NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

Đã có “TỬ VI ĐÔNG PHƯƠNG” và 

“LỊCH VẠN SỰ” THÁNG 4/2010

XEM NƠI TRANG CỐ ĐỊNH

NÓI VỀ CÁI “PÍN CỌP”

Đang ngồi cạnh bầy hổ trò chuyện về loài vật đã đi vào huyền thoại về sức mạnh tình dục, thì anh Nguyễn Khắc Thọ ngỏ ý nhờ tôi chuyển lời cảnh báo với những đại gia mê món pín hổ ngâm rượu. Theo anh Thọ, hầu hết lượng pín hổ bán ở thị trường là đồ giả.

Tôi đã có nhiều lần tận mắt pín hổ khi đóng vai đại gia đi săn đồ ngâm rượu. Mấy ông thầy lang trong khu phố cổ Hà Nội còn lôi cả dây pín hổ (cứ như kiểu nhà hàng kinh doanh phở xâu quả ớt treo trên bếp cho hấp dẫn) ra cho tôi chọn với giá 1,7 triệu/cái.

Thậm chí, pín hổ cũng được bày bán cả đống trong các phiên hội chợ diễn ra ở các tỉnh lẻ. Giá mỗi cái pín hổ khoảng 1 đến 1,5 triệu đồng. Chưa nhìn thấy pín hổ thật bao giờ, song tôi dám chắc đó là pín giả, vì lấy đâu ra lắm pín hổ như thế.

Theo một số “chuyên gia” nấu cao hổ bịp ở xã Lãng Công (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) và Tứ Xã (Lâm Thao, Phú Thọ), pín hổ giả bày bán tràn lan ở thị trường chẳng qua là gân bò, được các nghệ nhân điêu luyện chế tác mà thành.

Theo các “chuyên gia” này, mấy ông “nghệ nhân” cũng chẳng nhìn thấy pín hổ bao giờ, nhưng cứ nghe theo lời đồn mà chế tác thì sẽ bán được. Người mua có nhìn thấy pín hổ bao giờ đâu, nên họ chỉ tin vào lời đồn, chứ họ chẳng tin vào cái pín thật. Quả thực, tôi cũng chưa được tận mắt pín hổ bao giờ, nhưng qua đấy, cũng biết sơ sơ về cái pín hổ.

Tôi thao thao bất tuyệt với anh Thọ về cái pín hổ, nào là nó vừa cong vừa vênh, lại rất hoành tráng. Pín hổ sấy khô rồi còn to bằng ngón tay cái, dài đến 30cm. Cứ tính toán, cục thịt to bằng bắp tay, hun khói trên gác bếp cả tháng trời, còn bé bằng ngón tay cái, đủ biết pín của hổ thuộc hàng khủng long như thế nào !?

Dấu hiệu dễ nhận biết và đặc biệt nhất của pín hổ là những chiếc gai ở đầu, khi khô quắt lại, cứng như thép, nhọn như mũi kim. Mỗi cái gai dễ dài đến cả cm. Dương vật hổ quả là một thứ kỳ dị, chả giống với pín của loài động vật nào. Thế nên, nó mới tạo ra những huyền thoại, để người đời ra sức săn lùng, tốn kém tiền của để sở hữu một cái ngâm rượu uống, những mong một người khỏe… nhiều người cùng vui!

Thậm chí, ông bạn tôi, một Tổng giám đốc ở Ý Yên, Nam Định, đã sẵn sàng đổi chiếc xe ford mới tinh 5 chỗ đang đi để lấy một bình rượu ngâm 4 vó hổ cùng với một cái pín. Anh quý bình rượu như tính mạng mình, nên thường để trong cốp con xe Lexus LS 460 trị giá 4 tỷ đồng. Đi đâu anh cũng mang nó đi, thi thoảng lại làm chén. Bạn bè thân lắm anh mới mời một ly mắt trâu. Đã đôi lần được thưởng thức rượu pín hổ của anh, song quả thực, tôi chưa thấy sự khác biệt nào cả.

Anh Nguyễn Khắc Thọ người nuôi hổ phân tích : “Thiên hạ cứ đồn khả năng tình dục của hổ là vô địch, ăn uống cái gì của hổ cũng khỏe, đặc biệt là pín hổ mà ngâm rượu thì viagra cũng không sánh bằng. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào kiểu suy diễn “ăn gì bổ nấy”, thì việc uống rượu pín hổ sẽ rất kém tác dụng!”.

Tuy mỗi ngày hổ có thể quan hệ 30 lần, nhưng chỉ đến ngày thứ 4 hoặc thứ 5 là đã lẩy bẩy kiệt sức. Nhiều chú còn bỏ ăn mấy ngày liền và tất nhiên là chẳng thèm đoài hoài đến em hổ xinh đẹp đang động dục ầm ỉ nào nữa. Để phục hồi lại sức khỏe, chàng hổ phải ăn uống, bồi bổ, nghỉ ngơi cả tháng trời.

Điều kém cỏi nhất trong chuyện chăn gối của hổ, là mỗi lần giao hoan, thường chỉ kéo dài 5-7 giây, lâu lắm thì được nửa phút. Như vậy, so với con người, hổ còn kém xa về cái khoản dai sức. Đã thế, chất lượng tinh trùng của hổ có vẻ như không được “xịn lắm”, nên ít khi đậu thai trong đợt giao hoan đầu tiên.

So với các loài động vật khác, anh Thọ xếp hổ vào hạng bét về khoản tình dục. Không kể đâu xa, ngay trong Vườn thú Hà Nội, có nhiều loài mà hổ phải tôn xưng làm sư phụ. Riêng dê và khỉ thì không thèm chấp với chú em hổ về khoản ấy.

Một con khỉ độc (khỉ đực – đầu đàn) có thể đảm bảo thỏa mãn cho mấy chục khỉ cái trong đàn. Con khỉ đực có thể giao phối liên tục cả ngày, kéo dài quanh năm suốt tháng và sẵn sàng chiến đấu nếu khỉ đực khác dám bén mảng quyến rũ các bà vợ của mình.

Còn ở chuồng dê, sáng nào cũng vậy, khi các nàng dê vừa mở mắt, chàng dê đực đã đứng gác ở cổng, “xử lý” từng em một, nhanh chóng, đều đặn và thường xuyên cứ như kiểu “quẹt thẻ” ở cơ quan. Cả ngày, chàng dê ta chỉ có mỗi việc là ngong ngóng xem em nào có biểu hiện thèm giai, là sáp vô tấn công liền. Ngày nào cũng như ngày nào, chàng dê đực đều làm tình cỡ trên dưới trăm lần.

Ngoài khả năng tình dục không được mạnh bằng nhiều loài vật khác, kể cả tần suất và chất lượng, thì pín của hổ cũng không được hoành tráng lắm. Theo anh Thọ, tuy hổ là một con vật to lớn, chúng có thể nặng đến 3 tạ, song pín (dương vật) của nó lại bé xíu, chỉ nhỉnh hơn cái đũa một chút. Anh đã vạch pín của con mèo nặng 3kg và so sánh với pín của hổ nặng 2 tạ thì thấy hai cái bằng nhau.

Điều bất ngờ nhất, đó là pín hổ không hề có gai như con người đồn đại. Anh Thọ đã lấy danh dự của người nuôi hổ hơn 20 năm nay, từng cả trăm lần tận mắt thấy pín hổ thòng lòng ra ngoài, khẳng định rằng, những cái pín hổ với gai góc xù xì bày bán thậm thụt khắp nơi chắc chắn là đồ dỏm.

Để chắc ăn, tôi đã gặp một bác sĩ, người từng nấu cao cả trăm con hổ trong suốt 50 năm qua để hỏi. Quả đúng như lời anh Thọ, pín hổ không những rất bé, chỉ bằng ngón tay út, mà lại không hề có cái gai nào. Âm vật của các nàng hổ cái cũng rất bé, phù hợp với “súng ống” kém hoành tráng của hổ đực. Chẳng thế mà, bà mẹ hổ nặng 200 đến 300kg, lại đẻ ra những chú hổ con rất bé, chỉ chừng 1kg.

ĐOÀN GIAO

PHÁT HIỆN DI HÀI MỘT TIÊN NỮ

Được tìm thấy tại miền quê hẻo lánh ở Derbyshire, bộ xương khẳng khiu dài 20 cm với nguyên vẹn da, răng, tóc và đặc biệt là đôi cánh tiên bé xíu đã được các nhà nhân chủng học và chuyên gia giám định pháp y ở Anh khẳng định là di hài đích thực, tuy nhiên không-phải-của-người.

Tiên nữ – nhân vật tưởng chừng chỉ tồn tại trong truyền thuyết – nay đã được khẳng định là có thật bằng những chứng cứ xác thực đầu tiên. Một người đàn ông (xin được giấu tên) ở Derbyshire đã phát hiện di hài huyền thoại trên con đường cổ xưa từ thời La mã, nằm giữa hai làng Duffield and Belper. “Hôm đó như thường lệ, tôi dắt chó đi dạo qua khu mộ cổ Iron Age thì bất chợt con vật cưng cất tiếng sủa và tỏ thái độ khác thường. Nó cứ quay đầu về phía ngôi mộ mà sủa và nhất định không chịu rời bước, bất chấp tôi có lôi kéo thế nào. Thật là điều bất thường vì hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua đây, mà nó có bao giờ hành xử khác lạ như thế. Tò mò, tôi tiến lại gần khu mộ…

Đập vào mắt tôi là cảnh tượng ngỡ như trong truyện cổ : một mô đất sạt xuống, mở ra một đường hầm đen ngòm rộng chừng nửa mét. Chắc chắn là trước đây, tôi chưa nhìn thấy hầm tối này bao giờ. Tôi quỳ gối xuống để quan sát rõ hơn, cảm nhận rõ làn gió hun hút lạnh buốt phả vào mặt – chứng tỏ, hầm rất sâu.

Tôi bấm đèn pin ở chìa khóa xe và căng mắt nhìn cho rõ. Chính lúc ấy, vật thể lọt vào tầm quan sát làm tôi giật nảy mình: cách tôi chưa đầy 3 bước chân, một thi hài nhỏ xíu còng queo nằm trơ trọi trên đất. Phản xạ đầu tiên, tôi toan chạy đi báo cảnh sát – rất có thể đó là một đứa bé chết non. Nhưng khoan, thi hài này nhỏ hơn nhiều so với 1 đứa bé sơ sinh, và quan trọng hơn cả, sau lưng nó còn một đôi cánh tiên mỏng dính. Tôi dùng que khều nó lên, như vẫn không tin nổi vào mắt mình rồi bỏ vào cái túi nylong (định để dành đựng phân chó)”.

Không do dự, người đàn ông rút điện thoại gọi cho vợ. Hai vợ chồng thận trọng đặt xác “tiên nữ” vào trong 1 hộp thiếc đựng bánh, sau đó giấu trong ga-ra. Ngày hôm sau, cảnh sát ngay sau khi được thông báo đã tới đem thi hài đi giám định và phân tích.

Không chỉ một xác tiên

“Là một trong số ít những chuyên gia hiện tượng kỳ bí ở Derbyshire, tôi không bất ngờ khi cảnh sát viếng thăm nhờ giám định một thi thể lạ lùng – mặc dù lúc đó sự việc vẫn còn giấu kín nhằm tránh những rùm beng từ phía phương tiện truyền thông đại chúng.

Đích thân người đàn ông phát hiện ra khu mộ bí ẩn đã dẫn tôi trở lại nơi tìm ra thi hài. Thật bất ngờ, càng tìm kiếm chúng tôi càng phát hiện ra nhiều xác tiên nữ – tất thảy trên 2 chục xác với các mức độ khô cứng khác nhau. Không hiểu bằng cách nào mà chúng được bảo quản nguyên vẹn một cách đáng ngạc nhiên, tới mức có thể thấy rõ cả những chiếc móng tay và lông mi bé xíu. Kỳ lạ hơn nữa khi một lần tình cờ, tôi chợt nhận ra dường như có bàn tay ai đó đang cố gắng lấp lại đường hầm bí hiểm”.

Những bức chụp X-quang tiết lộ những điều vô cùng thú vị : về cấu tạo sinh học, di hài tiên nữ chẳng khác gì bộ xương của một bào thai vừa mới thành hình, tuy nhiên, những đốt xương rỗng tuếch khiến trọng lượng cơ thể chúng nhẹ nhàng hơn nhiều. Đáng ngạc nhiên, “tiên nữ” cũng có rún – điều này cho thấy những sinh vật này cũng duy trì nòi giống theo cách của con người, mặc dù chúng không có bộ phận sinh dục hoàn chỉnh.

Không dám khẳng định chính xác những xác khô này đã tồn tại bao lâu, nhưng mức độ ướp khô cho thất chúng ít nhất phải trên 400 năm tuổi.

Nhưng do đâu mà những sinh vật kỳ bí này luôn bị coi chỉ là nhân vật hoang đường trong truyền thuyết. Các chuyên gia sinh vật bí hiểm cho rằng, khả năng hòa trộn với môi trường quá tốt đã giúp chúng lọt khỏi tầm mắt con người cho đến tận ngày nay. Sắc tố đặc biệt trên cánh và da khiến chúng như “tan” vào những tán lá xanh cao chót vót – nơi chúng cư ngụ thường xuyên và hầu như không bao giờ mạo hiểm sà xuống dưới đất. Vào mùa đông lạnh giá, chúng rút lui vào hang động sâu trong lòng đất.

Những di hài phát hiện ở Derbyshire là bằng chứng hiển hiện rằng, truyền thuyết không hoàn toàn là những điều tưởng tượng.

LAN CÂYSỨ

THẦN BÍ VÀ KHOA HỌC

Trong tác phẩm Đời sống sau này (Cuộc sống sau cuộc sống), bác sĩ Raymond Moody, một người Mỹ, đã dày công nghiên cứu 150 người trên khắp thế giới, đủ các sắc tộc, đã từng chết lâm sàng.

Người sắp chết, đến phút cuối cùng nghe thấy bác sĩ, hoặc những người xung quanh tuyên bố rằng mình đã chết, nghe thấy những tiếng ồn ào khó chịu, thấy bản thân mình bị lưu động rất nhanh qua một đường hầm dài tối đen …

Có đến trên 60% các cuộc tìm kiếm thành công và hơn 10,000 hài cốt liệt sĩ đã tìm thấy nhờ các nhà ngoại cảm …

Những câu chuyện về việc đi tìm mộ của các nhà ngoại cảm như chị Phan Thị Bích Hằng, chị Vũ Minh Nghĩa, anh Nguyễn Văn Nhã, hay anh Phạm Văn Mẫn … đã giúp một số gia đình đã tìm thấy hài cốt của người thân là có thật. Họ đã mang lại niềm hạnh phúc không gì sánh nổi cho nhiều gia đình. Nhưng đi cùng với thành công của các nhà ngoại cảm là hiện tượng lan truyền mạnh mẽ những quan điểm thần bí và duy tâm.

Từ trước đến nay, người đời thường cho rằng, việc các nhà ngoại cảm đi tìm mộ hay chữa bệnh kiểu … “bắt ma” là mê tín dị đoan. Tuy nhiên, hiện nay, khoa học đã chứng minh, những người có khả năng ngoại cảm có thể chữa bệnh và thực tế là hoàn toàn khoa học và vô cùng vi diệu.

Nguyên nhân sâu xa của bệnh tật có nguồn gốc từ sự hoạt động của trường năng lượng học sinh. Mỗi tế bào trên cơ thể đều có một đám mây điện từ bao quanh và các dòng hào quang tuôn chảy theo hệ thống. Khi đám mây điện từ ở khu vực nào yếu, hoạt động lộn xộn và các dòng hào quang lệch lạc, tắc nghẹn thì khu vực đó sẽ sinh ra bệnh tật. Nhà ngoại cảm, với khả năng thấu thị và nhìn thấy dòng chảy của trường năng lượng sinh học, họ sẽ biết ngay người đối diện bị bệnh gì và biết cách chữa trị phù hợp.

GS. Trần Phương là một nhà khoa học duy vật Biện chứng. Ông đã chứng kiến tận mắt suốt quá trình chị Phan Thị Bích Hằng đi tìm và thấy mộ em gái ông và dường như đã thay đổi cách nhìn về ngoại cảm. Tiếp cận sự kỳ diệu này từ góc nhìn của khoa học, GS. Trần Phương nhận định rằng, nếu có “linh hồn” thì “linh hồn” phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hóa học, y học, với học sinh những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra.

Những “linh hồn” người chết vẫn thể hiện cảm xúc vui, buồn, quan tâm, ước muốn, thậm chí cả giận dữ, vẫn nhớ và kể lại những việc đã qua, kẻ cả những việc xảy ra sau khi thể xác đã chết , vẫn theo dõi, đánh giá được những việc mà người sống đang làm. Như vậy thì “linh hồn” không phải là những vật thể vô tri vô giác, mà là những vật thể sống, có tình cảm và tư duy.

Còn nhà nghiên cứu, Đại tá Đỗ Kiên Cường, Phân viện phó Phân viện Vật lý Y sinh học đã nghiên cứu hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm dưới góc độ phân tích “Bức xạ tàn dư”. Vì bức xạ tàn dư được lưu giữ trong cấu trúc của nước. Nước là khởi đầu của sự sống dựa trên các-bon có trên trái đất. Nước có cấu trúc khá chặt che, đó là cấu trúc fractal bội ba. Bức xạ tàn dư có thể được niêm cất trong nước của một cấu trúc vật chất nào đó như Cối cây, đất đá trong các công trường xây dựng … Càng gần tròn nơi cất người chết, bức xạ niêm cất càng mạnh nên nhà ngoại cảm “đọc ý nghĩ người chết” càng rõ khi đến gần khu vực có hài cốt là vì thế.

Đại tá Cường cũng giải thích hiện tượng ma quỷ, linh hồn … qua việc phân tích Bức xạ tàn dư. Nếu như ta coi hiện tượng đó là có thật thì một câu hỏi mà khoa học đặt ra: Đâu là cơ sở vật chất cho hiện tượng kỳ lạ đó? Điều này cần phải lý giải từ vấn đề bức xạ tàn dư, cái tồn tại sau khi chết, như vật mang một số thông tin cá nhân về người đã khuất.

Hai công trình nghiên cứu của bác sĩ Raymond Moody, đã dày công nghiên cứu 150 người trên khắp thế giới, đủ các sắc tộc, đã từng chết lâm sàng kết luận :

– Tất cả những người đã trải qua kinh nghiệm về cái chết đều nhận thấy rằng chết không phải là hết, chết không đáng sợ mà là đáng mừng, chết không phải là khổ mà lại là sung sướng, có cảm tưởng như về nhà. Tuy nhiên, điều may mắn là không ai trong số họ nghĩ đến việc đi tìm cái chết, mà đều quan niệm rằng phải làm tròn phận sự ở đời trước khi chết.

Bình Nguyên

Advertisements

Điểm mặt các đồng cốt (2)

ĐIỂM MẶT CÁC NHÀ “NGOẠI CẢM”

GS- BÙI DUY TÂM

Bài trước, GS Bùi Duy Tâm đã đi tìm hiểu thực tế từng nhà ngoại cảm, từng vị đồng cốt có tên tuổi để có cái nhìn cho đúng thực chất hơn. Bài này tiếp tục điểm những khuôn mặt đồng cốt còn lại.

16. Cô Nguyệt do ông Trần Thịnh giới thiệu. Ông Trần Thịnh là phụ tá của Thiếu tướng TS.Chu Phác, chủ nhiệm bộ môn Cận Tâm Lý trong TTNCTNCN.

Đêm chủ nhật, 15.2.2009, đêm cuối cùng ở Hà Nội, tôi đến nhà cô Nguyệt gần 10 giờ đêm. Cô vui vẻ tiếp. Tôi ngỏ ý muốn gặp mẹ tôi mới mất hồi tháng 6.2007. Cô tập trung nhìn lên bàn thờ, khấn vái một hồi lâu rồi nói “Lạ nhỉ, bà cụ về rồi, đứng im mà không nói”. Cô loay hoay cả nửa tiếng đồng hồ, không có kết quả rồi bỗng bập ra câu nói : “Tuấn…Tuấn, sao lại giận… giận nhỉ”. Có vậy thôi, cô không thể nói thêm được nữa. Tôi đưa tiền để cám ơn cô. Cô nhất định không lấy và có vẻ bứt rứt lắm.

Cô Nguyệt là một cô đồng lương thiện. Vong không lên được hay lên mà không nói được hay nói mà không nghe thấy được là có thể tại vong, tại tôi, hay tại khả năng ngoại cảm của cô còn yếu kém. Trước kia ở Hà Nội đã xảy ra chuyện một gia đình mời một cô đồng nổi tiếng là hay đến nhà. Suốt buổi, vong của gia đình đó không về được. Cô đồng cảm thấy nhục nhã, uất quá, òa khóc rồi chạy ù ra đường đi mất. Đó là những cô đồng lương thiện không chịu nói nhảm nhí, lừa bịp gia chủ.

Dương Mạnh Hùng cũng thấy mẹ tôi hiện về không nói nhưng anh ta lại bịa đặt ra những điều không phải do mẹ tôi nói, tôi là con nên biết ngay. Cô Nguyệt bật ra được 2 chữ “Tuấn… Tuấn” tại sao lại “Giận… Giận” nhỉ !” Chỉ có tôi hiểu và biết chắc là Mẹ tôi đã về thật. Trong đám tang mẹ tôi có vài chuyện hiểu lầm giữa tôi và Tuấn, em tôi. Chỉ có giữa 2 anh em biết thôi và tất nhiên vong mẹ tôi phải biết nên người hỏi tôi “Tại sao Tuấn nó giận con”. Cô Nguyệt chỉ bắt được hai chữ “Tuấn” và “Giận” thôi. Cũng như trước kia cô Phương hỏi “Gia đình có ai tên Tiến không ?”. Chúng tôi đáp : “không có ai tên đó”. Cô Phương tức quá hét lên : “ta là ông Ngoại đây”. Lúc đó cả nhà mới ồ lên : “Cụ Tiếu, ông Ngoại”. Tiếu chứ không phải Tiến, cô Phương nghe hơi nhầm một chút.

oOo

… Bài này đã viết xong hơn 2 tuần nay rồi. Bây giờ tôi lại viết thêm về  Cô Nguyệt hay Trần Thị Nguyệt (ngõ Trường Chinh, ngách 29/9A, quận Thanh Xuân, Hà Nội) vì vừa có một thông tin mới rất hay, rất đáng tin cậy như một bằng cớ rất có giá trị về sự hiện hữu của “Linh hồn và cõi âm”.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Châu vừa từ VN về San Jose, gọi điện thoại kể lại chuyện hai ông bà gặp cô Nguyệt sáng 14.12.2009 như sau :

– Chúng tôi về đến Hà Nội ngày 12 tháng 12  năm  2009, một tuần trước khi vào Saigon để tham dự 35 năm Hội Ngộ của lớp Y Khoa Sài Gòn khóa 1967-1974 .

Dự định cúa tôi là thăm họ hàng và cũng nhân dịp này  tìm đến điện cô Phương ở Thanh Hóa cho thỏa chí tò mò sau khi đọc bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm ” của BS. Bùi Duy Tâm.

Một người bạn quen, không biết gì về anh em hay họ hàng chúng tôi cho biết không cần phải đi Thanh Hóa, vì ngay tại Hà Nội có nhiều nhà Ngoại Cảm và có thể thu xếp để chúng tôi gặp cô Nguyệt ở Ngã Tư Sở, cuối đường Trường Chinh. Anh bạn này cũng cho biết cô Nguyệt thường hay đi xa, về các tỉnh khác để giúp thân nhân tìm mộ các người  chết trong thời kỳ chiến tranh, nên phải canh đúng lúc cô ấy ở Hà Nội mới gặp được.

Hai ngày sau, chúng tôi đang sửa soạn ra phố cổ Hà Nội dạo chơi, anh bạn điện thoại cho biết cô Nguyệt đã có mặt tại Hà Nội và đã lấy hẹn lúc 11:30 sáng ngày hôm đó.

Vợ tôi là người Công Giáo gốc, ngần ngại không muốn đi vì quan niệm rằng Chúa Giê Su đã cất ai đi thì làm gì có chuyện trở về. Tôi phải thuyết phục mãi bà ấy mới chịu và bà đeo dây chuyền có hình Đức Mẹ ở cổ, đồng thời cũng đeo tràng hạt có Thánh Gíá ở cổ tay.

Chúng tôi đến ngõ 192, ngay ngã tư Sở Hà Nội, chờ khoảng vài phút thì người bạn chạy xe máy đến đưa vào ngách 29, rồi vào một căn nhà ba tầng, bề mặt khoảng hơn ba thước, giữa nhà và căn nhà đối diện chỉ có một khoảng cách chừng  hơn một thước. Vào nhà, một cậu con trai khoảng hai mươi tuổi mời chúng tôi vào phòng khách và nói “mẹ cháu ra ngoài chốc lát, sắp về đến rồi”.

Khoảng mười phút sau, một người đàn bà khoảng hơn bốn mươi  chạy xe máy về, cô này mặc quần jean và áo ngắn như người bình thường, nói chuyện lặt vặt với anh bạn tôi rồi mời chúng tôi lên lầu.

Căn phòng trên lầu ba khoảng  ba thước bề ngang, bốn thước bề sâu , có bàn thờ Phật , bên cạnh là một bàn thờ khác giống như bàn thờ gia tiên , nhưng không có hình trên bàn thờ này. Cũng không có bàn ghế, chúng tôi ngồi trên chiếc chiếu đơn giản.

Anh bạn tôi để một tờ  một trăm ngàn VN trên bàn thờ, cô Nguyệt châm ba nén hương, lâm râm khấn vái trước bàn thờ Phật khoảng một phút, ngồi xuống chiếu rồi hỏi tôi : “Anh muốn gặp ai ? “

Tôi nói : “Tôi muốn gặp bố tôi hay anh cả tôi” Tôi cố ý không tiết lộ những chi tiết về những người đã khuất để xem ra sao. Thực ra bố tôi mất tại Saigon năm 1977, còn anh cả tôi mới mất vì heart attack tháng 5 năm 2008.

Cô  Nguyệt nhắm mắt, lâm râm khấn vái, rồi mở mắt ra nói với tôi : ” Gia đình anh có một bà cô mất hồi trẻ lắm, chết đuối, nhưng bà về và bảo không có chuyện gì để nói “Tôi giật mình vì ngày xưa bố tôi  kể là có bà cô – em ruột ông nội tôi – lúc còn trẻ đi dự đám cưới bằng thuyền rồi thuyền lật, chết đuối. Chuyện này xẩy ra lâu lắm rồi, có lẽ ở thập niên 1910.

Cô  Nguyệt nhắm mắt lại khoảng ba mươi giây, rồi mở mắt nói : “Bây giờ có một cụ ông rất uy nghi muốn nói chuyện với anh, nhưng không nhập, em nghe được những gì ông nói thì nói lại cho anh biết”.

Cô  Nguyệt nói : “Ông giận  cháu lắm, cháu về Hà Nội bao nhiêu lần mà không bao giờ nghĩ đến chuyện thăm ông, ông luôn luôn theo cháu để giúp cháu, cháu còn nhớ có cái sẹo lúc trước mổ bụng không? “

Tôi giật mình, quả đúng như vậy, về Hà Nôi trên mười lần tôi không bao giờ có ý định đi thăm mộ ông nội, vì ông nội mất từ năm 1951, lúc đó tôi mới chưa đầy hai tuổi. Còn cuối năm học APM (Dự bị Y khoa), độ mười ngày đến kỳ thi lên năm thứ nhất y khoa, tôi bị acute appendicitis và được thầy Nguyễn Hữu mổ ở bệnh viện Bình Dân, cũng may năm đó tôi qua được kỳ thi này, trong khi có khoảng gần một trăm người phảì ở lại lớp.

Ông tôi nói tiếp: “anh cả có gặp ông, anh mất nhanh lắm, ông cố cứu mà không được”. Rồi ông nói : “Tro của bố cháu để ở chùa, gần cái cầu”.  Điều này cũng đúng vì tro của bố tôi để trong chùa Vĩnh Nghiêm, gần cầu Công Lý ở Saigon.

Ông nói thêm “Cháu, anh cả cháu, thằng M. và con H.  vẫn nói với nhau chết là hết”. Điều này cũng đúng, tôi lớn lên trong một gia  đình Phật Giáo, bố mẹ tôi ngày niệm Phật ba lần, bảy anh chị em tôi thì năm người tin hoàn toàn vào đạo Phật, riêng anh cả tôi và ôi thường hay bàn luận và vẫn có quan niệm chết là hết còn M. là con lớn nhất của anh tôi và H. là vợ nó.

Ông nhắc thêm : “Ông giận lắm, năm thằng cháu nội không lo gì được cho  ông, để thằng cháu ngoại nó lo hết, cả anh Giản về Hà Nội mà cũng không thăm ông”.  Anh Giản là BS Nguyễn Thanh Giản anh thứ hai của tôi, anh em tôi thuộc dòng trưởng và có năm anh em trai, còn cháu ngoại là con của cô ruột tôi, gia đình duy nhất ở lại Hà Nội không vào Sàigòn năm 1954 và em họ tôi đã lo việc bốc mộ ông tôi về quê khi chính quyền CS giải tỏa nghĩa trang ở Hà Nội.

Tôi nói : “Ông mất từ ngày cháu còn bé, cháu không biết mặt ông, bây giờ cháu cũng không biết mộ ông ở đâu ? “

Ông trả lời : “Gọi điện thoại vào Saigon hỏi thằng Hùng thì biết”. Tôi lại kinh ngạc vì em họ  tôi, (GS Phạm Mạnh Hùng, nguyên Phó Khoa Trưởng tức Hiệu Phó – thời GS Tôn Thất Bách làm hiệu trưởng và còn làm Thứ Trưởng Thường Trực Bộ Y Tế thời GS Đỗ Nguyên Phương làm bộ trưởng) đang ở Saigon. Trước đó lúc mới đến Hà Nội tôi điện thoại cho Hùng mới biết anh ấy vào Saigon, tuần tới mới về Hà Nội.

Ông nội nói thêm : “Ông tức cháu lắm, tối hôm qua ông làm cháu đau bụng”. Quả thật tối hôm trước đang ngủ trong hotel, tôi thấy đau nhói ở bụng độ ba mươi giây, thức dậy cơn đau hết.

Cuối cùng ông nói : “Thôi bây giờ  ông cũng đầy đủ mọi thứ, mộ ông đẹp lắm, ông không cần gì cả”. Thế là sau đó ông thăng.

Cô  Nguyệt-Ngã Tư Sở Hànội cũng như cô Phương ở cầu Hàm Rồng Thanh Hóa, gọi tên người sống người chết, nói chuyện cõi Âm cõi Dương trúng phoong phoóc. Và cũng như cô Phương, cô Nguyệt không cẩn hỏi lý lịch gia đình, tên tuổi, chết ngày nào, chôn ở đâu như các cô đồng khác.

BS. Châu lại kể tiếp :

Khoảng mấy phút sau , cô Nguyệt quay sang hỏi vợ tôi : ” Chị muốn gặp ai ?”. Vợ tôi nói “Muốn gặp bố tôi”. Tôi nhắc thêm : “Và cậu em trai nữa “

Cô  Nguyệt nhắm mắt khoảng ba mươi giây, rồi nói : “Cậu này nhanh nhẩu lắm, nhập rồi “

Người em trai nhập thẳng vào cô Nguyệt và nói chuyện trực tiếp, không như ông nội tôi không nhập vào cô Nguyệt. Cô Nguyệt nghe được gì rồi nói lại với tôi. Và  cứ thế cậu em kể cho vợ tôi những chi tiết mà chỉ có những người trong gia đình mới biết được. Những chi tiết này quá riêng tư và có liên quan đến nhiều người khác nên vợ tôi không cho phép tôi viết lại.

Nhưng cuối cùng bà ấy cũng kết luận : “Không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là đứa em đã về nói chuyện với chị” (San Jose Jan. 21, 2010 – Bác Sĩ Nguyễn Thanh Châu)

Cuộc đối thoại giữa hai chị em BS. Liên (vợ BS Châu) đã  đi vào các chi tiết rất tế nhị và nhạy cảm (lại đúng dễ sợ !) trong gia đình cũng như việc chữa trị của các đồng nghiệp bạn hữu trong bệnh viện… không tiện viết ra đây.

Ngoài những mâu thuẫn phức tạp trong gia đình liên quan tới cái chết có thể gọi là oan uổng lại thêm các nghi vấn về cách định bệnh và điều trị trong một tháng trời tại bệnh viện đã được sáng tỏ phần nào trong cuộc đối thoại giữa vong cậu em và bà chị ruột (mà cả hai người đều là bác sĩ và theo đạo công giáo gốc). Cho nên Cục Điều tra Hình sự,Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và Bộ Công An đã dùng các nhà ngoại cảm và gọi hồn để điều tra các vụ án mạng bí ẩn.

Thế mới biết không gì che dấu được cõi Âm. Nếu mọi người hiểu được rằng song song với cái thế giới phàm trần bụi bặm mịt mù này còn có một cõi hiền hòa trong sáng như pha lê thì cuộc sống vô thường nơi dương thế này sẽ được thanh thản lương thiện hơn …

Kết: Trong 6 năm (2003 – 2009) nhiều lần về Việt Nam, tôi đã gặp gỡ 16 cô đồng gọi hồn và áp vong. Gặp được người hay như cô Phương, tôi đã tới 6-7 lần, gặp người không hay tôi cũng đến 5 lần như cô Bằng, gặp người không nói được điều gì nhưng chuyên cho gặp các vong sẩy thai hay trục thai như cô Tuyên, tôi cũng tới 4 lần (tôi nghe thấy các vong thai nhi khai hết chi tiết như tên ông bác sĩ trục thai, nhà ở đâu, làm các bà mẹ khóc rống lên).

Riêng cô Phương, chính quyền ở VN đã chính thức cử nhiều đoàn khoa học gia đến khảo sát tận chỗ nơi cô Phương tiếp khách trong suốt 2 năm (1999 – 2000), làm phiếu khảo sát cho 97 gia đình và cuối cùng đưa ra kết luận : “Hiện tượng khả năng đặc biệt của cô Phương là có thật. Những thông tin quá khứ và hiện tại đều đúng 100%”.

Đoàn gồm các nhà khoa học, nổi tiếng trong nước như GS. Viện sĩ Đào Vọng Đức, Giám đốc TTNCTNCN, Thiếu tướng TS. Nguyễn Chu Phác, chủ nhiệm bộ môn Cận Tâm lý, PTS. Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn Thông tin và Dự báo, TS. Trần Đức Vân, Viện Trưởng Viện Toán, TS. Nguyễn Ái Việt, Viện Trưởng Viện Vật Lý, TS. Hà Vĩnh Tân, Viện Trưởng Viện Vật Lý Điện Tử,… Tất cả đã chính thức công nhận Thế giới Tâm Linh, là Khách Quan cùng với thế giới của chúng ta đang sống trong một tài liệu như sau :

“Trong xã hội hiện tồn tại rất nhiều dạng mê tín, rất nhiều kẻ hành nghề bịp bợm dựa vào lòng mê tín của người dân. Lẫn trong bể cát sỏi mênh mang này, cô Phương đúng là viên ngọc quý. Bất cứ ai dù là người vô thần cực đoan nhất, nếu tự mắt nhìn, tự tai nghe những cuộc đối thoại giữa vong và những người thân còn sống, thuyết phục nhất là cuộc đối thoại giữa mình và các vong linh người thân của mình, đều phải tin rằng THẾ GIỚI TÂM LINH LÀ CÓ. Nó tồn tại KHÁCH QUAN cùng với thế giới ta đang sống.

Thế giới tâm linh tồn tại khắp không gian và thời gian cùng với thế giới vật chất này nhưng lại VÔ HÌNH. Cô Phương là cái loa để chuyển thế giới vô hình thành thế giới HỮU LINH, giúp ta nhận thức thế giới Tâm Linh là hiện thực khách quan. Mọi hành động của con người đang sống dù có khôn khéo đến đâu, có thể trốn tránh được pháp luật, đánh lừa được dư luận, nhưng không thể đánh lừa được VONG LINH. Thế giới TÂM LINH đầy lòng nhân ái nhưng rất nghiêm khắc đang giám sát mình ở mọi không gian và thời gian. Con người thấy cần hạn chế tính vị kỷ, tàn bạo và nâng tính vị tha lên làm cho xã hội chúng ta đang sống trở nên KHOAN DUNG và BÁC ÁI hơn.”

Tôi có thể tạm phải nhận là : “Sau khi chết (ngay cả các thai nhi chết trong bụng mẹ) người ta đi vào một thế giới khác có những quy luật vật lý khác với thế giới ta đang sống nhưng vẫn mang theo ký ức của đời này (gọi tạm là cõi dương) sang cõi khác (tạm gọi là cõi âm).

Nhưng điều rất quan trọng là TA (xác thân ở cõi dương), vẫn là TA (linh hồn thuộc cõi âm) nên cái TA vẫn liên tục từ cõi Dương sang cõi Âm. Khi qua đời này ta chỉ rũ cái xác thân xuống. Hồn ta vẫn còn nguyên vẹn, KHÔNG CHẾT : TA vẫn là TA.”

BÙI DUY TÂM

Điểm mặt các đồng cốt (1)

Linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết có hay không ? Sau đây bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA). Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh của con người, GS Tâm đã kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng : sự sống sau cái chết là có thực !

GS Bùi Duy Tâm cũng đã đi tìm hiểu thực tế từng nhà ngoại cảm, từng vị đồng cốt có tên tuổi để có cái nhìn cho đúng thực chất hơn.

ĐIỂM MẶT CÁC NHÀ “NGOẠI CẢM”

Gs-ts – BÙI DUY TÂM

Từ khi ra mắt độc giả bài viết về “Linh hồn và Cõi âm” năm 2008 đến nay, trong thời gian đó tôi vẫn tiếp tục tìm hiểu các chứng cớ cho sự hiện hữu của “Linh Hồn và Cõi Âm” bằng cách đi thực tế tại các vùng Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Thanh Hóa cùng với nhà sinh vật học PTS Nguyễn Phúc Giác Hải hay với sự chỉ dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Chu Phác và bằng cách trao đổi với nhà tâm linh học Nguyễn Hữu Hiệu về các trường hợp một số nhà soạn nhạc quá cố nổi tiếng đã truyền đạt cho người sống viết nốt những bản hòa tấu còn dang dở hay viết tiếp các bản hòa tấu họ sáng tác sau khi qua đời. Ngoài ra tôi đọc sách và tìm trên mạng những thông tin mới về lĩnh vực này.

A. GỌI HỒN VÀ ÁP VONG

1. Cô Mến (chân cầu đầu tỉnh Hải Phòng)

Chúng tôi đến nhà cô sau 12 giờ trưa ngày thứ  bảy 16.6.2007 sau khi không chờ được cô Bằng và  không gặp được cô Thạo trên đường từ Hà Nội đến đây. Thoạt đầu cô không chịu tiếp vì trễ quá giờ tiếp khách. Nhưng chúng tôi cứ ngồi ì ra không chịu về nên cuối cùng cô cũng phải tiếp. Các vong lên dễ dàng, khá chính xác. Người bạn lái xe không chịu vào. Cô gọi đúng tên bắt vào vì có vong muốn nói chuyện. Cô Mến rất tự nhiên, dễ thương, ăn nói phải lẽ, có thể tin được : Khả Tín.

2. Cô Hoàng Thị Thiêm (Hà Nội)

Chiều thứ Tư  20.6.2007 , anh Nguyễn Phúc Giác Hải gọi  điện thoại mời tôi ra Viện Vật lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người số 10 Đào Tấn để gặp cô Thiêm vừa đi Nhật về (cô được mời sang Nhật để khảo nghiệm khả năng bịt cả 2 mắt mà vẫn nhìn thấy, đọc chữ và lái xe Honda). Buổi gặp gỡ ngoài cô Thiêm, em gái cô Thiêm (Hoàng Thị Thua), anh họ cô Thiêm là TS. Trần Văn Biển còn có TS. Hà Vĩnh Tân, Giám đốc Viện Vật lý Điện tử và anh Nguyễn Phúc Giác Hải – chủ nhiệm bộ môn thông tin và dự báo của Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người (TTNCTNCN). Buổi khảo nghiệm khả năng bịt mắt mà nhìn, đọc được cái thiếp bằng tiếng Anh của tôi hoàn toàn thành công, không có một chút nghi ngờ gì về khả năng này.

Tối ngày hôm sau Thứ Năm 21.6.2007 cả 3 người : cô  Thiêm, em gái cô và ông Trần Văn Biển đến nhà em gái Bình Minh của tôi (số 2 Cổ Tân, cạnh nhà hát lớn) để biểu diễn khả năng ÁP VONG.

Có hai, ba người trong gia đình ngồi để chờ các vong linh trong gia đình về nhập vào; ba người trong bọn cô Thiêm thúc giục người chịu áp vong để vong linh gia đình nhập vào mà xuất khẩu như kiểu cách thôi miên. Hết người này thay phiên người khác ngồi chờ vong áp vào. Suốt 2, 3 giờ đồng hồ chẳng có vong nào áp vào cả.

Trò  “Áp Vong” hoàn toàn thất bại, chưa kể TS. Trần Văn Biển còn dặn dò mọi người không được chất vấn các vong những câu hỏi khó khăn mà chỉ được hỏi han sức khỏe chung chung thôi.

Để xoa dịu các người đến dự, tôi yêu cầu cô Thiêm biểu diễn trò “Bịt mắt đọc sách” với chiếc khăn buột chặt quanh mặt ngang qua đôi mắt, cô đọc hết các dòng chữ trước mặt. Hỏi cô đọc bằng cái gì, cô chỉ vùng trán giữa hai con mắt. Mọi người phì cười vì chiếc khăn vòng qua mặt đã bịt cả chỗ đó. Tóm lại chính cô cũng không biết.

3. Cô Nguyễn Thị Thạo

Sinh năm 1964, tuổi Giáp Thìn, có 2 con, nhà kiểu biệt thự to lớn, sang trọng chỉ kém nhà cô Phương ở Thanh Hóa. Đi đường Hà Nội – Hải Phòng, quá địa phận Hải Dương, qua trạm phát vé kiểm soát 100m gần ga Dụ Nghĩa rẽ phải đi vào 3 cây số đến xã Đại Bản, huyện An Dương, tỉnh Hải Phòng. Tuần trước đã đến một cái điện khác của cô ở nhà anh cô tại thôn Cử, xã Lê Thiện cũng thuộc huyện An Dương tỉnh Hải Phòng.

Sáng thứ Năm 21.6.2007, một đoàn hùng hậu gồm :- Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người (TTNCTNCN), Bà Mai xuất thân là một nhà báo, GS. TS. Ngô Đạt Tam, một nhà nghiên cứu tâm linh. Ông Trần Thịnh phụ tá TS. Chu Phác ghi chép diễn tiến của buổi tiếp xúc với cô Thạo. Hai bác sĩ Lê Thanh và Ngọc Sanh, Bùi Bình Minh, em gái tôi

Ngoài  đoàn chúng tôi còn có các khách khứa bạn bè của chủ nhà. Cô Thạo là một người thiếu phụ  ngoài 40, nét mặt thanh tú sang trọng, nói rất nhỏ, vừa gieo 2 đồng tiền vừa nói nhỏ nhẹ vừa đủ cho người ngồi bên nghe. Mọi người có vẻ hài lòng, cô em Minh của tôi nói : “Đúng anh Lựu, chồng em về rồi. Cô Thạo bắt đầu bằng việc mời thuốc lá mọi người đúng hệt như thói quen của nhà em”. Giáo sư Ngô Đạt Tam thì thầm với riêng tôi: “Cô ấy nói những chuyện gia đình chỉ riêng tôi biết”. Còn đối với tôi thì chỉ là chung chung, không chuyên biệt như cô Phương Thanh Hóa – cũng tạm được.

Cô  Thạo rất có giá, đã từng được khách mộ điệu mời qua Mỹ.

4. Cô Vũ Thị Bằng (thôn xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương trên quốc lộ 5).

Ngày nào nhà cô cũng đông như cái chợ. Trong nhà ngoài sân chật cứng. TS Chu Phác giới thiệu và nhiều người khen hay nên tôi trở đi trở lại từ ngày 27.12.2007 đến ngày 31.12.2007 tất cả 5 lần.

Lần cuối cùng sáng thứ hai 31.12.2007, tôi được vào  đầu tiên lúc 7 giờ sáng : ông Nội tôi về nói chuyện 45 phút. Mọi người cho là quá thỏa đáng xứng với công tôi đi lại 5 lần trong 5 hôm liền. Nhưng đối với tôi là hoàn toàn vô giá trị vì cô Bằng đã dựa vào tờ giấy khai lý lịch gia đình của tôi còn trong câu chuyện chỉ nói chuyện vớ vẩn chung chung cho mọi người.

Tôi không u mê như hầu hết mọi người. Việc vong hiện về là có thật vì cũng như mọi lần khác chỉ có Cha tôi và ông Nội tôi về. Cha tôi về đứng đợi ngoài cổng nói với vọng vào trước chờ em Quang tôi, đợi lâu quá ông bỏ đi. Đúng là cha tôi : ông yêu em Quang hơn tôi và thường không kiên nhẫn chờ đợi. Ông Nội tôi cũng hay về là đúng. Còn nội dung câu chuyện là cô Bằng phịa ra cho vừa lòng khách. Đa số người khác hài lòng nhưng tôi không chấp nhận.

5. Cô Nguyễn Thị Tuyên

Đáng nhẽ rẽ phải vào cầu Sắt để vào cô Bằng thì cứ đi thẳng thêm 7 cây số nữa đến thị trấn Thứa – Lương Tài – Bắc Ninh (trên đường đi Phú Lương) thì rẽ phải hơn 1 cây số đường xấu, qua một cánh đồng đến Kim Đào thì thấy một cái nhà 3 tầng đầu tiên. Đó là nhà cô Tuyên, nổi tiếng cho gặp các vong sẩy thai hay trục thai.

Từ ngày 27.12.2007 đến ngày 31.12.2007, tôi trở đi trở lại mất 4 lần, lần sau cùng mới được gọi ngay nhưng vong không về. Mỗi khi vong nhập cô Tuyên, thì miệng cô cứ tru tréo như trẻ con. Khi vong thoát thì cô dãy đành đạch rồi bất tỉnh một lúc mới ngồi nhỏm dậy. Mấy bà già trầu chắp tay vái lạy lia lịa, có vẻ tin tưởng lắm. Còn tôi thấy thật đúng là trò bịp bợm. Gặp tôi coi bộ không qua mặt được nên nói là vong không về luôn cả 4 lần. Tôi nghĩ “gọi hồn” đã thành một món ăn tinh thần cho dân quê miền Bắc như đi chùa, đi nhà thờ.

6. Dương Mạnh Hùng –  Hà Nội

Chuyên bấm mạch thái tố (?), vẽ chân dung vong, nói chuyện với vong và tìm mộ. Ở nhà cô Tuyên ra, chúng tôi chui vào căn phố tối om, leo lên gác gặp anh Hùng đang dùng điện thoại di động chỉ dẫn cho một thân chủ đương đi tìm mộ, bên cạnh người bạn gái tên Nga, được giới thiệu là nhà ngoại cảm.

Hình như “gọi hồn” và “ngoại cảm” là một cái mốt thời trang của dân miền Bắc thời buổi này. Tôi muốn gặp Mẹ tôi mới qua đời được 6 tháng. Anh ta vẽ chân dung bằng bút chì nếu cố gắng cho là giống thì cũng hao hao giống như các bà già khác. Anh nói lung tung đầy vẻ tự tin nhưng toàn là láo khoét không như sách vở báo chí ca tụng.

7. Cô Hà (cây số 88, Hải Dương)

Sáng Chủ nhật ngày 15.6.2008, sau khi đã điện thoại trước lấy hẹn, chúng tôi đến gặp cô Hà. Cô tiếp chuyện chúng tôi một lúc rồi nói hôm nay có tháng nên không làm việc với các vong được.

Chúng tôi rất ngạc nhiên hỏi sao trên đường đến nhà cô chúng tôi đã điện báo trước mà cô không nói. Cô chỉ cười nhắc lại chuyện đàn bà của cô. Cô Hà cũng như cô Tuyên thấy chúng tôi hay đúng ra là chính tôi không phải thứ thân chủ dễ tin nên không dám dở trò bịp bợm.

8. Cô Nguyễn Thị Oanh (thôn Kinh Uyên, xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương)

Trên đường trở về Hà Nội, chúng tôi ghé vào điện cô Oanh. Cô này khấn vái chư Phật một hồi rồi phán lung tung, sai bét. Tôi bực mình đứng dậy ra về thì cô và gia đình cố giữ lại dùng bữa trưa để chiều làm việc tiếp. Mọi người trong đoàn có ý xiêu lòng muốn ở lại nhưng tôi quyết định đi ngay vì không muốn để cô móc tiền bữa cơm trưa. Cô Oanh không có một khả năng gọi hồn tí nào chỉ lợi dụng lòng mê tín của lũ dân quê mà nói láo ăn tiền.

9. Cô Nguyễn Ngọc Hoài (Nhà riêng cây số 26 quốc lộ 1A – Thắng Lợi – Thường Tín – Hà Tây)

Cô  Hoài có khả năng “tìm mộ từ xa” làm việc tại “Liên hiệp Khoa học UIA” (Ban khảo nghiệm các khả năng đặc biệt) thuộc Viện khoa học hình sự, Bộ công an (01 Đông Tác – Kim Liên – Đống Đa – Hà Nội). Anh Nguyễn Phúc Giác Hải chủ nhiệm Bộ môn Thông tin và Dự báo của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người dẫn gia đình tôi tham gia một buổi ÁP VONG thứ sáu hàng tuần tại nhà riêng cô Hoài.

Hôm đó là thứ Sáu 20.6.2008 , ngoài khả năng ngoại cảm tìm mộ từ xa, cô Hoài còn hướng dẫn “ÁP VONG” cho các gia đình vào ngày thứ sáu hàng tuần. Gia đình tôi có mặt đúng 8 giờ sáng đã thấy 7,8 chục người ngồi xếp chân xuống sàn nhà từng gia đình 4, 5, 6 người. Cô Hoài bắt đầu buổi “áp vong” bằng nói vài lời hướng dẫn đại khái là ngồi yên, nhắm mắt, mời vong nhà mình về …

Gia đình tôi thì vẫn như bữa cô Thiêm tới áp vong, án binh bất động, chẳng có vong nào về áp vào ai cả. Tôi đi thăm các gia đình khác. Cũng có vài ba đám có vài người nói lung tung, nửa đùa nửa thật, chẳng ra làm sao cả. Chừng hơn 2 tiếng chúng tôi bỏ về. Cô Hoài phàn nàn với anh Giác Hải là gia đình tôi không thành tâm. Tôi chán cái trò “ÁP VONG” quá.

10. Cô Núi (Mỹ Đình – Hà Nội)

Sáng hôm thứ năm 19.6.2008 chúng tôi phải đi đón một anh công an, người giới thiệu cô Núi và anh bạn Nguyễn Phúc Giác Hải. Khi đến đầu cầu đã đã thấy một người đàn ông (chồng cô Núi) đứng đợi. Anh ta đi xe Honda dẫn đường đến một căn nhà vắng hoe. Tôi có cảm tưởng không tốt vì những nơi khác thì nhà to cửa rộng người đông như họp chợ. Chỗ này coi bộ ế khách. Quả đúng như dự đoán, cô Núi là một hạng gọi hồn rẻ tiền nhất mà tôi đã từng gặp. Nói năng vớ vẩn, cũng niệm Phật … thật là khôi hài.

Tháng hai năm 2009, tôi lại về Hà Nội và tiếp tục đi tìm hiểu các cô Đồng.

11. Cô Đồng Nứa

Nửa  đêm ngày thứ Sáu 06.02.2009 tới Hà Nội, GS. Đào Văn Long, hiệu phó ĐH Y Dược Hà Nội và BS. Vũ Trường Khanh ra đón tại phi trường Nội Bài. Chủ nhật 08.02.2009 tôi đã tới thăm điện cô đồng Nứa (vùng ven đô Hà Nội). Thân chủ khá tấp nập. Có bảng hiệu Cô Đồng Nứa và nơi gửi xe tổ chức đàng hoàng. Quang cảnh cũng như mọi nơi: các bà các cô ngồi xúm chung quanh cô đồng Nứa, chắp vái lia lịa. Cô đồng tay gieo 2 đồng tiền, mồm khấn vái rồi phán lung tung …

12. Cô Đồng Thắm (do BS. Hiên giới thiệu và dẫn đến)

Ngày chủ nhật 11.02.2009 tôi lại đi đến điện cô Thắm, không có gì đặc biệt. Cũng lếu láo như các chỗ khác.

13. Cô Đồng Sánh (cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa)

Tôi  đã chán ngấy các cô đồng quanh vùng Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng rồi. Hôm nay đi Thanh Hóa (thứ Tư 14.02.2009 ) đến điện Cô Đồng Sánh vùng Cầu Hàm Rồng. Thân chủ khá đông, lớp trong lớp ngoài ngồi cả ra sân. Chúng tôi được vào ưu tiên vì đã có hẹn trước.

Em gái Bình Minh (73 tuổi) của tôi vào thử trước. Cô  nói hết gia đình nội ngoại có những ai, bao nhiêu tuổi đúng hết 100%. Khi hỏi đến chồng ra sao. Cô nói “buồn lắm để nói sau” (vì chồng cô em tôi đã mất từ lâu rồi). Đến lượt tôi cũng vậy: anh em, con cháu bao nhiêu người, trai gái tuổi tác ra sao đúng hết 100%, chính xác đến độ người nghe phát phì cười (vì cô nói giọng khôi hài và khẳng định).

Mục đích của tôi không phải đến để coi bói toán hay thách đố thử tài các cô đồng nhưng chỉ muốn giao tiếp với người quá cố để kiểm chứng sự hiện hữu của “Linh hồn và Cõi âm”. Cô Sánh hẹn bữa khác vì có việc phải đi ngay bấy giờ. Đúng vậy, khi vào đến cổng tôi đã thấy biển đề : “Cô  Đồng Sánh phải đi giúp việc. Xin hẹn ngày sau”

Tuy không đáp ứng trực tiếp mục đích tìm kiếm của tôi nhưng cô đồng Sánh (nói thành phần trong gia đình cùng tuổi tác), Cô Hoàng Thị Thiêm (bịt mắt đọc chữ và lái xe honda), ông Đỗ Đức Trí, Sơn Tây (chỉ cần xem tên họ mà biết hết thân thế sự nghiệp), và cô Phương, Thanh Hóa (đọc tên các vong và gia đình còn sống) thật sự là những khả năng ngoại cảm rất đáng lưu ý.

14. Cô Hoa (Nghi Sơn, Thanh Hóa)

Tiện  đường chúng tôi đi tiếp đến Nghi Sơn (biên giới Thanh Hóa – Nghệ An) để gặp cô Hoa. Cô này bảo mọi người lên rút một tờ giấy bản trong đó chẳng có chữ nghĩa, hình vẽ hay dấu vết gì cả. Đối với mọi người trừ cô thì tờ nào cũng như tờ nào, cũng trống trơn. Nhưng đến khi cô gọi lên điện đưa tờ giấy của mình ra thì cô trông vào đó đọc lên một bài thơ nói về người ấy tương đối khá đúng. Đọc rất trơn tru, vần điệu, rõ ràng không ngập ngừng. Nếu nghe chưa rõ thì cô đọc lại ý như trước như thể đọc, bài thơ đã viết sẵn, xong việc phải mang tờ giấy ra sân đốt đi.

Tôi ngồi suốt buổi quan sát mỗi người là một bài thơ hoàn toàn khác nhau, đọc ra trên tờ giấy không viết một chữ nào. Vợ chồng đứa cháu gái tôi luôn luôn chê bai chỉ trích các nhà ngoại cảm và các cô đồng khác nhưng lần này thi chúng khâm phục cô Hoa sát đất.

Cô Hoa nói chúng sinh ra một trai tưởng rằng trai, hóa ra không phải trai rồi cũng lại thành ra trai. Số là khi siêu âm lần đầu, bác sĩ bảo là con trai, siêu âm lần sau bảo là không phải con trai nhưng khi sinh ra thì lại là con trai. Còn về phần tôi, không có gì sai nhưng những điều cô nói có thể cô được người khác cho biết. Tôi là một người nhiều người biết tiếng lại hay ăn nói ngông nghênh không giữ mồm giữ miệng. Hơn nữa tôi cần nói chuyện với các vong thôi nhất là mẹ tôi mới mất được một năm rưỡi. Cô Hoa hẹn khi về Mỹ, điện thoại cho cô. Cô sẽ nối nhịp cầu với cõi Âm để nói chuyện với mẹ tôi. Tôi đã điện thoại vài lần nhưng không có kết quả như tôi mong muốn. Đối với tôi cô Hoa là vô dụng.

15. Cô Phương (Cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa)

Cô  Nguyễn Thị Thanh Phương, sinh năm 1972, học hết lớp 7,năm 12 tuổi có khả năng ngoại cảm, 16 tuổi đọc tên các vong và thân nhân, 18 tuổi lấy chồng, có 2 con gái.

Trên  đường về Hà Nội, tôi ghé thăm cô Phương như một cố nhân, lần cuối cùng cách đây 2 năm khi mẹ tôi vừa mất. Cô vừa ở điện về, dáng điệu mệt mỏi sau 1 ngày dài làm việc với các vong.

Không một cô đồng gọi hồn nào có khả năng ngoại cảm mạnh như cô Phương(có lẽ ta phải kể thêm cô Nguyệt). Cô nào cũng bắt thân chủ phải ghi họ tên mình, gia đình mình, tên họ và nơi chôn cất vong mà mình muốn gặp. Riêng cô Bằng lại yêu cầu viết hết tên tuổi cả đại gia đình trên giấy. Khi đến lượt ai thì cô để danh sách nhà đó kẹp dưới đùi, vừa gọi tên vừa phun ra những chuyện chung chung vô thưởng vô phạt.

Chỉ có một mình cô Phương cầu Hàm Rồng là hết sức đặc biệt: ai đến cứ việc ngồi chờ, không phải khai tên tuổi ai cả. Vong nhà mình về thì bà chị chồng ngồi cạnh cửa hô lên là vào. Cô Phương ngồi trên chiếc chiếu bình thường (chẳng có điện thờ Phật, ảnh Bác Hồ như hầu hết các điện gọi hồn khác) tự xưng mình là ai (vong mới về) rồi chỉ mặt gọi tên từng người trong gia đình. Gia đình tôi đến gặp cô 5, 6 lần. Có khi kéo tới 8-10 người, mấy thằng cháu rể biết thân phận ngồi nép bên vợ xa xa cũng bị cô điểm danh và hỏi thăm chuyện riêng tư của từng người. Khi gặp cô Phương tôi không còn nghi ngờ gì sự hữu hiệu của “Linh Hồn và Cõi Âm”.Lý do tôi đi gặp các cô đồng khác vừa để kiểm nghiệm chuyện tâm linh vừa để tìm hiểu các mánh khóe làm ăn của bọn bất lương buôn thần bán thánh.Nhưng vì cô Phương thuộc tông tích của tôi và gia đình tôi quá nhiều nên cũng mất hay dần đi.

(Một cô đồng khác không nổi tiếng bằng cô Phương nhưng khả năng ngoại cảm và gọi tên cũng rất chính xác như cô Phương là cô Nguyệt – Ngã Tư Sở Hà nội. Cô này có thể còn lương thiện hơn cô Phương mà tôi sẽ viết trong đoạn sau)

Cô  Phương than phiền sức khỏe suy kém đi nhiều, muốn nghỉ tiếp các vong mà không thôi được vì các vong về mà không cho gặp gia đình họ thì cô bị nhức đầu lắm. Mỗi khi ra điện tiếp người sống, người chết (vong): người sống đến chờ đầy nhà đầy sân, người chết (các vong) về chờ gặp gia đình cũng chen chúc nhau. Cô có quyền gọi vong nào vào trước. Có người phải ăn chực nằm chờ cả tuần lễ mới được gọi vào. Nhưng nếu vong không về thì cô Phương cũng chịu thôi, như trường hợp thằng cháu rể tôi.

Mỗi lần tôi tới cô Phương vừa trông thấy tôi vui vẻ báo ngay : “Các cụ về rồi, bác sang điện chờ cháu nhé !” Nếu chưa về cô cũng báo cho biết. Thế ra ở cõi nào cũng vậy, cũng thiên vị, cũng hối lộ. Tham nhũng chỉ được giới hạn, nếu 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được giữ biệt lập và tôn trọng đệ tứ quyền là tự do ngôn luận, tự do báo chí. Còn nếu 4 quyền nói trên thu vào một mối thì… ô hô !

(Còn 1 kỳ nữa)

Có linh hồn người chết không ?

LINH HỒN VÀ CÕI ÂM

Linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết có hay không ? Sau đây bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA). Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh của con người, GS Tâm đã kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng : sự sống sau cái chết là có thực !

Người ta đã sinh ra thì tất sẽ chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về thiên đắng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ.

Chúng tôi cũng như mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi chết, nhưng hơi nhiều hơn mọi người.

Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi. Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích Mãn Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.

Tôi đã hiểu được cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng … để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng ngày chán và các loại sách viết Huyên Thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể.

Tôi trở thành một người theo phái bất khả tri : “Con người nhận biết thế giới và vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.

Và như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bầu víu.

Đầu thế kỷ 21, tình cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5 năm 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Xã hội thời VNCH).

Trong bài báo, Bác sĩ Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng Đại học thời VNCH) làm hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện …). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn tìm mộ gia đình. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá”, của Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, nguyên Phó tư lệnh chính trị và Bí thư Đảng uỷ Quân khu 1.

Ông Phong đã tường thuật lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm 1999 do bệnh tim…

Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi điện thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất nhiều hình ảnh.

Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam, đến cầu Hàm Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nh ẻ ?

oOo

Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ tôi cùng đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành), không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy.

Khi đến nơi, hai anh em tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên : Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có vong tên … thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp tập đi vào…

Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt Sùi.

Tôi sốt ruột đi hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà mình về thì người ta gọi vào.

Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhào tôi là hỏi thật ngớ ngẩn !

Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà ngồi trước cửa đứng lên nói to : “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngan cùng với vài ba chức người đứng dậy ra về.

Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).

Sáng hôm sau chúng tôi trở lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai anh em đang làm. Mẹ tôi giãy n ảy lên : “Đến chỗ ma quỷ ! Tao không vào đâu !”. Chúng tôi lại đành phải mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày hôm trước.

Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng) mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi : “Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu ?” (Cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh, nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ : “Mo ơi, Cậu về gọi mo đấy !”. Mẹ tôi hốt hoảng em tôi đứng bật dậy chạy theo, quên mất lập trường chống ma quỷ của mình.

Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rải, trống rỗng. Ngoài cái được trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là tiền thưởng), thì không hay có bàn thờ trang trí gì khác của một cái am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dua như các cô gái Hà Nội, mặt hoa da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông người trên chức. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé! “.

Thế cũng tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên ai thưa thì giơ tay : “Dạ, con đây (đây em hay, cháu đây …)”. Và người đó nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời : “Dạ, đúng vậy …” có vẻ cung kính lắm.

Có một chuyện cười ra nước mắt. Vong gọi : “Thằng Thanh đâu ?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy : “Dạ, con đây !”. Vong nói : “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tiu với con Mai ở cùng cơ quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh (chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo nhau ra.

Bỗng cô Phương nhìn chấm chấm vào mẹ tôi để rồi kêu lên : “Mo ơi! Côn Cửa mở đây ! Thắng đây ! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất lúc chưa đầy một tuổi.) Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi ! Con tôi … Nhưng con mất khi mới được tám tháng… … “.

Vong nói qua miệng cô Phương : “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mo và hai anh đến, nhưng con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói : Mo già yếu, còn anh Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về với con đây “.

Rồi quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói : “Hai anh chẳng nhớ gì đến em. Hai anh chỉ nhớ Cậu thôi !”. Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.

Quay trở lại mẹ tôi, cô Phương nói : “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Mo sao lại đặt tên con là Bùi Tất Thắng ? “.

Mẹ tôi luống cuống : “Tại bố con đấy ! Hồi đó mới giải phóng Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nên bố con cao hứng, đã đặt tên con là Tất Thắng “. (Hồi đó cả nhà trách bố tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng Tất còn có nghĩa là hết, tức là chết. Nên nó mới mất sớm.. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết Nhưng tôi. có biết ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông ấy biết con người như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.)

Vong em tôi nói tiếp qua cô Phương : “Thôi, Mo đã khắc tên trên bia mộ con rồi !”. Đúng thế. Tên em tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa trang Bất Bát.

Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương nắm tay mẹ tôi, rồi nói : “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà lắm … “. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ tôi : “Bà diện lắm ! Mới đi có thể mà áo đỏ… “.

Trời ơi ! Sao bố tôi biết nhanh thế ? Trong gia đình đã có ai biết chuyện tôi mua xấp vải nhung đỏ về VN may áo cho mẹ tôi !? Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi Thanh Hóa ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ này để có áo cho mẹ kịp mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm một câu đùa yêu tiếp : “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!”.

Mẹ tôi rên rỉ : “Cái gì ông cũng biết ! Đúng rồi ! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi nhăn nheo quá, sợ thằng con trai cả của ông nói với bạn bè “. (Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay biết gì, thế mà bố tôi cũng biết !) “

Rồi cô Phương quay sang tôi : “Tâm ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi) Chuyện của nó mới xảy ra trước khi tôi về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được ! )

Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương : “Tao là Bùi Văn Khánh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây! “.

Tôi vội thưa : “Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh” (cô Hai là chị ruột bố tôi. )

Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khánh, chứ không phải là Khanh”.

Rồi quay sang mạng mẹ tôi : “Chị về làm dâu nhà tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị chỉ về quê nội có một lần ! Mẹ tôi sợ hãi chống chế : “Gia đình con ở Hà Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh – Thanh Hoá, nên đi lại khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà “.

Cứ như thế trong 90 phút vui buồn, khóc lóc …

Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá. Đáng nhẽ thẳng về Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý bầu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm hở muốn gặp cô Phương.

Cô Phương vui vẻ cho biết thêm : “Cụ ông lại vừa về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”.

Lại thêm một ngạc nhiên : Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào tôi cũng muốn bố mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình.

Ngày hôm đó là ngày trọng đại của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi Âm. Dù cho sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm đó vẫn không thể chơi cai được, nếu không nói là tuyệt đối được chấp nhận.

Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây rất khó khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại. Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng nào đó mà ta biết không, ta tạm gọi là “Linh hồn” , trong một thế giới nào đó mà ta cũng biết không, tạm gọi là “cõi âm” (để phân biệt với cõi Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi chết” (“Cuộc sống sau deth “).

Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm 2005. Khi đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói nhỏ với tôi : “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi một cách bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh.

Sau này tôi có gặp nhiều nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô Bằng, cô Thảo, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng. Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng … Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô Kiều Oanh … làm việc ở các cơ quan khác nhau.

Tôi đã được đọc câu kết luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau : “Thế giới tâm linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe những lời nhắn như từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn, lương thiện hơn “.

Thuật bảo tài (bài 4/4)

NGHỆ THUẬT

KIẾM TIỀN (4)

– Thiên Lý Nhãn

– Nhân vật thứ 29 / CAM PHU NHÂN (29) : là vợ của Lưu Bị, khi mẹ mang thai bà thì hàng ngày tai nghe âm nhạc, khi hạ sinh lại có mùi thơm bay đầy nhà. Các thầy bói cho rằng đứa bé gái ấy về sau sẽ đại quý. Cha mẹ của Cam phu nhân đang là đại phú gia, nghe vậy càng bố thí nhiều hơn để con gái được hưởng phúc.

Khi Lưu Bị lên ngôi Hoàng đế, phong bà làm Chiêu liệt Hoàng Hậu. Nên người đời thường lấy chuyện này để nói, làm việc thiện sẽ được báo đáp.

Hóa thân con lươn, thối thân :

– HUỲNH TRUNG (109) : tự Hớn Thăng, người xứ Nam Dương được phong chức Trung Lang tướng quân, có sức mạnh muôn người không địch lại, kiêm băn cung bách phát bách trúng. Được Quan Công thu phục nên theo nhà Thục, được phong đến chức Ngũ Hổ đại tướng quân, lập được nhiều công trạng, sau được thăng lên chức Chinh Tây tướng quân quan nội hầu.

– Con LƯƠN (29-69) : họ Trịnh tên Xá tự Thiên Lương, người tỉnh Tứ Xuyên. Thi rớt Tú tài bèn xuất gia đầu Phật, nhưng tâm tính xảo quyệt, khi chết thuộc thủy tướng nên được cho đầu thai làm con lươn.

Nằm mộng thấy lươn sẽ lâm bế tắc, bắt được lươn sống sẽ giao du với kẻ tiểu nhân, thấy lươn chết sẽ buồn khổ. Thấy lươn, trạch, cái sanh nhạc khí, người đàn bà phúc hậu, lúa gạo, Chức Nữ, Nhạc Phi, thấy tiên Phật hạ giới, ni cô là hợp số 29, 69, 109.

– Nhân vật thứ 30 / MÊ PHU NHÂN (30) : cũng là vợ của Lưu Bị, nhưng khác Cam phu nhân khi bà được sinh ra quanh nhà có tiếng tiêu, tiếng sáo nổi lên; hàng xóm láng giềng cho là có tiên đưa tiên nữ giáng trần.

Mà quả thật Mê phu nhân rất đẹp, được cha mẹ gả cho Lưu Bị và sinh cho Lưu Bị một đứa con trai, đến trận Đông Dương, Mê phu nhân phải nhảy giếng tự tử để bảo toàn trinh tiết gái thờ một chồng.

Hóa thân cá lý ngư, thối thân :

– HOA ĐÀ (110) : tự là Nguyên Hóa, người nước Bái, có nghề xem bệnh bốc thuốc giỏi trong thiên hạ. Hoa Đà khi trị bệnh, lúc dùng thuốc, lúc dùng dao, kềm, hay phép châm cứu, đôi khi đánh thuốc mê để mổ, rửa sạch ruột gan rồi may lại như cũ. Sau bị Tào Tháo đa nghi tưởng Hoa Đà muốn ám hại mình nên bắt hạ ngục. Ông chết rục trong tù.

– Cá LÝ NGƯ (30-70 ) : tên Lưu Tỉnh Lợi tự Quách Hòa người Hồ Quảng làm nghề buôn gạo bị hỏa hoạn thiêu đốt hết sản nghiệp liền xuống tóc đi tu. Thủy tướng nên chết được đầu thai thành cá lý ngư.

Nằm mộng thấy bắt cá từ biển đem về ăn là có tài lộc, bắt cá trong ao đầm là thất bại công việc, thấy cá đẻ trứng sẽ có của hoạnh tài. Thấy cá hóa long sắp hao tài tốn của. Nên thấy cá lý ngư, thầy chùa Lỗ Trí Thâm, Lưu Kim Đính, Lý Thái Bạch, ống tiêu, ống sáo, thầy thuốc, bàn toán, trẻ con đang bú sữa mẹ là hợp số 30, 70, 110.

– Nhân vật thứ 31 / NỂ HÀNH (31) : tự Chánh Bình, người xứ Bình Nguyên, thường cởi áo ở trần đánh trống chửi mắng Tào Tháo cả ngày lẫn đêm. Tào Tháo giận lắm bèn mượn tay Lưu Biểu giết Nể hành, nhưng Lưu Biểu lại nhờ đến Huỳnh Tổ giết thay cho mình.

Hóa thân con tôm, thối thân :

– NAM HOA TIÊN (111) : Nam Hoa đạo nhân sống trên núi Hoa Sơn, mắt xanh mặt trẻ, tay cầm gậy lê, có ba quyển thiên thư tên Thái Bình Yểm Thuật, có thể kêu mưa hú gió, rải đậu thành binh. Vào năm Trung Bình thứ nhất, trong nước có bệnh dịch hoành hành, Nam Hoa đạo nhân liền vẽ bùa hòa trong nước cho con bệnh uống, tức khắc khoẻ mạnh trở lại, ai ai cũng cho ông là tiên giáng trần, nên ông mới có hiệu Nam Hoa Tiên.

Người đời Tống cho rằng Ma Y Đạo Giả là duệ nhân của Nam Hoa Tiên, từng cho đạo sĩ trên núi Hoa Sơn quyển bí kíp “Thái Bình Yểm Thuật” để sáng tạo ra nhiều môn mệnh thuật trong thiên hạ về sau.

– Con TÔM (31-71) : có họ tên Từ Nguyên Quý người đất Tô Châu, bình sinh ham môn cờ bạc nên không may gia sản tiêu tan, liền tự tử. Thuộc hỏa tướng từ binh tôm đầu thai.

Nằm mộng thấy tôm sẽ sinh lòng nghi kỵ, tôm sống nhảy nhót vợ chồng bất hòa, tôm luộc nối lại tình xưa còn dang dở, tôm không râu có ý tưởng thông dâm, thấy được cho tôm số phải gánh vác việc quá sức. Mộng thấy con tôm, con trùn, cái trống, ông tiên, Từ Thứ quy điền, cãi nhau, Viên Thế Khải là hợp số 31, 71, 111.

– Nhân vật thứ 32 / TẦN MẬT (32) : tự Tử Lặc, người Quảng Đông rất hiếu học, thông hiểu thiên văn, phong thủy, sành sỏi cổ kim văn học, giữ chức Tòng Sự Lang sau thăng đến chức Ích Châu học sĩ.

Hóa thân con rắn, thối thân :

– THÁI SỬ TỪ  (112) : tự là Tử Nghĩa, người xứ Đông Lai. Rất hiêu nghĩa với cha mẹ. Trước theo Khổng Dung học sách thánh hiền, sau theo Tôn Quyền lập được nhiều chiến công, được họ Tôn phong chức Oai Võ tướng quân.

– Con RẮN (32-72) : tên Trương Vạn Kim người tỉnh Hồ Bắc có cha là Trương Tam Hoè, anh cả Hiệp Hải, anh thứ Nguyên Kiết đều bị giặc Kim Phiên giết chết. Thuộc kim tướng từ loài rắn đầu thai thành con út của Tam Hoè.

Nằm mộng thấy rắn gặp điềm gian nan, ăn thịt rắn là chấm dứt buồn phiền. Thấy rắn bò vào nhà sắp có của hoạnh tài, bò vào bếp có quý nhân đến nhà giúp đỡ, bò lên mình sẽ có tư tưởng xằng bậy háo sắc. Rắn màu vàng hay trắnbg có chuyện tranh cãi, màu lục hay xám lại thuộc điềm lành. Cùng thấy rắn, trăn, cái rún, đồng tiền kẽm, cái sắc trong nhạc khí hay Phật Di Đà, cân thiên binh, người cùi, Văn Thù Bồ Tát, Lỗ Trí Thâm là hợp số 32, 72, 112.

– Nhân vật thứ 33 / ĐIÊU THUYỀN (33) : là ca kỷ trong phủ của Tư Đồ Vương Doãn từ nhỏ, năm lên 16 tuổi Điêu Thuyền đã có sắc đẹp mặn mà, tài và sắc vẹn toàn nên quan Tư Đồ coi như con ruột.

Khi Vương Doãn âm mưu dùng mỹ nhân kế gây mâu thuẫn giữa Đổng Trác với Lữ Bố giết nhau, lúc đầu Vương Doãn dâng Điêu Thuyền cho Đổng Trác, nhưng sau lại âm thầm cho Lữ Bố hẹn hò cùng với Điêu Thuyền và nói, còn Đổng Trác thì Điêu Thuyền không thể theo Lữ Bố.

Vì quá say đắm Điêu Thuyền nên Lữ Bố đã giết cha nuôi. Sau này Lữ Bố chết tại Bạch Môn Lầu, Tào Tháo cho người chở xác về Hữu Xương, còn Điêu Thuyền tự vận.

Hóa thân con nhện, thối thân :

– BIỂN THƯỚC  (113) : họ Tần tên Việt Nhân, được người đời gọi là Biển Thước để so sánh nhân vật huyền thoại Biển Thước thời Huỳnh Đế, người huyện Bột Hải, thuộc nước Tề thời Xuân Thu. Ông làm quản lý nhà trọ sau trở thành lương y khi học được nghề của Tường Tang Quân. Do quá nổi tiếng mà các thầy lang ở nước Tề mưu sát giết chêt.

– Nằm mộng thấy con NHỆN (33-73) : coi chừng bị kiện thưa, bắt được nhện là phát tài, giết nhện đem lại may mắn, ăn nhện là tán tài. Gặp nhện hùm sắp đi xa còn nhện sa sẽ có tang khó

Thấy con nhện, ve sầu, chim trĩ, tiên nữ, Quan Âm ngồi tòa sen là hợp số 33, 73, 113.

– Nhân vât thứ 34 / TRƯƠNG TỬ PHÒNG (34) : tên gọi Trương Lương, người nước Hàn, có ba anh em được Nam Hoa tiên ông cho sách quý dạy về quyền mưu, đi tìm người có số minh quân phò tá. Sau khi hai anh chết trận còn lại một mình đi qua nước Sở trước gặp Hạng Võ không phục sau gặp Lưu Bang, giúp người anh hùng áo vải dựng nghiệp nhà Hán, khi diệt trừ xong nhà Tần và Sở Bá Vương Hạng Võ, lúc Lưu Bang vừa lên làm Hán Cao Tổ, ông xin về ẩn sĩ.

Hóa thân con nai rừng, thối thân  :

– THÚC HÒA  (114) : người họ Vương sinh tại Sơn Dương tỉnh Sơn Đông thời Ngụy, Tấn. Làm thầy lang từ thuở hàn vi trong thời Tam Quốc, nên Tào Tháo cho mời về làm quan Thái sư để trị bệnh nhức đầu, đến khi Tư Mã Viêm lập ra nhà Tấn ông xin về ẩn dật lấy nghề thuốc chữa bệnh cho dân nghèo, có cuốn Mạch Kinh nổi tiếng.

– Nằm mộng thấy NAI (34-74) : mà nai có sừng sẽ gặp chuyện tình cảm với người dưới trướng, thấy giết nai là có thắng lợi hoặc có của hoạnh tài. Còn thấy nai cái sẽ được hài lòng có thêm lợi lộc, thấy nai con bu quanh nai mẹbắt đầu nphát tài phát quý, tình cảm đang xấu thấy nai cái uống nước bên suối là được yên vui. Nên thấy nai, cọp, cây phất trần, cái tô canh, chim hoàng oanh, thuyền nhỏ trên sông là hợp số 34, 74, 114.

– Nhân vật thứ 35 / DƯƠNG TU (35) : tự Đức Tổ, con của Dương Phụng vốn là môn hạ của Tào Tháo. Người thông minh, biết nhiều hiểu rộng.

Tào Tháo có tính đa nghi nên không ưa Dương Tu, làm Dương Tu thầm giận trong lòng mượn hai chữ “gân gà” để chửi Tào Tháo, cho rằng họ Tào không dám giết ông, mà bỏ ông thì tiếc nên mới ban sư, nghe xong khiến Tào Tháo buộc cho tội loạn ngôn, làm rối loạn lòng quân cho đem đi giết.

Hóa thân con dê, thối thân :

– QUAN HƯNG (115) : tự An Quốc, con trưởng của Quan Công, kêt nghĩa với Trương Bào, cùng theo phò Lưu Bị đánh Ngô, cắt đầu kẻ thù tế điện báo thù cho cha, sau theo Khổng Minh chín lần đánh Trung Nguyên, sáu lần ra Kỳ Sơn, lập được nhiều công to, được phong chức cũ của cha là Tả Hộ Vệ Sức Long Nhượng tướng quân.

– Con DÊ (35-75) : có tên Kiết Phẩm họ Trần tự Thiên Tường người tỉnh Quý Châu. Thi đậu Bảng Nhãn, gia đình giàu có bị giặc Kim Phiên xông vào nhà giết hại, nhưng thoát chết trở thành kẻ ăn mày lấy vợ sinh ra Bản Quế được triều đình mời làm đến chức An Quốc Hầu, sau giặc Phiên cũng giết được toàn gia của Kiết Phẩm. Thuộc thổ tướng nên đầu thai thành con dê.

Nằm mộng thấy dê đực có râu xồm là sắp được thừa hưởng tài lộc lớn, thấy dê cái chạy va vào người là có nữ nhân muốn tỏ tình, mua dê cái dê đực là sắp lấy vợ lấy chồng. Dê đen là có tình duyên vụng trộm, dê đi lang thang tình duyên tan vỡ, dê con mới đẻ sẽ có tin vui. Thấy dê, thợ may, cây dương liễu, bánh xe, Kim Hoa thánh Mẫu, lửa cháy trong núi, đánh trống kêu oan là hợp số 35, 75, 115.

– Nhân vât thứ 36 / TÀO NHƠN (36) : tự Tử Hiếu người nước Bái cùng họ với Tào Tháo, nghe tin họ Tào khởi binh đánh Đổng Trác nên cùng Tào Hồng mang một ngàn người ngựa đầu quân.

Hóa thân con chồn, thối thân :

– QUAN BÌNH (116) : vốn là con thứ của Quan Định. Năm 13 tuổi đã tinh thông võ nghệ. Quan Định muốn con theo Quan Công, nên nhờ Lưu Bị giới thiệu cho làm con nuôi của Vân Trường. Khi cầm quân ra trận, chinh phạt khắp nơi không rời Quan Công nửa bước; cùng với cha nuôi ngộ nạn một lượt tại Mạch Thành.

– Con CHỒN (36-76) : tên thật Trần Sĩ An tự Bình Minh người xứ Tô Châu, vợ của Nguyên Quý, do nhà chồng quá nghèo nên xuống btóc đi tu sau học thuật âm dương biết xem địa lý phong thủy, xem tướng số. Thủy tướng do chồn đầu thai làm người để tu tâm dưỡng tánh.

Nằm mộng thấy chồn nên đề phòng mưu gian hãm hại, nếu có máu là khám phá được kẻ tiểu nhân còn khong máu sẽ hao tài tốn của chịu tai tiếng thị phi. Mộng thấy chồn, cây hoa hoè, chiếc khiên, chén đĩa bay, đàn bà mang giày tâyTrương Hoành, Dương Quý Phi, hộc máu là hợp số 36, 76, 116.

– Nhân vật thứ 37 / TRƯƠNG TÒNG (37) : tự Vĩnh Niên người Ích Châu, thân hình lùn nhưng tiếng nói như chuông chùa ngân, làm quan đến chức Ích Châu Biệt Giả. Tình nguyện đem bản đồ xứ Tây Xuyên dâng cho Tào Tháo, nhưng họ Tào tự mãn không nhận. Thấy vậy Khổng Minh đón Trương Tòng về Kinh Châu phò tá cho Lưu Bị, nhưng việc bại lộ bị Lưu Biểu đón giữa đường giết chết, và tru di cửu tộc trước chợ búa.

Hóa thân thành bà vãi, thối thân :

– VƯƠNG XÁN (117) : tự Trọng Tuyên, người xứ Cao Bình, bác văn toàn tài, tinh thông toán pháp, văn chương điêu luyện. Năm lên 17 tuổi Vương Xán được cử vào chức Hoàng Môn Thị Lang, nhưng không nhận; sau chạy loạn đến nhà Lưu Biểu tại đất Kinh Châu, lên lầu cao làm thơ thi về thời cuộc. Tào Tháo nghe danh liền vời về triều phong cho chức Quan ngoại hầu,

Cây KIM BÀI (77) tức tích truyện Thiên Quan chi thần, họ Hứa thên Châu Quân, vâng lệnh Thượng đế chuyên lo điều tra các việc thiện ác người ở trần gian để thưởng phạt. Thuộc hỏa tướng. Hay nằm mộng thấy BÀ VÃI (37) đi khất thực là được của bất ngờ

Mộng thấy kim bài nhà trời, bà vãi, ni cô, cây mai, nhà lầu, thầy chùa giảng kinh, phất cờ tập trận, Lương Sơn Bá, Táo Quân, cây khô không lá là hợp số 37, 77, 117.

– Nhân vật thứ 38 / TÔN SÁCH (38) : tự Bá Phù, con trai trưởng của Tôn Kiên, khi nhỏ đã có chí lớn, tinh thông binh pháp, đánh giặc giỏi, nên người đời xưng tụng Tôn Sách là Tiểu Bá Vương.

Khi đến Giang Đông chiêu hiền đãi sĩ bị người nhà của Hứa Công vì tư thù bắn trúng một mũi tên vào trán, và do giận Vu Kiết nên vết thương làm độc mà chết.

Hóa thân Thần đất, thối thân :

– ĐẶNG CHI (118) : tự  Bá Miêu, người xứ Tân Dã. Tính tình gan dạ, có tài ba xuất chúng. Đi theo Lưu bị giữ chức Quân Tiền Giáo, sau được Hậu chúa phong cho chức Hộ Bộ Thượng Thư, ông phụng mạng đến nước Ngô cầu hòa, được vua phong Dương Võ tướng quân.

– Ông ĐỊA (38-78) : tức Thổ thần, Thổ địa dưới quyền kiểm soát của Thành hoàng, trước kia làm nhiều việc thiện nên được phong là Địa chủ, ông địa chuyên lo kiểm tra việc thiện ác tại mỗi gia đình. Thuộc Thổ tướng.

Cùng thấy thấy địa chủ, ông địa, khán đài, hoa lan, thấy quỷ biến thành người, ngựa mọc sừng, bùn đất, cắt cổ gà là hợp số 38, 78, 118.

– Nhân vật thứ 39 / TRƯƠNG BÀO (39) : tự Định Nã con của Trương Dực Đức (Trương Phi), kết nghĩa với Quang Hưng, theo Lưu Bị đánh nước Ngô để bắt người giết cha đem ra tế sống trả thù. Sau theo Khổng Minh đánh Trung Nguyên lập được công lớn, được nối chức vị của cha làm Hữu Hộ Vệ Sứ Hổ Dực tướng quân.

Hóa thân Tài thần, thối thân :

– TRẦN CUNG (119) : tự Công Đài, người xứ Đông Quận, làm chức huyện lệnh, bắt được Tào Tháo giam vào ngục, nhưng biết họ Tào là người có chí lớn nên bỏ áo quan đi theo họ Tào. Dọc đường đến nhà Lữ Bá Sa, nhưng Tào Tháo nghi ngờ Bá Sa muốn hại mình nên giết đi, khiến Trần Cung bỏ họ Tào theo đầu Lữ Bố, sau cũng bị Tào Tháo bắt được đem chém đầu giữa chợ.

– THẦN TÀI (39-79) : họ Triệu tên Huyền Đản người nước Tần là vị bồ tát mặt đen râu nhiều luôn cưỡi trên lưng cọp đen, tay trái cầm đồng kim tiền tay phải cầm nguyên cây kim tiền, đi đến đâu làm phúc cho người nghèo đến đó. Thuộc Kim tướng.

– Nằm mộng thấy tiền vào túi là công việc ngưng trệ, lượm được tiền vào mùa Xuân Hạ có điềm lành, mùa Thu Đông coi chừng mang tiếng thị phi.Thấy tiền xâu thành đôi là có tình nhân, tình hờ. Bỏ tiền vào ống coi chừng tán tài. Thấy kim tiền, thần tài, cung điện, bông cúc, Bát quái sơn thần, người điên, người làm cầu đường, ông già râu bạc là hợp số 39, 79, 119.

– Nhân vật thứ 40 / MÊ TRÚC (40) : tự Trọng Đông, nhà giàu nức đố đổ vách chuyên làm chuyện tế bần cứu khổ cứu nạn. Được Đào Khiêm mời ra làm quan đến chức Biệt Giả Tòng Sự, theo Lưu Bị làm chức An Hán tướng quân.

Hóa thân Táo thần, thối thân :

– TÀO PHI (120) : lúc 8 tuổi đã biết làm thi phú văn chương, thông kim bác cổ, biết cưỡi ngựa bắn cung, giỏi thêm đao kiếm. Khi bà mẹ sinh ra Tào Phi, thấy trong nhà có màu tía xông lên, cho đó là khí “thiên tử”. Quả đúng, về sau Tào Phi lên ngôi làm Ngụy Văn Đế.

– Ông TÁO (40-80) : là Đông trù tư mệnh, Định phúc tôn thần, nhưng khi còn sinh tiền có tên Tô Kiết Lợi, tính tình trung trực thường khuyên người đời không nên ăn thức ăn nguội lạnh dễ sinh bệnh hoạn, chết đi thành nhiên thần trông coi việc thiện ác, làm ăn tại mỗi gia đình để cuối năm lên chầu trời tâu trình thượng đế định mức thưởng phạt công bằng trong năm sau. Thuộc hỏa tinh.

Nằm mộng thấy người áo mão cân đai đi vào nhà là điềm gia đình thịnh vượng, thấy đi hia mặc áo không quần là có của hoạnh tài. Mộng thấy ông Táo, chim đại bàng, nhà cửa, cây trúc, chùa vắng không người, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Trương Phi, cái bếp lò là hợp số 40, 80, 120.

oOo

Trong “Cổ nhân danh số ” còn giới thiêu tiểu sử nhiều nhân vật trong phần hóa thân, thối thân khác, chúng tôi chỉ khái quát những nhân vật chính như trên.

Thật ra khi Bạch Liên Giáo soạn cuốn “Cổ nhân danh số kỳ mộng” với mục đích tà mị, dùng nó như hình thức giải mộng, như thấy cây đao thương kích là nghĩ đến Quan Công, Châu Do, Triệu Tử Long, thấy người đa nghi nhớ đến Tào Tháo, thấy người nhiều vợ tưởng đến Lưu Bị, thấy phép thuật tưởng đến Vu Kiết, thấy chữa bệnh nhớ đến Hoa Đà, thấy vợ chung tình chung nghĩa nghĩ đến Cam phu nhân, Tôn phu nhân… Thấy các con vật mang ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, tính theo ngũ hành sinh khắc để đoán mộng cát hay hung, hợp hay khắc v.v… theo sách mà đoán số thay vì đi tìm các vị bốc sư nhờ đoán điềm giải mộng.

Ngoài ra trong thuật Bảo Tài, các khái niệm về mệnh trong đó mỗi người khi sinh ra đều mang một số Âm và một số Dương (Chương 3, mục II/1/B/5), tức lấy Can Chi của năm tháng ngày giờ sinh hoán đổi ra các trị số, rồi số âm cộng theo âm, số dương cộng theo dương.

Qua bài viết này, chúng tôi muốn nói lên một điều, cách kiếm tiền không qua mồ hôi công sức lao động, thì không có gì bảo đảm có cuộc sống no đủ sung túc.

Việc chơi số, ngựa đua, số đề… chỉ nhất thời giải trí cho thư giãn tinh thần, chớ nên kỳ vọng vào đó để làm giàu nhanh như đi hia bảy dặm, đó không phải là thuật bảo tài, thuật bảo tài phải là một nghề lương thiện, đồng tiền kiếm ra nhanh hay chậm còn do chất lượng sản phẩm có được người tiêu dùng chấp nhận hay không, và sự cạnh tranh có lành mạnh hay không, chớ đừng như đại gia Bill Gates giàu nhất thế giới đó vẫn bị coi là người kiếm tiền không lành mạnh bằng kỹ xảo độc quyền.

Mặt khác khi tìm ra đồng tiền bằng sức lao động của chính mình, có sự thặng dư trong cuộc sống, bạn phải sử dụng đúng mục đích, đừng quá hoang phí mà không giữ được những đồng tiền thặng dư đó.

Thiên Lý Nhãn

Thuật bảo tài (bài 3/4)

NGHỆ THUẬT

KIẾM TIỀN (3)

– Thiên Lý Nhãn

– Nhân vật thứ 18 / LỖ TÚC (18) : tự Tử Kính, người xứ Lâm Hoài, thờ cha mẹ rất có hiếu, ưa bố thí, khi Châu Do chết lên thế chức Thủy Lục Đại Đô Đốc nước Ngô, có tài mưu lược được Tôn Quyền cất nhắc.

Hóa thân con mèo nhà, thối thân :

– NGỤY GIÊNG (98) : tự Văn Trường, người xứ Tương Dương, mặt như quả táo lạnh tựa sao băng. Lúc đầu theo Lưu Biểu, sau đầu Hán Huyên, sau nữa là Huỳnh Trung cùng về dưới trướng của Lưu Bị. Tướng mạo của Ngụy Giêng ở sau ót có phản cốt, nên Gia Cát Lượng nói Ngụy Giêng sẽ bị chết trận, nhưng Ngụy không nghe, quả đúng Ngụy bị Mã Đại giết. Lưu Bị cảm khái truy phong làm Dương Võ tướng quân.

– Con MÈO NHÀ (18-58) : theo truyện tích có tên Triệu Thiên Thân người tỉnh Vân Nam, làm quan đến bậc Đại Nguyên Soái bị Tần Cối hãm hại dùng lửa đốt chết. Hóa thân thành con mèo vàng.

Nằm mộng thấy rờ rẫm mèo hay mèo cạ lông vào người coi chừng gặp bẫy tình, thấy mèo vào nhà sẽ gặp phản phúc. Thấy mèo, bàn cờ, uống rượu, hòa thượng Lỗ Trí Thâm, Hoa Đà, cưỡi ngựa, đua thuyền là hợp số 18, 58, 98.

– Nhân vật thứ 19 / TÀO TỬ KIẾN (19) : tự Tào Thực, con thứ của Tào Tháo. Thích uống rượu, tính tình ngông cuồng, ngạo mạn khi cha chết không chịu để tang, vì vậy Tào Phi quá giận muốn giết em, được mẹ can gián buộc Tào Thực đi trong bảy bước phải làm xong một bài thơ mới được cho sống. Tào Thực không cần suy nghĩ, chưa xong bảy bước đã làm ra bài “củi đậu nấu đậu”, mang ý nghĩa người cùng một nhà mà giết lẫn nhau. Tào Phi nghe xong rất cảm động, sa nước mắt, chỉ giáng Tào Thực làm An Khang hầu.

Hóa thân con bướm, thối thân :

– LƯU THIỀN (99) : là con của Lưu Bị và Cam phu nhân. Khi bà sắp sinh nằm chiêm bao thấy nuốt một ngôi sao Bắc Đẩu, nên đặt tên Á Đẩu. Khi bà lên ngôi Hậu nước Thục, lúc đó Khổng Minh làm Thừa tướng. Khi Lưu Bị, Khổng Minh Gia Cát Lượng qua đời, nhà Thục cũng mất, khiến Lưu Thiền lưu lạc đến Lạc Dương ẩn thân. Được Tư Mã Chiêu biết đến phong làm An Lạc Công.

– Con BƯỚM (19-59) : họ Lâm Cấn Ngọc tự Tố Nương người xứ Hà Thanh, Đông Kinh có anh là Thái Bình cùng theo nước Triệu nhưng quân Tần đến phải bỏ chạy đến Giang Nam được Bản Quế cưới làm thiếp, phong nàng làm Nhị phẩm phu nhân. Sinh cho Bản Quế con trai tên Vinh Sanh. Kim tướng, khi mất hóa thân thành con bướm.

Nằm mộng thấy bướm là gặp kẻ tiểu nhân, bướm bay lượn là công việc không thành, đang bắt bướm sẽ lụy vì tình, nữ nhân nằm thấy bướm là tìnhuyên tan rã. Thấy bươm bướm, beo, gấu, làm bài thi, cái áo hay Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài, con giao long, hải mã là hợp số 19, 59, 99.

– Nhân vật thứ 20 / VƯƠNG DOÃN (20) : người xứ Lang Nha làm chức quan Tư Đồ trong triều đình nhà Hán, thấy Đổng Trác làm nhiếp chính vương thay vua cai trị đất nước có thái độ cửa quyền, làm cho quan Tư Đồ rất giận, liền dùng kế mỹ nhân đưa Điêu Thuyền con gái nuôi của mình thi hành liên hoàn kế chia rẽ giữa cha con Đổng Trác và Lữ Bố giết hại lẫn nhau. Sau Vương Doãn bị Lý Thôi tranh quyền đoạt lợi cũng bị giết chết.

Hóa thân con rít (rết), thối thân :

– LƯU TÔNG (100)  : là con Lưu Biểu quan Thái Thú đất Kinh Châu. Lưu Biểu vốn là người trong vương tôc nhà Hán, nhưng tính tình bê bôi, không có thành tích, nên sau khi chết, vợ là Thái phu nhân đầu hàng Tào Tháo, dâng Lưu Tông cho họ Tào làm con tin, được họ Tào phong chức Thanh Châu thứ sử. Lưu Tông cùng mẹ Thái phu nhân lên đường đi Thanh Châu nhậm chức, nhưng không ngờ Tào Tháo có tính đa nghi đã sai Vu Cấn đuổi theo giết chết.

– Con RÍT (rết 20-60) tức Lý Minh Châu người Dương Châu thuộc tỉnh Giang Nam, con gái của Lý Nguyệt Bảo, vợ chánh của Bản Quế, được phong Nhất phẩm phu nhân sinh ra Phùng Xuân. Toàn gia đều bị giặc Kim Phiên giết hại. Thủy tướng, đầu thai thành con rít.

Nằm mộng mà thấy rít cắn đang đau bệnh sẽ khỏi, nhưng bò lên mình sẽ có bệnh. Rít ra khỏi hang sắp có tin vui đưa đến, thấy gà ăn rít sẽ bế tắc. Cùng thấy con rít, bức tranh, cái áo, con tằm, chén sứ, ngồi đánh cờ là hợp số 20, 60, 100, 00.

– Nhân vật thứ 21 / GIA CÁC CẨN (21) : tự Tử Du, người Lang Nha thuộc xứ Nam Dương. Được thiên hạ xem là bác học đa tài, tính tình trung hậu, thờ cha mẹ rất có hiếu, là anh em với Gia Các Võ Hầu, nhưng mỗi người theo một chúa chẳng ai thay lòng đổi dạ. Võ Hầu theo Lưu Bị, còn Gia Các Cẩn theo phò tá Tôn Quyền được liệt vào hạng trung thần.

Hóa thân con én, thối thân :

– GIẢ DỰC (101) : tự Trọng Lư, trẻ tuổi nhưng tài cao, hiếu học, nhiều mưu trí. Ban đầu theo Đổng Trác làm mưu sĩ, sau lại theo Lý Thôi, Quách Phiếm, rồi lại theo Tào Tháo làm đến chức Tư Nghị Lang. Một người bất nhất, bất trung, sau khi chết bị quật mồ, tro cốt bị dìm vào hố xí.

– Con ÉN (21-61) : là Mã Thượng Chiêu tức Hành Nương, người huyện Phụng Dương xứ Nam Kinh. Khi còn nhỏ lên núi được quyển thiên thư bèn học thuật, có thể hô phong hoán vũ. Khôn Sơn bèn thu phục làm nghĩa muội. Thủy tướng do Bạch Yến đầu thai.

Nằm mộng thấy én lượn khắp trời điềm báo hạnh phúc gần kề. Én đậu trên cây mọi việc sẽ thành công. Én ngậm đuôi nhau sẽ có người giúp, công việc hanh thông. Thấy chim én, đánh cá, cây quạt, Tôn phu nhân, con heo đang ăn là hợp số 21, 61, 101.

– Nhân vật thứ 22 / TRƯƠNG LIÊU (22) : tự Văn Viễn thông lược võ nghệ làm bạn với Quan Công, đánh một trận với Tôn Quyền tại Hiệp Phi mà tiếng tăm lừng lẫy, sau đầu quân cho Tào Tháo được phong làm Oai Võ tướng quân.

Hóa thân con bồ câu, thối thân :

– TRẦN PHIÊN (102) : tự Bá Đào, người xứ Kinh Triệu, làm quan đến chức Đại Phó trong thời Linh Đế, làm bạn với Từ Trí Tử. Mỗi lần Từ Trí Tử đến nhà thăm, Trần Phiên tiếp đãi rất chu đáo, cùng tướng quân Đốc Võ mưu giết gian thần nhưng việc không thành nên bị giết trừ hậu họa.

– Chim BỒ CÂU (22-62) : tức Song Hiệp họ Song tên Phổ tự Cô Đồng, người xứ Lang Ba, bị Chí Cao chọc ghẹo trong quán rượu, nàng tức giận mà nảy xuống giếng sâu tự tử. Thuộc thủy tướng, từ bồ câu đầu thai làm người.

Nằm mộng thấy bồ câu trắng bay vào người là sắp có người giúp, đang bay lượn mà không đáp xuống việc làm ăn bị trở ngại. Từng đàn bồ câu đậu xuống sân sẽ có tài lộc hay của hoạnh tài đến nhà. Thấy chim bồ câu, con quạ đen, cây củi, cái giường, Đường Tam Tạng, bà vú, thân nhân qua đời, người đen đúa là hợp số 22, 62, 102.

– Nhân vật thứ 23 / HOÀNG NÔNG VƯƠNG (23) : tức Hiếu Linh hoàng đế, lên ngôi tháng 4 đến tháng 9 bị Đổng Trác phế bỏ, lập Lưu Vương lên thay. Đổng Trác còn truyền cho Hoàng Nông Vương đứng trước Thủy An cung rồi phong tỏa không cho các quan vào chầu, đoạn ép Hiếu Linh uống thuốc độc tự tử.

Hóa thân con khỉ, thối thân :

– NHAN LƯƠNG (103) : tự Bản Đạt, người tỉnh Hà Bắc, đi theo phò Viên Thiệu. Nhan có thân hình vạm vở, muôn người không địch lại, nên Viên Thiệu phong cho chức Tiên Phong tướng quân, thống lĩnh 10 vạn binh đến Bạch Mã quan giao chiến. Quan Công xông vào trận tuyến, nhưng vì con xích thố phi đến quá nhanh làm Nhan Lương không kịp hỏi đã bị Quan Công chém ngã mà chết.

– Con KHỈ (23-63) : có tên Trương Tam Hoè tự Giai Thành, người tỉnh Hồ Bắc. Ra làm quan đến bậc Tể tướng nên giàu có không ai sánh kịp, Tam Hoè sinh được ba người con, con trai trưởng btên Hiệp Hải, con thứ tên Nguyên Kiết và con út tên Vạn Kim, đều bị giặc Kim Phiên giết chết hết cướp của. Thuộc mộc tướng, đầu thai thành con khỉ đỏ đít.

Nằm mộng thấy khỉ sẽ gặp người dối trá gian xảo, khỉ vây có kẻ tiểu nhân ám hại, khỉ cắn là thất thế mọi bề, khỉ leo cây có tranh cãi nhau. Thấy khỉ, vịt, cái gương, cái cày, chén thuốc độc, Tề Thiên Đại Thánh, Bàng Hồng, người thắt cổ, con nít đái dầm là hợp số 23, 63, 103.

– Nhân vật thứ 24 / LỤC TỔN (24) : vốn tên Nhị, sau đổi thành Tổn, tự Bá Ngôn. Mình cao lớn vạm vỡ, mặt đẹp như con gái, có tài hùng biện thao lược chiến trận, kế vị Lỗ Túc làm chức Đông Ngô Đại Đô Đốc, dùng hỏa công đốt trại của Lưu Bị dài hàng trăm dặm, nhưng bị Khổng Minh dùng Bát quái trận đồ vây hãm tại Ngư Phúc Phố giết chết.

Hóa thân con ếch, thối thân :

– VĂN XỦ (104) : tự Tử Khuông, người huyện Lang Nha, tinh thông binh pháp, vốn là tướng của Viên Bản Sơ. Một lần mang bảy vạn quân vượt sông Hoàng Hà chiếm cứ đất Diên Tân. Hai tướng Từ Hoàng và Trương Liêu phải thua chạy, nhưng khi gặp Quan Công, đánh chưa đầy ba hiệp đã bị Quan Công chém cho bay đầu.

– Con ẾCH (24-64) : tức Hiệp Hải con trai trưởng của Trương Tam Hoe, ra đời lấy tên Thường Đức, đậu tiến sĩ ra làm quan đời nhà Tống. Gia đình giàu có nên giặc Kim giết chết cướp của. Thuộc Mộc tướng, từ con ếch đầu thai.

Nằm mộng thấy trời mưa ếch nhảy đầy sân là điềm gặp tai tiếng, ếch ngồi dưới ao dưới giếng có kẻ vu oan giá họa, bắt được ếch tránh khỏi xui xẻo. Thấy ếch, đọc sách hay cây phất trần, Tiết Nhơn Quý, thấy liệm xác chết vào quan tài, người què chân hay què tay là hợp số 24, 64, 104.

– Nhân vật thứ 25 / TRẦN LÂM (25) : tự Khổng Chương, văn chương xuất chúng, khi có loạn cùng Đổng Trác chạy vào Dực Châu tị nạn, được Viên Thiệu dùng làm Kỳ Thất, làm hịch đánh Tào Tháo. Còn Tào Tháo đọc được hịch do Trần Lâm viết, sợ đến toát mồ hôi mà quên đi bệnh nhức đầu kinh niên của mình.

Hóa thân con ó, thối thân :

– TỪ HOÁNG (105) : tự là Bá Lạc, người xứ Xương Ấp, danh tướng của chúa Ngụy, có võ công và chiến lược đều hơn nhiều người, đi theo Tào Tháo đánh Nam dẹp Bắc lập được nhiều công to, nên được họ Tào phong làm Kiêu Kỵ tướng quân An Định hầu.

– Chim Ó (25-65) : họ Trương tên Cửu Quan tự Phát Hoa người xứ Lạc Dương tỉnh Hà Nam. Thi đậu tiến sĩ xuất thân là phò mã đời Tiền Hán nên gia thế rất giàu sang. Thuộc mộc tướng thối thân từ con ó đầu thai.

Nằm mộng thấy chim ó bay trên trời sắp có điềm vui về tình, tiền. Thấy ó lượn trên biển khơi có tin xa giúp đỡ, và nghe ó kêu có tài lộc vào. Thấy chim ó, cừu, cây bút, cái bàn viết, nhà thơ Đổ Phủ, kẻ tiểu nhân, bị chó cắn, làm thịt gà là hợp số 25, 65, 105.

– Nhân vật thứ 26 / BÀNG THỐNG (26) : tự Sĩ Nguyên, người xứ Tưởng Dương, đạo hiệu Phương Châu tiên sinh. Lúc đầu giúp Tôn Quyền sau theo Lưu Bị.

Khi Lưu Bị đánh đất Tứ Xuyên, dùng Bàng Thống làm phó quân sư và chết tại Lạc Phương Ba khi mới 36 tuổi.

Hóa thân con rồng bay, thối thân :

– VIÊN THIỆU (106) : tự Bản, lúc đâu làm quan đên chức Giáo Úy, sau thăng bậc thành quan Thái Thú. Viên Thiệu là con của môt Thừa tướng đời nhà Hán, cùng Tào Tháo liên minh trấn giữ 17 trấn và đem quân đi binh phạt Đổng Trác, được cử làm Minh Chủ.

– Con RỒNG BAY (26-66) : tức Lâm Thái Bình người Trường Châu sh vào thời nước Lỗ, bị quân Tần đánh đuổi chạy đến Long Châu đầu quân đảng cướp của Chí Cao và Khôn Sơn làm tướng, tụ tập lâu la làm thảo khấu xưng vương. Sau vì tham lam và ham mê tửu sắc nên bị Khôn Sơn giết chết. Số thuộc thủy tướng nên chết hóa rồng bay.

Thấy rồng bay, con lừa, con sò, con rệp, châu chấu, cái nghiên mực, cái bàn, cái búa, kim cương, Tiết Nhơn Quý, Quỷ Vương là hợp số 26, 66, 106.

– Nhân vật thứ 27 / HỨA CHỮ (27) : tự Tử Thiệu người huyện Khúc Dương, khi nhỏ đã có chí lớn, ưa dùng thương và bổng, theo Tào Tháo lập được nhiều chiến công hiển hách, được phong Kiến Oai tướng quân.

Hóa thân con rùa, thối thân :

– TƯ MÃ Ý (107) : tự là Trọng Đạt, người xứ Uyển Thành. Lúc còn nhỏ đã có chí lớn, tinh thông văn võ, có tài năng. Trước theo Tào Tháo sau thờ Tào Phi, thường giao tranh với Khổng Minh Gia Cát Lượng. Có cháu là Tư Mã Viên sau làm vua đời nhà Tấn, đã truy phong Tư Mã Ý là Tuyên Đế.

– Con RÙA (27-67) : họ Trương tên Thiên tự Hỏa Quan người tỉnh Hà Nam, làm quan ở Án Sát Viện, anh của Hỏa Quan là Cửu Quan đều bị giặc Kim Phiên giết. Hỏa tướng từ con rùa đầu thai.

Nằm mộng thấy rùa là điềm lành, có tài lộc nhưng vất vả mới thành công. Thấy rùa bò đến mình, nam nhân sẽ gặp đàn bà nạ dòng quyến rũ, nữ nhân đề phòng hạng đàn ông sở khanh. Thấy đập bể mai rùa sẽ gặp khổ nạn. Thấy rùa bơi dưới nước là ti lộc hanh thông. Thấy rùa, ba ba, đồi mồi, tờ giấy, cái ghế, quan tài hỏa táng, phán quan, múa lân là hợp số 27, 67, 107.

– Nhân vật thứ 28 / CHÂU XƯƠNG (28) : người xứ Quan Tây, mặt đen, râu rìa lông ngực, thân hình vạm vỡ, có sức mạnh tựa ngàn cân, tự xưng là Hắc diện tướng quân. Làm thảo khấu tại núi Ngọa Ngưu. Khi Quan Công quá ngũ quan trãm lục tướng, Châu Xương theo hầu cận. Lúc Quan Công thọ nạn, Châu Xương tự tử chết theo tại Mạch Thành.

Hóa thân con gà rừng, thối thân :

– ĐỔNG TRÁC (108) : tự Trọng Lũng, người xứ Lâm Triệu, làm quan Thái thú đất Hà Đông, tính tình ngạo mạn, khi lên đến chức Thừa tướng liền phế truất Hoàng đế Hiếu Linh và Hán Hiến Đế, bị con nuôi là Lữ Bố ghen tuông với Điêu Thuyền giết chết.

– Con GÀ RỪNG (28-68) : là Trần Nhật Sơn tự Thiện Minh người tỉnh Tứ Xuyên, làm quan đến chức Thượng Thư đời Tống, gia cảnh giàu muôn ức bị Kim Tử Tần đến mượn hàng trăm vạn lượng mà không trả, buồn cho thế thái nhân tình nên bỏ nhà đi tu. Thổ tướng, hóa thân thành con gà rừng.

Nằm mộng thấy gà trống là có của, gà mái là có lộc ăn uống. Thấy gà đẻ hay gà mái dẫn bầy gà con là tiền vào như nước. Thấy gà giò (gà tơ) sắp bén duyên tình cảm, thấy gà đang đạp mái coi chừng sắp có con rơi.

Thấy cá ngao, cá lia thia, gà rừng, đại đao, cái bàn, Võ Tòng, Đạt Ma thần tiển, Phan Kim Liên, Ngô Tam Quế, người tự tử là hợp số 28, 68, 108.

(Còn 1 kỳ nữa)

Thuật bảo tài (bài 2/4)

NGHỆ THUẬT

KIẾM TIỀN (2)

– Thiên Lý Nhãn

– Nhân vật thứ 3 / TÀO THÁO (03) : tự Đức, cha là Tào Tung. Tào Tháo nguyên họ Hạ Hầu, vì từng làm con nuôi của Tào Thắng nên mới đổi ra họ mới.

Tào Tháo thích đi săn, làm thơ, ca hát, có nhiều mưu mẹo, biến trá và tính đa nghi. Tuy dựng vua lên ngôi còn mình chỉ làm thừa tướng nhiếp chính, nhưng vượt quyền; rất yêu nàng Sái Văn Cơ, nàng muốn gì Tào Tháo cũng chìu theo ý, nhưng đường lương duyên lại không thành vợ chồng.

Hóa thân con ngỗng, thối thân :

– KHỔNG DUNG (83) : tự Văn Cử người nước Lỗ, cháu đời thứ 24 của Đức Khổng Tử. Tính tình thông minh, hòa nhã, 4 tuổi đã có tính nhân từ, nhường quả đảo tiên cho một cụ già đang lúc đói. Khi lớn làm quan đến chức Bắc Hải Thái Thú. Được người đời trọng vọng không khác Khổng Tử ngày xưa.

– Con NGỖNG (03-43) : tức Trần Vinh Sanh tự Liên Tùng con của Bản Quế, bị giặc Kim Phiên giết khi vừa đậu trạng nguyên cùng anh Phùng Xuân. Do dòng thủy tướng nên chết đi hóa thành cong ngỗng.

Nằm mộng thấy ngỗng là tình yêu sắp đến, thấy ngỗng kêu có người đến hiến thân xác hay hiến thân cho người yêu. Bắt được ngỗng là sắp có thêm người yêu mới. Cùng thấy ngỗng, thiên nga, chim đại bàng, mật ong, Sái Văn Cơ, Phật Thích Ca, nước vào nhà, đi thuyền ban đêm là hợp số 3, 43, 83.

– Nhân vật thứ 4 / HÁN HIẾN ĐẾ (04) : tức Trần Lưu Vương, khi Hán Cao Tổ Lưu Bang trảm xà khởi nghĩa chống Tần cùng Hạng Võ. Sau Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, trung hưng nước Trung Hoa truyền đến Hiếu Lĩnh bị Đổng Trác (Tam Quốc) chuyên quyền phế truất, lập Trần Lưu Vương lên ngôi xưng Hán Hiến Đế.

Hóa thân con công, thối thân :

– HUỲNH CÁI (84) : tự Công Phúc người huyện Linh Lăng, vốn là cựu thần của Tôn Kiên, giữ chức Giải Lương. Tính tình trọng nghĩa, đối xử với mọi người rất thành tâm, từng thí thân làm khổ nhục kế để gạt Tào Tháo.

– Con CÔNG (04-44) : tức Trần Phùng Xuân con của Bản Quế, người hào hoa phong nhã, tuy dòng thủy tướngnhưng xuất tướng tinh loài điểu, nên chết trở thành con công.

Nên mộng thấy công múa là gặp được người yêu. Nếu nữ nhân nằm mơ là sẽ gặp chàng trai tuấn tú; còn đang mang thai sẽ sinh quý tử. Cùng thấy con công, con ve, con chồn, con sâu, mặt trăng, mặt trời mọc, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Phật Bà ngồi tòa sen, tiên nữ đứng trong mây, Trần Thế Mỹ, người đi cày, vòng cẩm thạch là hợp số 4, 44, 84.

– Nhân vật thứ 5 / QUAN CÔNG (05) : tự Thọ Trường sau đổi thành Vân Trường, người huyện Giải Lương, tỉnh Hà Đông. Cùng Lưu Bị, Trương Phi kết nghĩa tại vườn đào, nguyện đồng sinh đồng tử bên nhau phục hưng nhà Hán. Cả ba được Tào Tháo tin dùng, Vân Trường được phong đến chức Thọ Đình Hầu, còn tặng cho con xích thố. Nhưng về sau Quan Công sang phò Lưu Bị chống lại Tào Tháo, hoàn thành đại nghiệp, được Lưu Bị phong làm Ngũ hổ tướng quân.

Thối thân : – CHÍ CAO (85) : Họ Huỳnh tên Sum, tự Bình Sanh, người miền Đông Kinh, đứng đầu một đảng cướp ở châu Quế Đổng làm bạn với Khôn Sơn (con cọp), nguyên là Kim tướng, sư tử đầu thai khi chết hóa thân con trùn.

– CON TRÙN (05 – 45) : Nằm mộng thấy con trùn bò là điềm bị tiếng thị phi, bò vào nhà là gia đình suy sụp, kẻ phục dịch bỏ đi, thấy trùn phơi xác là chấm dứt hoạn nạn. Cùng thấy con trùn, con vạc, sư tử đá, chó, khỉ, rận, hay đao thương, vàng bạc, rượu thịt, Lưu Bị ,Trương Phi, Triệu Tử Long, Tư Mã Ý, bà mai mối là hợp số 5, 45, 85.

– Nhân vật thứ 6 / TRIỆU TỬ LONG  (06) : tức Triệu Vân, người xứ Thường Sơn. Lúc đâu theo Viên Thiêu sau thây Viên Thiêu không có lòng trung với chúa, nên đâu quân cho Công Tôn Đán nhờ đó biêt đến Lưu Bị, sau bỏ Công Tôn Đán đi ở ân tại núi Ngọa Ngưu. Lưu Bị thấy vậy liền cho vời Triệu Vân về dưới trướng, cùng Quan Công, Trương Phi trong bộ năm Ngũ hổ tướng.

Hóa thân con cọp, thối thân :

–  MÃ SIÊU (86) : tự Mạnh Khởi, người xứ Tây Lương, có cha tên Mã Đằng, con cháu của Phục Ba tướng quân thời nhà Hán. Mã Siêu tướng mạo đẹp đẻ, mặc giáp trắng, cầm thương bạc theo nhà Thục được phong Ngũ Hổ Chinh Tây tướng quân. Mã Siêu từng rượt Tào Tháo tại Đông Quan làm họ Tào phải cạo râu, bỏ áo suýt vong mạng.

– Con CỌP (06-46) : tức Huỳnh Khôn Sơn người xứ Tô Châu, làm đầu đảng cướpvcùng Cửu Long Châu, bạn thân với Chí Cao. Khôn Sơn tuy làm cướp nhưng rất hào hiệp làm quan binh nể sợ dân chúng thương mến. Sau được Thái Bình chiêu dụ ra làm Đại nguyên soái. Thổ tướng nên chết được đầu thai thành cọp.

Nằm mộng thấy cọp là do dự trong công việc, cọp đuổi bắt sẽ có nguy hiểm khó tránh, giết được cọp sẽ thành công như ý muốn, bắt được cọp có kẻ tiểu nhân toan hại nhưng không thành Cùng thấy cọp, beo, sư tử, đao thương, ngân lượng, Phật La Hán, Địch Thanh, Võ Tòng, Trương Phi, lửa cháy trong núi là hợp số 6, 46, 86.

– Nhân vật thứ 7 / CHÂU DO (07) : tự Công Cẩn người xứ Lộ Giang, kết nghĩa anh em với Tôn Sách, vốn người có tư chất phong lưu lại văn võ song toàn, thích đàn ca xướng hát, làm quan đến chức Đông Ngô Thủy Lục Đại Đô Đốc. Châu Do bị Khổng Minh Gia Cát Lượng chọc giận ba lần đến hộc máu mà chết, thọ 36 tuổi.

Hóa thân con heo, thối thân :

– CHU TUẤN  (87) : tự Tử Minh, người xứ Kinh Triệu, lúc đầu làm quan đến chức Trung Lương tướng quân, sau có giặc Huỳnh Cân, Chu Tuấn vâng lệnh vua cùng Lưu Bị, Hoàng Phủ Tung, Lư Trực đồng ra trận trừ giặc, thắng được nhiều trận. Bấy giờ Hán đế phong cho làm Xa Kỵ tướng quân thuộc doãn Hà Nam.

– Con HEO (07-47) : tức Tống Chính Thuận mang Pháp tự Mai Cao, người tỉnh Hà Nam, làm quan đến bậc Phụng Chính Đại Phu đứng dưới trướng của Khôn Sơn. Kim tướng, tướng tinh con heo đầu thai.

Nằm mộng thấy heo nọc là sinh lòng dâm dục với người dưới. Thấy làm thịt heo có người mời ăn nhậu, còn ăn thịt heo sẽ gặp hao tài, bị heo cắn là có tranh chấp. Nên thấy heo, gấu, kiến, mặt trời, cây kiếm, châu báu, người bị thổ huyết, tài thần, ngựa trắng, phán quan giữ sổ sinh tử, mạnh thường quân là hợp số 7, 47, 87.

– Nhân vât thứ 8 / LỮ BỐ (08) : tức Lữ Phụng Tiên, ban đầu làm con nuôi Đình Nguyên, rồi giết Đình Nguyên làm con nuôi Đổng Trác.

Lữ Bố cùng mê Điêu Thuyền với cha nuôi, nghe theo lời Tư Đồ Vương Doãn gây cảnh ghen tuông mà giết luôn Đổng Trác. Lữ Bố thường mặc chiến bào, tóc chải cao, sử dụng thiên phương họa kích, có sức mạnh khôn lường, nhưng lại vô mưu. Giết Đổng Trác xong qua phò Lưu Bị, sau bị Tào Tháo bắt được xử treo cổ, chết tại Bạch Môn Lầu.

Hóa thân con thỏ, thối thân :

– LƯU CHƯƠNG (88) : tự Quí Ngọc, con cháu của Hán Lỗ Cung Vương, có kế phụ là Lưu Diên, giữ chức Ích Châu Mục, thống trị 41 châu ở Tây Xuyên.

– Con THỎ (08-48) : nguyên là Lý Nguyệt Bảo tự Trung Minh người xứ Đông Kinh, làm quan đến bậc Triều Nghị Đại Phu, giữ gia sản trăm vạn tại Ngọ Môn. Có con trai tên Hán vân, con gái Minh Châu. Thổ tướng, tướng tinh con thỏ bạch.

Nằm mộng thấy ăn thịt thỏ là vượng tài, đi săn bắt thỏ sẽ hỏng việc lớn nhỏ, thấy giết thỏ gặp nạn được vượt qua. Thấy thỏ đen gặp tang khó, trắng có sự vui mừng trong gia đạo, xám là bị người khác lừa gạt nhất là trong tình cảm, vàng hoặc thỏ vá sẽ cưới lầm đối tượng (người không còn con gái hay trai đã có vợ con). Thấy thỏ, ruồi, ngọc trai dưới biên, các vị Thánh, ngọc ngà, cây kích, Mã Siêu, Phàn Lê Huê, Dương Quý Phi, Hạng Võ là hợp số 8, 48, 88.

– Nhân vật thứ 9 / TRƯƠNG PHI  (09) : tự Dực Đức, người Thừa Huyện, nguyên là đồ tể và lái buôn rượu. Lúc nhà Hán loạn lạc, thái thú U Châu tên Lưu Diên tuyển quân; lúc ấy Lưu Bị xem bảng rồi thở dài, còn Trương Phi đứng bên liền to tiếng hỏi : “Đại trượng phu sao không ra giúp sức cho Hán Vương mà lại thở vắn than dài ?”. Nghe vậy, Lưu Bị liền nhìn Trương Phi tình cờ thấy luôn Vân Trường (Quan Công) đang đẩy xe đi qua, liền tụ họp, tâm đắc kết nghĩa anh em.

Hóa thân con trâu, thối thân :

– TÔN KIÊN  (89) : tự Văn Đài, con cháu của Tôn Võ Tử. Năm 17 tuổi theo cha qua sông Tiền Đường, nghe tiếng bọn giặc cướp đang chia của cải bên bến sông, Tôn Kiên bèn quát to lên một tiếng tựa hổ gầm, làm bọn cướp kinh sợ, tưởng quan binh đến vây bắt nên bỏ của chạy lấy người; còn Tôn Kiên nhảy lên bờ rượt theo giết được tên đầu đảng, nhờ đó mà quan huyện nghe danh tôn làm Giáo Úy. Sau này Tôn Kiên lên đến chức tướng thống lĩnh binh mã, được vua phong Hầu tước, mang giáp bạc cưỡi ngựa hoa.

– Con TRÂU (09-49) : tức Hán Vân con của Lý Nguyệt Bảo, tự Song Thiện, làm quan đến chức Đô Sát Viện trấn giữ Môn quan cùng cha, tính chính trực. Lúc vâng lệnh vua ra quân chống giặc lại để mất thành trì nên bị giặc giết chết, tục truyền khi chết thành tiên. Thủy tướng, từ trâu đầu thai.

Nằm mộng thấy cưỡi trâu là điềm thịnh vượng, cưỡi vào thành thị có sự vui mừng. Thấy trâu đẻ ra nghé điềm báo sẽ có tài lộc, thấy sừng trâu vấy máu được thăng chức lên lương, thấy trâu húc người là thất bại. Nên thấy trâu, đom đóm, sấm sét, cái ly, người chết, Trư Bát Giới, Ngưu Lang Chức Nữ, cây thiết bản của Tề Thiên là hợp số 9, 49, 89.

– Nhân vật thứ 10 / TRƯƠNG BỬU (10) : có anh tên Trương Giác, em là Trương Lương, người nước Hàn. Ba người thường vào rừng hái thuốc, gặp Nam Hải Tiên Ông cho ba quyển thông thư nói về mưu lược, cùng lời nhắn phải thế thiên hành đạo, tìm người có chân mạng Đế Vương mà phò tá. Chưa tìm được minh quân, nhưng quá nôn nóng mà dậy binh khởi nghĩa diệt Tần.

Trương Giác xưng Thiên Công tướng quân, còn Trương Bửu là Nhơn Công tướng quân, nhưng đại sự không thành đều bị giết, còn Trương Lương (Trương Tử Phòng) chạy thoát, sau về làm mưu sĩ cho Lưu Bang.

Hóa thân con rồng nằm, thối thân :

– NGHIÊM NHAN (90) : tự Bá Toàn người xứ Hán Xuyên là danh tướng của Thục Vương, chuyên dùng cung to và đại đao, có sức mạnh địch muôn người, tôn kính Lưu Chương nên được Chương cho làm chức Bá Quân Thái Thú. Sau đại chiến với Trương Phi, bị Trương Phi bắt rồi tha mạng nên đi theo Lưu Bị, lập được nhiều chiến công to lớn, được Lưu Bị phong làm Xa Kỵ tướng quân.

– Con RỒNG (10-50) : có tên Long Giang Tử, người Sơn Đồng bạn với Tất Đắc, bị giặc Kim Phiên giết chết. Thủy tướng, nên chết đầu thai thành Bắc Hải Long Tinh.

Nằm mộng thấy rồng nằm ngán cửa sẽ có vượng tài, thấy rồng vào nhà là có món tiền to bất ngờ, vào bếp là được thăng chức thăng lương, thấy nằm chết là mất địa vị. Nên thây rồng nằm, chuồn chuồn đậu, mèo rừng, mây mưa, sấm sét, Khuât Nguyên, muông canh, thô địa, ba ngôi sao hay sao chôi là hợp số 10, 50, 90.

– Nhân vật thứ 11 / LƯU PHONG (11) : vốn họ Khâu, cha mẹ chết sớm nên phải nương náu với cậu là Lưu Bị, làm quan huyện lệnh tại Phàn Thành. Có tướng mạo đoan trang nên được Lưu Bị nhận làm con nuôi, đặt sang họ Lưu, sau làm đến phó tướng quân giữ thành Phương Khang, vì không phát binh giải cứu Mạch Thành, nên Lưu Bị buộc lòng dùng quân lệnh mà giết chết.

Hóa thân con chó, thối thân :

– TƯỞNG UYỂN (91) : tức Tưởng Công Diệm, người xứ Linh Lăng, là danh sĩ đương thời đi theo Gia Cát Lượng làm phó tá. Tương truyên lúc gần sinh Tưởng Uyển, mẹ ông nằm chiêm bao thấy một cô tiên nữ ném chén ngọc vào lòng bà, nên mới có thêm chữ Uyển (chén ngọc). Sau theo Lưu Bị vào thành Tứ Xuyên, khi Hậu chúa lên ngôi phong Tưởng Uyển là Tư Nghị Lang.

– Con CHÓ (11-51) : có tên Điền Phước Tôn, người xứ Giang Nam, mở tiệm thuốc bắc tại Long Tuyền phủ Kiến An. Ngày tết Đoan Ngọ lên núi hái thuốc bị cọp vồ chết. Thổ tướng, xuất tướng tinh bạch cẩu.

Nằm mộng thấy chó là có người giúp đỡ tinh thần hay vật chất. Thấy chó mực  nên đề phòng bị lừa đảo, thấy chó cái sắp gặp người yêu thỏa mãn ân tình. Thấy chó săn làm ăn đang đến thời cơ tốt. Thấy chó, le le, chim nhạn, thần gió, cái chén ăn cơm, Diêm Vương, Hàn Tín, Bao Công, lông gà lông vịt, tiếng cọp gầm là hợp số 11, 51, 91.

– Nhân vật thứ 12 / TẢ TỪ (12) : tự Nguyên Phòng đồng hương với Tào Tháo, có đạo hiệu Ô Giác tiên sinh, què một chân, mù một mắt, biết nhiều phép thuật vì được tiên ông cho cuốn “Độn điền thông thư” có thể đi mây về gió. Sau dùng phép thuật chọc giận Tào Tháo, làm Tào Tháo truyền cho Hứa Chữ đuổi bắt nhưng không được, vì Tả Từ còn biết cả phép độn thổ.

Hóa thân con ngựa trắng, thối thân:

– TƯ MÃ CHIÊU (92) : là con trưởng của Tư Mã Ý. Mã Chiêu có đủ văn võ toàn tài, diện mạo khôi ngô, theo cha đủ bốn phương trời, lập được nhiều chiến công hiển hách. Ngụy chúa là Tào Phi phong Tư Mã Chiêu làm Tân Vương, sau Tư Mã Viêm kế vị truy phong là Văn Đế.

– Con NGỰA (12-52) : tức Chu Quang Minh tự Ngọc Long, người tỉnh Triết Giang phủ Ninh Ba được hòa thượng tu đắc đạo truyền cho  phép thuật, biết phép âm dương lập trận ma thuật, biết hô phong hoán vũ, đá chạy cát bay. Được vua gọi làm quân sư, sau bị quân Tần giết chết. Hỏa tướng, từ “bạch mã tinh” hóa thân làm người.

Nằm mộng thấy ngựa là điềm lành đến nhà, thấy ngựa phi công việc tiến triển tốt đẹp. Thấy ngựa đen điềm báo có tang khó, ngựa kim có người giúp, ngựa vàng sẽ có tài lộc, ngựa hồng có tin vui, ngựa xám có của hoạnh tài. Thấy ngựa, lừa, con dê than, thần mây, cái đĩa, Khổng Minh, Phan Kim Liên, đèn đuốc, trăng sáng bị mây che là hợp số 12, 52, 92.

– Nhân vật thứ 13 / MÃ ĐẠI (13) : người xứ Tây Lương cháu Mã Đằng, anh em con chú bác với Mã Siêu, đi theo nhà Thục được phong làm tướng quân. Khi Ngụy Giêng phản bội, Mã Đại theo kế của Gia Cát Lượng giết Nhạc Đại, được Hậu chúa phong làm Quan Nội Hầu.

Hóa thân con voi, thối thân :

– CAM NINH (93) : tự Cự Bá, người xứ Lam Giang. Tuổi nhỏ thông minh xuất chúng, kinh sử thuộc làu làu, lại có sức mạnh, thích giao du với những người nghĩa hiệp, từng đem vải gấm làm buồm cứu độ thuyền nhân lâm nạn, nên được người đời gọi cho tên Cẩm Phàm.

Ban đầu Cam Ninh theo phò Huỳnh Tổ, sau theo Tôn Quyền làm phó tướng, được thăng Đô Úy.

– Con VOI (13-53) : tức Ông Hữu Lợi tự Hữu Châu người xứ Đông Kinh, thi rớt Tú tài bèn ra mở tiệm cơm sau vaq2o nhóm Lương Sơn Bạc câuy cá. Thổ tướng, con voi đầu thai.

Nằm mộng thấy voi trắng là gặp điềm lành, voi đen sẽ trì trệ công việc nhưng tiền hung hậu kiết. Thấy voi rượt là gặp kẻ nhiều thế lực nhưng dễ khuất phục. Thấy voi chở vào thành thị là có thăng quan tiến chức. Thấy voi, kỳ nhông, kỳ đà, thần núi, bắt cá, bắn chim, cây cam, Võ Tòng, Trình Giảo Kim là hợp số 13, 53, 93.

– Nhân vật thứ 14 / TÀO HỒNG (14) : tự Tử Liêm, anh em ruột của Tào Tháo, tinh thông võ nghệ, có tài dùng cung kiếm, mấy lần cứu Tào Tháo thoát chết, được Tào Tháo ân sủng xem như phúc tinh của mình.

Hóa thân con mèo rừng, thối thân :

– TỪ THỨ (94) : tự Nguyên Trực, người xứ Tây Xuyên, thờ mẹ rất có hiếu, thích múa gươm, làm bạn với Tư Mã Trưng, Khổng Minh, Sĩ Nguyên. Vì phục thù cho bạn mà phạm tội giết người phải bỏ trốn, khi bị bắt nhờ quan lại biết tiếng nên thoát tội. Sau đổi tên Đơn Phúc.

– Con MÈO RỪNG (14-54) : tức La Chỉ Đắc tự Đắc Thanh, người tỉnh Tứ Xuyên. Hành nghề đồ tể sống qua ngày sau bị Trần Công giết chết. Thủy tướng, xuất tướng tinh mèo rừng.

Nằm mộng thấy mèo ngủ có thành công, bị mèo vồ mang tiếng thị phi. Thấy mèo trắng gặp tai nạn, mèo đen sẽ gặp người nhiều miệng lưỡi, đề phòng bị lừa gạt, nghe tiếng mèo kêu gặp chuyện xui xẻo, mèo ngồi cửa nhà gào sắp có tang. Thấy mèo rừng rượt là được người khác phái để ý về tình cảm, sẵn sàng đón nhận lời tỏ tình. Cùng thấy mèo rừng, con suối, đạo sĩ cưỡi hạc, Phật Di Lạc, quan tài, xác chết là hợp số 14, 54, 94.

– Nhân vật thứ 15 / HẠ HẦU UYÊN (15) : người nước Bái, cùng sống với anh là Hạ Hầu Đôn (người ăn khoẻ) sau đầu quân cho Tào Uyên. Vì trước đây Tào Thào mang họ Hầu, nên được Tào Tháo trọng dụng phong đến chức Liệt Hầu, bị Huỳnh Trung giết chết.

Hóa thân con chuột, thối thân :

– ĐIỀN VI (95) : người xứ Trần Lưu, có sức khoẻ hơn người, tướng mạo lại khôi ngô, sử dụng hai cây thiết kích nặng cả trăm cân. Một lần từng đuổi cọp qua suối rồi dùng tay giết cọp như Võ Tòng đả hổ.

Lúc thanh niên theo hầu Trương Mạo, sau nhờ Hạ Hầu Đôn tiến cử với Tào Tháo mà lập nhiều công to, được họ Tào phong Tân Kỵ tướng quân.

– Con CHUỘT (15-55) : tên Trịnh Tất Đắc người xứ Đông Kinh, tính gan dạ. Khi thi rớt liền ra rừng tụ tập lâu la lập đảng cướp, được Khôn Sơn thu phục làm phó tướng. Hỏa tướng, xuất tướng tinh con chuột.

Nằm mộng thấy chuột bạch là nghĩ đến người yêu đơn phương, thấy chuột cống phải đề phòng kẻ tiểu nhân phản trắc, thấy chuột đồng công việc gặp nhiều may mắn, cuột đồng chạy vào thành thị sắp bị ngưng trệ công việc, chuột gặm thóc gạo sẽ hao tài tốn của. Thấy chuột đồng, chuột cống, thần sông (Hà Bá), ngực đàn bà, đọc sách, cầu thần linh, bị cọp đuổi, bạch xà tinh, Tất Đắc, Hạ Hầu Đôn là hợp số 15, 55, 95.

– Nhân vật thứ 16 / HOÀNG PHỦ TUNG (16) : người xứ Tứ Xuyên, làm quan đến chức Hán Trung Lang tướng quân. Cùng Lư Thực và Chu Công mang quân đi dẹp giặc Thiên Công, thắng bảy trận giết được Trương Giác, đuổi bắt Trương Lương được triều đình phong Xa Kỵ tướng quân, chức Dực Châu Mục.

Hóa thân con ong, thối thân :

– VU KIẾT (96) : là đạo sĩ của Lang Nha cung, có biệt hiệu Thái Bình Thanh, lên núi hái thuốc gặp thần nhân trao sách trị bệnh, ông xuống núi chữa bệnh không lấy tiền, phổ cứu vạn dân. Vu Kiết có tài cầu mưa gọi gió, xứ Giang Đông tôn ông là Thánh bất tử. Nhưng Tôn Sách lại vu cho Vu Kiết là yêu quái nên bắt đưa đi chém đầu giữa chợ.

– Con ONG (16-56) họ Phương tên Mậu Lâm tự Lưỡng Nghi, người xứ Tô Châu. Nhà nghèo chuyên nghề làm than để độ nhật rất có hiếu với cha mẹ. Khi chết đầu thai thành con ong hút nhụy lấy mật.

Nằm mộng thấy tổ ong là điềm thịnh vượng có tài lộc đến, thấy ong sáp vào người dịnh chích sẽ gặp phiền toái, nhưng ong đốt lại thành công. Thấy ong bay vào nhà, kẻ tiểu nhân thất bại toan tính ám hại, ong đang hút nhụy có người phải lòng dễ đi đến tình cảm trai gái. Cùng thấy ong, rồng, dơi đeo trên cành, Võ Tắc Thiên, Kim đồng Ngọc nữ, hạ sinh con trai, ngồi thổi tiêu, trăng sáng là hợp số 16, 56, 96.

– Nhân vật thứ 17 / SÁI VĂN CƠ (17) : con của Sái Ung nhà viết sử thời Hán. Văn Cơ rất đẹp biết đàn hay múa giỏi được Tào Tháo yêu mến. Khi chạy loạn lưu lạc bị giặc Hồ bắt đi, nàng đã sáng tác điệu nhạc “Hồ gia” được thưởng cả ngàn con dê cùng vàng bạc châu báu, sau làm thiếp cho Tả Hầu Vương nước Hồ sinh được hai con.

Tào Tháo nhung nhớ Sái Văn Cơ cho người giết Tả Hầu Vương, đoạt lại người đẹp trở lại đất Hán, nhưng nàng không chịu làm thiếp cho thừa tướng mà lấy Đổng Kỵ một tướng quân lỗi lạc.

Hóa thân con hạc, thối thân :

– KHƯƠNG DUY (97) : tự Bá Ước, người Dực Huyện, thuộc xứ Thiên Thủy. Lúc còn nhỏ đã đọc rất nhiều sách, thông thuộc binh thư, thờ cha mẹ chí hiếu làm người trong xứ rất kính mến. Sau theo nhà Thục, lạy Khổng Minh làm thầy và học hết các phép để sau nối bước chức Tổng đốc của Khổng Minh, được phong Phụ Hán tướng quân Bình Nhưỡng hầu.

– Con HẠC (17-57) : là Châu Thanh Vân người xứ Đông Kinh, làm trong Hàn Lâm Viện đời nhà Tống, bị Tần Cối hãm hại nên cạo đầu lên núi làm đạo sĩ luyện được linh đơn. Hỏa tướng, từ hạc đầu thai.

Nằm mộng nghe tiếng hạc kêu sắp thành danh hiển đạt, nếu hạc đang bay trên ntrời có điềm gở, thả hạc bay là có tài lộc. Thấy hạc đứng trên lưng rùa sẽ có người giúp đỡ.

Thấy hạc bay, cây đàn, cái nón, đầu trọc, nhà có khách Ngũ hành nương nương, Lý tam nương, đàn ca xướng hát là hợp số 17, 57, 97.

(Còn nữa)