NHỮNG MÔN VU THUẬT

TÂM LINH HAY

MA THUẬT ?

Có nhiều hiện tượng hiện nay được mọi người cho đó là huyền bí, là văn hóa tâm linh như “cầu Thần nhập xác”, “lên đồng hầu bóng”, “hồn cô bóng cậu”, “đấu âm quyền”, “thôi miên”, “nhân điện”, “bùa mê thuốc lú” v.v…

Những hiện tượng nói trên đây, một phần xuất phát từ tín ngưỡng hay tập quán trong dân gian, một phần từ những môn phái, giáo phái, đa số xuất hiện từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh bên Trung Quốc, du nhập vào nước ta từ những năm Bắc thuộc đến giữa thế kỷ 20 mới hoàn toàn chấm dứt, và từ thời gian này trở đi chúng ta đã ít nghe nói đến những chuyện huyền bí, thần kỳ mới mẻ nào xuất hiện.

Những hiện tượng thần bí từ tín ngưỡng dân gian là những tục thờ cúng vượt ngoài khuôn khổ một tôn giáo. Ở nước ta có tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ còn gọi là đạo thờ Mẫu, tuy sắc thái mang tính độc lập, nhưng thực tế đạo Mẫu thuộc về tín ngưỡng thờ thần linh.

Tín ngưỡng thờ Thần không chỉ có ở nước ta hay ở nhiều nước Á châu, mà nhiều nơi thế giới đều có, được giới nghiên cứu cho rằng nó được hình thành từ tín ngưỡng “sa man giáo” của người Hung Nô, Tây Tạng trước Công nguyên.

Theo đó trong tín ngưỡng thờ Thần, mọi người thờ cúng cho một hay nhiều vị thần linh được sùng bái tôn vinh nhất. Tuy nhiên lại không thuộc vào dạng “tín ngưỡng đình miếu”, vì các vị Thần được thờ cúng trong đình miếu không được nhân rộng, như thành hoàng làng Y, làng X, không được mọi người đưa đi phối tự mọi nơi, còn tín ngưỡng thờ Thần linh, Thánh Mẫu lại được mọi người thiết lập đền miếu trải dài từ Bắc xuống Nam.

Với sự phân biệt trên, các nhà nghiên cứu xã hội học cho đây là loại hình “văn hóa tâm linh” đang hiện diện trong đời sống tâm linh của mọi người, nhất là những người không theo một tôn giáo chính thông nào, hơn là “văn hóa thần bí”, dù tín ngưỡng này còn ẩn tàng những tập tục được mọi người xem là thần bí, với những tập quán đầy tính chất thần kỳ.

Như đã nói, các nhà nghiên cứu về văn hóa tâm linh, gọi tín ngưỡng thờ thần có thể là “sa-man giáo” được biến thể, sau khi trải qua nhiều ngàn năm, là một loại hình tôn giáo bộc phát manh mún chưa được tập hợp, vì người theo Sa-man giáo thờ từ thần linh hiển Thánh hiển Thần, cho đến các linh hồn người đã chết, cung cách thờ tự, cúng tế nhiều khi không theo một quy luật nhất định.

Những người Sa-man giáo nguyên thủy, trước đây họ nghĩ gì thờ nấy, không có không gian và thời gian nhất định; trong việc tế lễ thường tự dày vò thể xác với nhiều hình thức như cắt lưỡi, xuyên lình, đi qua than đỏ lửa hồng, nằm trên đinh, cho rắn, rết, ong, kiến độc cắn khắp thân thể, đánh roi cho rướm máu, lấy đao kiếm tự đâm vào người v.v… cuối cùng vẫn vẹn toàn thân thể.

Cho đến bây giờ những hình thức sùng bái ấy vẫn còn tồn tại và hình thức không nhiều thay đổi, đôi khi còn phát sinh thêm những hình thức kỳ bí khác.

Vì thế màu sắc thần bí trong đời sống tâm linh mỗi người, còn nhiều điều cần được khám phá. Chúng ta thử tìm hiểu những điều được cho là thần bí ấy, trong vài mẫu chuyện điển hình sau đây.

Video Clip: Hầu đồng Quan lớn Tuần Tranh

http://youtu.be/T3VVQpv5B

Video Clip: Xiên lình ở Thái Lan

http://youtu.be/G0OG8K5qiMI

KHIÊU THẦN

Người sa-man giáo được nói ở phần trên đâ, được cho rằng phát xuất từ vùng cực Bắc của Trung Quốc, nơi có dân Tây Tạng và Hung Nô sinh sống đông đảo trước công nguyên, tập hợp thành tập thể, thành những bộ lạc du mục, có đời sống nhược tiểu, man khai.

Người Hung Nô (sau này được gọi dân Mông Cổ) có những buổi “cầu Thần nhập xác” không khác với tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ (thờ Mẫu) ở nước ta. Khi thừa nhận trong đời sống của họ đều có Thần, Thánh và ma quỷ ở chung quanh, tin rằng Thần, Thánh, ma quỷ có thể can thiệp vào mọi công việc, đem lại họa hay phúc cho mọi người.

Từ thời trung cổ, các bộ tộc Hung Nô thường cầu Thần cho được mùa sản xuất, khi đi đánh trận sẽ được thắng lớn hoặc để xua đuổi tà ma, hay khi chôn cất người chết, cầu được phúc được lộc, để chữa bệnh v.v…

Theo cách của người Hung Nô, mỗi khi “cầu Thần nhập xác”, thầy phù thủy như người đồng cốt, thầy pháp, thầy cúng, thầy mo ở nước ta, dùng trống một đầu bịt da dê, trên đầu đội mũ, thân mặc đạo tràng lông thú, đi giày đã được các thần linh chứng minh.

Trên vai đính vô số vỏ sò, trước và sau lưng treo những cái gương đồng to nhỏ khác nhau, trong đó gương yểm tâm và hộ bối lớn nhất, tác dụng để soi thấy thần linh và ma quỷ hiện về trong những buổi đăng đàn.

Dân Hung Nô gồm những bộ lạc du mục, nên mỗi khi đăng đàn tế lễ, các thầy phù thủy tìm đến những bãi đất trống, đốt lên một đống lửa to vào lúc nửa đêm, vì trong đêm tối các vị thần linh hay các giống ma quỷ mới xuất hiện. Những người có bệnh, người muốn chiêu hồn nhập xác để bói quẻ, hay người hiếu kỳ ngồi quanh bên bãi đăng đàn.

Khi sự chuẩn bị đã xong, các phù thủy mới đăng đàn, tay cầm trống tay cầm dùi, ngồi xếp chân trên một vị trí trước cái tháp chỉ cao hơn mặt đất chừng một thước (đàn tràng), trên đó bày biện đầy những lễ vật như cừu nướng, dê nướng, cá nướng, những hình nhân được tết bằng rơm cùng những choé rượu đầy.

Thầy đưa mắt lim dim miệng ngáp liền mấy cái, rồi bắt đầu đánh trống. Tiếng trống càng lúc càng nhanh càng to, là lúc thần linh đã nhập vào xác, bấy giờ thầy phù thủy bắt đầu mở miệng nói lảm nhảm, thân hình cứ lảo đảo lắc lư, giống người đang nhập đồng ở nước ta.

Sau những cơn lảo đảo lắc lư, người bắt đầu run rẩy một hồi lâu, sau đó liền rùn người co vai và dần dần mất hết tri giác khi tay không còn đập trống nữa. Lúc đó thầy mới đứng lên nhảy múa, miệng bắt đầu nói những điều tiên tri cho mọi người cùng nghe. Tức những lời do thần linh vừa nhập xác phán truyền.

Những ai đau yếu bệnh hoạn được dìu đến trước vị thần linh vừa nhập, khai rõ bệnh tình xin thần chữa trị, tùy mỗi bệnh có một vị thần khác nhau nhập về để chữa trị, sau đó thần linh sẽ ngậm rượu phun vào mặt bệnh nhân, đốt bùa hòa tan trong rượu đưa cho bệnh nhân uống.

Có người bệnh phải có Thần X., Thần Y. trị, nhưng khi thầy phù thủy mời các vị này không giáng về, xem như bệnh nhân không chữa được nữa. Còn người bị ma quỷ nhập các thần dùng roi đánh vào thân thể để trục xuất bọn ma quỷ ra khỏi thân xác và linh hồn.

Có những quỷ dữ không chịu xuất, người ta thấy thầy phù thủy đang được thần linh mượn xác, dậm chân múa tay ra chiều giận dữ, nhảy nhót lung tung, tay giang ra rồi dồn hết sức đánh đông, chặn tây vào người bệnh, miệng niệm chú để chiến đấu với bọn âm binh. Có khi thần linh đánh nhau với bọn ma quỷ gần đến sáng mới trục được chúng ra khỏi người bệnh nhân.

Là lúc mọi người thấy người bệnh té nằm lăn bất tỉnh mới biết thần linh đã chiến thắng; còn nếu như thầy phù thủy bị té nằm bất tỉnh, tức con ma, con quỷ còn nhập trong xác người bệnh chưa chịu xuất, gia đình phải đưa bệnh nhân đến một bộ lạc khác nhờ thầy phù thủy cao tay ấn hơn xin trục chúng ra khỏi người.

Trên đây là buổi “cầu Thần nhập xác” mà người Hung Nô gọi là “khiêu Thân”. Một trong những hình thức trong đời sống “tâm linh” của nhiều dân tộc, khi trong tư duy còn tin có Thần, Thánh, ma quỷ đang ngự trị trong cuộc sống.

Ở Trung Quốc vào đời Quang Tự nhà Thanh, ai ai cũng biết tiếng Nghĩa Hòa Đoàn, một bang hội có nhiều pháp thuật, lấy bùa phép đem bán buôn và trị bệnh. Người của Nghĩa Hòa Đoàn tuyên truyền bằng các thuật “thăng không”, do các bé gái hay các thiếu nữ trong Hồng Đăng Chiếu biểu diễn, còn bọn con trai chỉ cỡ tuổi lên 10 có trò “đấu âm quyền”, cũng là hình thức “cầu Thần nhập xác”.

ĐẤU ÂM QUYỀN

Đấu âm quyền có nghĩa, người đấu quyền với ma hay hay với quỷ. Khi bọn trẻ chỉ trên dưới 10 tuổi được đưa đến trước đàn tràng, mỗi đứa sẽ đốt một cây nhang rồi cầm quỳ lạy kêu “sư phụ” đưa hồn về nhập xác, mỗi đứa có một sư phụ riêng, như đứa được Tề Thiên Đại Thánh chỉ dạy, đứa có Võ Tòng, đứa theo Hạng Võ, đứa được Trương Phi, Triệu Tử Long hướng dẫn v.v…

Muốn được “sư phụ” nhập xác, vị sư trưởng cho chúng uống bùa, chuẩn bị sẵn quần áo đạo cụ theo hình tượng của các sư phụ, như Tề Thiên Đại Thánh phải mặc áo da thú màu vàng rằn ri, đầu đội vòng kim cô, tay cầm thiết bảng. Còn Hạng Võ người mặc áo chiến bào, tay cầm thương, Võ Tòng lại chỉ có tay không…

Khi vị sư trưởng cho uống bùa xong, liền đọc bùa chú bằng tiếng Tây Tạng (tiếng Phạn), gọi là “thượng pháp” tức thỉnh Thần. Bọn trẻ bắt đầu nằm sấp xuống, khi được gọi tên sẽ vùng dậy đấu võ với sư trưởng, đao kiếm bay tới tấp, người bọn chúng cứ nhẹ như bông, dương oai diệu võ. Lúc bùa hết linh ứng tức thì chúng đã hết sức lực, lại nằm sấp xuống, răng nghiến chặt, miệng xùi bọt mép.

Các hạng mục biểu diễn được gọi theo thứ tự như sau :

– Khi vị sư trưởng đọc bùa chú gọi là thỉnh thần.

– Khi đấu võ với sư trưởng gọi là thần giáng.

– Khi hết bùa phép được gọi là khước pháp.

Một cách “đấu âm quyền” khác, do người lớn biểu diễn sau khi đã được “cầu Thần nhập xác”, được cho biết hồn người đang đi xuống âm phủ học võ với các hồn ma khi sống là những ông thầy võ tên tuổi.

Trước hết người chủ trì rửa tay, đốt một ngọn đèn trước hương án, được gọi “đèn thần” đưa xuống Diêm phủ để rọi đường đi. Sau đó đốt một bó nhang lấy ba cây cắm vào bát nhang đặt trước “đèn thần”, số nhang còn lại đi ra trước cửa cắm vào 2 bên trái phải sau khi khấu đầu lạy mỗi nơi một lạy. Còn giữa cửa ra vào cách bàn hương án chừng năm, ba thước, người chủ trì quỳ xuống quay mặt về bàn thờ, khấn lạy thần linh, xong đứng dậy cắm vào khe tường hai bên bàn mỗi bên một cây nhang.

Sau khi cắm nhang xong ở ba nơi, người chủ trì liền đốt một xấp giấy tiền vàng bạc. Đoạn lấy một chén nước sạch đặt lên hương án, đốt ba tờ giấy bùa, tàn cho vào chén nước rồi cầm số nhang còn lại huơ lên ba vòng quanh thân chén.

Bấy giờ mới ra hiệu cho số đệ tử đến ngồi trên những cái ghế ngựa đặt trước hương án, mặt nhìn ra cửa. Sau khi đệ tử đã yên vị, người chủ trì cho họ uống chén nước đã hòa với xác bùa, đồng thời đưa mỗi người một cây nhang rồi hô to : – Thăng !

Tức thì số đệ tử liền cúi rạp mình xuống, hai đùi kẹp chặt nhau, mắt nhắm nghiền và không nói, không nuốt nước bọt, không suy nghĩ, trong đầu chỉ tập trung nghĩ đến việc xuống Diêm phủ tầm thầy học võ.

Khoảng một lúc, trong số đệ tử có người đã thở dốc, toàn thân co gập lại, lâu lâu như người bị chứng phong giật. Cây nhang cầm trên tay do run rẩy rơi xuống, đôi chân của họ liền dậm mạnh xuống đất theo nhịp lắc lư của thân hình.

Có khi nghe tiếng dậm đạp nhanh hay chậm, người chủ trì cho hay họ đang phi ngựa về hướng “Quỷ Môn Quan”, hay đang trình báo với Qủy Vương tìm sư phụ có tên XXXX.

Đệ tử nào “thăng” được, tâm hồn họ như đi vào trạng thái mê cuồng, nhìn người chủ trì đang niệm chú tâm sự :

– Con chưa gặp được lão sư phụ XXXX.

Người chủ trì liền đáp :

– Con bình tĩnh chờ đợi, lão sư phụ XXXX đang được Quỷ Vương mời đến nơi rồi.

Một đệ tử khác cũng đã đến trước “Quỷ Môn Quan” và nói với người đến trước :

– Ta là võ sư XXXX đây, con muốn gì ở ta ?

Người nọ bèn đáp :

– Dạ con muốn học bí kíp võ công của sư phụ.

Thế là hai người bắt đầu vận động cho cơ thể nóng lên, chuẩn bị đấu quyền, giữa một người được võ sư XXXX nhập, và một người đưa hồn đi tìm thầy học võ dưới âm phủ.

“Võ sư XXXX” liền nghiến răng bay lượn, ra quyền phóng cước ào ào, người kia cứ tập theo, đoạn hai người đem sở trường, sở học ra đấu kiểm tra, lúc lùi lúc đấm, lúc đá…

Người chủ trì “trên dương thế” muốn cả hai phải ngưng tay khi thấy ba cây nhang trên bàn hương án sắp tàn, liền lấy một cây gậy dài vẽ ra một vòng tròn dưới đất đoạn nói :

– Một trong hai người, ai bị đánh văng ra khỏi vòng tròn là thua cuộc !

Tức thì cuộc đấu quyền cước càng lúc càng tưng bừng, mạnh mẽ, nhanh nhẹn hơn, một người bị đá văng ra ngoài vòng. Người chủ trì thấy thế lại hô to :

– Về lại nhà ngay !

Lúc ấy cả hai đệ tử lại biễu diễn động tác phi ngựa trở về. Mọi người xem “đâu âm quyên” thây hai đệ tử sau khi ngôi lại trên ghê bông lăn xuống đất, mê man. Người chủ trì cho biết, cả hai đã quá mệt sau khi đấu võ dưới âm ty.

Ba cây nhang đốt trước “đèn thần” chỉ cho phép người xuống dưới âm phủ lên lại trần thế khi cây nhang chưa tàn, còn nhang đã tàn mà người chưa lên ắt sẽ chịu chết không còn cứu nổi.

HÀNH THI

“Hành thi” cũng thuộc “vu thuật”, tức mượn thây người chết cho hoàn hôn lại một thời gian như người sống, nghe thoáng qua thật rùng rợn. Theo tương truyền thuật này thường xảy ra ở cao nguyên tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Có người kể, các thương nhân vùng Quý Châu, tỉnh Hồ Nam chuyên nghề buôn gỗ, thường chờ mùa nước nổi mới kéo bè đi chở gỗ về Thường Đức để bán.

Đường rừng, đường sông thường là nơi “rừng thiêng nước độc” làm nhiều người hay ngã bệnh sốt rét mà chết, đường xá về quê nhà lại xa xôi, đi lại khó khăn, nên không thể đưa xác về bằng bè cho kịp thời gian tẩn liệm. Trong số thương nhân buôn gỗ luôn phải có người đồng hành là một pháp sư biết thuật “hành thi”, dùng phép thuật cho thây ma “mượn hồn” được sống lại cả tháng, đi theo đường bộ mà về nhà. Đi đứng nằm ngồi do pháp sư hướng dẫn.

Trong thuật “hành thi” không chỉ có một vị pháp sư, mà phải đủ hai người mới thực hiện được, thường người thứ hai là đệ tử của ông ta.

Một người đi trước dẫn đường, một người cầm chén nước có bùa chú đi sau người chết. Nếu nước trong chén không sánh ra ngoài, thây ma sẽ không ngã, nhưng cách đi đứng của thây ma có khác người thường và nhất nhất đi theo người dẫn đường phía trước, cũng như thây ma không thể nói năng đến nửa lời vì đây là người đã chết.

Người đi trước đi thì thây ma đi, nếu dừng chân thì thây ma dừng theo. Ban đêm vào quán trọ, cho thây ma hết chịu ảnh hưởng của bùa chú nên để nằm một nơi, nhưng thông thường họ để thây ma nằm gác nơi trước cửa, còn ăn cơm “ba người ngủ trọ, chỉ có hai người ăn cơm”.

Một ngày trước khi vê đên nhà, hồn người chết sẽ về báo mộng cho thân nhân biết tin trước, chuẩn bị quan tài để sẵn, các đồ khâm liệm. Khi thây ma vừa về đến nhà sẽ đứng sừng sững cạnh bên quan tài, tức thì người đi sau đổ chén nước có bùa chú xuống đất, xác chết liền ngã xuống nền nhà.

Chuyện “hành thi” nhiều khi phải đi như thế cả tuần, hay mười ngày ròng. Cho nên khi xác chết vừa nhập thổ phải được khâm liệm ngay, nếu không do thời gian đi đường kéo dài xác chết đã thối rữa, có hiện tượng xì nước hay có dòi từ trong người xuất hiện.

TỬ CÔ MƯỢN XÁC

Việc mượn hôn như “câu Thân nhâp xác” để bay lơ lửng lên trời, nghe thây hoang đường nhưng mọi người tin là có thật. Trong nhóm Nghĩa Hòa Đoàn thời cuối nhà Thanh, đã có những cô gái biết bay tức học được thuật “thăng không” (bay lên trời). Nhưng thuật này theo tương truyền đã có từ đời nhà Tống.

Thông thường vào ngày rằm tháng giêng, hay vào những ngày âm khác, các cô gái trẻ còn trinh trăng thường chiêu hồn Tử cô về nhập xác. Nhưng vào ngày tết Nguyên Tiêu, các “Tử cô” thường về nhập xác để vân du (cưỡi mây) hơn những ngày âm trong năm.

Câu chuyện về cầu “Tử cô” (cô gái còn trinh chết non) nhập xác cưỡi mây (thăng không) như sau :

– Đời Cảnh Hựu (1034-1037) có viên quan tên Vương Luân, có cô con gái thích vào ngày rằm lập đàn tràng đón tử cô về nhà. Thường khi nhập xác Tử cô hay phán truyên cho biêt những chuyên vị lai, hay dẫn xác bay lơ lững trên không, làm xác rât thích thú. Tử cô liền nhập vào xác cô con gái họ Vương, tự xưng đang là cung nữ sống trong hậu cung của Giao Trì Vương Mẫu, còn tự khoe là tiên nữ nên rất đẹp người, giỏi thơ văn đàn họa. Khoe xong và để chứng minh, Tử cô liền viết ngay một bài thơ khiến Vương Luân mới tin là đúng, vì con gái ông không biết làm thơ, lại thêm nét chữ rồng bay phượng múa mà con ông chưa hề viết đẹp đến thế.

Tử cô còn nói với Vương Luân :

– Trước đây ngài là bạn thân của cha tôi, còn tôi cũng thân với con gái của ngài.

Bấy giờ Vương Luân nhìn lại con gái, thấy hình dáng đã thay đổi, mặt rất giống đứa con gái của người bạn xưa, nhưng chỉ thấy từ phần bụng trở lên. Rồi Tử cô lại nói tiếp :

– Tôi có thể đưa con gái ngài cưỡi mây cùng tôi dạo chơi hay không ?

Vương Luân liền gật đầu đồng ý, thế là trước đàn tràng đùn đùn toàn mây trắng thoát ra, Tử cô mượn xác con gái của Vương Luân nhập hồn, liền đi đến ngồi lên, nhưng mây không bay lên được. Ông lại nghe có giọng nói từ trong mây vang vọng ra rằng :

– Dưới gót hài nàng mang có đất bẩn, cần phải bỏ đi.

Tử cô nghe theo liền thoát bỏ đôi hài, đi chân không trèo vào mây, người nhẹ như bông. Đám mây trắng đưa thân xác cô gái bay lên, một khắc sau đã đáp xuống. Theo lời kể của cô con gái, lúc cưỡi mây tâm hồn cô thấy nhẹ tênh, lâng lâng niềm sảng khoái, thấy bầu trời bao la đầy cảnh đẹp tựa bài thơ ca tụng cảnh bồng lai.

Tử cô mới nói với Vương Luân :

– Tôi trở về cung Vương Mẫu đây, đi chơi lâu quá rồi xin hẹn lại lần sau.

Con gái Vương Luân còn mời Tử cô về nhà được mấy lần nữa, lần nào cũng được Tử cô cho “đi mây về gió”, đến khi cô gái đi lấy chồng Tử cô không nhập về nữa.

Có người nói Tử cô chỉ nhập xác với người hợp tuổi, hợp vía và hãy còn đồng trinh, khi thành đàn bà không còn sự trong trắng bản thân, Tử cô không mượn xác nhập hồn mà vân du nữa.

Có thể chuyện trên chỉ thuộc loại thần thoại hoang đường, nhưng vào thời văn minh cận đại, một tổ chức của Nghĩa Hòa Đoàn có tên Hồng Đăng Chiếu, từng dùng chiêu “cầu Thần nhập xác thăng không” để truyền bá giáo phái.

Tổ chức Hồng Đăng Chiếu chỉ dùng các cô gái khoẻ đẹp, không lớn quá 18 và không nhỏ quá tuổi 12, mặc quần áo, giày vớ đỏ, đầu quấn khăn đỏ; một tay cầm quạt đỏ, một tay cầm khăn đỏ. Mỗi khi muốn bay lên không, liền đốt ba nén nhang miệng niệm chú, tay vẩy quạt, là có thể bay lên khoảng không đến mấy thước.

Người của Hồng Đăng Chiếu thường dạy các cô gái như sau, khi mới luyện chờ đêm khuya thanh vắng, các cô dùng một chậu bằng đồng chứa đầy nước, rồi nhìn vào thau đồng đọc bùa chú, một lúc thì đứng được trên miệng chậu, đoạn dùng hai tay phe phẩy quạt và khăn là có gió nổi lên, thế là các cô gái từ từ bay lên. Tập như vậy chỉ năm, mười bữa là thuần, có thể bay lơ lửng lên không đến mười thước.

TẨU ÂM

Thuật “Tẩu âm” thuộc hình thức vu thuật cổ nhất, các sách cho rằng tẩu âm có từ thời cổ đại của Hy Lạp, La Mã và Ai Cập tức thời kỳ những nước này đang là những Đế Quốc hùng mạnh nhất trong thiên hạ, từng đi chinh phục khắp các nước châu Âu, châu Phi hai bờ Địa Trung Hải. Sau này ở Ấn Độ, Trung Quốc cũng phổ biến thuật tẩu âm, tức cho người sống gặp người chết.

Thuật này xuất hiện mỗi khi có ngày lễ lớn, các thầy tư tế đều tiến hành, bói trừ tai họa cho tín đồ, có khi còn tổ chức “tẩu âm” cho tập thể.

Vị tư tế – ngày xưa chưa có các giáo sĩ Ki Tô giáo, tăng lữ Phật giáo hay tín đồ Hồi giáo… – trông coi việc cúng bái thờ tự thần linh, đăng đàn đảo vũ cầu mưa, cầu giải trừ tật ách. Vị tư tế cho tín đồ nhìn vào rún của mình, chỉ một lúc sau các tín đồ đều nhắm mắt đi vào trạng thái mê ảo, thấy được thần linh hiện về truyền cho nhiều điều dự báo sắp đến trong gia đình, hay để chữa bệnh.

Còn những ai muốn gặp riêng hồn người chết phải được làm riêng lẻ, vị tư tế dùng thuật “thôi miên” nhìn vào mắt người đối diện, miệng niệm chú, sẽ thấy hình dáng người thân hiện ra trong đầu, rồi với hình thức “thần giao cách cảm” mà trò chuyện với người trong mộng.

Vào thế kỷ 19 các nước trung Âu có cách tẩu âm mới, tức thuật “cầu cơ” triệu hồn, hay một nhóm người vỗ bàn mời linh hồn người chết trở về.

– CẦU CƠ : người muốn cầu cơ phải có một mảnh ván quan tài lấy từ dưới huyệt mộ lên, cắt thành một cái bàn hình chữ nhật viết lên đó đủ mẫu tự ABC, có hai ô bên trái thuộc Dương biểu tượng cho người nam, bên phải thuộc Âm biểu tượng cho nữ giới. Mỗi bên cũng lấy ván hòm cắt thành hình trái tim – biểu tượng cho tiếng nói tận đáy lòng –

Bất cứ vào ngày nào cũng được, nhưng người châu Âu thích cầu cơ vào các ngày thứ sáu 13 ngày mà theo tính sùng bái cho là ngày xui rủi và ma quỷ thường hiện về, hoặc vào ngày 1 tháng 11 dương lịch tức ngày lễ các Thánh, tưởng niệm các linh hồn người chết…

Vào giữa đêm, hai người đi đến bãi tha ma nơi chôn cất người thân mà họ muốn mời hồn về trò chuyện. Đặt bàn cầu cơ trước ngôi mộ và dưới ánh sáng mù mờ của ngọn đèn, người thay mặt cho linh hồn người chết sẽ ngồi đối diện, nếu hồn được triệu về là nam giới, người được mượn xác chỉ dùng một ngón tay trỏ đặt lên mặt trái tim bên Dương, còn người hỏi chuyện cũng dùng ngón tay trỏ đặt lên trái tim còn lại.

Trước khi đi vào buổi cầu cơ, hai người ngồi đọc những bài kinh sám hối, ở châu Âu đa số người theo Ki-tô giáo và Tin Lành, nên thường đọc kinh Phúc âm, còn ở châu Á dù theo đạo Phật hay không, người ta không đọc kinh kệ mà trong lòng chỉ thành tâm khấn vái, rồi gọi tên tuổi người chết để mời linh hồn họ về nhập xác, nói chuyện trên bàn cơ.

Nếu linh hồn người chết đã nhập xác, tức thì ngón tay trỏ giữ trái tim bên Dương, sẽ nhẹ nhàng lướt đến từng mặt chữ để thành câu hỏi hay lời giải đáp, người xin cơ như có “thần giao cách cảm” ngón tay trỏ của họ cũng nhẹ nhàng đẩy trái tim đến những mẫu tự để đối đáp.

– VỖ BÀN : cũng thuộc thuật chiêu hồn, tức một nhóm người ngồi quanh một cái bàn cùng tham gia, đa số mặt bàn đóng bằng ván quan tài đã cải táng. Vị đồng cốt (phù thủy) lẩm nhẩm đọc thần chú gọi hồn người chết về trả lời các câu hỏi do thân nhân đang ngồi bên bàn lên tiếng, vị này sau khi đọc xong liền vỗ vào bàn, như để mời gọi hồn người chết về. Nếu hồn người chết về đến thì bàn tự nhiên run lên hay nghiêng lệch một bên.

Thường các gia đình có người mới chết mới dùng thuật tẩu âm đê mời hôn người thân vê hỏi những điêu trước khi lâm chung không được rõ ràng, hay nhờ vấn kế, phù hộ công việc mà người sống đang vướng mắc không thể giải quyết.

Vì có người tin vào vu thuật, nên mới có tục sùng bái Thần Thánh, linh hồn người chêt qua các thuật nhập đồng, khiếu thần… như vừa kể trên.

THIÊN VIỆT

 (Trích trong Almanach Tâm Linh – sắp xuất bản)

Advertisements

NGÔI CHÙA CỔ VÙNG KINH BẮC

CHÙA BÚT THÁP

LỪNG DANH KINH BẮC

Mênh mông biển lúa xanh rờn

Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau

Một vùng phong cảnh trước sau

Bức tranh thiên cổ đượm màu nước non.

(Ca dao)

Ở miền đồng bằng Bắc bộ, dân gian có câu nói truyền tụng : “cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”, Nam là Sơn Nam (Nam Hà, Thái Bình, Hải Hưng, nơi có nhiều cầu đá), Bắc phía Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, nổi tiếng với những chùa cổ, tiếng hát quan họ), Đoài ở hướng Tây (Hà Tây, Sơn Tây, rất hãnh diện với những đình làng lớn đẹp như đình Tây Đằng, đình Chu Quyến).

Ninh Phúc Tự là một trong các chùa cổ ấy nằm trên bờ sông Đuống hiền hòa cách Hà Nội khoảng 25km, còn được gọi chùa Nhạn Tháp vì thỉnh thoảng có những con chim nhạn bay về đậu trên đỉnh các tháp. Chùa tọa lạc ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được vua Tự Đức đặt tên chùa Bút Tháp vì tháp Báo Nghiêm trông tựa cây bút lông. Chùa nằm trong vùng Siêu Loại (tên quê hương Nguyên phi Ỷ Lan) có thành cổ Luy Lâu, làng tranh dân dã Đông Hồ, đền thờ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ, nơi phát tích đạo Phật với những chùa Phật Tích, chùa Keo, chùa Dâu tức Cổ Châu Tự.

Theo truyền thuyết, chùa Bút Tháp được xây dựng từ thế kỷ 13, dưới đời vua Trần Thánh Tông, nhưng như nhiều chùa chiền xưa ở nuớc ta, vật liệu xây dựng là tre, gỗ nên khó chịu đựng được sức tàn phá của thời gian, dễ bị hủy hoại.

Vị tu sĩ trù trì đầu tiên ở chùa là Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), quê gốc làng Văn Ty, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Dưới đời vua Trần Thái Tông, tưong truyền có bà mẹ họ Lê nhân nằm mộng thấy một con khỉ đội mũ vuông, mặc áo vàng, phóng vào bụng bà một mặt trời đỏ, từ đó thụ thai mà sinh ra Thiền sư. Thi đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi, bổ làm quan Viện Hàn lâm, có tài ứng đối, thông thạo kinh nghĩa, không có ý sắc dục. Ngài xuất gia năm 51 tuổi. Ngài là vị tổ thứ ba dòng Lâm tế, có cho xây một ngôi tháp chín tầng, trang trí hoa sen, loại cối xay cầu nguyện, ngày nay là Tòa Cửu Phẩm. 

Qua thế kỷ 17, Hòa thượng Chuyết Công, quê gốc Phúc Kiến, có công xây dựng làm chùa nổi tiếng, sau khi viên tịch được vua Lê phong Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Kế nghiệp là vị đồ đệ xuất sắc Thiền sư Minh Hành (1644) quê gốc Giang Tây. Cuộc điều khiển xây dựng của hai vị giải thích ảnh huởng Trung Quốc trong kiến trúc chùa. Vào lúc nầy, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc tức Diệu Viên và con gái Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên tức Diệu Tuệ được chúa Trịnh cho phép bỏ công sức thiết lập quy mô kiến trúc căn bản cho ngôi chùa. Qua đầu thế kỷ 18, chùa được các quan viên họ Lê như Luân Quận công, Dĩnh Quận công, Thế Thái Hầu, Ninh Lộc Hầu,… cùng với Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh bỏ tiền mua sắm gỗ gạch tu bổ, lại thêm được dân làng mời thợ sửa sang cho khang trang hơn.

Sang thế kỷ 20, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu thấy chùa hoang vắng liền thu tập tiền của trùng tu sửa chữa. Nói chung, từ thế kỷ 17 đến nay, chùa đã được trùng tu non mười lần, lần cuối cùng những năm 1990-1993, chùa được tạo dựng hoàn toàn, hiến cho ta ngày nay một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc khá nguyên vẹn, chứa đựng một số chứng tích, di vật điêu khắc độc đáo, hiếm có niên đại nhiều thế kỷ.

Kiệt tác nghệ thuật nầy được thực hiện một phần lớn, như đã thấy, là nhờ công lao của hai mẹ con Hoàng thái hậu Ngọc Trúc và Công chúa Ngọc Duyên. Năm 1619, chúa Trịnh Tùng bắt vua Lê Kính Tông tự tử rồi lập Hoàng tử Duy Kỳ lên ngôi, lấy hìệu Lê Thần Tông. Người thông minh, học rộng, nhà vua còn bị Trịnh Tùng ép lấy con gái mình là Ngọc Trúc đã có chồng là Lê Trụ bị xử trảm và bốn con. Làm vua đến 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi lại cho con là Thái tử Duy Hữu tức Lê Chân Tông rồi đưa Ngọc Trúc về Thanh Hóa xây dựng chùa Mật, nay đã hoàn toàn bị phá. Bên phần Hoàng thái hậu, số phận long đong, cũng muốn nương nhờ cửa Phật, bèn cùng các thân nữ lại chùa Phật tích nghe Thiền sư Chuyết Chuyết giảng kinh. Từ đấy, bà xin vua cha cho phép trùng tu chùa Bút Tháp đang đổ nát để sau nầy chính thức xuất gia. Công chúa Ngọc Duyên tình nguyện cúng các ruộng lúa làm chi phí. Khi chùa hoàn thành, Thiền sư dời sang trù trì, Hoàng thái hậu cùng các con gái, các hoàng thân ở cung vua phủ chúa cũng kéo nhau về đó. Năm 1644, khi Thiền sư Chuyết Chuyết viên tịch, Thiến sư Minh Hạnh đến nay trù trì chùa Phật Tích và đã nhiều lần được gởi qua Trung Quốc thỉnh kinh, sang Bút Tháp kế nhiệm.

Trong số các kiểu chữ tam, chữ đinh, chữ công định nghĩa theo hình thức, kiểu nội công ngoại quốc đã được chọn : bên ngoài hình chữ khẩu hay chữ quốc bao quanh bảy tòa nối liền Tiền đường đàng trước với Hậu đường (hay Nhà Hậu, thờ Thánh Tam tòa, Tứ phủ, các sư tổ) phía sau ; giữa hai tòa ầy nối tiếp nhau qua những khoảng trống lộ thiên, từ ngoài vào là Tiền đường, Thiêu Hương, Thượng đìện, Tích Thiện Am (hay Tòa Cửu Phẩm), Nhà Trung, Phủ Thờ. Nếu Tiền đường, Thiêu Hương Thượng đìện dính với nhau, sắp thành chữ công, hai Nhà Trung Phủ Thờ tách rời riêng biệt, còn Thượng đìện Tích Thiện Am được nối nhau qua một cây cầu đá. Hai bên những tòa nhà nầy là hai hành lang 26 gian dài hơn 100m chạy suốt dọc chùa. Ngoài tổng thể nầy, toàn bộ hướng về phía nam, hướng của trí tuệ, bát nhã, trước chùa có Tam Quan trống rỗng, bỏ ngỏ tỏ rõ tấm lòng từ bi đức Phật luôn mở rộng đón nhận tất cả kiếp người và Gác chuông hai tầng tám mái khá cao, tầng trên lát gỗ lim đen bóng, ở giữa quả chuông đồ sộ đời Gia Long thứ 14 (1815) ; hai bên có hai nhà bia (1647 : Xây dựng chùa Ninh Phúc ; 1674 : Cúng ruộng cho Tam bảo chùa Ninh Phúc) ; sau có các Tháp Tôn Đức, Ni Chân, Tâm Hoa ; hai bên hông có Tháp Bảo Nghiêm, Nhà tổ và những Tháp mộ các thiền sư.

Trong số các tượng hình trong chùa Bút Tháp, có tiếng nhất là pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn tức Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay, kiệt tác của nền điêu khắc Việt Nam. Cao 370cm, đường kính vành tay 224cm, tượng được đặt trong Thượng điện cùng với những tượng Tam Thế, các vị Bồ Tát như Thích Ca Tuyết Sơn, Văn Thù, Phổ Hiền,… và hai dãy 18 vị La Hán sát tường hai bên. Dưới bệ tượng có ghi tên người khắc là một ông họ Trương, sau mười năm nghiền ngẫm, làm xong mùa thu năm Bính Thân (1656) nghĩa là tác phẩm thuộc về loại sớm nhất trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo ở nước ta.

Hóa thân Quan Âm của đức Avalokitesvara hàm nghĩa là nghe tiếng kêu than của chúng sinh để đến cứu độ. Tay tượng gồm có 42 tay lớn không cầm pháp khí (kim cương, chử, vòng, chuổi hạt, hạt châu,…) như thường lệ, 958 tay nhỏ tạo thành 7 vòng tay. Các cánh tay nhịp điệu khác nhau, trong lòng mỗi bàn tay mang một con mắt, kết thành một vầng hào quang quanh đầu, trên có hình Diệu âm điểu Kalavinka tượng trưng cho Phật pháp vĩnh cữu.

Tích Phật kể Ngài lo nghĩ nhiều cho đời nên đầu vỡ thành nhiều mảnh, Phật A Di Đà cảm thông đã dùng phép thuật vô biên biến hóa mỗi mảnh thành một bộ mặt để tăng thêm pháp lực cứu độ chúng sinh. Vì vậy, xếp thành 4 tầng, Ngài có 11 bộ mặt tượng trưng cho những đức tính cần thiết trước để đức Bồ Tát, sau để giúp chúng sinh đạt đến giác ngộ. Đức Quan Âm ngồi thiền định, bàn chân mặt ngửa trên đùi trái theo thế bán kiết già, trên một tòa sen Rồng đội. Con rồng nầy là hóa thân của Long Vương Upananda, thêm vào những sinh vật ngao, ốc, cua, hến,…lặn lội giữa những lớp sóng động của Thủy cung, hàm ý Phật pháp thuấn nhuần thế gian.

Trong Thượng điện, đức Quan Âm còn có mặt qua ba pho tượng Quan Âm Tọa Sơn, hai pho bằng gỗ thế kỷ 17-18, một pho bằng đất thế kỷ 19-20, cao 140cm, khuôn mặt thanh tú. Trong các pho nầy, Ngài ngồi chân mặt gập, bàn chân dẫm xuống đất, đầu gối cao ngang ngực, chân trái ngả nằm trên mặt bệ, theo kiểu Thanh nhàn đế vương Maharaja lilasana. Tượng Tuyết Sơn cao toàn bộ 222cm, còn gọi Tây Thiên Đông đô lịch đại tổ, trình bày chân dung Thái tử Thích Đạt Đa khi đi tu ép xác ở núi tuyết, cơ thể, mặt mày rõ ràng đau khổ.

Trong Phật điện Việt Nam, thường có hai thị giả được thờ hai bên đức Phật Thích Ca, hai hình tượng được xem là sớm nhất trong ngành điêu khắc Phật giáo Việt Nam là hai pho Văn Thù và Phổ Hiền. Văn Thù Sư Lợi tức Manjushri, cao 125cm, dịu hiền, sắp bên mặt, là vị Bồ Tát của trí năng, người chiến thắng bóng tối và ngu dốt. Tay cầm kiếm Kim Cương đoạn diệt mê hoặc, Ngài ngồi trên lưng sư tử mà sức mạnh là biểu tượng cuộc tồn sinh và năng lực phát sinh nên Ngài cũng là vị Bồ Tát của sự giác ngộ. Phổ Hiền Bồ Tát tức Samanthadra, cao 180cm, sắp bên trái, được xem là vị Bồ Tát hộ vệ những ai tuyên giảng đạo pháp. Ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí tuệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan, Ngài được kê trong Phật Đài Nhật Bản, cũng là một trong bốn Đại Bồ Tát Trung Quốc. Trú xứ của Ngài là núi Nga Mi, nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Độ sang Trung Quốc.

Chùa không quên ơn các vị đã bỏ công của ra trùng tu chùa nên trong Phủ Thờ có tượng của Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595-1660) tức Chúa bà Kim Cương, tượng hai Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (1615-1664), Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và tượng Thái Tử Lê Đinh Tứ. Khi xây chùa Mật, vua Lê Thần Tông có cho tạc chân dung mình và sáu bà hoàng. Hiện nay tượng vua và năm hoàng phi được đặt tại Thái miếu nhà Lê ở Thanh Hóa. Ở chùa Bút Tháp, các chân dung chịu ảnh hưởng của các tượng chùa Mật, có lẽ vì được cùng các nghệ nhân tạc khắc, tuy không sâu sắc bằng. Vẻ mặt cao quý, tượng các bà hoàng được đặt trong các khám thờ trang trọng.

Ở giữa, tượng bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Trúc, cao 95cm, không còn giữ y phục vương triều mà được khoác áo tu hành giản dị. Khuôn mặt cương nghị, đôi mắt mở to tỏ ra một người đã từng sống và đã từng trải qua những cơn đau khổ. Hai bên tượng hai Công chúa Ngọc Duyên và Quận chúa Ngọc Cơ, cao 120cm, đội mũ phượng, xiêm y có chạm hoa văn, cách tạo hình trang trọng và rực rỡ như chân dung ở chùa Mật. Còn pho tượng nam giới là Thái Tử Lê Đinh Tứ cao 170cm. Trong Nhà tổ, có hai tượng Thiền sư Chuyết Chuyết (1590-1644) tức Chuyết Công, cao 95cm và Thiền sư Minh Hành (1595-1659) pháp hiệu Tại Tại, có mặt vuông vức, mũi gồ. Rải rác ở Thượng điệnHậu đường còn có một số loạt tượng chân dung hoàng thân, sư tổ, khó xác định tên tuổi từng người. Vua Trần Nhân Tông, thuở ban đầu chùa Bút Tháp, đã có gởi lòng thủ phận trong một bài thơ thiền bằng chữ Hán. Dịch : (trích sách của Phan Cẩm Thượng)

Ai trói mà tìm phương giải thoát

Không phàm hà tất kiếm thần tiên

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người già yếu

Vẫn trước am mây với sập thiền.

Phải trái trôi theo hoa rụng sớm

Danh lợi lạnh lòng trận mưa đêm

Hoa tàn, mưa lạnh, núi non lặng

Cuối xuân sót lại một tiếng chim.

Tòa Tích Thiện Am, như tên gọi có nghĩa chứa điều lành, xây từ năm Tân Dậu 1681 đến năm Tân Mùi 1691 như thấy ghi trong tấm bia, còn được gọi Cửu phẩm liên hoa vì giữa tòa có đặt một cối kinh bát giác cao 7,8m, bằng gỗ 9 tầng, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca. Tháp mang ý nghĩa cửu phẩm vãng sinh về thế giới cực lạc của đức Phật A Di Đà. Theo nghi thức Phật pháp Mật tông nguồn gốc Tây Tạng, tháp quay có mục đích nhân lời tụng lên nhiều lần (3.542.400 lần khi quay một vòng tháp !), từ đó con người càng chóng chứng quả Phật pháp hơn. Bên cạnh nhiều pho tượng Phật và các vị Bồ Tát, tám mặt của tháp có chạm những bức phù điêu liên quan đến tích nhà Phật, khuyến thiện trừ ác, hành trang các vị tổ, đại sư.

Tầng một : Hoa tàng thế giới, Sa bà thế giới. Tầng hai : Anan kết tập, Di Đà thuyết pháp. Tầng ba : Tín thụ tác lễ, Cực lạc thế giới. Tầng bốn : Thiền sư, Lục tổ. Tầng năm – tầng tám : 8 vị Phật, tổng cộng 32 vị. Tầng chín : 4 tượng Di Đà và hai hàng chữ : Cửu phẩm liên hoa, A Di Dà Phật. Đục chạm tinh xảo, sắp xếp hoàn hảo người vật, cây Cửu phẩm chùa Bút Tháp là một trong ba cây ở Việt Nam, đều nằm trong địa bàn phát triển của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Tòa Tích Thiện Am nối liền với Thượng điện qua một cầu vồng đá cong bắc ngang qua hai hồ sen mang tên Bích Da. Được hai con sư tử bảo vệ ở phía đầu, cầu dài 4m, gồm 3 nhịp uống cong, mặt cầu lát đá xanh, trên lan can có 12 bức chạm khắc đá, nối tiếp 26 bức trên lan can tòa Thượng điện. Cao 14cm, rộng 130cm, những bức nầy được phân bố cân đối, hợp lý, chạm khắc công phu, tinh xảo, trang trí nhiều đề tài giới hạn trong lĩnh vực chim (cò, phượng, hạc, vẹt), thú (ngựa, thỏ, dê, hươu, cá, khỉ, rồng, kỳ lân, tê giác, sư tử), cây (tùng, mai), hoa (cúc, sen, lan, hướng dương, phù dung, loa kèn) và thiên nhiên (mặt trăng, mặt trời) trong những hoạt cảnh truyền thống (phượng múa kỳ lân, đôi cá vờn trăng, sư tử vờn cầu, đôi lân quyết đấu, năm rồng gặp biển, năm ngựa cùng phi,…). Trong một nơi nghiêm chỉnh, những bức chạm khắc đá nầy là những hình ảnh vui tươi, sống động quen thuộc trong dân gian. Những cây hoa được chọn trong số những loài tượng trưng cho tính cách tốt đẹp của con người : mai (sự trong trắng), lan (sự cao quý), tùng (khí phách người quân tử),…Những con vật huyền thoại được trình bày trong một trạng thái hư thực nhưng phản ảnh đời sống : rồng chầu mặt trời (thăng hoa tột đĩnh), phượng múa bên hoa phù dung (tài tử giai nhân trong thiên hạ),… Những bức chạm khắc đá nầy lẫn lộn khô khan, giáo điều với ngẫu nhiên, hứng thú, khi rõ ràng, khi khó hiểu, nhưng thực hiện khéo léo, tinh vi, vừa làm vừa lòng những bậc tôn giả, vừa gây vui thích đám dân quê mộc mạc.

Sau cùng, bàn đến chùa Bút Tháp không thể quên tháp Báo Nghiêm. Đây là nơi thờ Thiền sư Chuyết Chuyết, người có công lớn xây dựng chùa. Tháp đá cao 13m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh ; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,30m. Hai vòng tường cột và lan can bao quanh phần bệ tượng. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc. Tháp có 23 bức chạm đá lấy các cây hoa và chim thú làm đề tài chủ yếu như những bức ở Thượng điệnCầu đá : 8 bức ở chân lan can, 8 bức ở tầng một chân tháp, 7 bức ở tầng hai tháp. Ta gặp lại những chim (cò, hạc, phượng), thú (hổ, rồng, hươu, ngựa, dê, cua, cá, kỳ lân, sư tử), hoa (sen, hướng dương, phù dung). Ở đây, ngoài vài hoạt cảnh đã thấy ở trên (hạc múa kỳ lân, sư tử vờn cầu,…) có vài màn mới (dê núi dưới trăng), đặc biệt có mặt con người (người quỳ nâng tháp, vị quan và con hạc). Nói chung tất cả các bức chạm khẳc đá đều thống nhất với nhau về mặt chất liệu, phong cách, từ đấy niên đại. Hình ảnh sống động, chan hòa tính chất nghệ thuật thiên nhiên, giúp thêm ý nghĩa đạo Phật.

Được bộ Văn hoá xếp hạng Di tích Quốc gia từ tháng tư 1962, Bút Tháp là một ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn của đồng bằng Bắc bộ còn đuợc bảo tồn khá nguyên vẹn đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa với môi trường thiên nhiên. Những pho tượng chân dung hoàn chỉnh nhất được xem là khuôn mẫu tạo hình cho những giai đoạn sau. Có vài yếu tố mang đậm dấu ấn Trung Quốc trong kiến trúc đã được kết hợp một cách hài hòa với các yếu tố văn hóa truyền thống của Việt Nam. Cho đến ngày nay, chùa Bút Tháp vẫn giữ trong mình những giá trị đặc sắc được tích tụ trong mỗi quá trình tồn tại của mình. Hằng năm, mỗi dịp xuân về, hội chùa Bút Tháp lại được diễn ra trong niềm vui náo nức và lòng sùng kính của khách hành hương. Đến với lễ hội, tăng ni phật tử cùng du khách thập phương không chỉ được chiêm ngưỡng những pho tượng cổ nổi tiếng mà còn được hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc của lễ hội vùng quê bên bờ nam sông Đuống với trò chơi đánh đu, đấu vật, chọi gả, thả chim, ca hát quan họ, diễn chèo… Không chỉ vào dịp lễ hội, chốn danh lam cổ tự Bút Tháp còn là điểm đến thường xuyên của đông đảo du khách gần xa. Đồng thời đang trở nên một trung tâm du lịch, chùa còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử văn hóa của vùng quê văn hiến Kinh Bắc – Bắc Ninh.

Mừng Phật Đản 2556 (2012)

Huỳnh Mỹ Nhàn (theo bài và ảnh Võ Quang Yến)

HỒN MA TRÊN NÚI CẤM

LỄ VÍA MIẾU

BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang,. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc & tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực.

Nguồn gốc

Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng ngài Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà  Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và đào con kênh Vĩnh Tế hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

Kiến trúc

Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay.

Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ thứ VI, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo.

Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng : Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Khi người Việt Nam tiến đến khai hoang lập ấp đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng.

Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2 m)…

Việc thờ cúng

Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 Âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm :

– Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

– Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị ngài Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

– Lễ túc yết và Lễ xây chầu : Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

– Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

– Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

Ý nghĩa việc thờ cúng

Nhà văn Sơn Nam viết:

Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ thứ XIX, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp…

Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài… Đây là dạng tu tiên, một dạng như : Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc công chúa Liễu Hạnh… nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà núi Sam hội đủ : Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

Theo Nguyễn Đức Toàn, thì :

Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc… Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm :

Do ảnh hưởng Phật Giáo, Lão Giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm ” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối vớ người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau :

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

Tạm dịch:

Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông

(Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

Ngày 10/7/2000, Bộ Văn Hóa đã ký quyết định số 92/VH-QĐ công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc khu di tích Núi Sam là cấp Quốc gia.

Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ.

Lê Hoàng Nguyễn post (tổng hợp)

HỒN MA TRÊN NÚI CẤM

Thất Sơn là vùng núi linh thiêng và cũng đầy những chuyện huyền bí.

Ngày trước trên núi có con Bạch Hổ đã thuần tánh khi bị ông Đạo Điện trên Cấm Sơn thu phục mà tu hành sám hối tội lỗi nó đã gây ra trên núi cấm này Nhưng trước đó nữa từ đời Bạch Hổ cha đến đời của nó, không biết bao nhiêu người đã chết oan uổng bởi móng vuốt của loài thú hoang dã này. Những oan hồn uổng tử này khi chết, theo thuyết nhà Phật, thì không được siêu thoát, nên cứ vất vưởng trên chốn trần gian mà người đời thường gọi là lũ ma xó, ma trành. Bọn ma này gặp gì quấy phá được đều không từ, do vì chúng bị uẩn ức khi chết bất đắc kỳ tử mà hồn không siêu thoát được.

Bạch Hổ con (sau này tạm gọi là Tiểu bạch Hổ) đã sống hơn mười mấy năm, già nua, bạc nhược. Nếu lũ ma trành mà mượn xác nó để hành động đẫm máu thì vô tình công tu hành của nó như dã tràng xe cát. Biết tình thế âm đang thịnh dương đang suy, nạn âm binh sẽ bùng phát, ông Đạo Điện rất đau đầu tính kế trừ ma diệt quỷ.

Một hôm ông đang ngồi tham thiền trong điện, một số người lạ mặt xuất hiện trước hang động, người nào người đó mặt hầm hầm, vai mang cung tên tay cầm chà gạt (rựa lưỡi dài) bén ngọt ánh thép sáng lấp lánh.

Ông Đạo lên tiếng hỏi :

– Các ông đi tìm ai ?

Một người trọ trẹ tiếng Việt, hẳn đó là người gốc bên Cao Miên mới sang, hắn hằn giọng nói to :

– Dớ, tụi này đi chém chết con cọp, nó giết chết bà con tui… nó đâu rồi ?

Ông Đạo Điện từ tốn nói :

– Thôi các ông về đi, tôi sẽ trừng trị nó. Đừng làm náo động nơi chốn tu hành !

Nhưng bọn họ đâu dễ dàng nghe theo lời ông, họ sừng sộ lại ngay :

– Ông là chủ của nó thì ông phải chịu trách nhiệm. Nếu không giao được xác con cọp ra đây thì tụi tui sẽ giết ông để trả thù cho bà con tụi tui đã chết dưới móng vuốt của nó.

Ông Đạo Điện không nói thêm, đứng nhìn bọn họ với sự bình tĩnh của một nhà tu. Thì ngay sau đó trong hang điện Tiểu Bạch Hổ vụt xuất hiện trước mắt mọi người. Ông Đạo biết chuyện chẳng lành sắp xảy đến.

Đúng như vậy, bọn người Miên vừa thấy con Tiểu Bạch Hổ, chúng ào tới kẻ chém người buông tên độc vào mình Tiểu Bạch Hổ, con thú bị áp đảo nên không còn đường nào khác là tự vệ, nó bỗng trở thành con thú hung dữ của chốn rừng xanh, giơ cao móng vuốt vồ tới tấp đám người lạ mặt, có kẻ thác ngay bởi những cú tát của Tiểu Bạch Hổ vào đầu mạnh hơn búa bổ nên vỡ óc mà chết, kẻ thì gãy tay kẻ bị cào sướt từng mảng da, thịt đỏ hói những máu.

Thấy Tiểu Bạch Hổ con say máu, ông Đạo vội vã hét lên :

– Bạch Hổ dừng lại ngay !

Con cọp vừa nghe xong liền dừng ngay hành động trả đũa và đi tới bên ông, nó cũng bị thương rất nặng, con thú yếu hẳn đi, lê từng bước chân nặng nề run rẩy. Còn bọn người Miên, kẻ còn lành lặn nào chịu buông tha cho nó, bọn chúng tiếp tục nã tên độc vào con vật đáng thương. Bạch Hổ con vừa đến dưới chân chủ thì cũng vừa thở hơi cuối cùng. Mắt cọp vẫn mở trừng trừng vào bọn người khát máu không kém gì nó.

Ông Đạo Điện quá bất ngờ với sự việc xảy ra, người và vật đều có kẻ chết, ông lẩm bẩm :

– Bọn cô hồn uổng tử đã xúi giục cả hai bên đi vào biển máu, khiến con vật hoàn lương trở về với tội ác mà lâu ngày nó đã từ bỏ. Ôi nạn tai, nạn tai !

Khi bọn người Miên thấy Tiểu Bạch Hổ đã chết, chúng mới chịu bỏ đi vác xác đồng bọn đã chết ra về. Còn lại ông Đạo Điện và xác Tiểu Bạch Hổ, ông đưa tay vuốt mắt nó cho khép lại và lấy ra chiếc hộp quẹt mà bật lửa đốt trụi cả hàng ria của cọp. Dù ông rất thương con Tiểu Bạch Hổ, nhưng quy luật rừng xanh buộc ông phải đốt hết hai hàng ria của nó như thế, vì nếu những sợi ria của cọp lọt vào tay bọn xấu thì nguy hại vô cùng, họ sẽ nuôi những sợi ria đó thành những con sâu đi hại người. Con sâu này khi bò đi, người vô tình đụng phải sẽ tức khắc bị trúng độc mà chết.

Ông biết, dù Tiểu Bạch Hổ đã chết nhưng bọn ma quỷ kia đâu đã dễ dàng buông tha cho nó, có thể bọn ma còn mượn hồn nó để nhập vào những con thú khác mà tiếp tục quấy nhiễu mọi người. Nhưng nay ông già yếu, và không muốn vướng vào bùa ngải nữa, bởi ông biết dùng những thứ bùa ngải đó là một sự phạm giới, dù không dùng để sát sanh nhưng đó là sự tham sân si trong lòng con người, như vậy là chưa diệt được tính vị kỷ và lòng tham, như trên núi này còn nhiều đạo sĩ tu luyện bùa ngải với mục đích bán buôn để có tiền hưởng thụ, họ đâu nghĩ đến hậu quả !

Cho nên ông Đạo Điện chỉ muốn yên tĩnh tu hành, vì dùng bùa ngải cũng tựu trung vào mấy chữ Tham, Sân, Si, người tu hành như ông mà dùng là chưa đi đúng đường tu của Phật .

Nhưng thời gian này lũ ma trành đang hưng thịnh, nếu ông không ra tay trừ khử thì rất tai hại. Vì lẽ đó ông Đạo Điện đã tìm một đệ tử mà truyền cho cách trấn ếm các hồn ma. Môn trấn ếm các hồn ma phải là người có đức hạnh tốt mới dám truyền dạy phó thác, còn dùng sai mục đích cứu nhân độ thế thì người sử dụng sẽ chuốc thảm họa mà thôi.

Sau thời gian dạy môn đồ cách dùng bùa ngải trấn ếm bọn ma trành, một hôm ông thắp nhang quỳ trước bàn thờ tổ mà lâm râm khấn :

– Hỡi hồn các người chết oan và Bạch Hổ hãy về sơn động này, tôi sẽ cúng quẩy cho ăn. Tôi không chủ trương hủy diệt hồn các người để bảo vệ cho hồn gia đình Bạch Hổ đâu. Các oan hồn hãy về đây, tôi sẽ sớm siêu thoát cho các người không còn vất vưởng nơi trần gian nữa.

Đó là cách ông Đạo Điện dụ các hồn ma về hết trong hang cho đệ tử của ông ra tay trừ ếm chúng.

Qua ba ngày ba đêm ông khấn vái, ông Đạo đến bên người đệ tử tâm đắc, với gương mặt nghiêm trọng, ông nói :

– Ba ngày qua thầy đã luyện phép triệu hồn lũ ma và cả gia đình Bạch Hổ. Lẽ ra thầy cho con ra tay trừ các hồn ma như thầy đã truyền dạy. Nhưng sau ba ngày vừa tu luyện vừa tĩnh tâm, thầy suy nghĩ là nên dùng lý lẽ thu phục các oan hồn uổng tử ấy để lấy âm đức về sau, và khi họ phục tùng thì mình sẽ sử dụng họ vào việc có ích lợi hơn, đó cũng là cơ hội để họ tu tâm dưỡng tánh để có ngày còn được đầu thai kiếp khác. Vậy con sử dụng các hồn ma này đừng làm những điều tà mị, bất chánh mà phải gánh chịu hậu quả tai hại.

 Ngừng một lát, ông nói tiếp :

– Sau này con gắng mà lo cơm canh, nhang đèn mỗi bữa trước bàn thờ các hồn ma uổng tử này và cả gia đình Bạch Hổ, con phải hứa hẹn hết lòng chăm sóc các vong linh này cho đến ngày cuối đời của con, nếu có người tiếp nối thì con truyền lại còn bằng không, con nên giải thoát cho họ vào chốn thiền môn.

Nói xong ông Đạo Điện dẫn người đệ tử vào nơi mà ông thu phục các hồn ma uổng tử và Bạch Hổ. Bàn vong đèn đuốc sáng choang, trầm quế tỏa mùi hương thơm ngát.

Trên đó chiếc đầu lâu của Tiểu Bạch Hổ được đặt trong chiếc mâm đồng có trái cây đặt quanh, bên dưới lót vải đỏ, mặt đối diện là cặp nanh hổ dài cong rất ấn tượng. Bên mâm đồng là các bài vị của các hồn ma, tùy mỗi hồn mà ông Đạo Điện đã triệu về đây, ông đặt cho một pháp danh.

Dẫn người đệ tử đến trước bàn vong, ông chỉ tay vào và truyền miệng :

– Tối nay con trải chiếu nằm ngủ tại đây. Chờ đêm xuống sẽ có nhiều chuyện lạ xảy ra quanh con. Nhưng con chẳng nên có biểu hiện gì về sự sợ hãi hay mừng vui vì những hiện tượng đó. Sáng thức dậy sớm, con gói hết những gì có trên bàn vong đây đem về am của con mà lập trang thờ. Nếu con theo đúng lời thầy dạy, gia đình Bạch Hổ và các phần vong linh sẽ giúp con toại ý, người đời gọi đó là nuôi nham, con muốn biết quá khứ vị lai của ai đó con nhờ chúng đi tìm hiểu dò la, nhưng con cũng đừng quá lạm dụng việc này mà hưởng lợi. Nuôi nham như chơi dao hai lưỡi vậy đó. Vì chúng có thể giúp con mà cũng có thể phản bội con, nếu quá lạm dụng sức tàn của chúng.

– … thôi, bây giờ thầy trò ta chia tay, ai ở đâu về đó, nếu có bất trắc gì thì mới tìm đến thầy mà thôi.

Đúng như lời ông Đạo Điện nói, tối hôm đó người đệ tử của ông đang ngủ bỗng thấy một bầy cọp trắng, cọp vàng xuất hiện, đuôi chúng ngoe nguẩy đi quanh chỗ nằm của y, rồi sau đó năm bảy người từ ngoài đi vào, nắm tay nhảy nhót trước bàn thờ vong, những người này nhìn đệ tử của ông Đạo ra điều hoan hỉ phục tùng, và đùa giỡn với gia đình Bạch Hổ.

Người đệ tử của ông Đạo Điện nhớ lời thầy dạy, chỉ ngồi nhìn chúng vui đùa bên nhau, nét mặt nghiêm trang và miệng lâm râm tụng niệm. Đến sáng, người đệ tử tỉnh giấc vội vã thu dọn bàn thờ, đem chiếc đầu lâu Bạch Hổ, nanh cọp cùng mấy tấm bài vị trở về am của mình lập trang thờ.

Như đức tính của ông Đạo Điện, người đệ tử về sau này cũng chuyên cứu nhân độ thế, giúp đỡ mọi người khi họ hoạn nạn. Bùa ngải, nham độn chỉ là cứu cánh khi nhất thiết phải dùng, còn bằng không người đệ tử chỉ nhờ các vong linh hay Bạch Hổ ra tay trừ khử lũ âm binh quỷ dữ quậy phá.

Dân chúng vùng Thất Sơn cho là con Tiểu Bạch Hổ đã đắc đạo thành thần, nên luôn luôn tôn kính và đặt tên nơi hang động trước đây Tiểu Bạch Hổ sống là Điện Ông Hổ.

Vùng Năm Non Bảy Núi từ đó yên tĩnh hẳn, là nơi tu đạo của các bậc tu sĩ, đạo sĩ chân chánh. Không ai còn nghe nói đến những chuyện hồn ma bóng quế hay thú dữ xuất hiện nữa. Nhưng những chuyện về sự linh thiêng của Thần Bạch Hổ thì dân địa phương và người hành hương đều không quên cho đến tận ngày nay.

Mọi người cho rằng, đến điện Ông Hổ mà cầu xin thật lòng thì được toại lòng như ý, còn đến chiêm bái cầu xin theo hiếu kỳ thì chẳng bao giờ được. Vì vậy ở điện Ông Hổ lúc nào nhang khói cũng nghi ngút, đông người vào ra.

Thiên Việt

(Trích trong cuốn”Những chuyện kỳ bí trên rừng dưới biển” cùng tác giả, đã xuất bản)

BẠN BIẾT GÌ VỀ “BÙA CHÚ”

BÙA CHÚ

TRỪ “ÁC MỘNG”

Trong giấc mộng có hai loại, thứ nhất gặp mộng lành và thứ hai gặp mộng dữ (còn gọi ngạc mộng, ác mộng). Khi gặp ác mộng ai cũng lo sợ, tâm lý hoang mang vì nó chỉ mang đến tin buồn.

Những nhà nghiên cứu về mộng thấy rằng, những người ngủ thường hay gặp ác mộng là vì tâm lý không ổn định, khi thức gặp cảnh người thân bị chết oan ức, cảnh vợ chồng ly tán, hay chứng kiến tận mắt thấy những tai nạn thương tâm, những căn bệnh hiểm nghèo, gây đau khổ… để rồi nằm mơ thấy giấc mộng tương ứng hoặc tương phản.

Có thể người thường gặp ác mộng còn có chứng tinh thần phân liệt, hoặc ban ngày bị truy đuổi phải trốn tránh. Những người hay đọc truyện nói về ma quỷ sẽ hay bắt gặp ma ám, quỷ trêu trong mộng; người “háo sắc” đêm nằm thường mộng đến việc hoan lạc với người đẹp, rồi sinh chứng “mộng tinh”.

Trẻ em từ 3 đến 7 tuổi đêm ngủ hay ú ớ vì chúng gặp phải ác mộng, do ban ngày bị cha mẹ, anh chị, bạn bè đuổi đánh mà không thể phản kháng v.v…

Theo giới y học và tâm lý học, người ta cho rằng gặp những cơn ác mộng là sự biểu hiện của trạng thái bệnh hoạn do thể xác hoặc tinh thần gây ra.

Những nhà tâm lý học cho rằng, muốn tránh ác mộng phải xem lại trong sinh hoạt đã xảy ra điều gì làm con người ta thấy sợ hãi, từ đó dùng liệu pháp tâm lý mà hóa giải. Còn giới y học (thường là giới đông y) nói, nếu ác mộng do âm thịnh sẽ liên quan đến hồng thủy, còn dương thịnh sẽ mơ thấy hỏa tai; Âm dương đều thịnh sẽ mộng thấy chuyện chém giết. Trên thịnh, mộng thấy bay bổng, dưới thịnh mộng thấy bị rơi. No quá thấy muốn cho, còn đói quá thấy muốn xin. Can khí thịnh mộng hay tức giận, phế khí thịnh mộng thấy khóc.

Do vậy sách “Hoàng Đế Nội Kinh” dạy : muốn trách ác mộng phải tuân thủ nguyên tắc trị liệu “cái gì thịnh quá phải xả bớt, nếu không đủ phải bổ sung” đưa vào đời sống mỗi ngày, thí dụ thấy đói phải tìm thức ăn cho no bụng, kẻo về đêm nằm mộng thấy những món ăn khoái khẩu hiện đến.

1/- Nguồn gốc của phù chú

Còn các pháp sư, thầy cúng cho rằng với ác mộng đã có thứ trừ khử, đó là phù chú (còn gọi bùa chú). Trong dân gian vì tính sùng bái thần quyền quá rộng, nên mọi người thích dùng phù chú để trị những đêm gặp những mộng dữ.

Theo tiếng Hán, Phù có nghĩa là tin. Vào đời tiền Hán bên Trung Hoa đã có tục làm phù, là dùng thân tre dài sáu tấc (đơn vị xưa) có hai mảnh giống nhau ghép lại. Lúc đó phù có uy quyền bởi do Hoàng Đế gửi cho mọi người, để sau đó các thầy pháp, pháp sư cho rằng thần linh cũng có phù và đặt tên là “thần phù”.

Ban đầu họ cho xuất hiện loại “đào phù” dùng xua đuổi tà ma, lấy câu chuyện của Quách Phác (đời Tấn, năm 276 – 324) viết trong cuốn “Huyền Trung Ký”, kể lại câu chuyện :

– Phía nam kinh thành có núi Đào Đô, trên núi có cây đào to lớn cành lá xum xuê, và trên đỉnh cây có con gà trời đậu trên đó. Khi mặt trời mọc chiếu vào cây đào, con gà trời liền gáy vang báo hiệu một ngày mới đã đến. Bên dưới gốc cây đào có hai vị thần, bên tả tên Long bên hữu tên Viên. Hai vị thần tay cầm một nhành đào, đợi lúc quỷ dữ đi đêm về qua bất thần giết chết chúng.

Từ đó loan truyền cành đào trên Đào Đô sơn có thể trừ được tà ma quỷ dữ, và bọn ma quỷ khi thấy cây đào, hoa đào, hay trái đào đều muốn lánh xa. Mọi người rất tin nên đổ xô lên Đào Đô sơn chặt lấy cành đào, hoa đào hay trái đào mang về, dùng làm vật trấn yêu ma quỷ quái trước cửa nhà.

Các pháp sư, thầy pháp làm “đào phù” bằng cách cho vẽ cành đào, hoa đào hay người cầm trái đào tiên để dán trước cửa nhà (ngày nay vào dịp tết nhà nhà thường trưng hoa đào, vừa trang trí nhà cửa đón xuân, vừa mang ý nghĩa xua đuổi tà ma).

Dần dần có người muốn tờ “đào phù” không chỉ dán trước cửa nhà được năm ba ngày rồi hư hỏng, họ muốn để đạo phù hiện hữu quanh năm cho đỡ tốn kém, nên “đào phù” bắt đầu được làm bằng gỗ đào chỉ to bằng khổ sách, trên mặt phẳng có khắc hình hai ông “thần giữ cửa” tên Thần Đồ và Úc Lũy, cũng là hai vị thần chuyên trừ ma diệt quỷ, trong “đào phù” còn viết những “câu chú” giản dị như sau :

– Tý nhật mộng ác – Thư thiếp môn cát

– Sửu nhật mộng ác – Chu thư bội cát

– Dần nhật mộng ác – Hắc thư bội cát

– Mão nhật mộng ác – Hắc thư bội cát

– Thìn nhật mộng ác – Thư bại môn cát

– Tỵ nhật mộng ác – Thư phòng bích cát

– Ngọ nhật mộng ác – Thư phòng môn cát

– Mùi nhật mộng ác – Thư phòng môn cát

– Thân nhật mộng ác – Chu thư bích cát

– Dậu nhật mộng ác – Hắc thư bích cát

– Tuất nhật mộng ác – Thư trung bích cát

– Hợi nhât mông ác – Quyên thư thiếp sàng

Ứng cho tất cả các điều quỷ quái không lường tới, phù này đặt nơi quỷ quái thường xâm phạm. Nam đeo bên tả nữ đeo bên hữu, ma quái phải tránh xa.

Bùa có 12 chi từ Tý đến Hợi, nhà nào thuộc chi nào viết bùa theo chi ấy (gồm bốn phương, tám hướng).

2/- Cách thức vẽ phù chú

 “Phù chú” ra đời vào đầu thế kỷ thứ III và vào cuối thế kỷ trên nó đã biến dạng, bởi “phù chú” không nhất thiết phải vẽ trên tấm ván đào, có khi làm bằng lá kim loại mỏng, trên tấm gương soi, hay bằng vải, bằng giấy miễn sao giữ gìn được lâu ngày. Bấy giờ không còn gọi “đào phù” mà thay bằng tên gọi “bùa chú”, “phù chú”.

Thật ra các loại bùa chú dùng trừ khử những cơn ác mộng hoặc dùng để trấn ếm ma quỷ trong nhà, không có gì là huyền bí nếu mọi người biết đến nguyên tắc mà các thầy pháp, pháp sư khi vẽ trên lá bùa.

Như đã nói, đầu tiên phù được làm bằng gỗ đào rồi được vẽ hình hai vị thần Thần Đồ và Úc Lũy, cùng mấy câu thần chú cầu nguyện cho thích hợp vào từng hoàn cảnh (chữ Hán) rồi được mô tả đây là “câu quyết trừ tà” từ pháp thuật do các vị thần linh truyền đạt lại.

Về sau để phù chú mang tính huyền bí hơn, mọi người không thể hiểu trên đó viết ra những gì mà có pháp lực phi phàm, các pháp sư đã thay đổi hình vẽ hai vị thần linh bằng biểu tượng hoặc bằng hình Bát Quái tiên thiên hay hậu thiên, và các câu “thần chú” thay vì viết bằng chữ Hán nay viết qua chữ Phạn, nét bút phức tạp, kéo dài ngoằng ngèo như rồng bay rắn lượn (xem hình), đầy tính huyền hoặc, quái đản như thứ chữ mật mã để không ai còn đọc được. (Đến nay các pháp sư, thầy cúng cũng chỉ biết đến tên bùa, khi hết lại sao y làm nhiều bản khác, nhưng thật sự không hiểu nội dung ra sao), còn tâm lý người sử dụng khi thấy tờ phù chú càng huyền hoặc lại càng sùng bái, tin tưởng hơn.

Phù chú còn phải đi đôi với “Triện” son. Triện là dấu ấn chứng minh cho nguồn gốc xuất phát, có thể là thứ dùng tô điêm thêm cho tờ phù chú, bùa chú đó tăng cao uy tín. Và hơn nữa khi các tờ phù chú (có khi được vẽ lộng kính, hay vẽ trên những tấm thép lá mỏng, bằng đồng hoặc nhôm) tới tay người sử dụng, các pháp sư, thầy cúng còn cúng khai khuông trừ tà, còn khai quang điểm nhãn mới được cho là thần linh đã nhập.

Hiện tượng dùng phù chú giải trừ ác mộng hay tà ma, được phổ biến từ bên Trung Hoa rồi được đưa sang nước ta trong thời gian đô hộ, nên các loại phù chú này đa số có nguồn gốc từ nước bạn. Để giải ác mộng các tờ phù chú được gấp nhỏ, cho vào một bao vải nhỏ có dây ngũ sắc để đeo vào cổ trước khi đi ngủ.

Người Nhật cũng hay dùng bùa chú khi gặp những cơn ác mộng, để được “chuyện dữ hóa lành”. Khi giải trừ ác mộng, người Nhật thường niệm thần chú bảy lần những câu sau đây :

– “Hách hách dương dương, nhật xuất Đông Phương, đoạn tuyệt ác mộng, tịch trừ bất tường”

Sau đó nhìn hướng đông (mặt trời mọc), chủ ý nhìn vào hướng có dương khí, thở hít vào. Khi thở ra nhìn về hướng bắc. Làm đi làm lại 7 lần hít thở dương khí như thế để trừ ác mộng.

Người Nhật cho rằng “câu thần chú” này do Quản Lộ đời Tam quốc (vào năm 224 – 246) viết ra từ bí pháp do Hoàng Đế để lại.

Kết thúc bài này chúng tôi muốn nói, vì con người mang tính sùng bái thần linh, nên thường tin vào những điềm lạ xuất hiện trong người, được cho do thần linh mách bảo. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu “văn hóa tâm linh” cho rằng, từ nguyên thủy đã có sự phát triển về những loại hình về phù chú và đã thành “tục” và “lệ”, ở đây là tìm các loại phù chú để được yên tâm.

LỄ HỘI DÂN GIAN HAY

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG

Có rất nhiều lễ hội theo tín ngưỡng dân gian tại nước ta, tại các nước châu Á hay trên thế giới, có những lễ hội được thấy mang đầy tính huyền bí, nếu không nói là mê tín dị đoan, như tín ngưỡng thờ Mẫu mỗi khi người mộ đạo “lên đồng” cầu Thần nhập xác, nhưng đến nay “lên đồng” đang được những nhà nghiên cứu về “văn hóa tâm linh” nhận xét, đây là nét văn hóa dân tộc truyền thống, phi vật thể, thể hiện vào đời sống tâm linh của những người sùng đạo.

Bài này chúng tôi muốn giới thiệu những hình thức sùng bái khác, đầy tính huyền bí, từ trong nước ra đến nước ngoài, nay đã thành tập quán không thể chối bỏ, vì hàng năm người ta tổ chức thành những lễ hội đầy màu sắc và sắc thái dân gian, được đông đảo mọi người đến tham dự hoặc hành hương.

1/- Tín ngưỡng phồn thực

Việc sinh sản được mọi người trên thế giới xem như nhiệm vụ tối quan trọng trong một đời người, ai không có con cái tức người đó sẽ tuyệt tự và đôi khi bị gán tội “bất hiếu” với liệt tổ liệt tông, và mang tiếng thị phi cho là, do kiếp trước có quá nhiều con rơi con rớt không chịu cưu mang chúng, nên đã tạo ra nghiệp chướng, dẫn đến kiếp này phải trả giá (?!).

Vì vậy có việc sùng bái sinh sản tức tín ngưỡng phồn thực, thờ “sinh thực khí”, việc sùng bái này đã có từ khi loài người mới xuất hiện, lúc đó trong tư duy mọi người chỉ muốn vạn vật như cây cối, lương thực và con người có sự nảy nở và sinh tồn mãi mãi.

Dấu vết của tín ngưỡng phồn thực, thờ sinh thực khí tức thờ biểu tượng của đàn ông và đàn bà, như cặp Linga và Yôni, như nhảy múa trước hai vật Nõ Nường, với hình thức cái chày vồ và cái mo cau… đã nói lên điều đó. Thực ra, người Việt chúng ta không xa lạ gì với việc thờ, rước sinh thực khí. Theo ông Nguyễn Minh San viết trong cuôn Những thần nữ danh tiếng… đã phân tích :

– “Việc thờ cúng có từ rất sớm, từ thời đại đồ đồng cách nay khoảng 4.000 năm, khi nông nghiệp trồng lúa ở nước ta đã khá phát triển. Nhưng thuở đó con người còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, sức sản xuất hạn chế, dân số chưa đông, tình trạng “hữu sinh vô dưỡng” còn phổ biến. Lại thêm tình hình đất nước bị chiến tranh giặc giã (NV : từ năm 111 Tcn – đã bị nhà Hán đô hộ, và kéo dài cả ngàn năm), đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng. Vì vậy ước vọng cháy bỏng ngàn đời của người xưa là được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở, con đàn cháu đống.

 “Ước vọng phồn thực của ông cha ta thể hiện phổ biến nhất trong các hội hè đình đám, ở nhiều vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ. Tương tự như cách gọi Linga và Yôni ở những vùng khác, vùng Bắc bộ có hai thứ “nõ nường” chỉ sinh thực khí nam nữ, được tượng trưng bằng một chiếc chày bằng gỗ vông và một chiếc mo cau. Chiếc chày tượng trưng cho dương vật; còn chiếc mo cau tượng trưng cho âm vật (có khi được cắt như hình âm vật)”.

Cho nên người ta chưa biết phải xếp hạng việc thờ cúng sinh thực khí là chánh hay tà, vì quan niệm đánh giá việc thờ cúng này chưa được nhất quán trong giới nghiên cứu về văn hóa tâm linh.

A/- Linga và Yôni

Dân tộc Champa (còn gọi người Chăm hay Chàm) sống rất đông ở các tỉnh miền Trung, chạy dài từ Quảng Bình xuống đến Bình Thuận.

Người Chăm thường tổ chức lễ hội cầu yên, có tên Raja Prông, nhằm tống tiễn những cái xấu xa tội lỗi năm cũ, xin sự may mắn cho mọi nhà, trong đó có lễ “cầu con”.

Để tiến hành lễ hội, người Chăm (Chăm Ni theo đạo Hồi, còn Chàm Chăm theo đạo Bà La Môn) đóng góp tiền gạo rồi dựng rạp bằng lá buông, cửa rạp nhìn về hướng tây phía trước là một sân rộng.

Chủ tế cho buổi lễ cầu yên là một ông thầy điều khiển dàn nhạc, tay vỗ trống miệng vừa hát vừa khấn thần, chủ tế được gọi bằng Pô M’Duôn, và một bà đồng bóng được gọi là mụ M’yâu. Cả hai ăn mặc diêm dúa, nhiều màu sắc trên thân người, có lẽ để thu hút sự chú ý của thần linh.

Buổi lễ bắt đầu vào lúc trời vừa tối, các thầy Po Chan (tăng lữ Chăm-Ni) đến cầu kinh trong rạp, rồi mời các vị thần linh về dùng lễ vật do dân chúng dâng lên, mỗi thần có một mâm riêng gồm cơm, rượu, bánh, trái… theo lời cầu khấn với vị thần nào mà bưng mâm của vị thần ấy đặt trước mặt thầy Po Chan.

Sau lễ cơm thần, các thầy Po Chan Chăm Ni ra về. Sau đó các tăng lữ Bà La Môn đến điều khiển tiêp lễ hội, vào khoảng giữa đêm.

Các tăng lữ Bà La Môn đốt một đám lửa trước sân rạp để cầu khấn, rồi nhảy múa quanh nó; lúc đó Pô M’Duôn tay mới vỗ trống, miệng ê a bài hát kể sự tích các vị thần linh, mỗi thần có một bài hát riêng, như thần Ánh Sáng (Pô Chabya), Thần Trai (Pô Đăm), Thần Gái (Pô Đra), Thần Siva, Thần Vitnu, Pô Klong Krai, Pô Rome… Khi kết thúc đêm thứ nhất là cuộc lễ mời rượu các vị thần linh.

Tối thứ hai là một ngày hội vui, người ta dựng một cây đu, mụ M’yâu ngồi lên cây đu và ông Pô M’Duôn đi xung quanh vừa hát vừa vỗ trống, sau đó một người đàn ông hay thanh niên tay cầm chày, lưng đeo giỏ vừa múa hát vừa đánh chày cho đến khuya.

Người đàn ông tay cầm cây Linga (tức cây chày sinh thực khí, một vật thuộc giống đực, còn Yôni thuộc giống cái) múa hát, rồi dắt Linga trước bụng hoặc cạnh sườn, tay làm điệu bộ bật lên bật xuống theo động tác mời gọi, đi vòng quanh sân.

Khi đó trong rạp mụ M’yâu tay cầm Yôni bước ra sân, cũng vừa múa vừa hát cầu nguyện, đoạn cho hai thứ va chạm vào nhau mấy lần. Đoạn hai người đặt hai thứ Linga và Yôni lên mâm có phủ vải đỏ mang vào để trong rạp, sáng hôm sau có người mang đi bỏ ở những gò cao hay gò mối trong làng.

Theo quan niệm người Chăm, những chỗ gò này là nơi trú ngụ của các hồn ma hay gây bệnh tật cho con người không sinh nở được, bỏ Linga và Yôni ở đó sẽ làm chúng sợ hãi mà bỏ đi khỏi làng, mọi người mới có thể sinh ra con cái.

Tối thứ ba gọi là tối thả thuyền (Palao hó). Người ta kết những chiếc thuyền bằng bẹ chuối để sẵn trong rạp, quanh thuyền cắm cờ kết lá buông làm hình chim muông, thú vật, hình tam giác. Pô M’Duôn đến cầu khấn cho thôn xóm bình an xong, kết thúc buổi lễ bằng cuộc thả thuyền tống tiễn.

Múa hát âm dương mang tín ngưỡng phồn thực nói trên, thường thấy trong các lễ hội của người Chăm tại Ninh Thuận (Bình Nghĩa – Ninh Hải), có khi họ không nhảy múa một đôi giữa một nam một nữ, mà chỉ một người múa với hai thứ sinh thực khí trong tay, khi múa nghệ nhân để người trần, thân quấn sà-rông; động tác múa sôi động lúc đưa mông hẩy hay lúc lắc thân người, chủ yếu biểu hiện cầu xin cho dân làng sinh sôi nảy nở.

B/- Nõ – Nường

Trong tục múa “nõ nường” tại huyện Lạp Thạch, tỉnh Vĩnh Phú, việc thờ cúng sinh thực khí khi múa “nõ nường” được biểu hiện như sau, khi đó ở giữa đình có một nam một nữ tuổi thanh xuân đứng hai bên bàn hương án, cùng vị chủ tế đứng giữa hai người để điều khiển. Người thanh niên tay cầm cái chày gỗ còn cô thiếu nữ tay cầm một mo cau.

Khi vị chủ tế cúng tế trình Thần Thánh xong, cho phép anh thanh niên hỏi thiếu nữ : – “Cái sự làm sao ?” Cô thiếu nữ liền đáp : – “Cái sự là vầy”.

Nói xong hai người đưa ra hai vật chày và mo cau cho đụng vào nhau ba lần, nếu cái chày trúng đích thì năm đó cả làng sẽ sinh được nhiều con và làm ăn thịnh vượng phát tài.

Làng Đồng Kỵ, Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc trong lễ rước sinh thực khí cũng có điệu múa “nõ nường” như thế, mô phỏng động tác giao hợp do một vị trưởng lão trong làng thực hiện. Ở một số làng sau khi cúng bái thần linh, biểu hiện tín ngưỡng phồn thực xong, hai thứ sinh thực khí được tung ra cho dân chúng cướp lấy đem về “cầu tự”. Tại Sơn Đông, Hà Tây cũng có tục múa mo tương tự.

Thiên Việt (trích trong cuốn Những bí ẩn trong đời sống tâm linh)