Miếu “Bà Chúa Xứ” núi Sam (2)

TRUYỀN THUYẾT

VÀ LỄ HỘI

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

– Bài Thanh Thanh (bài 2)

Trong miếu theo hướng chánh điện, ở trong cùng nơi đặt tượng Bà là một cung điện lớn, Bà ngồi uy nghi trên bệ cao với nhung y rồng phượng và tùy theo mùa mà khoác những chiếc áo mang màu sắc khác nhau.

Tương truyền về hướng đặt tượng Bà hiện nay, thời miếu còn sơ khai tượng Bà quay mặt ra đường cái, tức nhìn lên đỉnh núi Sam, nhưng dân làng thời đó chất phát thường đi qua không kính cẩn cúi chào. Bà giận và hiển linh mách bảo thủ từ cho Bà xoay lưng vào trong như hiện nay, mặt hướng về dòng kinh Vĩnh Tế để hưởng gió mát và mùi thơm của lúa gạo từ những cánh đồng lúa bao la ở phía trước thổi vào.

Tượng Bà được tạc tư thế ngồi, ngực nở to, bụng phệ, cổ to, tai Phật. Tượng cao 1,25 m được đúc liền với một bệ đá cùng loại. Chân trái xếp bằng tròn, giáp với bàn chân phải. Chân phải ở tư thế co, chống thẳng. Tay trái chống xuống bệ đá, còn bàn tay phải xòe ra vắt trên đầu gối phải.

Mái tóc Bà quấn thành búp xoăn xõa xuống gáy, có những búp đến ngang vai. Trên đầu tượng có một vành như vành đai vương miện, vành này có khắc hoa văn hình móc câu rất đẹp, phía trước trán nổi lên hoa văn hình ngọn lửa tỏa xung quanh một hình tròn chính giữa. Ngày nay tượng được khoác áo, mão nên chúng ta không thấy hết những chi tiết vừa miêu tả.

Khu chánh điện thờ Bà Chúa Xứ, ngoài tượng Bà, hai bên là hai con hạc trắng đứng chầu trên lưng rùa (Hạc là hiện thân của tính Dương, rùa là hiện thân của tính Âm. Hạc đứng trên rùa biểu hiện sự Âm Dương giao hòa).

Ngang với tượng, bên phải có một bệ thờ trên đặt một tảng đá xám cao hơn bảy tấc, đường kính trên bốn tấc. Thân đá có 8 cạnh, đầu tròn nhẵn, có tên bàn thờ Cậu (giới khảo cổ cho đây là cây Linga, sinh thực khí trong tín ngưỡng phồn thực). Bên trái là bệ thờ đặt một tượng nữ, cao bốn tấc gọi là bàn thờ Cô.

Trước chính điện là bàn thờ Công Đồng chỉ có một bát nhang lớn, hai bên có hai con chim phượng đứng chầu, đây là bàn thờ các hàng thần, thánh, các cấp binh gia của Bà. Ngang hàng với bàn thờ Công Đồng, phía trái là bàn thờ Tiền Hiền, phía phải đặt bàn thờ Hậu Hiền, cả hai bàn thờ đều không có tượng chỉ để bát nhang, là nơi thờ các nhân vật lịch sử được phong thần, phong thánh.

Nhiều học giả nghiên cứu về văn hóa tâm linh cho rằng, miếu Bà Chúa Xứ được thờ như cách các đền chùa miền Bắc thờ Mẫu. Vì thế triều đình nhà Nguyễn phong sắc Bà Chúa Xứ là Thánh Mẫu Thượng Đẳng Thần. Bà trở thành biểu tượng về một nữ thần Mẹ Xứ Sở – Mẹ Đất (Địa Mẫu).

NHỮNG TRUYỀN THUYẾT

Miếu Bà Chúa Xứ gắn liền với nhiều huyền thoại về sự hiển hiện của pho tượng đá trên núi Sam. Các truyền thuyết cho rằng :

– Trước đây Bà ngự trên đỉnh núi Sam, vì thế dân làng cho thỉnh tượng rước Bà xuống núi, có đến những trăm trai tráng nhưng không sao xê dịch được, nhưng chỉ với 9 cô gái mảnh mai trinh nữ, đã đưa tượng xuống núi một cách nhẹ nhàng, khi thỉnh đến vị trí ngôi miếu hiện nay,pho tượng nặng trì xuống không sao đi được, nên dân làng mới dựng miếu thờ Bà tại nơi đây.

– Cũng cách giải thích trên, qua các tài liệu cho rằng : Tượng Bà trước ở trên đỉnh núi Sam. Khi quân Xiêm La (Thái Lan) đang xâm lược đất Cao Miên, chúng thường kéo sang vùng Thất Sơn quấy nhiễu.

Chúng lên đỉnh núi Sam thấy pho tượng to lớn dáng dấp huyền bí nên muốn mang về nước, hơn một trăm lính lực lưỡng hè nhau đưa tượng xuống núi, nhưng không thể nào khiêng nổi như tượng nặng ngàn cân. Một tên lính Xiêm tức giận bèn lấy khúc cây đang làm đòn bẫy mà phang vào tượng, làm sứt một mảng ở cánh tay của Bà. Lập tức tên lính bị Bà làm cho hộc máu chết liền tại chỗ. Bọn lính đành bỏ lại pho tượng.

Đến khi người Việt đến khai hoang lập ấp nơi đây, thấy tượng Bà đang ngồi cô độc trên đỉnh núi, liền huy động cả trăm trai làng lên núi khiêng tượng xuống, nhưng tượng không hề lay chuyển.

Dân làng họp nhau cúng tế cầu xin Bà cho họ thỉnh được tượng xuống. Bất ngờ Bà nhập đồng vào một cô gái, và xưng là Bà Chúa của xứ sở, muốn thỉnh tượng về thờ phải có 9 cô gái còn trinh nữ khiêng xuống núi rồi lập miếu mà thờ.

Dân làng nghe theo lời, tìm đủ 9 cô gái đồng trinh và đưa lên núi thỉnh tượng Bà xuống. Y như lời, 9 cô gái khiêng tượng Bà xuống núi thật dễ dàng, nhưng đến chỗ lập miếu hiện nay, 9 cô gái không thể di chuyển tượng được nữa. Dân chúng cho rằng Bà đã chọn nơi đây để ngự, do đó miếu Bà được mọi người dựng tại đây.

Qua những truyền thuyết trên, chúng ta càng rõ miếu Bà có từ trước khi Đô Thống Thoại Ngọc Hầu đến trấn giữ vùng Châu Đốc, có thể được dựng vào cuối thế kỷ 18 hay vào đầu thế kỷ 19. Cũng tương truyền, miếu Bà vào trước năm 1954 còn rất nhỏ, rộng không quá 20 m2, xây bằng đá phiến mái lợp ngói, việc thờ cúng như những ngôi miếu bình thường khác, sau này đường xá giao thông dễ dàng, dân cư ngày một đông, rồi tin miếu Bà linh thiêng thường cho vay vốn làm ăn (tượng trưng) một đẻ mười, nên hằng ngày có người đến vay đến trả và cúng dường tạ ơn.

Các vị thủ từ nhờ số tiền đó mà xây dựng miếu Bà ngày càng to lớn như bây giờ.

Theo các tài liệu nói về việc xây dựng trùng tu miếu Bà từ khi còn bằng tre lá đơn sơ, đến lần xây dựng thành ngôi miếu là vào năm 1870, nhưng bắt đầu hình thành ngôi miếu to như ngày nay vào những năm 1972 đến năm 1976 mới xong, và từ đó về sau miếu Bà càng to lớn càng lộng lẫy hơn.

PHÂN TÍCH VỀ TƯỢNG BÀ

Tượng Bà Chúa Xứ khắc bằng đá, đầu đội mũ triều thiên, mặc áo bào thêu hình rồng phụng như đã diễn tả.

Năm 1941, một nhà khảo cổ học thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Maleret, đến nghiên cứu tượng Bà kết luận tượng thuộc dạng tượng thần Vitnu thường thấy ở Ấn Độ, Lào, Campuchia và ở miền Trung nước ta (nơi có đông người Champa gốc Khmer sinh sống; vì vào thế kỷ 12 quân Phù Nam đã chiếm kinh thành người Chân Lạp, Chiêm Thành).

Họ cho rằng tượng Bà có lẽ được tạc vào thời kỳ tiền Angkor (Angkor – thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13) và thường thấy ở các nước chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ như Campuchia, Lào, Miến Điện (Myanmar) v.v…

Do Ban Quản Trị miếu Bà không đồng ý cho giám định chất đá tạc tượng, có lẽ vì sợ sự linh thiêng của Bà, nên các nhà khảo cổ không thể giám định đá tạc tượng có cùng chất đá ở trong vùng hay không (trên núi Sam còn có bệ đá, người ta cho rằng là nơi trước đây Bà đã ngự, giống hình một Yôni).

LỄ HỘI VÍA BÀ

Hằng năm vào những ngày 23, 24, 25, 26 và 27 tháng 4 ÂL, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được tổ chức hoành tráng và trang nghiêm ngay khu vực núi Sam.

Lễ Vía Bà có từ thời Đô thống Thoại Ngọc Hầu, xem như lễ Tạ ơn ông bình an từ trấn Tây trở về, đây còn là thời điểm ở đồng bằng sông Cửu Lon, nhất là tỉnh An Giang, người nông dân vừa sạ xong vụ lúa Hè Thu, vụ lúa sẽ cho thu hoạch vào tháng 6 tháng 7 trong năm. Nên ngày lễ hội là dịp cho người dân Nam bộ cầu cho mưa thuận gió hòa và mừng cho việc sạ lúa thắng lợi.

Còn khách hành hương đến với lễ hội, ngoài mục đích hòa chung niềm vui với cư dân địa phương, còn đến xin cầu an cho gia đình hoặc vay mượn, trả lễ tiền Bà.

Trong những ngày lễ tại miếu Bà có nhiều nghi thức :

– LỄ TẮM TƯỢNG (như lễ Mộc Dục phía Bắc) : được tổ chức vào giữa đêm ngày 23 tháng 4, lúc này mọi người đã đông kín cả miếu, đặc biệt những tín nữ trong tay cầm bông hoa huệ trắng quì trước chánh điện.

Trước khi diễn ra lễ “Tắm Bà”, các chức sắc trong miếu đều có mặt nơi chánh điện, cùng khách hành hương đến dâng áo mão mới cho Bà. Đúng giữa đêm rạng sáng ngày 24/4, lễ tắm được chính thức cử hành.

Nghi thức đầu tiên là thắp sáng cặp đèn cầy to trước tượng Bà. Các học trò lễ đứng thành hai hàng cùng ba vị kỳ lão thuộc hàng chánh phó tế đến niệm hương, dâng trà rượu, tiếp đến ban quản trị, các hương chức địa phương lần lượt vào dâng hương cầu nguyện cho địa phương.

Sau đó một bức màn vải thêu hoa văn nhiều màu sắc, được kéo ngang bệ thờ che khuất khu vực chánh điện, không ai còn thấy tượng Bà. Một nhóm phụ nữ gồm 4 hay 5 người được phân công cho lễ tắm tượng, bước vào trong chuẩn bị phần việc.

Dưới chân tượng là một chậu nước hoa đậm mùi trầm quế, các phụ nữ nhúng khăn vào chậu nước và vắt khô để lau tượng. Sau phần lau tượng đến phần tẩm hương, khách hành hương đưa từng chai nước hoa đắt tiền vào trong để xịt lên cốt tượng, lên áo mão cân đai cho Bà. Cũng như phần tẩm hương, các áo mão, nữ trang của người hành hương khi dâng lên Bà, được các phụ nữ trong chánh điện chọn lựa để khoác vào Bà. Ai có vinh hạnh được Bà tẩm hương, mặc và đeo nữ trang của mình vào tượng là niềm hạnh phúc vô hạn, bởi họ tin rằng trong năm sẽ được Bà ban cho nhiều phúc lộc.

Việc tắm Bà diễn ra trong vòng một tiếng, khi xong tấm màn vải được kéo qua để mọi người vào chiêm ngưỡng, khấn vái, cầu xin, nhận lộc. Từ thời gian này đến chiều hôm sau, việc hành hương của bá tánh được tự do vào lễ bái, trong dịp này có những thanh đồng theo tín ngưỡng thờ Mẫu cũng khăn áo nhập đồng, hòa trong tiếng trống đàn của cung văn, làm cho lễ hội thêm phần hấp dẫn.

– LỄ THỈNH SẮC : cử hành vào khoảng 3 – 4 giờ chiều ngày 24. Đoàn rước đến lăng Đô thống Thoại Ngọc Hầu để rước các sắc và bài vị ở Lăng về miếu Bà trong nghi thức trọng thể.

Tục lệ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu có từ rất lâu. Do người dân vùng Châu Đốc, An Giang nói chung và dân ở khu vực kinh Vĩnh Tế nói riêng, trước khi cúng tế Bà phải thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu để ông chứng kiến, cũng như để tỏ lòng biết ơn người có công khai phá vùng đất hoang vu này.

– LỄ TÚC YẾT : cử hành vào nửa đêm ngày 24 rạng 25. Theo truyền thống, dân làng Vĩnh Tế chọn ra những kỳ lão rành lễ tế. Khi vào lễ, thông thường là những vị kỳ lão mặc áo dài, đầu đội khăn đóng, xếp thành hai hàng đứng trước tượng Bà cùng 8 học trò lễ gồm 4 nam và 4 nữ đứng hầu. Ông chánh tế đối diện trước tượng cùng hai người xướng, một ở ngoài một ở trong cung.

Vật hiến tế gồm một con heo mao huyết (heo được cạo sạch lông, được mổ bụng nhưng chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết với một ít lông heo (nên gọi là mao huyết), một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối và khay rượu, khay trà.

Sau khi dâng heo lên bàn cúng nơi chánh điện trước tượng Bà, chánh tế được 8 học trò lễ lần lượt dâng tiếp các lễ vật như đã kể, mỗi lần dâng ông chánh tế đều đọc văn tế cầu cho quốc thái dân an, xin Bà và các thần linh chứng giám. Đọc xong, dâng tiếp ba tuần rượu và cuối cùng là tuần trà.

Cuối lễ Túc yết, ông chánh tế đốt các bài văn tế, còn con heo được lật ngửa và được khiêng đi.

– LỄ XÂY CHẦU : sau lễ Túc yết đến lễ Xây chầu. Người trong miếu khiêng bàn tổ ra ngoài để thay vào đó một cái trống chầu. Những người hành lễ cũng áo dài khăn đóng, đứng thành hai hàng dài trước tượng Bà, nhưng từ trước cửa điện trở ra là sàn diễn dành cho các đoàn hát bộ đang sẵn sàng chờ.

Ông chánh tế lấy cành dương nhúng vào bát nước trên tay, vẩy lên từng lần đọc lời cầu nguyện :

– Nhất sái thiên thanh (Một vẩy cho trời trong xanh)

– Nhị sái địa linh (Hai vẩy cho đất tốt lành)

– Tam sái nhân trường (Ba vẩy cho người trường thọ)

– Tứ sái quỷ diệt hình (Bốn vẩy cho ma quỷ tiêu trừ)

Xong lễ, ông đánh ba hồi trống và khởi lệnh: “Ca công tiếp giá !” tức thì tiếng trống mõ của đoàn hát bộ tấu lên, theo đó là các tuồng tích được bắt đầu diễn xướng.

– LỄ CHÁNH TẾ : chương trình hát bộ được diễn từ rạng sáng 25 tháng 4 sau lễ Xây chầu qua đêm 26/4. Vào ngày 26/4 khoảng 4 giờ sáng là lễ Chánh tế, với nghi thức như lễ Túc yết, với ý nghĩa của một lễ cầu an. Khách hành hương thường dâng sớ vào ngày 26/4 để cầu xin Bà ban lộc hay vay mượn tiền Bà, cũng như cầu cho gia đình được mọi sự bình an.

Sau lễ Chánh tế vào ngày 27/4 khoảng 3 giờ chiều ban quản trị miếu Bà cử hành lễ đưa sắc về lăng Thoại Ngọc Hầu là khâu cuối của lễ hội núi Sam.

oOo

Hiện nay ở Sài Gòn có rất nhiều Chùa Miếu đã phối tự Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc  để bá tánh tránh đường xa đến cúng bái. Như ở huyện Nhà Bè có Miếu Ngũ Hành được mọi người  ọi Miếu Bà 2, còn ở Quận 9 bên cù lao Bà Sang có chùa Phước Long thờ, được gọi Miếu  à 3, ở khu Mi ếu Nổi quận Gò Vấp có Sa Tân Miếu được gọi Miếu Bà 4 còn ở quận 2 đường Trần Não nơi thờ Quan Thánh Đế Quân được gọi Miếu Bà 5 v.v…

CÁC ĐỀN CHÙA KHÁC

Ngoài khu vực núi Sam với các lăng mộ, chùa miếu như đã kể. Tại thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc còn có nhiều ngôi chùa do người Hoa xây dựng, như :

– CHÙA ÔNG BẮC : còn có tên Quảng Đông tỉnh hội quán do người Quảng Đông lập, được xếp vào Di tích lịch sử văn hóa, tọa lạc ngay trong trung tâm thành phố Long Xuyên.

Trong chùa từ ngoài nhìn vào mọi người sẽ thấy trước hết là tượng Địa Tạng Dương, tiếp đến tượng Phật Thích Ca Mâu Ni. Dãy hàng ngang có ba ban thờ, chính giữa thờ Huyền Thiên Thượng Đế, ngày vía chính vào mùng 3 tháng 3 ÂL.

Bên trái là ban thờ Quan Thánh Đế Quân tức Quan Công ngày vía 24 tháng 6 ÂL, còn bên phải là ban thờ Thánh Mẫu Thiên Hậu, ngày vía 23 tháng 3 ÂL.

Ngoài ra chùa Ông Bắc còn thờ nhiều tượng thần khác như tượng Cô, tượng Thiên Lý Nhãn, Thượng Phong Nhĩ v.v..

– CHÙA QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN : nơi thờ Quan Công một danh tướng thời Tam Quốc bên Trung Hoa. Ngoài tượng Quan Công đặt ngay chính điện, bên trái thờ Ông Bổn, Táo Quân, Ông Địa, còn bên phải thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chùa Quan Thánh cũng nằm trong thành phố Long Xuyên.

– CHÙA ÔNG : tại thị xã Châu Đốc do 4 bang hội của người Phúc Kiến, Quảng Đông, Hẹ và Triều Châu xây dựng. Ngoài việc thờ Quan Công có bức đại tự ghi “Hiệp Thiện Đại Đế”, trong chùa còn thờ Ông Bổn ở bên trái với bức “Phước Đức Chính Thần”, bên cạnh có tượng Ông Hổ, bên phải bàn thờ là Thánh Mẫu Thiên Hậu.

– CHÙA PHẬT LỚN : xây dựng trên núi Cấm (Châu Đốc, An Giang) có pho tượng Phât Di Lặc được xem là lớn nhất, cao 31,6 mét, trong ruột có thang máy đưa mọi người lên cao ngắm cảnh Thất Sơn trùng điệp. Bệ tượng được chế tác bằng kính màu xanh ve, như khối kim cương khổng lồ mang một pho tượng vĩ đại.

– CHÙA SOAI TONG : nằm trong tỉnh An Giang, do một người Việt gốc Khmer xây dựng, lưu giữ nhiều bộ kinh Phật quý giá được viết trên lá. Trong đó có bộ kinh xưa nhất hơn một thế kỷ và mới nhất được viết vào năm 1963 bằng chữ Khmer. Trong những bộ kinh lá này có những lời Phật dạy, chuyện dân gian và trường ca Ramayana…

Thanh Thanh

Miếu “Bà Chúa Xứ” núi Sam (1)

Quần thể

“Năm non Bảy núi”

THẤT SƠN

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

núi Sam – Châu Đốc

– Bài Thanh Thanh (bài 1)

Trong các tỉnh miền Tây thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở tỉnh An Giang người ta tìm thấy nhiều di tích về nền văn hóa Óc Eo như tại Ba Thê thuộc huyện Thoại Sơn, cách thành phố Long Xuyên 30 km; nơi đây có ngôi thành cổ nằm bên một cảng biển xưa đã bị chìm dưới lòng đất.

Phát hiện này vào những năm 40 thế kỷ trước, cho thấy nền văn minh đô thị đã có trước công nguyên tại tỉnh An Giang, cũng như hiện nay tỉnh còn được mọi người biết qua dãy Thất Sơn huyền bí cùng miếu Bà Chúa Xứ.

QUẦN THỂ THẤT SƠN HUYỀN BÍ

Nói đến Thất Sơn mọi người đều sẽ có ấn tượng, bởi nơi đây đầy những sự huyền hoặc và kỳ bí, vì gần hai trăm năm nay vùng Thất Sơn đã có nhiều chuyện truyền kỳ lẫn những lời đồn đại, và điều này khiến mọi người mang tính hiếu kỳ luôn luôn tìm đến với dãy Thất Sơn để tìm hiểu.

Thực tế quần thể Thất Sơn không chỉ có bảy ngọn núi mà có đến mười hai ngọn. Chúng kết hợp thành một dãy núi nằm về phía tây bắc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang bây giờ, vì thế mà mọi người còn gọi vùng Thất Sơn là “Năm Non Bảy Núi” để cho thấy dãy núi vẫn có đủ 12 ngọn khác nhau.

Theo địa dư triều đình nhà Nguyễn viết, vùng Thất Sơn có đến 12 ngọn núi, chính Tổng Đốc thành An Giang thời đó đã đặt cho cho các tên núi là : Tà Chiến, Trà Nghịch, Tượng, Thốt, Cà Âm, Năm Sư, Khẻ Lập, Ba Xoáy, Ngất Sung, Nam Vi, Đoài Tôn và Chơn Sum.

Sau này theo thói quen, người dân chỉ gọi có bảy núi chính gồm : Trà Sư, Két, Đài, Tượng, Bà Đội Om, Ông Tô và Cấm Sơn, vì núi Cấm bao gồm những ngọn Ba Xoáy, Ngất Sung, Chơn Sum, Nam Vi và Đoài Tôn, bởi chúng liên kết với nhau. Sở dĩ những ngọn núi này có những tên kể trên, do mọi người căn cứ theo hình dạng của mỏi ngọn mà đặt tên cho dễ kêu, dễ nhớ.

Về tên Bảy Núi (Thất Sơn) như đã giải thích, còn Năm Non là gì ? Theo các vị kỳ lão trong vùng kể lại, cách đây gần hai trăm năm :

– NÚI CẤM (Cấm Sơn) : một trong bảy núi có tiếng là linh thiêng nhất, nơi tập trung các vị chân tu và đạo sĩ. Bởi lẽ Cấm Sơn thời gian trước thế kỷ 19 còn rất hiểm trở, rừng già mịt mù u tịch, thú dữ xê dịch từng đàn và quanh núi có năm vồ (gò) cao đặc biệt, mỏi vồ mang một tên riêng như :

– VỒ BỒ HÔNG : nằm ở hướng tây. Theo lời truyền khẩu từ nhiều đời, trước khi mới phát hiện ra vồ này thì loài Bồ Hông (bò rừng cao lớn hơn bò nhà) sinh sống ở đây rất đông, nên mọi người mới đặt tên là vồ Bồ Hông.

– VỒ ĐẦU : nằm về hướng tây bắc, đi theo ngã chợ Thum Chưn lên, có lẽ lúc mới lên núi thấy ngay vồ này trước mắt, nên được đặt là Vồ Đầu là vậy.

– VỒ BÀ : người Việt gốc Khmer thường gọi vồ là Phụm Barech, trước đây thờ bà Chúa Xứ, nằm về hướng nam.

– VỒ ÔNG BƯỚM : nằm phía bắc Cấm Sơn. Ngày xưa người ta thấy mỏi buổi sáng tinh sương, từ trong hang đá có một bầy bướm khồng lồ bay ra như một đám mây bay vào vùng rừng rậm.

Không biết đàn bướm ấy bay đến đâu nhưng chiều tối thì chúng lại bay trở về hang đá ấy. Dân đi rừng tìm củi thấy vậy nên tò mò tụ đến xem làm xôn xao cả vồ, khiến đàn bướm bay đi mãi không về hang động này nữa. Vì lẽ đó mà người ta đặt tên là Vồ Ông Bướm hay còn gọi là Điện Bướm.

– VỒ THIÊN TUẾ : vồ cuối cùng nằm ở phía đông, người Khmer gọi vồ là Phụm Pra Péal, nơi đây có rất nhiều cây thiên tuế, có cây sống trên vài trăm năm rất to lớn xum xuê.

Còn thời nhà Nguyễn tên năm vồ này là Ngất Sung, Ba Xoáy, Nam Vị, Đoài Tôn, Chơn Sum.

Núi Cấm chỉ cao trên 780 mét, còn chiều dài đến gần 7,5 km và rộng 6,5 km, nằm giữa 4 thôn Vĩnh Trung, Thuyết Nạp (tổng thành Ý, huyện Tịnh Biên), Nam Qui (tổng thành Lễ) và Châu Lang (Long Thành Ngãi, huyện Tri Tôn) núi nằm giữa 2 núi Bà Đội Om và núi Đài.

Theo giả thuyết, tên núi Cấm (Cấm Sơn) được mọi người hiểu như sau :

– Nhiều người cho rằng, núi này vào thế kỷ 19 có tên Thiên Cẩm Sơn (tức Gấm Nhà Trời), còn dân làng mộc mạc đọc trại theo giọng địa phương là Thiên Cấm Sơn (tức Trời Cấm Vào Núi). Sau đọc gọn chỉ còn Cấm Sơn.

– Còn những người sống vào thời kỳ Nguyễn Ánh – Tây Sơn cho biết : khi chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu tránh quân Tây Sơn vào núi ẩn mình, Chúa Nguyễn đã cấm dân lên núi nên dân chúng gọi là núi Cấm.

Giả thuyết nào cũng có cái lý đúng, nhưng chắc chắn tên núi Cấm có từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay.

CHÙA TÂY AN

Khi nói đến Thất Sơn là nói đến dãy núi nằm sát biên giới nước Campuchia, và không ai không biết đến núi Sam (trước đây tên Vồ Bà), núi cao chừng 250m, nơi có chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu và miếu Bà Chúa Xứ nằm trên một trục đường chính, và có những liên hệ gắn liền nhau. Hằng năm vào ngày 24 tháng 4 ÂL là ngày vía Bà Chúa Xứ.

Ở núi Sam còn có tháp Phái và chùa Phước Điền, tạo nên một quần thể di tích văn hóa, tín ngưỡng thờ Phật và Thần của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chùa Tây An trên đường đi đến miếu Bà Chúa Xứ, có nhiều điển tích, và có nhiều cách giải thích ai đã xây dựng chùa. Những điển tích đó như sau :

– Thoại Ngọc Hầu vâng lệnh vua Minh Mạng và Quan Tổng trấn Gia Định thành tức Tả quân Lê Văn Duyệt, qua Cao Miên “bảo hộ đất trấn Tây”. Ở quê nhà, vợ ông là bà Châu Thị Tế đêm ngày lo sợ chồng chết trận, lại là người mộ đạo sùng bái thần linh, bà van vái Trời Phật Thánh Thần gia hộ cho ông sớm được bình an trở về. Nếu lời cầu xin được như ý, bà sẽ lập chùa thờ Phật để tạ ơn.

Khi Thoại Ngọc Hầu từ trấn Tây (Cao Miên) bình an trở về, bà kể lại lời cầu khấn, ông liền cho xây chùa lấy tên Tây An Tự (ngôi chùa từ trấn Tây bình an trở về). Sau đó cho lính sang Cao Miên chở cốt Phật về thờ, theo truyền thuyết thì cốt tượng Phật này do vua Cao Miên tặng Thoại Ngọc Hầu vì ông có công dẹp yên giặc Xiêm La.

Nhưng ông lo ngại việc tự ý xây chùa và đem cốt Phật từ đất Miên về thờ sẽ thấu đến triều đình. Sợ vua không phong sắc mà còn bị quở phạt, nên đặt thành tên miếu Bà Chúa Xứ để tránh phiền phức.

Thực tế tại vùng kinh Vĩnh Tế lúc ấy có cả chùa Tây An và cả miếu Bà Chúa Xứ, như vậy Thoại Ngọc Hầu xây dựng chùa Tây An hay xây dựng miếu Bà đang còn được mọi người tìm hiểu ?!

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng này trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn đóng đã có chùa Thụy Sơn ở địa hạt Thụy Sơn, và chùa Tây An ở địa hạt Vĩnh Tế, không ghi có miếu Bà Chúa Xứ, mặc dù từ chùa Tây An đến miếu Bà không xa chỉ trên một đoạn đường ngắn. Phải chăng vào đời vua Tự Đức (1848 – 1883), miếu Bà chưa hình thành hoặc miếu còn quá nhỏ nên không được ghi vào sách ?

Nên trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn nhậm vùng Châu Đốc vào thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), tương truyền  cho rằng ông đã dựng lên chùa Tây An là đúng.

Nhưng có một tích khác lại quả quyết, Thoại Ngọc Hầu không xây dựng chùa Tây An mà ông dựng đền thờ Lễ Công ở hạt Châu Phú để thờ Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh. Còn chùa Tây An do Tổng đốc Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tức 18 năm sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời.

Cũng có thể nói, chùa Tây An do chính Thoại Ngọc Hầu xây dựng vào những năm 1820 – 1825, lúc đó nơi đây đã có miếu Bà bên đường, nên ông mượn tên miếu Bà để tránh tội. Sau này vào năm 1847, Tổng đốc Doãn Uẩn mới trùng tu lại chùa Tây An lớn như ngày nay.

LĂNG THOẠI NGỌC HẦU

Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1762-1829), quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người có công đóng góp nhiều vào triều đình nhà Nguyễn đời Gia Long. Năm 1818, ông có công tổ chức đào kinh Đông Xuyên, còn gọi là kinh Thoại Hà.

Năm 1819 lại tổ chức dân chúng đào kinh Vĩnh Tế, nhưng ông chỉ đào được 3 năm thì ngừng, do dân phu đau ốm và chết quá nhiều, sau đó Tả quân Lê Văn Duyệt giao lại cho Trương Tấn Bửu đến đào tiếp.

Sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông được truy tặng hàm Đô Đốc tước Ngọc Hầu, nên sách sử ghi là Đô thống Thoại Ngọc Hầu, có lăng tẩm đặt trên núi Sam, và gần như đối diện với miếu Bà Chúa Xứ.

Vào dịp lễ vía Bà hằng năm, chiều 24 tháng 4 ÂL, từ bên miếu Bà Chúa Xứ, Ban Quản Trị miếu Bà mặc lễ phục chỉnh tề sang Lăng thỉnh sắc ông qua Miếu dự lễ hội.

Đoàn thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu rất trang nghiêm, có lân dẫn đường rồi đến các vị chức sắc trong miếu Bà, các kỳ lão địa phương.

Đi sau các học trò lễ sắp thành hai hàng dọc, tay cầm cờ, cầm phướn đi hầu trước và sau Long đình, có lọng phủ do bốn người khiêng. Khi vào trong lăng, mọi người dâng hoa niệm hương tế lễ rồi thỉnh bốn bài vị lên Long đình rước về miếu Bà. Bốn bài vị gồm :

– Bài vị Đô thống Thoại Ngọc Hầu

– Bên trái bài vị bà chánh phẩm Châu Thị Tế

– Bên phải bài vị bà nhị phẩm Trương Thị Miệt

– Cuối cùng là bài vị các Công đồng

Khi thỉnh sắc về đến miếu Bà, các bài vị trên được an vị tại ngay chánh điện. Và ở đấy suốt thời gian tổ chức lễ vía Bà Chúa Xứ diễn ra.

Đến chiều ngày 27 tháng 4 ÂL như lúc thỉnh, các hương chức, các kỳ lão, học trò lễ vẫn cờ, phướn, Long đình tề tựu đưa sắc và các bài vị trở về Lăng Đô thống.

(Còn 1 kỳ)