BÙA NGẢI & TƯỚNG MỆNH

TÍNH CHẤT PHỤ NỮ

QUA CÁCH NGỒI

– Qua nghiên cứu, các chuyên gia đã khẳng định, kiểu ngồi cũng phần nào tố cáo tính cách và đặc điểm của chị em trong “chuyện ấy”.

Ngồi bắt chéo chân (H1)

Tính cách: Những phụ nữ ngồi kiểu này thường là mẫu người tự tin, cho mình là trung tâm vũ trụ, không chịu sự sắp đặt của người khác, cá tính mạnh và luôn đòi hỏi nữ quyền. Họ đối xử với mọi người rất chân thành nên làm bạn với họ không phải chuyện khó khăn, song nếu muốn thật sự có được họ thì lại là chuyện không đơn giản.

Trong “chuyện ấy”: Bình thường họ rất chú ý đến tư thế ngồi của mình nên có thể liệt vào mẫu phụ nữ cẩn trọng trong lời nói và hành động, nhưng trong chuyện chăn gối họ lại là người có suy nghĩ rất thoáng và không mấy cầu kì.

Với cá tính mạnh, mẫu phụ nữ này khá chủ động trong chuyện “yêu”. Họ cũng không ngần ngại thực hiện những tư thế thoải mái.

Hai chân khép song song (H2)

Tính cách: Đây vốn là một kiểu ngồi khá nho nhã nên những phụ nữ sở hữu kiểu ngồi này cũng rất nữ tính, vô cùng coi trọng hình thức. Nếu bạn không phải mẫu đàn ông tài giỏi và kiên nhẫn thì đừng mơ chiếm được trái tim họ.

Trong “chuyện ấy”: Bản tính nho nhã nên họ không thích những kiểu quan hệ quá quyết liệt. Khi bạn muốn thử cảm giác mới mẻ, họ thường sẽ khéo léo từ chối. Trong “chuyện yêu” họ luôn tìm kiếm sự hoàn mĩ nên chất lượng quan trọng hơn nhiều so với số lượng.

Ngồi hai chân mở rộng (H3)

Tính cách: Dễ nhận thấy đây là tuýp phụ nữ thoải mái, phóng khoáng. Họ độc lập trong suy nghĩ và rất quyết đoán. Mới đầu bạn sẽ thấy họ rất dễ kết thân và có cảm giác như chơi với một người anh em, nhưng dần dần bạn sẽ bị sự hấp dẫn của họ cuốn hút đến nỗi không thể thoát ra được. Họ không phải mẫu phụ nữ theo bạn vì tiền mà vì họ bị chính bạn thu hút.

Trong “chuyện ấy”: Sự chủ động của họ nhất định không làm bạn thất vọng. Khi “lâm trận”, họ có rất nhiều yêu cầu, tuy không nói ra nhưng bạn cần tự hiểu và điều chỉnh cho thích hợp. Đừng cứ “nhảy mãi một điệu” mà cần thiên biến vạn hoá thì nàng mới tâm phục khẩu phục.

Cẳng chân xếp hình chữ V (H4)

Tính cách: Đây là dáng ngồi của những cô nàng ngây thơ và đáng yêu. Đàn ông rất dễ bị vẻ đáng yêu của họ thu hút, nhưng chính sự bị động của họ lại khiến các chàng chùn bước.

Khi quan hệ đã tiến triển, bạn đừng vội vàng đòi hỏi, vì họ không phải người dễ dàng dâng hiến. Tuy vậy nàng chính là một mẫu lí tưởng để bạn cưới làm vợ.

Trong “chuyện ấy”: Họ sẽ đóng vai một phụ nữ truyền thống nên rất hợp với tuýp đàn ông gia trưởng. Còn nếu bạn là người ưa sáng tạo thì cần chỉ dẫn cho nàng dần dần, đốt cháy giai đoạn chỉ xôi hỏng bỏng không.

Yên Huỳnh

CHUYỆN BÙA “YÊU”… NGẢI “NHỚ”

Lần nào đi vùng cao nguyên cũng vậy, chúng tôi đều được nghe kể về thứ bùa kỳ bí được truyền từ nhiều đời nay. Người thì cho là bùa là phép thuật cao siêu, người thì cho đó là những thông tin huyền hoặc, nhảm nhí.

Người thợ mộc và sự đồn thổi bị bỏ bùa mê…

Cho đến bây giờ, những người dân ở xã Tuấn Đạo – Sơn Động – Bắc Giang vẫn đinh ninh cho rằng, anh Tuyến nhà làm thợ mộc ở cuối xóm đã bị chính người vợ của anh bỏ bùa mê khiến anh không tài nào mà dứt đi nổi. Đi đâu, làm gì anh đều phải hỏi ý kiến vợ của mình. Mọi thứ vợ anh đều quyết định, anh về quê hay đi làm, vợ hẹn “hai ngày là đúng hai ngày”, “ba ngày là đúng ba ngày”… Mặc dù công việc chưa xong, anh muốn làm thêm, hay nán lại ở chơi cũng không thể được. Bản thân cũng chưa muốn trở về nhà nhưng không hiểu sao, lúc ấy, trong lòng anh nóng như lửa đốt, đứng ngồi không yên, cho dù mưa gió bão bùng, anh cũng phải mau chóng trở về nhà nhìn thấy mặt vợ con.

Chuyện chẳng có gì, nếu như anh Tuyến là người dân vùng ở đây. Anh Tuyến là dân dưới xuôi lên đây làm mộc, đẹp trai, khoẻ mạnh, lại có tài ăn nói hoạt bát. Trong một lần được thuê về để đóng chiếc hòm cáng đựng thóc tại nhà vợ anh bây giờ, anh Tuyến không sao bước chân ra được khỏi đó.

Ai cũng bảo, anh Tuyến bị vợ chài. Gia đình nhà vợ đã nhờ thầy bốc bùa cao tay người Mán sơn đầu ở chân núi Yên Tử làm bùa để chài khiến anh không làm sao dứt bỏ được, cho dù đó chỉ là trong… ý nghĩ. Đến giờ, anh Tuyến cũng chẳng thể lý giải được làm sao mình lại yêu, lại mê muội vợ đến thế.

Suy nghĩ là vậy, nhưng cũng chỉ xa vợ được hai hôm, đến ngày thứ ba… là anh đã thấy nhớ, thấy thương, người ngợm bứt rứt, sống không thể nào thiếu hình bóng cô ta được. Thế là, anh lại khăn gói quả mướp, bắt xe lên miền ngược để chung sống với người vợ của mình.

Đã nhiều lần, nghe những người dân xung quanh mách nước chỉ đường cho anh cách để giải bùa mê, thuốc lú cho đầu óc khỏi bị mê muội. Thôi thì đủ cách, đủ trò, cho dù ai đó bảo sao anh làm vậy. Nhiều người còn bảo anh, phải cạo mùn ở “tấm ván thôi chôn người chết” để uống, anh cũng đã làm mà không sao dứt bỏ được. Anh cũng đã nhiều lần, gặng hỏi người vợ của mình, nhưng lần nào chị vợ cũng đều gạt đi và cười một cách khó hiểu.

Nhiều lần anh cũng đã tìm vào tận chân núi Yên Tử kia, để tìm người thầy làm bùa ngày trước để xin giải thoát cho mình, theo anh được biết, chỉ có người làm bùa kia mới nắm được bí mật giúp anh thoát. Nhưng thật không may cho anh, ông thầy làm bùa kia đã chuyển nhà đi nơi khác, hiện mai danh ẩn tích ở đâu, còn sống hay đã chết, mọi người xung quanh đều không hề biết.

Cho đến bây giờ, anh Tuyến vẫn cứ yêu thương vợ mình một cách vụng dại và khó lý giải, điều này, chính anh cũng không giải thích nổi…

Bùa yêu không chỉ để yêu…

Hàng ngày, nếu ai đã đi qua con đường Lê Thánh Tông, thành phố Hoà Bình thì đều biết chàng trai suốt ngày lang thang tha thẩn dọc con phố, thỉnh thoảng lại mỉm cười rất duyên và đưa ánh mắt đầy tình tứ mỗi khi thấy bóng hồng đi qua.

Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê của một người tâm thần, người đàn ông luôn miệng nói : Anh yêu em… Người con trai ấy tên Đinh Văn Cường.

Theo những người dân quanh đây thì anh Cường quê ở xã Đồng Nghê, Hà Bắc, trước đây Cường rất đẹp trai được nhiều người yêu mến rồi, không biết trong số các cô gái thích Cường đó, có người đã không được đáp lại tình yêu đã bỏ bùa yêu khiến anh Cường phải ra nông nỗi này.

Những chuyện đan xen, khiến những người chứng kiến thì cho là bùa chú là phép thuật cao siêu, người nghe thì cho là những thông tin huyễn hoặc, nhảm nhí…

Bây giờ, thi thoảng bắt gặp những cô gái xinh đẹp, anh Cường lại nói như hét lên : “Anh không yêu em, tại sao lại hại anh !”. Nói xong, trên khuôn mặt rất hiền đó lại hiện rõ vẻ lo lắng sợ sệt đến ngây dại. Nhiều hôm, anh chàng dở điên dở dại ấy lại tỏ ra rất sợ các cô gái, hễ thấy họ là anh tránh xa, lấy tay che mặt hoặc đứng núp vào một chỗ nào đó, chờ họ đi qua, Cường mới dám lộ mặt…

Chúng tôi tìm về Đồng Nghê, trong ngôi nhà của Cường, gặp chị Đinh Thị Yên, chị gái của Cường. Không giấu được vẻ buồn rầu, chị Yên cho biết, hơn 10 năm trước, Cường là một thanh niên khoẻ mạnh, đẹp trai làm nghề buôn luồng (một loại cây cùng họ Tre).

Công việc của Cường là lên các huyện miền núi mua luồng, rồi xuôi sông về bán. Trong những nơi Cường qua, có nhiều cô gái thích chàng trai mua luồng nhưng do mải làm ăn, cậu ta vẫn chưa chính thức ngỏ lời với ai hết.

Năm 2000, sau một chuyến buôn luồng dài ngày trở về, thì Cường tự nhiên lầm lì, ít nói, tính khí thất thường. Ai hỏi gì cũng chỉ cười ngây ngô một cách khó hiểu, gia đình dỗ dành mãi thì Cường chỉ ậm ừ, do không yêu nên bị người ta bỏ “bùa mê thuốc lú” làm hại.

Từ đó, bệnh tình của Cường ngày càng nặng, suốt ngày lảm nhảm, anh yêu em và đến cuối năm 2001 thì bỏ nhà đi. Rồi chị Yên nói : “Tôi tin chắc là nó đã bị bỏ bùa. Trước đây nó hiền lành và làm ăn chăm chỉ lắm. Gia đình tìm đủ mọi cách để giải bùa những chưa có thầy nào cao tay giải nó được”.

Trong lúc lang thang ở xã Đồng Nghê, chúng tôi còn được nghe một câu chuyện về một bác sĩ trẻ về thực tập tại huyện này. Trong thời gian thực tập, anh đã đem lòng yêu một cô sơn nữ vốn là bệnh nhân của mình. Trước lời ngọt ngào có cánh của chàng trai, cô gái người dân tộc ấy đã yêu say đắm và dâng hiến cái “quý giá” nhất của mình. Nhưng rồi thời gian thực tập của chàng đã hết, chàng bác sỹ trẻ kia, lộ mặt ngay là một gã hợ “sở”, định cao chạy xa bay, bỏ mặc cái thai đang dần lớn lên trong bụng cô gái.

Nhưng, thật không may cho chàng trai, lúc yêu nhau, cô gái vô tình có được mấy sợi tóc của chàng trai. Bố cô vốn là thầy bùa nổi tiếng, đã dùng mấy sợi tóc kia để chế bùa, khiến cho chàng bác sĩ kia nửa điên nửa dại. Một thời gian sau, không biết ai mách bảo, gia đình nhà chàng trai kia phải mang lễ lạt đến cầu xin tha thứ mãi, bố cô gái vì “thương con quý cháu” mới tìm cách giải bùa.

Những câu chuyện thực thực hư hư ấy đã khiến bao nhiêu người tin để làm rõ việc này chúng tôi luôn tâm niêm phải gặp thầy để xin bùa. Đúng như mong ước, trong một lần đi công tác tại xứ Mường, chúng tôi đã được diện kiến một thầy bùa…

Bùa yêu bắt phải yêu khi không có tình yêu, bắt căm ghét khi đang là kẻ si tình, chia cắt những cặp tình nhân cuồng say, tạo nên những cuộc tình tay ba tay tư đầy rắc rối, hận thù… Tất cả những tình huống đó đều nằm trong “tầm tay” của những tấm bùa yêu như lâu nay dân tình nhiều nơi vẫn truyền nhau câu chuyện li kỳ hư hư thực thực xung quanh nó. Song thật giả thế nào thì chưa mấy ai dám quả quyết…

“Bảo bối” giữ tình yêu

Người chúng tôi cần tìm là một cụ già người dân tộc Mường vừa bước qua tuổi thất thập đang sinh sống tại khu 19 Mai Thịnh, xã Địch Quả (Thanh Sơn – Phú Thọ). Qua thông tin của một số người quen và dân bản xứ, được biết, ông Hà Văn Bày hiện là một trong số ít những người có thể thả bùa yêu hoặc cắt tiền duyên rất uy tín.

Tuy nhiên, để tiếp xúc được một “nghệ nhân tình cảm” nhằm tìm hiểu những thông tin tối thiểu về lĩnh vực mang đầy tính thần thoại, mê tín này là chuyện không hề dễ. Chúng tôi đã phải đóng vai người bạn đi giúp một nữ đồng nghiệp trong cơ quan tìm người có thể khiến cho anh chồng của cô rời xa ả nhân tình mà quChuyện Bùa ay về với vợ con. Và người cần tìm đích thị là thầy bùa Hà Văn Bày.

Vượt qua thị trấn Thanh Sơn (hay còn gọi là Phố Vàng) chừng 10 cây số là đến địa phận xã Địch Quả. Mặc dù đã biết tên người và nơi cần tìm nhưng việc hỏi địa chỉ chính xác lại không phải chuyện dễ.

Hỏi mười người thì có đến một nửa lắc đầu không biết, số còn lại thì nhìn chúng tôi chằm chặp một cách khó hiểu rồi hỏi lại mục đích của chúng tôi.

Tìm mãi rồi cũng đến được một căn nhà vách đất lợp mái cỏ tranh đã mục nát mái. Ông chủ nhà vừa phe phẩy chiếc quạt lá cọ vừa móm mém nhai ra đón chúng tôi. “Vâng, tôi Bày đây. Các anh đến chơi hay có việc gì không?”.

Đợi cụ chủ nhà đưa cái ống điếu thuốc lào lên cao rít sòng sọc, thả làn khói bạc dày đặc lên mái nhà chúng tôi mới trình bày cho ông nghe câu chuyện bi đát của cô đồng nghiệp ảo.

“Suốt ba năm nay rồi bác ạ, cô bạn cùng cơ quan tôi đã biết chồng ngoại tình nhưng nhẫn nhịn mong giải thích cho chồng hiểu mà về. Không những anh chồng không nghe mà còn say sưa, mê mệt hơn đến mức khuân dần hết hết đồ đạc, tài sản, tiền nong đi cho tình nhân. Mấy tháng nay thì chẳng còn nhịn được nữa và cũng chẳng hiểu ai mách nước cho cô ấy là đi xin bùa cắt duyên, còn biết rõ tên và địa chỉ của bác. Nấn ná mãi lại sợ cô ấy nghĩ quẩn nên chúng tôi quyết tâm tìm đến bác xem bác có giúp được không…”.

Nghe chuyện xong, ông Bày dáo trước : “Nếu đúng chuyện như thế thì tôi giúp được chứ bảo làm cho người ta bỏ vợ bỏ chồng mà theo mình thì thất nhân thất đức lắm. Vậy khoảng cách nơi ở giữa chồng, vợ và người phụ nữ kia là bao nhiêu ?”.

Ông không quên nhắc nhở : “Phải nói chính xác thì bùa mới hiệu nghiệm kẻo lại mất công lần sau lên đây làm lại. Tôi làm xong các anh đưa bao nhiêu tiền thì đưa, đấy là lòng hảo tâm đối với thánh thần, tổ tiên, còn khi việc đã thành thì bắt buộc các anh phải quay lại làm lễ tạ”.

Ngẫm nghĩ một lát ông Bày lại tiếp như còn e ngại điều gì : “Các anh phải nói thật tôi mới giúp được. Chuyện của ba người nhưng tôi phải làm 4 hình nhân, một cái dành cho anh vì anh đã tham gia giúp đỡ họ. Nhưng yên tâm, anh sẽ chẳng liên quan gì đến chuyện tình cảm của họ đâu, chỉ có anh chồng thì có thể sẽ chủ động kết thân và rất quý anh”.

Nói xong, ông Bày bắt đầu lật ngược 4 cái chén sứ đặt sẵn trên ban thờ rồi rót vào mỗi cái một ít nước sôi để nguội. Ông thắp ba cây nhang cắm lên ba bát nhang rồi chắp tay khấn. Rít thêm một hơi thuốc lào, ông cầm cây quạt cọ phe phẩy cho đỡ ngột ngạt, nóng nực rồi đứng dậy tiếp tục công việc.

Lấy hai sợi chỉ đỏ và một sợi chỉ đen trong chiếc hộp gỗ đặt sẵn trên bàn thờ ra, cẩn thẩn xếp chúng vào miếng giấy bạc thuốc lá và gói lại rất kỹ càng. Đợi cháy hết tuần nhang, ông đưa cho chúng tôi gói giấy bạc và dặn : “Trong này có ba sợi chỉ, hai đỏ và một đen. Anh đem nó về bảo chị bạn giữ một sợi đỏ và tìm cách đặt sợi chỉ đen vào túi áo, túi quần hay bất cứ cái gì anh chồng mang theo người, sợi chỉ đỏ còn lại thì anh phải giữ lấy. Sau từ 7 ngày đến 13 ngày mà chưa thấy anh chồng có chuyển biến gì thì tốt nhất là cố gắng đưa chị vợ lên đây, đem theo được cái áo lót của anh chồng thì càng tốt để tôi làm lại”.

Sự thật về những lá bùa yêu

Người mê tín thì bảo bùa yêu có thật, vì thầy bùa chỉ cần tìm cách khiến cho người ta bén hơi nhau hay kỵ hơi nhau là được. Người không mê tín thì lại xuê xoa, “ôi dào, có bùa yêu thì còn lấy đâu ra những kẻ thất tình mà thẩn thơ nữa”. Nhưng theo như thầy bùa Hà Văn Bày thì việc làm cho con người ta yêu ghét là chuyện không khó, chỉ có điều chuyện yểm bùa cũng phải có luật lệ, đạo đức của nó.

Tôi hỏi vui : “Vậy tôi muốn người tôi đã đeo đuổi đơn phương suốt từ khi còn ngồi trên ghế trường Đại học theo mình có được chăng? Cô ấy cũng chưa chồng?”. Ông Bày cười: “Đấy là chuyện thường. Chúng tôi chỉ không làm cho vợ chồng, con cái bỏ nhau, chỉ không làm cho người này ghét người kia trong khi họ…vốn yêu nhau mà thôi”.

Ông Bày kể thêm : “Cách đây gần một tháng có hai người đàn ông đi ô tô từ tận Yên Bái xuống tìm tôi. Nói chuyện lâu lâu, một người rút ra xấp tiền dày, chắc phải đến mấy triệu bảo, “tôi đang rất yêu một người nhưng người ta lại đang có chồng, nếu bác làm cho họ bỏ nhau mà theo tôi được thì bác muốn bao nhiêu tôi biếu bác chừng ấy”. Tôi bảo, những chuyện như thế thì tôi không làm vì nó thất đức lắm….”.

Nói là nói thế thôi vì chính thầy Bày cũng đã kể mấy câu chuyện mang đầy tính “liêu trai chí dị”. Ông kể là chỉ có người Mường là làm được bùa yêu nhưng bùa là nhẹ, nếu hai người thiếu nhau khoảng nửa tháng là phải đi tìm nhau, giống như soi gương mà chẳng thấy bóng mình.

Thế nhưng, người Mán còn làm được ngải, một thứ bùa còn nặng nề hơn, man rợ hơn nhiều. Ông kể, trước đây ông đã từng sống với người Mán, họ có thể làm ngải yêu trong bất cứ trường hợp nào.

Nếu đã bị bỏ ngải mà vắng nhau hai tuần thì phải tìm bằng được nhau, nếu không sẽ ốm quặt ốm quẹo, thậm chí thiếu lâu còn dẫn đến cái chết. Đã có rất nhiều người bị bỏ bùa ngải, khi chồng hoặc vợ không may mất đi mà chưa kịp nhờ thầy giải giúp thì họ cứ ra ôm mộ mà khóc, một tuần sau cũng sẽ theo về thiên cổ.

Nét mặt thầy Bày chợt chùng xuống : “Khi tôi cùng một đồng đội khác đi thanh niên xung phong về rồi ở lại Văn Chấn (Yên Bái) sinh sống. Bỗng bốn tháng sau anh bạn tôi say mê như điếu đổ một bà Mán bản bên. Họ quấn quýt nhau suốt ngày đêm. Chẳng may một hôm làm rẫy, bà vợ bị lũ cuốn trôi mất xác.

Đau khổ quá, ông ấy không nói năng gì rồi ba ngày sau thì tìm lên rẫy. Kể từ đó không ai nhìn thấy ông ấy đâu cả. Tôi biết ông ấy bị bỏ ngải nhưng vì vợ chết đột ngột không kịp giải nên ông ấy cũng tìm cách đi theo. Người mà mất bóng mình thì rõ là ma còn gì. Tôi đã có một người vợ nên sau chuyện ấy mà tôi phải đưa vợ tìm xuống Thanh Sơn sinh sống”.

Các thầy bùa bảo làm bùa là giúp đỡ nhân tình thế thái, song theo quan sát của chúng tôi thì nguồn thu từ chuyện bùa ngải cũng chẳng đến nỗi nào. Để được ba sợi chỉ bùa chúng tôi đã phải đặt trước lên ban thờ nhà thầy 100.000 đồng. Nói là tuỳ theo cái tâm thì quả thật vô cùng lắm.

Đó là chúng tôi lấy bùa mà không cần dùng đến tác dụng của nó (nếu có) chứ nhiều người đang gặp phải tình cảnh khó khăn, bế tắc trong yêu đương đến nỗi phải tìm đến bùa ngải thì chắc chắn “cái tâm” không thể là vài chục nghìn đồng. Đặt trước rồi, khi bùa có hiệu quả thì người ta còn phải mang lễ về tạ thánh thần, tổ tiên kèm theo những món tiền không nhỏ.

Mấy bà con đang làm vườn ở đầu làng cho biết, cứ vài ba ngày lại thấy có người đến tìm thầy nhờ làm bùa, giải bùa. Người gặp phải cảnh nhân duyên trắc trở thì nhiều, có người đến thầy một lần rồi thôi, hiệu quả thế nào không ai rõ, cũng có người phải đi lại vài ba lần mới xong.

Tính ra như thế, mỗi tháng thầy cũng kiếm được một khoản tiền không nhỏ so với mức sống của một vùng quê miền núi. Gần đây còn có mấy người khác làm bùa được, ví dụ như ông Thiết Sách ở Mai Thịnh, ông Nhung Ánh ở phía xã Minh Đài chẳng hạn. Còn ông Nống Nhờ thì thấy người ta bảo giỏi lắm nhưng giờ già rồi, không làm được nữa.

Hình như nếu muốn làm bùa được thì phải chưa rụng hết răng, khi làm bùa lại phải nói lưỡi không chạm răng nhưng không hiểu thật giả thế nào. Có nhiều người “mua” bùa về chưa kịp yểm thì đã thấy tác dụng, có người yểm xong thì tác dụng thành ra ngược lại, cũng có người đạt kết quả được đúng như thầy phán (hoặc do một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó), có người muốn giải bùa nhưng thầy cũ đã mất thì phải tìm được thầy “cao tay” hơn…

Cô Ba

“BÙA YÊU” CHỐN THỊ THÀNH

Bùa yêu của Ai-Cập mấy ngàn năm trước rất dễ làm. Từng biết qua nên rất cẩn-thận khi người đẹp mời tách cà-phê ngát hương tại nhà nàng. Đàn bà, con gái chỉ cần thấm máu hàng tháng của mình vào một tờ giấy quyến và đem nó đi phơi khô. Tờ giấy thấm thứ máu đó khi khô thì trở thành đen. Nếu người đẹp muốn bắt sống chàng nào mà nàng vừa ý thì nàng xé vụng tờ giấy quyến và cho cà-phê hột rang vào cối xây. Nàng chỉ cần cho chàng uống thứ cà-phê đặc-biệt đó thì chàng luôn “nhung-nhớ”* dài dài; “dấu yêu”* không bao giờ phai nhạt.

Nói vậy chứ tuy có biết cách làm bùa yêu này nhưng chưa làm thì không biết nó có hiệu-nghiệm hay không vì phải tốn khá nhiều thời-gian để luyện nó. Và đây là cách thứ hai :

Bắt một con cóc (un crapaud/a toad), mổ bụng nó và lấy bộ đồ lòng ra. Lấy tóc và móng tay của người mình yêu (yêu một chiều vì nàng/chàng còn hững-hờ); lấy một mảnh giấy nhỏ ghi họ tên nàng/chàng và ngày tháng năm sinh của nàng/chàng (sa date de naissance/her /his date of birth). Xong lấy chỉ may bụng con cóc lại và chôn ở vườn nhà nàng/chàng.

Mỗi ngày thường thầm gọi tên nàng/chàng và nghĩ tới nàng/chàng càng nhiều càng tốt trong 100 ngày. Nếu sau 100 ngày mà nàng/chàng chịu cho mình gặp mặt và liếc mắt đưa tình thì bùa đã bắt đầu có hiệu-nghiệm. Ai có thử mấy cách làm trên mà đạt hiệu-quả thì cho biết với.

KÍNH TỬ

MA ÁM VÌ MỞ LUÂN XA

NHỮNG HIỆN TƯỢNG

BMA ÁM

VÌ MỞ LUÂN XA 6 – 7

Tôi viết bài này với mục đích trình bày một sự thật đau lòng đã và đang xảy đến cho gia đình tôi và mong bạn đọc nếu có thể được thì phổ biến tin tức này cho người thân quen dùm để tránh những đau thương tuơng tự có thể xảy đến cho người khác.

Tôi chỉ là một nguời băn khoăn với sự an nguy của hai đứa em gái thân yêu trong gia đình hiện đang phải đối phó với những kẻ thù ma mãnh, có hồn mà chẳng có thân xác, đang chiếm ngự thân xác của 2 em. Tôi cũng rất quan tâm đến sự an nguy của những người có thể là nạn nhân tương lai của việc học nhân điện khoa tự động mà đánh liều viết bài này với tất cả tâm thành.  Tôi cố gắng trình bày chuyện đã xảy ra trong gia đình, hy vọng bạn đọc qua kinh nghiệm đau thuơng của gia đình tôi mà không bước vào vết xe đổ này nữa. Những chuyện tôi viết sau đây là chuyện thật sự xảy ra, không một lời thêm bớt, theo trí hiểu biết hạn hẹp của tôi.

Vì học “Nhân điện”

Khoảng đầu tháng 4 năm 2007, qua lời giới thiệu của một nguời cháu ruột, hai em gái của tôi (tạm gọi là em A và em B) đã đến thọ giáo với thày Mai viết Nhự, ở Phường Tam Hòa, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Thày Nhự dạy học trò môn Nhân Điện Khoa Tự Động, thày không có tính tiền học phí gì cả.  Thày chỉ dạy học trò trong 6 ngày, chứ không như các môn phái nhân điện khác thuờng phải mất nhiều thời gian hơn, có thể đến 6 tháng. Khi đến học, thày sẽ để tay lên đầu, lên trán để mở luân xa số 7 và số 6 bằng nhân điện của chính thày.  Thày cũng mở những luân xa 5,4, 3, 2 và 1 bằng cách để tay lên vị trí những luân xa này trên sống lưng. (Quý vị có thể tìm hiêu thêm về những luân xa này qua quyển Journey to the East của giáo sư Spalding,Bản dịch rất hay của Nguyên Phong là Hành Trình Về Phuơng Đông, chapter 8 hay 9 nói về Cõi Giới Vô Hình. Thày CE Hằng Truờng cũng có giảng về những luân xa này trong số các băng giảng của Thày mà tôi không nhớ được tên).

Luân xa số 6 và số 7 là cửa ngõ để thể xác của con nguời có thể tiếp xúc được với thế giới tâm linh và cõi giới vô hình mà mình không thấy đuợc. Theo tôi hiểu, đó cũng là cánh cửa bảo vệ những người đang sống trong thế giới này khỏi phải tiếp xúc với những hồn ma bóng quế của thế giới những nguời đã chết.

Trong trường hợp em B của tôi, chỉ 5 phút sau khi thày Nhự dùng nhân điện của thày để mở luân xa cho em, B rùng mình một cái rồi 2 tay B tự động chắp lại, không hề theo sự điều khiển của B, vái lạy tứ phương và B có thể quay nguời dẻo dai như nguời lên đồng, múa lên những động tác mà B, môt người thường bị đau lưng kinh niên, không bao giờ có thể làm đuợc. Bệnh đau lưng, mệt mỏi trong B do đi làm vất vả lại thêm cuộc hành trình xuống nhà thày Nhự từ Saigon trên cái xe không êm ái, trên đoạn đuờng kẹt xe như nêm như cối thốt nhiên biến sạch. Còn em A, thì sau 4 ngày tập luyện, sang đến ngày thứ 5 thì em cũng thấy tự nhiên 2 tay em chắp lại, vái lạy tứ phương rồi đi vào những điệu múa mà dù em đang tỉnh táo 100% vẫn không sao chủ động ngừng lại được.

Cần nhắc lại là em A của tôi đã bị mổ gai cột sống vài tháng trước và 2 tay đang bị hiện tượng như Carpel Tunnel Syndrome và Tennis Elbow, không cử động được 2 bàn tay, 2 cổ tay, đau nhức dần lan tới 2 vai, bác sĩ Tây Y đã đề nghị phải mổ cả 2 tay rồi.

Với nhân điện học được, cả 2 em gái tôi tuy mới đầu cùng cảm thấy lạnh tóc gáy, sởn gai ốc vì việc vái lạy tự động cùng các động tác siêu nhiên mà 2 em không làm chủ được – nhưng vẫn đủ sáng suốt để tự quan sát những động tác quái lạ này, vẫn cảm thấy rất hài lòng với những kết quả y học thần kỳ trên cơ thể của 2 em. Hai em rất vui vẻ, sung sướng nghe lời thày Nhự dạy bảo là khi muốn chữa bệnh cho mình hoặc nguời khác là chỉ cần kêu “6,7 hãy chữa bệnh này đi !” là 6,7 (luân xa 6 và 7) sẽ làm đúng y như vậy. Em A còn hân hoan khoe với tôi qua điện thoại là 6, 7 của em rất giỏi; có 1 hôm em sơ ý bị một hộp thịt đã mở cắt đứt tay rất sâu, máu chảy dầm dề. Em bèn kêu 6, 7 cầm máu lại, là máu ngưng chảy liền; em kể cho tôi nghe rất hăng hái, khuyên tôi nên về Việt Nam để đi học nhân điện ở thày Nhự để chữa bệnh tiểu đuờng vốn đã làm bạn đồng hành với tôi từ lâu năm.

Thú thật với các bạn, tôi nghe những thông tin này mà chỉ cuời thầm là sao 2 em tôi, có ăn học tử tế, là những nguời tốt nghiệp đại học hoặc tuơng đương, rất thành công trong công ăn việc làm với chủ nhân là những công ty nuớc ngoài, lại có thể nói những chuyện không tuởng như thế này.  Nhưng tôi biết cả 2 em tôi là những nguời rất thẳng thắn, không nói trăng nói cuội, không mê tín dị đoan, do đó tôi không bài bác gì cả, chỉ im lặng lắng nghe, và nghĩ thầm, “Muốn chữa bệnh hoạn thì phải thay đổi lối sống của mình, phải ăn đồ ăn tốt, nhiều rau cỏ, bớt thịt đỏ, mỡ màng, tập thể dục đều đặn, đi bác sĩ khám định kỳ chứ sao lại có cái vụ Nhân Điện Khoa Tự Động cứ như chuyện Liêu Trai Chí Dị thế này !”

Bẵng đi đến khoảng cuối tháng 6, năm 2007, em trai tôi ở Saigon bỗng gởi E mail cho cả đại gia đình bên Mỹ rằng em A và em B nay đã phát hiện ra rằng 6,7 của 2 em thực chất ra là 2 hồn ma vất vuởng vốn đã chết từ mấy chục năm nay, qua sự mở luân xa 6,7 của thày Nhự, mà xâm nhập thân thể của 2 em, và đang mở chiến dịch chiếm hữu đầu óc rồi dần dần thân xác của 2 em.  Em B hiện đang rất vất vả đối phó với con ma trong B; còn con ma trong A thì êm ả hơn nhưng dùng chiến dịch nói ngọt như mía lùi để chiếm hữu lòng tin của em A.

Đọc thơ em trai mà tôi ngỡ như trong mơ.  Ông xã và tôi lập tức xin nghỉ phép ở sở, và mua vé về VN để xem tình hình thế nào. Trong lúc chờ đợi visa và vé máy bay, tôi vào internet và đọc tất cả các tài liệu hoặc nghe băng giảng của các thày Hằng Truờng về Thân Trung Hữu, thày Nhật Từ về Quyết Nghi về Ngoại Cảm và Cõi Âm; Cận Tử Nghiệp của thày Tâm Thiện, những bài nói chuyện của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sách Hành Trình Về Phương Đông của Nguyên Phong dịch từ cuốn Journey To The East như đã nói ở phần trên. Sau này, về tới Saigon tôi đọc thêm sách Hiệu Ứng Sinh Học của Kỹ Sư Đỗ Thanh Hải (tôi xin lỗi không nhớ rõ tên lót của Kỹ Sư Hải), sách “con Người Thoát Thai Từ Đâu của 1 nhà khoa học Nga tôi không nhớ tên, vv… để tìm hiểu về thế giới của những nguời đã khuất, và hồn ma bóng quế là gì. Theo những gì tôi góp nhặt được từ những nguồn tài liệu vừa nêu, thì con người chúng ta đuợc cấu tạo bởi phần xác (physical body – hay khung cộng huởng sinh học theo chữ dùng của Kỹ Sư Hải) và phần hồn (mind – sóng sinh học theo Kỹ Sư Hải).  Khi chúng ta chết đi, thì chỉ có phần xác tan rã thôi, nhưng phần sóng sinh học vẫn còn hiện diện duới dạng các sóng năng lượng.

Với những nguời khi chết đi với tấm lòng thanh thản, không có gì nuối tiếc lưu luyến với cõi trần vừa tạm sống, các sóng sinh học của nguời mới chết sẽ dễ dàng siêu thoát để đi đầu thai kiếp khác, hay lên cõi thiên Đàng, cõi Trời nào đó. Còn những nguời chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, chết trong đau đớn hay lo sợ, trong tiếc nuối về những công chuyện còn dở dang trên trần thế thì sóng sinh học của họ sẽ không bay cao đuợc mà cứ là là trên mặt đất, thành những hồn ma vất vuởng lang thang, thân xác đã mất mà lòng ham muốn, tham sân si, ngã, mạn vẫn còn đó.  Cho đến khi các sóng sinh học hay vong linh này hiểu ra rằng mình đã chết và tất cả các mong muốn trần tục của mình chỉ là không thì họ sẽ bay cao lên các tầng trên để trở lại đầu thai cho kiếp mới. Thế nhưng cũng có những vong linh dù đã chết hàng trăm năm hay vài chục thế kỷ vẫn không giác ngộ đuợc lý vô thường của cuộc đời, lại muốn tìm đuờng tắt mà đi, bèn tìm cách nhập vào thân xác của những người còn sống đã bị mở luân xa 6, 7 như 2 cô em của tôi, hoặc có vong linh có sóng sinh học cộng huởng với sóng sinh học của nguời còn sống thì sẽ nhập vào thân xác của những người này, và tìm cách chiếm hữu trí não của nguời bị xâm nhập trước rồi từ đó sẽ sai khiến các hành động của nguời này theo ý của vong linh.

Các vong linh này là ma ác, rất khó giác ngộ và người bị xâm nhập sẽ rất vất vả để đánh đuổi quân xâm luợc này ra khỏi cơ thể của họ. Các vong linh có tính khí hệt như tính khí của họ lúc còn sống, dù đã chết cách đây bao nhiêu năm.  Đa số các vong linh thì hiền lành hơn, không hề có ý định xâm nhập cơ thể của bất kỳ ai.  Cũng có những vong linh, nếu có xâm nhập một cơ thể nguời sống nào, thì cũng chỉ ở tạm trong 1 thời gian rất ngắn để nhờ nguời này giúp mình hoàn thành tâm nguyện mà vong linh đã không hoàn thành đuợc khi còn sống rồi vui vẻ ra đi khi tâm nguyện đã thành.

Khi tôi về Saigon, tôi quan sát cả 2 cô em và hiểu rõ ràng rằng mỗi em đã bị một hồn ma xâm nhập. Trong môi truờng làm việc bên Mỹ của tôi, tôi cũng đã có dịp tiếp xúc với một số bệnh nhân có bệnh tâm thần, do đó, đây là điều tôi để ý truớc khi làm việc với 2 em của tôi để xem coi hai em có bị chứng Disassociative Identity Disorder (formerly Multiple Personality Disorder) duờng như dịch sang tiếng Việt là bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng hay sao đó ?  Một trong những criteria của bệnh này theo DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – Fourth Edition) là bệnh nhân không nhớ được những gì mình đã làm khi nhân cách thứ hai chiếm hữu thần trí và cơ thể họ.

Thí dụ chị Jane có 2 nhân cách trong người chị Jane mà thường xuất hiện nhiều lần: một là chị Jane hiền lành, nhút nhát, không thích đi shopping; và nhân cách thứ hai là anh John thì rất ư là kiêu ngạo, thích sắm đồ thể thao.  Khi John xuất hiện trong thể xác của chị Jane, thì John đi Big 5 sắm nào là quần áo bơi, kiếng lặn, ống lặn, vân .. vân ..  Đến khi chị Jane trở lại làm chủ bản thân của chị thì chị cứ ngẩn ngơ ra, không thể hiểu tại sao tự nhiên trong nhà mình lại có mấy cái đồ mua từ Big 5 như vậy. Cá nhân chị Jane thuờng xuyên bị những lúc quên đi, không nhớ nổi những chuyên mình đã làm khi hành động với nhân cách thứ hai của mình (Inability to recall important personal information that is too extensive to be explained by ordinary forgetfulness) .

Truờng hợp của hai em tôi thì khác hẳn, cả hai đều biết rất rõ mình là ai, không hề bị lẫn lộn nhân cách ngay cả khi người âm trong 2 em nói chuyện với hai em bằng tư tưởng. Xin nói rõ hơn là người âm trong hai em tôi không hề lên tiếng nói được trong đầu (no voice), mà họ chỉ gởi tư tuởng chạy trong đầu như kiểu E mail, tôi gọi là E thoughts (electrical thoughts) cho hai em hiểu; con ma trong em B thì rất lắm mồm, nói huyên thuyên suốt ngày toàn chuyện hắn ta và gia đình bị giết như thế nào ở Cambodia trong thời kỳ Khmer Đỏ 1975, và cũng dùng những ngôn ngữ thô tục để sách nhiễu tình dục em B.

Em B rất cương quyết chống đối lại những sách nhiễu này và cương quyết không tham dự vào bất cứ cuộc nói chuyện nào của con ma trong em. Do đó hắn ta rất giận dữ và thường phản ứng lại bằng cách gởi những luồng điện mạnh vào khoảng 1.5 volt để châm chích vào những huyệt đạo trong người em B để tạo những cảm giác nhức nhối như bị kiến cắn trong vòng 1/2 tới 1 giây (second) đồng hồ; sau đó hắn ta cũng hết điện phải recharge lại khoảng vài giờ sau mới có thể tấn công tiếp. Qua thông tin của hắn, em B kể lại cho tôi biết rằng con ma này bị bè lũ PonPot bắn chết hoặc cắt cổ chết (hắn không nhớ rõ đuợc hắn chết như thế nào, vì có lẽ quá kinh hoàng khi bị giết) năm 1975 khi mới 24 tuổi cùng với người vợ khi đó đang có thai 4 tháng. Trong 32 năm qua, hắn đã nhập vào 7 người trong đó em B tôi là nạn nhân thứ 7.

Chúng tôi đã nhờ nhiều sư tăng, ni sư và cả một cha bên Công giáo nói chuyện với hắn bằng bút đàm để khuyên nhủ và hỏi xem chúng tôi có thể làm gì để giúp hắn siêu thoát. Thọat đầu hắn còn đóng vai trò tử tế nào xin lễ cầu siêu ở chùa, rồi lễ rửa tội ở nhà thờ. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu này cho hắn thì cuối cùng hắn tuyên bố là hắn chỉ đòi hỏi thế để câu giờ mà thôi chứ hắn hoàn toàn không có 1 ý định nào để xuất ra khỏi người em B cả. Hiện nay chúng tôi đang nhờ chị K. theo Công giáo ở Houston Texas hàng đêm gọi điện thọai trừ tà qua phone theo lời giới thiệu của 1 vị linh mục khả kính chuyên lo việc trừ tà. Linh mục này tên là T. Cha T sống và làm việc ở 1 nhà thờ VN, nhưng cha hiện đang công tác dài ngày bên Mỹ.  Khi chúng tôi liên lạc được với cha để nhờ giúp đỡ thì cha giới thiệu chị K. sẽ giúp em B hàng đêm qua phone. Thực tình khi nghe cha T nói như thế, tôi rất thất vọng và lẩm bẩm làm sao mà có thể trừ tà qua phone đuợc, nghe cứ như chuyện hoang đuờng. Ấy thế mà lại là sự thực đấy các bạn ạ.  Chị K. đã giúp em B qua phone bằng cầu nguyện, đọc kinh Tân Uớc, xức dầu thánh, uống nuớc thánh và con ma trong B ngày càng yếu dần đi đến độ không thể gởi E thoughts cũng như năng luợng của hắn cũng như số lần châm chích em B ngày càng giảm dần đi. Chị K. tin tuởng rằng  em B sẽ đánh bật kẻ xâm luợc ra khỏi cơ thể em trong 1 thời gian ngắn, hy vọng thơi gian chữa trị không quá 20 ngày. Chị K. cũng cho tôi biết rằng thời gian vừa qua, có một số nữ tu công giáo từ Mỹ về VN, cũng đến học nhân điện với thày Nhự ở Biên Hòa. Khi về tới Mỹ, tất cả các nữ tu này đều có hiện tượng ma nhập, từ chối vào giáo đường, la hét, ói mửa khi đọc kinh hoặc lên cơn động kinh, múa may những động tác supernatural trong nhà thờ.

Cha T, Chị K và một nguời nữa có khả năng trừ tà đã và đang giúp số nữ tu này bình phục trở lại.  Do đó chị K. có rất nhiều kinh nghiệm đối phó với những hồn ma không hiểu vô tình hay cố ý mà thày Nhự đã tạo cơ hội cho những hồn ma này nhập vào các nạn nhân ngây thơ đến nộp mình cho quỷ mà lúc đầu các nạn nhân này tưởng rằng chỉ đi học nhân điện để mong tự trị bịnh cho mình.  Xin Chúa ban phuớc lành cho những người như chị K. Chúng tôi rất cảm kích truớc sự giúp đỡ nhiệt thành của chị K. và cha T.

Về phần em A thì chúng tôi có khó khăn hơn nhiều so với em B.  Lý do là con ma nhập vào em A tự xưng là 1 vong nữ có tên rất đẹp, tôi không tiện nêu lên ở đây. Con ma này nói rằng cô ta sinh năm 1901, là con một của 1 gia đình gốc Việt giàu có bên Cam Bốt. Cô ta là nữ sinh truờng Marie Curie, nói tiếng Pháp rất giỏi. Thuở sinh tiền, cô thuộc loại con gái nhà giàu hư hỏng, dùng tiền cha mẹ ăn chơi nhảy đầm trác táng, cuối cùng chết vì bịnh hen suyễn (hay ho lao ?) năm 1943 trong sự tiếc thương của cha mẹ cô. Cô ta nói chuyện hết sức ngọt ngào, rất nịnh hót em A của tôi, nào là em A tử tế, tốt bụng, nào là các con của em thông minh, học giỏi, ngoan ngoãn, lại hết sức chăm sóc sức khoẻ cho em A mỗi khi trái nắng trở trời.

Khi tôi về Saigon, cô ta cũng dùng bút đàm khen tôi nào là hay là tốt đủ kiểu. Cô ta ngọt ngào dến nỗi em rể của tôi, chồng của A, cũng thấy rằng sự hiện diện của cô trong em A chỉ là điều tốt cho gia đình vì sức khoẻ của A rõ ràng được cải thiện. Rất khó cho tôi để thuyết phục em A là em đang bị con ma nữ này dùng chiến thuật mật ngọt chết ruồi  để dần dần chiếm trọn đầu óc A rồi 1 ngày nào đó các con của A sẽ chỉ có cái xác là mẹ A mà hồn và hành động sẽ là của con ma ấy. Mỗi lần nói chuyện này với em A là em lại nổi nóng lên cho rằng em hoàn toàn làm chủ thân xác và ý tưởng của em, còn con ma thì hiền lành giống như “1 bà tiên” vậy.  Nhìn em và nghe em nói như thế, tôi chỉ âm thầm khóc và lo sợ mà chả biết làm gì khi cả gia đình riêng của em tôi không hề coi đó là chuyện quan trọng. Em A rất thương và lo lắng cho em B trong việc đánh đuối kẻ xâm luợc trong B, nhưng chưa hề có ý định nào để đánh đuổi cái vong nữ trong người của em A cả.

Phước nhà còn dày cho nên vào khoảng đêm thứ 4 sau khi chị K. từ Texas bắt đầu giúp em B đánh đuổi tà ma trong nguời em, chị K. than phiền vơi gia đình tôi là tại sao qua phone, chị đã đánh con ma trong B tơi tả và nó đang yếu đi rõ ràng thì tự nhiên lại có một sức mạnh ngoại nhập ở đâu giúp con ma trong B mạnh trở lại. Chúng tôi bèn dùng phương pháp loại suy xem những nguời nào hiện diện với em B khi em đang nhận điện thoại từ chi K.

Chúng tôi phát hiện ra rằng, khi con ma trong B kêu rên khóc lóc (tức là em B kêu khóc 1 chút xíu, rồi em B lại trở lại là em B 100%), tức thì em A lại lo đấm bóp cho B 1 cách không bình thường như kiểu ma nhập, tức là mặt A hơi dại đi, tay chân dẻo quẹo xoa bóp cho B. Lúc đó tôi có bảo sao A lại làm vậy thì em trả lời là 6,7 của em ghét con ma trong B lắm và muốn xoa bóp giúp B đỡ mệt. Chúng tôi có ngờ đâu là con ma nữ này đang truyền nhân điện giúp con ma trong B hồi phục lại. Khi nghe chị K. than phiền, tôi bèn nói A không được phép ở trong phòng B và đụng chạm vào nguời B nữa. Em A bực mình bèn hạch hỏi con ma nữ trong em. Con ma này bèn viết 1 lá thư dài 2 trang giấy xin lỗi cả gia đình tôi là quả thật nó có giúp đỡ con ma trong B vì thấy con ma này bị chị K. đánh tả tơi, nó cầm lòng không đậu nên ra tay tiếp thêm nội lực cho nó.

Con ma nữ xin lỗi cả nhà tôi, đặc biệt là với tôi, vì nó nói tôi vẫn đối xử với nó lịch sự lắm, không ngờ nó lại làm tôi thất vọng như vậy. Nó cũng hứa là sẽ xuất khỏi A nêu chúng tôi đưa nó lên tịnh xá Linh Quang ở Quận 4 Saigon để nó xuất gia đầu Phật vào thứ bảy July 28, 2007. Hai ngày sau đó.  Em trai tôi cho biết là truớc đó, con ma nữ này cũng đã hứa nhăng hứa cuội nhiều lần là đưa nó lên chùa này chùa nọ để nó xuất ra mà lần nào cùng chỉ toàn dối trá, nhưng vấn đề là em A của tôi vẫn 1 mực tin yêu và cho rằng con ma này có tâm hồn nhân hậu, chỉ 1 phút yếu lòng mà giúp đỡ con ma trong B thôi. Tôi bèn nhân cơ hội này bảo với em A rằng, thôi được rồi, tôi tin lời hứa của con ma, tôi vẫn tiếp tục đối xử tử tế với nó, sẽ tha thứ lỗi lầm của nó nếu như nó giữ đúng lời hứa là sẽ ra đi vào thứ bảy July 28.  Riêng bản thân tôi, tôi hứa sẽ trọn đời cầu nguyện cho linh hồn của cô ta hàng đêm sau khi cô ta thực hiện lời hứa của cô. Nhưng nếu đến thứ bảy đó, sau khi mình đã làm đủ theo yên cầu của cô ta mà cô ta cũng không đi thì em A phải quyết tâm đánh đuổi con ma ra và cắt đứt mọi liên lạc với nó. Em A bằng lòng như thế với tôi. Còn con ma cũng ra vẻ rất nhiệt tình và rất cảm động truớc lời hứa này.

Hai ngày sau, tôi đưa em A lên chùa Linh Quang. Chúng tôi đến từ lúc 10:30 sáng, dự lễ cầu an cho người sống tới 11 giờ, rồi ăn cơm chay tại chùa. Rất nhiều người ta đến chùa để đuợc chữa bênh, có nguời thì bệnh vật lý như ung thư, nhức mỏi; có người bị bệnh tâm thần nhưng cũng có rất nhiều người bị ma ám như em A (thái độ của nguơi bị ma ám rất khác với nguời bệnh tâm thần, tôi cảm nhận đuợc nhưng không diễn tả đuợc). Đến 12:30 trưa, người có bệnh đã xếp hàng ngồi thành 2 hàng trong đại điện dài dằn dặc, dễ có đến hơn 150 nguời chứ không ít. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, đợi khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ thì tới phiên em A được vị sư già mặc áo tăng bào vàng hơi đỏ, vai áo bên phải để trần (chắc là vị sư này thuộc phái Nam Tông), chữa bệnh.

Tôi quỳ ngay sau lưng em A, nghe loáng thoáng em vắn tắt thưa với Thầy là có 1 vong nữ trong em, có nhờ em đưa lên chùa này hôm nay vì vong nữ này muốn xuất khỏi nguời em hôm nay, mong thầy giúp đỡ. Vị sư này bèn để 3 ngón tay lên đầu em, miệng lâm râm niệm chú, rồi để 1 cái mõ nhỏ lên đầu em, gõ lóc cóc vài cái. Xong Người quay sang bên cạnh, lấy 1 ly nuớc nhỏ do người đệ tử bên cạnh trao cho, co mấy ngón tay lại trên miệng cốc, lẩm nhẩm chú niệm gì đó trong miệng rồi đưa cốc nuớc cho em tôi uống.

Thế là xong, em tôi ra khỏi hàng đến quỳ ngay truớc bàn thờ Phật Bà Quan Âm ngay cạnh đó. Tôi bèn nhảy ra khỏi hàng, hỏi em A là chuyện gì xảy ra vậy, con ma đã xuất ra chưa ?  Thốt nhiên tôi thấy em tôi xoè bàn tay phải ra, giơ thẳng bàn tay ra trước mặt rồi dùng hết sức lực đấm thình thịch vào ngực, đỉnh đầu và trán của em liên tiếp mấy chục cái. Sức đấm mạnh đến nỗi nguời em tôi lảo đảo sau từng cú đấm. Tôi kinh hoàng, hỏi em, “Em ơi, chuyện gì vây, sao em lại tự đánh em như thế ?”  Em trả lời tôi, “Bà ấy muốn ra, em đang làm thế để giúp bà ấy ra.”

Tôi nhìn nét mặt của em tôi, tôi thật tình không biết lúc đó em tôi là em tôi hay là con ma nữa. Tôi chỉ cảm thấy toàn thân tôi đau đớn như đang bị đánh, những cú đánh của em tôi mạnh mẽ vang lên trong tim trong óc tôi. Cả bao nhiêu nguời trong đại điện, cả vị sư già ngồi cách em tôi chừng nửa thước, chả ai thèm để ý đến em cả, duờng như những sự việc ma nhập, tự hành hạ thân xác như thế đã diễn ra quá thường xuyên ở đây. Không biết làm gì, tôi nhảy trở vào hàng người đang xếp hàng, bây giờ đã ngắn đi rất nhiều để hỏi vị sư già trị bịnh đầu đuôi câu chuyện.

Chỉ khoảng 5 phút sau, đã đến phiên tôi, tôi bèn quỳ chắp tay hỏi rằng, “Thưa Thầy, em gái của con vừa rồi có thưa với thầy là cái vong nữ trong người nó có nói rằng nhờ đưa lên chùa hôm nay để vong nữ này xuất ra; con em của con đã đuợc gặp thầy và đang ngồi kia – tôi chỉ tay về phía em A; xin Thầy giảng cho con biết chuyện gì đang xảy ra vậy ?” Vị thầy nhìn tôi cười, tôi không thể xác định đó là nụ cười thuơng hại hay mai mỉa, bảo tôi rằng, “Cô không biết là người ta đã nói là nói dối như ma à ?.  Nguời ta đã nói dối với cô và đang lừa dối em cô đó.  Muốn chữa khỏi bệnh này, em cô phải đi chùa rất nhiều lần, chứ 1 lần làm sao hết.” Nói xong, Thầy quay qua chữa bệnh cho người kế tôi.

Tôi quay sang em tôi và hỏi, “Em có nghe thầy nói chưa, mình lại bị lừa dối nữa đó”.  Nhìn vẻ mặt đau đớn của em, tôi không cầm đuợc nuớc mắt, tôi biết em tôi vừa cảm nhận đuợc sự thật phũ phàng là “bà tiên” trong nó thực chất chỉ là một ma nữ thâm trầm, nham hiểm, nói dối như cuội, và vừa rồi, con ma nữ đã lợi dụng lòng tin của em tôi để đánh em tôi 1 trận nhừ tử bằng chính bàn tay của em. Cầm tay tôi, em A bảo, “Chị đừng lo, em sẽ quyết đánh cho con ma nữ giảo hoạt, dối trá ra khỏi nguời em. Em sẽ nhất quyết không cho nó nói chuyện hay viết lách gì cho em nữa”. Nhìn vẻ mặt của em, tôi biết em đã cuơng quyết lập chí dành lại độc lập cho thân xác mình.

Tôi vừa đau đớn vừa mừng rỡ rằng ít nhất em tôi đã vượt qua được 1 giai đoạn khó khăn trong cuộc chiến tranh với ma quỷ này là lập quyết tâm đánh đuổi quân thù.  Hiện nay em tôi hàng ngày lên chùa Linh Quang để con ma có cơ hội nghe kinh kệ và nhờ thần lực, tín tâm của sư tăng trong chùa và trong chính em để kêu gọi con ma xuất khỏi em tôi. Em A cũng hứa rằng nếu sau 3 tuần đi chùa mà con ma vẫn không nhúc nhích di chuyển gì cả thì em sẽ đổi qua biện pháp mạnh hơn để trục ma.

Tôi xin tóm lược những ý chính tôi muốn nêu lên trong bài này mà trong lúc xúc động tôi đã không viết được rõ ràng và mạch lạc như sau :

1. Xin hết sức cẩn thận khi đi học nhân điện khoa tự đông ở những người thầy như thầy Mai Viết Nhự. Tôi không đủ dữ kiện để kết luận là thày Nhự có liên quan trực tiếp đến vấn đề tạo cầu nối giúp các hồn ma nhập vào cơ thể các học viên của Thày hay không; tôi chỉ biết là 2 cô em gái của tôi đều bị ma nhập ngay trong lúc đang học nhân điện với thầy, sau khi thầy mở luân xa số 6 và 7 cho 2 em.  Chị K. cũng cho tôi biết là 1 số nữ tu Công giáo cùng bị hiện tuợng ma nhập sau chuyến du hành từ Mỹ về VN sau khi cũng học khóa nhân điện với thầy Nhự.  Sao lại có sự trùng lập đặc biệt như thế ?

2. Tôi sẽ không bao giờ để ai sờ lên đầu lên cổ của mình, ai biết được là họ có khả năng mở luân xa 6,7 hay không ?

3. Đến thời điểm mình phải lìa cõi trần ra đi, xin hãy ra đi với lòng thanh thản, dù có còn bổn phận trách nhiệm với nguời còn sống cũng hãy xin hiểu rằng phận sự của mình đến thời điểm đó là hết, đừng nuối tiếc gì cả, để phần tâm linh của mình có thể nhẹ nhàng siêu thoát, không trở thành vong linh vất vưởng lang thang. Phần nguời sống, xin đừng khóc than níu kéo người đã ra đi, xin hãy nói cho người hấp hối biết là họ đã làm xong nhiệm vụ của họ trên trần thế, mình là người ở lại cũng sẽ OK,  để nguời chết yên tâm mà đi.

4. Xin hãy đối xử với những người bị ma nhập tử tế, đừng xa lánh họ. Con ma chẳng có nhiều quyền lực gì cả trừ trường hợp người bị ma nhập không hiểu được bản chất của ma thì sẽ rất sợ hãi trước những lời hăm dọa của ma chẳng hạn như “Tao sẽ giết mày nếu mày không nghe lời tao”.  Những lời hăm dọa đó chỉ là lời hăm dọa suông, con ma vốn chỉ là những sóng sinh học âm, sức lực chỉ bằng cục pin rechargeable 1.5 volt. Con ma sẽ rất mạnh mẽ khi tâm hồn và thể xác của nguời bị nhập yếu đuối, sợ hãi và không có được sự giúp đỡ thuơng yêu của gia đình và bạn bè.  Con ma sẽ dùng chiến thuật tâm lý, ngọt bùi cay đắng có cả để thoạt đầu mua chuộc lòng tin của người bị nhập, để dần dần chiếm toàn bộ lý trí của họ và tiến đến khống chế thể xác vì bản thân con ma chỉ là phần tinh thần của người đã chết, nay mong muốn chiếm đoạt thân xác và tâm trí của người còn sống để hành xử theo ý riêng của mình.  Con ma cũng sẽ nhăn răng, múa vuốt (qua cử chỉ của nguơi bị nhập) như kiểu trong phim Exorcist nhưng cường độ yếu hơn nhiều chứ không như kỹ xảo Hollywood để hăm dọa người chung quanh, làm cho họ cảm thấy sợ hãi mà xa lánh người bị ma nhập.  Những kỹ xảo này của con ma chỉ làm tôi bật cuời, thuơng hại cho kẻ lực bất tòng tâm, và yêu thuơng em tôi hơn.

Nha Khanh (sưu tầm và chuyển)

Phong tục THÁNG TÁM ÂM LỊCH

LỊCH LỄ HỘI PHONG TỤC

TÍN NGƯỠNG THÁNG TÁM

– Ngày 10 :Hội chọi trâu Đồ Sơn, xã Kiến Thụy, Kiến An, Hải Phòng.

– Ngày 15 : TẾT TRUNG THU, tết Nhi đồng, chung cả nước – Hội Võ Giang, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, Hà Nam

– Ngày 16 : Hội nghênh Ông, các tỉnh ven biển, Vũng Tàu, Bến Tre, huyện Cần Giờ Sài Gòn

– Ngày 18 :Hội đền Trần (Trần Hưng Đạo) các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình.

PHONG TỤC TRONG THÁNG TÁM ÂM LỊCH

HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN

Hội thi chọi trâu truyền thống ở Đồ Sơn. thành phố Hải Phòng, hàng năm đều có sự tham gia của ba làng Đồ Sơn, Đồ Hải và Ngọc Xuyên, gồm 14 giáp tham gia. (Đồ Sơn 6 giáp, Đồ Hải 6 giáp còn Ngọc Xuyên 2 giáp).

Hội chọi trâu được chính thức tổ chức vào ngày mùng 9/8 âm lịch, nhưng công việc chuẩn bị phải từ nửa năm trước, và để có cuộc đấu quyết định ngày mùng 9 là các trận đấu loại và hội chọi trâu chấm dứt vào ngày rằm tháng Tám.

Cho đến nay có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của hội chọi trâu Đồ Sơn, nhưng người ta chú ý đến truyền thuyết về Thần Điểm Thước.

Truyện kể rằng : Từ rất lâu, một số ngư dân ở biển Thần Hóa bị bão làm trôi dạt vào chân núi Tháp. Nhưng khi đó Đồ Sơn còn hoang vu, con người bất lực trước thiên nhiên, họ chỉ biết cầu xin thần linh phù hộ. Rồi một hôm vào đúng ngày rằm tháng Tám, họ ra bãi biển đón gió thưởng trăng, chợt nhìn thấy trên mặt biển có vòng hào quang lớn, giữa hào quang là một cụ già đầu tóc bạc phơ, đang ngắm nhìn một đôi trâu đang chọi nhau trên sóng. Trong chốc lát tất cả biến mất. Người Đồ Sơn thuở ấy cho rằng thần linh đã phù hộ, nên lập đền thờ phụng và đúng vào tháng Tám lại tổ chức hội chọi trâu để tưởng niệm.

Bước đầu tiên chuẩn bị hội chọi trâu, là mỗi giáp, vào đầu tháng Hai ta, làm lễ tế thần rồi chọn những người có kinh nghiệm tỏa đi các chợ trâu khắp nơi chọn mua trâu chọi. Mỗi con trâu để chọi phải có những tiêu chuẩn ngoại hình cần thiết mà kinh nghiệm họ chọn từ bộ sừng, độ dài ngắn của cổ, vị trí các khoáy cho đến cấu tạo của ngực, bụng…

Sau khi các giáp hoàn tất khâu luyện tập cho trâu, vào giữa tháng Năm, trong ba làng chỉ được chọn 6 trên 14 con để tham dự hội Chọi trâu, cụ thể : Đồ Sơn 3 con, Đồ Hải 2 con và Ngọc Xuyên 1 con. Số còn lại để làm thịt chia đều cho mọi thành viên. Sáu con trâu chọi được chăm sóc chu đáo về ăn uống cũng như mọi thứ kiêng kỵ, chẳng hạn phụ nữ không bao giờ được tiếp xúc với trâu chọi, dù trâu được nuôi trong nhà mình…

Đến ngày mùng 8/6 ta, giữa ba làng lại có lễ hội để xếp loại 6 trâu chọi theo thứ tự : nhất, nhì, ba, và làm thành 3 cặp đấu, gọi là ba “khắp”; trong đó trâu của Đồ Sơn là 3 con nhất, nhì, ba; trâu của Đồ Hải và Ngọc Xuyên cũng 3 con nhất, nhì, ba.

Vào trận đấu chính, trâu nhất, nhì, ba của Đồ Sơn sẽ đấu với trâu nhất, nhì, ba của hai làng kia. Trong lễ tuyển chọn này, sau khi thi đấu tuyển chọn, các giáp phải rước long đình, chiêng trống, cờ quạt ra đình làm lễ tế thần linh, trâu nhất, nhì, ba của Đồ Sơn sẽ đấu với trâu nhất, nhì, ba của hai làng kia. Trong lễ tuyển chọn này, sau khi thi đấu tuyển chọn, các giáp phải rước long đình, chiêng trống, cờ quạt ra đình làm lễ tế thần.

Đúng ngày hội thi chọi trâu mùng 9/8 âm lịch, trước hết là lễ tế thần, các làng phải lo đủ lễ để tế, chỉ tính số trâu, lợn thì mỗi giáp1 trâu và 1 lợn, chưa kể nếp và các thức khác phải góp vào.

Cả 6 con trâu chọi cũng được dẫn ra mắt thần trong cuộc rước khá nhộn nhịp. Đi đầu đoàn rước là một cỗ kiệu đại do 12 người khiêng, đi sau là kèn trống, tiếp đến là trâu chọi trên mình phủ nhiễu đỏ kết hoa với 12 chàng trai đi hai bên áo quần đỏ, tay cầm cờ đỏ vấn khăn đỏ. Tất cả tiến vào sân đình để tiến hành những nghi lễ truyền thống để cho trận đấu bắt đầu, các nghi lễ cử hành cho đến gần trưa mới xong, sau đó người ta cho trâu ra trường đấu, xới chọi trâu là một bãi đất phẳng trước đình làng rộng chừng 6 mẫu

Khi đấu trường đã chuẩn bị xong xuôi, một hồi trống hiệu vang lên từ hai cổng vào, mỗi bên 6 chàng trai, quần áo đỏ, từ hai phía phất cờ đỏ đi vào, đến giữa trường đấu, xếp thành hai hàng, đại diện cho hai phía thi đấu: Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên. Lại trống hiệu nổi lên, 12 chàng trai, vung cờ đỏ diễn điệu “múa trận”, điệu múa theo nhịp trống, hàng nọ tiến ba bước thì hàng đối diện lùi ba bước, hết ba lượt, 12 chàng trai theo lối vào rút khỏi trường đấu.

Tiếp đó ban tổ chức nhắc nhở các bên thi đấu. Theo thể thức truyền thống: ba khắp đầu là các trâu nhất, nhì, ba của hai bên đấu để chọn 3 con thắng, hai khắp cuối để xếp loại nhất, nhì, ba cho hội chọi trâu hàng năm. Sau khi nói hết thể lệ thi đấu, cuộc đấu bắt đầu: theo thứ tự trâu nhất chọi trước, lại hai chàng trai  y phục đỏ, từ hai phía cổng dẫn trâu chọi vào, đứng đối diện cách nhau chừng 20 mét, người dẫn trâu nhanh chóng rút sẹo trâu rồi ra ngoài vòng đấu, chỉ còn lại hai con trâu chọi vẫn đứng nguyên vị trí ban đầu.

Thề rồi trong nháy mắt, chúng lao vào nhau trổ hết tài và những miếng hiểm hóc. Khi một con núng thế tháo chạy, con thắng cũng không tha mà rượt theo hạ địch thủ, trong trường hợp đó những người dẫn trâu chọi nhảy ra thu trâu về.

Cuộc đấu phân loại trâu nhất -nhì – ba kết thúc thường vào chiều tối, các làng giáp ra nhận giải thưởng

Hôm sau ngày mùng Mười, các giáp thịt toàn bộ các con trâu tham dự giải, để tế tạ tại đình, sau đó chia đều cho nhân đinh. Hội làng còn kéo dài thêm 5 ngày, cho đến rằm tháng Tám mới dứt.

TẾT TRUNG THU

Tết vào ngày rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ em. Người Việt thường làm cỗ cúng, làm nhiều thứ bành trong đó có bánh nướng bánh dẻo để bày cỗ trông trăng. Ngoài bánh ra, cỗ trung thu còn có hoa quả, các con giống nặn bằng bột, nhuộm các màu.

Ở thành phố vào dịp tết Trung Thu, người ta múa sư tử múa lân, rước rồng với những vũ khúc ngoạn mục, những điệu nhạc độc đáo gồm một trống một não bạt. Ngoài ra người ta còn làm các loại đèn : đèn lồng, đèn xếp, đèn ông sao, đèn đẩy, đèn kéo quân v.v..trong thắp đèn cầy để cho trẻ em rước.

Tục ăn tết Trung thu có từ đời nhà Đường, thời vua Đường Duệ Tông niên hiệu Văn Minh (thế kỷ thứ IX). Nguyên vào ngày rằm tháng tám âm lịch, trời sáng trăng thật đẹp, nhà vua đang ngự chơi ngoài thành với dân chúng đến tận khuya mới trở về hoàng cung. Nhà vua gặp một ông lão đầu tóc bạc trắng như tuyết, nói với nhà vua :

– Tâu thánh thượng, ngài có muốn lên chơi cung trăng không ?

Nhà vua đáp ngay là rất muốn.

Ông lão liền đưa chiếc gậy ra, và hóa thành chiếc cầu vồng bảy sắc cho nhà vua đi lên cung trăng. Chẳng bao lâu nhà vua đã lên tới cung trăng, ngài nhìn thấy phong cảnh đẹp tuyệt trần, dưới trần gian không đâu dám so sánh. Trên cung trăng có từng đoàn tiên nữ nhan sắc đẹp đẻ với những xiêm áo cực kỳ lộng lẫy, đang múa những khúc nghê thường quyến rũ.

Ở trên cung trăng chưa thỏa lòng thì tiên ông đưa nhà vua về cung điện. Nhà vua cứ tiếc ngẫn tiếc ngơ, nên để ghi nhớ ngày du nguyệt điện, bèn lấy ngày rằm tháng tám âm lịch làm ngày trông trăng tưởng nhớ đến trăng.

Nhà vua ra lệnh, trong đêm rằm phải tổ chức hội hè đàn ca múa hát, kết những lồng đèn tạo thành sao trên trời.

LỄ HỘI NGHINH ÔNG

Truyền thuyết về Cá Ông

Trong các truyền thuyết về cá Ông Nam Hải, các làng ven biển nhất là ở vùng Ninh Thuận – Bình Thuận đều có sự tích, cá Ông là hóa thân của Phật Bà Quan Âm chuyên cứu khổ cứu nạn các ngư dân đang trên biển gặp nạn.

Đức Phật Bà Quan Âm từ trên thượng giới, Bà thường vân du khắp nơi từ trên đất liền ra biển cả, thấy đâu khổ nạn là Bà ra tay cứu độ. Một hôm Bà đang ngự trên tòa sen bay lướt trên biển Đông, Bà không khỏi đau lòng thấy từng đoàn thuyền đánh cá đang bị gió bão bầm dập, mọi người la thét khóc than vang dậy biển cả, lấn át cơn gầm thét của sóng biển và phong ba bão táp.

Trước cảnh đau lòng, Phật Bà Quan Âm liền lấy pháp y, Bà xé ra từng mãnh ném xuống biển khơi. Kỳ bí thay, mỗi mảnh vải hiện hình thành một loài cá, bơi đến cứu nguy đám ngư dân, người không còn thuyền được cá cõng đi vào bờ, còn những chiếc thuyền còn đang lênh đênh trên biển, cá chắn sóng đưa vào đất liền. Mọi ngư dân thoát chết khi lên bờ đều quay mặt ra biển lạy tạ, tôn sùng loài cá này, họ lập đền thờ ven làng chài, nhưng chưa biết gọi tên loài cá đó vì loài cá còn quá xa lạ với những người thường đi đánh bắt cá ngoài biển.

Mà thật vậy, loài cá được Phật Bà Quan Âm cho giáng thế lúc đó còn nhỏ, không đủ sức chống trả với sóng to gió lớn bão táp ngoài khơi. Phật Bà liền mượn bộ xương của Ông Tượng (voi) trên rừng cho loài cá đó mượn. Từ đó loài cá mới có tên gọi là cá Voi, với vóc dáng to lớn và sức mạnh như loài voi rừng, nên cá Voi chống lại sóng gió trên biển quá dễ dàng, kèm giữ các thuyền bè được thăng bằng, không bị tan vỡ. Và kềm cặp những thuyền bè này vào bờ an toàn hơn.

Phật Bà lại thấy, cá Voi to lớn di chuyển chậm chạp, mỗi khi có nạn tai xảy ra cách loài cá khá xa, cá Voi không kịp bơi đến, nên Bà dùng phép thu đường cho cá, nên dù xa đến đâu cá Voi vẫn xuất hiện kịp thời.

Dân làng chài đặt tên loài cá là cá Voi, vì hài cốt của cá Voi và của loài voi giống nhau như một. Nhưng vì sự linh thiêng của cá Voi, khi lập đền thờ họ gọi bằng sự tôn kính là Cá Ông Nam Hải (và còn gọi bằng những tên khác như Đức Ngư, Ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng, Ông Sứa v.v… tùy theo từng vùng duyên hải. Ở huyện Cần Giờ, một huyện ven biển của Sài Gòn, gọi là Cá Ông Nam Hải).

Ngoài ra cá Ông được ngư dân phân biệt là cá Ông Lớn và cá Ông Cậu. Cá Ông Lớn chỉ những cá thật to và thường ở rất xa bờ họ gọi là Ông Khơi (cá Ông ở ngoài khơi). Cá Ông Cậu là loại cá Ông nhỏ hơn và hay sống ven biển họ gọi là Ông Lộng.

Những ngư dân vùng Khánh Hòa – Phú Yên, số ngư dân là dân tộc Chăm lại có truyền thuyết khác về cá Ông Nam Hải.

– Cá Ông vốn là vị thần có tên Cha Aih Va hóa thân.

Cha Aih Va được cha mẹ cho đi học pháp thuật trên một hòn đảo xa xăm lắm, chàng thanh niên học ròng rã trên mười năm đã trở thành người có pháp thuật cao thâm, biến hóa khôn lường. Cha Aih Va muốn về quê nhà thăm cha mẹ, nhưng thầy ngăn cản không cho, vì cho rằng Cha Aih Va học chưa đủ các tinh hoa của pháp thuật.

Nhớ cha nhớ mẹ, nên Cha Aih Va nóng lòng mà trốn sư phụ xuống núi, chàng ra biển nhưng không có chiếc thuyền nào để về bên bờ, nên hóa thành cá Voi để bơi về nhà. Sư phụ của Cha Aih Va biết được, ông nổi giận và quyết định trừng phạt chàng, ông hô phong hoán vũ kêu gọi thủy thần đưa quân tôm tướng cá xông đến hành hình Cha Aih Va, xé xác chàng trai.

Xác Cha Aih Va trôi dạt về đất liền và biến thànhthiên nga bay về nhà, chàng thấy cha mẹ đều qua đời, nên buồn quá lại bay đi tìm một hoang đảo để sống. Tại đây từ Thiên thiên nga chàng lại hóa thành người. Cha Aih Va lại tu luyện và mất trên hoang đảo. Vì cảm khái Cha Aih Va là người con hiếu thảo, chịu xả thân vượt mọi nguy nan để tìm về gia đình, nên thượng đế xót thương cho chàng biến thành thần để cứu nạn cho mọi người.

Khi thành thần, Cha Aih Va đổi tên là Pôn Ri Ak tức Thần Sóng Biển.

Vị thần luôn là ân nhân của những người đi biển bị đắm thuyền, mỗi khi nghe tiếng kêu cứu ngoài biển khơi, thần liền hóa thành cá Voi đến cứu.

Và một truyện tích lịch sử được các nhà chép sử triều đình nhà Nguyễn có viết rằng :

– Trong thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau trở thành vua Gia Long) bôn tẩu bởi quân Tây Sơn truy nả vào khoảng năm 1778 – 1786. Chúa chạy vào trấn Gia Định, trên đường qua Xiêm La cầu viện, đến đoạn cửa sông Soài Rạp thì gặp một trận bão lớn ập đến, người và thuyền nguy ngập bởi sóng biển to như ngọn sóng thần, mưa bảo ầm ầm, những chiến thuyền của chúa Nguyễn không thể cầm cự nổi,chúa mới lâm râm khấn vái cầu nguyện trời đất cứu nạn, bổng nhiên thuyền của chúa Nguyễn được một con cá voi to xuất hiện, che chở đưa thuyền vào Vàm Láng (tỉnh Tiền Giang) an toàn.

Khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, ông nhớ đến cá Voi đã cứu nạn mà sắc phong cho cá là Nam Hải Đại Tướng Quân, Nam Hải Cự Tộc Ngọc Long Thượng đẳng thần. Và truyền đến các làng xã ven bờ lập đền thờ Ông Nam Hải cho xứng đáng. Nên dọc theo ven biển miền Trung đến miền Tây Nam Bộ đâu đâu cũng có đền thờ cá Ông Nam Hải, vào tháng 8 âm lịch hàng năm các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, huyện Cần Giờ, Phan Thiết, Phan Rang, Phú Yên v.v… đều tổ chức Lễ Nghinh Ông Nam Hải để cầu quốc thái dân an, cầu an cho bá tánh, cầu cho việc chài lưới trên biển được thuận lợi, mưa thuận gió hòa.

Đám tang Cá Voi

Như đã kể, các làng dọc duyên hải từ miền Bắc đến vùng Nam Bộ, hầu như đều có đền thờ cá Ông Nam Hải lớn nhỏ, và tùy mỗi địa phương mà tổ chức ngày lễ nghinh Ông trang trọng (tuy nhiên các vùng ven biển phía Bắc, Lễ nghinh Ông được tổ chức nhưng không gây được nhiều tiếng vang như trong Nam, nhất là biển Phan Thiết, Cần Giờ, Vàm Láng… ở Vũng Tàu trên đường Hoàng Hoa Thám khu Xóm Đình có ngôi đền Linh Sơn Cổ Tự đang thờ hai bộ xương cá Ông; những bộ xương này được dân làng Tam Thắng tích lũy từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 khi Ông hóa – chết vì bịnh hay già nua – trôi dạt vào bờ.).

Nói về các đền thờ cá Ông, các cư dân đều tôn kính gọi là Lăng Dinh Ông, nếu ở nơi đây có cốt cá Ông được tượng thờ. Lăng thường có 3 phần :

– Phần chính là nơi để xương cá Ông (cốt Ông), thông thường là nguyên bộ xương hoặc một phần xương, mà là cốt thật được ngư dân cải táng đem về lăng thờ phụng.

– Hai phần phụ ở 2 bên, một bên là Tả Lý Ngư và một bên là Hữu Lý Lực, cả hai đều là hộ vệ của ông.

Các ngư dân vùng biển cho biết, duyên hải miền Trung thường bắt gặp Ông bị lụy (chết vì bịnh hoặc bị tai nạn gì đó) ở ngoài khơi là có một Ông khác kề đưa vào bờ ngay. Người nào trông thấy xác Ông đầu tiên có vinh dự được dân chúng làng chài coi như là con của Ông Nam Hải. Người này phải chịu tang Ông như một trưởng nam trong một gia đình.

Tổ chức đám tang cá Ông chẳng khác gì một đám tang trong một gia đình. Người có vinh dự làm con Ông được phép cung nghinh xác Ông về Lăng Dinh Ông cấp táng, ăn mặc tang phục, tay chống gậy và thường xuyên ở bên xác Ông trong những ngày ma chay ba ngày ba đêm, còn dân làng dân xã có bổn phận đến phúng viếng và đi lễ tang.

Một số địa phương lễ chôn cất cá Voi có nhiều hình thức, hoặc là xẻ thịt cá Ông ra nhiều mảnh bỏ vào quan tài, một hai hay ba áo quan mới đủ xác Ông; hai là quàn ngay bờ biển chờ xác Ông tan rữa ra mới đem cốt Ông về Lăng dinh mà thờ.

Có một điều kỳ bí, khi xác cá Ông nằm bên bờ biển, muốn đưa về Lăng Dinh cấp táng, phải là người thấy xác Ông đầu tiên hợp cùng dân làng dân xã đó mới di chuyển Ông được, còn không phải, dù có hàng trăm người cũng không thể lê Ông đi nổi.

Người được xem là con Ông Nam Hải còn phải chịu tang 3 năm như những đám tang mà ta biết trong xã hội đời thường.

Khi người này thọ tang, phải cử hành những lễ nghi theo tục lệ, nhưng thật ra ban trị sự Lăng Dinh Ông lo liệu các chi phí tang ma. Con Ông Nam Hải phải quỳ trả lễ những người đến phúng viếng.

– Sau 3 ngày tang lễ là lễ động quan con Ông Nam Hải phải chống gậy đi thụt lùi trước các linh cửu, 3 ngày sau cũng có lễ tạ mộ và lễ mở cửa mã.

– 21 ngày phải làm lễ cầu siêu.

– 100 ngày cúng tuần bách nhật, tuần tốt khốc (thôi khóc).

– Tròn một năm làm lễ tiểu tường (giỗ đầu).

– Ba năm làm lễ đại tường (lễ đoạn tang).

– Sau lễ đại tường là lễ cải táng. Con Ông Nam Hải mời các sư ra mộ cúng cải táng và hốt cốt (Thượng Ngọc Cốt), rồi thỉnh Ngọc cốt về Dinh Vạn thờ. Khi cải táng, Ngọc Cốt được tẩy sạch bằng rượu, phơi khô ráo và bọc vào tấm vải điều sau đó mới cho vào hủ. Nhiều người cho rằng ai được làm con Ông Nam Hải thì sau 3 năm chịu tang, người này sẽ được Ông phù hộ làm văn thịnh vượng.

Ở Phan Thiết, Lễ Thỉnh Ngọc Cốt được tổ chức rất trọng thị như là tổ chức đám tang. Ngày hôm sau tổ chức lễ nghinh Ông tại Lăng Dinh như tục lệ Lễ nghinh Ông hàng năm.

Lễ Nghinh Ông

Thường lễ nghinh Ông hàng năm vào ngày 16 tháng 8 âm lịch, lễ gồm :

– Lễ nghinh Ông

– Lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền

– Lễ chánh tế.

Lễ nghinh Ông được tổ chức tại Lăng Dinh, có các nhà sư tụng niệm cầu siêu. Đúng 1 giờ sáng, một chiếc thuyền lớn trang trí lộng lẫy có bàn hương án cùng mâm cổ gồm heo quay, vàng mã, trái cây, bông hoa nhang đèn…. Thuyền này chở các vị cao niên trong làng chài cùng dàn ngũ âm ca nhi bắt đầu ra khơi. Các gia đình có thuyền đánh cá cũng chở theo gia đình đi theo thuyền lớn, mọi chiếc thuyền đều giăng đèn cờ phướn ngũ sắc rất rực rở làm cho không khí lễ hội rất rộn ràng.

Đoàn thuyền ra biển khá xa bờ chừng 4 hoặc 5 cây số thì dừng lại, chiếc thuyền lớn bắt đầu nổi nhạc ngũ âm và ca nhi hát những bài ca truyền thống của làng, các vị lão thành cao niên đốt vàng mã kêu mời Ông về.

Xong các thủ tục, đoàn thuyền quay mủi trở về làng. Ở trên bờ các nhà dân làng chài, nhà nào cũng bầy hương án ra trước sân để đón Ông về, các vị cao niên đưa hương án xuống bờ và đưa về Lăng Dinh an vị.

Sau phần nghinh Ông, đến lễ tế Tiên Hiền – Hậu Hiền trong lăng có các trò lễ hầu chờ, khi lễ bắt đầu các trò lễ tổ chức dâng hương hoa trà quả. Đến phần chánh tế, các vị cao niên đọc văn tế và cũng dâng trà rượu lên Ông 3 lần.

Trong những ngày lễ nghinh Ông, ban tổ chức thường mời các đoàn hát về giúp vui xóm làng và ngư dân, và những buổi văn nghệ quần chúng cũng được người dân đóng góp bằng những tiết mục dân dã như ban nhạc ngũ âm hòa cùng lời ca của các ca nhi, nhịp trống, tiếng tù và ở các thuyền bè ngoài biển dội vào tạo nên ngày lễ vừa trang nghiêm vừa sôi động.

THIÊN VIỆT

– ĐÓN XEM : LỄ HỘI ĐỀN TRẦN

AI MUỐN CÓ CON TRAI ?

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

CỦA THIÊN VIỆT

Sách do Cty CP Văn Hóa Văn Lang in và phát hành. Mang tựa “Bí Ẩn Âm Dương Ngũ Hành Trong Thiên Can Địa Chi” (Khám Phá Môn “Bát Tự Hà Lạc” Qua Kho Tàng Văn Hoá Phương Đông). Tác giả : THIÊN VIỆT. Xuất bản : 7/2010 – NXB Hải Phòng. Số Trang : 404 trang, kích thước 13.5×21 cm. Giá bán: 55,000 đ

Nội dung trong lời mở đầu sách có đoạn : “…. Khi nói đến Thiên Can và Địa Chi (gọi tắt là Can Chi) tức muốn nói đến Âm Dương – Ngũ Hành về biện chứng tiêu trưởng và sinh khắc, thoát thai từ tám quẻ Bát Quái của Hà Đồ – Lạc Thư được con người tìm thấy cách đây 65 thế kỷ.

Từ những truyền thuyết mang tính truyền kỳ trên đất nước Trung Hoa thời cổ đại, những dấu hiệu bí ẩn được hai thời vua Phục Hy và Hạ Vũ ghi nhận, khi thấy chúng xuất hiện trên lưng hai con Long Mã (Hà Đồ) và Kim Quy (Lạc Thư) ở sông Hoàng Hà và sông Lạc Dương.

Khi nghiên cứu giữa Hà Đồ và Lạc Thư, thấy chúng có mối tương quan thông ước với nhau, như hai biểu tượng tối sơ ban đầu của nền tri thức thời thượng cổ Trung Hoa, người đời sau dùng nó đem ứng dụng vào mọi lĩnh vực, từ đó sản sinh ra nhiều môn học như : toán, vật lý, hóa học, phương vị…nhất là môn triết học, thần học…, luận về thuyết biến đổi trong Bát Quái, về Âm Dương tiêu trưởng và Ngũ Hành sinh khắc chế biến mà cho đến nayđược gọi là môn khoa học huyền bí.

Vì thế để tìm hiểu về những bí ẩn của Can Chi, chúng ta phải nắm bắt thấu đáo sự biến đổi mang tính ẩn tàng của Âm Dương, Ngũ Hành nằm trong đó….

Xin trân trọng giới thiệu. Sách hiện bày bán trong các nhà sách khắp nơi trong nước.

Thiên Việt

UỐNG NƯỚC GIẾNG

ĐẺ CON TRAI

Người dân xóm 11, xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) từ lâu tin rằng uống nước giếng Thùng ở cuối xóm có thể sinh con. Vì thế “Giếng Thùng” được xem là “báu vật” của người dân xã Hưng Thông, không chỉ bởi nguồn nước rất mát lành mà nhiều người quan niệm uống nước ở đây sẽ đẻ được con trai.

Cụ Hoàng Văn Bạn (80 tuổi) ở xóm 11 cho biết, từ những năm cuối 1960 cho đến những năm 1990, người dân trong làng hầu hết đều sinh con trai. Có những cặp vợ chồng sinh liền 4 đến 5 đứa con trai một lúc, rất nhiều người muốn sinh con gái cũng không được.

Cũng vì sinh nhiều con trai nên thế hệ 70 – 80 thế kỷ trước của làng có rất nhiều người chưa lấy được vợ hoặc phải đi tìm vợ nơi khác bởi trong làng rất hiếm con gái.

Theo quan niệm của người dân, sở dĩ có hiện tượng trên là bởi trước đây, dân làng uống chung nguồn nước giếng Thùng ở cuối xóm. Giếng được xây dựng từ năm 1912, khi chưa có giếng khoan thì đây là nơi cung cấp nước ăn, tắm rửa, sinh hoạt cho đa số người dân trong xóm. Nước rất trong mát, đầy ắp cả 4 mùa nên dân làng rất quý trọng.

Từ những năm 1950-1960, dân làng bắt đầu sử dụng giếng khoan và đến nay hầu hết các hộ đã có nguồn nước tại nhà, do vậy giếng Thùng ít được sử dụng. Hiện giờ chỉ một số hộ gần đó hoặc các hộ muốn có con trai mới tới đây gánh nước này về. Tuy nhiên, cũng từ những năm 1980, quan niệm uống nước giếng Thùng đẻ con trai của một số gia đình trong xóm đã lan đi các làng khác, người dân trong vùng vẫn thường xuyên tới gánh nước về ăn để kiếm quý tử.

Đến nay, mặc dù tỷ lệ sinh nam – nữ trong làng đã cân bằng nhưng tin đồn uống nước giếng Thùng vẫn tồn tại và lâu lâu lại rộ lên khiến cho nhiều cặp vợ chồng đến đây để cầu tự, xin nước. Nhiều người dân đã đóng góp tiền của để tu sửa, xây cất lại giếng. Trong các ngày lễ, ngày rằm, ở giếng này luôn có người đến làm lễ cúng…

Trước những thông tin trên, ông Lê Đình Nhường khẳng định, những lời đổn thổi trên là vô căn cứ bởi tỷ lệ trai – gái trong xóm mấy năm gần đây là cân bằng, một số hộ dân uống nước đó quanh năm nhưng trong nhà vẫn sinh toàn con gái. “Mặc dù những tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt nhưng người dân trong xóm vẫn luôn xem giếng Thùng là tài sản quý, là báu vật bởi nguồn nước trong mát, ngọt lành và không bao giờ cạn của nó”.

Trường Long

PHONG THỦY CHO NAM N

Vừa rồi tôi có hồi âm cho một anh bạn, có lấy địa lý phong thủy ra làm thí dụ thực tế, chẳng may email gửi về hỏi thăm nhiều quá. Cho nên để trả lời chung, tôi xin có một bài viết về cách xem Phong Thủy. Bài này chỉ mang tính chất phương hướng khi xây dựng nhà cửa.

Tuy nhiên vì trang blog có hạn, nên bài viết chỉ nói đến hướng tốt hướng xấu để tính toán khi xây dựng nhà hay mua nhà, chưa thể dẫn giải phần phân kim đặt cửa, đặt cổng nhà (nếu cửa, cổng đã đặt đúng hướng nhà tức đã góp khoảng 70 đến 80% tính chất phương hướng).

1- TÌM CUNG PHI

Mỗi tuổi nam nữ đều có một Cung Phi riêng, còn gọi là Trạch Cung. Trong Lục Thập Hoa Giáp 60 năm, từ năm Giáp Tý đến Quý Hợi tức 60 tuổi này chỉ gói ghém vào 8 cung Bát Quái gồm :

KHẢM, CHẤN, TỐN, LY là người thuộc Đông Trạch và

KHÔN, ĐOÀI, KIỀN, CẤN là người thuộc Tây Trạch.

(xem bảng Cung Phi ở trang cố định và bảng phân Đông và Tây Trạch bên đây)

Theo 8 cung trên tạo hóa khi tạo dựng ra thiên nhiên đã định vị trí, ngũ hành và tính chất như sau :

KIỀN : Trời – thuộc Kim – Tây Bắc

ĐOÀI : Đầm lầy – thuộc Kim – Chánh Tây

KHẢM : Nước – thuộcThủy – Chánh Bắc

KHÔN : Đất – thuộc Thổ – Tây Nam

CẤN : Núi – thuộc Thổ – Đông Bắc

LY : Lửa – thuộc Hỏa – Chánh Nam

CHẤN : Sấm sét – thuộc Mộc – Chánh Đông

TỐN : Gió – thuộcMộc – Đông Nam

Theo biểu đồ trên, các nhà Lý Số đã tính Cung Phi, nam nữ sinh Đông trạch sẽ hợp với hướng và tuổi Đông Trạch, còn nam nữ Tây Trạch sẽ hợp với hướng và tuổi theo Tây Trạch về xây dựng, an táng hoặc gả cưới. Nếu không cùng nhóm Cung Phi sẽ sinh khắc kỵ.

2- TÍNH CHẤT 8 HƯỚNG (Tứ phương Tám hướng) :

Lưu ý : Qua 2 bảng phương hướng tốt xấu của mỗi tuổi được tính như sau :

– Hướng tốt gồm : Sinh Khí, Phúc Đức, Thiên Y và Phục Vì

– Hướng xấu gồm : Tuyệt Mạng, Ngũ Quỹ, Lục Sát và Họa Hại

– Xem tuổi cất nhà, mua nhà xem theo hướng tốt mỗi tuổi Cung Phi như đã dẫn.

– Chỉ coi Cung Phi tuổi người chồng (nếu chồng mất, đang độc thân mới lấy tuổi nữ để xem).

– Xem hướng nhà phải coi hướng mặt tiền nhà (huyền quan) đối diện với hướng la bàn. Còn khi xuất hành phải xem theo hướng la bàn (vì mặt người đang đối diện với hướng đó)

a/- Cửu Tinh – Ngũ Hình :

– Sinh Khí : sao Tham Lang, dương mộc, thượng cát

– Thiên Y : sao Cự Môn, dương thổ, thứ cát

– Phúc Đức : sao Vũ Khúc, dương kim, cát

– Phục Vì : sao Tả Phù – Hữu Bật, âm thủy, cát.

– Ngũ Quỷ : sao Liêm Trinh, âm hỏa, đại hung

– Tuyệt Mạng : sao Phá Quân, âm kim, đại hung

– Lục Sát : sao Văn Khúc, dương thủy, thứ hung

– Họa Hại : sao Lộc Tồn, âm thổ, thứ hung

Như thế các sao Tham Lang, Cự Môn, Văn Khúc, Vũ khúc thuộc dương tinh, nằm tại các dương cung như Kiền, Khảm, Cấn, Chấn. Còn âm cung là Tốn, Ly, Khôn, Đoài là âm tinh.

Nên có câu “cung vi nội, tinh vi ngoại” tức nội khắc ngoại bán hung, ngoại khắc nội đại hung; dương tinh khắc âm cung, bất lợi cho nữ giới, còn âm tinh khắc dương cung bất lợi cho nam giới.

âm cung, bất lợi cho nữ giới, còn âm tinh khắc dương cung bất lợi cho nam giới.

b/- Tám cung cát hung

– Cung Sinh Khí, Phục Vì : ứng với năm, tháng : Hợi , Mão, Mùi.

– Cung Phúc Đức, Tuyệt Mạng : ứng với năm, tháng : Tỵ, Dậu, Sửu.

– Cung Thiên Y, Họa Hại : ứng với năm, tháng : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

– Cung Ngũ Quỷ : ứng với năm, tháng : Dần, Ngọ, Tuất

– Cung Lục Sát : ứng với năm, tháng : Thân, Tý, Thìn

Như vào năm hay tháng mang tên các Địa Chi trên đây sẽ ứng với cát hay hung, tùy theo Ngũ hành sinh khắc mỗi người.

c/- Tính chất cát hung

– Sinh Khí (đại cát) : vào được cung này thăng quan tiến chức, phú quý, đông con cháu, thân hữu xa gần thường hội tụ không cô độc. Đến năm Hợi, Mão, Mùi mọi sự đều như ý.

– Thiên Y (thứ cát) : đường chồng vợ phải hợp với cung phi, nếu không sẽ sinh mối bất hòa trong gia đạo. Con cái khoảng ba người đều có tâm đức tốt. Tài lộc vô ra như nước vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tật bệnh được tiêu trừ.

– Phúc Đức (cát) : nam nữ hợp cung tài lộc đắc, đại thọ, số chăn nuôi tốt đẹp, về già an hưởng phúc lộc. Các năm Tỵ, Dậu, Sửu có tài lộc như ý.

– Phục Vì (cát) : luôn có người giúp đỡ không sợ thiêu ăn thiếu mặc, gái ít hơn trai. Nên đặt bếp đúng hướng Phục Vì sẽ giữ được tiền bạc lâu dài và sinh nở dễ dàng vì có Thiên Ất quý nhân độ mạng. Tốt vào các năm Hợi, Mão, Mùi.

– Tuyệt Mạng (đại hung) : bổn mạng phạm cung suy, đau yếu bệnh tật kinh niên , đường con cái cũng không tốt đẹp, số không được thọ, tiền bạc bất nhất. Đề phòng các năm Tỵ, Dậu, Sửu.

– Ngũ Quỷ (đại hung) : gia chủ thường gặp tiếng thị phi, tranh chấp, không có người phục dịch, người phụ giúp thường sinh thói hư tật xấu. Gặp nguy tai vào các năm Dần, Ngọ, Tuất.

– Lục Sát (thứ hung) : Tán tài, khẩu thiệt, kiện thưa đến pháp luật, không nuôi được gia súc, trồng trọt sẽ thất bại, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.

– Họa Hại (thứ hung) : Số phải tù tội, bệnh tật, tài chính suy sụp, con cái khó dạy, vợ chồng không thủy chung.Ứng vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Như thế tôi đã trình bày diễn giải đủ các tuổi.

NGÀY THÁNG ĐẠI LỢI CHO CÔ DÂU

– Nữ tuổi Tý – Ngọ : tháng 6, tháng chạp đại lợi. Tháng giêng, 7 kỵ người mai mối đến. Tháng 2, 8 kỵ cha mẹ chồng, tháng 3, 9 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 4, 10 kỵ chú rể, tháng 5, 11 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Sửu – Mùi : tháng 5, 11 đại lợi. Tháng 4, 10 kỵ mai mối. Tháng 3, 9 kỵ cha mẹ chồng, tháng 2, 8 kỵ cha mẹ vợ. Tháng giêng, 7 kỵ chú rể, tháng 6, tháng chạp kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Dần – Thân : tháng 2, 8 đại lợi. Tháng 3, 9 kỵ mai mối đến. Tháng 4, 10 kỵ cha mẹ chồng, tháng 5, 11 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 6, tháng chạp kỵ chú rể, tháng giêng, 7 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Mão – Dậu : tháng giêng, 7 đại lợi. Tháng 6, tháng chạp kỵ mai mối. Tháng 5, 11 kỵ cha mẹ chồng, tháng 4, 10 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 3, 9 kỵ chú rể, tháng 2, 8 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Thìn – Tuất : tháng 4, 10 đại lợi. Tháng 5, 11 kỵ mai mối. Tháng 6, tháng chạp kỵ cha mẹ chồng, tháng giêng, 7 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 2, 8 kỵ chú rể, tháng 3, 9 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Tỵ – Hợi : tháng 3, 9 đại lợi. Tháng 2, 8 kỵ mai mối. Tháng giêng, 7 kỵ cha mẹ chồng, tháng 6, tháng chạp kỵ cha mẹ vợ. Tháng 5, 11 kỵ chú rể, tháng 4, 10 kỵ cô dâu.

Còn ngày cô dâu về nhà chồng tính theo 8 cung được gọi “Giá thú Châu Đường” gồm : Phu, Cô, Đường, Ông, Đệ, Táo, Phụ, Trù, theo tháng đủ tháng thiếu. Tháng đủ (30 ngày) thuận chiều, tháng thiếu (29 ngày) tính nghịch chiều đồng hồ (hình 1).

Khi đã xét ngày tốt theo lịch nhưng muốn chính xác, tháng đủ đếm thuận từ 1 Phu là mùng 1, sang mùng 2 là Cô, mùng 3 là Đường cho đến ngày âm lịch đã chọn.Tháng thiếu đi từ 1 Phụ là mùng 1, nghịch qua Táo mùng 2, Đệ mùng 3, Ông mùng 4 v.v… Đến ngày âm lịch đã chọn. Được một trong bốn chữ Đường, Trù, Táo, Đệ là ngày tốt về nhà chồng.

Trong đó theo phép quyền biến, gặp chữ Ông hay Cô mà cha mẹ chồng nếu không có mặt trong ngày cưới vẫn sử dụng được, chỉ trừ Phu hay Phụ là kỵ.

Nói về tục làm rể và đi sêu; theo tập quán nếu đi làm rể hay đi ở rể, các gia đình nhà trai thường tính ngày “Nhập tế châu đường” như gái về nhà chồng. Cách tính cũng theo 8 cung Bát Quái như “Giá thú châu đường”, nhưng tên cách vận hành theo hình 2.

Tháng đủ tính thuận từ 1 Phu là mùng 1, mùng 2 là Cô, mùng 3 là Đệ v.v… Tháng thiếu tính nghịch từ 1 Hộ, mùng 2 tại Trù, mùng 3 tại Táo v.v…

Được chữ Môn, Hô, Trù, Táo là ngày tôt. Còn gặp bốn chữ Phu, Cô, Ông, Đệ nên tránh.

THỦ CUNG SA

“Thủ cung sa” là một vết xăm màu đỏ chu sa trên cánh tay phải người con gái, cốt yếu đánh dấu cô gái hãy còn trinh nguyên, vì khi giao hợp lần đầu tức khắc dấu xăm “thủ cung sa” sẽ tan biến mất.

Tục xăm dấu “thủ cung sa” có từ đời Hán Vũ Đế, ông vua thường đa nghi các cung tần mỹ nữ sống trong cung cấm, vì trạng thái tâm lý bị bỏ rơi và vì đường tình dục quá mãnh liệt quên đi thân phận hầu vua, sinh ra vụng trộm chuyện chăn gối với giới hầu cận, bài học ái phi nhà Tần vụng trộm tình ái với Lã Bất Vi mà có Doanh Chính, làm Hán Vũ Đế không thể phai mờ trong trí nhớ.

Dã sử Trung Quốc cho rằng Lã Bất Vi nguyên là một thương nhân chuyên mua bán bất cứ vật gì hay điều gì, có thể đem lại lợi ích cho mình kể cả buôn vua. Bất Vi đầu tư từ Tần Trang Tương Vương Tử Sở khi còn bị nước Triệu giữ làm con tin, khi về Tần lên ngôi Hoàng đế, Lã Bất Vi lại cung tiến người ái thiếp đẹp nhất của mình cho Tử Sở.

Khốn nỗi Tử Sở rất yếu đường sinh lý từ khi ở nước Triệu đã bị đối xử tệ bạc, ăn uống thiếu chất trong nhiều năm làm suy dinh dưỡng đến thể chất, khiến nàng ái phi luôn nhớ đến người tình cũ. Lúc đó Lã Bất Vi đã mang đến chức thừa tướng trong triều (quả là một cuộc đầu tư đầy lợi lộc) nên thừa cơ hội ra vào nơi cung cấm, ăn nằm với người ái thiếp xưa để có thai, sinh ra Doanh Chính tức Hoàng đế Tần Thủy Hoàng sau này.

Tử Sở biết việc ái phi của mình vụng trộm với Lã Bất Vi nhưng tính tình nhu nhược, lại nhớ đên công lao của Lã Bât Vi khi Tử Sở còn làm con tin ở nước Triệu, nên đành im lăng, châp nhân Doanh Chính là con ruôt của mình. Cũng vì đường sinh lý yếu kém, Tử Sở không có con để lựa chọn nên khi băng hà, Doanh Chính được chính thức lên nối ngôi.

Vua Hán mới sai nội giám dùng Bích hổ (con thằn lằn) nuôi chúng với chu sa, đến đời thứ ba (F2) thứ tư (F3) toàn thân con bích hổ đã có màu đỏ sậm, lúc đó mới đem chúng ra nướng chín rồi phơi khô, tán thành bột xăm. Dùng bột bích hổ làm màu xăm lên cánh tay các cung tần mỹ nữ chưa được ăn nằm cùng vua, ai mất dấu xăm này sẽ bị đem đi chém đầu vì tội “khi quân phạm thượng”. Dấu này được gọi “thủ cung sa” từ đó.

Tục đánh dấu xăm “thủ cung sa” ban đầu còn trong phạm vi cung cấm triều đình, sau lan ra các nhà quyền quý để khỏi “bó chân” con gái, rồi trong dân dã ai cũng thấy cách dánh dấu xăm “thủ cung sa” hiệu nghiệm lại rẻ tiền, không nguy hại như tục “bó chân”, nên dùng nó để theo dõi quản lý con gái của mình.

THẤT XUẤT

Sau khi nhận diện người con gái qua những phần về Tam tòng Tứ đức, từ đó có thể suy ra sau này họ có thể phạm vào những tội trong thất xuất.

Thất xuất gồm bảy tội được gán cho người phụ nữ :

– Tội thứ nhất : Không sinh được con cái (nhất là không sinh được con trai), phạm vào đạo Tam tòng và phụ dung tức tội bất hiếu, nhà chồng không có người để nối dõi tông đường dòng tộc, chồng có quyền cưới thêm vợ khác để thực hiện việc truyền nòi giống.

– Tội thứ hai : Dâm loàn, tức lẵng lơ hay có tình nhân, là phạm vào đạo Tam tòng và phụ hạnh, là tội bất nghĩa.

– Tội thứ ba : Không tôn kính cha mẹ chồng, là phạm vào phụ ngôn tức tội bất hiếu, bất kính.

– Tội thứ tư : Lắm điều, cũng phạm phải phụ ngôn, làm trong gia đạo náo động, gây nhiều tiếng thị phi không tốt.

– Tội thứ năm : Trộm căp tài sản nhà chông, là phạm vào phụ hạnh, mang tính gian phi, lừa đảo.

– Tội thứ sáu : Ghen tuông là phạm vào đạo Tam tòng, do ngày xưa đàn ông được ưu đãi có quyền đa thê. Người vợ ghen tuông sẽ làm trong nhà xáo động, và mất tính diệu hiền của người phụ nữ qua phần phụ ngôn.

– Tội thứ bảy : Có ác tật là các bệnh truyền nhiễm như lao, cùi hủi, thần kinh… phạm phải phụ dung.

Trong thất xuất người vợ gặp các tội trên sẽ bị đuổi ra khỏi gia đình chồng. Nhưng có một trong ba điều được gọi “tam bất khả xuất”, là không thể đuổi ra khỏi nhà :

– Điều thứ nhất : người phụ nữ từng chịu đại tang bên chồng trong ba năm.

– Điều thứ hai : khi lấy nhau còn nghèo khó, sau này có nhà cao cửa rộng, giàu có.

– Điều thứ ba : bị đuổi về nhà nhưng gia đình cha mẹ anh chị em ruột không chấp nhận, vì thời phong kiến thường có quan niệm, khi đã xuất giá phải “tòng phu”, phải giữ tròn câu Tam tòng Tứ đức, không còn là con trong gia đình, mọi quyền lợi đều không có.

Đối với điều thứ ba, gia đình chồng chỉ cho ở lại khi phạm phải những tội : không sinh được con, lắm điều và ghen tuông là những tội nhẹ có thể sửa đổi hay chấp nhận được, nhưng chỉ xem như đầy tớ trong nhà, không còn quyền hạn. Còn phạm những tội khác phải chấp nhận hình phạt, dù phải ly tổ tha phương cầu thực.

THIÊN VIỆT