LỄ HỘI DINH CÔ (LONG HẢI)

LỄ HỘI DINH CÔ

LONG HẢI (BRVT)

TỪ 10 ĐẾN 12 THÁNG 2 ÂL

Tháng giêng “ăn chơi” cũng là tháng giêng của những miền lễ hội.

Trải khắp các vùng từ xuôi lên ngược, sâu trong những làng quê thuần hậu, nơi tín ngưỡng dân gian và truyền thuyết, huyền sử hòa trộn, các lễ hội mang đến một nét đẹp văn hóa đậm tính Việt hơn hết…

Và điều đó một lần nữa cho thấy khi lễ hội thật sự là của làng, của dân, những nhốn nháo kim tiền, những phù hoa giả tạo… như đã thấy lâu nay sẽ bị đẩy lùi.

Trong cuốn Đạo Mẫu Việt Nam, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh viết : “Thờ phụng nữ thần và mẫu thần là cái nền chung của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng các tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á”. Có lẽ vì thế, trong tiết xuân ấm áp, nơi đền miếu quyện khói hương trầm, trong những lễ hội mang đậm màu sắc dân gian cổ truyền, thu hút hàng chục ngàn khách thập phương tụ về, không thể không nhắc đến những lễ hội Bà.

TRUYỀN THUYẾT DINH CÔ

Dinh Cô là một kiến trúc hoành tráng, đậm màu sắc văn hóa dân gian, nằm bên bờ biển Long Hải (thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).

“Lưng tựa vào núi, mặt nhìn ra biển”, Dinh Cô vừa là nơi thờ cúng tôn nghiêm, vừa có không gian thanh thoát với bãi biển rộng đẹp, hấp dẫn khách phương xa. “Từ mồng 5 tết trở đi là tụi tui bắt đầu quay như chong chóng” – ông Thái Văn Cảnh, trưởng ban quản lý khu di tích lịch sử văn hóa Dinh Cô, cho biết.

Theo ông Cảnh, tương truyền hồi trào Minh Mạng, một trinh nữ tên Lê Thị Hồng (tục danh là Thị Cách), quê ở Tam Quan (Bình Định), giàu lòng nhân ái từ bi, muốn tìm nơi thanh liêu ẩn dật. Cô thường theo cha là ông Lê Văn Cần đi ghe bầu vô Nam buôn bán. Tới mùa gió bấc, trời lạnh, sóng to gió lớn, cô và cha thường đậu ghe tránh gió ở sũng (vũng) Cây Dầu (cách Dinh Cô ngày nay khoảng 800m).

Ra tết, trời êm biển lặng, cô cùng cha kéo neo quay hướng về Bình Định. Chẳng may khi vừa tới Hòn Hang, gặp một luồng gió lớn thổi ngang, cô lâm nạn chết trên biển khi mới 16 tuổi. Ngư dân kéo lưới mai táng cô trên đồi cạnh đó rồi lập miếu thờ ngoài bãi biển. Dần dà, người dân cảm thấy cô hiển linh như thần. Mỗi khi gặp dông bão hiểm nguy, ngư dân van vái cầu cô phù hộ tai qua nạn khỏi thì y như rằng đều được thoát nạn. Mỗi chuyến ra khơi, bà con thành tâm cầu xin thì lúc về tôm cá đầy ghe.

Một lần, cả làng chài Long Hải bị dịch thổ tả, người dân không cách gì chữa chạy, người chết khá nhiều. Bà con xin cô cứu độ, hiển linh thay, sau đó bệnh dịch lui dần. Từ đó, trong tâm linh của người dân trong vùng, cô được ví như một nữ thần cứu nhơn độ thế, giúp đỡ ngư dân có cuộc sống yên lành, hạnh phúc.

Ông Cảnh kể năm 1930, khi ngư dân Long Hải dời miếu cô lên núi Kỳ Vân (Dinh Cô ngày nay), các nhà khảo cổ phát hiện có một tấm bia khắc chữ Hán, dịch ra là “Long Hải thần nữ bảo an chánh trực nương nương chi thần”, có lẽ là danh hiệu cao quý mà người xưa đặt cho cô để ghi nhớ công ơn.

Lễ hội trên mặt nước

Theo ông Nguyễn Văn Điểm, phó bái (ban nghi lễ) lễ hội Dinh Cô, trước ngày giỗ chánh (mồng 10 và 11-2 âm lịch) có những đêm hội hoa đăng trên biển. Hàng vạn ghe thuyền kết hoa đăng rực rỡ đậu kín bên bờ biển, hướng mũi vào Dinh Cô. Lúc này trời đã có trăng nên khung cảnh càng thêm huyền ảo. Ghe thuyền nào cũng cờ, đèn, kèn, trống ca hát tưng bừng. Bên bờ biển, hàng vạn du khách dựng lều, trải bạt cắm trại dã ngoại càng thêm nhộn nhịp.

Tới ngày chánh lễ (12/2 âm lịch), từ sáng sớm các ghe thuyền quay hướng ra biển làm lễ Nghinh Cô. Một chiếc ghe của dân chài được coi là đi biển giỏi nhất trong năm được chọn dẫn đầu, trên có ngai, long vị Cô cùng các vị trong ban nghi lễ, các bô lão cao niên với lễ phục trang nghiêm và đội lân sư rồng. Đoàn ghe thuyền nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời.

Đi khoảng 2-3 hải lý, nhắm chừng tới nơi Cô tử nạn ngày xưa, ông chánh bái bắt đầu nghi lễ rước Cô cùng các vị thần linh, ông bà tổ tiên cùng về dinh ăn giỗ. Nhân dịp này, ngư dân cũng khấn vái đất trời, thủy thần tiếp tục phò hộ dân làng năm mới làm ăn được thuận buồm xuôi gió, mọi sự bình yên, tai qua nạn khỏi. Xong lễ, đoàn ghe quay vào, trên đường đi cũng trống chiêng inh ỏi, bạn chèo ca hát vang lừng, tâm trạng hết sức vui vẻ.

“Công đức của bà Cô giúp cho dân lành tới ngày nay vẫn còn – ông Thái Văn Cảnh cho biết – Nguồn thu mỗi năm từ cúng lễ của khách hành hương khoảng 3 tỉ đồng, ngoài dùng để trùng tu, tôn tạo di tích đình, chùa trong thị trấn còn là nguồn quỹ hỗ trợ nhà tình thương, học sinh nghèo hiếu học, quỹ khuyến học, hỗ trợ bếp ăn của Bệnh viện huyện Long Đất, trợ cấp hằng tháng cho mẹ liệt sĩ, gia đình có công, người nghèo neo đơn…”. (theo TTO)

VỀ BIỂN ĐI HỘI DINH CÔ

Nếu nói rằng, nét đẹp cơ bản trong lễ hội truyền thống người Việt được xây dựng bằng tín ngưỡng, niềm tin người dân qua thời gian, năm tháng thì lễ hội Dinh Cô của ngư dân vùng Long Hải (Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu) là đặc trưng nhất. Ở đó, không có những bát nháo tiền tài, danh hoa phù phiếm mà chỉ có truyền thuyết lâu đời, tín ngưỡng cao thượng cùng những người ngư dân chân chất, hiền lành với một đức tin mãnh liệt vào tâm linh.

Tết khác của ngư dân

Hiện nay, khu di tích Dinh Cô đã được Bộ Văn hóa thông tin cấp giấy chứng nhận là khu Di tích Lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội Dinh Cô được tổ chức hàng năm định kỳ vào các ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch. Có thể nói, đây thực sự là một ngày Tết cả về tinh thần và vật chất của ngư dân Long Hải vì những ngày lễ hội, ngoài hàng vạn du khách thập phương từ khắp vùng Đồng Nai, Bình Thuận, TP Vũng Tàu, TP. Sài Gòn… hàng trăm đồng nam, đồng nữ với những trang phục truyền thống cũng nô nức, chuẩn bị.

Trong 3 ngày lễ hội Giỗ Cô ở đây, mỗi người thường cầm một nhành huệ trắng tinh khiết tiến về đại điện làm lễ và thắp hương cầu khấn những điều an lành cho bản thân và gia đình trong năm mới. Ngoài việc tế lễ ở trong dinh, ngư dân địa phương còn tập trung nhiều thuyền bè, tàu cá ở ngoài biển, trang hoàng lộng lẫy, hưỡng mũi thuyền về phía bức tượng của Cô trên đỉnh núi Kỳ Vân như một ước vọng về sự an lành, bình yên trước sóng gió biển khơi. Điểm đặc biệt của lễ hội Dinh Cô là trong 3 ngày này, người dân và du khách sẽ thức thâu đêm, suốt sáng với những lễ hội đặc trưng như thả đèn hoa đăng, đánh trống, chiêng, đua thuyền và hát “bả trạo”. Hát “bả trạo” là một nét văn hóa đặc sắc như hát dân ca của ngư dân miền biển vùng miền Trung và Nam Trung Bộ có từ lâu đời và may mắn vẫn còn được ngư dân nơi đây gìn giữ, bảo tồn.

Cuối cùng và độc đáo nhất là màn lễ chính được tổ chức từ rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ “Nghinh Cô”. Lễ “Nghinh Cô” được cử hành long trọng, vị Chánh bái dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước, có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt bày hương án được xem là ghe dành “Nghinh Cô”. Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác, đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô lúc ban đầu, đoàn người xuống ghe viếng mộ và nghênh đón Cô về Dinh.

Có lẽ, nét đẹp đặc sắc nhất của lễ hội Dinh Cô là toàn cảnh bãi biển Long Hải rộn ràng, hàng ngàn người tất cả như đang sống giữa cảm giác của biển và trời, của đời thực và hư, của sóng biển bồng bênh như dải lụa và Dinh Cô trong thế “phục long” đang muốn bay lên. Bởi vậy, đến Dinh Cô trong ngày hội không chỉ có người sùng tín mà còn có những ai yêu vẻ đẹp thiên nhiên, yêu cái hồn cốt cách được gìn giữ mấy trăm năm của những ngư dân nơi đây. (theo Đoàn Xá)

LỄ HỘI DINH CÔ

Cũng như “Chúa Hòn” ở Kiên Giang, “Núi Sam” ở An Giang, tên gọi “Dinh Cô” ở Long Hải đã trở nên quen thuộc với khách thập phương.

Là ngôi miếu nhỏ thờ một trinh nữ chết nước, nằm trên mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long Hải. Dinh Cô được dựng lên bằng lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân.

Từ khi có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải có thêm sức mạnh tinh thần trong lồng ngực để đương đầu với vất vả, gian nan. Thành tích của mình, dân làng thường gán cho Cô, dệt thành nhiều huyền thoại thi vị, chú yếu là chuyện Cô ứng linh ứng giúp người hiền vượt khó khăn. Sự tôn kính dành cho Cô đã trở thành tập quán của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và niềm tin về cuộc sống thanh bình, thịnh vượng.

Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 – 11 – 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả đêm. Hàng chục vạn khách thập phương từ miền Tây, Sài Gòn, Lâm Đồng, Bình Thuận… lũ lượt kéo về Long Hải dự “Giỗ Cô”, chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, ở những hành lang, khoảng trống để nghỉ qua đêm, dự trọn 3 ngày hội. Có người phải đến trước mấy ngày mới mong kiếm được chỗ trọ. Có gia đình mang theo cả con cái cả đồ dùng nội trợ để ăn nghỉ tại chỗ. Đêm buông màn, rừng dương lao xao, sóng biển rì rào, lấp loáng trăng, lồng lộng gió… cảnh hữu tình khiến người ta quên vất vả mà vui với cuộc hành hương mang tính chất dã ngoại.

Từ rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, người ta đã bắt đầu viếng Cô. Mỗi người thường cầm trong tay một nhành huệ trắng tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già sùng tín đều chen nhau vượt 187 bậc đờ để dâng hương xin lộc nơi chính điện. Đêm 10 và 11 là đêm hội hoa đăng. ánh đèn sáng rực hoà cùng ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng thâu đêm.

Lễ chính được tổ chức từ rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ “Nghinh Cô”. Lễ “Nghinh Cô” được cử hành long trọng. Vị Chánh bái dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước, có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt bày hướng án được xem là ghe dành “Nghinh Cô”. Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác. Đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe lên viếng mộ, nghênh đón Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ “Nghinh Cô”, còn duy trì được hình thức diễn xướng “Hát bả trạo”.

Theo TS Tôn Thất Bình, “Hát bả trạo” có nghĩa là hát có nắm mái chèo, một thể loại dân ca nghi lễ phổ biến của cư dân vùng biển từ Bình Trị Thiên (cũ) đến Bình Thuận. Ngư dân thường tổ chức hát bả trạo trong nghi lễ đưa ma Cá Ông. ở Long Hải, hát bả trạo lại gắn với lễ “Nghinh Cô”. Hình thức diễn xướng không khác hát bả trạo của cư dân vùng biển Nam Trung bộ, cũng có tổng khoang (hoặc tổng thương), tổng mũi, tổng lái và đám bạn chèo từ 12 đến 16 người. Các bạn chèo và các tổng đề trong trang phục cổ truyền, vừa hát vừa diễn (xướng – xô) mô phỏng thao tác của người đi biển vượt ngàn trùng sóng gió. Chỉ khác ở nội dung bài hát ngưỡng vọng Cô (thay vì ca ngợi, thương tiếc Cá Ông) và lời nguyện cầu cho trời lên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Làn điệu và bài hát cho thấy hát bả trạo Nghinh Cô ở Long Hải phóng khoáng và trữ tình hơn lối hát “nặng nỗi âu lo” của vùng biển Nam Trung bộ. Câu lối của một tổng mũi ở Quảng Nam

Thú vị nhất của khách hữu tình không phải ở nội điện, mà là toàn cảnh bãi Long Hải trong những ngày hội rộn ràng, đứng ở hành lang của chính điện, có cảm giác như đang ở vùng giao thoa giữa biển và trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển dập dềnh như đang dệt lụa và Dinh Cô trong thế “phục long” đang muốn bay lên. Bởi vậy, đến Dinh Cô trong ngày hội không chỉ có người sùng tín mà còn có những văn sĩ, thi nhân và các đôi trai gái đi tìm rung cảm cho con tim.

HÁT BẢ TRẢO

Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội có chương trình biểu diễn hát bá trạo, hát tuồng. Đây là lễ hội dân gian truyền thống thể hiện văn hóa tín ngưỡng của ngư dân miền biển nói chung được tổ chức hàng năm cầu mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng, được mùa tôm cá.

Loại hình múa hát bả trạo thể hiện những sinh hoạt, lao động của ngư dân như chèo thuyền, kéo lưới…

Đội bả trạo có khoảng 18 người, trang phục theo nghi lễ cổ và ba vị chỉ huy gồm Tổng mũi, Tổng khoan và Tổng lái.

Mở đầu lễ hội là một đoạn múa chèo thuyền. Sau khi được lệnh của tổng lái, các tay chèo cùng nhảy bước một, từ một hàng thành hai hàng, rồi chuyển thành bốn hàng dọc. Tiếp đó là động tác qùy lạy và day mái chèo. Từ động tác này, ba vị chỉ huy hát theo các điệu tẩu mã, nói lối hoặc hát khách, hát nam. Các con trạo (bạn chèo) thỉnh thoảng phụ hoạ theo, hoặc lặp lại một đoạn của bài hát cổ.

Loại hát múa dân gian này được tổ chức theo tục lệ hằng năm, hoặc 2, 3 năm một lần nhân dịp Lễ Nghinh Ông hoặc trình diễn nhân dịp đưa tang cá Ông và trong các lễ hội cầu mùa, cầu ngư của ngư dân và tại Dinh Cô Long Hải, nơi thờ con gái một ngư dân đi biển đã chết vì biển cả.

Hát bả trạo còn gọi là hát chèo bả trạo, chèo cầu ngư, chèo cạn, hò rước Ông… Nội dung hát bả trạo ca ngợi công đức của cá Ông cứu người, giúp đánh bắt được nhiều cá tôm hoặc mô tả quá trình lao động vất vả của ngư dân giữa biển khơi, đồng thời ca ngợi sự giàu có của biển và trên hết là sự đoàn kết của bạn chèo vươn tới cuộc sống ấm no đầy đủ. Có thể nói hát bả trạo gắn liền với nghi lễ, bởi vì khi tham gia bả trạo tất cả mọi người, từ diễn viên đến khán giả đều cầu mong cho sự bình yên, thịnh vượng – từ lòng kính đối với Ông. Đây là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian mang tính nghi lễ của ngư dân ven biển, vì vậy trong lễ hội hát bả trạo đóng một vai trò quan trọng thu hút nhiều người tham gia và là một phần của văn hoá dân gian, tuy mang tính nghi lễ nhưng vẫn cung cấp được tài liệu quý báu về phong tục, tập quán và nghệ thuật.

Dần dần, loại hình này biến thành biến thành múa hát nghi lễ, áp dụng trong tang gia của các ngư dân, rồi lan ra quần chúng, gọi là hò đưa linh.

Đội gồm có : Tổng mũi (tổng thuyền), tổng khoang (tổng trung) và tổng lái (tổng hậu) và khoảng từ 10 đến 16 thành viên gọi là con trạo (tay chèo), số lượng con trạo bao giờ cũng là số chẵn. Đội có trang phục riêng, tổng mũi, tổng khoang, tổng lái mặc lễ phục cổ truyền : áo dài đen, quần trắng (có nơi mặc trang phục rực rõ như hát tuồng). Con trạo mặc áo trắng, quần trắng có quần xà cạp, đầu chít khăn, lưng bụng thắt vải đỏ, đi chân đất, tay cầm mái chèo dài 1,2m sơn đen, trắng. Dàn nhạc cụ có đàn cò, trống, kèn, sênh. Nghệ thuật trình diễn của hát bả trạo là sự phối hợp nhịp nhàng giữa âm nhạc, lời ca và động tác trình diễn của các tổng mũi, tổng khoang, tổng lái cùng con trạo dưới sự điều khiển thống nhất của tổng mũi. Đội múa nghiên mình giống tư thế người đang chèo thuyền, vừa hát vừa múa mái chèo. Động tác cách diệu đôi chân di chuyển trên mặt đất như thuyền đang lướt sóng, theo hiệu lệnh họ nghiên về phía trước, phía sau nhịp nhàng, đội di chuyển thành vòng tròn, hàng dọc, hàng ngang … át bả trạo có “xướng” và “xô”, 3 tổng thì xướng theo điệu hò, nói lối, hát nam, hát khách, tấu mã … còn các tay chèo thỉnh thỏang “xô” theo hiệu lặp lại một đoạn của vai Tổng.

Toàn bộ tiết mục hát bả trạo diễn ra như một hoạt cảnh gồm 8 đoạn : Tụ quân – Đưa linh – Ra khơi – Đánh bắt cá – Nghỉ ngơi – Bão tố – Chống bão tố và an bình. Nội dung ý nghĩa trong các lời hát của vai Tổng là nhắc đến công đức của cá Ông, tỏ lòng tôn kính công lao tiền hiền, ca ngợi cuộc sống lao động bình dị chân chất của ngư dân, ca ngợi cuộc sống tươi đẹp của đất nước và cầu mong cho vụ mùa bội thu, tránh được bão tố đem lại cuộc sống no đủ hạnh phúc.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp trên Net)

NHÀ CỬA THEO PHONG THỦY

PHONG THỦY

Ở PHƯƠNG TÂY

Chọn màu sắc cho cửa chính theo hướng của ngôi nhà

Các đóng góp từ phương Đông từng tác động mạnh đến phương Tây phải kể các vấn đề : tâm linh, ẩm thực và võ thuật. Sau những Yoga, Kung Fu (võ thuật) đã tràn vào phương Tây từ mấy thập kỷ qua, nay đến lượt Feng Shui (Phong Thủy) xuất hiện như một cái mốt mới.

Khoa học huyền bí hay khoa học môi trường ?

Trong số các môn khoa học huyền bí phương Đông, phải nhìn nhận Phong Thủy là khoa học gần gũi thực tế cuộc sống nhất. Người phương Tây có cơ hội tiếp cận Phong Thủy tuy có cho rằng đây là một khoa huyền bí cổ truyền có lịch sử hàng nghìn năm của xã hội nông nghiệp Trung Hoa, nhưng cơ bản nó vẫn là một môn “khoa học môi trường” mang tính thời đại đáng được tìm hiểu và nghiên cứu ứng dụng nghiêm chỉnh cho xã hội công nghiệp.

Ý niệm tác động qua lại giữa “Thiên-Địa-Nhân” (Trời-Đất-Người) của phương Đông không mấy xa lạ với ý niệm về mối quan hệ tương tác giữa “Con người – Xã hội – Thiên nhiên” của phương Tây. Tất cả đều có cùng một mục tiêu là mong muốn tìm kiếm lại sự hài hòa và cân bằng cho cuộc sống của loài người từng bị xâm hại suốt một thế kỷ phát triển công nghiệp vừa qua.

Các nhà nghiên cứu phương Tây ý thức được rằng muốn hiểu biết thấu đáo Phong Thủy phương Đông không thể không nghiên cứu sâu về Kinh Dịch, cùng các khái niệm về Đạo, Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Hình, Ý, Khí, Long Mạch, tuổi tác, hướng thích hợp theo tuổi và giới tính, ý nghĩa về màu sắc theo quan niệm phương Đông. Quan niệm về “khí” rất quan trọng trong khoa địa lý cũng được người phương Tây thấu hiểu, xem nó tương đương với cái mà khoa học gọi là “năng lượng” vận chuyển trong vũ trụ và con người. Ngoài ra họ còn phải đào sâu tìm hiểu thêm về các trường phái Phong Thủy khác nhau như phái Địa Lý (thiên về “hình”), phái Bát Trạch (nặng về “hướng”), phái Mật Tông (nghiêng về “ý”) v.v…

Tuy vậy, sở dĩ người phương Tây dễ tiếp thu khoa Phong Thủy là do bộ môn khoa học huyền bí này không giống như các khoa Tử Vi, Tướng Mệnh chẳng hạn (cho rằng mọi vật có số phận riêng, định mệnh đã an bài, khó lòng thay đổi), mà chủ trương rằng con người có thể chủ động can thiệp nhắm thay đổi, sửa chữa lại những cái gì chưa hoàn hảo để làm tốt hơn cho cuộc sống.

Cho nên không ai lấy làm lạ một khi khoa Phong Thủy du nhập vào thế giới phương Tây thì đã nhanh chóng biến thành nghệ thuật ứng dụng, chủ yếu nhắm sắp đặt, trang trí nhà cửa, sân vườn, văn phòng và cơ sở thương mại. Người ta cố tình loại bỏ phần “Âm phần” (tìm huyệt mộ trong xã hội nông nghiệp phương Đông) rõ ràng là không phù hợp chút nào với xã hội công nghiệp và đô thị hóa kiểu phương Tây.

Ứng dụng cụ thể vào cuộc sống

Với những nguyên tắc đơn giản mà hiệu nghiệm, khoa Phong Thủy có thể thích nghi vào xã hội mới, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp, công việc làm ăn khả quan hơn. Do vậy mà người phương Tây, nhất là người Mỹ, không ngại xông xáo tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng môn khoa học môi trường mới đến từ phương Đông này. Họ đã trực tiếp tìm kiếm học hỏi từ các chuyên gia phong thủy ở Trung Quốc cũng như trong cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài để rồi truyền bá nó ra qua sách báo, băng hình, giảng dạy, “talkshow” giải đáp thắc mắc trên truyền hình, trên báo chí…

Ngày càng nhiều những nhà kinh doanh phương Tây quay về từ châu Á cũng đã đem khoa Phong Thủy ra áp dụng vào cơ sở làm ăn, nhà cửa của họ. Người Mỹ ở tầm trung bình cũng hiếu kỳ nghiên cứu Phong Thủy, bắt đầu ứng dụng nó vào cuộc sống hàng ngày và họ thừa nhận đã thu đạt kết quả tích cực.

Phong thủy trong cộng đồng gốc châu Á ở phương Tây

Cộng đồng di dân người Hoa rõ ràng là tin tưởng có phần hơi quá đáng vào khoa Phong Thủy cổ truyền của họ, nhiều khi đến mức mê tín dị đoan. Người Việt mình thì ít nhiều cũng tin Phong Thủy khi mua hoặc xây nhà, nhưng không đến nỗi quá đáng như Hoa kiều. Nhiều người mình (gồm cả Việt kiều lớp trẻ) cũng có một số hiểu biết nhất định về Phong Thủy qua nghiên cứu sách báo. Ví như một kỹ sư trẻ tôi quen mua nhà ở California nhất định không chịu chọn kiểu nhà có cầu thang nhìn thẳng ra cửa chính hoặc đã xây sẵn hồ bơi ngay phía sau khối nhà…

Nay công ty địa ốc lớn nhất nước Mỹ là KB Home đã xây dựng “nhà phong thủy” để bán cho cộng đồng người di dân gốc Á và thuê cả nhân viên bán nhà rành về phong thủy tư vấn khách hàng. Năm nay họ khoe là đã bán được một nửa trong tổng số 32.000 căn nhà của họ cho khách hàng gốc châu Á.

Môn Phong Thủy nay đang được giảng dạy tại các khoa Châu Á học tại các đại học và dự kiến sẽ trình bày như chuyên đề khoa học ở các khoa liên quan đến khoa học môi trường và sinh thái, đến các bộ môn thiết kế như quy hoạch đô thị, kiến trúc, trang trí nội thất, cảnh quan…

Riêng tôi không nghĩ rằng Phong Thủy có thể giải quyết được tất cả mọi chuyện của cuộc sống. Tất cả những gì do con người tạo ra đều tương đối, Phong Thủy muốn thành công cần có sự hỗ trợ của những yếu tố khác. Tuy vậy, tôi cũng nghĩ khoa Phong Thủy cần được người mình quan niệm lại một cách nghiêm chỉnh hơn, không nên xem nó hoàn toàn như một khoa học huyền bí, còn đầy rẫy những điều mê tín dị đoan chưa đáng tin cậy, mà cần xem nó như môn “khoa học môi trường” mang tính cổ truyền đã từng tồn tại trong vốn văn hóa dân tộc. Như vậy thì nó cần được gìn giữ và phát huy theo hướng nhân văn và khoa học, nhắm phục vụ cuộc sống của nhân dân ta bước vào thời đại mới.

CHN MÀU SC CHO CA & CNG NHÀ

Có nhiều người, khi lựa chọn hướng và màu sắc cho cửa chính và cổng ngỏ đã nghĩ rằng điều này chẳng có gì quan trọng vì hướng của ngôi nhà mới là cần thiết nhất. Điều đó thật sai lầm vì trong phong thủy, mỗi chi tiết của ngôi nhà đều mang một yếu tố riêng của nó. Sự kết hợp hài hòa giữa hướng và màu sắc nơi cửa chính, cổng ngỏ sẽ mang lại nhiều may mắn và tốt lành cho ngôi nhà.

Đối với cửa chính và cổng ngỏ thuộc hướng Tây nam hoặc Đông bắc, thuộc hành thổ thì những gam màu như xanh lục, xanh da trời thuộc hành mộc và hành thủy như màu đen, màu xám, màu xanh biển sẫm là không phù hợp, vì mộc thổ xung khắc, thổ thủy xung khắc.

Vì vậy màu xanh lục, xanh da trời hay màu đen, xám, xanh nước biển sẫm là màu bạn cần nên tránh. Màu phù hợp là hồng, cam, tím thuộc hành hỏa sinh cho hành thổ của hướng. Hoặc màu vàng, màu nâu thuộc hành thổ, làm vượng cho hành thổ của hướng.

Đối với cửa chính hoặc cổng ngỏ nằm ở hướng Đông hoặc Đông nam, thuộc hành mộc, bạn cần tránh sơn màu trắng, bạc, kem thuộc hành kim. Cũng không sử dụng cửa làm bằng kim loại, thuộc hành kim bởi kim khắc mộc.

Đồng thời, bạn cũng cần tránh sơn cửa chính, cổng ngỏ màu đỏ, hồng, cam, tím thuộc hành hỏa, bởi hỏa sẽ làm suy kiệt năng lượng của hành mộc ở hướng Đông hoặc Đông nam. Chọn cửa gỗ, sơn màu xanh lục, xanh da trời, hoặc màu xám, màu xanh biển sẫm.
Hướng Tây và Tây bắc thuộc hành kim vì vậy màu đỏ, hồng, cam, tím thuộc hành hỏa là màu bạn cần nên tránh, vì hỏa khắc kim. Tốt nhất là sử dụng màu vàng, nâu thuộc hành thổ sinh cho hành kim của hướng. Hoặc màu trắng, bạc, kem thuộc hành kim làm vượng cho hành kim của hướng.

Màu xanh biển sẫm, xám, đen thuộc hành thủy rất phù hợp với cửa chính, cổng ngỏ ở hướng Bắc vì hướng Bắc thuộc hành thủy, làm vượng cho hành thủy của hướng. Hoặc màu trắng, bạc, kem thuộc hành kim sinh cho hành thủy của hướng.

Tuy nhiên màu xanh nước biển sẫm, xám, đen thuộc hành thủy sẽ rất tối kỵ khi bạn dùng nó cho cửa chính và cổng ngỏ hướng Nam thuộc hành hỏa, vì thủy khắc hỏa. Màu phù hợp cho hướng Nam là xanh lục, xanh da trời thuộc hành mộc, sinh cho hành hỏa hướng Nam. Hoặc màu đỏ, hồng, cam, tím thuộc hành hỏa, làm vượng cho hành hỏa hướng Nam.

Tất nhiên màu của cửa chính hoặc cổng ngỏ hoặc bờ tường phía trước của ngôi nhà, phù hợp sinh vượng với từng hướng như trên, trong điều kiện hướng đó là hướng tốt theo tuổi của bạn.

PHỐI TRÍ NHÀ CỬA THEO PHONG THỦY

Những địa điểm cần được chú-ý :

Mặc dù họa-đồ Bát Quái có những tám Cung (hay Quẻ) tương ứng với những vị trí của một căn nhà. Nhưng theo phép Phong Thủy, nơi chốn đáng lưu ý là lối đi, bếp núc và phòng ngủ.

1/- Lối đi : Cửa ra vào của căn nhà phải dễ nhận diện, ban đêm phải sáng sủa (đèn lỡ bị cháy bóng phải lập tức được thay ngay). Đây chính là chỗ tiếp giáp giữa một đơn vị gia-cư với đường phố (giữa phần tư-nhân với công cộng). Vì thế cho nên ‘lối đi’ cần phải bằng phẳng, rộng rãi, tạo nên sự thoải mái cho người sử dụng, khách cũng như gia chủ. Cửa nẻo không những phải vững vàng, khung và cửa được sơn trang nhã, cộng thêm nắm đấm và bản lề cùng với ổ khóa chắc chắn. Tất cả những chi tiết được đề cập đến, có mục đích giúp chủ nhà tiếp nhận được tối đa “Sinh” Khí hay “Vượng” Khí hội nhập gia cư.

2/- Phòng ngủ : Phòng này dùng nghỉ ngơi để bù đắp năng lực cho tinh thần cũng như thể xác sau một ngày hoạt động. Nhờ thế gia chủ được phục hồi và quân bình sinh-lực cho ngày kế tiếp trong đời sống. Phòng ngủ do đó cần phải được rộng rãi, sắp xếp sao cho gọn ghẽ, thoải mái. Càng ít bầy biện càng tốt. Mỗi người đều cần một khoảng không gian để hít thở.

Theo phương thức thiết kế Kiến trúc (By-law) diện tích tối thiểu cho mỗi phòng ngủ là 9ft x 9ft, nếu là phòng hình vuông (tức 2.7m x 2.7m). Xin nhớ đây không phải là ‘phòng khách’ nơi trưng diện những đồ đạc đắt tiền để cho khách khứa đến ngắm. (Tất nhiên diện tích lớn hơn sẽ tạo sự thoải mái cho người dùng)

3/- Bếp : Là nơi nói lên sự no đủ hay thiếu thốn của gia cư. Nhìn vào phòng bếp, là có thể hiểu được phần nào nếp sống, lối dinh dưỡng cũng như sự thịnh vượng trong căn nhà. Theo đường lối Phong Thủy, phòng bếp cần được mở rộng (open), chứ không bưng bít trong 4 bức tường. Người đứng nấu ăn có thể quan sát chung quanh (chứ không chỉ có một mình phòng bếp). Trường hợp nếu là phòng kín, phép Phong Thủy sẽ sửa chữa bằng cách treo thêm tấm gương trên tường phía sau bếp lò (oven), hay trên mặt tường chung quanh kệ bếp (counter top). Gương còn được dùng treo trong phòng ăn, nhằm phản chiếu thức ăn; mâm cơm được hiện ra gấp đôi trong gương sẽ mang theo ấn tượng “dư thừa”, thực phẩm phong phú cho chủ nhà.

Sửa chữa cho phù hợp với Phong Thủy

Một trong những mục-đích của phép Phong Thủy đem áp dụng vào nhà cửa, là sự sửa đổi (change) những chỗ thiết trí (placement) không thích hợp và “nâng cấp” (upgrading) những yếu điểm, hay vị-trí thiếu xót không có trong bản-đồ Bát Quái.

Những “vật” hỗ trợ cho việc sửa đổi phải kể sau đây :

– Ánh sáng phô bầy cảnh vật, giúp nhãn quan nhận diện cảnh vật một cách trực tiếp, phản chiếu hay khúc xạ, thí dụ : gương soi (sự phản chiếu của gương phẳng), cục thuỷ tinh được cấu tạo bởi nhiều mặt phẳng (tạo nên sự khúc xạ ánh sáng).

Vật dụng này giúp thâu hút những nguồn năng lực thích hợp (Sinh Khí) bằng cách trực tiếp hay gián tiếp. Ngược lại nếu bị bất lợi, thì lập tức bị phản hồi, khúc xạ qua hướng khác.

– Gương phẳng có nhiều ưu điểm khi được áp dụng vào phép Phong Thủy. Phản ảnh của gương làm cho những nơi chật hẹp, bưng bít trở nên sâu rộng, khoảng khoát. Gương phẳng còn được treo tường, dùng để bù đắp những phần thiếu thốn trong căn nhà (so với bản đồ Bát Quái). 

– Những vật dụng tạo nên nhiệt năng như bếp đun, lò sưởi, T.V., computer… được đặt để tại những vị trí cần thiết nhằm tăng cường độ hiện diện cho nơi bị khiếm khuyết.
– Nước : chảy từ trong vòi nước hay những thác nước nhân tạo (để làm cảnh) được mang biểu tượng cho sự luân lưu thuận lợi về tài chánh và cơ hội. Nếu được đặt vào cung “công việc”, sẽ chủ sự khuếch trương hệ-thống giao dịch làm ăn. Với cung chỉ sự “giầu sang” sẽ làm tăng sự thịnh vượng cho gia-chủ.

Nguyên tắc căn bản về mầu sắc, có thể dùng mầu sắc đơn thuần hay phối hợp, giúp sự luôn lưu (flow) của Khí thêm thuận lợi.

– Đá (thuộc Hành Kim) hay những vật nặng dùng để trang trí, mang biểu tượng vững chãi, ổn định. Một bức tượng được đặt đúng chỗ: cửa ra vào, cung “hôn nhân”, hay “giầu sang” sẽ tăng sự hỗ trợ của thần linh (phù hợp tôn giáo của người chủ nhà) hay gia tăng sinh Khí, vượng Khí cho gia-chủ.

– Những vật dùng để trang trí khác, cần phải kể đến là bể cá, cây kiểng (bonsai), núi non bộ, hay các loại cây hoặc bông dùng trưng trong nhà, đều có công dụng làm gia tăng cường độ hội tụ của “Khí”.

Theo sự tin tưởng của người Trung-Hoa, các loại cá nhất là cá vàng, cá chép đỏ được tượng trưng cho sự thịnh vượng. Cho nên ta thấy hầu hết các cơ sở thương mại, nhất là tại cửa chính của các tiệm ăn bao giờ cũng có một bể cá vàng hay cá chép đỏ. Đấy chính là vật trưng bầy mang đầy đủ Ngũ Hành (5 Hành) gồm có : Mộc (cây hay rong biển), Hỏa (cá mầu vàng hay đỏ), Thổ (cát), Kim (đá), Thủy (nước).

Các cách ứng-dụng của Phép Phong Thủy

Sau phần sơ tóm về Âm Dương, Ngũ Hành và mô tả đơn giản về “bản đồ” Bát Quái, tiếp theo là phần ứng dụng địa-bàn trong cách sắp đặt nhà cửa.

Trước hết phải xác định cửa “Khẩu” cho căn nhà, thường là cửa chính. Từ đó được tin rằng sinh “Khí” sẽ thổi vào như một luồng năng lực, tạo ảnh hưởng cho gia chủ. Đôi khi những người ở nhà dùng lối khác để ra vào, thí dụ dùng cửa phụ hay nhà để xe thường xuyên hơn là cửa chính. Nhưng phép Phong Thủy vẫn chỉ căn cứ vào cửa chính để an vị Bát Quái.

Bát quái là vật dụng có hình dạng đối xứng, khi đem áp dụng sẽ rất thích hợp với những căn nhà có hình thể đối xứng tương tự như hình vuông, hình chữ nhật. Những ngôi nhà có hình dáng khác như hình chữ “L”, chữ “T” hoặc trong dạng khác thường; việc an vị địa bàn để quan sát phải đòi hỏi sự cẩn thận. Với hình dạng loại nhà được đề cập ở phần sau, thường có sự thiếu hụt trong số những ô vuông của bản đồ Bát Quái khi phải đem so sánh với bình đồ của căn nhà. Do đó cần phải có những giải đoán, thay đổi khi căn cứ vào địa bàn Phong Thủy. Hơn thế nữa theo phép này, việc phối trí, bầy biện trong nhà cũng còn tùy thuộc vào tuổi tác, và “hành” của Bản Mệnh gia-chủ (liên quan đến mục tướng số tử-vi). 

Điều tốt hơn hết, trước khi thiết kế họa-đồ một căn nhà mới, đã có sự theo dõi của một thầy Phong Thủy. Nhờ thế mà căn nhà khi xây xong sẽ mang đầy đủ những yếu tố thuận lợi, phù hợp với Bát Quái theo đúng sự tin tưởng của chủ nhà.

Với những căn nhà đã được xây sẵn, trước khi dọn vào, chủ nhà cũng có thể ứng dụng bản đồ Bát quái, nếu cần, để sửa đổi thêm cho phù hợp với Ngũ Hành, để tiếp nhận được luồng sinh Khí tương thuận cho gia cư.

Phương thức sửa đổi trong “cách” và “vật” đã được tận dụng, phải kể đến là ánh sáng (đèn), chuông hòa âm (chimes), vật lay động (kinetic objects), cây kiểng, bể cá, tranh vẽ, mầu sắc v..v..

Xin đơn cử sau đây vài thí-dụ về cách sửa chữa, phối trí theo Phong Thủy :

Thí dụ 1.- Sau khi so sánh bản đồ Bát Quái và cách sắp đặt phòng ốc trong căn nhà, nếu thấy ‘thiếu’ phòng nào (hay chỗ nào) so sánh với ô vuông chỉ sự “thịnh vượng” (wealth & prosperity); thì có nghĩa là nguồn tài chánh bị ‘thiếu hụt’.

Hay ô vuông đó lại trùng hợp với vị-trí của “phòng tắm” (gồm bồn rửa mặt, bể tắm và bồn cầu); sự kiện này được suy diễn là vấn đề tài chánh của gia chủ thường bị thất thoát (như nước thoát đi từ những vật dụng trong phòng tắm như vừa đề cập).

Trong cả hai trường hợp, phép Phong Thủy sửa chữa bằng cách trưng bầy thêm trong vị trí này bằng một tấm gương soi, một ngọn đèn, hoặc một bức tranh mầu hay chuông hòa âm (chimes). Nhờ vào một trong những vật trang hoàng vừa kể,  “Khí” sẽ được tích cực tác động ở địa điểm đó để “hàn gắn” vào cái sự thiếu sót, như đã nêu ra ở phần trên của thí-dụ.

Đặc biệt trong phòng tắm, một điểm nữa đáng lưu ý là những vật dụng liên hệ, khi dùng xong (hay ngay cả lúc không xử dụng) phải được đậy lại kỹ càng; tránh sự thất thoát (leaking) có thể xẩy ra. Thí dụ như vặn chặt vòi nước, đậy nắp bồn cầu..

Thí dụ 2.- Phần lớn những nhà xây từ mấy chục năm trước theo lối cũ, thường có hình thể đối xứng (symmetrical); cho nên dễ đem phối hợp với bản đồ Bát Quái.
Loại nhà mới được xây gần đây (contemporary style) không theo một qui ước nhất định, cho nên có nhiều hình dạng khác nhau; như hình chữ “L”, chữ “T” hay chữ “H” v..v.. Việc áp dụng bản đồ Bát Quái vì thế cần đòi hỏi sự cẩn thận. Hơn nữa ga-ra xe được xây liền với nhà chính (attached garage) cùng nằm chung dưới một mái nhà. Số xe đậu thông thường là hai xe, có nhà được làm rộng thêm cho đủ 3 xe hơi. Kết quả diện tích nhà để xe hơi đã choáng mất hết chỗ nơi mặt tiền của căn nhà. Do đó cửa chính, cửa “khẩu”, chỗ tiếp nhận “khí” vào đơn vị gia cư đã bị lấn áp, che khuất, giống như bị bỏ quên.

Hơn nữa để thuận tiện, gia chủ đã lên xe và xuống xe từ ngay trong ga-ra; nên ít khi dùng cửa trước để ra vào. Thành ra lối đi từ nhà để xe được trở thành “cửa chính” cho gia chủ. Thực tế thì lối này được coi là phụ, cho nên trước khi bước vào nhà chính, mọi người phải đi qua nhà kho hay phòng giặt hoặc là một hành lang hẹp, thiếu ánh sáng; có khi lại còn chứa cả giầy dép và thùng giấy được vứt bừa bộn trên nền nhà.

Kết quả những người cư ngụ trong căn nhà này cảm thấy như bị một áp lực vô hình đè nặng lên thể xác. Cuộc sống tuy vẫn bình thường nhưng lúc nào cũng có cảm giác bận rộn, hấp tấp, thở không ra hơi.

Hai cách sửa đổi được đề nghị : 

1/- Tái tạo mức quan trọng và sự hiện hữu cho cửa chính của căn nhà. Đấy là chỗ “Khí” được tiếp nhận vào cho mỗi đơn vị gia cư. Sau đó luồng năng lực này được luân chuyển đến từng nơi, từng phòng trong căn nhà. Dùng mầu sơn dễ nhận diện (đồng thời hợp với “Hành” của bản mệnh gia chủ) để sơn cửa ra vào. Trồng thêm bông, cây kiểng, bắc giàn cho cây leo dọc theo lối đi từ bên ngoài vào nhà. Ngược lại sơn nhà xe (cửa và tường) mầu nhạt nhằm giảm cường độ của sự hiện diện.

2/- Dọn dẹp và trang hoàng lối đi từ trong ga-ra dẫn vào nhà chính. gia chủ có thể gắn thêm đèn ở trần nhà, treo một tấm gương soi hay bức tranh trên tường; cũng có thể kê thêm một chiếc ghế để mọi người ai cũng dùng nó để ngồi trong khi đi giầy hay cởi giầy. Sàn nhà chỗ hành lang có thể trải thảm. Tóm lại sự khang trang, gọn ghẽ tại nơi này khiến mỗi khi đi và về, mọi người cảm thấy thoải mái trong khung cảnh ấm cúng mời mọc; đấy chính là đã tạo nên được sự thuận tiện hòa nhập của Khí.

Huỳnh Thị Mỹ Nhàn post (tổng hợp)

CẬN TỬ NGHIỆP

CÓ TRƯỜNG HỢP CẬN TỬ

ĐƯỢC TÁI SINH HAY KHÔNG ?

Cận Tử Nghiệp = Hiện tượng con người lúc “hấp hốí – đang chết”. – Có người ra đi nhẹ nhàng thanh thản. Có người phát phiền phát nhạt, trăn trở, thật là khó thăng. Tôi đã quan sát vài trường hợp, cả 2 trường hợp như vậy.

– Luận thuyết nhà Phật cho là : Người ra đi nhẹ nhàng là hiện tượng như là báo trước kiếp sau gặp được “nghiệp lành”. Người ra đi khó khăn phải lãnh “nghiệp báo” nặng hơn kiếp này.

Đúng sai chưa rõ, vị nào am tường, xin khai triển thêm. (Uyển)

Cận tử – Ranh giới giữa sự sống và cái chết

Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó. Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết : Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp

Từ lâu, điều bí ẩn về sự tồn tại mối liên hệ giữa con người và những thế giới khác đã trở thành một đề tài hấp dẫn giới khoa học. Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi có hay không sự tồn tại ranh giới giữa sự sống và cái chết, hay điều gì sẽ xảy ra với ý thức của con người khi chết đi ? Các nhà khoa học đã phát hiện ra những câu chuyện thú vị về các trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng có tên gọi khoa học là “cận tử”.

Nghiên cứu về các trường hợp cận tử trong nhiều năm qua, các nhà khoa học tại Trường đại học Southampton (Anh) đã tập hợp được nhiều tài liệu giá trị phục vụ việc nghiên cứu khoa học về trạng thái cận tử.

Nghiên cứu hơn 1.500 bệnh nhân bị mắc bệnh tim trong vòng 3 năm, mục đích của các nhà khoa học ngoài việc tìm cách điều trị, còn nhằm tìm hiểu về hiện tượng gì sẽ xảy ra khi trong cơ thể con người không còn hoạt động của tim và não. Công trình nghiên cứu này đã thu hút được sự quan tâm của hàng loạt các trung tâm khác nhau tại Mỹ, bao gồm các trung tâm nghiên cứu thuộc các bệnh viện ở Cambridge, Birmingham và Swansea… Tại nơi điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh tim trong các trung tâm này, hàng loạt thiết bị máy ghi hình, máy chụp ảnh tự động được lắp đặt nhằm theo dõi những hiện tượng xảy ra đối với bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những bệnh nhân trải qua hiện tượng cận tử sẽ kể lại với các bác sĩ những sự việc mà họ đã nhìn thấy trong khi ý thức rời khỏi cơ thể họ (khi xảy ra những sự việc này, bệnh nhân hoàn toàn ở trong trạng thái hôn mê). Sau đó, những sự việc này được đem so sánh với những hình ảnh đã được ghi lại bằng các thiết bị ghi hình và máy chụp ảnh tự động.

Theo TS. Sam Parnia – người đứng đầu chương trình nghiên cứu về ý thức con người của Mỹ, thì việc bố trí một cuộc theo dõi và so sánh nêu trên sẽ giúp loại bỏ giả thuyết cho rằng cái chết chỉ là một hiện tượng đơn lẻ. Ông cho biết : Chết không phải là một khoảnh khắc đặc biệt, thay vào đó, nó là một quá trình bắt đầu từ khi tim ngừng đập, phổi ngừng hoạt động, hoạt động chức năng não dần bị suy giảm và ý thức rời khỏi cơ thể con người. Quá trình này nhìn từ khía cạnh sinh học, thì tương tự như khi người ta rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Nó có thể diễn ra và kết thúc trong vòng một vài giây cho tới một giờ hoặc hơn thế. Tuy nhiên, trong khi diễn ra cái chết, dưới sự can thiệp của các thiết bị y tế, quá trình này bị cản trở, nhịp tim được phục hồi lại bình thường và quá trình diễn ra cái chết kết thúc, bệnh nhân sống lại. Trong số hơn 1.500 bệnh nhân được theo dõi nêu trên, các bác sĩ cho biết có 10-20% số bệnh nhân từng trải qua hiện tượng tim bị ngừng đập và chết lâm sàng vẫn duy trì được nhận thức tỉnh táo. Trong khi chết lâm sàng, họ vẫn nhận biết được chi tiết các sự việc đã diễn ra xung quanh nơi giường bệnh của mình.

Heather Sloan – một y tá làm việc tại Southampton (Anh) cho biết : Cô từng bị rơi vào trạng thái cận tử bí ẩn khi bị một cơn sốc do chảy máu nội tạng. Điều cuối cùng mà cô nhớ được là việc cô được đưa vào bệnh viện. Sau đó, cô nhận thấy mình đang đứng cạnh giường của một bệnh nhân. Theo thói quen nghề nghiệp, Sloan bắt đầu tiến hành các thao tác kiểm tra nhiệt độ và huyết áp cho bệnh nhân. Song cô bất ngờ nhận ra rằng bệnh nhân đang nằm trên giường bệnh đó lại chính là cơ thể của mình.

Cô Heather cũng kể lại rằng : Khi ấy cô có cảm giác như mình đang từ từ bay lên không trung. Phía trên đầu là hàng trăm người đang đứng đợi cô, họ nói cho cô biết rằng cô đã bị mất đứa con nằm trong bụng mình. Y tá Heather bất chợt nhận ra rằng mình đang bị chết. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau đó, Heather đột ngột thoát khỏi tình trạng cận tử. Cô dường như quay trở lại với thể xác của chính mình và tỉnh lại.

Khi tỉnh lại, các y tá kể lại cho Heather biết là cô vừa bị mất đứa con chưa kịp chào đời, điều mà trên thực tế, cô đã biết trước trong lúc rơi vào trạng thái cận tử. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã giúp y tá Heather Sloan hiểu được cảm giác khi ý thức rời khỏi cơ thể cô là một hiện tượng khoa học. Việc người bệnh thường nhìn thấy mình bị rơi vào một đường hầm tối đen và vầng sáng ở cuối đường hầm hay gặp lại những người thân đã quá cố đôi khi chỉ là một ảo giác. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì đây vẫn còn là một vấn đề khó lý giải.

Trường hợp của Gary Williams – một bệnh nhân người Anh là một ví dụ khác về hiện tượng cận tử xảy ra trong bệnh viện. Gary kể lại rằng anh phải trải qua một ca phẫu thuật nguy hiểm vì mắc bệnh tim. Các bác sĩ đã bơm vào cơ thể anh một loại thuốc kháng sinh mà Gary vốn bị dị ứng với nó. Mặc dù trong suốt quá trình tiến hành phẫu thuật, bản thân Gary đã được gây mê và không biết gì, song ngay sau khi hiện tượng dị ứng với kháng sinh xảy ra, anh bỗng nhận thấy dường như anh đang lơ lửng và đang từ từ bay lên không trung, thoát khỏi cơ thể đang nằm bất động của mình. Bệnh nhân cũng cho biết, khi đó anh nhìn thấy chị gái mình đang ở bên cạnh giường bệnh và cầu xin các bác sĩ điều gì đó. Ngay sau đó Gary nhìn thấy các bác sĩ tiến hành tiêm cho mình. Anh bỗng nhiên có cảm giác như mình bắt đầu hạ thấp xuống và quay trở lại với cơ thể đang nằm yên bất động trên giường bệnh. Ngay sau khi tỉnh lại, Gary đã kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho các bác sĩ trực tiếp phẫu thuật cho anh, và các bác sĩ khẳng định rằng hiện tượng mà anh gặp phải chính là một dạng cận tử

Trong trường hợp của một bệnh nhân khác sống tại Pari (Pháp), một phụ nữ có tên là Mulholland kể lại rằng bà đã từng chết và cảm nhận thấy cái chết của mình khi tim ngừng đập. Bà thấy mình đang rời khỏi thân thể và từ từ bay lên trần nhà. Trong lúc ấy, mặc dù các bác sĩ khẳng định là cơ thể bệnh nhân đã được gây mê và không hề nhận biết được gì, song khi bà Mulholland kể lại cho họ nghe những gì bà đã nhìn thấy trong phòng phẫu thuật của mình và những gì các bác sĩ đã thao tác trong quá trình tiến hành phẫu thuật cho bà, thì họ vô cùng ngạc nhiên. Bà Mulholland cũng cho biết: Khi đang dần bay lên không trung, bà đã ra sức để với xuống, chỉ vì không muốn xa rời chồng và con gái, nên bà đã cố không để mình rời khỏi cơ thể đang nằm bên dưới.

Sau ca phẫu thuật, bà Mulholland đã tỉnh dậy và biết rằng mình đã rơi vào trạng thái cận tử. Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, bà không thể vượt qua căn bệnh hiểm nghèo và đã chết thực sự.

Trong một số trường hợp khác, tác giả của cuộc gặp gỡ và nói chuyện với nhiều trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng cận tử, y tá Shirley Learthart kể lại rằng: Trong suốt 10 năm phục vụ trong các bệnh viện của Anh, bà đã từng tiếp xúc, nói chuyện và nghe rất nhiều câu chuyện từ những bệnh nhân khác nhau bị rơi vào cận tử. Họ không quen biết nhau, song tất cả những câu chuyện mà họ kể về tình trạng họ từng trải qua thì đều có một nội dung khá tương tự nhau. Trong thời gian trải qua cận tử, họ hầu như đều bị rơi vào một đường hầm tối đen với duy nhất một nguồn ánh sáng chói chang ở phía cuối đường hầm. Họ đang tiến về phía ánh sáng ấy, thì bỗng nhiên, như bị kéo trở lại và sau đó thấy mình tỉnh lại.

Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó. Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết: Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp

Huỳnh Thị Mỹ Nhàn post (theo Minh Ngọc – tổng hợp SK & ĐS)

Đọc thêm :

MỘT CÂU CHUYỆN VỀ 

CẬN TỬ NGHIỆP

Một chuyện kể rằng, một hôm, tại một tu viện nọ vị sư trụ trì khẩn cấp truyền gọi các đệ tử đến rồi long trọng cử người đại đệ tử kế vị viện chủ, sau đó sư kể cho họ nghe câu chuyện bí mật trọng đại của mình.

Một lần, sư tham thiền nhập định tự biết mình sắp nhập diệt, nên hai ngày trước, nhân đêm trăng sáng đã đi dạo quanh tu viện để giả từ. Vô tình vị ấy đi lần xuống chân núi, rồi dừng chân bên bờ suối, ngắm bóng trăng in trên mặt nước. Thình lình có cô bé, tuổi chừng đôi tám, đi đến bên dòng suối, yên chí đó là chốn không người, nên cởi bỏ chiếc váy, thản nhiên xuống tắm.

Diễn tiến xảy ra thật bất ngờ, không cách gì ngăn chặn kịp, khiến vị sư phải giữ yên lặng, cho cô bé đỡ thẹn thùng. Sư nhắm mắt lại, nhưng không biết do oan nghiệp tự kiếp nào, trong một thoáng sư bỗng khởi niệm ý nghĩ hiếu kỳ là muốn nhìn cho rõ. Vọng niệm phát khởi từ sự tò mò tưởng chừng vô hại mà hậu quả nguy hiểm không phương cứu vãn.

Trở về hậu liêu tọa thiền nhập định, sư biết mình sẽ sớm lìa đời với cận tử nghiệp ác hại đeo đuổi khiến sư phải đọa sanh làm thân con rận, sống trong chiếc váy cô bé để thỏa mãn vọng niệm nhìn cho rõ trước kia.

Do vậy, sư khẩn thiết yêu cầu chúng đệ tử hoàn thành hai điều tâm nguyện giúp sư sớm được siêu thoát. Một là, sư ủy thác người đại đệ tử, chờ đợi đúng ba ngày sau khi sư mệnh chung, phải đích thân tìm đến nhà người tiều phu ngụ dưới chân núi mua chuộc chiếc váy cô bé đang mặc, đem về đặt bên cạnh thi thể tổ, luân phiên tụng Kinh Nghiệp báo bốn ngày, đoạn đem hỏa thiêu chung với nhục thân của sư. Hai là, sư dặn dò chôn bình hài cốt của sư trên lối đi duy nhất lên xuống núi, hầu mỗi khi dẫm chân lên đó, chúng đệ tử sẽ nhớ đến oan nghiệp của sư mà xa lìa vọng niệm sàm sỡ.

(Chuyện này dựa trên một sự kiện có thật xảy ra tại Huế. Tuy nhiên, người thuật chuyện cho rằng vị sư hoàn toàn không mất định lực và khởi lên tà niệm với cô gái. Đây chỉ là một phương tiện để sư giáo hóa cho chúng đệ tử về sự quan trọng của cận tử nghiệp và đặc biệt là sự nguy hiểm của nữ sắc đối với người tu hành.

Lý do là vì : ở đoạn cuối có nhắc đến tình tiết sư thiền định và biết được mình sẽ tái sinh làm con rận trong chiếc váy. Tình tiết này cho thấy, sư là người đã đắc đạo, đã đạt được năng lực Túc mệnh minh (biết được kiếp sau) thì hẳn nhiên sư đã diệt trừ hoàn toàn tham ái nên chuyện sư khởi lên “ước muốn nhìn thấy rõ” là hoàn toàn vô lý)

TUỔI GIÀ CẬN KỀ CẬN TỬ 

Để thấy trước cõi vô hình

Lần trước, khi nói chuyện về đề tài Tuổi Già, chúng tôi có hứa với quý vị rằng sẽ nói về giai đoạn tiếp theo tuổi già. Quý vị có thể hiểu rằng tôi sẽ bàn về cái chết vì rõ ràng sau già là chết. Nhưng tôi không dám nói về sự chết vì nhiều lý do : lý do đơn giản nhất là đã chết đâu, biết gì mà nói; lý do thứ nhì là việc ấy để dành cho các y sĩ hoặc các nhà tôn giáo; lý do thứ ba là thông thường người ta … “kiêng” nói về chết ! Vì thế tôi sẽ chỉ nói về cận tử nghiệp và từ đó nói về sự  chuẩn bị cho cái chết theo quan niệm của đạo Phật.

Thông thường, con người ai cũng ham sống sợ chết. Sợ chết có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là phải xa lìa những người thân yêu. Ngoài lý do tình cảm ấy, còn lý do kinh tế là mất mát hết những của cải mà mình đang có, càng có nhiều thì càng tiếc nhiều….
… Còn lý do nữa là vì chưa thực hiện hết những chương trình hoạt động của mình về mặt này hay mặt khác. Có lẽ lý do đáng kể là sợ bước vào một khung cảnh mới sau khi chết, một khung cảnh hết sức lạ mà chỉ có một mình đơn độc chới với giữa dòng. Vua Trần Thái Tông nói về chết mà không hề nhắc một chữ chết, chỉ nói đến một mình lão ngư ông cô đơn trong biển cả bão táp dữ dội, lúc tạnh thì thuyền đã chìm rồi.

Các vị tu hành dạy chúng ta rằng khi đã hiểu lý vô thường, đã biết chắc rằng sau sinh, lão, bệnh thì cái chết phải đến – chắc chắn là sẽ đến – thì nên coi chết là chuyện thường . Vì vậy nên các vị ấy khuyên nên suy nghĩ về cái chết mà chẳng run sợ. Khi đã hiểu rồi thì phải bình thản chuẩn bị cho cái chết.

Đạo Phật quan niệm rằng chết không phải là hết hoàn toàn và cũng quan niệm rằng không có một linh hồn bất biến trường tồn sau khi thể xác đã tan biến. Phật giáo dùng danh từ đoạn kiến để nói về ý kiến cho rằng chết là hết hẳn và dùng danh từ thường kiến để nói về ý kiến cho rằng có linh hồn vĩnh cửu. Thế thì đạo Phật nói gì ? Đạo Phật bảo rằng : xác thân tứ đại tan rã nhưng còn thần thức và thần thức vô hình ấy mang cái nghiệp vô hình đi vào một kiếp sống mới. Nếu gọi thần thức ấy là linh hồn, hương hồn, vong linh, hương linh … cũng không sao miễn rằng đừng nhận nó là trường tồn bất biến.

Thông thường, người ta hay dùng chữ “đầu thai” để chỉ việc “đi vào một kiếp sống mới”. Chữ này không đúng hẳn như chúng tôi sẽ nói sau đây. Phải dùng chữ “tái sinh” mới hợp.

Sau khi một người chết rồi thì sau 49 ngày (là tối đa), thần thức vô hình mang cái nghiệp vô hình tái sinh vào một trong sáu cảnh giới hay sáu thú gọi là sáu nẻo luân hồi : địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh (loài vật), a-tu-la (thần), người (nhân), trời (chư thiên). Sự tái sinh ấy được thực hiện qua một trong bốn cách sinh sau này : thấp sinh, thai sinh, noãn sinh và hóa sinh.

Thấp sinh là sinh nơi ẩm ướt (rắn, cá …). Noãn sinh là sinh do từ trứng mà nở ra (chim, gà, vịt …). Thai sinh là sinh từ bào thai (người, trâu, bò ngựa…); nói “đầu thai” là dùng trong trường hợp này. Hóa sinh là hóa ra theo sức mạnh của nghiệp, không như ba cách trên, đó là trường hợp bị đọa xuống cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ.

Còn bốn cảnh giới hay bốn thánh đạo dành cho các bậc tu hành thoát khỏi sinh tử luân hồi: thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật. Người phàm như chúng ta khó có hy vọng nhập vào dòng của bốn đường thánh đó. Thông thường, thần thức của người mới chết mang cái nghiệp của người ấy vào một kiếp sống mới. Kiếp này như thế nào, vào cảnh giới nào, sướng hay khổ, chính là do cái nghiệp ấy.

Phật tử chúng ta biết rõ rằng mỗi người có ba nghiệp : thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp , gọi chung là nghiệp. Mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động có định ý (chứ không phải vô tình) đều gây nên nghiệp, nói rõ ra đó là những nghiệp nhân vô hình tích lũy trong thần thức (a-lại-da) đợi đủ duyên thì sẽ trổ quả, tức là nghiệp quả. Theo luật nhân quả thì nhân lành sẽ cho quả lành, nhân ác sẽ cho quả ác, nhân trung hòa sẽ cho quả trung hòa. Tùy theo cái nghiệp ấy mà thần thức sẽ tái sinh vào cảnh giới tương ứng, thí dụ như khi sống mà giữ đúng năm giới thì được tái sinh làm người, khi sống mà tu thập thiện thì sẽ tái sinh vào cõi trời v v… Cái nghiệp mà chúng tôi vừa nói bao gồm luôn cái nghiệp của đời này và nghiệp của các kiếp trước. Sau khi tái sinh rồi thì lại có lúc phải chết.

Chúng tôi mới đọc một bài  nhan đề “Đời sống mong manh, chết là điều chắc chắn” trong đó tác giả là Hòa Thượng K. Sri Dhammananda viết rằng : “Theo Phật giáo, chết xảy ra trong bốn nguyên nhân sau đây :

1/ Mạng căn hay thọ mạng ấn định của chúng sinh mỗi loài đã hết. Cái chết này gọi là mạng triệt. 

2/ Năng lượng Nghiệp gây nên sự sanh của người chết đã kiệt. Cái chết này gọi là nghiệp dĩ. 

3/ Sự chấm dứt cùng một lúc của hai nguyên nhân trên. 

4/ Cuối cùng có thể do những hoàn cảnh bên ngoài như tai nạn, biến cố bất ngờ, hiện tượng thiên nhiên hay nghiệp quả từ kiếp trước không đề cập tại điều 2.

Có một sự tương đồng rất đúng để giải nghĩa bốn trường hợp trên đây. Nó tương tự như chiếc đèn dầu. Ánh sáng đèn dầu có thể tắt vì một trong những nguyên nhân:

1/ Bấc trong ngọn đèn cháy đã hết. Điều này giống như thời gian cho một kiếp đã hết. 

2/ Dầu đã cạn, giống như nghiệp lực đã hết. 

3/ Bấc hết và dầu cạn cùng một lúc. 

4/ Hậu quả của những yếu tố bên ngoài nhu gió thổi làm tắt đèn”.

Hòa thượng Rastrapal cho biết rằng mỗi người sắp chết có thể thấy một trong năm hình ảnh sau đây :

1/ thấy lửa đốt, như vậy là sẽ bị đọa xuống địa ngục. 

2/ thấy xung quanh mình tối tăm, đó là dấu hiệu bị đọa vào cảnh ngạ quỷ. 

3/ thấy rừng rú, súc vật, muông thú, đó là sắp bị đọa làm súc sinh. 

4/ thấy thân nhân đã khuất về đón, ấy là sẽ tái sinh làm người. 

5/ thấy cảnh cung điện trên cảnh trời, ấy là sắp vào cảnh giới của chư thiên.

Ông Hải Trần dịch bài ấy (The five visions of a dying man)  đã chú thích như sau : Tỳ-kheo Tịnh Đức có bình luận thêm rằng nếu người hấp hối thấy máu hay đâm chém hoặc hình ảnh có sắc thái giận dữ thì sẽ tái sinh trong cõi a-tu-la.

Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài này là cận tử nghiệp tức là cái nghiệp gây ra lúc sắp chết. Cận tử nghiệp rất mạnh, nó dắt thần thức đi tái sinh. Thí dụ như người sắp chết khởi cái tâm tham lam, sân hận … nói chung là khởi cái tâm ác thì sẽ tái sinh vào cảnh ác, cảnh khổ. Chúng ta tự hỏi: như vậy là không công bằng vì nếu người đó cả đời làm thiện mà nay chỉ vì một phút khởi tâm ác lúc lâm chung lại mất hết phước đức hay sao. Không, chúng ta cần biết thêm các chi tiết như sau: nếu bị sinh vào đường ác thì người ấy chỉ chịu một thời gian ngắn thôi, rồi sẽ chết đi để sinh vào cảnh tương ứng với tích lũy nghiệp tốt chứ không phải cận tử nghiệp xấu. Nếu như người sắp chết khởi tâm lành – tâm từ bi chẳng hạn – thì cận tử nghiệp dẫn dắt người đó vào cõi lành một thời gian nào đó rồi tích lũy nghiệp mới tác động sau.

Chúng ta đã được nghe kể nhiều trường hợp cận tử nghiệp làm hại người ta ra sao. Một vị thiền sư vào lúc cuối đời chăm lo vườn mía ở sau chùa. Năm ấy, mía rất tốt nên vị thiền sư suốt ngày quanh quẩn với mấy cây mía. Khi tịch, thiền sư tái sinh thành một con sâu trong đốt mía.

Một ông nhà giàu khi hấp hối quá tiếc tiền của nên thần thức bị lôi kéo luẩn quẩn quanh nhà, khi thấy con chó dưới bếp sắp đẻ thì tái sinh vào bụng chó rồi làm kiếp súc sinh.

Một ông vua công đức cũng khá, khi hấp hối có quan hầu đứng quạt bên cạnh. Chẳng may, ông quan lỡ tay đánh rơi cái quạt vào mặt nhà vua, ông vua nổi sân nên tái sinh vào đường ác.

Cận tử nghiệp đôi khi có ích như truyện sau đây : một người kia nghiệp cũng không tốt gì một hôm đi vào rừng bỗng gặp con hổ nhảy đến đuổi và vồ. Người ấy cuống quá chỉ hét lên được hai tiếng “Mô Phật” rồi chết. Do cái niệm về Phật ấy mà được tái sinh vào đường lành. (Nên nhớ rằng nghiệp lành cũ của người đó có giữ một vai trò nào đó, chứ không phải chỉ có hai chữ đó thôi !)

Tóm lại cái cận tử nghiệp mạnh đến nỗi nó có thể ngăn không cho người ta được tái sinh theo ước nguyện của mình khi tu tập. Nó có thể chuyển cái nghiệp lành thành ác và ngược lại nó có thể chuyển nghiệp ác thành lành. Tuy nhiên, chỉ một thời gian nào đó thôi rồi thì mọi sự lại tiến hành theo cách bình thường. Phật tử chúng ta biết rõ điều ấy nên ngay từ lúc này phải ra sức chuẩn bị. Chuẩn bị như thế nào ?

Một là hàng ngày tạo nghiệp lành, thanh tịnh hóa thân khẩu ý. Làm việc bố thí, hay cứu giúp người gặp nạn, người bệnh tật chẳng hạn … Không cần phải làm việc lớn nếu không đủ phương tiện, vấn đề là có làm và làm với tâm trong sạch, nói rõ ra là bố thí ba-la-mật : không biết của cho là nhiều hay ít, không biết người nhận là ai, không mong cầu phước báo … Làm như vậy để tích lũy thiện nghiệp.

Hai là sám hối tất cả những việc không tốt mà mình đã phạm từ khi biết suy nghĩ. Sám  hối để xóa bớt ác nghiệp. Vậy là một mặt tăng thiện nghiệp, một mặt giảm ác nghiệp. Tôi đã được nghe một vị xuất gia kể chuyện một nhà sư kia hấp hối quá lâu, nghe tụng kinh hoài ở bên cạnh mà vẫn không chết được, sau nhà sư ấy phải xin sám hối về một tội rất nặng mà nhà sư ấy không làm nhưng đã bao che cho thủ phạm thoát khỏi lưới pháp luật. Khi tụng kinh sám hối rồi, nhà sư ấy mới ra đi nổi. Vậy nên rút kinh nghiệm là không được để tội ở trong lòng. Rất có thể tội không ai biết mà chỉ một mình mình biết thôi cho nên người ta hay tránh nghĩ tới.

Ba là tha thứ cho tất cả những ai đã làm khổ mình về phương diện này hay phương diện khác. Thí dụ có một người kia vay nợ mình mà không trả. Người ấy sẽ phải trả nợ mình trong một kiếp sau. Thật tình, không ai thích “được trả nợ” trong kiếp sau vì cuộc sống lúc đó chẳng vui gì (ta vẫn nói “của nợ” để chỉ những cái xấu). Vì thế mình nên nguyện xóa nợ cho người ấy.

Bốn là gây một cái nếp ở trong tâm sao cho cận tử nghiệp hoàn toàn tốt lành. Muốn thế thì làm sao ? Phải chăm niệm Phật để cho lúc nào tâm mình cũng chỉ nhớ nghĩ về Phật, chỉ có những niệm về Phật chứ không có ác niệm, tà niệm, tạp niệm. Phải thuộc làu làu ít nhất một chú, thí dụ như chú Đại Bi, chú Bát nhã, để cho những chú ấy luôn luôn ở trong óc mình, lúc nào cũng sẵn sàng bật ra. Lúc hấp hối, những điều ấy giúp cho cận tử nghiệp được lành. Cộng thêm với thường nghiệp (tức là nghiệp hàng ngày) thiện nữa thì rất tốt.

Năm là đề phòng không cho những niệm xấu xẩy đến vào lúc hấp hối. Đó là những niệm về tham lam, sân hận, oán thù. Nói rõ ra, không tiếc nuối cái gì hết, tiền bạc, danh vọng, nhà cửa, ruộng vườn. Không giận ai, oán ai, trách ai cả. Xả hết, buông hết; tập buông xả ngay từ bây giờ chứ không đợi đến lúc lâm chung, vì đến lúc ấy không thể kịp được. Rất có thể lúc ấy bị bệnh tật hành, đau đớn, đâu có đủ tỉnh táo để tự nhủ mình rằng đừng tiếc, đừng hận ! Phải tập ngay từ bây giờ nó mới thành nếp được.

Tóm lại, người già nên chuẩn bị ngay từ lúc này cho cái thường nghiệp được lành, cho cái cận tử nghiệp được lành bằng mấy cách vừa nêu trên đây.

Chúng tôi đã trình bày xong những ý kiến của chúng tôi. Đã đến lúc xin được ngưng. Tuy nhiên, nhớ lại bài nói chuyện của một vị hòa thượng, chúng tôi xin thêm vài dòng :

Có người lo trước việc ma chay cho mình. Lẽ dĩ nhiên, lo xa là tốt. Lo hãng bảo hiểm, lo giao việc tổ chức hậu sự cho một hãng chuyên về việc tang để cho khi vào việc thì con cháu đỡ lúng túng. Có người bàn đến việc thiêu hay chôn, cái đó tùy ý mỗi người nhưng nên nói cho con cháu biết ý của mình và dặn rõ thêm là cứ tùy duyên, nghĩa là gặp cảnh nào thì thuận theo cảnh đó cho bớt phiền hà. Tránh cái việc bắt buộc con cháu phải thế này phải thế nọ, thí dụ như bắt buộc mang tro về tận quê xa xôi ! Còn việc ma chay thì nên hết sức đơn giản, theo đúng nghi thức Phật giáo. Đừng rềnh rang, đừng ăn uống trả nợ miệng. Nếu có chút tiền thì con cháu, bạn bè nên làm các việc phước rồi hồi hướng công đức cho người quá vãng.

Nguyễn Thị Thùy Lan post

CÂU CHUYỆN LUÂN HỐI

CẬU BÉ JAMES LEININGER

VÀ “HIỆN TƯỢNG TÁI SINH”

Cha của James là Bruce C. Leininger, một thạc sỹ chuyên ngành khoa học xã hội. Mẹ Andrea của cậu là một phụ nữ đa tài, giỏi về hội họa, múa, và văn học. Cô từng theo học ba lê tại New York và San Francisco . Sau khi tốt nghiệp trường trung học cô là một vũ công ba lê chuyên nghiệp suốt 10 năm trước khi quyết định nghỉ ngơi để chăm sóc gia đình.

Cậu bé James Leininger (Sinh ngày 10/4/1998) từ khi còn rất nhỏ đã không chơi với thứ gì khác ngoại trừ máy bay, cha mẹ cậu kể lại. Nhưng khi cậu bé lên 2 tuổi, những chiếc máy bay mà cậu yêu thích lại thường xuất hiện trong những cơn ác mộng lặp đi lặp lại tới 4 lần một tuần, làm James la hét và quẫy đạp dữ dội. Dường như bé đang chiến đấu với một cái gì đó hoặc là đang bị nhốt trong lồng, và cố gắng thoát ra ngoài. Cách duy nhất để bé thoát khỏi ác mộng là cha mẹ phải lay bé dậy. Trong giấc mơ, cậu bé thường la lớn : “Máy bay rơi bốc cháy, người đàn ông trẻ không thoát ra được”.

Andrea kể mẹ cô là người đầu tiên nghĩ rằng có thể James đang nhớ lại kiếp trước của mình. Ban đầu, Andrea nói, cô rất hoài nghi. Cha mẹ James cho biết cậu bé chỉ xem các chương trình truyền hình thiếu nhi mà thôi, còn họ thì không hề xem các phim tài liệu thời Thế chiến thứ II hay bàn luận gì về chiến tranh cả. Trong một cuốn băng video thu vào năm James 3 tuổi, người ta thấy cậu bé xem xét kỹ lưỡng một chiếc máy bay như thể viên phi công đang kiểm tra trước khi bay vậy.

Một lần khác, Andrea mua cho cậu bé một chiếc máy bay đồ chơi và chỉ cho cậu xem một thứ trông như một trái bom bên dưới. James đã chỉnh cô ngay, bảo rằng đó là một drop tank (thùng chứa xăng phụ phía dưới thân máy bay, có thể thả rơi xuống nếu cần thiết). “Tôi chưa từng nghe nói về drop tank. Tôi còn không biết đó là cái gì nữa”.

Rồi những cơn ác mộng của cậu bé ngày càng tệ hơn. Mẹ của Andrea bảo cô nên đến gặp tiến sỹ Carol Bowman, một bác sỹ chuyên khoa trong lĩnh vực nghiên cứu luân hồi tái sinh. Bowman còn là tác giả của cuốn sách “Tiền kiếp của những đứa trẻ : Ký ức tiền kiếp ảnh hưởng đến con bạn như thế nào”, viết sau khi chính con trai của bà gặp phải những cơn ác mộng và những hồi tưởng lạ lùng tương tự như thế.

Andrea đã gọi điện cho bà tiến sỹ ngay lập tức. Với sự hướng dẫn của Bowman, Andrea bắt đầu khuyến khích James chia sẻ những kí ức của bé ngay sau cơn ác mộng. Kết quả là, những cơn ác mộng đã giảm hẳn. James cũng diễn đạt rõ ràng hơn về quá khứ của mình, Andrea kể lại.

Tiến sỹ Bowman cho biết James đang ở một lứa tuổi có thể dễ nhớ lại về kiếp trước nhất. Bà nói : “Chúng chưa gặp những tác động văn hóa, chưa bị những kinh nghiệm sống của kiếp này lấn át, nên ký ức có thể trào dâng dễ dàng hơn… Việc trẻ nhỏ mơ về tiền kiếp không phải là chuyện hiếm gặp. Chúng ta thường chú ý tới ác mộng bởi vì chúng quấy phá giấc ngủ, và thường là những câu chuyện xúc động và rất thực, giống như trường hợp của James vậy. Ác mộng thường tái diễn luôn, khi đứa trẻ hồi tưởng lại những sự kiện đầy kịch tính ấy mãi. Ở một mức độ nào đó, chúng đang tìm cách giải quyết cho những ký ức nhiễu loạn ấy. Khi Andrea đã biết được sự việc mà James nhớ lại trong giấc mơ – là chiếc máy bay rơi – điều đó đã giúp cậu bé vượt qua được chấn thương tinh thần”.

Nhưng tác dụng phụ của điều đó – đúng như tiến sỹ Bowman đã dự đoán trước – những hồi ức của James về chiếc máy bay rơi và về người đàn ông đã không thể thoát ra, trở nên chi tiết hơn, thực tại hơn. James bắt đầu hồi tưởng lại trong khi tỉnh, một cách rõ ràng, về việc máy bay của cậu cất cánh khỏi mặt nước và quân Nhật đã bắn rơi nó như thế nào. James kể với cha là cậu từng lái một chiếc máy bay hiệu Corsair. Cậu bé còn nói cậu đã phục vụ trên chiếc hàng không mẫu hạm có tên là USS Natoma Bay trong cuộc chiến với Nhật Bản. Những chi tiết rõ ràng và kỳ lạ này đã buộc Bruce cha cậu, tiến hành một cuộc điều tra nghiên cứu với sự giúp đỡ của vợ để chứng minh tất cả chuyện này không phải là sự thật. Cả 2 vợ chồng hoài nghi và không muốn tin vào điều đó.

Tuy nhiên cuộc nghiên cứu kéo dài suốt gần 5 năm trời với hàng ngàn tài liệu, những cuộc phỏng vấn cá nhân và các nguồn tin của quân đội, Bruce và Andrea cuối cùng đã phải chắc chắn một điều : con trai họ có mối liên hệ kỳ lạ với một phi công Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II, có tên là James M. Huston, đã hy sinh vào năm 1945 trong khi đang làm nhiệm vụ, trên vùng trời Iwo Jima, Nhật Bản.

Những điều lạ lùng khi mới 20 tháng tuổi

Bruce và Andera kể rằng họ bắt đầu thấy những dấu hiệu lạ thường ngay từ khi James hơn 1 tuổi rưỡi. Andrea kể cậu bé cứ luôn luôn quấn quít bên những chiếc máy bay : Cậu chơi với máy bay đồ chơi suốt nhiều tiếng đồng hồ không biết chán và reo lên mỗi khi trông thấy một chiếc máy bay nào đó băng qua bầu trời.

Khi chuyển nhà từ Richardson, Texas, tới Lafayette vào tháng 2/2000, Bruce đã dẫn James tới Bảo tàng Máy bay Cavanaugh tại Addison, Texas. Cậu con trai ông như bị thôi miên bởi những chiếc máy bay tại Viện bảo tàng ấy. Chú bé cứ thơ thẩn quanh quẩn khu vực Thế chiến II của Bảo tàng. Khi ông cố gắng đưa James trở về nhà sau gần 3 tiếng ở đó, James gào khóc. Để thỏa mãn sự tò mò và vỗ về cậu, Bruce đã mua cho cậu một băng video trình diễn máy bay Thiên thần Xanh Hải quân (Navy Blue Angels) tại Bảo tàng. James đã xem nó nhiều đến nỗi cuộn băng gần như nát cả ra.

Vào tháng 4/2000, sau khi đã ổn định nơi ở mới tại Lafayette, những cơn ác mộng của James bắt đầu xuất hiện. Bruce và Andrea cho rằng ác mộng là do James chưa quen với ngôi nhà mới. Nhưng khi ác mộng diễn ra triền miên, thì cha mẹ cậu bé đã phải quan tâm đặc biệt đến con mình.

Trong lúc đó, thì những đồ dùng trong nhà đã phải hứng chịu bộ sưu tập máy bay của James. Cậu bé thả những chiếc máy bay đồ chơi của mình rơi đâm thẳng xuống mặt bàn và ghế. Andrea nhớ lại, vừa đưa tay chỉ vô số những vết trầy xước trên mặt bàn phòng khách. Chiếc bàn đã là bãi đáp cho máy bay của cậu bé. Máy bay đâm xuống mặt đất đã là một nỗi ám ảnh dai dẳng đối với James, đến nỗi khi bất kỳ ai đề cập đến bay lượn, thì James lập tức buột miệng kêu “Máy bay rơi cháy rồi”. Điều đó khiến Andrea rất lo lắng.

Từ tháng 7 cho tới tháng 9/2000, James đã bắt đầu kể với cha mẹ rằng chiếc máy bay trong những ác mộng ấy đã bị quân Nhật bắn rơi sau khi cất cánh từ một con tàu trên mặt biển. Khi James được hỏi liệu cậu có biết viên phi công ấy là ai không, cậu chỉ đáp gọn “James”.

Andrea hỏi James loại máy bay mà cậu đã lái trong những giấc mơ, và cậu nói nó là một chiếc “Corsair”. Vậy là, sau nhiều lần cố lấy thêm thông tin sau những ác mộng ấy, Bruce và Andrea đã nghe James nói “Natoma”. Bất chợt nảy ý thử tìm hiểu thực hư, Bruce đã tìm kiếm trên mạng với từ khóa “Natoma”. Kết quả là : có tồn tại một tàu sân bay mang tên USS Natoma Bay, đóng tại Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Bruce đã nghĩ rằng đó chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên thôi.

Vào tháng 10/2000, lại thêm một mảnh câu đố đã được làm sáng tỏ. Sau một cơn ác mộng khác, James đã nói với cha mẹ cái tên Jack Larsen, và cậu bảo đó là Larsen mà cùng bay với James. Tháng sau, James lại có thêm một chút thông tin nữa làm kinh hoàng người cha vốn luôn nghi ngờ. Bruce lướt xem một quyển sách tựa đề “Trận chiến giành Iwo Jima” của tác giả Derrick Wright mà ông vừa nhận được từ một Câu lạc bộ sách lịch sử. Trong khi Bruce đọc, James đã nhảy vào lòng bố để xem tranh vẽ. Khi chờ xem tranh thì James ngồi im nhìn vào trang sách. Thình lình, James chỉ vào một bức tranh của Iwo Jima gần Chichi Jima và nói, “Bố, đó là nơi máy bay của con bị bắn rơi”. Bruce choáng váng.

Vài tuần sau, với những cuộc tìm kiếm nhờ mạng Internet, Bruce đã tới một trang web đề cập đến Hội Natoma Bay. Ông đã liên lạc với Leo Pyatt, người về sau nhận mình đã từng là nhân viên điện đài trên một máy bay chiến đấu Avenger thuộc phi đội VC-81. Bruce không thể cầm lòng, và hỏi Pyatt liệu có chiếc phi cơ Corsair nào đã bay trên Vịnh Natoma không. Pyatt bảo không – chỉ có những chiếc máy bay Avenger và Wildcat thôi. Rồi Bruce hỏi Pyatt có người nào ở đó tên Jack Larsen không. Pyatt bảo ông biết Jack Larsen, nhưng không biết điều gì đã xảy ra với ông ta cả.

Sau khi nhận ra nhiều chi tiết từ đứa con trai 2 tuổi của mình không hiểu vì sao lại hiện thực như vậy, Bruce bị ám ảnh, ông cố gắng bác bỏ bởi vì muốn tin rằng đó chỉ là những “trùng hợp ngẫu nhiên”. Ông bắt đầu lần tìm được những hồ sơ của quân đội từ khắp nước Mỹ. Mục tiêu cuối cùng của ông là để chứng minh việc này không phải là sự thật. Do đó, ông phải tìm Jack Larsen.

Những mảnh câu đố ghép nối thành bức tranh hoàn chỉnh

Bruce không thể tìm được điều gì về Jack Larsen trong các hồ sơ quân đội sau khi con trai họ đề cập đến cái tên ấy. Ông đã tìm kiếm từ mọi danh sách mà ông có thể tìm được từ các Hồ sơ lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ về những người đã chết trong khi phục vụ cho USS Natoma Bay và tất cả các tàu sân bay khác trong suốt Thế chiến II. Có nhiều Larsen và Larson đã hy sinh, nhưng không có Larsen nào ở USS Natoma Bay. Ông đã tìm kiếm hơn một năm, nhưng không có kết quả. Ông suýt nữa đã bỏ cuộc.

Vấn đề là ở chỗ : Bruce đang tìm kiếm một người đã chết. Sau khi dự Cuộc sum họp Vịnh Natoma vào tháng 9/2002, Bruce mới khám phá ra rằng Jack Larsen vẫn còn sống khỏe mạnh tại Springdale, Ark. Sau khi nói chuyện với những cựu quân nhân của chiếc tàu sân bay USS Natoma Bay và gia đình họ, Bruce được biết là có 21 người đã tử trận khi phục vụ cho USS Natoma Bay.

Một trong số những người đó là trung úy James McCready Huston con, thuộc phi đội máy bay chiến đấu VC-81, bị bắn rơi khi mới 21 tuổi trong một nhiệm vụ tấn công đặc biệt vào tàu vận chuyển tại bến cảng Futami Ko ở Chichi Jima, theo như các báo cáo đã được giải mật. Huston đã tình nguyện tham gia vào nhiệm vụ này. Anh là phi công duy nhất của tàu USS Natoma Bay bị bắn rơi tại Chichi Jima.

Đôi vợ chồng nhà Leininger còn nhận ra rằng James đã ký tên mình là “James 3″ trên những bức vẽ chì màu về các máy bay trong Thế chiến II. Cậu thậm chí còn nói mình là “James 3″ – nhiều tháng trước cuộc đoàn tụ ấy – ngụ ý rằng James Huston đã theo tên cha là James, và James Leininger là James thứ 3.

Tới thời điểm đó, Bruce nói ông trở nên nản chí bởi vì nỗ lực chứng minh rằng cậu con trai mình không có tiền kiếp nào cả đang đi nhầm hướng. “Tất cả những bức vẽ của nó đều là máy bay đang chiến đấu, và nó biết chủng loại của những chiếc máy bay. Thậm chí nó còn vẽ cả lá cờ mặt trời đỏ của quân Nhật”, Bruce nói. “Nhưng sau khi nó vẽ “James 3″ lần đầu tiên, tôi mới hỏi nó tại sao lại thế. James nói “Con là thứ 3. Con là James thứ 3″. Nó đã tự gọi mình như thế khi chỉ mới có 3 tuổi. Tôi nghĩ nó đang vật lộn với chuyện gì đó chưa được giải quyết, nếu không thì đã không vẽ mãi những bức tranh ấy…”.

Kiên quyết tìm cho ra ngọn nguồn, Bruce đã tới thăm Larsen ở Akansas vào tháng 9 năm 2002 và hỏi ông về James Huston. Larsen không rõ điều gì đã xảy ra với Huston, nhưng ông chắc chắn là máy bay của Huston đã bị trúng đạn vào ngày 3/3/1945 – cái ngày mà Huston đã không trở về sau nhiệm vụ và vì vậy không rõ là Huston đã chết hay là bị quân địch bắt. Larsen đã là phi công yểm trợ cho Huston trong cái ngày tiến về Chichi Jima ấy.

Sau khi cố gắng kiểm tra các hồ sơ của phi đội VC-81, ông khám phá ra là Huston đã bị bắn rơi trong một chiếc máy bay chiến đấu hiệu FM2 Wildcat chứ không phải là một chiếc Corsair, và không có ai trong Cuộc sum họp đó đề cập gì tới những chiếc máy bay Corsair cất cánh từ USS Natoma Bay. Bruce nói điểm không chính xác đó đã giúp ông nuôi hy vọng rằng tất cả chuyện này chỉ là một chuỗi trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.

Hoài nghi tan biến

Để cho chắc, Bruce cố gắng tìm những thành viên của gia đình Huston. Vào tháng 2/2003 ông đã liên lạc với Anne Huston Baron, là chị của Huston, hiện đang sống tại Los Gatos, California. Qua nhiều cuộc điện đàm, nhà Leininger và bà Barron đã trở thành bạn, và bà đồng ý gửi cho Bruce những hình ảnh của người em trai khi trong quân ngũ. Những gói ảnh đã đến được tay Bruce vào tháng 2 và tháng 3/2003.

Trong một gói ảnh có một bức hình của Huston đang đứng trước một chiếc máy bay chiến đấu Corsair – đúng loại mà James nhắc đi nhắc lại mãi. Theo Bruce, các cuộc phỏng vấn với những thợ bảo dưỡng máy bay và các hồ sơ quân đội đã giải mật, thì trước khi Huston gia nhập USS Natoma Bay và VC-81, anh đã là thành viên của một phi đội ưu tú đặc biệt, là phi đội VF-301 Devil’s Disciples, từ tháng 1 tới tháng 8 năm 1944. Phi đội ưu tú này đã bay thử những chiếc Corsair dùng cho tàu sân bay, và chỉ có 20 phi công được tuyển chọn cho trách nhiệm này. Tuy nhiên, phi đội VF-301 đã bị giải tán sau 8 tháng và Huston được gửi về phi đội VC-81 vào mùng 8/10/1944.

Khi biết được việc này, Bruce nói, tất cả những hoài nghi trong ông đã tan biến. “Tôi không có câu trả lời nào cho việc này, nên tôi cũng không thể giải thích gì cả”, Bruce nói. “Tất cả những giấc mơ có thể là ngẫu nhiên, nhưng có những nhân tố kỳ dị mà bạn buộc phải tính đến. Sét có thể đánh trúng một lần, nhưng khi sét đánh 8, 9 lần thì bạn không thể bảo đó là ngẫu nhiên được”.

Bruce đã không kể cho bà Barron về câu chuyện siêu nhiên của đứa con trai cho đến tận tháng 10/2003. Khi cuối cùng ông kể với bà rằng cậu em trai của bà có thể là James, bà nói rằng bà đã choáng. Sau đó, vào ngày 15/10/2003, Bruce và Andrea nhận được một lá thư của bà Barron, cùng với một số đồ đạc cá nhân của Huston. Trong thư bà nói rằng không những là bà cảm thấy James gần gũi, mà còn thực sự tin câu chuyện này.

“Cậu bé không thể biết được những việc này – đơn giản là không thể – cho nên tôi tin cậu bé là một phần của em trai tôi”, bà Barron nói. Giờ đây bà gọi cậu bé 6 tuổi là James 3. Và đến lượt mình, cậu cũng xem người phụ nữ 86 tuổi ấy là chị của mình.

Khi Bruce khám phá thêm những thông tin về Huston, vợ chồng nhà Leininger đã tìm thấy những mối liên hệ kỳ lạ khác nữa giữa Huston và con trai của họ. James có 3 búp bê lính Mỹ và đặt tên chúng là Leon, Walter và Billie – đúng tên của 3 phi công bạn của Huston. Theo hồ sơ của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Trung úy Leon Stevens Conner, Thiếu úy Walter John Devlin và Thiếu úy Billie Rufus Peeler nằm trong số 21 người tử trận của USS Natoma Bay. Họ cùng là các thành viên của phi đội máy bay VC-81 với Huston. Bruce hỏi tại sao cậu lại đặt tên cho búp bê như vậy. Cậu bé trả lời : “Bởi vì họ đã chào đón con khi con đến thiên đường”.

Sau khi nghe James nói, Bruce chỉ còn biết rời khỏi phòng trong im lặng sững sờ.

James cũng giải thích cho cha mình rằng máy bay hiệu Corsair thường có lốp phẳng và có xu hướng luôn nghiêng sang trái như thế nào. Sau khi kiểm tra với các nhà sử học quân sự tại Viện bảo tàng Lone Star Flight ở Galveston, Texas, Hoa Kỳ, lời cậu nói đã được xác minh là đúng sự thật. Andrea nhớ lại lần đầu tiên khi cô làm món bánh mì thịt cho James ăn, James đã nói với cô rằng cậu đã không ăn món bánh mì thịt kể từ khi ở Natoma Bay . Vì vậy, Bruce và Andrea liên lạc với một số cựu chiến binh của tàu sân bay USS Natoma Bay, và họ biết được rằng bánh mì thịt là một món ăn chính của phi đoàn.

Ngày máy bay của James Huston bị bắn rơi

Sau khi phát hiện chi tiết về chiếc máy bay Corsair là thật, vẫn còn một điểm cần phải được xác minh : máy bay của Huston bị bắn rơi như thế nào. Có đúng là nó bị hỏa lực phòng không của quân Nhật bắn trúng động cơ, trên vùng trời Iwo Jima như lời James nói hay không ?

Tuy nhiên, không ai trong số các phi công yểm trợ của Huston, gồm Jack Larsen, Bob Greenwalt hoặc William Mathson Jr. thuộc phi đội VC-81 đã nhìn thấy máy bay của anh bị bắn rơi vào ngày 03 tháng 3 năm 1945.

Vào tháng 6 năm 2003, một cựu chiến binh khác đã giúp Bruce. Đó là Jack Durham, thành viên của phi đội ném bom và phóng ngư lôi VC-83 của tàu USS Sargent Bay mà đã bay song song với phi đội của Huston vào ngày định mệnh đó. Theo lời Durham, ông đã thấy máy bay của Huston bị bắn hạ bởi hỏa lực phòng không của Nhật. Hơn thế nữa, điều này cũng được xác nhận bởi các báo cáo của phi đội VC-83.

Sau khi nghiên cứu thêm nhiều hồ sơ của phi đội VC-83 và đọc các nhật ký chiến tranh của họ, Bruce đã liên lạc với các thành viên của phi đội VC-83 là Richardson, Bob Skelton và Ralph Clarbour. Tất cả họ đều khẳng định rằng không những máy bay của Huston bị bắn hạ, mà họ còn thấy nó bị trúng đạn ở động cơ, gây ra một tiếng nổ. Clarbour cho biết máy bay của ông đã bay ngay sau chiếc máy bay của James M. Huston Jr. trong cuộc đột kích gần Iwo Jima vào ngày 3/3/1945: “Tôi có thể nói rằng, anh ấy đã bị bắn ngay vào chính giữa động cơ”. Sau đó máy bay của Huston đâm xuống bến cảng Futami Ko, đúng nơi James đã chỉ ra trong cuốn sách lịch sử mà 2 cha con xem vào tháng 11 năm 2000.

Thế là mọi chi tiết các giấc mơ của James đều đã được xác minh là sự thật, và vợ chồng nhà Leininger đã toại nguyện. Thông qua nhiều nhân chứng, nhiều cuộc phỏng vấn cá nhân và các hồ sơ quân đội, Bruce và Andrea tin chắc con trai mình chính là James Huston. Không chỉ có họ, mà nhiều người từng là thân nhân và bạn bè của Huston khi tiếp xúc với James đều đi đến kết luận : James 3 là James Huston đầu thai trở lại.

James tiếp tục nhớ lại những kỷ niệm cuộc đời quá khứ của mình, thậm chí tới tận ngày hôm nay, nhưng tiến sỹ Bowman cho biết trẻ em thường bị mất khả năng nhớ những kỷ niệm về tiền kiếp kể từ năm lên 7.

Khi được hỏi tình cảm 2 vợ chồng dành cho đứa con trai có bị ảnh hưởng hay không khi biết nó có thể là một người khác, Bruce trả lời : “Không có gì thay đổi cả. Tôi không nhìn con mình và tự hỏi : “Có phải con trai mình đây không ? Vì đó là con trai của tôi”.

Mỹ Nhàn post (theo Minh Trí : dailymail.co.uk)