CHẾT ĐI SỐNG LẠI

CUỘC TRẢI NGHIỆM

KỲ LẠ CỦA

MỘT BÁC SĨ

SAU KHI CHẾT

Trải nghiệm ở bên ngoài thân xác (OBE) và trải nghiệm cận tử (NDE) đã được biết đến từ lâu và vẫn bị tranh cãi, đơn giản bởi giới khoa học chủ lưu không tin là có linh hồn. Tuy nhiên, thật thú vị khi nghe một bác sỹ hàng đầu thế giới nói về trải nghiệm OBE và NDE của chính mình.

Giáo sư Bác sỹ George G. Ritchie (25/9/1923 – 29/10/2007) từng là chủ tịch của Học viện Trị liệu đa khoa Richmond, từng là trưởng khoa Tâm thần học của Bệnh viện Towers, người sáng lập và và chủ tịch Liên Đoàn Thanh niên Thế giới (Universal Youth Corps, inc) trong gần 20 năm. Năm 1967, ông làm bác sỹ tư ở Richmond, và vào năm 1983 ông chuyển đến Anniston, Alabama làm trưởng khoa Tâm thần học tại Trung tâm y tế khu vực Đông Bắc Alabama, Hoa Kỳ. Ông trở về Richmond vào năm 1986 để tiếp tục làm bác sỹ tư cho đến khi nghỉ ngơi vào năm 1992.

Vào tháng 12/1943, George Ritchie đã chết trong một bệnh viện quân đội ở tuổi 20 vì bệnh viêm phổi và đã được đưa vào nhà xác. Nhưng kỳ diệu thay, 9 phút sau ông sống trở lại, và kể về những điều đáng kinh ngạc mà ông đã chứng kiến khi trong trạng thái ở bên ngoài thân xác. Ritchie đã viết về Trải nghiệm cận tử (NDE) của ông trong cuốn sách “Trở lại từ ngày mai”, đồng tác giả với Elizabeth Sherrill, xuất bản lần đầu năm 1978. Cuốn sách đã được dịch sang 9 thứ tiếng khác nhau.

Bác sĩ George Ritchie đã kể lại rất chi tiết những gì mà mình đã trải qua trong suốt khoảng thời gian ông chết.

Đó là đầu tháng 12/1943, khi Ritchie được chuyển tới một bệnh viện tại trại Barkeley , Texas , Hoa Kỳ để điều trị bệnh viêm phổi. Ông không biết là mình bệnh nặng tới mức nào. Ông luôn chỉ nghĩ tới việc bình phục cho mau mà lên xe lửa tới Richmond, Virginia để nhập học trường y trong chương trình đào tạo bác sỹ quân y của quân đội. Theo hẹn, vào lúc 4 giờ sáng ngày 20/12, xe quân đội sẽ đến đưa ông ra nhà ga để tới trường.

Trái với mong muốn của ông, bệnh tình của ông không thuyên giảm. Vào đêm 19/12/1943, bệnh của Ritchie trở nặng. Ông bắt đầu sốt và ho liên tục. Ông lấy gối bịt miệng lại để đỡ làm ồn. 3 giờ sáng ngày 20, Ritchie cố gắng đứng dậy và thay quần áo đợi xe đến. Nhưng ông đã không thể làm được, và bất tỉnh sau đó.

“Khi tôi mở mắt ra, tôi thấy mình đang nằm trong một căn phòng mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Một ngọn lửa nhỏ cháy trong một ngọn đèn ở bên cạnh. Tôi nằm đó một lúc, cố gắng nhớ lại là mình đang ở đâu. Thình lình tôi ngồi bật dậy. Xe lửa ! Mình trễ chuyến tàu mất !

Giờ đây tôi biết rằng những gì mình sắp mô tả sẽ nghe rất lạ thường… tất cả những gì tôi có thể làm là kể lại những sự kiện đêm đó đúng như chúng đã xảy ra. Tôi nhảy ra khỏi giường và tìm bộ đồng phục của tôi khắp phòng. Không có trên thành giường : tôi dừng lại, nhìn chằm chằm. Một người nào đó đang nằm trên cái giường mà tôi vừa mới rời khỏi.

Tôi bước lại gần gường trong ánh sáng lờ mờ, rồi lùi lại. Anh ta đã chết. Hàm răng khép hờ, làn da màu xám thật kinh khủng. Rồi tôi nhìn thấy chiếc nhẫn. Trên bàn tay trái của anh ta là chiếc nhẫn của hội sinh viên Phi Gamma Delta mà tôi đã đeo trong suốt hai năm qua.

Tôi chạy vào đại sảnh, mong muốn thoát khỏi căn phòng bí ẩn đó. Richmond , đó là điều quan trọng nhất – tới Richmond . Tôi bắt đầu xuống đại sảnh để ra cửa bên ngoài.

“Coi chừng !” Tôi hét lên với một người phục vụ trong bệnh viện mà đang rẽ quay sang chỗ tôi. Anh ta dường như không nghe thấy, và một giây sau anh ta đã đi ngang qua chỗ tôi đứng như thể tôi không có ở đó.

Thật lạ lùng. Tôi tới chỗ cánh cửa, đi xuyên qua và phát hiện ra là mình đang tiến về Richmond rất nhanh trong bóng tối bên ngoài. Đang chạy ư ? Đang bay ư ? Tôi chỉ biết rằng mặt đất tối tăm đang trượt qua trong khi những ý nghĩ khác chiếm lấy tâm trí tôi, những suy nghĩ đáng sợ và khó hiểu. Người phục vụ đã không nhìn thấy mình. Nếu mọi người tại trường y cũng không thể nhìn thấy mình thì sao ?

Tôi thấy một con sông rộng, rồi thấy cây cầu dài bắc qua sông để vào một thành phố. Tôi thấy một tiệm giải khát, quán bia và một quán cà phê. Tại đây tôi đã gặp một vài người và hỏi họ tên đường và tên thành phố nhưng chẳng có ai thấy và đáp lời tôi cả. Tôi nhiều lần đập tay lên vai một người khi hỏi nhưng tay tôi như chạm vào khoảng không. Đó là một người có gương mặt tròn và cằm có sợi râu dài. Sau đó tôi đi đến bên một người thợ điện đang loay hoay quấn dây điện thoại vào một bánh xe lớn.

Vô cùng bối rối, tôi dừng lại bên một buồng điện thoại và đặt tay tôi lên sợi dây điện thoại. Ít ra thì sợi dây nằm đó, nhưng bàn tay tôi không thể chạm vào nó. Tôi nhận thấy một điều rõ ràng: tôi đã mất đi xác thân của mình, cái bàn tay mà có thể cầm được sợi dây kia, cái thân thể mà người ta nhìn thấy.

Tôi cũng bắt đầu hiểu ra rằng cái xác trên chiếc giường đó chính là của tôi, không thể hiểu sao lại tách ra khỏi tôi, và việc mà tôi phải làm là phải trở về nhập lại vào nó càng nhanh càng tốt.

Việc tìm đường quay lại khu căn cứ và bệnh viện không có gì khó khăn. Thực sự tôi hầu như trở lại đó ngay tức khắc khi tôi nghĩ đến nó. Nhưng căn phòng nhỏ mà tôi đã rời đi thì ở đâu ? Thế là tôi bắt đầu một trong những cuộc tìm kiếm kỳ lạ nhất đời: cuộc tìm kiếm chính mình. Khi tôi chạy từ khu này sang khu khác, đi qua hết phòng này sang phòng khác lúc các bệnh binh đang ngủ – những người lính đều trạc tuổi tôi, tôi nhận ra rằng chúng ta lạ lẫm với chính khuôn mặt của mình như thế nào. Mấy lần tôi dừng lại bên một người mà tôi cứ ngỡ là mình. Nhưng chiếc nhẫn Hội sinh viên không có, và tôi lại vội tìm.

Cuối cùng tôi đi vào một gian phòng nhỏ với ánh sáng lờ mờ. Một tấm khăn trải đã được kéo phủ lên xác người trên giường, nhưng đôi cánh tay của người đó nằm dọc ở bên ngoài. Chiếc nhẫn tôi tìm nằm trên bàn tay trái của thân xác ấy.

Tôi đã cố kéo tấm vải ra nhưng không thể nắm được nó. Và lúc đó là lần đầu tiên tôi nghĩ điều mà đã xảy ra với mình, chính là cái mà nhân loại vẫn gọi là “cái chết”.

Trong thời khắc tuyệt vọng nhất ấy, căn phòng bỗng sáng rực rỡ, một thứ ánh sáng lạ lùng tôi chưa từng thấy bao giờ, và tôi như bị lôi cuốn theo nguồn ánh sáng ấy. Tôi đã trông thấy những quang cảnh mà từ khi sinh ra cho đến bây giờ tôi chưa bao giờ được thấy, những cảnh trí mà tôi nghĩ rằng chỉ có ở thế giới bên kia, và tôi không nhìn được rõ các sinh linh ở đó. Có vùng tối tăm u ám, có vùng lại chan hòa ánh sáng vô cùng tươi đẹp với các sinh linh trông như những thiên thần.

Sau đó đột ngột vầng sáng giảm dần, tôi muốn quay về. Trong phút chốc tôi lại thấy những căn phòng, những thân xác bất động trên giường. Tôi tiến tới chiếc giường của thân xác mình. Tôi như bị cuốn hút vào cái thân xác đó. Rồi, từ từ cử động các ngón tay, cuối cùng tôi mở mắt ra. Một lúc sau, một bác sĩ và cô y tá đã ở trước mắt tôi, nét mặt rạng rỡ. Vậy là tôi đã sống lại, đã thật sự hồi sinh…”

Thời đó, thuốc penicilline chưa được phát minh nên việc chữa trị bệnh sưng phổi vô cùng khó khăn, 90 phần trăm người bệnh khó thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Vào buổi sáng ngày 20/12/1943 các bác sĩ ở bệnh viện đã xác nhận rằng George Ritchie đã chết nên người ta chuyển xác ông đến nhà quàn. Tại đây một số thủ tục giấy tờ, giấy khai tử và thủ tục chuẩn bị đưa người chết vào quan tài đã được tiến hành, và người ta chuẩn bị thông báo đi các nơi rằng George Ritchie đã chết. Không ai có thể tưởng tượng được, Ritchie sống lại và mang theo câu chuyện diệu kỳ mà ông trải nghiệm trong giây phút trái tim đã ngừng đập, khi mà mọi dấu hiệu của sự sống không còn.

Những điều George Ritchie kể lại sau khi sống dậy đã làm các bác sĩ trong bệnh viện kinh ngạc. Điều kỳ lạ đáng lưu ý là những gì Ritchie đã kể và ghi chép lại trong tập nhật ký trong 9 phút chết đó về sau đều được chứng minh là có thực.

Một năm sau, Ritchie trở về trại Barkeley và được gởi sang Âu Châu để phục vụ tại một bệnh viện quân y. Trên đường xe đã chở Ritchie đi ngang qua thành phố mà một năm trước trong khi bị coi là đã chết, Ritchie đã tới. Tiệm bán bia, tiệm cà phê, cây cầu dài bắc qua sông, những con đường, những bảng hiệu, cả cái buồng điện thoại năm xưa… tất cả đều có thật trong thực tế. Đó là thành phố Vicksburg thuộc tiểu bang Mississipi, nơi mà chưa bao giờ George Ritchie đặt chân đến.

George Ritchie sau này trở thành Viện trưởng Viện tâm thần học ở Charlotsville, bang Virginia Hoa Kỳ, và suốt đời ông không thể nào quên rằng mình đã có lần chết đi sống lại, cũng như không thể nào quên các cảnh giới lạ lùng ở bên kia cửa tử.

Giáo sư Bác sỹ George G. Ritchie mất vào ngày 29/10/2007 tại nhà riêng ở Irvington , Virginia , Hoa Kỳ, hưởng thọ 84 tuổi.

“Cái chết chẳng qua là một ô cửa, là một cái gì đó mà bạn bước qua” – George Ritchie nói.

Thuy Nguyen

CHIẾC HỘP DIÊM KỲ LẠ

Chiều ngày 19/6/2011, tôi đón thầy Vũ Quốc Thúc đến nhà luật sư Lê Trọng Quát ở Saint-Christophe (Cergy). Tuy đã là mùa hè, khí hậu mát dịu như chớm thu. Trời không nắng cũng không mưa, chỉ có gió mát.

Thầy Thúc sinh cùng năm với chân phước Gioan-Phaolô II, năm nay 91 tuổi. Giọng thầy sang sảng không khác gì những ngày giảng dạy tại Đại học Luật khoa Saigon và Chánh trị Kinh doanh Đà Lạt. Nụ cười vẫn hiền hòa, phúc hậu. Trên vầng trán cao không một nếp nhăn tuổi tác. Nhưng tâm hồn thầy nặng chĩu mối u hoài vận nước.

Bên tách trà thơm, có luật sư Lê Trọng Quát và phu nhân là giáo sư Trần Thị Minh Châu từng giảng dạy tại trường trung học Đồng Khánh Huế vào cuối thập niên 50 chứng kiến, thầy Thúc chậm rãi thuật lại câu chuyện về chiêc hộp diêm kỳ lạ.

Thầy đưa cho mọi người xem họa đồ phòng thầy : chỗ này là bàn giấy; chỗ kia là tủ sách; chiếc giường kê sát vách, bên cạnh cửa kính hình bầu dục trông xuống vườn. ‘‘Anh Thông biết rõ cách căn phòng này’’, thầy nói thêm. Thầy bắt đầu kể chuyện :

– ‘‘Tôi còn nhớ hôm đó là ngày 26/4/2011, vào khoảng 2 giờ sáng. Tôi đang ngủ say chợt thấy ngọn bạch lạp cháy bập bùng. Tôi tưởng như mình đã chết, cháu con thắp ngọn nến từ biệt. Tôi có cảm giác rờn rợn, bừng tình dậy thấy trên bàn giấy có lửa cháy bùng. Tôi lấy tay chụp tắt lửa rồi ngủ tiếp. Lạ lùng thay vì buổi sáng thức dậy, tôi thấy các que diêm trong hộp cháy đen nửa đầu không có diêm sinh. Trên mặt bàn còn vết cháy đen. Cả căn nhà chỉ có tôi và nhà tôi. Nhà tôi ngủ phòng riêng, không thể tự đi lại giữa đêm khuya. Vậy thì ai đốt cháy hộp diêm ?’’

Giáo sư Thúc đưa cho mọi người xem hộp diêm kỳ lạ. Trời đêm Paris cuối tháng tư còn nhiều sương lạnh. Cửa kính bầu dục đóng kín mít. Nếu có hỏa hoạn, thầy cô không bị chết cháy thì cũng chết ngạt (asphyxie résultant d’un incendie).

Thầy không phải là tín đồ công giáo nhưng đã được Đức Mẹ Fatima ba lần cứu giúp : một lần ở Fatima Bình Triệu, bức linh tượng tỏa hào quang khi thầy thành tâm nguyện xin và đã được nhậm lời. Một lần ở Fatima (Bồ Đào Nha), khi thầy xin có cháu nỗi dõi tông đường. Và lần này là cải tử hoàn sinh.

Sau phép lạ hộp diêm, phu nhân thầy bị bệnh hiểm nghèo được bình phục, chị tiến sĩ Vũ Mộng Lan là con gái thầy cũng được cứu chữa. Như vậy là ba phép lạ mắt thấy tai nghe, xẩy ra cùng một nơi một lúc.

Năm 1845, nhà văn Đan Mạch Andersen kể câu chuyện cô bé bán diêm giữa đêm mưa tuyết vào cuối năm, đốt lên từng que diêm để sưởi ấm mong manh. Sáng hôm sau, cô bé bán diêm nằm chết giữa màn trời, chiếu tuyết trắng, trên môi hồng còn vương vấn nụ cười. Câu chuyện hộp diêm kỳ lạ của giáo sư Vũ Quốc Thúc khác hẳn tích xưa : hai câu chuyện một già một trẻ. Nhưng que diêm cháy năm xưa sau cùng tang trắng. Còn que diêm cháy tháng tư được dập tắt là để cứu mạng.

Trong cuộc sống vẫn còn những điều huyền diệu. Như câu chuyện hộp diêm kỳ lạ của giáo sư Vũ Quốc Thúc.

Lê Đình Thông (Paris, tối ngày 19 tháng 6 năm 2011)

ĐỌC THÊM :

ĐỨC MẸ FATIMA

& 3 ĐỨA TRẺ

Mỗi nơi Mẹ Maria hiện ra đều mang một dấu ấn và để lại ấn tượng kỳ diệu nơi mỗi người suốt thể kỷ này tới thế kỷ kia. Ngôn ngữ loài người không gì có thể diễn tả hết về người Mẹ. Danh xưng Mẹ vẫn là từ ngữ hợp với tâm tình của con người nhất.

Nói đến Mẹ, tự nhiên con người ai cũng cảm thấy như có một cái gì đó dâng đầy con tim, tràn ngập tâm hồn con người. Mới đây 13/5, mừng kính Đức Mẹ Fatima, mãi muôn đời nhân loại sẽ không bao giờ quên sứ điệp của Mẹ đã nói với Lucia, Jacinta và Phanxicô trên đồi Cova da Iria ngày 13/10/1917.

Lucia, Jacinta Và Phanxicô

Lucia, Jacinta và Phanxicô là ba bé chăn chiên thuộc gia đình nghèo làng quê Fatima, nước Bồ Đào Nha. Các trẻ em này thuộc giáo phận Leiria. Hàng ngày các em được gia đình, cha mẹ trao phó việc dẫn đoàn súc vật : chiên, cừu đi ăn cỏ ở các vùng đồi núi quanh đó. Các em thường có thói quen sau khi để bầy súc vật ăn cỏ, liền qùi gối trên bãi đất trống đọc kinh, lần chuỗi mân côi chung với nhau.

Vào mùa hè năm 1917 lúc đó thế chiến thứ nhất đang tiếp diễn, ngày 13/5/1917, khi các em đang sốt sắng đọc kinh, lần chuỗi mân côi lúc gần giữa trưa, một luồng chớp chói lòa làm các em bỡ ngỡ, kéo hoàn toàn sự chú ý của các em về những ngọn cây trên đồi Cova da Iria, một Vị sáng láng hiện ra, Thiếu Nữ ấy xin các em cầu nguyện cho những người tội lỗi ăn năn trở lại, chiến tranh sớm kết thúc. Thiếu Nữ dặn các em hãy trở lại nơi này vào ngày 13 mỗi tháng.

Theo lời Thiếu Nữ căn dặn, các em tới đó và được nhìn thấy Thiếu Nữ hai lần sau đó vào ngày 13 tháng 6 và ngày 13 tháng 7. Ngày 13 tháng 8, nhà cầm quyền địa phương ngăn cản các em không cho tới Cova da Iria, nhưng Thiếu Nữ đã hiện ra với các em vào ngày 19. Ngày 13 tháng 9, Thiếu Nữ xin các em lần hạt Mân Côi để cầu cho chiến tranh sớm kết liễu.

Ngày 13 tháng 10, Thiếu Nữ hiện ra và xưng mình là Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Mẹ mời gọi các em cầu nguyện và làm việc đền tạ. Lần này, một hiện tượng rất lạ đã xẩy ra làm rúng động mọi người : Chính quyền, dân chúng và các nhà báo, hiện tượng này gọi là Mặt Trời múa hay thái dương như rơi khỏi bầu trời và lao xuống đất.

Ngày 13/10/1930, sau nhiều năm điều tra, xác minh và cầu nguyện, tìm hiểu, Đức Giám Mục Leira đã công nhận chính thức việc Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ tại đồi Cova da Iria, Fatima, Bồ Đào Nha và cho phép tổ chức các việc đạo đức để cung kính Đức Maria Mân Côi nơi Mẹ đã hiện ra vào năm 1917.

Sứ Điệp Fatima (Bồ Đào Nha)

Chính phủ Bồ Đào Nha lúc đó coi đây là huyền thoại tôn giáo, một sự tuyên truyền dị đoạn, cần phải đánh đổ, nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sự thật sẽ giải phóng con người. Đức Mẹ đã hiện ra đúng như lời Mẹ loan báo trước và sự kiện thái dương như muốn rơi xuống đất, làm khiếp kinh hồn vía mọi người, đã minh chứng quyền năng của Thiên Chúa. Qua biến cố lạ lùng như thế, Mẹ Maria Rất Thánh Mân Côi kêu mời nhân loại hãy ăn năn sám hối.

Sứ điệp của Fatima là hãy cầu nguyện cho các tội nhân, lần chuỗi Mân Côi và sám hối. Ngày 13/10/1917, Đức Mẹ dậy : “Mẹ đến kêu nài các tín hữu hãy lần hạt Mân Côi. Mẹ mong ước nơi đây có một nguyện đường tôn kính Mẹ. Nếu người ta cải thiện đời sống thì chiến tranh sớm kết thúc”. Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ để qua các em, Mẹ nhắn nhủ nhân loại siêng năng cầu nguyện, năng lần chuỗi Mân Côi và thống hối ăn năn.

Mẹ đã trao cho ba trẻ nhiều bí mật và căn dặn các em sống thánh để cầu nguyện cho những kẻ có tội và cứu vãn thế giới. Trải qua nhiều năm, Fatima đã thu hút biết bao khách hành hương đến tôn vinh Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Các Đức Giáo Hoàng Piô XII, Phaolô VI và Gioan Phaolô II, đã đích thân tới Fatima để tôn vinh Mẹ, cử hành thánh lễ nơi Đức Mẹ hiện ra và dâng loài người cho Đức Trinh Nữ Maria.

Ba trẻ với sứ mạng Mẹ trao phó

Được chiêm ngưỡng Đức Mẹ hiện ra, Lucia, Jacinta, Phanxicô đã sống theo ý Chúa, tuân lời Đức Mẹ. Chúa có con đường của Ngài và Ngài dọn chỗ cho con người tùy lòng xót thương của Ngài. Phanxicô được nhìn thấy Đức Mẹ, nhưng không được nghe lời Đức Mẹ nói, đã qua đời ngày 04/4/1919, Giacinta qua đời ngày 20/2/1920. Chúa còn để Lucia sống trong tu viện kín ở Tuy cho đến tuổi già…

Quế Phượng post (theo LM. Giuse Nguyễn Hưng Lợi)

NGHỆ THUẬT SỐNG THEO PHONG THỦY

MÀU SẮC CÂY CỐI

THEO NGŨ HÀNH

Thực vật trong phong thủy cũng chia theo âm dương và ngũ hành. Dương tính là những cây cần nhiều ánh sáng. Khi trồng ở nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng, chúng sẽ phát triển yếu ớt, khó ra hoa kết trái và dễ chết, chẳng hạn như hoa hồng, hoa cúc, thược dược, đỗ quyên¸ mai…

Việc phân loại thảo mộc theo ngũ hành chủ yếu căn cứ vào màu sắc :

Những cây thuộc hành Thủy phần lớn có màu xanh lá thẫm như tùng, bách, bồ đào…

Cây thuộc hành Hỏa có sắc đỏ như thạch lựu, mộc miên, hồng thảo, hồng thiết… Đối với sức khỏe, chúng có tác dụng bổ tâm và làm dịu thần kinh.

Những cây thuộc hành Kim chủ yếu có lá, hoa hay thân màu trắng như bạch lan, bạch thủy tiên, cửu ly hương…, có tác dụng điều hòa chức năng tạng phế.

Hành Mộc gồm những loài cây có màu xanh lục, giúp điều hòa tạng can (gan).

Những cây thuộc hành Thổ có sắc vàng, lợi cho tạng tỳ.

Cây thuộc hành Thủy nên trồng ở phía Tây ngôi nhà (Tây thuộc hành Kim, hành Kim sinh hành Thủy), cây hành Hỏa thì trồng ở phía Đông (phía Đông, hành Mộc sinh hành Hỏa)… Cũng xuất phát từ quan hệ sinh khắc của ngũ hành, đối với vị trí trồng của một số loài cây, các nhà phong thủy còn đưa ra một số lời khuyên cụ thể. Ví dụ : Cây đào nên trồng ở phía Đông ngôi nhà, phía Nam thì nên trồng mai và táo, phía Bắc nên trồng hạnh và lê…

Với cây cảnh bày trong nhà, nên căn cứ vào không gian lớn hay nhỏ mà sắp xếp sao cho ngăn nắp. Nếu phòng hẹp, trần thấp mà bày cây cao, to là không không hợp lý. Ngược lại, phòng rộng lớn mà bày chậu cây cảnh nhỏ bé thì cũng không gây được sự chú ý, mặc dù bản thân nó lại là loại cây đẹp, cây quý.

Thông thường, các màu đỏ, cam, tím và vàng là màu ấm, biểu hiện nhiệt tình ấm áp. Các màu xanh biển, xanh lục và trắng là những gam màu lạnh, biểu thị sự yên tĩnh. Nếu phòng có màu nóng thì cây cảnh nên có màu lạnh và ngược lại.

Cũng nên tùy theo mùa mà sự sắp xếp nên thay đổi, chẳng hạn mùa xuân thì màu sắc tươi tắn, màu hạ thì màu thanh, đạm, mùa thu thì dùng màu hồng, mùa đông thì dùng màu xanh.

Cây đem lại may mắn theo Phong Thủy

Tre là một loại cây cảnh được lựa chọn nhiều nhất khi dùng để trang trí trước cửa nhà. Theo thuyết phong thủy đây là loại cây đem lại nhiều may mắn nhất cho gia chủ, giúp chủ nhân làm ăn phát đạt. Tre cũng là biểu tượng của loại cây phú quý, mang lại sự no đủ. Bên cạnh đó cũng có thể trồng tre xung quanh hàng rào, trước hiên nhà hoặc trong vườn.

Hiện có nhiều giống tre cảnh khác nhau, tùy thuộc diện tích và không gian nhà rộng hay hẹp bạn có thể lựa chọn loại tre phù hợp.

Cây cảnh và hoa

Theo nguyên tắc phong thủy, trồng hoa trước hiên nhà sẽ đem lại sự thịnh vượng và sức khỏe cho gia chủ. Đặc biệt, hoa trồng ở hướng đông nam góc vườn còn đem lại may mắn.

Theo thuyết phong thủy, hai loại cây chanh và cam trồng trước nhà sẽ đem lại nhiều cơ hội làm ăn và lợi nhuận. Cũng có thể lựa chọn cây táo để cải thiện những mối quan hệ, giúp gia đình luôn giữ được hòa khí; cây lựu thể hiện tình cảm yêu thương và mong muốn những đứa con khôn ngoan, khỏe mạnh. Trồng ở hướng nam, lựu và táo sẽ mang lại may mắn cho gia chủ.

Ngoài ra, nếu mong muốn các thành viên trong gia đình luôn có sức khỏe dồi dào, phòng tránh bệnh tật thì có thể trồng cây ở hướng đông nhà. Khi chọn cây trồng bên cạnh nhà kiểu này hãy chọn loại thân cứng, tán rộng. Trồng cây đào ở hướng tây rất tốt cho trẻ nhỏ, giúp trẻ luôn gặp may mắn và gia đình hạnh phúc.

Cây thông giúp kéo dài tuổi thọ

Thông có sức sống mãnh liệt, không cần chăm bón nhiều nhưng vẫn có thể sinh trưởng và phát triển. Chính vì thế theo thuyết phong thủy, thông giúp gia đình gia chủ kéo dài tuổi thọ, thích hợp với những gia đình có người già, lớn tuổi.

Không trồng cây chính giữa cửa nhà. Điều này vi phạm thuyết phong thủy. Trước hết là việc cản trở đi lại, ra vào ngôi nhà, sau đó là vật cản cản trở vận may và những điều tốt đẹp đến với gia chủ. Thậm chí có thể gây nên những rắc rối về tài chính hoặc trên đường công danh.

Loại bỏ những cây chết hoặc sâu

Cây cối đem lại phong thủy cho ngôi nhà của bạn, vì thế những loại cây được chọn trồng phải là những cây khỏe mạnh, không bị sâu hoặc không có dấu hiệu chết yểu mới phát huy tốt vai trò phong thủy.

Nếu không may cây cảnh bị sâu đục thân hoặc khô héo, hãy nhanh chóng thay thế ngay cây khác. Điều này càng tối kỵ hơn nếu trong gia đình bạn đang có người ốm hoặc có người già.

Trồng liễu bên cạnh ao, bể, hồ nước

Nếu trong nhà bạn có một chiếc ao, hồ hay bể nước nhỏ thì lời khuyên dành cho bạn là nên trồng liễu xung quanh khu vực đó. Điều này rất có lợi cho phong thủy, mang đến sự thịnh vượng và tiền của, vật chất cho gia chủ.

Ý nghĩa các con số trong Phong Thủy

Mỗi con số luôn được gán ghép cho rất nhiều ý nghĩa từ lúc khai sinh cho đến tận ngày hôm nay. Con số gắn bó với rất nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh cuộc sống và nó ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, cuộc sống và số phận của mỗi con người, như: ngày tháng năm sinh, số điện thoại, số xe…

Dưới đây là ý nghĩa của những con số trong bài trí phong thủy. Tất nhiên là không có số 0 rồi, số 0 – tượng trưng cho sự vô hình.

Số 1: Con số của các vị thần thánh, của hoành đồ. Được hiểu như là con trai của cõi trời. Số 1 tượng trưng cho cái đỉnh tối thượng – đỉnh núi cao độc nhất không còn ai khác.
Chúng ta là những con người không ai có thể nắm giữ vị trí này lâu dài, vì nó đơn độc và hiểm nghèo, bởi đơn giản chúng ta không phải là thần thánh. Chỉ thần thánh mới nắm giữ được vị trí này mãi mãi.

Số 2: Tượng trưng cho 1 cặp, 1 đôi, 1 con số hạnh phúc và điều hành thuận lợi cho những sự kiện như Sinh nhật, Cưới hỏi, Hội hè. Số 2 tượng trưng cho sự cân bằng Âm – Dương, kết hợp tạo thành Thái lưu – hay là nguồn gốc của vạn vật.

Số 3: Là con số vững chắc, phong thủy dùng nhiều lĩnh vực số học trong việc bài trí các đồ vật, và con số 3 là số đặc biệt hữu dụng cho việc tăng thêm vẻ vững chắc và sự hài hòa của môi trường.

Số 4: Là sự hình thành của hai đôi. Hai cặp chắc hẳn phải tốt lành, thuận lợi nhưng trong cách phát âm tiếng Trung Quốc nó giống như chữ “tử” (chết). Vì thế sự kết hợp này không được tốt đẹp lắm. Thuật phong thủy tìm cách tránh bất cứ sự bài trí có liên quan đến con số bốn.

Số 5: Tượng trưng cho danh dự uy quyền, quyền lực, có nghĩa là 5 hướng: Đông Tây Nam Bắc và Trung Tâm. Số 5 tượng trưng cho trường thọ và bất diệt.
Số 5 cũng là sự kết hợp với căn nhà bằng vàng, nắm giữ thịnh vượng và hạnh phúc cho mỗi gia đình. Số 5 là con số tuyệt vời dùng trong bài trí phong thủy.

Số 6: Là gấp đôi của số 3 và như thế là điềm lành, thuận lợi. 3+6=9 và cùng nhau tạo thành nhóm 3 con số may mắn. Một sự bài trí dùng bất cứ đồ vật có 3,6,9 món đều tốt cho việc hòa giải những khu vực xấu hoặc những nơi hướng xấu.

Số 7: Là con số có sức mạnh lỳ diệu. Những nguồn gốc truyền thuyết sâu sắc như 7 ngôi sao (Thất Tinh) 7 thanh gươm (Thất Kiếm)… được dùng trong nghi lễ đạo Lão, tượng trưng cho sức mạnh đẩy lùi ma quỷ trong phong thủy. Một sự bài trí 7 món đồ vật được ban cho 1 sức mạnh kỳ bí và 1 cảm giác của sự bất khả xâm phạm.

Số 8: Con số có nhiều sự quan hệ tôn giáo, là 8 điều bất tử trong đạo Lão và bát chánh trong phật giáo. Hình gương bát quái trước cửa nhà có thể ngăn chặn những ảnh hưởng xấu trước khi ma quỷ xâm nhập.

Số 9: Con số của hạnh phúc an lành và thuận lợi. Đó là con số tượng trưng cho sự vĩnh cửu đẹp đẽ. Rất nhiều người thích số 9 vì nó gần như là hình ảnh cho sự viên mãn tròn đầy.

Ý nghĩa của các con số trên không chỉ được ứng dụng trong bài trí phong thủy mà được ứng dụng vào rất nhiều thứ xung quang cuộc sống của chúng ta. Sở hữu được những con số mang ý nghĩa tốt đẹp, dường như con người cảm thấy cuộc sống của mình thi vị hơn rất nhiều. Đã là vật hữu hình tồn tại trên cuộc sống này, có lẽ tất cả đều có sinh mệnh và linh hồn… Thiên – Địa hữu tình là vì thế !

Huỳnh Văn Yên (theo Khánh Hà)  

ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM

Trong tín ngưỡng người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu Tam Tứ Phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa. Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất

Đạo Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội phong kiến Nho giáo.

Các ghi chép về đạo Mẫu

Các văn bản ghi chép về các thần linh ban đầu đều xuất phát từ thần thoại, huyền thoại, truyện kể dân gian và đồng thời cũng có hiện tượng ngược lại là huyền thoại hóa, dân gian hóa các văn bản thần thần tích, thần phả. Hiện tượng đó về các nữ thần, Thánh Mẫu cũng không nằm ngoài quy luật chung đó.

Trong truyện kể dân gian về bà chúa Liễu Hạnh lưu truyền trong dân gian khá phong phú, sau này một số được ghi chép lại trong các sách cổ như Việt Điện U Linh, ngoài ra còn có các truyện kể dân gian khác về các vị nữ thần được các sách sau này tập hợp và ghi chép lại.

Cùng với việc sưu tầm, một số tác giả là các trí thức nho học thời phong kiến đã tiến hành ghi chép lại và sáng tác thêm những huyền thoại, truyền thuyết đã được sưu tầm ghi chép từ trước và thậm chí là sáng tác thêm cho phù hợp tư tưởng lễ giáo thời kỳ đó. Từ thời Hậu Lê, đã có những việc như vậy nhằm phục vụ cho việc phong thần của các vị vua với hai trường hợp điển hình với các ghi chép, sáng tác về Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở miền Bắc của Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm và trường hợp thứ hai là về Thiên Y A Na ở miền Trung của cụ Phan Thanh Giản.

Ngoài các ghi chép, sáng tác như trên, cũng có một nguồn tư liệu khác được dân gian sáng tác từ các huyền thoại, truyền thuyết và thậm chí là các truyện, thơ về các Thánh Mẫu. Đó là các bài hát chầu văn ở Mẫu Tam phủ Tứ phủ với phần cốt lõi của các bài hát chầu văn là lai lịch, sự tích các vị thần, nhất là các Thánh Mẫu. Ngoài ra còn nhiều tình tiết khác về khung cảnh, dung nhan, tướng mạo của các vị thần được những người sáng tác vô danh diễn tả, tô vẻ thêm

Những nghiên cứu từ thế kỷ 20

Các công trình nghiên cứu đầu tiên về nữ thần, mẫu thần ở Việt Nam đều là các công trình của các nhà khoa học người Pháp như Parmenties, Maspero, Durand, Simond,…

Từ thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về Thánh Mẫu Liễu Hạnh do Viện Nghiên Cứu Văn Hóa VN tổ chức tại Văn Miếu (Hà Nội), không khí học thuật liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được công bố.

Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hóa được việc tôn thờ Đạo Mẫu Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Về phương diện lịch đại, Đạo Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam Phủ Tứ Phủ. Tới thế kỷ 17-18, khi mẫu Tam phủ Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần

Về phương diện đồng đại, đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương nam trong quá trình Nam tiến. đạo Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của Đạo Mẫu Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung và Nam bộ

Các dạng thức thờ Mẫu

Thờ Mẫu ở Bắc bộ : Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỳ từ TK 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên Phi, Bà Chúa Kho, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh Nương.

Từ khoảng TK 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam Tứ Phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo.

Thờ Mẫu ở Trung Bộ : Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực  nam Trung Bộ, đặc trưng cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của mẫu Tam Tứ Phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần. Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Mẫu thần như thờ Thiên Y A Na, Po Inư  Nưgar.

Thờ Mẫu ở Nam bộ : So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng.

Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Tứ vị Thánh Nương, Bà Ngũ Hành, Bà Thủy Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô… và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu.

ĐÀN MÃ ĐẦY ĐỦ CHO MỘT LỄ MỞ PHỦ TRÌNH ĐỒNG

Đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ khác biệt với mọi tôn giáo giáo. Khi được xem là người của Đạo Mẫu, phải có CĂN SỐ phù hợp với các vị ThầnThánh hóa thân, như Ngũ Vị Tôn Bà, các Chúa, các Chầu, Ngũ vị Tôn ông, các Ông Hoàng, các cô Bé, cậu bé. Nếu không sẽ trở thành ‘đồng đá” tức ngồi hầu đồng không vị Thánh Thần nào về nhập xác.

Để chuẩn bị được một buổi hầu đồng thì trước đó một tuần, các thợ mã chuyên nghiệp đã phải tập kết nguyên vật liệu để làm một đàn đại mã, có tên Long Tu Phượng Mã. Long Tu Phượng Mã có đủ voi, ngựa: đỏ, vàng và trắng. Mỗi con đều to hơn những chú ngựa vẫn chạy trong rạp xiếc. Một voi xám với tỉ lệ 1/1 so với những chú voi thật, ngoài ra còn có một thuyền rồng dài 3,5m rộng 0,8m được trang trí cầu kỳ.
Tất cả những thứ trên được đặt ở sân đền vì chúng quá to để có thể đưa được vào bên trong hậu điện. Trong Đền là nơi ngự trị của 4 toà sơn trang với khoảng 60 hình nhân cao từ 1,2 – 1,6m có bốn màu: đỏ, xanh, vàng, trắng, tượng trưng cho bốn hướng.

Bày Trên Ban Thờ Tứ Phủ

– Trên cùng bày mũ Vua cha, mũ quan tả hữu, mũ bình thiên, mũ các quan công đồng.
– Dưới một chút thì bày 4000 vàng hoa bốn màu tượng trưng cho bốn phủ kèm theo 4000 vàng cô cũng bốn màu bày cùng với bốn mâm lễ (trứng, lược, quạt, thuốc lá, khăn mặt, khăn phủ…)

– Sáu bài vị 6 màu, gồm 5 màu đỏ, xanh, trắng, vàng, tím dành cho 5 quan lớn (ngũ vị tôn ông) còn một bài vị màu hồng là bản mệnh.

– Lúc phát tấu thì bày mũ hia và ngựa nhỏ của 5 quan lớn dưới bàn hầu

Bày Xung Quanh Sạp Công Đồng

– Một ngựa đỏ thiên phủ,một voi vàng địa phủ, một thuyền rồng trắng thuỷ phủ

– Bốn toà sơn trang bốn màu (xanh, đỏ, trắng, vàng), mỗi toà gồm một hình chúa bà ngồi trên bệ, hai hình chầu cầm quạt chầu vào,12 hình cô, một thuyền nhỏ, một bè nhỏ, một thoi nhỏ, một núi giùm,1000 vàng đại,1000 vàng cô, 12 bộ hài sảo. Ngoài ra có thể có thêm mỗi toà một voi và một ngựa cùng màu.

– Rắn đỏ, rắn xanh, rắn vàng hoặc có thể thay rắn bằng hinh con nghê, hình người 3 đầu màu trắng (còn gọi là Tam đầu cửu vĩ) để tiến bốn phủ

– Năm hình nhân như người thật, bốn hình bốn màu tiến bốn phủ,còn một hình màu hồng là bản mệnh dung cho quan tuần về chứng hình bản mệnh và hoá theo đàn mã.

– Ba toà chúa bói, hoặc có thể là một toà, tòa này nhỏ hơn toà sơn trang.

– Một hình quan lớn Trần triều, một hình Đức ông đệ tam, 2 hình nhị vị vương cô,một hình Cô bé Cửa Suốt, một hình Cậu bé Cửa Đông. Những đồ lễ này ngày nay ít người dâng.

– Một ngựa Trần triều, tráp áo màu đỏ,1000 vàng thiếc

– Một thuyền rồng Cô bé Cửa Suốt màu đỏ, tráp áo, 1000 vàng đỏ

– Một ngựa Cậu bé Cửa Đông màu đỏ, tráp áo,1000 vàng đỏ

– Năm ngựa quan lớn, tráp áo 5 màu, 5000 vàng 5 màu

– Ba hình ông hoàng cưỡi ngựa, tráp áo, 3000 vàng 3 màu trắng, xanh, tím dành cho Ông hoàng Bơ, Ông hoàng Bảy, Ông hoàng Mười.

– Năm hình 5 màu cho 5 cô: Cô Đôi,Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín, Cô Bé, và 5000 vàng cho 5 cô.

– Hai (hoặc 3, 4) hình cậu, ngựa cậu, vàng hoa cho Cậu Bơ, Cậu Bé.

– Quần áo chúng sinh và tiền vãng sinh

Sớ
– Sớ tiến bốn phủ, mỗi phủ một sớ, mỗi hình nhân hay ngựa mang một sớ điệp, sớ cho mấy toà sơn trang, sớ phát tấu, sớ công đồng, sớ Trần triều, sớ bốn phủ bốn màu,mỗi phủ một sớ…

Đi cùng với đàn mã này là 13 suất lộc tố hảo thuộc loại lộc ngon, đắt tiền để trong khi nhảy, Thánh sẽ phát lộc cho khách dự.

Có tới 13 bộ quần áo của các ông hoàng, bà chúa, cô, cậu. Sau mỗi một giá đồng, người hầu đồng lại thay một lần quần áo.

Nếu không tận mắt chứng kiến một buổi hầu đồng mở phủ, thì không ai có thể tưởng tượng hay tin được rằng : để có được một buổi hầu đồng hoàn hảo thì khổ chủ phải bỏ ra bao nhiêu tiền mua mã, sắm lễ, trang bị quần áo, thuê người hát chầu văn. Giới hầu đồng vẫn thường bảo “tuỳ tiền biện lễ”, nhưng phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được sự vô cùng của câu này.

Khăn áo hầu đồng :

– Áo Tam Tòa Thánh Mẫu, Tam tòa chúa bói.

– Áo Quan lớn đệ nhất (1.000.000đ/1 chiếc). Áo Quan Giám sát, áo quan Tam Phủ, Quan Khâm Sai, Quan Tuần Tranh (Mũ, hia).

– Áo ông Hoàng Bẩy, Hoàng Bơ, Hoàng Mười (600.000đ/1c)

– Áo chầu đệ Nhất, Nhị, chầu Lục, Chầu Mười, Chầu Bé, Năm Phương, Chúa Thác, Chầu Tám Bát, Ông Bát, Trần Hưng Đạo, ông Đệ Tam, Cô Đôi Nhà Trần, Cô Bơ, Cô Chín, cô Đôi, Cô Cam Đường, Cô Sáu, cô Bé,Cậu Nhất, Cậu Bé, cậu Bơ, cậu Tứ, Cậu Bẩy.

– Đai ngọc, Đai Lưng, Hoa trang điểm, dây trang điểm, hài trang điểm, quạt công, đao, cờ, khăn von, gối xếp, kiềng chầu, kiềng cậu, kiềng ông hoàng, kiếm gỗ, hèo,vòng tay, chân cậu, khăn chầu, khăn chầu bé, khăn cô bé, khăn mùi xoa, dao túi, bầu rượu túi thơ, ngọc bội ông hoàng, thẻ quan, bộ lược bạc, hoa tai, xà tích, gùi cô bé, ô chầu cô, xếp quan, xếp mẫu, xếp cô. Nếu là loại hàng xịn giá khoảng 50 – 60 triệu đồng một bộ.

Quế Phượng (tổng hợp)

XEM TƯỚNG TRÁN

XEM TƯỚNG TRÁN

& NẾP NHĂN TRÊN TRÁN

Trán là phần mặt của thượng đình. Trong lãnh vực cốt tướng học, Trán là phần bạo bọc phía ngoài của tiền não bộ. Vì tiền não bộ được y giới công nhận là chủ về trí tuệ nên giữa sự cấu tạo và phát triển của tiền não bộ và hính dáng của Trán có liên quan mật thiết với nhau. Do đó xét về trí tuệ con người rộng hẹp, sâu, nông không gì bằng xét hình dạng của Trán. Thông thường Trán cao rông, đầy đặn và ngay ngắn là biểu thị của trí tuệ cao thâm vì khái quát lực, thống nhất lực và quan sat lực phát triển mạnh mẽ khiến người ta dễ dàng quyết đoán kịp thưòi và chuẩn xác. Thành công và đắc lợi là ở chổ đó. Trái lại, kẻ đầu óc trì độn hay do dự bất quyết hoặc nhận định thiếu sót thường bỏ phí nhiều cơ may vận tốt. Do đó về mặt mạng vận, tướng học cổ điển gọi trán là Quan lộc cung thật là có ý nghĩa. trán rộng và cao thì đường công danh rạng rỡ, còn hẹp và thấp thì Quan lộc diên tri và trí tuệ bất túc.

Nhưng trán rộng hay cao, hẹp hay thấp là do sự cấu tạo tiên thiên, không do cá nhân quyết định, may mắn thì được trán tốt, tức là bẩm thụ được trí tuệ cao viễn, chẳng may thì ngược lại . Bởi vậy trán còn biểu thị cung Phúc đức của môt cá nhân, Phúc đức rộng hay hẹp , dày hay mỏng có thể do trán thể hiện một phần lớn.

CÁC HÌNH THỨC CỦA TRÁN

Nếu ta gọi AC là chiều dài khuôn mặt và MN là bề ngang rộng nhất của trán thì ta sẽ có một tiêu chuẩn để định trán cao hay thấp và rông hẹp như sâu (H.1)

Nhìn một cáh tổng quát ta phân biệt được trán cao và rộng, trán thấp và trán hẹp, trán lồi và Trán vắt v.v…Trên thực tế các loại trên lại pha trộn với nhau tạo thành muôn vàng hình dáng dị biệt. Trước khi đi sâu vào chi tiết cần phải phân biệt thế nào là dài và rộng.

Thông thường, bề ngang khuôn mặt bằng chiều dài tính từ khỏng giữa 2 đầu lông mày tới cằm (xem H.1). Qua tiêu chuẩn mẫu đó thì coi là rộng, dưới tiêu chuẩn đó bị coi là hẹp. Về chiều cao của trán, đối với người thanh niên và không sói đầu quá sớm thì bằng một nữa chiều dài từ khoảng giữa 2 đầu lông mày tới cằm. trên mức độ đó là cao, dưới mức độ đó coi là thấp.

1/- Trán rộng :

Bề ngang rộng, phẳng, có bề cao trung bình biểu thị đặc tính bị động củ trí tuệ. Người có trán rộng mà thấp là kẻ có trí nhớ dai, khả năng ghi nhận các sự kiện cụ thể rất mạnh, nhưng óc phân đoán không hoàn hảo. Họ chỉ suy luận và phán đoán một cách cụ thể. Óc tưởng tượng của họ chỉ lập lại các hoàn cảnh đã trải qua chứ không kết hợp được để sáng tạo ra những hình ảnh mới . Nói một cách tổng quát, đối với một người có trán trung bình hoặc hơi thiếu bề cao, mà lại rất rộng bề ngang thì có thể quyết đoán rằng người đó có khả năng phát triển kiến thức về chiều rộng nhưng không đủ khả năng phát tiển về chiều sâu . Nếu phần dưới của trán, giáp ranh với lông mày, lại bằng phẳng và chiếm phần trội yếu thì kẻ đó thiếu hẳn trí tượng cần thiết để có thể tiên liệu được các hậu quả sẽ xảy tới trong tương lai do việc làm hiện tại của mình. Ngược lại nếu phần trên cảu trán quá rộng so với toàn bộ trán thì kẻ đó quá thiên về tưởng tượng, mơ mộng, thiếu thực tế .

2/- Trán cao :

Trán chỉ có bề cao mà bề ngang xấp xỉ ở mức trung bình thì đặc điểm của trí tuệ sẽ là sự phát tiển của óc phán đoán, tập trung tư tưởng dễ và có khả năng sáng tạo (óc tưởng tượng khá dồi dào). bề ngang càng thu hẹp ở khu vực qunh mi-cốt đi đôi với sự phát triển quá đáng của phần trên sẽ là dấu hiệu của sự tưởng tượng xa với thực tế, sự lĩnh hội chỉ ở trong lĩnh vực siêu hình hoặc không tưởng.

Nếu Trán được phát triển cả bề ngang lẫn chiều cao thì thường thường là kẻ đó được thiên phú trí tuệ thâm viễn và hoàn hảo: óc quan sát khả năng lĩnh hội và trí tưởng tượng sáng tạo phong phú dễ thích ứng với hoàn cảnh thực tại. Tuy nhiên, các đức tính trên muốn được phát huy và trở thành hữu dụng lại còn phải tùy thuộc phần lớn vào cách cấu tạo chung của khuôn mặt, sự cân xứng của các bộ vị và nhất là đặc tính về phẩm chất của các bộ vị căn bản. Sự rộng hẹp cao thấp chỉ là dấu hiệu về lượng chưa đủ để xác định rõ ràng.

Ngược lại, nếu kẻ mà Trán vừa hẹp, vừa thấp là kẻ trí tuệ bị giối hạn tới mức tối đa. Mọi khả năng quan sát, lĩnh hội và phán đoán đều ở mức dưới trung bình. Các nhận xét của họ hoàn toàn dựa vào các sự quan sát nhãn tiền về các sự vật cụ thể hữu hình. Ngoài 4 trạng thái: cao, thấp, rộng, hẹp, Trán còn có thể có một trong các hình dạng sau đây tùy theo cách phối trí của chân tóc.

3/- Trán vuông :

Trán có hình thể vuông vức (H2) là dấu hiệu bề ngoài của sự trọng thực tiễn. Vuông cạnh mà cao rộng là đặc tính của tinh thần thực tiển và có khả năng thực hiện các quan niệm của mình. Phần lớn các khoa học gia, kinh tế gia, thực nghiệp gia đều có loại Trán kể trên .

Nếu Trán thấp hẹp mà lại có góc cạnh vuông thì trỏ óc trọng thực tiễn hoặc chỉ nhận thức được những điều thực tiễn nãng tiền nhỏ hẹp .

4/- Trán có góc tròn :

Hai góc trên của Trán nẩy nở và không có tóc tạo thành hai góc tròn khá rộng khiến phần Trán tiếp giáp với chân tóc trông giống chữ M (H3)

Loại Trán này nếu cao rộng là đặc tính của khả năng văn học, nghệ thuật thiên bẩm. Đối với các hoạt động vật chất thường nhật loại người có Trán như trwn thường có ý coi rẻ nên không thích ứng với các nghề thực dụng. Ở những người Trán thấp hoặc hẹp, dạng thức trên của Trán trỏ khía cạnh tiêu cực của khả năng thẩm mỹ và nghệ thuật : cảm thấy được cái đẹp nhưng không có khả năng diển đạt hoặc thực hiện.

5/- Trán gồ (lồi) :

Ta phân biệt ba loại .

a) Gồ phần giữa (H4)

Trán gồ lên ở phần giữa mà toàn bộ Trán lại thấp (tức là dưới mức trung bình) hẳn thực tế. Loại người này không bao giờ vạch ra được một kế hoạch khả dĩ thực hành được .

b) Trán gồ và ở hai phần trên dưới (H5)

Trán hình dạng này biểu thị trí tuệ bất túc trong nhiều trường hợp, khả năng trí tuệ dễ dàng hướng dẫn hành đọng trong lãnh vực thực tiễn quen thuộc, nhưng nếu một nghịch cảnh xảy ra, người đó sẽ không biết phản ứng thích nghi với hoàn cảnh mới và sẻ lúng túng không tiìm được cách giải quyết ổn thỏa tinh thần luôn luôn bị ám ảnh.

Nếu phần lọm ở giữa Trán chỉ vừa phải, phần gồ trên dưới cũng ở mức vừa phải thì sự lúng túng sẽ có thể vượt qua sau một thời gian nghiền ngẫm. Qúa nổi bật, thì sự lúng túng đó đưa đến sự bất quyết, bần thần và có thể là sự ù lì.

c) Gồ ở phần dưới (H6)

Thông thường, nếu Trán ở mức trên trung bình về cả cao lẫn rộng, dấu hiệu này cho biết là kẻ đó có óc thông minh dựa trên dữ kiện do tất cả mọi cơ năng đem lai và dùng làm nền tảng tiến khới cho các hoạt động. Kẻ đó không thích đi sâu vào chi tiết và không trọng khuôn sáo (non conjormisie).

Nếu phần này đi đôi với phần mi-cốt nẩy nở đều và cao vừa phải, chủ về cá tính rất mạnh nhưng kém phần hàm dưỡng: Tính bạo tháo, dám nói dám làm những điều mới lạ độc đáo. Đi đôi với Trán cao rộng và vát về sau, kẻ đó rất tự tin, thích hành động mạo hiểm, nên cổ tướng pháp mệnh danh là “Bất năng tòng tục, dũng cảm, háo vi phi : Không thể sống theo thói thường, có tính dũng cảm, thích làm những gì tự cho là hợp đạo lý khi cần bất tuân luật lệ triều đình”.

6/- Trán tròn : (H7)

Cao mà tròn, đầy đặn và điều hòa là kẻ đầu óc thông tuệ. Phụ nữ mà có loại trán này thì đối với vấn đề hôn nhân đòi hỏi một mối tình lý tưởng nên khó được mãn nguyện. Do đó sau khi kết hôn dễ làm cảnh chia ly.

Đàn ông chủ về tự tư, tư lợi quá đáng, khó sống chung với thân tộc cho nên ly hương lập nghiệp mới dễ phát huy được tài năng, toàn diện.

7/- Trán lẹm : (H8 & H9)

Trán thu hẹp dần cả về bề ngang lẫn bề cao tính từ mi-cốt trở lên. Theo nhận xét các nhà tướng học Nhật Bản hiện nay là Thạch Long tử Thi trong cuốn Quan tướng học đại ý thì chính vì não bộ thiếu phát triển nên xương sọ cũng bị thiếu tăng trưởng mà thành ra hình dạng như trên.

Trán lẹm là dấu hiệu bề ngoài của trí tuệ và tình cảm thô lậu, nên hành động, ngôn ngữ không hơn gì người man dã dù rằng có được giáo hoá cũng bằng vô ích, vì những kiếm khuyết trí tuệ có tính cách tiên thiên nói trên.

Trán thì khi nhìn thẳng thì thấy cân xứng, nhìn nghiên thì thấy hơi lõm là dấu hiệu rõ rệt nhất của sự nổ lực trí tuệ. sự nổ lực đó rất dễ dàng nếu sự sai biệt giữa các phần lồi lõm đó hào hợp thích đáng (H10) và nếu sự kiện trên phối hợp với trán cao, rộng ta có thể tiên đoán rằng đó là một cá nhân thông minh một cách tế nhị, nhớ lâu những điều cần nhớ, có thứ tự về tư tưởng, óc suy luận và tập trung tư tưởng chính chắn nên phán đoán chuẩn sát hơn người thường.

Về lĩnh vực quan sát, người đó lưu ý đến hình dạng, vị trí cách phối trí và sự cân xứng hơn là về màu sắc của sự vật . Họ có khuynh hướng trừu tự hóa, suy quả cầu nhân, có khả năng tổng quát háo và hệ thống háo việc giải thích sự vật cụ thể cũng như siêu hình.

Ngược lại, Trán chỉ cao rộgn nhưng phẳng lì như mặt bàn chứ không có sự lồi lõm tối hiểu để có thể nhìn thấy từ xa một cách hòa hợp là dấu hiệu của sự hời hợt, thiếu hẳn sự sâu sắc, tư tưởng khó có thể tập trung vào một số trọng điểm cần thiết. Do đó sự phán đoán thường thiên lệch vì thiếu dữ kiện cần thiết.

Ý NGHĨA CỦA CÁC DẠNG TRÁN

Trong đoạn dạng thức cảu trán, chúng ta có suy diễn những ý nghĩa thuộc về tính tình và trí tuệ . Thật ra, trán không phải chỉ có hai ý nghĩa đó mà còn có nhiều ý nghĩa vận mệnh rất phong phú. Vận mệnh con người trên trán đã được khảo sát trong các chương nói về Thiên Đình, nói về các bộ vị ở Thiên đình như Thiên Trung , Thiên đình, trung chính nói về cung Quan Lộc, cung thiên di. Tác giả không nhắc lại ở đây để tránh sự trùnh dụng và rườm rà.

CÁC NẾP NHĂN TRÊN TRÁN :

Các nếp nhăn trên trán chỉ có tính cách phụ đới và không mấy ý nghĩa về phưưong diện mạng vận khi quá tuổi trung niên.

Nhưng nếu trong tuổi thanh niên mà nếp nhăn trên trán xuất hiện rõ rệt thì đó lại là điềm đáng lưu ý. Do đó những vằn trán nói ở đoạn này chỉ có nghĩa nhiều đối với tuổi thanh xuân mà thôi (các H11)

Đứng về phương diện quan sát phổ thông, đại đa số ngươì Á-Đông thường có 3 nếp nhăn trên trán và tướng học khi khảo cứu về vằn trán đã dựa vào đa số kể trên. Ba nếp nhăn trên trán tính từ trên xuống dưới là : Thiên văn, Nhân văn, Địa văn với các ý nghĩa tương tự như sau :

– Thiên văn : chủ về tôn trưởng, người trên

– Nhân văn : chủ về bản thân

– Địa văn : chủ về thuộc hạ, những người dưới mình.

Bởi vậy theo tướng học Á-Đông, 3 nếp nhăn trên trán xuất hiện rõ ràng không đứt đoạn tưưong xứng đoạn tương xứng và có chiều hướng đi lên được coi là các tướng vì dung hòa được cả 3 yếu tố: sự nổ lực của bản thân, giúp đỡ của người trên, kẻ dưới (H11-1). Trường hợp 3 vạch ngang không bình thường lên cũng được xem là cát tướng nhưng thứ bậc kém hơn (H11-2).

Bất cứ đường nào thuộc về Thiên văn, Nhân văn, Địa văn đều phải dài, rõ, không đứt đoạn và vắt ngang trán mới được xem là hợp cách.Thiên văn rõ ràng tươi đẹp chứng tỏ mạng vận lúc nhỏ thường được tôn trưởng, thương yêu giúp đỡ, ra đời được thượng cấp quí mến. Nhân văn hợp cách trong một khuôn khổ chung hoàn hảo của trán, biểu thị vận mạng, công danh của người đó đều do dự họ khai sáng, không nhờ cậy vào ai. Địa văn rõ ràng và dài hợp cách chủ về kẻ đó được những người dưới tay tận tâm giúp đỡ mà nên sự nghiệp.

Ngươc lại thiên văn không rõ ràng là kẻ không được người trên hổ trợ, Nhân văn không rõ ràng hoặc đứt đoạn là kẻ tính tình cáu kỉnh, hay gây gổ, Địa văn không ra gì thì kẻ đó khó cùng người dưới hợp tác chân thành.

Dưới đây là ý nghĩa và sơ đồ của một số các nếp nhăn trên trán thường có :

– Có đủ cả ba đường nhưng hoặc Thiên văn hay Nhân văn hay Địa văn không song hành (H11-3 và H11-4) thì kẻ đó sẽ gặp hoặc người trên hoặc kẻ dưới không giúp ích gì được cho mình, đôi khi còn gây rắc rối nữa.

– Cả ba đường đó rõ, hợp cách nhưng có một đường thẳng từ Ấn đường chạy lên cắt đứt như hình chữ vương (H11-5) được coi là một dấu hiệu tốt chủ về trí tuệ thông minh khoát đạt, ý trí kiên cường, nhưng đứng về mặt vợ chồng: bất hòa dễ đưa đến đổ vở vì Nhân văn tạo thành với đường thẳng đó một hình chữ thập, tượng trưng cho sự phu thê ly tán.

– Chỉ có đường Nhân văn rất dài, sâu mà không có Thiên và Địa văn : Chủ về huynh đệ bất hòa, ở chung một mái nhà dễ gây xung đột, đối với vợ, kẻ đó cũng thường hay gây gổ. Nếu cả hai vợ chồng đều có loại vằn trán này thật là đại bất hạnh trong cuộc sống lứa đôi (H11-6)

– Chỉ có Thiên, Địa văn mà không có Nhân văn hay có mà quá mờ lạt, ngắn : chủ về kẻ đó dễ bị những người xung quanh chi phối (H11-7)

– Nếp nhăn trên trán như vết rắn bò (xà hành) có thể liền (H11-8) hoặc đứt đoạn chủ về tuổi ấu thơ bị nhiều nghịch cảnh, không được hóa thuận với tôn trưởng, thân thể suy nhược, tư tưởng bi quan. Đối với đàn bà, chỉ dấu trên càng có ý nghĩa sâu sắc hơn.

– Nếp nhăn trên trán hình hạc (H11-9) vì trông tương tự như chim hạc đang bay là dấu hiệu của kẻ lãnh đạm với danh lợi vật chất, chỉ thích suy nghĩ, thần kinh suy nhược, kém giao tế. Trong nhãn quan của nữ giới, đàn ông có vằn trán hình hạc là kẻ rất lãnh đạm với thú vui chăn gối.

Lan Nguyễn

NGÔI LÀNG CÓ MA

SAU MỖI EM BÉ RA ĐỜI

Hãng thông tấn tại Argentina thuộc khu vực Nam Mỹ đưa tin gây sốc này. Gần đây, tờ báo hàng ngày Popular tại đất nước này đồng loạt đưa thông tin, “có một con ma luôn đi tìm những trẻ sơ sinh mới chào đời” và các tờ báo còn thuật lại những câu chuyện mắt thấy tai nghe của những người dân địa phương.

Con ma đi tìm những em bé sơ sinh đã xuất hiện tại một ngôi làng nhỏ Isdiro Cassanobar ở gần khu vực của thành phố Buenos Aires.

Một người dân trong làng có tên là Mariana đã 2 lần tận mắt chứng kiến con ma đó. Con ma mặc một chiếc áo choàng màu đen và đội chiếc mũ đen. Mariana trong một lần phỏng vấn đã kể lại : “Ngày mà thấy con ma đó là ngày trẻ em sinh ra trong các nhà ở làng. Chỉ cần có trẻ em sinh ra ở trong làng là lại có người nói rằng đã nhìn thấy ma”.

Một người dân khác có tên là Marlene cũng khẳng định đã nhìn thấy con ma đội mũ. Người này nói : “Tôi đã trông thấy con ma có hình dáng như con người đội mũ nhưng không thể nhìn thấy mặt nó”.

Tờ Popular đưa tin : “Một gia đình đã thực hiện nghi thức trừ tà để đuổi con ma đó đi nhưng không có hiệu quả”.

Cũng có luồng tin đồn rằng con ma đi tìm trẻ sơ sinh trong làng là linh hồn của một người đàn ông từng sinh ra ở làng này, đã tử mạng trước đó mấy chục năm. Người đàn ông đã phạm tội và đã bị giam cầm trong một nhà tù ở phía nam của Argentina cách đây 50 năm. Sau khi anh ta bị giam trong tù, vợ anh ta đã sinh con nhưng anh ta không thể nhìn thấy mặt con trai mình mà đã tắt thở tại nhà giam. Vì thế linh hồn anh ta đã biến thành con ma và mỗi khi có trẻ em được sinh ra, con ma lại xuất hiện để nhìn thấy hình ảnh của những đứa trẻ.

Tuy nhiên chưa có bằng chứng xác thực nào về những câu chuyện trên. Thực hư của câu chuyện này vẫn còn là một bí mật tại ngôi làng nhỏ.

Hoàng Vân

LINH SƠN THÁNH MẪU (BÀ ĐEN)

5/5 ÂL NGÀY LỄ VÍA

LINH SƠN THÁNH MẪU

Ngày 6 & 7/6/2011 tức vào ngày mùng 5 và mùng 6 tháng 5 năm Âm lịch Tân Mão, được xem là ngày vía Đức Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Tây Ninh (còn được gọi núi Điện Bà Tây Ninh)

“Linh Sơn Thánh Mẫu” tức Bà Đen được thờ trên núi Điện Bà Tây Ninh (thời nhà Nguyễn núi này mang tên núi Một, sau gọi núi Bà Đen hay núi Điện Bà tỉnh Tây Ninh) trong một quần thể có nhiều chùa chiền tính từ chân núi lên đến đỉnh.

Bà được thờ cúng tại một Điện thờ nằm trong thạch động, bên cạnh có chùa “Linh Sơn Tiên Thạch Tự”. Về thời gian có điện thờ Bà Đen tại đây chưa ai rõ, nhưng có những truyền thuyết về Bà sau đây, có thể lý giải được thời gian có cốt tượng Bà vào khoảng thời gian nào.

A/- TRUYỀN THUYẾT BÀ ĐEN

Tương truyền tại Trảng Bàng cách núi Một chừng 40km, có đôi trai gái, nàng tên Lý Thị Thiên Hương giỏi văn thơ và võ nghệ, diện mạo trông duyên dáng nhưng lại có nước da đen sậm. Chàng tên Lê Sĩ Triệt cũng là người văn hay võ giỏi. Cả hai đem lòng thương nhau, khi ấy có con trai viên quan huyện quyết tâm bắt Thiên Hương về làm thiếp, hắn dùng tiền bạc mua chuộc không được liền cho thủ hạ đi bắt cóc nàng.

Nhưng bọn vô lại chưa kịp thực hiện ý đồ đã bị Sĩ Triệt giải nạn cho người yêu. Thiên Hương lại càng yêu mến Lê Sĩ Triệt, nàng thuật lại chuyện cho cha mẹ rõ. Cha mẹ Thiên Hương liền hứa gả nàng cho Sĩ Triệt. Nhưng thời bấy giờ đang giặc giã nên Lê Sĩ Triệt đành giã từ Thiên Hương lên đường tòng quân. Sĩ Triệt được Thiên Hương hứa hẹn : “Một lời đã hứa, thiếp xin giữ trọn lời nguyền”.

Thiên Hương ở lại, nàng bị đám thủ hạ con quan huyện ùa tới vây bắt. Biết cùng đường và giữ trọn trinh tiết với Lê Sĩ Triệt, nàng Lý Thị Thiên Hương lao mình xuống vực sâu tự tử. Gia đình Thiên Hương không hay biết, chỉ lo lắng cầu khẩn cho nàng sớm bình yên trở về.

Ba hôm sau, Hòa thượng trụ trì chùa trên núi Một đang ngồi niệm Phật, bắt gặp một người con gái da đen nhưng duyên dáng báo mộng cho biết :

– Ta là Lý Thị Thiên Hương, năm nay vừa tròn 18 tuổi chẳng may bị bọn quan trấn ức hiếp nên tự tử để tuẫn tiết. Xác ta đã ba ngày nhưng còn nguyên vẹn, Hòa thượng đi xuống chân núi phía Đông sẽ thấy mà chôn dùm. Ta chết nhưng linh hồn sớm siêu thoát, do kiếp trước ta đạt căn tu, nên kiếp này được đắc quả thần thông. Hòa thượng sẽ gặp điều lành.

Vị hòa thượng theo lời báo mộng của Thiên Hương tìm được xác và đem chôn cất nàng tử tế. Các Phật tử khi viếng chùa đều được nghe vị hòa thượng kể lại, họ tới mộ Thiên Hương cầu xin mọi chuyện, đều được như ý. Chuyện từ đó đồn vang, đến tai Thượng quốc công Lê Văn Duyệt đang cai quản trấn Gia Định, ông liền lên núi Một và đến phần mộ của Thiên Hương mà truyền :

– Trinh nữ có hiển linh hãy chứng tỏ cho ta thấy.

Thượng quốc công vừa dứt lời, thì sau lưng ông có người con gái cất tiếng chào :

– Xin chào thượng quan.

Thượng quốc công Lê Văn Duyệt và đám tùy tùng đều sửng sốt. Nhưng ông nghiêm nghị hỏi là ai, người con gái đáp :

– Tôi chính là người mà thượng quan vừa truyền dạy, tên Lý Thị Thiên Hương đây.

Thật ra cô gái ấy cũng là Phật tử đi viếng chùa, được Thiên Hương mượn xác chứng tỏ sự linh hiển của mình, Thiên Hương lại nói tiếp :

– Tôi xin báo cho thượng quan biết về tương lai của ngài, dù rằng “thiên cơ bất khả lậu”, sau này thượng quan chết không được vinh, nhưng rồi sau đó được giải oan và được phong Thần vinh hiển mãi mãi.

Thượng quốc công hỏi lại :

– Chuyện tương lai của ta, ta không cần lưu ý đến. Nay ta hỏi, cớ  sao mà trinh nữ phải chết ?

Thiên Hương thuật lại câu chuyện gá nghĩa giữa hai gia đình, rồi bị con viên quan huyện ép buộc lấy làm thiếp, nàng không thuận nên bị vây bắt, đến đường cùng phải tuẫn tiết để giữ tròn trinh tiết với Lê Sĩ Triệt. Rồi nàng lại lên tiếng nói tiếp :

– … Ngọc hoàng chứng được sự đoan chính mấy kiếp của tôi, xét về kiếp trước đã tu hành đắc quả, nên ngài cho xuống trần gian cứu dân độ thế. Xác Thiên Hương chỉ là đời thứ hai, trước đây khi chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam lạc bước đến nơi đây, tôi đã mách giúp là phải dựa vào quân Xiêm mới làm nên nghiệp lớn. Lúc đó  tôi chưa đầu thai về nhà họ Lý.

Nói dứt lời cô gái ngã ra bất tỉnh, hồn Thiên Hương thoát xác, cô gái mới hồi tỉnh lại.

Thượng quốc công Tả quân Lê Văn Duyệt bấy giờ mới tin lời đồn của thiên hạ là đúng, ông dâng sớ tâu trình lên vua Gia Long và xin phong sắc cho Lý Thị Thiên Hương. Vua Gia Long nhớ lại chuyện xưa, liền phong bà là “Linh Sơn Thánh Mẫu” cai quản nơi núi Một và chủ sự tại chùa Linh Sơn.

Truyền thuyết thứ hai về Linh Sơn Thánh Mẫu :

– Đất Tây Ninh ngày trước cũng như bây giờ, phần đất từ Trảng Bàng – Suối Sâu đến tận miệt tây và tây bắc giáp với biên giới Campuchia, có người Miên sinh sống cùng người Việt rất đông.

Có một gia đình người Việt gốc Miên làm quan tại địa phương, sinh được hai con, gồm một trai một gái. Cô con gái tên Đênh (có sách gọi là Đinh). Lúc nàng đến tuổi dậy thì, có vị sư già từ Bến Cát tìm đến núi Một kiếm đất lập chùa để phụng sự Phật pháp.

Khi đến Tây Ninh, vị sư già đến nhà gia đình nàng Đênh xin tá túc một thời gian để tìm đất. Cả gia đình viên quan đều mộ đạo, nên ai cũng muốn nghe nhà sư thuyết pháp nhất là nàng Đênh. Còn viên quan lập cho vị sư ngôi chùa Ông Tàu (do ông là người Hoa) nằm ở chân núi phía đông gần làng Phước Hội. Một thời gian sau vị sư về lại Bến Cát, để chùa Ông Tàu cho nàng Đênh trông nom.

Như truyện tích nàng Thiên Hương, nàng Đênh cũng bị viên quan trấn ở Trảng Bàng ngấp nghé hỏi cưới, duy có điều là nàng Đênh chưa có bóng dáng một thanh niên nào trong lòng mà lại phát nguyện xuất gia thờ Phật. Mặc dù cha mẹ đã hứa gả cho viên quan ấy, nàng Đênh không thể chiều lòng cha mẹ, nên đã bỏ nhà ra đi tìm nơi tu đạo.

Khi bà Đênh từ giã cõi trần, hồn bà hiển thánh và về báo cho cha mẹ biết là bà tu đã đắc đạo, được thượng giới phái xuống trần cứu nhân độ thế. Bà hiển linh báo cho Nguyễn Ánh khi bôn tẩu trên núi Một trốn quân Tây Sơn, những việc phải làm để giành lại ngôi vua.

Sau này lên ngai vàng, chúa Nguyễn Gia Long nghĩ đến bà Đênh liền sai đúc cốt Bà Đênh bằng đồng đen đem lên núi Một để thờ, phong Bà Đênh làm “Linh Sơn Thánh Mẫu”. Nơi điện thờ Bà gọi là “Linh Sơn Tiên Thạch Động”.

Tuy bà Đênh người không đen như Thiên Hương nhưng lại là người Việt gốc Miên có làn da bánh mật và tên gọi là Bà Đênh, sau dân địa phương gọi trại là Bà Đen, gọi núi Một là núi Bà Đen.

Với hai truyền thuyết trên, chúng ta dựa vào thời gian Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long vào năm 1802 (và mất năm 1819). Ta suy đoán tượng Bà Đen có vào khoảng những năm 1805 – 1815.

Cũng có thêm truyền thuyết về tượng Bà như sau :

– Trên núi Một ai cũng đồn có Phật Bà hiển thánh, nhưng việc lập điện thờ Bà làm nơi cúng bái không ai làm. Sau này có tu sĩ Đạo Trung (vào thế kỷ XVIII), ở trên núi suốt 31 năm khai sơn phá thạch, cho đến một ngày bỗng ông thấy Phật Bà hiện ra trên đỉnh núi, và ít lâu sau tìm được cốt tượng bằng đá có chân dung Phật Bà nơi một dòng suối (gần chùa Hang bây giờ). Ông liền lập động để thờ phụng. Điện Bà có từ đó.

Với những truyền thuyết trên, xét về mặt nghệ thuật điêu khắc, tượng bà mang nhiều ảnh hưởng văn hóa Phù Nam pha trộn nền văn hóa Việt như tượng Bà Chúa Xứ Châu Đốc. Nên xuất xứ của pho tượng Bà có thể được tạc vào thế kỷ XVIII vào thời ông Tổ Đạo Trung, nhưng lúc đó tạc trên đá, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long vào đầu thế kỷ XIX, mới đúc tượng Bà bằng đồng đen (đồng nguyên chất pha với Acid Nitric cho ra đồng đen, nhưng không phải lấy từ quặng đồng đen thứ thiệt) như bây giờ chúng ta vẫn thấy, và khớp với lịch sử xây dựng chùa và điện trên núi Linh Sơn vào thời gian 1871 – 1880, thời Tổ Thánh Thọ Phước Chí lên Điện Bà xây hang điện đưa cốt tượng vào thờ, trước đó tượng còn để bên chùa Linh Sơn (nay là chùa Ông hay Linh Sơn Tiên Thạch Tự).

Điện thờ Bà Đen ở lưng chừng núi, được vua Tự Đức năm thứ 3 sắc phong lại là Thánh Mẫu nên người dân miền Đông Nam bộ tôn kính gọi Bà bằng Đức Phật Mẫu.

B/- QUẦN THỂ CHÙA TRÊN NÚI BÀ ĐEN

1- Chùa Trung : Khi lên núi Bà Đen, sẽ gặp ngôi chùa Trung nằm ngay dưới chân núi, dân địa phương cho rằng là nơi Bà dừng chân đi tu khi đến đây, sau đó trên núi có chùa mới dựng lên, Bà rời chùa Trung lên trên núi tu.

Chùa Trung trước kia rất khang trang nhưng do chiến tranh nên kiến trúc ấy không còn, nay chùa được dựng lên đơn sơ hơn trước, nhưng cách bày trí trong chùa vẫn theo nét cũ.

Phía ngoài chùa là pho tượng Tiêu Diện Đại Sĩ, bên trong đứng xoay lưng với pho tượng ngoài là tượng ngài Hộ pháp, sau đó là 4 pho Tứ vị sơn thần đặt theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc. Vào chánh điện dàn hàng ngang phía trái là tượng Phật Bà Quan Âm cùng với Cửu Thiên Huyền Nữ, rồi các tượng Thích Ca Mâu Ni, Địa Tạng, Phật Di Đà, Phật Di Lặc. Phía phải là bàn thờ  Quan Công.

Gian sau đấu lưng với bàn thờ Phật là ban thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tượng tạc thời Bà còn trẻ, da mặt hồng hào đầu đội mũ triều thiên, choàng khăn áo màu đỏ. Hai bên tượng Thánh Mẫu có cô Hồng, cô Cúc đứng hầu. Đối diện ban thờ của Bà là ban thờ Bà Thiên Hậu. Bên gian thờ tổ có pho Đức Diêu Trì Kim Mẫu và ban thờ Đạt Ma Sư Tổ.

Chùa Trung thờ tự như những ngôi chùa miền Bắc thường thờ là Tiền Phật hậu Mẫu.

2- Chùa Ông (Linh Sơn Tiên Thạch Tư) : Hiện nay chùa Ông lấy tên Linh Sơn Tiên Thạch Tự, khi khách hành hương từ dưới núi lên là gặp (nay ngoài đường bộ lên núi, còn có cáp treo và máng trượt).

Chùa nằm về hướng Đông Nam, có kiến trúc bền vững, khang trang. Giữa sân chùa là tượng Phật Bà Quan Âm, phía sau tượng Quan Âm là pho Tiêu Diện Đại Sĩ, đấu lưng là tượng Hộ pháp mặt nhìn vào trong, như là 2 ông Thiện ông Ác kiểm soát khách vào ra.

Vào trong chùa, phía bên phải là 3 pho Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu (theo sách cũ ghi dãy này trước đây là những pho tượng mang hình tượng của Thập điện Diêm Vương). Tường bên trái cũng là dãy tượng mang hình tượng Thập Bát La Hán, nhưng nay chỉ còn 4 pho.

Nơi chánh điện, nhìn hàng ngang có 3 ban thờ. Ban giữa pho tượng lớn là Phật A Di Đà; bên trái là ban thờ Quan Âm Bồ Tát, Phật Chuẩn Đề 18 tay, Địa Tạng; bên phải là ban thờ Phật Chuẩn Đề , Đại Thế Chí, Địa Tạng cỡi sư tử.

Phía sau là gian thờ tổ, thờ Đạt Ma Tổ Sư, Quan Công và bàn thờ hương linh bá tánh. Ngoài ra còn ban thờ Phật Dám với tư cách coi sóc đồ lễ.

Chùa Ông khác với chùa Trung là không thờ  Mẫu, tức chùa không thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu v.v… Chỉ đơn thuần thờ Phật.

3- Điện Bà : Điện Bà Đen nằm cạnh chùa Ông (ngôi chùa vừa nói, có trước đời Nguyễn Ánh tức cuối thế kỷ XVIII, có tên là Linh Sơn Tự nơi Bà Đen hiển linh), điện Bà có kết cấu 2 phần. Phần trong là một vòm hang đá được tạo bởi một phiến đá rất lớn nhô ra khỏi sườn núi, vòm chỉ cao gần 2 mét có diện tích khoảng 20m2. Phần ngoài xây nối tiếp với hang động, trống 3 phía chỉ có trần nhà, diện tích bằng gian thờ Bà Đen.

Cửa hang được bố trí cửa hai bên, một gian nhỏ thờ ngựa gỏ, một gian thờ Ông Địa. Nhưng khách hành hương nhìn thấy bên hang còn có 2 miếu nhỏ thờ Ông Tà, thờ 1 hòn đá hình trụ cao gần năm tấc, đường kính khoảng một tấc, như một Linga thờ ở Miếu Bà Chúa Xứ, trên phiến đá trùm một tấm vải điều đỏ.

Bên trong điện hai bên thờ Tứ Vị Sơn Thần nay chỉ có bát nhang. Trong cùng là chánh điện, ở giữa là tượng Bà Linh Sơn Thánh Mẫu da mặt toàn thân màu đen, choàng áo thêu kim tuyến. Hai bên trái phải thờ cô cậu : Cậu Tài cậu Quý – Cô Hồng cô Hạnh. Phía trước có 2 pho tượng, một trắng (do khách hành hương cung tiến) được mọi người cho đó là tượng Bà Chúa Xứ Châu Đốc, một đen (các vị giữ điện nói từ động Thanh Long đưa về) là tượng của Linh Sơn Thánh Mẫu.

Phía ngoài là tượng Địa Mẫu tạc đứng khá lớn. Cùng 4 pho Tứ Thiên Vương là các vị Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thọ và Ma Lễ Thanh. Ngoài cùng là tượng Phật Bà Quan Âm.

Ở điện thờ Bà Đen ta nhận thấy cách bày trí rất kỳ ảo và không kém phần trang nghiêm. Và cũng là cách thờ Tiền Phật hậu Mẫu như những đền điện thờ Mẫu khác.

4- Chùa Hang (Động Ông Chàm) : Từ điện Bà, khách muốn lên chùa Hang phải đi tiếp 155 bậc thang qua suối Bạc là tới (xưa gọi là động Ông Chàm, vì lúc mới khai phá núi Một, có một người Chàm lên đây lập động tu luyện bùa chú, khi ông chết mới có người lên núi và phát hiện, gọi động này là Long Châu Tự).

Chùa Hang nằm gọn trong một hang đá có diện tích, độ cao và tạo hình như điện Bà Đen ngự.

Trước cửa hang cũng gồm hai lối vào ra, trấn cửa là Tiêu Diện Đại Sĩ, phía trong là Hộ pháp quay mặt vào trong chánh điện. Ở giữa chánh điện có pho tượng Phật Di Đà, ở bốn góc chùa có các tượng Phật : Quan Âm, Thích Ca sơ sinh, Thế Chí Bồ Tát và Phật Chuẩn Đề.

Phía trong cùng, dãy ban thờ hàng ngang từ ngoài nhìn vào, phía góc trái thờ Địa Tạng cỡi sư tử, kế bên có tượng Linh Sơn Thánh Mẫu màu đen, hai bên tượng Bà có 2 tượng nhỏ cô cậu đứng hầu. Kế đó là tượng Bà Chúa Xứ. Góc bên phải là ban thờ tượng Ngọc Hoàng. Phía ngoài hang là một sân có 2 pho tượng Phật Bà Quan Âm cao khoảng 2 mét. Ngoài ra kế bên chùa Hang là một ngôi chùa 2 tầng kiến trúc như những ngôi chùa miền Bắc với 4 góc cong vút, được dựng trên nền Long Châu Tự cũ.

Qua các chùa trên núi Bà Đen, các nhà nghiên cứu về văn hóa tâm linh, có nhận xét về quần thể trên như sau :

– Các chùa trừ Linh Sơn Tiên Thạch Tự, các chùa khác trên núi bày trí theo cách thờ “Tiền Phật hậu Mẫu”. Do các chùa đều tập chung việc thờ Linh Sơn Thánh Mẫu là Mẫu Tiên Thiên (Miếu Bà Châu Đốc là Mẫu Địa Tiên). Là loại hình thờ Mẫu trong dân gian ở nước ta.

– Ngoài ra trong quần thể chùa núi Bà Đen có thờ thần Linga (Ông Tà), Quan Công, Bà Thiên Hậu cho thấy ở đây có sự hòa đồng sắc tộc gồm Khmer, Champa, Hoa, Việt trong tín ngưỡng dân gian của tục thờ  Thần.

C/- LỄ HỘI VÍA BÀ

Hàng năm tỉnh Tây Ninh đều tổ chức Lễ hội Vía Bà (còn gọi Hội Xuân Núi Bà) từ mùng 10 tết đến hết rằm tháng giêng âm lịch. Nhưng ngày vía chính hằng năm vào ngày 5 và 6 tháng 5 âm lịch.

Việc tổ chức ngoài việc thu hút khách thập phương đến Tây Ninh tham quan cảnh trí trên núi Điện Bà, còn là lễ hội thuần túy về tín ngưỡng.

Khác với lễ vía Bà Chúa Xứ, lễ vía Bà Đen rất đơn giản. Dù được tổ chức nhiều ngày, nhưng chỉ tập trung vào giữa đêm mùng 5 sang rạng sáng mùng 6. Đó là lễ tắm Bà.

Trước khi diễn lễ mộc dục, trong hang điện thờ cấm cung không cho người không phận sự được vào, chỉ có các ni cô tiến hành lễ tắm tượng và thay khăn áo cho Bà là được hiện diện.

Nước tắm là nước dừa có bông thơm, trong cung mùi trầm hương tỏa ngát. Trước khi lau cốt tượng, các ni cô giăng mùng che kín mới bắt đầu lau chùi bụi bậm trên cốt tượng rồi thay khăn áo cho Bà, khăn áo mũ mão và nước hoa xịt lên tượng Bà đều do các thiện nam tín nữ dâng lên để được Bà ban lộc. Lễ tắm xong, thau nước lau cốt tượng được mọi người xin để uống hoặc xoa bóp nhằm chữa bệnh.

Trong lễ mộc dục các khách hành hương bày mâm lễ ở ngoài sân điện đủ các loại đồ cúng, nhưng tựu trung là hoa quả nhang đèn, nhưng dừa và trầu cau dâng Bà là đa số.

Lễ tắm Bà dứt là lúc mọi người bắt đầu được vào Điện viếng Bà, tiếng cầu xin vang dội hòa cùng tiếng xin xăm xin keo không dứt. Ngoài sân trước chùa Linh Sơn có sân khấu hát tuồng phục vụ bá tánh thập phương. Tạo cho ngày vía Bà thêm phần hào hứng đến với khách hành hương.

Nguyễn Việt

(trích trong cuốn “Phong tục thờ cúng” của tác giả, đã xuất bản)