Ngày tận thế !

Tthe- traidat21/12/2012

có phải

ngày tận thế?

– Luận bàn của

KHÁCH GIANG HỒ

Cả thế giới đang nói rất nhiều về ngày tận thế, trước đây vào thời điểm giao thừa giữa thiên niên kỷ thứ II chuyển sang thiên niên kỷ thứ III, tức lúc 0 giờ ngày 1-1-2001. Rồi chẳng thấy “thằng Tây con Đầm, thằng da vàng mũi tẹt” nào chết chứ đừng nói cả thế giới sẽ gặp nạn sóng thần, đại hồng thủy, động đất hay trái đất nổ tung thành thứ rác vũ trụ.

Tthe- tu thapBây giờ các ngài thầy bói (chủ yếu theo truyền thuyết của người Maya cổ đại của xứ Mexico) lại bấm độn, phán : “ngày 21-12-2012 sẽ tận thế” ! Tức chúng ta chỉ còn sống hơn 3 năm nữa sẽ chết hết !

Chính vì vậy kinh đô điện ảnh Hollywood sắp tung ra một cuốn phim mô tả về những lời đồn đoán về ngày định mệnh 21-12-2012 sắp đến, mô tả cả thế giới sẽ bị nhấn chìm bởi những cơn sóng thần, núi lửa phun trào, động đất dữ dội và mưa thiên thạch tàn phá trái đất và con người không còn ai sống sót.

Như vừa viết, tin trên được cho là xuất phát theo “dự đoán” của người Maya cổ đại, có cột đá “sấm truyền” cho hậu nhân biết để mà lo hưởng thụ trước khi chết. Nhiều người hoảng hốt khi nghe nói cái ngày đông chí năm 2012 được cho là ngày “tận thế” là một đại thảm họa gần kề, nên có chết dù là “tỷ tỷ phú đô la” cũng không mang theo được.

Vậy mà người Sài Gòn trước đây được mệnh danh “dân Hai lúa” vẫn tỉnh bơ ăn nhậu “mút mù lệ thủy”, cười khì cho rằng, đang thời kỳ khủng hoảng kinh tế nên mấy cha nước ngoài tung tin để mọi người chịu móc tiền ra hưởng thụ để rồi có chết cũng sướng thân không phải làm con “ma đói”, nhằm kích cầu nền kinh tế đang suy sụp cho nhà nước bớt đi gánh nặng phải tài trợ lung tung. Có vậy thôi.

Liệu có tận thế vào ngày 21-12-2012 không ?

Nhiều người tin rằng điều này có thể đúng nếu căn cứ trên cột đá Monument thứ 6 của người Maya, trước đây được phát hiện trong đống đổ nát ở Mexico hồi thập niên 1960 thế kỷ trước. Theo đó, những chữ khắc trên cột đá này nói tới một biến cố sẽ xảy ra vào năm 2012, có liên quan tới vị thần Bolon Yokte của họ. Đây là thần “chiến tranh và sáng tạo”. Tuy nhiên, cột đá này đã bị thời gian ăn mòn và có một vết nứt khiến các nhà khảo cổ không thể đọc được câu sấm cuối cùng. Nhưng có người cam đoan đoạn cuối của nó có nội dung : “Ngài sẽ giáng trần” (?!), liên quan đến lời trong Kinh Thánh.

Tài liệu trên được biết đến với tên gọi “Dresden Codex”, sách dày 74 trang được viết trên vỏ cây, lưu giữ tại đền thờ nổi tiếng của người Maya và đã được Nghị viện Tây Ban Nha gửi cho vua Charles V vào năm 1519. Bằng cách nào đó nó lưu lạc tới cung điện Saxony ở Dresden. Tài liệu bao gồm nhiều số liệu về sự chuyển động của Mặt Trăng, Sao Kim, chu kỳ nhật thực, nguyệt thực, Mặt Trời và các sao… Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra, điểm kết thúc của lịch Maya được đánh dấu là 13.0.0.0.0 tương ứng với lúc 10 giờ sáng ngày 21 tháng 12 năm 2012 theo lịch chúng ta đang sử dụng. Vào thời điểm đó, quỷ địa ngục sẽ xuất hiện và đó là ngày tận thế tức ngày cuối cùng của nhân loại chúng ta.

Tthe- tu thap 1Còn theo các nghiên cứu của Stephen Yulish, nhà nghiên cứu thiên văn học và vật thể lạ UFO, thấy có nhiều mối liên hệ trong sách Kinh Thánh, cũng cho biết vào một ngày đông chí, khi Mặt Trời gần Trái Đất nhất cùng lúc với các trận bão của Mặt Trời, rồi sự dịch chuyển bất thường của Sao Kim sẽ gây ra động đất liên tiếp trên hành tinh chúng ta. Theo một số nhà thiên văn học khác thì vào ngày này, hệ Mặt Trời sẽ đi qua mặt phẳng xích đạo của Thiên Hà, một điều chỉ xảy ra theo chu kỳ 26.000 năm.

Lúc đó tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời đều nằm trên 1 mặt phẳng dẹt gọi là eliptic. Theo tính toán vào năm 2012 các hành tinh trong hệ mặt trời sẽ thẳng hàng với nhau. Lực hút từ một loạt các hành tinh thẳng hàng tác động lên mặt trời sẽ làm nhiều điểm trên mặt trời gọi là sun-spot bắn tung các cơn bão lửa solar- flares về phía các hành tinh. Hiện tượng này gọi là coronary mass ejection (CME). Thực chất solar flares là mảnh bể vụn của mặt trời chứa đầy điện tích. Năm 2001 CME đã tạo solar flare, đánh trúng vào Bắc Mỹ làm ngắt điện một vùng rộng lớn.

Tthe- GalaticCơ quan NASA dự đoán, một trận bão Mặt Trời như thế vào năm 2012 sẽ gây ra những chấn động lên Trái Đất lớn hơn 30 đến 50 phần trăm so với bất cứ sự tác động nào đã biết trước đây. Việc này sẽ làm cho trái đất nóng lên. Vì khi đó Mặt Trời sẽ nóng hơn và sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Một vụ nổ bất chợt trên Mặt Trời vào thời điểm 21-12-2012 có thể phóng ra một khối lượng lớn dẫn đến va chạm với Trái Đất, giống như việc Trái Đất va chạm với một tiểu hành tinh hay sao chổi. Khi sự kiện đó xảy ra, trục Trái Đất sẽ thay đổi và hiển nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự quay của nó. Nếu như điều này sẽ xảy ra vào ngày “tận thế” sắp tới, thì đó sẽ là một ngày đen tối đối với tất cả chúng ta.”

Ai dạy người Maya cách tính lịch?

Người Maya cổ đại thời đó đã áp dụng 20 phép tính. Nếu chúng ta đổi thành 10 phép tính thì được số ngày trong một năm là 365,2420; so với cách tính hiện đại là 365,2422 ngày, thì phép tính của họ chỉ có sai số 0,0002 ngày cho một vòng quay (quỹ đạo) Trái Đất xoay quanh Mặt Trời.

Vậy, người Maya cổ đại đã học được tri thức thiên văn phức tạp đó ở đâu ? Ai dạy họ ?

Tthe- lichNgười Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về thời gian của Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu kỳ một năm. Người Maya ngoài sự hiểu biết về lịch chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết một chu kỳ, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước.

Cho nên nền văn minh Maya có một loại lịch gọi là lịch tôn giáo tức lịch Long Count của họ phát triển ở đỉnh cao từ năm 300 tới 900 sau Công nguyên. Họ tính với độ dài không đổi (365 ngày/năm), một năm Mặt trời của họ được chia thành 18 tháng, mỗi tháng 20 ngày (dùng hệ đếm cơ số 20), 5 ngày còn lại được đưa vào cuối năm. Mỗi tháng có một tên gọi chỉ có ý nghĩa lịch sử của họ chứ không giống như tên tháng trong Dương Lịch hiện nay có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Các ngày trong tháng được ghi bằng số thứ tự từ 0 đến 19 đặt trước tên tháng. Như thể, mỗi ngày được định tên chính xác trên trục thời gian. Các năm nối tiếp nhau không ngừng và không có năm nhuận. Theo tính toán : Muời ba ngày là một tuần, hai mươi tuần là một năm. Một năm lịch tôn giáo của người Maya chỉ có 260 ngày, bắt đầu từ năm 3.114 trước Công nguyên, và xây dựng lịch cho tổng cộng… 5126 năm. Điều đặc biệt ở chỗ : ngày cuối cùng của bộ lịch cổ này chính là ngày 21-12-2012, là tròn chu kỳ tồn tại của họ. Và không phải lịch của người Maya kết thúc mà là cả nhân loại kết thúc.

Nhiều nhà chiêm tinh tin rằng người Maya cổ đại còn biết một bí mật khác nữa, đó là trục thế giới chuyển động làm thay đổi trật tự sắp xếp của các ngôi sao mỗi năm. Cứ mỗi 25.800 năm, mặt trời lại di chuyển về trung tâm dải ngân hà vào đúng ngày đông chí. Theo giả thuyết này, nguồn nhiệt của mặt trời sẽ phóng ra cao hơn bình thường, có thể ảnh hưởng mạnh đến môi trường sống trên trái đất. Sự kiện này sẽ xảy ra vào ngày 21-12-2012.

Nguy cơ hủy diệt khủng khiếp?

Các nhà khoa học Mỹ cảnh cáo, cơn bão Mặt trời cực mạnh vào năm 2012 sẽ mang một tai họa rất lớn với sức ảnh hưởng khủng khiếp trên tất cả các phương diện, lĩnh vực của xã hội hiện đại. Trong cách nhìn của các chuyên gia, ảnh hưởng mà bão Mặt trời mang đến cho Trái đất có thể là “dạng hiệu ứng domino”.

Tthe- Galatic 2Khi một cơn bão Mặt trời cực mạnh tấn công Trái đất, liên quan đến mạng lưới điện hiện đại. Mạng lưới điện hiện đại thông thường đều là dùng điện áp cao để cung cấp cho toàn bộ khu vực rộng. Vì thế nó rất dễ bị tấn công bởi những biến đổi khí hậu của khí quyển. Nó hoàn toàn có khả năng dẫn tới “giao thông tê liệt, tin tức đứt đoạn, tài chính sụp đổ và các cơ sở công cộng lộn xộn. Máy bơm nước ngừng hoạt động dẫn đến nước uống và sinh hoạt bị ngắt, không có các thiết bị làm lạnh, cấp đông, thực phẩm và thuốc men rất khó để giữ được hiệu quả”.

Nếu như con người không có sự chuẩn bị đầy đủ để đối phó với những cơn bão Mặt trời có khả năng sẽ phát sinh trong tương lai, thì loại bão vũ trụ này có thể cắt đứt sự cung ứng điện, sóng điện thoại, thậm chí cả hệ thống cung cấp nước cho xã hội loài người.

Vào năm 2012, hệ mặt trời (hình đĩa dẹt) của chúng ta lại chuyển dịch đến vị trí cắt ngang dải Ngân Hà (Milky way galaxy), nghĩa là nằm cùng một mặt phẳng với dãi Ngân Hà Galactic alignment. Những tính toán cho thấy có nhiều khả năng đổi cực của Trái đất: Trong tự nhiên Mặt trời thay đổi cực liên tục khoảng 11 năm một lần, còn trái đất thì luôn ổn định cực. Lần vừa rồi mặt trời đổi cực vào năm 2001 (nên mới có tin đồn tận thế khi bước vào thiên niên kỷ thứ III). Với hiện tượng galactic alignment vào năm 2012, lần này sự đổi cực của mặt trời có khả năng kéo theo sự thay đổi cực trên trái đất. Trái đất nóng lên, băng tuyết tan nhanh

Từ đâu có tin đồn ?

Những thông tin xôn xao về ngày tận thế bắt đầu rộ lên khi vòng tròn mang ý nghĩa diệt vong trong nền văn minh Maya cổ xuất hiện trên cánh đồng gần Silbury, nước Anh. Các vòng tròn có đường kính gần 20 mét đến hàng trăm mét, được phát hiện trên một ruộng cải dầu thuộc hạt Wiltshire, Anh vào ngày 14/4. Một nhiếp ảnh gia tên Lucy Pringle chụp ảnh cho biết: “Trong số hàng trăm hình thù mà tôi chụp được chẳng có cái nào có hình dạng trùng khớp với cái nào”.

Tthe- dietvongSự hình thành của những vòng tròn trên đồng ruộng vẫn là một bí ẩn. Một số người cho rằng một số nhà khoa học đã tạo ra chúng nhờ công sức của người tình nguyện. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng người ta không có đủ thời gian để hoàn thành những vòng tròn trong một buổi tối vì chúng quá lớn. Cũng có người khẳng định chúng là thông điệp của một nền văn minh ngoài trái đất.

Một giả thuyết khác : Một nguồn năng lượng khổng lồ tích tụ cách bề mặt trái đất 70-400 km (nơi có nhiều ion) đã phóng xuống ruộng cải dầu và tạo ra những vòng tròn.

Trước đó người ta từng phát hiện một số hình thù kỳ lạ khác trên các đồng ruộng tại hạt Wiltshire. Đó là một vòng tròn cây cối rất đúng… số liệu toán học (vì quá đúng nên nó mới “bị” coi là kỳ lạ). Mô hình cho thấy một hình ảnh đã được sắp xếp hoàn hảo theo số Pi. Cụ thể, toàn bộ vòng tròn này thể hiện đúng… 10 chữ số của số Pi: 3.141592654.

Một vòng tròn kỳ lạ khác được phát hiện gần lâu đài Barbury, có đường kính xấp xỉ 46m. Nhà vật lý học Mike Reed cho biết : “Tôi chú ý đến một bức ảnh chụp thửa ruộng tại khu vực lâu đài Barbury. Trong đó, vòng tròn có 10 chữ số của số Pi.

Người ta gọi chúng là “crop circles”, tức là vòng tròn hình thành trên cánh đồng, các hình họa biến đổi từ các môtíp tròn đơn giản đến các biểu tượng hình học rộng lớn và phức tạp. Vòng tròn cổ xưa nhất chính thức được ghi chép trong tạp chí Nature (Anh) vào thế kỷ XIX. Từ năm 1980, riêng ở nước Anh đã xuất hiện khoảng 800 vòng tròn bí hiểm ấy. Và khoảng 9.000 vòng tròn được ghi nhận trên khắp thế giới trong 30 năm sau.

Theo dòng thời gian, các vòng tròn này ngày càng trở nên phức tạp hơn. Ban đầu chỉ là những vòng tròn đơn giản, nhưng sau đó biến thành các hình ảnh rất phức tạp. Chúng có mặt ở một số quốc gia trồng trọt ngũ cốc như Australia, Nhật, Nga, Canada, Pháp, Mỹ, kể cả trên các bề mặt khác như mặt tuyết của dãy núi Hymalaya. Miền Nam nước Anh dường như đặc biệt thuận lợi để quan sát hiện tượng này.

Mặc dù con số các vòng tròn gia tăng không ngừng trên thế giới, nhưng 90% vòng tròn này xuất hiện cách vùng Stonehenge, ở miền Nam nước Anh, chưa đầy 65 km. Một số vòng tròn còn hiện diện trên các vùng đất quân sự bị cấm, như Salisbury, cũng ở nước Anh.

Nếu đi từ nguyên tắc cho rằng những hình vẽ này không có nguồn gốc từ thiên nhiên hay con người chúng ta tạo ra, thì chỉ còn một khả năng, đó là do bàn tay của người ngoài hành tinh ! Nhưng tại sao họ tìm đến trái đất để gây chú ý bằng các hình vẽ này để cuối cùng bỏ đi vội vã như thế ? Cuối cùng các nhà khoa học hiện đại đã chuyển sang việc tìm kiếm nền văn minh ngoài Trái đất.

Ngày 16-11-1974, kính thiên văn vô tuyến khổng lồ Arecibo đã lãnh ”ấn tiên phong” sau khi gửi một bức thông điệp kéo dài 3 phút vào vũ trụ với nội dung :

“Chúng tôi đang ở đây! Chúng tôi là những sinh vật có trí tuệ ! Nếu như trong vũ trụ có ai đó ngoài chúng tôi – xin hãy hồi đáp !”.

Hướng gửi tín hiệu là tới chòm sao Hercules hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên: đây là nơi được đánh giá có hàng triệu ngôi sao tương tự như Mặt trời. Thông điệp đầu tiên được con người gửi có thể coi là một bức tranh với nhiều ký hiệu khác nhau mô tả thế giới của chúng ta: trong đó có hệ số đếm của chúng ta (các con số từ 1 đến 10), số nguyên tử của 5 thành phần hoá học tạo nên cơ sở cho sự sống của Trái đất (Hydro, Ôxi, Nitơ, Cácbon và Phốtpho), kể về cầu trúc ADN của con người bằng hình vẽ cặp lò xo xoắn với các nucleotid của nó. Hình dáng con người với tầm vóc, số dân cư trên Trái đất, mô tả hệ Mặt trời và vị trí của Trái đất trong đó, hình dáng và kích thước của chiếc kính viễn vọng vô tuyến đã được gửi thông điệp. Theo dự tính, thông điệp sẽ du hành (nếu như nó không bị biến mất giữa đường) trong khoảng 25.000 năm trước khi tới được đích đã định.

Không ai hy vọng có câu trả lời nhanh chóng, người ta chỉ gửi và hy vọng vào thế hệ sau sẽ nhận được. Tuy nhiên, câu trả lời đã đến rất nhanh một cách đáng ngạc nhiên….. chỉ sau có 27 năm. Đó chính là những hình vẽ kỳ lạ trên một cánh đồng, có nhiều khác biệt so với những họa ngữ con người từng được biết trước đó, xuất hiện ngay gần đài thiên văn Chilbolton – Hampshire (phía Nam nước Anh). Trường hợp lần này có nhiều điều kỳ lạ đáng phải phân tích tỉ mỉ. Đêm thứ 3 ngày 14-8-2001, trên cánh đồng lúa mỳ tại khu vực này bất ngờ xuất hiện một bức tranh lớn  “một khuôn mặt người” với kích thước 49m x 55m.

Chỉ 6 ngày sau, sáng ngày 20-8 người ta phát hiện bên cạnh đó một bức hoạ không kém phần thú vị – bên cạnh bức chân dung của người nhận là một bức thông điệp nào đó. Qua cái nhìn đầu tiên từ trên cao, bức tranh gợi nhớ lại thông điệp bằng sóng vô tuyến mà con người đã gửi đi vào năm 1974.

Ngay sau sự kiện này, một số nhà nghiên cứu đã nhận định : những bức tranh gần đài thiên văn Chilbolton chỉ là bước đi đầu tiên của những sinh vật có trí tuệ nhằm tiếp xúc với người Trái đất, chắc chắn sẽ có những bước tiếp theo. Nhận định trên đã được khẳng định là chính xác. Bức thông điệp kỳ lạ tiếp theo đã nhận được chỉ một năm sau sự kiện “thư trả lời năm 2001”. Đó là một bức tranh mới xuất hiện vào đêm ngày 14-8-2002 cũng tại Hampshire, chỉ cách đài thiên văn Chilbolton có vài dặm.

Các nhà nghiên cứu khẳng định, đây không thể là trò bịa đặt do con người làm ra. Khi tận mắt chứng kiến bức tranh từ trên trực thăng, các nhà nghiên cứu đều có chung cảm giác ngạc nhiên, thán phục, bối rối và cả sợ hãi.

Chờ đón ngày 21-12-2012 ra sao?

Hiện giờ kênh truyền hình History Channel làm hẳn một chương trình có tên : “Giải mã quá khứ : ngày tận thế năm 2012” trong đó giải thích rằng việc mặt trời di chuyển về trung tâm dãi ngân hà có thể gây ra một sự đảo lộn kinh hoàng :

– Toàn bộ trái đất sẽ thay đổi chỉ trong vài ngày, có thể là trong vài giờ. Cực bắc đổi chỗ cho cực nam, gây ra thảm họa toàn cầu”, người dẫn chương trình của History Channel nói tiếp : “Động đất sẽ gây rung chuyển khắp các châu lục, sóng thần sẽ cuốn trôi nhiều thành phố ven biển. Đây có thể là một thảm họa cho toàn hành tinh chúng ta”.

Tác giả Lawrence Joseph nghiên cứu về năm 2012 thì cho rằng những cơn bão mặt trời (những lổ đen trong tầng ozon) có thể đánh sập lưới điện vùng Bắc Mỹ trong nhiều năm liền, gây khan hiếm thực phẩm và nước dẫn tới sự sụp đổ của nền văn minh nhân loại.

Trong khi các giả thuyết về ngày tận thế loan truyền, các hãng phim ở Hollywood chuẩn bị tung bộ phim về ngày tận thế 2012, mô tả thảm họa trái đất. Tiến sĩ David Morrison làm tại trung tâm không gian NASA Mỹ cho hay, họ nhận được tới hơn 1.000 thắc mắc về vấn đề này. Nhiều cô cậu thanh niên nói họ thà tự tử hơn là phải chứng kiến trái đất sụp đổ, những em nhỏ thì than phiền chúng chưa biết mùi đời mà chịu cảnh chết sớm như thế thật không công bằng. NASA mới phải khẳng định, thế giới chưa tới hồi kết và chỉ trích các nhà chiêm tinh lẫn các hãng phim Hollywood đang dấy lên mối lo ngại về ngày định mệnh 21-12-2012, gây hoang mang cho mọi người.

Ông Apolinario Chile Pixtun, một người thuộc tộc Maya Mexico phát chán mỗi khi bị hỏi về năm 2012, phát biểu :

– Tôi từng ở Anh, lúc đó người ta hỏi tôi về câu “sấm truyền” của người Maya về ngày tận thế, khiến tôi chán ngấy chuyện cái ngày 21/-12-2012 này rồi.

Rồi ông cam đoan rằng giả thuyết về ngày tận thế không phải xuất phát từ dân tộc Maya, mà do người phương Tây nghĩ ra. Có lẽ giống như suy nghĩ của người Sài Gòn vừa nói ở trên. Còn nhà khảo cổ học Jose Huchim cho biết người Maya ở bán đảo Yuncatan luôn gặp hạn hán, họ có nhiều mối lo lắng hơn là chuyện thế giới sắp tận thế. Ông nói :

– Nếu ai hỏi họ chuyện gì sẽ xảy ra vào ngày 21-12-2012, chắc chắn họ chẳng có ý nghĩ gì. Họ sẽ chẳng tin đâu. Mối quan tâm của họ thực tế hơn, như luôn tự hỏi là bao giờ thì trời có mưa ?.

Dường như những người thường lên các giả thuyết “thế giới sắp tận thế” như vào lúc 0 giờ GMT ngày 1-1-2001 trước đây, đã không nhớ rằng, những dự đoán của họ đã không thành sự thật !

Còn người Sài Gòn tiếp tục bàn :

– Có gì lạ, khi họ thấy lịch sắp xếp toàn dãy con số 12 (ngày 21 tháng 12 năm 2012) như hồi chuyển giao thiên niên kỷ cũng vậy, toàn con số 1 (ngày 1 tháng 1 năm 2001), rồi hô sắp tận thế. Bây giờ mấy nhà PR cũng hay lấy những ngày có ngày tháng năm trùng lắp như vậy để quảng cáo như ngày 9-9-2009 năm nay hay như sang năm thành phố Hà Nội sẽ lấy ngày 10-10-2010 kỷ niệm 1000 năm Thăng Long ! Nhưng có ai biết 1000 năm trước, có phải vua Lý Thái Tổ đã lấy ngày này để đặt tên cho đất Thăng Long không, hay chỉ biết đó là vào năm 1010 mà thôi. Cho nên đây chỉ là một dãy số đẹp chứ không hề đem lại vận xui gì cả.

KHÁCH GIANG HỒ

CÁC HIỆN TƯỢNG DỰ BÁO (2)

H. hientuongCÁC ĐIỀM DỰ BÁO

KIẾT HUNG (2)

Những hiện tượng dự báo khác

– Thiên Lý Nhãn

Qua bài đầu chúng tôi nói về những điềm dự báo trực tiếp từ trên thân thể mỗi người phát xuất ra; còn những dự báo gián tiếp như ly, kính, gương soi… vỡ, bể, những thứ thuộc thủy tinh, thường là điềm xấu, hay nồi reo, lửa cười, chó sủ̉a, quạ kêu là những điềm vừa cát vừa hung.

Tuy nhiên những điềm được nói dưới đây thuộc vào dạng mê tín dị đoan, người xưa liệt chúng vào sách vở chỉ do kinh nghiệm tích lũy được, khó phân biệt thực hư, chúng tôi nêu ra như tài liệu tham khảo :

1- HIỆN TƯỢNG LY, KÍNH VỠ

Những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày được sản xuất bằng thủy tinh như kính đeo mắt, gương soi, kính tủ trà, ly uống nước, hay cả mặt kính đồng hồ v.v… nếu bị bể, vỡ, đa số là dự báo của những điềm hung :

H. ht kính matGiờ Tý (23 – 01g) : Nếu đã có gia đình, đề phòng bị cắm sừng; chưa lập gia đình thì bị tình phụ.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có hung tin, coi chừng bị hàm oan.

Giờ Dần (03 – 05g) : Đề phòng ghen tuông đâm ra máu đổ, hình thương, hình sự.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có tin về tiền bạc, nghề nghiệp.

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có tài lộc đến nhưng nhỏ.

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Có hung tin đến

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Bị miệng tiếng, coi chừng địa vị, công việc bị ngưng trệ.

H. ht ly tachGiờ Mùi (13 – 15g) : Tai nạn về thân thể cho mình hay người thân trong gia đình đang phải cưu mang.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có cãi nhau về tiền bạc, nghề nghiệp, hay trong gia đình đâm bực mình.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người hứa giúp đỡ, đề phòng bị lừa đảo.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có tiểu nhân đang muốn hãm hại, rất nguy hiểm cho nghề nghiệp, địa vị.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Có kiện thưa, hao tốn tiền bạc lại mang nhiều tai tiếng.

2- HIỆN TƯỢNG NỒI REO – LỬA CƯỜI

Nồi reo là bếp chưa nóng mà tự nhiên có tiếng phát ra như tiếng nước sôi. Còn lửa cười là lửa trong lò (củi, than, gas) không gặp gió, không có ngọn, tự nhiên lại bùng cháy và kêu tí tách (với than củi), hay xèo xèo (với bếp gas) được gọi là lửa cười.

H. ht noi reoVà một thứ “lửa cười” khác trong việc thờ cúng, là những cây nhang đang đốt rơi tàn làm cháy hết các chân nhang, bùng lên một ngọn lửa vàng đỏ, được mọi người cho là lửa hóa hay hóa vàng, và tin rằng vong linh người thân đang cảm nhận được điều gì từ trong gia đình muốn báo tin.

Những hiện tượng này được giải đoán với các nội dung như sau đây :

Giờ Tý (23 – 01g) : Có người đến biếu quà

Giờ Sửu (01 – 03g) : Coi chừng con cái bỏ nhà đi (nữ theo trai, nam đi bụi).

Giờ Dần (03 – 05g) : Tai họa đến nhà, đề phòng trộm cướp hay kẻ đến quây rôi.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người muốn cầu cạnh.

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có tài lộc nhưng đê phòng chuyện đưa đến quan sự.

H. ht lua cuoiGiờ Tỵ (09 – 11g) : Có tài lộc nhưng phải trả giá bằng công việc, cần suy nghĩ trước khi nhận lời.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có quý nhân đến giúp đỡ, mọi việc sẽ thành công.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Đề phòng tai nạn về sông nước.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có của hoạnh tài.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có tai biến trong tứ thân phụ mẫu, nếu đã mất hết, đề phòng người trong gia đình.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có tranh cãi gây cấn nhưng cái lợi thuộc về mình.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Có bệnh cần chạy chữa nếu không sẽ sinh nhiều biến chứng làm hao tài tốn của.

Cũng cần nói thêm về ngọn lửa hóa, được mọi người đặt cho tên gọi “hoá vàng” (nhưng không hóa vàng theo cách gọi khi đốt vàng mả).

Hóa vàng có hai loại : hóa dương và hóa âm. Hóa dương như đã nói, còn hóa âm là khi cây nhang đốt hết phần thân nhang, tàn lửa cháy lan xuống chân nhang để đốt tất cả các chân nhang đang nằm dưới lớp tro. Sau khi phần này cháy hết, thân trên còn nguyên và ngã rạp xuống quanh bát nhang.

Một cách giải đoán tính theo ngày giờ Âm Dương :

– Giờ Dương từ 5 giờ sáng đến 19 giờ tối, tức từ giờ Mão đến hết giờ Dậu (7 canh ngày).

– Giờ Âm từ sau 19 giờ tối đến hết 4 giờ sáng, tức từ giờ Tuất đến hết giờ Dần. (5 canh đêm).

– Ngày Dương tính theo ngày lẻ âm lịch, tức những ngày mang số lẻ như 1, 3, 5…đến 29.

– Ngày Âm tính theo ngày chẵn âm lịch, tức những ngày mang số chẵn như  2, 4, 6… đến 30.

Cách tính trên không giống cách tính theo các môn Dịch Lý, lấy ngày âm là những ngày mang tên Can Chi âm, ngày dương là những ngày mang tên Can Chi dương; còn giờ âm từ giờ Ngọ đến giờ Hợi, giờ dương từ giờ Tý đến giờ Tỵ.

Những giải thích về lửa hóa vàng :

– Giờ âm, ngày âm : vong linh đang hài hả bởi sự thờ cúng của con cháu.

– Giờ âm, ngày dương : báo tin sẽ được đầu thai.

– Giờ dương, ngày âm : vong linh đang thành Thần (như có địa vị hay giữ một chức dưới âm phủ).

– Giờ dương, ngày dương : không hài lòng bởi con cháu.

3- HIỆN TƯỢNG CHIM KÊU – QUẠ HÓT

Chim đây là chim heo, một loại chim nhỏ phát ra như tiếng heo la, chúng chỉ xuất hiện về đêm. Còn quạ khi bay ngang nhà mà buông ra những tiếng dài không dứt.

Cả hai loại chim đa số báo cho những điềm dữ đến với gia chủ. Ở thôn quê nhà cách nhà, có thể xác định được chim, quạ, báo điềm cho ai, còn ở thành phố nhà cửa san sát nhau khó lòng biết được, ngoại trừ chúng đậu ngay trên nóc nhà của mình.

H. ht chim keuGiờ Tý (23 – 01g) : Có người đến nhà báo tin buồn, đề phòng có tai nạn.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Coi chừng người bệnh nặng đang thâp tử nhât sinh.

Giờ Dần (03 – 05g) : Có tranh cãi gây ra thù oán.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người đến mời ăn uống

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có tài lộc đến nhà

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Đề phòng bệnh tật nặng.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Hao tài tốn của, đề phòng kẻ trộm.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Có tin vui

Giờ Thân (15 – 17g) : Có người đến mời cộng tác.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có tang khó trong thân tộc

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có tranh cãi coi chừng sinh ẩu đả

Giờ Hợi (21 – 23g) : Có tai nạn hay bệnh tật xảy đến.

4- HIỆN TƯỢNG CHIM KHÁCH KÊU

Chim khách khác chim heo, loài chim này chỉ xuất hiện vào ban ngày, tiếng kêu của chim khách cần theo dõi theo phương hướng để xác định việc giải đoán.

– Hướng Đông :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Khách đến mang tin về tài lộc.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có tranh chấp trong gia đình

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Có kẻ tiểu nhân đang mưu hại, coi chừng những người chung quanh.

– Hướng Đông Nam :

– Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ (7 – 13g) : Có người đến mời đi xa (công việc hay du lịch), tốt.

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Có hung tin.

– Hướng Nam :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Có lộc ăn.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có tranh chấp trong gia đình

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Có tin bất ngờ đưa đến, thuộc tin vui.

– Hướng Tây nam :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Có người đến cầu thân, mời hợp tác, có lợi.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có chuyện buồn bực không thể giải quyết nhanh chóng.

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Coi chừng hỏa hoạn trong nhà, hay chung quanh nhà.

– Hướng Tây :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Có người lạ đến nhà, kiết nhiều hơn hung.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Được biếu xén quà cáp.

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Có tin tốt lành.

– Hướng Tây bắc :

– Từ giờ Thìn đến giờ Ngọ (7 – 13g) : Có khách quý, khách lâu năm đến thăm hỏi.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Được mời ăn uống

– Giờ Mùi (13 – 15g) : Có người đến giúp đỡ.

– Hướng Bắc :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Có tin về hôn sự.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có quà mang đến nhà.

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Coi chừng gia súc nuôi trong nhà có biến chứng.

– Hướng Đông bắc :

– Từ giờ Thìn đến giờ Tỵ (7 – 11g) : Có người thân đến thăm.

– Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có người mang quà biếu.

– Từ giờ Mùi đến giờ Thân (13 – 17g) : Có khách đến thăm hỏi,  lợi bất cập hại (lành ít dữ nhiều).

THIÊN LÝ NHÃN

Mục lục “Thế giới tâm linh”

http://myblog.thienviet.wordpress.com

CẬP NHẬT BLOG THÁNG 10/2009

Bạn đọc có thể vào ngay các chuyên mục tìm kiếm

1-     Tử vi tháng 10/2009 (29/9) – Nơi Trang

2-     Lịch vạn sự tháng 10/09 kỳ 1 (29/9) – Nơi Trang

3-     Nghệ thuật bói bài Tarot (3 bài – 1/10) – Nơi Bài viết

4-     Phong thủy và đời sống (2 bài – 6/10) – Nơi Bài viết

5-     Tính chất trong thuật Phong Thủy – (11/10) Nơi Bài viết

6-     Lịch vạn sự tháng 10/09 kỳ 2 (13/10) – Nơi Trang

7-     Bí ẩn Phong Thủy  (4 bài – 13-16/10) Nơi Bài viết

8-     Các hiện tượng dự báo (2 bài – 24/10) Nơi Bài Viết

CÁC HIỆN TƯỢNG DỰ BÁO (1)

H. hientuongCÁC ĐIỀM DỰ BÁO

KIẾT HUNG (1)

6 hiện tượng thường gặp

– Thiên Lý Nhãn

Thân thể con người thường phát sinh ra những dự báo, có những dự báo ngay từ khi được sinh ra đời tức tướng mạo, hình thần khí sắc và có những dự báo theo từng thời kỳ, thời gian qua tướng mặt, chỉ tay hay những nút ruồi.

Tuy nhiên mỗi người còn có những điềm dự báo ngắn hạn khác, phát sinh lúc tỉnh táo hay trong lúc ngủ mê say; là các hiện tượng của hắt hơi nhảy mũi, ù tai, máy mắt và những giấc chiêm bao mộng mị gặp chuyện lành dữ.

Các nhà khoa học từ Đông sang Tây, sau khi nghiên cứu các hiện tượng trên, có hai phái đưa ra các lý luận đối nghịch như :

– Lý luận thứ nhất, cho rằng đây là hiện tượng về tâm linh, như là giác quan thứ 6 nhằm báo cho con người biết đến tính họa kiết sắp xảy ra để đề phòng, và chỉ xảy đến từ 24 đến 48 tiếng.

– Lý luận thứ hai, cho rằng đấy là hiện tượng báo hiệu về sức khoẻ đang suy yếu, cần được khắc phục nhanh để đỡ sinh ra biến chứng. Như luận thuyết của F. Reud giải thích về các giấc mộng theo chiều hướng khoa học, tương đối hợp lý, cho mọi người thấy những giấc chiêm bao chỉ là hình ảnh của ảo giác, không đem đến điềm cát hung nào cho mọi người khi gặp phải.

Bai 1-3Còn tờ “Văn hối báo” ra ngày 23/11/1990 có nói đến, bên nước Mỹ còn phát minh ra máy tạo ra những giấc chiêm bao : “có vị giáo sư dạy ở đại học Stanford (Mỹ) đã phát minh ra một bộ phận máy móc gây ra giấc mộng cho mọi người. Máy có thể hỗ trợ cho người đang ngủ, nằm mộng thấy bất cứ một giấc mơ nào tùy theo ý muốn”, điều này cho thấy tính ảo giác có thể thực hiện theo ý muốn như F. Reud giải thích.

Chính vì thế đã có nhiều sách báo viết về các hiện tượng máy măt, ù tai, hắt hơi hay nằm mộng mà đoán điềm lành dữ. Như ở Pháp có các tác giả J.de Roils, Malbert, Malet, Zezna, ở Mỹ có Michael Halbert… Còn phương Đông, đất nước Trung Hoa có rất nhiều sách cổ viết từ thời Xuân thu để lại, một cuốn được mô tả do Tôn Tẩn viết có tên Tây sơn ký, sau đó có Hoàng đế nội kinh, Đại thiên thế giới, gần đây cuốn Bí ẩn chiêm mộng của Diêu Vĩ Quân nghiên cứu biên soạn vào thập niên 1990 thế kỷ trước, riêng ở nước ta có cuốn “sấm ký” Nhâm cầm độn toán của cụ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm v.v… còn sách báo tạp văn viết về những điềm bí ẩn trên có rất nhiều kể không xiết.

Sau đây chúng tôi mô tả một số điềm dự báo thuộc loại ngắn hạn, chỉ có thể xuất hiện trong vòng từ 24 đến 48 tiếng :

1- HIỆN TƯỢNG Ù TAI

Ù tai thường là triệu chứng bị nước xâm nhập qua lỗ tai, vào màng nhĩ nghe lùng bùng không rõ tiếng động từ bên ngoài lọt vào.

H. hientuong lotaiHiện tượng này thường chỉ xảy ra sau khi tắm gội, nếu nghiêng đầu về bên tai đang bị ù mà lắc mạnh, chỉ vài giây sau nước tràn ra khỏi vành tai sẽ hết ù tai. Còn loại ù tai do tiếng động mạnh dội vào màng nhĩ, chỉ năm mười phút sau khi tiếng động đó không còn thì chứng ù tai cũng sẽ hết. Cả hai điêu trên không phải bí ẩn của những điềm được dự báo.

Vì dạng ù tai mang tính dự báo từ tâm linh, sẽ xảy ra bất ngờ không do trực tiếp hay gián tiếp như nói trên, và được tính theo thời gian thuộc tai phải hay tai trái, để giải mả điềm bí ẩn phát sinh :

Giờ Tý (23 – 01g) Tai trái, có người nghĩ đến mình. Tai phải, hao tài mất của

Giờ Sửu (01 – 03g) Tai trái, có hao tài hoặc cãi nhau. Tai phải, kiện thưa, tranh cãi, cần ôn hòa

Giờ Dần (03 – 05g) Tai trái, đề phòng mất của. Tai phải, có việc lo nghĩ về gia đạo

Giờ Mão (05 – 07g) Tai trái, có chuyện không lành. Tai phải, có khách đến nhà thăm hỏi

Giờ Thìn (07 – 09g) Tai trái, được tin đi xa. Tai phải, có khách đến nhà nhờ vả

Giờ Tỵ (09 – 11g) Tai trái, có điều hung coi chừng xe cộ, Tai phải, có của hoạnh tài

Giờ Ngọ (11 – 13g) Tai trái, có tin xa, hay quà biếu. Tai phải, có người quen tìm đến thăm

Giờ Mùi (13 – 15g) Tai trái, có người mời ăn uống. Tai phải, có người từ xa tìm đến

Giờ Thân (15 – 17g) Tai trái, được mời đi xa. Tai phải, có người đi xa trở về

Giờ Dậu (17 – 19g) Tai trái, đề phòng hao tài, mất của. Tai phải, có người mang lộc đến nhà

Giờ Tuất (19 – 21g) Tai trái, có ăn uống. Tai phải, có khách đem tài lộc đến

Giờ Hợi (21 – 23g) Tai trái, đại cát có tài lộc vào. Tai phải, có tiệc tùng

2- HIỆN TƯỢNG NÓNG MẶT

Khi mặt nóng rang đỏ bừng, là biểu hiện cái nắng đang chiếu rọi trực tiếp vào da măt, cũng đôi khi do uống rượu bia quá chén, hay vì sự giận dữ mà các mạch máu nổi lên làm căng thớ thịt để sinh ra hiện tượng nóng mặt. Là những hiện tượng xảy ra hết sức bình thường của con người.

Nhưng tự nhiên thấy mặt nóng bừng bừng, ngứa ngáy đến khó chịu mà không do hoàn cảnh nào gây ra, được cho đó là điềm dự báo. Tuy nhiên điềm lành hay dữ vẫn phải có lời giải đáp :

Giờ Tý (23 – 01g) : Các công việc sẽ đem thuận lợi

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có cãi nhau trong gia đạo

Giờ Dần (03 – 05g) : Có người đến cùng cộng tác

Giờ Mão (05 – 07g) : Có khách đến mời ăn uống

Giờ Thìn (07 – 09g) : Được tin đi xa đến nhà

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Bạn cũ đang nhớ đến mình, họ cần được giúp đỡ tinh thân lân vât chât

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có chuyện bực mình từ người thân

Giờ Mùi (13 – 15g) : Đề phòng từ chuyện nhỏ xé ra to

Giờ Thân (15 – 17g) : Sẽ gặp người muốn cùng cộng tác

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người khác phái đang chú ý đến

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có khách đem lộc thực đến

Giờ Hợi (21 – 23g) : Coi chừng bị kiện thưa.

Theo cuốn “Hoàng Đế nội kinh”, cuốn sách nghiên cứu các chuyện thuộc “thế giới tâm linh” thần bí cho rằng, việc mặt nóng hai lỗ tai cũng liên quan đến, nên khi nhìn thấy ai nóng mặt, cả khuôn mặt đều đỏ bừng, còn đương sự thấy thân thể như người nổi mề đay (phong ngứa).

Khi phát hiện ra hiện tượng nóng mặt, mọi người cần hiểu rõ tâm trạng lúc bấy giờ, như đang bị sốc vì câu chuyện nào đó; không gian có phải đang giữa trưa mùa hè, vì có người sẽ bị ảnh hưởng bởi không khí nóng, hay do bệnh tật vì chứng huyết áp tăng, vì thế các dây thần kinh thường căng thẳng gây ra hiện tượng nóng mặt; hoặc đang ngồi uống bia rượu cũng dễ làm cho mặt đỏ… biết được những hoàn cảnh như thế để tránh phải lo sợ viễn vông, vì không phải là điềm được tâm linh dự báo.

3- HIỆN TƯỢNG MÁY MẮT

Mắt giật liên tục, là một điềm rất thường xảy đến cho mọi người, không thể khống chế, ngoại trừ khi máy mắt ngừng lại.

H. hientuong matNói về bí ẩn của điềm dự báo này, mỗi thầy tướng số đều nói khác nhau, người nói nam coi theo mắt trái, nữ coi theo mắt phải, người nói máy mắt bên phải là điềm lành còn máy mắt bên trái là điềm hung. Nhưng theo tác giả Michael Halbert, viết trong cuốn sách nghiên cứu về những điềm bí ẩn trong con người, cho rằng từ Đông sang Tây đều xem hiện tượng máy mắt có giá trị cho một điềm tâm linh dự báo cho đương sự, chuyện lành dữ theo ngày và giờ chúng xuất hiện trên mắt trái hay phải.

Nên khi giải đoán phải phối hợp ngày giờ âm lịch với nhau, đồng thời tính Can Chi Ngũ hành sinh khắc của ngày hiện hành với Can Chi đương sự.

Sau đây các điềm dự báo về máy mắt :

Ngày Tý : Bên phải, có rượu thịt. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Sửu : Bên trái, có hao tài. Bên phải, có cãi nhau

Ngày Dần : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, đề phòng có tranh luận

Ngày Mão : Bên phải, có khách đến nhà. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Thìn : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, có cãi nhau

Ngày Tỵ : Bên trái, có cãi nhau. Bên phải, có tiệc tùng

Ngày Ngọ : Bên phải, có người đưa tiền đến nhà. Bên trái, có tranh cãi

Ngày Mùi : Bên trái, có ăn uống. Bên phải, có người đang nghĩ đến

Ngày Thân : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, có của hoạnh tài

Ngày Dậu : Bên phải, hao tài. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Tuất: Bên trái, có người mời. Bên phải, có người đến nhà

Ngày Hợi : Bên trái, có tin vui. Bên phải, đề phòng chuyện xấu

Trên đây khi gặp hiện tượng máy mắt phải xem ngày rồi phối hợp với giờ xảy ra sau đây để lý giải trong không gian của đương sự ngày hôm đó :

Giờ Tý (23 – 01g) Bên trái, có quý nhân đến. Bên phải, có lộc ăn

Giờ Sửu (01 – 03g) Bên trái, có lo lắng suy nghĩ. Bên phải, có người nghĩ đến

Giờ Dần (03 – 05g) Bên trái, có khách đến. Bên phải, có người đang nghĩ đến

Giờ Mão (05 – 07g) Bên trái, khách xa đến nhà. Bên phải, tin vui

Giờ Thìn (07 – 09g) Bên trái, được tin đi xa. Bên phải, có cãi nhau

Giờ Tỵ (09 – 11g) Bên trái, có ăn uống tiệc tùng. Bên phải, có hung tin

Giờ Ngọ (11 – 13g) Bên trái, sắp có người giao việc. Bên phải, có người quen tìm đến

Giờ Mùi (13 – 15g) Bên trái, có tin lành. Bên phải, có người nghĩ đến

Giờ Thân (15 – 17g) Bên trái, hao tài tốn của. Bên phải, có tin buồn

Giờ Dậu (17 – 19g) Bên trái, có khách đến thăm. Bên phải, có người thân đến nhà

Giờ Tuất (19 – 21g) Bên trái, có khách. Bên phải, có lộc ăn

Giờ Hợi (21 – 23g) Bên trái, có khách. Bên phải, có điều không lành

Thí dụ : một nam giới có tuổi Giáp Thìn, nhận ra bên mắt trái đang máy vào lúc 2 giờ trưa trong ngày Mậu Ngọ.

Với các chi tiết trên ta có :

– Ngày Ngọ bên mắt trái : Có tranh cãi.

– 2 giờ trưa tức 14 g thuộc giờ Mùi (13-15g) : Có tin lành

Nếu phối hợp 2 nguồn dự báo trên sẽ thấy mâu thuẫn, vì đã tranh cãi sao lại có tin lành ? Vì thế cần phối hợp phần ngũ hành và cung :

– Ngày Mậu Ngọ hành Hỏa thuộc cung Chấn, còn đương sự tuổi Giáp Thìn cũng hành Hỏa thuộc cung Tốn (xem Lục thập hoa giáp). Nếu giải đoán theo ứng dụng về 8 quẻ Bát quái qua “Ngũ mệnh đặc quái”, hay tính Ngũ hành sinh khắc. Ta sẽ có lời giải đáp như sau :

Qua bảng “Ngũ mệnh đặc quái” người Giáp Thìn cung mệnh là Tốn thuộc Mộc, gặp ngày Ngọ cung Chấn cũng thuộc Mộc là “có vinh hoa phú quý”, nếu tính theo ngũ hành sinh khắc là “lưỡng hỏa thành viên” (hợp thành sức nóng), như thế việc tranh cãi phần thắng sẽ về người Giáp Thìn, tức có tin tốt lành là đúng với điềm đã dự báo.

H. hientuong hat hoi4- HIỆN TƯỢNG

HẮT HƠI – NHẢY MŨI

Như nóng mặt, ù tai có thể do các nguyên nhân về sức khoẻ, bệnh tật gây ra; việc hắt hơi nhảy mũi cũng có nguyên do tương tự, từ bệnh thời khí (cảm, cúm) mà ra, không liên quan gì đến các điềm dự báo.

Tuy nhiên khi chưa thấy có triệu chứng của bệnh cảm cúm, mà hắt hơi nhảy mũi liên tục, mới gọi là điềm được báo trước, nhưng điềm này thường là điềm lành. Người xưa khi hắt hơi nhảy mũi, thường kêu lên câu : “một cái có tài, hai cái có lợi, ba cái có lộc mang về” là vậy.

Chúng ta có thể thấy trong các lời giải đoán sau đây :

Giờ Tý (23 – 01g) : Được mời dự tiệc thịnh soạn

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có người mời hợp tác có lợi

Giờ Dần (03 – 05g) : Có cuộc hẹn về tình cảm với người khác phái.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có quà tặng

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có lộc ăn uống

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Có quý nhân giúp đỡ, mong muốn có thể thành hiện thực.

H. hientuong somuiGiờ Ngọ (11 – 13g) : Người từ xa đưa đến tài lộc

Giờ Mùi (13 – 15g) : Có tài lộc đưa đến.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin tiền hung hậu kiết

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người nhờ cậy và được trả công, nếu là người khác phái còn gây được tình cảm.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người khác phái đang nhắc tên mình, đang tỏ ý muốn gặp gở.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Đang lo nghĩ về tiền bạc, sẽ được giải quyết êm đẹp.

5- HIỆN TƯỢNG THỊT GIẬT

Những thớ thịt từ mặt đến vai bỗng giật liên hồi, nhất là tại lưỡng quyền thường là tin xấu. Là điềm báo cho đương sự những tin tức sẽ xảy đến :

Giờ Tý (23 – 01g) : Được tin về tiền bạc bất ngờ, hay có của hoạnh tài.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có người mang tin vui đến nhà.

Giờ Dần (03 – 05g) : Có cãi nhau, nên nhường nhịn sẽ được yên thân.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người đến nhờ vả

Giờ Thìn (07 – 09g) : Đề phòng có tai nạn cho người thân trong gia đình.

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Có khách nhờ giúp đỡ, công việc mang đến nhiều tài lộc.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có kẻ tiểu nhân đang gièm pha.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Có của hoạnh tài đưa đến.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin về tiền bạc, nhưng phải khiêm nhường dừng hãnh tiến mới thành công.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Hao tài, mang tiếng thị phi

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người thân đến nhà.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Công việc đang lo nghĩ buồn phiền, bỗng hóa thành công, đem tài lộc về nhà.

6- HIỆN TƯỢNG HỒI HỘP

Hồi hộp có khi là căn bệnh về tim phổi, nhưng cũng là điềm báo trước những chuyện hung kiết. Khi hồi hộp là tự nhiên trong người xảy ra hiện tượng tim đập liên tục và nhanh như đang bị mệt.

Giờ Tý (23 – 01g) : Có người khác phái có cảm tình, đang tưởng nhớ đến mình.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Đề phòng tai ương họa gửi từ những người chung quanh.

Giờ Dần (03 – 05g) : Có người mời ăn uống, nhưng hao tài phí sức.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người đến nhờ cậy, coi chừng bị lừa đảo, nếu là người đồng phái thì có tài lộc đến.

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có tin vui, có của hoạnh tài.

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Nếu chưa lập gia đình thì đây là cái hẹn trong tình yêu bền vững; đã có gia đình không nên tiến xa hơn mức xã giao.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Sẽ có cuộc họp mặt ngẫu nhiên, từ tiền bạc đến tình cảm.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Duyên phận đến nhưng hậu vận không thành sự thật.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin xa đưa đến.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người thân quen đến thăm hỏi và giúp đỡ.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người mời hợp tác, nên nhận sẽ có lợi nhiều hơn có hại.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Đề phòng có tai nạn, nếu gặp sẽ hao tài và thương tật.

(Còn 1 kỳ)

Bí ẩn Phong Thủy (4/4)

PThuy 2TÌM HIỂU BÍ ẨN

TRONG THUẬT

XEM

PHONG THỦY

– Thiên Việt (Bài 4 hết)

Qua các bài trước chúng tôi viết về Dương trạch tức tìm hướng và những cát hung trong việc xây dựng, tu tạo nhà cửa.

Bài cuối này nói về Âm trạch, tức xem nơi chôn cất, cải táng cho người vừa qua đời

– ÂM TRẠCH

Tên gọi Âm Trạch có nguồn gốc từ thuyết Âm Dương (trên mặt đất là dương – dưới mặt đất là âm), nhà ở của người sống gọi Dương Trạch, chỗ chôn cất cho người chết là Âm Trạch.

Âm Trạch lấy ngày chẵn của tháng mặt trăng (âm lịch) mà tính họa phúc, Dương trạch tính theo ngày lẻ của tháng mặt trời (dương lịch) để định cát hung.

Âm trạch là đất táng ông bà cha mẹ, mưu đồ cho con cháu về sau, vong linh yên ổn thì con cháu thành đạt. Người xưa xem âm trạch là gốc còn dương trạch là nhánh ngọn, nên chăm lo mộ phần rất chu đáo (họ có thuyết cho rằng trần sao âm vậy).

Nên việc đi tìm thế đất tốt để chôn người chết, chẳng khác người sống đi tìm đất cất nhà. Mọi người cũng xem hướng đặt mả, chọn ngày tháng năm mà xây mả (nếu người chết được tuổi, tức trong năm đó không kiêng kỵ về xây dựng, trong 49 ngày đầu tiên có thể lập mộ, còn sau đó phải xem ngày tháng năm như người sống) bằng Tứ Kim Lâu, Lục Hoang Ốc, ngày, tháng Hoàng Đạo v.v…

Thế đất tốt dùng cho âm trạch là nơi khô ráo, trong “Lã Giám – Tiết tang thiên” viết :

– Chôn cạn thì hay bị cầy cáo bới ăn xác, chôn sâu chạm nước mạch, do vậy phải chôn trên gò cao, để tránh nạn cầy cáo và nạn đầm nước, xác mau thối rửa là không thích hợp.

Khi có tục chôn cất hình thành, người xưa (qua phát hiện các ngôi mộ cổ tại Hà Nam và Vân Nam bên Trung Quốc) thường chôn người chết quay mặt nhìn về hướng Nam hoặc chếch về hướng Tây.

Tìm thấy ở Bán Pha, Tây An thời văn hóa Ngưỡng Thiều – nền văn hóa cổ đại ở lưu vực sông Hoàng Hà, thời đồ đá mới – có 250 ngôi mộ đều quay mặt về hướng Tây.

Tại Vân Nam, phát hiện 200 ngôi mộ thời Xuân Thu đầu quay về hướng Nam, chân xuôi hướng Bắc. Một phát hiện khác tại Hà Nam, có 114 ngôi mộ thời kỳ đồ đá đầu quay chệch về hướng Tây – Tây Nam).

Thời Minh – Tống bên Trung Quốc, người ta làm quan tài dầy 3 tấc để xác bị thối rửa lâu hơn, áo liệm đến 3 lớp đủ che đậy. Khi chôn phía dưới áo quan không có nước, phía trên không thông với mùi xú uế trên mặt đất.

Thuật phong thủy cho rằng, khi an táng đầu chếch về Tây hay Tây Nam, chôn sâu mà không đụng mạch nước ngầm là tốt.

Còn khi cải táng cho một huyệt mộ vì một lý do nào đó, ngoài việc đi tìm đất táng, thân nhân cần có chút hiểu biết khi thực hiện phần công việc cải táng này.

Thông thường muốn cải táng cho một ngôi mả, ít nhất cũng sau ba năm kể từ ngày chôn cất, bởi khi ấy mùi tử khí không còn ảnh hưởng đến môi trường, và cũng là đạo lý trong tập quán của người Việt chúng ta.

Ngày xưa rất ít người chịu cải táng phần mộ của ông bà cha mẹ, vì sợ bị động vào long mạch, số người còn lại có những lý do khác nhau để cải táng :

– Khi cha mẹ chết lúc nhà còn nghèo nên không đủ tiền mua những cỗ áo quan tốt, nên đợi ba năm sau xin cải táng lại, kẻo áo quan cũ xấu hư nát có hại đến di hài, mất phần phúc đức, sợ tổ tiên quở trách.

– Nơi chôn cất có mối, kiến, sụp lở vì nước ngầm.

– Nhờ các thầy phong thủy xem lại thế đất, hay thấy phần mộ bị sụp lở hoặc cây cối đang trồng trên mả tự nhiên khô héo.

– Còn một lý do khác theo mê tín, trong nhà có kẻ dâm loạn hay điên khùng hoặc đau ốm liên miên, gia đình bị tai tiếng thị phi, kiện tụng thì cho là đất đang táng bị động.

– Hoặc có người cầu mong đường công danh phú quý cho gia đình, nhờ thầy địa lý tìm nơi cát địa mà cải táng lại mộ phần của thân nhân.

– Có người khi thấy phần mộ gia đình khác phù hộ làm ăn trở nên khấm khá, cho là đất nơi ấy kết phát; liền cải táng thân nhân về gần nơi có ngôi mộ kia để cầu được hưởng chút dư huệ.

– Và còn có những nguyên nhân khách quan khác, như phải chuyển nghĩa trang ra khỏi thành phố, khu đất được quy hoạch v.v…

Về mặt chủ quan trong gia đình, khi đang cải táng gặp những điều sau đây thì không nên cải táng nữa :

– Một : Khi đào mả thấy trong huyệt có con rắn vàng đang sinh sống cho là điềm cát tường (Long xà khí vật).

– Hai : Khi mở nắp quan tài thấy có dây tơ hồng quấn quít thì cho rằng đất kết.

– Ba : Khi hơi đất chỗ quan tài ấm áp, không có nước, khô ráo hoặc có nước đọng như màu sữa là tốt. Khi gặp những điều trên đây phải đắp mả lại ngay.

Trước khi cải táng, gia đình tổ chức lễ cáo đường nơi thờ tự. Đến khi động đất cải táng, thêm một lễ xin thổ thần cho đem hài cốt người thân di dời nơi khác.

Khi thực hiện phần gom hài cốt, nhặt lấy xương xếp vào một tiểu sành rồi rẩy nước hoa vào, lúc hoàn tất phải hàn nắp cho kín không cho ánh sáng lọt vào. Sử dụng tiểu sành là đi gửi chùa, hay đem về nhà thờ. Nếu hài cốt đưa đi cải táng chôn nơi khác, thì dùng áo quan nhỏ, gắn hài cốt như hình người và tẩn liệm thật kỹ như lúc mới chết.

Người mới chết đắp mộ theo chiều dài thân, người cải táng đắp mộ theo hình tròn.

Quan tài cũ không dùng phải bỏ, một số người ở nông thôn thường lấy về làm chuồng nuôi súc vật cho không bị sâu chân. Số khác lấy những mảnh gỗ làm bàn cầu cơ bói toán, hoặc bị đau nhức lấy đốt lên để dưới gầm giường cho cơn đau thuyên giảm.

Những nơi đất cao ráo, độ ẩm thấp, còn làm cho thân xác người chết ít bị thối rửa hơn những nơi ẩm thấp.

HOÀNG ĐẾ TRẠCH KINH

Hoàng Đế Trạch Kinh là sách lý luận về thuật phong thủy của Trung Quốc, có 2 thiên viết về dương trạch và âm trạch, mỗi thiên chia 24 lộ, bát quái, cửu cung dùng cho nam nữ.

Các thầy phong thủy khi giản dị trong cách tính toán, đã sử dụng những bí quyết trong sách với đại ý :

– 24 lộ (phương vị) là căn cứ vào hình thể nhà lớn nhỏ chia ra 4 mặt. Và trong duy lý về âm dương, bất cứ mọi sự khi có dương phải có âm, và ngược lại; có âm dương phối hợp mới sinh tứ tượng, bát quái (tiên thiên – hậu thiên) v.v.. tức sinh sôi nẩy nở không ngừng. Nên âm dương hòa hợp là tốt đẹp, hai âm hay hai dương tương phùng là xấu.

Nói tóm lại dương trạch cần có dương khí bao âm, âm trạch cần có âm khí bao dương. Hai khí này định trên vị trí của nhà ở gọi là long (rồng).

Đầu long của dương trạch ở hướng Hợi, đuôi long ở hướng Tỵ. Còn đầu long âm trạch ở hướng Tỵ còn đuôi hướng Hợi.

Muốn tìm long huyệt nên theo luật lệ sau đây :

– Từ hướng Tốn chuyển hướng Kiền. Từ hướng Ngọ chuyển hướng Tý. Từ hướng Khôn chuyển hướng Cấn. Từ hướng Dậu chuyển hướng Mão. Từ Tuất chuyển sang Thìn. Gọi là NHẬP DƯƠNG. Chiều chuyển hướng ngược lại gọi là NHẬP ÂM.

Phương pháp tu đức nạp phúc, dựa vào đạo lý của trời đất như thế khi xây dựng nhà cửa, an táng mộ phần mới thấy thanh khiết trong sạch. Khi nhà cao cửa lớn, tường vách dầy dặn như vậy mới cảm nhận sự vinh hoa phú quý, an định.

Tái nhập âm nhập dương gọi là vô khí. Ba lần trùng nhập âm dương là vô hồn, bốn lần nhập là vô phách. Không có hồn phách tất nhiên cuộc sống không được như ý. Nếu âm dương vãng lai một lần tức tương hợp với thiên đạo, tự nhiên nhà cửa thấy tốt lành. Nên khi kiến tạo nhà cửa hay mộ phần cần phải có sinh khí, chỉ cần hai khí âm dương thuận hành làm chính là được.

Dương trạch khi kiến tạo nhà cửa phải làm từ ngoài vào, lấy trục Nam Bắc (Tý – Ngọ) làm ranh giới âm dương. Nếu nhà gặp hình hại, phải sửa trước rồi mới sửa đến hướng phúc đức sau.

Cần tránh tứ vương thần thí dụ :

– Ba tháng mùa xuân, phương Đông do Thanh Đế, Mộc Vương cai quản. Tức tháng giêng Dần : Đế xa, tháng hai Mão : Đế lộc, tháng ba Thìn : Đế xá.

Ba tháng này không được xây dựng nhà hướng Đông để tránh bớt xung khí. Các tháng theo mùa Hạ, Thu, Đông cũng theo luật này mà tránh.

Khi làm tìm vị trí sinh khí của tháng mới tốt, còn phạm tử khí là xấu. (Xem lại các phần trước)

Hình đồ Dương trạch và Âm trạch

hinhdo Dug trachQua hình đồ Dương trạch cùng những thuyết minh như sau :

1- Thiên môn : Ở phương vị KIỀN, căn nhà không nên xây dựng quá cao hơn mọi nhà khác. Xây cất vào tháng năm ngày Đinh – Nhâm, nằm ở phương Bắc không thực hiện vào các ngày Nhâm Tý, Đinh Tỵ.

2- Hợi : là Chu Tước. Đầu long tọa vị (cha)

3- Nhâm : là đại họa (mẹ)

4- Tý : là tử táng (con và dâu trưởng)

5- Quý : là Câu trần (con thứ – dâu thứ). Tháng ba, tháng bảy ngày Đinh, Nhâm tốt cho sửa chữa, xây dựng.

6- Sửu : là Cự ngục (thuộc hàng thứ, con cháu)

7- Quý môn : ở cung CẤN, thuộc phương Đông. Xây dựng vào tháng tám ngày Giáp ngày Tỵ, không nên lấy ngày Giáp Tý, Kỷ Tỵ.

8- Dần : là thiên hình, long bối (lưng rồng), Huyền vũ tọa vị (chủ về thai nhi), tháng sáu ngày Giáp, Kỷ dùng cho kiến tạo nhà cửa.

9- Giáp : là trạch hình (thứ nữ và con cháu).

10- Mão : là hình ngục (thiếu nữ và con cháu)

11- Ất : là đằng xà, tụng ngục, khách nhân tọa vị. Xây dựng vào tháng mười ngày Tỵ.

12- Thìn : là Bạch hổ, long hữu túc (chân phải rồng), chủ về tù ngục (về người làm, giúp việc). Tháng mười ngày Tỵ là ngày kiến tạo nhà cửa.

13- Phong Môn : ở phương vị quẻ TỐN, thuộc phương Nam. Nên xây dựng nhà thấp. Tháng mười một ngày Bính, Tân tốt, không dùng ngày Bính Tý, Tân Tỵ.

14- Tỵ : là thiên phúc, trạch ốc còn gọi là trạch cực.

15- Bính : là minh đường, trạch phúc, an môn.

16- Ngọ : là đất của Cát Xương, Long tả túc (chân trái rồng)

3 phương vị Tỵ, Bính, Ngọ nên kiến tạo nhà cửa vào tháng chín ngày Bính, Tân.

17- Đinh : là thiên bào, cung này tốt cho xây cất nhà cao cửa rộng vào tháng giêng ngày Bính, Dần.

18- Mùi : là thiên phủ, làm nhà cao, rộng, đông người giúp việc, nên tu sửa nhà bếp, nhà vệ sinh.

19- Nhân môn : thuộc KHÔN, phương Tây, là đất của Long Xương, nặng nề nhưng chắc chắn, thích hợp cho chăn nuôi. Xây dựng vào tháng hai ngày Ất, Canh.

20- Thân : là ngọc đường, mọi việc trôi chảy.

21- Canh : là trạch đức, an môn. Vị trí rất tốt.

22- Dậu : là đại đức, chủ về nhà trọ, nhà hàng, khách sạn (khi về đây nên khai thác ngành hàng này)..

23- Tân : là kim quỷ (kho vàng), thiên tỉnh (giếng trời), các kiến trục mang tầm cỡ đại phú quý.

24- Tuất : là địa phủ, Thanh long tả thủ (tay trái của rồng xanh) ở trên trời, chủ về sao nhật nguyệt, ở dưới đất chủ về Thủy, Hỏa, Thổ. Ở con người chủ về khí thần (minh mẫn) vị trí này rất tốt.

Trên đây là thuyết minh của 24 phương vị chính. Trong Hoàng Đế Trạch Kinh còn ghi nhận những địa điểm khác trên hình đồ có hung cát như sau :

1- Vị trí bên ngoài cung TỐN : nên lập đình chùa đên miếu, còn xây dựng chỉ thuộc nhà của dân giả bình dân.

2- Vị trí ngoài Thiên Đức – Ngọc Đường (từ Thân đến Dậu), chỉ làm nhà trệt, không cất phố lầu, mới có địa khí.

3- Vị trí ngoài Thiên Bào – Thiên Phủ, thích hợp làm kho bãi, chuồng trại.

4- Vị trí ngoài Long Bối (Dần), xây dựng chuồng trại, tường vách phải chắc chắn dầy.

5- Vị trí ngoài Khôn, làm nhà cao thích hợp.

6- Vị trí ngoài Ngọc Đường (Thân), làm cửa hàng, nơi nhiều khách vãng lai đi qua.

7- Vị trí ngoài Đại Đức (Dậu), làm chỗ ở cho phụ nữ thuộc hàng con cháu ở.

8- Vị trí ngoài Kim Quỹ – Thanh Long (Tân – Tuất), nơi này làm nhà kho, hay chỗ để tiền bạc trong nhà. Xây dựng những công trình lớn.

Sau đây là Âm trạch hình đồ, cùng thuyết minh :

hinhdo Am trach

1- Thiên môn : Ở phương vị KIỀN, phương Bắc. Là chung điểm của Âm là khởi điểm của Dương, không thực hiện vào các ngày Nhâm Tý, Đinh Tỵ.

2- Hợi : là Thiên phúc, long vĩ  còn gọi là Trạch cực, vị trí hướng Đông, tốt vào tháng ba ngày Đinh, Nhâm

3- Nhâm : là vị trí của Trạch phúc, Minh đường

4- Tý : là Cát xương, long tả túc (chân trái rồng) phát triển về chăn nuôi.

5- Quý : là Thiên Bào, tốt trong phát triển về kinh doanh khách sạn, nhà hàng.

6- Sửu : là Thiên Phủ, chủ về nhà cao cửa rộng

2 cung Quý, Sửu tốt tháng bảy, ngày Đinh, Nhâm.

7- Quý môn : ở cung CẤN, thuộc phương Đông. Nằm tại bụng rồng (Long phúc), nên khi xây kim tĩnh cần sự chắc bền, không được sơ sài qua loa. Tháng tám ngày Giáp, Kỷ tốt kỵ ngày Giáp Tý.

8- Dần : là Ngọc Đường.

9- Giáp : là Trạch đức, An môn

Hai phương vị tốt về tháng sáu, ngày Giáp, Kỷ.

10- Mão : là Đại Đức, Khách xá vị trí này rất tốt.

11- Ất : là Kim Quỹ, Thiên Tinh.

12- Thìn : là Địa phủ, Thanh long tả thủ, Tam nguyên. Làm âm trạch có phần cho con cháu.

Hai phương vị Ất, Thìn khi xây dựng nên vào tháng hai, ngày 10 là hợp nhất.

13- Ở phương vị quẻ TỐN, thuộc phương Nam, là gió, còn gọi là âm cực, dương tiền, xây dựng âm trạch không để bị mộ phần khác che khuất, vì cần sự thông thoáng mới hưởng đủ sinh khí. Tháng mười một ngày Bính, Tân tốt, không đào huyệt ngày Bính Tý

14- Tỵ : là Chu tước, ngay đầu rồng

15- Bính : là Đại họa.

16- Ngọ : là Tử táng.

Ba phương vị này hợp tháng chín, ngày Bính, Tân.

17- Đinh : là Câu Trần

18- Mùi : là Sương ngục

Hai phương vị nằm ở hướng Tây, tốt vào ngày Ngọ, tháng giêng ngày Bính, Tân.

19- Nhân môn : thuộc KHÔN, đất này nên để đơn sơ thanh tịnh, không nên khuếch trương thì tốt.

20- Thân : là Thiên hình, long bối (lưng rồng). Thuộc hướng bắc

21- Canh : là Trạch hình.

22- Dậu : là Hình ngục

Ba phương vị tốt vào tháng chạp ngày Ất, Canh nhưng khi kiến tạo cho chệch ra mé tây.

23- Tân : là Đằng xà, Tụng ngục, Khách mệnh. Phương Bắc từ Dậu đến Tuất.

24- Tuất : là Bạch hổ, Long hữu túc.

2 phương vị này tốt vào tháng tư ngày Ất, Canh.

Bí ẩn Phong thủy (3/4)

PThuy 4TÌM HIỂU BÍ ẨN

TRONG THUẬT

XEM PHONG THỦY

– Thiên Việt (Bài 3)

Trong bài  có 2 hình cho người mang TRẠCH CUNG tức CUNG PHI : Tây trạch và Đông trạch, để các bạn tiện chọn hướng cất nhà cho hợp tuổi.

NHÀ ĐỐI NHÀ

Trong cuốn Phong thủy tục ký có ghi một tập quán :

– Mấy nhà xây cùng một dãy phải cùng trên một đường thẳng, gọi là xống hay là long (rồng). Nhà cao thấp phải như nhau. Nếu nhà nào nhô ra phía trước gọi là “cô nhạn xuất đầu” (chim nhạn ló đầu ra) chủ nhà phải chịu cô quả (chết chồng hay chết vợ). Nếu thụt vào trong gọi là “thác nha” (răng khểnh), gia đình lục đục.

Nếu cao thấp không đều, là khí cao đè khí thấp, nhà bên trái có thể cao hơn nhà bên phải, phòng ốc cũng nằm trong trong thế xây dựng này, nhưng phòng bên phải không thể cao hơn phòng bên trái, phòng phụ phải nhỏ hơn phòng chính, và phòng phụ không được cao hơn v.v…

Đây là thế nhằm phá bỏ thế cách trò khinh thầy, tớ khinh chủ, và là thế Tả thanh long hữu bạch hổ (bên trái rồng xanh cao vạn trượng chẳng cho bên phải hổ ngóc đầu).

Khi bước vào nhà mọi người thấy sáng sủa, thoải mái thì tốt, nếu bị các nhà phía trước cửa che chắn mất ánh sáng, cần đặt nhiều lỗ thông gió. Trong nhà lập “giếng trời” nhưng vừa đúng tầm thước Lỗ Ban để lấy thêm gió và ánh sáng, nhà hướng Tây Nam làm giếng trời không tốt.

hinhdo Dug trach-Tay

CHỌN KÍCH THƯỚC KHI XÂY DỰNG

Thời nào cũng vậy, theo nhân sinh quan mỗi người, việc tính kích thước cho cửa chính, cửa phụ, bề ngang căn nhà và cách trang trí nội thất rất được xem trọng, như từ huyền quan (cửa chính) đi vào phải có sảnh đường rộng thoáng v.v…

Không làm nhà “đầu voi đuôi chuột” sẽ tán tài. Bên phải dài bên trái ngắn không có lợi cho vợ. Cần làm nhà các cạnh đều nhau, nhưng hẹp ngang dài đòn là xấu. Không làm trên miệng giếng cũ, ngã ba đường, trước miểu sau chùa.

Kích thước nhà ở có quy chế nhất định, ngày nay đa số dùng thước Lỗ Ban để đo; còn trước đây thông thường dùng bộ (bước) thay cho xích (thước) làm đơn vị. 4 thước 5 tấc là một bước (thước này là tính theo thước của người Trung Hoa xưa thường dùng, nhà Ân tính 1 tầm là 8 thước, nhà Chu lấy 7 đến 8 thước gọi là nhẫn, vì thế các loại thước đo này nay không còn tồn tại khi có thước đo tính bằng centimét ra đời).

Cách tính theo xưa :

– Một bước khởi đầu là KIẾN                   (xây dựng)

– Bước hai là TRỪ                                        (loại bỏ)

– Bước ba là MÃN                                        (đầy đủ)

– Bước bốn là BÌNH                                    (phải chăng)

– Bước năm là ĐỊNH                                     (ít thay đổi)

– Bước sáu là CHẤP                                    (có thời cơ)

– Bước bảy là PHÁ                                        (tan vỡ)

– Bước tám là NGUY                                    (không yên ổn)

– Bước chín là THÀNH                                  (thành đạt)

– Bước mười là THÂU                                   (thu hoạch)

– Bước thứ mười một là KHAI                     (mở mang)

– Bước thứ mười hai là BẾ                         (bế tắc)

và những bước đi tiếp theo lại tính từ Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định v.v… (Những chữ trong ngoặc đơn : chữ đậm rất tốt, chữ nghiêng có thể dùng, chữ đứng là xấu).

Qua tính cách của 12 bước trên đây, ta thấy các chiều dài như Kiến nguyên cát, Trừ sáng sủa, Định kim quỹ, Chấp là thiên đức, Thành là tam hợp, Khai là sinh khí thuộc các bước tốt còn những bước khác xấu.

Khi vận dụng các bước, người xưa quan niệm :

– Về bề rộng căn nhà không được phạm vào các bước Mãn, Bình, Thâu, Bế.

– Về chiều dài lấy Trừ, Định, Chấp, Khai.

Nếu bề rộng hay chiều dài căn nhà có được Trư, Định, Chấp, Nguy, Khai, Kiến nhà sẽ có quý tử. Còn Trư, Định, Nguy, Khai, Chấp, Kiến tất thành đạt…

Khi đắp mặt bằng (nền nhà) ở trước cao sau thấp thì được, bằng ngược lại sẽ xấu. Cần đào hết các rễ cây, nhất là gốc cây cô thụ, gốc mít, thứ nhât nhà dê bị sụp lún, sau là tiên bạc phân tán khó đòi. Tránh đầu voi đuôi chuột, tiền của ít. Nhà hình tam giác cô quả tán tài. Bốn góc nhà bị khuyết không nên dùng. Tốt đẹp là căn nhà vuông, chữ nhật đều cạnh.

Nhà quá to nhân khẩu quá ít, hoặc nhà nhỏ người đông cũng không tốt.

Nhà vệ sinh phải kiêng các hướng Kiền, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, hay chỗ có lai mạch.

Cầu thang đặt chính giữa nhà không tốt, phải nằm bên phải, hướng bước lên cũng theo hướng huyền quan, các bậc thang tính 4 bước Sinh, Lão, Bệnh, Tử (Sinh là tốt).

hinhdo Dug trach-Dog

Nếu khu đất rộng xây dựng căn nhà vừa đúng nhu cầu, còn đất trống phải làm tường rào. Nhưng cách xây tường rào cũng có cách thức của nó.

Mỗi khu đất là cả một thế giới riêng, tường rào là chỉ giới để những căn khác không xâm phạm. Về nhãn quan khi nhìn vào tường rào người ta có nhận xét :

– Sự thăng trầm trong căn nhà, tường rào được chăm sóc là gia chủ có dư tiền nhiều của, để ọp ẹp là đang thiếu trước hụt sau. Cổ ngữ có câu :

“Tường dầy ba thước, đáng trọng,

“Tường cao nghìn nhẫn, họa không vào”.

Các thầy phong thủy có quan niệm, nhà ở thì vuông, tường tròn là tốt theo thuyết “trời tròn đất vuông” (nhưng thời nay ai đi xây tường hình tròn, vừa bị mất đất vừa thấy tù túng như nhà giam).

Tường rào không được trổ cửa sổ như vậy phạm vào Chu tước khai khẩu (dễ bị tiếng thị phi). Trước hẹp sau rộng, hay ngược lại đều không tốt vì ở thế “Thoái điền bút”. Không cao hoặc thấp quá, vừa tầm nhà theo mỹ thuật, không xây sát vào thân nhà, góc đông bắc không để vỡ nứt, không xây tường trước rồi mới xây nhà phạm chữ Tù. Tường rào phải có cổng, hai bên dựng cột tính theo bước Lỗ Ban như đã nói, căn nhà tạo thêm sinh khí.

– Nhà có cửa hậu tốt.

CỬA CHÍNH – CỬA SỔ

Cửa là mặt tiền căn nhà, là huyền quan nhận sinh khí đưa vào trong sảnh. Nên cửa nhà rất quan trọng. Nên có phân biệt cửa vượng và suy.

Cửa phải thông với đường cái, hai nhà đối diện, cửa nhà nào cao sẽ nghèo, mà chỉ được làm ô gió trên cửa để tiếp thiên khí. Cùng một dãy nhà, cửa nào to hơn thì mau phát đạt.

Còn cổng nhà, theo nguyên lý tụ khí, cổng nhà phải đón được khí và tụ khí, lại không để khí đè nặng trong nhà. Do đó thầy địa lý phong thủy thường dùng la bàn tính phương vượng để tính nơi đặt cổng nhà. Cổng không được lớn hay nhỏ, mà phải tương xứng với khu đất và căn nhà vừa mỹ quan, vừa tụ và khai thông khí.

Nhưng từ cổng không để mọi người nhìn thông vào sảnh đường, nên lập hòn non bộ để che chắn nhưng không áng khí, nếu quá hẹp từ cổng đến cửa chính thì dựng tấm bình phong, khí thoát vào phải quanh co mới đúng nguyên lý vừa thông lại không bị khống chế.

Các ô cửa thông gió, cửa sổ, giếng trời cần thiết cho việc đón gió từ nhiều hướng và tạo nên ánh sáng tự nhiên trong nhà, phải thiết kế hài hòa sẽ tạo nên sắc khí cho căn nhà (điều này trong phong thủy không đề cập nhiều).

NHÀ BẾP

Bếp là nơi không thể thiếu trong một căn nhà. Sách Trần Tử Tánh, cho rằng ngày mùng 1 và 25 âm lịch mỗi tháng không được : đập phá, hay đặt, dựng bếp mới.

Còn trong thuật phong thủy các thầy địa lý cho rằng, khi đặt bếp phải chú ý hướng bếp, không được đối diện với cửa buồng, không được để người nhà đối diện trông thấy bếp, không để bếp đối diện với chuồng nuôi gia súc, nhà vệ sinh hay đường đi.

Một bài phú về an vị, khai môn bếp như sau :

– Táo nhập KIỀN cung hiệu diệt môn

NHÂM – HỢI nhị vị tổn nhi tôn

GIÁP – DẦN đắc tài,  THÌN – MÃO phú

CẤN – ẤT thiên hỏa tức Táo ôn

TÝ – QUÝ – KHÔN phương gia khốn khổ

SỬU thương lục súc gia họa ương

TỴ – BÍNH phát tài sanh đại phú

NGỌ phương vương vị phú nhi tôn

TÂN – DẬU dinh phương đa tật bệnh

THÂN tốn MÙI – TUẤT trạch hạnh thông

Những cung hung kiết trong Bát Quái dùng cho việc làm bếp, đặt bếp là :

– Câu 1 : kỵ người trạch Ly. Câu 2, câu 5 : kỵ người trạch Khôn. Câu 6 : kỵ  trạch Cấn và câu 9 : kỵ trạch Khảm.

Thí dụ câu 1 : Táo nhập Kiền cung kỵ người Ly trạch, nhà để cửa hướng Bính thì nhà tan, để cửa hướng Đinh trưởng nam trọng bệnh, cửa hướng Đoài trưởng nữ tổn thọ. Xem cung phi biết người thuộc trạch nào. Các trạch khác theo câu thơ mà suy đoán.

Các câu 3, 7, 8 và 10 tốt.

Khi đặt bếp, miêng lò phải day vê hướng :

– Sinh khí cầu được con

– Thiên y giải trừ bệnh

– Phước Đức tăng tuổi thọ

– Phục vì cầu được như ý

Còn các hướng Họa hại, Lục sát, Ngũ quỷ và Tuyêt mạng là xấu.

– Dời bếp : đại kỵ ngày 1, 25 mỗi tháng, ngày Bính, Đinh; hay trực Phá gia chủ bệnh, trực Trừ cha mẹ mạng vong, trực Chấp, Bế tổn tài. Còn trực Mãn, Thành được phú quý, trực Bình, Định thêm nhân khẩu, trực Thâu, Khai miễn trừ tai ương.

– Cầu tài : miệng bếp tránh hướng bổn mạng, Lục Sát. Day nhìn về hướng Phúc Đức là tốt, theo sách Thông Thư Trần Tử Tánh trong tháng có tiểu tài, trong 100 ngày có trung tài, một năm phát đại tài.

BỒN CHỨA NƯỚC

Phong thủy theo Hán Nôm có nghĩa là khí và nước, ý nghĩa bao gồm nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nên việc đặt bồn chứa nước rất quan trọng trong nhà.

Nghiên cứu thủy là nghiên cứu long, chính vì vậy ở thành phố đi tìm long mạch là điều khó khăn, nhưng người thầy dùng phép quyền biến để tạo ra thủy (thế lấy nước gọi rồng), mặc dù việc này chưa hẳn đã đáp ứng đúng 100% thuật phong thủy.

Dù vậy việc lập bồn chứa nước cũng tạo ra thế cân bằng về phong thủy (nâng cao về vận khí rất nhiều), nhà xây dựng về một trong 24 phương vị sau đây, nên đặt bồn chứa nước cho đúng cách :

– Hướng Nhâm, đặt tại Tuất,

– Hướng Tý, đặt tại Mùi – Khôn

– Hướng Quý, đặt tại Thân,.

– Hướng Sửu, đặt tại Tỵ, Bính

– Hướng Cấn, đặt tại Bính

– Hướng Dần, đặt tại Hợi

– Hướng Giáp, đặt tại Tuất, Càn.

– Hướng Mão, đặt tại Càn.

– Hướng Ất, đặt tại Mùi, Khôn, Thân.

– Hướng Tốn, đặt tại Tốn.

– Hướng Bính, đặt tại Nhâm, Tý

– Hướng Ngọ, hướng Đinh, đặt tại Càn, Hợi

– Hướng Mùi, đặt tại Giáp, Mão

– Hướng Khôn, hướng Thân đặt tại Cấn, Dần

– Hướng Canh, đặt tại Tuất

– Hướng Dậu, đặt tại Sửu, Cấn

– Hướng Tân, đặt tại Cấn

– Hướng Kiền, đặt tại Tuất, Kiền

Ngoài ra 4 hướng Thìn – Tuất, Tỵ -Hợi, không cần chọn hướng đặt bồn nước.

Tuy nhiên thế lấy nước gọi rồng chỉ ảnh hưởng chừng 6 tháng đến 1 năm, sau đó phải di dời vị trí đi chút ít theo chiều kim đồng hồ, hoặc thay bồn chứa nước khác.

Bồn chứa nước không hẳn là bồn chứa nước sinh hoạt, có thể dùng thùng chứa nước, hồ cá kiểng, hòn non bộ tùy theo vị trí cảnh quan theo cách trang trí nội thất trong nhà đặt cho phù hợp.

(Bài cuối, nói về Âm Dương trạch)

Bí ẩn Phong Thủy (2/4)

24 Bi an phong thuy

TÌM HIỂU BÍ ẨN

TRONG THUẬT

XEM

PHONG THỦY

– Thiên Việt (Bài 2)

Huyền quan

Trong cách tìm dương trạch, ngoài việc tìm nạp khí và sắc khí ra, phải tính thế đất vuông méo ra sao, rồi dùng la bàn tính cửa Huyền quan cho chuẩn.

Huyền quan tức mặt tiền nhà, còn lưng nhà là mặt sau. Nhà chúng cư cửa chung là huyền quan, song với căn hộ riêng, chúng ta phải tính cửa vào nhà của mình mới chính là huyền quan của gia đình, nếu hướng huyền quan của chúng cư hợp với cá nhân, thì cửa nhà phải theo hướng đó, ngược lại cửa chúng cư không phù hợp, nhất thiết cửa ra vào nhà phải sửa cho hợp cách.

Ở nhà riêng cách xác định tim nhà tính theo giao điểm hai đường chéo (xem hình).

PT hinh 3 nha

Sau khi xác định tim nhà, các thầy địa lý đặt la bàn định hướng vào ngay chính tim, xác định phương vị của nhà (xem hình la bàn phong thủy).

24 phương vị mang các ý nghĩa sau đây :

1- Hướng Nhâm (bắc 337,6o – 352,5o – THỦY). Chính Nhâm có nghĩa quyền thế, phú quý. Con cái xuất ngoại thành đạt.

2- Hướng Tý (bắc 352,6o – 7,5o – HỎA). Không bỏ lỡ các dịp tốt trong đời, vì có đầu óc xét đoán đúng thời cơ.

3- Hướng Quý (bắc 7,6o – 22,5o – MỘC). Nếu kinh doanh thương mại dễ thành đạt, sinh con gái sẽ hãnh diện về sắc đẹp của chúng.

4- Hướng Sửu (bắc 22,5o – 37,5o – THỔ). Người có tâm đạo, thích tín ngưỡng, công việc làm ít trở ngại.

5- Hướng Cấn (đông bắc 37,6o – 52,5o – MỘC). Hướng này thích hợp với ngành buôn bán (nhưng nhà vệ sinh không được đặt theo hướng cửa chính, sẽ sinh ra nhiều bất lợi cho chủ nhà).

6- Hướng Dần (đông bắc 52,6o – 67,5o – HỎA). Đây là hướng khó sử dụng, nếu phải phá thế đất này, chủ nhà phải xây dựng huyền quan chệch về 37,6o đến 52,5o theo hướng Cấn mới phù hợp.

7- Hướng Giáp (đông 67,6o – 82,5o – MỘC). Là hướng gặp nhiều bệnh tật, nhưng nếu tim nhà ngay huyệt địa long lại dễ phát tài. Tuy nhiên rất khó tìm được căn nhà có huyệt địa long.La ban

8- Hướng Mão (đông 82,6o – 97,5o – KIM). Hướng thành công và phồn thịnh, vận khí phát triển mạnh, mọi công việc tốt đẹp theo ý muốn. Con cháu về sau thành đạt trong xã hội.

9- Hướng Ất (đông 97,6o – 112,5o – HỎA). Sẽ tiến thân bằng con đường khoa học kỹ thuật, nghệ thuật.

10- Hướng Thìn (đông nam 112,6o – 127,5o – HỎA). Có làm mới có ăn, có địa long hỗ trợ dễ thành đạt, không nên dùng tiền bạc phí phạm.

11- Hướng Tốn (đông nam 127,6o – 142,5o – HỎA). Thành đạt về văn học, nghệ thuật, nhưng tài chính sẽ gặp nhiều khó khăn.

12- Hướng Tỵ (đông nam 142,6o – 157,5o – HỎA). Hướng này có nghĩa là bếp của vua, nên ai ở hướng tỵ sẽ có tay nghề làm bếp giỏi, ngoài xã hội chủ về mở quán ăn uống, nếu ngôi nhà kết huyệt địa long càng thu được tài chính và lợi lộc.

13- Hướng Bính (nam 157,6o – 172,5o – HỎA). Hướng chứa nhiều linh khí, nên quyền quý, đương thời sẽ là người có quyền hành, hay một chính khách.

14- Hướng Ngọ (nam 172,6o – 187,5o – KIM). Khu đất nhiều biến động, thường gặp ba chìm bảy nổi, lúc thăng lúc trầm, gia đình xum họp rồi phân ly …

15- Hướng Đinh (nam 187,6o – 202,5o – KIM). Được nhiều người ngưỡng mộ, có tuổi thọ cao, được mọi người kính phục, ra quan trường có tiền hô hậu ủng

16- Hướng Mùi (tây nam 202,6o – 217,5o – THỔ). Hướng này tài hoặc lộc dồi dào, nhưng danh tiếng lại không bằng ai.

17- Hướng Khôn (217,6o – 232,5o – KIM). Hướng làm việc gì cũng không an toàn, nhưng nhờ thế đất có địa long trấn giữ, lực của nó giúp chủ nhà trở thành nhân vật có tiếng nói trong xã hội, nhưng hay rủi ro.

18- Hướng Thân (tây nam 232,6o – 247,5o – THỦY). Phải có địa khí kết hợp, hướng Thân mới biến thành viên ngọc quý, thông thường trong 24 phương vị, hướng Thân là yếu nhất, khó tiến thân.

19- Hướng Canh (tây 247,6o – 262,5o – THỔ). Trong nhà ai cũng sáng suốt minh mẫn, có vận khí tốt, thường đem đến những kết quả tài lộc tốt đẹp.

20- Hướng Dậu (tây 262,6o – 277,5o – HỎA). Chủ yếu là nhà tập thể, cơ quan công quyền, nơi thờ tự, đền chùa, nhà thờ. Người ở hướng này phải có số tu hành nhiều hơn là tham gia thương mại hay quan trường.

21- Hướng Tân (tây 277,6o – 292,5o – HỎA). Nơi sản sinh những trí thức trong xã hội, tuy nhiên chỉ hữu danh vô thực, vì không có tham vọng giàu sang phú quý.

22- Hướng Tuất (tây bắc 292,6o – 307,5o – THỔ). Tiền bạc nhiều nhờ bất động sản sinh ra hoa lợi, thuyết xưa là hướng mộ kho, nên tích lũy được nhiều của cải.

23- Hướng Kiền (tây bắc 307,6o – 322,5o – KIM). Được hưởng sự sảng khoái, nhưng cũng dễ cô độc. Mọi sự đều chung chung.

24- Hướng Hợi (tây bắc – 322,6o – 337,5o – MỘC). Hướng “thiên tử” chi phối cả 24 hướng, là hướng mạnh nhất, khi trưởng thành ắt sẽ là người nắm sự điều phối. Nó còn bao hàm các ý nghĩa về phúc đức, tài lộc; được trên thương dưới kính.

Trong thuyết dương trạch, các thầy địa lý phong thủy không phải vì ý nghĩa 24 phương vị nói trên để có những dự đoán cát hung cho gia chủ, vì đây chỉ là ý nghĩa cơ bản chưa nói hết thế đất có ẩn tàng những điều bí ẩn nào khác nửa không. Ở những phần đầu chúng tôi viết, sự dự đoán còn nhiều yếu tố cấu thành cho một thế đất hung cát, nên 24 nghĩa của 24 phương vị trên chỉ đúng nghĩa trên lý thuyết.

Nhà cửa và tính cát hung

Khi đã tránh những ngày hung, ngoài việc tìm ngày giờ Hoàng Đạo, trong sách Bát Trạch Nhập Môn có ghi ngày tốt trong năm để khởi công động thổ, xây cất nhà, hoặc nhập gia khi đi mua, mướn nhà để ở :

1 La banNgày tốt trong tháng :

– Tháng giêng : Mùi, Mão, Dậu

– Tháng hai : Dần, Mão

– Tháng ba : Dần, Ngọ, Tỵ

– Tháng tư : Mão, Dần

– Tháng năm : Tỵ, Thìn, Tuất

– Tháng sáu : Tuất, Thân

– Tháng bảy : Thân, Thìn

– Tháng tám : Tý, Sửu, Dần

– Tháng chín : Tuất, Mùi

– Tháng mười : Thìn, Dậu

– Tháng mười một : Hợi, Tuất

– Tháng chạp : Tý, Tỵ

Như trường hợp lỡ xây cất, hay mua mướn nhà không hợp hướng thì nên treo gương phù trấn trạch như đã nói, mỗi sáng thăp nhang quay mặt về hướng hợp mà khấn vái, cầu xin cho gia đạo bình yên, làm ăn phát tài v.v…

– Sửa cửa bị đâm :

Nên bỏ cửa này khi bị đà ngang, ngã ba, cây cối đâm thẳng vào, mà dựng ra cửa đi khác, hay làm một tâm bình phong che chắn, và treo gương trấn trạch. Như thế có ý ngăn chặn ma quỷ xâm nhập vào nhà phá quấy.

Tấm bình phong che chắn có thể dùng tấm sáo, mặt ngoài tấm sáo chủ nhà phải tự tay vẽ một chữ Thọ (chữ Hán) màu đỏ sậm, màu này được pha son và mực tàu mài bằng nước giếng (hay nước ngầm) vào giờ chính Ngọ, còn vẽ vào giờ Tý không có ai trông thấy.

Trước khi vẽ gia chủ phải ăn chay trong ba ngày, niệm kinh “Trì chú” mỗi tối trước khi đi ngũ 3 lần, lúc vẽ phải thắp nhang ngay cửa đang bị nóc nhà, đòn dông của nhà người khác đâm vào, vẽ chưa xong mà tàn nhang cần phải đốt tiếp đến khi vẽ xong.

Nên nhớ khi vẽ dàn trải tấm sáo xuống đất có lót chiếu đặt ngay chỗ cửa bị đâm. Vẽ xong thì treo màn sáo lên, còn chiếc chiếu đem bỏ khỏi nhà hay đốt đi.

– Sửa đà ngang :

Khi mua nhà thấy hợp hướng nên nhiều người thường không để ý đến cây đà ngang (đòn dông), có nhà cây đà này do chủ cũ nôi hai đoạn làm môt, hay bị thợ xây dựng yểm bùa Lỗ Ban bằng những cây đinh 10 phân đóng ngay đầu đà. Nên khi gặp nhiều thất bại hay có thầy báo tin mới để ý đến để tìm hiểu sự thật, mới phát hiện ra.

Những việc trên đại kỵ, vì như thế gia chủ sẽ làm ăn lụn bại, tán gia bại sản, gia đình có nhiều người thuờng hay đau yếu, gặp tai nạn, vợ chồng bất hòa, con cái hư đốn.

Việc đầu tiên phải thay ngay cây đà mới, cũng phải chọn ngày như đông thô, xây cât để thượng dông. Nếu vì một lý do không thê thay cây đà mới :

– Nhớ gỡ đinh, gỡ bùa và khi thực hiện tay trái cầm bó hang quơ vào nơi bị yểm, còn tay phải gỡ chúng ra khỏi đầu đà, miệng lâm râm niệm : “ai ở Đông về Đông, ai ở Tây về Tây. Thiên linh linh, Địa linh linh, nếu không nghe, ta cho chúng bay thành ngọa quỷ không được đầu thai kiếp khác”. Gỡ xong thì lấy đinh đem ra sông bỏ đi, còn nếu là bùa thì đốt đi.

– Nếu đà ngang bị chấp vá, trong nhà nên lập bàn thờ thần Bạch Hổ. Bàn thờ để dưới và ngay tim cây đà ngang để khi thắp nhang thì khói sẽ bay thẳng đến đó.

Có nhiều thợ xây dựng cao tay ấn, họ yểm bùa Lỗ Ban bằng cây đà ngang có máu súc vật (thường là máu vịt xiêm lai, máu rùa, máu mèo v.v..), nên để lâu không thể thấy. Những cây đà này được gọi là dòn dông có mộc. Chỉ có những thầy pháp cao tay hơn mới biết mà giải trừ, sau đó cũng nên thay bằng cây đà mới hoặc dùng gương Bát Quái treo lên cây đà sau khi van vái Thái Thượng Lão Ông độ trì xua tan ám khí.

– Lấp ao vũng, giếng nước :

Hiện nay có nhiều nền nhà năm trên ao vũng, giếng nước, trước ngày lấp lấy ba cục đất sét trắng vo tròn rồi đem phơi nắng đúng 21 ngày. Sau đó cắt tiết ba con gà ác (gà ri thịt đen) lấy huyết xoa lên; còn lông, xương gà đốt thành tro hoà với nước mưa mà vứt xuống nơi định lấp, đoạn mới vứt tiếp ba cục đất sét nói trên.

Ném từng cục đất sét một, mỗi lần ném khấn nguyện xin tống xuất các điều bất hạnh, xui xẻo ở đấy đã xảy ra (vì có thể nơi đây có hồn oan người té giếng hay chết đuối).

– Đốn, chặt cây :

Nhất là các cây cổ thụ, loại cây đa, bồ đề, cây sung, cây thị… Trước lúc đốn chặt cây phải cúng vái ba đêm để xin cho chặt cây, vì những loại cây này thường các phúc thần dùng làm nơi trú ngụ; còn những cây có gai góc, cây ăn quả, thường có các cô hồn uổng tử làm nơi ẩn thân.

Khi đốn chặt cây đặt mân cúng gồm xôi chè, hoa quả, và giấy tiền vàng bạc cùng quần áo giấy, xong rải muối ra bốn phương tám hướng, cũng niệm : “ai ở Đông về Đông, ai ở Tây về Tây. Thiên linh linh, Địa linh linh các vị thánh linh, các ngài uổng tử xin cho gia đình chúng tôi được chặt cây này để xây dựng ngôi gia mới”, nếu có thần linh hay oan hồn trú ngụ họ dẽ di dời đi, sau đó đốn chặt cây.

Có hai cách đốn chặt cây, nếu cây còn xanh tốt phải lấy đá xanh đập đập nơi chỗ sắp đốn chặt. Nếu cây đã chết, khô, thì dùng lửa mà đốt gốc cho cháy ngã xuống.

Mấy cách sửa nhà, đốn cây kể trên thuộc tục lệ xưa, tuy hình thức còn nặng tính mê tín dị đoan, nhưng trong những vùng nông thôn người dân vẫn tin tưởng vào các điều mà người xưa đã truyền thụ lại. Chúng tôi ghi lại như  dùng tham khảo thêm.

Ngoài những việc trên, và trong phần xét đoán thê đât, khi xây dựng và trang trí nội ngoại thất cho nhà còn có những yếu tố sau đây cần được tìm hiểu đến :

CÂY CỐI VÀ NGOẠI CẢNH

Chung quanh nhà có cây cảnh sẽ sinh khí vượng, hộ ấm địa mạch là phú quý, như phía đông trồng đào, trồng dương, phía nam trồng mai trồng táo, phía tây trồng thị, phía bắc trồng hạnh trồng lý là đại cát (không thể trồng ngược lại, như vậy là thất nghi), ở thành phố không như ở nông thôn, mọi người thường trồng cây cảnh trong nhà, nếu nhà có sân vườn thì trồng hoa. Nhưng mỗi người phù hợp một màu sắc riêng, nên cũng lựa theo màu hoa mà trồng thành cảnh trí.

– Trước cửa nhà có cây lớn che mất minh đường, huyền quan không tốt, nhưng lệch về hướng Tây Bắc có đât nhô cao là thê tôt.

– Gần nhà hướng Đông Bắc, Tây Nam không có chỗ lồi lõm, vì như thế gặp hung tai; hướng chính Nam có đất trông tôt có đống rác là xâu.

– Phía trước nhà thấp phía sau nhà cao là tốt, và ngược lại phía trước cao phía sau thấp.

ĐƯỜNG NƯỚC TRONG NHÀ

Nước chung quanh nhà chia làm 6 loại (ở thành phố coi đấy là mạch nước ngầm) :

– Một là triều thủy như sông chín khúc.

– Hai là hoàn thủy chảy vòng tròn như thắt lưng.

– Ba là hoành thủy như hình chữ nhất, dòng nước chảy thẳng.

– Bốn là tà lưu thủy nước chảy xiên.

– Năm là phản phi thủy, nước chảy ngược ra cửa huyền quan.

– Sáu là trực khí thủy, nước chảy về sau lưng nhà.

Nước như triều thủy là mạch nước đẹp, còn như phản phi thủy chủ nhà sẽ mất của, hao tài v.v…

Tên gọi 6 loại mạch thủy là hình dung từ, để chỉ mạch nước lành dữ .

Còn khi xây dựng đào cống thoát nước từ trong ra ngoài nhà, phải đi ngầm dưới hai tấc không được để lộ, và không để nước đọng thành vũng trong nhà.

Phải lựa thế đất đào theo phương vị Tý vòng vèo, thì khí không tản mát, nếu đặt thẳng thì tiền tài chảy ra mãi không gom được. Đường thoát kỵ nhất nằm giữa huyền quan, và hay nhất là cập bên hông nhà. Không nên thoát nước bẩn về hướng Tây Nam.

Còn những nơi không có nước máy (của Cty Cấp nước) nhiều gia đình phải đào giếng lấy nước ngầm. Khi đào, giếng tốt ở hướng sinh vượng, xấu ở hướng quan sát.

Đào phải hợp với hướng Thiên can, không lấy hướng Địa chi thuộc bản mệnh.

– Các hướng Kiền, Khảm, Sửu, Dần, Thìn, Ly, Thân là xấu. Các hướng Hợi, Quý, Ất, Tốn, Đinh, Bính, Khôn thuộc đại cát.Còn hướng Nhâm, Cấn, Tỵ, Tân có hung có cát.

(Còn nữa)

Bí ẩn Phong Thủy (1/4)

PThuy 2TÌM HIỂU BÍ ẨN

TRONG THUẬT

XEM PHONG THỦY

– Thiên Việt (Bài 1)

Theo khoa phong thủy, dương trạch xem về đất để xây dựng nhà cửa, còn âm trạch xem nơi an táng cho người chết trong gia tộc.

Như trình bày ở những bài trước, thầy xem địa lý phong thủy muốn đạt đến mức uyên bác, ắt phải tinh thông về Dịch (biến đổi), cùng thuyết biện chứng của Âm Dương – Ngũ Hành, biết xem Kiền Khôn Bát Quái, nhìn thấy 28 sao của bốn nhóm Chu tước, Bạch hổ, Thanh long và Huyền vũ, biết tính vòng Trường sinh, xem được loại la bàn phong thủy. Những cái phụ của thuật phong thủy là biết bấm tính năm Tứ kim lâu và Lục hoang ốc và những ngày hung tai nên tránh động thổ, xây cất.

Nếu ai tinh thông hết các môn trên không thiếu môn nào, người đó mang danh giáo sư cũng không ngoa. Nhưng điều này, qua môi trường giáo dục mới đã xóa bỏ những môn khoa học huyền bí trong các chương trình đại học, chỉ còn môn triết học Trung Quốc, nhưng cũng không chuyên sâu vào một đề tài nào, vì vậy các thầy địa lý bây giờ còn hoạt động có lẽ cũng chỉ đọc qua sách vỡ hay được gia truyền nhưng bị tam sao thất bản, nay chỉ biết dùng miệng lưỡi để thuyết khách.

Mưu mẹo thầy phong thủy

Trong cuốn Bí ẩn của khoa phong thủy từng xuất bản bên Trung Hoa, nhà nghiên cứu Vương Ngọc Đức có đưa ra một bài viết về mưu mẹo của nghề phong thủy. Chúng tôi xin trích lược sau đây, và người đọc tự đánh giá theo suy luận chính mình :

PThuy 3– Phương Nhữ Hạo người sống cuối đời nhà Minh, viết cuốn lịch sử về đời nhà Đường có tựa “Thiên chân hậu sử”, cố ý viết chuyện nhà Minh đang thịnh hành việc mua bán đất đai qua phong thủy.

“Một nhân vật tên là Cù Thiên Dân, có vợ mới qua đời, bèn tính chuyện chôn cất. Con trai ông là Cù Quyết liền bàn với cha :

“- Khu nghĩa trang tổ tông giờ đã không còn đất để chôn, chi bằng gia đình ta quàn tạm mẹ tại nhà, rồi tìm chỗ đất tốt mới động quan an táng.

“Cù Thiên Dân mới nói :

“- Con còn nhỏ chưa hiểu hết lý lẽ chuyện âm trạch và dương trạch đâu. Phàm khi chôn cất lần đầu thì tùy tiện, không an táng như con nói thì gia đình được yên, nhưng xác thịt lâu ngày thối rửa khiến cả nhà sẽ bị mùi vị này mà sinh bệnh hoạn chết theo; xóm giềng chế nhạo là hủ tục, mê tín, hám danh, hám lợi, mới để quan tài lâu như thế ở trong nhà. Con nên nhớ câu “Người có phúc không rơi vào đất vô sinh. Sinh ở đâu, chết ở nơi nào, chôn cất chỗ nào, là có số cả, không thể muốn mà được”.

“Người con út tên Cù Toàn lại đáp :

“- Cha nói vậy để răn dạy chúng con. Nhưng hiện nay người người, kẻ sống thì xem dương trạch, kẻ chết tìm đất xem âm trạch, mọi người đều mưu cầu chỗ đất vượng địa cất nhà, nơi đắc địa an táng để tìm đại phú đại quý. Vậy gia đình ta chôn mẹ qua quít, lối xóm dị nghị cho rằng chúng ta kém hiểu biết. Cho nên chúng ta phải tìm huyệt tốt để chôn cất mẹ, nhờ thầy địa lý tìm một long mạch, nơi phong tàng khí tụ, có ích cho sự tồn vong cho chúng con, cho cháu chắt của cha. Như thế người sống và người chết đều toại nguyện.

“Ông Cù Thiên Dân đang lưỡng lự trước lời của người con út, bỗng nghe một người làm nơi tang nghi quán đến nhà giúp việc sửa soạn nghi thức ma chay, tên hắn Cát Trung. Vừa nhìn thấy gia chủ hắn nói :

“- Tôi làm ở tang nghi quán lâu rồi, nên việc các gia đình tìm đất an táng cho người chết đều là chuyện thường ngày, người có tiền thì mời thầy địa lý cao tay, còn người nghèo chỉ biết tìm đến nghĩa trang mua một ngôi huyệt mà đưa xác đến chôn cất; kinh nghiệm cho tôi thấy việc mời thầy địa lý đi tìm huyệt có long mạch rất có kết quả, người tìm được các huyệt mạch tốt chỉ trong 100 ngày đến 6 tháng, là công việc làm ăn phát đạt, còn người làm qua loa thì số phận thấy nghèo thêm.

“ Cát Trung lại nói tiếp : – Nhờ làm ở tang nghi quán mà tôi biết có ông thầy tên Cung Kính Nam ở Bảo Châu, ông ta rất giỏi nghề phong thủy. Họ Cung có nói ở Ngũ Thành Sơn có một khu đất “triều dương hướng nhật”, “sa thủy có tình”, là đất phát phúc. Tiếc rằng không ai tin lời tôi nói, không nghe theo, đến nay tôi vẫn còn tiếc, nay gia đình ông có ý muốn tìm ngôi âm trạch tốt, sao không chọn chỗ này ?

PThuy 4“Hôm sau Cát Trung dẫn ông thầy địa lý tên Cung Kính Nam đến nhà Cù Thiên Dân, để họ Cù hỏi han. Cung Kính Nam bèn nói :

“- Người xưa chết đi khi tẩn liệm vào quan tài vùi sâu dưới đất, chẳng qua là sợ phơi bày thi thể, mặt khác mùi hôi thối từ xác chết sẽ khiến mọi người bị dịch bệnh, nên đem chôn cho an toàn. Đến thời trung cổ mới có thuyết phong thủy đi tìm nơi có sinh khí mà an táng, long mạch phải là lai long, huyệt phải có tam đình, xem sơn thì chia thành bát quái, tính kỹ mới nhìn thấy nơi huyệt mộ có sự liên kết giữa khí âm khí dương. Tôi hành nghề xem địa lý phong thủy đã hơn mấy chục năm, đi nhiều nơi nghị luận được nhiều kinh nghiệm, tích lũy khá công phu, nên xác định huyệt mộ nào tốt không sai một ly. Nay tang gia có lời nhờ cậy, chú Cát Trung cũng nói thêm, nên tôi không dám chối từ không giúp gia đình ông.

“Nói rồi Cung Kính Nam dẫn gia đình Cù Thiên Dân lên một ngọn đồi, lấy tay chỉ đủ hướng đông tây nam bắc, miệng thao thao bất tuyệt về lai long, sa thủy, chiếu sơn triều cung, cộng thêm những giai thoại từ danh nhân khi chết được các thầy phong thủy đi tìm long mạch ra sao, để phụ họa về khu đất có hình dáng như thế này.

“Nhưng Cung Kính Nam đâu ngờ Cù Thiên Dân cũng am tường chút ít về thuật phong thủy, biết Kính Nam đang uốn lưỡi thuyết phục thân chủ chứ cách xem của họ Cung chưa chắc toàn vẹn là một thầy phong thủy giỏi. Cù Thiên Dân liền hỏi lại Kính Nam :

“- Xin tiên sinh cho biết, khu đất hình thế ra sao ? Huyệt chính ở chỗ nào ? Tan táng ở đây con cháu hưng phế ra sao ?.

“Cung Kính Nam đáp :

“- Khu này bôn hướng huyệt đều tốt. Đẹp nhất ngôi Hỏa tinh cầm long thủ, tức Thái Ất chân nhân xâm nhập vân tiên ở phương đài, tĩnh, chắc chắn đắc địa.

“Cù Thiên Dân khi nghe tên Cát Trung nói, ông chưa nhận ra đất, đến đây rồi ông đã nắm rõ, nơi này là phần đất tổ của họ Trịnh, con cháu mấy đời qua đang làm ăn sa sút. Cung Kính Nam biết họ Cù đã rõ miếng đất ông ta đang giới thiệu, nên ra giọng thầy giỏi biện luận :

“- Ngày trước họ Trịnh nhờ một thầy phong thủy yếu tay đến xem thế đất, nên đã yểm sai huyệt khiến con cháu nhà họ Trịnh suy vi. Nay ông ưng ý, tôi sẽ lấy chính xác huyệt đạo để mai táng cho thái thái (cách gọi kính trọng bà vợ của họ Cù), tôi cam đoan gia đình ông sẽ phát tài phát phúc trong vòng 100 ngày thôi.

“Cù Thiên Dân nói :

“- Gia đình tôi bạc phúc lâu rồi, không dám mong như lời thầy nói, nhưng khi an táng xong gia đình tôi vẫn như những ngày qua yên ổn là được rồi.

“Khi mọi người ra về, thầy phong thủy Cung Kính Nam và Cát Trung đến nhà họ Trịnh, bàn tính mua lại khu đất với giá rẻ rồi bán lại cho họ Cù với giá cao kiếm lời. Nhưng câu chuyện họ Cung với họ Trịnh lại lọt vào tai của Hoa Như Cương. Họ Hoa lại đang muốn bán khu đất dư thừa của mình cho Cù Thiên Dân lấy nơi an táng vợ, nên quyết tâm phá đám thầy trò Cung Kính Nam, bèn tìm đến nhà Cù Thiên Dân bàn :

“- Ngôi mộ tổ nhà họ Trịnh chôn cất từ lâu đời, nay nghe tang gia định sang lại an táng cho thái thái, thì phải “khởi quan phát mộ” (tức đào mộ cũ đem chỗ khác cải táng) mới có thể an táng được, ở đời đạo lý xã hội ai mà làm thế coi sao được! Vã lại hai họ Cung – Cát kia là những người làm trong tang nghi quán, có tiếng không tốt, bọn chúng đang dụ họ Trịnh đào mồ mà bán đất cho tang gia, một vốn bốn lời để chia chác nhau. Ở đời, họ Trịnh nay khó khăn, cam tâm đào mồ bán đi huyệt đường, sau này thần trí minh mẫn sẽ khởi kiện đòi lại, ắt mộ phần của thái thái lại một phen xáo trộn. Nhưng khu đất này có tốt, có phát phúc, phát quý, cho cam, là khu đất khiến họ Trịnh tán gia bại sản. Tang gia cứ ngẫm nghĩ lời tôi nói đúng hay sai.

“Hoa Như Cương một mặt tìm Cù Thiên Dân, mặt khác cho tên Ma Đầu Tây đến gạ bán đất cho Cù Thiên Dân. Họ Ma liền dẫn họ Cù đến thung lũng Trương Khê, chỉ một mô đất phẳng phiu nói với Cù Thiên Dân rằng :

“- Long mạch dài dẫn đến khố tàng (kho bạc), chỉ trong 6 tháng sẽ phát thành đại phú. Này ông nhìn xem thế đất có đẹp không, tả hữu có long có hổ, trước sau có sa thủy che chắn, bất cứ thầy địa lý nào nhìn thấy cũng ham muốn, không cất nhà thì cũng dành làm huyệt mộ.

“Các thầy phong thủy như Cung Kính Nam, Cát Trung, Hoa Như Cương vì lợi lộc hơn là nghề nghiệp, đã tạo ra một vụ án giết người, nạn nhân chẳng ai khác chính là kẻ phá bỉnh Hoa Như Cương, còn kẻ giết người như Cung Kính Nam, Cát Trung bị trừng trị.

“Nói về Cù Thiên Dân, ông hết sức ngao ngán khi hay tin vụ án xảy ra, không còn tha thiết về âm trạch, dương trạch nữa. Nhưng một học trò của ông là Cảnh Hiếu lại xuất hiện, giới thiệu cho sư phụ một khu đất trống ở cổng Tây của gia đình anh ta, Cảnh Hiếu nói :

“- Thưa thầy, gia đình ta đang cảnh tang gia, việc đất đai chôn cất cần tiến hành sớm, để xác lâu trong nhà không được tốt dễ sinh bệnh truyền nhiễm. Con thấy nơi đây cảnh trí thoáng mát, người thường cũng muốn đến để hưởng sự trong lành của trời đất, chi bằng sư phụ đưa sư mẫu ra an táng tại đây. Còn tiền bạc con không đòi hỏi lớn nhỏ.

“Đúng như lời Cảnh Hiếu, khu đất thật khoáng đảng, cây cỏ xanh tươi, các mô đất bằng phẳng, nhìn trước là minh đường như chín thân rồng uốn khúc, phía sau được che chắn kín đáo, Cù Thiên Dân nhận xét, khu đất đầy vượng khí. Nên ông rất ưng ý, liền bỏ tiền ra mua ngay. Còn điểm huyệt, Cù Thiên Dân mời một thầy phong thủy khác đến để đo.

“Thầy địa lý tính toán điểm huyệt xong, lệnh cho đào kim tĩnh sâu hơn 3 thước, phát hiện ở đây có một phiến đá, bèn lật lên xem thì thấy phía dưới có mạch thủy long, có con cá chép vàng đang lội, chung quanh còn có những tôm tép đang đùa với nước.

“Mọi người thấy là chuyện lạ. Thầy phong thủy mới lên tiếng :

“- Cù gia vì mộ huyệt cho thái thái mà bao ngày mệt mỏi, nên tôi xem rất kỹ nơi này, nhận ra khu đất là chỗ hội tụ của lai long, ít ai có phần tìm thấy. Nên cổ ngữ có câu “phúc đức tại nhân”, Cù gia sống thật thà nên được hưởng lộc. Thái thái nhập thổ tại đây, con cháu sẽ hưởng phước lớn.

“Cù Thiên Dân khi an táng cho vợ xong, ông cũng chọn nơi đây làm nơi ở của riêng mình, con cái ngăn cản nhưng ông nhất quyết theo ý định, ông nói :

“- Nơi đây không khí trong lành, người như cha rất cần khí vượng như vậy để được sống khoẻ mạnh với các con đến trăm tuổi.

“Còn người học trò của ông là Cảnh Hiếu, được thầy mua lại miếng đất hơn trăm lượng bạc, liền trích ra làm công đức”.

Qua câu chuyện trên, tác giả (Vương Ngọc Đức) có ý muốn nói, thời Minh trị, thuật phong thủy quá thịnh hành, nên người người đều biết đôi chút, những thầy phong thủy như Cung Kính Nam, Hoa Như Cương có rất nhiều trong xã hội bấy giờ, chủ yếu làm tiền những người quá mê tín, có đôi lúc “phước chủ may thầy” làm nên sự nghiệp mà thôi.

Như Cù Thiên Dân cũng có đôi chút kiến thức về phong thủy, nhưng chẳng dám “múa riều qua mắt thợ” vẫn cậy những người tiếng tăm đến môi giới, tìm họ Cung, họ Hoa kia. Rồi chỉ một vận may nhỏ như Cảnh Hiếu đến nhà như cho không miếng đất, mà có ngôi mộ cho vợ thuộc thế đất phước lộc song toàn, ai cũng mơ đến.

Trên đây là mẩu chuyện về việc xem phong thủy tìm đất âm trạch mà an táng, chuyện tìm dương trạch cũng chẳng khác lạ gì.

Khi tìm hiểu về âm trạch, dương trạch, chúng ta cần đôi chút khái niệm như sau.

– DƯƠNG TRẠCH

Trong các sách viết về phong thủy, bất luận tác giả nào khi nói về dương trạch đầu tiên phải bàn đến khí, chủ yếu có thuyết nạp khí và thuyết sắc khí.

– Thuyết nạp khí bao gồm : địa khí và môn khí. Cả hai khí được sinh hợp, căn nhà mới có sinh khí. Còn một thịnh một suy là không hợp lý.

Địa khí tức đất nơi xây dựng có phù hợp với phần nạp âm của người chủ nhà hay không (phương hướng Đông trạch, Tây trạch, âm dương – ngũ hành), sau đó xem tứ kim lâu và lục hoang ốc (xem phần bát quái, cung phi, đã đề cập).

– Thuyết sắc khí : tức là xem lành dữ. Họa phúc đều nằm ở phần sắc. Khi sắc sáng sủa, rạng rỡ thì nhà đó chắc chắn ăn nên làm ra. Nhà tuy mới (mới mua, mới cất) nhưng khi nhìn vào thấy ảm đạm, tăm tối, ngục tù chắc chắn sẽ lụn bại. Cho nên căn nhà khi xây dựng, người chủ phải biết thiết kế khi nhìn thấy nhà, mọi người phải ca ngợi là ngôi nhà đẹp, đẹp ở đây không phải xây cất lập dị để mọi người nhìn dè xiểm, phải để mọi người nhìn và lấy đó làm khuôn mẫu mới gọi là tốt, trong nhà phải thoáng mát, gió thổi vào được bốn phương tám hướng, nhưng khách đến vẫn nhận ra không khí ấm cúng. Đó là sắc.

Trong quan niệm nạp khí và sắc khí. Về nạp khí mọi người có thể tự tìm được, nhưng sắc khí lại khác, dù trong thiết kế xây dựng đã có tính toán về môi trường, nhưng ngôi nhà vẫn chứng tỏ sự lạnh lẽo và cô quả.

Nhiều người đã tự hỏi, tại sao lại có hiện tượng như thế ?! Kiến trúc sư đã vẽ đầy đủ các cấu trúc căn nhà, ngang dọc và độ cao cần thiết, có vẽ phối cảnh và mặt cắt, chỉ hướng đông tây nam bắc rõ ràng ?!.

Trong thuyết trạch cát, các nhà phong thủy đều có đầu mối về sắc khí, đó là khí, mà tìm khí phải lựa chọn về phong thủy là tìm mạch huyệt, thí dụ nếu người tuổi Nhâm Dần tìm nạp khí phải tìm về hướng Cấn (theo chiều ngược lại, tức hướng Cấn đối diện với mặt tiền nhà) tính toán về tuổi tác trong Lục hoang ốc, Tứ kim lâu; còn sắc khí là thế đất nơi đó, nằm trong thế nào (ngũ thế) và hình thế ra sao (cửu long), khi tìm ra sắc khí, phải lấy tim nhà làm chuẩn mà tính chiều rộng (mặt tiền), chiều dài (thân nhà), và chiều cao (nhận khí), tính toán này phải qua phép tính của thước thầy Lỗ Ban.

Các loại phù trấn trạch

Cho nên nếu ở trong thành phố chật hẹp, chúng ta không thể tính được phần sắc khí, mà phải nói “hên nhờ rủi chịu”, có thầy địa lý bàn, nếu nhà thiếu sắc thì dán những lá phù (bùa) trấn trạch (?!). Mỗi loại phù trấn trạch này đều có công dụng riêng.

Sau đây chúng tôi xin tóm lược một số phù trấn trạch trong dân gian thường sử dụng để tránh tai họa :

– Trong thuật xem tướng đất, đặc biệt về dương trạch, nếu thấy dự báo có họa dữ hoặc xảy ra sự việc gì bất hạnh, thầy phong thủy thường dùng một số cách cứu vãn, hóa hung thành kiết, gặp dữ hóa lành.

Theo Dũ Tín trong cuốn Dũ tử sơn tập – Tiểu nguyên phú, có câu “Dùng mai thạch trấn trạch thần, dùng gương soi trấn sơn tinh” (là 2 loại dùng trừ khử các ác thần)

Thông thường là dùng phù (bùa – viết trên giấy thô màu vàng), có nguồn gốc từ đạo sĩ Hoàng Thạch Công, ông đã dùng ván đào viết bằng mực son, các loại phù của ông dùng để đeo trong người hay treo dán trước cửa nhà, hoặc để trong nhà, chôn xuống đất trừ họa tai.

– Loại phù trấn “Ngũ nhạc trấn trạch”, chia làm trung tâm, và bôn hướng đông tây nam bắc (5 loại trấn trạch), khi gia chủ bất an hoặc thấy bất lợi về mặt nào đó vật chất hay tinh thần, dùng một trong năm loại phù này mà dán ở trung tâm cửa .

PT hinh 1 bua

– Phù trấn “Thập nhị niên thổ phủ thần sát”, gồm 12 lá, đi từ Tý đến Hợi. Khi xây dựng nhà ở mà phạm phải thổ thần, hung thần, dùng ván gỗ cây đào để vẽ phù, đặt ngay chỗ phạm.

– Phù trấn “Tứ phương thổ cấm tính thoái phương thần”, gồm 4 loại :

1- Hợi  – Tý – Sửu

2- Tị – Ngọ – Mùi

3- Thân – Dậu – Tuất

4- Dần – Mão – Thìn

Khi phạm tam sát hung thần, dùng ván đào viết chữ son đặt vào nơi phạm.

– Phù trấn “Tam giáo cứu trạch” gồm 8 loại, khi nhà gặp tai họa liên miên.

– Ngoài ra còn có các loại phù trấn khác như “Trấn  hành niên kiến trạch thần” (tức yểm năm xây dựng xấu), trấn tám vị trí quái hào phản nghịch, trấn thân phòng tương khắc (vợ chồng thường hay xích mích), thôn phù Thượng lương v.v…

Các loại thần phù này, ngày trước được vẻ trên ván đào mực chu sa, có kích thước nhất định, như rộng một thước hai (thước Tàu) hợp cho loại “Trấn trạch thập nhị thổ phù thần sát”, cao một thước hai phạm ác thần nào khớp với 12 giờ can chi, cộng hợp 24 khí.

Trên ván gỗ thầy phong thủy vẻ phù lên, có khi thêm chữ Thiện hoặc Phúc, tùy theo ngôi nhà bị phạm phải ác thần nào.

Khi vẽ xong thần phù, phải chọn giờ mà treo. Đa số thầy cho rằng ngày 8 tháng 4 âm lịch, giờ Thìn, là tốt cho các loại thần phù, treo ngay cửa ra vào.

PT hinh 2 bua

Còn phù “Trung lương” (trước đây gọi là thôn phù) treo vào giờ Dần, ngày Dần, trong tháng; treo ngay giữa cây đòn giông (cây đà ngang, ngay giữa nóc nhà), loại này các thầy phong thủy ít sử dụng chỉ bên các tu sĩ, các thầy cúng, các thợ xây dựng sử dụng (vì cho rằng phù Trung Lương thuộc loại bùa tổng hợp, trừ được các ách tật, nạn tai trong nhà, từ quẻ tiên thiên hoặc hậu thiên bát quái mà hình thành), viết mực son trên giấy lụa hay vải màu vàng, ngày nay người ta xây dựng nhà bằng bê tông, nên phù Thượng lương bát quái được vẽ trên gương treo ở giữa cửa.

Nói về gương phù, ngoài phù Thượng lương, còn có gương Bạch hổ dùng để trấn yểm khi nhà ở ngã ba, nhà đối diện có cây đà dọc chỉa vào tâm nhà mình, hay nhà ở trước miểu, chùa, những chỗ thờ tự v.v…

PT hinh 4 vangHiện nay nhiều căn nhà có xu thế thay vì dán phù chú trước cửa nhà, người ta dựng hai con chó đá, hay long, lân, quy, kình ngư trên nóc nhà nhìn về trước. Công dụng như những lá phù chú nói trên, lại có thẩm mỹ.

Các thầy phong thủy, thầy pháp, nhờ đó có thân chủ quanh năm.

Như đã nói nhờ vận may “phước chủ may thầy” nhờ vậy nhiều thầy nổi tiếng, vì nếu giỏi việc tìm long mạch, huyệt mạch, mấy ai phải nhờ đến các loại bùa trấn trạch như nói trên !

(Còn tiếp)