Ý NGHĨA BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG (2/2)

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA

BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG

BÁNH TÉT

– Nguyễn Xuân Quang

(Kỳ 2 – Hết)

– Tượng lửa : Như đã nói ở trên hình vuông có một khuôn mặt lửa, thái dương.

Bánh chưng có một nghĩa tượng lửa nằm trong ý nghĩa của cực dương. Để phân biệt bánh loại này nên cột dây đỏ. Về cấu tạo, nhân bánh chưng biểu tượng cho dương thường làm bằng đậu vo tròn rồi ép dẹp xuống thành hình đĩa tròn mặt trời mang ý nghĩa hột, mặt trời, lửa. Nhân thường làm bằng thực phẩm có dương tính như đỗ (đậu) xanh. Hột đỗ tròn biểu tượng cho dương, lửa, mặt trời. Nhiều khi nhân nhuộm phẩm đỏ ví dụ  thịt ba chỉ nhuộm đỏ (xem chương Tế Thực, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).  Bằng chứng thấy rõ nhất là nhân đậu tròn biểu tượng cho nọc, nam, dương, lửa, mặt trời cũng thấy qua chiếc bánh chồng vợ phu-thê thường gọi là bánh ‘xu-xê’. Bánh hình tròn (giống yoni hình tròn) hay hình vuông (giống yoni vuông) biểu tượng cho âm, cho thê (vợ) và nhân đậu tròn (chấm nọc nguyên tạo biểu tượng cho dương, cho phu (chồng).

– Tượng Gió : Hình vuông có một khuôn mặt  thiếu âm gió thái dương. Khi  chuyển động hình vuồng biến thành hình thoi. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, hình thoi biểu tượng cho cho gió dương chuyển động.

Về cấu tạo, bánh chưng gói bằng lá dong. Lá dong là lá gói, lá bao. Bao dung, bao dong. Túi bao biểu tượng cho gió. Dong biến âm với dông. Lá dong là lá gió (xem chương Tế Thực, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Bánh chưng gói bằng lá dong, lá dông mang một yếu tố gió.

– Tượng Nước : Hình vuông có một khuôn mặt nước mang tính thái dương

Về cấu tạo, bánh chưng làm bằng gạo nếp. Gạo cũng có nghĩa là nước vì lúa nguyên thủy là loài cỏ mọc dại ở đầm nước. Gạo biến âm với gáo, gầu, khau, chậu… những vật dùng liên hệ với nước… (xem chương Tế Thực). Điểm này giải thích tại sao có tác giả đã giải thích ý nghĩa bánh chưng theo cái giếng Việt (Việt tĩnh) có hình vuông. Việt có nghĩa vật nhọn, rìu, dương, thái dương, mặt trời…  nên giếng Việt của Người Việt Mặt Trời thái dương là giếng thái dương có hình vuông thay vì  hình tròn. Nếu hiểu như thế thì bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho giếng Việt, cho nước.

Tóm tắt lại bánh chưng mang biểu tượng Nòng Nọc âm dương và tứ tượng nghĩa là mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Hiểu bánh chưng biểu tượng cho đất là hiểu theo một góc cạnh rất nhỏ của bánh chưng.

BÁNH TÉT DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

Trung Nam có loại bánh chưng hình trụ tròn hay trụ vuông gọi là bánh Tét. Bánh tét hình trụ tròn gọi là đòn bánh tét. Đồng bào Quảng Bình gọi bánh tét là “bánh đòn”.

Giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết như sau :

– “Nửa nước người Việt phía  nam gốc cội miền Bắc chỉ gói bánh tét (Tết). Và đi điền dã ở Cổ Loa, cố đô Âu Lạc trước Công  nguyên chỉ cách Hà Nội 17 km, chúng tôi mới té ngửa ra rằng dân Cổ Loa cho tới nay vẫn gói bánh chưng hình trụ như bánh tét miền Nam. Các cụ già 70-80 tuổi ở Cổ Loa bảo ‘Chúng tôi chỉ mới gói bánh chưng vuông từ vài  chục năm nay’” !…. Thoạt kỳ thủy, bánh chưng không được gói vuông như bây giờ mà  gói tròn như bánh Nam Bộ, gọi là đòn bánh tét là hoàn toàn chính  xác. Ngay giờ đây, xin các bạn chỉ quá bộ sang Cổ Loa, Đông Anh ngoại thành Hà Nội thôi, vẫn thấy bà con cố đô Cổ Loa gói bánh chưng như đòn bánh tét và vẫn gọi nó là bánh chưng, thảng hoặc mới gói thêm bánh chưng vuông (Trần Quốc Vượng, Triết Lý Bánh Chưng Bánh Dầy).

Vấn đề bánh tét có trước bánh chưng «hoàn toàn chính xác», theo tôi cần xét lại vì xã hội mẫu hệ có trước xã hội phụ hệ và Mẹ Tổ Âu Cơ là Mẹ Lúa, Nữ Thần Lúa, chúng ta chưa nghe nói Lạc Long Quân là Cha Lúa. Tộc Mẹ Tổ Âu Cơ làm bánh chưng vuông và tộc Cha tổ Lạc Long Quân làm bánh tét có thể cùng thời (xem dưới).

Hiển nhiên bánh tét là một thứ bánh chưng nên cũng mang ý nghĩa biểu tượng theo Vũ Trụ Tạo Sinh. Bánh tét có hình trụ tròn, một thứ nọc que. Ta đã biết chữ nọc que trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que  mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo

(Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ở đây chỉ`xin nhắc lại ý nghĩa chính đối ứng với nghĩa bánh chưng vuộng với nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, đất ruộng vuông.

– Cực dương : Bánh tét hình trụ tròn đầu (mang âm tính) hiển nhiên biểu tượng cho nọc, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời ngành âm (trong khi nọc nhọn đầu biểu tượng cho ngành dương).

Bánh tét trụ tròn để trên bánh chưng vuông chính là hình ảnh của linga hình trụ để trên yoni hình vuông của Ấn giáo.

– Tứ tượng :

Bánh tét nhất là loại hình trụ vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho  tứ tượng.

– Tượng Lửa : Trụ nọc que nhọn đầu biểu tượng cho tượng Lửa.  Trụ tròn đầu biểu tượng cho tượng lửa mang âm tính. Bánh tét trụ tròn đầu mang hình ảnh trụ (búa) thiên lôi của khuôn mặt sấm mưa của Lạc Long Quân.

– Tượng Nước : Hình trụ rỗng  hai đầu (hai rỗng là hai âm, thái âm, hai thành trụ que của ống là hai nọc, thái dương) hình ống dẫn nước, máng nước mang ý nghĩa nước (thái âm) chuyển động. Nước chuyển động (sông, biển) là một khuôn mặt của Lạc Long Quân.

– Tượng Gió : Trụ hình dóng làm dóng  (dùi)  trống biểu tượng cho dông, gió. Ông Dóng là ông Dóng Trống, thần Sấm Dông Gió nên mới có tên là  Phù Đổng Thiên Vương (Phù là Nổi liên hệ với gió, Đổng biến âm với Động là sấm. Sấm động bốn phương trời). Phù Đổng Thiên Vương là hậu thân của Lạc Long Quân (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Bánh tét hình trụ ống, hình dóng (mía) có một khuôn mặt biểu tượng cho dóng trống, dóng thiên lôi của khuôn mặt sấm dông của ông Dóng sấm dông.

Tượng đất : Trụ nọc nhọn đầu biểu tượng cho núi trụ, núi lửa trong khi Trụ tròn biểu tượng cho  núi trụ tròn đầu tức`núi âm hay non.

Lạc Long Quân có nhũ danh là Sùng Lãm có nghĩa là Cao Đẹp tức núi xanh tươi cao đẹp tức núi âm có nước. Bánh tét có một khuôn mặt biểu tượng cho Sùng Lãm Lạc Long Quân. Theo diện âm dương tương đồng thì núi âm, núi nuớc tức non Lạc Long Quân đi với đất ruộng đồng thái dương lửa hình vuông Âu Cơ.

Nhìn dưới diện lịch sử, An Dương Vương, Mặt Trời Êm Dịu có một khuôn mặt là  Non (núi âm) dòng Non Sùng Lãm Lạc Long Quân đối ngược với Kì Dương Vương có một khuôn mặt là nổng, núi Kì (núi dương). Đây chính là lý do dân vùng Cổ Loa thuộc dòng non An Dương Vương  làm bánh chưng hình trụ tròn tức bánh tét (xem dưới)….

Nhìn từ gốc cội nguồn, bánh tét hình trụ tròn mang ý nghĩa chính là nọc tròn biểu tượng cho nọc ngành âm (âm nam), bộ phận sinh dục nam, non…

Tóm Lược Những Ý ghĩa Chính của Bánh Dầy và Bánh Chưng

– Bánh dầy tròn theo thái âm biểu tượng cho nòng, nường, bộ phận sinh dục nữ, yoni. Vì thế bánh dầy mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

– Bánh chưng tổng quát cũng mang ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ giáo nhưng tùy theo hình dạng mà ý nghĩa áp dụng cho ngành, tộc tương ứng.

– Bánh chưng vuông : Biểu tượng bộ phận sinh dục nữ dạng thái dương (yoni vuông) cho ruộng đồng hình chữ điền của ngành mẹ Âu Cơ thái dương.

– Bánh tét trụ tròn : Biểu tượng cho nọc, nõ, bộ phận sinh dục nam, linga, cho  núi trụ tròn đầu non của ngành cha Sùng Lãm Lạc Long Quân.

Bây giờ thì ta hiểu rõ tại sao nửa nước người Việt phía Nam gói bánh Tét ? Dĩ nhiên nửa nước người Việt phía Nam có gốc gác liên hệ với dòng nước Lạc Long Quân, An Dương Vương. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Vùng phía bắc miền Trung Việt Nam (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình…) xưa kia là vùng đất trũng ven biển, thuộc ngành nước Lạc Long Quân, có thời có tên là Châu Hoan. Hoan, Oan  có gốc Oa- là nước như oan ương là vịt nước le le, oa là con ốc, con ếch… (liên hệ với nước), oasis là ốc đảo, “đảo nước” trong sa mạc… Châu Hoan là Châu Nước (trong cổ sử, chúng ta có tên bốn châu ứng với Tứ Tượng là Châu Dương là Châu Mặt Trời, Lửa ứng với Càn Đế Minh, Châu Kì Núi dương ứng với Li Kì Dương Vương, Châu Hoan là Châu Nước ứng với Chấn Lạc Long Quân và Châu Phong gió ứng với Hùng Vương mạng Đoài).

Ngày xưa ở  Châu Hoan này có một cái thành hình kén (cocoon) gọi là Kiển Thành, Đào Duy Anh cho rằng đây là “Kén Thành” tiền thân của thành Cổ Loa ở gần Hà Nội bây giờ. Kén có hình nang, hình bọc hiển nhiên là biểu tượng của dòng Nòng, âm liên hệ với An Dương Vương. Như thế dân vùng bắc miền Trung Việt Nam liên hệ với  dòng Nòng An Dương Vương nên họ làm bánh tét. Rồi đến thời Nam Tiến, phần lớn dân vùng này xuôi nam và mang theo bánh tét. Đây chính là lý do nửa nước người Việt phía nam gói bánh Tét.

Hiện nay tại miền Bắc cũng có một vài sắc tộc gói bánh tét gọi là bánh tày. Đọc thêm hơi vào tày, tầy là thầy. Các tộc này gọi cha mẹ là thầy u là gọi theo Thầy Lạc Long Quân và U Âu Cơ (U là Âu). Tầy, tày, thấy biến âm với Tây, phía mặt trời lặn liên hệ với Lạc Long Quân có một khuôn mặt là mặt trời lặn. Mường ngữ tày là ngủ liên hệ với với Tầy, phía mặt trời đi ngủ. Bánh tày là biểu tượng của Thầy Lạc Long Quân mặt trời lặn ở phương Tây.

Như thế bánh tày, bánh thầy, bánh mặt trời lặn tức bành tét biểu tượng cho Lạc Long Quân. Những tộc làm bánh tầy thuộc dòng cha Lạc Long Quân.

– Nếu để bánh dầy tròn lên bánh chưng vuông ta có lưỡng hợp mặt  trời tròn trên đất vuông giống như vòm trời mai rùa trên bụng rùa vuông đất. Các ngôi một cổ thường có mái hình vòm trên mặt mộ vuông mang ý nghĩa lưỡng hợp vòm trời tròn-đất vuông này (về sau mộ có hình vòm hình trứng trên khung mộ chữ nhật như thường thấy ngày nay).

– Nếu để đòn bánh tét hình trụ nọc trên bánh dầy tròn nòng  ta có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương mang hình ảnh của tượng hình linga nọc hình trụ trên yoni nòng tròn.

– Nếu nhìn theo diện tương đồng cùng ngành bánh dầy, thì khi ta để bánh dầy dương (mầu đỏ) lên bánh dầy âm màu trắng là có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương dưới dạng nguyên tạo, sinh tạo mang hình ảnh mặt trời-mặt trăng.

– Nếu nhìn theo diện tương đồng cùng ngành bánh chưng, thì khi ta để đòn bánh tét trụ nọc trên bánh chưng vuông ta có tượng linga trụ nọc trên yoni vuông.

– Theo nghĩa nguyên thủy nòng nọc, âm dương phát xuất từ bộ phận sinh dục nữ nòng vòng tròn O và bộ phận sinh dục nam nọc chấm nguyên tạo hay nọc que thì bánh dầy tròn trắng là nòng không gian âm và bánh tét trụ tròn là nọc mặt trời. Bánh dầy trắng và bánh tét nguyên thủy mang hình ảnh nòng nọc, âm dương. Thờ bánh dầy tròn bánh chưng hình trụ (bánh tét) hay bánh tét trụ tròn và bánh chưng vuông có một khuôn mặt nguyên thủy là thờ sinh thực khí, phồn thực, thờ nõ nường.  Sự thờ phượng nõ nường này còn thấy ở Bắc Việt Nam.

Sự thờ phượng sinh thực khí này khi xã hội đi vào nông nghiệp chuyển qua ý nghĩa cầu mùa, cầu được mùa, sản suất nhiều. Ở các bờ ruộng của nhiều sắc tộc như người Mường có cắm các «que bông». Cây que chuốt nhọn để lại chùm dăm bào bao quanh thân nọc. Nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương que bông mang hình ảnh nọc dương vật đâm qua vòng tròn lông dăm bào âm hộ. Về thời phụ quyền thì dương vật được dùng nhiều hơn. Các cây que bông lúc này chuốt để lại chùm dăm bào ở đầu trên mang hình ảnh bộ phận sinh dục nam cò chùm lông giống như các cây inau kike của người Ainu (Hình 4) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ta cũng đã thấy chiếc cuốc bằng đồng có cán hình dương vật  của Vương quốc Điền (xem Nghệ Thuật Đồ Đồng Cổ của Vương quốc Điền). Ethiopia cổ còn để lại di tích những trụ đá hình dương vật (phallic menhirs) ở bờ ruộng mang biểu tượng cho may mắn, tốt lành và sự hiện diện của các vật này hứa hẹn được mùa.

Hình 5 : Trụ đá dương vật trong một trang trại ở Ethiopia mang biểu tượng may mắn, tốt lành và sự hiện diện của các vật này hứa hẹn được mùa (nguồn Crawford O.G.S. 1957, The Eye godness, London, Plate 399).

Như vậy nguyên thủy phải hiểu bánh dầy bánh chưng có nguồn gốc từ sự thờ phượng sinh thực khí, thờ phương phồn thực, thờ phượng nõ nường. Sự thờ phượng này còn nối tiếp vào thời nông nghiệp qua hình ảnh bánh chưng trụ tròn và bánh dầy tròn là chuyện tất nhiên vì nó phù hợp với sự cầu mùa, được mùa trong ý nghĩa sinh tạo, mắn sinh của nòng nọc, âm dương giao hòa của Vũ Trụ giáo

BÁNH CHƯNG VÀ VIỆT DỊCH NÒNG NỌC

Bánh dầy bánh chưng mang nghĩa nòng nọc, âm dương  có nguồn gốc từ Nõ Bường, bộ phận sinh dục nam nữ vì thế mà bánh chưng không phải chỉ là biểu tượng cho đất, cho đồng ruộng mà còn liên hệ chặt chẽ với Việt Dịch Nòng Nọc dựa trên nòng nọc, âm dương.

Xã hội loài người khởi đầu theo mẫu hệ. Những tộc theo nông nghiệp vẫn giữ truyền thống mẫu hệ. Vì vậy bánh chưng biểu tượng cho ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ mang khuôn mặt trội hơn khuôn mặt bánh tét ngành cha Lạc Long Quân. Do đó dấu tích Việt Dịch nghiêng về âm Dịch còn thấy rõ trên bánh chưng. Trước hết hãy tìm hiểu tại sao lại do Lang Liêu, người con thứ 18 làm ra bánh chưng mà không phải là do một Lang thứ 10, 14, 16…? Con số 18 là DNA của Hùng vương như Hùng vương có 18 đời, cái quạt giấy mặt trời mọc có 18 cái nan, vua Hùng thứ 18 có con gái tên Mÿ Nương là cháu 27 đời Thần Nông-Viêm Đế, Tiên Dung lúc 18 tuổi gặp Chử Đồng Tử…

Ta đã biết ma phương (magic square)  3/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Đoài 3 vũ trụ, bản thể bầu vũ trụ của Hùng Vương và tổng số các chi là 18); ma phương 6/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Tốn 6 vũ trụ, bản thể bầu tạo hóa của Mẹ Tổ Âu Cơ và tổng số các chi là 18) và ma phương 9/18 (có số trục ở tâm hình vuông là số Chấn 9, bản thể của Lạc Long Quân  và tổng số các chi là 18).  Ta cũng có 3 (Hùng Vương) + 6 (Âu Cơ) + 9 (Lạc Long Quân) = 18 (xem DNA Của Hùng Vương).

Đồng bánh chưng hình vuông có 4 sợi lạt, tức bốn giải nước (dòng nước chẩy giống như gải dây). Bốn sợi lạt là bốn kinh rạch, bốn lạch nước dẫn thủy nhập điền chia ruộng đồng bánh chưng ra làm chín ô mang hình ảnh của ma phương. Có tác giả cho ma phương bánh chưng là Lạc Thư ở sông Lạc.

Đồng bánh chưng có mang hình ảnh Lạc điền thư, hình ma phương Lạc điền liên hệ với Việt Dịch Nòng Nọc Việt Thường.

Kết Luận

Bánh chưng, bánh tét, bánh dầy phát xuất từ tục thờ nõ nường phồn thực nguyên thủy mang hình ảnh nòng nọc, âm dương. Trong xã hội nông nghiệp trồng lúa,  bánh dầy bánh chưng mang thêm ý nghĩa tạ ơn Tam Thế, cầu mùa, sản xuất, gặt hái được mùa cũng nằm trong tín ngưỡng phồn thực. Với ý nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, bánh dầy bánh chưng diễn tả trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Việt Dịch. Bánh chưng diễn tả ma phương của Dịch nòng nọc, âm dương. Các nhà nho hiểu theo ý nghĩa trời đất là hiểu theo nghĩa duy tục rất muộn của văn hóa Trung Hoa.

Đạo hiếu, thờ phượng tổ tiên thì cũng nằm trong Vũ Trụ giáo, ta phải hiểu là bánh dầy bánh chưng tạ ơn vũ trụ Tam Thế trong đó phải kể từ Viêm Đế-Thần Nông, Tổ Hùng…

Bánh chưng có hình vuông biểu tượng chính cho ngành nữ Mẹ Tổ Âu Cơ thái dương thấy nhiều ở các tộc thuộc nhánh Lửa theo mẹ Âu Cơ  lên núi như Mường (văn hóa Mương nghiêng nhiều về Mẹ Tổ Âu Cơ) tức ngành Kì Dương Vương. Mẹ Tổ Âu Cơ được thờ như Mẹ Lúa, Nữ Thần Lúa. Trong khi bánh chưng hình trụ tròn tức bánh tét thấy ở các tộc thuộc ngành Nước Lạc Long Quân xuống biển như các tộc ở vùng Cổ Loa và ở Trung Nam vốn là con dân của ngành cha Lạc Long Quân di cư vào.

Trên bàn thờ ngày tết phải có cả bánh chưng vuông và bánh tét trụ tròn cho đủ lưỡng hợp  nòng nọc, âm dương, cho đủ đạo hiếu với cả mẹ Tổ Âu Cơ lẫn cha Tổ Lạc Long Quân. Nếu để bánh dầy thì cũng phải đủ hai loại bánh dầy nòng nọc, âm dương tương ứng với tính âm dương của bánh chưng và bánh tét.

Yên Huỳnh (theo Nguyễn Xuân Quang)

Ý NGHĨA BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG (1/2)

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA

BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG

BÁNH TÉT

– Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta thường nghe nói về sự tích bánh chưng bánh dầy dựa theo Lĩnh Nam chích quái.

Theo truyền thuyết “sau khi vua Hùng phá được giặc Ân, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi hai vị quan lang và công chúa lại mà phán rằng : ‘Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi’. Các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp nơi. Duy chỉ có công tử thứ 18 là Lang Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, vì cô đơn mà chết, không người giúp đỡ không biết xoay sở ra sao. Một đêm kia được thần nhân chỉ cho cách làm bánh chưng bánh dầy : ‘nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ.’ (Lĩnh nam chích quái, LNCQ tr.44).

Lang Liêu làm y theo lời thần dậy và được vua cha truyền ngôi cho. Bánh chưng được dân chúng dùng cúng trong ngày Tết nên thiên hạ đổi tên Lang Liêu thành Tiết Liệu (Tiết viết hơi giống từ Lang, từ Liệu cùng vần với Liêu, Tiết Liệu là thức ăn trong ngày Tết).

Truyền thuyết này có một chủ điểm ăn khớp với Vũ Trụ Tạo Sinh,  Vũ Trụ giáo, cốt lõi của văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Đó là bánh dầy hình tròn và bánh chưng hình vuông biểu tượng cho trời đất.

Hai từ trời đất hiểu theo Dịch Trung Hoa, một thứ Dịch thế gian đã muộn, là Càn Khôn (Càn vi thiên, Khôn vi địa), nói tổng quát ngụ ý là hai yếu tố dương âm sinh tạo của tạo hóa. Trong khi trong Việt Dịch nòng nọc tạo hóa, càn là Lửa vũ trụ, mặt trời và khôn là không gian, lưỡng hợp ở cõi tạo hóa.

Trong truyền thuyết trên cũng cần chú ý tới câu “để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu” và “để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”, như thế bánh chưng bánh dầy mang ý nghĩa ‘đạo hiếu’ của Hùng vương đối với các ‘tiên vương’ và ‘cha mẹ’ của Hùng vương. Đây là đạo thờ cúng ông bà, cha mẹ, một khuôn mặt cũng thấy trong các nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo.

Như thế ta phải hiểu bánh dầy báng chưng dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, cốt lõi của văn hóa Việt Nam.

BÁNH DẦY DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

Bánh dầy có hình tròn và được coi là biểu tượng cho trời. Nhưng từ trời rất tổng quát và chỉ nhìn theo một diện của ý nghĩa vòng tròn O trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Ta phải hiểu vòng tròn O theo tất cả ý nghĩa trọn vẹn của chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que theo Vũ Trụ giáo. Tôi đã viết rõ ý nghĩa của chữ Nòng O trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á. Chữ nòng O này với các nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh được ghi lại qua hình vỏ không gian bao quanh các đầu tia sáng mặt trời ở tâm trống đồng nòng nọc, âm dương. Với độ dầy mỏng khác nhau vỏ không gian nòng O cho biết không gian hay mặt trời mang tính nòng nọc, âm dương gì (dương, âm, thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm)  (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ở đây chỉ nhắc qua đủ cho bài viết.

1/- Hư vô, Vô Cực

Vũ trụ khởi thủy chỉ là một cái túi, cái bọc hư không  ứng với vô cực được diễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn, sau đó khi đã định hình thì được diễn tả bằng vòng tròn O có bề dầy vừa phải hay hình đĩa tròn trong, không màu sắc hay để trắng.

Như thế theo trung tính bánh dầy hình đĩa tròn mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực.

2/- Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Hư không cực hóa có nòng nọc, âm dương nhưng khi nòng nọc, âm dương còn quện vào nhau, còn ở dưới dạng nhất thể thì lúc này là Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực.

Như thế bánh dầy cũng có thể coi là hình ảnh của Trứng vũ trụ. Muốn rõ hơn thì là loại bánh dầy có một chấm son đỏ hay dán một một miếng giấy điều hình vòng tròn ở tâm mặt bánh dầy hoặc là thứ bánh dầy có hột nhân đỗ tròn ở giữa gọi là bánh tu hú (xem hình 1). Bánh này là chữ vòng tròn có chấm (hay chấm vòng tròn) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que mang nghĩa nòng nọc, âm dương nhất thể, sinh tạo, tạo hóa, mặt trời-không gian, vũ trụ. Xin nhắc lại chấm đặc, nhất là khi có mầu đỏ, là chữ nọc nguyên tạo, sinh tạo ở tầng tạo hóa. Chữ nọc chấm này sinh ra nọc que ở tầng lưỡng nghi.

Sự tiến hóa của chữ nọc:

Từ hư không, không gian nguyên khởi xuất hiện mầm nọc dương dưới hình thức nọc chấm hay chấm nọc (tất cả mọi vật đều khởi đầu bằng hình thái vi thể). Nọc chấm là nọc nguyên sinh ở cõi tạo hóa. Một chấm nọc lớn lên bằng các phân sinh ra làm hai chấm, nối lại ta có một nọc que, là nọc trưởng thành ở tầng lưỡng nghi. Nọc chữ thập (do nọc que tách ra làm hai rồi ghép lại) mang tính sinh tạo năng động ở tầng tứ tượng…

Hư không cực hóa có chấm nọc nguyên tạo. Chữ vòng tròn-chấm , (hay chấm-vòng tròn) dưới dạng nhất thể là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Sau đó chấm nọc nguyên tạo tách ra làm đôi, nối lại thành nọc que. Ở tầng lưỡng nghi khi phân cực Trứng Vũ Trụ tách ra thành nòng O và nọc que. Sau đó lưỡng nghi sinh ra tứ tượng.

Bọc Trứng Vũ Trụ này là tiền thân, nguồn cội sinh ra bọc trứng Hùng Vương thế gian.

Bánh dầy có một khuôn mặt biểu tượng cho bọc trứng Hùng Lang, biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ của Hùng Vương.

3/- Lưỡng Nghi

Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực khi phân cực, tách ra làm hai cực nòng, nọc, âm, dương, ta có lưỡng nghi. Ở tầng lưỡng nghi nọc dương có hình nọc que và nòng O có vỏ dầy mang tính âm.

– Cực âm : Theo thuần âm, nòng O biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ, cực âm,  Khôn, không gian âm, nước, mặt trời đĩa tròn âm nữ, không có tia sáng, mặt trăng nữ.

Bánh dầy có hình đĩa tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng âm, cực âm.

Vì thế bánh dầy nếu chỉ hiểu theo nghĩa biểu tượng cho cho Trời thì phải hiểu trọn vẹn theo nghĩa của nòng O. Trời ở cõi tạo hóa là bầu trời sinh tạo, tạo hóa ngành nòng âm. Trời có thể là không gian, vũ trụ âm, là bà trăng, là mặt trời âm, nữ, “bà giời”, nữ thần mặt trời dòng nòng khi mẫu quyền ngự trị. Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là bà giời thấy rõ qua câu ca dao:

Ông giăng mà lấy bà  giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Mồng năm với số 5 là số Lửa Li có biểu tượng là núi Trụ Thế gian bản thể của Mẹ Tổ Âu Cơ (dẫn 50 con lên núi) và mồng mười với số 10 là 8+2 = 10 tức số 2 Nước Khảm tầng 2 thế gian, bản thể nước, biển của Lạc Long Quân (dẫn 50 con xuống biển). Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt Lửa vũ trụ là mặt trời rạng sáng (nhật tảo) hình đĩa tròn không có tia sáng.  Bánh dầy nhuộm mầu hồng là biểu tượng cho khuôn mặt nữ thần mặt trời của Âu Cơ (hồi nhỏ ở Bắc, tác giả có thấy loại bánh dầy mầu hồng này). Mẹ Tổ Âu Cơ mặt trời rạng sáng hôn phối với Lạc Long Quân, mặt trời hoàng hôn. Khuôn mặt Thái Dương Thần Nữ của Mẹ Tổ Âu Cơ  tương ứng với thái dương thần nữ  Ameraterasu của Nhật Bản (Nhật Bản có một gốc Bách Việt).

– Cực dương : Theo duy dương, nòng O mang dương tính là mặt trời âm, mặt trời lặn, mặt trời đêm, ông trăng (trăng là một thứ ‘mặt sáng’) của ngành nọc, không gian dương tức khí gió. Thời Hùng vương xã hội con người đã bước vào thị tộc phụ quyền ngự trị nên đây phải là mặt trời lặn, mặt trời đêm hay ông trăng đại diện phía nòng âm. Ta đã biết mặt trời lặn, ông trăng là biểu tượng của Lạc Long Quân mặt trời nước hay lửa-nước. Về màu sắc thì mặt trời mang tính âm có màu âm là màu trắng và mặt trời lặn, hoàng hôn thường nhuộm mầu tím đen, mầu quân (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Bánh dầy màu hồng tím là màu mặt trời lặn. Hồi nhỏ tác giả thấy ở đình làng thường cúng bánh dầy nhuộm hồng thẫm như màu trái mồng quân. Màu ‘quân’, màu huân, mầu quả mận, màu đỏ bầm, màu tím đỏ, chính là hình ảnh mặt trời lặn của ‘Quân’ Lạc Long Quân.

4/-  Tứ Tượng

– Tượng Lửa Vòng tròn, hình đĩa tròn có một khuôn mặt hạt lửa, mầm lửa, mặt trời không có tia sáng.

Như đã nói ở trên theo duy âm bánh dầy loại nhuộm hồng là mặt trời nữ rạng sáng biểu tượng cho Mẹ Tổ Âu Cơ và theo duy dương bánh dầy mầu hồng tím biểu tượng cho Lạc Long Quân, mặt trời lặn.

– Tượng Nước Vòng tròn có một khuôn mặt không gian thái âm nước, bọc, túi nước (ao, hồ), mặt trăng.

Theo duy âm bánh dầy mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian âm, nước, mặt trăng tròn mang tính thái âm, nước (trăng nước)…. Bánh dầy “nước” biểu tượng cho đại tộc Thần trong nhánh Thần Nông [Thần biến âm với, thắn (Mường ngữ là rắn), thằn (thằn lằn), thẩn (giao long)… liên hệ với nước).

Tượng Gió Vòng tròn có một khuôn mặt không gian dương, thiếu âm khí gió.

Theo duy dương bánh dầy mầu trắng có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian dương khí gió ứng với khuôn mặt bầu trời gió Hùng Vương. Bánh dầy “gió” biểu tượng cho đại tộc Nông trong ngành Thần Nông (nông biến âm với không, khí gió).

Như đã nói ở trên có một loại bánh dầy trong có nhân tròn bằng đậu xanh gọi là bánh tu hú. Bánh tu hú tương đương với bánh dầy nhân đậu xanh Mochi của Nhật. Bánh tu hú hình tròn có nhân tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn-có chấm nọc tức có một khuôn mặt thiếu âm là không gian dương, khí gió.

Chim tu hú là chim biểu của Gió (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Bánh dầy tu hú biểu tượng cho tượng gió, biểu tượng cho khuôn mặt Gió, bầu trời thế gian của Hùng Vương. Ngày giỗ tổ Hùng Vương trên bàn thờ tổ phải có bánh dầy tu hú.

– Tượng đất Vòng tròn có một khuôn mặt lửa âm, thiếu dương đất. hình tròn biểu tượng cho trái đất tròn.

Theo duy âm là vùng đất có nước là ao, chuôm, đầm lầy. Từ ao đầm sinh ra ruộng thấp có nước gọi là ruộng chiêm… chiêm biến âm với chằm (ao đầm).  Ruộng chữ điền hình vuông là ruộng dương, ruộng khô hậu thân của ruộng nước chiêm ao đầm. Hình vuông là dạng nam hóa của vòng tròn vì có góc cạnh (xem dưới)….

Như thế bánh dầy phải hiểu theo ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, cái cốt lõi của văn hóa Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng. Nếu chỉ hiểu theo nghĩa biểu tượng cho Trời thì quá thiếu sót.

BÁNH CHƯNG DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ TẠO SINH

chưng vuông làm nhiều ở miền Bắc trong khi Trung Nam làm bánh tét có hình trụ tròn.

Bánh chưng hiện nay thường được hiểu theo nghĩa biểu tượng cho Đất. Tuy nhiên bánh chưng đi đôi với bánh dầy hiển nhiên bánh chưng cũng phải hiểu theo ý nghĩa trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh.

Ta đã hiểu những ý nghĩa của bánh dầy trong Vũ Trụ Tạo Sinh rồi thì suy ra ý nghĩa của bánh chưng không khó và không bị sai lạc.

Duy có một điều khác với bánh dầy là bánh chưng có hình dạng thay đổi tùy từng vùng Bắc, Trung Nam. Bánh chưng có thể có hình vuông, hình trụ tròn hay trụ vuông. Với các hình dạng khác nhau này ta phải hiểu ý nghĩa của mỗi loại bánh này dưới những góc cạnh khác nhau của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

Trước hết ta hãy tìm ý nghĩa bánh chưng vuông trong Vũ Trụ giáo. Hình vuông có nghĩa gì trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que?

Như đã viết nhiều lần (Chữ Nòng Nọc, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á), hình vuông có một khuôn mặt là dạng thái dương của nòng O. Nói một cách dễ hiểu là hình vuông là nòng O của ngành lửa, thái dương, mặt trời thái dương. Một ví dụ điển hình là hình tượng Linga-yoni của Ấn giáo có hình dương vật hình trụ tròn linga cắm trên bệ âm hộ yoni hình vuông.

Dạng yoni hình vuông này là dạng dương hóa, thái dương của dạng yoni hình vòng tròn nòng O nguyên thủy :

Xem hình 2 : Linga trụ cắm trên yoni vuông ở Mỹ Sơn. Ở tượng này, yoni có dạng hình vuông

Xem hình 3 : Linga trụ tròn cắm trên yoni có hình dạ con tròn và hình âm đạo hình omega. Ở tượng này, yoni còn giữ dạng nòng nọc, âm dương nguyên thủy. Lưu ý trong âm đạo có hình một con tinh trùng !

Ở dạng nòng nọc, âm dương nguyên thủy này ta thấy rất rõ linga có ling– biến âm với Việt ngữ đinh (linh đinh, lênh đênh) là một vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (đinh hàm nghĩa con trai phái nam như tráng đinh, thành đinh), ling- biến âm với Việt ngữ lính (ngày xưa chỉ giới có linga, có đinh mới phải đi lính). Còn yoni thì theo y=d (yes, Nga ngữ ya = dạ), yon- = don. Ở Thái Bình có một loại hến sò gọi là con don. Món canh don rất nổi tiếng ở Thái Bình. Sò hến có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ. Theo d=l (dần dần = lần lần) don = l…

Cái cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy qua cặp chầy cối. Cối biến âm với cái. Cối giã gạo cũng có loại mặt hình vuông.

Ca dao Việt Nam cũng so sánh bộ phận sinh dục của bà Nữ Oa bằng một thửa ruộng ba mẫu « L… bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng, Bòi ông Tứ Tượng bằng bốn con sào» Ruộng có hình vuông. Đồ

Bà Nữ Oa cũng hình vuông. Chứng tích ruộng hình vuông thấy qua Hán tự ‘điền’ viết bằng hình vuông chia ra làm 4 ô nhỏ bởi chữ thập. Mặt chữ điền là mặt vuông. “Lá trúc buông che mặt chữ điền” (Hàn Mặc Tử). Ta thấy rõ  «ruộng vuông» của Nữ Oa giống cái yoni vuông của Ấn giáo. Tác giả Kim Định cũng nhận thấy “vuông đi với đất, cái, đàn bà” (Việt Lý Tố Nguyên tr.354).

Như thế rõ ràng hình vuông có một khuôn mặt là dạng dương hóa, thái dương của nòng O.

Như đã nói, bánh chưng vuông cũng hàm chứa một ý nghĩa hư không nòng O đã chuyển qua dạng thái dương.

Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Tương tự với vòng tròn, hình vuông cũng hàm chứa ý nghĩa sinh tạo, tạo sinh của Trứng Vũ Trụ, Thái Cực nhất là của ngành nòng âm ứng với Thần Nông. Bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương lưỡng hợp thái dương ở cõi tạo hóa (về phía Mẹ Tổ Âu Cơ)

– Lưỡng Nghi

– Cực âm : Như đã thấy hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng, Bộ phận sinh dục nữ, âm, cực âm…

Bánh chưng vuông có một khuôn mặt yoni vuông.  Để phân biệt nên dán một hình vuông hay tròn mầu đen. Như vậy báng chưng vuông có một khuôn mặt thái dương của nòng O phía Mẹ Tổ Âu Cơ, có một khuôn mặt là lửa, thái dương thần nữ, núi đất dương.

– Cực dương : Theo duy dương, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, lửa của ngành âm. Cũng xin nhắc lại người Inca có mặt trời hình vuông (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Inca).

Bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, cực dương (thường là ngành âm). Để phân biệt nên dán một hình vuông hay tròn mầu đỏ.

– Tứ Tượng

Ta đã biết hình vuông biểu tượng cho tứ phương, bốn hướng, cho tứ trụ, bốn nguyên sinh động lực chính… ứng với tứ tượng. Hình vuông để đứng trên một đỉnh biểu tượng cho tứ tượng chuyển động, sinh động ứng với từ hành (James Churchhard).

Hiển nhiên bánh chưng vuông bốn góc biểu tượng cho tứ tượng, tứ hành âm và dương, gộp lại là tám tượng ứng với bát quái của Dịch. Bánh chưng vuông với các sợi dây lạt buộc chia ra làm 9 ô vuông nhỏ ứng với hình ma phương (xem dưới).

– Tượng đất : Nếu hiểu theo nghĩa đất có hình vuông thì đây là khuôn mặt chính của bánh chưng vuông. Truyền thuyết nói “đem gạo nếp lành bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình trời đất”. Đất vuông có thể hiểu theo hai cách. Cách thứ nhất các nhà nho hiểu theo văn hóa Trung Hoa cổ quan niệm quả đất hình vuông giống như thời xưa Tây phương cũng tin là quả đất hình vuông.

Những đồng tiền kim loại cổ Trung Hoa hình tròn có lỗ vuông mang ý nghĩa trời tròn đất vuông. Tuy nhiên quan niệm này của Trung Hoa rất muộn khác với Đại Tộc Việt. Theo một số tác giả khảo cứu trống đồng dựa vào những sinh hoạt trên mặt trống xoay quanh mặt trời cho rằng về thời Hùng vương có lẽ tổ tiên ta đã biết quả đất tròn rồi. Diệp Đình Hoa cũng cho biết quan niệm cho trái đất vuông hiểu theo truyền thuyết “Bánh chưng” là sai: ”Qua sự nghiên cứu tục thờ thần mặt trời ở nước ta, phải chăng thuở ấy những người Việt này đã biết đến sự xoay chuyển của quả đất quanh mặt trời. Điều này rõ ràng mâu thuẫn với truyền thuyết trời tròn đất vuông trong chuyện ‘bánh chưng’. Trong trường hợp này, theo chúng tôi, tài liệu khảo cổ xác thực và đáng tin hơn” (Khảo cổ học và vấn đề Hùng vương, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t. I, tr.41, phần cước chú số 3).

Như thế bánh chưng vuông nếu hiểu theo nghĩa biểu tượng cho  đất thì không phải là hình ảnh của quả đất vuông mà bánh chưng vuông là biểu tượng cho một loại đất có hình vuông.  Đó là đất ruộng đồng có hình vuông như đã nói ở trên. Bánh chưng có hình vuông là làm theo hình ảnh của đồng ruộng. Theo duy âm là ruộng mẹ. Đồng có nghĩa là mẹ như việc đồng áng là việc mẹ cha (cổ ngữ Việt áng ná là cha mẹ); đồng bóngbóng mẹ. Mã ngữ indong là mẹ. Chứng tích hùng hồn nhất là ở một vài vùng ở đất tổ cũ ngày nay vẫn coi Âu cơ là nữ thần lúa, Mẹ lúa.

Theo ý nghĩa câu nói trong truyền thuyết qua từ “trời đất”, nếu hiểu trời dương thì đất là âm. Như thế hiển nhiên bánh chưng đất âm là đất mẹ, đất đồng ruộng. Cũng nên hiểu thêm là khi con người bước vào thời nông nghiệp, sống bám vào đất, coi việc đồng áng là việc mẹ cha thì đất mẹ được coi trọng tôn thờ trên hết. Lúc này hình vuông đồng ruộng được dùng làm biểu ngữ cho mẹ, âm, bộ phận sinh dục nữ (chính là thửa ruộng ba mẫu của bà Nữ Oa) Vào lúc tổ tiên ta đã sống vào thời xã hội nông nghiệp (mới có gạo nếp) thì bánh chưng có độ cao là có hình đất vuông ruộng đồng.

Tóm lại nếu nói theo nghĩa hiếu thảo với tiên vương gần của Hùng vương là cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ thì bánh dầy là biểu tượng cho mặt trời lặn, mặt trời Nước cha Lạc Long Quân thuộc ngành Nòng Nước Thần Nông và bánh chưng vuông là biểu tượng cho đất vuông ruộng đồng Âu Cơ thuộc ngành Nọc Lửa Viêm Đế  (vì Mẹ Tổ Âu Cơ  có cốt lửa, thái dương nên mới có hình vuông, dạng thái dương của vòng tròn). Bánh dầy bánh chưng quả đúng là “để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ” Hùng vương.

(Còn 1 kỳ nữa : bánh tét dưới lăng kính vũ trụ tạo sinh )

MỘT SỐ CHUYỆN TÂM LINH

PHONG TỤC TẬP QUÁN ?

Mới qua Tết được hơn 15 ngày, có nhiều chuyện đáng bàn về phong tục tập quán mà chúng ta chưa từng thấy trong những năm qua. Nhưng những chuyện này chỉ xảy ra ở Hà Nội, trong khi Sài Gòn từng mang tiếng quá cuồng vì “mê tín dị đoan” :

Rừng người đi dâng Sao giải Hạn

Tối 10/2 tức ngày mùng 8 Tết Tân Mão, như trang Hồ Ngọc Cẩn Group từng post là ngày Hội Sao cúng sao giải hạn cho cả năm. Cho nên hàng nghìn người chen chân dưới lòng đường, trên thành cầu vượt Ngã Tư Sở (Hà Nội) để dự lễ dâng sao giải hạn ở chùa Phúc Khánh – ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng.

Theo quan niệm của người Á Đông, mỗi người sinh ra đều có một vì sao chiếu mệnh theo từng năm. Trong 9 chòm sao La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức đều có sao tốt, có sao xấu. Người xưa thường có câu: “Nam La Hầu, nữ Kế Đô” hoặc”Thái Bạch bán sạch cửa nhà” để nói về những sao xấu.

Với mong muốn giảm nhẹ vận hạn, cầu cho gia đình mạnh khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, nhiều người chọn cách làm lễ cúng đầu năm tại chùa.

(theo Khánh Chi – Bá Đô)

Giẫm đạp, ngất xỉu tại lễ xin ấn đền Trần

Đền Trần (Nam Định) là nơi thờ các vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù tá nhà Trần. Đền bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (hay đền Thượng), đền Cố Trạch (hay đền Hạ) và đền Trùng Hoa.

Lễ hội đền Trần diễn ra vào rằm tháng giêng và mở đầu bằng lễ khai ấn đêm 14 tháng giêng. Gần đây, ngày càng nhiều người tới hành lễ tại đền Trần vào dịp hội để xin được tờ ấn với mong ước thăng tiến trong nghề nghiệp.

23h ngày 16/2 tức đêm 14 tháng Giêng năm Tân Mão, tại đền Trần (Nam Định), trong khi các cụ cao niên làm lễ tế, hàng nghìn người từ khắp nơi chen lấn, xô đẩy với hy vọng lấy được lá ấn để sự nghiệp được thăng tiến.

Hơn 23h đêm trong khi lễ rước ấn vua Trần đang thực hiện trong đền thì ở bên ngoài, hàng ngàn người đứng trước hàng rào với mong muốn sớm được vào xin ấn. Dù lực lượng cảnh sát cố gắng giữ trật tự nhưng nhiều người vẫn cố tình vượt qua hàng rào để vào bên trong.Tình trạng chen lấn, xô đẩy khiến nhiều phụ nữ phải ngất xỉu có người đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Còn khu vực phát ấn bị cả ngàn người vây kín. Để có được vị trí đứng này, nhiều người đã phải đứng xếp hàng trước vài tiếng. Ai cũng cầm sẵn tiền trên tay để chờ đến giờ phát ấn xin mua.

Hơn 2 tiếng sau giờ phát ấn, cả nghìn người vẫn vây quanh các lồng sắt (chứa các thùng ấn) để xin bằng được một vài mảnh vải vàng có đóng triện vua Trần. Năm nay Ban tổ chức bố trí 75 bàn phát ấn ở nhiều khu vực trong đền, thay vì 4 điểm như năm ngoái mà cung không đủ cầu. Dù Ban tổ chức cho biết, ấn được phát miễn phí, nhưng hầu hết mọi người muốn xin một chiếc ấn đều “ra lộc” 20.000-50.000 đồng.

Thiên Việt (theo Tiến Dũng – Bá Đô)

BẠN BIẾT GÌ VỀ CHUNG QUỲ ?

QUỶ VÂY CHUNG QUỲ

Ngọc hoàng đại đế sai Chung Quỳ (1) xuống trần gian bắt quỷ, nhưng không ngờ quỷ ở dương gian nhiều hơn quỷ ở âm phủ, lại rất dữ dằn. Những con quỷ này thấy Chung Quỳ đến bắt thì cùng nhau vây Chung Quỳ lại, quỷ lỗ mãng lấy bảo kiếm, quỷ khéo mồm ôm lấy chân, quỷ đòi nợ thì bíu ủng chụp nón.v.v…làm cho Chung Quỳ không cách gì trổ tài pháp thuật được.

Lúc ấy đột nhiên có một hòa thượng mập ú đang ưỡn cái bụng bự đi đến, vịn vai Chung Quỳ và nói :

– “Tướng quân bắt quỷ mà sao lại lúng túng thế ?”

Chung Quỳ nói :

– “Không ngờ quỷ dương gian khó bắt quá”.

Hòa thượng mập ù nói :

– “Đừng lo, tôi bắt quỷ thế cho ngài”.

Hòa thượng nói xong thì cười ha ha với tụi quỷ, há to miệng rống lên một tiếng, nuốt tất cả quỷ vào trong bụng. Chung Quỳ lấy làm kinh dị, nói :

– “Sư phụ đúng là thần thông quảng đại”.

Hòa thượng đáp :

– “Ngài không biết đó thôi, những tên nghiệt quỷ như thế này rất nhiều, không thể nói đạo lý với chúng nó, không thể nói chuyện tình cảm với chúng nó, chỉ có cách là nuốt nó vào trong bụng mà thôi”.

Suy tư :

Thường thì quỷ trong địa ngục nhiều hơn quỷ ở trần gian, nhưng quỷ trong địa ngục thì sợ Chúa sợ Mẹ, sợ luôn cả những người chuyên tâm cầu nguyện, rước lễ, đọc kinh và sống tốt lành. Quỷ ở trần gian dù không thần thông quảng đại như quỷ trong địa ngục, nhưng chẳng sợ ai cả, ngay cả Chúa và Mẹ chúng nó cũng không sợ, thì Chung Quỳ là cái thá gì chứ ?

Vậy thì quỷ ở trần gian là quỷ nào mà ghê gớm vậy ? Đó là những người có lòng kiêu ngạo như quỷ trong hỏa ngục, cộng thêm với tính tự mãn nữa nên coi ai không ra gì; đó là những người có lòng tham lam, cộng thêm với tính keo kiệt nữa, nên trở thành nổi thống khổ của người khác; đó là những người có lòng ghen ghét, cộng thêm với tính đố kỵ nữa, nên trở thành sự chia rẻ của cộng đoàn tập thể…

Với hòa thượng mập ù thì loại người này cần phải tiêu diệt gấp mà không thèm nói đạo lý với họ. Nhưng đối với Thiên Chúa thì những người này đều là con cái của Ngài, cho nên Ngài dùng đủ mọi cách mọi thế để cảm hóa lòng họ cho đến khi nào họ quyết tâm từ chối tình yêu của Ngài mới thôi.

Quỷ trên trần gian rất nguy hiểm vì ảnh hưởng đến người khác, chỉ có cầu nguyện, tha thứ và hy sinh mới cảm hóa được họ mà thôi.

(1) Vị thần trừ quỷ

TRANH CHUNG QUỲ

CHỈ ĐUỔI TÀ MA

Sách cổ chép rằng vào thời xa xưa có hai anh em tên Thần Đồ, Uất Lũy chuyên môn giám sát bọn ma quỷ, phát hiện có quỷ gây hại bèn trói lại đem cho hổ ăn thịt. Thế là Hoàng Đế vẽ tranh Thần Đồ, Uất Lũy vào trước cửa nhà để phòng trừ ma quỷ.

Câu chuyện thần thoại này là cái cớ sinh ra tranh “thần giữ cửa” sau này. Nghe nói hoàng đế đời Đường lệnh cho Ngô Đạo Tự vẽ tranh Chung Quỳ, rồi khắc bản in ra thưởng cho đại thần dán cửa tránh ma quỷ. Thời Tống xuất hiện kỹ thuật khắc bản, cung cấp điều kiện kỹ thuật chế tác tranh Tết khắc gỗ, thúc đẩy tranh Tết không ngừng phát triển. Cùng với sự lưu truyền rộng rãi của tranh Tết, nội dung và công dụng của nó không ngừng phong phú. Đến đời Thanh, tranh Tết phát triển đến đỉnh cao. Từ ban đầu làm bùa trừ tà đuổi quỷ, dần dần tăng thêm loại đề tài cát tường như ý, đông con trường thọ, em bé… qua đó cũng có chức năng biểu đạt ý nguyện tốt đẹp, và làm đẹp thêm môi trường sống trong năm mới. Đồng thời tranh Tết cũng biểu đạt nội dung cuộc sống hiện thực của bản thân người nông dân và những truyền thuyết, câu chuyện dân gian, làm cho tranh Tết có cuộc sống văn hóa phong phú, có tác dụng truyền bá kiến thức.

Tranh Tết dân gian cơ bản là nghệ thuật của bản thân người nông dân. Hình tượng trong tranh chất phác, tự nhiên, đơn thuần súc tích, nói thẳng những nguyện vọng chủ quan chân chất của nông dân. Nhiều bức tranh Tết có tính tình tiết, có tính trang trí, thú vị, màu sắc tươi sáng mạnh mẽ. Phương pháp biểu hiện đó vừa phù hợp với thói quen thưởng thức và thú thẩm mỹ của đông đảo nông dân, thị dân, cũng tiện cho việc chế tác: Khắc gỗ, in ấn. Tranh Tết dân gian trước tiên vẽ bản gốc, rồi lại khắc trên bản gỗ, in ra mà thành, hoặc in ra đường nét chung, rồi dùng bút tô màu. Trước khi xuất hiện kỹ thuật in ấn hiện đại, thì đó là phương pháp duy nhất sản xuất tranh với số lượng lớn.

Đề tài tranh Tết khắc gỗ rất đa dạng, cũng rất cầu kỳ. Tranh thần cửa dán ngay trên cổng vào sân, tùy theo loại thần cửa, mà chia ra loại dán ở cổng lớn, cổng hai, cổng sau, cổng khuê phòng. Thần tượng có thần vua bếp, thần trời đất, thần tài, thần cửa kho, thậm chí còn có thần xe ngựa dán ở chuồng trâu ngựa. “Trung đường” dán ở phòng khách, “nguyệt quang” dán bên cửa sổ, giấy vuông dán trên rương hòm hoặc đồ cân đo, mỗi loại có quy cách riêng. Tóm lại, khi Tết đến, trong nhà ngoài sân, các ngóc ngách đều dán xanh đỏ, vừa dùng biểu đạt tâm nguyện của chủ nhân, lại làm nổi lên không khí ngày Tết.

Theo sự tiến triển của thời đại, trong các tranh Tết cũ, một số quan niệm mê tín lạc hậu bị đào thải dần, tranh Tết chỉ còn là giữ lại một số hình thức nghệ thuật rất thông tục và phổ cập. Từ giữa thế kỷ đến nay, trên các giai đoạn lịch sử khác nhau, các họa sĩ vẽ tranh Tết đã sáng tạo hình thức tranh Tết mới, nhằm biểu hiện cuộc sống hiện thực. Đến thập niên 50, 60 tranh Tết mới vẫn phát triển thịnh vượng. Nó được dùng kỹ thuật in ấn mới, số bản in và lượng phát hành rất lớn. Có thể nói, cho đến ngày nay, chưa có một loại tranh nào có số lượng xuất bản nhiều bằng tranh Tết. Tranh Tết có số lượng người xem đông nhất trên thế giới.

Không nên treo mặt nạ trong nhà

Nhiều người thích trang trí ngôi nhà của mình bằng những chiếc mặt nạ sưu tầm được trong những chuyến du lịch, như một kỉ niệm, .. Nhưng không phải chiếc mặt nạ nào cũng thích hợp cho việc trưng bày như một vật trang trí

Nhiều gia đình hiện nay vẫn thích treo trong nhà bức tranh Chung Quỳ cao bằng người có sát khí, có thể tránh tà trị ma, nhưng cũng bất lợi về việc cầu con. Nếu không muốn có con, treo tranh Chung Quỳ cũng có thể tránh tà.

Vào thời xưa, tượng mặt nạ được dùng trong dịp tế thần trị ma, là một loại biểu diễn mang tính tôn giáo. Vào thời xưa ở Trung Quốc có một số loại kịch diễn viên không nói chuyện, mang mặt nạ biểu diễn động tác xong, đều phải dùng khăn trắng che mặt rồi mới cất vào. Các mặt nạ này tuyệt đối không được treo trong nhà để tránh rước họa.

Người xưa hiểu những điều cấm kị này hơn người hiện đại, vì để tránh xung khắc, cho nên trong nhà chưng tranh sơn thủy, hoa chim, tự họa và sành sứ linh vật trang trí làm chính.

Đây đều là những vật bình hòa, tuy không giải được ác sát nhưng cũng không có hại… Nếu như người xưa muốn cất giữ vật mang “sát khí”, trước tiên sẽ để nó ở nơi sinh hoạt thường ngày, những đồ cổ vật lạ này đều sẽ đặt ở trong phòng khách như biệt uyển, tây sương… đây đều là căn phòng thường ngày không có người sống ở đó lâu, còn về các vật như mặt nạ thì dùng vải che lại để trang trí, khi cần dùng thì mở ra ngắm nhìn. Thần phật chỉ đặt trên bàn thờ để cung phụng.

Theo DOOL

CHÂN DUNG “NGHỀ COI BÓI”

CHÂN DUNG

CÁC THẦY BÓI

Năm hết tết đến là dịp để các dịch vụ bói toán nở rộ. Nhưng kiểu bói bình dân bên lề đường giá vài chục ngàn đã là chuyện… xưa như trái đất.

Không như xưa, khách quen thuộc của các thầy là các bà, các dì, các cô gái trẻ ít học hành, quanh năm chỉ lo mỗi việc nội trợ, con cái. Ngày nay là thời mà các doanh nhân, bác sĩ, tiến sĩ, dân văn phòng học cao hiểu rộng nhưng họ cũng đi tìm lời khuyên ở các thầy bói.

Miễn đúng là được

Trọng, một chủ cửa hàng kinh doanh xăng dầu ở quận Tân Phú, thỉnh thoảng lại mời thầy phong thủy tên Tùng đến “coi sóc” văn phòng. Đảo một hồi các phòng ban từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, thầy chỉ vào một căn phòng tại lầu ba rồi phán : “Có người vô phòng này làm chuyện dơ bẩn, phải tẩy uế”. Đến phòng kế toán, thầy nói : “Ở đây có một con ma nữ, phải tụng kinh cho nó siêu thoát”. Lời phán cửa thầy khiến nhân viên phòng này toát mồ hôi hột, không dám ngủ trưa. Các phòng ban phải thay đổi vị trí để cửa hàng phát đạt hơn. Mỗi một lần như vậy, thầy Tùng bỏ túi hai chục triệu đồng. Theo ông Trọng thì “mời thầy khó lắm, phải trả cho xứng đáng”.

Còn thầy Phát trên đường Lê Văn Sỹ nức tiếng coi chuyện làm ăn. Coi chỉ tay, chữ ký giá 200.000đ/lần. Mời thầy đến nhà coi phong thủy là 1.000.000đ/lần, coi phong thủy từ lúc động thổ đến khi nhà xây xong giá 5.000.000đ. Mỹ Hạnh, làm nhân viên xuất nhập khẩu một công ty ở Q1, kể : “Từ ngày dọn về nhà mới hai vợ chồng lục đục hoài. Thầy Phát nói nhà phạm vào hướng ngũ quỷ nên bị phá. Từ hôm treo cái kiếng của thầy trước cửa, vợ chồng tôi yên ấm hẳn, làm ăn khấm khá hơn”.

Bà Ba, một thầy bói tại Q 11 nói : “Nhiều Việt kiều về kiếm tui coi lắm. Tết năm nào tui cũng chỉ coi cho Việt kiều, một lần coi cả trăm đô”. Các thầy ra giá càng cao thì càng có tiếng, càng được giới thu nhập cao ưa chuộng. Bởi, “phải coi hay thì giá mới cao”, “miễn đúng là được, tiền không thành vấn đề”.

Một “gu” khác của giới nhà giàu là lập nhóm, mời các thầy ở tỉnh lên coi. Hoặc đi khắp “thâm sơn cùng cốc” mong gặp được cao nhân. Chi phí cho một lần coi rẻ nhất là 500.000đ/lần/người, chưa kể coi đúng được “bo” thêm.

Ngọc, nhân viên kiểm toán một công ty ở Q7 tâm sự : “Tôi thấy người ta càng giàu càng đi coi bói nhiều. Cúng nhiều càng giàu nhiều, chắc mình cúng chưa đủ”.

Nghe chửi mất tiền

Hương, chủ một sạp vải ở chợ Soái Kình Lâm Q.5, rất mê coi bói. Lặn lội đi Vũng Tàu, Cần Thơ, An Giang… coi bói là chuyện thường của bà. Theo lời giới thiệu của bà Hương, tôi tìm đến nhà thầy Bảy trên đường Tôn Đản Q.4. Hương dặn dò : “Phải chịu khó một chút vì thầy thẳng tính, hay chửi nhưng được cái coi đúng”.

Thầy Bảy có gương mặt khá “anh chị”, tay có hình xăm. Giọng thầy lạnh tanh: “Có lá số chưa ?”. “Dạ, có rồi !”. Sau khi săm soi lá số, giọng thầy xẵng lè : “Mệnh bị thiên hình, địa kiếp giống như đi mua đồ bị xì ke, móc túi kẹp hai bên. Như vậy có mua đồ được không ? Nói !”, “Anh em sinh đôi có chết cùng ngày không ? Tui đã nói là không coi, hỏi hoài vậy ?”, “Chuyện bệnh tật phải hỏi bác sĩ, đừng hỏi tui”,… Mặc dù đã được Hương cảnh báo nhưng tôi không khỏi thót tim, ngồi co rúm như bị hỏi cung. 20 phút sau, tôi thở phào rời khỏi nhà thầy Bảy khi đã đặt hai tờ bạc mệnh giá 100.000đ trên bàn.

Các thầy “chảnh”, ở xa, hẹn lịch coi trước… càng có giá. Chẳng hạn, muốn coi thầy Minh ở Q6 phải đi từ 5-6 giờ sáng. Đợi ít nhất cũng vài ba tiếng, đến khi được hân hạnh diện kiến thì “về đi, không có duyên coi”. Giá của thầy nào có rẻ : 300.000đ/lần trở lên. Khách đến coi bà thầy tử vi tên Văn ở chung cư Nhiêu Lộc thì thường xuyên bị “xài xể” : “Người gì mà tính kỳ cục vậy ? Phải sửa !”, “Tui chỉ mà không nghe đừng có hối hận”, “Tính cứng đầu không chịu bỏ !”…

Thầy ‘ngoại’ xủ quẻ

Trên mạng internet phát triển, từ Việt Nam có thể coi bói với các thầy nước ngoài. Thậm chí, thầy “ngoại” có thể bay về Việt Nam coi trực tiếp, chi phí dĩ nhiên tính bằng đô la.

Trang Website coi bói có tên Pete….. Khi được hỏi “Peter, xin trả lời, khi nào tôi có tình duyên mới ?”, website này đưa lời giải : “Tôi không muốn trả lời điều này”. Không coi bài tây, chỉ tay hay xem tướng như thầy Việt, các chiêm tinh gia – thầy “ngoại” xủ quẻ bằng bài Tarrot, bài Mah Jong, cầu thủy tinh hoặc cung hoàng đạo từ… bên kia đại dương.

Nở rộ web bói

Có thể nói, internet là công cụ kiếm tiền đắc lực cho các chiêm tinh gia. Giới mê coi bói mạng đang bị một trang web có tên là Peter… hấp dẫn bởi sự huyền bí của nó. Trang web này được mệnh danh là phù thủy và người ta nói rằng nó có thể đọc được ý nghĩ của khách truy cập. Đặc biệt, nó có thể trả lời bằng bất cứ ngôn ngữ nào của người đặt câu hỏi và đáp án chính xác 100%.

Nhưng có thử vào website này mới thấy thực hư ra sao. Gõ câu thần chú theo chỉ dẫn và thành tâm đặt câu hỏi với thầy Peter, gần một giờ sau câu trả lời vẫn chưa xuất hiện. Xung quanh đó là hàng loạt các đường dẫn khác để gặp thầy Susan với lệ phí từ vài chục cho đến vài trăm đô. Susan cũng hào phóng gửi một bảng dự đoán bằng tiếng Anh hơn hai ngàn chữ làm “quà” trước khi vào các câu hỏi chuyên sâu có phí.

Mô hình chung của các trang coi bói là trả lời câu hỏi chung chung gợi tò mò, người coi muốn thông tin chi tiết phải đóng phí. Nổi bật hiện nay là trang Go… với các hoạt động khá chuyên nghiệp. Sau khi đăng ký, các thành viên của trang web này đều đặn nhận được các thông tin chào mời hấp dẫn như : bạn có muốn biết tương lai như thế nào ? Chuyện tình cảm của bạn ra sao ? Bạn đang nghĩ rằng mình là người duy nhất đang gặp rắc rối về tiền bạc ? Năm sau mọi thứ có tốt hơn không ? Lúc này có nên thay đổi công việc không ? Nên đầu tư vào cái gì ? Có nên mua vé số không ?… Muốn biết, đương nhiên phải tốn tiền.

Cận cảnh chiêm tinh gia

Tuy nhiên, bói qua web không hấp dẫn như được gặp trực tiếp chiêm tinh gia nước ngoài, bói kiểu này được gọi là “coi bói có phiên dịch”. Giới mê bói đang ráo riết “săn lùng” địa chỉ của chiêm tinh gia bói bằng quả cầu thủy tinh trong cộng đồng người Pakistan, Ấn Độ ở Sài Gòn. Chi phí cho mỗi lần bói kiểu phù thủy “nghìn lẻ một đêm” này không dưới 500.000đ.

Giữa tháng 1/2011 vừa qua, có sự kiện đáng chú ý là việc chiêm tinh gia Bill H (Mỹ) của trang web Go… đến Việt Nam và có bốn buổi “trò chuyện” trực tiếp tại một hệ thống cà phê nổi tiếng ở Sài Gòn. Trước đó, thông tin Bill đến Việt Nam đã được gửi đến các thành viên cách đây hai tháng. Lời giới thiệu thật sự hấp dẫn : “Với một khoản phí nhỏ để được thoải mái trò chuyện và được chiêm tinh gia trả lời các thắc mắc bằng quẻ Mah Jong. Và, một phần khoản phí sẽ được trích ra làm từ thiện”.

Quán cà phê khá lớn nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ Q.1, là điểm gặp mặt cuối trong hành trình của thầy Bill. Có ba nhân viên nữ của website mặc đồng phục ngồi trước máy vi tính làm thủ tục xếp thứ tự. Một nhân viên cho biết, thư điện tử gửi đến các thành viên là do Bill viết, các nhân viên dịch ra rồi gửi đến các thành viên. Cùng thời điểm này vào năm ngoái thầy Bill cũng đã đến Việt Nam. “Khoản phí nhỏ” mà trang web đề cập là 300.000 đ, và nhân viên tư vấn : “Nên tập trung nghĩ đến một vấn đề và đặt một câu hỏi duy nhất”.

Bill là một người đàn ông có tuổi đời xấp xỉ 60, tóc bạc trắng, có nụ cười dễ mến. Ông đón tôi bằng nụ cười niềm nở và hỏi muốn xem vấn đề gì. Cô nhân viên ngồi cạnh làm phiên dịch. Khi tôi nói cần hỏi chuyện tình duyên, thầy Bill bảo tôi xáo các lá bài Mah Jong (một loại bài của Trung Quốc) theo hình vòng tròn và bốc ra 13 lá. Và thầy Bill giải rằng vấn đề của tôi là cần xác định đối tượng mình đang nghĩ đến là ai và cố gắng tiếp cận. Nhiều trắc trở nhưng cuối cùng cũng đạt kết quả. Chuyện tình cảm của tôi sẽ được “angel help” mà theo “ngôn ngữ” bói toán là thần linh phù hộ. Thầy trấn an thêm : “Cứ yên tâm vì cô phiên dịch này đã theo dịch cho tôi vài năm nay”. Rồi thầy đứng dậy bắt tay tôi, cười nồng nhiệt. Vậy là xong, cuộc gặp gỡ vỏn vẹn năm phút.

Thúy, 32 tuổi, kiểm toán ở một công ty nước ngoài là người coi đầu tiên cho biết : “Bill đoán công việc của tôi nếu cố gắng thì sẽ thành công”. Còn Quỳnh, 38 tuổi, chủ một công ty thủy sản ở Q7 là người thứ tư vẫn còn tâm trạng phấn khích vì Bill nói cô vừa rút được những lá bài may mắn mà ít ai rút được. Quỳnh chỉ mới hỏi về công việc, cô đang đợi lượt kế tiếp để hỏi Bill chuyện tình duyên.

“Tốn 600.000đ trong mười phút ?”. Quỳnh khoát tay : “Không thành vấn đề ! Miễn đúng là ok”.

Sa Đồng

SỰ TÍCH SÔNG TÔ LỊCH

Miếu thờ ông Dầu bà Dầu hàng năm dân vùng Bưởi vẫn mang lễ vật theo sở thích của hai vợ chồng đến cúng lễ vào ngày ba mươi tháng mười một.

Ngày xưa về đời nhà Lý có một ông vua bị bệnh đau mắt. Mấy ông thầy thuốc chuyên môn chữa mắt ở trong kinh thành cũng như ngoài nội thành đều được mời vào cung chạy chữa, trong số đó cũng có những lương y nổi tiếng, nhưng tất cả mọi cố gắng đều vô hiệu. Cặp mắt của vua cứ sưng húp lên, đêm ngày nhức nhối rất khó chịu. Ðã gần tròn hai tháng vua không thể ra điện Kinh Thiện coi chầu được. Triều đình vì việc vua đau mắt mà rối rít cả lên. Những cung giám chạy khắp nơi tìm thầy thuốc, và lễ bái các chùa đền, nhưng mắt của thiên tử vẫn không thấy bớt.

Một hôm có hai tên lính hầu đưa vào cung một thầy bói từ núi Vân Mộng về. Ông thầy chuyên bói dịch nổi tiếng trong một vùng. Sau khi gieo đốt mấy cỏ thi, ông thầy đoán :

– Tâu bệ hạ, quẻ này có tượng vua rất linh nghiệm. Quả là bệ hạ bị “thuỷ phương càn tuất” xuyên vào mắt cho nên bệ hạ không thể bớt được, trừ phi trấn áp nó đi thì không việc gì.

Vua bèn sai hai viên quan trong thành. Thuở ấy ở phía Tây bắc thành Thăng Long có hai con sông nhỏ : Tô Lịch và Thiên Phù đều hợp với nhau để thông ra sông Cái ở chỗ cứ như bây giờ là bến Giang Tân. Họ tới ngã ba sông dựng đàn cúng Hà Bá để cầu thần về bệnh của hoàng đế. Ðêm hôm đó, một viên quan ăn chay sẵn nằm trước đàn cầu mộng. Thần cho biết : “đến sáng tinh sương ngày ba mươi cho người đến đứng ở bên kia bến đò, ai đến đó trước tiên lập tức bắt quẳng xuống sông phong cho làm thần thì trấn áp được”

Nghe hai viên quan tâu, vua lập tức sai mấy tên nội giám chuẩn bị làm công việc đó. Một viên đại thần nghe tin ấy, khuyên vua không làm việc thất đức, nhưng vua nhất định không nghe. Con mắt của hoàng đế là rất trọng mà mạng của một vài tên dân dã thì có đáng kể gì. Hơn nữa sắp sửa năm hết tết đến, việc đau mắt của vua sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghi lễ long trọng và quan hệ của triều đình.

Ở làng Cảo thuộc về tả ngạn sông Tô hồi ấy có hai vợ chồng làm nghề bán dầu rong, người ta vẫn quen gọi là ông Dầu bà Dầu. Hàng ngày hai vợ chồng buổi sáng đưa dầu vào thành bán, buổi chiều trở ra : vợ nấu ăn chồng đi cất hàng.

Hôm đó là ngày ba mươi tháng mười một, hai vợ chồng định bụng bán mẻ dầu cho một số chùa chiền. Vào khoảng cuối năm, người ta cần dùng nhiều dầu để thắp Tết. Họ dậy thật sớm, chồng gánh chảo, vợ vác gáo cùng tiến bước đến ngã ba Tô Lịch – Thiên Phù. Ðến đây họ vào nghỉ chân trong lò canh đợi đò.

Ðường vắng tanh chưa có ai qua lại. Nhưng ở trong chòi thì vẫn có hai tên lính đứng gác. Vừa thấy có người, chúng xông ra làm cho hai vợ chồng giật mình. Họ không ngờ hôm ấy lại có quân cấm vệ đứng ở đây. Tuy thấy mặt mũi chúng hung ác, nhưng họ yên tâm khi nghe câu hỏi của chúng :

– Hai người đi đâu sớm thế này ?

Họ cứ sự thật trả lời. Họ có ý phân bua việc bán dầu hàng ngày của mình chỉ vừa đủ nuôi miệng. Chúng cứ lân la hỏi chuyện mãi. Chúng nói :

– À ra hai người khổ cực như thế đó. Vậy nếu có tiền thừa thãi thì hai người sẽ thích món gì nào. Nói đi ! Nói đi, rồi chúng tôi sẽ kiếm cách giúp cho.

Thấy câu chuyện lại xoay ra như thế, ông Dầu bà Dầu có vẻ ngạc nhiên. Nhưng trước những lời hỏi dồn của chúng, họ cũng phải làm bộ tươi cười trả lời cho qua chuyện :

– Tôi ấy à ? Người chồng đáp. Tôi thì thấy một đĩa cơm nếp và một con mái ghẹ là đã tuyệt phẩm.

Người vợ cũng cùng ý như chồng nhưng có thêm vào một đĩa bánh rán là món bà thèm nhất.

Thấy chưa có đò, hai vợ chồng lấy làm sốt ruột. Nói chuyện bải bây mãi biết bao giờ mới vào thành bán mẻ dầu đầu tiên cho chùa Vạn Thọ. Hai người bước ra nhìn xuống sông. Hai tên lính từ nãy đã rình họ, bấy giờ mới bịt mắt họ và lôi đi sềnh sệch. Họ cùng van lên :

– Lạy ông, ông tha cho chúng cháu, chúng cháu chẳng có gì.

Nhưng hai tên lính chẳng nói chẳng rằng, cứ cột tay họ lại và dẫn đến bờ sông. Chúng nhấc bổng họ lên và cùng một lúc ném mạnh xuống nước. Bọt tung sóng vỗ. Và hai cái xác chìm nghỉm. Rồi chúng cắm cổ chạy.

Lại nói chuyện mắt vua sáng vào một sáng tháng chạp tự nhiên khỏi hẳn như chưa từng có việc gì. Nhưng ông Dầu bà Dầu thì căm thù vô hạn. Qua hôm sau hai tên cấm vệ giết người không biết vì sao tự treo cổ gốc đa trong hoàng thành. Rồi giữa hôm mồng một Tết, lão chủ quán ở bên kia Giang Tân phụ đồng lên giữa chùa Vạn Thọ nói toàn những câu phạm thượng. Hắn nói những câu đứt khúc, nhưng người ta đều hiểu cả, đại lược là :

– Chúng ta là ông Dầu bà Dầu đây… Chúng mày là quân tàn ác dã man, chúng mày là quân giết người lương thiện… Chúng mày sẽ chết tuyệt diệt… Họ Lý chúng mày sẽ không còn một mống nào để mà nối dõi… Chúng tao sẽ thu hẹp hai con sông Tô Lịch và Thiên Phù lại… Chừng nào bắt đầu thì chúng mày đừng hòng trốn thoát…

Những tin ấy bay về đến tai vua làm cho nhà vua vô cùng lo sợ. Vua sai lập một đền thờ ở trên ngã ba Giang Tân và phong cho hai người là phúc thần. Mỗi năm cứ đến ba mươi tháng mười một là có những viên quan bộ Lễ được phái đến đây cúng ông Dầu bà Dầu với những món ăn mà họ ưa thích.

Nhưng ngôi báu nhà Lý quả nhiên chẳng bao lâu lọt về tay nhà Trần. Dòng họ Lý quả nhiên chết tuyệt diệt, đến nỗi chỉ người nào đổi qua họ Nguyễn mới hòng trốn thoát.

Sông Thiên Phù quả nhiên cứ bị lấp dần, lấp dần cho mãi đến ngày nay chỉ còn một lạch nước nhỏ ở phía Nhật Tân. Sông Tô Lịch cũng thế, ngày nay chỉ là rãnh nước bẩn đen ngòm. Duy có miếu thờ ông Dầu bà Dầu thì hàng năm dân vùng Bưởi vẫn mang lễ vật theo sở thích của hai vợ chồng đến cúng lễ vào ngày ba mươi tháng mười một.

Trích trong cuốn “Phong tục tập quán”

CHUYỆN CHỤP HÌNH

HỒN MA ?!

Từ những bức ảnh chụp tại ngôi nhà ma Đà Lạt, bức ảnh ở những điểm đen về giao thông, nhà tang lễ… đã mở ra một đề tài nghiên cứu về khả năng chụp hình “người âm”. Đề tài nghiên cứu về khả năng chụp hình “người âm” (ta còn gọi là hồn ma) đã được đưa vào chương trình nghiên cứu của TT Nghiên cứu Tiềm năng con người. Khoảng 1.000 tấm ảnh đưa về nhưng vẫn không ai khẳng định có hay không việc chụp hình “người âm”.

Trong hội thảo khoa học mang tên “Giả thuyết, lý giải một số hiện tượng đặc biệt dưới góc độ khoa học” tổ chức tại Sài Gòn ngày 20/9/2009, ông Nguyễn Phúc Giác Hải – Chủ nhiệm bộ môn Thông tin dự báo (thuộc Liên hiệp các Hội KHKTVN) đã công bố bức ảnh chụp vào 10h sáng ngày 2/8/2007 tại đèo Prenn, Đà Lạt, Lâm Đồng.

Bức ảnh được ông chụp khi trời đầy sương, máy ảnh kỹ thuật số Kodak 5.0 Mega Pixen. Ảnh được in lúc hội nghị sắp kết thúc. Nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng xem và thấy có một vòng ánh sáng thì kêu lên : “Chú đã chụp được ảnh một vong dưới dạng vòng tròn”.

Ông Hải lúc đó nhớ ra mình được tặng một trang photocopy bài báo về một tai nạn giao thông trên đường Phạm Hùng, Hà Nội vào tháng 9/2006. Bức ảnh đăng trong bài báo này có hiện lên những vòng tròn mờ. Trở về Hà Nội, ông tìm bản gốc tờ báo này thấy trong tấm ảnh cũng có những vòng tròn đó. Giật mình, ông đem máy xuống hiện trường, nơi xảy ra vụ tai nạn. Trong đêm khuya ông đã chụp được khá nhiều tấm ảnh và khi rửa ra cũng thấy xuất hiện nhiều vòng tròn như vậy.

Phải có nhiều bức ảnh của cùng một “người”

Ông Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp UIA (Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng) cho biết, thế giới đã công bố nhiều bức ảnh trên các lâu đài cổ có “người âm” đang đứng. Thậm chí, có những bức ảnh rõ hoàn toàn các chi tiết của một con người.

Tại UIA cũng đã chụp được bức ảnh những chiếc thuyền buồm với nhiều đốm sáng xung quanh, hiện lên trên dòng sông Lam trong lễ cầu siêu cho các vong linh liệt sĩ. Cũng có nhiều nhà ngoại cảm đưa ra các hình ảnh mờ ảo, các vòng tròn và khẳng định đó là ảnh của người đã khuất.

Tuy nhiên, không thể khẳng định được đó là linh hồn của các liệt sĩ hay chỉ là do hiệu ứng của ánh sáng, kỹ thuật của người chụp… Thậm chí, khi ống kính máy ảnh có một hạt bụi thì cũng tạo ra được một đốm sáng hoặc người chụp run tay, rê tay thì hiệu ứng bức ảnh cũng đã khác… nên không đủ cơ sở khoa học để khẳng định.

Thực tế nghiên cứu cho thấy, đối với người bình thường chỉ nghe được trong dải tần số 2.000 – 3.000Hz. Quá giới hạn đó, tai chúng ta không nghe được. Tương tự, mắt chúng ta nhìn được ánh sáng từ tia đỏ đến tia tím, dưới tia đỏ là tia hồng ngoại và tia cực tím, ta không thể nhìn thấy. Tuy nhiên, có những loại máy ảnh có thể bắt được tần số ánh sáng dưới tia hồng ngoại và tia cực tím.

Nhưng xác xuất chụp được những bức ảnh như vậy không nhiều, nhất là khi người chụp không được phép hoặc khó sử dụng đèn flash nên hình ảnh thường mờ ảo, không nét (có thể do tần số khác với mắt thường). Khoa học hiện nay phát triển, người ta có thể chế ra các thiết bị âm thanh chuyển đổi được tần số sóng và các nhà ngoại cảm nghe được âm thanh đó. Việc công bố một số bức ảnh hiện nay chỉ là định tính, chưa có độ tin cậy. Nếu muốn chứng minh phải có nhiều bức ảnh của cùng một “người” với các trạng thái khác nhau, để thấy được sự giống và khác nhau mới đảm bảo độ tin cậy, chính xác.

Khi mất đi con người vẫn có trường năng lượng

Con người là năng lượng. Trong mỗi cơ thể đều gồm có 7 phần : Phần thể xác, eterium (vật chất tế vi và năng lượng), cơ thể cảm xúc, linh cảm, nhân quả, tài năng bẩm sinh, linh hồn.

Phần thể xác là vật lý, sáu phần khác là vật chất mịn mà eterium là “trường” – người ta hay gọi là vía.

Từ lâu, nhà khoa học Klein đã làm một thí nghiệm. Ông ngắt 1 cái lá, cắt 1/2 của nó đi. Khi ông chụp ảnh thì nửa chiếc lá cắt đi vẫn tồn tại 1 trường sinh học. Hình ảnh hiện lên vẫn là chiếc lá còn nguyên.

Phải chăng, con người cũng vậy, cơ thể chúng ta là năng lượng, khi chết đi thì họ vẫn tồn tại trường sinh học. Khi chúng ta chụp được hình tức là chụp được trường sinh học đó.

Nguyễn Văn Khoa

BÍ ẨN LINH HỒN

BÍ ẨN CỦA LINH HỒN

Bạn có tin ở linh hồn ? Bạn không tin ở linh hồn ?

Thật khó trả lời, vì đó là một khái niệm mà chưa bao giờ con người thực sự làm chủ. Nhưng giải thích sự tồn tại và vận động của thế giới xung quanh và thậm chí là của chính bản thân mình là nhu cầu không bao giờ vơi cạn của con người. Vì thế, các nhà khoa học vẫn luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời về linh hồn.

Từ một câu chuyện kỳ lạ tại Tây Tạng

Tại vùng đất huyền bí nhất trên thế giới, Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền một sự kiện hết sức kỳ lạ về “Người cầu vồng”. Sự kiện xảy ra năm 1998 tại Kham, khu vực hẻo lánh phía đông Tây Tạng, sự biến mất kỳ lạ của vị Lạt ma Khenpo A-chos. Ông là một trong các vị Lạt ma có uy tín nhất trong vùng, thường xuyên thuyết giảng về đạo Phật dù Chính phủ Trung Quốc có những quy định rất khắt khe về việc này.

Vào tuổi 80 vị Lạt ma vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Một hôm, Lạt ma Khenpo A-chos lên nằm trên giường của mình, miệng lẩm bẩm câu thần chú Tây Tạng “Om mani padme hum” (Úm Ma Ni Bát Dị Hồng) và qua đời. Ngay sau đó, cầu vồng xuất hiện trên căn phòng nhỏ của ông suốt cả ngày.

Những người học trò của Khenpo A-chos tổ chức lễ cầu kinh để linh hồn người thầy siêu thoát. Nhưng hiện tượng lạ thường xảy ra : da thịt của vị Lạt ma bắt đầu hồng hào trở lại. Dường như Khenpo A-chos đang từ từ tái sinh. Học trò của ông đi hỏi ý kiến một vị Lạt ma và được lời khuyên hãy bọc thi thể của thầy lại và tiếp tục cầu kinh. Họ làm đúng như lời chỉ dẫn. Một tuần sau, khi mở tấm áo bọc thi thể vị Lạt ma, người ta chỉ thấy vài sợi tóc còn sót lại trên gối, thi thể của Khenpo A-chos đã hoàn toàn biến mất. Từ đó người Tây Tạng gọi ông là “Người cầu vồng”.

Câu chuyện thần bí lan ra khắp nơi. Cha Francis Tiso – một cha đạo dòng thánh Benedict tại Mỹ cũng nghe được câu chuyện kỳ bí này. Ông là một trong những chuyên gia nghiên cứu về đạo Phật và đã có học vị tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cha Francis Tiso tổ chức một chuyến đi đến Kham để ghi lại lời kể của những người đã chứng kiến sự kiện. Người mà cha Tiso muốn gặp nhất là vị Lạt ma đã được các học trò của Lạt ma A-chos hỏi ý kiến. Vị Lạt ma nói với cha Tiso rằng sự biến mất của Lạt ma A-chos là do một lực vật chất xuất phát từ trong linh hồn của ông ấy. Đây không phải là một câu nói mang hàm ý triết học hoặc ẩn dụ, điều ông muốn nói ở đây là một sự thực đã xảy ra. Vị Lạt ma đưa cho cha Tiso xem một bức ảnh của Lạt ma A-chos khi ông đã qua đời.

Bằng mắt thường có thể nhìn thấy rất rõ một luồng ánh sáng phát ra từ thân thể của Lạt ma A-chos. Xem bức ảnh, cha Tiso thốt lên : “Đây là sự giao hoà giữa cái có thể và không thể, giữa một con người hiện hữu và con người siêu phàm. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được cơ sở để chứng minh rằng nó có thật”.

Điều mà cha Tiso muốn tìm trong sự kiện xảy ra tại Kham cũng nằm trong vấn đề lớn mà ông đang nghiên cứu, đó là có hay không sự tồn tại của linh hồn con người. Hiện nay, những cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề này vẫn diễn ra quyết liệt. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ, nếu có sự tồn tại của linh hồn thì làm sao để xác định được. Những người cho rằng linh hồn là có thật dựa vào các tài liệu tôn giáo để chứng minh cho sự tồn tại của nó, còn người phản đối thì cho rằng các lập luận đó quá mơ hồ và không thể đủ độ tin cậy khi được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học.

Những kiểm chứng khoa học

Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.

Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn”.

Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…

“Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất” – Lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói.

Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước.

Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.

Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.

Pim van Lommel, bác sĩ chuyên khoa tim người Đan Mạch cũng đồng ý với quan điểm của Greyson. Lommel cho rằng con người không chỉ có một ý thức, trong khi họ đang ở trong tình trạng hấp hối thì những ý thức khác hoạt động và mở rộng phạm vi của nó nhiều hơn so với bất cứ thời điểm nào trước đó. Lúc đó họ có thể hồi tưởng lại những khoảng thời gian xa xôi nhất trong quá khứ và cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bình thường sự vật và con người xung quanh. Trong khi đó, thần kinh trung ương của họ vẫn đang ngừng hoạt động.

Những giả thiết trên đã đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu : Ý thức là sản phẩm của não bộ. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Bởi vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. Nhưng các thí nghiệm ở trên thì đều chứng minh cho điều ngược lại.

Còn hai học giả của trường Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích sự tồn tại của linh hồn bằng quá trình lượng tử. Theo hai ông, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, các ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể một người ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này, và chúng cũng ngừng hoạt động. Nhưng sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. Và đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.

Vậy nếu người đó không tỉnh lại được nữa thì các chuỗi lượng tử đó sẽ di chuyển đi đâu ? Tiếp tục mở rộng giả thuyết của Hameroff và Penrose, bác sĩ Ian Stevenson đã nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh! Sau khi Ian Stevenson mất, con trai ông là Tucker tiếp tục theo đuổi giả thuyết này. Tucker tiến hành phỏng vấn rất nhiều trẻ em, trong số đó ông đã tập hợp được 1.400 em có khả năng biết được những sự kiện xảy ra trước khi chúng sinh. Thậm chí một vài em còn có thể kể rất rõ những sự kiện trong cả các giai đoạn phát triển rất sớm của lịch sử loài người.

Thực tế cho đến nay, dù có tập hợp được tất cả các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì chúng ta cũng không thể nào biết được chính xác liệu có sự tồn tại của linh hồn hay không, và nếu có tồn tại thì chúng sẽ tồn tại ở dạng nào. Có lẽ khoa học không phải lúc nào cũng là giải pháp tối ưu cho tất cả mọi vấn đề. Như lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói : “Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất.”

Ảo thần

Theo mô tả của những người đã từng rơi vào trạng thái ảo thân, có một quả cầu bạc xuất hiện trên đầu, và “linh hồn” của họ chui vào quả cầu đó.

“Ảo thân” hay “du thần” (out of body experience – OBE) là trạng thái như cơ thể bị phân tách thành hai nửa, dạng như hồn vía và thể xác. Trong đó, phần “thần” vẫn quan sát được thể xác và thế giới xung quanh. Những trường hợp OBE thường được tả giống như người trong mơ, hoặc nửa tỉnh nửa mê nhưng 5 giác quan vẫn hoạt động bình thường. Một thống kê cho thấy có tới 15% người được hỏi từng bị ảo thân.

Những người đã từng rơi vào trạng thái này kể lại, họ thấy một quả cầu màu bạc đường kính khoảng 15 cm xuất hiện phía trên đầu (đôi khi là một đường hầm và ánh sáng xuất hiện ở phía cuối). “Linh hồn” của họ chui vào đó và quả cầu bắt đầu chuyển động xuyên qua trần nhà lên phía trên. Một sợi dây bạc gọi là quang tuyến níu giữ giữa quả cầu “linh hồn” và thể xác của họ. Sau đó quả cầu bạc lớn mãi, vượt ra ngoài vũ trụ, thậm chí có người còn mô tả quả cầu bạc đã đưa họ tới tận… sao Mộc.

Nếu ở tình trạng OBE lâu hơn 5 phút, sẽ có cảm giác kéo căng ở trán, thái dương, cơ thể rung động, theo những người này là do sợi quang tuyến bị căng quá mức. Không chỉ lang thang khắp vũ trụ, những người ảo thân còn mô tả gặp cả Chúa trời, thiên thần hộ mệnh (đôi khi có dạng một con thú nào đó, được cho là nắm giữ tất cả các bí mật của thế giới) hoặc bất cứ điều gì họ muốn. Khi đã chán chu du thiên hạ, “hồn” của họ sẽ trở về theo trình tự ngược lại. Quả cầu bạc sẽ thu nhỏ dần, về trái đất, về căn nhà, đến bên thân thể họ và chui qua đường… ngón chân để trở lại bình thường.

Một vật bất ly thân của các OBE chuyên nghiệp là cuốn nhật ký xuất vía, chuyên ghi lại những kinh nghiệm hoặc khó khăn của các chuyến “du ngoạn” kiểu OBE. Với họ, việc gặp thiên thần hộ mệnh là quá đơn giản. Họ có thể vượt qua được các rào cản “năng lượng” để chuyển động tới những vùng cấm kỵ của vũ trụ.

Các tay OBE chuyên nghiệp còn cho rằng họ có thể “đọc vị” suy nghĩ của các nhà lãnh đạo cao cấp, đó là đẳng cấp “gián điệp OBE”. Nghĩa là họ dùng phương pháp “du thần” để thâm nhập những khu vực được bảo vệ tuyệt mật, hoặc đi vào ý nghĩ của các nhà lãnh đạo, để thu thập thông tin, thậm chí là điều khiển họ làm những công việc có lợi.

Bản thân Cơ quan tình báo Mỹ cũng từng có thời kỳ hoang mang trước các câu chuyện của OBE. Có thời điểm CIA đã chiêu mộ 16 OBE chuyên nghiệp để thử nghiệm làm hàng rào “năng lượng”.

Đằng sau “nhật ký xuất vía”

Nhà cận tâm lý học Susan Blackmore (Mỹ) đã tìm cách khám phá những bí mật của OBE. Khi còn là sinh viên, bà đã trực tiếp thực nghiệm OBE trên bản thân mình, và mô tả khá giống với “nhật ký xuất vía” của các tay OBE chuyên nghiệp: “Thần” thoát ra qua một đường hầm và bay lên, cũng có một sợi dây bạc nối “thần” với thể xác. Nó vượt qua khu giảng đường Oxford, thấy nước Anh ở phía dưới và cuối cùng, vượt qua Đại Tây Dương tới New York. Sau đó Susan trở về phòng của mình tại Oxford và thu nhỏ, thu nhỏ… chui qua ngón chân vào cơ thể.

Susan thú nhận bà đã sử dụng một số loại ma túy như bồ đà (gây ảo giác mạnh) để đạt được điều này chứ không phải luyện tập theo “giáo trình” của các OBE chuyên nghiệp. Qua đó, bà cho rằng, OBE là một tình trạng mất phản xạ của thần kinh thị giác, gây ảo giác (gần giống với tình trạng các kinh nghiệm cận tử  hoặc một bệnh tâm thần có tên là “ảo giác thần tiên”). Nó có thể bị chi phối bởi thuốc gây mê, ma túy hoặc sang chấn tâm lý.

Những câu chuyện về OBE được thêu dệt ngày càng phong phú nhưng lại không có một bằng chứng nào rõ ràng. Điều này đã làm một người Mỹ là ông James Randi nảy ra sáng kiến. Vào năm 1964, ông đã thành lập một quỹ để thưởng cho ai đưa ra bằng chứng về những khả năng đặc biệt, với mức thưởng ban đầu là 1.000 USD, và hiện nay đã lên tới 1 triệu USD. Điều kiện tham dự khá đơn giản, chỉ cần chứng minh (dưới sự giám sát của ban giám khảo) rằng mình có khả năng siêu nhiên nào đó như gọi hồn, ngoại cảm thấu thị, nhân điện, thần giao cách cảm… Từ năm 1997 tới 2005 đã có 650 người nộp đơn nhưng không ai vượt qua được vòng sơ khảo.

“BỖNG DƯNG”… MUỐN CHẾT

Cuộc sống của những người dân ở chốn núi rừng vẫn còn những tập tục lạc hậu đã ăn sâu trong tiềm thức. Và, một trong những điều “bí ẩn” đó là nạn tự tử diễn ra khá phổ biến tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định. Đâu là nguyên nhân khiến những con người chân chất này tìm đến thế giới khác?

Đang chăm chú đào mấy gốc mì (sắn), người vợ không ngờ chồng mình lại đột nhiên dùng rựa cứa mạnh vào cổ để tự tử. Đêm trước, hai vợ chồng họ có chuyện xích mích với nhau, anh chồng dọa : “Tao nói mày không nghe thì tao chết cho rồi”. Máu từ cổ người chồng vọt ra, người vợ kinh hoàng la lên. Những người làm rẫy xung quanh vội đưa nạn nhân đi cấp cứu…

Trên đây chỉ là một trong số hàng chục vụ tự tử xảy ra thời gian qua trong cộng đồng người H’rê ở huyện An Lão (Bình Định). Tỉnh này hiện có một cộng đồng người H’rê khoảng 7.000 người, tập trung chủ yếu ở huyện An Lão, sống bằng nghề làm rẫy và chăn nuôi. Những năm gần đây, nạn tự tử trong cộng đồng này đột nhiên gia tăng. Nhiều vụ nguyên nhân các nạn nhân tìm đến cái chết hết sức đơn giản, lắm khi làm cho người tìm hiểu vụ việc phải bất ngờ.

Bài toán nan giải

Sau hội thao quân sự địa phương, Hưng, 26 tuổi, một dân quân xã An Nghĩa (An Lão) lầm lũi vào rừng để… thắt cổ chết. Đơn giản vì trước đó anh không hoàn thành bài thi bắn súng trúng mục tiêu nên bị bạn bè chọc quê… Còn Dốp, 22 tuổi, ở xã An Dũng, lại tìm đến cái chết bằng một chai thuốc trừ sâu vì giận vợ đã không làm thịt gà trong một đêm tiếp bạn nhậu. Tương tự, Cư, 22 tuổi, là công an viên xã An Hưng, cũng uống cạn một chai thuốc sâu vì không trấn áp được một đối tượng càn quấy ở địa phương. Mới nhất là vụ Trần Say 19 tuổi, ở làng Hà Lũy, xã Canh Thuận, huyện miền núi Vân Canh, Bình Định, sau khi cãi nhau với vợ đã bỏ đi đâu không rõ. Rạng sáng ngày 20/10/2010, bà con trong làng đi làm sớm đã phát hiện Say treo cổ chết bên đường…

Nhiều trường hợp “bỗng dưng muốn chết” xuất phát từ những lý do hết sức “dễ hiểu” như thế. Có em học sinh đòi gia đình mua xe máy, cha mẹ không mua vì không có tiền, thế là buồn, vào rừng thắt cổ chết. Một chàng trai bị cô gái từ chối tình yêu vì “mày uống nhiều rượu, cái bụng tao không yêu mày nữa !”, vậy là chàng liền uống thuốc tự tử….

Tại huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), nơi chủ yếu là người Bana sinh sống, có ông N. ở làng L7, xã Vĩnh Hảo, là thông gia với ông K. ở làng bên. Một lần, ông K. sang thăm nhà ông N., được ông này đãi bia. Đến khi ông N. sang nhà ông K. thăm lại, vì hoàn cảnh khó khăn, ông K. chỉ tiếp khách bằng rượu. Sau đó ít ngày, người làng có lời ra tiếng vào, chê bai ông K. hà tiện. Vài hôm sau, ông K. thắt cổ tự tử. Dự đám tang ông K. về, nghĩ vì mình mà ông K. chết, thế là ông N. cũng thắt cổ chết theo…

Đau lòng hơn cả là cái chết của sơn nữ Đ.T.H ở làng 4, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh. Lấy chồng sớm, mới 18 tuổi H. đã có hai con. Sự nghèo khó khiến cho hạnh phúc của vợ chồng cô luôn bấp bênh. Rồi mâu thuẫn giữa đôi vợ chồng trẻ xảy ra, trong lúc cạn nghĩ, H. đã quyên sinh để lại hai đứa con thơ nheo nhóc…

Hàng loạt những cái chết “lãng xẹt” diễn ra trên khắp các vùng dân cư ở chốn núi rừng heo hút đã khắc họa nên bức tranh hết sức đáng báo động về sự bế tắc trong đời sống tinh thần, cùng quẫn trong hành vi của một bộ phận người thiểu số. Cái chết của các nạn nhân không chỉ để lại nỗi đau cho những người thân trong gia đình mà còn đặt ra một bài toán khá nan giải đối với các cơ quan chức năng địa phương.

Đi tìm ẩn số

Hầu hết những trường hợp tự tử đều ở trong độ tuổi lao động, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; hình thức tự tử phổ biến nhất là uống thuốc diệt cỏ và thắt cổ. “Họ muốn chết, mình không kịp trở tay; sẵn có thuốc diệt cỏ trong nhà, uống vào là xong”, Đinh Hnhao, cán bộ xã Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh), buồn rầu nói.

Một lãnh đạo Công an huyện An Lão cho biết : Thật khó lý giải khi số lượng các vụ tự tử tăng đột biến nhưng nguyên nhân trực tiếp của từng vụ lại hết sức đơn giản. Đa phần là do mâu thuẫn, xung khắc rất bình thường, trong quan hệ gia đình, láng giềng, bè bạn, đồng nghiệp… Số vụ tự tử vì lý do tình ái, vì các căn bệnh về thần kinh chiếm tỷ lệ không đáng kể và không có vụ nào có dấu hiệu của tội phạm xúi giục, giúp người khác tự tử hoặc dấu hiệu tội phạm bức tử.

Có nhiều vụ biểu hiện sự lạm dụng chất kích thích để tăng thêm “quyết tâm” trong việc thực hiện hành vi tự tử. Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám tử thi các vụ tự tử cho thấy : 70% số đối tượng tự tử trước khi hành động đều uống nhiều rượu. Ông Đinh Yang Kinh, Trưởng ban Dân vận Huyện ủy Vĩnh Thạnh, khẳng định : “Rượu là một trong những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự tử. Không chỉ bó hẹp trong không gian lễ hội hay sinh hoạt văn hóa truyền thống, uống rượu giờ đây đã bị lạm dụng, thậm chí trở thành nhu cầu thường xuyên của một số người. Hơn nữa, người miền núi tính tự ái rất cao, một khi họ cảm thấy xấu hổ vì một điều gì đấy, lại nghĩ đến chuyện… tự tử”. Tập quán và kỹ năng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, nghèo khó cũng được xác định là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn nạn tự tử…

Ngoài ra, theo nhận định của Công an huyện An Lão, một số vụ tự tử có dấu hiệu “lây lan” theo quan hệ huyết thống, theo đơn vị làng, cụm dân cư.

Nạn tự tử ở các vùng miền núi không còn là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề xã hội. Hậu quả nó cướp đi sinh mạng của nhiều người, ảnh hưởng xấu tới đời sống của các bản làng người dân tộc thiểu số nói riêng và trật tự an toàn xã hội của địa phương nói chung. Rõ ràng, đây là một hiện tượng không bình thường. Dù các ngành chức năng ở Bình Định đã rất nỗ lực trong việc đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng theo chúng tôi, ngoài những biện pháp như đã áp dụng (tuyên truyền, vận động, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho vùng cao…), các cơ quan chức năng ở Bình Định cần đầu tư nghiên cứu một cách toàn diện (có sự tham gia của các nhà nghiên cứu xã hội học) để tìm đúng nguyên nhân đã gây ra tình trạng tự tử trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Như vậy mới có thể giải quyết được tận gốc vấn đề nhức nhối này.

Theo thống kê, từ đầu năm 2009 đến nay, tại 2 huyện miền núi An Lão và Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) đã xảy ra 41 vụ tự tử. Trong đó, có 25 vụ dẫn tới tử vong và 16 vụ nhờ phát hiện kịp thời nên nạn nhân được cứu sống. Đối tượng tự tử chủ yếu là người các dân tộc Bana và H’rê.

Trước thực trạng đó, mới đây UBND tỉnh Bình Định đã ban hành công văn về việc ngăn chặn tình trạng tự tử, tự sát vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành, chủ tịch UBND các huyện có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong người dân đa số là đồng bào dân tộc, miền núi hãy biết quý trọng tính mạng, cuộc sống của bản thân và mọi người xung quanh.

Đinh Xuân Thu – Nhơn Phong