PHONG TỤC NGƯỜI KHMER & CAMPUCHIA

NHỮNG LỄ HỘI

THÁNG 10 ÂM LỊCH

Lễ cơm mới của người Mường

Thời gian : 01/10 đến 28/10 Âm lịch. Địa điểm : Xã Mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Lễ cơm mới tổ chức sau khi thu hoạch vụ mùa tháng 10 âm lịch. Lễ vật là bánh chưng và cá để cúng vía lúa. Cũng trong lễ cơm mới này, người Mường cúng giỗ cha mẹ, ông bà.

Lễ hội Ok Om Bok

Thời gian : Tối 14 và ngày 15 tháng 10 (âm lịch). Địa điểm : Nghi lễ thực hiện tại sân nhà; sân chùa. Hội đua ghe ngo tại sông Maspéro (thành phố Sóc Trăng), cùng những tỉnh đông người Khmer sinh sống.

Tết cơm mới của người La Hủ

Thời gian : Tháng 10 hoặc tháng 11 Âm lịch. Địa điểm : Tỉnh Lai Châu.

Người La Hủ thường tổ chức lễ cơm mới vào tháng mười hoặc tháng 11 âm lịch. Điều đặc biệt là trong dịp tết cơm mới này, người La Hủ kiêng 3 ngày không đi hái rau, lấy củi, chặt cây, phát cỏ trong rừng để cầu mong cây cỏ tốt tươi quanh năm. Trong dịp lễ tết, người La Hủ dùng trống để giữ nhịp múa xoè.

Lào – Lễ hội That Luang

Thời gian : Năm nay lễ hội được tổ chức vào ngày 21 tháng 11 DL (kéo dài 3 ngày). Địa điểm : Vienatine, Lào

Hội Thạt Luồng là lễ hội tôn giáo lớn nhất, đậm nét văn hoá Lào nhất và thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân các bộ tộc Lào trên cả nước cùng nhân dân các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, cũng như khách quốc tế.

Campuchia –

Lễ hội Nước (Bon Om Touk)

Thời gian : Năm nay sẽ được bắt đầu từ ngày 20 tháng 11 DL và kết thúc ngày 22 tháng 11 DL. Địa điểm : Phnompenh, Campuchia (khu vực bờ sông Tonle Sap và Mekong).

Đây được coi là lễ hội lớn nhất trong lịch Khmer, lớn hơn cả lễ chào đón năm mới. Người dân Cambodia sẽ được nghỉ 10 ngày để chào đón lễ hội này.

Họ sẽ tụ tập về các bờ sông Tonle Sap và Mekong ở Phnom Penh để xem đua thuyền quy mô lớn.

Thái Lan – Lễ hội Loi Krathong

Thời gian : Từ ngày 19 – 21/11 DL. – Địa điểm : Thái Lan, đông vui nhất vẫn là Bangkok.

Vào đêm rằm, hàng ngàn người tụ tập bên các dòng sông, kênh hay thậm chí là ao hồ và biển, cầu nguyện trong im lặng và sau đó cẩn thận thả bè của mình theo dòng nước.

LỄ TÉ NƯỚC

Ở THÁI LAN

VÀ CAMPUCHIA

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới.

Những ngày tháng 4 hàng năm, hàng triệu người dân Thái Lan và Campuchia đều mong chờ Lễ Hội Té Nước đặc sắc trong dịp lễ Tết cổ truyền Songkran tên gọi ở Thái Lan, và Chol Chnam Thmay ở Campuchia.

Lễ té nước diễn ra từ 13-15/4 dương lịch. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân 2 nước sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức nghi dội nước lên người nhau.

Bất kể người lớn, trẻ em, khách du lịch, không phân biệt màu da, ai nấy đều hòa vào màn té nước vui nhộn trong tình thân ái. Lễ hội Songkran còn diễn ra hoạt động té nước cùng người đẹp.

Các cô gái tham gia khoác trên mình những trang phục lễ hội chim công, chim phượng và múa các điệu dân gian độc đáo. Vào dịp này, người dân Thái ai nấy đều náo nức, treo đèn trang trí, nhà nhà tưng bừng ánh điện, phố phường đông vui, náo nhiệt.

Trong thời điểm này, khắp nước Campuchia cũng tưng bừng lễ đón năm mới – Tết Chol Chnam Thmay kéo dài 3 ngày (13 – 15/4 hàng năm). Không khí náo nhiệt, đèn hoa sáng rực từ các ngôi chùa kéo dài đến các nẻo đường dẫn đến Hoàng Cung. Thủ đô Phnôm Pênh treo đèn kết hoa lộng lẫy. Người dân và du khách đổ ra đường tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố lễ té nước, bôi bột màu…

Tết cổ truyền Campuchia đặc biệt nhất là các điệu múa Apsara quyến rũ, cùng các món ăn truyền thống đậm hương vị Khmer dùng chung với rượu thốt nốt thơm lừng.

TẬP QUÁN NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Người Việt gốc Khmer ở khắp nơi, nhưng đông đảo nhất phải kể ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, sau đó vùng miền đông như Tây Ninh, Bình Phước…

Tuy là người Việt nhưng họ vẫn giữ bản sắc gốc Khmer, nên ngoài ngày tết Chol Chnăm Thmây (mừng năm mới), người Khmer Nam bộ còn có những tập quán riêng :

TẾT CHOL CHNĂM THMÂY

Những người Khmer đều mừng năm mới băng tết Chol Chnăm Thmây chung một ngày với Vương quốc Campuchia, tức vào những ngày từ 12 đến 15 tháng 4 DL hàng năm.

Người Khmer chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn hóa Ấn Độ, nên đa số theo Phật Giáo tiểu thừa, vì thế họ ăn tết khác với những nước trong vùng Đông Nam Á và thế giới. Người Khmer tính ngày đầu năm mới bằng hai cách :

– Chol tính theo sự vận chuyển của mặt trăng như âm lịch của chúng ta. Còn Chnăm tính theo sự vận chuyển của mặt trời như dương lịch.

Theo 2 cách tính ấy, ngày Chol Chnăm Thmây được tính vào đầu trung tuần tháng Chett tức tháng 5 Khmer, tương ứng với tháng 4 DL là tháng đang nắng gắt, thời tiết oi bức sắp có mưa, nhưng cây cỏ sẽ xanh tươi, mùa lúa sẽ tươi tốt sẽ đến, vì Thmây là mới. Nên Chol Chnăm Thmây có nghĩa vào năm mới, chấm dứt mùa nắng đi vào mùa mưa.

Người dân Campuchia và người Khmer Nam Bộ chuẩn bị ngày Tết cổ truyền của họ thật trang trọng, nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ, quần áo may mới cho mọi người trong gia đình như Tết Nguyên Đán nước ta.

Trong đêm giao thừa, mọi người thắp nhang đèn đưa tiễn thần Téveda cũ để rước thần Téveda Thmây (ông tiên mới) vào nhà. Sáng ngày đón năm mới, họ đi tắm gội mặc những bộ quần áo ưng ý nhất rồi đội mâm lễ đến chùa cúng Phật. Khi vào chính điện, họ đi 3 vòng quanh điện sau đó mới dâng lễ lên cho các sư sãi (còn gọi là Lục Cà Sa) nhận.

Qua ngày thứ nhì, mọi người làm lễ dâng cơm của gia đình mình vào bình bát cho các sãi dùng. Sãi trưởng đứng ra chúc phúc cho tập thể và cầu nguyện cho các vong linh người chết sớm được siêu thăng về miền lạc cảnh.

Buổi chiều cũng tại các chùa tổ chức lễ “Gọi hồn cát”, sau khi Phật tử đã đắp nhiều núi cát ngay trước sân, lễ này không thể thiếu trong ngày tết Chol Chnăm Thmây, vì những núi cát tượng trưng cho núi Mênu (bên Ấn Độ) nơi theo tín ngưỡng của họ, cho rằng núi Mênu là cái rún của Đất của Phật giáo, nơi các thần linh ngự trị. Núi cát được đắp thành nhiều tầng, nhưng luôn là số lẻ 1, 3, 5 tầng tượng trưng cho phần Âm.

Ngày thứ ba làm lễ tắm Phật và tắm các sãi già yếu, rồi đọc kinh cầu siêu cho người thân đã chết, tại ngôi tháp trong chùa có chứa hài cốt.

Sau ba ngày làm các nghi thức tín ngưỡng, mọi người mới bắt đầu về nhà mừng tuổi người thân, từ người lớn tuổi đến các anh chị em trong gia đình.

Ngoài ra các chùa còn tổ chức đua thuyền trên sông Hậu (thường ở tỉnh Sóc Trăng). Trên thuyền đua đều có một sãi trưởng đứng chỉ huy, có khi cuộc đua kéo dài từ 1 đến 2 ngày tùy theo số lượng thuyền đến dự đua, cuối cuộc đua mọi người giăng ngang sông một sợi dây da trâu, một vị sãi trưởng đến chặt đứt sợi dây, việc này mang ý nghĩa là ra lệnh cho nước rút ra biển, cho dân cày cấy làm ra hạt thóc hạt gạo, cho dân chài lưới đánh bắt được nhiều tôm nhiều cá.

LỄ CƯỚI CỦA NGƯỜI KHMER

Lễ cưới cổ truyền của người Khmer Nam Bộ gồm những trò diễn xướng và các bài ca theo các phong tục tập quán quy định. Có thể coi đây là buổi biểu diễn liên hoàn, kể về một tích truyện mới cũ nào đó (tuy nhiên hiện giờ ít thấy tổ chức).

Về trang phục, cô dâu và chú rể mua sắm rất nhiều quần áo để thay đổi trong các vai diễn như sà rông, khăn, vòng vàng, vòng bạc v.v… Đạo cụ gồm kéo cắt tóc, nhang giả, gươm, chỉa ba… Ngoài ra có một ban nhạc đệm nắm vững các thứ lớp trong các tuồng tích được diễn trong ngày lễ cưới.

Buổi sáng chú rể sang nhà cô dâu, người ta tổ chức đám rước với bài Bai Khon; chàng rể đóng vai vua, còn cô dâu đóng vai hoàng hậu. Đại ý bài hát Bai Khon như sau :

– Chàng sắp đến hãy trải chiếu ra, sắp gối nằm, đặt gối dựa. Hãy tiếp đón vua và ngài không bao giờ đi một mình, có người đánh cồng, chơi nhạc rước vua đi. Vua không bao giờ đi đất, mà có xe, có ngựa, có voi dẫn đường…”.

Đến nhà gái, ông bà mai mối của nhà trai dừng lại ca múa và làm điệu bộ xin mở cổng. Nhà gái xách cồng ra đánh một hồi dài đoạn đưa chú rể vào nghỉ tạm ngoài hiên.

Sau một số nghi thức tượng trưng như việc đào giếng, đào ao, mở rộng vách nhà, dựng cột, kèo, là trò quét chiếu, trải chiếu, một chiếc trải ngửa một chiếc trải úp, tượng trưng cho âm dương hòa hợp như trai với gái trong đêm tân hôn.

Xong những nghi lễ này, nhà gái mới đem trầu cau ra mời mọi người. Đại diện nhà trai sẽ múa hát “Quét chiếu”, vừa hát vừa giũ vàng bạc bọc trong khăn đỏ ra với mong muốn đôi vợ chồng sau này sẽ ăn nên làm ra, sinh nhiều con cái.

Cuộc hát chấm dứt bằng một bữa tiệc, sau đó những người trong ban nhạc diễn trò “hớt tóc”. Trò này có hai nhân vật, một người đàn ông và một người đàn bà. Họ giở cái khăn phủ cái đĩa ra và hát ca đối đáp. Sau nhiều câu hỏi đáp, lúc đó họ mới cắt hai nhúm tóc tượng trưng của cô dâu và chú rể và trộn lẫn vào nhau. Ban nhạc lúc này sẽ tấu bài “cuộc rước lớn” trước khi mở đầu lễ “cắt hoa cau”.

Khi lễ cắt hoa cau bắt đầu, mọi người vây quanh cô dâu chú rể tiến hành lễ chỉ buộc tay, bằng những sợi chỉ có tẩm dầu thơm, với ý mong muốn đôi vợ chồng trẻ sống hòa hợp trọn đời, vừa tung hoa cau vừa hát. Như hình thức se dây tơ hồng của ông Tơ bà Nguyệt. Sau lễ cột chỉ tay đến phần ca hát.

Ba giờ sáng hôm sau, mọi người trong tiệc cưới diễn trò “đào cây Khơ Nhe”, diễn tả đôi vợ chồng đi tìm thuốc Khơ Nhe qua 12 bài ca, nói về cuộc hành trình gian khổ khi đi nhặt từng trứng cá sấu để ăn, bắt từng tổ kiến vàng làm nước chấm, hai người bị ong đốt, gặp dấu chân cọp lớn nhưng nhờ thần núi giúp nên hai vợ chồng đã tìm được thuốc Khơ Nhe.

Hai vợ chồng lại đem đổi thuốc Khơ Nhe cho bà Nhe lấy hòn ngọc”keo rô lốc” có khả năng làm cho sóng gió tiêu tan. Khi bà Nhe bằng lòng đổi thì trời rạng sáng. Người ta đưa cô dâu ra lạy mặt trời để đón lấy sức mạnh của vầng thái dương.

Lúc này mọi người đồng hát một bài nhạc vui để chấm dứt lễ cưới cho cặp trai gái.

NHỮNG TẬP QUÁN KHÁC

LỄ ĐI TU (Bõn Bâm Buos) : theo giáo lý Phật giáo phái Tiểu Thừa của người Khmer, khi người con trai bắt đầu từ lúc 12 tuổi phải đi vào chùa tu, coi như một nghĩa vụ trong đời sống xã hội. Trong mấy năm tu ở chùa, được học tập và được rèn luyện toàn diện để sau này họ có sự chọn lựa, hoàn tục hay đi tu trọn đời. Người Khmer coi đi tu là cách trả phước đền ơn cho cha mẹ.

Vì thế hằng năm “lễ đi tu” được tổ chức đúng vào đúng dịp tết Chol Chnăm Thmây. Nhà có người đi tu sẽ làm lễ để chàng trai từ giã họ hàng, bạn bè và cạo đầu, rồi thay quần bằng chiếc “xà rông”, thay áo bằng khăn vải trắng đắp lên vai từ trái sang phải chứng tỏ từ bỏ thế tục, từ đó chàng trai được gọi là Néak.

Buổi tối sư sãi đến tụng kinh, cúng Tam Bảo, đặt pháp danh và cho thọ giới theo đạo. Sáng hôm sau làm lễ nhuộm răng, khi cơm nước xong gia đình đưa người con lên chùa, có bạn bè mang theo lễ vật. Đến chùa, cả gia đình đi vòng quanh chính điện ba lần, rồi mới đi vào làm lễ đi tu cho chàng trai trẻ với sự chứng kiến của sãi trưởng.

Nếu nguyện tu đến bậc Sa di từ 12 đến 20 tuổi, chỉ cần một sãi ngồi chứng minh là được. Nhưng đi tu bậc Tỳ Kheo từ 21 tuổi trở lên, phải có đến 20 tỳ kheo khác đến chứng giám, trong đó có một Sãi già như ở nước ta thường gọi bằng Hòa Thượng, thông tuệ ngồi chứng minh, cùng hai ông sãi coi Phật vụ ngồi giảng, hỏi và đọc các qui định tu hành cho các sư mới nhập đạo nghe.

Tiếp đến người đi tu cầm áo cà sa đi vào giữa hàng sư sãi đọc lời xin cho đi tu. Khi vị sãi già chấp thuận, người đi tu mới thay “xà rông” và khăn trắng bằng bộ áo cà sa, chính thức làm lễ thọ giới và hứa tuân giữ 10 điều răn của Đức Phật Tổ.

Cuối cùng sư sãi, phật tử tụng kinh cầu phước cho người đi tu và chúng sinh để chấm dứt cuộc lễ.

– LỄ CẮT TÓC TRẢ ƠN MỤ : lễ này được tổ chức sau 7 ngày khi đứa bé được sinh ra. Đây là lễ cắt tóc, cạo đầu và đặt tên cho đứa bé nhằm cầu phúc cho nó mau ăn chóng lớn, sống khoẻ, sống lâu. Lễ cúng trả ơn mụ gồm chè đường, một thúng lúa, một quả dừa, một nải chuối, rượu, gà, vài nút vải và hai mâm cơm, kéo dài nửa buổi hay một ngày.

– LỄ DÂNG BÔNG : khi xây dựng cầu đường, chùa chiền… nhằm quyên góp tiền để làm công trình. Buổi tối nhờ sư sãi đọc kinh cầu nguyện, hôm sau mọi người vào dâng cây bông có tiền cột vào để cúng. Người dâng bông sẽ được các sư sãi tụng kinh cầu phước cho cá nhân hay gia đình.

– LỄ GIÁP TUỔI : nhằm cúng thần thánh xua đuổi tà ma cho những đứa con trai vừa tròn một giáp (12 tuổi).  Sau khi tụng kinh, người ta đốt cháy sáp trong một đồ đựng bằng kim loại, cho nhang vào, úp chén cho lửa tắt rồi mở ra, cho nước vào khuấy đều, pha thêm dung dịch có mùi thơm mà vẩy lên người đứa con để trừ tà, như vậy là muốn cho đứa con lớn lên sẽ khỏe mạnh, cường tráng (thường lễ này làm chung với lễ đi tu).

– LỄ LÊN NHÀ MỚI : sau khi làm nhà xong với mục đích cầu cho gia đình sống mạnh khỏe, hạnh phúc trong căn nhà mới xây dựng. Chủ nhà đi mời hai người già có tuổi, sống hạnh phúc thành đạt đóng vai làm “chủ nhà”, còn chủ nhà đóng vai “khách” đi đường cùng vợ con đến xin ăn ở nhờ. Sau đó”chủ nhà giả” nhường nhà lại cho “khách” ở.

“Chủ nhà giả” nói nhờ “khách” ở lại trông dùm nhà, rồi cột tay các vị “khách” như công nhận họ là người giữ nhà và cầu cho họ sống lâu, hạnh phúc, thành đạt trong ngôi nhà mới này. Buổi lễ kết thúc. Sau lễ đọc kinh cầu an.

– LỄ TỐNG PHONG : thường thấy tổ chức ở vùng biển có nhiều gió, nhằm đuổi gió độc, ôn dịch, ốm đau v.v… Người ta làm một chiếc bè nhỏ ghép bằng thân cây chuối, trên đặt những hình nộm cầm chèo, còn lễ vật là đầu heo, xôi chè, bánh trái trên có dán những lá bùa của thầy cúng. Sau đó, bè được thả trôi xuôi dòng nước để xua tan ôn dịch, dân cư sẽ bình yên.

Lễ này không chỉ có người Khmer mới tổ chức, các làng quê Nam bộ trong dịp cúng Kỳ yên cũng vẫn thường tổ chức, gọi là “lễ tống ôn hoàng dịch vật” hay “lễ tống ôn”.

– LỄ XIN NƯỚC MƯA : mỗi năm sau khi đã cúng ông Tà rồi mà vẫn gặp hạn hán. Người Khmer mời mười vị sư sãi già đến cầu kinh dưới ánh nắng cho động lòng trời. Bên cạnh có một chiếc chậu khô, trong chậu để một con cá lóc. Việc này liên quan đến tích cá lóc là hậu thân của Phật Thích Ca. Trời đại hạn cá lóc đội bùn lên kêu cứu với Ngọc Hoàng, thấy cá lóc là hiện thân của Phật Thích Ca nên ông Trời làm mưa xuống để cứu nạn.

HOÀNG NGUYỄN

CHUYỆN HUYỀN BÍ MÀ CẢM ĐỘNG

NGƯỜI THẦY BÓI

VÀ NHỮNG

ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

Nhìn chăm chú vào những lá bài được chia trên bàn, người phụ nữ ở tuổi trung niên, có giọng nói rõ ràng, lưu loát, cất tiếng, “Cô ơi, quẻ bài này nói rằng cô vì nghe đồn có bà thầy bói hay hay/ Lên coi cho biết sự tình thế sao/ Coi hồi không biết hỏi gì/ Chồng mình thì tốt, con mình thì ngoan/ Việc làm mình cũng bình bình/ Việc gì đau khổ mà mình đi coi?”

Ngó lên nhìn tôi, “bà thầy bói” phán tiếp, “Cô nghe đồn thì cô đến đây xem thực hư chứ không phải cô đến đây để coi bói phải không ?”

Tôi nhìn chị, thoáng lúng túng. Ðúng là tôi không phải đến để coi bói. Tôi đến để tìm hiểu câu chuyện “bà thầy bói” coi bói kiếm tiền nuôi những cô gái “chửa hoang” và trẻ mồ côi ở Việt Nam. Ðặc biệt hơn, “bà thầy bói” đã mang được hai đứa bé sinh đôi, mồ côi, sang Mỹ để tiếp tục nuôi nấng chúng.

Từ một gia đình khá giả, sau 30/4/1975, gia đình Thiên Anh – nickname của người thầy bói, tên thật là Võ Thị Thu Nguyên – bỗng trở nên trắng tay. Ba chị vào trại cải tạo. Chị, khi đó mới 15 tuổi, là chị cả của 11 đứa em, theo mẹ lên vùng kinh tế mới sống trong cảnh khốn khó.

Sau 8 năm ba chị trở về, cùng cả nhà sang Mỹ định cư. Riêng chị vì quá tuổi 21 nên đành ở lại, làm đủ thứ công việc mưu sinh.

Một lần quá chán nản khi bị lường gạt, bắt nạt, chị Thiên Anh “đến nhà thờ Fatima cầu nguyện Ðức Mẹ, và nuôi ý định tự tử.”

“Nhưng thật kỳ lạ, sau khi quỳ gần nửa tiếng đồng hồ dưới tượng Ðức Mẹ khóc lóc, kể lể, tôi đứng lên định bước ra bờ sông phía sau uống thuốc tự tử thì bỗng nghe như có tiếng nói bên tai “ai ở không phải với con cứ để trời xử. Con ở phải, con có tất cả’” Chị Thiên Anh nhớ lại.

Kể từ lúc đó, ý định tự tử biến mất trong chị. “Và nhiều điều lạ lùng đã xảy ra.”

Chị Thiên Anh kể tiếp, “Không nhà cửa, tôi ngồi bên lề đường Thích Quảng Ðức làm nghề làm móng tay dạo, sau khi đã hết vốn để buôn bán trái cây, bán xăng vỉa hè.” Một buổi chiều, khoảng hơn một tuần sau ngày chị đến cầu nguyện ở nhà thờ Fatima, một bà bán ve chai đi ngang nói muốn làm móng tay. Vừa ngồi cắt móng tay cho khách, “bỗng tự dưng như có gì nhập vào người rồi tôi cứ nói huyên thuyên, ‘Dì ơi, coi chừng trong tuần này con dì có đứa bị bắt ở tù đó nha.’ Bà bán ve chai ngạc nhiên…” Chuyện nhà bà bán ve chai đã xảy ra như “lời bói” của chị. Vậy là sau đó, người ta cứ kéo đến lề đường của chị để “nhờ coi bói.”

Chị Thiên Anh vừa cười vừa nói, “Thật tình, ngồi dưới bàn thờ Ðức Mẹ coi bói, có gì xui khiến tôi cứ nói mà không biết mình nói gì nữa. Chỉ thấy khách toát mồ hôi nói ‘sao cô nói đúng quá vậy !’”

Bà thầy bói tâm sự, “Ðó là thời gian rất khổ. Nhà cửa không có, tiền bạc không có. Cái gì cũng thiếu thốn. Mà có lẽ do sống trong cảnh khổ như vậy, từng bị đói và thiếu ăn nên tôi mới biết thương người nghèo. Tôi coi bói không có lấy tiền. Họ muốn đưa bao nhiêu cũng được, cho cái gì tôi nhận cái đó.”

Một thời gian sau, chị Thiên Anh gom góp tiền mua một căn nhà nhỏ ở quận Phú Nhuận để tiếp tục công việc coi bói của mình, dù “cũng nhiều lần bị công an bắt lên bắt xuống.” Chị Thiên Anh cho biết chị làm nghề coi bói cả 20 năm trước khi sang Mỹ do mẹ chị bảo lãnh vào năm 2005.

Tuy nhiên, “không hiểu sao khoảng từ năm 2000 trở đi, cho đến khi tôi sang đây, có nhiều cô gái trẻ cứ vác bụng bầu tìm đến nhà tôi coi bói, kể lể, khóc lóc hoài.” Thế là có bao nhiêu tiền, “bà thầy bói” cứ mang ra nuôi mấy cô gái “chửa hoang” đó. Có điều, “sau khi sanh xong thì họ đi mất, không nghe tin tức gì hết.” Chị kể.

Không chỉ cho tiền những cô gái “lỡ dại,” chị Thiên Anh còn chắt chiu tiền giúp đỡ cho ba đứa trẻ khác. “Ðứa thì khi má nó mang bầu định bỏ, tôi khuyên nên giữ lại và phụ cổ tiền nuôi nó. Ðứa thì ba má nó bỏ đi đâu mất, tôi thấy tội nghiệp nên thỉnh thoảng cũng cho nó tiền.” Theo lời “bà thầy bói” thì ba đứa trẻ này giờ đã lớn, đứa 15, đứa 18, đứa 20. “Tôi không phải lo nhiều, chỉ thỉnh thoảng gửi tiền về cho chúng, rồi giúp chúng vốn làm ăn thôi.”

Chỉ có duy nhất một trường hợp khiến chị Thiên Anh nhớ hoài, đó là câu chuyện của một cô gái trẻ mới 17 tuổi, cũng chửa hoang, tên Nguyễn Thị Loan.

Vẫn bằng giọng nói rõ ràng, mạch lạc, chị Thiên Anh quay về câu chuyện xảy ra vào năm 2004. “Cô bé đó đến nhà xin coi bói, rồi lại xin ăn cơm. Sau khóc lóc kể rằng cha cô ở Quảng Ngãi bị ung thư, mẹ bệnh gan, anh bệnh tâm thần. Một mình cổ lặn lội vào Sài Gòn kiếm sống, rồi bị người ta gạt khiến phải mang bầu, nhưng cô không dám về quê.”

“Nghe tình cảnh tội nghiệp quá,” thế là cứ mỗi chiều Thứ Bảy, chị kêu cô bé ghé đến cho “một trăm ngàn.” Suốt 4, 5 tháng như vậy. Cho đến ngày cô bé sanh, bà thầy bói cũng là người vào bệnh viện để giúp cô bé đóng tiền viện phí. Có điều, chị Thiên Anh lại được bác sĩ báo là “người sản phụ trẻ đó mang song thai, và tình trạng sức khỏe rất yếu, cần phải mổ.”

“Nghe đến phải đóng tiền nữa, đất dưới chân tôi muốn lún luôn,” chị Thiên Anh cười nói một cách thành thật. Nhưng người phụ nữ độc thân ấy đã suy nghĩ một cách nhân bản, “Nghĩ thì nghĩ vậy chứ bây giờ mình không giúp thì ai giúp cổ đây.”

Vài ngày sau, trong lúc đang xem bói cho khách, chị Thiên Anh nhìn ra, và sững sờ khi nhìn thấy cô gái đó ẵm hai đứa bé đứng trước nhà chị. Chị đã dọa “gọi công an” vì cảm thấy “bị làm phiền hoài.” Nhưng khi nghe cô gái nói “vết mổ đau quá, cho cổ gửi hai đứa bé,” chị Thiên Anh lại quày quả mang hai đứa trẻ mới vài ngày tuổi, cùng người mẹ khốn khổ quay lại bệnh viện.

Bác sĩ cho biết vết mổ bị nhiễm trùng nặng do không được chăm sóc đúng. “Ðể con nhỏ ở lại bệnh viện, nói cho bác sĩ biết tình cảnh của nó. Xong, tôi ẵm hai đứa bé về nhà. Kể từ ngày đó tôi cảm thấy cuộc đời mình te tua luôn,” người phụ nữ lại cười khi nhớ lại, một nụ cười rất lạ, không gợn chút ưu phiền.

Người thầy bói kể tiếp, “Nuôi được vài ngày, cực quá, rồi ai cũng nói tôi khùng tự dưng ôm hai đứa nhỏ vô mình, tôi lại vào bệnh viện tìm mẹ chúng, thì được hỏi là nếu phải người nhà thì xuống bệnh viện nhận xác, cô gái đó bị nhiễm trùng nặng chết rồi !”

Không nỡ gửi hai đứa bé, một trai một gái, vào cô nhi viện theo gợi ý của công an phường, chị Thiên Anh làm giấy cam kết nuôi chúng cho đến khi có người thân của chúng đến nhận.

“Nhưng chờ hoài vẫn không thấy ai tới. Tôi nuôi hai đứa được một năm thì có giấy cho đi Mỹ. Ðó cũng là lúc tôi làm hồ sơ nhận chúng làm con nuôi, đặt tên bé trai là Võ Hoàng Thiên Ðức, bé gái là Võ Hoàng Thiên Anh.”

Cũng trong khoảng thời gian này, một bà mẹ trẻ khác cũng mang đứa bé gái mới sanh đến coi bói, rồi nói, “Trời mưa, chị cho em gửi bé ở đây ra kêu xe chứ không ướt bé.” Rồi người mẹ đó đã đi luôn. Chị Thiên Anh đặt tên cho bé gái này là Võ Hoàng Thiên Nga, nhưng không làm giấy nhận con nuôi vì “chờ mẹ nó đến nhận.”

“Ngày xưa tôi ao ước được đi Mỹ bao nhiêu thì lúc bấy giờ cầm tờ giấy gọi phỏng vấn trên tay tôi lại khóc thôi là khóc. Một năm nuôi tụi nó có nhiều kỷ niệm quá, làm sao tôi nỡ để chúng lại để mà đi,” giọng chị Thiên Anh trở nên bùi ngùi. Chị kể, má chị từ Mỹ trở về “ép” chị phải đi. “Tôi rời Việt Nam vào tháng 9 năm 2005. Tôi năn nỉ người giúp việc ở lại trong căn nhà của tôi để lo cho 3 đứa bé,” chị Thiên Anh tiếp tục.

Nỗi nhớ ba đứa bé quá lớn cứ khiến người mẹ nuôi khóc hằng đêm. Ðến khi vừa có thẻ xanh gửi về, chị “mua ngay vé máy bay trở về Sài Gòn, và ở miết bên đó.” Ba tháng sau, má chị lại về “lôi” chị sang, bởi bà không muốn con mình “khổ với mấy đứa mồ côi.”

Trở sang Mỹ, “không biết làm nghề gì ngoài làm thầy bói,” chị lân la nhờ người tìm chỗ “để coi bói.”

Chị kể lại chuyện ngày đầu coi bói ở đất Mỹ bằng nụ cười hồn nhiên, “Chỗ đó là một văn phòng luật sư cạnh nhà hàng Kim Sư, họ cho tôi shared lại một góc. Ông luật sư hỏi tôi thuê làm gì, tôi nói để coi bói. Mọi người cười quá trời. Mà phải có bàn thờ Ðức Mẹ thì tôi mới coi được, ông luật sư cũng đồng ý cho tôi đặt cái bàn thờ ở đó.”

Coi bói có đăng quảng cáo trên báo Người Việt, nên khách tìm đến “thầy bói Thiên Anh” ngày càng đông. “Trong suốt thời gian đó, tôi ăn uống tiện tặn, để dành tiền, 3 tháng sau lại bay về Việt Nam, lo cho mấy đứa nhỏ.”

Vài tháng sau, chị lại trở sang Mỹ, rồi lại trở về Sài Gòn, khi thì người giúp việc “yêu sách” đòi nghỉ việc, chị phải năn nỉ, tăng lương, ứng sẵn tiền lương nửa năm; khi thì điện thoại từ Việt Nam gọi sang kêu chị về vì bé Thiên Ðức bệnh nặng. Chị cho biết, “Ði đi về về như vậy cho đến ngày đi phỏng vấn bảo lãnh hai đứa bé sang Mỹ, tôi trình ra cả 8 vé máy bay đi về trong vòng khoảng hơn 3 năm.”

Thấy chuyện bay đi bay về hoài không phải là cách, người mẹ nuôi đi khắp các văn phòng luật sư chuyên về di trú quanh Little Saigon để hỏi thăm cách thức bảo lãnh hai bé Thiên Ðức và Thiên Anh sang Mỹ.

– “Chưa có quốc tịch, không tài sản, không công việc ổn định, không người bảo trợ tài chánh, làm sao chị có thể bảo lãnh hai đứa con nuôi sang Mỹ được !” Ðó là câu trả lời mà những người có kinh nghiệm về thủ tục làm giấy tờ bảo lãnh cho chị biết. Nơi thì từ chối vì “trường hợp này khó quá,” nơi thì đòi hỏi số tiền lệ phí lên đến $8,000 nhưng không hứa chắc là được. Cuối cùng, người phụ nữ vô tình bị vướng vào sợi dây mẫu tử lần tìm đến Trung Tâm Di Trú TIC trên đường Magnolia.

Anh Tú, chủ nhân nơi đây nhớ lại, “Thực tình lúc đầu nghe chỉ kể, tôi cảm thấy bán tín bán nghi, không hiểu thực hư thế nào. Tuy nhiên, qua vài lần tiếp xúc, tôi tin là câu chuyện của chỉ là sự thật. Khi đó, tôi giật mình nghĩ, tại sao trên đời này lại có người tốt đến như vậy. Thế là tôi quyết định làm hồ sơ giúp chỉ mà không nhận thù lao, mà nếu phải trả thì thù lao phải trên $3,000. Tôi nói chỉ giữ tiền để mà nuôi mấy đứa bé.”

Hồ sơ bảo lãnh hai bé Thiên Anh và Thiên Ðức được Trung Tâm Di Trú TIC làm vào tháng 1 năm 2008. Sáu tháng sau, chị Thiên Anh nhận được giấy báo hồ sơ được chấp nhận và yêu cầu chị đóng tiền cho những thủ tục cần thiết. “Khi thấy chỉ cầm giấy báo đến khoe, tôi cũng rất mừng cho chỉ. Không ngờ là mẹ chúng mất rồi, chúng lại có được người mẹ nuôi thương chúng đến kỳ lạ.” Anh Tú ở Trung Tâm Di Trú TIC chia sẻ.

Ngày đoàn tụ với các đứa bé gần kề khiến người mẹ nuôi vui mừng bao nhiêu, thì những người quen biết chung quanh lại cảm thấy ngao ngán, ái ngại cho chị bấy nhiêu. “Làm sao mà nuôi chúng đây khi chính bản thân chị chưa có gì là ổn định hết ?” Mặc cho những lời dị nghị, chị Thiên Anh lại bay về Việt Nam lo làm passport và chờ ngày mang hai đứa bé đi phỏng vấn.

“Tôi nhớ hoài người phỏng vấn hỏi, ‘Ðộng lực nào mà chị thương hai đứa bé để lo cho nó đến như vậy ?’” Chị tiếp tục câu chuyện.

“Lòng nhân đạo,” chị trả lời. “Tôi đã qua được bên này, tôi đã có được điều may mắn, tôi muốn xin một cơ hội mang hai đứa bé sang cùng tôi để chúng không phải khổ sở, bởi mẹ chúng đã chết rồi.”

Cầm “tờ giấy hồng” hẹn 10 ngày sau quay lại lấy visa đi Mỹ, người mẹ nuôi vừa mừng vừa khóc. “Tôi kêu lên ngay lúc đó, ‘Ðời tụi con từ nay hết khổ rồi.’” Có điều, vừa về đến nhà thì điện thoại từ Văn Phòng Lãnh Sự Quán Mỹ gọi đến yêu cầu người mẹ nuôi trở lại gặp họ vào trưa hôm sau. Chị lại hoang mang không hiểu chuyện gì. “Trường hợp của chị rất đặc biệt. Câu chuyện của chị khiến chúng tôi xúc động.” Người thông dịch đã dịch lại lời “ông gì làm lớn nhất ở đó” như thế, và họ cấp visa cho hai đứa con nuôi chị ngay ngày hôm đó, thay vì chờ 10 ngày như lúc đầu.

Ðầu tháng 5 năm 2009, ba mẹ con chị Thiên Anh đã bay sang Litte Saigon, bắt đầu một cuộc sum vầy.

“Tôi không nghĩ mình có gì tài giỏi, mà chỉ do có đấng bề trên đứng phía sau điều khiển để tôi làm công việc cứu người,” thầy bói Thiên Anh nói một cách bình thản. “Tôi không bao giờ ân hận về việc đã cực khổ mang chúng sang đây mà chỉ lo không biết tương lai mình có đủ sức khỏe để lo cho nó nên người hay không thôi.”

Nhìn bé Thiên Ðức và Thiên Anh đang chơi đùa, người mẹ nuôi lại trầm ngâm, “Bây giờ, chỉ còn nỗi khổ tâm là bé Thiên Nga đang còn ở Việt Nam. Tôi cũng sẽ tìm cách mang nó sang đây, nhưng chắc là khó lắm. Tôi đã viết di chúc để lại căn nhà nhỏ bên đó cho bé Thiên Nga và 3 đứa mồ côi kia có nơi trú mưa trú nắng. Ở đây chỉ lo làm để lo cho 2 đứa này thôi.”

Chị lại cười, nụ cười khỏa lấp niềm lo.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=123140&z=271

Ngọc Lan

(Nhân đọc bài “Chuyện Người Thầy Bói và Những Ðứa Trẻ Mồ Côi”)

– Tôi muốn xin địa chỉ hoặc điện thoại của thầy bói Thiên Anh.

Htc (16 tháng 11)

– Câu chuyện cảm động lắm, em xin phép hỏi tác giả cho xin địa chỉ của thầy Thiên Anh.

Annie (16 tháng 11)

– Chị (Thiên Anh) là người có trái tim Bồ Tát.

Jimmy (16 tháng 11)

Trên đây là 3 trong số nhiều email, điện thoại, của độc giả hỏi thăm, chia sẻ sự thông cảm và thiện tâm của chị Võ Thị Thu Nguyên, tức “thầy bói” Thiên Anh. Riêng về điện thoại của chị Thiên Anh, chúng tôi xin ghi ra đây (714-657-8573/714-548-0926), với ý nghĩ là để các bạn tiện liên lạc với người trong cuộc, trên các vấn đề từ thiện, hơn là để… xem bói. Chị Thu Nguyên làm tất cả các điều thiện này một cách âm thầm, kín đáo, và không cầu mong bất cứ sự báo ân nào.

Nguyễn Văn Danh post (theo Ngọc Lan – Người Việt)

AM “CU-LI XE”

Mới nghe qua tên am, tôi đã tưởng họ nói đùa. Nhưng không, người kể cho tôi nghe nói với một giọng nghiêm chỉnh lắm.

Cái am ấy nhỏ, được xây bằng chất vôi, nằm trên bờ sông Bồ thuộc về làng Thanh Trúc. Trong am chỉ đặt một bát lư hương và cặp đòn con bằng gỗ tiện. Trước cửa am có che một bức sáo xanh kẻ chữ thọ màu hồng. Cách am năm bước có cái mồ đắp lên khá cao. Ngôi mả của người cu-ly xe.

Chuyện về cái am này ở hai vùng Thanh Lương và Hương Cần ai cũng biết. Hễ có dịp đi qua vùng này ghé vào quán gần bên am thì quý vị sẽ nghe bà quán kể lại. Bà quán kể riết rồi thành có duyên và có nhiều đoạn bà ta nói như đọc thuộc lòng.

Từ ga Văn Xá đến bến đò làng Thanh đi khoảng trên hai cây số. Bên kia sông là huyện Quảng Ðiền. Bến đò ấy nằm vào một chỗ hoang vắng vì bên cạnh con sông là cái cồn mồ. Ở đó qua huyện Quảng Ðiền gần hơn là quay trở về làng Thanh. Dẫn khách đến ga là nhờ con đường chạy dài trong thôn xóm, qua vài cái cầu ngắn xây bằng gạch và ba bốn khoảng phơi mình giữa đồng cỏ cháy. Con đường ấy được nhiều người đi nhất.

Bến Ga Xe Lửa Văn Xá làm lễ lạc khai mạc xong thì sau đó hai tuần một người mù đem chiếc xe tay đến đón khách. Ðó là một cái xe kéo trong thật là thê thảm với hai chiếc bánh xe độn bằng rơm và trần xe bị rách thủng nhiều chỗ.

Khổ hơn nữa là người kéo xe đã mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người hơi gầy và trán hói. Ông ta biết được đường xá nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu theo phía trước. Cứ ngày bốn buổi hai ông cháu lên ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Ðiền. Ðời tuy vất vả nhưng có kẻ thương tình đi xe ông kéo nên cũng đủ sống qua ngày. Lệ thường cứ mỗi chuyến xe được năm xu. Hai ông cháu ngày nào cũng kiếm được một vài hào đủ tiêu dùng và cơm cháo.

Từ ngày có xe lửa, dân mấy vùng quê, ai cũng thèm đi. Họ đi chỉ để mua vui mà thôi. Vì họ thấy chiếc xe sắt này kỳ lạ mà lại chạy nhanh nữa nên họ thích lắm. Họ thích nhất là đứng trên tàu gọi tên mấy người quen đang đi trên đường cái quan. Nhiều khi họ mua vé từ sân ga này đến sân ga kia rồi từ sân ga kia trở về sân ga làng. Thời đó họ còn chưa biết đến sự tiện lợi của sự đi xe. Họ chỉ biết cái thú lên xe lửa để ngắm cảnh và nhìn người qua lại. Nhờ vậy mà ga Văn Xá ngày nào cũng tấp nập người ra kẻ vào. Và hai ông cháu người kéo xe kiếm được miếng ăn rất dễ. Người đi xe lửa khi ra khỏi ga họ muốn lên xe kéo ngay.

Họ đã quen với sự nhanh chóng vì đi bộ đối với họ lúc đó là một chuyện phiền phức. Nhưng được một người kéo xe mạnh khỏe thì nói làm gì, đằng này bước chân lên xe người già mù, thì người khổ chưa hẳn là người kéo mà thật ra là người được ngồi. Huống chi đây lại phải chịu cái tội trông một đứa trẻ chạy không kịp thở, ngã tới vờn lui, theo bước chân của một ông già yếu đuối. Nên nhiều người thương hại không muốn đi xe ông kéo.

Nhưng lòng nhân ái càng ban truyền ra thì người mù kéo xe lại càng thêm túng thiếu. Rồi sau này chỉ còn những người ốm hay già yếu, và thỉnh thoảng vài người say rượu, mới bước lên xe ông. Có người thương hại nên chỉ gởi vài bao hành lý để ông kéo rồi trả cho ông vài xu. Nhưng hạng người này hiếm lắm, đợi năm sáu chuyến tàu mới gặp được một người.

Khi màn đêm buông xuống hai ông cháu thường về ngủ trong một cái mui thuyền đặt bên cạnh bờ sông. Sáng sớm ba giờ đã phải dậy, vì phải đợi khách bên huyện Quảng qua sông đi chuyến tàu bốn giờ. Tiền bạc thu được đều do người cháu giữ, và ông cũng ít khi nào hỏi đến, trừ những lúc ông muốn mua một vài cút rượu trắng hay khi nhớ đến những ngày giỗ của gia hương. Ngoài ra, người cháu tuy trẻ tuổi nhưng rất khôn lanh, đã lo liệu đủ điều từ miếng ăn đến cái mặc.

Mùa đông năm Ngọ lạnh và mưa luôn ngày luôn đêm. Con đường từ ga về bến đò đã nhiều nơi bị hê hũng, và nhiều cái cống đất nhỏ bị nước cuốn trôi đi. Hai ông cháu phải bỏ công sức ra làm lại, có thế xe mới đi qua được. Con đường tuy là của chung nhưng chỉ riêng hai ông cháu để ý và lo lắng hơn cả. Xe dạo ấy ế ẩm vô cùng, vã lại gặp cái xe trần thủng, nước tát vào như giội, khách cũng tháy chán không buồn đi. Ðêm nào lên ga đợi chuyến tàu suốt chín giờ, hai ông cháu cũng dẫn xe về không.

Chất chồng vào cái hại kể trên, chuyến đò làng Thanh không qua lại nữa, vì hai làng Thanh Lương và Thanh Trúc đang kiện nhau để được độc quyền về nghề chở khách. Dân quanh vùng phải đi ngược lên khá xa mới qua bến đò làng Triệu. Phía ấy cũng cũng có đường đi lên ga nhưng hẹp lắm. Hai ông cháu đành đưa người đi lại quanh vùng Thanh Trúc và chờ nhà nước xử xong, để chở thêm khách bên huyện Quảng Ðiền.

Một đêm trung tuần tháng chạp, chuyến xe lửa chạy liên tục lại trễ mất ba giờ. Lúc ấy vào giữa đêm, nghe tàu đến hai ông cháu đã mừng thầm trong bụng. Một lát sau, con tàu đã bắt đầu sục sịch chạy, ông kéo xe vẫn chưa nghe thấy có tiếng bước chân nào ra khỏi ga. Ông lên tiếng gọi thằng cháu nhưng thằng bé đã lẫn đi ngã nào. Ông nghĩ rằng có lẽ nó đang đứng đón khách ở bên trong sân ga nên định bụng chờ. Mấy phút sau đứa bé trở về, ông già mù thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với một giọng run run :

– Ông ơi có người lên rồi đó. Chạy đi.

Thế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh ngắt. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương đua nhau kêu não nùng như một bản nhạc mùa đông, nghe buồn thắm tới tận xương tủy. Hai ông cháu, dưới mấy cái mo cau và tàu lá chuối kết lại thay áo mưa, cắm đầu chạy trên quãng đường ướt át.

Trời thì tối đen như mực, nhưng may đứa cháu quen đường nên không bị lạc và vấp ngã. Hai ông cháu đến bến đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài sông thổi vào lạnh như cắt thịt. Ðứa cháu cầm tay định dắt ông vào mui thuyền, nơi ngủ của hai ông cháu, thì dường như nghi hoặc điều gì nên người mù kéo xe cất tiếng hỏi :

– Tiền xe mô đưa cho ông.

Ðây là câu hỏi bất ngờ, vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến tiền bạc đâu, nếu có hỏi thì hỏi chỉ để biết bao nhiêu, chứ chưa lúc nào ông lấy tiền giữ. Ðến lúc đó đứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng, ngập ngừng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người mù kéo xe đã hiểu ra lẽ thật. Vì không có khách, vì muốn ông nó vui lòng nên thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.

Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao công khổ nhọc trong nghề, ông nó đã phân biệt rất tinh tường người ngồi hay là vật nặng khác nhau nhiều lắm. Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được. Và nếu biết được thì càng thêm khổ. Thấy cháu khóc ông ta cũng nức nở khóc theo.

Rồi giữa đêm lạnh phần già yếu, phần buồn đau, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết ngất. Ðứa bé sợ xanh mặt la hét lên nghe như đứt ruột bầm gan nhưng sấm sét của trời mạnh hơn và tiếng của nó đành chịu rã rời bay lạc giữa đêm mưa tầm tã.. Bên kia sông, huyện Quảng Ðiền xa xôi quá, vài ngọn đèn dầu chập chờn trong xóm quê đen tối. Con đò đã cắt đường qua lại từ lâu, không đem được lòng từ thiện của bến bên kia qua bao trùm nỗi thảm thương của bờ nọ.

Sáng hôm sau đi chợ Thanh Lương, khách qua đường thấy trên bờ sông vắng, một đứa trẻ đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh một người già nua đã chết cứng đờ. Dân quanh xóm thương tình, người ít kẻ nhiều góp lại mua một cái hòm mới và chôn cất người kéo xe già tử tế…

Về sau cứ mỗi đêm, vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu đi ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe kéo loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc. Những người làm giữa ruộng lúc vào đêm trăng sáng, các em mục đồng và cả sư cụ chùa Linh Hải đều thấy hình bóng một người kéo xe chạy lầm lũi trong màn đêm. Có một đêm khuya mưa lạnh, sư ông ở làng Thanh Trúc còn nghe được cả tiếng xe kéo và bước chân người chạy đều đều ở trước cổng đình làng nữa…

Mọi người quanh vùng bàn tán xôn xao về bóng ma kéo xe vào ban đêm. Cùng lúc ấy, không biết có phải nhờ hồn thiêng của ông mù kéo xe phù hộ mà làng Thanh Trúc được thắng kiện nên thuyền bè được đưa khách qua lại như cũ. Cũng nhân dịp này dân làng liền quyên tiền xây một cái am để tưởng nhớ và thờ cúng ông mù kéo xe. Và người ta đã gọi cái am này là AM “CU-LY XE”.

Siêu Khách Hành

PHONG THỦY TRÊN ĐẤT HUẾ

ĐỆ NHẤT DANH TỬU

ĐẤT THẦN KINH

– BS Hồ Đắc Duy

Rượu, một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá, là một lễ vật chính trong các cuộc tế lễ, tiệc tùng… dùng để tiếp đãi bạn bè, một món quà để tặng người thân, bằng hữu. Khi nhắc đến rượu, những người sành điệu thường hay nói đến cái hương vị độc đáo của từng loại rượu, hay mô tả cái thú thưởng thức mùi đặc trưng của sản phẩm. Nhiều người dùng nó như một thức uống khai vị trước khi ăn, như một thứ uống để thù tiếp nhau, để gắn kết tình bằng hữu, để công việc được dễ dàng trôi chảy… Có người để chia sẻ niềm vui hay để giải sầu.

Phong cách uống rượu từng miền, từng vùng địa lý, từng địa phương, từng dân tộc cũng rất khác nhau, qua cách thưởng thức và phong cách uống rượu chúng ta sẽ cảm nhận được cái thói quen, phong tục, bản sắc văn hoá của địa phương.

Rượu vốn có giá trị riêng về văn hóa của nó, sản phẩm rượu là một tài sản văn hóa và kinh tế của một vùng, có khi tài sản tinh thần của một giòng họ hay của cả một làng hay là công thức bí ẩn vô giá, một bí truyền của một môn phái hay của một thương hiệu, là kết tinh của biết bao đời, là kinh nghiệm quí báu được sàng lọc qua thời gian từ các công đoạn chọn nguyên liệu như các loại ngũ cốc có hàm lượng tinh bột cao, các giai đoạn thực hiện chưng cất, bảo quản…

Việt Nam có một nền văn hiến nhiều ngàn năm với vùng lãnh thổ trải dài ngàn dặm, núi và biển liền kề, nam tiến được kể từ khi vua Trần Nhân Tông gả con gái Huyền Trân cho vua Champa Chế Mân, kể từ thời điểm đó châu Ô Lý trờ thành đất Thuận Hóa hôm nay.Văn Hóa Việt Nam hình thành và lộ ra những nét đặc trưng khác với các dân tộc láng giềng, trong đó có văn hóa ẩm thực.

Rượu được xem như một nét văn hóa ẩm thực

Ngày nay các loại rượu nổi tiếng của địa phương được biết đến như: Bến Tre có rượu Phú lễ, Quảng Trị có rượu Kim Long, Ninh Bình có rượu Kim Sơn, Trà Vinh nổi tiếng vời rượu Xuân Thạnh, Bình Định có rượu Bàu Đá, Bắc Kạn có Bàu Nặm, Tây Nguyên có rượu Cần, Phú Quốc có rượu Sim, Long An có rượu Gò Đen, Quảng Nam có rượu Hồng Đào, vùng phía bắc có rượu Làng Vân, San Lùng, rượu Ngô Bắc Hà, Kim Thanh, Mẫu Sơn.

Riêng ở vùng Thuận Hóa đất Thừa Thiên, huyện Phú Vang, xã Phú An cách Kinh Thành Huế khoảng 5 – 6 Km về hướng đông nam có một ngôi làng tên An Truyền mà cư dân điạ phương thường gọi là Làng Chuồn, ở đó có sản xuất ra một loại rượu ngon bậc nhất đất thần kinh mà không chỉ các vua chúa, công hầu khanh tướng, văn nhân tài tử, nông dân kể cả các tay sành điệu đều mệnh danh cho loại mỹ tửu này “Đệ Nhất Danh Tửu Đất Thần Kinh”

Tại sao vậy ?

Rượu đã được vinh danh là mỹ tửu hay tiến tửu thường có những yếu tố rất đặc biệt ảnh hưởng trên chất lượng rượu như: Thổ như giống, phong thủy, thổ nhưỡng địa hình nhất là cấu tạo đất, thủy vực như nguồn nước, chất lượng nước, khí hậu thời tiết, độ ẩm.. men và nghệ thuật chưng cất.

Làng Chuồn là một làng cổ của cố đô Huế. Làng Chuồn được thành lập cách đây khoảng trên dưới 600 năm từ khi Chiêm Thành giao cho Đại Việt vào năm 1307. Làng Chuồn có 4 giáp : Giáp Nam, giáp Tây, giáp Giữa và giáp Đông, cuối làng là vùng trũng ruộng sâu và các cồn như cồn Chiến, cồn Giấy, cồn Nam Giao, cồn Theo… Bao quanh làng là đầm phá Tam Giang, Cầu Hai.

Thổ nhưởng và Phong Thủy làng Chuồn : Từ thời cổ đại vào khoảng 1300 đến 550 triệu năm về trước, lãnh thổ Thừa Thiên Huế ngày nay còn là một dãy đại dương và ở đó xảy ra quá trình lắng đọng trầm tích lục nguyên xen lẫn dung nham núi lửa.

Về kiến tạo thì Thừa Thiên Huế nằm trong 2 đới kiến trúc uốn nếp, địa hình đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế được hình thành từ Pliocen đệ tứ, cấu tạo địa chất là trầm tích sông biển, trầm tích cát biển Pleistocen và trầm tích cuội cát bột sét. Đồng bằng duyên hải Thừa Thiên Huế là loại đồng bằng đầm phá, độ cao của đồng bằng giảm dần từ 15m xuống 1m và nghiêng thoải về phía đầm phá Tam Giang Cầu Hai.

Vùng An Tuyền Phú Vang thuộc đồng bằng sông Hương, vùng này được bồi tụ sau một quá trình lâu dài do các sông suối bắt nguồn từ phía đông dãy Trường Sơn Bắc đưa các phù sa lấp đầy vịnh cổ trước đây.

Cuối dãy đất ven đầm Chuồn và đầm Sam là bến đò Đồng Miệu chỉ còn cách mặt nước đầm phá 30cm, bên kia phá là cồn cát chắn bờ và biển ven bờ, những đụn cát chắn bờ ở vùng duyên hải này có nơi cao hơn 20m.

Cách đây 5000 đến 4500 năm khi mực nước biển dâng chậm lại đó là hiện tượng “biển thoái” làm quá trình di chuyển cát ngoài khơi vào bờ tạo nên các cồn đụn cát về sau này.

Khi dòng chảy sông suối đổ ra biển lớn hơn sóng và thủy triều ở một giới hạn nào đó thỉ sẽ hình thành những đê cát ngầm; những đê cát này là tiền thân của các cồn đụn cát chắn bờ ngoài khơi của đầm phá Tam Giang Cầu Hai cổ.

Cách đây khoảng 3000 năm nước biển bắt đầu rút khỏi đồng bằng, cũng là lúc hình thành đầm phá Tam Giang Cầu Hai, Lăng Cô. Lúc mới thành hình các đấm phá nay rộng lớn hơn nhiều so với hiện nay. Sự thu hẹp dần đầm phá đồng thời mở rộng diện tích đồng bằng đó là thời điểm vùng Phú Vang, An Truyển trồi lên khỏi mực nước.

Trong 2500 năm trở lại đây mực nước biển lại tăng cao trở lại do ảnh hưởng băng tan ở cực địa cầu, đó là hiện tượng “biển tiến”, nước biển tràn vào đầm phá, đồng bằng… Xói lở tạo ra các cửa biển.

Cách đây khoảng 1000 năm các cồn đụn cát hẹp và nhỏ dần lại với bề ngang từ 500 đến 1000m, cao 3m đến 8m.

Năm 1404 một trận lũ lụt đã làm xói lở cồn đụn chắn bờ ở khu vực Hòa Duân làm mở một cửa biển mới sau vài năm thì tự lấp lại; đến tháng 1999 một trận lụt dữ dội khác cũng xé rách đụn cát chắn bờ tại Hòa Duân này một lần nữa.

Trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An thì địa danh làng này có trước từ lâu, trước năm 1555. Thời ấy phủ Triệu Phong ngày nay thuộc huyện Phú Vang, xã Phú An.

Trên bản đồ không ảnh chụp từ vệ tinh vào ngày 18 tháng 4 năm 2002 có thể thấy rõ tọa độ hình thể các vùng phụ cận sông, ngòi, đầm phá, nò sáo…

Dưới thời vua Minh Mạng (1820 – 1841) Xã An Truyền thuộc huyện Hương Trà, từ thời vua Thiệu Trị về sau thuộc vào huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên.

Thủy vực đầm An Truyền

Ngoài vùng đất cát ven đầm An Truyền gọi là vùng đất cát nội địa với diện tích khiêm tốn, đa số là đất chua phèn, úng ngập về mùa mưa, khô hạn về mùa nắng, còn lại diện tích là mặt nước.

Mặt nước bao quanh An Truyền thường goi là đầm Chuồn hay đầm An Truyền, nó là một phần trong hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, đầm An Truyền nằm về phía đông nam huyện Phú Vang chu vi 11 dặm.

Phá Tam Giang- Cầu Hai là một vùng nước lợ rộng mênh mông, nơi hợp lưu của 3 con sông lớn thông ra biển bằng 2 cửa : Cửa Thuận An rộng 300m ở phía bắc và cửa Tư Hiền rộng 113m phía nam.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí trang 153 chép

“Phá Tam Giang trước có tên là Hạt Hải có nghĩa là biển chết nam bắc dài 30 dặm, đông tây rộng chừng 6 dặm. Từ hạ lưu nguồn Ô Lâu – Thọ Lay (hệ thống sông Lương Điền) chảy xuống phá về phía tây nam có 3 cửa sông đổ vào là sông Tả, sông Trung và sông Hữu nên vua Minh Mạng đổi tên gọi là Tam Giang, nước sông sâu rộng sóng gió bất trắc thuyền bè dễ găp nạn”.

So với sóng ở ngoài biển ven bờ thì sóng trong phá Tam Giang Cầu Hai yếu hơn nhiều, độ cao của sóng phụ thuộc 2 yếu tố hướng và tốc độ gió, độ cao thường gặp là 0,3m đến 0,6m, trong giông tố là 0,7m và trong bão là 1m.

Đầm Cầu Hai thông với phá Tam Giang ở phía bắc, nơi hội tụ của các dòng nước đầm phá này là Thuận An.

Hệ thống đầm Câu Hai gồm có đầm Sam, đầm Chuồn, đầm Thuỷ Tú, đầm Hà Trung và phá Cầu Hai.

Các sông đổ vào đầm phá Tam Giang – Cầu Hai :

Phía bắc phá có các sông Ô Lâu, sông Nịu. Ở giữa có Sông Bồ và sông Hương gặp nhau ở ngã ba Sình đổ vào. Phía nam là sông Truồi, sông Nong.

Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai gồm có :

– Phá Tam Giang – Đầm An Truyền – Ðầm Sam – Ðầm Thủy Tú – Hà Trung,

Hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc cỡ lớn trên thế giới. Nó được phân bố trên chiều dài 68 km, rộng gần 22.000 ha; nơi rộng nhất là 14 km và nơi hẹp nhất là 0,6 km, có tổng diện tích mặt nước là 216 km², chiếm 43% diện tích lãnh thổ Thừa Thiên Huế.

Địa thế làng An Truyền tọa lạc trên một doi đất dài khoảng 2952m bắt đầu từ cầu Lu Bụ đến giáp mé nước đầm Chuồn, bề ngang rộng nhất của doi đất này là 976m, nếu so sánh với sự bồi lắng trong 2 thế kỷ qua với chiều dài của cồn Giả Viên thì nó có thể lấn ra phía mặt nước đầm khoảng 1000m. Địa vực của An Truyền là một vùng đất ruộng thấp ven một dải đầm nước lợ.

Phía bắc là con hói của làng Triều Thủy và đầm Chuồn.  Phía nam là con hói làng An Truyền, hói Lò Cò và làng Vinh Vệ. Phía đông là đầm Chuồn. Phía tây là con hói của làng Triều Thủy.

Cánh đồng của làng An Truyền nằm về phía nam làng chạy theo hướng đông tây song song với khu dân cư với bề ngang 210m, dài 2500m.

Trung tâm của làng An Truyền ở tọa độ 16°30’19.76″ vĩ bắc và 107°37’52.72 kinh đông.

Hình thể của doi đất này là một thế đất cực kỳ hiếm có  về mặt địa lý hình thể thiên nhiên và phong thủy, đó là một thế đất tốt hơn cả rồng chầu hổ phục.

Thế đất này hình của một con Mãng Xà Vương có 2 đuôi đang trong tư thế trườn mình từ Trường Sơn xuống Nam Hải.

Vùng An Truyền thời Hành khiển Đoàn Nhữ Hài trấn nhậm chỉ có thể là một vùng đầm lầy sú vẹt đầy thú dữ cọp beo, cá sấu, rắn độc…và có rất ít cư dân người Việt. Về sau các di dân đầu tiên người Việt theo vết chân nam tiến từ phương bắc vào đến khai hoang, lập ấp, xây dựng làng mạc, chợ búa…dần dần hình thành khu dân cư.

Đất vùng An Truyền xuất hiện như một huyền thoại, một hiện tượng ngoi đầu lên của con mãng xà từ dưới mặt nước đầm An Truyền, đầm Sam.

Quan sát trên các hình ảnh từ vệ tinh có thể cảm nhận được điều ấy. Từ đầu Mãng Xà có thể hình dung được cái lưỡi dài đến cửa biển Hòa Duân (Beach erosion Hòa Duân năm1999) và chúng ta tưởng tượng ra được thân hình của mãng xà uốn khúc ẩn mình theo sông Hương cho đến ngã ba Tuần, 2 đuôi của nó là hai nhánh Tả và Hữu Trạch mà phần cuối cùng của đuôi nằm dấu kín trong đồi núi hùng vỹ đầy bí ẩn của vùng biên giới Lào Việt.

Theo truyền thuyết của nhiều nền văn minh trên thế giới thì: “Rắn là loài khôn ngoan, là biểu tượng của thần linh, của sự minh triết, là hiện thân của đức tính thận trọng và khéo léo. Lưỡi rắn là cơ quan vị giác và là một công cụ định vị đặc biệt, là một loại vũ khí nhạy bén. Rắn cắn đuôi là biểu hiện cho sự tuần hoàn vũ trụ”.

Nét phong thủy tự nhiên của làng An Truyền :

Phía tây là lưng của làng được núi Kim Phụng và dãy Trường Sơn phía sau che chắn. Phía đông mặt trước là đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, sau là biển đông. Phía bắc bên trái là đồi núi của Quảng Trị. Phía nam bên phải là đồi núi của Hải Vân

Như vậy thì địa thế hình thể tự nhiên của làng An Truyền về phương diện phong thủy đáp ứng đủ tiêu chuẩn của một vùng đất tốt : Trước có minh đường thủy tụ, sau có tọa đoài hướng chẩn, có tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ.

Thổ sản

Lúa gạo có lúa Tẻ, lúa Thơm, lúa Mạn, lúa Chiêm, gạo chiêm, gạo đỏ còn gọi là gạo nước mặn, gạo hẽo rằn… nhưng sản lượng không đáng kể.

Nếp có nếp Than, nếp Đá, nếp Cái, nếp Lùn, nếp Đinh, đặc biệt là nếp Tây.

Tại An Truyền ngày xưa nơi đây có một khoanh đất ước chừng 20 mẫu ruộng để cấy loại lúa này. Đó là loại nếp thơm. Trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí trang     ghi như sau: Nếp Tây còn gọi là Dương nhu, thân lúa lớn, bông lúa dày, hạt thóc tròn và to, vỏ dày, gạo trắng, cơm rất thơm. Tháng 5 cấy, tháng 8 chín, ưa ruộng sâu.

Rượu làng Chuồn. Rượu ở đây có từ lâu đời, được xếp vào loại “đệ nhất danh tửu” của Huế, rượu thật sự có hương vị đặc trưng có thể xuất hiện khi người dân làng Chuồn bắc canh tác một giống lúa nếp mới có tên là nếp Tây, mà hương vị của rượu không giống với bất cứ loại rượu khác được. Làng có nhiều người nấu rượu và để có một mẻ rượu ngon chính là nghệ thuật cũng là bí quyết gia truyền của người nấu, ngoài các yếu tố như chọn nguyên liệu là gạo nếp, nước, men, thời gian ủ… Ngày xưa có nhiều lò nấu rượu có riêng vài mẫu đất ở ngoài Cồn dài chỉ để trồng một giống lúa nếp Tây, lúa Chiêm hay lúa Thơm mà Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại.

Bí quyết của loại rượu làng Chuồn để có được một hương vị đặc trưng chính là nhờ vào các yếu tố sau :

1/ Nguyên liệu : Gạo nếp Tây

2/ Nước giếng ở độ sâu 30-40m ở trung tâm làng ở tọa độ 16°30’19 vĩ bắc và 107°37’52 kinh đông.

3/ Men rượu được chế tạo theo bí quyết công thức riêng của từng giòng họ, không dùng men mua ở thị trường (Men rượu được chế từ nhiều loại thảo dược như cam thảo, quế chi, gừng, hồi, thạch xương bồ, theo những bí quyết, công thức riêng của từng gia đình. Những công thức này cùng với kỹ thuật ủ men nhiều khi không truyền cho người ngoài nhằm giữ bí quyết chất lượng rượu của nghệ nhân độc nhất vô nhị. Nhào trộn hỗn hợp với bột nếp ủ cho bột hơi nở ra sau đó vo, nắm từng viên nhỏ để lên khay có tro bằng rơm cho khỏi dính. Đem phơi thật khô.

4/ Thời gian được nấu, đồ chín, đánh tơi và trộn với men rượu tán thật nhỏ mịn cho đều khi nguyên liệu vẫn còn ấm. Đem ủ kín trong chỗ ấm một thời gian 96 giờ đến168 giờ tùy theo thời tiết, loại nguyên liệu, loại men… và tay nghề.

5/ Dụng cụ chưng cất được thiết kế bằng phương pháp thủ công do kinh nghiệm bí truyền, gọi là khạp đựng rượu, tưới nước và ủ kín.

Khi chưng cất không dùng dầu, gaz, điện để đun nấu, nên dùng, rơm rạ, trấu, vỏ dừa, củi than.

6/ Theo dõi nhiệt độ lò chưng cất mỗi 1 giờ một lần sau khi ngửi hoặc nếm sản phẩm

7/  Bảo quản : bằng Tĩn làm bằng đố gốm hay sành sứ.

Từ trên máy bay nhìn xuống đầm An Truyền ta thấy trên mặt đầm không biết cơ man nào là các ô vuông đủ kiểu, đủ màu sắc ngang dọc chằng chịt đan xen lẫn nhau, người ta chia ô cắm nò, đóng sáo kín mít không còn một chỗ trống.. Và nếu được sống qua đêm trên nhà chồ ờ đầm Chuồn để ngắm trăng, uống một chén rượu Chuồn nhìn những tia sáng của mặt trời lúc bình minh trên mặt sóng nhấp nhô của đầm phá bình yên hay thả cần để câu được năm ba con cá kình, vài con cá ong hương  hay chục con cá bống thệ, loại cá sống ở đáy đầm thì quả thật là một ấn tượng khó quên.

Yên Huỳnh (theo BS Hồ Đắc Duy)

THUẬT PHONG THỦY CỦA CAO BIỀN (2/2)

BÀN VỀ CAO BIỀN

TRẤN YỂM SÔNG TÔ LỊCH

– Bài 2 (Hết)

Bằng chứng là Sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại và chỉ thời gian ngắn sau này nước Việt dã giành được độc lập. Một dải Long mạch đã nói ở trên vẫn phát sinh ra những con người nổi tiếng, những vùng đất địa linh nhân kiệt như chùa Dâu, núi Yên tử, Đền Kiếp Bạc… Một nguyên nhân nữa sau này, đã phá hoại sự linh thiêng của Long mạch là các việc san lấp của người Pháp, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không biết vô tình hay hữu ý, khi xây dựng TP. Hà Nội, người Pháp đã cho lấp mất khúc sông Tô Lịch, nơi đổ ra sông Hồng – Nay là các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Cầu Gỗ… Và nhà thờ lớn hiện nay đặt trên nền của Tháp Báo Ân ngày xưa…

Một dân tộc đã được thiên nhiên ưu đãi về Địa linh về Sinh khí phải suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm bảo vệ và khai thác sức mạnh tâm sinh khí đó. Chúng ta cần phải có các chương trình đào tạo các bậc anh hùng, hào kiệt, những bậc hiền tài cho Đất nước, những vĩ nhân cho thế hệ mai sau. Ngày trước các bậc Thánh Đế, Minh Vương coi đó là trách nhiệm lớn nhất đối với non sông, đất nước.

3. Tôi xin tiếp tục lý giải câu hỏi thứ 3 : Hậu quả của việc rút bỏ Đạo Bùa đối với khu vực dọc theo sông Tô lịch nói riêng và cả Hà Nội nói chung. Số phận của Long mạch sẽ như thế nào ?

Đây là một câu hỏi hết sức khó vì tính chất phức tạp của nó. Người viết xin mạo muội lý giải và rất mong được các bậc hiền tài góp ý, bổ khuyết hầu có thể tìm ra biện pháp tốt nhất khắc phục được hậu quả của Lịch sử. Tôi coi đây là trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta.

Trước hết,ta xem xét hậu quả của việc trấn yểm của Cao biền và những sự việc sẽ xẩy ra khi rút bỏ đạo Bùa đối với khu vực sông Tô lịch và các vùng phụ cận.Hiện nay,tôi không có tài liệu nào chính thức về các biện pháp Trấn yểm đất của bộ môn Phong thủy. Chỉ biết rằng từ xa xưa đã có các hiện tượng trấn yểm của Mã viện (Trụ đồng Mã viện); các hiện tượng trấn yểm của Cao biền; các biện pháp dùng Bia đá để trấn yểm nhà, các tấm Bài ếm ở quanh khu vực Thất sơn (Cái ếm ở Bài Bài, thuộc làng Nhơn hưng – Tịnh biên – Châu đốc, cây ếm ở núi Nước)…

Để có thể hiểu rõ tính chất và hậu quả của việc trấn yểm, ta cần phải biết rõ lý thuyết trấn yểm và từ đó mới có thể khắc phục được tác hại của nó. Từ xưa, việc trấn yểm được coi là Thuật bí truyền của các thày Địa lý, không được tiết lộ ra ngoài, sợ lộ Thiên cơ. Do vậy mà lý thuyết về sự trấn yểm đến tận giờ phút này vẫn được coi là một cái gì đó huyền bí,ma thuật, không có tài liệu nào được truyền ra. Tuy nhiên theo nguyên lý Thiên – Địa – Nhân là một, ta có thể dùng Lý thuyết của Đông Y để tìm hiểu vấn đề này. Mặt khác, Thuyết Âm Dương, Ngũ hành với cơ sở là Hà đồ, Lạc thư là một công thức siêu Vũ trụ có thể lý giải tất cả các vấn đề từ Vi mô tới Vĩ mô, nó là Công thức Tổng quát của Vũ trụ mà khoa học ngày nay đang ao ước, tìm kiếm. Tôi sẽ xin trở lại vấn đề này khi có dịp.

Bây giờ ta trở lại Lý thuyết của Đông Y về Kinh, Mạch, Huyệt,Lạc là một sự ứng dụng rất cụ thể và phong phú của Thuyết Âm Dương,Ngũ hành. Lý thuyết của Đông Y về Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc rất phức tạp và có từ rất lâu đời,cuốn sách đầu tiên có thể là cuốn Hoàng đế nội kinh, có thời điểm khoảng 5000 năm. Tôi chỉ xin dẫn giải những gì cần thiết để chứng minh cho luận điểm của mình.

HỆ THỐNG KINH, MẠCH, HUYỆT, LẠC.

1/ HUYỆT : Là nơi tập trung Khí huyết của Tạng phủ. Là nơi tập trung các cơ năng hoạt động của Tạng phủ. Mỗi Tạng phủ có các đường Kinh, Mạch, Lạc nằm ở những nơi cố định. Những Huyệt lớn gọi là Khổng Huyệt. Những Huyệt bình thường gọi là Huyệt. Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc làm nhiệm vụ dẫn cơ năng Tạng phủ từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, trong toàn bộ cơ thể con người.Trong cơ thể có một mạch Nhâm, một mạch Đốc, 12 đường Kinh chính, cộng thành 14 Huyệt Kinh, có 365 đường Kinh Lạc và 666 đường Kỳ Huyệt. Hệ thống Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc tiếp nhận Thiên khí, Địa khí, Thời khí, có tính chất Âm Dương Ngũ hành.Nhờ hệ thống trên, ta có thể tìm đến các chỗ đường Khí bị tắc mà đả thông cho thuận. Mỗi loại Bệnh tật đều có một số Huyệt liên quan để ta có thể kích thích khi có bệnh.

2/ KINH : Là các đường dẫn Khí từ Huyệt nọ tới Huyệt kia. Các đường đó đi lắt léo, chồng chất qua rất nhiều chỗ; liên đới với các đường Kinh khác theo tính chất Âm Dương, Ngũ hành, liên vận đến cả với Trời đất mà biến động sự sống, tinh thần con người, vì vậy mà gọi là Kinh.

3 /MẠCH : Nó là các Nguồn Mạch có Gốc chính đi ra. Nó đi khắp nơi, phân chia ra nhiều chỗ cần thiết, đến tận cùng của mọi nơi và sau lại trở về với chính Gốc.

4/ LẠC : Nó là các đường của Kỳ huyệt, nhiều hơn Kinh, Mạch, nhỏ hơn nhiều. Nó đi ngang, tắt, chằng chịt, chi chít, khó tìm hơn. Nó giúp cho con người điều hòa Tâm sinh lý rất tốt, nó thường hay xuất hiện theo chu kỳ, dùng để định Tâm, an Lạc. Có lẽ vì vậy mà người ta dùng chữ An lạc ?

Các đường Kinh lại chia ra các đường Kinh nội và ngoại.

*Nội kinh là phần kinh của 14 đường Kinh, Mạch chính, quan hệ với Tạng phủ, chuyển dần sang các chi nhánh, Kinh Cân Âm và Kinh Cân Dương.Nội Kinh liên quan đến các tương quan,phản xạ, phát sinh Ngoại giao cảm,giữa Linh hồn, Vía, Phách và thể xác.

* Ngoại Kinh là những kỳ huyệt để bổ xung cho các Kinh chính, khi cần thiết dùng cho lúc nguy cấp. Ví dụ cụ thể như :có người đã bị chết lâm sàng, tiêm, chích thuốc theo Tây Y không được, nhưng dùng Đông Y có khi chỉ cần bấm, day, châm, cứu Huyệt thì bệnh nhân có thể sống lại được. Có rất nhiều kỳ Huyệt mà tùy trường hợp có thể hút Linh hồn của người mới chết, trở về nhập vào cơ thể.

Ngoại Kinh bao gồm cả nội quan thân thể. Có nhiều Kỳ huyệt nhạy bén, rất công hiệu, có thể cứu mệnh con người,trong nhiều trường hợp nguy cấp. Đời thường từ xưa đã từng chữa bệnh cứu người bằng phương pháp này, song họ vẫn cho đó là Thần bí.

Tóm lại có 2 Mạch chính là Nhâm, Đốc;12 đường Kinh chính,15 đường Mạch Lạc,và vô số Huyệt.

Xin nói thêm về Huyệt : Có các Huyệt hợp và các huyệt Giao hội, đó là các giao hội với các Kinh Dương và âm. Có các loại Huyệt là Du huyệt, Mộ huyệt, Nguyên huyệt, Lạc huyệt, Khích huyệt..

Trong Võ thuật còn truyền lại các Huyệt Thần đạo Võ thuật. Theo người viết được biết : Có 36 Huyệt đạo Kinh, nếu vô tình hay hữu ý tác động vào thì bất cứ Huyệt nào trong số 36 Huyệt này đều có thể gây ra chết người .Các Huyệt đó rất nguy hiểm nên còn gọi là tử Huyệt. Ngoài ra còn có 72 Huyệt đạo Kinh phụ. Nếu tác động vào bất cứ Huyệt nào trong số những Huyệt này đều có thể gây tàn phế , tật nguyền, rất khó chữa trị. Đây là yếu hại Huyệt hay còn gọi là Nạn Kinh. Người viết chỉ sơ qua vài nét về Thần đạo Võ thuật cho dễ hiểu thêm về tầm quan trọng của Huyệt với Linh hồn và cơ thể con người. Khi tác động vào tử Huyệt ,các yếu hại Huyệt chính là bất ngờ dùng lực phá hủy hệ thống Kinh, Mạch, làm tan rã các kết nối giữa Linh hồn và cơ thể con người.

Các hệ thống khác như Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc, gắn kết lục phủ, ngũ tạng của cơ thể lập tức bị rối loạn, mạnh thì dẫn đến tử vong, nhẹ thì dẫn đến tàn phế,tật nguyền, rất khó chữa trị. Thần đạo Võ thuật gọi là Huyệt đạo kinh có liên hệ đến các Luân xa.

Theo nguyên lý “Con người là tiểu Vũ trụ” thì Âm Dương Ngũ hành được phản ánh trong Đông Y rất rõ rệt. Các đường Kinh thứ nhất : Can – Đởm,Tâm -Tiểu trường, Tỳ -Vị, Phế – Đại trường, Thận – Bàng quang là năm cặp đại diện cho Ngũ hành. Ngòai ra còn hai đường Kinh bổ xung là Kinh Tâm bào và Kinh Tam tiêu.Tổng cộng 12 Kinh gọi là đường Kinh chính. Hai đường Kinh Tâm bào và Tam tiêu không có thành phần riêng của mình nên phải lấy từ các thành phần khác làm thành phần của mình.

Mặt khác Kinh Tam tiêu được xem là Cha của các đường Kinh Dương, còn Kinh Tâm bào được xem là Mẹ của các đường Kinh Âm. Kinh Tâm bào có nhiệm vụ đặc biệt là bảo vệ Kinh Tâm.

Kinh Tam tiêu có nhiệm vụ đặc biệt là làm sứ giả của Mệnh Môn Hỏa. Mang Mệnh Môn Hỏa đến các vùng Thượng tiêu,Trung tiêu,Hạ tiêu. Các đường Kinh được chia ra làm hai nhánh :Nhánh trái thuộc Dương (đối ứng với bán cầu não Phải), nhánh phải thuộc Âm (đối ứng với bán cầu não trái). Từ đó các Huyệt được chia ra : Huyệt phía trái thuộc Dương, Huyệt phía Phải thuộc Âm.

Từ Lý thuyết về Đông Y như trên ta theo nguyên lý Thiên – Địa – Nhân hợp nhất rút ra Lý thuyết trong Phong thủy áp dụng cho Long, mạch như sau :

– Thuyết Phong thủy với cả hai phần Âm và Dương trạch quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời, Đất, cả khi sống và cả sau khi chết (Huyệt mộ có thể ảnh hưởng đến nhiều đời con cháu sau này).

1/ Về Thiên : Chấp nhận có Sinh khí giáng xuống (gọi là Dương giáng) trên các đỉnh núi cao. Thừa nhận ảnh hưởng của các Vì Sao ảnh hưởng đến con người. Sự tương tác của các lực vũ trụ ảnh hưởng theo thời gian, với con người khác nhau.Ảnh hưởng theo chu kỳ của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời, được đại diện bởi Cửu tinh đồ xoay chuyển theo Quỹ đạo của HÀ ĐỒ (không như quan niệm của cổ văn chữ Hán từ trước đến nay là theo quỹ đạo LẠC THƯ – Khi có điều kiện người viết xin trở lại vấn đề này).

Phải chăng 9 Sao và Hạn (La hầu, Thổ tú, Thủy diệu, Thái bạch, Thái dương, Vân hớn, Kế đô, Thái âm, Mộc đức và Tam kheo, Ngũ hộ, Thiên tinh, Toán tận, Thiên la, Địa võng, Diêm vương, Huỳnh tuyền) ảnh hưởng tuần hòan theo chu kỳ sinh học của con người là Đại lượng đo lường ảnh hưởng sự tương tác của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời đối với con người.Còn Cửu tinh đồ là đại lương đặc trưng của sự tương tác các hành tinh trong Hệ Mặt trời với từng cuộc đất. Ngòai ra còn ảnh hưởng của hệ Nhị Thập Bát tú tới từng cuộc đất.

2/ Về Địa : Chấp nhận có Sinh khí (Còn gọi là Long) chảy theo các mạch nước, tụ lại,và THĂNG lên (bởi lẽ Âm thăng,Dương giáng). Ta thử suy luận một chút về danh từ THĂNG LONG : Đó là khí Âm thăng lên – THĂNG LONG. ĐÂY MỚI THỰC LÀ Ý NGHĨA CỦA DANH TỪ THĂNG LONG (chứ không như người ta đồn đại Vua Lý Công Uẩn thấy Rồng bay lên và đặt tên kinh đô là THĂNG LONG).

Ta cũng nói thêm rằng Khí làm cho Kinh đô THĂNG LONG phát triển mạnh mẽ về sau này là Khí Âm – Địa khí .

3/ Về Nhân : Có thể xác định được Âm phần, Dương phần, Họa, Phúc, Mệnh, Thân của từng con người. Bây giờ xin các bạn nhìn lên Bản đồ Việt Nam phần Bắc bộ. Các bạn hãy đánh dấu vào các địa danh sau : Trước hết là các dãy núi cao vút của các tỉnh Lai châu, Sơn la, Hòa bình, tới dãy Tam đảo, dọc theo sông Tô lịch ngày xưa, đi tiếp tới Cổ loa, kéo dài đến sông Đuống, sông Thái bình, ra tới Quảng Ninh và chìm xuống Vịnh Hạ long. Ta nối tất cả các điểm trên thành một đường. Đường cong đó chính là nhánh Thanh long của đồng bằng Bắc bộ.

Theo phân tích ở phần trên ta biết rằng Thanh long thuộc Dương. Đây cũng chính là một Long mạch có hành Khí Dương. Các Huyệt nằm trên nhánh Thanh long đều có hành khí Dương.

Bây giờ ta tiếp tục đánh dấu những địa danh sau : Xuất phát cũng từ những rặng núi cao chót vót của các tỉnh Lai châu, Sơn la, Hòa bình đi tới dãy núi Ba vì, qua cầu Hàm Rồng theo sông Lam và dãy núi Hồng lĩnh đổ ra biển. Nối các địa danh đó lại thì đường cong đó chính là nhánh Bạch Hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Bạch hổ thuộc Âm, do vậy Long mạch này có hành khí Âm. Các Huyệt nằm trên nhánh Bạch hổ đều có hành khí Âm.

Đến đây ta đã có thể hình dung được hai nhành Thanh long, Bạch hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Thanh long sau sự trấn yểm của Cao Biền và sau này là sự san ủi của người Pháp đã bị bế Khí rất nhiều. Tuy nhiên do sự sai lầm của Cao Biền về độ số của cung Đoài nên sự trấn yểm đó không hoàn thiện.

Theo các cổ thư chữ Hán, cung Đoài có độ số là 7 – ứng với phương Tây. Đây là độ số của Lạc thư. Chính vì vậy mà Cao Biền mới trấn yểm 7 cây cọc, theo đúng độ số của phương Tây. Tuy nhiên , theo hiểu biết của người viết và kết hợp với một số kinh nghiệm của một số tiền bối về Phong thủy ở vùng đất Phong châu ngày xưa (nay là tỉnh Phú thọ – Kinh đô của các Thời đại Hùng vương) thì độ số của phương Tây không phải là như vậy.

Theo người viết, trong các vấn đề về Phong thủy thực hiện trên trái đất này phải dựa vào Hà đồ và độ số của Hậu thiên Bát quái mới chính xác. Khi đặt độ số của Hậu thiên Bát quái lên Hà đồ ta có một vòng tương sinh theo chiều thuận kim đồng hồ. Theo chiều từ phương Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông nam,… tới Tây, tây bắc và trở lại về Bắc ta có các độ số như sau : 1-8-3-2-7-4-9-6.

Ta vẫn biết rằng :

1 – là hành Dương Thủy.

6 – là hành Âm Thủy.

8 – là hành Âm Mộc.

3 – là hành Dương Mộc.

2 – là hành âm Hỏa.

7 – là hành Dương Hỏa.

5 – là hành Dương Thổ.

10 – là hành Âm Thổ.

4 – là hành Âm Kim.

9 – là hành Dương Kim.

Theo chiều thuận kim đồng hồ ta có các hành tương sinh với nhau như sau : Thủy (6-1) sinh Mộc (8-3) sinh Hỏa (2-7) sinh Thổ (10-5) sinh Kim (4-9) và lại trở về hành Thủy.

Tôi không đi sâu vào việc chứng minh Lý thuyết trên vì nó khác với tất cả các cổ văn chử Hán từ xưa cho đến tận ngày hôm nay. Điều quan trọng là nếu Cao Biền ngày xưa biết được điều này, thì giờ đây có thể chúng ta chỉ còn nghe danh sông Tô lịch trong Huyền sử.

Trở lại vấn đề trên sông Tô lịch, sau khi Cao Biền trấn yểm dòng sông cứ càng ngày càng nhỏ lại, kết hợp với sự san lấp của người Pháp sau này, dòng sông Tô, trước chảy ra sông Hồng ở cửa Hà khẩu, nay bị chặn lại từ khúc Thụy khê ra tới sông Hồng. Kể từ đó sông Tô lịch phải đổi dòng chẩy ngược lại. Hiện nay sông Tô lịch chỉ còn chẩy từ khu vực P. Nghĩa Đô – Q. Cầu Giấy – Hà Nội, theo thuận dòng chảy Ta nhớ lại sự kiện trước Thành Luy lâu có dòng Nghịch thủy) chảy ra sông Nhuệ và cuối cùng mới đổ ra lại sông Hồng.

Như vậy hiện nay, dòng chảy của sông Tô lịch đi theo nhánh Bạch hổ đã nêu trên (Thay vì chẩy theo nhánh Thanh long như ngày xa xưa). Nhánh Thanh long thuộc Dương khí, đã bị ngăn, bế phần lớn nên từ khi đó cho tới nay chỉ có rất ít anh hùng hào kiệt được sinh ra ở khu vực dọc theo đường đi của nó. Ngược lại ,nhánh Bạch hổ từ xưa cho đến nay ta chưa nghe có vụ trấn yểm nào được thực hiện, ngòai trường hợp cũng do Cao Biền chê là vùng đất Thanh hóa, Nghệ an có một con rồng (Long mạch) nhưng bị què nên không tiến hành trấn yểm. Hai nhánh Thanh long và Bạch hổ có cùng nguồn xuất phát từ Tổ sơn, nay nhánh Thanh long bị chặn lại một phần lớn nên gần như toàn bộ Nguyên khí được dẫn theo đường nhánh Bạch hổ.

Theo nhận xét của người viết, kể từ đó về sau này, thành Đại la bị mất Dương khí nên chẳng bao lâu bị xóa bỏ và thay vào đó là thành Thăng long được xây dựng dựa trên khí Âm của nhánh Bạch hổ. Ta cũng để ý thấy một điều rất rõ ràng rằng : Trải qua hơn một ngàn năm từ khi có sự trấn yểm của Cao Biền, các vị Vua, tướng tài giỏi, các bậc hiền tài của Đất nước đều có nguồn gốc từ các vùng đất thuộc nhánh Bạch hổ mà ra. Các bạn có thể kiểm chứng điều này qua Lịch sử.

Tới câu hỏi cuối cùng trong bài viết này,người viết tự nhận thấy vượt quá khả năng của mình nên rất mong đợi sự đóng góp của các cao nhân, tiền bối, ngõ hầu có thể cứu lấy một dòng Nguyên khí của Đất nước.

Các câu hỏi đó là : Sau khi rút đạo Bùa Trấn yểm của Cao Biền lên, Nguyên khí bị thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với Hà Nội nói riêng và đất nước nói chung ??? Có thể hàn lại Long mạch như Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã làm không ?

Khi Long mạch đã được phục hồi sẽ xẩy ra hiện tượng gì tiếp theo ? Có thể lại xẩy ra hiện tượng sụt lở đất như ngày xưa không ?

Còn rất nhiều câu hỏi tiếp theo chủ đề này. Người viết xin tạm dừng ở đây và mong mỏi sự đóng góp của tất cả những người có lòng thương yêu Quê hương xứ sở.

Trong bài viết, tôi có sử dụng một số tài liệu của Gíáo sư NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG, ĐOÀN VĂN THÔNG, Ẩn sĩ PHƯỢNG – Nghệ an, Ẩn sĩ Lý Thiên Hương – Đức thọ Hà tĩnh và một số tài liệu của các Ẩn sĩ tỉnh PHÚ THỌ -Xin trân trọng cảm ơn

Tôi đã xác minh lại nguồn tin này; theo Thượng tọa Thích Huệ Xướng -Chùa Giác Lâm – Q. Tân Bình: Thượng tọa Thích Viên Thành đã viên tịch khoảng hơn một tháng sau khi làm lễ cúng HÀN LONG MẠCH tại sông Tô lịch, nguyên nhân chết theo Y học là xuất huyết não. Thượng tọa Thích Viên Thành là chủ trì chùa Hương.

Giải thích thêm : Mỗi một Huyệt vị có thời gian đóng và mở riêng của nó -Tức là thời gian ứng nghiệm.Khi muốn tác động vào một Huyệt vị nào đó cần phải đúng thời gian đóng hoặc mở của nó mới có tác dụng.Khi dùng thủ thuật Trấn (đè lên) Yểm (Chôn xuống) cho thay đổi kết cấu của cả một vùng đất để có thể xây dựng cả một Kinh thành thì sự hiểu biết phải vô cùng chính xác. Tiếc rằng kinh nghiệm này không được phổ biến rộng rãi nên thất truyền lần lần. Mà đó cũng là một điều may mắn cho Nhân loại vì nếu ai cũng có thể làm được thì Trái đất chúng ta sẽ đi về đâu ?

Tuy nhiên trong Lịch sử cũng chỉ ra rằng có rất nhiều ngưởi có khả năng đó. Bạn có thể tham khảo trong các truyền thuyết Lịch sử – Tất nhiên vì chỉ có những người trấn yểm mới biết, những sự việc được ghi nhận là do kể lại nên mất tính chất trung thực. Tuy nhiên, không thiếu dẫn chứng trong lịch sử nhắc đi nhắc lại vấn đề đó.

Tôi xin nêu thêm một vấn đề quan trọng có liên quan đến sự Trấn hoặc Yểm sau này. Đó là hành Khí của khu vực bị Trấn yểm và độ số của nó. Theo nhận xét của riêng người viết, khu vực đó thuộc phía Tây của La thành nên có hành Khí là Dương kim và độ số của nó là 9. Như vậy ta cũng thấy rằng khi tiến hành trấn yểm, Cao Biền cũng biết rất rõ điều đó, chỉ có sai lầm về độ số của phương Tây. Theo sách cổ chữ Hán đến tận ngày hôm nay, phương Tây thuộc Kim và có độ số theo Lạc thư là 7. Đó là sai lầm cơ bản của cổ thư chữ Hán và tất nhiên khi ứng dụng thì Cao Biền sẽ sai theo.

Theo người viết được biết, tại một số vùng của đất Phong châu ngày xưa, các nhà Phong thủy vẫn áp dụng tính độ số khi ứng dụng những việc cụ thể trong Phong thủy theo Hà dồ và số của Hậu thiên Bát quái. Như vậy theo người viết, phương Tây có hành Khí Dương Kim và độ số là 9 mới chính xác. Lạc thư và độ số Tiên thiên Bát quái chỉ áp dụng cho những vấn đề có tầm vóc Vĩ mô như khi tính toán các dải Ngân hà, Thiên hà, có tầm vóc Vũ trụ. Để có thể trấn được khu vực bị hở của Long mạch, theo thiển ý của người viết, nên dùng hình thức Trấn – tức là đè lên vùng bị hở theo đúng quy luật Âm dương Ngũ hành. Ta có thể dựng một cây cầu Sắt có 9 nhịp hay 9 cột sắt, hoặc có cái gì đó có biểu tượng cho số 9 đè lên khu vực đã rút đạo Bùa.

Theo những tin tức gần đây nhất, sự phát sinh các việc kỳ lạ như đã nêu ở trên, cũng chỉ gói gọn như những việc đã xẩy ra. Như vây ta thấy rằng Long mạch không còn thoát Khí ra nữa. Nguyên nhân là Khu vực đó qua thời gian bị phong tỏa, bế Khí quá lâu (Gần 1200 năm), luồng Nguyên khí đã có sự thay đổi, cũng không loại trừ đã có sự trấn, yểm lại của một số nhà Phong thủy tài ba giấu mặt.

Tôi từng chứng kiến một vài lần khai mở những Huyệt đạo bị trấn yểm của các nhà Phong thủy Việt nam ẩn danh. Ta cũng nhận thấy rằng (không biết có phải do trùng hợp hay không) : Kể từ ngày đạo Bùa được Khai mở, vùng dọc theo nhánh Thanh long đã phát triển rất mạnh mẽ. Từ rất lâu đời, các vùng này là khu vực Nông thôn lạc hậu, nay đã vươn mình trở thành hàng loạt khu chế xuất hiện đại.

Yên Huỳnh

THUẬT PHONG THỦY CỦA CAO BIỀN (1/2)

BÀN VỀ CAO BIỀN

TRẤN YỂM SÔNG TÔ LịCH

Tóm lược sự việc như sau :

Vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC, trong khi nạo vét sông Tô Lịch, thuộc địa phận làng An Phú – P. Nghĩa Đô – Q. Cầu Giấy – Hà Nội đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều, tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng.

Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt  -Hà tây (là nghĩa trang chôn cất chung của TP. Hà nội), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra. Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc Komatsu tự nhiên lao xuống sông. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều gi;. Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu.; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít.

Một năm sau sự việc trên,có hàng loạt sự kiện ngẫu nhiên xẩy ra, gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12, là đội đã trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.

Ngày 9/10/2001 những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ (tức đạo Mẫu) đến giải thích, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo bùa Bát Quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để trấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch : Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết.

Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.
Giáo sư Trần Quốc Vượng có kết luận như sau : ” Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có Thần chấn giữ 4 cửa (Thăng Long Tứ trấn) và có yểm bùa hay còn làm lễ Hiến Sinh. Như vậy đây là cổng thành phía Tây của La thành. Thông qua tính tương đối thống nhất giữa niên đại của Tiền và đa số đồ gốm cho thấy niên đại của địa điểm này trong khoảng thế kỷ 11 cho đến 14, thuộc vào thời Lý -Trần Việt Nam hay thời Tống của Trung Quốc.

Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa hiện tượng sông Tô Lịch bị lở do đổi dòng và mắt nhà Vua bị đau, đã tạo ra một lễ trấn yểm, trong đó có những bộ xương người cùng những hiện vật khác chăng. (Ở đây GS Trần Quốc Vượng muốn nhắc đến sự tích Ông Dầu bà Dầu trong chuyện cổ tích Việt nam – Người viết). Đó là một phần của những gì đã đăng tải trên tờ báo.

Gần đây, một người bạn của tác giả có cho biết : Đài truyền hình có phát tin người ta đã chuẩn bị khôi phục lại hiên trạng di vật như lúc ban đầu.

Người viết bài này lại có ý kiến khác hẳn : Theo thiển ý của người viết, đây là một hiện tượng trấn yểm nhằm cắt và bế Long Mạch, chận đường của Khí. Ai đã chấn yểm vị trí này và mục đích sự trấn yểm này để làm gì ?. Theo thiển ý của người viết : Đây là tác phẩm của Cao Biền, Tiết độ sứ của TQ vào thế kỷ 8 – Tức là trước thời nhà Lý khoảng 200 năm.

Người viết xin được chứng minh như sau : Trước hết nói về ý kiến của GS Trần Quốc Vượng; người viết cũng đồng ý rằng đây là một sự trấn yểm sông Tô lịch, song không chỉ căn cứ vào niên đại của một số đồ gốm nhặt được mà cho rằng sự việc xẩy ra vào thời Lý – Trần. Nếu theo Truyền thuyết “Tại sao sông Tô lịch và sông Thiên Phù hẹp lại” hay truyền thuyết “sự tích Ông Dầu bà Dầu”, tác giả của sự việc trên là các vị Vua nhà Lý, nhằm trấn yểm sự Báo thù của Ông bà Dầu, thì không có sự việc sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại, đến nay chỉ còn là một con sông nhỏ xíu, làm nhiệm vụ thải nước bẩn cho Hà Nội. Ta nhớ rằng theo sử sách sông Tô lịch ngày xưa rất rộng, trên bến, dưới thuyền, là trục giao thông chính thủa ấy. Mặt khác thời Lý Trần có rất nhiều nhà Phong Thủy Việt nam tài giỏi như : Thiền sư Định Không làng Cổ pháp (Sư thọ 79 tuổi – Năm 808), Sư La chân Nhân (852 -936), Sư Vạn Hạnh..

Dĩ nhiên các vị sư đó không thể nào để cho các Vua Lý trấn yểm sông Tô Lịch và Thiên Phù, để đến nỗi sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại và ngôi báu vua Lý chẳng bao lâu về tay nhà Trần. Dòng họ Lý bị tuyệt diệt đến nỗi chỉ có người nào đổi qua họ Nguyễn mới thoát khỏi.

Bây giờ ta xét sự việc dưới một góc độ khác qua các sự kiện Lịch sử và các truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian.

Theo Việt sử lược : Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ 7 có tên là Tống Bình. Năm thứ 2 niên hiệu Trường khánh (Nhâm Dần 822), vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ rằng dân ở thành có ý đồ phản nghịch, liền sai thầy bói gieo 1 quẻ. Thầy bói nói rằng : Sức ông không đủ để bồi đắp thành lớn, 50 năm sau, có một người họ Cao đóng đô tại đây mà xây dựng Vương phủ.

Tới đời vua Đường Y Tôn (841-873), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu : Vừa là một vị Tướng, vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm : 866, 867, 868.

Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành trấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.

Tới đây, ta nhớ lại một truyền thuyết khác của dân tộc Việt nam. Đó là “Truyền thuyết Thành Cổ Loa” Tương truyền rằng khi xây dựng thành Cổ loa, An Dương Vương cũng xây mãi mà thành vẫn bị đổ. Khi đó Rùa Thần hiện ra chỉ cách cho xây và cho một cái móng chân, lúc đó thành Cổ loa mới có thể xây dựng xong”.

Về mặt địa lý, La thành và Thành Cổ loa cách nhau không xa (Theo đường chim bay chỉ vài chục km).

Tới đây, ta buộc phải tự đặt câu hỏi : Có sự trùng hợp giữa hiện tượng sụp đất của Thành Cổ loa, sự sụp đất của thành Đại la và sự sụp lở đất không thể khắc phục được trên công trình nạo vét sông Tô Lịch ?.

Qua hai truyền thuyết trên, bỏ qua các sự việc có tính chất dị đoan, chúng ta phải chấp nhận một sự thực là : Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa – Đông Anh Hà Nội là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng : Núi Tản viên nằm ở hướng Tây, Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu…

Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Ta cũng biết rằng thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống, các đỉnh núi cao là những antena tiếp thu sinh khí. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nước), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp.

Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc trấn yểm. Có rất nhiều tryền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này. Ta có thể kể ra đây những hoạt động của Cao Biền liên quan đến các khu vực của Long mạch này :

– Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền trấn yểm núi Tản Viên, hắn đã sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để trấn yểm núi Tản viên. Tới gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà Nội.

– Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng… chôn để trấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại : sắt, đồng, vàng, bạc trấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt bùa trấn yểm tới 19 nơi dọc theo sông Tô Lịch.

Thời bấy giờ nước Nam có nhiều vị đại sư tài ba lỗi lạc, hiểu biết rất giỏi về Nho,Y, Lý số và thuật Phong Thủy đã hóa giải sự trấn yểm của Cao Biền bằng phép Huyền môn. Các đại sư thường tụ tập tại ngôi đền Sơn Tinh Thủy Tinh ở núi Ba vì, hay ở đền Bạch Mã, dùng những hiểu biết về Phong Thủy để trấn áp bùa phép của Cao Biền.

Trở lại, đạo bùa tìm thấy trên lòng sông Tô Lịch, có rất nhiều lý do để có thể kết luận rằng : Đó là tác phẩm của Cao Biền, chứ không phải là của các nhà vua Lý. Tác phẩm đó là của Cao Biền đời nhà Đường, thuộc về thế kỷ 9, tức là trước thời các nhà Lý khoảng 200 năm (Lý thái Tổ -Năm 1010). Nếu xét về niên đại của cổ vật tìm thấy, thì trong khoảng 200 năm các cổ vật trên cũng không có sự thay đổi nhiều. Cũng không loại trừ trường hợp các cổ vật ở trên đất liền rớt xuống lòng sông thời gian sau khi Cao Biền trấn yểm.

Bây giờ ta lại xét đến mục đích của Cao Biền khi trấn yểm sông Tô Lịch. Cho tới tận giờ phút này, khi các bạn và tôi đang ngồi bên máy vi tính, người ta vẫn sử dụng các thủ thuật : Châm cứu, điện chẩn, xoa bóp, bấm huyệt… để chữa bệnh. Tất cả các thủ thuật đó đều dựa trên lý thuyết về hệ thống kinh mạch, huyệt, lạc trong cơ thể con người. Người ta xác định được hàng ngàn vị trí huyệt đạo trong cơ thể con người. Tùy theo từng trường hợp khi châm cứu, người ta dùng kim tam lăng để châm vào các huyệt khác nhau, với thời gian và độ nông sâu khác nhau. Trong dân gian còn lưu truyền các biện pháp bấm, điểm huyệt có thể làm cho một bộ phận nào đó của cơ thể không còn khả năng cử động, hoặc nặng hơn là bộ phận đó không còn sử dụng được.

Ta vẫn biết rằng : Thiên Địa Nhân là hợp nhất. Mọi vật thể từ Vi mô cho đến Vĩ mô đều phải tuân theo những quy luật chung của sự tương tác vũ trụ. Phải nói dài dòng như vậy để có thể tạm kết luận rằng, trên trái đất này cũng phải có những đường kinh mạch, huyệt, lạc như trong cơ thể con người. Trái đất này là một cơ thể sống chứ không phải là một cục đất chết như nhiều người vẫn nghĩ. Ta cũng có thể suy ra một hệ quả rằng : Tại một điểm nào đó, người ta có thể dùng một thủ thuật nào đó, có thể ngăn, bế hoặc chặn đường đi của một Long mạch như Cao Biền đã làm. Thủ thuật này người xưa gọi là trấn yểm.

Bây giờ ta tạm thời đưa ra

các nhận định như sau :

1. Đạo Bùa trấn yểm trên dòng sông Tô Lịch là của Cao Biền – Tiết độ sứ của nhà Đường, dùng để trấn yểm long mạch, khi tiến hành xây dựng thành Đại La vào thế kỷ 9. Đó là 1 trong 19 nơi mà Cao Biền đã thực hiện trấn yểm. Đạo Bùa đó hoàn toàn không phải do các Vua thời nhà Lý trấn yểm trong truyền thuyết “Ông Dầu bà Dầu” khoảng 200 năm sau khi Cao Biền thực hiện chấn yểm.

2. Chấp nhận có một Long mạch rất lớn xuất phát từ phía Tây của thành Đại La (Các dãy núi thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, và gần nhất là dãy núi Tản Viên); Long mạch này đi qua thành Đại La, cụ thể theo dọc sông Tô Lịch, qua khu vực Hồ Tây, kéo dài sang Cổ Loa – Đông Anh; Long mạch này còn kéo dài tới dãy Yên Tử và theo hướng Đông Bắc tới tận Quảng Ninh. Đây chỉ là nhánh Thanh Long của đồng bằng Bắc Bộ. Nhánh Bạch Hổ khi có điều kiện tôi xin chứng minh tiếp.

3. Cao Biền đã thực hiện biện pháp trấn yểm Long mạch, nhằm bế dòng khí của Long mạch này. Thủ thuật trấn yểm tương tự như thuật điểm huyệt trong đông y học.

Đến đây ta đặt ra câu hỏi :

1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn đã xẩy ra cho các công nhân trong đội xây dựng số 12. Bản chất hiện tượng đó như thế nào ?

2. Tại sao sau khi Cao Biền trấn yểm sông Tô Lịch, kể từ đó tới tận ngày hôm nay, trong lịch sử ta không còn nghe có vụ sụt lở đất nào khác ngoại trừ trường hợp trên sông Tô Lịch đã nêu ở trên sau khi người ta đã rút các cọc trấn yểm lên.

3. Hậu quả của việc rút bùa trấn yểm lên sẽ như thế nào đối với khu vực dọc theo sông Tô Lịch nói riêng và cả khu vực Hà Nội, các vùng phụ cận nói chung. Hậu quả sẽ như thế nào đối với Long mạch đi qua thành Đại la ?

4. Biện pháp khắc phục sự việc trên như thế nào ? Người ta có thể hàn lại Long mạch như Thượng Tọa Thích Viên Thành đã thực hiện hay không ? Trường hợp khôi phục lại Bùa chấn yểm đó xấu hay tốt ?.

Người viết bài này xin mạo muội lý giải các câu hỏi trên. Vì trách nhiệm một người Việt nam đối với quê hương rất mong được cùng các bạn trao đổi, hầu tìm ra những giải pháp khắc phục hiện tượng kể trên. Đó là trách nhiệm chung của chúng ta không chỉ phải của riêng ai.

Người viết xin được lần lượt lý giải các vấn đề trên như sau :

1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn xảy ra cho các Công nhân trong đội xây dựng số 12

– Bản chất của hiện tượng đó như thế nào ?.

Trong thuật Phong Thủy, Khí là một hiện tượng rất khó giải thích, nhưng nó là một khái niệm cơ bản của thuật Phong Thủy. Nhận định đúng về Khí là chìa khóa mở vào lý thuyết cốt yếu của Phong Thủy. Theo quan niệm Á đông, Khí ẩn tàng làm động lực cho Trời đất vạn vật. Khí không những hội tụ trong các vật thể hữu hình mà còn tản mát vô hình sau khi vật thể tan rã để tạo thành những thể rất Linh thiêng gọi là Linh Khí của Vũ trụ.

Người xưa có câu : Tụ là hình tán là Khí. Ngày nay Khoa học phát hiện được một vài dạng của Khí, gọi là Plasma sinh học, các dạng đó có thể đo, đếm được. Trong Đông Y học người ta phát hiện Hệ thống Kinh, Mạch, Huyệt là đường vận hành của Khí từ rất xa xưa. Người ta phát hiện rằng : Khí vận hành trong Kinh, Lạc như một dòng nước, chỗ đi ra gọi là Tĩnh, trôi trảy gọi là Huỳnh, dồn lại gọi là Du, đi qua gọi là Kinh, nhập lại gọi là Hợp. Đường Kinh không đơn giản là một ống dẫn vật chất nào đó. Đường Kinh là một chùm ống dẫn Khí Ngũ hành xuyên suốt các cơ quan, bộ phận của một Tạc tượng. Ngoài ra người xưa còn biết rất sâu về bản chất của Khí, có một lý thuyết về Thời châm vô cùng chính xác là Tí Ngọ lưu trú và Linh Quy bát pháp.

Đó là trên cơ thể con người, còn trong Phong Thủy, người ta quan niệm rằng Nguyên Khí trong lòng đất, tương tự như hệ thống mạch, huyệt trong Đông Y. Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước, nước giúp Khí di chuyển, nước đi thì Nguyên Khí cũng đi, nước ngừng thì Nguyên khí cũng ngừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất là nơi giao hội của nước (nơi các dòng sông hội tụ chẳng hạn). Người viết chỉ nêu ra một số quan niệm về Khí, dùng cho việc chứng minh luận điểm của mình, còn Lý thuyết về Khí thì vô cùng, vô tận. Mặt khác, có thể tìm hiểu cơ chế của mối quan hệ giữa hài cốt người chết đối với người thân thích còn sống như thế nào ?.

Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương : Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và thân xác người còn sống, nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều, nên trong lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.

Trở lại câu chuyện trên dòng sông Tô Lịch : Người viết cho rằng : Long mạch đã nói ở phần trên bị Cao Biền trấn yểm đúng Huyệt vị, đã bị ngăn chặn lại tại nơi có đạo bùa trấn yểm. Hậu quả của đạo bùa này làm cho Nguyên Khí không thể tiếp tục đi theo hành trình vốn có của nó, làm cho vùng đất dọc theo Long mạch sau khi bị trấn yểm trở nên cứng hơn, ổn định hơn. Bằng chứng là về sau này ta không còn nghe được sự việc sụt lở đất tương tự như thế nữa. Ta có thể hình dung hơi thô thiển là Long Mạch giống như một mạch máu, bị cột lại một đầu, không cho dẫn máu tới các vùng sau đó được nữa. Các bộ phận cơ thể đằng sau chỗ bị cột vì không có máu nuôi nên dần dần bị khô, teo đi. Ta cũng để ý một điều rằng : Thành phố Hà Nội ngày nay có rất nhiều hồ nước con đang tồn tại như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Bảy mẫu, hồ Ha Le…

Mặt khác sông Tô Lịch và Thiên Phù dần dần bị hẹp đi và giờ đây chỉ còn là con mương nhỏ dẩn nước thải cho Hà Nội. Ở đây có một câu hỏi thú vị là :

– Nếu như Cao Biền (vốn được coi là tổ sư của Phong Thủy) đã quyết tâm trấn yểm tiêu diệt dòng sông Tô Lịch thì sao cho đến tận bây giờ sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại (mặc dù chỉ là con mương nhỏ). Theo người viết, nếu Cao Biền trấn yểm đúng thì ngày nay ta chỉ còn nghe đến tên của nó qua lịch sử.

Đến đây người viết khẳng định : Cao Biền có sự sai lầm trong việc trấn yểm. Nguyên nhân sự sai lầm của Cao Biền chính là sự hiểu biết vô cùng chính xác của các vị Vua Hùng – Tổ tiên của người Việt chúng ta trong thuật Phong Thủy nói riêng và trong Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành nói chung. Vì tiên đoán được các sự việc sẽ xẩy ra, sau khi mất nước, các Vua Hùng đã cố ý làm sai lạc một phần của Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Người viết xin chứng minh vấn đề này ở phần sau.

Bây giờ ta đi vào trả lời câu hỏi nguyên nhân của sự việc xẩy ra cho công nhân đội xây dựng số 12. Theo người viết như sau :

– Tại chỗ có đạo bùa, Nguyên Khí bị bế lại lâu năm, khi tháo gỡ đạo bùa, giống như tháo bỏ chỗ bị cột trong mạch máu, Nguyên khí bị thoát ra ngoài tại vị trí chấn yểm và lan tỏa ra xung quanh. Ta chưa xét đến sự tốt xấu của dòng Khí đó với cơ thể con người. Chỉ biết một điều rằng : Chính dòng Khí đó làm mất cân bằng cục bộ môi trường xung quanh chỗ đường Khí được giải phóng. Chính vì vậy những người Công nhân đang làm việc tại khu vực đó bị các hiện tượng kỳ lạ đã nêu ở phần đầu. Khi cơ thể con người bị mất cân bằng về Khí dẫn đến hiện tượng mất khả năng hoạt động Thần kinh.

Như vậy cũng chẳng có gì khó hiểu khi các công nhân đội xây dựng só 12 gặp phải. Ngoài ra do ảnh hưởng của Quy luật “Đồng thanh tương ứng – Đồng Khí tương cầu”, hay là hiện tượng cộng hưởng Harmonic mà Thân nhân, dòng họ của những người công nhân đội xây dựng số 12 phạm phải, mặc dù họ không trực tiếp có mặt trên công trường. Đó là hiện tượng cũng dễ hiểu.
Có điều nguy cơ tiềm ẩn ở đây là : Nơi dòng Khí thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với Hà Nội ?. Đây là một vấn đề quan trong cần có sự nghiên cứu nghiêm túc.

2. Trả lời cho câu hỏi : Tại sao sau khi có sự trấn yểm của Cao biền,vùng đất dọc theo Long mạch kể từ chỗ bị trấn yểm trở nên cứng và ổn định hơn và từ đó về sau này ta không còn nghe có các vụ sụt lở đất ở khu vực dọc theo Long mạch tương tự nữa, ngoại trừ trường hợp đã xẩy ra trên sông Tô Lịch, khi đạo Bùa trấn yểm đã được nhổ lên ?.

Tiếp tục phát triển tính nhất quán của phần trên : Khi đường Khí của Long mạch đã bị bế lại, nguyên Khí không thể tới được các vùng đất ở sau chỗ trấn yểm được nữa, và Nguyên Khí luôn có nước đi cùng nên lượng nước tới các vùng đó cũng bị giảm đi. Kết quả là vùng đất sau chỗ bị trấn yểm cứng lên, và kết cấu của Địa tầng, địa chất cũng trở nên ổn định hơn. Khi một vùng đất đã có địa tầng địa, chất ổn định thì tất yếu dẫn đến các vụ sụt lở đất khi xây dựng các công trình tự nhiên mất đi. Đó là một sự việc không có gì là bí ẩn trong nghệ thuật xây dựng hiện nay.

Tại công trình nạo vét sông Tô Lịch, khi đạo bùa chấn yểm bị nhổ lên, lập tức Nguyên khí bị phong tỏa ùa thoát ra ngoài với một tốc độ và lưu lượng vô cùng lớn, làm cho đất, đá của cả khu vực nhão ra như bùn, trở nên mất ổn định cục bộ. Ở đây ta cũng cần lưu ý rằng : Khi Nguyên khí thâm nhập vào lòng đất quá nhiều thì không chỉ đất, cát mà thậm chí cả đá hay các vật thể rắn khác đều trở thành bùn nhão, bởi tính chất của Nguyên khí khác với tính chất của nước. Ta cũng để ý rằng nơi nào mà nguyên khí ít ỏi hoặc không có vùng đó sẽ trở nên khô cằn, cây cối không thể phát triển được. Đó là trường hợp của các sa mạc, hoang mạc trên trái đất. Tại núi Ngự bình ở Huế cũng có trường hợp tương tự. Rất nhiều lần người ta tổ chức trồng cây trên núi Ngự bình song đều thất bại.

Như vậy, ta có thể kết luận rằng : Trong quá trình xây dựng Thành Đại la, Cao Biền gặp một vùng đất có kết cấu không ổn định nên đã thực hiên việc trấn yểm kể trên với mục đích làm cho đất cứng và ổn định hơn trước. Biện pháp thực hiện là dùng thủ pháp điểm huyệt đất tương tự như thủ thuật châm cứu, điểm huyệt trong đông Y. Ở đây còn có ý nghĩa sâu xa là trấn yểm các Long mạch, các huyệt phát Đế Vương của đất Việt. Tuy nhiên vì có sự sai lầm về độ số hướng Tây nên sự trấn yểm không được trọn vẹn.

(Còn tiếp 1 bài)