sót”. Như vậy có thể thấy lời tiên tri đáng sợ đó có hai phần.

Phần đầu hiển nhiên là ngụ ý thảm họa hạt nhân đang xảy ra ở Nhật Bản. Phần hai rõ ràng là đề cập đến cuộc chiến hiện đang diễn ra ở Libya, nơi một bên là liên quân các nước châu Âu và Mỹ và một bên là quân đội Libya đang giao chiến kịch liệt với nhau. Hơn thế nữa, chỗ gây sửng sốt trong phần 2 lời tiên đoán nói trên chính là cụm từ “chiến tranh hoá học”.

Như ta đã biết, nhà lãnh đạo tối cao Libya là Đại tá Gaddafi đã gọi những kẻ đang tấn công đất nước ông là đội quân Thập tự chinh và cam kết sẽ dùng mọi phương tiện chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng.

Theo tin tức của tình báo phương Tây, trong tay ông Gaddafi có cả vũ khí hoá học. Vậy một khi ông và quân đội của ông bị dồn vào bước đường cùng thì liệu điều gì có thể ngăn trở ông sử dụng vũ khí hoá học chống lại người châu Âu – những người “láng giềng” rất gần, chỉ ở ngay phía bên kia Địa Trung Hải.

Và nếu như hiểm họa đó quả thực xảy ra thì đúng như nhà nữ tiên tri lỗi lạc đã tiên đoán, đến năm 2014 “đa số người sẽ bị mụn nhọt, ung thư da và những chứng bệnh khác về da” (hậu quả của chiến tranh hoá học). Tiếp đó, đến năm 2016 “châu Âu sẽ trở nên trống vắng”.

Tuy rất khâm phục tài tiên tri của người phụ nữ mù Bulgaria nhưng chắc hẳn tất cả chúng ta đều cầu mong lần này bà tiên đoán sai.

Lan caysu (Theo TP)