SANH VÀO MÙA NÀO TỐT ?

BỐN MÙA SINH

THỜI VẬN NÀO

TỐT NHẤT

TRONG ĐỜI BẠN ?

Đời người thường xảy ra biết bao thăng trầm nhưng cơ hội để bạn có được hạnh phúc lại không nhiều. Vì vậy nếu biết phối hợp thời kỳ tốt đẹp của cuộc đời vào những việc trọng đại như hôn nhân, xin việc, chuyển ngành, mở mang cơ nghiệp thì cuộc sống của bạn sẽ khá hơn. Thời vận đỏ chính là thời kỳ khí số của bạn đang sung mãn nhất. Nếu bạn biết nắm bắt lấy nó, như vậy là đã nắm bắt được hạnh phúc của mình ở mức độ cao hơn.

Người ta thường nói đến thời vận lúc trẻ, thời vận lúc thanh niên, thời vận lúc trung niên và thời vận khi về già. Tổng hợp cả bốn loại thời vận trên, chúng ta hãy gọi là “bốn loại thời vận”, trong bốn loại thời vận ấy, thời vận thời nào của bạn là rực rỡ nhất ?

Đó là mối quan hệ rất mật thiết giữa mùa sinh của một người, với bốn loại thời vận :

– Người sinh vào mùa Xuân (từ tháng Giêng đến tháng Ba) thuộc loại sơ niên vận (từ khi sinh ra đến năm 20 tuổi) vận số cực thịnh.

– Người sinh vào mùa Hạ (từ tháng Tư đến tháng Sáu) thuộc loại thanh niên vận (từ 20 đến 35 tuổi) vận số cực thịnh.

– Người sinh vào mùa Thu (từ tháng Bảy đến tháng Chín) thuộc loại trung niên vận (từ 35 đến 50 tuổi vận số tốt đẹp).

– Người sinh vào mùa đông (từ tháng Mười đến cuối tháng Chạp) thuộc loại vãn niên vận (từ 50 tuổi trở lên vận số tốt đẹp).

Nếu thời gian vận số tốt nhất của cả đời đến với bạn mà bạn biết nắm lấy cơ hội thì bạn sẽ gặt hái thành công.

Thí dụ bạn là người cầm tinh con Ngựa, được sinh vào mùa Hạ. Những người cầm tinh con Ngựa sinh vào mùa Hạ thuộc loại vận số tốt nhất vào độ tuổi thanh xuân. Người sinh năm Ngọ có số vận đỏ vào năm Dần và năm Mùi trong khoảng thời gian của vận số tốt.

NGƯỜI SINH VÀO MÙA XUÂN

Một năm được chia ra làm bốn mùa. Mùa Xuân tứ đầu tháng Giêng đến cuối tháng Ba. Mỗi mùa ba tháng.

Những người sinh vào mùa Xuân thuộc loại sơ niên vận.

Bởi vì mùa Xuân là mùa mà vạn vật hân hoan tiến vào thời kỳ phồn vinh, hoa lá đua nhau khoe sắc, ong bướm rập rờn, cây cối đâm chồi nảy lộc mọi thứ trên đời đều như trẻ lại. Đồng thời vào xuân, băng tuyết đã bắt đầu tan chảy, khắp nơi hoa nở, chim hót rộn ràng và các loại động vật ngủ đông cũng đã bắt đầu thức giấc. Vạn vật đều tràn trề sức sống.

Chính vì vậy ông cha ta đã gọi cuộc sống của mỗi con người thời trai trẻ là “tuổi thanh xuân”. Và vận số loài người cũng bị ảnh hưởng bởi niềm hân hoan bước vào thời kỳ phồn vinh ấy. Những người sinh vào mùa Xuân ngay từ lúc còn nhỏ đã được ông trời ưu đãi, quá trình trưởng thành của họ chẳng khác gì hình vẽ của một ngọn núi lửa .

Bạn trẻ có thể trưởng thành nhanh chóng hay không đều dựa vào trạng thái tinh thần của bậc làm cha, làm mẹ. Tức là tinh thần của họ cũng được thoải mái , thư thái trong không khí của mùa Xuân và sinh ra đứa con với tinh thần thư thái ấy. Những đứa con này lớn mạnh nhanh chóng, đó là lẽ đương nhiên.

Trong không khí hân hoan tiến tới sự phồn vinh ấy, lại được cha mẹ nuôi dạy, chăm sóc, yêu thương khi trong lòng họ tràn đầy sắc xuân, vận số của đứa trẻ ấy từ khi được sinh ra cho tới năm hai mươi tuổi vốn được ông trời đặc biệt ưu đãi. Mà cái gọi là “được ông trời đặc biệt ưu đãi” ấy không phải chỉ thỏa mãn về phương diện vật chất mà còn có cả tình yêu thương của cha mẹ nữa. Nó còn bao hàm tổng hợp tất mọi ưu đãi trong đời sống, môi trường.

Vì vậy, đứa bé có được nhân tố tuyệt với để trưởng thành có thể nói là những đứa bé sinh vào mùa Xuân đều có đầy đủ. Vì vậy, đối với những đứa trẻ được sinh vào mùa Xuân, trong quãng thời gian “Sơ niên vận” của mình vốn là thời kỳ vận số tốt. Nếu chúng biết nắm bắt lấy thời điểm “vận số tốt” ấy thì ngay từ lúc còn trẻ chúng đã có thể xuất đầu lộ diện, tiến lên cao, cả đời thuận buồm xuôi gió.

Những người sinh vào mùa Xuân cần phải lưu ý đến vận xấu của mình ở độ tuổi trung niên.

Những người sinh vào mùa Xuân cần phải đặc biệt chú ý đến những năm hạn.

Vì vậy nếu bạn được sinh vào mùa Xuân, nên cố gắng vươn lên ngay trong thời kỳ rực rỡ nhất “Sơ niên vận” của mình, cố gắng nắm lấy thời vận lúc đang lên, đồng thời cũng phải lưu ý đến độ tuổi trung niên là lúc thời vận của mình đang xuống, phải thật cẩn thận trong lời ăn tiếng nói và công việc.

Bạn nên thận trọng khi làm một việc lớn mới vào năm vận hạn. Những người sinh vào mùa Xuân nếu có sự cạnh tranh, tranh chấp xảy ra vào độ tuổi trung niên tức là lúc vận hạn của mình thì dù bạn không sai nhưng người gánh chịu phần thua thiệt vẫn chính là bạn.

NGƯỜI SINH VÀO MÙA HẠ

Mùa Hạ vào khoảng từ đầu tháng Tư đến cuối tháng Sáu. Nếu bạn là người sinh vào mùa Hạ thì vận số cả đời của bạn, thuộc loại “Thanh niên vận” Đối với những người sinh vào mùa Hạ thì vận số thịnh nhất vào khoảng lúc tuổi thanh niên. Bất kể họ làm việc gì đều tự do tự tại. Đồng thời, nếu bạn biết vận dụng tốt quãng thời gian có vận số thịnh nhất của mình thì cuộc đời của bạn sẽ phát triển tốt.

Vào mùa Hạ mặt trời rực rỡ, chiếu rọi khắp nơi, mọi vật đều tràn đầy sức sống. Trong thời gian này lúa đang trổ bông, phấn hoa lan tỏa khắp không gian để chuẩn bị kết trái. Mùa Hạ là mùa mà vạn vật vận động mạnh mẽ nhất trong bốn mùa. Mùa Hạ chính là ngưỡng cứa của mùa Thu, là mùa thu hoạch. Nếu dùng bốn mùa để ví với cuộc sống của một đời người thì đó là mùa mà người ta có nhiều biến động lớn nhất. Nếu nói theo màu sắc thì biểu tượng của mùa Xuân là màu xanh lục còn màu đỏ là biểu tượng của mùa Hạ.

Những người sinh vào mùa Hạ cần phải biết nắm lấy vận đỏ vào độ tuổi thanh niên của mình.

Nếu bạn là người được sinh vào mùa Hạ thì đến khi về già, quay đầu nhìn lại vận mệnh cả đời của mình, nhất định bạn sẽ thấy vận mệnh của mình phát triển rực rỡ nhất vào độ tuổi tứ 25 đến 30 của mình.

Nếu bạn là người sinh vào mùa Hạ, dù cho thửa nhỏ của bạn trôi qua không được êm đềm cho lắm nhưng tuyệt đối bạn chớ nên nhụt chí. Những người thành công đều là những người đã vượt qua được thử thách của hoàn cảnh, ngay từ nhỏ đã theo đuổi mục tiêu của cuộc đời, biết dũng cảm tiến lên phía trước, luôn nỗ lực phấn đấu không biết mệt mỏi.

NHỮNG NGUỜI SINH VÀO MÙA THU

Ai cũng biết rằng mùa Thu có ba tháng, kéo dài từ đầu tháng Bảy đến cuối tháng 9. Các bạn thử hình dung lại mùa Thu ở vùng ngoại ô xem sao. Đầu tiên, mùa thu chính là mùa thu hoạch. Lúa hay các loại hoa mầu khác đều được thiên nhiên ban thưởng hậu hĩnh, cuối cùng cũng đã tới lúc chín muồi, tạo cho người nông dân cảm giác vui vẻ khi thu hoạch mùa màng về nhà. Vùng ngoại ô miền núi cũng khoác lên mình nét đẹp rực rỡ. Đó chính là một trong những đặc trưng cua mùa Thu.

Thế nhưng sau khi mùa màng đã được thu hoạch xong, khung cảnh ngoài đồng lại khiến người ta có cảm giác cô tịch, vắng lặng, không thể che giấu nổi nỗi buồn mang mác của mùa. Thu trước phong cảnh tiêu điều, cô tịch của vạn vật.

Những người sinh vào mùa Thu, vốn bị ảnh hưởng của mùa thu hoạch. Như biểu đồ đã chỉ, vào độ tuổi trung niên, độ tuổi chín chắn của cuộc đời vận số thịnh nhất sẽ đến với họ.

Vận số của bạn có chiều hướng đi xuống vào độ tuổi trước trung niên. Các bạn chớ ngại khi liên tưởng đến cây lúa, trước khi trổ bông kết trái đã phải trải qua sự khảo nghiệm của mưa gió. Tức là vào mùa Hạ, nhưng đợt gió mạnh thổi qua làm thân cây nghiêng ngả, rập rờn. Như vậy cây lúa mới có được điều kiện thụ phấn giữa hoa đực và hoa cái, mới có được vụ thu hoạch vào mùa Thu. Cũng giống như đạo lý trên, những người sinh vào mùa Thu trước khi bước vào cuộc tranh thắng phụ đều phải trải qua các cuộc khảo nghiệm kỹ lưỡng.

Có vượt qua được các cuộc khảo nghiệm ấy hay không, điều này phụ thuộc bởi vận mệnh của những người sinh vào mùa Thu. Những người sinh vào mùa Thu phải biết cần cù cố gắng ở độ tuổi thanh niên.

Ngoài ra còn một vấn đề cần phải nói nữa, cuộc sống nửa trước của cuộc đời họ đa số đều trải qua một cách bình lặng. Do đó, thông thường mà nói, họ không đủ lòng kiên nhẫn để đợi cho qua kỳ ngủ đông này, thường có những hành vi khinh xuất manh động, tự đào mồ chôn mình hay oán trời chẳng chiều người, cảm thấy vô cùng thất vọng trong cuộc sống, có rất nhiều người vứt bỏ mọi sự cố gắng của mình đi. Kết quả là dù vận số cực thịnh thời trung niên của họ có tới , không những họ không biết nắm lấy, thậm chí họ để nó trôi đi một cách tự nhiên còn mình thì chết dần trong sự buồn bực.

Ngược lại, những người biết nuôi hy vọng cho tương lai của mình trong thời kỳ ngủ đông này, vẫn liên tục cố gắng một cách không biết mệt mỏi tất đến độ tuổi trung niên họ sẽ thu được thành quả mĩ mãn của mình.

Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa. Đối với những người sinh vào mùa Thu, làm việc vất vả thời thanh niên nhất định sẽ được dền bù xứng đáng về sau này. Hơn nữa tôi cũng muốn khuyên những người sinh vào mùa Thu một điều là : Chớ nên theo người của mình. Nếu bạn làm được như vậy, bất luận bạn theo đuổi sự nghiệp gì, qua độ tuổi 35 của mình, nhất định bạn sẽ gặt hái được thành công. Còn đối với công việc chuyên ngành hay đổi sang công việc mang tính tự do thì bạn vẫn cần phải cẩn trọng trong thời thanh niên, tuyệt đối chớ nên manh động.

Ví dụ như những người cầm tinh con Cọp vốn rất hay thay đổi công việc, chính vì vậy mà không ít người đã để thời điểm vận số cực thịnh của mình qua đi một cách phí phạm. Nhưng nếu những người sinh vào mùa Thu có khuynh hướng ấy, thời thanh niên họ liên tục thay đổi công việc, kết quả giành cho họ là trăm điều hại mà chẳng có lấy một chút lợi nào, trở thành kẻ thất bại của cuộc đời.

Nhưng nếu họ thay đổi công việc vào thời kỳ vận số thịnh nhất ở độ tuổi trung niên của mình, rất có thể họ sẽ đạt được những thành tích khiến người khác phải ngưỡng mộ, từ đó tạo ra một cuộc sống phát triển mạnh mẽ, hoàn toàn mới của mình.

Cũng giống như việc thay đổi ngành nghề vậy. Trên phương diện hôn nhân, đa số những người sinh vào mùa Thu nếu kết hôn muộn sẽ có cuộc sống gia đình, hạnh phúc. Nếu họ kết hôn sớm thì không tốt, dễ thay đổi.

Bội thu ở độ tuổi từ bốn mươi đến năm mươi.

Tóm lại, những người sinh vào mùa Thu sẽ có vận số cực thịnh ở độ tuổi trung niên của mình. Dù nhắc đến những nhân vật thành danh thì họ đều thuộc số những người bắt đầu phát ở độ tuổi từ ba mươi đến bốn mươi, đến độ tuổi trung niên họ bắt đầu gặt hái thành công to lớn.

NGƯỜI SINH VÀO MÙA ĐÔNG

Mùa Đông dài ba tháng, vào khoảng từ đầu tháng Mười đến hết tháng Chạp. Nếu bạn sinh vào mùa Đông, như vậy vạn số của bạn sẽ thuộc loại “Vãn niên vận”.

Bởi bạn được sinh vào mùa Đông, hoa cỏ tàn tạ phải gánh chịu gió lạnh tuyết rơi và cũng là mùa ngủ đông của các loài động vật. Đó chính là cách tự bảo tồn của các loài động, thực vật để vượt qua mùa Đông lạnh lẽo, chờ đợi mùa Xuân ấm áp.

Tức là nhùng người sinh vào mùa Đông như bạn vốn trời ban cho số vừa phải ẩn mình đợi đến mùa Xuân, vừa phải dưỡng thần, tích luỹ nhuệ khí, vốn có sức nhẫn nại lớn vô cùng. Dù bạn gặp phải bất cứ nghịch cảnh gì, bạn đều có thể điềm nhiên chấp nhận. Và bạn cũng có khả nàng tự khắc phục cực kỳ siêu việt. Vì vậy, so với những người sinh vào các mùa khác, vào độ tuổi trung niên trở về trước thì bạn không bằng được họ nhưng vì bạn biết dựa vào tính nhẫn nại và khả năng khắc phục chính mình nên lúc về già có thể bạn sẽ thành danh, cuộc sống dễ chịu.

Phải chăng vận số của những người sinh vào mùa Đông không tốt bằng “sơ niên vận”, “thanh niên vận” , “Trung niên vận” ? Chưa hẳn đã thế.

Như trên đã nói, dù quãng thời gian vận số cực thịnh của cuộc đời họ đến muộn nhưng vẫn có những năm vận số tốt đều đặn đến với họ theo một chu kỳ nhất định.

Và nếu can chi của họ có vận số tốt (ví dụ như người cầm tinh con Rồng, Hổ, Rắn, Khỉ, Lợn vốn là những con vật có vận số mạnh hơn những loài khác trong mười hai địa chi) lại kết hợp với thời gian sinh, thậm chí với cha mẹ bạn học có duyên số tốt thì bạn cũng có thể có vận tốt may mắn đến.

Những người sinh vào mùa Đông đã giành được đại thắng nhờ tính nhẫn nại và công phu chờ đợi của mình.

Dù bạn nắm bắt được vận tốt vào độ tuổi thanh niên nhưng vận số lúc ấy của bạn vẫn chưa phải là vận số thực sự. Xét theo một khía cạnh khác thì vận số đó không có một chút tính chắn chắn nào. Tức là dù bạn có thể xuất đầu lộ diện từ lúc bạn còn trẻ nhưng e rằng bạn khó có thể giữ nó lại cho đến lúc bạn già.

Những người sinh vào mùa Đông dường như phải đợi đến lúc về già mới nắm bắt được hạnh phúc thực sự của mình. Vì vậy vào độ tuổi thanh xuân dù luôn gặp phải nghịch cảnh có tài mà không được trọng dụng, không nắm được vận đỏ thì bạn cũng chớ lấy đó làm bi quan. Hãy vui vẻ thoải mái, bình tâm tĩnh trí đợi đến khi thời cơ đã chín muồi.
Thùy Lan post

Advertisements

Nhà ở theo thuật phong thủy

THIẾT KẾ NHÀ Ở

VỚI PHONG THỦY

Sau khi đã tính ngày giờ hoàng đạo để khởi công động thổ các bạn phải tính đến việc thiết kế ngôi nhà đúng thuật phong thủy. Trong thiết kế có những điểm chính cần được lưu ý :

1/- NHÀ ĐỐI NHÀ

Cuốn “Phong thủy tục ký” ghi một tập quán :

– Mấy nhà xây cùng dãy phải cùng trên một đường thẳng, gọi là xống hay long (rồng). Nhà cao thấp phải như nhau. Nếu nhà nào nhô ra phía trước gọi là “cô nhạn xuất đầu” (chim nhạn ló đầu ra) gia chủ chịu cảnh cô quả (chết chồng hay chết vợ). Nếu thụt vào trong gọi là “thác nha” (răng khểnh), gia đình lục đục.

Nếu cao thấp không đều, là khí cao đè khí thấp, nhà bên trái có thể cao hơn nhà bên phải, phòng ốc cũng nằm trong trong thế trang trí này, nhưng phòng bên phải không nên cao hơn phòng bên trái, phòng phụ phải nhỏ hơn phòng chính, và phòng phụ không được cao hơn v.v…

Đây là thế nhằm phá bỏ cách trò khinh thầy, tớ khinh chủ, là thế Tả thanh long Hữu bạch hổ (bên trái rồng xanh cao vạn trượng chẳng cho bên phải hổ ngóc đầu).

Khi bước vào nhà mọi người thấy sáng sủa, thoải mái thì tốt, nếu bị các nhà phía trước che chắn mất ánh sáng, cần đặt nhiều lỗ thông gió.

Trong nhà lập “giếng trời” nhưng vừa đúng thước Lỗ Ban để lấy thêm gió và ánh sáng, nhà hướng Tây Nam làm giếng trời không tốt.

2/- KÍCH THƯỚC XÂY DỰNG

Thời nào cũng vậy, theo nhân sinh quan mỗi người, việc tính kích thước cho cửa chính, cửa phụ, bề ngang nhà và cách trang trí nội thất rất được xem trọng, như từ huyền quan (cửa chính) đi vào phải có sảnh rộng thoáng v.v…

Huyền quan tức mặt tiền nhà. Trong cách tính bốn phương tám hướng 24 phưiơng vị cát hung, như đã trình bày các mục trước. Như người trạch Kiền chọn hướng chính Tây được cung Sinh Khí, vậy huyền quan phải nhận được ánh nắng chiều vào nhà mới đúng. Vì huyền quan phải đối với hướng tốt, tránh hướng xấu.

Không làm nhà “đầu voi đuôi chuột” sẽ tán tài. Bên phải dài bên trái ngắn không có lợi cho vợ. Cần làm nhà các cạnh đều nhau, tuy nhiên hẹp ngang dài đòn là xấu.

Không làm trên miệng giếng cũ, ngã ba đường, trước miểu sau chùa (tức không để huyền quan nhìn vào, còn xoay lưng trước miễu hay sau chùa không nằm trong thế này).

Kích thước nhà ở có quy chế nhất định, ngày nay đa số dùng thước Lỗ Ban để đo; còn xưa kia thường dùng cách tính bằng bộ (bước) thay cho xích (thước) làm đơn vị.

4 thước 5 tấc là một bước (thước này tính theo thước phong thủy Trung Quốc xưa thường dùng, nhà Ân tính 1 tầm là 8 thước, nhà Chu lấy 7 đến 8 thước gọi là nhẫn, vì thế các loại thước đo này nay không còn tồn tại khi có thước đo tính bằng centimét ra đời).

Cách tính theo xưa :

– Một bước khởi đầu là KIẾN  (xây dựng)

– Bước hai là TRỪ  (loại bỏ cái xấu)

– Bước ba là MÃN  (đầy đủ)

– Bước bốn là BÌNH  (bình thường)

– Bước năm là ĐỊNH (ít thay đổi)

– Bước sáu là CHẤP  (có thời cơ)

– Bước bảy là PHÁ (tan vỡ)

– Bước tám là NGUY (không yên ổn)

– Bước chín là THÀNH  (thành đạt)

– Bước mười là THÂU  (thu hoạch)

– Bước thứ mười một là KHAI (mở mang)

– Bước thứ mười hai là BẾ (bế tắc)

và những bước đi tiếp theo lại tính tiếp Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định v.v…

Qua tính cách của 12 bước trên, ta thấy có chiều dài như Kiến nguyên cát, Trừ sáng sủa, Định kim quỹ, Chấp là thiên đức, Thành là tam hợp, Khai là sinh khí thuộc các bước tốt còn những bước khác xấu.

Khi vận dụng các bước, người xưa quan niệm :

– Về bề rộng căn nhà không được phạm vào các bước Mãn, Bình, Thâu, Bế.

– Về chiều dài lấy Trừ, Định, Chấp, Khai.

Nếu bề rộng hay chiều dài căn nhà có được Trư, Định, Chấp, Nguy, Khai, Kiến nhà sẽ có quý tử. Còn Trư, Định, Nguy, Khai, Chấp, Kiến sẽ có thành đạt…

– Khi đắp mặt bằng (nền nhà) ở trước cao sau thấp thì được, bằng ngược lại sẽ xấu.

– Cần đào hết các rễ cây, nhất là gốc cây cô thụ, gốc mít, thứ nhất gặp các gốc cây này nhà dễ bị sụp lún, sau tiên bạc phân tán khó đòi.

– Tránh đầu voi đuôi chuột, tiền của ít.

– Nhà hình tam giác cô quả tán tài.

– Bốn góc nhà bị khuyết không nên dùng. Tốt đẹp là căn nhà vuông, chữ nhật có đều cạnh.

– Kỵ nhà quá to nhân khẩu quá ít, hoặc nhà nhỏ người đông cũng không tốt.

– Nhà vệ sinh phải kiêng các hướng Kiền, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, hay chỗ có lai mạch.

– Cầu thang đặt giữa nhà không tốt, phải nằm bên phải, hướng bước lên cũng theo hướng huyền quan, các bậc thang tính 4 bước Sinh, Lão, Bệnh, Tử (Sinh là tốt).

– Nếu khu đất rộng xây dựng nhà vừa đúng nhu cầu, còn đất trống phải làm tường rào. Nhưng cách xây tường rào cũng có cách thức của nó.

3/- TƯỜNG RÀO

Mỗi khu đất là cả một thế giới riêng, tường rào là chỉ giới để những nhà khác không xâm phạm. Về nhãn quan khi nhìn vào tường rào người ta có nhận xét :

Sự thăng trầm trong căn nhà, tường rào được chăm sóc là gia chủ có dư tiền nhiều của, để ọp ẹp là đang thiếu trước hụt sau. Cổ ngữ có câu :

“Tường dầy ba thước, đáng trọng,

“Tường cao nghìn nhẫn, họa không vào”.

Các thầy tướng địa xưa có quan niệm, nhà ở thì vuông tường tròn là tốt theo thuyết “trời tròn đất vuông” (nhưng ngày nay ai đi xây tường hình tròn, vừa bị mất đất vừa thấy tù túng như nhà giam).

– Tường rào không được trổ cửa sổ như vậy phạm vào Chu tước khai khẩu (dễ bị tiếng thị phi).

– Trước hẹp sau rộng, hay ngược lại đều không tốt, vì vào thế “Thoái điền bút”.

– Không cao hoặc thấp quá, vừa tầm nhìn vào nhà theo thế cân xứng mỹ thuật.

– Không xây sát thân nhà, góc đông bắc không vỡ nứt.

– Không xây tường trước rồi xây nhà, là phạm chữ Tù.

– Tường rào phải có cổng, hai bên dựng cột tính theo bước Lỗ Ban như đã nói, căn nhà sẽ thêm sinh khí.

– Nhà có cửa hậu tốt.

4/- NHÀ BẾP

Bếp là nơi không thể thiếu trong nhà. Sách Thông Thư Trần Tử Tánh cho rằng ngày mùng 1 và 25 âm lịch mỗi tháng không được : đập phá, hay đặt, dựng bếp mới.

Còn trong thuật phong thủy các thầy địa lý thường truyền, khi đặt bếp phải chú ý đến hướng bếp, không được đối diện với cửa buồng, không được để người nhà đối diện trông thấy bếp, không để bếp đối diện với chuồng nuôi gia súc, nhà vệ sinh hay đường đi.

Có một bài phú về an vị, khai môn bếp như sau :

– Táo nhập KIỀN cung hiệu diệt môn (xấu)

NHÂM – HỢI nhị vị tổn nhi tôn (xấu)

GIÁP – DẦN đắc tài,  THÌN – MÃO phú (đại kiết)

CẤN – ẤT thiên hỏa tức Táo ôn (xấu)

TÝ – QUÝ – KHÔN phương gia khốn khổ (xấu)

SỬU thương lục súc gia họa ương (khó nuôi gia súc)

TỴ – BÍNH phát tài sanh đại phú (đại kiết)

NGỌ phương vương vị phú nhi tôn (thứ kiết)

TÂN – DẬU dinh phương đa tật bệnh (xấu)

THÂN tốn MÙI – TUẤT trạch hạnh thông (kiết)

Những cung hung kiết trong Bát Quái dùng cho việc làm bếp, đặt bếp là :

– Câu 1 : kỵ người trạch Ly. Câu 2, câu 5 : kỵ người trạch Khôn. Câu 6 : kỵ trạch Cấn và câu 9 : kỵ trạch Khảm.

Thí dụ : câu 1 Táo nhập Kiền cung kỵ người Ly trạch, nhà để cửa hướng Bính thì nhà tan, để cửa hướng Đinh trưởng nam trọng bệnh, cửa hướng Đoài trưởng nữ tổn thọ. Xem cung phi (còn gọi Trạch cung) biết người thuộc trạch cung nào. Các trạch khác theo câu thơ mà suy đoán.

Các câu 3, 7, 8 và 10 tốt.

Khi đặt bếp, miêng lò phải nhìn vê hướng :

– Sinh khí cầu được con

– Thiên y giải trừ bệnh

– Phước Đức tăng tuổi thọ

– Phục vì được như ý

Còn các hướng Họa hại, Lục sát, Ngũ quỷ và Tuyêt mạng là xấu.

– Dời bếp : đại kỵ ngày 1, 25 mỗi tháng, ngày Bính, Đinh; hay trực Phá gia chủ bệnh, trực Trừ cha mẹ mạng vong, trực Chấp, Bế tổn tài.

Còn trực Mãn, Thành được phú quý, trực Bình, Định thêm nhân khẩu, trực Thâu, Khai miễn trừ tai ương.

– Cầu tài : miệng bếp tránh hướng bản mệnh gặp Lục Sát. Nhìn về hướng Phúc Đức tốt, theo sách Thông Thư Trần Tử Tánh trong tháng sẽ có tiểu tài, trong 100 ngày có trung tài, một năm phát đại tài.

5/- MÀU SẮC VÀ NGOẠI CẢNH

Chung quanh nhà có cây cảnh sẽ sinh khí vượng, hộ ấm địa mạch là phú quý, như phía đông trồng đào, trồng dương, phía nam trồng mai trồng táo, phía tây trồng thị, phía bắc trồng hạnh trồng lý là đại cát, không thể trồng ngược lại, như vậy là thất nghi.

Ở thành phố không như ở nông thôn, mọi người thường trồng cây cảnh trong nhà, nếu nhà có sân vườn thì trồng hoa. Nhưng mỗi người phù hợp một màu sắc riêng, nên cũng lựa theo màu hoa mà trồng thành cảnh trí.

Do mỗi tuổi hợp với một màu như hình đồ Lạc Thư ghi nhận, cụ thể :

Người Đông trạch hợp :

– Khảm : màu đen (hay xanh đen)

– Ly : Đỏ tía (màu đỏ + xanh), màu hồng đậm.

– Chấn : Các màu xanh.

– Tốn : các màu xanh nhạt, sáng trắng.

Người Tây trạch hợp :

– Đoài : màu trắng (hay các màu vàng nhạt)

– Kiền : Đỏ đậm (màu đỏ + đen), hồng nhạt, trắng.

– Cấn : các màu vàng.

– Khôn : màu vàng và đen.

Cùng đồng mệnh trong Đông hay Tây trạch, mỗi người có thể sử dụng màu sắc lẫn nhau, nhưng có 4 yếu tố sẽ ảnh hưởng đến tài lộc, do mang các độ số cao thấp khác nhau :

– Cung Sinh Khí : thượng kiết gồm các cung :

Đông trạch : người cung Khảm hợp với hướng Tốn, cung Chấn hợp với hướng Ly, cung Tốn hợp với hướng Khảm và cung Ly hợp với hướng Chấn.

Tây trạch : người cung Kiền hợp với hướng Đoài, cung Cấn hợp với hướng Khôn, cung Khôn hợp với hướng Cấn và cung Đoài hợp với hướng Kiền.

Thí dụ : người cung Ly (Đông trạch) hợp với màu đỏ tía, cung Sinh khí của Ly là Chấn, có thể chọn thêm màu xanh cũng sẽ thích hợp hơn.

– Cung Phục Vì : kiết tại chính cung, như Khảm tại Khảm, Đoài tại Đoài v.v…

Thí dụ : người cung Khảm hợp màu đen, khi sử dụng màu đen chỉ thuộc kiết không được thượng kiết.

– Cung Phúc đức : thứ kiết, gồm các cung :

Đông trạch : Tốn (của Chấn), Ly (của Khảm), Khảm (của Ly) và Chấn (của Tốn).

Tây trạch : Khôn (của Kiền), Đoài (của Cấn), Kiền (của Khôn) và Cấn (của Đoài).

Thí dụ : người cung Khôn hợp với màu vàng và đen, sử dụng thêm màu đỏ đậm (của Kiền) hay trắng (của Đoài) sẽ hóa Khôn thuộc cung Phúc đức, thuộc thứ kiết không được kiết hay thượng kiết.

– Cung Thiên y : thứ kiết, gồm các cung :

Đông trạch : Chấn (của Khảm), Khảm (của Chấn), Ly (của Tốn) và Tốn (của Ly).

Tây trạch : Cấn (của Kiền), Kiền (của Cấn), Đoài (của Khôn) và Khôn (của Đoài).

Thí dụ : theo như cung Phúc đức.

Người Đông trạch không sử dụng màu sắc của Tây trạch, sẽ khắc kỵ gây tổn tài, hại của.

Do các cung Tây trạch Kiền, Cấn, Khôn Đoài đối với người Đông trạch sẽ là những cung Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Họa Hại. Người Tây trạch cũng không nên sử dụng màu sắc của Đông trạch là Khảm, Chấn, Tốn, Ly sẽ gặp Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Họa hại.

Thí dụ : người cung Ly (hợp màu đỏ tía) sử dụng màu của Khôn là đen sẽ gặp Lục sát, màu trắng của Đoài gặp Ngũ Quỷ, màu đỏ đậm, hồng nhạt của Kiền gặp Tuyệt mệnh hay màu vàng của Cấn gặp Họa hại.

Qua màu sắc thuộc các căn mạng nói trên, nhà của mỗi người có thể dùng sơn vôi tô điểm, hay tìm những bông hoa có màu sắc thích hợp để trang trí nội ngoại thất.

– Trước cửa nhà có cây lớn che mất minh đường, huyền quan là không tốt, nhưng lệch về hướng Tây Bắc có đât nhô cao lại thuộc thê tôt.

– Gần nhà hướng Đông Bắc, Tây Nam không nên có chỗ lồi lõm, vì như thế sẽ gặp hung tai; hướng chính Nam có đất trông tôt, có đống rác xâu.

– Phía trước nhà cao phía sau nhà thấp tốt, còn ngược lại phía trước thấp phía sau cao xấu (của cải đi ra).

Thiên Việt

12 CON GIÁP QUA CHIÊM TINH

TÍNH CHẤT – QUAN NIỆM – CUỘC ĐỜI

12 CON GIÁP ĐÔNG PHƯƠNG

– Phan Thái Anh

Sau khi người Trung Quốc cổ đại phát hiện chất của thời gian, liền đó họ lại náy sinh ra một nghi vấn mới. Vậy vấn đề chất của thời gian rốt cuộc có ảnh hưởng gì tới đới sống, tư chất tính cách của mỗi con người hay không ? Họ liền ngược thời gian hàng trăm, hàng ngàn năm, tìm tới thời điểm của các cuộc chiến tranh, những năm được mùa, mất mùa, địa chấn, lụt lội để tìm hiểu, tính toán và cuối cùng đã phát hiện ra những sự kiện trên đều xảy ra theo một chu kỳ nhất định của nó.

Đồng thời, họ cũng dần phát hiện thấy tính cách chung của những người sinh ra trong cùng một năm.

Tuy mọi sinh vật trên địa cầu đều phải chịu ảnh hưởng bức xạ vũ trụ (bức xạ của các thiên thể), cộng thêm tác động của thời gian. Chỉ với hai điểm này, người ta có thể tính ra những người được sinh ra trong cùng một năm có những tính cách gì giống nhau. Cùng với sự phát triển của ngành thống kê học, các nhà khoa học chứng minh : Có quy luật về tính cách và vận mệnh con người do sự chi phối của quy luật tự nhiên.

Người Trung Quốc cổ đại đã sắp xếp Thiên can và Địa chi vào lịch, gọi những người sinh vào năm Tý là cầm tinh con chuột, năm Sửu là cầm tinh con trâu, v.v… để hoàn thành hình tượng của mười hai con giáp như ngày nay. Mười hai con giáp xuất hiện sớm nhất trong Bát quái của Kinh dịch, đó là phương pháp phỏng sinh ghi năm còn gọi là cầm tinh con giáp.

Dưới đây xin giới thiệu đôi nét cơ bản quan niệm của người phương Đông xưa về tính cách của con người theo các tuổi và sự sinh khắc giữa các tuổi theo Ngũ Hành Bát Quái.

1.Tuổi Chuột :

Vui vẻ xởi lởi dễ gần, dễ mến nhưng hay lo vặt vãnh nên cũng dễ cáu giận. Tự tin và tự trọng. Thích làm đẹp làm sang cho bản thân nhưng trong khuôn khổ cho phép.

Tuổi Chuột hợp với các tuổi Khỉ, Rồng, Trâu, ky các tuổi Rắn, Chó và Lợn, đặc biệt tối kỵ tuổi Ngựa.

2. Tuổi Trâu :

Là người nhẫn nại, ít lời, không hay khoe mẽ về mình dễ tranh thủ được sự giúp đỡ của người khác. Tính nóng và cục tính. Chăm làm, khéo tay và quyết đoán, không nhún nhường. Công việc đối với họ là chính, tình cảm là chuyện thứ yếu nên họ khó lấy vợ.

Tuổi Trâu hợp với tuổi Chuột, tuổi Gà. Không nên lấy tuổi Chó và kỵ tuổi Lợn.

3. Tuổi Hổ (Cọp) :

Là người nhậy cảm, đa tình có đời sống nội tâm cao. Tuổi hổ trọng người ít tuổi. Quả cảm, kiên trì nhưng có vẻ ích kỷ. Tuổi này dủ vía, ma quỷ cũng phải tránh đường, do đó người xưa thường cầu mong trong gia đình có người tuổi Hổ.

Tuổi Hổ hợp duyên với tuổi Ngựa và Rồng, khắc tuổi Trâu, Rắn, Khỉ.

4. Tuổi Mèo :

Là tuổi thành đạt, nhã nhặn, khiêm nhường, hiếu thảo và giao thiệp rộng. Đời nhiều may mắn nhưng hay ba hoa, ít cáu giận, dễ đi vào kinh doanh buôn bán. Chăm học, chăm đọc sách song ít tài năng đặc biệt. Rộng rãi trong giao tiếp song bảo thủ, so đo.

Hợp với tuổi Chó, Dê, Lợn, khắc với tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi Rồng.

5. Tuổi Rồng :

Khỏe mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ bị kích động, nói năng không thận trọng. Vừa ngang tàn vừa độ lượng dễ giàu và dễ có tiếng, dễ bị lôi kéo vào việc xấu. Tuổi này về già thì nhàn.

Nên lấy người tuổi Chuột, Rắn, Khỉ, Gà. Tránh tuổi Rồng, Trâu, Chó.

6. Tuổi Rắn :

Khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích lòe loẹt, phô trương nhưng ích kỷ và keo kiệt, đa nghi. Họ rất thích khen nịnh lãng mạn. Phụ nữ tuổi Tỵ thường xinh đẹp “mỹ nhân tuổi Tỵ”.

Họ hợp tuổi Trâu, Gà, xung khắc với tuổi Hổ, Lợn.

7. Tuổi Ngựa :

Vui tính, nói nhiều, dễ nổi tiếng và dễ được cảm tình. Giỏi kinh doanh, giỏi đoán ý đồ của người khác để “lựa lời mà nói”. Tuổi Ngựa nhiều tài nhưng khó tính, cầu kỳ trong ăn mặc, cầu toàn trong công việc nên họ coi tình yêu là thứ yếu.

Hợp với tuổi Hổ, tuổi Chó, tuổi Dê. Kỵ tuổi Chuột.

8. Tuổi Dê :

Nhạy bén, tinh tế, nhiệt tình nhưng dễ thất vọng, bi quan. Cuộc đời ít gặp may. Đời sống vật chất tạm ổn.

Họ hợp với tuổi Mèo, Lợn, Ngựa, không hợp tuổi Chuột, Chó, Trâu.

9. Tuổi Khỉ :

Thông minh, hiểu nhiều biết rộng nhưng không để tâm nhiều đến cống việc. Nhớ thì làm, quên thì cho qua luôn mặc dù khi xử lý công việc thì khá nhanh. Dễ hòa. nhập, quảng giao, trí nhớ tốt. Đường nhân duyên không lấy gì làm may mắn.

Gặp tuổi Chuột hoặc tuổi Rồng thì tốt, gặp tuổi Lợn, Rân thì kém may mắn, gặp tuổi Hổ thì không tốt.

10. Tuổi Gà :

Tuổi bận rộn, lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm, dễ bi quan, thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn tỏ ra viển vông, kỳ cục. Tiêu pha hoang toàng nhưng thực thà trọng nghĩa.

Hợp người tuổi Trâu, Rắn, Rồng. Tránh Tuổi Gà, Chuột, Chó. Kỵ nhất tuổi Mèo.

11. Tuổi Chó :

Ngay thẳng, chân thành, biết mình, biết người, có đức tin và có độ tin cậy cao. Tuổi Chó ít giao du, sống kín đáo, bướng bỉnh, thẳng thắn, giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội.

Họ hợp tuổi Hổ, Mèo, Ngựa, không hợp tuổi Trâu, Gà, kỵ nhất tuổi Rồng, Dê.

12. Tuổi Lợn (Heo) :

Kiên định, kiên trì, cuộc đời tuổi lợn mang tính mục đích rõ rệt. ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng hy sinh vì bạn, ít nói nhưng kín đáo. Tuổi Lợn không thích cãi vã. Đường tình duyên không thuận.

Họ hợp tuổi Mèo, Dê, tránh tuổi Khỉ, đại kỵ tuổi Rắn.

oOo
Mười hai con giáp là do người phương Đông xưa nghĩ ra, nhưng trải qua mấy nghìn năm lịch sử đã trở thành dấu ấn không phai trong tâm lý, tình cảm của con người. Hiện tượng văn hoá mười hai con giáp không chỉ ảnh hưởng tới một con người mà còn ảnh hưởng tới tâm lý, khí chất, nếp nghĩ, phong tục, tập quán của cả một cộng đồng, một dân tộc và trở thành nét văn hoá rất riêng của phương Đông.

12 CON GIÁP QUA CHIÊM TINH HỌC

Con người không chỉ sống bằng hiện tại mà luôn khao khát vươn tới làm chủ tương lai của chính mình. Họ muốn biết ngày mai, tháng tới, năm tới và những năm sau, khi nào thì mưa thuận gió hòa mùa màng bội thu, khi nào thì lũ bão, hạn hán mất mùa; để có dự phòng, có kế hoạch giành mùa màng bội thu hơn, có kế hoạch tích trữ lương thực, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra v.v. . . Và với chính mình, họ cũng muốn biết con người (Tiểu vũ trụ) được sinh ra giữa Trời và Đất (Đại vũ trụ), chịu ảnh hưởng của vũ trụ ra sao? Con người được sinh ra vào các mùa, các năm, các thời điểm khác nhau có gì giống và khác nhau về: tướng mạo, tư chất, tính cách, trí tuệ, sức khỏe, số phận cuộc đời?

Chính vì muốn tìm hiểu về con Người và thiên nhiên, môi trường sống mà con người đã: quan sát, khảo nghiệm, đúc kết thống kê, tính toán để tìm ra quy luật tương tác giữa vũ trụ và con người. Từ đó Chiêm tinh học ra đời.

Chiêm tinh học ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sừ văn minh nhân loại. Bởi thông qua đấu tranh sinh tồn, tìm hiểu nghiên cứu thế giới tự nhiên tích lũy kinh nghiệm và bằng lao động sáng tạo, loài người đã dần dần hiểu được các quy luật của tự nhiên để thích ứng và phục vụ cho cuộc sống của con người. Theo triết lý của người phương Đông xưa đó là: Thiên thời – Địa lợi – Nhân toàn. Ngày nay, khi môi trường Trái Đất bị ô nhiễm nghiêm trọng con người lại càng thấy rõ tầm quan trọng của môi trường sinh thái, với sức khỏe và sự phát triển về mọi mặt của con người. Con người hãy sống hài hòa cùng thiên nhiên, hãy bảo vệ lấy thiên nhiên môi trường trong lành của hành tinh chúng ta.

Đó chính là mối quan tâm trong hiện tại và tương lai.

Khoa học dự báo rằng: Do nhu cầu của cuộc sống hiện đại cùng với các ngành khoa học khác, Thiên văn và Chiêm tinh sẽ là hai ngành khoa học được quan tâm và phát triển mạnh mẽ trong tương lai.

Quá khứ luôn là cầu nối để chúng ta đi tới tương lai, dù quá khứ còn nhiều điều chưa hoàn thiện, song nó cũng là những tri thức, nhưng tiền đề để khoa học tương lai tìm hiểu, lý giải. Với suy nghĩ đó chúng tôi mạnh dạn giới thiệu một số quan điểm triết học cổ của Chiêm tinh phương Đông về dự báo đời người và mười hai con giáp, để bạn đọc tham khảo và hy vọng rằng bước sang thế kỷ 21 – kỷ nguyên của khoa học sinh học, con người sẽ hiểu rõ hơn những bí ẩn của chính mình, Tiểu vũ trụ trong Đại vũ trụ, phải chăng bí ẩn của Tiểu vũ trụ trong bí ẩn của Đại vũ trụ 1à quan hệ biện chứng hài hòa?

Theo sách Chiêm tinh cổ của Trung Quốc năm sinh có ảnh hưởng tới tính cách của con người theo những dự báo sau :

1/- NGƯỜI SINH NĂM TÝ, CẦM TINH CON CHUỘT

Người cầm tinh con chuột là người rất hài hước có trực giác nhạy bén và hành động nhanh nhẹn, mẫn tiệp. Họ luôn thành khẩn, trung thực dù là trong công việc hay trong cách đối xử với người khác, ứng phó trôi chảy. Đó chính là đặc tính lớn nhất của những người sinh năm Tý. Có lúc họ lại thích bày ra một vài trò gì đó nho nhỏ, nhìn người khác kinh ngạc mà họ tự thân trong lòng vui vui.
Họ không giỏi lắm trong việc kể lại một sự việc sự kiện một cách có hệ thống, có tính lý luận.

2/- NGƯỜI SINH NĂM SỬU, CẦM TINH CON TRÂU

Trời phú cho họ có tính nhẫn nại cao, cần cù, cẩn thận trong công việc, vốn là nhân vật tốt điển hình, tuyệt đối không bao giờ phụ một ai. Trước khi có một hành động hay làm một việc gì họ đều suy trước xét sau kỹ càng. Hành động tuy chậm nhưng chắc, từng bước, từng bước tiến lên bậc thềm của đời người. Vả loại người thành công muộn. Nhưng do họ quá cẩn thận trong công việc, dường như không lúc nào lơ là nên họ luôn sống trong cảnh thanh bình, trời yên biển lặng. Họ luôn để lại cho người ngoài có cảm giác là họ thiếu tính
hài hước.

Mặt khác, cũng bởi họ ít khi thất bại thường xuất đầu lộ diện trong những công việc nguy hiểm mà người ta không thể ngờ tới. Nhưng nếu họ thất bại có thể thất bại ấy lại trở thành một tổn thất lớn lao không thể nào bù đắp trong họ.

3/- NGƯỜI SINH NĂM DẦN, CẦM TINH CON HỔ (CỌP)

Trong mười hai con giáp, biểu tượng này luôn tượng trưng cho quyền lực và thế lực. Họ vốn có sự uy nghiêm thiên bẩm cùng với lòng dũng cảm, tính ưa mạo hiểm. Họ không bao giờ chịu khuất phục mình trước người khác, luôn kiên trì với chủ kiến của mình. Nhưng mặt tiêu cực của họ cũng chính ở tính tự tôn và tính tự phụ quá lớn, không chịu tiếp thu ý kiến của người khác, tự cương tự cường, và họ thuộc loại người bạn bè nhiều, kẻ thù lắm.

Cuộc sống chìm nổi vất vả nhưng oai phong.

4/- NGƯỜI SINH NĂM MÃO, CẦM TINH CON MÈO

Người sinh năm Mão từ dáng vẻ bề ngoài đến nội tâm bên trong đều rất ôn hòa, luôn tỏ ra cho người khác thấy mình là người có giáo dục. Trời ban cho họ giàu lòng nhân ái, bản tính lại tỉ mỉ, kỹ lưỡng, không bao giờ khinh xuất để rơi vào vòng tranh chấp. Họ không thể dễ dàng có được thành công, sống cả đời an lành, bình lặng.

5/- NGUỜI SINH NĂM THÌN, CẦM TINH CON RỒNG

Những người cầm tinh con Rồng thường thành đạt trong cuộc sống, ưa sự hoàn mĩ, luôn ôm ấp hoài bảo to lớn và một niềm tin cực kỳ kiên định.
Dù tuổi họ đã cao nhưng không bao giờ ngừng theo đuổi lý tưởng mà hồi trẻ họ đã chọn, trong lòng họ luôn rừng rực một ngọn lửa của tuổi thanh xuân.
Họ thường là người cực đoan luôn ép người khác phải tiếp thu ý kiến của mình, độc đoán, độc hành.

6/- NGUỜI SINH NĂM TỴ, CẦM TINH CON RẮN

Những người sinh năm Rắn luôn có một vẻ gì đó rất thần bí và trí thông minh nội tại dồi dào, thuộc loại người giàu tình cảm. Trong mười hai con giáp, Rắn được coi là tượng trưng của trí tuệ, có vận khí tốt, có được thanh danh và tài phú. Nhưng trí tuệ cùng tính cách của họ thường để cho người khác ấn tượng họ là người giảo hoạt.

7/- NGƯỜI SINH NĂM NGỌ, CẦM TINH CON NGỰA

Trời phú cho những người sinh năm Ngọ tính cách khoáng đạt, khả năng hành động cao bởi đó chính là ưu điểm của vì sao đại diện cho con ngựa này. Họ có tính cách ưa tự do, phóng khoáng, ý chí độc lập mạnh mẽ , ngay từ khi còn nhỏ đã khao khát được thoát ly khỏi cha mẹ, mà họ phải thoát ly khỏi cha mẹ thì mới giành được thành công.

Trong đời sống sinh hoạt thường ngày, bất cứ lĩnh vực nào họ cũng luôn chú trọng tới vấn đề hào hoa, rộng rãi về mặt tài chính. Họ có ưu điểm nữa là luôn một lòng tích cực trong mọi công việc.

8/- NGƯỜI SINH NĂM MÙI, CẦM TINH CON DÊ

Họ là những người yêu hòa bình, làm việc gì cũng biết tự lượng sức mình, là tượng trưng của sự ôn hòa, vững chắc. Hơn nữa họ có tính nhẫn nại cao làm lụng cần cù để gây dựng sự nghiệp của mình. Nhưng xét một cách toàn diện thì những người cầm tinh con Dê này lại quá mẫn cảm, nếu bị rơi vào nghịch cảnh, họ không giỏi lắm trong việc ứng phó. Họ không kiên cường, dễ bi quan nhưng nếu có sự khích lệ, chỉ dẫn, họ thường phát huy được thực lực của mình ở tầm cao.

9/- NGƯỜI SINH NĂM THÂN, CẦM TINH CON KHỈ

Họ là người thông minh, giỏi ăn nói, có tính cách hài hước, vui vẻ. Chỉ cần có mặt người sinh năm này ở đâu thì bầu không khí ở đó lập tức trở nên dễ chịu, nhẹ nhàng ngay. Năng lực giải quyết vấn đề và khả năng thích ứng môi trường của họ thật tuyệt vời. Họ là người dễ thích nghi với hoàn cảnh mới, xử lý mọi tình huống hợp lý linh hoạt. Nhưng bởi họ là những người coi thường phép tắc, chuẩn mực, thường để lại cho người khác ấn tượng mình là người cẩu thả, tùy tiện.

10/- NGƯỜI SINH NĂM DẬU, CẦM TINH CON GÀ

Họ là người thông minh kiêu ngạo, thích sự hào hoa, thích chứng tỏ mình là người xuất chúng.

Người sinh năm Dậu tính tỉ mỉ, không hề mắc một lỗi nhỏ nào trong công việc, luôn tuân thủ, chấp hành kỷ luật xã hội.

Họ quá tự tin, cho mình là đúng, nghiêm khắc với người khác nên thường không hòa đồng với mọi người, khiến người khác có cảm tưởng họ là những kẻ thích bới lông tìm vết.

11/- NGUỜI SINH NĂM TUẤT, CẦM TINH CON CHÓ

Họ thậm chí dám hy sinh tất cả cho những người mình thích hoặc mình tôn trọng. Đối với những người ấy, họ luôn giữ một lòng trung thành. Họ tuyệt đối không bao giờ phản lại bạn bè của mình:

Họ có trực giác cực nhạy bén, đầu óc lại tỉnh táo. Về mặt tình cảm của họ luôn có những bước thăng trầm, tình ái không ổn định, thường có cảm giác bất mãn.

12/- NGƯỜI SINH NĂM HỢI, CẦM TINH CON LỢN (HEO)

Họ là những người thật thà, lãng mạn, tâm tính lương thiện, tính cách ngay thẳng, thuần khiết, luôn phấn đấu trong công việc, quyết không khi nào chịu lùi bước. Dù vấp phải thất bại cũng không để tâm đến đó. Khuyết điểm của họ là quá thật thà, lãng mạn nên dễ bị lừa.

Họ là những người cứng nhắc trong xử lý công việc, chưa chịu tìm hiểu rõ ý tứ của người khác đã muốn giải quyết theo ý riêng của mình nên thường không được lòng người khác. Họ là những người có tài vận tốt trong số mười hai con giáp.
phanthaianh

TÌM HIỂU VỀ HOA “VÔ ƯU”

CHÙM HOA

VÔ ƯU

Em không phải là Phật tử, nhưng em cùng bạn bè vừa trở về từ chuyến “du lịch Thiền” tổ chức trong bốn ngày tại Thiền viện Bát Nhã ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) nhân dịp lễ Phật Đản LHQ.

Ở đó, người ta hướng dẫn về Phật pháp, và những tu tập khác nhằm giúp em thích ứng với đời sống hiện đại, nuôi dưỡng thân tâm, giúp em hóa giải cơn giận, sự buồn đau, sự cô đơn và trống trải, kết nối lại những sợi dây tình thân trong gia đình và với bạn bè…. Khi về lại Sài Gòn, em thấy lòng thật vui vẻ và thanh bình

Tôi biết điều đó khi nhìn gương mặt em. Rạng rỡ như một chùm hoa vô ưu vậy.

Tôi thích cái tên ấy. Hoa Vô Ưu.

Có người vẫn tin rằng hoa vô ưu chỉ là một loài hoa trong tâm tưởng và không có thật. Cũng như sự “vô ưu” (không buồn phiền) tuyệt đối là không thể có. Còn em, em có tin rằng trên thế gian này có một loài hoa tên là “vô ưu” không ?

oOo

Thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra dưới vòm cây Vô ưu đang trổ hoa chính là Đức Phật sau này. Vì thế mà loài hoa này gắn với ngày Phật Đản. Tên tiếng Phạn của nó là Asoca, tiếng Hán dịch ra là Vô Ưu Thọ (cây vô ưu), lá xanh ngắt, hoa nở từng chùm, màu cam đỏ rực rỡ, tỏa hương thơm ngát.

Thái tử Tất Đạt Đa, ngay sau khi chào đời, đã vùng đứng dậy và bước đi bảy bước, mỗi bước của cậu bé lại có một bông sen nở ra đỡ lấy bàn chân. Đứng trên toà sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất ý nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời và dưới trời thì ta là cao quý nhất).

Câu nói ấy đã khiến nhiều người băn khoăn. Phải chăng đó là sự kiêu căng, chấp ngã ?

Nhưng không, em ạ. Cũng như loài hoa kia, đừng chỉ vì cái tên mà tin rằng nó không có thật. Bởi hoa là do chính con người đặt tên. Đừng vì cái nghĩa đã biết của chữ “ngã” mà hiểu rằng “TA là trên hết”. Vì nghĩa của chữ cũng do con người đặt ra.

oOo

Trong những buổi tịnh tâm ngắn ngủi ở thiền viện, em chỉ làm một điều duy nhất, đó là nhìn thật sâu vào tâm hồn mình, tìm đến cái nguyên sơ của tính thiện, của sự vô ưu, của tình yêu thương thuần khiết. Và rồi cũng với đôi mắt đó, em nhìn bạn bè, người thân, em nhìn thế giới xung quanh. “Lắng nghe để hiểunhìn lại để thương“.

Có một câu thiền rất quen này : “Khi tôi chưa học đạo, tôi thấy núi là núi, sông là sông. Khi tôi học đạo, tôi thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông. Sau khi học đạo xong, tôi lại thấy núi là núi, sông là sông.”

Ta có thể đi khắp nhân gian, nghe muôn tiếng, thấy muôn điều. Nhưng ta chỉ có thể thấu hiểu khi nhìn và nghe với trái tim khiêm nhường và trong sáng, không hề mang theo bất cứ thành kiến hay sự cố chấp nào. Khi ta nhìn những người xung quanh dưới cái nhìn thuần khiết nhất, ta mới có thể nhận ra họ như chính bản thân họ, không phân biệt bởi giàu nghèo, đẹp xấu, giỏi dở, sang hèn, không phân biệt màu da, tôn giáo, giai cấp, chính kiến… Khi đó, ta mới có thể “lại thấy núi là núi, sông là sông”.

Tôi tin rằng chữ ngã trong câu “duy ngã độc tôn” của Thái Tử Tất Đạt Đa là nói về cái vốn dĩ đã ở trong mỗi con người từ khi mới sinh ra. Cái gọi là “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Cái hồn nhiên, vô ưu, lương thiện, nhân ái, yêu thương. Cái cao quý nhất, đáng nâng niu và gìn giữ nhất. Đó chính là cái “ngã” thật sự, chung nhất của loài người. Đó là Tâm Phật mà ai cũng có. Đó là xuất phát điểm của cõi nhân sinh. Đó chính là chùm hoa vô ưu kỳ diệu của tâm hồn con người.

Nhưng trong đời sống xô bồ này, có khi ta tự chôn vùi nó, có khi ta lãng quên. Và có khi giống như hoa vô ưu, người ta không nghĩ là nó còn tồn tại. Nhưng em đã biết rằng, nếu ta chịu lắng nghe, chịu nhìn lại, chịu tìm kiếm, chắn chắn là ta sẽ tìm thấy nó, phải không em?

Chắc chắn ta sẽ tìm thấy một chùm hoa vô ưu trong tâm hồn mỗi người ta quen biết. Và trong chính bản thân ta.

Hao Dam post (Bài trích từ  luanvy.com)

Đây là loại hoa qúy thường nghe nói trong Phật Giáo

HOA VÔ ƯU

Xin mời mọi người xem hình ảnh và chú giải nguồn gốc VÔ ƯU.

Loài hoa che chở nhân tâm

Đón chào Đức Phật Mẹ cầm nhánh hoa

Oai nghiêm voi trắng sáu ngà

Giấc mơ tạ thế trãi hoa sen vàng

oOo

Vô thường bước xuống nhân gian

Ưu đàm hoa trổ hiện thân ái tình

Sứ điệp của vạn niềm tin

Tôn vinh nhan sắc huyền linh nữ thần

oOo

Đóa Vô Ưu trổ nhọc nhằn

Chờ tay thiếu nữ họa hoằng khai hoa

Cảm linh thanh khiết an hòa

Thiện nhân dưới cội  Sala … nguyện cầu !

Cây Sala thường được dịch là cây Vô Ưu. Sala có nhiều tên gọi : Sala, Sal, Shorea Robusta. Là một lòai cây có  nguồn gốc từ Ấn Độ, miền Nam dãy núi Hymalay. Sau này được trồng nhiều nơi ở Nam Á và  Đông Nam Á, cây cung cấp gỗ cứng.

Trong kinh điển Phật Giáo: Đức Phật đản sinh ở gốc cây Sala, trong vườn Lumbini (Lâm Tì Ni) và nhập diệt giữa hai cây Sala tại Kusinara (Câu Thi Na).

Vì thế ngày nay, ngoài cây bồ đề (Bodhi tree, Bo tree, Ficua Religiosa).

Cây Sala đuợc chọn trồng ở các khuôn viên Chùa. Trong giới chơi cây cảnh Việt Nam, cây này còn có tên gọi là cây Ngọc Kỳ Lân, Đầu Lân hay Hàm Rồng.

A.  Từ nguyên :

Hoa Ashoka (Vô Ưu) là một trong những cây linh thiêng tại Ấn độ. Ashoka, theo Phạn ngữ, có nghĩa là không gây ra ưu phiền.

B.  Truyền thuyết :

Sách thần thoại Ấn giáo Ramayana ghi lại: ‘trong thời gian bị lưu đày tại Lanka, Seeta đã bị Ravana lưu giữ tại AsokaVana, môt vườn cây Asoka. Vẻ đẹp của cây thường được liên kết với những phụ nữ trẻ, xinh đẹp và người Ấn tin rằng, cây sẽ trổ hoa khi được phụ nữ chạm đến. Trong ngày Lễ hội Dohada, các phụ nữ trang điểm rực rỡ được mời đến đá nhẹ hay chạm vào cây bằng chân trái để giúp cây mau trổ hoa. Hội Xuân Asoka-pushpa Prachaayika là dịp các thiếu nữ hái hoa Asoka để cài trên mái tóc.

C. Tư tưởng :

Tín đồ Ấn Độ giáo rất quý trọng cây Vô Ưu, họ tin rằng cây là biểu tượng cho Tình Yêu, và là cây dâng tặng riêng cho Nữ Thần Tình Ái Kama Deva: Trong ngày Lễ hội Ashok Shasthi, phụ nữ Bengali thường ăn nụ hoa, và phụ nữ Hindi uống nước có ngâm hoa Vô Ưu với niềm tin rằng nhờ nước này họ sẽ bảo vệ được con cái. Người Ấn Độ còn gọi cây là Anganapriya, có nghĩa là, ‘thân thiết với phụ nữ’, cây hoa được xem là nhạy cảm với sắc đẹp. Hoa sẽ mau nở khi được phụ nữ đụng đến?

D. Ý nghĩa lịch sử !

Hoa Vô Ưu cũng giữ một vai trò khá quan trọng trong truyền thuyết về ngày sinh của Đức Phật : ‘Theo tục truyền, Hoàng hậu Mahamaya, khi đang mang thai, năm 563 trước Tây Lịch, đã rời Kapilavatthu để về quê sinh nở. Trong lúc ghé vườn Lubini (Lâm Tỳ Ni), bà đã hạ sinh Thái tử Tất Đạt Đa, tay vịn vào một cành Vô Ưu’. Ngày Phật Đảng thường được tín đồ Phật giáo diễn trình bằng hình ảnh: Đức Phật từ cung trời Đâu Suất cưỡi con voi trắng sáu ngà hiện xuống, phù hợp với giấc mộng của Hoàng Hậu Mada, sau đó Đức Phật vào đời nhân lúc thân mẫu giơ tay vịn cành Vô Ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni. Ngài liền cất bẩy bước đi, bay trên bẩy đóa sen.

Một số nhà Phật học đã cho rằng Vô Ưu và Ưu Đàm, nếu xét về biểu tượng và ẩn dụ, chỉ là 2 tên gọi của một cây, nhưng thật ra về mặt thực vật thì đây là hai cây khác nhau. Kinh Vô Lượng Thọ, tập Thượng, cũng không phân biệt giữa Vô Ưu và Ưu Đàm khi ghi : “Hoa Vô Ưu; ‘Vô lượng ức kiếp khó gặp, khó thấy, giống như hoa linh thoại, đúng thời mới xuất hiện”.

E. Tên khoa học và các tên khác :

–  Saraca asoca (hay Jonesia Ashok) thuộc họ thực vật asalpinioidae

–  Tên Anh – Mỹ : Ashoka tree (Sorrowless tree), Sita-Ashok

–  Tên Ấn Độ : Asok, Asoka, Vanjulam.

F.  Đặc tính thực vật :

Giống Saraca, nổi tiếng do cho những chùm hoa rực rỡ gồm 11 loài cây thuộc vùng Đông-Nam Á. Cây có lẽ có nguồn gốc tại Ấn Độ, Miến Điện và Mã Lai. Nhóm Saraca được trồng để làm cây cảnh và để lấy hoa trưng bầy nơi các bàn thờ thần linh tại Á Châu. Tại Ấn Độ, cây mọc tự nhiên ở vùng Trung và Đông Himalaya, nơi cao độ lên đến 750m; tại các thung lũng Khasi, Garo va Lushai.

Tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn có các mẫu cây Saraca indica, gọi là Vàng Anh lá nhỏ và Saraca chinensis = S. dives, gọi là Vàng Anh lá lớn.

Cây Vô Ưu thuộc loại tiểu mộc mọc tương đối chậm, cao 5-20m, Thân không gai và nhẵn, màu nâu – xám. Cành phân nhánh nhiều tạo thành tán, gần như tròn. Lá kép hình lông chim chẵn, với 4-6 cặp lá chét. Lá có dạng gần như ngọn giáo thuôn, tù hay nhọn ở đầu, tròn ở gốc, dài 15-20 cm, rộng 5-7 cm, màu lục xậm, mặt trên bóng, mặt dưới nhạt hơn. Lá non màu hơi tím, xếp lại và buông thõng xuống. Hoa màu đỏ cam, vàng-cam, sau đó chuyển thành đỏ đậm, mọc thành ngù đặc ở nách lá. Quả thuộc loại quả đậu, màu đen, dài 9-25 cm, rộng chừng 4cm, trong chứa 4 đến 8 hạt, hình cầu, chừng 35 mm.

Cây trổ hoa quanh năm, nhưng trong các tháng 2 đến 5, hoa có màu sắc rực rỡ nhất. Hoa có mùi thơm dịu, mùi thơm rất mạnh vào buổi chiều tối.

G. Thành phần hóa học :

Vỏ thân chứa: Tannin (6%), Catechol, Tinh dầu, Heamatoxylin, Ketosterol, Các hợp chất loại glycoside, saponin, hợp chất phức tạp chứa Calcium (C6 H10O5Ca), chứa sắt. Các glycosides loại lignan : Lyoniside, Nudiposide, 5-methoxy-9- beta-xylopyranos yl (-)isolariciresinol , Icariside E3, Schizandriside. Các flavonoids có hoạt tính chống oxy-hóa như (-)epicatechin, epiafzelechin-> (4beta->8)-epicatechin, procyanidin B2 (Journal of Natural Medicine Số 61-2007)

– Hạt chứa: Lectin Saracin

H. Các nghiên cứu khoa học về Vô Ưu :

Dịch chiết bằng nước từ vỏ thân được ghi nhận là có chứa 2 hoạt chất: một có hoạt tính kích thích và một có hoạt tính làm thư giãn bắp thịt nơi ruột non của chuột-bọ thử nghiệm. Hoạt chất cho thấy có thể kích thích bắp thịt tử cung, gây sự co thắt nhiều lần hơn và cơn co thắt kéo dài hơn.

Hoạt chất loại glycoside, tinh khiết hóa, kết tinh cũng gây co bóp tử cung, có thể dùng trong các trường hợp xuất huyết tử cung (khi cần đến các alkaloid của nấm ergot). Ngoài ra hoạt chất này cũng hữu dụng trong các trường hợp xuất huyết nội mạc buồng trứng, rong kinh khi bị u tử cung, trĩ và kiết lỵ.

Trong vỏ cây, còn có một hợp chất phức tạp, gọi là Phenolic glyco side P2 có hoạt tính rất mạnh trên bắp thịt tử cung.

Dịch chiết bằng alcohol từ vỏ có hoạt tính kháng sinh trên nhiều vi khuẩn. Nước trích từ hoa tuy cũng có tác dụng kháng khuẩn nhưng yếu hơn và giới hạn hơn (Canadian Journal of Microbiology Số 53-2007)

Nước chiết từ vỏ cũng giúp gia tăng thời gian sinh tồn cho chuột bị gây carcinoma loại Ehrlich, và làm giảm khối lượng của bướu ung thư loại Sarcoma tumour line S-180.(Indian Journal of Pharmaceutical Sciences Số 54-1992)

Lectin: Saracin ly trích từ hạt quả Vô Ưu có hoạt tính kết dình chuyên biệt với N-acetyl-neuraminyl -N-acetyllactosa mine. Saracin có hoạt tính tạo sự phân cắt nhân tế bào lympho nơi người. Saracin kích khởi sự bài tiết IL-2 của tế bào máu đơn nhân (người). Saracin có ái lực với các tế bào T loại CD8(+) hơn là với CD4 (+) và được cho là có những hoạt tính điều hòa hoạt động của hệ Miễn Nhiễm (Archives of Biochemistry and Biophysics Số 371-1999)

sala tại chùa Hoằng Pháp

J. Vô Ưu trong Y – Dược Ayurvedic :

Trong Y-Dược Ayurvedic (Ấn Độ-Pakistan), Vô Ưu được xem là một vị thuốc của phụ nữ, vị thuốc giúp phụ nữ giữ được ‘ nữ tính’. Cây Asoka được cho là cây bảo vệ sự trong sạch cho phụ nữ.

Cây được dùng rất phổ biến tại Ấn Độ để trị các bệnh phụ khoa, đặc biệt là về tử cung. Cây được xem là có chứa các phytoestrogens, giúp cải thiện việc cơ thể phụ nữ sử dụng các kích thích tố:

–  Để trị đau bụng, khó chịu : Đun vỏ cây Vô Ưu với sữa bò, thêm một chút đường, lọc qua vải thưa. Uống mỗi ngày với mật ong trong 21 ngày.

– Trị vết thương, đứt tay chân : Nghiền vỏ Asoca thành bột, trộn thành khối nhão. Hơ nóng khối nhão rồi đắp vào vết thương trong 2 ngày.

– Trị rối loạn kinh nguyệt, rong kinh : Nghiền chung vỏ Asoca, tiêu đen, trộn với nước vo gạo, uống với mật ong khi bụng đói, chỉ uống khi bắt đầu có kinh.

(Theo:Tài liệu nghiên cứu của Dược Sĩ Trần Việt Hưng)