KIẾN TRÚC KHÁM CHÍ HÒA

BÍ ẨN PHONG THỦY CỦA

KHÁM CHÍ HÒA

Có một truyền thuyết khá ly kỳ về khám Chí Hòa được truyền miệng ra ngoài là hầu như năm nào trong khuôn viên của trại giam đều bị sét đánh và sau khi trại bị sét đánh thì bao giờ cũng có 1 hay nhiều hơn một cán bộ chết vì rất nhiều lý do. Đặc biệt có năm sửa nhà thờ nằm trong khuôn viên trại thì chỉ trong vài tháng, 5-6 cán bộ đang công tác trong trại cũng đã chết vì những lý do hết sức bất ngờ…

Tôi cho rằng đó chỉ là truyền thuyết trong muôn ngàn những truyền thuyết tôi đã được nghe. Nhưng khi tiếp xúc với các cán bộ công tác trong trại thì mọi người cũng đều xác nhận, chuyện khám Chí Hòa hay bị sét đánh hay chuyện cán bộ chết bí ẩn là có thật. Tôi tìm gặp Thượng tá Nguyễn Văn Cao – người có 16 năm làm việc trong trại để tìm hiểu bí mật này.

Bát trận đồ trong lòng thành phố

Nơi bị sét đánh nhiều nhất lại là tòa nhà quan trọng nhất, tòa nhà hình bát giác nơi giam giữ hàng ngàn phạm nhân. Toàn bộ khu nhà giam này rộng bảy hécta.

Trại giam Chí Hòa (tên thường gọi là khám Chí Hòa) được Pháp xây từ năm 1943, Kiến trúc của Chí Hòa rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H. Tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch (cũng có người thì cho là kiến trúc này dự trên Bát trận đồ của Khổng Minh).

Do vậy nó có lối kiến trúc độc đáo : vừa mang những đặc trưng cơ bản của kiến trúc Pháp : kiên cố, kín đáo, mát mẻ vừa mang nét huyền bí : âm – dương, ngũ hành của phương Đông.

Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một khu, lưng xây bịt kín ở phía ngoài còn phía trong toàn song sắt. Chí Hòa chỉ có 1 cửa vào người ta nói đó là cửa Tử, qua cửa đó là hệ thống đường hầm, đường đi bên trong đều thiết kế theo cung vị nếu không có người hướng dẫn thì một người đi vào đó sẽ mất hết phương hướng giống như lọt vào một mê cung đồ không thấy đường ra.

Chính giữa hình bát quái đồ là một sân rộng cũng hình bát giác chia thành 8 khu hình tam giác nhỏ, với rất nhiều cây cối, bãi cỏ sạch sẽ và thoáng mát. Ngay tâm của hình bát quái có một đài bơm nước, với một đoạn là bể nước phình to nhìn từ trên cao có hình một cây kiếm cắm thẳng xuống đất, nghe đâu thanh kiếm này có tên là “Tru Tiên Kiếm”. Đây là thanh kiếm trấn, những tên tội phạm dù có xảo quyệt đến đâu thì khi ở đây mọi thủ đoạn của chúng cũng bị thanh kiếm “linh” này hóa giải hết. Thanh kiếm này chính là “trái tim” của của tòa nhà, nếu thanh kiếm này bị nhổ lên thì toàn bộ “trận đồ” không cần phá mà sẽ tự vỡ.

Chính lối kiến trúc “bát trận đồ” kỳ diệu đó mà hầu hết các phạm nhân bị kết án nặng khi đã bước qua cửa Tử thì có thể coi như là không có đường ra, và không thể nhận biết được đường ra chờ khi hết án tù, hoặc được phóng thích.

Lịch sử khám Chí Hòa cho đến ngày hôm nay chỉ ghi nhận có hai trường hợp vượt trại thành công. Lần thứ nhất là vào năm 1945, của những người tù cách mạng và lần thứ hai, sau đó 50 năm của một tử tội hình sự khét tiếng là Phước “Tám Ngón”.

Có cả triệu người đã bị nhốt vào đây mà hầu như không thấy có người nào thoát ra được cả. Theo nhiều nhà nghiên cứu tâm linh thì những người chết linh hồn vẫn bị “bát quái” giam giữ không thể siêu thoát cứ lởn vởn bên trong nên ở đây âm khí rất nặng nề (quả thực khi tôi đứng đây cảm giác rờn rợn, u uất lạnh toát cả cột sống).

Người ta đồn rằng oán khí bay lên thấu trời cao, do thế ông Trời thường xuyên làm sấm sét đánh bể một góc để khai một cửa Sanh, cho oán khí được thoát ra, người chết được siêu thoát. Tất nhiên, tất cả những đồn đại này chỉ là truyền nhau, không ai dám chắc điều đó là sự thật.

Chẳng biết truyền thuyết và đồn đại này thật giả bao nhiêu phần trăm, nhưng chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ông cũng tin chuyện này là có thật. Ông cho mời một thầy địa lý rất cao tay nhằm hóa giải một phần “trận đồ” này. Và sau đó một trong 8 nóc nhà của hình bát giác đã được san bằng, phá vỡ tính hoàn hảo của “bát quái”, thuận theo ý Trời mở 1 cửa Sanh cho các linh hồn được bay đi.

Nhà thờ hình chúa Giêsu trên cây thập giá

Cũng theo lời Thượng tá Cao kể, thì trong khuôn viên trại còn có một nhà thờ (ngày nay được sử dụng làm Hội trường của trại), thực dân Pháp cho xây dựng nhà thờ này để “rửa tội” cho những người chúng sẽ xử tử. Nếu theo quan niệm của phương Tây thì khi sống con người ta dù phạm rất nhiều tội lỗi, nhưng trước khi chết nếu người đó được rửa tội thì mọi tội lỗi sẽ được tha thứ và linh hồn người đó sẽ được lên thiên đàng. Nhưng nhà thờ này có kiến trúc khác đặc biệt và quanh nó cũng rất nhiều chuyện ly kỳ được truyền miệng cho đến nay.

Về kiến trúc nhà thờ được xây hình Chúa Giêsu trên cây thập giá : cửa vào chính là chân, hai nhà nguyện là hai cánh tay bị đóng đinh đang dang rộng, bàn thờ nơi Cung Thánh chính là phần đầu của Chúa.

Người ta đồn rằng đây là nơi rửa tội cho những tử tội trước khi bị thực dân Pháp bắn nên rất “linh thiêng”. Chiến tranh đã đi qua rất lâu nhưng nhà thờ vẫn nằm sừng sững trong khuôn viên trại, vì không ai dám dỡ bỏ nó.

Thế nhưng có một biến cố xảy ra vào những năm 90 của thế kỷ trước, vị phó giám đốc mới được cử về công tác trong trại – một người không tin vào những lời đồn thổi “nhảm nhí”, đã cho sửa nhà thờ thành hội trường nơi diễn ra hội họp, hội nghị của trại. Nơi được người ta sửa chữa đầu tiên là cửa vào (vị trí chân Chúa). Người ta phá đi cửa cũ, mở một cái cửa đại hội vào hội trường. Nhưng việc sửa chữa chỉ mới được bắt đầu thì một sự cố lớn đã xảy ra, chỉ trong một thời gian ngắn liên tiếp 5-6 người đang công tác trong trại bị thiệt mạng vì những lý do bất ngờ: tai nạn, súng cướp cò, đột tử…

Tất nhiên, rất có thể những tai nạn này xảy ra là ngẫu nhiên, trùng hợp với thời gian sửa chữa nhà thờ. Song lúc đó sự hoang mang bao trùm toàn trại, vị tân phó giám đốc thật sự dao động và cuối cùng ông quyết định sửa lại ngôi nhà như thiết kế ban đầu, thuê thầy về cúng giải hạn. Và điều kỳ diệu đã xảy ra, dường như “báo ứng” đã được hóa giải, những vụ chết bất đắc kỳ tử đã dừng lại hầu như ngay lập tức. Cán bộ toàn trại thở phào.

Nếu bạn nghĩ chuyện âm khí, oán khí chỉ là sản phầm tưởng tượng cũng những người có đầu óc mê tín dị đoan lý giải chuyện sét đánh, chuyện những cái chết bất thường. Tuy nhiên, sau những sự cố trên, một nhóm những nhà khoa học và nhà nghiên cứu đã âm thầm nghiên cứu và lý giải mọi chuyện dưới góc độ khoa học. Một số nhà khoa học cho rằng bên dưới của tòa nhà có một mỏ quặng đó mới chính là nguyên nhân tại sao “ông Trời” hay “nhắm” vào tòa nhà đó và những cái chết chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Riêng tôi khi bước qua cửa Tử vào một mê cung đồ mà ở đó mất hết mọi khái niệm phương hướng – không gian, ngày đêm – thời gian, khi nhìn trên mô hình hình bát giác “hoàn hảo” bị khuyết với khu GF mái ngói bị san bằng, bước chân vào nhà thờ nơi chúa đang chịu đau đớn vì nhục hình tôi tin nơi đây còn nhiều điều bí ẩn chưa lời giải. Ngày nay khoa học đã rất phát triển nhưng tự nhiên, vũ trụ vẫn còn đầy rẫy những bí ẩn mà chúng ta chưa thể lý giải đang chờ chúng ta khám phá. Bài viết này chỉ là nhát cắt phản ánh sự bí ẩn của kiến trúc cổ, với mong muốn đưa đến cho độc giả một vài giả thuyết mới.

(Theo Cảnh sát toàn cầu)

THẦY BÓI ĐẤT SÀI GÒN XƯA

Sài Gòn trước năm 1975, các thầy bói đều là những người làm ăn khá giả và rất có uy tín xã hội. Nhiều người lớn tuổi ở Sài Gòn kháo nhau rằng : đáng lẽ cuộc đảo chính năm 1963 (lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm) đã xảy ra sớm hơn, nhưng vì các thầy bói đã bấm độn nên phải dời qua ngày 1/11/1963.

Giai thoại kể lại, có quan chức chế độ cũ được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông này đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời. Vì sự mê tín của cả nhân dân và chính quyền, các vị thầy bói có ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là đã đóng những vai trò quan trọng trên chính trường.

Các thầy bói nổi danh ở Sài Gòn

Trong nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975, các thầy bói đều là những người làm ăn khá giả và rất có uy tín xã hội. Trong đó, số thầy bói từ miền Bắc di cư vào Nam chiếm một lượng lớn.

Có lẽ, thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng và lâu nhất ở Sài Gòn trước năm 1975.

Từ những năm Pháp thuộc, thầy đã tự xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí thời ấy đã đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ những năm 1940, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy ở bên Tàu sang Việt Nam.

Theo nhiều giai thoại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt.

Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra một “câu sấm” để giải đoán trường hợp ông ta:

Bao giờ hai bảy mười ba

Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây

Theo một số người, thầy Khánh Sơn cho rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm của tên vị toàn quyền); và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay trên chở viên viên toàn quyền bay về Pháp bị bốc cháy. Không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ đều tử nạn. Thời gian hành nghề của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu.

Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…

Thầy Minh Nguyệt, là một người miền Nam, tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở đường Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ.

Văn phòng của thầy lúc nào cũng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam. Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Hàng chục cô trong đó mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ “trăng hoa”.

Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thầy Canh mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai.

Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn. Dù bị mù nhưng thầy Canh có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy, vốn là một nghề rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri.

Dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khoẻ dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào. Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao!

Thầy Ba La cũng sinh quán ở ngoài Bắc, và di cư vào Sài Gòn. Trước năm 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu.

Thầy cũng mù lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống. Văn phòng thầy Ba La tiếp toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư… Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Thầy Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ, nhưng thầy hết sức thận trọng khi đặt một lá số, gieo một quẻ bói.

Chuyện kể rằng, có hai vợ chồng nọ cầu tự mãi mới có một đứa con trai. Năm lên ba tuổi, cậu bé bị bệnh mà mất. Hai vợ chồng lại tiếp tục “cầu tự” để xin được ‘trả lại’ đứa con trai. Ba năm sau, họ lại sinh được một bé trai. Đứa bé giống anh trai đã mất như đúc, kể cả nốt ruồi son giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sinh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù họ cách nhau ba tuổi.

Cậu bé lớn lên, học hành đõ đạt và tìm đến thầy Ba La để nhờ giải đáp cuộc đời mình. Anh ta đưa thầy xem lá số tử vi của anh trai, thầy Ba La càng xem càng toát mồ hôi, miệng không ngớt thốt lên : ‘Lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng :

– Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba !

Thầy Ba La xem lại thật kỹ, vì bị mù, nên thầy gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm: có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vóc cao lớn như thế này…không ? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực? Thầy lập lại :

– Có nốt ruồi đỏ thật à ? Thế thì lạ quá ! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh. Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác !

Thầy Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật. Anh thanh niên cảm phục đến sợ hãi, xin lỗi thầy và trình ra lá số tử vi với ngày tháng sinh thật.

Hầu hết những giai thoại trên đều không có sức thuyết phục, nhưng có một điều chắc chắn là nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975 rất thịnh hành. Thậm chí, các nhà cầm quyền thời điểm đó còn mời cả các thầy bói lên truyền hình để tiên đoán về vận mệnh chính trị quốc gia. Cuộc sống của các thầy bói này do đó cũng rất sung túc.

Những “bóng hồng” trong làng bói toán Sài Gòn

Tuy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng các thầy bà thời ấy ít hơn nhiều. Thường thì, khách của các thầy bà là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng còn là các thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín.

Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Khi bà theo làn sóng di cư vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng… lộc thánh hãy còn.

Trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà thầy gợi cảm mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già còn đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá.

Cô Bích, một thiếu phụ người Đà Nẵng nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng. Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi “đồng lên”, cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 1980.

Nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở đường Đinh Công Tráng. Vào khoảng cuối năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi.

Cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao.

Đoạn kết buồn của các thầy bói nổi tiếng

Theo chuyện kể lại, trước 1975, nhờ làm ăn khấm khá, thầy bói Huỳnh Liên tậu một khu vườn nhà ở làng Vĩnh Phú, Lái Thiêu, Bình Dương để khi rảnh rỗi ông lại từ Sài Gòn về đây vui thú với vợ bé. Trong khi đó, bà cả vẫn ở Sài Gòn.

Sau năm 1975, nghề bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên không có con và về ở hẳn với bà bé. Ông không tin tưởng bà vợ bé lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại tầng trên bị hỏng, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa.

Tới chiều, hai đứa cháu tới nhà rồi theo ông chủ lên gác sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại, nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên tầng trên thì thấy một cảnh tượng hãi hùng: Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không kêu la gì được.

Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết. Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong lúc quýnh quáng tháo chạy, hai đứa cháu vợ ngoài việc cướp của còn quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà. Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó, công an không mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ngay trong đêm đó.

Ngày nay, nghề bói toán không được công nhận

Theo dòng chảy của lịch sử, các thầy bói của Sài Gòn cũ đã không còn những vị thế xã hội như xưa. Đoán vận mạng cho nhiều người nhưng cuối cùng thì các thầy cũng chẳng đoán được vận mạng cho chính mình.

Những người lớn tuổi đã sống ở Sài Gòn lâu năm kể lại: cho đến năm 1972, thầy Khánh Sơn và các thầy Minh Nguyệt, Huỳnh Liên được mời lên truyền hình của chế độ cũ tiên đoán vận mệnh. Cả ba thầy đều nói những điều tốt đẹp. Không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để tháo chạy mà giữ lấy nghề.

Huỳnh văn Yên post (theo Lăng Nhu)

Advertisements

KHOA NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM (2

NHÀ THÔI MIÊN HỌC

NÓI GÌ VỀ

CÁC NHÀ NGOẠI CẢM

ĐI TÌM MỘ ?

Anh Tuấn cũng cho biết thêm, hiện tại, có 40 trường hợp sau khi áp vong tìm mộ ở trung tâm của anh, thì đã bị “vong nhập” và đã mở trung tâm tìm mộ hoạt động rầm rộ khắp cả nước. Bản thân anh Tuấn không tin bất kỳ một “đệ tử” nào trong việc tìm mộ.

Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân sau khi phân tích hiện tượng áp vong dưới góc độ thôi miên để nhà ngoại cảm này hiểu, thì anh cũng có đôi lời trách cứ. Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn đã tạo ra 40 người có biểu hiện bệnh lý tâm thần. Từ 40 người này, sẽ lại đẻ ra 400, rồi 4.000 người khác. Đến một ngày, có thể sẽ có hàng vạn người coi mình là thánh, là người giời. Đó quả là một tai hại ghê gớm của việc áp vong !

Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, việc nhìn nhận về độ chính xác rất thấp trong tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm của nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn là dũng cảm, đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, anh Quân cho rằng, các nhà ngoại cảm ở Việt Nam tìm mộ chính xác không quá 3%.

Anh Quân không tin sự chính xác của phương pháp tìm kiếm này, song theo anh, vẫn có xác xuất nhỏ tìm đúng. Trường hợp tìm đúng là do khả năng đặc biệt thật sự phát tác trong hoàn cảnh nhất định (ít ỏi) của bộ não nhà ngoại cảm, hoặc do may mắn, do có dữ liệu chính xác phục vụ cho cuộc tìm kiếm mà không nhờ đến khả năng ngoại cảm.

Anh Quân cũng tuyên bố rằng, nếu nhà ngoại cảm nào tìm mộ liệt sĩ đúng 3%, thì anh sẽ dâng cho họ toàn bộ tài sản, danh dự, cả Viện nghiên cứu ứng dụng khoa học thôi miên của anh. Còn nếu họ tìm không đúng 3%, thì anh sẽ cắt lưỡi nhà ngoại cảm. Anh Quân bảo rằng : “Tôi sẽ không lấy tài sản của họ, vì người nghèo sẽ lại dâng tài sản cho họ. Tôi muốn cắt lưỡi để họ không nói dối, lừa đảo người nhẹ dạ cả tin được nữa”.

Kết thúc cuộc gặp gỡ của nhà ngoại cảm và nhà thôi miên, là cuộc nhận thầy – trò. Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn, người mà hàng vạn người xưng là thầy, cậu, thánh chính thức nhận nhà thôi miên Nguyễn Mạnh Quân làm thầy, theo học thôi miên, để tìm hiểu về cơ thể, về khả năng đặc biệt của mình.

Anh Quân bảo rằng, sau một vài năm theo học thôi miên, hiểu rõ về bộ não, vô thức, cơ thể mình, dù có cho tiền, Lê Trung Tuấn cũng sẽ không đi tìm mộ nữa. Khi đó, anh sẽ hiểu rằng, vong hồn, ma quỷ, tìm mộ thực sự là một trò dị đoan.

“Cô gái vong hành” và những khả năng kỳ dị

Khi tập yoga, K. có thể gập đôi người lại, vắt 2 chân lên cổ mình, đi lại quanh nhà bằng 2 tay, trông chả khác gì dị nhân. Thậm chí, trong tư thế đó, cô chạy lướt đi bằng hai mông. Theo lời kể của K., cô có thể nâng cơ thể mình lơ lửng trên không trung giống như những nhà yoga huyền thoại của Ấn Độ !

Như đã nói ở kỳ trước, cách đây 2 năm, khi về Việt Nam, thấy hiện tượng các trung tâm áp vong mọc lên như nấm sau mưa, người người đi áp vong, nhà nhà đi áp vong, Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân đã thốt lên rằng, chỉ thời gian nữa, sẽ có hàng loạt người phát điên, rồi có khi chết cả làng cả xã. Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân không hoàn toàn tin vào thế giới vong hồn, song cũng không bác bỏ. Tuy nhiên, anh khuyên tất cả mọi người, cần tránh xa chuyện áp vong tìm mộ, giao lưu âm dương, bởi nó quá nguy hiểm. Điều cần thiết lúc này là chờ đợi các nhà khoa học có kết luận cuối cùng về hiện tượng này.

Cảnh báo của Thạc sĩ Quân đã thành sự thật. Mỗi bệnh viện tâm thần đều có con số khá dài bệnh nhân tâm thần có nguyên nhân từ chuyện áp vong. Anh Quân đã từng khuyên một số người không nên đi áp vong, song họ không nghe, đến khi bị hoang tưởng thật, thì lại nhờ anh chữa trị. Anh đã từng bực lên và quát : “Tôi không thể đi dọn rác như thế này được !”. Nói rồi, anh Quân mở máy tính xách tay cho tôi xem để chứng thực lời anh nói. Trong mail của anh có cả trăm lá thư, với những lời lẽ thống thiết nhờ anh cứu mạng. Hầu hết những người nhờ vả anh chữa trị đều từng đi áp vong và hiện đang rơi vào trạng thái hoang tưởng, tâm thần rất nặng. Trong số những lá thư đó, tôi đặc biệt chú ý lá thư đầy đau khổ của Nguyễn Thị K. (xin được giấu tên, địa chỉ cụ thể của nhân vật này).

Sau vài lần liên lạc, tôi cũng gặp được Nguyễn Thị K. Câu chuyện của tôi và K. diễn ra tại một quán café vắng. K. đau khổ vô cùng, còn tôi thì không lạ lùng gì với những hiện tượng như K. K. vốn là một học sinh chuyên toán ở Thanh Hóa, tốt nghiệp Đại học Hà Nội 3 năm trước, hiện đang làm cho một doanh nghiệp nước ngoài tại Hà Nội. Công việc tốt, thu nhập cao, nhưng cô đang đứng trước nguy cơ đánh mất mình. Nguyên do từ chuyện áp vong. Đầu năm nay, gia đình đã đưa K. đến áp vong ở Trung tâm tìm mộ Nam Cát (Nam Đàn, Nghệ An) của “nhà ngoại cảm” Phan Thị Hạnh, để tìm mộ cậu ruột.

Câu chuyện của K. cũng ly kỳ như những người khác kể, mà tôi đã nghe quá nhiều. Rời trung tâm tìm mộ, “vong” vẫn nhập vào K. “Vong” đã dẫn gia đình vào tận Quảng Trị, lên gần đến đỉnh một ngọn núi, rồi chỉ vào một điểm giữa rừng. Gia đình đào sâu xuống lòng đất khoảng 60cm, thì thấy một họp sọ. Ngoài hộp sọ ra, thì không thấy mẩu xương nào nữa. Theo lời K. thì xương đã tan hết. Gia đình không nhìn thấy, nhưng cô thì thấy rõ. Gia đình đã mang cốt liệt sĩ về, an táng tại quê nhà. Tôi hỏi, có đúng đó là mộ của cậu K. không, thì K. lắc đầu không biết, không dám khẳng định, vì chưa đi xét nghiệm ADN. Nhưng với những gì đã xảy ra, thì gia đình K. tin tuyệt đối. K. khẳng định rằng, khi “vong” nhập, cô vừa chạy vừa bay lên đỉnh núi ! Dù chân yếu tay mềm, chẳng lên núi bao giờ, song cô chạy với tốc độ không ai đuổi kịp. Có lúc như lướt trên cành cây !

Nhưng tai họa ở chỗ, tìm mộ xong rồi, vong vẫn không buông tha cô. Có lúc “vong” nhập, cô biến thành người khác, song cũng có lúc cô vẫn là mình, nhưng lại nhìn thấy linh hồn trước mặt. Bình thường thì không sao, nhưng hễ tĩnh tâm, là ma quỷ đủ loại hiện ra trước mắt. Rồi những giọng nói sai khiến, khuyên nhủ, đe dọa. Những âm thanh từ trên cao vọng xuống, đề nghị cô phải lập trung tâm để tìm mộ liệt sĩ! (Đã có khá nhiều người áp vong ở trung tâm tìm mộ Nam Cát, sau đó đã thành “nhà ngoại cảm” và đã lập trung tâm tìm mộ – PV).

Không những bị “vong” nhập thường xuyên, nhìn thấy ma quỷ suốt ngày, mà K. cũng phát sinh rất nhiều khả năng đặc biệt. Cô khẳng định, khi nhìn vào ai đó, cô biết quá khứ, tương lai, tính cách, phẩm chất của người đó. Thậm chí, khi tập trung tư tưởng, cô biến thành người Trung Quốc. Đã có lần, cô bạn học tiếng Trung thử khả năng nói tiếng Trung của K., cô đã nhập tâm và nói chuyện lưu loát. Thậm chí, có những từ khó đến nỗi, người giỏi học vài tháng mới phát âm được, song K. chưa học ngày nào, mà nói chuẩn như người Trung Quốc. Cô bạn sợ quá la toáng lên rồi gọi mọi người vào.

Không dừng lại ở đó, K. còn biến thành một nhà yoga cực giỏi, dù trước đó K. không học yoga ngày nào, cũng không biết môn này học ra sao, học để làm gì. Đêm nào cũng vậy, khi chìm vào giấc ngủ, một luồng khí lạnh bỗng chạy dọc sống lưng, khiến K. giật thót mình, ngồi bật dậy. Lúc đó, K. vẫn nhắm mắt, nhưng lại vô cùng tỉnh táo, nhìn rõ mọi vật. Cô mở cửa, đi ra ban công, rồi bắt đầu ngồi tập yoga một cách vô thức. Cô vận khí, dẫn khí đi khắp cơ thể. Những luồng khí chạy trong người, dọc cánh tay to như quả trứng lăn dưới da rồi thoát ra ngoài qua các huyệt đạo.

Khi tập yoga, K. có thể gập đôi người lại, vắt 2 chân lên cổ mình, đi lại quanh nhà bằng 2 tay, trông chả khác gì dị nhân. Thậm chí, trong tư thế đó, cô chạy lướt đi bằng hai mông. Theo lời kể của K., cô có thể nâng cơ thể mình lơ lửng trên không trung giống như những nhà yoga huyền thoại của Ấn Độ ! Tôi đề nghị K. biểu diễn, song cô không đồng ý, vì cô rất sợ rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh đó. K. để nghị tôi xác nhận chuyện này bằng cách đến Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người để hỏi, vì cô đã biểu diễn nhiều lần ở đó. Luyện yoga chính là luyện khí và để tập được bài dẫn khí theo ý muốn như K., thì chỉ có những nhà yoga hoặc người tập khí công cực giỏi, đã tu luyện nhiều năm mới làm được.

Ở Việt Nam, có lẽ chỉ có nhà yoga huyền thoại Nguyễn Thế Trường mới luyện được đến mức đó. Nhưng để bay lơ lửng trên không trung như lời K. kể, thì ở Việt Nam chưa có ai làm được.

Những câu chuyện rùng rợn đó cứ ám ảnh K., một tiếng nói từ trên cao bắt cô phải tham gia đi tìm mộ liệt sĩ, nên cô không thể từ chối. Thế rồi, cách đây 3 tháng, K. đã tham gia Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, cùng các nhà ngoại cảm đi tìm mộ liệt sĩ. Mặc dù đầu óc mụ mị, bị “ma quỷ” sai khiến, song K. là người có trình độ đại học, tiếp thu nền tư tưởng khoa học thực nghiệm của phương Tây (K. học chuyên ngành tiếng Anh), nên cô không dễ dàng tin vào chuyện ma quỷ. Sau 2 tháng làm việc ở Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, lang thang đi tìm mộ liệt sĩ khắp nơi, K. nhận thấy có nhiều điểm rất đáng nghi, phi logic và rất khó hiểu.

Thế giới tâm linh đầy mâu thuẫn và thực sự chưa thuyết phục cô. K. nghi ngờ sự chính xác của việc tìm mộ bằng ngoại cảm, nên cô đã không tham gia tìm kiếm mộ liệt sĩ nữa. Cho đến lúc này, K. vẫn không dám bác bỏ thế giới tâm linh, nhưng dù suốt ngày nhìn thấy ma quỷ, K. vẫn không tin có ma quỷ thực sự. K. hiện đang rơi vào một trạng thái vô cùng đau khổ, không có lối thoát. Tôi đã giải thích rất nhiều với K., mong K. thoát ra khỏi vòng kim cô của ma quỷ, thần thánh. Nhiều điều K. công nhận, tin tôi, song còn một số phân tích, giải thích của tôi, của các nhà khoa học, K. vẫn chưa hài lòng. K. cũng đã săn lùng, đọc nhiều tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài nhưng K. vẫn chưa thỏa mãn. Vì chưa thỏa mãn với một điểm lý giải nào đó của khoa học, hoặc khoa học chưa giải mã được thắc mắc của K., thì K. không thể dứt ra khỏi các vong hồn, ma quỷ.

Hàng ngày, hàng đêm, K. phải chiến đấu không ngừng nghỉ với thế giới ma quỷ. Lúc đến cơ quan, cô làm việc hùng hục, không cho đầu óc được thảnh thơi, tránh để ma quỷ xâm nhập. Những lúc hết việc làm, cô gọi điện nói chuyện với bạn bè, đi gặp gỡ người nọ, người kia. Nếu để đầu óc nghỉ ngơi, hoặc thư giãn, lập tức vong hồn, ma quỷ hiện ra trước mắt, rồi những âm thanh từ cao xa vọng lại. Vì phải căng thẳng chiến đấu với ma quỷ, nên cô rất mệt, ốm liên tục. Nhưng ban ngày bận rộn còn chống lại được “ma quỷ”, chứ ban đêm, chìm vào giấc ngủ, chỉ được một lát, cô lại bật dậy như một hồn ma, ngồi luyện yoga ở ban công nhà mình. K. biết mình rơi vào trạng thái của người bị “tẩu hỏa nhập ma”, đã bị tâm thần, hoang tưởng nặng và không ngại ngần đến bệnh viện tâm thần điều trị. Tuy nhiên, sau 2 tháng điều trị, K. lại rơi vào trạng thái quái gở. Vậy là, thời gian điều trị tại bệnh viện tâm thần đã không mang lại kết quả. K. đã gọi điện, đã viết mail cho thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân, coi anh là điểm tựa duy nhất lúc này để cứu mình khỏi cơ mê muội. Tuy nhiên, vì anh Quân quá bận, chưa thể gặp được. Anh hẹn lần lữa đôi lần, K. buồn rầu không dám nhờ anh Quân nữa. K. đặt niềm tin vào tôi, nhờ tôi giúp đỡ gặp anh Quân, để mong anh gỡ cái thứ ma quỷ quái gở ra khỏi đầu óc cô, để cô được trở lại làm người bình thường.

Quái gở chuyện người đàn bà ngoại tình với “ma”

Thế là, cứ đêm xuống, khi anh chồng ngủ, con “ma” lại chui qua khe cửa vào nhà, lên giường, làm tình với chị H. Nhiều hôm, con “ma” vào phòng sớm quá, chị còn bảo nó nấp sau cánh cửa, chờ anh chồng ngủ say đã rồi hãy lên giường.

Đem chuyện gặp gỡ cô gái Nguyễn Thị K. bị ma quỷ hành hạ kể với Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân, anh Quân bảo rằng, những chuyện đại loại như thế rất nhiều. Anh Quân khẳng định rằng, K. đã rơi vào trạng thái của người bị tâm thần, bị đủ các loại ảo giác, ảo thanh, ảo vọng, ảo thị, còn gọi tâm thần phân liệt.

Theo anh Quân, bộ não gồm có phần ý thức và vô thức. Ý thức điều khiển và bảo vệ cơ thể bằng những “cầu chì”. Hiện tượng mộng du, bóng đè chính là chiếc “cầu chì” nào đó bị lỗi. Khi những “cầu chì” bảo vệ cơ thể bị lỗi, thì cơ thể sẽ bị loạn, ý thức và vô thức hoạt động lẫn lộn, khiến con người ở trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, còn gọi là “tẩu hỏa nhập ma”. Để điều trị những bệnh nhân này, phải tìm được nguyên nhân, gỡ bỏ ám thị, sửa “cầu chì”. Bệnh viện tâm thần có thể điều trị được những ca bệnh kiểu này, nhưng khó triệt để. Phương pháp thôi miên cũng có thể tìm ra nguyên nhân và điều trị tận gốc. Đây là phương pháp điều trị rất thịnh hành ở châu Âu.

Theo anh Quân, hiện tại, những chuyện quái gở kiểu như yêu “vong”, làm tình với “ma” diễn ra rất nhiều. Anh Quân đang phải điều trị cho khá nhiều chị em bị hiện tượng này sau khi đi áp vong về. Trong số những phụ nữ bị yêu đương và làm tình với “ma” được anh Quân điều trị, có một câu chuyện cười ra nước mắt mà tôi không thể tưởng tượng được. Chị Cao Thị H. đã có chồng và một con trai. Chị H. làm việc cho một ngân hàng, còn anh chồng là kỹ sư xây dựng. Nhà cửa ở Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng khá sung túc. Cuối năm ngoái, gia đình tổ chức tìm mộ liệt sĩ, nên chị H. có nhiệm vụ đi cùng để cho vong nhập. “Vong” cũng nhập vào chị H., và gia đình cũng đào một ngôi mộ vô danh về thờ. Chẳng biết rõ hài cốt đó có đúng không, vì gia đình không xét nghiệm ADN.

Nhưng sau khi tìm mộ về, chị H. phát lộ nhiều khả năng đặc biệt, có thể xem bói, gặp gỡ, trò chuyện với người âm thường xuyên. Khả năng của chị khiến anh chồng là kỹ sư, vốn không tin ma quỷ, cũng phải tin sái cổ. Nhưng khốn nỗi, một con “ma” đàn ông đã cướp mất người vợ yêu quý từ tay anh. Nhiều đêm, khi hai vợ chồng đóng cửa, tắt đèn, chuẩn bị ái ân, thì chị lại đẩy chồng ra, rồi ngồi khóc. Chồng gặng hỏi nhiều quá, thì chị buộc phải kể thật rằng, có con “ma” cứ đứng ở cạnh giường chằm chằm nhìn vợ chồng chị, khiến chị không thể chiều chồng được. Anh chồng không thể tin được chuyện này vì đó là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Thế nhưng, khốn nỗi, một thời gian sau, chị H. lại yêu “vong hồn” kia thật. Thế là, cứ đêm xuống, khi anh chồng ngủ, con “ma” lại chui qua khe cửa vào nhà, lên giường, làm tình với chị H. Nhiều hôm, con “ma” vào phòng sớm quá, chị còn bảo nó nấp sau cánh cửa, chờ anh chồng ngủ say đã rồi hãy lên giường. Nhiều lần anh chồng không biết, nhưng lần nào chị H. sung quá, rên la ầm ĩ, thậm chí đòi nhiều tư thế khác nhau, thì anh chồng tỉnh dậy và… bắt quả tang. Cuối cùng, chị H. đành phải khai thật, là đã yêu một con “ma” và đêm nào cũng làm tình với “ma” ngay trên giường của hai vợ chồng.

Hai vợ chồng không còn ái ân gì nữa. Những đêm sau đó, anh chồng cầm dao mà đành bất lực nhìn vợ mình “thác loạn” với “người âm”. Hai vợ chồng đã gặp Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân để điều trị. Anh Quân hiểu rõ được bản chất của căn bệnh và sau vài buổi điều trị, con “ma” đã biến mất khỏi cuộc đời chị H. Theo anh Quân, con “ma” đó chỉ là trí tưởng tượng, là thứ mà vô thức của chị H. vẽ ra. Tuy nhiên, hình ảnh đó rõ ràng hơn nhiều so với những giấc mơ ướt át mà người bình thường hay gặp.

Theo anh Quân, hầu hết những hiện tượng quái gở liên quan đến ma quỷ, vong hồn, thần thánh đều là biểu hiện của bệnh tâm thần, cần phải điều trị khẩn cấp. Nếu không điều trị ngay, bệnh tâm thần sẽ phát ngày một nặng, và khi lý trí không làm chủ được nữa, vô thức xâm chiếm, lãnh đạo cơ thể, thì người đó đã biến thành tâm thần hoàn toàn. Chuyện bị tâm thần, vong nhập thực ra rất đơn giản, chỉ là ám thị tự kỷ mà thôi. Đôi khi, một câu nói đơn giản, có thể giết chết một mạng người là vì vậy. Ông cha ta có câu “lời nói đọi máu” quả không sai. Khổng Minh chỉ dùng miệng lưỡi, mà Vương Lãng hộc máu chết tươi.

Kết lại vụ việc này, Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân kể một câu chuyện có thật mà anh đã tham gia điều trị. Có một nhà khoa học trong nước sang Tây Tạng nghiên cứu. Một pháp sư gặp ông và bảo : Đúng 101 ngày sau ông sẽ chết ! Thượng đế chỉ cho ông làm việc 100 ngày nữa thôi, nên ông cố gắng hoàn thành mọi việc đi. Không hiểu lời nói của vị pháp sư kia ghê gớm như thế nào, mà nhà khoa học này mất hết cả lý trí. Ông đã hoàn thành nốt vài công việc, rồi dặn dò con cháu chuyện hậu sự.

Đến ngày thứ 90 thì ông không ăn uống, không làm được việc gì nữa. Con cháu đưa đi tất cả các bệnh viện, gặp các bác sĩ đầu ngành, song không tìm ra bệnh gì. Đến ngày thứ 99 thì cơ thể không tiếp nhận dịch truyền nữa. Bệnh viện đã bó tay, đề nghị gia đình chuẩn bị hậu sự. Đúng lúc đó, một người con đã nhờ vả anh Quân. Theo lời kể của gia đình, thì ông đã bị một pháp sư Tây Tạng yểm bùa, nên chỉ sống được 101 ngày. Như vậy, chỉ còn 2 ngày nữa, ông sẽ rời cõi trần. Bác sĩ thì không tin có chuyện yểm bùa, nhưng lại không tìm ra nguyên nhân gây bệnh.

Nhưng với những chuyên gia thôi miên, thì hiện tượng này gọi là hiệu ứng NOCEBO. Anh Quân đã dùng phương pháp thôi miên sâu và duy trì giấc ngủ sâu của nhà khoa học này suốt 3 ngày, từ ngày thứ 99 đến ngày 102. Khi ra khỏi trạng thái thôi miên, câu đầu tiên mà nhà khoa học hỏi là ngày thứ bao nhiêu ? Khi biết đã sống đến ngày 102, ông liền bật dậy đi lại và bảo : “Thế là ta không chết được rồi !”. Mấy năm nay, ông vẫn sống khỏe mạnh và không bao giờ tin vào những câu nói đầy sự ám ảnh như thế nữa. Câu chuyện của Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân đầy vẻ huyền hoặc, nhưng nó là hiện tượng có thật, thậm chí là phổ biến. Chuyện người dân đổ xô gặp lang băm chữa bệnh kiểu quái gở, dị đoan, kéo nhau đến khu vườn ngồi chữa bệnh, rồi chuyện đi cầu thai khiến cái bụng bỗng to tướng là điều có thật. Đó là sự ám thị quá nặng nề. Một xã hội lành mạnh, phát triển, thì con người phải tin vào khoa học. Nếu con người cứ chìm đắm vào chuyện ma quỷ, thì sẽ đến một ngày, con người sẽ là nô lệ của cái thế giới vô hình hư ảo.

Nguyễn Thị Mỹ Nhàn post

KHOA NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM (1)

NHÀ THÔI MIÊN HỌC

NÓI GÌ VỀ

CÁC NHÀ NGOẠI CẢM

ĐI TÌM MỘ

Tôi sẽ khiến 4 vạn người

bị “vong” nhập !!!

 Nếu hội đủ điều kiện, chỉ cần một chiếc micro và hệ thống loa với âm thanh chuẩn, anh Nguyễn Mạnh Quân sẽ khiến khoảng 80% số người có mặt ở sân vận động cỡ Mỹ Đình, kể cả già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà bị rơi vào hiện tượng như bị vong nhập ở các trung tâm áp vong tìm mộ.

Phần lớn thời gian nhà thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân ở nước ngoài. Thỉnh thoảng anh mới về Việt Nam, vài ngày ở Hà Nội, vài ngày ở Sài Gòn. Nhà ở và nơi làm việc của anh là khách sạn.

Sau nhiều lần hẹn hò, tôi mới gặp được anh Quân. Anh xuống tận lễ tân tiếp đón. Đó là người đàn ông nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, lời nói như gió thoảng, lịch lãm, rất dễ gần. Buổi gặp gỡ hôm đó, tôi đi cùng một đồng nghiệp nữ. Mục đích lôi đồng nghiệp nữ đi cùng là để thấy anh làm thí nghiệm, còn tôi phải tỉnh táo nhằm quan sát một cách trực tiếp.

Tôi trình bày hiện tượng áp vong, ma nhập diễn ra rất nhiều ở Việt Nam, anh Quân thốt lên : “Thưa nhà báo, cách đây 2 năm, khi về Việt Nam tìm hiểu chuyện áp vong ở các trung tâm tìm mộ, tôi đã phát biểu với các nhà khoa học, rằng cứ tình trạng áp vong lung tung thế này, sẽ có một ngày cả làng, cả xã, cả huyện phát điên, thậm chí là chết ! Điều tôi nói là hơi quá, nhưng không đùa được đâu”.

Nghe điều anh Quân nói, tôi thực sự không thấy đùa chút nào. Thực tế, đã có người chết (chị Cấn Thị Lâm, Phụng Thượng, Phúc Thọ, Hà Nội), còn số lượng người bị tâm thần sau khi đi áp vong thì nhiều vô kể, chưa thống kê hết được. Anh Quân cũng kể rằng, anh đã đến rất nhiều trung tâm áp vong, tìm mộ, lên đồng để tìm hiểu, nghiên cứu, song anh chưa thấy ở đâu có vong nhập thật sự.

Để tôi thấy tận mắt hiện tượng gọi là vong nhập, ma nhập, anh Quân đã mời tôi chứng thực. Anh đã “áp vong” vào đồng nghiệp nữ đi cùng tôi. Anh bảo, không phải việc áp vong với nữ dễ hơn nam, không phải phụ nữ yếu vía thì dễ bị vong nhập. Việc vong ít nhập vào phụ nữ, là vì cả xã hội, tư tưởng con người mặc định như vậy, nghĩ như vậy, tạo ra sự ám thị nặng nề. Với các chuyên gia thôi miên, thì đàn ông cũng như đàn bà, người già, người trẻ, người khỏe, người yếu, cũng sẽ bị “vong” nhập như nhau.

Để chứng minh cơ thể con người là một bộ máy phức tạp, kỳ lạ nhất, anh Quân đã thử nghiệm sức mạnh cơ thể. Anh yêu cầu đồng nghiệp nữ của tôi đứng dậy, nhắm mắt và thư giãn. Anh nâng cánh tay cô lên, nói vài câu ám thị, rằng cô có một sức mạnh mãnh liệt. Nói xong, anh gọi tôi đến, đề nghị tôi ấn tay đồng nghiệp xuống. Kỳ lạ thay, tôi lấy sức ấn xuống, cánh tay lại bật lên. Cánh tay yếu đuối của cô bỗng khỏe một cách kỳ lạ, tưởng chừng có thể đeo được vật nặng vài chục kg. Nhưng khi anh nói câu ám thị khác, thì cánh tay đó liền rơi thõng xuống, cô không còn chút sức lực nào.

Sau khi yêu cầu cô đồng nghiệp của tôi thư giãn, bằng vài câu nói đơn giản, cô đồng nghiệp của tôi đã mất dần ý thức. Anh Quân nói : “Bây giờ, em sẽ không còn tên nữa. Em sẽ không có tên gì cả”. Nói rồi, anh yêu cầu cô mở mắt và hỏi cô tên gì, cô lắc đầu bảo không biết mình tên là gì cả. Thú thực, tôi hơi sửng sốt trước hiện tượng kỳ lạ trước mắt. Cô bạn đồng nghiệp thông minh sắc sảo của tôi đã mất sạch trí nhớ, quên mất cả tên của mình. Anh Quân bảo, sẽ còn nhiều hiện tượng lạ hơn nữa. Anh bảo với cô, đại loại là : “Trước mắt em là một không gian rộng lớn, bằng phẳng, không có một vật gì cản trở, em hãy đi lại một cách tự do”.

Vừa nói xong, cô bạn tôi bước đi, liền va vào đủ thứ, ngã dúi dụi. Theo anh Quân, khi anh nói vậy, lập tức cô không nhìn thấy thứ gì cả, trước mắt là không gian rộng lớn, đẹp đẽ, nên cứ rảo bước, nên mới vấp ngã.

Để thử nghiệm ngược lại, anh đưa cô bạn tôi ra hành lang và nói rằng xung quanh có rất nhiều thứ, cần phải đi lại cẩn thận. Thế rồi, dù hành lang chẳng có vật gì, cô cứ nhón chân từng bước, đi quanh co, né tránh những thứ vô hình. Điều quái gở hơn nữa, là khi anh truyền ám thị rằng, có một con mèo rất đẹp, cô liền đưa tay bế mèo, thơm mèo, rồi nâng niu, nựng nịu như thể bế mèo thật, rồi cho nó đi tiểu, cho nó ăn. Khi anh nói có cô bé dễ thương, cô liền bồng đứa bé và hôn hít, ru ngủ ầu ơ. Nhìn cô bạn tôi lúc này đúng là đang bị tâm thần nặng.

Để tôi thấy sự kỳ lạ hơn nữa, anh Quân liền truyền ám thị rằng, trước mắt cô bạn tôi là con voi của Hai Bà Trưng, rồi anh yêu cầu cô tả con voi đó. Lập tức, cô bạn tôi tả kỹ lưỡng, chi tiết hình dáng, độ lớn, sự dũng mãnh của con voi do Hai Bà Trưng cưỡi đi đánh giặc. Cô còn kể hai nữ tướng đánh giặc ra sao, hùng dũng thế nào, cứ như thể cô đang trực tiếp đứng xem hai nữ tướng ra trận. Sau khi bắt cô bạn tôi diễn đủ trò để tôi hiểu, thì anh đưa cô bạn tôi về thực tại, tức đưa ý thức trở về điều khiển cơ thể. Theo lời anh Quân, khi anh đưa ra ám thị, nói đến thứ gì, lập tức bộ não của người bị ám thị sẽ “vẽ” ra hình ảnh đó. Hình ảnh sinh động đến mức y như thật, khiến con người không thể phân biệt được. Nếu anh đưa ám thị vào cô bạn tôi, rằng cô là liệt sĩ A nào đó, lập tức cô sẽ là liệt sĩ A, nếu nói cô là Bà Triệu, đưa cho cô thanh đao, thì cô cũng sẽ múa đao, điều binh khiển tướng y như Bà Triệu !

Anh Quân tuyên bố rằng, anh không chỉ có khả năng làm cho cô bạn tôi biến thành người khác, bị đủ các loại “vong” nhập vào, mà còn khiến 80% lượng người ngồi chật kín một sân vận động như Mỹ Đình đang xem đá bóng đều bị vong nhập. Để khiến 40 ngàn người bị vong nhập cùng lúc, điều kiện anh đưa ra là phải chặn xe cộ đi lại trên các con đường xung quanh để tránh gây tiếng ồn, ngoài ra thời tiết cũng phải râm mát. Nếu hội đủ điều kiện đó, chỉ cần một chiếc micro và hệ thống loa với âm thanh chuẩn, anh sẽ khiến khoảng 80% số người có mặt ở sân vận động Mỹ Đình, kể cả già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà bị rơi vào hiện tượng như bị vong nhập ở các trung tâm áp vong tìm mộ.

Thạc sĩ thôi miên Nguyễn Mạnh Quân khẳng định có thể làm được điều đó và qua những gì chứng kiến tôi tin anh làm được. Theo lời anh, nếu cùng lúc mấy vạn người có biểu hiện giống bị vong nhập và có trạng thái tương đối giống nhau, thì có nghĩa không phải là vong nhập. Sự thật về vong nhập, ma hành ở các trung tâm tìm mộ được thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân lý giải cặn kẽ, dựa vào kiến thức thôi miên chuyên sâu của mình. Những vụ việc đó đa số không có thật.

Làm thế nào để không bị tâm thần khi đi áp vong ?

Theo Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, nếu ai cứ giữ niềm tin mù quáng vào vong hồn, ma quỷ, thì họ sẽ phải trả giá bằng chính sức khỏe và tính mạng của họ.

Loạt bài giải mã hiện tượng áp vong trên một Báo điện tử nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả. Có hai luồng ý kiến phản biện rõ rệt : ủng hộ và phản đối. Những ý kiến ủng hộ cho rằng loạt bài đã phần nào làm sáng tỏ hiện tượng áp vong, cảnh báo cho nhiều người tránh được việc rước họa vào mình. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến phản đối. Những người có ý kiến này thì tin tuyệt đối vào chuyện áp vong và tin vong nhập là sự thật 100%.

Nhiều ý kiến phản đối anh Quân vì anh đã cho rằng hầu hết chuyện vong nhập là do tự kỷ ám thị. Và tất nhiên, họ vẫn cứ đi áp vong như thường, hiện trạng mê tín dị đoan mỗi ngày một phát triển mạnh mẽ, nảy mầm, đâm rễ khắp xã hội, nên một vài bài báo, vài ý kiến của nhà khoa học cũng không thể thay đổi được nhiều.

Nhà nhà, người người vẫn mù quáng đến các trung tâm áp vong thiếu khoa học để rước họa. Vì thế, Thạc sĩ Quân đã chỉ dẫn những người có niềm tin tuyệt đối vào vong hồn, ma quỷ cách thức để bảo vệ sức khỏe cho mình. Anh Quân không khẳng định việc áp vong là đúng hay sai. Việc có cái gọi là vong hay không, anh nhường câu trả lời cho các nhà khoa học. Riêng anh, anh kiểm tra tất cả các vụ áp vong ở Việt Nam thì thấy chỉ là hiện tượng tự kỷ ám thị. Đây là hiện tượng vô cùng bình thường trong khoa học thôi miên. Những ám thị tiêu cực rất nguy hiểm, song lại khó tránh khỏi nếu không biết cách để đề phòng hoặc loại bỏ. Điều kiện tiên quyết để cho hiện tượng gọi là vong có thể nhập vào một cơ thể trước hết là đức tin tuyệt đối của người đó. Sau đó, họ phải được nghe giải thích trước để hiểu hoặc nhìn tận mắt cảnh vong nhập, những phản ứng của cơ thể và của vong. Đây là ám thị đưa trước.

Tiếp theo là sự mong mỏi và sự chờ đợi phải thật lớn. Trong lúc ngồi đợi vong nhập phải tuyệt đối tập trung vào cảm giác thay đổi của cơ thể chứ không được tập trung vào những tiếng động bên ngoài. Bởi vì, trong trạng thái vô thức, nếu tiếp nhận những ám thị khác lạ bên ngoài, những ám thị xấu, sẽ rất nguy hiểm. Trong trạng thái vô thức, con người khó làm chủ được hành vi của cơ thể. Khi đó cơ thể chỉ có phản ứng theo ám thị và tự ám thị. Ám thị lúc đó là những lời nói hoặc những âm thanh họ nghe được từ phía bên ngoài, tự ám thị là những suy nghĩ, những cảm nhận, những cảm xúc… của chính họ lúc đó. Vì thế, việc đi vào vô thức dưới bất cứ hình thức nào nếu không làm chủ và biết nguyên tắc của ám thị hoặc không được dẫn dắt trực tiếp của người có kinh nghiệm và kiến thức thực sự thì đều vô cùng nguy hiểm.

Thế nhưng, ở hầu hết các trung tâm áp vong, các “nhà ngoại cảm” đều không hiểu gì về ám thị, nên không làm chủ được nguyên tắc của ám thị. Họ không biết chặn các “ám thị rác” từ phía bên ngoài người áp vong. Ở các trung tâm áp vong luôn có hàng nghìn ám thị rác phát ra. Tiếng khóc lóc tạo nên cảm xúc buồn hay thậm chí đau khổ, sự ngột ngạt hay những lời nói giao lưu qua lại tạo nên cảm giác bức xúc, nặng nề, bực bội hay giận dữ… Những ám thị rác này rất nguy hiểm, nhưng rất ít người biết tới.

Theo Thạc sĩ Quân, những ám thị mạnh trực tiếp và đặc biệt nguy hiểm luôn xuất hiện rất nhiều ở các trung tâm áp vong. Chẳng hạn vô thức nhận ám thị “Cẩn thận không chết”, thì ngay lúc đó người áp vong sẽ có cảm giác sợ bị chết, hoặc sợ bị phạt… Chỉ với ám thị như thế con người sẽ có thể bị điên dại hoặc thậm chí chết người. Những lời của người ngoài gọi họ bằng những cái tên khác, họ là phụ nữ lại gọi là anh ơi, ông ơi, cụ ơi… nhưng khi kết thúc cuộc áp vong những ám thị này không được rút lại (những ám thị cho “vong” nhập mà không có ám thị cho “vong” ra), sẽ tạo ra hiện tượng đa nhân cách cho những người áp vong nhiều lần.

Các nhà khoa học nước ngoài đã kết luận rằng, trong trạng thái mà tần số não từ 5 đến 8 Hz (trạng thái vô thức), thì người ta nghĩ gì sẽ ra thế, mọi tác động sẽ gây nên ảo thanh, ảo giác, ảo vọng, ảo thị… có nghĩa là ảo toàn bộ. Tác động bên ngoài sẽ tạo ra tự ám thị. Tự ám thị là những cảm xúc, cảm nhận, những suy nghĩ của họ. Hầu hết là các ám thị tiêu cực thậm chí vô cùng nguy hiểm… Những ám thị này được đưa vào một chiều và sau khi áp vong rồi thì không được tháo gỡ, rút lại. Nếu những ám thị tiêu cực không được thay lại bằng những ám thị tích cực thì những người này bắt đầu bị ảnh hưởng tinh thần, sau đó cơ thể của họ bắt đầu tự thay đổi theo chiều hướng của những ám thị và tự ám thị mà họ đã thu nạp được trong lúc áp vong. Những người này sẽ thường xuyên nhìn thấy ma, quỷ, nghe thấy tiếng nói lạ và có những hành động khác lạ, không kiểm soát được.

Theo Thạc sĩ Quân, điều quan trọng nhất để bảo vệ cơ thể, bộ não của người áp vong là phải thoát ra khỏi những ám thị sau mỗi cuộc áp vong. Về lý thuyết, trong trạng thái này họ đều có thể tự ra được nếu họ hiểu được đúng tính chất của nó, nhưng thực tế có đến 99,9% số người không hiểu biết gì. Họ trở lại là người bình thường, hay thành tâm thần hoàn toàn trông chờ vào sự may rủi và vào cảm giác và suy nghĩ của họ lúc đó. Khi “vong” đã nói hoặc giải thích xong những điều cần giải thích với những người còn sống, thì “vong sẽ thăng” (đây là ám thị đưa trước).

Bởi vậy, sau những câu hỏi như : “Ông còn cần gì không ? Ông còn căn dặn gì nữa không ?”… nếu sau đó câu trả lời là không thì lập tức sự tự ám thị là đã xong việc và kết thúc giao lưu hiện ra tự động. Ngay sau đó họ sẽ tỉnh lại nhưng trong tiềm thức đã ghi nhiều ám thị tiêu cực. Với các chuyên gia thôi miên y khoa, mỗi khi đưa bệnh nhân về trạng thái bình thường, họ phải gỡ hết những ám thị tiêu cực, bởi vì, những ám thị tiêu cực chả khác gì thuốc độc thần kinh.

Rất nhiều trường hợp người áp vong phải tiếp nhận quá nhiều ám thị xấu, những sự tranh cãi, bực bội hay đau buồn quá lớn diễn ra trong lúc áp vong dẫn đến cuộc giao lưu bị kéo dài. Đã vậy, vô thức lại phải nhận các ám thị như “Vong lâu thăng” hoặc “Chắc còn điều gì nên cụ chưa đi” hay “Cụ không đi”, cùng với đó là vẻ mặt thăm dò, lo lắng của những người xung quanh… thì việc vong không ra hoặc ra rồi mà lại nhập lại, thậm chí là nhiều lần, là chuyện bình thường. Những người này nếu không được điều trị sẽ phát điên, thậm chí là chết. Những ám thị như là “Tại sao ông hay bà… không nói?” cũng rất nguy hiểm. Nếu người đó đang trong trạng thái sâu (tần số não khoảng từ 6 đến 7 Hz) mà nhận những ám thị như thế có thể sẽ bị câm hoặc nói ngọng.

Chính vì vậy, muốn giải thoát cho họ để họ không bị vong nhập nữa và có thể trở lại bình thường phải tìm và loại bỏ nguyên nhân, tức là loại bỏ những ám thị kiểu này ra khỏi tiềm thức. Nếu không loại bỏ được ám thị tiêu cực thì sẽ không thể bảo vệ được sự an toàn của bộ não. Vì việc áp vong nguy hiểm như thế, nên công việc áp vong bắt buộc phải là các tổ chức khoa học và phải được trực tiếp quản lý và thực hiện bởi các nhà khoa học có kinh nghiệm về lĩnh vực này, chứ không thể là các “nhà ngoại cảm” tự xưng, thiếu hiểu biết.

Tặng hết tài sản nếu nhà ngoại cảm tìm mộ đúng 3%

Theo Thạc sĩ Quân tuyên bố: Nếu nhà ngoại cảm nào tìm mộ liệt sĩ đúng 3%, anh sẽ dâng cho họ toàn bộ tài sản, danh dự, cả Viện nghiên cứu ứng dụng khoa học thôi miên của anh. Còn nếu họ tìm không đúng 3%, thì anh sẽ cắt lưỡi nhà ngoại cảm.

Sau khi Báo điện tử đăng loạt bài về chuyện áp vong tìm mộ, đặc biệt là loạt bài giải thích hiện tượng áp vong qua phương pháp thôi miên, đã nhận được nhiều ủng hộ của bạn đọc. Có hàng trăm trường hợp đã liên lạc với anh Nguyễn Mạnh Quân để nhờ trợ giúp điều trị bệnh tâm thần do “ma nhập”. Đáng chú ý là có một nhà ngoại cảm rất nổi tiếng, thông qua loạt bài trên Báo đã tìm gặp anh Quân, những mong được hiểu về hiện tượng gọi là vong nhập. Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân đã mời tôi chứng kiến cuộc gặp gỡ có thể nói là khá đặc biệt này.

Đó là nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn nổi đình nổi đám trong giới ngoại cảm tìm mộ, khi chỉ trong năm 2010, anh tuyên bố tìm được 1.400 ngôi mộ liệt sĩ thất lạc !!!?. Như vậy, trung bình, mỗi ngày, trung tâm tìm mộ của anh này quy tập được gần 4 ngôi mộ, một con số quả là khủng kiếp, có lẽ không nhà ngoại cảm nào có khả năng lớn như vậy kể cả Phan Thị Bích Hằng.

Tôi đã có vài lần đến trung tâm tìm mộ của nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn ở thị trấn Hòa Mạc (Duy Tiên, Hà Nam), nhưng đều không gặp được nhà ngoại cảm này, vì anh thường xuyên ra Bắc vào Nam tìm mộ. Cùng với trung tâm tìm mộ của “anh Hồng”, tôi thực sự choáng vì lượng người đến trung tâm này áp vong mỗi ngày. Từ 4-5h sáng, các gia đình đã có mặt ở nhà anh để xí chỗ. Nhà nào 6h mới đến, thì chỉ có cách trải chiếu, mắc lều ở bờ ruộng để ngồi, vì hết chỗ. Trung tâm tìm mộ của nhà ngoại cảm này chả khác gì “đại hội áp vong”, với cả ngàn người áp vong mỗi ngày, tiếng khóc, cười, rú rít nghe thật hãi.

Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn to béo, phốp pháp, làn da ngăm đen, tóc cắt ngắn cũn, trông anh giống một doanh nhân, đại gia, hơn là một nhà ngoại cảm, với gương mặt thần bí, đôi mắt mơ hồ. Cách nói chuyện của anh cũng không giống một kẻ mê muội với ma quỷ, thần thánh, thiên đường, địa ngục…

Cũng như hầu hết các nhà ngoại cảm khác, Lê Trung Tuấn lập trung tâm tìm mộ do sự “chỉ huy” của một liệt sĩ. Trong lúc để “vong nhập”, anh rơi vào trạng thái mơ hồ. Anh làm việc liên tục, tiếp cả trăm người mỗi ngày, nhiều khi đến 3h sáng. Theo lời anh, nhiều khi muốn thoát khỏi trạng thái bị “vong nhập”, song rất khó. Khi đã thoát ra rồi, thì rất mệt mỏi. Khi đã nổi tiếng rồi, anh không cần trực tiếp áp vong vào mình, mà các gia đình tự đến nhà anh, ngồi tĩnh tâm, “vong” sẽ nhập ?!

Nhà ngoại cảm này là cử nhân, từng tốt nghiệp Đại học Kinh tế, có trình độ, tri thức nên mặc dù hoạt động tâm linh, song anh lại khẳng định anh không mê tín và cũng không tin có chuyện vong nhập hàng loạt như thế. Anh Tuấn giải thích với các gia đình đến áp vong, song họ không tin anh. Theo lời anh, người dân nước mình quá mê muội, mù quáng. Anh kể : “Chả hiểu sao, tôi chỉ là người bình thường như ai, mà người ta cứ gặp tôi là xưng cậu, xưng thầy, xưng thánh. Nhiều người bước vào phòng, nhìn thấy tôi, đã bị vong nhập, lăn đùng ra đất. Tôi bảo họ chết, có lẽ họ cũng chết. Cuồng tín đến thế là cùng”.

Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân giải thích đó là hiện tượng bị tự kỷ ám thị mạnh. Chính vì họ nghĩ anh Tuấn là “người nhà giời” (nhà Trời) và ý nghĩ đó mạnh quá, khiến bộ não họ không kiểm soát được cơ thể nữa. Sức mạnh đó có ở các ông thầy bói, thầy bùa, thầy cúng, thầy phép, nhà thôi miên…

Với sức mạnh ám thị của mình, anh Tuấn chữa “bệnh điên” rất hài hước mà vẫn khỏi. Nhiều gia đình khiêng người nhà đến chỗ anh vì “vong” không chịu thăng, khiến người đó cười nói suốt đêm, không ngủ được. Anh Tuấn liền bẻ 3 cành rào đưa cho người đó và bảo đó là que nhang, cứ đem về sẽ “vong” sẽ biến. Không ngờ, chỉ đem que rào về, “vong” chạy đâu mất thật. Anh Quân bảo, hiện tượng que rào chữa “điên” đó, với các thầy bùa, thì nó chính là lá bùa có sức mạnh khủng khiếp. Khi người ta đã mê muội, tin anh Tuấn là thánh, thì thánh phán gì cũng phải, cũng đúng.

Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn cũng kể rằng, anh thường xuyên mâu thuẫn với các nhà khoa học ở Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, vì anh thẳng tính, bác bỏ các chuyện dị đoan, ma quỷ. Thế nhưng, ý kiến của anh bị nhiều nhà khoa học phản đối. Các nhà khoa học bảo anh không cùng quan điểm. Trong khi nhà ngoại cảm này không tin vào mê tín dị đoan, thì nhiều nhà khoa học lại mê muội.

Nhà ngoại cảm này bảo rằng, anh không tin tuyệt đối vào vong hồn, vì nếu vong hồn có thật, đúng 100% khi áp vong, thì xét nghiệm ADN các cuộc tìm mộ phải chính xác 100%. Nhưng thực tế, việc tìm mộ chính xác rất ít.

Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn đưa ra một thông tin chấn động: Trong số 1.400 ngôi mộ mà anh tìm được, anh chỉ tin đúng khoảng 14%. Anh khẳng định rằng, trong số các nhà ngoại cảm ở Việt Nam, anh là người tìm mộ chính xác nhất. Anh vừa vận dụng khả năng ngoại cảm, lại có tri thức của một cử nhân (không như nhiều nhà ngoại cảm khác, có khi chưa qua tiểu học), nên mới tìm chính xác như thế. Theo lời nhà ngoại cảm này, những nhà ngoại cảm khẳng định tìm đúng 70-80% (hầu hết đều khẳng định con số này, thậm chí là các cơ quan khoa học), thì chỉ là nói phét (nói dóc). Anh Tuấn khẳng định, họ chỉ tìm đúng khoảng 3%. Vấn đề này sẽ rõ ràng khi Nhà nước tổ chức xét nghiệm ADN cho các liệt sĩ thất lạc.

Lời khẳng định của nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn quả là gây chấn động cho giới ngoại cảm nước nhà. Hàng vạn bộ hài cốt liệt sĩ đã được quy tập thông qua các nhà ngoại cảm, nhưng con số chính xác có lẽ đếm trên đầu ngón tay.

(Còn 1 kỳ nữa)

Nguyễn Thị Mỹ Nhàn post

NGHI THỨC CÚNG TẾ (2)

NGHI THỨC TẾ LỄ

Tế lễ có tính cách tập thể. Tập thể ở đây có thể là quốc gia, làng xã; có thể là một cộng đồng hay một hội đoàn.  Như vậy, Tế cũng là cúng nhưng hình thức và nghi thức to lớn hơn cúng (cho gia đình, họ tộc).  Tế thường có âm nhạc và có một ban Tế gồm nhiều người, nhiều chức sắc…

Tế lễ có 2 điểm khác với khấn và cúng :

– Tế lễ là cuộc dâng lễ vật một cách long trọng lên những vị Thần lớn như : Trời, Đất, Mùa Màng, Đức Khổng Phu Tử, Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần, Đức Tả quân Lê Văn Duyệt, các vị Thần Thành Hoàng của làng xã…

– Tế lễ còn được tổ chức một cách trọng thể với cờ xí, nhạc lễ và phẩm phục. Phẩm vật tế lễ là vật tam sinh: bò, dê, heo.

Mỗi buổi tế gọi là một diên tế. Thông thường có 2 diên tế : Túc Yết và Đoàn Cả (có khi đọc trại đi là Đàn Cả) :

Túc : Đêm (trực túc : gác đêm); yết : ra mắt. Túc Yết là ‘Lễ hương chức làng dâng lễ ra mắt các vị Thần trong lúc “Kỳ Yên” (1). Như thế, chính ra diên tế Túc Yết phải cử hành về đêm hay ít ra là vào buổi chiều. Hiện nay, tại Lăng Ông Bà Chiểu, diên tế Túc Yết được cử hành vào buổi sáng, có lẽ là vì lý do an ninh cũng như để quan khách từ xa có thể tới tham dự được.

Đoàn : một đám người đông đảo. Cả : lớn, đông. Đoàn Cả là sự tề tựu đông đủ dân làng và khách thiện tín để tế lễ Thần. Đoàn Cả là diên tế chính trong dịp lễ Kỳ Yên tại các đình làng cũng như trong lễ giỗ của các miếu thờ Thần. Học giả Huỳnh Tịnh Của viết : “Chính lễ tế thần, nhằm ngày thứ hai. Phép Kỳ Yên rồi qua ngày sau thì Đoàn Cả.”

Mỗi diên tế Túc Yết hay Đoàn Cả gồm có các nghi thức tuần tự như sau :

Thành phần ban Tế :

– Chủ tế (còn gọi là Tế chủ, hay Chánh tế): Chủ tế chủ trì nghi lễ là người cao niên có phẩm hàm hay đỗ đạt cao nhất làng hoặc là ông tiên chỉ, ông nhất đám của làng… hay một nhân sĩ có uy tín của hội đoàn.

Bồi tế: Hai (hoặc bốn) người bồi tế giúp chủ tế và cứ trông chủ tế mà lễ sao làm vậy

Đông xướng, Tây xướng:  Hai người Đông xướng và Tây xướng đứng đối diện hai bên hương án xướng (đọc) nghi thức hành lễ.  Vai trò này có thể được xem như là một hình thức “em xi (MC)” – người điều khiển chương trình – của buổi lễ.

Nội tán: Hai Nội tán đứng hai bên chủ tế hướng dẫn ra vào và trợ xướng. Nhiều trường hợp, để cho đơn giản tiện sổ sách, vai trò hai Đông Xướng và Tây xướng được hai Nội tán kiêm nhiệm luôn thể…

Chấp sự: Những người chấp sự (vai trò “tà loọc”) đứng hai bên lo việc điếu đóm (dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc, đọc chúc …)

Đồng văn: Người lo việc đánh chiêng trống.

Nghi thức tế trải qua bốn giai đoạn :

1- Nghênh thần: chủ tế lễ 4 lễ – 2-  Hiến lễ: dâng lễ 3 lần, mỗi lần chủ tế và bồi tế đều quỳ để hiến lễ, đọc văn tế (đọc chúc) – 3- Ẩm phúc và thu tộ: Chủ tế nhận lộc thần linh ban – 4- Lễ tạ: Chủ tế lễ 4 lễ.

Cách thức ăn mặc và động tác trong tế từ lâu đã được cung đình hoá.

Vái lạy trong các nghi thức Tế lễ

“… Từ đời xưa, vua đối với bày tôi, bố vợ đối với chàng rể, người tôn trưởng với kẻ ti ấu đều phải lạy đáp lễ… Đến đời nhà Tần mới đặt ra lễ “tôn quân ti thần,” nên thiên tử không đáp lạy bày tôi nữa… Từ quan khanh sĩ trở xuống đều theo cổ lễ mà đáp lễ kẻ ti ấu (bề dưới), nếu kẻ ti ấu chối từ, mới dùng lễ túc bái đáp lại. Còn vái là nghi thức lúc đã lễ xong…. Nước ta xưa kia có chốn công đường có lễ tông kiến, kẻ hạ quan, cũng vái bậc trưởng quan.  Gần đây những kẻ hiếu sự không biết xét đến cổ điên lại cho là lễ của tôn trưởng đối với kẻ ti ấu, còn kẻ ti ấu đối với tôn trưởng không được vái, chỉ lạy xong là cứ đứng thẳng và lùi ra…” (Trích Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ trang 174).

Xem đoạn văn trích dẫn trên ta thấy vái lạy là một phép xã giao, không chỉ vái lạy người trên mà người trên cũng vái lạy đáp lễ. Từ lạy nhau chuyền sang vái nhau trong buổi tương kiến, đến nay ta tiếp thu văn hoá Âu Tây vẫn giữ được phép tôn ti (tôn trưởng ti ấu).

Theo phong tục lễ giáo của ta, bề dưới phải chủ động chào bề trên trước, trẻ chào già trước, trò chào thầy trước.  Nếu bề trên không chào lại người dưới, thầy không chào lại trò, tức là không đáp lễ, thì cũng bất lịch sự chẳng khác gì từ chối người khác, làm cho người đưa tay trước ngượng ngùng và bất bình. Không biết vái, chào lại người khác là đã tự làm mất đi phong cách lịch duyệt của chính mình.

Theo Đạo giáo (Lão giáo), chủ trương  “tay trái” là “tay tôn kính” vì theo tập quán “Người nước Sở trọng tay trái, mà Lão Tử lại là người nước Sở,” ví thế nên “phía bên trái” được coi trọng.

Khi cúng tế, người ta dùng tay trái để cắm nhang vào lư hương. Khi quì lạy, bàn tay phải nắm lại, bàn tay trái bao nắm tay phải, đưa hai tay lên giữa hai lông mày rồi quì xá xuống đất. Khi lạy xuống thì quì gối phải trước rồi mới tới gối trái. Khi đứng lên thì gối trái co lên trước kế đến gối phải rồi toàn thân đứng lên. Cũng có nơi quì hai gối xuống và lên cùng một lúc. Phật giáo khi lạy thì chấp hai bàn tay lại rồi xá xuống, còn Đạo giáo thì nắm bàn tay như trên, hai bên có hình thức khác nhau.

Ngày xưa, người ta lấy hình thức “bốn lần quì thực hiện  tám lần xá” gọi là “lễ kính tối cao.”  Nữ cư sĩ thì lạy có khác với nam cư sĩ, hai gối quì một lượt, nắm tay chỉ cần đưa ngang cổ rồi xá xuống một cách nghiêm cẩn là được.

Tư thế thắp hương lễ bái là, tay phải cầm nhang, tay trái bao ngoài tay phải, đưa lên ngang ngực (không cần phải đưa lên tới ngang hai lông mày hoặc lên khỏi đầu). Đầu nhang hơi nghiêng xéo một chút, nếu xá cao cũng không đưa nhang quá hai lông mày, nếu xá  thấp thì từ ngực xá xuống, giống như vẽ thành một nửa vòng tròn.

Nếu không cầm nhang thì hai tay nắm lại như trên, đưa lên ngang ngực, đầu cúi xuống thành nửa vòng tròn.

Về mặt phẩm vật cúng tế, Đạo giáo chọn “tứ hỉ ngũ quả,” cúng dường bốn món, sáu món, bảy món hoặc mười món, chứ tuyệt không có chủ trương giết heo mỗ dê để cúng tế.

– Tứ hỉ gồm : Trà, rượu, mì sợi, cơm.

– Bốn món cúng dường là :  bông hoa, nước trà, nhang, đèn sáp.

Trong đó, nhang tượng trưng cho sự “vô vi,” bông hoa tượng trưng cho “tự nhiên,” nước trà tượng trưng cho “thanh tịnh,” đèn sáp tượng trưng cho sự “thuận hóa : biến hóa theo chiều thuận,” nghĩa là bốn món nêu lên ý niệm cơ bản của Đạo giáo :  “thanh tịnh, vô vi, tự nhiên, thuận hóa.”

– Bảy món cúng dường là :  nhang, hoa, đèn sáp, nước trà, trái cây, cơm, âm nhạc.

– Mười món cúng dường là:  nhang, đèn , bông , trái, trà, cơm, rau cải, vàng bạc, châu ngọc, y phục.

Thủ Tục / Diễn tiến Tế Lễ.

Diển tiến buổi Tế tương tự như lớp lang của một bản kịch ngắn mà ban Tế cần hiểu biết trước thật rõ ràng; đôi khi phải tập dượt nhiều lần cho suông sẻ, để giữ sự long trọng của buồi tế.  Chi tiết diễn tiến thay đổi tùy miền, tùy loại Tế.

Sau đây xin liệt kê thủ tục điễn tiến của một buổi lễ tiêu biểu (của một giòng họ).  Thủ tục sẽ được Đông xướng, Tây xướng (hay Nội tán) đọc lớn từng bước, làm từng giai đoạn một – Ngày nay, chỉ nên đọc (hoặc làm) phần chữ Việt trong ngoặc là đủ) :

1. Khởi chinh cổ (Nổi trống chiêng)

2. Nhạc sinh tựu vị (Ban nhạc vào vị trí)

3. Củ soát tế vật (Kiểm tra lễ vật cúng)

4. Chấp sự giả các tư kỳ sự (Những người phụ trách cúng vào vị trí của mình)

5. Tế chủ dữ chấp sự giả các nghệ quán tẩy sở (Chủ tế và mọi người phụ trách cúng vào chỗ rửa tay)

6. Quán tẩy (Rửa tay)

7. Thuế cân (Lau tay)

8. Bồi tế viên tựu vị (Bồi tế vào vị trí)

9. Chủ tế viên tại vị (Chủ tế vào vị trí)

10. Thượng hương (Dâng hương)

11. Nghinh thần cúc cung bái (Chủ tế và bồi tế lạy sụp cả xuống)

12. Hưng (Chủ tế và bồi tế đứng dậy)

13. Bái (Lạy)

14. Hưng (Đứng dậy)

15. Bình thân (Đứng ngay thẳng)

16. Hành sơ hiến lễ (Lễ dâng rượu lần đầu)

17. Nghệ tửu tôn sở, tư tôn giá cử mịch (Chủ tế đi ra chỗ án để rượu, người chấp sự mở cái miếng phủ trên mâm đài ra)

18. Chước tửu (Rót rượu)

19. Nghệ đại vương thần vị tiền (Hai người nội tán dẫn chủ tế lên chiếu nhất)

20. Quỵ (Tế chủ và bồi tế quỳ cả xuống)

21. Tiến tửu (một người chấp sự dâng đài rượu đưa cho tế chủ vái một vái rồi giao trả người chấp sự)

22. Hiến tửu (các người chấp sự dâng rượu đi hai bên, hai tay nâng cao đài rượu đi vào nội điện. Xong trở ra)

23. Hưng, bình thân, phục vị

24. Độc chúc (hai người chấp sự vào bàn trong kính cẩn bưng văn tế ra)

25. Nghệ độc chúc vị (người nội tán dẫn chủ tế lên chiếu trên)

26. Giai quỵ (tế chủ, bồi tế, hai người bưng chúc đọc chúc đều quỳ cả xuống)

27. Chuyển chúc (người bưng chúc đưa cho chủ tế. chủ tế cầm lấy, vái một vái rồi đưa cho người đọc chúc)

28. Độc chúc (người đọc chúc lần này đọc bản văn tế. Đọc xong văn tế, chủ tế lạy hai lạy rồi ra phía ngoài. Sau đó lại xướng lễ trở lại để dâng hai tuần rượu nữa. Tuần thứ hai là Á hiến lễ và tuần thứ ba gọi là Chung hiến lễ)

29. Ẩm phúc (hai người vào nội điện bưng ra một chén rượu và một khay trầu)

30. Nghệ ẩm phúc vị (người chủ tế đi ra bước lên chiếu thứ nhì)

31. Quỵ (tế chủ quỳ xuống. hai người đưa chén rượu, khay trầu cho chủ tế)

32. Ẩm phúc (chủ tế bưng lấy chén rượu vái, lấy tay áo che mồm uống một hơi hết ngay)

33. Thụ tộ (chủ tế cầm khay trầu vái rồi ăn một miếng)

34. Tạ lễ cúc cung bái (chủ tế và bồi tế cùng lạy tạ bốn lạy)

35. Phần chúc (người đọc chúc đem văn tế đốt đi)

36. Lễ tất (tế đã xong)

(theo http://kyyeu2010.truongvan.com/?page_id=73)

Trong buổi Tế lễ này có mấy điều chú ý như sau

– Khi chủ tế di chuyển đổi chỗ trên các chiếu, từ chiếu dưới lên chiếu trên thì phải bước ra khỏi chiếu rồi bước lên về phía bên phải của mình, và khi trở xuống cũng bước ra khỏi chiếu trở về phía bên trái của mình tức là bên phải của bàn thờ.

– Hai người bồi tế ngoài nhiệm vụ phụ giúp chủ tế trong việc hành lễ còn có nhiệm vụ thay thế người chủ tế nếu người này vì bất cứ lý do gì không hành lễ được.

– Khi đốt sớ, mọi người dự tế đều phải đứng quay mặt và ngó vào chỗ đốt sớ.

Văn tế, văn chúc

Bài văn Tế thường do Chủ tế đọc.  Nhưng cũng có thể do một người nào đó trong ban Tế đã được chỉ định trước.  Ngày xưa, bài Văn Tế thường viết bằng chữ Hán… Tuy nhiên ngày nay dân gian dùng thẳng chữ Quốc ngữ (tương tự như văn khấn của cúng giỗ).

Cụ Dương Quảng Hàm định nghĩa văn tế ‘là một bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết công đức của người ấy và tỏ tấm lòng kính trọng và thương tiếc của mình’ (Dương Quảng Hàm. Việt Nam Văn Học Sử Yếu. Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, Sài Gòn, 1968. Tr144). Định nghĩa như thế cho nên Cụ Dương đã chia các đoạn mạch của một bài văn tế ra như sau:

1/ Đoạn mở bài

2/ Đoạn kể công nghiệp, đức tính của người chết

3/ Đoạn than tiếc người chết

4/ Đoạn tỏ tình thương nhớ của người đứng ra làm lễ tế.

Tuy nhiên, bài văn tế có thể có các bố cục hơi khác một chút tùy một loại Tế.

Bài Văn tế tiêu biểu

(bài này thấy xử dụng ở Lăng Ông Bà Chiểu và ở các đình làng Miền Nam). Lược dịch phần Lòng linh của bản Văn Tế Túc yết :

Thưa rằng :

Kính cẩn thưa Đức Thượng Công là sao sáng của song núi, do khí linh thiêng của song biển đúc thành. Chức giữ ba quân, đánh Bắc, dẹp Đông. Công mở nước thật không phải nhỏ. Quyền hạn đảm đương muôn dặm, miền Đông yên, vùng Tây lặng. Sức giữ yên đất nước, khó có ai tiến tăm bằng. Lúc sống thì làm tướng, khi chết trở nên Thần sáng rực rỡ vang lừng mà tiếng hiển hách chói lọi cao. Lúc vua nguy khốn thì phò, khi nướv yếu thì trợ. Hiếm có thay lúc Ngài sống đã tranh đấu cho sự vinh dự. Giúp đỡ dân mà hiển hách. Rất đẹp mà linh thiêng.

Thưa rằng, nhân lúc trời mùa Thu, cử hành lễ Túc Yết cung kính. Làm lễ vào buổi sáng sớm. Xin cáo với bậc Thần minh cảm nhận cho. Khấn nguyện bằng lễ này mong Ngài độ trì phù hộ. Vòi vọi ở trên đó, ngửa trông ban điềm lành, ban phước. Cao cả nơi linh thiêng, tất cả bằng Thần lực, không có điều xấu, không có thanh âm. Cúi lậy Đức Thượng Công ban cho thêm ân huệ.

Nay cúi lậy kính cẩn mà thưa vậy.

Lược dịch phần Lòng linh của bản Văn Tế Đoàn Cả:

Thưa rằng:

Kính cẩn thưa Đức Thượng Công, là bậc mở nước có công đầu, ít có ai trong triều đình lại giúp vua lớn như thế.

Làm hưng thịnh lên, phụ tá rực rỡ, quét sạch bọn tàn bạo, Làm bậc hổ tướng với quyền tước đương thời, dẹp yên bọn Chân Lạp, Xiêm La gian tham.

Tướng tài ít có hai, tài thao lược giúp được nhiều công lắm. Quốc sĩ vô song, trí dũng đáng tôn xưng là lớn cả.

Trải hơn 10 năm, dẹp yên quân cường khấu, tiếng thơm lừng lẫy chốn quân triều.

Mấy chục năm trời, đứng đầu nơi phiên trấn, oai dũng vang xa đều biết tới.

Hết lòng nuôi dân, mến kẻ sĩ, phong cách bậc nhân được nhớ lâu bền ở lòng người.

Để ý giúp đời trị nước, thành tích chánh đáng mãi còn trong sử chép Kính trọng lập đàn mà bái vọng, nghiễm nhiên lẫm liệt oai hùng,

Tôn sùng miếu vũ mà nhớ công cao cả dương dương chính khí.

Trộm nghĩ rằng:

Hội đã trải qua nhiều nỗi gian khổ mà giữ sự thờ cúng bằng cách chỉnh tu Lăng Miếu cho lâu dài,

Gặp nhau mà bàn tán thu góp tiền bạc tu bổ hầu trang trải các kinh phí xây cất.

Hết lòng truy tìm vết tích cũ để hoài niệm và tưởng nhớ khôn nguôi đến Đức Thượng Công.

Lòng xúc cảm mà ngưỡng mộ không dứt.

Nghĩ rằng:

Nhân lúc tiết trời mùa Thu, nhớ lệ cũ mà ca diễn, kính cẩn làm lễ dâng cỗ bàn thanh khiết, mong chứng giám cho sự thờ kính này.

Kính dùng nhang đèn, mong Ngài hiểu cho lễ đơn giản yên lặng,

Ngửa trông Ngài ban đến mọi nhà trong thôn làng đều được phong hanh.

Nhận hưởng ở lòng thành, lũ bản Hội những mong ơn tốt đẹp.

Nay kính cẩn mà thưa vậy.

Hai đọan Long linh ở trên được ghi chép lại /  trích từ bản Văn tế theo diễn tiến của lễ Kỳ yên (1) Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt.

Ghi chú:

(1) Tế Kỳ yên, Tế kỳ phúc, là gì ? 

Theo Phan Kế Bính, ờ miền Nam, các lễ hội lớn gọi là Kỳ Yên; và .ở đồng bằng sông Hồng, Bắc phần, cũng theo Phan Kế Bính ghi lại, hàng năm làng tổ chứcTtế Kỳ phúc (cầu an, cầu phước), từ 10 tháng 2 đến 15 tháng 2 với nghi thức và nội dung giống hệt như Kỳ Yên ở miền Nam – Lễ tháng 2 là Tế Kỳ Phúc còn gọi là “Xuân tế.”

– Sách “Gia Định thành thông chí” (mục Phong tục chí) của Trịnh Hoài Đức có đoạn giới thiệu lễ Kỳ yên ở miền nam xưa như sau:

Cúng Kỳ yên : mỗi làng (ở Nam Bộ) có dựng một ngôi đình, ngày cúng tế phải chọn cho được ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy lớn nhỏ đều nhóm tại đình, họ ở lại suốt đêm ấy, gọi là túc yết. Sáng ngày mai học trò lễ mặc áo, mão, gióng trống khua chiêng làm lễ chánh tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn, lễ xong lui về…

Hiện nay, lễ Kỳ yên cũng được tổ chức trong ba ngày, gồm nhiều lễ tế khá phức tạp nhưng cũng khá bài bản, trong đó có ba lễ chính là: Túc yết, Đàn cả (quan trọng nhất) và Lễ tế Tiền hiền, Hậu hiền. Tuy mỗi nơi có thể khác về giờ giấc, thứ tự & chi tiết, nhưng thường thì các lễ được tiến hành đại để như sau:

Ở lễ Kỳ yên, phần “lễ” chiếm phần quan trọng hơn phần “hội.”  Các đối tượng cúng lễ là một tập hợp thần linh đông đảo không chỉ riêng có thần Thành hoàng Bổn cảnh. Lễ này là dịp để dân làng họp mặt, bàn chuyện, vui chơi. Những tục lệ này nhằm thắt chặt tình cộng đồng. Còn hát xướng trong ngày lễ Kỳ yên không phải là văn nghệ bình thường mà mang nội dung nghi lễ. Chương trình văn nghệ phải có nội dung đạo lý, kết thúc có hậu. Đặc biệt tiệc tùng trong ngày lễ Kỳ yên ở đình làng Nam Bộ chỉ mang tính liên hoan, chiêu đãi, hoàn toàn không có tục “chiếu trên, chiếu dưới,” nhậu nhẹt say sưa như những nơi khác.

Lễ Kỳ yên thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng qui tụ về với lễ vật trên tay, người nào cũng trang phục chỉnh tề, quỳ lạy trước bàn thờ và cầu nguyện thần linh sao cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi, sản xuất phát triển, nhân dân ấm no. Như thế, lễ Kỳ yên mang hai ý nghĩa: vừa tưởng nhớ một vị có công khai phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một sinh hoạt văn hoá dân gian đáng được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện phát triển.

Trần Văn Giang (7/22/2011)