PHÁ TƯỚNG VÌ XÂM MÌNH

PHÁ TƯỚNG CẢ CUỘC ĐỜI

VÌ HÌNH XĂM

KHÔNG ĐÚNG CHỖ

Xăm hình còn được gọi là Thích thanh (dùng mực xanh chích lên người) hay xâm mình, là tục người xưa thường dùng khắc chữ lên mặt hoặc lên người phạm nhân… Trước đây, chỉ những thành phần ra tù vào khám, “tiền án nhiều hơn tiền túi” mới xăm trổ đầy mình, vì vậy khi thấy ai đó có hình xăm trên người là bị liên tưởng ngay đến những thành phần bất hảo trong giới giang hồ.

Ngày nay, hình xăm thậm chí còn được coi là mốt của 1 số bạn trẻ, nhưng ít ai biết có quan niệm cho rằng nếu xăm không đúng chỗ sẽ là một kiểu phá tướng.

Mạng nhỏ đòi gánh… rồng

Theo quan niệm của một số bạn trẻ ngày nay, hình xăm thậm chí đã trở thành một trào lưu trong giới trẻ, là một hình thức thẩm mỹ, gây ấn tượng, thể hiện đẳng cấp, ghi dấu tình yêu của các bạn trẻ hoặc xua đuổi vận hạn… Thế nhưng, một nhà nghiên cứu cho biết, nếu bạn nghĩ rằng mình có thể tùy tiện xăm lên cơ thể bất kỳ hình thù gì mình muốn thì nên bỏ ngay suy nghĩ đó, vì nó hoàn toàn sai lầm trong quan niệm của thuật phong thủy và nhân tướng học : Xăm hình thường là xấu nhiều tốt ít, xăm hình mà không thận trọng, hậu quả tai hại sẽ theo mình suốt đời. Bởi vậy, có người xăm hình xong thì mọi việc hạnh thông thuận lợi (số này rất ít), có người xăm xong thì làm gì cũng gặp rắc rối, nhẹ thì có chút khó khăn rồi cũng qua, nặng thì tai nạn xe cộ phạm đến thân thể.

Phá tướng cả cuộc đời vì hình xăm không đúng chỗ ? 

Một nam thanh niên từng đến than thở với một chủ tiệm hình xăm tại Hà Nội : “Từ lúc xăm hình con rồng này, cháu thấy mình số đen lắm, làm gì cũng “chết”, chắc tại con rồng nhỏ quá. Chú xem cháu đang định sửa con rồng to hơn, xăm từ bắp tay đến ngực luôn có được không”. Chủ tiệm nhìn thoáng qua đã có thể nói được ngay, vấn đề ở chỗ không phải con rồng to hay nhỏ, mà chẳng qua vì mạng của bạn không thể gánh nổi con rồng đó thôi.

Nói không gánh được tức là mệnh lý khắc, xăm lên xong không những không đem lại may mắn, mà ngược lại toàn đem đến những điều đen đủi. Vì vậy, dù sao mọi người cũng nên suy nghĩ trước vì xăm thì dễ mà xóa thì khó. Kỳ thực, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cuộc sống của một con người, trên đây chỉ là một cách nhìn về hình xăm trên góc độ phong thủy học và nhân tướng học. Nói về xăm hình, không đơn thuần chỉ là người thợ xăm dán hình xăm lên người bạn rồi chấm mực di mũi kim mà nó có nguyên lý của nó, nguyên lý ấy là giữa người xăm và hình xăm.

Theo những người trong nghề, trong dòng xăm chính thống, khó xăm nhất là hình Quan Công, Thanh Long, Tà Long vì không phải ai cũng gánh được mấy hình này. Có người xăm hình Thanh Long quá vai chưa đến 1 tháng thì bị ngã xe gãy tay, mọi ngày chạy bạt mạng thì không sao, hôm ấy chỉ đi từ từ một tay rút cái điện thoại trong túi quần, không để ý quệt vào đuôi xe đằng trước, ngã rất nhẹ mà gẫy tay. Một người khác sau khi xăm hình cá chép hóa rồng trên vai bỗng nhiên làm ăn rất thuận lợi, chưa đến 1 năm gặp lại mà đã mua nhà, mua xe. Nhưng từ khi xăm chữ nhẫn ở sau lưng thì lại xuống dốc không phanh, tài sản hầu như tiêu tán hết, may là còn giữ được cái mạng. Trước khi xăm, người này đã được cảnh báo là không hợp với chữ nhẫn nhưng không tin, thấy thích thì cứ xăm lên, giờ lại phải xóa hình đi, người chằng chịt vết xóa.

Phải đến lúc đó, người này mới đi tìm hiểu và biết được ý nghĩa của chữ nhẫn : bên trên là cây đao đè lên tim, nhúc nhích là đao đâm vào tim ngay. Với những người tính hay vội vàng, dễ kích động và hơi có chút giảo hoạt không nên xăm chữ này. “Trước khi xăm chữ nhẫn tuyệt đối phải nên xem tính cách của mình có hợp với ý nghĩa hay không” – một nhà nghiên cứu phong thủy cho biết.

Suýt chết vì “phạm thượng” 

Theo một chủ tiệm xăm lâu năm am hiểu về phong thủy, hình xăm phải tương thích với thực lực, tính cách, mệnh lý của từng người, nếu không hiểu biết thì may mắn và đại họa chỉ cách nhau gang tấc.

Phá tướng cả cuộc đời vì hình xăm không đúng chỗ ? “Cách đây không lâu có một thanh niên cùng bạn đến tiệm nằng nặc đòi xăm hình “Quan âm ngồi đài sen” trên lưng, tôi hỏi liệu cậu có gánh được không, người thanh niên quát bảo tôi có tiền thích xăm gì chẳng được, ông cứ xăm cho tôi, không phải lằng nhằng. Lúc ấy, tôi nói không phải do vấn đề tiền nong mà thấy cậu còn trẻ giống một anh bạn giang hồ mới nổi chỉ nên xăm hình “hổ hạ sơn” là hợp lý, ra ngoài gặp giang hồ cộm cán thấy cậu chỉ là con hổ mới xuống núi, vừa bước chân vào xã hội thì họ cũng không gây khó dễ cho cậu.

Cậu thanh niên kia nhất quyết không chịu, còn đe dọa quậy phá để cho tôi đóng cửa tiệm để xăm hình bằng được mới thôi, tôi cũng đã cảnh báo trước nếu có chuyện gì xảy ra thì đừng trách không nói trước” – vị chủ tiệm này kể lại.

Hôm đó, xăm mất 8 tiếng đồng hồ mới xong, chủ tiệm cũng đã nhắc nhở thanh niên đó phải tắm rửa sạch sẽ, thắp hương chay tịnh 1 tuần rồi sau làm gì thì làm. Ai ngờ, 4 hôm sau anh ta đi mát xa, thư giãn, đến lúc dẫm lưng bỗng nhiên thanh sắt là tay bám bên trên tuột ốc rơi xuống, cô gái mát xa trượt chân ngã, khuỷu tay của cô gái chống thẳng vào gáy cậu thanh niên kia. Hậu quả ai cũng đoán ra, cậu thanh niên đó bị tổn thương đốt sống cổ, điều trị hơn 3 tháng mới đỡ.

Vị chủ tiệm xăm giải thích : “Anh thử nghĩ xem liệu có thể dẫm lên mặt Quan âm được không, như vậy là bất kính với Phật. Tuy cậu thanh niên kia đã xăm hình Phật lên người nhưng trong tâm niệm không có thần Phật tồn tại, thường hay tà niệm, tính tình ngang ngược vốn đã không có duyên với Phật rồi, tôi đã biết trước thế nào cũng có ngày xảy ra chuyện nhưng cậu thanh niên kia không tin”.

Một chủ tiệm xăm khác tại Hà Nội cũng cho rằng : “Chỉ lấy một vài ví dụ đa phần mang tính trùng hợp này để chứng minh thì không có tính thuyết phục lắm, bạn có thể tin hoặc không tin, chỉ muốn nhắc nhở các bạn rằng không phải cứ thích xăm hình gì là xăm, vì có nhiều cái mệnh của bạn không hợp, may mắn không thấy đâu, có khi còn bị nó…vật”.

Ông giải thích : “Nghĩa là người như thế nào thì xăm hình ấy, không thể tùy tiện, cái này một phần có nguyên lý bắt nguồn từ Chu Dịch. Ví dụ người mệnh kim thì dương khí tương đối vượng nên không thể xăm Thanh Long (thuộc tính dương), nếu xăm lên sẽ thành ra lửa cộng lửa, âm dương không điều hòa, sớm muộn gì cũng tự… đốt chết mình.

Một số quan niệm về xăm hình trong phong thủy và nhân tướng học Xăm hình “tứ thú” có thể gây tổn nguyên kh : Nhiều bạn trẻ lý giải về xăm hình “tứ thú” trong thuật phong thủy và cho rằng khi đã xăm thì phải là : tả Thanh Long, hữu Bạch hổ, tiền Chu tước, hậu Huyền vũ (bên cánh tay trái xăm hình rồng xanh, cánh tay phải xăm hình hổ trắng, ngực trước xăm hình chim công, sau lưng xăm hình Huyền vũ (Huyền vũ là một trong tứ tượng của thiên văn học Trung Quốc, là linh vật thiêng liêng có tượng là hình con rắn quấn quanh con rùa màu đen).

Nhưng trước khi xăm, bạn nên cân nhắc kỹ vì tuy nó là 4 linh vật thánh đem lại may mắn nhưng không phải cho tất cả mọi người, chỉ một số người gánh được 4 linh vật này, còn lại với đa số người thì được coi là hung.

Xăm ngực hoặc phần dưới cơ thể dễ loạn hậu thế : Hiện nay có nhiều người xăm vào ngực, bụng, eo, đùi,… quả thật những hình xăm rất tinh tế, nhưng trong quan niệm của thuật phong thủy thì những hình xăm phá tướng đó khiến phần hạ thế, nơi cất giữ phong khí lớn nhất của con người bị tổn hại, khí thoát ra ngoài nên nếu chưa có gia đình thì ảnh hưởng đến tình duyên, nếu không thì sau này ảnh hưởng đến sinh nở hoặc sẽ phát sinh rắc rối trong mối quan hệ giữa con cái và bản thân. Xăm hình ở ngón tay sẽ khắc chồng, khắc vợ. Nữ xăm hình ở ngón tay của cánh tay trái, chồng bạc duyên; xăm ở ngón tay của cánh tay phải thì nhân duyên kém; con trai thì ngược lại.

Xăm vào mông có thể gặp nhiều điều thị phi : Theo vị lý học phong thủy thường đề cập đến các “luân đầu”, phần mông trên cơ thể người là nơi “luân đầu” quan trọng nhất của con người, một khi luân đầu này bị “tấn công”, bị cắt đứt, thị phi cũng theo đó mà đến (giống như bị triệt long mạch). Đi đến đâu bạn cũng sẽ gặp “quỷ con – chỉ vận hạn nhỏ nhưng thường xuyên”, khó mà dứt ra được.

Xăm hoa văn bên đùi khiến đường đời gập ghềnh : Nếu bạn vốn có vận may rất tốt bỗng nhiên trở nên gặp khó khăn sau khi xăm hình trên đùi thì có thể bạn bị phạm rồi.

Xăm hình để che vết sẹo : Nhiều bạn vì trên cơ thể có vết sẹo xấu nên xăm hình nhằm che đi chỗ xấu ấy nhưng lại không biết rằng sẹo trong phong thủy vốn dĩ đã là chỗ gây tổn hại đến khí, xăm hình lên chỗ sẹo thành ra là loạn lại càng thêm loạn; nếu vết sẹo không ảnh hưởng nhiều thì không nên can thiệp.

Xăm ở vai, ở cổ gây mệnh khổ : Xăm hình sau lưng biểu thị cả đời lúc nào cũng vất vả, gánh vác, áp lực lớn. Trong nhân tướng học, vai, cổ là đại diện cho hệ thống hô hấp vì vậy khi xăm hình lên bộ phận này dễ gặp vấn đề liên quan đến hệ hô hấp.

Xăm hình động vật dễ gây hỗn loạn trong tâm tưởng : Xăm hình nhân vật, động vật hoặc côn trùng biểu thị suốt đời bị người khác sai khiến, chỉ huy, không có chủ kiến. Đồng thời khi xăm hình động vật cần chú ý đến vấn đề xung khắc các con giáp. Người tuổi Thìn, Tuất, Mão, Hợi đặc kị xăm hình Rồng; người tuổi Thân, Tỵ đặc kị xăm hình Hổ; người tuổi Mão, Dậu, Tuất đặc kị xăm hình bướm.

Xăm thực vật, cây cỏ : Thực vật thuộc hành Mộc, da thuộc hành Thổ, Mộc khắc Thổ vì vậy dễ gây ra sự cố bất thường, tai bay vạ gió, bị thương tích.

Xăm hình thần Phật : Một số người thích xăm hình thần phật trên người vì nghĩ rằng làm như vậy sẽ luôn được thần phật bên cạnh phù hộ, nhưng thử nghĩ xem, lúc tắm rửa, đi vệ sinh và các hoạt động phòng the thì sao ? Thực ra là toàn cho thần “xơi” những thứ xú uế, trần tục. Xăm lên xong mà không biết chay tịnh, kiềm chế thì ắt rước họa vào thân.

Xăm lên tay chân gây điều tiếng thị phi : Khi xăm lên tay chân, bất kể là màu sắc gì đều đem lại thị phi suốt đời, phong ba luôn ập tới bất ngờ, làm việc gì cũng không được thuận lợi. Xăm ở bắp chân trở xuống dễ gây tranh chấp trong chuyện tình cảm nam nữ, luôn trong trạng thái bị áp lực, căng thẳng, tài vận đi xuống.

Tục xăm hình xuất hiện cách đây vài chục ngàn năm, tồn tại song song cùng nhiều làn sóng văn minh nhân loại. Xăm hình không chỉ thể hiện sự nhận dạng sắc tộc, mà trong nhiều trường hợp còn là phương cách chữa bệnh. Tại eo biển Bering, nhà dân tộc học George B. Gordon từng gặp nhiều người ở đảo Diomede với vết xăm ở gò má và thái dương đó là những sẹo nhỏ sau khi người ta châm ra hút máu độc. Ở Alaska, hiện vẫn có tục chích da để “rút máu độc” cho vài căn bệnh. Dân Chugach Eskimo cũng có cách chữa tương tự. Khi bị đau mắt, họ chích ra lấy máu ở chóp mũi và thái dương….

Trịnh Đức Phú post

NHỮNG NỀN VĂN MINH

BIẾN MẤT TRONG SỰ BÍ ẨN

Đế chế Khmer (Campuchia) là một trong những đế quốc hùng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á đã biến mất trong sự bí ẩn. Nền văn minh ấy còn ảnh hưởng đến văn hóa Lào, Thái Lan, Việt Nam đến tận ngày nay.

1/. Nền văn minh thung lũng Indus : Là một trong những kỳ quan kiến trúc vĩ đại nhất do con người sáng tạo ra trong thế giới cổ đại (được biết đến với mức độ ảnh hưởng như là nền văn minh Harappan). Đây là một trong các đô thị lớn nhất trên lục địa.

Nằm ở vị trí Pakistan ngày nay, nền văn minh thung lũng Indus phát triển mạnh cách đây 4.500 năm và sau đó bị lãng quên cho đến khi di tích được khai quật vào những năm 1920.

Với các công nghệ tinh vi và tiên tiến, nền văn minh này nổi bật với hệ thống vệ sinh môi trường đô thị cũng như bằng chứng về trình độ đáng ngạc nhiên trong kỹ thuật, toán học và thậm chí là nha khoa.

Vào khoảng năm 1500 trước Công nguyên, nền văn minh thung lũng Indus hầu như đã bị lãng quên, có thể là sau cuộc xâm lược của các bộ tộc Ấn-Âu hay sự sụp đổ trong nông nghiệp do biến đổi khí hậu.

2/. Đế chế Khmer, Campuchia : Là một trong những đế quốc hùng mạnh, nên nền văn minh Khmer ảnh hưởng từ đất nước Campuchia ngày nay cho đến Lào, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Malaysia. Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi Angkor.

Ngoài những di tích khắc trên đá thì không có bất kỳ chứng tích bằng văn bản nào tồn tại, do vậy hiểu biết của chúng ta về nền văn minh cổ đại này chỉ được chắp ghép từ các điều tra khảo cổ học, phù điêu trên bức tường trong các ngôi đền và các tài liệu bên ngoài bao gồm cả tài liệu của Trung Quốc.

Người Khmer áp dụng cả Ấn Độ giáo lẫn Phật giáo vào xây dựng các ngôi đền, tòa tháp và các cấu trúc phức tạp khác như Angkor Wat chỉ để thờ thần Vishnu.
Các cuộc xâm chiếm của kẻ thù, tử vong do bệnh dịch hạch, các vấn đề về quản lý nguồn nước ảnh hưởng đến nông nghiệp và xung đột về quyền lực giữa các gia đình trong hoàng tộc có thể là nguyên nhân dẫn đến sự tàn lụi của đế chế này.

3/. Anasazi, New Mexico, Mỹ : “Anasazi” là tên hiện đại của người dân Pueblo cổ đại, những người dân sống ở khu vực “Ngã tư” (Four Corners) của Đông Nam Hoa Kỳ tại đường giao nhau của các tiểu bang Utah, Arizona, New Mexico và Colorado.

Nền văn minh của họ xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 12 trước Công nguyên, và vẫn còn được biết đến với những cấu trúc bằng đá và gạch xây dựng dọc theo các vách đá bao gồm Cliff Palace trong Công viên quốc gia Mesa Verde, những tàn tích của Nhà Trắng (White House Ruins) và Pueblo Bonito tại mép phía Bắc của Chaco Canyon. Kiến trúc này được phát triển thành chung cư nhiều tầng mà thường chỉ có thể đi vào bằng dây thừng hoặc thang.

Người Pueblo cổ đại không nhất thiết phải “biến mất”, tuy nhiên, họ đã từ bỏ quê hương của mình vì những lý do mà đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Nhiều chuyên gia cũng như những người Pueblo hiện đại – những người coi người Pueblo cổ đại như tổ tiên của mình tin rằng nạn phá rừng và hạn hán đã gây ra xung đột nội bộ và chiến tranh đã khiến người Pueblo rời bỏ quê hương.

4/. Nền văn minh Olmec, Mexico : Veracruz và Tabasco ở vùng đất thấp nhiệt đới phía nam miền trung Mexico đã từng là một nền văn minh lớn mạnh tiền Columbia – nơi xây dựng nên những thủ phủ khổng lồ đáng kinh ngạc, nơi diễn ra các cuộc đổ máu và sự hy sinh của con người, nơi phát minh ra khái niệm về số không và về cơ bản đặt nền móngcho mọi nền văn hóa Trung Mỹ.

Nền văn minh Olmec thậm chí có thể là nền văn minh đầu tiên tại Tây bán cầu đã phát triển hệ thống chữ viết, và có thể là đã phát minh ra cả la bàn và lịch Trung Mỹ. Có niên đại khoảng 1.500 năm trước Công nguyên, nền văn minh Olmec đã không được phát hiện bởi các sử gia cho đến giữa thế kỷ 19. Sự biến mất của nó được cho là do những thay đổi môi trường gây ra bởi các vụ phun trào núi lửa, động đất hoặc có thể là do sự suy yếu về nông nghiệp.

5/. Đế chế Aksumite, Ethiopia : Một đế chế có hoạt động thương mại chủ yếu với đế chế La Mã và Ấn Độ cổ là Đế chế Aksumite – còn được gọi là Vương quốc Aksum hoặc Axum – cai trị các nước ở Tây Bắc Châu Phi bao gồm cả nước Ethiopia từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên.

Từng được cho là quê hương của nữ hoàng Sheba, đế quốc Aksumite có thể là một nước bản địa phát triển hùng mạnh của châu Phi bao gồm hầu hết Eritrea ngày nay, miền Bắc Ethiopia, Yemen, miền Nam A-rập Xê-út và miền bắc Sudan.

Đế chế đã có bảng chữ cái riêng của mình và xây dựng nên các bia tưởng niệm khổng lồ. Đây là đế chế đầu tiên chuyển đổi sang Thiên Chúa giáo. Sự biến mất của đế chế này được cho là do bị cô lập về kinh tế khi mở rộng sang Hồi giáo, do bị xâm lược, hoặc biến đổi khí hậu làm thay đổi mô hình dòng lũ của sông Nile.

6/. Nền văn minh Minoans, đảo Crete : Được đặt theo tên của vua Minos huyền thoại, nền văn minh Minoan của đảo Crete được tái phát hiện vào đầu thế kỷ 20, và kể từ đó đã phát hiện thêm ra các mảnh ghép hấp dẫn của một nền văn minh cổ đại bắt đầu phát triển mạnh từ hơn 7.000 năm trước đây. Đỉnh cao của nó vào khoảng năm 1600 trước Công nguyên.

Là một trong những trung tâm thương mại xuất hiện vào khoảng năm 2700 trước Công nguyên, và được cho là nền văn minh tiên tiến với những cung điện nguy nga được xây dựng lại nhiều lần sau hàng loạt thiên tai (có thể là động đất và núi lửa Thera phun trào).

Một trong những cung điện đó là cung điện Knossos, “mê cung” gắn liền với truyền thuyết về vua Minos, và hiện tại là một địa điểm khảo cổ lớn thu hút khách du lịch. Nhưng vào khoảng năm 1450 trước Công nguyên, một thảm họa đã khiến cho nền văn minh Minoans không thể phục hồi và sụp đổ.

Quế Phượng post

CÓ THẾ GIỚI LINH HỒN KHÔNG ?

NGƯỜI MỆNH THỔ

BUÔN KIM ?!

Ngày xưa đi xem bói, ông thầy dặn tôi “Con mệnh Mộc, có nhiều tiền hay bị vạ vì Kim khắc Mộc”. Tôi sợ không đeo nhẫn cưới. Món đồ giá trị nhất trên người là cái đồng hồ nhựa Timex 10$ vợ tặng ngày sinh nhật.

Hồi còn bé, một lần tôi xem đám cưới ở sân đình, chợt nghe tiếng “keng” của đồng xu ai đó đánh rơi. Tôi vội cúi xuống nhặt thì người ta đã giẫm lên bàn tay của tôi. Tôi đau quá khóc vang trời. Cha tôi bảo ”Không phải tiền của con thì đừng bao giờ nhặt. Muốn có tiền, con phải tự làm ra”. Kể từ đó, tôi rất sợ tiếng tiền rơi.

Anh trai tôi mệnh “Thổ” nên thầy tướng số khuyên ”rất hợp với buôn Kim (tiền)”. Đúng là anh thích kiếm tiền nhanh, mơ làm ông chủ và không biết sợ… tiền. Anh có hàng tỷ để rồi sau đó lại mất đi gấp ba.

Trời “mưa” ra tiền.

Năm 1988, anh từ quê ra vay tiền để đầu tư cho xưởng cơ khí nhỏ làm kế sinh nhai. Vốn liếng có hơn chục triệu, tôi đưa hết và cũng tin anh nên không hỏi kỹ. Anh rất giỏi về cơ khí, đang chí thú làm ăn, khấm khá nổi tiếng trong vùng.

Khoảng tuần sau, về thăm bố mẹ thì biết anh đang đi họp “hụi” dưới quê ngoại ở Kim Sơn (Ninh Bình). Tiền tiết kiệm mấy chục triệu, thêm phần huy động của anh chị em nhà, trong xóm tổng cộng khoảng gần 70 triệu (mua được cả trăm mét đất ven đô) đi theo anh xuống làng miền biển xa xôi. Lãi “hụi” hàng tháng 20-30%, không ngành kinh doanh nào địch nổi, làm mờ mắt cả một vùng quê nghèo khó.

Tôi phóng xe đi 40 km tìm anh. Tới nơi, đã thấy khoảng chục bác nông dân “chân đất” chính hiệu đang say sưa quanh mâm cơm thịnh soạn, giò chả, thịt chó và bia rót tràn. Tôi rất lạ, vùng quê này rất nghèo sao họ lại đổi đời nhanh như vậy.

Các bác ấy giải thích “Thời nay có hụi nuôi hết. Chú bỏ việc về đây, kiếm tiền như nước. Mấy tháng nay, chúng tôi không làm gì nhưng vẫn đầy túi”. Họ chỉ cho tôi bao tải tiền to tướng trên giường chắc khoảng vài trăm triệu. Tháng này, một bác sẽ lấy phần “hụi” đó sau khi trả lãi, tháng sau đến lượt người khác. Họ bảo thánh đã phán “năm nay trời mưa ra tiền”.

 Lát sau, ông chủ “tạm” của bao tải tiền kia mang sang làng khác để chơi mà không cần đếm. Người nọ đưa người kia, làng nọ vác sang làng kia, lấy “hụi” này đóng “hụi” khác. Họ luân chuyển tiền của chính mình mà không biết, cứ nghĩ do trời “đẻ bạc”. Đó là dây chuyền domino tai hại của “hụi”.

Tôi ra sức gàn nhưng anh trai hứa, tháng sau đến lượt lĩnh “hụi” sẽ thôi hẳn. Anh không phải đợi thêm tháng nữa. Hụi đã vỡ hai tuần sau đó. Người trong làng đã liên hoan bằng tiền mồ hôi nước mắt của chính mình và tự làm hại nhau. Bán cả gia sản góp “hụi” để rồi một vài kẻ giật và biến mất. Đám cướp kia mang tiền sang tỉnh khác lại bị kẻ khác nẫng luôn.

Làng tôi xác xơ như trận đại hồng thuỷ đi qua, không còn tiếng chó sủa hay gà gáy. Nhà nào cũng như có đám tang. Hàng đoàn người đi lùng sục bắt hụi. Anh bắt nợ một cái tủ gỗ lát với giá “hụi” định 15 triệu, trong khi ở Hà nội, mặc cả khéo khoảng 2 triệu. Người làng khác kéo sang lấy hết nồi niêu xoong chảo của nhà anh. Dân nghèo không có tiền trả “hụi” nên đền bằng hiện vật từ cái bàn, cái ghế đến chiếc mâm đồng.

Cách tin người ở quê vừa đáng thương, vừa đáng giận. Có thể họ không có hiểu biết, hoặc do lòng tham hoặc những kẻ hiểu biết đã lừa người ít học. Riêng anh tôi, lời thánh phán “Thổ Kim” có vẻ sai nhưng anh vẫn không tin. Máu phiêu lưu vẫn còn, “càng nhiều tiền càng… ít” bất kể nguồn gốc ở đâu vì anh vốn không sợ… tiền.

Ngân hàng “tặng” tiền tỷ.

Anh tôi trắng tay và nợ đầm đìa sau 5 năm dành dụm. Tuy nhiên, anh có tài làm ăn. Cái máy tiện cũ bằng thép, nặng quá, đám bắt “hụi” không khiêng đi được vì họ cũng chẳng biết là cái gì, nên đã giúp anh sau vài năm trả gần hết nợ. Tuy nhiên, cuộc đời không dừng ở đó.

Quen một anh bạn bên ngân hàng huyện, anh có thể vay vốn hàng tỷ đồng để mở rộng làm ăn. Trong hai năm, xuởng cơ khí của anh đã nổi đình đám. Thuê vài chục công nhân với lương hậu hĩnh, anh tôi thành ông chủ.

Ở quê, anh kiếm vài chục triệu một năm và vốn khoảng 300 triệu làm tôi rất mừng. Anh lo cho cả nhà, các em và họ hàng có công ăn việc làm. Trình độ bổ túc lớp 7, đi bộ đội về, anh đủ chín chắn để quản lý đầu vào đầu ra với số vốn ít.

Khi vốn vay lên bốn năm tỷ thì hẳn là số lãi cho ngân hàng sẽ lớn và mối quan hệ rất rộng, tôi bắt đầu lo lắng. Không hiểu qui luật thị trường, hẳn một ngày kia sẽ thất bại vì mải leo cao.

Anh sản xuất máy nghiền đá giá hàng trăm triệu, bán chịu khắp trong nam ngoài bắc. Nếu lấy được hết tiền thì hẳn rất giầu. Nhưng có nơi lấy lại đuợc tiền, có nơi họ chịu hàng chục năm nay. Thất thoát vốn rất lớn vì không nắm được đầu vào đầu ra.

Giữa đường làng, nhìn anh lái chiếc Ford Escape mới tinh mua bằng tiền đi vay, nghe nhạc tụng kinh gõ mõ hay hát chầu văn phát ra từ đĩa CD trong xe máy lạnh, tôi tự hỏi không biết mình đang ở thiên đàng hay địa ngục. Hỏi hạch toán lời lãi thế nào thì anh chỉ nói “Tôi sống bằng tiền ngân hàng, cứ vay thật nhiều để phát triển đã, lời lãi tính sau. Người mệnh Thổ buôn Kim sẽ hái ra tiền”.

Nghĩ mình là ông chủ lớn và giỏi nên cái gì cũng đầu tư, rút tiền xoành xoạch không thèm đếm vì thói sỹ diện. Thấy mời chào xuất khẩu hàng mỹ nghệ sang Mỹ cũng thử. Anh Việt kiều mang kiện hàng hơn chục ngàn đô sang Mỹ chào hàng rồi biến mất tăm được anh tôi gọi là “học phí”. Quê vợ kêu gọi đầu tư nuôi tôm sú, gần 600 triệu cuốn theo cùng sóng biển Cồn Thoi.

Về quê, nghe anh khoe về đầu tư của ”ông chủ nhà quê hàng chục tỷ”, tôi như bị động kinh. Tôi lo cho anh ít học mà quản lý vốn lớn kể cả nỗi ám ảnh giật hụi năm nào.

Một lần, các em gọi tôi để tư vấn là có nên cho ông anh mượn sổ đỏ để thế chấp vay tiền. Anh đã qua tuổi sáu mươi nên ngân hàng không cho vay. Anh đang nợ gần 3 tỷ đến hạn phải trả. Nếu bán hết gia sản thì cũng không đủ mà anh đang cần vốn kinh doanh tiếp để gỡ. Anh lý luận “nhà mình đang ở, không ai có thể bắt nợ được”, một quan niệm lạ lùng ở quê. Đương nhiên tôi không đồng ý và hai anh em cãi nhau chí tử. Một kẻ chữ nghĩa đầy người nhưng ít tiền không thể khuyên được ông chủ túi đầy tiền nhưng ít chữ.

Lẽ ra, kiếm tiền bằng chính cái nghề cơ khí rất thành thạo của mình thì anh lại thích nhảy vào những lĩnh vực không có một chút chuyên môn như xuất khẩu mỹ nghệ hay trồng rừng. Có thể anh muốn làm ông chủ, muốn sỹ với đời trong chốc lát hoặc không hiểu đồng tiền cũng có kiếp luân hồi.

Đến hôm nay, anh đã biết đồng tiền ”sấp ngửa”. Ôtô Ford đã bán, thay vào là một chiếc xe máy ọp ẹp. Xí nghiệp sản xuất cầm chừng, trông như cái nhà hoang. Tuổi đã già nên anh không thể có dịp học thêm bài học nữa. Vợ đòi ly hôn, chia của cải mà không hiểu đó là tiền vay ngân hàng. Con trai chiếm một xưởng, không cho bố bán để trả nợ. Thất bại trong kinh doanh, gia đình tan vỡ, nhưng anh không biết mình…thất bại.

Vẫn tin vào mệnh “Thổ sinh Kim”, anh cố sửa chữa sai lầm. Đang mong anh chí thú làm ăn vài năm để kiếm đủ tiền trả ngân hàng thì anh lại hỏi tôi về cách buôn cổ phiếu ngoài Hà nội. Tai tôi ù hẳn và không về làng nữa. Tôi viết đoạn sau đây, may chăng anh đọc.

Câu chuyện VN Index rơi xuống đáy

Cách đây hơn một năm, bao nhiêu tỷ phú ra đời trên chợ cổ phiếu trong chốc lát. Nhưng mấy hôm nay, VN INdex đang rơi xuống đến đáy. Bao người đang sợ sốt vó vì tiền vay của ngân hàng đến hạn hay vốn liếng bỏ ra có khả năng mất trắng. Nhiều tỷ phú lại quay về nơi họ đã xuất phát nhưng đèo thêm vài món nợ khó trả.

Có thể anh tôi mới học lớp 7 nhưng muốn phất nhanh trong cơ chế thị trường khắc nghiệt thì thất bại có thể tiên đoán được. Nhưng ở thành phố lớn, thậm chí ở New York hay Luân đôn, bao nhiêu người có học, hiểu biết và khôn ngoan vẫn có thể “chết vì tiền” trên TTCK. Họ tát nước theo mưa nên có ngày bị nước lũ nhấn chìm. Không hiểu giá trị kỳ vọng thật của cổ phiếu, họ mua bán chúng như một món hàng tiêu dùng theo kiểu cung cầu tựa mấy mụ phe tem phiếu thời bao cấp hay làm ào ào như nông dân chơi “hụi”.

Tôi không định so việc buôn cổ phiếu với chơi “hụi” hay kiểu dân ta đầu tư mua blue chip như anh tôi ở quê nhảy từ sửa chữa cơ khí sang nuôi tôm biển. Ở đây, sự so sánh là khập khiễng nhưng hậu quả tai hại về tiền bạc lại khá giống nhau. Nhiều người học được bài đầu tiên đắt giá, đối với số khác thì đây là bài học cuối cùng vì mái tóc đã pha sương.

hời nào cũng thế, để làm giầu và trở thành ông chủ không hề đơn giản. Trong thương trường cần sự hiểu biết, tài ba, sự nhạy cảm và cả sự may mắn. Chợt nghĩ đến câu vè thuở nào “tiền là tiên là phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ”. Nhưng đồng tiền có thể làm cho những người không biết sợ tiếng “kim” đánh “rơi” luôn cả gia sản.

Tôi từng nhìn thấy hàng đống tiền. Anh bạn bên Moscow (Nga) cho xem một ca-táp đầy nhẫn vàng và muốn tôi cùng đi buôn. Về nước, cô học trò cũ bên ngân hàng có thể giúp vay vài tỷ để buôn máy tính. Rồi chứng kiến vài bao tải tiền “hụi” ở quê hay hàng vạn cổ phiếu bay phấp phới ngoài Tràng Tiền. Không hiểu sao tôi dửng dưng với tất cả.

Thuở ấu thơ suýt gẫy tay khi nhặt năm xu của người ta đánh rơi nên được cha tôi dậy bài học về tiền. Có thể, mệnh ”Mộc” của tôi bị “Kim” chiếu tướng nên bây giờ chỉ đủ ăn. Tuy nhiên, người mệnh ”Thổ” buôn “Kim” chưa chắc đã hơn gì.

(theo Hiệu Minh – Washington DC)

LỜI BÀN :

Câu chuyện trên “người mệnh Thổ buôn Kim” cho thấy ông thầy đã giảng sai, không phải Thổ sinh Kim mà ngược lại Thổ hao Kim lợi. Chính vì người anh tin lời giảng sai mà ra đời kinh doanh tiền (theo tiếng Nôm gọi là Kim ngân) và cả nghề kim khí (tiên phay bào kim loại) cuối cùng phải phá sản trắng tay.

Cho nên trong ngũ hành tương sinh tương khắc, cần nhớ :

Sinh nhập – Khắc xuất = tốt

Sinh xuất – Khắc nhập = xấu

Ngoài ra trong tốt xấu (kiết hung) còn vận dụng đến thuyết biện chứng để phân tích, lấy Ngũ hành nạp âm mà suy, đôi khi thấy rằng Sinh Nhập – Khắc Xuất chẳng có ảnh hưởng tốt đẹp gì, cũng như Sinh Xuất – Khắc Nhập cũng chưa chắc đã xấu.

Thế mới gọi là môn khoa học huyền bí trong thế giới tâm linh.

Thiên Việt

CÓ THẾ GIỚI LINH HỒN KHÔNG ?

Cuộc sống tâm linh của dân tộc Việt rất phong phú và chứa đựng nhiều bí ẩn mà khoa học không thể giải thích. Gọi hồn, lên đồng…. các bạn có tin không ? Có lẽ ai đã từng chứng kiến nhà ngoại cảm Bích Hằng tìm mộ, cũng sẽ tin có một thế giới linh hồn…

Nhưng nếu tồn tại một thế giới linh hồn, thì thuyết luân hồi trở thành vô giá trị. Tại sao các linh hồn còn ở đó. Đúng ra theo nghiệp lực các linh hồn sẽ lập tức đầu thai hoặc siêu thoát. Lâu nhất theo Phật giáo Tây Tạng thì cũng chỉ lưu lại 49 ngày.

Chính vì vậy vẫn tồn tại rất nhiều tranh cãi về sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn. Nhưng với những người đã gặp và chứng kiến nhà ngoại cảm Bích Hằng tìm mộ, hay những người đi gọi hồn người thân… họ đều khẳng định niềm tin mạnh mẽ vào thế giới linh hồn

Một buổi “lên đồng” đáng sợ 

Năm 18 tuổi, tôi lén lút cùng 2 bà đi gọi hồn. Tuổi mới lớn, tò mò, thích khám phá, chả có điều gì ngăn cấm được việc “bí mật” thử “lên đồng” 1 lần cả. Nghe các bà nói là có ma, hồn có thể nhập vào người điều khiển người. Thầy giáo dạy vật lý thì khẳng định có trường sinh học. Ma thì chưa nhìn thấy, quỷ thì may ra nhìn thấy trên phim, tưởng tượng qua lời người khác. “Trường sinh học”, “giác quan thứ 6” chưa được cảm nhận 1 lần.
Không mê tín, cũng chẳng tin là có ma quỷ gì hết, nhưng cứ muốn thử. Thử để biết. Thử để thoả mãn tính tò mò. Thế là thử.

Vừa bước tới ngõ nhà “Cô” đã thấy run run. Nhà không có khách, không gian tĩnh mịch, hương khói vẫn nghi ngút. Thẳng cửa chính là cái điện thờ, vừa bước chân qua cửa nhà, tim đã nhảy tưng tưng (còn hồi hộp hơn cả lần đầu tiên kiss nữa ấy chứ) chỉ muốn nhảy ra khỏi ngực. Ngồi vào giường, quay mặt về phía điện thờ (chính Nam), mặt quay so với hướng bắc chắc khoảng 23,5 độ (chính Bắc), khoanh chân, tay để như thiền, nhắm mắt.

Không cần trùm khăn áo gì cả, cứ như ngồi thiền vậy. Lời cầu khấn bắt đầu rì rầm bên tai. 30 giây sau, 2 luồng điện đánh rẹt vào người : 1 từ trên thẳng đỉnh đầu xuống, 1 từ dưới bàn chân chạy ngược lên. Cả 2 gặp nhau ở rốn. Người tê cứng, ruột gan rối bời, nóng như có lửa đốt, tay chân không cử động được. Cái đầu vẫn trên cổ mình nhưng sao lại không quay đầu được thế này !? Ruột gan thì như lửa đốt, nhưng 2 tay, chân bắt đầu lạnh. Lạnh ngắt ! Lạnh như là bao nhiêu nhiệt nó chạy hết vào bụng rồi vậy. Tiếng người nói, khấn xung quanh vẫn rì rầm nhưng đã dần ù đi, mắt lờ đờ… Tới lúc đó thật là sợ ! Như hồn mình thoát khỏi xác vậy ! Mình đã “mất xác” rồi sao ? Sợ mà không làm gì được !

Tình trạng đấy kéo dài chắc khoảng 10 phút. Mọi người hỏi vẫn có thể nghe được, vẫn biết là mình đang nói, nhưng đấy không theo suy nghĩ của mình… Nghe “Cô” phán “hồn xuất !”, luồng điện đang chất chứa nơi rốn bỗng chạy ngược bật ra phía trước ngực. 1 chưởng lực vô hình như đánh trúng giữa ngực, ngã vật ngửa người về sau. Bụng hết nóng ngay lập tức, tay chân dần ấm trở lại. Một cảm giác mệt mỏi, mệt như là mình vừa vác cả chục tấn than vậy ! Chân tay bải hoải, các khớp rã rời.

Hớp ngụm nước chanh đường cho lại sức, được “Cô” khen “thằng này hợp bóng âm lắm, ngồi cái được ngay, hiếm người ngồi được như vậy”.

Từ hôm đó, sợ ma. (Theo bạn BKWorm)

Thế giới linh hồn bí ẩn

Hãy cùng nghe câu chuyện của bạn piggy2612 : Tôi tin là có thế giới khác với thế giới chúng ta đang sống, vì chính tôi cũng đã có thể gọi là người trong cuộc của chuyện này. Tôi có 1 chị gái sát tuổi tôi mất khi mới trên dưới 2 tuổi, khi đó tôi mới hơn 1 tuổi thôi, không hề có ấn tượng hay nhớ kỷ niệm gì về chị cả. Tôi là con út nên ngủ với ba mẹ nhiều nhất, các bạn có thể tưởng tượng được không, đêm 30 tết nào chị cũng về đứng dưới cuối giường của ba mẹ. Đứng suốt đêm đến tờ mờ sáng.

Tôi đến bây giờ vẫn còn nhớ đó là bóng trắng, tóc dài mờ mờ hư ảo. Sáng mùng 1 tết, Mẹ bao giờ cũng hỏi tôi hôm qua có gặp chị không con, chị về phù hộ cho cả nhà mình đấy… Nghĩa là không chỉ tôi mà cả mẹ cũng gặp chị, có lẽ cả ba nữa. Bởi vì ba tôi không khóc trong những ngày thường nhưng bao nhiêu năm qua, đến bây giờ vẫn vậy, đêm giao thừa nào ba cũng khóc vì nhớ và thương chị, làm cả nhà lại khóc theo. Tôi tin ba tôi cũng gặp chị. Còn bây giờ tôi cũng không hỏi là chị có về nhà hay không nhưng chỉ biết là chị luôn luôn phù hộ cho mọi người trong gia đình.

Bạn Hpdonso khẳng định về sự tồn tại của linh hồn : Thế giới thứ 2 là có thật, nhưng trường hợp của mình thì không cần gọi mà hồn tự hiện ra, đó là anh của người bạn nối khố, nhà có 3 anh em dưới là cô em gái út, hôm đó mình và một người khác nữa ngồi chơi với em gái nó ở giường nhà nó, đang nói chuyện thì em gái nó kêu đau đầu và chóng mặt quá, nhăn nhó trong vài giây rồi nhắm mắt nằm từ từ ra giường rồi cũng chỉ trong tic tắc lại ngồi dậy và bắt đầu nói quay ngay sang mình hỏi han và còn hỏi cả anh trai mình (vì anh trai mình chơi với anh trai nó), rồi còn nhờ mình bóp hộ chân (ông ấy mất vì tai nạn bị đâm gãy đùi) mình không còn hồn vía nào nữa, hai tay bóp chân mà run lẩy bẩy.

May sao lúc đó mẹ anh ấy về thế là mình lại chứng kiến 2 mẹ con ôm nhau khóc nói chuyện hỏi han như bình thường, mẹ anh ấy hỏi thế con ở dưới đấy thế nào ? Anh ấy trả lời là con vẫn đang phải đứng gác (lúc đó anh ấy chưa giỗ đầu) anh ấy phải gác đúng ở chỗ đường bị tai nạn đó theo nhiệm vụ là phải bắt được 1 người đã được chỉ định thì mới được chuyển lên chỗ khác chắc là nhàn hạ hơn, rồi anh ấy còn quay sang mình bảo khi nào mấy đứa rỗi thì ra mộ đắp lại mấy cái lỗ bị chuột khoét cho anh, anh lạnh lắm… có thể mình kể câu chuyện này ra các bạn không tin,và bản thân mình cũng không tin vào bói toán và chưa bao giờ đi gọi hồn nhưng đây là câu chuyện thật 100% mình vẫn nhớ như in hồi đó mình học lớp 8.

Còn đoạn cuối 2 mẹ con ôm nhau khóc bịn rịn chia tay thì đứa em gái từ từ nằm ra giường có vẻ rất mệt mỏi, trong khi nó nằm thì mẹ nó quay sang bọn mình hỏi han về mọi chuyện diễn ra như thế nào rồi quay sang vỗ vỗ vào nó nó bắt đầu mở mắt như vừa ngủ dậy, mặt ngơ ngác rồi mẹ nó cùng với cả bọn mình hỏi nó là cảm thấy trong người thế nào, có nhớ gì không nó trả lời là không biết gì chỉ thấy đầu nặng chĩu, rồi khi nghe mẹ nó và bọn mình kể lại nó mới biết và òa khóc…

Cuối cùng là câu chuyện và cảm nghĩ của bạn khang bach : Tôi tin là có linh hồn. Nhưng có quá nhiều người lợi dụng nó để tư lợi. Chuyện này rất nhạy cảm và đụng chạm đến nhiều người. Về phía tôi thì tôi cho là “có linh hồn và sự nhập hồn”. Ngay trong nhà tôi, tôi nghe các bà trong nhà kể : Trong ngày giỗ ông tôi mới cách đây mấy năm thôi, khi mọi người đang khấn cúng thì con bé con trong nhà tự dưng trợn mắt lên và gọi các bà trong nhà ra nói chuyện như là ông của tôi thật vậy.

Cũng xưng anh và gọi tên từng bà một như hồi ông còn sống Đứa trẻ con ngồi nói lại chuyện cũ một cách rõ ràng và rất tự nhiên. Câu hỏi đặt ra ở đây là nếu như các bà nói đúng thì phải chăng linh hồn là có thật ? Vì một điều dĩ nhiên là 1 đứa trẻ con mới hơn 10 tuổi không thể biết được những chuyện của ông nó hồi còn trẻ được. Một câu chuyện khác, theo cô giáo cấp 3 của tôi kể là trong 1 lần đoàn trường đi về nghĩa trang Trường Sơn thắp hương, những người quản trang kể lại là mỗi khi có đoàn khách nào đến thắp hương là đêm đó lại nghe thấy tiếng hô như những người chiến sĩ đang hành quân vậy.

Không biết phải giải thích như thế nào nhưng theo tôi thì vẫn có một thế giới khác tiếp diễn khi chúng ta đi hết cuộc sống này. Chết không phải là hết. Cơ bản là chúng ta phải sống như thế nào để không phải chịu hậu quả đến kiếp luân hồi.

Lời kết 

Tóm lại thế giới tâm linh còn rất nhiều điều huyền bí mà khoa học hiện nay chưa thể giải thích được rõ ràng. Tuỳ theo tín ngưỡng của nhiều người mà người ra cho rằng có linh hồn hoặc không có linh hồn, có thế giới bên kia hoặc không có . Chúng ta không nên áp đặt 1 cách thái quá ý nghĩ của mình vào chuyện này. Vì xét cho cùng nếu có linh hồn thì cũng chẳng sao vì linh hồn chưa gây tổn hại gì cho chúng ta. (theo Hà Xuân Hùng)

 VŨ THỊ QUẾ PHƯỢNG (tổng hợp từ những phản hồi)

PHÉP LẠ TỪ CHA BỬU DIỆP

CHUYỆN KỂ VỀ

CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP

Hình ảnh này tôi nghĩ giống hình ảnh của bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc quá. Người viết nói : ”Tôi không phải là người Công giáo, hơn nữa lại là một giáo viên (ngày trước gọi là giáo sư trung học) có đầu óc khoa học và ưa chuộng thực tế hơn là những sự tin tưởng mang tính siêu hình”, nhưng nay không phải suy nghĩ nữa, chỉ cần nhìn vào ngôi nhà thờ mới hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Campuchia và Lào) mà theo tôi biết, giá mỗi pho tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la, là có ngay niềm tin. Quả thật đáng trân trọng !

Thưa quý bạn, Bạc Liêu là một tỉnh nhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng có nhiều chuyện nổi tiếng, như về lúa gạo, về muối, về nhãn, về… Công tử Bạc Liêu (1900-1973) trong thời Pháp thuộc, về vụ án Đồng Nọc Nạn của những năm 1928-1930, và về ngôi nhà thờ họ Tắc Sậy với sự linh ứng của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, mà gần đây cả trong nước lẫn ngoài nước ai cũng biết.

Tôi không phải là người Công giáo, hơn nữa lại là một giáo viên (ngày trước gọi là giáo sư trung học) có đầu óc khoa học và ưa chuộng thực tế hơn là những sự tin tưởng mang tính siêu hình. Tôi đã từng dạy học tại Bạc Liêu suốt 6 năm trời (1965-1971) và học trò của tôi tại các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Phước Long, Giá Rai v.v… đông lắm, chúng tôi thường xuống dưới đó chơi. Tôi rất quen thuộc với cái huyện (ngày trước gọi là quận) Giá Rai có ngôi nhà thờ nhỏ tí Tắc Sậy lợp tôn, nằm bên cạnh lộ sau khi đi qua ngôi chợ cũng nhỏ như vậy của thị trấn Hộ Phòng – thị trấn của huyện Giá Rai – khoảng một cây số.

Bây giờ, trong thời buổi này, nhà thờ Tắc Sậy tự nhiên nổi tiếng do sự linh thiêng “ai đến khấn nguyện điều gì đều được” của Cha Diệp. Có điều tôi muốn thưa với quý bạn rằng Nhà thờ Tắc Sậy huyện Giá Rai thuộc tình Bạc Liêu chứ không phải thuộc tỉnh Cà Mau. Tất cả các tài liệu đều ghi Bạc Liêu nhưng dân chúng thường nói Ca Mau bởi vì sau năm 1975, khi Cha Trương Bửu Diệp bắt đầu nổi tiếng thì Bạc Liêu thuộc về Cà Mau, kết hợp với tỉnh Cà Mau thành tỉnh Minh Hải, người ta quen gọi là Cà Mau chứ ít khi gọi là Minh Hải. Ngoài ra, Nhà thờ Tắc Sậy nằm trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau, cách Bạc Liêu 37 cây số trong khi chỉ cách Cà Mau có 20 cây số nên mọi người dễ bị lầm.

Quý bạn hỏi vậy thì đối với những chuyện đồn đại, bản thân Đoàn Dự tin hay không tin ? Tôi xin trả lời rằng tôi không dám nói tin hay không tin, nhưng theo tôi nghĩ, Nhà thờ Tắc Sậy là một ngôi nhà thờ rất nhỏ – nhỏ không thể nào nhỏ hơn được nữa – lại nằm trong một thị trấn cũng nhỏ, đồng không mông quạnh, ở phần gần như cuối cùng đất nước, cách Sài Gòn tới hơn 300 cây số, vậy mà nay được xây dựng thành một cơ ngơi to lớn, hiện đại, nguyên tiền xây cất đã hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Campuchia và Lào) mà theo tôi biết, giá mỗi pho tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la. Toàn là do khách thập phương, lương cũng như giáo, nhất là Việt Kiều tại các nước gửi tới tạ ơn cả.

Phải có cái gì đó thiêng liêng và đầy tin tưởng người ta mới dâng hiến lên Cha như thế ! Mặt khác tôi cũng nghĩ, khi bị bắt cùng với 70 người vừa chức sắc vừa giáo dân trong họ đạo, Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã hy sinh tính mạng của mình để cứu họ. Sau khi qua đời, ngài hiển linh ban ơn cho người này người kia, “ai xin thì cũng đều được”. Rồi bây giờ mọi người dâng lễ tạ ơn ngài, biến ngôi nhà thờ nhỏ xíu của ngài thành nơi khang trang, hiện đại. Tất cả những việc đó đều là tình người. Đối với tôi, bất cứ cái gì thuộc về tình người đều đáng ca ngợi.

Quý bạn cũng hỏi những chuyện về Cha Diệp thì ai cũng biết, tại sao tôi còn thuật lại ? Xin thưa, tính tôi vẫn thế, không kể thì thôi, đã kể là rất chi tiết. Tôi sợ quý bạn tuy biết nhưng biết từng mảng, không thành hệ thống. Bây giờ tôi xin tường thuật từ đầu đến cuối thật rõ để quý bạn hiểu, xin mời quý bạn xem xét… 

Tiểu sử Linh mục Trương Bửu Diệp

Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01/01/1897, một tháng sau được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 02/02/1897 tại họ đạo Cồn Phước, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng. Mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh sống tại họ đạo Cồn Phước tỉnh An Giang.

Năm 1904, lúc ngài 7 tuổi thì mẹ mất. Cha ngài dời gia đình lên Battambang bên Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn thị Phước, sinh năm 1890, quê gốc tại Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới tỉnh An Giang. Học xong tại Tiểu chủng viện, ngài lên Đại chủng viện Nam Vang, Campuchia, (lúc đó các họ đạo An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia).

Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới thời Đức Cha Chabalier người Pháp. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước. Từ năm 1924-1927, ngài được bề trên bổ nhiệm làm Cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Từ năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng tỉnh An Giang.

Tháng 03 năm 1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo khác tại các vùng phụ cận như : Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương những năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân di tản, Cha Bề Trên địa phận Bạc Liêu là Phêrô Trần Minh Ký và cả các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài trả lời : “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả”.

Ngày 12/03/1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ đạo Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa. Người ta định giết tất cả nhưng ngài nói chính ngài là chủ chăn các con chiên đó, vậy xin chết thay cho các con chiên của ngài. Họ chấp nhận. Mọi người được thả còn ngài thì bị đem đi thủ tiêu.

Những người trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc trong họ đạo biết chỗ họ ném xác ngài, trong cái ao nhà ông giáo Sự. Các vị đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã bị chặt đầu với một vết chém ngang cổ chỗ gần mang tai, có ba vết chém khác trên mình. Thân xác ngài không hiểu sao bị lột hết quần áo, trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.

Các vị chức sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo (nhà ông giáo Sự thuộc họ đạo Khúc Tréo, làm thế kín đáo hơn đưa về Tắc Sậy). Như vậy ngài đã tử vì đạo vào ngày 12 tháng 03 năm 1946, nhằm ngày mồng 09 tháng 02 năm Bính Tuất.

23 năm sau, tức năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về Nhà thờ Tắc Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

20 năm sau nữa, tức năm 1989, ngôi mộ của ngài được trùng tu thành một ngôi nhà mộ nho nhỏ lợp tôn ở phía sau Nhà thờ Tắc Sậy cũng nhỏ như vậy và khánh thành vào ngày 04/06/1989.

Đầu năm 2010, một ngôi nhà mộ cực kỳ khang trang và hiện đại đã xây dựng xong, hài cốt ngài được di chuyển vào đó với lễ cải táng rất long trọng do đức Giám Mục địa phận Cần Thơ chứng kiến. Ngày nào cũng có các tín hữu ở khắp mọi nơi trong nước cũng như ngoài nước, bên lương cũng như bên giáo, tới thăm viếng, khấn nguyện và tin tưởng vào sự linh ứng của ngài.

Chuyện một số phép lạ của Cha Bửu Diệp

Hiện nay, tuy Giáo hội Công giáo chưa xét phong Thánh cho Cha Bửu Diệp, nhưng trong lòng nhiều tín hữu Công giáo, kể cả một số người thuộc các tôn giáo khác, đã coi Cha như một vị Thánh, vì rất nhiều người khấn xin với ngài và được ngài ban cho như ý. Tại các nhà thờ Công giáo trong nước, rất nhiều giáo dân xin lễ tạ ơn ngài. Đặc biệt, nhiều người không phải tín đồ Thiên Chúa giáo cũng rất kính mến, tin tưởng ở ngài. Những tấm bảng tạ ơn Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp được gắn trên tường trong căn phòng nguyện tại Nhà thờ Tắc Sậy nhiều không biết bao nhiêu mà kể.

Theo chúng tôi được biết, ở bên Mỹ, cụ Joan Baotixita Võ Hữu Hạnh, một nhà văn lớn tuổi, đã sáng lập “Hội những người con của Cha Trương Bửu Diệp”. Theo cụ, Cha Trương Bửu Diệp đã ban phép lạ cho nhiều người, cả lương cũng như giáo. Sau đây là một số chuyện về các phép lạ đó, bởi vậy tiếng tăm về ngài ngày càng lừng lẫy.

Chuyện gia đình ông Lâm ở Lâm Đồng, Đà Lạt : Ông bà Lâm không phải tín đồ Thiên chúa giáo và chuyện này đã diễn ra năm 1977, do chính ông Lâm kể cho ông Ngọc Quang nghe, ông Ngọc Quang ghi lại trên tập san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, do cụ Võ Hữu Hạnh chủ trương.

“Bà Lâm bị bệnh viêm ruột và đau dạ dày từ lâu, bệnh đã trở thành vô phương cứu chữa. Bác sĩ tại các bệnh viện ở Sài Gòn đều bó tay. Ông Lâm đành đưa vợ từ Sài Gòn về Lâm Đồng để bà sống những ngày cuối cùng của mình. Giữa lúc gia đình vừa đưa bà Lâm về tới nhà thì có một vị khách đi đường xa, xe bị hư, trong khi chờ tài xế sửa, ghé vào thăm. Khách là một người cao lớn, khỏe mạnh, gương mặt chữ điền, hàm râu cánh én, vẻ người phúc hậu với bộ áo dài đen của linh mục.

Ông Lâm vốn tính tình hiền lành, thường rất tôn trọng các vị tu hành, dù lương hay giáo. Mặc dầu nhà đang bận rộn vì vợ bệnh nặng nhưng ông cũng lịch sự tiếp đón khách. Vị linh mục tinh ý hỏi tại sao nét mặt gia chủ có vẻ buồn rầu. Ông Lâm nói thật là vợ bệnh nặng, mới đưa từ Sài Gòn về nhà chờ chết. Vị linh mục nói rằng lúc trước mình cũng bị bệnh nặng như vậy, nhờ một ông bác sĩ tên Hữu cho uống loại thuốc này khỏi bệnh, bây giờ còn dư lại mấy viên. Cha lấy trong túi áo ra ba viên thuốc trao cho ông Lâm và dặn chiều cho bà uống một viên, tối lúc 10 giờ một viên và sáng hôm sau một viên nữa, thế nào cũng khỏi. Ông Lâm tuy không tin lắm nhưng trong lúc tuyệt vọng, ai bảo sao cũng đành nghe vậy. Giữa lúc ấy người tài xế vào thưa xe đã sửa xong, vị linh mục bèn từ giã chủ nhà ra đi. Chủ nhà cảm ơn Cha và hỏi cho biết Cha ở đâu, vị linh mục nói mình trông coi xứ đạo Tắc Sậy – tỉnh Bạc Liêu ?.

Sau khi uống viên thuốc thứ nhất vài giờ, bà Lâm cảm thấy bớt đau, trong mình dễ chịu, biết đói và thèm ăn, ngủ ngon. Buổi tối, khoảng chừng 10 giờ, tự nhiên bà thức giấc và nhớ lời Cha dặn, bèn uống thêm viên thuốc thứ hai. Sáng hôm sau thức dậy, bà thấy trong người khỏe khoắn, không còn mệt mỏi và đau đớn như trước. Bà sung sướng báo tin cho chồng hay. Ông Lâm mừng quá bèn đem viên thuốc còn lại đến các tiệm để làm mẫu, mua thêm cho chắc ăn. Nhưng ông đi khắp nơi, kể cả các tiệm thuốc Tây lẫn thuốc Bắc, song chẳng ai biết đó là thuốc gì. Ông đành trở về, cho bà uống nốt viên còn lại và định có dịp sẽ xuống Minh Hải (năm 1977, hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau bị sáp nhập lại với nhau thành tỉnh Minh Hải) thăm Cha và nhờ Cha nói với ông “bác sĩ Hữu” bán thêm giúp.

Muốn đi từ Lâm Đồng xuống Cà Mau thì phải về Sài Gòn, xuống Cần Thơ, qua Sóc Trăng rồi mới tới Bạc Liêu, và Hộ Phòng là thị trấn của huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu 37 cây số, nơi có Nhà thờ Tắc Sậy. Việc giao thông lúc ấy rất khó khăn, phải xếp hàng từ khuya ở Bến Xe Miền Tây để mua vé xe, có khi xếp hàng cũng không mua được vé, đường đi lại lồi lõm, hết sức cực khổ. Bà Lâm mới khỏi bệnh, khó chịu đựng nổi với những chiếc xe cà rịch cà tàng, cổ lỗ đó. Đang lúc ông Lâm lo âu thì có người cháu làm trong cơ quan nhà nước đến chơi, cho biết anh ta sắp đi công tác tại Minh Hải để giao dịch mua lương thực cho tỉnh. Ông Lâm mừng quá, bèn nói với cháu cho đi nhờ xe xuống Tắc Sậy, tiền xăng ông chịu. Người cháu nhận lời vì Nhà thờ Tắc Sậy nằm ngay trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau và cách thị xã Cà Mau khoảng 20 cây số, anh ta chở chú thím tới Tắc Sậy rồi xuống Cà Mau không có gì khó.

Khi qua Bạc Liêu, xuống tới thị trấn Hộ Phòng, Nhà thờ Tắc Sậy nằm cách chợ Hộ Phòng khoảng một cây số, ở phía bên trái. Ông bà Lâm không thể ngờ được nơi ở của vị cha sứ ân nhân lại nhỏ như vậy. Đó là ngôi nhà thờ mái lợp tôn, vách ván, xiêu vẹo trông rất tiêu điều. Đất nhà thờ rộng mênh mông nhưng chung quanh toàn đồng ruộng, dân cư thưa thớt.

Chiếc sân đất của nhà thờ không có cổng. Vợ chồng ông Lâm xuống xe, đi vô. Một ông lão bộc (thường gọi là ông Từ) đang quét trên sân. Trông thấy khách lạ, ông Từ có vẻ ngạc nhiên vì ít khi có khách phương xa đến thăm ngôi nhà thờ này. Ông Lâm nói muốn gặp cha sở, ông Từ mời vào bên trong rồi vào mời cha.

Một lát sau, vị linh mục ra, ngài cho biết ngài là Linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, cha sở họ đạo Tắc Sậy. Ông bà Lâm rất ngạc nhiên, vị linh mục này trông không giống vị linh mục đã cho thuốc một chút nào hết mà sao hai vị đều tự nhận mình là cha sở họ đạo Tắc Sậy ? Ông Lâm bày tỏ sự tình và kể mình đã gặp một vị linh mục cao lớn, tóc ngắn, gương mặt chữ điền, hàm râu cá chốt. Cha Tỏ mỉm cười, không lấy gì làm lạ, bèn dẫn vợ chồng ông Lâm qua phía bên hông nhà thờ, tới ngôi mộ của Cha Diệp. Vừa nhìn thấy tấm hình trên bia mộ, tự nhiên ông Lâm quỳ phục xuống và quả quyết đây chính là vị ân nhân đã cho thuốc, cứu bà Lâm khỏi bệnh. Bà Lâm cũng quỳ xuống tạ ơn ngài. Ông bà là người bên lương, không biết làm dấu Thánh giá.

Lúc ra về, ông bà Lâm gửi Cha sở một số tiền nho nhỏ để giúp nhà thờ vì lúc ấy ai cũng nghèo, ông bà không có nhiều. Có lẽ ông bà Lâm là những người đầu tiên đã giúp nhà thờ từ năm 1977”.

Chuyện bức ảnh đẫm máu : Sau đây là nguyên văn bức thư của GS Trần Anh Linh gởi cho cụ Võ Hữu Hạnh, nói về bức ảnh đẫm máu. Xin ghi chú thêm rằng chuyện này xảy ra cách đây khoảng chừng 2 năm (2008) và hiện nay Linh mục Gioan Minh vẫn còn ở tại Nhà thờ Hiển Linh đường Ngô Tất Tố (Dương Công Trừng cũ) thuộc giáo phận Thị Nghè. Ngài nổi tiếng về việc khấn nguyện Đức Mẹ giùm những người bệnh tật kết quả rất tốt. Hằng ngày mọi người ở khắp các nơi đến nhờ ngài khấn rất đông nhưng chính quyền địa phương đã ra lệnh cấm vì không muốn có sự tụ tập đông đúc.

Sau đây là bức thư của GS Trần Anh Linh:

“Anh Hạnh thân mến,

Tôi xin gửi tặng anh món quà quí giá mà Cha Diệp đã ban cho tôi qua Cha Gioan Minh: Cha Diệp đã thực hiện một phép lạ nhãn tiền là dùng chính tấm ảnh mà chúng ta đã cho họa sĩ Đại Hàn ở khu Phúc Lộc Thọ vẽ rồi in ra nhiều ấn bản, vừa làm thành sách, vừa in thành ảnh gởi tặng và bán khắp nơi. Tấm ảnh đó đã đổ máu đào lênh láng từ vết chém bằng đao kiếm đứt cổ, máu Cha đã đổ ra thấm ướt làm mờ hàng chữ Trương Bửu Diệp bên dưới.

Câu chuyện xảy ra như sau : Cha Gioan Minh (cựu Tuyên Úy), sau 12 năm học tập cải tạo, đã được cho về và sống ở nhà thờ Chúa Hiển Linh tại Thị Nghè nơi xưa kia Cha Dụ đã thành lập. Cha Minh ở lại Việt Nam, không xin ra nước ngoài theo diện HO dù cha có tới 12 năm ở tù.

Một hôm cha vào Nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng và chọn mua một tấm ảnh của Cha Diệp mà cha đã nghe có nhiều phép lạ. Cô bán hàng dùng giấy báo gói bức ảnh có đóng khung sẵn trao cho cha Minh. Cha Minh về đến nhà, tính mở ra để treo lên tường thì một ơn lạ đã xảy ra, là máu tươi từ cổ bức ảnh tuôn trào ra thấm ướt cả tờ báo gói bức tranh.

Cha Minh kinh ngạc bèn cho đó là một dấu chỉ quan trọng, nên đã gói lại cẩn thận và lặng lẽ đem lên Tòa Tổng Giám Mục Saigon trình với Đức Cha Phạm Minh Mẫn. Theo cha Minh cho biết thì tấm ảnh thấm máu này đã được gởi qua để Tòa Thánh xét nghiệm, hy vọng rằng đã đến lúc Tòa Thánh cho lập Ban Điều Tra, tìm hiểu về các ơn lành Cha Diệp đã làm mà việc lạ lùng làm cho máu đào từ vết cổ đổ ra sẽ là một trong những chứng cớ để Tòa Thánh có thể tôn phong Chân Phước cho Cha.

Tôi là bạn thân của cha Minh, nên cha đã tặng tôi một tấm. Tôi sao lại và gởi tặng anh, đây là tài liệu mới nhất về Cha Diệp, anh nên ghi chú vào tập sách Các Ơn Lành của Cha”. Trần Anh Linh.

Chuyện ông chủ thầu vật liệu xây dựng : Từ những năm thuộc thập niên 1980 trở về sau, hằng năm cứ vào các ngày 11/12 tháng 03 dương lịch, dòng người lương, giáo từ các nơi lại đổ về Tắc Sậy. Trên những chiếc xe đò chở khách, người ta có thể thấy hình một vị linh mục mặt vuông chữ điền rất dễ mến. Họ xuống để dự lễ giỗ của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Ông Phước, người trông coi phần mộ của Cha Diệp tại Nhà thờ Tắc Sậy, kể lại câu chuyện sau đây vào một buổi trưa tháng 04-2010 như sau:

“Vào khoảng những năm đầu thập niên 1980, bờ kinh cạnh khu nhà thờ này còn là một bãi đất trống, làm nơi ghe và xe cộ dừng lại đổ hàng. Nửa đêm, có một ông chủ ghe chở đầy vật liệu xây dựng như gạch, cát, xi-măng… đậu bên bờ kinh. Ông bỗng trông thấy một vị khách mặc áo dài đen theo kiểu nhà dòng từ trên bờ bước xuống. Vị khách tự xưng mình là cha xứ Nhà thờ Tắc Sậy, muốn mua hết các vật liệu trên ghe để xây lại nhà thờ. Giá cả xong xuôi, chủ ghe đồng ý bán và hẹn hôm sau sẽ cho công nhân đem hàng lên xong ông sẽ nhận tiền.

Sáng hôm sau, trước khi giao hàng, chủ ghe lên nhà thờ, định gặp cha xứ để biết chỗ cho công nhân xếp hàng. Đến khi gặp linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, ông rất ngạc nhiên, từ giọng nói cho tới gương mặt, thân hình, vị linh mục này trông không giống với vị khách có ria mép hôm trước một chút nào cả. Cha Tỏ nói : “Tôi hiểu, đó chính là linh hồn cha sở Phanxicô Trương Bửu Diệp đấy. Ý ngài muốn xây lại nhà thờ nên hiện ra như vậy”. Cha kể cho ông chủ thầu nghe các chuyện linh ứng của Cha Bửu Diệp rồi nói: “Ý tôi cũng muốn xây lại ngôi nhà thờ cho đàng hoàng nhưng họ đạo nghèo, chưa đủ tiền. Thôi thì đành cáo lỗi với ông và hẹn khi khác”. Ông chủ thầu nói: “Cha Diệp đã linh ứng như vậy thì con không dám lấy tiền. Mặc dầu con là người bên lương nhưng con xin hiến tất cả các vật liệu trên ghe để nhà thờ xây sửa lại, không nhận một đồng nào cả”. Ông chủ thầu lập tức cho người khuân gạch, cát, xi-măng từ dưới ghe lên rồi đi, ngay cả tiền công bốc xếp của các công nhân ông cũng tự trả, không để nhà thờ phải trả.

Không ngờ từ đấy ông chủ ghe buôn bán ngày càng phát đạt. Ông cho rằng mình được Cha Diệp phò hộ nên mỗi lần đi qua Hộ Phòng ông thường quay lại Nhà thờ Tắc Sậy để tạ ơn Cha.

Cũng theo ông Phước, những chuyện linh ứng của Cha Diệp ngày một lan rộng. Từ đó về sau, khách thập phương kéo về nườm nượp để cầu xin Cha ban ơn lành. Nhất là các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng, rất nhiều người xuống, họ cầu xin Cha chuyện này chuyện khác, và ai cũng được toại nguyện. Lời nguyện đắc thành, họ đến đền ơn Cha, người thì ghế đá, người thì vật dụng dùng cho nhà thờ, người thì tiền bạc…, nhiều không sao kể xiết. Cứ thế, vào những này cuối tuần hoặc trong dịp lễ giỗ Cha (12 tháng 03 dương lịch), khách thập phương kể cả trong nước lẫn ngoài nước về kính viếng Cha đông như trẩy hội. Có nhiều người đem theo cả những chai nước La Vie đến để bên cạnh mộ, cầu nguyện trước khi mang về cho người trong gia đình. Nhưng cũng có những người tin tưởng đến độ cầu nguyện trong nhà thờ, trước mộ của Cha chưa đủ, họ còn hỏi thăm, tìm đến chiếc ao nhỏ của gia đình ông giáo Sự ngày xưa để chiêm ngưỡng nơi Cha đã bị sát hại.

Điều lạ lùng hơn nữa là theo như lời của vị cha xứ hiện nay là Linh mục Phaolô Nguyễn Thanh Bình, thì có tới 70% khách thập phương xuống Giá Rai kính ngưỡng Cha Diệp là người ngoại đạo hoặc Việt Kiều từ nước ngoài về. Có những người chưa về nhưng đã “nghe nói” tới sự linh ứng của Cha nên đã gửi tiền về giúp nhà thờ xây dựng được một cơ ngơi lớn lao như ngày nay, khả dĩ có thể đón tiếp bất cứ các nhóm hành hương nào dù đông bao nhiêu, họ đều có chỗ nghỉ ngơi đàng hoàng mà không cần phải đóng góp gì cả.

Để kết luận bài này, tôi xin thưa với quý vị độc giả thân mến rằng tôi không phải là người Công giáo, nhưng tôi biết trong Thánh kinh Công giáo có câu nói của Đức chúa Giêsu : “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Vậy nay tôi xin dùng câu nói này để cầu Chúa và Cha Diệp ban ơn cho quý vị. Amen.

Huỳnh Văn Yên (theo Đoàn Dự ghi chép)