Phong tục tang ma (2)

NHỮNG TỤC LỆ

TRONG TANG MA

Kỳ trước chúng tôi có bài viết về các phong tục tập quán xưa và nay trong tang ma của người Việt chúng ta. Thời gian vừa qua đời đến khi di quan hạ huyệt. Kỳ này là những tục lệ sau khi gia đình có người vừa qua đời :

SAU KHI CHẾT

A/- MỞ CỬA MẢ

Trong ba ngày sau khi mới chôn, gia đình tang gia trở ra mộ làm lễ mở cửa mả, thường thì trong nhà làm lấy, người giàu mời thêm thầy cúng đến dùng con gà trắng hay con chó đen, để cúng thổ thần (ngày trước họ giết gà chó ngay tại đấy, lấy máu mà tưới lên quanh ngôi mộ, nay chỉ còn thả cho gà, chó tự chạy như để phóng thích, phóng sinh. Các thầy cúng dùng lươn, cá chép, ốc (tam sên), một cây mía lao cùng nhiều loại giấy tiền vàng bạc để cúng và yểm bùa, cho rằng làm như thế thì trừ được hung thần không cho quậy phá hồn người chết, sau để hồn về nơi thờ cúng trong nhà.

Sau khi làm lễ mở cửa mả xong, các con cái bắt đầu dọn mộ hay xây mộ cho thân nhân (trong 49 ngày đầu, tức còn trong lễ thất tuần) tang gia có thể xây mộ mà không cần xem ngày giờ tốt xấu.

B/- CÚNG THẤT TUẦN & CHUNG THẤT

Theo phong tục khi người chết đã chôn cất xong, gia đình phải làm lễ thất tuần (tức làm tuần, trong 7 tuần lễ liền), tính ngày người chết mới tắt thở.

Các con cái chịu tang phải về đầy đủ, mặc lại tang phục và cúng cơm cho người chết, thầy cúng hoặc nhà sư đến tụng niệm (trước đây, có tục người nào lo việc hương hỏa trong gia tộc, hàng ngày phải dâng cơm ngày hai buổi và phải khóc lóc thảm thiết, van xin hồn người chết về dùng cơm).

Cơm cúng cho người chết (mỗi khi cúng cơm) đều là những món chay, nhằm cho người chết được nhẹ nhàng hồn vía, sớm siêu thăng miền cực lạc, có người cho rằng cúng chay là để hồn người chết sớm quy y cửa Phật, nương nhờ cửa Phật mà không về với gia đình (vì gia đình thường ăn mặn, không hợp lẽ tu hành).

Khi cúng đủ 6 tuần, đến tuần thứ 7 gọi là lễ chung thất. Thường lễ chung thất(49 ngày) và lễ tốt khốc 100 ngày, các gia đình tổ chức rất lớn, có mời họ hàng, xóm giềng đến dự.

Trước là cho một số con cái cháu chắt xả tang, vì cho rằng trong 49 ngày qua, hồn người chết đã yên ổn ở các nơi (có ý cho là người chết có 3 hồn, một ở nơi thờ cúng, một ở nơi chôn cất và một ở dưới tuyền đài chờ Diêm vương phán quyết), khi xả tang có thầy cúng hay nhà sư đến làm phép cho người đó.

Sau là gia đình tang gia cảm tạ các khách mời trong thời gian họ đến tống tang, bằng một bửa cơm thịnh soạn.

C/- TỐT KHỐC

Một trăm ngày là tuần tốt khốc, nghĩa là đến ngày này mới thôi khóc. Gia đình cũng mời họ hàng làng xóm đến chứng kiến, cũng có thủ tục xả tang như lễ chung thất. Và phá bỏ bàn vong (linh tọa), di ảnh được đưa lên bàn thờ nhưng không được cắm chung một bát nhang cùng với tổ tiên

D/- TIỂU TƯỜNG

Tròn một năm của người chết, gọi là ngày giỗ đầu hay lễ tiểu tường. Bấy giờ con cháu chịu tang (chưa xả tang) được bỏ tang phục, gậy mũ v.v… các lễ tục vẫn giống như khi làm lễ chung thất và lễ tốt khốc.

E/- ĐẠI TƯỜNG & ĐÀM TẾ

Sau hai năm giỗ tất gọi là đại tường, nếu tính theo năm âm lịch là để tang đã đủ ba năm. Tuy nhiên ngày đại tường này cũng chưa phải đã hết tang chế cho tang gia, mà sau đó còn một lễ khác có tên gọi lễ đàm tế.

Lễ này còn được gọi là lễ trừ phục sau 60 ngày (nhưng không nhất thiết phải đúng 2 tháng sau lễ đại tường, có gia đình chọn được ngày tốt, để tổ chức lễ đàm tế) Trong ngày lễ tất cả những gì còn gợi lại tang ma đều được đốt bỏ, mọi người được xả tang và thôi đau buồn nữa.

Trong những lễ tục tang ma nói trên, những gia đình khá giả trong những ngày lễ tiểu tường, đại tường họ thường đốt vàng mả, nào là nhà, xe,  áo mão, rương hòm… có người dâng hình nhân làm người hầu hạ v.v… cho người chết.

Nhiều gia đình, sau khi làm lễ chung thất hay tốt khốc, họ xin dẫn vong linh về chùa để tu cho sớm được siêu thăng tịnh độ, nên những lễ tốt khốc, tiểu tường, đại tường, đàm tế đều tổ chức ở chùa, đốt vàng mả cũng tại đó. Còn đãi ăn thì tùy gia đình tang gia, mời ăn chay hoặc mặn mà chọn địa điểm.

oOo

Với các lễ tục tang ma như thế, và với những hủ tục mê tín trong ma chay, chúng ta thấy quá nhiều rườm rà và bi thiết. Ở các nước có nền văn minh tiên tiến, họ không quàng xác tại nhà quá 48 giờ, và không có cảnh đưa ma nào là hình tượng phước thần, ác thần, thể kỳ, minh tinh, bàn hương rồi các đội kèn giải, kèn tây đi dài mấy trăm mét, đó là chưa kể đến sự phô trương với nào là người hoặc xe thô sơ chở từng vòng hoa tươi hay vòng cườm của người đưa phúng viếng, kéo thành hàng dài lê thê.

Hiện nay cũng đã ít thấy xuất hiện người khóc mướn, có họ bạn sẽ thấy một tang gia quá hiếu đạo với người đã chết, họ lăn đường khóc than thảm thiết lắm, nhưng chính những người đang chịu tang có lòng hiếu đạo thật không, báo hiếu thật không, không ai biết được.

Trong một gia đình còn nhiều mê tín, người ta có tục đi tìm đất để chôn, đất phải kết phát tài lộc mới gọi là đắc địa, rồi xem ngày chọn giờ mới động quan, di quan có khi quàng xác tại nhà đến năm bảy ngày, hàng xóm láng giềng phiền lòng mà người trong cuộc cũng mệt mỏi và tốn kém.

Chúng ta thấy cần bỏ bớt những lễ tục không đáng phải phô trương, cho người chết được yên ổn mà về với cát bụi.

CẢI TÁNG

Thông thường muốn cải táng một mộ huyệt, ít nhất cũng sau ba năm kể từ ngày chôn cất, bởi khi ấy mùi tử khí cũng không còn ảnh hưởng những người đang quanh đó, và cũng hợp với đạo lý trong xã hội, trong đời sống, tập quán của người dân Việt.

Ngày xưa rất ít người chịu cải táng lại các mộ phần của ông bà cha mẹ, vì sợ động long mạch, phần còn lại có những lý do để cải táng :

– Khi cha mẹ mất, nhà nghèo nên không có tiền lo liệu mua những cổ quan tài tốt, nên đợi ba năm cho cải táng lại, kẻo áo quan cũ xấu hư nát có hại đến di hài.

– Hai là nơi chôn cất có mối kiến, sụp lỡ vì nước ngầm.

– Ba là vì các thầy phong thủy xem lại, thấy phần mộ bị sụp đất, hoặc cây cối trồng trên mộ tự nhiên bị khô héo.

– Còn một lý do, theo mê tín dị đoan, trong nhà có kẻ dâm loạn điên khùng, hoặc bị đau ốm liên miên, bị thị phi, kiện tụng thì cho là đất táng bị động không tốt.

– Lý do thứ tư là những người cầu mong có đường công danh phú quý, nhờ thầy địa lý phong thủy tìm nơi cát địa mà cải táng các mộ người thân. Hay có người ganh tỵ, khi thấy nhà nọ làm ăn khấm khá, liền cho cải táng thân nhân về gần nơi có mộ phần ông bà cha mẹ người đó, để cầu được hưởng dư huệ.

Ngày nay việc cải táng còn nhiều nguyên nhân khách quan khác, như chuyển nghĩa trang ra khỏi thành phố, khu đất được quy hoạch trở thành khu dân cư …

Về mặt chủ quan khi cải táng gặp những điều sau đây thì không nên cải táng nữa :

– Khi đào huyệt mộ thấy có con rắn vàng đang sinh sống, cho là điềm cát tường (Long xà khí vật). Hai là khi mở quan tài thấy có dây tơ hồng quấn quít, thì cho rằng đất kết. Ba là hơi đất chỗ quan tài ấm áp, không có nước, khô ráo hoặc có nước đọng như màu sửa là tốt. Khi gặp những điều trên đây phải đắp lại ngay.

Trước khi cải táng, gia đình người chết phải tổ chức tại nơi thờ phụng một lễ cáo đường. Đến khi động đất cải táng, thêm một lễ báo với thổ thần, thổ địa xin cho được cải táng. Khi thực hiện phần việc gom hài cốt, nhặt lấy xương xếp vào tiểu sành, rẩy nước hoa, lúc hoàn tất phải hàn nắp tiểu sành cho thật kín, không cho ánh sáng lọt vào. Sử dụng tiểu sành có ý đưa hài cốt đi gửi ở chùa, hay đem về nhờ thờ tự, còn đưa đi chôn ở huyệt khác, thì dùng quan quách loại nhỏ, gắn hài cốt như hình người và tẩn liệm thật kỹ như lúc họ vừa mới chết vậy.

Áo quan cũ dù còn tốt nhưng không dùng phải bỏ đi. Một số người ở nông thôn thường đem về làm chuồng heo, bò, trâu, ngựa để các con vật nuôi không bị sâu chân. Một số người khác do mê tín, lấy những mảnh áo quan dùng làm bàn cơ bói toán, hoặc ai đau tức thì lấy nó đốt lên, hay để dưới gầm giường cho hơi bốc lên, cho cơn đau tức được thuyên giảm.

KỴ NHẬT

Khi ông bà cha mẹ chết đi, ngoài con trai trưởng, hay dòng tộc trưởng thờ cúng (tổ tiên), hàng năm cứ đến ngày mất mà làm lễ giỗ, gọi là kỵ nhật.

Theo phong tục, trước ngày giỗ kỵ vào buổi chiều người nhà soạn mâm cúng đơn giản, gọi là bửa tiên thường, hôm giỗ gọi là chính kỵ. Lễ tiên thường là thủ tục gửi lời mời đến người chết hôm sau về nhà nhận lễ cúng kỵ.

Trong ngày chính kỵ, nếu giỗ xa (cụ kỵ ông bà) chỉ mâm xôi, gà luộc, rồi giò chả là đủ; còn giỗ gần (cha mẹ) cũng bằng thứ ấy thêm vài món canh, món xào, món chiên, món kho… Trên bàn thờ có mâm cơm chay, và dù giỗ xa giỗ gần, làm lớn hay nhỏ, nhất nhất phải có chén cơm úp đôi, bên trên để quả trứng gà luộc.

Những gia đình nghèo cũng chỉ cần lưng cơm quả trứng, dâng lên bàn thờ cũng đã chứng tỏ được lòng thành tưởng nhớ đến ngày mất của cha mẹ rồi. Những nhà khá giả lấy ngày kỵ nhật này tổ chức đám tiệc đông đảo, ngoài bà con họ hàng, anh chị em, con cháu, lại mời hàng xóm, thân hữu đến dự. Tuy những đám tiệc như thế cũng không  vượt ngoài sự tưởng niệm, báo hiếu người đã mất, nhưng xét về ý niệm ngày giỗ kỵ lại sai đi.

Ngày giỗ kỵ là một ngày chung thân chi tang, là ngày thương nhớ, tưởng niệm người đã mất, có nên tổ chức thành đám to đám nhỏ ăn uống no say, cười đùa cả buổi ?!

Ở Âu – Mỹ người ta kỷ niệm những ngày giỗ kỵ như thế, bằng hình thức rất giản đơn, nếu có mộ phần, họ đem hoa ra mộ mà cắm, rồi xin một lễ ở nhà thờ hay chùa chiền, xin cầu siêu cho người chết sớm siêu thoát. Ở Á đông, người Nhật, người Hàn Quốc cũng có ảnh hưởng nhiều bởi phong tục tập quán từ người Trung Quốc, nhưng họ cũng chỉ một bó hoa ra mộ, rồi xin cầu siêu ở chùa chiền như người phương tây mà thôi.

ĐỌC THÊM

ĐÁM CƯỚI CHẠY TANG

Khi gia đình đôi nam nữ đã xem ngày chọn giờ tổ chức ngày cưới, bỗng tứ thân phụ mẫu nhà trai hay nhà gái xảy ra tang chế, nhất là bên nhà trai chú rể phải chịu đại tang đúng ba năm, còn xảy ra bên nhà gái cô dâu cũng chịu tang cơ niên một năm.

Có nơi không thể chờ ngày mãn tang, với những lý do chủ quan nhiều hơn là khách quan, cũng như ngoài đời thường có câu “cưới vợ nên cưới liền tay, chớ để lâu ngày có kẻ dèm pha”.

Vì không thể chờ đến ba năm hay một năm tang chế, nhiều gia đình cho làm đám cưới chạy tang. Người xưa gọi đó là “Ưu hỉ trùng phùng” (vui buồn cùng lúc).

Theo phong tục, nếu có người chết trong nhà là ông bà cha mẹ, muốn có đám cưới chạy tang thì chưa cho may thành phục (áo tang), chưa liệm thì chưa ai khóc, hàng xóm có biết nhưng chưa thấy nhập quan chưa ai đến viếng.

Nhà trai hay nhà gái liền mang mâm lễ qua nhà nhau xin ý kiến, nếu được chấp thuận đám cưới sẽ được tiến hành ngay trong ngày hay ngày hôm sau, không cần xem ngày chỉ cần giờ hoàng đạo là được; còn nếu không được chấp nhận thì đành chờ mãn tang hay sau ngày xin xả tang (chỉ có con trai thứ xin xả tang trước ba năm, còn con trai trưởng phải đủ ba năm sau lễ đàm tế).

Lễ cưới cũng có đưa rước dâu, cúng gia tiên hai họ và nhập phòng lấy ngày, lễ vật cũng đơn giản cho đủ hình thức nhưng không thiếu trầu cau và trà rượu. Không đình đám, họ hàng hai bên cũng hạn chế số người dự, thường là trong phạm vi gia đình hai họ và các chú bác cô dì, cùng vài bạn bè thân nhất.

Khi đám cưới hoàn tất xong các nghi lễ, gia đình mới bắt đầu may thành phục và lo chuyện nhập quan cho người chết. Cô dâu chú rể lúc này đã là thành viên trong gia đình, chịu tang như mọi đám tang khác, là nhà trai chịu tang chú rể không được quan hệ xác thịt trước ngày tốt khốc (100 ngày), còn nhà gái chịu tang chỉ sau ngày mở cửa mả hay sau lễ chung thất (49 ngày).

Thông thường khi trong gia đình có ông bà cha mẹ đau bệnh đang chờ chết khó qua khỏi ngày lễ cưới đã định, việc tổ chức đám cưới chạy tang có phần đình đám như những đám cưới khác, chỉ cần xem lại ngày gần nhất để tổ chức.

Khôi Việt

Phong tục tang ma (1)

NHỮNG TỤC LỆ

TRONG MA CHAY

Đời người ai cũng phải đi qua ba giai đoạn từ Ấu – Tráng đến Lão, vì vậy mọi người đều không qua khỏi vòng càn khôn Sinh – Lão – Bênh – Tử. Vẫn như phong tục cưới hỏi, hiện nay nhiều gia đình ít hiểu biết về những phong tục tập quán trong tang ma. Chúng tôi xin có bài viết sau đây :

– Khi còn trẻ con, mọi người sống với gia đình cùng ông bà cha mẹ, lúc thành niên bắt đầu xây dựng sự nghiệp, cưới vợ lấy chồng rồi sinh con đẻ cháu, bỗng thoáng đó đã trở về già có khi vì lão hóa sinh ra bệnh tật, và về lại lòng đất. Những chu kỳ ấy không bao giờ thay đổi. Có chăng người đó được sống thọ đến bao nhiêu tuổi, chứ chưa ai được hưởng sự trường sinh bất tử cả.

Vì thế trong phong tục Á đông nói chung và Việt Nam nói riêng, khi trong gia đình có người thân qua đời, ai cũng buồn thương nhớ, dù người chết có sống đến trăm tuổi đi nữa.

Tuy vậy việc sửa soạn lễ tang theo phong tục phương Đông tuy thấy đơn giản, nhưng lại có rất nhiều lễ tục diễn ra đa số còn tồn tại đến ngày nay.

Sau đây là những tục lệ trong tang ma.

NGƯỜI MỚI QUA ĐỜI

A/- chia gia tài

Nhà nào có người lớn tuổi đang hấp hối, con cháu phải mời gọi các con cái và nhất là cháu đích tôn đến bên nghe di chúc (những nhà giàu có bây giờ, việc để lại di chúc đã được soạn trước đã có công chứng làm bằng, đề phòng sau này nếu xảy ra tranh chấp, tòa án sẽ chiếu theo di chúc phân xử).

Nếu người sắp chết không để lại di chúc chỉ nghe qua truyền khẩu làm lời nói bất thành văn tự, sẽ tùy mọi người trong gia đình bàn thảo, nếu có tranh chấp vụ việc sẽ đưa ra tòa án xử theo luật hôn nhân gia đình quyền thừa kế mà phân chia tài sản. Con cái dù trong giá thú, hay ngoài giá thú (nếu chứng minh được nguồn gốc huyết thống sẽ được chia đều). Trong các phiên tòa xử các vụ án dân sự như trên, những người con ngoài giá thú tức không có tên cha, đều không được luật pháp công nhận, nếu có tên cha nhưng người mẹ không có hôn thú, người con vẫn được tòa án xử cho nhận một phần gia tài).

Nếu còn rắc rối hơn, ngày nay khoa học có phương pháp tìm ra “gien” di truyền làtức ADN, hơn hẳn việc lấy máu thử như những năm của thế kỷ XX trước đây.

B/- chuẩn bị tang lễ

Nếu người chết theo đạo Thiên chúa đã có tên Thánh, còn người bên lương (không theo đạo, đạo thờ cha mẹ, hoặc thiên về Phật giáo) gia đình sẽ mời các vị Thượng tọa, Đại đức đến đặt cho một pháp danh (nếu chưa quy y tam bảo).

Tuy nhiên có một số người không xin pháp danh hay tên Thánh, vì họ không theo đạo nào, như trong xã hội chúng ta còn rất nhiều gia đình chỉ biết thờ cúng ông bà là chính.

Người nhà người hấp hối, chuẩn bị nước ấm, trầm hương lau người sạch sẽ, thay đổi áo quần cho người sắp chết cho tươm tất.

Khi tắt thở, liền lấy chiếc đũa để ngang hàm, bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền vào miệng (nhà có tiền sẽ bỏ vào ít vàng, cỡ vài phân, vài ly) gọi là ngậm hàm, ý nói người chết khi xuống địa ngục khi đi qua 18 cửa ngục âm ty, nếu có tiền có vàng sẽ dễ ăn nói (các người xưa có câu trần sao âm vậy).

Con trai trưởng và cháu đích tôn là những người đầu tiên đến vuốt mắt cho người chết, dù người chết đã khép mắt.

Xong mới đưa xác người chết nằm dưới đất ít phút, có nghĩa “người ta sinh ra bởi đất thì khi chết lại trở về với đất”, rồi mới đặt ngay ngắn lên giường chờ giờ tẩn liệm vào áo quan. Trên đầu người chết để một cây đèn dầu, trên người để một nải chuối xanh, một con dao lớn (phòng khi xác chết thành Quỷ nhập tràng. Khi xưa người ta cho rằng, xác để nằm như thế, nếu có con mèo mun đen nhảy qua, người chết sẽ ngồi bật dậy, hay đứng cả người thành quỷ rượt theo người sống, để con dao như thế cho ma quỷ đừng đến quấy phá. Nhưng thật ra, để con dao trên xác người chết, theo khoa học chỉ nhằm cho khí âm còn tích tụ trong xác chết được tiêu tan; ngày nay ngoài việc để dao, người ta còn đốt than để dưới gầm giường là vậy). Đắp mặt bằng một cái khăn (trước đây, người con trai trưởng sẽ cầm cái áo người chết thường mặc trèo lên mái nhà hú vía ba tiếng, có ý mong cho người chết sống lại, rồi cũng chiếc áo đó phủ lên mặt xác chết).

Xong phần này, trong gia đình mới phân công mỗi người lo liệu mỗi việc, người đến chùa thỉnh thầy đến tụng niệm, xem ngày giờ chết, giờ tẩn liệm, ngày giờ động quan, hạ huyệt. Người lo áo quan xe đòn, đội kèn trống tây ta, xe đưa rước thân bằng quyến thuộc hàng xóm đến nơi an nghỉ cuối cùng. Người lo chỗ chôn cất (nếu tin phong thủy, đi tìm thầy địa lý xem lại hướng đất thế đất v.v..), người lo liệu xin giấy khai tử, người lo sắp đặt trong nhà đón khách đến phúng viếng chia buồn v.v….

Đây là những thủ tục mà bất cứ gia đình nào lo ma chay nào cũng phải thực hiện, và tùy theo hoàn cảnh gia đình mà lo liệu. Hiện nay nhiều lễ tang thực hành tiết kiệm, tránh khoa trương và không kéo dài tang lễ nhiều ngày. Trước để tránh phiền hà hàng xóm, mặc dù nhà có ma chay không ai chấp nê, nhưng để xác lâu ngày sẽ đâm thối rửa, lây lan bệnh truyền nhiễm; sau là kèn trống inh ỏi sẽ làm hàng xóm mất ngủ, cũng là sự tế nhị trong một cộng đồng dân cư.

C/- tẩn liệm nhập quan

Nhà có tiền dùng nhiều vải vóc lụa là, nhà bình thường chỉ dùng vải thô trắng (vải tám, calicot, katé) may làm đại liệm, tiểu liệm (đại liệm là một mảnh dọc, năm mảnh ngang – Tiểu liệm một mảnh dọc, ba mảnh ngang), dùng tẩn liệm khi xác nhập quan, gia đình bỏ vào trong áo quan (quan tài).

Khi xưa người Việt thường thấy các thầy cúng hay thầy pháp bỏ vào trong áo quan một mảnh ván có đục hình bảy ngôi sao tức “Bắc đẩu thất tinh”. Trước khi nhập quan, xác chết được nhà đòn (trại hòm) mặc thêm một chiếc áo (tùy theo tuổi vừa chết : hưởng dương hay hưởng thọ, hưởng dương là dưới tuổi 60 áo màu xanh, còn hưởng thọ trên 60 áo màu đỏ, người có chân tu, như tu tại gia, người cách ly gia đình đi tu mặc áo màu vàng. Đây là tục cho lũ quỷ sứ dưới âm phủ biết tuổi người chết).

Trước khi nhập quan, phải chọn giờ tránh tuổi cho người sống, rồi dùng bùa nọ bùa kia dán ở trong hoặc ngoài áo quan, người ta tin rằng có người chết vào giờ trùng nhật, trùng tháng, trùng năm. Có người chết không hợp tuổi nên con cái sẽ khó làm ăn phát huy nghề nghiệp v.v.. có địa phương không dán bùa mà lại bỏ trong áo quan những cổ bài, hay quyển lịch – thời phong kiến, người ta đi tìm những cuốn lịch có dấu ấn, tức lịch được công nhận (ngày nay là lịch được dán tem chăng ?!) – hoặc tàu lá gồi để yểm người chết không cho trở về nhà quậy phá người sống, hoặc trấn áp ma quỷ theo cách mê tín như đã trình bày.

Khi tẩn liệm nhập quan, những người con hay bà con gần xa khắc tuổi người chết, sẽ được khuyên không nên xuất hiện cho đến khi nắp quan được khép kín. Nắp quan phải được đóng đinh và niêm kỹ bằng chất keo tốt cho xác chết dù có thối rửa cũng không tràn nước ra ngoài, sau đó áo quan được đặt chính giữa nhà.

D/- thành phục

Tẩn liệm xong. Thầy cúng hoặc các sa di đến đọc kinh kệ cho người chết, và bắt đầu làm lễ thành phục.

Bàn thờ bày trước linh cửu gọi là linh tọa (trước đây còn có tục đặt hồn bạch, là lấy khúc vải lụa đắp vào người chết trước khi tẩn liệm, khi nhập quan, lấy lại kết thành hình nhân, nay đã thay bằng hình ảnh của người chết), thầy cúng sẽ kêu tên những người chịu tang từ lớn xuống nhỏ mà phát tang phục. Lúc này, ai muốn khóc mới được khóc (ở thôn quê, nếu nhà neo đơn ít người, các phú hộ còn mướn người đến khóc thuê)

Tang phục chia ra nhiều loại :

– Con trai, con gái, con dâu, cháu đích tôn mặc áo đội khăn, chống gậy. Con gái xỏa tóc, con trai không được cạo râu trong những ngày còn để áo quan trong nhà, chứng tỏ nổi bi thương, có nơi còn không cho tắm rửa !?

– Con rể, hay họ hàng gần chỉ chít khăn trắng trên đầu.

– Cháu nội, khăn có chấm đỏ.

– Cháu ngoại, khăn trắng có chấm vàng.

– Còn các chắt, chít lại quấn khăn màu vàng.

E/- nghi thức tang gia

Sau lễ thành phục, đến cúng cơm cho người chết. Lễ này được gọi “Chiêu tịch diện”, ám chỉ hàng ngày phải có 3 buổi cúng cơm, vào buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Trước đây vào buổi sáng, con cái phải bưng chậu nước, khăn mặt, bàn chải răng, thức ăn điểm tâm từ giường người chết thường nằm ra đến chỗ linh tọa, khi đi phải khóc to, tới nơi dâng lên linh tọa mà cúng. Buổi chiều sau buổi cúng cơm mới đem vào. Tục này hiện nay không còn, vì thấy quá cầu kỳ, và tại linh tọa lại thấy không được trang nghiêm cho lắm.

Trong cúng cơm, các người con trai có thể thay nhau, dâng trà, rượu, cơm thịt trước linh tọa, có khi là cháu đích tôn (thông thường là cơm chay).

Trong nhà đám, như chúng tôi trình bày, nhiều gia đình thường mời đội kèn đến đánh trống, thổi sáo, kéo đàn gọi là “Đội kèn giải”, khi có người đến phúng viếng chia buồn, sẽ nổi nhạc ò í e, có người cho tiền nhờ họ khóc mướn, đội kèn giải sẽ vừa trống kèn, vừa ngân nga đọc kể lể theo tâm sự người đã thuê giải bày, giọng kể lể cũng mang vần điệu lúc lên bổng xuống trầm thể hiện sự thê lương nghe thật nảo lòng, ai nghe cũng rưng rưng xúc động. Nhà đám nào không có đội kèn giải, xem như  hiu quạnh lắm.

Những họ hàng người miền Bắc xưa và nay, có hội tương tế, hội đồng hương (gọi là người trong họ, trong làng), nếu người chết hưởng thọ, bên hội sẽ cử từ 10 người có tuổi cao trở lên đến tế lễ chia buồn. Họ mặc trang phục trang trọng, áo dài khăn đóng màu trắng, phường nhạc nổi trống kèn như đang diễn một vở tuồng Tàu. Lễ tế ở đây có nghĩa, người trong họ hay trong làng, dâng rượu, trà, bánh, hoa quả lên linh tọa (như lúc cúng cơm), và đọc điếu văn chia buồn với người chết cùng tang gia, đọc xong mới đốt đi như gửi thư cho người chết vậy.

Ở miền Nam có học trò lễ, chỉ mang sắc thái văn hóa, vì tang gia mời đến làm lễ tế, chứ những học trò lễ thường không có họ hàng, đôi khi còn không phải người làng hàng xóm với người chết. Có học trò lễ đến tế, ai cũng biết nhà đó thuộc loại có dư giả tiền bạc, muốn thực hiện một ma chay trang trọng.

Việc khách khứa, họ hàng gần xa, hàng xóm láng giềng, bạn bè thân hữu đến phúng viếng chia buồn, tùy theo khách mà các con trai con gái phải ở hai bên áo quan lạy tạ, khách lạy ba lạy phải đáp một lạy, khách lạy bốn lạy thì đáp hai lạy, khách của người nào người đó lạy tạ, nếu ít tuổi hơn kêu con cháu ra tạ lại. Thông thường có tục nếu khách đưa ma thì lạy ba lạy, còn không đưa ma thì lạy bốn lạy, trước quan tài người chết.

F/- động quan, di quan

Trước ngày động quan, di quan nhiều gia đình tổ chức đêm không ngủ, các con cái, dâu rễ tề tựu bên áo quan suốt đêm, có ý nghĩa tưởng nhớ người chết, phường nhạc bát âm kèn giải cũng đôi khi ở lại khóc mướn cho tang gia.

Ngày xưa trong đêm không ngủ, tang gia còn làm lễ chuyển cửu, tức xoay quan tài một vòng, nếu nhà chật hẹp thì người ta rước hồn bạch (nay là di ảnh) đi quanh nhà, cốt ý cho hồn ma không nhớ đường về nhà nữa.

Ngày động quan, di quan còn gọi “ngày phát dẫn”. Cha mất, con trai chống gậy tre, mẹ mất chống gậy vông, nếu con trưởng không có nhà thì cháu đích tôn, nếu cả hai không có mới đến con trai thứ. Con trai con gái không có mặt trong những ngày tang gia, áo mủ khăn tang  được xếp  lên nóc áo quan.

Trong ngày di quan, nhà đòn rất quan trọng, bởi họ là vai chính trong lễ động quan, di quan, nên tang gia rất coi trọng họ. Cho nên trước khi động quan, tang gia phải có những tờ bạc lớn dằn dưới ly rượu đầy, trước nóc áo quan nhằm tưởng thưởng cho các đạo tỳ khi khiêng quan tài mà không bị đổ rượu, ý muốn để người chết không bị động mà ra đi suôn sẻ. Vùng Nam Bộ nhiều nhà đòn còn tô chức “hát đưa linh”, một nét văn hóa khá độc đáo.

Hát đưa linh tức lúc động quan, di quan, gồm một nhân quan chỉ đạo, và từ 8 đến 10 đạo tỳ (người khiêng áo quan), họ vừa thắp nhang trước linh cửu người chết xong, nhân quan cùng đạo tỳ liền múa may theo điệu hát bộ, và hát hò bằng câu chuyện “chàng Lia cướp quan tài”. Vừa hát vừa động quan rồi đến di quan.

Trên đường đi các đạo tỳ vẫn theo sự chủ đạo của nhân quan, vừa uyển chuyển nhịp nhàng vừa linh động khiêng áo quan theo nhịp của bài ca, bên cạnh là tiếng trống kèn của đội kèn giải đánh theo bài hát, nghe rất tưng bừng (nhưng đây là cách làm các đạo tỳ đang khiêng áo quan, quên đi nổi mệt nhọc).

Thông thường khi di quan, nhà đòn phải có 2 thần tướng làm bằng giấy, hình dung dữ tợn dẫn đường (nhiều người cho là hình tượng của ác thần và thiện thần), thứ đến là thể kỳ có 2 người khiêng, một bức hoành vải trắng đề 4 chữ (như cha mất là câu “Hổ sơn vân ám”, mẹ mất thì ghi “Di lĩnh vận mê” v.v..), và 2 bên treo lồng đèn, ghi tước hiệu và tước danh người chết.

Thứ ba trong việc đưa đám là tấm minh tinh. Tấm minh tinh làm bằng vải đỏ có ghi chức tước, họ tên người chết treo vào một cành tre, hoặc tháp trụ để vào bàn cho mấy người khiêng. Bên dưới tấm minh tinh có 4 chữ Qui, Khốc, Linh, Thinh. Đi sau là các thầy cúng hay nhà sư theo tụng niệm.

Sau tấm minh tinh, nhà đòn còn có bàn hương trên để lư nhang, hai bên cắm đèn cầy, độc bình cắm hoa vạn thọ, và mâm trái ngũ quả, kế đến là thực án bày tam sên hay heo quay bánh trái. Đi trước bàn hương là các con trai người mang di ảnh, người cầm chén cơm chống gậy đi giật lùi đến khi áo quan đưa lên linh xa. Theo sau bàn hương là đội kèn tây, kèn ta.

Rồi đến linh xa (xe đòn) trên để hồn bạch (hay di ảnh); và tang gia nối bước theo sau, kế đến thân bằng quyến thuộc, thân hữu của tang gia đi đưa tiễn.

Trước khi động quan, nhà đám phải cúng tam sên ở giữa đường đi, như ý xin đường còn tang gia cúng thổ thần như bẩm báo người chết tên gì, tuổi gì không còn ở trong ngôi nhà này nữa (ý như xóa tên ra khỏi hộ khẩu, nếu thành ma trở về nhà thì các thổ thần sẽ không cho vào nhà).

Khi động quan, nhóm đạo tỳ có người đại diện thắp nhang và đèn khấn bái trước quan tài, các đạo tỳ khác phải quỳ lạy cung kính theo lệnh của đại diện, khấn bái xong mới động quan (xem phần hát “đưa linh” ở trên).

Khi quan tài được khiêng ra khỏi cửa, trong nhà phải đập bể một vài món đồ dùng (như nồi niêu v.v… làm bằng đất) để tạo ra tiếng nổ lớn, cho tà ma sợ mà đi ra hết khỏi nhà.

Các cô con gái báo hiếu cha mẹ thì nằm lăn đường, tức nằm ngang đường mà lăn vài ba mươi thước, các đạo tỳ khi khiêng áo quan, sẽ bước qua người.

Khi đi đường đến nghĩa trang, tang gia rải giấy tiền vàng bạc, nhằm hối lộ cho đám tà ma quỷ dữ, kẻo quan tài nặng nề khó đi.

Đó là những bước của di quan và động quan.

G/- hạ huyệt

Khi nhà đòn đưa quan tài đến nghĩa trang, ở đây nếu có nhà trạm thì đưa áo quan vào, cho bên tang gia quỳ lễ cám ơn, hoặc có phần đọc điếu văn và đáp tạ cũng được diễn tiến tại đây.

Lúc đến giờ tốt, tang gia lại có mâm cúng thổ thần tại nghĩa trang, nếu có thầy địa lý phong thủy sẽ có mặt tại huyệt nhằm phân kim gióng hướng cho đúng, khi đến giờ mới cho đạo tỳ hạ quan.

Khi áo quan đã định vị đúng hướng là phần lấp huyệt. Tang gia và họ hàng, những người đi tống tang (người quen đi đưa tiễn) sẽ đi quanh huyệt mà ném từng hòn đất xuống lòng huyệt. Khi hạ huyệt xong, người con trai trưởng sẽ quỳ lạy những người đưa tiễn 4 lạy, có nghĩa cảm tạ người đến tiễn vong linh và bắt đầu lấy đạo thờ người chết để tang.

Trong quá trình đưa ma, con cái lúc nào cũng phải khóc than.

H/- ngu tế

An táng xong, cả tang gia trở về nhà lại tế, người xưa gọi là “Ngu tế” (ngày chôn là sơ ngu, ngày thứ hai là tái ngu, và ngày thứ ba là tam ngu). Ngu có nghĩa là yên. Vì người chết hồn phách chưa yên nghỉ nơi nào, cho nên tế 3 lần để hồn phách người chết được yên ổn. Nay tục này cũng ít thấy gia đình nào còn thực hiện.

(Còn một kỳ nữa)

Phong tục cưới hỏi

TỤC CƯỚI HỎI

XƯA VÀ NAY

– Thiên Việt

Cuối năm và đầu năm là mùa cưới hỏi của các gia đình người Việt  chúng ta. Đồng thời nhiều gia đình có con cái gả cưới đã vào thế hệ thứ ba (tức sau trào lưu phong kiến), rất ít người đã hiểu hết các phong tục cưới hỏi xưa và nay. Chúng tôi xin viết bài này đầu năm mở đầu cho một năm mới Canh Dần đã đến, nhằm giúp thêm phần để các bạn tham khảo.

Theo phong tục thì dù là trai mười sáu hay gái mười ba, hay cả hai đều là những thanh niên thanh nữ khoẻ mạnh, đến tuổi lấy vợ gả chồng, nhiều gia đình nền nếp vẫn theo các những tục lệ :

A/- MAI MỐI VÀ ĐÍNH HÔN.

Khi đôi trai gái đến độ tuổi cưới vợ lấy chồng, nhất là nhà trai phải chủ động mọi sự. Khi con trai đã ưng ý một cô gái nào, nếu cả hai người không quen biết nhau, chưa có dịp tiếp xúc với nhau; nhà trai phải tìm người làm mai mối qua nhà gái giạm chuyện hỏi trước, nếu chuyện của người mai mối trót lọt, nhà trai mới qua nhà gái đưa chuyện xin hỏi cưới ra bàn.

Nếu cả hai nam nữ đã quen nhau từ trước, có thể không nhờ đến người làm mai nữa, mà chàng trai đặt thẳng vấn đề với nhà gái, nếu được sự ưng thuận, anh ta sẽ hướng dẫn gia đình mình sang nói chuyện. Đó là chuyện ngày nay.

Còn ngày xưa, dù đã quen hay không quen đều phải có người mai mối đi sang nhà gái giạm chuyện. Trách nhiệm của người làm mai thấy vậy nhưng thật nặng nề, phải tìm hiểu bên nhà gái, gia đình cô gái có đồng ý gả không. Phải nắm rõ cô dâu chú rể có hợp tuổi với nhau không (đi xem thầy), gia đình hai bên môn đăng hộ đối như thế nào (gia cảnh, địa vị trong xã hội), cả hai người có bệnh tật gì không (lấy vợ xem tông, lấy chồng chọn giống), và việc thách cưới như thế nào… là những nhiệm vụ của người làm mai.

Nếu những việc nói trên đều ổn, nhà trai mới xem ngày qua nhà gái cùng với trầu cau, trà rượu tượng trưng để giạm hỏi. Hai bên thông gia cùng nói chuyện ấn định ngày hỏi, ngày cưới cho hai trẻ. Trong ngày này nhà gái sẽ đặt vấn đề thách cưới với nhà trai, nếu bằng lòng hai bên mới tính đến ngày đính hôn (lễ ăn hỏi) và lễ cưới.

Tục lệ thời xưa, dù hai gia đình thân nhau, nhưng khi nhà trai đến giạm hỏi, nhà gái sẽ thách cưới bằng số lượng lễ hỏi thật lớn, như cau cả trăm buồng, vài tạ gạo nếp, vài trăm bánh cốm, bánh xu-xê, cộng với tiền vàng… để làm giá cho con gái thuộc loại tam tòng tứ đức, có ăn học, còn trinh nguyên, gia đình sui gia có chức có quyền v.v… để nhà trai bàn bạc.

Nếu nhà gái lấy lễ hỏi quá nặng thì xin bớt ít nhiều, nếu nhà gái không đồng ý việc tiến hành lễ đính hôn phải hoãn; muốn đôi trai gái đi đến hôn nhân, nhà trai lại nhờ mai mối sang nói lại để xin ngày giạm hỏi khác.

Với tục thách cưới này, nhiều gia đình nhà trai bất đắc dĩ phải lo liệu đủ sính lễ do nhà gái đưa ra, nhưng khi cô dâu về nhà chồng là khổ với mẹ chồng, có khi hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.

Sau ngày giạm hỏi, chú rể tương lai mới được phép qua nhà gái nói chuyện tự do với cô dâu.

Trước đây, sau ngày giạm hỏi chú rể còn phải ở rể như con cái trong gia đình cô dâu, ông bà sui sai gì phải làm cật lực, trong thời gian ở rể nhà gái có tiệc tùng giỗ kỵ, nhà trai phải đem lễ vật qua gọi là góp tiệc hay góp giỗ. Thời gian ở rể nếu cha mẹ cô dâu không bằng lòng chàng rể, họ có quyền từ hôn.

Khi làm lễ đính hôn, bên nhà trai bê đủ mâm quả gồm trầu cau, bánh mứt, rượu thịt đến nhà gái để lễ gia tiên, sau đó nhà trai trao tượng trưng cho cô dâu một ít trang sức bằng vàng y (thường là nhẫn đính ước, dây chuyền – người Nam bộ thường đi bằng vòng kiềng – lắc vàng v.v…) theo số lượng nhà gái đã đưa ra.

Ngày lễ đính hôn rất quan trọng, vì nhà gái sẽ xem nhà trai có giữ tròn lời hứa khi họ thách cưới hay không, như số lượng cau bao nhiêu buồng, bánh mứt bao nhiêu hộp, tiền trao nhà gái bày tiệc đãi họ hàng (nhóm họ) trước khi cô dâu về nhà chồng …

Cũng trong ngày lễ ăn hỏi, nhà trai mới bày tỏ ngày xin được rước dâu (lễ cưới) trước họ hàng nhà gái, nếu có điều gì trục trặc bên nhà gái sẽ nêu ra trong buổi lễ để hai bên dàn xếp (mỗi họ đều cử người biết ăn nói để đối đáp cùng nhau, vì không thể ăn nói luông tuồng mà họ bên này có thành kiến với họ bên kia).

B/- LỄ CƯỚI

Sau khi định được ngày cưới, hai bên nhà trai nhà gái bắt đầu sửa soạn tiệc tùng khoản đãi họ hàng, làng xóm láng giềng và bạn bè thân hữu.

– Trước ngày đưa dâu một ngày, bên nhà gái tổ chức nhóm họ (cũng là đãi tiệc cưới), như để tuyên bố trước họ hàng, làng xóm con gái mình sẽ đi làm dâu cho họ khác, và như con mình đi lấy chồng có cưới hỏi đàng hoàng, để trong họ ngoài làng đều biết, không có lời dị nghị.

Trong ngày nhóm họ bên nhà gái, chú rể cũng có mặt để ra mắt họ hàng bên cô dâu (vì ngày đưa dâu, bên nhà gái đi rất hạn chế, do hai bên thỏa thuận số người đưa dâu qua nhà trai).

1/- Đón dâu

– Ngày hôm sau mới chính thức là lễ cưới, bên nhà trai sang đón dâu, họ đã chọn ngày xem giờ qua nhà gái, xem giờ rước dâu về nhà cúng gia tiên v.v..

Đám cưới vùng sông nước

Nhà trai bưng qua12 mâm quả (trước đây còn dùng mâm đồng, nay các dịch vụ làm thành hộp tròn có nắp và khăn đỏ đậy kín), gồm trà rượu, trầu cau, xôi gà, bánh mứt một số tượng trưng, cùng mâm quả đựng nữ trang như vòng vàng, nhẫn xuyến, để đón dâu.

Khi đến cổng, bên nhà gái có người đứng ra đại diện (không phải cha mẹ cô dâu) đón nhà trai tại đây, khi đúng giờ người này mới mời nhà trai đi vào nhà.

Hai bên sui gia đều có người đại diện ăn nói, đối đáp với nhau. Đa số bên nhà trai sẽ chọn người biết ăn nói lưu loát, biết rành tục lệ cưới hỏi, tính hiền lành, đông con nhiều cháu cùng cha mẹ chú rể sang đón dâu.

Khi câu chuyện mở đầu cho buổi đón dâu đã xong, nhà gái mới gọi cô dâu ra trước bàn thờ tổ tiên và tổ chức nhận lễ, mở khăn nắp các mâm quả.

Bên nhà trai sẽ giao từng mâm, đến mâm nữ trang, mẹ chú rể sẽ đeo vào cho con dâu, rồi nhà gái sẽ đáp lại bằng những của hồi môn (các vật cho cô dâu đem về nhà chồng, thường là nữ trang và tiền – tiền mừng thu được trong ngày nhóm họ, cộng thêm tiền riêng của cha mẹ nếu có – để cô dâu phòng khi hoạn nạn), việc trao nữ trang và của hồi môn được thực hiện trước sự chứng kiến người của hai họ, nhằm chứng tỏ hai bên sui gia đều môn đăng hộ đối, hoặc quan tâm đến dâu rể của mình.

2/- Lễ tơ hồng

Xong phần nghi lễ ấy, cha mẹ cô dâu lạy trước bàn thờ tổ tiên 3 lạy, tiếp đó cô dâu và chú rể sẽ ra đứng trước bàn thờ, đeo nhẫn cưới cho nhau rồi thắp ba cây nhang mà lạy trời đất một lạy; trước đây một lạy trời đất được gọi là làm lễ tơ hồng.

Tục lễ tơ hồng có điển tích như sau : Do ngày xưa bên Trung Hoa có người tên Vi Cố, một ngày đi ngắm trăng gặp một ông già đang se các sợi dây màu đỏ dưới ánh trăng, Vi Cố lấy làm lạ liền hỏi thăm, ông lão trả lời ta là Nguyệt lão coi việc se duyên cho các đôi vợ chồng ở trần gian, ta đã buộc sợi dây này vào chân người nào, thì dù thế nào họ cũng phải lấy nhau.

Vì thế chúng ta cho việc cưới vợ lấy chồng là do Nguyệt lão định trước, nên khi thành thân phải lạy tạ ơn ông ấy, và cầu xin Nguyệt lão phù hộ cho vợ chồng ăn ở với nhau được trăm năm hạnh phúc. Khi lễ trời đất xong, cô dâu chú rể lạy đến gia tiên nhà gái một lạy, lạy cha mẹ vợ một lạy như từ biệt và báo đáp công ơn sinh thành.

Từ giờ phút này xem như cô dâu đã theo về nhà chồng. Nhà gái sẽ lại quả, tức các mâm quả bên nhà trai vừa đưa qua sẽ để lại mỗi thứ một ít trong mâm, trao lại bên nhà trai đem về.

3/- Rước dâu

Việc đưa đón dâu tiếp tục (ở miền Bắc khi xưa mẹ cô dâu không được đưa tiễn con gái về nhà chồng), một số đại diện được nhà trai mời qua dự lễ cưới.

Việc rước dâu theo phong tục cũ rất quan trọng, vì bên nhà trai đã xem giờ hoàng đạo mới cho cô dâu bước vào nhà, nên giờ giấc việc đón rước dâu được nhà trai tính toán rất chu đáo để không bị sai lệch.

Khi rước dâu về đến cửa, nhà trai sẽ tạo không khí vui vẻ (trước đây được đốt pháo, nhưng nay việc này đã bị cấm, nên dùng hàng trăm quả bong bóng để chích cho có tiếng nổ dòn tan như tiếng pháo), bấy giờ mẹ chú rể mới nắm tay cô dâu đưa vào nhà.

Đám cưới ngày xưa

Thủ tục đầu tiên, cả hai bên sui gia nhắn nhủ đôi vợ chồng mới cưới, việc cô dâu phải giữ tam tòng tứ đức, hạnh phúc gia đình, sinh con đẻ cái v.v.. rồi cha mẹ chồng và đôi tân lang tân giai nhân bước đến bàn thờ gia tiên, theo thứ tự cũng thắp nhang lễ ba lạy, rồi cả hai quay sang cha mẹ chú rể lạy một lạy.

Đến phần bà con chú bác, các anh chị em của chú rể đến chúc mừng đôi vợ chồng mới và sau lời chúc, họ trao bao đỏ lì xì như tỏ ý giúp vốn cho đôi vợ chồng trẻ có vốn xây dựng sự nghiệp trong tương lai.

Hai bên sui gia mới vào tiệc, xem như phần nghi lễ đón rước dâu hoàn tất.

Nhiều đám cưới ngày nay hai bên gia đình tổ chức lễ cưới đơn giản hơn, tức đồng chiêu đãi tại một nhà hàng. Bên nhà gái không mở tiệc nhóm họ nữa, mà trong ngày cô dâu về nhà chồng các người trong họ hàng, làng xóm và thân hữu đến thẳng nhà hàng để chúc mừng.

Trước đây có nhiều tục lệ trong ngày cưới như : khi rước dâu, cô dâu đi đường phải ăn mặc thật đẹp, thật diêm dúa, và theo tục lệ khi đi đường phải trùm khăn kín mặt, có người dìu trong mỗi bước đi. Cũng trong tục xưa, cô dâu khi đi đường phải có vài cây kim cài vào áo choàng, để ai độc mồm độc miệng thì có kim làm phép quyền biến quăng đi trấn áp.

Có nhà trai khi đón dâu về nhà, bắt cô dâu phải bước qua bếp lò đang rực lửa cũng là ý đó, có người nói là tẩy rửa những cái xui xẻo từ trước của cô dâu. Những bà mẹ vợ lại dặn con khi về nhà chồng, khi vào phòng, bất cứ bằng giá nào cũng phải đạp bóng của chồng, cốt để sau này chồng phải sợ vợ mà không dám hiếp đáp. Ngược lại bên nhà trai cũng dạy chú rể phải đạp bóng cô dâu trước, hoặc đi vào phòng trước và dạy dỗ cô dâu một điều giáo huấn nào đó, để được làm “chồng chúa vợ tôi”.

Một tục lệ khác không mang tính mê tín, đây là một tục vui, khi nhà trai qua đón dâu, các bạn cô dâu không cho chú rể vào nhà, họ đứng thành hàng ngang hoặc kéo dây ngáng đường đi, miệng đòi tiền lì xì, khi nào chú rể chịu điều kiện mới được vào. Lúc rước dâu, họ cũng giăng dây cản lối đòi bao lì xì lần nữa mới chịu buông dây cho cô dâu chú rể đi qua.

Tục giăng dây này có từ lâu, theo điển tích vào đời vua Huyền Tôn, có người tên Đường Thiệu dâng biểu lên vua tâu rằng :

– Ngày người ta đón dâu, những kẻ hèn hạ thường hay lấy xe ngăn đường, đòi được dọn cỗ mời chúng ăn uống. Nhà có tiệc mừng phải chìu lòng, nếu không chúng sẽ ăn nói bậy bạ, gây những việc xui rủi cho đôi vợ chồng mới cưới. Việc này ngày càng phổ biến thịnh hành, chúng còn nằm lăn giữa đường không cho người đưa đón dâu đi qua, làm cho lôi thôi mất thì giờ, nhất là đến giờ hoàng đạo khi đón dâu về, cho nên các gia đình phải cho chúng tiền mở tiệc ăn riêng, vì không thể báo quan bắt tội bọn hạ cấp đó, để lấy sự suôn sẻ cho con cháu sau này.

Nay thời đại văn minh, việc giăng dây cấm cửa vòi vĩnh tiền như ngày xưa không còn nữa, mà các bạn trẻ của cô dâu chú rể chỉ bày ra để cốt vui đùa, nhưng vì đã định giờ Hoàng đạo nên vui vẻ đưa bao lì xì để tranh thủ đi cho kịp.

Tối ngày cưới, chú rể vào phòng với cô dâu, ở đây có chai rượu và cái ly làm lễ hợp cẩn. Chú rể rót đầy ly rượu, mỗi người uống nửa ly rượu hợp cẩn đó, uống xong cô dâu lạy chồng hai lạy, chú rể đáp lại một vái. Nay tục hợp cẩn không còn gia đình nào thực hiện. Ý nghĩa của nó, cốt cho cô dâu không còn e thẹn với đấng phu quân của mình, vì rượu sẽ làm cô dâu dễ say men tình ái.

Có những gia đình phong kiến khi cưới dâu về nhà, họ trải khăn trắng trên giường trong đêm hợp cẩn, nhằm tìm hiểu con dâu có còn trinh nữ hay không. Cho nên ngày xưa, các cô gái chưa chồng rất coi trọng tiết trinh. Người Hoa thì xem trên cánh tay phải của cô dâu có còn dấu “thủ cung sa” không (tục này có từ đời Hán Vũ Đế, để đánh dấu thủ cung sa vào tay các cô gái còn trinh nữ, họ bắt con thằn lằn nuôi với chu sa; khi con vật to lớn đỏ mọng mới đem nướng rồi tán thành bột, dùng để xâm lên cánh tay phải của con mình. Ai đã thất tiết, tức thì dấu thủ cung sa sẽ biến mất đi).

4/- Lễ lại mặt

Dù cô dâu chú rể ở riêng hay ở chung với gia đình, sau ba ngày hai vợ chồng phải có mâm lễ xôi chè đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt.

Tục này cho nhà gái hay, cô dâu có còn trinh tiết khi về nhà chồng hay không, hoặc có lễ phép, phục tùng nhà chồng không. Nhà gái thấy mâm lễ đầy đủ nhận biết con gái của họ được lòng nhà chồng, còn nếu không mâm lễ gồm những vật tượng trưng cho sự xấu xa của cô dâu.

Trên đây nói về những phong tục cưới hỏi mà đến những năm 60 – 70 thế kỷ trước, mới được bỏ bớt một vài tục, cũng như hiện nay với việc thực hiện nếp sống văn hóa mới, nhà nước kêu gọi những hủ tục trong cưới hỏi nên được giảm bớt, tránh phô trương nhằm tiết kiệm nên được tổ chức gọn nhẹ.

oOo

Trong sinh hoạt cộng đồng ngày nay, các lễ cưới cũng không còn rườm rà, người ta chỉ tổ chức các lễ như :

1- Lễ giạm hỏi (có hay không có người mai mối), trong đó không còn việc thách cưới, vì chưa chính thức qua giạm hỏi, hai gia đình đã gặp nhau bàn bạc từ trước.

2- Lễ đính hôn.

3- Lễ cưới : không còn làm lễ tơ hồng, tục giăng dây đòi bao lì xì cũng không còn. Không có nhóm họ tại nhà gái, vì đôi khi hai họ cùng tổ chức đãi tiệc cùng chung một buổi, một nhà hàng.

4- Lại mặt : cũng bãi bỏ, vì thời buổi văn minh, nhiều khi cô dâu chú rể đã tìm hiểu nhau trước mới tiến đến hôn nhân. Nên chăng chỉ vào dịp Tết Nguyên Đán, vợ chồng mới cưới nên đi khắp họ hàng đôi bên vừa để ra mắt vừa chúc tuổi đầu xuân.

Riêng những người theo đạo Thiên chúa, nhất nhất phải có lễ hôn phối tại nhà thờ trước khi tổ chức tiệc cưới (làm bí tích hôn phối). Những người không có đạo (cô dâu hoặc chú rể) có thể chọn lựa một trong hai cách :

1- Theo đạo : phải học giáo lý và các bài kinh cầu nguyện, cùng một khóa giáo lý hôn nhân.

2- Không theo đạo : không học đạo, nhưng phải có lễ cưới được tổ chức tại nhà thờ, trong đạo Thiên chúa gọi là làm phép chuẩn (tức đạo ai người nấy giữ).

Việc này còn do ý kiến từ gia đình hai bên và của cô dâu chú rể đã bàn bạc cùng nhau. Còn các tục lệ cưới hỏi cũng không ngoài những mục đã nêu trên.

Nhân đây chúng tôi xin nói qua về việc hỉ (các lễ mừng, trong đó có cưới hỏi), khi xưa ở các làng mạc miền Bắc, còn có tục nộp cheo. Bây giờ hủ tục này hoàn toàn bị xóa bỏ, nhưng trong các sách vở thường hay nói đến, những người sinh sau 1945 ít biết được lệ nộp cheo là gì. Chúng tôi đưa ra để mọi người tham khảo cho thêm sự hiểu biết về phong tục xưa và nay.

Ngày xưa nhà nào có tiệc ăn mừng như con cái đỗ đạt, đi làm quan, xây nhà hay tổ chức hỏi cưới, đều phải nộp tiền cho làng xã hưởng, được gọi là tiền nộp cheo.

Nếu người cùng làng lấy nhau thì hai gia đình chỉ nộp cheo vài đồng tượng trưng, là nộp cheo nội. Người ngoài làng lấy gái trong làng phải nộp nhiều hơn đến cả trên chục đồng, là nộp cheo ngoại. (Có làng không lấy tiền mà bắt nhà trai nộp bằng hiện vật mà làng cần như gạch, ngói, heo, bò v.v… tương ứng với số tiền cheo ngoại).

Ngoài lệ nộp cheo cho làng, có xóm, có họ tộc cũng đặt nộp cheo hàng xóm, cheo ban tộc, vài đồng làm quỹ tương tế, nếu không nộp, người xóm làng, người trong họ tộc sẽ không công nhận việc cưới hỏi.

Việc nộp cheo nhằm chứng minh việc lấy vợ gả chồng là hợp pháp phân minh, sau này nếu hai vợ chồng có xảy ra hậu sự mới được làng xã, hàng xóm, họ tộc đưa ra phân xử; vì khi đến nộp cheo, làng xã đã xem xét tính hợp pháp của đôi vợ chồng sắp cưới, qua các dạng tra xét :

– Cô dâu có bị ép hôn không chịu lấy chú rể.

– Cô dâu và chú rể có cùng huyết thống hay không (trai bên nội lấy gái bên ngoại phải xa đến ngũ đại mới được lấy nhau), nếu không là trái với luân thường đạo lý.

Thời phong kiến khi vợ chồng lấy nhau đều chưa được lập giấy kết hôn như bây giờ – vì thời ấy chưa có – nên tục nộp cheo như hình thức chứng minh hai người chung sống với nhau hợp pháp mà thôi.

Khi xưa chú rể sau khi nộp cheo được làng xét cho lấy vợ, chú rể chỉ viết một tờ đơn mà nộp cho làng. Sau này vợ chồng ở với nhau không được nữa, muốn bỏ nhau (ly dị) thì phải có cái cớ để đưa ra làng xét :

– Người đàn ông trong gia đình ăn ở phụ bạc, hay đánh đập vợ không lý do chính đáng, gây thương tích nặng nề cho vợ, người vợ được phép bỏ chồng.

– Người đàn bà phạm một tội trong Thất xuất gồm :

1/- Không sinh được con (phạm vào nghĩa Tam tòng : tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). 2/- Dâm loàn (có tình nhân). 3/- Không tôn kính cha mẹ chồng. 4/- Lắm điều (phạm Tứ đức công, ngôn, dung, hạnh). 5/- Trộm căp tài sản nhà chông. 6/- Ghen tuông (cũng phạm vào Tam tòng Tứ đức, vì ngày xưa đàn ông con trai được đa thê, cưới nhiều vợ. Người vợ ghen tuông làm trong nhà có nhiều xáo động mất đi tính diệu hiền của phụ nữ).7/-Có ác tật (các bệnh truyền nhiễm như bị lao, cùi hủi, thần kinh…). Người chồng được phép bỏ vợ.

Đàn bà khi muốn bỏ chồng phải đem trầu cau đến trình làng xã, hàng xóm và họ bên chồng, mới được thôi chồng, sau này mới lấy được chồng khác.

Đàn ông muốn bỏ vợ chỉ cần viết tờ đơn “rầy vợ”. Người vợ phải cầm tờ giấy này đưa trình làng xã, xóm làng mới được ở riêng, sau này mới được lấy người khác .

Khi được làng xã, xóm làng chấp thuận cho họ bỏ nhau, mới xét đến việc chia của cải và con cái (nhưng thời xưa người đàn bà thường chịu thiêt thòi không được hưởng gì. Ra đi với hai bàn tay trăng kê cả con cái của mình còn thơ dại).

Thiên Việt

BÍ ẨN CỦA 12 CON GIÁP

TÍNH CHẤT

12 CON GIÁP

ĐÔNG PHƯƠNG

–  THIÊN VIỆT

Khi nói về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh mọi người, nếu không nhắc đến 12 con giáp quả thật thiếu xót, vì mỗi người trong chúng ta đêu cầm tinh một con vật “thiêng” do trời đất đã định từ khi mới chào đời, và cũng chính một trong 12 con giáp ấy cai quản trái đất và loài người trong một năm, một tháng, một ngày và một giờ âm lịch với những truyền thuyết huyền bí.

Việc sử dụng 12 con giáp làm biểu tượng cho thời gian và tính cách con người, chủ yếu gắn liền với các dân tộc nằm trong ảnh hưởng của triết học Trung Hoa. Trong triết học biện chứng, người Trung Hoa xây dựng các biến đổi của Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái thành Dịch lý, và dùng Thập Can – Thập Nhị Chi để các con vật – 12 con giáp – mang những tính chất khác nhau, đưa vào lịch Can Chi, Tiết Khí hàng năm.

Sau đây một số quan niệm cổ của người Trung Hoa, về tính chất của mỗi con vật “cầm tinh” trong đời sống tâm linh mỗi người :

1. CON CHUỘT (Tý) : vui vẻ, xởi lởi, dễ gần, dễ mến nhưng hay lo vặt, cũng dễ nổi giận. Học thức ít nhưng lại tự tin vào tài năng. Thích làm đẹp, làm sang cho bản thân trong khuôn khổ. Tuổi Chuột hợp với tuổi các con Khỉ, Rồng, Trâu, kỵ các tuổi Rắn, Chó và Heo (Lợn), đặc biệt tối kỵ với tuổi con Ngựa.

2. CON TRÂU (Sửu) : có tính nhẫn nại, cần mẫn, chịu khó, ít lời, không hay khoe khoang nên dễ tranh thủ sự giúp đỡ của người khác. Tính tình nóng nảy nên dễ sinh cục tính. Người tuổi con Trâu lấy chuyện làm ăn là chính, còn tình cảm thuộc hàng thứ yếu nên khó xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hợp với tuổi Chuột hoặc Gà. Không nên lấy tuổi Chó, và kỵ tuổi Heo.

3. CON CỌP – CON HỔ (Dần) : tuổi Cọp thường nhạy cảm, đa tình, có đời sống nội tâm cao nên thường hay do dự. Quả cảm, kiên trì nhưng có vẻ ích kỷ, thiển cận. Có vía dữ ma quỷ cũng tránh, do đó theo quan niệm phương Đông người ta thường cầu mong trong gia đình có người tuổi Cọp. Tuổi này hợp duyên với tuổi con Ngựa và Rồng, khắc tuổi các con Trâu, Rắn, Khỉ.

4. CON MÈO (Mão) : tuổi này thường thành đạt, người nhã nhặn, khiêm nhường, ít giận hờn, hiếu thảo và có giao thiệp rộng, bước vào đời gặp nhiều may mắn. Dễ kinh doanh buôn bán.Tuổi này dễ khóc, dễ cười, chăm học, chăm đọc song lại có ít tài năng đặc biệt. Hợp với tuổi Chó, Dê, Heo, khắc tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi con Rồng.

5. CON RỒNG (Thìn) : khoẻ mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ bị khích bác, kích động, nên khó làm chủ bản thân. Có tính gàn bướng nhưng độ lượng, dễ giàu có và tiếng tăm, tuy nhiên cũng dễ bị lôi kéo vào việc xấu. Tuổi này về già được nhàn nhã. Nên lấy người tuổi con Chuột, Rắn, Khỉ, Gà.Tránh Rồng, Trâu, Chó .

6. CON RẮN (Tỵ) : Khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích phô trương nhưng ích kỷ và keo kiệt. Đa nghi nhưng khi cho tiền ai thì cũng cho rất nhiều. Có tính thích khen nịnh vì tuổi này khá lãng mạn. Hợp với tuổi Trâu, Gà, khắc với tuổi Cọp và Heo.

7. CON NGỰA (Ngọ) : vui tính, nhưng hay ba hoa, mồm mép; bôn ba nhiều nhưng cũng có tiếng tăm và dễ gây cảm tình. Giỏi kinh doanh, giỏi đoán ý đồ của người khác để “lựa lời ăn nói”. Tuổi con Ngựa có nhiều tài nhưng khó tính, cầu toàn trong công việc, coi tình cảm là thứ yếu. Dễ bị lừa trong yêu đương. Hợp các con Cọp, Chó, Dê. Kỵ con Chuột.

8. CON DÊ (Mùi) : nhạy bén, tinh tế trong cảm xúc, cuồng nhiệt nhưng cũng dễ thất vọng, bi quan. Dễ thích nghi với mọi người. Cuộc đời ít gặp may nhưng lại mộ đạo. Đời sống vật chất tạm ổn. Hợp với các con Mèo, Heo, Ngựa, tránh các con Chuột, Chó, Trâu.

9. CON KHỈ (Thân) : thông minh, hiểu biết nhiều, nhưng không để tâm đến công việc. Nhớ thì làm quên thì cho qua, mặc dù khi xử lý công việc lại khá nhanh nhẹn. Dễ hòa nhập, ngoại giao tốt, trí nhớ dai. Đường tình duyên không may mắn. Gặp tuổi con Chuột, Rồng thì tốt, gặp tuổi Heo, Rắn sẽ kém may, gặp con Cọp thì đại họa.

10.  CON GÀ (Dậu) : hay bận rộn lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm nhưng lại dễ bi quan thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn có đầu óc mộng tưởng viển vông, đến kỳ cục. Tiêu pha hoang phí nhưng trực tính. Hợp với các con Trâu, Rắn, Rồng. Tránh các con Gà, Chuột, Chó. Kỵ nhất là con Mèo.

11. CON CHÓ (Tuất) : biểu hiện tập trung mọi phẩm chất tốt của con người. Ngay thẳng, chân thành, biết mình, biết người, có đức tin và có độ tin cậy cao. Đại lượng, không vụ lợi, người tuổi con Chó ít giao du, sống kín đáo, bướng bỉnh và thẳng thắn, giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội. Hợp tuổi các con Chó, Cọp, Mèo, Ngựa, không hợp con Trâu, Gà, kỵ các con Rồng, Dê.

12.  CON HEO  – CON LỢN (Hợi) : kiên định, kiên trì, cuộc đời tuổi con Heo mang tính mục đích rõ rệt. Ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng hy sinh vì bạn. Ít nói nhưng vẫn không biết giữ bí mật. Tuổi con Heo không thích cãi vã. Đường tình duyên không thuận lợi. Hợp các con Mèo, Dê, tránh con Khỉ, đại kỵ con Rắn.

Nguồn gốc phát sinh 12 con giáp

Tuy nhiên nhiều người chưa biết tại sao lại có nguôn gốc 12 con vât như thế ?

Tương truyền thời xa xưa người ta lấy mặt trời làm chuẩn cho một ngày lao động : “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ”. Nhưng gặp ngày trời đầy mây mưa che khuất ánh mặt trời, con người không biết dựa vào đâu để làm việc, vì họ không biết đến giờ giấc.

Có người tên Đại Nhiêu đã sáng tạo ra Thập can (10 can) gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và Thập nhị chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi để tính thời gian, một ngày chia làm 12 giờ (vì một giờ âm lịch gồm 2 tiếng theo dương lịch), và dùng một địa chi biểu thị cho một giờ, lại dùng đến thiên can phối hợp với nó để tính năm như : năm Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần…

Nghe nói thời đó đã có văn tự, Đại Nhiêu liền dùng chữ để diễn tả ý tưởng Can Chi kết hợp thành vòng Lục Thập Hoa Giáp, đồng thời soạn ra bộ lịch coi ngày, giờ, tháng, năm đơn giản.

Nhưng thứ lịch dùng văn tự vừa xuất hiện, trong các bộ tộc rất nhiều người không hiểu ý và không nhớ hết. Hoàng Đế biết việc này liền dùng 12 con vật để làm biểu tượng và chia tên từng năm, hầu cho dân chúng dễ hiểu, dễ nhớ.

Năm Giáp Tý dùng con chuột để biểu thị. Năm Ất Sửu dùng con trâu… Ngày này qua tháng khác mọi người thấy dùng năm Giáp Tý, Ất Sửu khó nhớ, nên gọi luôn là năm chuột, năm trâu… Vì thế những người sinh năm con chuột được cho là cầm tinh con chuột, những người sinh năm trâu là cầm tinh con trâu. Như vậy mỗi người đều cầm tinh một con vật.

Việc cầm tinh tên 12 con vật là sự hình thành kết hợp lẫn nhau của cách tính năm của người xưa.

Theo Triệu Dực, một học giả nổi tiếng đời Thanh, cách lấy động vật để nhớ năm lưu hành có sớm nhất trong dân du mục ở miền bắc nước Trung Hoa. Khi quan sát tinh tú biết được sao Thái Tuế (Mộc tinh) vận hành một vòng hết khoảng 12 năm, và họ lấy phương vị của sao Thái Tuế để tính năm, nhớ năm và dùng tên gọi những con vật quen thuộc nhất đưa vào cho dễ nhớ. Như vậy xuất hiện lịch 12 con giáp.

Về sau kết hợp với phương pháp tính năm theo Can Chi, người ta định hình được vòng Lục Thập Hoa Giáp, giúp người sinh năm nào sẽ có một con vật tương ứng gọi là “cầm tinh”, nhưng tính cách lại dựa vào phần “ngũ hành nạp âm” của chúng, như chuột Giáp Tý (nạp âm là Hải Trung Kim) khác với chuột Bính Tý (Giang Hà Thủy), những con chuột khác cũng vậy : Canh Tý (Bích Thượng Thổ), và Nhâm Tý (Tang Đố Mộc). Theo biện chứng ngũ hành, tính tình sẽ thay đổi theo ngũ hành nạp âm người Hải Trung Kim tính tình cứng rắn, nhưng người Bích Thượng Thổ lại khô khan !

Vương Sung người Đông Hán trong “Luận hành” viết : “ngọ là ngựa, tý là chuột, dậu là gà” chứng tỏ 12 địa chi phối hợp với 12 con vật đã lưu hành từ đời Hán. Cổ nhân căn cứ vào qui luật thời gian các con vật xuất hiện hoạt động, để chọn ra 12 con vật là chuột, trâu, cọp, thỏ (ở Việt Nam gọi là mèo), rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo để tính 12 giờ trong ngày.

Có thể thấy những loại động vật khác nhau, phối hợp với địa chi chẳng qua chỉ theo sự phối hợp của các nhà âm dương đời Hán. Cả hai đều không tồn tại mối liên hệ hữu quan tất yếu nào. Còn đến việc kỵ, tránh trong số mệnh (như trong cưới xin, hợp nhau, xung nhau) hoặc cát hung họa phúc, tính cách hợp, xung… đều là do các thầy bói đặt ra trong mệnh lý học từ xưa đến nay mà thôi.

Vì trong cùng một con vật “cầm tinh” đã kỵ nhau, khi xét đến biện chứng tương khắc hay tương sinh của ngũ hành :

Tương khắc là Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim khắc Mộc.

Còn tương sinh là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.

Sau đó còn xét đến phần nạp âm của chúng v.v.. nên mọi việc được nói khái lược qua sách báo chưa hẳn đã mổ xẻ hết cuộc đời.

PHONG TỤC NGÀY TẾT

Tết Nguyên Đán Canh Dần sắp về với mọi nhà. Là ngày hội lớn nhất trong năm, ai ai cũng đều được nghỉ ngơi sau 360 ngày làm việc lo cơm áo gạo tiền. Đây là một phong tục của người Á Đông, những nước khi xưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa tín ngưỡng Trung Hoa, mà nước ta là một trong số các nước đó. Vì thế những ngày trước trong và sau Tết Nguyên Đán, luôn là những ngày mà mọi người thường đi theo tục lệ truyền thống dân gian đã có hơn từ ngàn năm nay, trong tục lệ còn có tín ngưỡng và tâm linh.

Nhân ngày Tết Nguyên Đán Canh Dần sắp đến, chúng tôi xin có bài viết về phong tục ngày tết :

ĐÓN ÔNG BÀ

Vì sao có tục đón ông bà ? vì ngày 23 tháng Chạp khi đưa ông táo về trời tâu lên Ngọc Hoàng những chuyện trong năm cũ của gia đình và nhận lời phán xét của Ngọc hoàng cho năm mới. Ngày này ông bà cha mẹ (người đã chết) cũng phải về chầu âm phủ để được Diêm vương phán xét việc đầu thai hay chưa, ai được phong thần phong thánh v.v… cho nên từ 25 tháng chạp, đến ngày cuối năm (trước khi cúng đón ông bà cha mẹ) người người đến nghĩa trang thăm mộ gia tiên (rẩy mả) trước thăm viếng sau sửa sang lại ngôi mả cho thật sạch sẻ để ông bà về đón tết.

Nên từ 23 tháng chạp trở đi việc nhang khói, đánh chuông đánh trống tại các đình chùa đền miếu đều không có, mọi sự tại các nơi này yên tĩnh.

Trong ngày 29 (hoặc 30 tết), các gia đình tổ chức mâm cơm mặn vào lúc giữa trưa, trước là đón ông Công, ông Táo sau là đón ông bà cha mẹ về ăn tết cùng gia đình mình trong 3 ngày tết (đến khi hạ nêu thì tiễn ông bà). Tục này hiện nay rất phổ biến, không loại trừ những người bên đạo Thiên chúa, vì đây là sự thành kính, hiếu thảo của con cái với tổ tiên mà thôi. Trong ngày đón ông bà, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu (nếu cúng tại tổ đường thì không khí đông vui, như đã vào tết).

CÚNG GIAO THỪA

Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của cụ Phan Kế Bính có viết về Lễ cúng giao thừa.

-“Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc trần gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế đêm giao thừa là để tiễn ông cũ và đón ông mới”. Đó là ý nghĩa của việc cúng giao thừa ngay vào lúc trừ tịch (0 giờ ngày mới, tháng mới, năm mới), nhiều gia đình tổ chức rất long trọng, các đình chùa, miếu mạo cũng chuẩn bị thật trang nghiêm nhằm tống cựu nghinh tân.

Khi cúng giao thừa bàn thờ được lập giữa trời chứ không phải trong nhà. Có nơi cúng các hoa quả ngày tết, có nơi cúng mặn. Ngày xưa, lễ vật thường gồm một đầu heo hoặc con gà, bánh chưng xanh, bánh kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu và giấy tiền vàng bạc, đôi khi có thêm áo mũ của vị hành khiển năm mới.

Khi đúng nữa đêm, các nơi đánh chuông đánh trống, còn tại mỗi gia đình chủ nhà thắp 3 nén nhang (có người dùng 3 cây nhang đại, cháy cả ngày chưa tàn) khấn vái trời đất, khấn vái ông hành khiển mới, xin cho gia đình được một năm may mắn và những vận rủi sớm đi qua.

Theo quan niệm dân gian mỗi năm có một ông hành khiển, qua báo chí ta vẫn thấy vị hành khiển của năm mới mang tên 1 trong 12 con giáp (theo đúng năm được gọi tên), người xưa gọi là Thập nhị hành khiển vương hiệu. Vị thần cai quản trong năm được gọi là dương niên chi thần. Mỗi chi thần này còn có một phán quan giúp việc (Vị thần hành khiển trong năm lo việc thi hành những mệnh lệnh trên thượng giới, trình lên Ngọc hoàng Thượng đế những việc đang điều hành, còn vị phán quan lo ghi chép công tội của mọi gia đình, mọi địa phương v.v..)

TỤC HÁI LỘC

Sau giao thừa, người Việt thường có một cuộc “du xuân” để cầu may mắn. Người ta thường đến đền, chùa để làm lễ. Khi ra về ngắt một cành hoa hoặc một nhánh cây gọi là hái lộc. Về nhà, cành lộc thường đuợc trưng tại gian nhà chính và gìn giữ trọn một năm mới bỏ đi. Người Việt chúng ta tin tưởng rằng việc hái lộc để lấy may. Cành lộc thường là cành đa, cây đa lại là cây sống rất lâu. Chọn cành đa là họ mong muốn sẽ trường thọ, nhiều tiền bạc, đông con nhiều cháu.

TỤC XÔNG ĐẤT

Vào ngày mồng một Tết, ai là người bước chân vào đất hoặc nhà người khác đầu tiên được cho là người xông đất. Theo quan niệm, người xông đất là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của gia chủ trong một năm. Nếu người xông đất tốt thì mọi việc trong năm sẽ thuận buồm xuôi gió, ngược lại, người xông đất xấu sẽ gặp rủi ro.

“Xấu” và “tốt” ở đây có nghĩa là hợp duyên hợp vía. “Duyên” và “vía” ở đây cũng có thể là tính tình, đạo đức tư cách của người tới xông đất; cũng có thể là người xông đất năm đó có tuổi hợp với tuổi của gia chủ hay không. Vì vậy người ta cố tránh đến nhà nhau vào sáng sớm mùng một tết, còn ai được gia chủ có nhã ý mời tới xông đất thì khi đến cũng phải rất thận trọng. Trước hết, trước khi bước vào đất của gia chủ, người xông đất phải cười vui vồn vã với gia chủ, lì xì cho con cái gia chủ thật mau mắn, sau đó mới chúc tết lẫn nhau…

KIÊNG NGÀY MÙNG MỘT TẾT

Quan niệm vào ngày mùng một tết là ngày đầu tiên trong năm, nếu  mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mùng một Tết, người ta chúc mừng nhau những điều hay. Ngoài ra người dân còn kiêng cữ  một số việc như sau:

– Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mùng hai mùng ba mới hốt đi vì sợ Thần giữ của theo rác ra đi.

– Kiêng cho lửa, vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn”. Cho lửa là cho đi sự may mắn

– Kiêng làm vỡ ly chén, tô, đĩa vì sợ sự đổ vỡ.

– Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hòa.

– Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mồng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm

– Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.

– Kiêng khóc than để tránh sự ảm đạm trong cả năm.

– Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.

– Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của”, hệt như việc trả nợ.

– Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình

– Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mùng một vì sợ đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.

– Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành”phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.

TỤC HỨNG NƯỚC ĐẦU NĂM

Ở nông thôn (và có thể ở cả trong thành phố) người dân quan niệm rằng đầu năm mà có người gánh nước tới nhà thì có nghĩa là tiền vào nhà như nước. Bởi vậy, những người gánh nước thuê đầu năm được gia chủ đón tiếp rất niềm nở và được thưởng tiền nhiều gấp mười lần ngày thường. Còn nơi thành phố, vì quá trình hiện đại hóa, nên đa số gia đình đều có nước thủy cục, việc thuê người gánh nước không còn ai phục vụ cho điều này nửa. Vì thế vào nửa đêm, các gia đình mở vòi nước cho chảy tràn hồ chứa nước, xem như tiền vào nhà như nước.

TỤC MỪNG TUỔI

Năm mới mọi người lớn thêm một tuổi, người lớn có tục lì xì (mừng tuổi) cho người ít tuổi hơn mình, như lời nhắn nhủ, tiền lì xì ấy sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, mà vun đắp tương lai.

Tiền lì xì còn gọi là tiền “mở hàng để lấy may”. Tại Chợ Lớn, các thương gia thường lì xì cho khách hàng một bao lì xì màu đỏ trong đựng một tờ  giấy bạc mới, dù người đó có mua hàng hay không, họ cho là “tiền mở hàng” lì xì càng nhiều phong bao, họ cho là trong năm sẽ phát đạt (vì như thế tức trong năm nhiều khách hàng hơn)

Trẻ em lại thích tiền mừng tuổi, người lớn cho rằng như vậy trong năm có nhiều niềm vui trong cuộc sống, qua sự ngây thơ của trẻ nhỏ khi được bao lì xì thì cười nói tíu tít v.v…

TỤC HÓA VÀNG

Trong ba ngày tết, thông thường vào chiều ngày mùng 3, nhà nhà có tục hóa vàng (tiễn ông bà), nhiều gia đình cũng mời bà con trong họ tộc đến để dự lễ này.

Lễ hóa vàng như đã nói, tiễn đưa ông bà cha mẹ về lại tổ đường, hay chùa chiền mà họ đã gửi hương linh (theo truyền thuyết khi người chết, họ vẫn còn 3 hồn, một hồn ở nơi chôn cất, một ở nơi chết hoặc là chốn thờ tự và một hồn ở suối vàng). Sau còn ý nghĩa khác, mời họ hàng phá mồi (tức dùng hết những món ăn ngày tết đã mua sắm trong nhà như dưa hấu, bánh chưng, thịt mở, dưa hành v.v…)

Lễ hóa vàng là đốt hết các loại giấy tiền vàng bạc đã để trên bàn thờ, khi đã đốt hết người ta đổ vào đống tro những chén rượu cúng. Tục lệ cho rằng, có như vậy ở cõi âm các vị ông bà cha mẹ mới có tiền tiêu xài trong năm mới.

Có nơi (nhiều vùng nông thôn) vẫn có tục mua 2 cây mía dùng trong việc thờ tổ tiên trong 3 ngày tết, trong ngày hóa vàng họ hơ mía trên đống tàn còn đang rực đỏ, có ý chuyển giao cho tổ tiên có gánh quải tiền về, cũng là khí giới chống bọn cướp vàng nơi cõi âm.

THIÊN VIỆT

Mạn đàm chuyện cọp năm Dần

NĂM CỌP NÓI CHUYỆN CỌP

(Canh Dần từ 14-02-2010 đến 02-02-2011)

Mạn đàm của Nguyễn-Phú-Thứ

Sau khi năm Kỷ Sửu chấm dứt, thì đến năm Canh Dần được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm thứ bảy, 13-02-2010 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 02-02-2011.

Năm Canh Dần này thuộc hành Mộc và mạng Tùng Bách Mộc, năm này thuộc Dương, có can Canh thuộc mạng Kim và có chi Dần thuộc mạng Mộc. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này “Can khắc Chi” tức Trời khắc Ðất . Bởi vì : Kim khắc Mộc  “Mạng Kim = Canh khắc mạng Mộc = Dần (mạng Kim tức Trời được khắc xuất, mạng Mộc tức Ðất bị khắc nhập) . Do vậy, năm này xem như tổng quát rất xấu do Trời khắc Ðất giống như các năm : Giáp Tuất (1994), Nhâm Ngọ (2002), Mậu Tý 2008 đã qua. Ðược biết năm Dần vừa qua là năm Mậu Dần thuộc hành Thổ, nhằm ngày thứ tư, 28-01-1998 đến 15-02-1999.

Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Ðông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm thứ 61 của đời Hoàng Ðế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2010 = 4647, rồi đem chia cho 60 thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ 77 và số dư 27 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 cho đến năm 2043. Do vậy, năm Canh Dần 2010 này là năm thứ 27 của Vận Niên Lục Giáp 78.

Năm Dần tức Cọp cũng là Hổ, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích dẫn như sau :

Dần là con Cọp đứng hạng thứ 3 của 12 con vật trong Thập Nhị Ðịa Chi, tuy là chúa tể sơn lâm, nhưng lại thua con Trâu to con, có cặp sừng trên đầu, đi đứng nặng nề chậm chạp và con Chuột lanh lợi nhỏ con đến trước.

Giờ Dần = là giờ từ 03 giờ đến đúng 05 giờ sáng hôm sau. Người xưa cũng có ghi vào sách đáng cho chúng ta suy ngẫm như :

Nhứt niên chi kế tại ư Xuân, 一 年 之 计 在 于 春

Nhứt nhựt chi kế tại ư Dần. 一日之 计 子 于 寅

(Muốn thực hiện kế hoạch: 1 năm phải sắp đặt bắt đầu vào mùa Xuân và 1 ngày phải sắp đặt vào giờ Dần tức giờ Cọp thức dậy nhìn mặt trời vào bình minh sáng). Ðó là kế hoạch của người đặt ra, còn loài người sanh ra ở hội Dần, bởi câu  : “Nhân sanh ư Dần”人 生 于 寅

Tháng Dần = là tháng Giêng đầu năm âm lịch, người ta cũng thường dùng chữ Dần Nguyệt để chỉ tháng Giêng.

Cọp hùm = Loại thú dữ hơn hết, nên thường gọi chúa sơn lâm.

Vấu lưng Cọp = Móng vút Cọp.

Cỡi lưng Cọp = Người ta mà cỡi lưng Cọp là người liều mạng, không dám xuống sợ Cọp ăn thịt.

Ngọc Cọp = Người ta nói là ngọc trong miệng Cọp, người có ngọc ấy thì thú dữ khác sợ phải tránh xa.

Ðặc biệt, có những Tục Ngữ và Thành Ngữ, xin trích dẫn như sau :

Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.

Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh 虎 死 留 皮, 人 死 留 名 Cọp cha dũng mảnh, đẻ ra Cọp con cũng dũng mảnh (tức Cha nào Con nấy).

Hổ phụ sanh Hổ tử 虎 父 生 虎 子

Sợ Cọp sợ cả cứt Cọp.

Cọp cha đẻ ra Chó con… v.v

(tục ngữ).

Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận.

Treo thịt trước miệng Cọp.

Nhục huyền Hổ khẩu. 肉 悬 虎 口

Nam thực như Hổ, nữ thực như Miêu. 男 食 如 虎, 女 食 如 猫

Sa vào miệng Cọp - Rừng nào Cọp nấy – Tránh hùm mắc Hổ.

Dưỡng Hổ di họa (để lại) 养 虎 遗 祸

Dưỡng Hổ thương sanh (hại chính mình) … v.v 养 虎 伤 生

(thành ngữ)

Ngoài ra, chúng ta còn thấy tên Hổ = là loại Hùm Cọp hoặc loài Rắn Hổ, xin trích dẫn như sau :

Hổ lang = Hùm sói – Hổ cốt = Xương Cọp – Hổ bì = Da Cọp – Hổ huyệt = Hang Cọp – Hổ bộ = Bộ tướng hùng dũng như Cọp – Gươm đầu Hổ = Gươm tra cán chạm đầu Cọp – Hoạ Hổ hoạ bì nan hoạ cốt 画 虎 画 皮 难 画 骨 = vẽ Cọp chỉ vẽ được da, không thể vẽ được xương Cọp (ý nói biết người chỉ biết mặt, khó biết lòng)… v.v

Riêng loài rắn cũng có tên Hổ, chúng nó rất độc và nguy hiểm đáng sợ như sau :

Rắn hổ = là thứ rắn độc lớn con – Rắn hổ đất = là thứ rắn hổ độc có màu đen sám như màu đất, cho nên có tên rắn hổ đất để phân biệt các rắn hổ khác – Rắn hổ ba khoang = cũng là thứ rắn hổ màu đất, nhưng nó có ba khoan – Rắn hổ ngựa = là thứ rắn hổ, nhưng nó chạy mau như ngựa, thường ở trong bụi rậm hay rượt người ta, cho nên có tên rắn hổ ngựa – Rắn hổ mây = là thứ rắn có vảy lớn, màu đen trắng lẫn lộn, giống da trái mây, cho nên mới có tên rắn hổ mây – Rắn hổ hành = là thứ rắn có vảy màu hơi xanh; nó rất hôi hành, cho nên mới có tên rắn hổ hành, loại rắn này ban đêm thường đến những chuồng Gà Vịt cận kề nhà để bắt ăn – Rắn hổ chuối = là thứ rắn có vảy màu xám – Rắn hổ mang = là thứ rắn độc hay ở khe suối, khi gặp người hay thú vật khác, nó phùng mang ngẩn đầu cao phóng tới, cho nên mới có tên rắn hổ mang. Loại rắn này thường thấy nhiều ở nuớc Ấn Ðộ.

Trong khi đó, chúng ta còn thấy các cây cỏ mang tên Hổ hay Cọp, xin trích dẫn như sau :

Hổ mướp = Loại mướp có nhiều sọc rằn như da Cọp- Hổ phách 琥 珀 = là chất nhựa cây tùng hay thông cổ sống lâu năm, mọc thành rừng ở Âu Mỹ đã bị chôn vùi dưới đất trong các mỏ than hay dưới biển, chất nhựa này rất cứng rắn, có màu vàng ửng đỏ, thường dùng làm đồ nữ trang. Ngoài ra, thời xưa người ta lấy hổ phách đun nóng để làm thuốc chống co thắt dưới dạng thuốc xông hay rượu thuốc, có mùi thơm tỏa ra dễ chịu lại hết bịnh – Hổ kế = cây Ô Rô, trong dân gian thời xưa dùng cây này làm thuốc như : chảy máu cam, thổ huyết… xem như loại thuốc cầm máu. Từ đó, lấy lá cây này đem đốt để lấy tro pha với dầu Dừa để trị ghẻ – Hổ cao 虎 膏 = cây Hy Thiêm, trong dân gian thường hái lá khi cây chưa có hoa, rồi đem phơi khô dùng để trị bịnh chân tay tê bại, phong thấp, đau lưng, nhức mỏi tứ chi hoặc lấy lá đâm nát rồi đắp chỗ mụt nhọt để trị – Ðơn lưỡi Hổ = Lưỡi Cọp cũng có người gọi cây Cam Xũng thường mọc hoang ở rừng núi, lá rễ hái về phơi khô để trị bịnh thổ tả hay trị bịnh dị ứng – Hổ thiệt 虎 舌 = Lưỡi Cọp (bởi vì, cây này giống như Lưỡi Cọp) hay Lô Hội, trong dân gian ngày nay thường dùng cây này để làm dầu gội đầu hoặc làm kem thoa mặt, thoa da. Bởi vì, đặc tính của nó làm cho mềm mại tóc hay da – Hổ trượng căng = Trong dân gian thường lấy rễ để trị bịnh tê thấp hoặc trị những vết thương khi bị té ngã… v.v

Ðó là, những tên Hổ hay Cọp có liên quan đến các thực vật, đã trích dẫn đơn cử đại khái, không thể kể hết ra được, xin tạm ngưng ở đây.

Ðối với 11 con vật trong Thập Nhị Ðịa Chi đã dẫn vừa qua, mỗi con vật đều có huyền thoại liên quan đến con vật đó.

Riêng năm Canh Dần do con Cọp cầm tinh này cũng có huyền thoại liên quan, xin trích dẫn như sau :

Tại sao Cọp có bộ lông rằn ?

Thuở xưa, khi thú vật còn biết nói chuyện tiếng người, có một hôm Cọp là chú tể sơn lâm, đi đến gần bờ ruộng, thấy Trâu đang bị người dùng roi điều khiển cày ruộng, Cọp thấy việc lạ đời, bởi vì :

– Người thì nhỏ con hơn Trâu nhiều.

– Người không có móng vuốt sắc bén, trong khi Trâu có cặp sừng rất nhọn.

Nhưng không hiểu tại sao Trâu phải bị lệ thuộc người ? cho nên Cọp muốn biết con người có đặc điểm gì hơn con Trâu? Vì thế, đành chờ cho người và Trâu cày ruộng xong, rồi mới đến gần Trâu để hỏi nhỏ, thì Trâu rất sợ Cọp ăn thịt, cho nên Cọp mới hứa là không ăn thịt Trâu với điều kiện Trâu phải cho biết tại sao người hơn Trâu ?

Trâu trả lời :

Loài người có vẻ yếu đuối ở bề ngoài hơn thú vật, nhưng loài người có trí khôn hơn thú vật. Ðó là, vũ khí mà thú vật chúng ta phải đáng sợ. Từ đó, tôi khuyên ngài là chúa tể sơn lâm cũng nên trốn đi khỏi nơi này cho mau, kẻo trễ.

Nghe Trâu nói, Cọp tức giận, rồi nói : Ta sẽ kêu người đưa trí khôn cho ta, ta không bao giờ hèn nhát trốn chạy đâu hết, rồi Cọp liền phóng mình đến gần người và thét lên rằng :

– Người kia, ta nghe nói ngươi có một vũ khí phi thường là trí khôn.Có thật hay không ? Nếu đúng thể hay đưa cho ta ngay, nếu không ta sẽ ăn thịt ngươi ngay.

Người nói với Cọp :

– Hỡi chúa sơn lâm, thật là hân hạnh cho tôi được dâng trí khôn của tôi cho ngài, nhưng ngài hãy nhẫn nại giây phút, vì hiển nhiên tôi không có đem một vũ khí quý báu như thế ra đồng vì tôi đã cất kỹ nó ở nhà. Tôi cần phải đi về nhà để lấy nó cho ngài.

Việc này thật bất tiện cho Cọp, nhưng nó không làm sao hơn. Nếu Cọp muốn lấy được trí khôn của người, thì phải chấp nhận điều kiện của người đưa ra là : Cọp phải bị trói, nếu Cọp không bị trói thì người sợ Cọp ăn Trâu, còn đi theo người về nhà để lấy trí khôn cho chắc chắn ăn, thì Cọp sẽ bị dân chúng trong làng sẽ ùa ra nào gậy gộc, gạch đá… tấn công rồi giết chết Cọp. Do vậy, Cọp đồng ý theo người là chịu trói bằng dây rơm bện vào một gốc cây và Cọp còn căn dặn người phải đi cho thật nhanh để Cọp khỏi chờ đợi lâu.

Sau khi, người đã trói Cọp vào gốc cây chắc chắn xong, người mới lên tiếng nói với Cọp rằng :

– Người hơn thú vật là trí khôn, mi là đồ súc vật ngu đần

Rồi người nông dân xuống bãi cỏ đem thức ăn ra hâm lại để tiếp tục ăn, vì Cọp xuất hiện nên việc ăn trưa tạm ngưng để tiếp Cọp. Còn con Cọp vẫn bị trói gần đóng rơm, trong khi lửa hâm thức ăn bị gió tạt, nên cháy sang đóng rơm rồi lan dần qua nơi Cọp bị cột, cháy luôn sợi dây trói Cọp ăn sâu vào bộ lông làm cho Cọp quá đau đớn, nên cố sức phóng mình chạy thoát thân vào rừng. Từ đó, Cọp có bộ lộng rằn đen và sợ lửa kinh khủng.

Trong khi Trâu có kỷ niệm đáng nhớ về việc Cọp ngu đần, vì trí khôn của người và Trâu cười đến nỗi té trên đá gãy mấy cái răng cửa ở hàm trên. Từ đó, giống Trâu chúng ta không thấy có răng cửa ở hàm trên.

Bài này là một huyền thoại nói về Cọp tại sao có bộ lông rằn. Nhưng nó có ý nghĩa sâu xa, khuyên chúng ta đừng bao giờ ỷ mình có sức mạnh xem thường kẻ yếu mà sẽ thất bại như Cọp.

Còn con người ? mãi đến ngày hôm nay vẫn còn trí khôn trong đầu hơn loài thú vật.

Cọp mắc bẩy không ai thèm cứu

Cọp là chúa sơn lâm, nhưng cũng phải bịnh, nên suốt ngày không đi hỏi hang để săn thức ăn, lương thực dự trữ ăn cũng đã hết, các thú nghe tin chúa sơn lâm đau, lục đục đến thăm viếng. Cọp thì đang đau lại đói, nên kiếm cớ để bắt lỗi kẻ đến thăm mà ăn thịt. Chú Nai tơ vào thăm, thì Cọp bảo Nai lại gần và hỏi rằng :

– Chú Nai thấy ta đang đau, người của ta thơm hay thúi ?

Nai ngay tình trả lời :

– Thưa thúi.

Cọp lại bắt lỗi Nai, ta là chúa sơn lâm mà dám nói ta thúi ? Cọp liền lấy hết sức mình chụp Nai để ăn thịt, nhưng Nai chạy thoát ra ngoài và than khóc kể rõ sự tình cho các thú khác nghe. Kế đến, Chồn lại thăm Cọp, thì cũng bị Cọp hỏi câu tương tợ là :

– Chú Chồn thấy ta đang đau, người của ta thơm hay thúi ?

Nhưng Chồn đã nghe Nai kể lại việc đi thăm Cọp, nên trả lời :

– Thưa thơm

Cọp nỗi giận nói :

– Thằng này nịnh

Nên cũng nhảy tới chụp Chồn để ăn thịt, nhưng Chồn cũng chạy thoát và Chồn cũng kể rõ việc đi thăm Cọp cho Chuột nghe. Ít hôm sau, có Chuột đến thăm Cọp, bởi vì không thăm Cọp thì sẽ có lỗi với chú sơn lâm, hơn nữa Chuột đã nghe Nai và Chuột nói việc đi thăm Cọp rồi, nên đã có rút kinh nghiệm, yên chí trong bụng khi đến thăm Cọp, Chuột cũng được Cọp hỏi giống nhau như Nai và Chồn vậy, nhưng kỳ này Chuột trả lời :

– Thưa cũng không thơm mà cũng không thúi

Cọp nói :

– Chú nói ba phải

Bèn phóng tới chụp Chuột để ăn, nhưng Chuột cũng chạy thoát thân. Thời gian ít lâu sau, Chuột đi ngang qua cánh rừng, gặp Cọp bị mắc bẩy, cần vọt lên cao, Cọp thấy Chuột thì kêu cầu cứu, Chuột trả lời : “

– Tôi nhỏ con có thể bò ra đầu cành cắn dây treo cho đứt xuống là xong, nhưng tôi sợ ông sẽ chụp tôi ăn thịt, nên tôi sợ lắm.

Nói xong đi luôn cùng các thú khác, cho nên Cọp mắc bẩy không ai thèm cứu là thế đó.

Câu chuyện cũng có ý nghĩa bao quát đáng cho chúng ta suy ngẫm ở đời là: “Dù lời nói thật hoặc nói sai hay nói huề vốn cũng không vừa lòng người”. Bởi vì, con người : “Khôn cũng chết, dạy cũng chết, biết mới sống ”.

Cáo mượn oai Cọp

Con Cọp là chúa sơn lâm nên các thú vật trong rừng điều khiếp sợ. Một hôm Cọp bắt được con Cáo, thì Cáo la rằng : Không được chạm đến mình ta mà chết không kịp ngáp. Ta được Trời sai xuống đây để cai trị tất cả thú vật. Ngươi mà xâm phạm đến ta, thì Trời sẽ trừng phạt ngươi ngay, không tin ngươi cứ đi theo sau ta một vòng, ta đi trước đến đâu, thì các thú sẽ bỏ chạy hết vì sợ ta, quả nhiên lời nói của Cáo đúng sự thật và Cọp nghĩ Cáo có đã được Trời sai xuống để cai trị tấNăm Dần Nói Chuyện Cọpt cả thú vật, chớ đâu có ngờ các thú vật sợ Cọp đi sau Cáo. Do vậy, Cọp cũng không dám chạm đến mình Cáo, nên Cáo được thoát thân.

Cọp con

Câu chuyện này có ý nghĩa : Kẻ tài hèn thường mượn uy quyền người khác để hống hách doạ nạt thiên hạ.

Viết về huyền thoại Cọp còn nhiều lắm, nếu từ từ trích dẫn thì có thể thành quyển sách nhỏ. Kế đến tìm hiểu giống Cọp ? lợi hại về Cọp như thế nào ? Cọp trong lịch sữ và văn chương Việt-Nam… v.v. cho nên xin tạm ngưng ở đây, khi có dịp sẽ nối tiếp.

oOo

Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn thời gian những năm con Cop vừa qua mang Hành như thế nào, để cống hiến quý bà con nhàn lãm hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Dần hay không như dưới đây :

Tên Năm Thời Gian Hành Gì ? tính đến năm 2010

Nhâm Dần 08-02-1902 đến 28-01-1903 Kim (109 tuổi)

Giáp Dần 26-01-1914 đến 13-02-1915 Thủy (97 tuổi)

Bính Dần 13-02-1926 đến 01-02-1927 Hỏa (85 tuổi)

Mậu Dần 31-01-1938 đến 18-02-1939 Thổ (73 tuổi)

Canh Dần 17-02-1950 đến 05-02-1951 Mộc (61 tuổi)

Nhâm Dần 05-02-1962 đến 24-01-1963 Kim (49 tuổi)

Giáp Dần 23-01-1974 đến 10-02-1975 Thủy (37 tuổi)

Bính Dần 09-02-1986 đến 28-01-1987 Hỏa (25 tuổi)

Mậu Dần 28-01-1998 đến 15-02-1999 Thổ (13 tuổi)

Canh Dần 14-02-2010 đến 02-02-2011 Mộc (1 tuổi)

Nguyễn-Phú-Thứ