CẢNH GIÁC VỚI “THÔI MIÊN”

THÔI MIÊN LÀ GÌ ?

Không chỉ đột nhập vào nhà để trộm cắp, hiện giờ gần giáp Tết âm lịch, các băng nhóm sẽ lộng hành tiếp cận người đi đường để bắt chuyện khiến nạn nhân không còn tỉnh táo và ra tay đoạt tài sản. Đó là dùng “thuật thôi miên” để cướp đoạt hiện vật – hiện kim trên người các nạn  nhân.

Như vào tối 10/12/2010, chị Võ Thị H… (ngụ quận Bình Thạnh) đang chạy xe máy đến gần ngã tư Hàng Xanh, bỗng có một phụ nữ xin đi nhờ một đoạn. Ngồi sau xe, chị ta nói đủ thứ chuyện. Khi phụ nữ này xuống xe, một lát sau, chị H… mới tỉnh táo và phát hiện mình đã bị mất chiếc điện thoại di động trong túi quần.

Như ảo thuật

Trước đó, tối 7/12, anh Nguyễn Văn S… (ngụ quận Tân Bình) đi bộ trên đường Trường Sơn, khi đến gần công viên Hoàng Văn Thụ thì có hai phụ nữ tới hỏi đường. Họ hỏi đi hỏi lại rồi một người đập nhẹ vào vai anh S… Khi hai phụ nữ bỏ đi một đoạn, anh này mới tỉnh lại và phát hiện mình đã bị mất bóp tiền, trong đó có hơn 4 triệu đồng. Anh S.. cho biết sau khi bị đập tay lên vai, anh không nhớ gì nữa và đến giờ cũng không thể lý giải vì sao như vậy.

Còn anh Nguyễn Mạnh T…, bán hàng ở đường 154 ấp Cây Dầu, Q.9, cho biết : “Lợi dụng tôi đi lấy hàng, 2 phụ nữ đã vào ki-ốt hỏi mua card điện thoại khi chỉ có vợ tôi ở đó. Hai phụ nữ này nói chuyện rồi không biết làm sao mà sau đó, vợ tôi đã đưa hết tiền trong hộc bàn cho họ. Thấy tôi về, họ liền vội vã lên xe phóng đi. Một lúc sau, vợ tôi mới tỉnh lại”.

Những “nhà ảo thuật” này còn đóng vai người đi bán nhang, vé số, đồ dùng trong gia đình để tiếp cận nạn nhân. “Mới đây, 2 người đàn ông bán thuốc khử trùng đến mời tôi mua. Không biết bằng cách nào mà họ lấy được của tôi 1 triệu đồng và một điện thoại di động. Sau vụ đó, tôi không dám cho người lạ mặt vào nhà nữa”- chị Thủy, ngụ phường 22 – Q. Bình Thạnh, lo lắng.

Tình trạng nêu trên diễn ra trên nhiều tuyến đường, nhiều nhất là khu vực gần sân bay Tân Sơn Nhất, xung quanh công viên Hoàng Văn Thụ đều thuộc quận Tân Bình. Đây là địa điểm có nhiều đối tượng nghiện ngập, gái mại dâm thường xuyên tụ tập thâu đêm suốt sáng.

Mới đây, chị Hồ Thị M… ngụ Q.3, đi trên đường Hoàng Văn Thụ (Q. Tân Bình) đã bị một số người dùng chiêu đập nhẹ vào vai, sau đó phải ngoan ngoãn lột hết nữ trang, tiền, đồng hồ, điện thoại di động đưa cho chúng. “Những đối tượng này ra tay rất táo bạo, ngay cả nơi đông người. Không rõ những người này “thôi miên” thế nào mà tôi không còn tự chủ được nữa, đến khi choàng tỉnh thì họ đã cao chạy xa bay” – chị M… bức xúc nói.

Lấy rồi đòi chuộc lại

Các băng nhóm trộm cắp này thường tụ tập vào đêm khuya, khi đường phố vắng vẻ để dễ dàng ra tay. Chúng thường đóng vai người hỏi đường, xin đi nhờ xe, khi thấy “con mồi” có thể ra tay được thì bám theo. Thậm chí, chúng còn đóng vai người chạy xe ôm rồi chở khách đến một địa điểm vắng người để ra tay.

Anh Nguyễn Văn Đ… ở Q. Phú Nhuận, đã có lần bị một phụ nữ dùng “ảo thuật” lấy hết ví tiền, máy ảnh và giấy tờ tùy thân. Sau đó, khi anh Đ.. đang đi trên đường, có hai thanh niên đi xe máy bám theo và buộc anh đưa 500.000 đồng mới cho chuộc lại giấy tờ. Nhiều nạn nhân khác cũng bị các băng nhóm dàn cảnh lấy hết ví tiền, giấy tờ quan trọng rồi đòi họ chuộc lại với giá cao.

Trao đổi với chúng tôi, một cán bộ Đội 4 – Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội cho biết đã có nhiều nạn nhân đến phản ánh họ bị “thôi miên” và để mất tài sản. Tuy nhiên, có nhiều băng nhóm trộm cắp bị bắt nhưng chưa đối tượng nào khai nhận dùng thủ thuật này. “Không loại trừ đây là một “chiêu” mới mà các băng nhóm trộm cắp đang sử dụng. Hiện chúng tôi đang mở chuyên án, cho một số chiến sĩ trà trộn vào các khu vui chơi, siêu thị và trên các tuyến đường để truy bắt những đối tượng trên”.

Một hình thức ám thị tri thức

Theo thạc sĩ Nguyễn Ngọc Quang, Giám đốc Trung tâm Giám định Pháp y – Tâm thần, những kẻ đoạt tài sản như nêu trên đã sử dụng hình thức ám thị tri thức, dân gian gọi nôm na là “thôi miên”.

“Đây là một hiện tượng phân tâm, ám thị tri thức khiến bộ não người ở trong trạng thái mất ý thức, thay đổi ý thức, quên đi thực tại trong thời gian ngắn. Nạn nhân phải thực hiện hành vi theo sự điều khiển của người khác, sau đó trở lại bình thường” – ông Quang giải thích.

Theo ông Quang, ám thị tri thức là một thủ thuật rất phức tạp, không phải ai cũng thực hiện được. Nó không phụ thuộc vào yếu tố trình độ, học thức nhưng phải những người trong “nghề” mới làm được. “Ám thị tri thức đòi hỏi có một khoảng thời gian và không gian thích hợp thì mới phát huy được tác dụng. Thời gian dễ bị ám thị tri thức nhất là vào sáng sớm, trưa và chiều tối”.

T.Đồng (Theo Người Lao Động)

Nghệ thuật “Thôi miên”

Giáo sư Charcot nổi tiếng về những cuộc biểu diễn với những người phụ nữ bị kích động mạnh về cảm xúc trong những buổi giảng của mình ở bệnh viện Salpêtrière. Người đàn bà trong ảnh là bệnh nhân được ông quan tâm nhất. Nhà tâm thần học này ủng hộ việc sử dụng thôi miên như là một phương pháp để trị chứng rối loại cảm xúc.

Các tài liệu nói về “Thôi miên” : Đây là một quá trình mà trong đó các chức năng suy nghĩ có ý thức của đầu óc bị qua mặt và một dạng suy nghĩ cảm nhận có chọn lọc được thiết lập. Mặc dù có một số người trải qua kinh nghiệm về sự thay đổi trạng thái của nhận thức và dễ bị thuyết phục hơn, điều này không đúng cho tất cả mọi người. Thực ra, một số dấu hiệu của sự thôi miên và sự thay đổi khách quan có thể đạt được mà không cần sự nghỉ ngơi hay một quá trình thôi miên lâu dài, một điều làm tăng tính nghi ngờ và nhiều sự hiểu lầm về thôi miên và trạng thái bị thôi miên.

Lịch sử : Thôi miên có một lịch sử lâu đời, được biết đến từ những năm 1700 trở lại đây. Người đầu tiên phát hiện ra thôi miên là Franz Anton Mesmer, một bác sĩ người Áo  sống ở thế kỷ 18 đã sử dụng công năng của thôi miên để chữa bệnh. Điều này đã mang lại cho ông nhiều tai tiếng nhưng sau đó người ta vẫn sử dụng cách thôi miên của ông.

Thuật ngữ thôi miên (hypnosis) được đặt tên bởi bác sĩ người Xcôt-len (Scottish), James Braid, ông đã sử dụng từ ngủ trong tiếng Hy lạp để tạo nên thuật ngữ. Braid đã nghĩ có thể sử dụng thôi miên trong phẫu thuật, và ông đã đúng đến tận ngày nay nó vẫn được sử dụng bởi nhiều bác sĩ, nha sĩ, nhà tâm lý học. Từ khi nó xuất hiện, thôi miên và những người sử dụng nó là đối tượng cho nhiều nghiên cứu, sự chỉ trích, sự tò mò và huyền bí.

(theo Wikipedia)

NHÂN ĐIỆN

VÀ THÔI MIÊN

(Trích trong cuốn Almanach “Thế Giới Tâm Linh”

tác giả Nguyễn Việt, đã xuất bản)

Trong vu thuật còn có nhiều thuật thần bí, nhưng phát sinh ra là dùng để tà mị mọi người rất nhiều. Trong đó có thuật thôi miên hay còn gọi là thuật nhiếp hồn.

Người biết dùng thuật thôi miên phải có đôi mắt sáng hoặc có nhân điện cao, mới có thể khuất phục được người khác. Chúng ta thường thấy một vu sư trước khi thôi miên ai, đôi mắt họ mở to, không chớp, lòng đen trắng lóng lánh, vì rằng họ đang sử dụng đến nhân điện là dùng đôi mắt chiếu tia điện thẳng vào mắt người khác, cùng những lời thì thầm như đọc bùa chú, còn hai bàn tay cứ quơ qua lại trước mặt đối tượng.

Người bị thôi miên sẽ bị cuốn hút vào đôi mắt sáng ấy trong trạng thái mất phương hướng, tinh thần trống rỗng và dễ suy sụp mau lẹ sau những câu nghe như ru ngủ. Đấy là lúc người bị thôi miên mê sảng, mất phần hồn chỉ còn cái xác vô tri thức.

Như đã nói người sử dụng thôi miên phải có nhân điện cao ngoài đôi mắt sáng, muốn phá thôi miên ít nhất người bị thôi miên phải có tần số nhân điện lớn hơn hoặc bằng họ. Hoặc nếu không, là dòng điện Âm chọi lại với dòng điện Dương hay ngược lại sẽ có biến động

Tác giả Michael Halbert trong cuốn “Thần giao cách cảm” cho biết, muốn luyện môn thôi miên phải tập từ nhỏ, có chế độ ăn uống với nhiều chất đạm và những thực phẩm giàu chất kim loại như sắt, kẽm, mangan… vì những chất này sinh ra điện tích trong người mang tần số cao.

Ngoài ra hằng ngày phải ngồi Thiền bất định trong nhiều giờ, đôi mắt phải chăm chú nhìn vào tâm một vật thể không được chớp. Khổ luyện thành công là khi, dùng ánh mắt nhìn vào vật trong một giờ mà không chớp, từ nhân điện mới có thể thôi miên nhiếp hồn đối tượng. Thuật này còn có thể đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ khác, tức thực hiện được cả môn “thần giao cách cảm”, còn được gọi là người có “giác quan thứ sáu”.

Trong nhân điện có người tích lũy được điện Âm hay điện Dương; người có điện Dương chỉ nhiếp hồn được người có tần số điện Dương thấp hơn, nếu là nguồn điện Âm chỉ có thể nhiếp hồn được người có dòng nhân điện Âm thấp hơn. Khi điện Dương gặp người mang tính điện Âm cao, sẽ không thể thôi miên được, vì khi Âm Dưong gặp nhau sẽ sinh biến đổi, như dòng điện Âm Dương khi gặp nhau sinh ra cháy nổ.

Với nhân điện, chúng ta thường nghe nói đến những người có biệt tài, chân tay sờ nắn được dòng điện mà không bị giật, hay dùng thân nhiệt đưa 2 dòng điện Âm Dương cho cháy sáng bóng đèn v.v…

Trên đây là thuật dùng nhân điện để thôi miên nhiếp hồn, còn những người biết vu thuật thường biểu hiện trạng thái tự thôi miên và thôi miên người khác mà không qua tập luyện, như người “cầu Thần nhập xác” bằng hình thức như :

1/- Nhảy múa : vào thời đại vua chúa, nhảy múa là bộ phận không thể tách rời trong đời sống cung đình. Nên các thần linh hiển thánh đa số là các ông hoàng, bà chúa, các quan tướng từng sống trong môi trường ấy. Nên nhảy múa được coi là biểu hiện cho tính chất nguyên thủy, đưa các vị Thần Thánh dễ hòa nhập với xác hơn.

Đồng thời nhảy múa theo tiếng nhạc, lời ca sẽ đưa những ông bà đồng bước vào trạng thái như tự bị thôi miên, thần trí mê sảng, có ảo giác qua hiện tượng “thần giao cách cảm” hay “giác quan thứ sáu”, “tự kỷ ám thị”, từ đó não bộ bị hôn mê phấn kích làm dễ dàng bộc lộ sự liên kết giữa người và thần thánh.

2/- Che mặt : người lên đồng có khăn phủ diện, người đồng cốt có quạt hoặc hai tay che lấy mặt, người sa-man giáo khi đánh đồng thiếp thì nhắm nghiền đôi mắt, đầu cúi xuống chờ thần linh giáng vào. Khi thần linh nhập xác, bấy giờ mọi người mới được nhìn rõ mặt.

Đây là phương pháp bước vào thế giới tâm linh, che mặt dùng để tập trung tư tưởng, định thần, không bị phân tâm trước những ánh mắt tò mò của mọi người đang nhìn. Đây cũng thuộc trạng thái để tự thôi miên

Nhảy múa và che mặt là hai điểm chính yếu, khi các ông bà đồng tiến hành việc “cầu Thần nhập xác”, ngoài ra còn có những hình thức biểu hiện khác như :

– Hun khói : tức dùng lửa, dùng nhang đang cháy (thường cả bó nhang) cho có khói bốc to; các dân tộc ít người (như thầy mo trên cao nguyên) dùng cành cây, rễ cây, lá cây chưa khô hẳn, đốt cho có khói thật nhiều. Đây chỉ là tục lệ, vì mọi người cho rằng các thần linh thường hay cuỡi mây bay xuống nhập vào làn khói để nhập xác.

Nhưng thật ra, việc hun khói là cách khiến cho tư tưởng không bị phân tán, do phải chăm chú cách tránh khói cay bay vào mắt, đôi mắt đôi khi phải nhắm lại là lúc họ đang tự thôi miên chính mình.

– Soi gương : trong buổi lễ lên đồng mời Thánh, trước mặt người đánh đồng thiếp đều đặt một cái gương soi. Đây có lẽ cũng theo tục lệ xưa, vì bây giờ gương soi có thể chỉ để nhìn lại cách trang phục có đúng với giá Thánh nhập hay không mà thôi.

Theo tục xưa, vị vu sư dùng gương để tiến hành đánh đồng thiếp (cầu Thần nhập xác), khi đó cho thân chủ ngồi đối diện trước một tấm gương, bên trái đặt 1 chén gạo có cắm 3 cây nhang. Khi cho thân chủ đi vào cõi âm, vị vu sư ra lệnh cho người này tập trung tinh thần đưa mắt nhìn vào tấm gương không chớp mắt, vị vu sư ở phía sau đốt bùa niệm chú rồi nhón tay lấy một ít gạo rải lên gáy thân chủ đang ngồi đồng.

Chỉ một lát người ngồi đồng liền thể hiện trạng thái cưỡi ngựa, chân dẫm chân đạp, miệng bắt đầu kể đường xuống âm phủ, tìm linh hồn người chết ra sao, và đang nói chuyện với linh hồn người chết như thế nào v.v… Đó là cách các vu sư làm người ngồi đồng tự thôi miên chính mình, đi vào trạng thái ảo giác…

BÙA CHÚ

Vào thời Pháp thuộc ở nước ta khám phá trên Thất Sơn có hàng loạt vụ giết người luyện phép, có rất nhiều cô gái còn đồng trinh bị giết chết không do bị hãm hiếp, mà vì các đạo sĩ dùng xác các cô để luyện bùa “thiên linh cái”. Sau năm 1975 chúng ta cũng phát hiện một pháp sư giết hại ba cô gái còn trinh trắng để luyện thứ bùa yêu này.

Vậy bùa “thiên linh cái” có thật sự đúng như lời đồn đại, chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương của nó vào người ai, tức thì người đó mất hết tri giác, nghe theo lời không chút phản kháng, như chứng bệnh “liệu” ?

Cũng theo lời đồn, bùa “thiên linh cái” ngoài công dụng bắt đối tượng phải nghe theo người sử dụng, thuộc vào dạng “bùa mê thuốc lú”, nó còn có tác dụng quấy rối tình dục để đối tượng dễ dàng sa ngã vào vòng tay người khác giới hơn nữa là “thôi miên” (theo cách không nói năng nhìn ngó như phần trên giải thích, mà chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương vào người đối tượng).

BÙA MÊ THUỐC LÚ

Theo các đạo sĩ chân chính cho biết, có nhiều pháp sư, thầy pháp học được môn bùa này từ các ông Lục thuộc phái thầy tụng (tức thầy cúng, thầy pháp). Những ông Lục này thường được mọi người tán tụng là cao tay ấn biết các thuật nhiếp hồn, gọi hồn người chết về trò chuyện, hay luyện ngải tìm trầm, luyện các loại “bùa Lỗ ban”, loại bùa mê thuốc lú, nhất là môn luyện “thiên linh cái”.

Để luyện nó cần có xác một cô gái còn đồng trinh, trên mộ trồng những cây chuối hột; khi cây chuối đơm hoa kết nải tức bắt đầu thu hoạch được thứ bùa yêu này. Tuy nhiên cách luyện bùa không chỉ dễ dàng như thế, bởi hằng đêm họ phải ra nằm ngủ dưới thân cây chuối, từ khi thân chuối chỉ cao hơn nửa thước cho đến khi thân cây đã trĩu nặng những buồng, những nải.

Trong thời gian nói trên, ngoài việc lập trang thờ nạn nhân, hằng ngày còn cúng cơm ba bữa, ban đêm ra ngủ bên thân chuối, ve vuốt thân cây như ve vuốt người vợ đầu gối tay ấp. Thời gian kéo dài đến lúc các trái chuối đã chín vàng.

Còn từ khi cây chuối trổ hoa, mỗi buổi sáng tinh mơ sương mai còn đọng trên các bông, các quày, họ phải hứng từng giọt sương cho vào lọ. Các trái chuối chín thì bóc lấy hột phơi khô. Nước sương mai hòa cùng dầu thơm để thành “bùa mê thuốc lú”, còn hột được tán nhỏ thành chất kích dục. Họ còn phải chôn dưới đất đủ 49 ngày để mang âm khí, để trên trang thờ đủ 100 ngày cho có dương khí, mỗi đêm cầu thần niệm chú, như thế mới linh ứng.

Còn trong thực tế rất ít người dám luyện “thiên linh cái”, thứ nhất bởi có thể gây ra án mạng nếu không may mắn tìm được xác nữ đồng trinh vừa qua đời, thứ hai ngày đêm phải sống găn bó với ma quỷ; còn giết người lấy xác có thể dẫn đến hậu quả hồn ma báo oán, làm cho tan cửa nát nhà, tù tội, thứ ba trong luyện bùa còn phải biết các câu thần chú để đọc hằng đêm v.v…

Nên nhiều người lấy danh nghĩa là bùa “thiên linh cái” hay những thứ bùa ngải khác, nhưng thực chất là dùng y thuật cổ truyền từ các sách thuốc, như lấy sừng lấy pín và tinh hoàn của dê đực, lấy nhủ hoa của dê cái, hay lấy xương cọp nấu thành cao, giết gấu lấy mật, lấy tay gấu làm thuốc tăng lực.

Vùng Tịnh Biên tỉnh An Giang, người dân còn đi bắt các loại côn trùng như bò cạp, rắn rết, nhền nhện hùm, tắc kè, bổ củi, sống trong mấy gò đất, bụi rậm quanh triền núi bán cho các đạo sĩ đưa về chế thành “bùa mê thuốc lú”.

Bò cạp trị được bệnh yếu sinh lý cho nam giới, bệnh nhức mỏi cho người già, còn nhền nhện hùm hay con rết trị được chứng thấp khớp, đau thần kinh tọa, với trẻ em nhền nhện trị được cả bệnh hen suyễn.

Thứ nào dùng làm thuốc trị bệnh họ ngâm với rượu, còn thứ chế biến “bùa mê thuốc lú”, tùy theo tính chất của mỗi con vật mà khai thác, như hải mả, đuôi bò cạp phơi khô tán nhuyễn cho uống nhằm tăng cường khả năng sinh lý, dùng valium tán với hoa phù dung để có “bùa mê” v.v…

BÁCH NHẬT NGẢI

Nói về ngải như loại “ngậm ngải tìm trầm”, theo tương truyền ở vùng phía nam Trung Bộ nước ta, có loại cây có tên gọi “bách nhật ngải” mọc tự nhiên trong rừng sâu, những người đi rừng cho rằng nếu ngậm được cây “bách nhật ngải” – cây ngải 100 ngày – đi rừng không còn sợ thú dữ, không sợ rừng thiêng nước độc, mắt trông thấu xuống lòng đất, có thể biết nơi nào có trầm hương hay kỳ nam.

Nhưng nếu để quá 100 ngày trong miệng mà không nhả, người sẽ mọc lông, mọc đuôi, thành cọp.

Thiên Việt (tổng hợp nhiều nguồn)

NHỮNG CHUYỆN “ĐẦU THAI” KỲ LẠ

CHUYỆN “ĐẦU THAI”

CÓ THẬT KHÔNG ?

Câu chuyện về cháu Nguyễn Phú Quyết Tiến (thị trấn Vụ Bản, Nam Định) đã nổi tiếng tới mức khắp cái thị trấn nhỏ này, từ già đến trẻ ai ai cũng có thể kể rành mạch, thông tường.

Cổng nhà anh Tân có 3 cháu nhỏ khoảng 9-10 tuổi đang nô đùa. Thấy tôi cất lời hỏi thăm, một cháu bé nhìn trắng trẻo, ngôi ngô nhất trong đám trẻ nhanh nhảu : “Cô hỏi bố cháu à ! Bố cháu đang ở trong nhà. Cô vào uống nước để cháu gọi bố”. Trong lúc chúng tôi đang ngờ ngợ đoán chừng cậu bé lúc nãy chính là bé Tiến “nổi tiếng” tiêu tốn không ít giấy mực của báo chí, thì anh Tân bước ra.

Câu chuyện “tái sinh” kỳ lạ

Anh Tân và chị Thuận cưới nhau được 6 năm mới sinh được cháu Nguyễn Phú Quyết Tiến (28/2/1992). Cháu Tiến lớn lên bụ bẫm, xinh xắn, trong sự yêu chiều hết mực của cả gia đình. Thế nhưng, đến năm cháu 5 tuổi, tai họa bất ngờ ập xuống.

Hôm đó vào buổi chiều tháng Giêng, anh Tân đang nằm đọc báo bỗng giật nảy mình chồm dậy, ruột gan như lửa đốt. Anh gọi vợ hỏi : “Thằng Tiến đâu, tìm nó về đi”. Chị Tân tìm gọi mãi nhưng không thấy Tiến đáp lại, ra phía bờ sông gần nhà chị chỉ nhìn thấy đôi dép cháu để trên bờ. Dưới dòng nước xanh ngắt nhìn thấu tận đáy, không thấy điều gì bất thường. Chị chạy về báo anh Tân. Bỏ tờ báo, anh hớt hải ra phía bờ sông thì nhìn thấy xác cháu Tiến nổi cách bờ 3m. “Tôi lao xuống dòng nước, ôm chặt lấy con nhấc lên bờ. Nhưng tất cả đã quá muộn !”, giọng anh lạc đi, không giấu vẻ kinh hoàng khi nhớ về cái ngày đau thương ấy.

Cháu Tiến mất đi khiến cả anh Tân, chị Thuận đều như kẻ mất hồn. Nỗi đau càng nhân lên gấp bội khi chị Thuận do vấn đề sức khỏe đã “không còn khả năng làm mẹ” nữa. Trong cơn vật vã, bà cụ hàng xóm mà sau này anh Tân mới biết là “bà mế” có sang vỗ vai anh và bảo : “Con yên tâm, sớm muộn gì nó cũng tìm về với con thôi !”. Khi ấy vì quá đau buồn anh cũng coi lời bà như lời an ủi của những người hàng xóm tốt bụng khác.

Năm 2006, cả hai vợ chồng vẫn chưa nguôi nỗi đau mất con thì nghe có người rỉ tai ở Xóm Cọi, xã Yên Phú, Lạc Sơn, cách nhà anh chị chừng 3km có cháu bé nghi là “con lộn” của Tiến. Cháu tên Bùi Lạc Bình (sinh ngày 6/10/2002) là con một gia đình người Mường nhưng ngay từ khi biết nói đã khăng khăng bảo mình là con người Kinh, nhà trên thị trấn Vụ Bản.

Vốn chưa bao giờ tin có chuyện “đầu thai” như kiếp luân hồi của nhà Phật, nhưng hai anh chị vẫn đánh bạo tìm đến nhà cháu bé nọ. Thật bất ngờ khi anh chị đến nơi cháu không hề thấy lạ mà gọi bố mẹ xưng con và quấn quít không rời. Anh chị ngỏ lời mời chị Dự, người sinh cháu Bình, tên bố mẹ “mới” đặt, đến nhà chơi. Nghe thấy thế, Bình vui lắm, trèo phắt lên xe hào hứng như đứa trẻ lâu ngày được về nhà.

Vừa vào nhà, Bình đã chạy quanh nhà tìm đồ chơi mà Tiến trước kia thích. Cháu còn tự nhiên vào giường anh Tân, chị Thuận nằm lên đó rồi bi bô : “Ngày xưa con thường ngủ chỗ này nhỉ bố nhỉ ?”. “Ngay khi nhìn thấy cháu, nghe cháu nói, và thấy những hàng động của cháu vợ chồng tôi như chết đứng. Tất cả đều giống hệt như cháu Tiến thủa trước, có khác chỉ là khác về hình hài mà thôi”, anh Tân kể.

Kể từ ngày gặp cháu Bình thì ăn ngủ chẳng yên bởi giữa hai người với đứa trẻ xa lạ dường như có mối thâm tình gì đó day dứt lắm. Nhớ cháu, thương cháu nhưng lại sợ người ngoài bảo muốn cướp con. Vợ chồng anh hiếm muộn, nhưng vợ chồng chị Dự – anh Hoan cũng chỉ có duy nhất cháu Bình là con.

Về phần chị Dự, sau lần đến chơi nhà ấy, cháu Bình cứ nằng nặc đòi về “nhà bố mẹ”. Thấy con nhèo nhẹo khóc, chị Dự cũng không biết phải làm sao. Đưa cháu về nhà anh Tân, chị Thuận chơi thì sợ người ta dị nghị là “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Nhưng sau một lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa” : “Mẹ không cho con về, con lại chết lần nữa !”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm nữa.

“Thấy cháu tha thiết quá, sau bao đắn đo chúng tôi dè dặt đề nghị gia đình anh Hoan, chị Dự cho cháu về ở với chúng tôi. Thật bất ngờ là cả vợ chồng anh chị và bà nội cháu đều gật đầu đồng ý. Chính bà nội cháu cũng bảo rằng : Ngay từ lúc thằng bé biết nói tôi đã biết nó không phải người Mường rồi”, anh Tân nói.

Theo lời anh Tân, kể từ ngày cháu về với anh chị, hết lần này đến lần khác hai người “thử” cháu. Thậm chí, nhiều người hàng xóm cũng sang nhà để “hỏi chuyện ngày xưa”. Tất cả cháu đều trả lời vanh vách. Từ tên bác hàng xóm, đến cô giáo mẫu giáo rồi bạn bè thân của cháu, cháu đều nhớ tên. Đường về nhà, hay những câu chuyện nhỏ nhặt như ngày xưa bà nội cho cháu uống bia ở đầu làng cháu cũng nhắc lại, ngay cả việc, “cháu đã từng chết như thế nào, bị ngã xuống nước ra sao”…

“Dù trước đó, chưa một lần tin có chuyện “hoang đường” như thế, nhưng đến lúc ấy cả vợ chồng tôi đều hoàn toàn tin rằng Bình chính là cháu Tiến, con chúng tôi 10 năm về trước”, anh Tân kể.

Từ ngày về ở với anh chị Tân, Thuận, Bình nằng nặc đòi gọi tên là Tiến, ngay cả tên đệm cháu cũng đòi giữ.

“Hãy coi con cháu những đứa trẻ bình thường”

Bé Tiến bây giờ đã bước sang tuổi thứ 9. Cháu trắng trẻo, khôi ngô, ngoan và lễ phép nhưng cũng hiếu động hệt như những đứa trẻ cùng trang lứa khác. Khi chúng tôi ngồi nghe anh Tân kể chuyện thì Tiến không ngừng nô đùa trước sân, chọc tổ ong khiến anh Tân mấy bận phải đứng dậy nạt cháu.

Câu chuyện dang dở thì chị Thuận mẹ cháu về, thoáng qua những dè dặt ban đầu, nhắc đến con chị cười nói xởi lởi lắm. Lần dở từng trang sách của cháu, đôi mắt chị vẫn ánh lên niềm hạnh phúc vô hạn : “Cháu đi học mấy năm liền đều đạt học sinh giỏi…”. Rồi chuyện trường, chuyện lớp, chuyện nghịch ngợm của trẻ nhỏ làm bầu không khí rộn ràng hẳn lên.

Mãi chuyện đã quá trưa tự lúc nào, chị Thuận giữ chúng tôi ở lại ăn cơm, chúng tôi cũng vui vẻ đồng ý. Khi mâm cơm đã dọn tinh tươm, Tiến vẫn đứng ngoài sân mê mải đọc cuốn Hương Hiếu Hạnh của nhà sư Thích Tâm Hiệp viết về trường hợp “đầu thai” của Tiến. Nghe anh Tân bảo, nhà sư sau khi nghe câu chuyện của Tiến đã viết một bài in trong tập sách Hương Hiếu Hạnh và tặng anh chị một cuốn. Từ lúc rõ mặt chữ, Tiến lúc nào cũng cầm cuốn sách và đọc đi đọc lại câu chuyện kể về mình. Những câu chuyện ngày xưa cháu cũng dần quên.

Tôi đứng dậy gọi Tiến vào ăn cơm thì bất chợt cậu bé nắm tay tôi lắc lắc, chỉ ra phía con sông sau nhà : “Cô ơi, ngày xưa cháu chết ở kia kìa”. Dù đã nghe câu chuyện của cháu nhưng câu nói bất chợt của Tiến vẫn khiến tôi lạnh sống lưng.

Sau bữa cơm đầm ấm, chúng tôi xin phép hai anh chị tiếp tục lên đường. Trước khi đi, anh Tân trầm ngâm : “Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm tiềm năng con người đã nhiều lần điện thoại gặp nhưng tôi đều từ chối. Hiện giờ, tôi chỉ muốn mọi người hãy coi cháu như những đứa trẻ bình thường khác. Cháu Tiến giờ ở nhà tôi với tư cách là “con nuôi”. Cháu vẫn thường xuyên qua lại nhà mẹ đẻ…”.

NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẦU THAI KỲ LẠ

Trong những ngày ở xóm Cọi để tìm hiểu về trường hợp của cháu Bình – Tiến, chúng tôi còn biết thêm tại xóm này còn có thêm hai trường hợp “con lộn”. Cả hai trường hợp này cũng ly kỳ và lạ lùng rất khó giải thích.

Tiền kiếp con trai, bây giờ hóa gái

Không đến mức đòi về ở hẳn như Bình về với gia đình anh Tân – chị Thuận, nhưng câu chuyện “con lộn” của Bùi Thị Hồng Thắm, ở Xóm Cọi cũng được người dân ở Lạc Sơn bàn tán xôn xao. Thắm là con gái nhưng người “lộn” vào cháu lại là con trai.

Tôi tìm đến nhà Thắm khi bóng chiều đã khuất dần sau núi. Nhà cháu nghèo lắm, căn nhà gỗ bé xíu nằm chênh vênh bên sườn núi. Thắm sinh năm 1991, trước Thắm còn có một chị gái. Cũng vì nhà nghèo nên hai chị em đang phải làm phụ hồ ở Hà Nội, bố cháu anh Bùi Thanh Minh cũng đi làm ăn nơi xa thỉnh thoảng mới về một lần.

Hôm tôi đến, một mình chị Bùi Thị Toàn, mẹ Thắm ở nhà. Đã mấy năm nay, chỉ có những ngày lễ tết gia đình chị Toàn mới được tề tựu đông đủ. Ngày thường, chỉ có mỗi chị Toàn vò võ mong ngóng chồng con, ba bố con đi làm ăn xa thế nhưng nhà nghèo thì vẫn hoàn nghèo.

Khi tôi hỏi đến chuyện “con lộn”, chị Toàn nhớ lại rồi cười ngặt ngẽo. Chị bảo ngày mới phát hiện Thắm bị “lộn”, cháu có những biểu hiện lạ lùng, nhưng cũng buồn cười lắm.

Chị Toàn kể : Khi Thắm bi bô biết nói, một lần hai mẹ con đang chơi đùa bỗng cháu “xị” mặt rồi nằng nặc đòi : “mẹ đưa con về nhà”, dù lúc đó đang ở trong nhà mình. Nghĩ trẻ con chưa hình dung được đâu là nhà mình nên chị Toàn đã cố diễn giải đây chính là nhà. Thế nhưng Thắm vẫn không chịu, chị Toàn nghĩ chắc cháu đòi sang nhà bà nội ngay sát vách. Chị bế cháu sang nhà bà nhưng vẫn không phải. “Nhà ở ngoài kia cơ”, Thắm bảo.

“Thì ra con bé này đòi đưa đi chơi nên nói thế”, chị Toàn nghĩ vậy và quát Thắm. Sợ mẹ, cháu không dám đòi nữa. Một hôm, ở ngoài nhà kho của thôn chơi, hôm đó là ngày hội làng nên người trong làng tụ tập tại đây rất đông. Đang chơi đùa ở sân bỗng nhiên Thắm nói với bà nội: “Mẹ cháu kia kìa”.

Đó là bà Nguyễn Thị Nghe, người ở đầu làng. Do xóm Cọi rộng, nên nhà chị Toàn và nhà bà Nghe dù cùng xóm nhưng cũng chỉ biết nhau qua loa. Mới 3 tuổi, Thắm có thể nhận nhầm mẹ nên bà nội nói với cháu : đó không phải mẹ cháu, mẹ hôm nay lên nương.

Lúc Thắm được 5 tuổi, hôm đó cháu được bố mẹ cho ra đồng. Khi trở về, đi qua nhà bà Nghe, cháu chỉ tay rồi bảo với bố mẹ “nhà con đây này”. Nghĩ buồn cười quá, chị Toàn bảo lại con “con thích thì mẹ đưa vào nhà con”, thế nhưng khi vừa bước vào cổng Thắm đột nhiên dừng lại : “Con không vào nữa đâu, chị Hằng đang ở trong đó, con ghét chị ấy vì chị đã xui con trèo cây làm con ngã chết”.

Nghe con nói vậy, chị Toàn bèn hỏi lại nửa đùa nửa thật : “Thế con là ma Ly à”. Người Mường thường gọi người chết là “ma”, vì biết Ly, con trai bà Nghe đã chết nên chị Toàn mới hỏi vậy. Tưởng trêu vậy thôi, ai ngờ con bé gật đầu. Từ hôm đó, chị Toàn mới “xâu chuỗi” lại toàn bộ những biểu hiện lạ thường từ ngày con bé cứ đòi chị “đưa về nhà con”.

Chị bắt đầu nghĩ đến chuyện thằng ma Ly nó đã “lộn” về con Thắm nhà mình. Người Mường vốn xem đây là chuyện bình thường nên vợ chồng chị Toàn chẳng sợ sệt một chút nào, thậm chí ngày ngày vẫn hỏi chuyện và trêu đùa con bé.

Nói thêm về ma Ly, bà Nghe sinh được bốn người con, trong đó Ly và Hương (con gái) là cặp song sinh. Một hôm Ly và Hương (lúc đó 7 tuổi), được chị gái tên Hằng dẫn đi hái ổi ở bên triền núi. Là con trai nên Ly được phân công trèo lên hái quả. Quả ổi nằm tít ngoài xa, Ly rất vất vả nhưng vẫn không tài nào hái được. Hằng ở dưới cứ động viên em cố lên và trong một phút sẩy chân, Ly ngã rơi xuống đất. Cháu bị chấn thương sọ não và mất ngay sau đó.

Có nhiều trường hợp khác

Có một câu chuyện mà mãi đến khi Thắm nói rằng cháu chính là ma Ly thì chị Toàn mới nhớ lại. Đó là ngày còn mang thai Thắm, chị vốn là người yếu nên khi mang thai ốm đau liên miên. Một hôm đi chợ ngoài thị trấn về chị bị cảm, trong cơn mê man chị mơ một giấc mơ rất sợ.

Một đứa bé rách rưới cứ đuổi theo làm chị chạy trốn mãi, thế nhưng vì mệt quá nên đến lúc thằng bé cũng đuổi kịp và bắt lấy chị. Giật mình tỉnh dậy, đem câu chuyện vừa mơ kể lại với chồng nhưng anh bảo mệt trong người mơ thấy những điều sợ hãi là chuyện bình thường.

Chị Toàn sau đó cũng chỉ nghĩ vậy và cho đến ngày Thắm nhận mình là ma Ly chị mới nghĩ lại và cho rằng đó không chỉ là giấc mơ. Có thể thằng bé trong giấc mơ đó chính là ma Ly và nó đã theo chị về nhà từ đó.

Chị Toàn đã có lần hỏi Thắm, sao con không theo về những nhà giàu cho sướng lại theo mẹ nghèo mà khổ. Thắm bảo, hôm đó mẹ đi chợ về, con nhìn thấy mẹ xinh nên đi theo mẹ. Như vậy, giấc mơ của chị Toàn ngày đó là đúng sự thật.

Chuyện ma Ly “lộn” vào Thắm cũng nhanh chóng lan toản ra khắp nơi. Mọi người lạ ở chỗ, đây là trường hợp đầu tiên một người con trai lại “lộn” vào người con gái. Trước đây, Thắm học cùng với cậu út nhà bà Nghe và chơi rất thân với cháu này. Ban đầu mọi người không biết chuyện nên cứ trêu “chắc con bé này nó thích con bà Nghe”.

Sau khi mọi người đã biết không còn ai trêu đùa nữa. Thắm giờ đã đi lại với gia đình bà Nghe và nhận bà làm mẹ. Thắm được gia đình bà Nghe xem như người con ruột rà trong nhà. Dù không về ở cùng nhưng tình cảm giữa Thắm và gia đình bà Nghe là rất sâu đậm.

Ông Bùi Văn Tỉnh, xóm trưởng xóm Cọi cho biết : “Ở xóm Cọi đã ghi nhận ba trường hợp con lộn. Người Mường quan niệm, những đứa trẻ dưới 12 tuổi bị chết bất đắc kỳ tử có khả năng “lộn” về và vào một người nào đó. Người bị lộn sẽ có khả năng nhớ và kể lại những gì diễn ra trước khi chết một tháng. Thế nhưng, sau 12 tuổi người được “lộn” lại trở về trạng thái bình thường”.

Trái với những gì ông Tỉnh nói, theo như lời chị Toàn kể thì Thắm nhớ được rất nhiều chuyện. Có lần Thắm tự dưng nói với chị hàng xóm cạnh nhà bà Nghe rằng “ngày xưa em trèo ổi nhà chị bị chị đánh mấy lần”. Chị này khẳng định đúng là ngày xưa Ly hay trèo ổi nhà chị và bị chị đuổi thật.

Một hôm Thắm gặp người trong làng, người đó bằng tuổi Ly và hơn cháu rất nhiều tuổi và bảo : “Mày nhớ tao không, ngày trước tao với mày toàn đi đá bóng với nhau nhỉ”. Người này nghe Thắm xưng mày tao, ban đầu nghĩ cháu hỗn, nhưng sau biết đó là Ly lộn về nên cười xoà bởi cháu nói hoàn toàn chính xác.

Thắm hiện nay vẫn được mọi người trong gia đình, bạn bè và cả xóm bản gọi bằng cái tên thân thương – Ma Ly. Chị Toàn bảo cháu rất vui với cái tên đó. Chị cũng thoải mái cho cháu đi lại vì nhà bà Nghe cũng rất nghèo. Thắm đi lại vì cái tình của… người con lộn, chứ không vì mục đích gì khác.

Ngoài Bình, Thắm, tại bản Cọi còn có cháu Thu con cô giáo tiểu học Quách Thị Đức. Thu cũng được một người chết trong bản lộn về từ bé. Ngày bé, Thu cũng nằng nắc đòi “về nhà con”. Tuy nhiên, vì nhà có người chết đó rất giàu có nên chị Đức đã không cho cháu về ở cùng gia đình đó, chị sợ mang tiếng hám tiền nên bịa ra chuyện này.

Thu hiện nay cũng được gia đình nhà đó nhận làm con và đi lại rất gần gũi. Chị Đức bảo : “Nếu tôi không ngăn cấm quyết liệt từ bé thì nó về ở hẳn bên đó thật”. Hiện Thu đã lớn và đang học lớp 9 trường huyện.

Khi đi tìm hiểu thực hư câu chuyện “con lộn” tại Vụ Bản, chúng tôi cũng thật sự bối rối và không biết khẳng định thế nào. Tiếp xúc với những người trong cuộc như bố mẹ những người chết, bố mẹ những cháu được coi là có “con lộn” họ đều khẳng định đó là câu chuyện có thật.

Kể cả cô giáo Đông, cô Đức cũng khẳng định điều đó. Cả ba trường hợp vẫn đang là “người thật việc thật” ở Lạc Sơn chứ không chỉ là câu chuyện kể hay truyền thuyết gì.

Thực hư chuyện ‘đầu thai’

Câu chuyện “đầu thai” của cậu bé Nguyễn Phú Quyết Tiến ở Vụ Bản mà chúng tôi đã ghi lại, theo TS.KTS.Vũ Thế Khanh, tổng giám đốc Liên Hiệp Khoa học Công nghệ – Tin học Ứng Dụng (UIA) không có gì lạ.

Ông Khanh cho hay, chương trình “nghiên cứu về ngoại cảm và các khả năng đặc biệt” do UIA kết hợp với Viện khoa học hình sự, Bộ Công An, Trung tâm bảo trợ Văn Hóa kỹ thuật Truyền Thống cũng đã ghi nhận nhiều trường hợp “đầu thai” ở Việt Nam. Dưới đây là một trong những câu chuyện ông Khanh chia sẻ với phóng viên :

Câu chuyện xảy ra vào khoảng năm 1990 tại làng Tân Việt ở Cà Mau (vùng Đầm Dơi). Ở đây có một gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con. Người cha trong gia đình này là ông Cả Hiêu. Cô con gái trong gia đình được ông Hiêu rất mực cưng chiều, nhưng không may, cô bị bệnh và qua đời lúc 19 tuổi. Cả nhà ai cũng đau buồn, thương xót, ông Cả Hiêu thì như điên như dại.

Câu chuyện không chấm dứt ở sự qua đời của cô gái mà lại là chuyện bắt đầu. Cách làng Tân Việt khoảng 100 cây số là làng Vĩnh Mỹ, Bạc Liêu cũng có một cô gái bị bệnh (cùng thời gian với cô con gái ông Cả Hiêu) và qua đời.

Người nhà khóc lóc lo việc khâm liệm thì bất ngờ ngày hôm sau cô gái sống lại, làm mọi người vừa mừng vừa sợ, cô gái tự nhiên mạnh khỏe, như không có gì gọi là đau ốm gì cả. Điều lạ lùng là từ khi sống lại, cô gái này cứ một mực đòi người trong gia đình đưa cô đến nhà ông Cả Hiêu.

Mọi người trong nhà đều hết sức ngạc nhiên vì không biết ông Cả Hiêu là ai. Khi hỏi cô gái thì cô cho biết cha của cô chính là ông Cả Hiêu, người làng Tân Việt. Người nhà hết sức lo lắng nghĩ rằng cô có bệnh. Nhưng cô gái vẫn khăng khăng đòi đi gặp cha mình và bảo rằng cô biết đường đến nhà ông Cả Hiêu. Cô mô tả đường đi, tả ngôi làng, tả cái nhà, số nhà từng chi tiết và kể về những người nhà ông Cả Hiêu nữa. Cô gái bảo ông bà Cả Hiêu là cha mẹ ruột của mình, cuối cùng cha mẹ cô gái buộc lòng phải cùng đi theo chuyến xe đò đến làng Tân Việt để tìm hiểu thực hư.

Khi đến bến xe, mọi người xuống xe còn đang bỡ ngỡ không biết đi theo hướng nào để về nhà ông Cả Hiêu thì cô gái nói : “Đừng có ngại, để con dẫn đường cho”. Thế rồi khi đến cổng nhà ông Cả Hiêu, cô gái tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và chạy nhanh vào nhà. Cô gái chạy lại ôm chầm lấy ông Cả Hiêu vừa khóc vừa nói : “Ba ơi, con đây ba ơi !”.

Hai vợ chồng ông Cả Hiêu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra thì vừa lúc cha mẹ cô gái bước vào nhà kể lại chi tiết câu chuyện cho vợ chồng ông Cả Hiêu nghe. Ông Cả Hiêu lấy làm lạ, cũng kể lại chuyện con gái mình bị bệnh qua đời cho cha mẹ cô gái nghe. Ông còn chỉ tay lên bàn thờ có đặt tấm ảnh của cô gái con ông. Trong khi đó cô gái mới đến cứ đi lại trong nhà tự nhiên như là người đã ở đó lâu lắm rồi.

Câu chuyện đã đến hồi kết thúc khi sự kiện đã rõ ràng; cô gái nhất quyết ông bà Cả Hiêu là cha mẹ mình và ông bà Cả Hiêu cũng chấp nhận điều đó vì cô gái nói rõ những chi tiết mà ngoài con gái ông Cả Hiêu ra khó ai có thể biết rõ chuyện gia đình ông bà. Thế là hai gia đình kết thân với nhau. Dân chúng hai vùng Cà Mau, Bạc Liêu biết được một chuyện lạ lùng hãn hữu.

“Hiện tượng tái sinh không phải là mê tín”

TS.Khanh cho biết, ở nhiều nước trên thế giới, “tái sinh” còn mang cả hình ảnh của quá khứ (trong sinh học gọi là Lại giống) và những câu chuyện tương tự như bé Tiến hay con gái ông Cả Hiêu. Chính vì thế, theo ông, hiện tượng “tái sinh” cần được nhìn nhận và nghiên cứu trước khi khẳng định hoặc phủ định.

“- Chúng tôi sẽ tổ chức hội thảo khoa học về tâm linh trong thời gian sắp tới. Hiện tượng “đầu thai, tái sinh” cũng được đưa ra thảo luận”. Ông Khanh khẳng định, không thể coi “đầu thai” là hiện tượng mê tín dị đoan mà chỉ nên coi nó là hiện tượng khó lý giải mà khoa học chưa thể với tới được. “Trên thực tế những câu chuyện về “tái sinh” vẫn tồn tại bất chấp chúng ta có tin hay không.

Có người thật, việc thật nếu phủ định hoàn toàn thì đó chính là mê tín cực tả (thái độ chủ quan, coi nhận thức của mình là cao nhất, đúng nhất, coi những hiện tượng mình không biết là không đúng, không có thật). Tuy nhiên, cũng không nên để mình rơi vào trạng thái mê tín cực hữu (tin mê muội, không cần biết đúng sai). Đó chính là nguyên nhân sinh ra những chuyện lừa đảo, mị dân, những dị nhân hoang tưởng bịp bợm…”.

Lê Trang (theo tin  trên net)

Chuyện huyền bí & kinh dị

CON HEO

ĂN THỊT NGƯỜI

Hôm ấy tụi nhỏ trong xóm nhặt được con heo sinh non còn đỏ hon hỏn, của một nhà nào đó thấy khó nuôi nên vứt bỏ ở ngoài đồng. Chúng đem về nghịch, lấy que gẩy qua gẩy lại như chơi đánh khăng, khiến con vật tội nghiệp cứ phải co rúm lại như để tránh các vết thương ngang dọc mỗi lúc một nhiều hằn lên lớp da mỏng dính.

Bà Tám thấy bọn trẻ đang túm tụm hào hứng với trò chơi mới lạ, tò mò bước đến gần để xem. Thấy con vật quặt quẹo, dơ dáy, đang nằm run rẩy dưới đất, bà hét lên giận dữ :

– Tụi mày ác nhân thất đức vừa vừa chứ ! Con chó con ấy có tội tình gì mà tụi mày hè nhau đánh chết nó vậy !?

Bọn nhóc bị người lớn la rầy nên im thim thít, nhưng có đứa vẫn khe khẽ lên tiếng :

– Con heo “cùi”, chứ không phải con chó đâu bà Tám ơi !

Bà Tám dang hai tay vạt bọn trẻ ra, cúi xuống nhặt con vật đang bị hành hạ lên xem, rồi xuýt xoa :

– Ủa, là con heo… sữa ! Sao nhà nào không đem đi nấu cháo mà lại vứt bỏ ở đây vậy kìa ?

Thằng Bỉnh, có biệt danh là “Bỉnh Heo” hỉnh hỉnh cái mũi rồi nói :

– Bà Tám không thấy nó “què” sao ?

Bà Tám nhấc tai con heo lên xem, quả thật con heo mới sinh này trông rất lạ, nó có 2 chân sau, còn hai chân trước thụt đâu mất và chỉ ló dạng chút xíu như cái đầu móng tay. Thấy con heo còn nhúc nhích, bà Tám lấy tay kia âu yếm vỗ nhè nhẹ lên lưng nó, tỏ lòng thương hại :

– Tụi bây đi hết đi, để tao mang con heo này về xem có cứu được không !

Nói xong, bà Tám lột cái nón lá đang đội trên đầu ngửa ra rồi bỏ con heo con vào – rồi bước nhanh – như sợ lũ nhóc đòi lại con vật mà chúng đang bày trò đùa giỡn.

Bà Tám là bà mụ đỡ đẻ trong xóm, dù không học hành gì nhiều, nhưng khi trạm y tế của xã mở ra thì bà cũng được nhận ngay vào làm “nữ hộ sanh”. Tay nghề của bà khéo lắm, khéo đến độ có nhiều ca ở tận xã bên cũng đem xe tới rước, để mong được “mẹ tròn con vuông”. Bà Tám cũng là người có lòng nhân khác lạ, không bao giờ bà nhận phá thai cho bất cứ ai, dù người ấy có gặp hoàn cảnh éo le đến đâu, cũng như trả tiền công cao đến cỡ nào… bà cũng đều lắc đầu từ chối. Vì thế cho nên, khi gặp lũ trẻ đang đùa nghịch với con heo tật nguyền, bà liền dành đem về cứu chữa với hy vọng nó sẽ sống sót, còn nếu không thì bà sẽ đem chôn nó ở cuối vườn.

Quả thật bà Tám rất mát tay, chỉ vài ngày sau con heo bị vứt ở ngoài đống rác ấy đã cựa quậy loi choi trong cái thùng giấy lót chiếc quần đen cũ rách. Hàng ngày bà đều bơm thuốc vào miệng con heo và cho nó bú sữa bột pha loãng, tất cả các thứ này đều có từ nhà bảo sanh của xã, nơi bà làm việc, nên cũng chẳng tốn kém gì. Ðến khi con heo con biết kêu lên eng éc mỗi khi đói, bà Tám mới phát giác ra ngoài chuyện chỉ có 2 chân sau, con heo dị dạng này còn bị mù nữa ! Chuyện con heo bị thương bà còn chữa được, chứ chuyện nó bị mù “bẩm sinh” thì bà chịu, dù trước đây bà đã từng kiên trì nhỏ thuốc và hút mủ cho một đứa bé bị bỏ rơi – vì mẹ nó là một cô gái giang hồ, thấy con không mở mắt vì bị mủ bít kín do bệnh tật của các tay chơi để lại. Bà Tám thấy tội nghiệp đem đứa bé gái ấy về nuôi, đặt tên là Hiếu và nay nó đã được 8 tuổi – và thật may mắn là nó không bị mù như mọi người nghĩ, và nay cô bé ấy là niềm vui to lớn của một người phụ nữ đã lớn tuổi mà không chồng không con như bà.

Khi con heo đã cứng cáp và khỏe mạnh, bà nói với bé Hiếu :

– Con đem nó ra sau bếp, nuôi ở gần cái đường mương, chứ để nó trong nhà hoài má chịu không nổi mùi phân đâu !

Bé Hiếu từ ngày có con heo mà má nuôi đem về, nó thích lắm và coi như người bạn. Nó thường xuyên tắm, cho heo ăn, rồi bồng bế nựng nịu y như người ta nuôi chó trong nhà. Mặc dù để con heo sau bếp rồi quây phên tre chung quanh, nhưng bé Hiếu vẫn thường xuyên lén má Tám để đưa lên nhà đùa giỡn. Con heo nhờ được bà Tám và bé Hiếu chăm sóc thường xuyên nên ngày càng bụ bẫm, và mới nhìn qua không ai có thể biết đó là một con heo tật nguyền – vì dù chỉ có hai chân sau, và bị mù nhưng nó vẫn biết chạy tới chạy lui mừng rỡ mỗi khi nghe thấy tiếng kêu “ụt ơi, ụt à” của bé Hiếu và bà Tám.

Con heo lớn nhanh như thổi, chỉ vài tháng sau nó đã không còn di chuyển được như lúc còn bé, bởi hai cái chân sau đã không thể nào nâng đỡ nổi cái thân xác nặng nề. Vì vậy, mỗi lần muốn xê dịch nó chỉ như lủi người về phía trước, hay nằm một chỗ quay vòng vòng chứ khó có thể tiến xa được ! Tới lúc này, bé Hiếu không còn đưa con heo đi đâu chơi đùa như trước nữa, và chỉ còn biết phụ bà Tám bằng cách tạt các thau nước nhỏ vào chuồng mỗi khi ngửi thấy mùi hôi từ phân của con heo mù thải ra.

Không ai biết bà Tám nuôi con heo tật nguyền ấy bằng thứ thức ăn gì mà nó lớn và nặng cân nhanh khủng khiếp. Con heo ngày càng mập, thịt núng na núng nính cả tảng bệu ra từ đầu đến bụng, thậm chí đến cả hai chân sau của nó. Bé Hiếu vì còn nhỏ nên cũng chẳng thắc mắc về việc cho heo ăn gì, nhưng mỗi khi nó tạt nước tắm cho heo thì lại thấy những vũng máu đỏ tanh nồng trôi đi từ chỗ nằm của con vật, thậm chí nhiều lúc nó còn thấy cả dòng máu đỏ tươi trào ra từ mõm, nhất là khi con heo ăn no rồi quay ra nằm ngủ thở hồng hộc.

Có lần bé Hiếu thấy bà Tám vứt cả đống thịt bầy nhầy còn đẫm máu vào chuồng cho heo ăn. Con bé tò mò hỏi :

– Má cho heo ăn thịt gì vậy ? Sao má không nấu trộn vào cám cho nó ?

Bà Tám quay sang nói nhỏ :

– Má cho nó ăn thịt bò, loại “bầy hầy” ở chợ bán không ai mua, họ để rẻ cho má đem về cho heo. Con thấy không, nó ưa ăn loại thịt này lắm, cám với rau mà con trộn thêm để ở máng má thấy có lúc nào nó chịu ăn đâu ?

Bé Hiếu công nhận điều má Tám nói là đúng, con heo mù này chỉ thích ăn loại “thịt bầy hầy” do má nuôi thỉnh thoảng đem về sau khi hết giờ làm việc ở phòng hộ sanh xã. Con heo ngày càng mập và đánh hơi hay kinh khủng, khi bé Hiếu xuống dội nước tắm thì nó nằm yên không cựa quậy, nhưng khi má Tám đem bịch thịt chưa đi tới chuồng thì nó đã hích hích cái mũi đỏ ửng và rít lên những tràng dài “ư… ử” để chờ đón món ăn khoái khẩu mà bà Tám đã cho nó ăn quen từ hồi thôi bú sữa, hôm nào không có món này thì nó nằm ủ rũ như heo bịnh, trông đến phát rầu !

Năm ấy, bà Tám thấy con heo đã nặng gần cả tạ, liền nghĩ đến chuyện phải bán nó cho mấy ông hàng thịt ở chợ xã để có thêm tiền tiêu tết. Ðã có hai tay đến trả giá, nhưng chê con heo mù và què này mỡ nhiều và đòi giảm giá. Bà Tám không chịu, vì thực sự giá mỡ và giá thịt lúc này cũng ngang nhau, còn chuyện heo bị mù hay thiếu mất hai chân trước thì cũng chẳng ăn nhằm gì đến việc… xả thịt.

Gần đến tết, các tay săn lùng mua heo bò lại xuất hiện trong vùng nhiều hơn, bà Tám biết vậy nên chẳng dại gì mà phải bán ngay cho những tay trả giá rẻ. Chính vì thái độ không nôn nóng và tỏ ra chưa cần bán, nên giá cân ký con heo tật nguyền của bà ngày càng được nâng cao, và cho đến lúc bà muốn gọi người trả giá cao nhất đến cân thì lại xảy ra chuyện.

Bé Hiếu khi biết bà sắp bán con heo mù đi, thì nó làm mình làm mẩy, khóc bù lu bù loa, không chịu để cho bà Tám bán mất con vật mà nó đã bỏ ra nhiều giờ chăm sóc và coi như bạn để đùa giỡn mỗi khi đi học về. Bà Tám vỗ về đứa con gái nuôi mà bà thương yêu còn hơn là con ruột rằng, khi bán xong con heo mù thì sẽ mua về đến hai con heo con để nó nựng nịu, nuôi nấng – nhưng nó nhất định không chịu và nói con heo mù… sắp có em bé, thì phải để cho nó sanh “em bé” xong rồi thì mới được đem bán.

Nghe bé Hiếu nói thế, bà Tám muốn bật cười vì sự ngây thơ của nó, vì con heo mù mặc dù là con heo cái, nhưng nếu không cho “nhảy nọc” thì làm sao có heo con được !

Nhưng nghĩ lại, bà thấy cách này cũng có thể thực hiện được, vì nếu gọi người đem heo nọc đến cho nó “đi tơ”, thì biết đâu nhà bà lại có cả đàn heo con mũm mĩm. Bà cũng suýt bật cười khi nghĩ đến lúc ông “lái lợn” chắc chắn mồ hôi sẽ vã ra như tắm, bởi phải tìm cách nâng cho con heo chỉ có hai chân sau đứng lên, rồi lại phải lùa con heo nọc sao cho vào đúng vị trí từ phía sau… Ðang khi suy tính đến chuyện bán con heo tật nguyền, hay chờ nó sinh xong lứa heo đầu rồi đem bán cũng chưa muộn, thì bà Tám gặp người hàng xóm có cái ao rau muống kế sát đằng sau nhà.

Bà Mậu nổi tiếng là người khó chịu và lắm chuyện ở xóm bên, vừa thấy bà Tám liền đưa tay vẫy gọi rối rít :

– Này bà Tám, bà lại đây tôi nói chuyện này cho bà nghe…

Bà Tám đang băng ngõ hẻm để ra đường đón xe lam, không muốn nói chuyện nhiều vì sợ lỡ chuyến xe nên khoát tay, mà chân vẫn rảo bước :

– Thôi có chuyện gì thì để đến chiều tôi đi làm về rồi ghé nhà bà nói chuyện sau nghe. Bây giờ tôi phải đi gấp, kẻo bị la rầy vì đi trễ hoài kỳ lắm !

Bà Mậu bước nhanh tới, rồi hối hả nói :

– Chuyện này có liên quan tới con heo của nhà bà !

Nghe tới chuyện con heo, bà Tám nghĩ chắc bà hàng xóm này phiền hà chuyện cống rãnh thoát phân chảy sang ruộng rau muống, nên lên giọng :

– Bà đừng lo gì hết á, tôi sắp bán con heo ấy rồi. Mấy ngày nay quân buôn trả giá hà rầm mà tôi chưa chịu, chắc ít bữa nữa là có người đến cân…

Bà Mậu đưa tay áo ra chùi nước cốt trầu đang nhễu ra ở hai bên mép rồi nói :

– Bà hiểu lầm ý của tôi rồi ! Tôi muốn nói với bà chuyện khác kìa…

Bà Tám ngạc nghiên hỏi lại :

– Chuyện khác là chuyện gì ?

Bà Mậu ra vẻ nghiêm trọng :

– Chả là nhiều tối tôi ngủ không được, ra sau bếp làm mấy việc vặt, thấy đã khuya rồi mà sao bên chuồng heo của nhà bà vẫn còn tiếng đùa giỡn của con Hiếu với con heo. Ðêm khuya thinh vắng nên tôi nghe rõ lắm, và chỉ lạ là tại sao bà không bắt nó đi ngủ sớm. Chuyện ấy xảy ra mấy đêm liền, nên tôi để ý nghe coi con Hiếu nói gì với con heo, ai dè toàn là tiếng o oe như là trẻ sơ sinh, và tiếng cười nắc nẻ cũng vậy là của trẻ nít chứ không phải là của con Hiếu. Tôi biết nhà bà chỉ có con Hiếu thôi chứ đâu có con nít mới sanh, nên tôi mới hỏi bà là…

Bà Tám ngắt ngang câu chuyện kể của bà Mậu, ra vẻ giận dỗi :

– Bà già rồi mà còn nói chuyện tầm phào ! Ðêm nào con Hiếu cũng lên giường ngủ chung với tôi, khi buồn đi tiểu nó còn phải gọi tôi dậy thắp đèn đưa nó ra sau bếp, làm gì có chuyện đêm nào nó cũng xuống chơi giỡn với heo !

Bà Mậu phân trần :

– Tôi có nói với bà rồi, lúc đầu thì tôi tưởng là con Hiếu, nhưng sau nghe kỹ thì mới biết đó là tiếng cười giỡn của trẻ mới sinh. Giọng cười của nó vang lên khanh khách giữa đêm vắng, thì làm sao tôi lầm với giọng cười của con Hiếu được !

Bà Tám ra vẻ bực bội :

– Nhưng bà kể chuyện này với ý gì ? Mặc dù tôi làm bà mụ đỡ đẻ, nhưng tôi chưa làm điều gì sai quấy, tôi còn mang cả con Hiếu về nuôi nữa, bà không thấy việc ấy sao ?

Bà Mậu chống chế :

– Lòng dạ của bà trong xóm ai mà không biết, nhưng chuyện con heo nhà bà đùa giỡn với con nít lúc nửa đêm về sáng là chuyện có thật, tôi nghe sao thì kể cho bà biết như vậy, không có ý gì hết. Mấy bữa nay có người muốn mua con heo ấy, tôi nghĩ là bà nên bán ngay đi, đừng chắc lép gì nữa !

Bà Tám nghĩ là bà Mậu muốn bà bán quách con heo để khỏi bị ngửi mùi phân mỗi khi có luồng gió thổi xuôi chiều hay những ngày nóng bức khiến mùi phân xông lên nồng nặc – bởi phía sau bếp của nhà bà thì cũng là phía sau bếp của nhà bà Mậu ! Nhưng nghĩ lại, bà Tám chợt lòng dạ phân vân, bởi cách đây mấy tuần ngoài các bịch “nhau” của đàn bà đẻ mà bà đem về, còn có một thai nhi sinh non đã đầy đủ hình hài mà bà lấy lầm đem về cho heo ăn !

Bà Tám nhớ lại, hôm ấy một phụ nữ lạ mặt, nước da trắng bóc, chứng tỏ không phải là người trong xã, được xe lôi chở vào nhà bảo sanh với những triệu chứng sắp sinh. Khi nhìn bụng của thai phụ, bà Tám biết ngay đây là một ca sinh non, và không có dấu hiệu gì chứng tỏ thai nhi còn sống ! Mặc dù đã chích thuốc dục, và bọc nước ối đã vỡ nhưng người đàn bà mang bầu vẫn không thể nào thúc được đứa con ra khỏi bụng mẹ. Thai phụ mồ hôi vã ra như tắm, bờ môi nứt nẻ khô rang, sức khỏe cạn dần vì lo sợ và ráng sức làm theo các phương pháp rặn đẻ của bà Tám. Thấy nguy cơ có thể dẫn đến việc chết cả mẹ lẫn con, bà Tám cùng người y tá ở nhà bảo sanh đã tính đến chuyện kêu xe lam chở người đàn bà này lên phòng bảo sanh huyện, vì ở đó có bác sĩ để làm một ca mổ cứu vãn sinh mạng của thai phụ, nhưng nghĩ đến quãng đường xa diệu vợi, và chắc chắn người đàn bà này sẽ chết trên đường đi, nên bà Tám đánh nước liều, nói với cô y tá :

– Chị chích cho bà ấy mũi thuốc khỏe, để tôi cố lấy cái thai ra…

Nói rồi, bà Tám đẩy hai chân của thai phụ dang rộng thêm, lột bỏ đôi găng tay cao su rồi thọc bàn tay sâu vào trong âm đạo, bà luồn tay qua cổ dạ con, đụng đầu thai nhi và thấy nó vẫn nằm ngửa chưa chuyển sấp trước khi ra khỏi lòng mẹ như các vụ đỡ đẻ bình thường. Nhưng cũng để chắc ăn, bà đưa bàn tay trần lên sát mũi đứa nhỏ để xem lại lần nữa coi nó còn thở không, nhưng tất cả đều bất động. Bà mạnh dạn bấu năm ngón tay xuống cằm đứa nhỏ và lôi mạnh nó ra ngoài. Cái đầu ra khỏi cổ dạ con không khó, nhưng đến cái vai của nó bà lại phải lựa thế xoay ngang thì mới kéo được cả thân hình nó ra. Mặc dù đó là một đứa nhỏ sinh non mấy tháng và đã chết trước đó không lâu, nhưng khi lôi nó được ra ngoài và cắt rốn, bà Tám thấy đó là một bé gái xinh đẹp, nhưng lạ một điều là trên đầu nó lại có một hai vết thương trí mạng !

Dù đứa bé đã chết, và trong khi cô y tá lo cho người mẹ, bà Tám vẫn đem thai nhi đi tắm, để bớt mùi hôi tanh của máu mủ, cũng như phòng việc mẹ nó muốn nhìn mặt trước khi chôn cất. Lúc tắm cho nó, bà Tám để ý thấy ngoài vết thâm tím ở cổ do bà níu vào để lôi nó ra, trên đầu đứa trẻ còn bị mấy vết thương lõm vào khá sâu như có ai dùng vật lạ thúc mạnh vào đầu, làm mất cả một mảng tóc !

Khi bà mẹ tỉnh lại, đã hết lời cảm ơn sự cứu tử của bà và cô y tá, và không tỏ ý nuối tiếc hay muốn xem mặt đứa con đã chết ! Bà Tám đem chuyện vết thương trên đầu đứa bé ra hỏi, người đàn bà tên Phượng lúc đầu chối quanh, nhưng sau mới thú thực là trước đó không lâu bà ta đã đến nhà một bà mụ để phá thai, bởi kết quả siêu âm trên thành phố cho biết đó là con gái. Vụ phá thai bất thành, bởi cái thai đã lớn, và bà mụ vườn không tài nào móc được đầu cái thai để kéo ra. Thấy máu ra nhiều sợ bị băng huyết nên Phượng được chở đến nhà một y tá tư để điều trị, và khi trên đường trở về Saigòn thì có dấu hiệu thai hư muốn tống ra ngoài, nên đã nhờ người quen chở vào nhà hộ sanh gần nhất !

Chiều hôm ấy, bà Tám vứt gói nhau như thường lệ vào chuồng heo, và không biết rằng trong đó là cái thai sinh non của người đàn bà tên Phượng. Bởi cô y tá đã gói cái bọc ấy đưa cho bà Phượng và bảo bà ta đem về nhà chôn cất, nhưng sau đó bà này chuồn thẳng, vì sợ rắc rối lôi thôi ! Hôm sau đi làm, cô y tá đã nói cho bà biết vụ lấy lộn cái bao, vì bao nhau vẫn còn đó, còn cái bao đựng đứa nhỏ thì bà Tám đã lấy về cho heo ăn ! Nghe xong, bà giật mình hối tiếc vì chiều hôm ấy đi làm về bà lại ra chợ mua thêm ít thức ăn nên khi về đến nhà trời đã nhá nhem, nên bà quẳng ngay gói nhau vào chuồng heo mà không mở ra, hay đứng xem heo ăn như mọi lần. Bây giờ cái thai nhi ấy đã nằm trong bụng con heo tật nguyền của bà, bà muốn moi ra cũng chẳng được, muốn chôn cất nó cũng không xong.

Trong lúc đầu óc rối bời khi nhớ lại sự việc, bà Tám không biết phải trả lời sao với bà Mậu, bà đành xuống giọng, nhưng vẫn nói cứng :

– Ừa thì chuyện là bà nói như vậy… Nhưng để tối nay tôi xuống chuồng heo xem coi có đúng như bà nói không…

Bà Mậu ngúng nguẩy ra vẻ giận dỗi :

-Tui nói bà không cảm ơn thì thôi, còn bày đặt tin với hổng tin ! Tui mà nói láo, cho xe be 12 bánh cán tui nát như tương tàu đi…

Nói rồi bà Mậu quay ngoắt về, thì cũng là lúc chiếc xe lam trờ tới. Bà Tám leo lên xe mà trông như kẻ mất hồn, lòng dạ bà rối bời vì không biết phải đối phó ra sao với câu chuyện bà Mậu mới kể. Từ bao năm nay làm nghề đỡ đẻ, bà không bao giờ đụng đến xác những thai nhi xấu số không được cất tiếng khóc chào đời. Nhiều người mẹ còn nhẫn tâm vứt bỏ xác con lại, khiến bà phải đặt chúng vô hộp và đem chôn đàng hoàng ở mảnh đất cuối vườn của nhà bảo sanh. Việc bà Tám nghĩ ra chuyện cho heo ăn nhau, là vì bà thấy lũ chó quanh nhà bảo sanh thường lục lọi thùng rác, kéo những bịch nhau tanh tưởi thối nồng ra ăn, và con nào con nấy lại mập khỏe to lớn khác hẳn với những con chó khác nuôi ở nhà. Ðể tránh việc chó bươi móc thùng rác kiếm thức ăn, bà Tám mới nghĩ đến việc hôm nào có người đến sanh thì bà đem mớ nhau ấy về cho heo ăn, vừa đỡ tốn kém lại không còn phải lo dọn dẹp thùng rác mỗi khi bị bầy chó bới tung. Loại nhau mà bà Tám đem về là loại “nhau con rạ”, còn loại “nhau con so” của những người mạnh khỏe và sinh con lần đầu thì thường được dành cho mấy người quen trong vùng, đặt mua và dặn trước – bởi những người này tin ăn “nhau con so” chữa được nhiều thứ bệnh.

Lúc ấy cũng hơn nửa khuya, khi thấy con Hiếu đã ngủ say, bà Tám vạch mùng rón rén bước ra mở cửa sau. Muốn xuống tới chuồng heo sau bếp, bà phải băng qua một khoảng sân, tuy không rộng lắm, nhưng sao đêm nay bà thấy nó xa cách diệu vợi. Vầng trăng lại không mấy rạng, còn bị mấy đám mây đen che phủ, khiến cảnh vật chung quanh tối đen như mực. Khi bà rón rén bước ra sân được mấy bước thì nghe tiếng chó tru từ xa vọng lại, tiếng chó ngân dài hồi lâu rồi lại ư ử trong đêm khuya thanh vắng nghe thật dễ sợ như tiếng oan hồn não nùng ai oán, rồi lại y như đứa trẻ con bị bóp cổ không thể thoát ra tiếng khóc. Dân miền quê mỗi lần nghe thấy tiếng chó sủa vu vơ ấy thì lại rù rì nói với nhau đó là tiếng “chó sủa ma”, và những đứa trẻ khó ngủ thì thường bị cha mẹ đem tiếng chó sủa ban đêm ấy ra mà dọa nạt. Bà Tám dù không tin vào những chuyện kể ấy, nhưng sao lúc này bà cũng thấy sờ sợ và muốn chùn chân bước lại vào nhà. Nhưng đúng lúc ấy những bụi cây chung quanh nhà bà bỗng xào xạc như có ai luồn lách lướt đi trên lá để đến cái chuồng heo ở cuối bếp.

Bà Tám đứng sững nhìn theo, bà bỗng cảm thấy ớn lạnh khi nghe tiếng con heo tật nguyền trong chuồng kêu lên ồng ộc, rồi hi hí mừng rỡ y hệt như những khi bà mang về món nhau mà nó ưa thích ! Những tiếng động ở dưới chuồng heo mỗi lúc mỗi nhiều, y như có người đùa giỡn với heo. Giữa những tiếng hụt hịt của heo, bà Tám còn nghe thấy tiếng cười khanh khách của trẻ con, y như có ai cù vào nách nó.

Như vậy những điều mà bà Mậu hàng xóm nói với bà Tám đều là sự thật, và không có gì thêm thắt hay bịa đặt ! Bà Tám sợ điếng hồn, lòng dạ ngổn ngang, vì không biết phải làm gì để chấm dứt hiện tượng ma quái đang xảy ra trong nhà bếp có cái chuồng heo này ! Bà biết là đứa trẻ chết linh, nó muốn sống mà mẹ nó bắt chết, nó muốn mồ yên mả đẹp mà bà lại đem vứt thân xác thiên thần của nó cho heo ăn. Không biết làm sao hơn, bà chắp tay run run khấn vái :

– Cháu bé chết oan ơi ! Bà đâu muốn vậy đâu ! Bà muốn cứu cháu lắm đấy chứ, nhưng mà họ làm cháu chết rồi. Thôi để sáng mai bà lên chùa xin lễ cầu siêu để cho cháu siêu thoát, để cho cháu sớm đi đầu thai…

Nguyễn Vi Túy

HÌNH ẢNH 10 NƠI THIÊNG LIÊNG

Nếu các bạn có dịp đi du lịch, hãy ghé đến 10 địa điểm sau đây để thấy người dân Tây Phương cũng rất sùng bái tâm linh : “Giơ tay là nắm được hạnh phúc, tiền tài và danh vọng” là miêu tả quá đỗi hấp dẫn về các địa danh nằm rải rác trên khắp thế giới này..

1. “Huyền thoại sex” Victor Noir tại Paris (Pháp)

Victor Noir sinh năm 1848, sở hữu vẻ ngoài lịch lãm điển trai, thông minh tài xuất hơn người. Ông là nhà báo tích cực tham gia hoạt động xã hội được các quý bà quý cô vô cùng mến mộ. Năm 1870, Victor Noir bị em họ của Hoàng đế Napoléon III bắn chết và sau đó ít lâu người dân Paris đã quyết định đúc bức tượng đồng đen đặt trên mộ ông.

Bức tượng toàn thân của Victor Noir nằm dài trên mộ, được nhà điêu khắc Amédé thực hiện hết sức gợi cảm. Trải qua hơn 100 năm lộ thiên, bức tượng đã bị oxy hóa xanh xỉn, chỉ riêng “vị trí nhạy cảm” vẫn bóng loáng. Nhiều người mê tín cho rằng chạm tay vào “chỗ đó” trên bức tượng sẽ tăng khả năng thụ thai, tăng ham muốn tình dục và cải thiện đời sống chăn gối. Tuy nhiên cũng không ít người cho rằng đây chỉ là trò đùa tinh nghịch của ai đó “giấu mặt”.

2. Tảng đá Chúa ở Cork

Lâu đài Blarney nằm gần thành phố lớn thứ 2 Ireland Cork có từ năm 1400, nổi tiếng khắp thế giới với “tảng đá Chúa” huyền thoại có khả năng truyền cho người ta tài hùng biện. Theo truyền thuyết, nếu ai có mặt tại địa danh này và trao nụ hôn ngược thì sẽ được tảng đá truyền cho tài năng đó.

3. Bức tường “7 vũ nữ” ở Nevada, Las Vegas

Đây là bức tượng nằm bên ngoài khác sạn Nevada tại Las Vegas với hình điêu khắc 7 vũ nữ trong tư thế xoay lưng hướng ra bên ngoài, để lộ tấm lưng thon, vòng 3 căng tròn và mái tóc xõa ngang lưng gợi cảm. Theo lời xưa truyền lại, tất cả những tay chơi “đỏ đen” trước khi bước vào casino của khách sạn đều đến “sờ soạn may mắn” trên bức tường này và họ đều “ước gì được nấy”.

4. Bức điêu khắc Abraham Lincoln, Springfield (Mỹ)

Vị tổng thống nhiệm kỳ thứ 16 của Mỹ Abraham Lincoln nổi tiếng với nét mặt ưu sầu khó tính. Tuy nhiên với người dân địa phương, việc dịu dàng xoa nhẹ lên mũi của bức điêu khắc trước mộ ông lại có thể mang đến may mắn và thậm chí là có “phép mầu” thay đổi tâm trạng vui vẻ hưng phấn.

5. Bức tượng Wings ở Nevada

Theo truyền thuyết, nếu ai có dịp tới gần bức tượng Wings ở tiểu bang Nevada nằm ở miền tây Hoa Kỳ chạm vào từng ngón chân của “thiên thần có cánh” thì mọi điềm xấu sẽ được xua tan và thay thế bằng may mắn và hạnh phúc.

6. Tượng thánh Nepomuch tại Praha

Bức tượng nổi tiếng nằm trên cây cầu Charles ở Praha (Cộng hòa Séc) luôn đem lại may mắn cho lữ khách nếu sờ vào chân tượng và chắc chắn sẽ thỏa nguyện mong muốn quay lại Praha.

7. Bức tượng đồng ở Brussels (Bỉ)

Năm 1356, Senna Klass tử nạn trong trận chiến đòi công bằng hòa bình cho Brussels. 600 năm sau, bức tượng mà người dân thực hiện tưởng nhớ ông vẫn được giữ gìn bảo tồn nguyên vẹn. Theo truyền thuyết, chỉ cần nhẹ nhàng vuốt ve khuôn mặt, cơ thể của “hiện thân Senna” sẽ được truyền thêm sức mạnh, sự minh mẫn và dũng cảm.

8. “Vòng khuyên may mắn” ở Nuremberg (Đức)

Nằm trên quảng trường chợ Marktplatz và với tay chạm 3 lần vào những vòng khuyên may mắn mạ vàng của đài nước nổi tiếng Schôner Brunnen bạn sẽ đạt được mọi điều mong ước.

9. Tượng Phật ở Hàng Châu (Trung Quốc)

Theo lời lưu truyền, nếu ai chạm tay vào bụng tượng Phật ở Hàng Châu Trung Quốc này thì cả đời sẽ được sung túc, không lo thiếu ăn thiếu mặc. Còn nếu muốn thảnh thơi tâm trí, vui sống yên bình thì hãy nhẹ nhàng vuốt lên khóe miệng của tượng.

10. Nạm đá hình bò tại Milan (Ý)

Nhiều lời đồn đại từ khách du lịch từng ghé thăm Milan (Ý) lan truyền rằng chỉ cần đặt chân lên hình ảnh chú bò nạm đá này và xoay 1 vòng tròn thì mọi ước muốn đều sẽ trở thành hiện thực.

Huỳnh Văn Yên

Diễn đàn Tâm linh : PHẬT MŨI ĐEN

ÔNG PHẬT MŨI ĐEN

Có một Ni cô trên đường tìm chân lý đã chắt chiu nhờ thợ tạc riêng cho mình một tượng Phật nhỏ cỡ chừng gang tay bằng gỗ ngoài thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô rất trân quí; đi đâu cũng mang theo, và thường đốt hương cúng dường cho Phật nữa.

Năm tháng trôi qua, Ni cô vẫn luôn mang vác tượng Phật trên vai đi khắp nơi. Một ngày kia, nghĩ mình cũng lớn tuổi rồi, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa nhỏ miền quê; nhưng chùa này lại có rất nhiều tượng Phật lớn nhỏ. Mỗi vị Phật đều có bàn thờ riêng cả. Nhìn lại pho tượng Phật nhỏ xíu của mình, Ni cô thấy trong lòng ái ngại quá. Ở nhờ chùa người ta nên khó lập bàn thờ riêng cho Phật mình, Ni cô đành phải thờ ké bàn thờ vậy.

Từ hồi nào đến giờ, Ni cô thường đốt hương trầm cúng dường “Phật của mình”, nay trong cảnh thờ chung như vậy, Ni cô thấy trong lòng bất ổn; mấy ông Phật trụ xứ nhiều quá, ông nào ông nấy to lớn, lỗ mũi to như qủa quít thế kia thì hít hết khói hương trầm, còn gì cho ông Phật của mình nữa. Thiệt thòi cho Phật mình quá !

Ngày đêm suy nghĩ, Ni cô tìm được một kế thượng sách. Ni cô lấy giấy và ống nhựa nhỏ quấn lại với nhau thành hình một cái phễu (ống quặn) vừa đủ khói xông lên hun thẳng vào mũi ông Phật mình. Hay quá, thế là mấy ông Phật trụ xứ kia đừng hòng ngửi ké nhá. Ni cô rất hoan hỷ, trong lòng vui sướng, ăn ngủ ngon lành.

Trải qua mấy tuần lễ đốt hương xông thẳng vào mũi Phật, cái lỗ mũi tượng Phật của Ni cô đen thui đầy muội hương trong khi mấy pho tượng Phật trụ xứ chẳng có sao hết. Cái lỗ mũi đen trên pho tượng Phật bằng vàng làm cho pho tượng trông xấu xí, kỳ cục hơn các tượng Phật khác.

Ối chao, làm Phật rồi mà còn khổ thế. Khổ thay, khổ thay !

Vấn đề then chốt nhất của người đi tìm chân lý giải thoát là phải phân biệt rõ ràng ranh giới giữa Yêu, Ghét, Tham Đắm và Ràng Buộc. Cái ranh giới đó hay bị lẫn lộn nhập nhằng với nhau, nhưng thực ra, chúng khác nhau đấy. Sự ràng buộc đắm trước là một tai họa, một nguy hiểm giết chết Tình Yêu. Không có một vật gì nguy hiểm hơn, độc hại hơn lòng chiếm hữu dính mắc.

Bạn phải cố gắng hiểu cho kỹ điểm này, rồi chúng ta đi vào cốt truyện.
Rất nhiều người đã lầm lẫn Tình Yêu và sự Chiếm Hữu. Chiếm Hữu không phải là mặt trái, không phải là một phần của Tình Yêu gì cả. Nó là sự đối nghịch hoàn toàn.

Tình Yêu (viết hoa) không đơn thuần có ý nghĩa là tình yêu nam nữ, mà còn là tình yêu quê hương, tình yêu cha mẹ, tình yêu chúng sanh, v.v… Một thứ tình yêu bao la không biên giới, không phân biệt màu da, chủng tộc, quốc gia gì cả. Sức mạnh Tình Yêu Đại Đồng này có công năng tiêu hủy cái tự ngã vị kỷ hẹp hòi của bạn để bạn hòa hợp mình vào với mọi người, với chúng sanh, với vũ trụ và sẽ giúp bạn thăng hoa nhân cách tới mức tối thượng. Hơn thế nữa, Tình Yêu Đại Đồng đó sẽ giúp bạn đối diện dễ dàng với cái chết, và từ đó, bạn cũng sẽ dễ dàng thực tập thiền định.

Tình Yêu sâu thẳm hơn cái Chết, Thiền Định sâu thẳm hơn Tình Yêu. Trong thiền định, tự ngã của bạn phải vắng bóng; cái tự ngã của bạn phải chết đi. Khi bạn không dính mắc bám víu một cái gì, khi bạn hòan tòan thoát ly ra được cái ngục tù “Tự Ngã” thì bạn mới thể nhập được vào Đại Định. Danh từ tiếng Anh “Ecstasy” rất đẹp và có ý nghĩa. “Ecstasy” có nghĩa là đứng bên ngoài, đứng ngoài lề. Nhưng trong đạo Phật, “Đại Định” mang ý nghĩa sâu xa hơn, hàm xúc hơn, triệt để hơn ý nghĩa xuất thần, nhập định rất nhiều.

Thiền Phật giáo không đơn thuần là trạng thái xuất thần, đi vào những cảnh giới lạc thú như các cõi trời mà là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát, nó đưa chúng ta đến uyên nguyên của cuộc sống, uống ngụm nước đầu nguồn, cởi bỏ tất cả những sự ràng buộc chấp mắc. Khi nhập vào đại định, ta có thể khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta (Thiền Luận của Dr. Suzuki). Nghệ thuật trong thiền chính là nghệ thuật học cách Chết. Chết con người khốn nạn tầm thường này để trở thành một con người mới toàn thiện hơn. Do đó, Tình Yêu có nghiã là chết đi cái tự ngã nhỏ hẹp ích kỷ để sống an lạc và chia xẻ hạnh phúc với mọi người, mọi loài… Nó khác xa tính chất độc hại của sự chiếm hữu ràng buộc.

“Có một Ni cô trên đường đi tìm chân lý đã dành dụm tiền nhờ tạc một tượng Phật bằng gỗ thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô đi đâu cũng mang theo kè kè…”. Từng chữ một trong câu truyện này cần phải giải thích trọn vẹn. “Một Ni cô”, tại sao lại là một ni cô mà không phải là một ông thầy tăng ? Có phải vì đầu óc và trái tim phụ nữ rất chật hẹp và thích chiếm hữu cho nên nhân vật cốt truyện là một ni cô ?

Chúng ta khoan phê bình đánh giá vội. Không phải chỉ riêng có phụ nữ mới có tánh ích kỷ, hẹp hòi, tham lam, đố kỵ, nhiều tật xấu đâu, mà những ngừơi đàn ông cũng có những tật xấu đó. Nhưng trước hết, chúng ta thử phân tích “Tại sao người đàn bà ích kỷ, sở hữu nhiều hơn đàn ông?” — Bởi vì tánh ích kỷ sở hữu thoát thai từ sợ hãi.

Phụ nữ là một linh vật yếu đuối về thể chất. Vì sự yếu đuối thể chất đó, họ cần nương dựa; họ cần được bảo vệ. Từ những ngày đầu của thời kỳ khai thiên lập địa, phụ nữ đã phải nương dựa vào cánh đàn ông để được che chở và bảo vệ khỏi thú dữ để sinh tồn. Lâu dần, họ trở nên phụ thuộc và tự biến mình thành cái bóng sau lưng người đàn ông. Và càng yếu đuối chừng nào, họ càng sợ thêm chừng đó, càng sợ lại càng chiếm giữ ràng buộc, sợ mất đi sự che chở, sợ mất đi sự bảo vệ, sợ mất đi sự nương dựa. Ngay cả khi họ đang đựơc bảo vệ, họ cũng vẫn cảm thấy không hài lòng thỏa mãn. Họ vẫn cảm thấy bất an, lo sợ sẽ mất đi cái an toàn, cái phao che chở đó, và từ đó, tánh chiếm hữu ràng buộc tự lợi nẩy sanh, không muốn chia xẻ với ai cái họ đang nắm giữ. Vì thế, trong câu truyện, hình ảnh ni cô, người phụ nữ, đã được lựa chọn. Song, bạn cần phải nhớ kỹ rằng không có sự khác biệt gì nếu bạn mang thân tướng đàn ông mà ích kỷ, hẹp hòi, không rộng lượng thì thể chất đàn ông nhưng tánh khí đàn bà đó. Điều đó còn tệ hơn nữa, phải không ? Còn phụ nữ nào xả bỏ được tánh vị kỷ sở hữu thì hơn hẳn đàn ông rồi còn gì. Như vậy, sự khác biệt không phải đặt trên vấn đề nam giới hay nữ giới mà đặt trên cơ bản phong cách hành xử.

Nghe rằng Mahavira đã nói “Phụ nữ không thể nào giác ngộ được trừ phi người ấy trở thành đàn ông.” Và mọi người tin theo nghĩ rằng phụ nữ phải cố gắng làm tất cả những việc phước đức để kiếp sau tái sanh lại làm phái nam. Thực ra, ý nghĩ đó quả là buồn cười và ngờ nghệch. Mahavira muốn nói là còn tư tưởng ích kỷ chiếm hữu đó thì không thể nào giác ngộ được chứ không phải nói còn cái thân tướng đàn bà là không gíac ngộ — vì còn sợ, còn chiếm hữu thì không Tình Yêu, không Thiền Định được.

“Ni cô đó tạc một pho tượng Phật bằng gỗ thếp vàng và đi đâu, Ni cô cũng mang theo”. Từ lúc tạc tượng Phật thếp vàng, Ni cô ngủ không an giấc vì lo sợ kẻ nào đó sẽ đột nhập vào rinh mất pho tượng quí này đi. Đang đi trên đường, nếu có ai chợt nhìn vào tay nãi trong có tượng Phật, Ni cô cũng giật thót người, cảm thấy bất an nghĩ rằng biết đâu họ biết trong túi có tượng Phật thếp vàng và sẽ cướp đi mất. Pho tượng trở thành gánh nặng, trở thành hàng rào cản bước tiến giải thoát của Ni cộ Tâm trí Ni cô xoay vần với lo sợ, bất an, và dính mắc. Còn chỗ trống nào đâu để an lạc giải thoát lọt vào! Pho tượng đã trở thành tâm điểm chiếm hữu, lo sợ và thờ phụng”.

Năm tháng trôi qua. Ni cô vẫn luôn mang tượng Phật đi khắp đó đây. Và một ngày kia, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa làng có rất nhiều tượng Phật…”
Thời gian trôi qua, không có dấu hiệu giác ngộ gì. Mang kè kè một tượng Phật như thế mà không thấy gì à ? không giác ngộ gì sao ? Lạ thật.

Phật là Giác ngộ, là Giải thoát, là Đại Ngã, là Chân Tâm, là Bản Thể; nhưng bạn không thể giác ngộ chân lý giải thoát đó nếu bạn vẫn vác nặng hành trang ràng buộc, chấp trước và vị kỷ. Dù bạn có mang vác trên vai bao nhiêu pho tượng Phật đi chăng nữa thì cũng dã tràng xe cát biển đông mà thôi.

Bên Trung Hoa, Nhật Bản, người ta đã xây dựng rất nhiều đại tự, đại tháp để thờ Phật. Ở Trung Hoa, có một ngôi cổ tự thờ 10,000 tượng Phật. Tuy nhiên, dù có hàng 10,000 tượng đi chăng nữa cũng chẳng giúp ích được gì cho ta cả nếu ta không chịu tu tập đoạn trừ Tham Sân Si, Ngã Mạn, Tà Kiến, v.v…

Tượng Phật chỉ là một biểu trưng cho sự giác ngộ giải thoát; chiêm ngưỡng lễ lạy tượng Phật để tự nhắc nhở vốn sẵn có Phật tánh. Phật tánh có ở trong anh, có ở trong tôi, có ở trong em, có ở trong người giàu sang quyền quí cũng như ở trong kẻ ăn mày khốn khổ kia.

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh

Tất cả chúng sanh đều thành Phật !

Tất cả chúng sanh đều bình đẳng !

Hãy tìm một vị Phật sống. Hãy tìm vị Phật sống trong ta. Đừng rong ruỗi tìm cầu bên ngoài. Đừng trông chờ mong đợi sự cứu độ. Đừng dập đầu van lạy các ngẫu tượng cầu xin giải thoát. Vì thế, Ni cô này đã vác tượng Phật gỗ suốt nhiều năm mà chẳng thấu hiểu được gì. Cái tâm đắm chấp đã che mờ giác tánh trong Ni cô. Quả vậy, có cái gì khổ theo cái nấy. Người đời có gia đình, có cái nhà cái xe là lo lắng ôm giữ bảo vệ những thứ đó cả đời, sợ mai một mất đi và lo nối dòng nối dõi để giao phó của cải. Tu sĩ thì trụ trì một ngôi chùa nào hay thánh đường nào thì cũng dính mắc vào tự viện đó không thoát ra nổi, cũng lo kiếm đệ tử truyền trao lại. Cha truyền con nối; không muốn giao cho ai khác ngoài con ruột mình, đệ tử ruột mình. Cái chế độ phong kiến tự ngàn xưa đã bị chúng ta hủy bỏ đi để xây dựng chế độ tự do dân chủ; nhưng đó chỉ là hình thức thay đổi còn nội dung vẫn như cũ. Tự Ngã vẫn hoàn lại Tự Ngã đầy tham vọng ích kỷ, tư lợi và ràng buộc. Cái hay nhất của người tu sĩ là rày đây mai đó, đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Chùa chiền, tự viện chỉ là trạm dừng chân qua đêm, đến sáng lại quảy gánh ra đi. Nếu phải trụ trì một ngôi chùa hay tự viện nào thì tu sĩ đó phải hằng tự giác tỉnh là Vạn Pháp vốn Vô Thường Vô Ngã. Không có cái gì trường tồn bất biến cũng không có cái gì là của ta cả. Sự vật đến đến đi đi, có có không không. Người tu sĩ phải luôn luôn có tâm niệm Xả Phá Ngã đó thì mới ứng phó đạo tràng, tùy duyên bất biến. Nếu không, họ sẽ sanh tâm đắm nhiễm, mắc kẹt vào chùa chiền, thánh đường, tự viện, tín đồ, danh lợi thế gian.

“Ni cô đó thường đốt hương trầm cúng dường tượng Phật của mình. Vì không muốn khói xông lên bay vào các tượng Phật khác, Ni cô đã chế ra một cái phễu nhỏ để khói chỉ bay thẳng vào mũi tượng Phật của mình.”

Thấy chưa ? Nội chỉ có khói hương thôi mà người ta đã phân biệt ích kỷ rồi huống chi là những thứ quí giá hơn, to lớn hơn gấp bội. Thế cho nên, chúng ta đã chứng kiến quá nhiều cảnh tranh giành tương tàn lẫn nhau để chiếm đoạt hay ôm giữ. Ông tu sĩ này nói xấu ông sư kia, bà ni cô kia bêu riếu bà vãi nọ. Đền thờ, chùa chiền, tự viện, v.v… đua nhau mọc lên như nấm, và cũng đua nhau khuếch trương, mưu cầu đóng góp, dụ dẫn tín đồ… Tất cả chẳng qua phản ảnh tâm Tham Đắm, Chấp Ngã, Mê Danh của những con người chưa liễu đạo. Ni cô trong truyện có phải chăng chính là hình ảnh của chúng ta ? Chúng ta dã từng ra rả tụng kinh, sám hối, tọa thiền… nhưng chúng ta nào có thấu được chút hương thơm giáo lý của Phật, của Chúa, của Mahavira. Chúng ta xây bao tượng Phật, tượng Chúa, đền thờ, tháp tự, v.v. nhưng nào chúng ta thực hành được chút xíu nào lời các Thánh nhân dạy về giải thoát giác ngộ? Cũng như Ni cô mang vác tượng Phật suốt nhiều năm mà vô minh vẫn hòan vô minh, trói buộc vẫn hòan trói buộc.

Và chuyện gì đã xảy ra ?

“Trải qua mấy tuần lễ bị hun khói như vậy, lỗ mũi ông tượng Phật vàng bị đen thui đầy muội hương. Cái lỗ mũi đen trên pho tượng vàng càng làm cho pho tượng Phật xấu xí, kỳ cục hơn…” Điều đó đương nhiên phải xẩy ra cho tất cả những người còn tâm đắm nhiễm vị kỷ. Hương thơm không còn là hương thơm, chân lý không còn là chân lý nữa.

Hãy trở về nhìn lại các pho tượng Phật, tượng Chúa, tượng Krishna. Ở tất cả lỗ mũi của các pho tượng đó đều bị đen thui vì ám khói ích kỷ tư lợi, chấp trước vô minh của chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ là lời cầu xin đưọc ban thêm ân huệ vật chất. Ngay khi chúng ta mở miệng ra nói: “Nhà thờ của tôi, chùa của tôi, thầy của tôi, đệ tử của tôi… Có danh từ “của tôi” thêm vào là đền đài, chùa chiền, tự viện… đều bị phá sập hoàn toàn.

Trước đây, chính tôi (tác giả) đã bị dẫn độ ra tòa vì tôi dám xâm phạm một nhà thờ. Ngôi nhà thờ đó đã đóng cửa, không hoạt động ít nhất là 20 năm rồi. Những tín đồ đã dọn đi nơi khác, không còn ở Ấn nữa. Nhà thờ này thuộc về giáo hội Thiên Chúa Giáo Anh và cũng không còn người Anh nào ở phố thị này, không ai chăm sóc trông nom nhà thờ cả. Nhà thờ ấy rất đẹp nhưng bị hoang phế.

Ngày kia, có vài tín đồ đến gặp tôi và nói :

“Chúng tôi không thuộc giáo phái Anh, nhưng chúng tôi không có nhà thờ riêng. Vậy ông có thể giúp chúng tôi mở khóa vào lễ Chúa không ?”

Tôi đáp ngay :

“Được thôi, có gì đâu.”

Và những tín đồ đó vào nhà thờ, quét dọn, lau chùi bụi bặm bám đen lỗ mũi của Chúa.

Tôi nói với họ :

“Không cần hỏi ai là chủ nhà thờ này cả. Người nào thờ phụng Chúa với tất cả lòng thành không riêng tư thì nhà thờ đó là của họ.”

Nhưng hai, ba tháng sau thì tin tức bay tới tai những người trước kia bỏ tiền ra mua nhà thờ. Họ tìm luật sư và kiện tôi ra toà vì dám xâm phạm nhà thờ.

Công tố viên buộc tội :

– Tại sao ông dám mở khóa nhà thờ ? Nhà thờ này thuộc về những nguyên cáo là những người bỏ tiền ra mua. Nó là tài sản của họ.

– Nhà thờ không phải là tài sản của bất cứ riêng ai. Nhà thờ chỉ là một phương tiện để mọi người có thể đến lễ lạy Chúa. Nhà thờ không phải là tài sản của riêng ai cả.

– Đó là luật pháp. Khi ông xâm phạm vào tài sản người khác, ông đã phạm tội.

– Được thôi, các ông có thể đóng cửa nhà thờ lại. Các ông có thể buộc tội tôi; nhưng hãy nhớ kỹ một điều là chính các ông, những con người ích kỷ tham đắm kia, đã giết chết Tôn Giáo ! Chính các ông mới là kẻ có tội !”

Hãy nhớ kỹ lời Đức Đạt Lai Lạt Ma nói :

“Ngôi chùa của tôi chính tại Tâm tôi!”

Chùa tại Tâm. Phật tại Tâm ! Vậy đủ rồi !

Kim Anh Truong post kimanh.norway2c@gmail.com

Kính gửi Tiên sinh Kim Anh Truong

Thưa Tiên sinh,

Cảm tạ Tiên sinh đã chuyển đến chúng tôi bài giáo lý thật giá trị ! Chúng tôi ghi nhận và nguyện lĩnh hội lời giáo huấn chân tình của Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Ngôi chùa của tôi chính tại tâm tôi “. Kính.

Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris

lytranlenguyen75@yahoo.fr

Chuyện Ông Phật Mũi Đen của Trương Kim Anh mới đọc vô đã thấy bà ni cô thờ phật Mũi Đen này còn tham sân si, còn nghĩ ông Phật Mũi Đen của bà ni cô này cũng tham sân si nữa. Ối giời ôi ! Học Phật tu Phật mà chẳng hiểu gì về Đức Phật, chư Phật. Đã lên niết bàn là nơi vô tham, vô si, diệt hết ưu tư, tham sân si còn lý gì đến chút tàn hương nước thải mà bà ni cô đã gán cho ông Phật Mũi Đen “cảm nghĩ” thiệt thòi vì không được hưởng “hoa quả” tham sân si… Thế mà lytranlenguyen lại biểu đồng tình thì đúng là lytranlenguyen là người chẳng hiểu giáo lý nhà Phật rồi.

Có lần đến chùa Pháp Duyên Tịnh xá ăn cơm chay với HT Thích Giác Lượng, nghe HT Thích Giác Lượng chê trách Vô Thượng Sư Thanh Hải là hỗn láo, không hiểu đạo Phật, dám xưng là “vô thượng sư, tức không có ai là thầy trên… Supreme master… y thị tự xưng thầy trên hết mọi thầy, kể cả Chúa Phật, thế mà thiên hạ nhiều người cũng nghe theo, nay lại có thêm lytranlenguyen và Trương Kim Anh…

BacKieu Phong backieuphong110@yahoo.com

Thân gửi anh Bắc Kiều Phong,

Theo tôi tất cả các Đạo Giáo đều dạy ta hướng về Thiện Tâm. Nên chỉ trao đổi ý kiến trong tinh thần cùng nhau tìm hiểu học hỏi. Tôi vốn không có khiếu ăn nói, nên thường hay im lặng. Về chuyện ÔNG PHẬT MŨI ĐEN, không rõ ai là tác giả, đã khéo léo dùng câu chuyện khôi hài ý nhị để  giáo huấn hàng đệ tử chúng sanh, mọi chi tiết nội dung cốt dẫn chúng ta đến 2 câu chính :

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói :

“Ngôi chùa của tôi chính tại Tâm tôi !”

Thế nên nhóm LÝ TRẦN LÊ NGUYỄN đã biểu đồng tình nhắc lại câu Ngài Đạt Lai Lạt Ma dạy chúng ta. Cũng đúng thôi !

Trong một vườn hoa muôn sắc muôn vẻ, mỗi chúng ta thích một loại. Cũng còn tuỳ căn Nghiệp chúng ta có cái nhìn khác nhau về 1 bài Pháp của bất cứ Tôn giáo nào. Do từ Bài Pháp Ý Nghĩa Thâm Thúy, dù nhìn theo góc cạnh nào thì chúng ta cũng nhìn chung một hướng TỪ BI HỶ XẢ.

Thưa các bạn, nếu Kim Anh trình bày thiển ý lời lẽ mộc mạc, có sơ xuất sai trái, xin lượng thứ cho.

Truong Kim Anh

Kính gửi,

Mang tâm động vọng ruỗi rong

Bắc là gió lớn, Nam mồ đó ai ?

Nhìn tay cứ ngỡ là trăng,

nào ngờ trăng đã qua cầu lặng trôi.

Tà cư sĩ.

thuy t_khangthuy@yahoo.com

Cám ơn Đạo Hữu Thuy Trần đã tặng cho chúng tôi bài thơ. Chính vì thế mà tôi không quan tâm cho lắm về các phái Thiền – Bắc Tông hay Nam Tông…!

Vừa rồi đạo hữu Hạ Hoàng gửi 1 web, tôi mới vào đọc được một it cũng hay .

Kim Anh