ĐOÁN TÍNH CÁCH QUA ĐỘ DÀI NGÓN TAY…

ĐOÁN TÍNH CÁCH

NHÌN ĐỘ DÀI CỦA NGÓN TAY…

Trong các ngón tay của bạn, ngón nào dài thứ 2 sau ngón giữa ? Trên thực tế, một việc đơn giản như thế cũng có thể nói lên tính cách của bạn. Cách bói tính cách qua độ dài ngón tay vừa đơn giản lại chính xác này rất được quan tâm tại Mỹ. Hãy cùng bạn bè, người thân thử xem sao nhé.

A/- Ngón áp út dài hơn ngón trỏ: người hấp dẫn quyến rũ : Đây là những người có ngoại hình ưa nhìn, xung quanh luôn có rất nhiều người yêu thích. Mặc dù họ không biết cách thăm dò đoán ý người khác qua cử chỉ và sắc mặt, nhưng họ không có ác ý gì, thậm chí họ có sức hút đến nỗi có thể biến yếu điểm này thành điểm nổi bật của bản thân.

Họ giỏi nhất về giải quyết các vấn đề, khi gặp phải khó khăn, hãy tìm giúp đỡ từ những người thuộc nhóm này. Trong kiểu người này thì đa phần là kỹ sư và những người làm công việc nghiên cứu. Có thể là do họ giỏi về tính toán, giải đố.

B/- Ngón trỏ dài hơn ngón áp út: người đáng tin và cũng rất tự tin : Người có ngón trỏ dài hơn ngón áp út lúc nào cũng tràn đầy tự tin vào bản thân, luôn làm tốt mọi nhiệm vụ được giao. Họ thích làm việc độc lập một mình hơn là làm việc theo tập thể và ghét bị quấy rầy. Chỉ cần để họ làm việc theo cách của họ, nhất định sẽ đạt được kết quả mỹ mãn. Giao phó công việc cho kiểu người này, bạn có thể hoàn toàn yên tâm. Họ không hài lòng với hiện tại mà luôn luôn có xu hướng theo đuổi những điều tốt đẹp hơn.

C/- Ngón áp út dài bằng ngón trỏ: người yêu thích hoà bình và chính nghĩa, không thích đấu đá : Những người thuộc nhóm này có tính thích nghi cao, thích chung sống hoà hợp với người khác, thích cuộc sống đơn giản, ổn định, ghét tranh cãi. Họ rất giỏi lấy lòng người khác, nhưng nếu một khi họ tức giận thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Bạn nhất định phải chú ý điểm này, phải hết sức cẩn thận, không nên chọc giận họ. (Quỳnh Chi theo Letu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

5 CÁCH NHẬN DẠNG

NGƯỜI THÂM ĐỘC

Dù giỏi che đậy đến mấy, người có tâm cơ thâm độc, xấu xa vẫn sẽ bị “lòi đuôi” ở những chỗ mà họ không ngờ đến nhất.

Trong cuộc sống của mỗi người, chúng ta đều có rất nhiều mối quan hệ, nếu không phải là tình thân, tình yêu, đồng nghiệp, đối tác thì những người còn lại hẳn sẽ thường được xếp vào tình bạn. Trong số đó, có không ít người chỉ là bạn “hờ”, nói một cách dễ hiểu, họ chỉ tiếp cận bạn với mục đích, ý đồ nào đó và sẽ trở mặt ngay khi hết giá trị lợi dụng.

Những người này thường có tài giao tiếp rất khéo, dẻo miệng và giỏi che đậy, nên nếu không tinh tế sẽ khó lòng nhận ra tâm cơ xấu xa của họ. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, núi cao sẽ có núi cao hơn, dưới đây sẽ là 5 cách điểm mặt chỉ tên người tiếp cận bạn có ý đồ mờ ám và tóm gáy ngay trước khi họ kịp giở thủ đoạn.

1/. Nói không ngừng nghỉ về nhu cầu của mình : Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy chú ý đến những người luôn đặt câu chuyện của mình làm trung tâm trong tất cả các cuộc đối thoại.

Làm ra vẻ rất quan tâm đến cuộc sống của bạn, nhưng đó chỉ là đòn bẩy để họ nâng câu chuyện của mình lên. Họ không ngừng huyên thuyên với bạn về những thứ muốn có được và đạt được. Kể một cách chi tiết để bạn biết chính xác họ muốn bạn làm gì.Đừng để những lời ngọt ngào thôi miên lí trí, hơn lúc nào hết bạn cần tỉnh tảo khi tiếp cận với loại người này.

2/. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo : Không quy chụp tất cả, nhưng người có tâm địa không tốt thường sở hữu “chiếc lưỡi của một con quỷ”. Cái tài của họ là dùng lời nói để xoay chuyển tâm lí của bạn. Bằng cách nào đó, họ khiến bạn tin vào những lời nói dối của họ.

Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy khôn ngoan đưa mình ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy, nếu không sớm muộn gì, bạn cũng sẽ bị họ cố gắng điều khiển và sai khiến.

3/. Luôn sai khiến và lợi dụng bạn : Những người tiếp cận bạn với tâm địa không tốt, họ không bao giờ lãng phí thời gian của mình, mà luôn tận dụng cơ hội sai khiến và lợi dụng khi ở gần bạn. Dù bạn không muốn nghe nhưng họ luôn lặp đi lặp lại một vấn đề như kiểu muốn tiêm nhiễm chúng vào đầu bạn để bạn phải giúp họ mới thôi.

Đừng ngại, thẳng thắn từ chối là cách đáp trả hay nhất đối với trường hợp này. Mặc kệ, họ liên tục thay đổi thái độ từ cứng rắn sang mềm mỏng, bi lụy thì cũng đừng dễ xiêu lòng nhé. Hãy thay đổi chủ đề hoặc rời đi.

4/. Bạn luôn thấy bất an và có cảm giác tồi tệ khi ở cùng họ : Trong nhiều tình huống, cảm giác bất an cũng là một thứ phán đoán chuẩn xác. Nếu bạn luôn cảm thấy không an toàn khi ở cạnh hoặc nói chuyện với một người nào đó thì hãy cẩn thận, đó có thể là linh cảm đúng đấy.

Khi một người có nhiều biểu hiện lạ hoặc một trong các dấu hiệu được nêu ra ở trên, và bạn cảm thấy luôn có cảm xúc tiêu cực tức tối, khó chịu,… thì tốt nhất nên tránh xa ra nhé. Nếu họ thực sự là người tốt, hãy để thời gian trả lời điều đó.

5/. Ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể bất thường : Kẻ nói dối thường ít khi nhìn thẳng vào mắt người đối diện mình, đơn giản là họ không tự tin vào lời nói và né tránh những biểu cảm không thật. Họ thường sử dụng quá nhiều ngôn ngữ cơ thể nhằm tạo sự tin tưởng ở người khác. Đừng để họ qua mặt bạn, hãy nhìn chầm chầm vào mắt họ, cái đuôi sẽ sớm lòi ra thôi, khi họ bắt đầu căng thẳng mồ hôi sẽ đổ, biểu cảm bối rối,…

Với người có trực giác tốt, họ sẽ dễ dàng nhận ra sự bất ổn từ những người xung quanh mình. Ngoài ra, người có tâm địa không tốt sớm muộn cũng sẽ tự “lòi đuôi cáo” mà thôi. Nhưng biết sớm vẫn hơn biết muộn, việc của bạn là nằm lòng 5 cách nhìn người mà đoán tâm tính ở trên để tránh bị người xấu lợi dụng. (Nguyễn Vi theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

5 CON GIÁP NAM

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ GIA ĐÌNH ​

Theo quan niệm tử vi, nếu đàn ông thuộc 1 trong 5 con giáp dưới đây sẽ luôn coi gia đình là nơi quan trọng nhất. Họ dù có phải hi sinh bản thân mình hay làm bất cứ điều gì khác cũng không bao giờ bỏ rơi những người mình yêu thương.

Và nếu chị vợ nào đang có một anh chồng như thế thì hãy yêu thương, trân trọng anh ấy nhiều hơn nhé, bởi anh ấy chính là người sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh vợ suốt cuộc đời này đó!

1/- Đàn ông tuổi Tý : Có chết cũng không buông tay : Những người cầm tinh con Chuột được trời ban cho một đặc ân là có trí tuệ hơn người, thông minh, nhanh nhẹn và hoạt bát. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn có hành động quyết đoán, dứt khoát. Dù trong tình huống bé như con kiến hay sự kiện trọng đại, họ luôn biết cách tìm ra giải pháp để xử lý mọi việc một cách hoàn hảo nhất. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn được mọi người nể phục.

Dù sở hữu tính cách như vậy nhưng khi rơi vào lưới tình, người tuổi Tý lại đánh mất hết lý trí để dành trọn tình yêu thương của mình cho một người phụ nữ hoàn toàn vô điều kiện. Bởi vậy, họ sẽ bất chấp hết tất cả để giữ người yêu thương bên cạnh mình.

Nếu yêu một người tuổi Tý, các chị sẽ luôn có cảm giác an toàn tuyệt đối. Bởi mẫu đàn ông này sẽ làm mọi việc để dành những điều tốt nhất cho người phụ nữ mà họ yêu thương.

2/- Có chồng tuổi Tuất, dù chết anh ấy cũng không bao giờ rời xa vợ : Những người cầm tinh con Chó thường mang tính cách khá trẻ con, bồng bột và có phần nông nổi. Vì thế nhiều người không có cái nhìn thiện cảm cho đàn ông tuổi Tuất.

Tuy nhiên, bạn đừng nghe người ta nói như vậy mà hiểu sai về người tuổi Tuất nhé. Bởi trong tình yêu, họ lại khác biệt hoàn toàn với sự chín chắn và trưởng thành hơn rất nhiều. Bởi họ dành tình yêu thương cho ai đó còn hơn cả bản thân mình.

Một khi đã yêu ai đó, người tuổi Tuất sẽ luôn nâng niu và trân trọng tuyệt đối. Cho dù đối phương có gây sai lầm thì tuổi Tuất cũng sẽ rộng lượng tha thứ để luôn có bạn ở bên trong cuộc đời mình.

3/- Tuổi Dần : Bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương : tuổi Dần quy tụ những người thông minh, tinh tường. Nhờ vậy, họ sẽ dễ dàng dành được cho mình những thành công đáng ngưỡng mộ trong sự nghiệp và cuộc sống. Ngoài ra, người tuổi Dần thường còn được mọi người yêu quý bởi tính cách hiền hòa, dễ chịu và lối cư xử rất có chừng mực.

Trong tình yêu, người tuổi Dần tỏ ra khá cẩn trọng, dè chừng và đưa ra những yêu cầu khá khắt khe với người vợ tương lai. Chính bởi vậy, họ sẽ mất khá nhiều thời gian để tìm được đối tượng ưng ý. Tuy nhiên, một khi đã tìm ra được người phụ nữ yêu thương của cuộc đời mình rồi thì họ sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh cô ấy. Chắc chắn tuổi Dần sẽ làm tất cả để bảo vệ tình yêu mà họ rất khó mà có được. Kể cả khi tình cảm của đối phương không còn nguyên vẹn như trước tuổi Dần cũng sẽ không bao giờ từ bỏ mà sẽ làm tất cả để dần dần kéo người ấy quay trở lại bên mình.

4/- Tuổi Sửu : Dành tình yêu chung thủy tuyệt đối cho “nửa kia” : Người tuổi Sửu thường có trái tim dịu dàng, ấm áp. Bởi vậy, trong tình yêu, họ luôn dành sự chân thành và hết mực quan tâm, chăm sóc cho người phụ nữ mà mình yêu thương.

Với bản tính ân cần, chu đáo, cộng với trái tim nồng ấm và sự chung thuỷ tuyệt đối, người tuổi Sửu có đủ tiêu chuẩn để trở thành một người yêu tuyệt vời luôn đem đến cảm giác hạnh phúc, ngất ngây trong men say tình yêu cho bạn. Họ luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ với bạn mọi lúc bạn cần.Nếu bạn đang trong mối quan hệ tình cảm với người tuổi Sửu thì đó chính là điều tuyệt vời nhất mà bạn nên trân trọng.

5/- Tuổi Ngọ : Dồn hết tâm trí vào người mình yêu thương : Đàn ông cầm tinh con Ngựa thường rất tự tin và quyết đoán. Họ luôn suy nghĩ rất chính chắn, sâu sắc về mọi thứ nên hầu như không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình.

Về tình yêu của người tuổi Ngọ: Khi đã xác định yêu ai đó, họ sẽ dồn hết tâm trí và tình yêu thương của mình cho cô ấy. Người ta thường nói những người cầm tinh con ngựa sẽ hay bay nhảy, dễ thay lòng nhưng trái lại, người tuổi Ngọ luôn cố sức vun vén cho hạnh phúc gia đình nên hiếm khi họ “liếc ngang liếc dọc” để tìm kiếm một đối tượng khác.

Lan Hương chuyển tiếp

CHUYỆN LUÂN HỒI Ở CÀ MAU (VN)

CON GÁI ÔNG CẢ HIÊU

VỪA CHẾT ĐÃ TÁI SINH

Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã nêu lên một số bằng chứng về hiện tượng luân hồi, những bằng chứng này được ghi lại trong cuốn Phật học Phổ Thông xuất bản tại Việt Nam vào cuối năm 1990. Sau đây là một trong những bằng chứng ấy :

Câu chuyện có thật này xảy ra tại làng Tân Việt ở Cà Mau (vùng Ðầm Giơi). Ở đây có một gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con. Người cha trong gia đình này là ông Cả Hiêu. Cô con gái trong gia đình được ông Cả Hiêu cưng chìu như trứng mỏng nhưng không may, cô bị bệnh và qua đời lúc 19 tuổi. Cả nhà ai cũng đau buồn thương xót, ông Cả Hiêu thì như điên như dại.

Câu chuyện không chấm dứt ở sự qua đời của cô gái mà lại là chuyện bắt đầu vì do sự trùng hợp nào đó, (mà sau này người trong hai vùng này mới tìm thấy thêm chi tiết).

Ở cách làng Tân Việt cũng có một cô gái bị bệnh (cùng thời gian với cô con gái ông Cả Hiêu) và qua đời. Người nhà khóc lóc, lo việc tẩm liệm thì bất ngờ ngày hôm sau cô gái sống lại làm mọi người vừa mừng vừa sợ. Cô gái tự nhiên mạnh khỏe, như không có gì gọi là đau ốm bệnh hoạn cả.

Ðiều lạ lùng là từ khi sống lại, cô gái này cứ một mực đòi người trong gia đình đưa cô đến nhà ông Cả Hiêu. Mọi người trong nhà đều hết sức ngạc nhiên vì không biết ông Cả Hiêu là ai.

Khi hỏi cô gái thì cô cho biết cha của cô chính là ông Cả Hiêu người làng Tân Việt. Người nhà nghỉ rằng cô gái có lẽ bị ma nhập, quỷ ám nên lo sợ, đi tìm thầy về cúng và trừ tà. Nhưng cô gái vẫn khăng khăng đòi đi gặp cha mình và bảo rằng cô biết rõ đường đến nhà ông Cả Hiêu. Cô mô tả đường đi, tả ngôi làng, tả cái nhà, số nhà từng chi tiết và kể về những người nhà ông Cả Hiêu nữa. Cô gái bảo ông bà Cả Hiêu là cha mẹ ruột của mình. Cuối cùng cha mẹ cô gái buộc lòng phải cùng đi theo chuyến xe đò đến làng Tân Việt để tìm hiểu thực hư.

Khi đến bến xe, mọi người xuống xe còn đang bỡ ngỡ không biết đi theo hướng nào để về nhà ông Cả Hiêu thì cô gái nói : “Ðừng có ngại, để con dẫn đường cho”. Thế rồi khi đến cổng nhà ông Cả Hiêu, cô gái tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và chạy nhanh vào nhà. Lúc đó hai vợ chồng ông Cả Hiêu đang ngồi trong nhà. Cô gái chạy lại ôm chầm lấy ông Cả Hiêu vừa khóc vừa nói : “Ba ơi, con đây ba ơi !”

Hai vợ chồng ông Cả Hiêu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì sảy ra thì vừa lúc cha mẹ cô gái bước vào nhà kể lại chi tiết câu chuyện cho vợ chồng ông Cả Hiêu nghe. Ông Cả Hiêu lấy làm lạ, cũng kể lại con gái mình bị bệnh đã qua đời cho cha mẹ cô gái nghe. Ông còn chỉ tay lên bàn thờ có đặt tấm ảnh của cô con gái con ông. Trong khi đó cô gái mới đến cứ đi lại trong nhà tự nhiên như là người đã ở đó từ lâu rồi.

Câu chuyện đến hồi kết thúc khi sự kiện đã rõ ràng; cô gái nhất quyết ông bà Cả Hiêu là cha mẹ mình và ông bà Cả Hiêu cũng chấp nhận điều đó vì cô gái nói rõ những chi tiết mà ngoài con gái ông Cả Hiêu ra khó có ai biết rõ chuyện gia đình ông bà. Thế là hai gia đình kết thân với nhau.

Dân chúng hai vùng Cà Mau, Bạc Liêu biết được một chuyện lạ lùng hãn hữu trên thế gian, họ bảo cô gái ấy có hồn là con của ông bà người làng Tân Việt nhưng thân xác lại là con của ông bà người làng Vĩnh Mỹ. Như câu chuyện Hồn Trương Ba da hàng thịt vậy.

Xuân Mai chuyển tiếp

8 PHÁP KHÍ THẦN THÔNG

QUẢNG ĐẠI CỦA BÁT TIÊN

VÀ CÂU CHUYỆN VƯỢT BIỂN LY KỲ

Nhắc đến các vị tiên trong truyền thuyết, không thể không nhắc tới tám vị tiên huyền thoại với những pháp khí kỳ lạ trong “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” (tám vị tiên vượt biển, triển hiện thần thông). Vậy, những pháp khí đó là gì, và câu chuyện vượt biển ly kỳ này bắt đầu như thế nào?

Một ngày, Vương Mẫu nương nương mở yến hội bàn đào và mời các vị thần tiên cùng tới tham dự. Bởi Vương Mẫu nương nương là nữ Thọ tinh, cai quản việc luyện thuốc trường sinh ở núi Côn Lôn, do vậy hội bàn đào của bà cũng vô cùng đặc biệt.

Tương truyền, vườn đào tiên được chính Vương Mẫu nương nương tự tay vun trồng, có hết thảy 3.600 cây. Phía trước là 1.200 cây với hoa nhỏ trái nhỏ, 3.000 năm mới chín, người ăn đào này thì thân thể nhẹ nhàng, thanh xuân mãi mãi.

Ở giữa là 1.200 cây, hoa nở thành tầng, trái thơm quả ngọt, 6.000 năm mới chín, ăn vào có thể cưỡi mây lướt gió, bay bổng lên chín tầng thiên. Phía sau là 1.200 cây, trái tím hạt vàng, 9.000 năm mới chín, người ăn vào sẽ phúc lộc cùng trời đất, thọ ngang cùng nhật nguyệt, mãi mãi bất lão trường sanh. Cho nên nói, bàn đào là vật báu của thiên địa mà chốn phàm trần không thể có.

Trong yến hội bàn đào, thần tiên khắp mười phương thế giới đều tề hội đông đủ, tiên khí bao phủ, mây lành vây quanh. Trong đó có tám vị tiên huyền thoại, được gọi là “Bát tiên”, đó là : Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hòa, và Hà Tiên Cô.

Mỗi vị tiên nhân đều có một đặc điểm khác nhau. Tào Quốc Cữu là thân thích của một vị hoàng đế thời nhà Tống; Lý Thiết Quải có dáng vẻ giống như người ăn mày với một bên chân tật nguyền nên phải chống gậy sắt; Hà Tiên Cô là một thiếu nữ trẻ xinh đẹp; Trương Quả Lão là một cụ già tóc bạc, gương mặt hồng hào, râu tóc phất phơ, thường cưỡi ngược trên lưng một con lừa; Hàn Tương Tử là cháu trai của Hàn Dũ, một nhà văn triều Đường, đặc biệt yêu thích thổi sáo; Hán Chung Ly lúc nào cũng phe phẩy một cây quạt ba tiêu, v.v. Họ đều là tiên nhân của Đạo gia, và thường tụ họp cùng nhau.

Trở lại với yến hội bàn đào, sau khi ăn uống no say, tám vị tiên nhân bái lạy Vương mẫu và cùng nhau quay về. Sau khi các vị tiên lên thuyền, Lã Động Tân đột nhiên nảy ra ý tưởng kỳ lạ, đề nghị mọi người không ngồi thuyền mà mỗi người hãy tự nghĩ cách để qua bờ bên kia.

Đầu tiên, Hán Chung Ly ném cây quạt ba tiêu xuống nước, rồi nằm ngửa trên đó để mặt quạt trôi đi. Lý Thiết Quải tháo bầu hồ lô đeo bên mình rồi thổi hơi vào, chiếc hồ lô biến thành lớn nổi trên mặt nước giống như một con thuyền, ông ngồi trên hồ lô tươi cười lướt sóng. Hà Tiên Cô cũng ném lá sen xanh xuống nước, trong phút chốc lá sen hoá lớn, Hà Tiên Cô nhẹ nhàng nhảy lên lướt sóng đuổi theo Lý Thiết Quải.

Lam Thái Hoà ném chiếc giỏ trống, đáy giỏ vừa chạm mặt nước, trong giỏ liền có hoa tươi nở rực rỡ, Lam Thái Hoà tay cầm phách ngọc rẽ sóng mà đi. Hàn Tương Tử ném ống sáo rồi nhảy lên, ống sáo trôi như một chiếc tàu, Hàn Tương Tử miệng thổi sáo, chân đạp sáo sang bờ bên kia. Lã Động Tân ném cây bảo kiếm, trong vòng một trượng, sóng biển lặng yên.

Tào Quốc Cữu tháo chiếc dây lưng ném xuống, Tào Quốc Cữu đứng trên dây giống như đứng trên lưng con rồng đang lắc đầu quẫy đuôi, rẽ sóng mà tiến. Trương Quả Lão cầm ngư cổ, từ tốn từ trong tay áo lấy ra một con lừa giấy, làm phép biến thành lừa thật rồi cưỡi ngược mà đi. Đây chính là câu chuyện “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” mà người ta vẫn nói.

Nhắc đến câu chuyện này, không thể không kể tới những pháp khí mà Bát tiên sử dụng. Những pháp khí này là “Bát Tiên ám”, cũng gọi là “Đạo gia bát bảo”, mang ý nghĩa cát tường, cũng đại diện cho tiên thuật vạn năng. Trong đó có hồ lô, phiến tử (cái quạt), bảo kiếm, liên hoa (bông sen), hoa lam (giỏ hoa), ngư cổ, địch tiêu, Âm Dương bản.

Vậy những pháp khí này có gì đặc biệt ?

Trương Quả Lão — Ngư Cổ (cái mõ hình con cá) : Bảo vật ngư cổ (trống cả) của Trương Quả Lão có thể nói về mạng sống của con người. “Gõ vào Ngư Cổ sẽ vang lên phạm âm”, nghĩa là có thể đoán trước sự việc xảy ra trong một đời người.

Lã Động Tân — Bảo Kiếm : “Kiếm hiện linh quang, yêu ma quỷ quái đều sợ hãi”, thanh bảo kiếm của Lã Động Tân có khả năng tránh tà, đuổi ma.

Hàn Tương Tử — Địch Tiêu (cây sáo ngang) : “Tử tiêu thổi ra âm thanh có thể ổn định hàng trăm cơn sóng lớn mạnh”, chiếc sáo của Hàn Tương Tử có khả năng khiến vạn vật sinh sôi nảy nở.

Hà Tiên Cô — Liên Hoa (đoá sen) : “Tay cầm liên hoa, không vướng bụi trần”, bông sen của Hà Tiên Cô có khả năng tu tâm dưỡng tính.

Lý Thiết Quải — Hồ Lô : “Trong hồ lô có chứa ngũ phúc”, hồ lô của Lý Thiết Quải có thể cứu giúp chúng sinh.

Hán Chung Ly — Phiến Tử (chiếc quạt) : “Khinh dao tiểu phiến lạc đào viên” (chỉ cần lắc nhẹ chiếc quạt cũng vui vẻ), chiếc quạt của Hán Chung Ly có khả năng cải tử hồi sinh.

Tào Quốc Cữu — Ngọc Bản (miếng ngọc) : “Ngọc bản thanh tẩy, tịnh hoá vạn vật”, tấm ngọc của Tào Quốc Cửu có khả năng thanh tẩy, tịnh hoá mọi vật chung quanh.

Lam Thái Hòa — Hoa Lam (giỏ hoa) : “Thứ cất chứa trong giỏ hoa không phải là vật của phàm trần”, chiếc giỏ của Lam Thái Hòa có khả năng quảng thông thần minh, giúp chư Thần gia tăng sức mạnh.

Những pháp khí của Bát tiên không chỉ là báu vật nơi tiên thánh, mà còn là biểu tượng cho trí huệ và pháp lực vô biên. Các vị tiên đều từ người thường mà tu thành, đều từng trải qua quá trình tu luyện gian khổ trước khi đắc Đạo thành tiên, trở thành bậc thánh thần, tiêu diêu tự tại nơi thiên giới. Câu chuyện về họ đã ghi dấu ấn cho một thời nhân thần đồng tại trong văn hoá Thần truyền phương Đông. (theo Thanh Bình)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Advertisements

TÌM HIỂU TÍNH CÁCH 12 CON GIÁP

TÍNH CHẤT

12 CON GIÁP ĐÔNG PHƯƠNG

–  THIÊN VIỆT

Khi nói về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tâm linh mọi người, nếu không nhắc đến 12 con giáp quả thật thiếu xót, vì mỗi người trong chúng ta đêu cầm tinh một con vật “thiêng” do trời đất đã định từ khi mới chào đời, và cũng chính một trong 12 con giáp ấy cai quản trái đất và loài người trong một năm, một tháng, một ngày và một giờ âm lịch với những truyền thuyết huyền bí. Việc sử dụng 12 con giáp làm biểu tượng cho thời gian và tính cách con người, chủ yếu gắn liền với các dân tộc nằm trong ảnh hưởng của triết học Trung Hoa.

Trong triết học biện chứng, người Trung Hoa xây dựng các biến đổi của Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái thành Dịch lý, và dùng Thập Can – Thập Nhị Chi để các con vật – 12 con giáp – mang những tính chất khác nhau, đưa vào lịch Can Chi, Tiết Khí hàng năm.

Sau đây một số quan niệm cổ của người Trung Hoa, về tính chất của mỗi con vật “cầm tinh” trong đời sống tâm linh mỗi người :

1. CON CHUỘT (Tý) : vui vẻ, xởi lởi, dễ gần, dễ mến nhưng hay lo vặt, cũng dễ nổi giận. Học thức ít nhưng lại tự tin vào tài năng. Thích làm đẹp, làm sang cho bản thân trong khuôn khổ. Tuổi Chuột hợp với tuổi các con Khỉ, Rồng, Trâu, kỵ các tuổi Rắn, Chó và Heo (Lợn), đặc biệt tối kỵ với tuổi con Ngựa.

2. CON TRÂU (Sửu) : có tính nhẫn nại, cần mẫn, chịu khó, ít lời, không hay khoe khoang nên dễ tranh thủ sự giúp đỡ của người khác. Tính tình nóng nảy nên dễ sinh cục tính. Người tuổi con Trâu lấy chuyện làm ăn là chính, còn tình cảm thuộc hàng thứ yếu nên khó xây dựng một gia đình hạnh phúc. Hợp với tuổi Chuột hoặc Gà. Không nên lấy tuổi Chó, và kỵ tuổi Heo.

3. CON CỌP – CON HỔ (Dần) : tuổi Cọp thường nhạy cảm, đa tình, có đời sống nội tâm cao nên thường hay do dự. Quả cảm, kiên trì nhưng có vẻ ích kỷ, thiển cận. Có vía dữ ma quỷ cũng tránh, do đó theo quan niệm phương Đông người ta thường cầu mong trong gia đình có người tuổi Cọp. Tuổi này hợp duyên với tuổi con Ngựa và Rồng, khắc tuổi các con Trâu, Rắn, Khỉ.

4. CON MÈO (Mão) : tuổi này thường thành đạt, người nhã nhặn, khiêm nhường, ít giận hờn, hiếu thảo và có giao thiệp rộng, bước vào đời gặp nhiều may mắn. Dễ kinh doanh buôn bán.Tuổi này dễ khóc, dễ cười, chăm học, chăm đọc song lại có ít tài năng đặc biệt. Hợp với tuổi Chó, Dê, Heo, khắc tuổi Chuột, Gà và không hợp tuổi con Rồng.

5. CON RỒNG (Thìn) : khoẻ mạnh, năng nổ, xốc vác, dễ bị khích bác, kích động, nên khó làm chủ bản thân. Có tính gàn bướng nhưng độ lượng, dễ giàu có và tiếng tăm, tuy nhiên cũng dễ bị lôi kéo vào việc xấu. Tuổi này về già được nhàn nhã. Nên lấy người tuổi con Chuột, Rắn, Khỉ, Gà.Tránh Rồng, Trâu, Chó .

6. CON RẮN (Tỵ) : Khôn ngoan, có ý chí, gặp may nhiều và dễ thành đạt. Thích phô trương nhưng ích kỷ và keo kiệt. Đa nghi nhưng khi cho tiền ai thì cũng cho rất nhiều. Có tính thích khen nịnh vì tuổi này khá lãng mạn. Hợp với tuổi Trâu, Gà, khắc với tuổi Cọp và Heo.

7. CON NGỰA (Ngọ) : vui tính, nhưng hay ba hoa, mồm mép; bôn ba nhiều nhưng cũng có tiếng tăm và dễ gây cảm tình. Giỏi kinh doanh, giỏi đoán ý đồ của người khác để “lựa lời ăn nói”. Tuổi con Ngựa có nhiều tài nhưng khó tính, cầu toàn trong công việc, coi tình cảm là thứ yếu. Dễ bị lừa trong yêu đương. Hợp các con Cọp, Chó, Dê. Kỵ con Chuột.

8. CON DÊ (Mùi) : nhạy bén, tinh tế trong cảm xúc, cuồng nhiệt nhưng cũng dễ thất vọng, bi quan. Dễ thích nghi với mọi người. Cuộc đời ít gặp may nhưng lại mộ đạo. Đời sống vật chất tạm ổn. Hợp với các con Mèo, Heo, Ngựa, tránh các con Chuột, Chó, Trâu.

9. CON KHỈ (Thân) : thông minh, hiểu biết nhiều, nhưng không để tâm đến công việc. Nhớ thì làm quên thì cho qua, mặc dù khi xử lý công việc lại khá nhanh nhẹn. Dễ hòa nhập, ngoại giao tốt, trí nhớ dai. Đường tình duyên không may mắn. Gặp tuổi con Chuột, Rồng thì tốt, gặp tuổi Heo, Rắn sẽ kém may, gặp con Cọp thì đại họa.

10.  CON GÀ (Dậu) : hay bận rộn lo toan, tham công tiếc việc, việc gì cũng muốn làm nhưng lại dễ bi quan thất vọng. Thích hoạt động xã hội. Tự tin nhưng lại ít tin người. Luôn luôn có đầu óc mộng tưởng viển vông, đến kỳ cục. Tiêu pha hoang phí nhưng trực tính. Hợp với các con Trâu, Rắn, Rồng. Tránh các con Gà, Chuột, Chó. Kỵ nhất là con Mèo.

11. CON CHÓ (Tuất) : biểu hiện tập trung mọi phẩm chất tốt của con người. Ngay thẳng, chân thành, biết mình, biết người, có đức tin và có độ tin cậy cao. Đại lượng, không vụ lợi, người tuổi con Chó ít giao du, sống kín đáo, bướng bỉnh và thẳng thắn, giỏi quản lý, giỏi hoạt động xã hội. Hợp tuổi các con Chó, Cọp, Mèo, Ngựa, không hợp con Trâu, Gà, kỵ các con Rồng, Dê.

12.  CON HEO  – CON LỢN (Hợi) : kiên định, kiên trì, cuộc đời tuổi con Heo mang tính mục đích rõ rệt. Ít bạn nhưng có tình, sẵn sàng hy sinh vì bạn. Ít nói nhưng vẫn không biết giữ bí mật. Tuổi con Heo không thích cãi vã. Đường tình duyên không thuận lợi. Hợp các con Mèo, Dê, tránh con Khỉ, đại kỵ con Rắn.

H. hientuongCÁC ĐIỀM DỰ BÁO

KIẾT HUNG

6 hiện tượng thường gặp

– Thiên Lý Nhãn

Thân thể con người thường phát sinh ra những dự báo, có những dự báo ngay từ khi được sinh ra đời tức tướng mạo, hình thần khí sắc và có những dự báo theo từng thời kỳ, thời gian qua tướng mặt, chỉ tay hay những nút ruồi.

Tuy nhiên mỗi người còn có những điềm dự báo ngắn hạn khác, phát sinh lúc tỉnh táo hay trong lúc ngủ mê say; là các hiện tượng của hắt hơi nhảy mũi, ù tai, máy mắt và những giấc chiêm bao mộng mị gặp chuyện lành dữ.

Các nhà khoa học từ Đông sang Tây, sau khi nghiên cứu các hiện tượng trên, có hai phái đưa ra các lý luận đối nghịch như :

– Lý luận thứ nhất, cho rằng đây là hiện tượng về tâm linh, như là giác quan thứ 6 nhằm báo cho con người biết đến tính họa kiết sắp xảy ra để đề phòng, và chỉ xảy đến từ 24 đến 48 tiếng.

– Lý luận thứ hai, cho rằng đấy là hiện tượng báo hiệu về sức khoẻ đang suy yếu, cần được khắc phục nhanh để đỡ sinh ra biến chứng. Như luận thuyết của F. Reud giải thích về các giấc mộng theo chiều hướng khoa học, tương đối hợp lý, cho mọi người thấy những giấc chiêm bao chỉ là hình ảnh của ảo giác, không đem đến điềm cát hung nào cho mọi người khi gặp phải.

Bai 1-3Còn tờ “Văn hối báo” ra ngày 23/11/1990 có nói đến, bên nước Mỹ còn phát minh ra máy tạo ra những giấc chiêm bao : “có vị giáo sư dạy ở đại học Stanford (Mỹ) đã phát minh ra một bộ phận máy móc gây ra giấc mộng cho mọi người. Máy có thể hỗ trợ cho người đang ngủ, nằm mộng thấy bất cứ một giấc mơ nào tùy theo ý muốn”, điều này cho thấy tính ảo giác có thể thực hiện theo ý muốn như F. Reud giải thích.

Chính vì thế đã có nhiều sách báo viết về các hiện tượng máy măt, ù tai, hắt hơi hay nằm mộng mà đoán điềm lành dữ. Như ở Pháp có các tác giả J.de Roils, Malbert, Malet, Zezna, ở Mỹ có Michael Halbert… Còn phương Đông, đất nước Trung Hoa có rất nhiều sách cổ viết từ thời Xuân thu để lại, một cuốn được mô tả do Tôn Tẩn viết có tên Tây sơn ký, sau đó có Hoàng đế nội kinh, Đại thiên thế giới, gần đây cuốn Bí ẩn chiêm mộng của Diêu Vĩ Quân nghiên cứu biên soạn vào thập niên 1990 thế kỷ trước, riêng ở nước ta có cuốn “sấm ký” Nhâm cầm độn toán của cụ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm v.v… còn sách báo tạp văn viết về những điềm bí ẩn trên có rất nhiều kể không xiết.

Sau đây chúng tôi mô tả một số điềm dự báo thuộc loại ngắn hạn, chỉ có thể xuất hiện trong vòng từ 24 đến 48 tiếng :

1/- HIỆN TƯỢNG Ù TAI

Ù tai thường là triệu chứng bị nước xâm nhập qua lỗ tai, vào màng nhĩ nghe lùng bùng không rõ tiếng động từ bên ngoài lọt vào.

H. hientuong lotaiHiện tượng này thường chỉ xảy ra sau khi tắm gội, nếu nghiêng đầu về bên tai đang bị ù mà lắc mạnh, chỉ vài giây sau nước tràn ra khỏi vành tai sẽ hết ù tai. Còn loại ù tai do tiếng động mạnh dội vào màng nhĩ, chỉ năm mười phút sau khi tiếng động đó không còn thì chứng ù tai cũng sẽ hết. Cả hai điêu trên không phải bí ẩn của những điềm được dự báo.

Vì dạng ù tai mang tính dự báo từ tâm linh, sẽ xảy ra bất ngờ không do trực tiếp hay gián tiếp như nói trên, và được tính theo thời gian thuộc tai phải hay tai trái, để giải mả điềm bí ẩn phát sinh :

Giờ Tý (23 – 01g) Tai trái, có người nghĩ đến mình. Tai phải, hao tài mất của

Giờ Sửu (01 – 03g) Tai trái, có hao tài hoặc cãi nhau. Tai phải, kiện thưa, tranh cãi, cần ôn hòa

Giờ Dần (03 – 05g) Tai trái, đề phòng mất của. Tai phải, có việc lo nghĩ về gia đạo

Giờ Mão (05 – 07g) Tai trái, có chuyện không lành. Tai phải, có khách đến nhà thăm hỏi

Giờ Thìn (07 – 09g) Tai trái, được tin đi xa. Tai phải, có khách đến nhà nhờ vả

Giờ Tỵ (09 – 11g) Tai trái, có điều hung coi chừng xe cộ, Tai phải, có của hoạnh tài

Giờ Ngọ (11 – 13g) Tai trái, có tin xa, hay quà biếu. Tai phải, có người quen tìm đến thăm

Giờ Mùi (13 – 15g) Tai trái, có người mời ăn uống. Tai phải, có người từ xa tìm đến

Giờ Thân (15 – 17g) Tai trái, được mời đi xa. Tai phải, có người đi xa trở về

Giờ Dậu (17 – 19g) Tai trái, đề phòng hao tài, mất của. Tai phải, có người mang lộc đến nhà

Giờ Tuất (19 – 21g) Tai trái, có ăn uống. Tai phải, có khách đem tài lộc đến

Giờ Hợi (21 – 23g) Tai trái, đại cát có tài lộc vào. Tai phải, có tiệc tùng

2/- HIỆN TƯỢNG NÓNG MẶT

Khi mặt nóng rang đỏ bừng, là biểu hiện cái nắng đang chiếu rọi trực tiếp vào da măt, cũng đôi khi do uống rượu bia quá chén, hay vì sự giận dữ mà các mạch máu nổi lên làm căng thớ thịt để sinh ra hiện tượng nóng mặt. Là những hiện tượng xảy ra hết sức bình thường của con người.

Nhưng tự nhiên thấy mặt nóng bừng bừng, ngứa ngáy đến khó chịu mà không do hoàn cảnh nào gây ra, được cho đó là điềm dự báo. Tuy nhiên điềm lành hay dữ vẫn phải có lời giải đáp :

Giờ Tý (23 – 01g) : Các công việc sẽ đem thuận lợi

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có cãi nhau trong gia đạo

Giờ Dần (03 – 05g) : Có người đến cùng cộng tác

Giờ Mão (05 – 07g) : Có khách đến mời ăn uống

Giờ Thìn (07 – 09g) : Được tin đi xa đến nhà

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Bạn cũ đang nhớ đến mình, họ cần được giúp đỡ tinh thân lân vât chât

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có chuyện bực mình từ người thân

Giờ Mùi (13 – 15g) : Đề phòng từ chuyện nhỏ xé ra to

Giờ Thân (15 – 17g) : Sẽ gặp người muốn cùng cộng tác

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người khác phái đang chú ý đến

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có khách đem lộc thực đến

Giờ Hợi (21 – 23g) : Coi chừng bị kiện thưa.

Theo cuốn “Hoàng Đế nội kinh”, cuốn sách nghiên cứu các chuyện thuộc “thế giới tâm linh” thần bí cho rằng, việc mặt nóng hai lỗ tai cũng liên quan đến, nên khi nhìn thấy ai nóng mặt, cả khuôn mặt đều đỏ bừng, còn đương sự thấy thân thể như người nổi mề đay (phong ngứa).

Khi phát hiện ra hiện tượng nóng mặt, mọi người cần hiểu rõ tâm trạng lúc bấy giờ, như đang bị sốc vì câu chuyện nào đó; không gian có phải đang giữa trưa mùa hè, vì có người sẽ bị ảnh hưởng bởi không khí nóng, hay do bệnh tật vì chứng huyết áp tăng, vì thế các dây thần kinh thường căng thẳng gây ra hiện tượng nóng mặt; hoặc đang ngồi uống bia rượu cũng dễ làm cho mặt đỏ… biết được những hoàn cảnh như thế để tránh phải lo sợ viễn vông, vì không phải là điềm được tâm linh dự báo.

3.- HIỆN TƯỢNG MÁY MẮT

Mắt giật liên tục, là một điềm rất thường xảy đến cho mọi người, không thể khống chế, H. hientuong matngoại trừ khi máy mắt ngừng lại.

Nói về bí ẩn của điềm dự báo này, mỗi thầy tướng số đều nói khác nhau, người nói nam coi theo mắt trái, nữ coi theo mắt phải, người nói máy mắt bên phải là điềm lành còn máy mắt bên trái là điềm hung. Nhưng theo tác giả Michael Halbert, viết trong cuốn sách nghiên cứu về những điềm bí ẩn trong con người, cho rằng từ Đông sang Tây đều xem hiện tượng máy mắt có giá trị cho một điềm tâm linh dự báo cho đương sự, chuyện lành dữ theo ngày và giờ chúng xuất hiện trên mắt trái hay phải.

Nên khi giải đoán phải phối hợp ngày giờ âm lịch với nhau, đồng thời tính Can Chi Ngũ hành sinh khắc của ngày hiện hành với Can Chi đương sự.

Sau đây các điềm dự báo về máy mắt :

Ngày Tý : Bên phải, có rượu thịt. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Sửu : Bên trái, có hao tài. Bên phải, có cãi nhau

Ngày Dần : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, đề phòng có tranh luận

Ngày Mão : Bên phải, có khách đến nhà. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Thìn : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, có cãi nhau

Ngày Tỵ : Bên trái, có cãi nhau. Bên phải, có tiệc tùng

Ngày Ngọ : Bên phải, có người đưa tiền đến nhà. Bên trái, có tranh cãi

Ngày Mùi : Bên trái, có ăn uống. Bên phải, có người đang nghĩ đến

Ngày Thân : Bên trái, có người đang nghĩ đến. Bên phải, có của hoạnh tài

Ngày Dậu : Bên phải, hao tài. Bên trái, có người nghĩ đến mình

Ngày Tuất: Bên trái, có người mời. Bên phải, có người đến nhà

Ngày Hợi : Bên trái, có tin vui. Bên phải, đề phòng chuyện xấu

Trên đây khi gặp hiện tượng máy mắt phải xem ngày rồi phối hợp với giờ xảy ra sau đây để lý giải trong không gian của đương sự ngày hôm đó :

Giờ Tý (23 – 01g) Bên trái, có quý nhân đến. Bên phải, có lộc ăn

Giờ Sửu (01 – 03g) Bên trái, có lo lắng suy nghĩ. Bên phải, có người nghĩ đến

Giờ Dần (03 – 05g) Bên trái, có khách đến. Bên phải, có người đang nghĩ đến

Giờ Mão (05 – 07g) Bên trái, khách xa đến nhà. Bên phải, tin vui

Giờ Thìn (07 – 09g) Bên trái, được tin đi xa. Bên phải, có cãi nhau

Giờ Tỵ (09 – 11g) Bên trái, có ăn uống tiệc tùng. Bên phải, có hung tin

Giờ Ngọ (11 – 13g) Bên trái, sắp có người giao việc. Bên phải, có người quen tìm đến

Giờ Mùi (13 – 15g) Bên trái, có tin lành. Bên phải, có người nghĩ đến

Giờ Thân (15 – 17g) Bên trái, hao tài tốn của. Bên phải, có tin buồn

Giờ Dậu (17 – 19g) Bên trái, có khách đến thăm. Bên phải, có người thân đến nhà

Giờ Tuất (19 – 21g) Bên trái, có khách. Bên phải, có lộc ăn

Giờ Hợi (21 – 23g) Bên trái, có khách. Bên phải, có điều không lành

Thí dụ : một nam giới có tuổi Giáp Thìn, nhận ra bên mắt trái đang máy vào lúc 2 giờ trưa trong ngày Mậu Ngọ.

Với các chi tiết trên ta có :

– Ngày Ngọ bên mắt trái : Có tranh cãi.

– 2 giờ trưa tức 14 g thuộc giờ Mùi (13-15g) : Có tin lành

Nếu phối hợp 2 nguồn dự báo trên sẽ thấy mâu thuẫn, vì đã tranh cãi sao lại có tin lành ? Vì thế cần phối hợp phần ngũ hành và cung :

– Ngày Mậu Ngọ hành Hỏa thuộc cung Chấn, còn đương sự tuổi Giáp Thìn cũng hành Hỏa thuộc cung Tốn (xem Lục thập hoa giáp). Nếu giải đoán theo ứng dụng về 8 quẻ Bát quái qua “Ngũ mệnh đặc quái”, hay tính Ngũ hành sinh khắc. Ta sẽ có lời giải đáp như sau :

Qua bảng “Ngũ mệnh đặc quái” người Giáp Thìn cung mệnh là Tốn thuộc Mộc, gặp ngày Ngọ cung Chấn cũng thuộc Mộc là “có vinh hoa phú quý”, nếu tính theo ngũ hành sinh khắc là “lưỡng hỏa thành viên” (hợp thành sức nóng), như thế việc tranh cãi phần thắng sẽ về người Giáp Thìn, tức có tin tốt lành là đúng với điềm đã dự báo.

H. hientuong hat hoi4/- HIỆN TƯỢNG

HẮT HƠI – NHẢY MŨI

Như nóng mặt, ù tai có thể do các nguyên nhân về sức khoẻ, bệnh tật gây ra; việc hắt hơi nhảy mũi cũng có nguyên do tương tự, từ bệnh thời khí (cảm, cúm) mà ra, không liên quan gì đến các điềm dự báo.

Tuy nhiên khi chưa thấy có triệu chứng của bệnh cảm cúm, mà hắt hơi nhảy mũi liên tục, mới gọi là điềm được báo trước, nhưng điềm này thường là điềm lành. Người xưa khi hắt hơi nhảy mũi, thường kêu lên câu : “một cái có tài, hai cái có lợi, ba cái có lộc mang về” là vậy.

Chúng ta có thể thấy trong các lời giải đoán sau đây :

Giờ Tý (23 – 01g) : Được mời dự tiệc thịnh soạn

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có người mời hợp tác có lợi

Giờ Dần (03 – 05g) : Có cuộc hẹn về tình cảm với người khác phái.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có quà tặng

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có lộc ăn uống

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Có quý nhân giúp đỡ, mong muốn có thể thành hiện thực.

H. hientuong somuiGiờ Ngọ (11 – 13g) : Người từ xa đưa đến tài lộc

Giờ Mùi (13 – 15g) : Có tài lộc đưa đến.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin tiền hung hậu kiết

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người nhờ cậy và được trả công, nếu là người khác phái còn gây được tình cảm.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người khác phái đang nhắc tên mình, đang tỏ ý muốn gặp gở.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Đang lo nghĩ về tiền bạc, sẽ được giải quyết êm đẹp.

5/- HIỆN TƯỢNG THỊT GIẬT

Những thớ thịt từ mặt đến vai bỗng giật liên hồi, nhất là tại lưỡng quyền thường là tin xấu. Là điềm báo cho đương sự những tin tức sẽ xảy đến :

Giờ Tý (23 – 01g) : Được tin về tiền bạc bất ngờ, hay có của hoạnh tài.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Có người mang tin vui đến nhà.

Giờ Dần (03 – 05g) : Có cãi nhau, nên nhường nhịn sẽ được yên thân.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người đến nhờ vả

Giờ Thìn (07 – 09g) : Đề phòng có tai nạn cho người thân trong gia đình.

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Có khách nhờ giúp đỡ, công việc mang đến nhiều tài lộc.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Có kẻ tiểu nhân đang gièm pha.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Có của hoạnh tài đưa đến.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin về tiền bạc, nhưng phải khiêm nhường dừng hãnh tiến mới thành công.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Hao tài, mang tiếng thị phi

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người thân đến nhà.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Công việc đang lo nghĩ buồn phiền, bỗng hóa thành công, đem tài lộc về nhà.

6/- HIỆN TƯỢNG HỒI HỘP

Hồi hộp có khi là căn bệnh về tim phổi, nhưng cũng là điềm báo trước những chuyện hung kiết. Khi hồi hộp là tự nhiên trong người xảy ra hiện tượng tim đập liên tục và nhanh như đang bị mệt.

Giờ Tý (23 – 01g) : Có người khác phái có cảm tình, đang tưởng nhớ đến mình.

Giờ Sửu (01 – 03g) : Đề phòng tai ương họa gửi từ những người chung quanh.

Giờ Dần (03 – 05g) : Có người mời ăn uống, nhưng hao tài phí sức.

Giờ Mão (05 – 07g) : Có người đến nhờ cậy, coi chừng bị lừa đảo, nếu là người đồng phái thì có tài lộc đến.

Giờ Thìn (07 – 09g) : Có tin vui, có của hoạnh tài.

Giờ Tỵ (09 – 11g) : Nếu chưa lập gia đình thì đây là cái hẹn trong tình yêu bền vững; đã có gia đình không nên tiến xa hơn mức xã giao.

Giờ Ngọ (11 – 13g) : Sẽ có cuộc họp mặt ngẫu nhiên, từ tiền bạc đến tình cảm.

Giờ Mùi (13 – 15g) : Duyên phận đến nhưng hậu vận không thành sự thật.

Giờ Thân (15 – 17g) : Có tin xa đưa đến.

Giờ Dậu (17 – 19g) : Có người thân quen đến thăm hỏi và giúp đỡ.

Giờ Tuất (19 – 21g) : Có người mời hợp tác, nên nhận sẽ có lợi nhiều hơn có hại.

Giờ Hợi (21 – 23g) : Đề phòng có tai nạn, nếu gặp sẽ hao tài và thương tật.

Xuân Mai chuyển tiếp

NHỮNG BÍ ẨN TỪ TÂM LINH

LÝ GIẢI 4 ĐỨA BÉ

ĐỨNG TỨ TRỤ

Ở 4 GÓC QUAN TÀI

Sáng 2/1082017, gia đình, bạn bè và bà con lối xóm đã tới tiễn đưa nghệ sĩ Khánh Nam về nơi an nghỉ cuối cùng. Linh cữu của nam diễn viên hài được an táng tại Mỏ Cày, Bến Tre. (H1)

Chứng kiến cảnh tượng đau buồn, nhiều khán giả theo dõi thông tin qua các trang báo mạng không khỏi chạnh lòng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, ai nấy đều bày tỏ sự tò mò nhất định về bức ảnh 4 bé gái mặc váy ngắn màu xanh dương, đứng ôm linh cữu của cố nghệ sĩ trong lúc di chuyển. Phải chăng đây là 1 tập tục của địa phương ? (H2)

Qua tìm hiểu, 4 bé gái này được gọi là “đào thài” – những đứa trẻ đứng chầu bốn góc quan tài, “hầu” linh hồn người chết. “Lưu truyền, sau khi chết, linh hồn con người phải qua rất nhiều cửa ải dưới địa ngục. Nếu ai không thông thuộc “phép tắc”, sẽ bị quỷ dữ tấn công, hành tội. Nhưng nhờ có bốn vị “thần đèn” đưa đường chỉ lối, linh hồn sẽ đến được miền cực lạc.

Do vậy, việc sử dụng đào thài rất được xem trọng trong các đám tang từ xa xưa. Ngày nay, tuy một số công đoạn đưa tang đã được xóa bỏ nhưng nhiều gia đình nặng hủ tục hay khá giả vẫn thuê đào thài.” (theo Xã luận)

Phần lớn những đứa trẻ làm nghề đào thài sẽ tự biết mình làm những gì, tuy nhiên công việc cũng không quá khó khăn để phải khiến chúng lưỡng lự. Mỗi lần đi làm đào thài như vậy, mỗi đứa trẻ nhận được tiền của chủ trại hòm 80 ngàn đồng. Số tiền không nhỏ đối với những đứa con nít tuổi lên 7, lên 8 khiến chúng luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Nên Đào thài trở thành một phần không thể thiếu trong những đám tang còn mang nặng hủ tục cũ. (H3)

Lần lữa mãi sau gần cả tháng trời chúng tôi mới có dịp gặp được những đứa trẻ của bà Ngân ở trại hòm H.K, tại ngã tư An Sương, P.Đông Hưng Thuận, Q.12.

Theo tâm linh, đào thài là người hầu linh hồn người chết về cõi bên kia. Nếu khi chết đi nhiều linh hồn sẽ không biết những “quy tắc” để đi qua các cửa và sẽ bị ma quỷ ám hại. Khi có bốn vị đào thài thì linh hồn sẽ qua được bến yên nghỉ một cách thuận lợi.

Chúng được trang điểm và ăn mặc giống như diễn viên hát bội. Đôi khi người nhà của người chết còn yêu cầu các đào thài ăn mặc trông giống như các thiên thần. Giải thích lý do vì sao trang điểm như vậy bà Ngân cho hay, vì theo dân gian khi ma quỷ không bắt nạt được linh hồn sẽ quay lại tìm cách hãm hại các đào thài. Vì thế phải trang điểm thật khác để khi về nhà rửa sạch phấn son thì không ma quỷ nào biết được.

“Con học lớp 2 tên Tuấn. Làm cái này có tiền đưa mẹ mua đồ ăn. Không sợ ma”. Đó là những câu trả lời nhát ngừng của cậu bé tên Tuấn, 9 tuổi khi chúng tôi hỏi về công việc mà cậu nhóc đang làm.

Bà Ngân cho biết thường đi tìm những đứa trẻ con nhà nghèo cha mẹ chúng mới chấp nhận cho con làm công việc này. “Có lần phải ra tận mấy bãi rác, cho tiền chúng ăn kem xong rồi còn phải đợi chúng tắm rửa cho bớt mùi hôi mới trang điểm được”, bà nói.

Với mỗi lần đi làm đào thài, tiền kiếm được những đứa trẻ này lại đưa về cho ba mẹ chúng. Duyên nói, mẹ thường cất dùm tiền này của con để dành mua gạo. Khi hỏi về cảm nghĩ của mình về công việc này, Tuấn nói: “Con cũng thích làm đào thài nhưng buồn ngủ và sợ lắm. Nhiều lúc cứ sợ người trong quan tài sẽ ngồi dậy túm lấy tụi con”. (theo The thao va xa hoi)

3 TUỔI DẦN NGỌ TUẤT

TÌM HIỂU TAM TAI

NĂM MẬU TUẦT 2018

Trong năm Mậu Tuất 2018, ba tuổi Dần, Ngọ, Tuất phạm Tam tai năm cuối (tức gặp hạn vào các năm Thân – Dậu – Tuất). Theo quan niệm dân gian, việc cúng giải hạn Tam tai cũng quan trọng.

1/. Tuổi nào gặp hạn Tam tai 2018 Mậu Tuất ? Trong năm Mậu Tuất 2018, ba tuổi Dần, Ngọ, Tuất phạm Tam tai. Theo cách tính hạn Tam tai, đây là năm cuối mà 3 tuổi này gặp hạn, vì đầu Tam tai là năm Thân, giữa Tam tai là năm Dậu. Cụ thể :

– Vào năm Thân gặp Nhân Hoàng Tinh Quân tắc bị thiên hành chi hữu, khủng cụ chi họa..

– Vào năm Dậu gặp Thiên Họa Tinh Quân tắc hữu đối thủ hoặc đối thủ dĩ hoàng thiên.

– Vào năm Tuất gặp Địa Tai Tinh Quân tắc hữu tai hại vi thổ địa.

Lưu ý, năm đầu Tam tai, không nên bắt đầu làm việc trọng đại; năm giữa Tam tai, không nên dừng việc đang tiến hành (vì thường sau đó tiếp tục dễ gặp trở ngại); năm cuối Tam tai, không nên kết thúc việc quan trọng vào đúng năm này. Vậy Tam tai là gì, vì sao Tam hợp hóa Tam tai ?

– Mức độ gây họa của Tam tai trong năm Mậu Tuất : Xét theo góc độ tử vi, quan niệm cho rằng gặp hạn Tam tai sẽ trắc trở, vất vả về mọi phương diện. Đặc biệt là khi cả vợ chồng cùng nằm trong tam hợp tuổi nói trên vì đôi bên đều phải mệt mỏi cùng lúc. Mức độ cộng hưởng sẽ làm ảnh hưởng nặng đến gia đình. Đó cũng là thiệt thòi của các tuổi hợp. Nếu vợ chồng không cùng tam hợp thì hạn rải rác sẽ đỡ áp lực hơn.

Mọi người có quan điểm chung rằng, không phải lúc nào gặp Tam tai cũng là tai họa, nhưng thường đến năm Tam tai gặp nhiều vất vả, khó khăn hơn trong công việc, mua bán, làm nhà, tu sửa, kết hôn… Cụ thể, một số việc xấu thường xảy đến với người bị hạn tam tai :

– Tính tình nóng nảy bất thường. – Thất thoát tiền bạc. – Có tang trong thân tộc. – Dễ bị tai nạn xe cộ. – Bị thương tích. – Mang tiếng thị phi. – Bị kiện thưa hay dính đến pháp luật.

2/. Cách cúng giải hạn Tam tai năm 2018 Mậu Tuất : Quan niệm truyền thống cho rằng, việc cúng giải hạn Tam tai cũng quan trọng như việc cúng dâng sao giải hạn hàng năm.

Tiến hành cúng Thần Tam tai : Cổ nhân thường căn cứ Tam tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông Thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai.

Ba tuổi Dần, Ngọ, Tuất tương ứng với Thần Tam tai, ngày và hướng cúng lễ như sau:

– Năm Thân, ông Nhân Hoàng, cúng ngày mồng 8, lạy về hướng Tây nam. – Năm Dậu, ông Thiên Họa, cúng ngày mồng 7, lạy về hướng Tây. – Năm Tuất, ông Địa Tai, cúng ngày mồng 6, lạy về hướng Tây bắc.

Như vậy, trong năm Mậu Tuất 2018, nên cúng giải hạn Tam tai vào ngày mùng 6 âm lịch hàng tháng, lạy về hướng Tây Bắc. Thông thường nghi lễ cúng tại ngã ba, ngã tư đường, nhưng thời nay việc cúng tại ngã ba, ngã tư đường là việc khó coi, vì vậy đa số người ta cúng tại sân, chủ yếu là do tâm thành.

– Chuẩn bị bàn cúng : – Sử dụng bài vị theo mẫu của năm Mậu Tuất (In trên bìa giấy đỏ, chữ màu đen, hoặc có thể nhờ thầy viết). Bài vị này dán trên một chiếc que, cắm vào ly gạo, mặt có chữ để đối diện với người đứng cúng, đặt ở giữa hay phía trong cùng bàn lễ.

– Gỡ ít tóc rối hoặc cắt chút tóc, cắt chút móng tay, móng chân của người mắc hạn tam tai, gói lại với ít bạc lẻ, để trên 1 đĩa riêng trên bàn lễ.

– Chuẩn bị 1 bộ tam sanh (tam sên) gồm có: miếng thịt luộc, con tôm luộc (hoặc tôm khô), trứng vịt luộc. Cúng lúc chiều tối (18 – 19 giờ), cúng tại trước sân (hay ngã ba đường thì tốt hơn).

– 3 cây nhang, 3 ly rượu nhỏ, 3 đèn cầy nhỏ, 3 điếu thuốc, 3 miếng trầu cau, 3 xấp giấy tiền vàng bạc, 1 đĩa quả tươi, 1 bình hoa, 1 đĩa gạo muối, 2 bộ đồ thế (nam hoặc nữ).

Phiên âm bài vị : (Đọc từ phải sang trái, từ trên trên xuống dưới) Bốn góc: Cung – Thỉnh – Hạ giáng – Chứng Minh

Ở giữa : Mông Long Đại Tướng Nhân Hoàng Tam Tai Kim Ách Thần Quan

– Sắp xếp bàn cúng :Bình hoa tươi để bên phải, đĩa quả tươi bên trái, phía trước là lư hương, kế tiếp là 3 cây đèn, rồi đến 3 ly rượu (ly trà), trong nữa là bài vị (cắm vào ly gạo, bề mặt có chữ quay về phía người cúng).

– Người cúng sắp đặt bàn sao cho mặt mình nhìn về hướng Tây Bắc, tức bài vị ở phía Tây Bắc, người cúng ở phía Đông Nam. Kế tiếp là một mâm sắp bộ tam sênh ở giữa, trầu cau, gạo muối, thuốc hút, giấy tiền vàng bạc để xung quanh.

– Bài văn khấn giải hạn Tam tai :

Hôm nay là ngày mồng 8 tháng…. ,năm Mậu Tuất. Con tên là ………… tuổi: ……. Hiện cư ngụ tại………… Nay con thành tâm thiết bày phẩm vật, cầu xin “MÔNG LONG ĐẠI TƯỚNG NHÂN HOÀNG TAM TAI KIM ÁCH THẦN QUAN” phù hộ độ trì cho con và toàn thể gia đình được bình an mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi, phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ, thường hoạch kiết tường, vĩnh ly khổ ách. Thứ nguyện: – Âm siêu dương thới, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh, tề thành Phật Đạo. Phục duy cẩn cáo!”

Sau đó vái 3 lần, lạy 12 lạy (cầu cho 12 tháng bình yên). Rồi chờ đến tàn hết nhang đèn, âm thầm lặng thinh, không nói chuyện với bất cứ ai. Tiếp đó đem gói nhỏ (tóc, móng tay, móng chân, tiền lẻ) ra ngã ba đường mà bỏ, nhớ đừng ngoái lại xem. Hoặc có thể đốt chung gói nhỏ đó với 3 xấp giấy tiền, vừa đốt vừa van vái cho tiêu trừ hết tai nạn. Gạo muối vãi ra đường, chỉ mang bàn và đồ dùng (mâm, ly, tách…) về nhà.

Lưu ý : Cách cúng giải hạn Tam tai không có trong giáo lý nhà Phật mà là tín ngưỡng lưu truyền trong dân gian từ xa xưa. Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam thì cũng tùy thuận theo cái tập tục có sẵn ở từng địa phương và theo từng hoàn cảnh có thể có những cách cúng hạn Tam tai khác nhau. Người dân không nên quá tốn kém và quan trọng hóa việc làm những lễ này.

3/. Phương pháp hóa giải phong thủy

– Làm việc thiện tích phúc đức : Ngoài việc tiến hành nghi lễ cúng giải hạn Tam tai như trên, làm việc thiện, thường xuyên phóng sinh cá, ốc… còn sống xuống sông, ao, hồ… thì việc hóa giải Tam tai càng hiệu quả nhanh và lại được hưởng âm phước vô lượng, có thể hóa hung thành cát, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

– Đeo vật phẩm phong thủy hộ mệnh : Bên cạnh đó, 3 tuổi Dần, Ngọ, Tuất có thể đeo bản mệnh Phật bên mình để được độ mạng, hóa giải hung khí từ Tam tai. Cụ thể, người tuổi Dần đeo Phật bản mệnh có hình Hư Không Tạng Bồ Tát, tuổi Ngọ đeo hình Đại Thế Chí Bồ Tát, tuổi Tuất đeo hình Phật A Di Đà…. (theo Xa Luan)

Xuân Mai chuyển tiếp

NHỮNG KIÊNG KỴ VỀ TÂM LINH

CÁC BẠN CẦN NẰM RÕ

NẾU KHÔNG MUỐN XUI XẺO

Nếu bạn là một người luôn mong muốn có sự may mắn bên cạnh, tránh xa những xui xẻo “ma ám”… thì 33 điều kiêng kị về tâm linh sau là không thể bỏ qua.

Lưu ý rằng, đây chỉ là những điều được lưu truyền trong dân gian và chỉ số ít được chứng minh bằng khoa học, do đó mức độ tin cậy của nó cũng chỉ mang tính tương đối.

#1. Nếu đi trên đường trời tối, bạn không nên đùa giỡn, gọi nhau lớn tiếng và tối kị nhắc đến ma qủy.

#2. Hạn chế gõ, khua chén đũa khi ăn uống.

#3. Không khen, chê, chỉ vào bia mộ những người đã khuất khi vào nghĩa trang, nghĩa địa.

#4. Nếu đang có thai, phụ nữ hạn chế đi ăn cưới, đi dự đám tang.

#5. Khi bạn di chuyển một mình trên đường khuya vắng và nghe thấy ai gọi mình nhưng không thấy người, tuyệt đối không trả lời.

#6. Đừng bao giờ thề thốt hay hứa hẹn với người đã chết nhưng sau đó không thực hiện lời hứa.

#7. Nếu hái lộc xuân, nên lựa chọn những cây nhỏ, tán cây nhỏ thay vì những cây cổ thụ um tùm, gần đền, chùa, miếu…

#8. Sau khi đi dự đám tang về, bạn nên hơ người bằng lửa ấm, thay quần áo. Đặc biệt, bạn nên hạn chế tiếp xúc với trẻ nhỏ trừ khi quá cần thiết.

#9. Khi gặp người khác bị tai nạn: hoặc im lặng hoặc giúp đỡ, không nên chỉ trỏ, cười cợt, bình luận…

#10. Tục ngữ có câu “chim sa cá lụy” và bạn không được mang những con vật này về nhà.

#11. Nếu bạn đang đi trên đường và vô tình bắt gặp một số tiền lẻ, đồ vật còn dùng được… rơi vãi, bạn không được nhặt nó, bởi có thể đây là các đồ vật “xả xui” của những người “gặp hạn” vứt ra. Nếu bạn nhặt, vô tình bạn đã “lãnh” lấy sự xui xẻo của họ.

#12. Không nên vứt đồ đạc cá nhân của mình xuống sông, suối, ao, hồ… nơi lạ. Nếu vô tình làm rơi cũng bằng mọi cách lấy lại bởi nếu không, bạn sẽ dễ mắc duyên âm nếu tại nơi đó có các hồn vong sống vất vưởng.

#13. Hạn chế để quần áo ngoài trời vào ban đêm, đặc biệt là đồ “nhỏ”. Chị em lại càng không được làm như vậy bởi rất dễ mắc duyên âm.

#14. Không được soi mình dưới mặt nước vào ban đêm, đặc biệt là đêm khuya.

#15. Không được may vá, mua đinh, chải tóc, soi gương vào ban đêm bởi theo quan niệm của người xưa, việc chải tóc, soi gương dễ bị vong theo, còn may vá, mua đinh dễ tạo sự xui xẻo.

#16. Không được tìm hiểu, sử dụng bùa ngãi. Càng không được uống các bùa từ “thầy” pháp đưa cho nếu không cần thiết.

#17. Hạn chế tiết lộ ngày tháng năm sinh, giờ sinh, tên tuổi cho người lạ, những người không thân thiết biết.

#18. Không nên cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ dưới 2 tuổi đi viếng nghĩa trang hay dự tang lễ.

#19. Nếu như nhà có người mất, khi dự lễ tang khác nên đi xem giờ. Hành động này nhằm để tránh trúng giờ độc, gây ra hiện tượng trùng tang.

#20. Ngày Tam Nương được quan niệm là ngày tan nát, bất thành. Do đó những việc đại sự không nên thực hiện vào ngày này. Trước khi làm việc đại sự, bạn cần tìm hiểu ngày kĩ càng.

#21. Riêng các bạn nữ, vào những ngày “đèn đỏ” không nên đi đến những nơi linh thiêng, xem bói và không nên qua lại trước bàn thờ.

#22. Không nên ngủ ở những ngôi nhà bằng gỗ khi có máu (cả người hay động vật) bám lên.

#23. Nếu trước nay chưa cúng cô hồn thì không nên cúng luôn, hoặc đã cúng rồi thì không được bỏ.

#24. Những ai cúng giải hạn hằng năm, nơi làm lễ cúng là những ngã ba, ngã tư đường thì trong vòng năm đó không nên đặt chân đi ngang qua nơi đó.

#25. Nếu ai đã lầm lỡ phá bỏ thai nhi thì hãy đặt cho bé cái tên và đem lên chùa gửi.

#26. Khi đang trong quá trình xây dựng nhà cửa, nếu có xích mích giữa chủ nhà và thợ xây thì nên lưu ý kẻo bị họ thư ếm vào nhà. Nếu đã xảy ra, chủ nhà cần ăn trộm một món đồ của thợ xây khi họ kết thúc thi công để giải.

#27. Những vật dụng cá nhân của người đã chết nên chôn theo hoặc đốt bỏ, không nên giữ lại để tiếp tục sử dụng.

#28. Lúc ngủ không nên quay chân ra cửa (tư thế dành cho người chết), hay quay chân vào bàn thờ (bất kính với bề trên).

#29. Nhà có người chết ngoài đường khi nhận xác về không nên mang xác vào nhà nhằm tránh có vong khác chiếm lấy xác.

#30. Khi đi xa cần mang theo vài tép tỏi, hoặc cả củ tỏi bên mình.

#31. Khi tham gia gọi hồn nên trật tự và phải đảm bảo an toàn cho mình nếu có người bảo lãnh…

#32.Tuyệt đối không được tắm ở những ao, hồ, sông suối… nơi đã có tai nạn chết người. (Thu Hằng theo SKCĐ)

Dung Dung chuyển tiếp

KHOA HỌC ĐÃ LÝ GIẢI

CẦU CƠ

BẢNG ‘GỌI HỒN’ CỔ XƯA

Bàn cầu cơ (Ouija board) được những người tin vào những chuyện siêu nhiên dùng để giao tiếp với thế giới tâm linh hoặc thế lực huyền bí tại không gian khác

Bàn cầu cơ là một bản gỗ có in các chữ cái trong bảng alphabet và hai đáp án “yes” (có) và “no” (không). Cùng với đó là một tấm gỗ hình trái tim nhỏ (gọi là cơ). Cơ có lỗ nhỏ, để người sử dụng đặt ngón tay vào trong đó.

Có hai cách phổ biến sử dụng cầu cơ, với những người coi nó như một món đồ chơi thông thường, khi chơi, một nhóm chơi đặt tay họ lên cơ và đọc to câu hỏi. Đáp án chỉ là có hoặc không. Đôi khi planchette di chuyển tới đáp án đúng của câu hỏi, dù những người đặt tay lên đó khẳng định rằng họ không hề dùng tay để di chuyển miếng gỗ.

Những người tham gia chiêu hồn lại sử dụng cầu cơ theo cách khác : đặt 1 ngón tay lên cơ, sau đó thông qua một số nghi thức thần bí, họ đánh vần các chữ cái mà cơ vô thức chỉ đến tạo thành câu và các cụm từ có ý nghĩa. Người ta cho rằng, hành động như thế là do các linh hồn điều khiển, giao tiếp và gửi thông điệp tới chúng ta, dù rằng nguyên nhân thực sự là do hiệu ứng vô thức (ideomotor effect) khiến cơ tay của người chơi chuyển động trong khi họ không biết.

Lý giải của khoa học

Đó là lý do bàn cầu cơ thu hút sự chú ý của các nhà tâm lý học ở Đại học British Columbia (Canada) tiến hành thử nghiệm. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy ý nghĩ vô thức đóng vai trò nào đó trong các hoạt động mà người tham gia không chủ ý tạo nên.

Nếu bạn lái xe trên một con đường quen thuộc mà bạn vẫn đi hàng ngày, thì nhiều khi đã đến nơi rồi bạn mới nhận ra rằng bạn không hề chủ ý điều khiển xe. Đây được gọi là “thây ma nội tại”, Hélène Gauchou ở Hội khoa học nghiên cứu tiềm thức (Anh), nói.

Nhóm nghiên cứu của Gauchou sử dụng bàn cầu cơ để kiểm tra vai trò của vô thức trong điều khiển hành động. Để đơn giản hóa vấn đề, nhóm nghiên cứu mỗi lần chỉ để một tình nguyện viên đặt tay lên planchette.

Hiệu ứng vô thức được tối đa hóa nếu người chơi tin rằng họ không dùng tay để gây ra chuyển động – đó là lý do tại sao bàn cầu cơ rất thành công khi được cả nhóm cùng chơi. Sau đó, tình nguyện viên thông báo họ sẽ chơi cùng với người nữa. Đối tượng được bịt mắt nên không biết rằng người chơi cùng không hề đặt tay lên planchette khi cuộc chơi bắt đầu.

Cách thử này đã có tác dụng. Một vài tình nguyện viên nghi ngờ người chơi của mình đã tác động – mà không biết rằng họ là người chơi duy nhất.

Nhóm nghiên cứu của Goucher hỏi các tình nguyện viên các câu hỏi “có” “không” bằng cách sử dụng bàn cầu cơ. Sau đó, họ lại hỏi các tình nguyện viên những câu hỏi giống hệt, nhưng các tình nguyện viên trả lời bằng cách gõ lên máy tính. Các tình nguyện viên cũng được hỏi xem họ có biết chắc chắn câu trả lời hay chỉ phỏng đoán.

Khi dùng máy tính, nếu người chơi không biết câu trả lời, thì đáp án của họ đúng một nửa. Khi dùng bàn cầu cơ, số đáp án chính xác của họ là 65% – cho thấy rằng trong tiềm thức của họ đã có ý niệm về đáp án đúng, và bàn cầu cơ đã giúp họ thể hiện linh cảm đó.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

Trong thế giới của pháp thuật tồn tại nhiều bí kíp kỳ lạ. Bùa ngải là một trong số đó, những câu chuyện đồn đại xung quanh chúng vẫn là những điều đầy hấp dẫn và nhuốm màu huyền bí.

Thuật luyện những giống thực vật đặc biệt và truyền cho chúng những khả năng siêu nhiên để sai khiến vào thực hiện những nhiệm vụ như đoán biết tương lai, cải tạo số phận, hay chữa trị bệnh nan y… thời xa xưa khá thịnh hành ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia, Lào và khu vực Đông Nam Á. Người ta gọi đó là luyện ngải và họ tin rằng ngải giúp con người chế ngự sức mạnh huyền bí.

Những pháp sư cao thủ dành cả cuộc đời mình để luyện “công lực”, họ có thể biểu diễn những kỹ năng kinh dị như nhúng tay vào vạc dầu sôi, hay dùng đinh đâm xuyên qua người… Sau khi đã luyện thành cao thủ, họ sẽ tìm và chăm sóc một số loài thực vật mà theo họ có khả năng đặc biệt để truyền các “công lực” sang.

Các thầy pháp thuộc diện cao thủ bao giờ cũng là những tay chuyên luyện bùa ngải hay độc trùng. Thông qua việc nuôi ngải, luyện độc trùng, các pháp sư khẳng định quyền năng của họ, qua đó đánh giá tài cao thấp.

Theo những câu chuyện lưu truyền về thế giới bùa ngải, loại ngải quý hiếm nhất phải kể đến là Phù phấn ngải. Đây là một loại thực vật giống với hoa lan đất nhưng có bộ rễ lớn hơn, thường mọc trong rừng thẳm. Loại ngải này có một lớp bột mịn phủ trên lá, nếu ai vô ý đụng phải sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, sau đó toàn thân sưng phù, đau đớn trong khoảng 100 ngày sẽ chết nếu không được các vị cao tăng cứu chữa. Vì nếu được tôi luyện đúng cách sẽ trở thành một loại ngải cứu người rất quý.

Những cao tăng muốn tìm được loại ngải này phải vào sâu trong rừng thẳm. Khi tìm được phải loại bỏ lớp phấn độc bên ngoài một cách rất khéo rồi đem trồng vào một chậu đất nung, sau đó cho các chất tượng trưng cho Ngũ hành vào (gồm có đất núi, diêm sinh, sắt, gỗ mục, muối biển). Sau khi nuôi trồng ngải rồi, người ta đặt ngải lên bàn thờ và bắt đầu luyện ngải bằng các huyền phép của bản thân.

Khi ngải được luyện xong trong nó sẽ có 2 phần được gọi là thiên năng (năng lực tự nhiên) và linh phù (năng lực của người luyện). Các tay luyện ngải cao cấp còn nuôi ngải bằng trứng gà, hoặc máu gà. Họ cho rằng làm như vậy ngải sẽ mạnh hơn.

Nhưng với những người non tay, luyện cách này có thể gây nguy hại cho chính họ. Phù phấn ngải luyện xong dùng để trị bệnh mất trí, hoảng sợ thậm chí có thể tìm được người bị mất tích.

Một loại ngải còn quý hiếm hơn và bị thất truyền hàng trăm năm là Bạch đại ngải. Người ta cho rằng Bạch đại ngải mọc ở đâu thì các loài thú dữ đều hoảng sợ và không dám sinh sống ở quanh đó. Nếu ai đó trồng loại ngải này mà không biết về tu luyện thì sẽ nguy hại cho bản thân. Trước khi nhổ cây phải ngâm một bài bùa chú, đại khái : “Nhiệm màu thay, nhiệm màu thay / Bạch đại ngải, Bạch đại ngải…”. Nếu loài ngải này mà được một cao tăng luyện thì sẽ trở thành một loại có thể giúp con người cải tử hoàn sinh.

Những thầy pháp sư thiếu “nhân cách”, chạy theo vụ lợi cá nhân hay rình rập để luyện một loại ngải hại người đó là ngải yêu hay bùa mê, thuốc lú. Đó là thứ ngải để “lừa tình”. Ai bị trúng ngải đó tâm thần mê man, không biết gì về đạo lý, bỏ nhà cửa chạy theo tiếng gọi của ái tình. Những người bị trúng ngải yêu có dáng điệu luôn suy tư, hờ hững với xung quanh.

Loại Mê tâm ngải có tác dụng tương tự. Cây Mê tâm lá màu xanh sẫm to bản hình cái kiếm, hoa màu tím đen có đốm trắng, có mùi hắc rất khó chịu. Người trúng ngải này sẽ mất ăn mất ngủ, tâm thần bất loạn. Những kẻ muốn dùng ngải mê tâm hại người bắt buộc phải biết tên tuổi của nạn nhân thì mới thành công. Những tay nuôi loại ngải này thường bị dân làm ngải coi thường, liệt vào loại mờ ám.

Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ. Muốn tìm được loại Huyết nhân ngải phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nhìn thấy và nhổ được vì ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu.

Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú, luyện để loài Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách.

Tại Trung Hoa có một loài thực vật rất quý hiếm mọc trong rừng sâu, trên những thân cây gỗ mục. Có những pháp sư cả đời đi tìm không thể thấy, nhưng nếu ai có duyên sẽ gặp được đó là loại Mai hoa xà vương ngải. Theo những tài liệu về bùa ngải thì loài này có thân mềm mại, lá xanh có đốm vàng trông như rồng cuốn. Hoa nở màu sắc vàng, hồng rực rỡ, có mùi hương vô cùng quyến rũ. Xung quanh cây ngải này có nhiều rắn chúa Mai hoa đến ở vì thế nên người ta lấy tên Mai hoa xà vương để đặt cho nó.

Loại ngải này nếu luyện được thành công, khi ngậm vào miệng sẽ giúp thân thể cứng rắn như thép, dao chém không đứt. Nếu chẳng may ngải Mai hoa chết, người luyện ngải phải làm lễ ma chay rất trang trọng và đem chôn cây ngải trên vùng núi cao thoáng mát.

Ngày nay, những câu chuyện đậm màu huyền bí vẫn là đề tài hấp dẫn những người hiếu kỳ trong lúc “trà dư, tửu hậu”. Mặt khác, các nhà Đông y học đang tiếp tục nghiên cứu những loài thực vật rất quý hiếm đó nhằm bảo tồn và phát hiện những dược chất giúp ích thực sự cho con người.

TÌM HIỂU VỀ

THUẬT TƯỚNG SỐ CỔ ĐẠI

TRUNG QUỐC

Trong cuộc mưu sinh trên cõi đời này, con người luôn đặt ra cho mình hàng loạt câu hỏi cuộc đời này sẽ ra sao, sẽ đi về đâu, mình sẽ gặp may mắn hay xui rủi, khoẻ mạnh hay bệnh tật, giàu hay nghèo.v.v. và người ta đã đi tìm câu trả lời trong các thuật tướng số.

Ở Trung Quốc thì thuật tướng số và tử vi là có ảnh hưởng hơn cả. Từ Khổng Tử cho đến các nho gia đời sau rất nhiều người đã nghiên cứu và tinh thông tướng số. Ngày nay thì thuật tướng số vẫn còn rất thịnh hành ở nhiều nơi như Ma Cao, Đài Loan, Hồng Kông và cả Trung Quốc đại lục nữa.

Khởi nguồn và quá trình phát triển của Tướng thuật cổ đại Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước có nền văn minh cổ đại với bề dày lịch sử đến 5000 năm. Trong suốt chặng đường lịch sử huy hoàng nà thì tướng thuật đã được hình thành từ văn hoá truyền thống cổ đại Trung Quốc và cũng sở hữu một cội nguồn lịch sử sâu xa. Thuật xem tướng đã được ra đời và thịnh hành trong dân gian từ cổ xưa cho đến thời hiện đại ngày nay, nó không phải là một hình thức bói toán thiếu cơ sở mà đã được hình thành và phát triển trải qua hàng ngàn năm trước đây.

Tướng thuật còn gọi là tướng mệnh hay mệnh tướng học bao gồm xem tướng sao, tướng tay, tướng mặt, tướng xương, tướng người, là một loại phương thuật truyền thống. Nó có lịch sử lâu đời và là một hiện tượng xã hội xuất hiện ở hầu khắp các xã hội loài người. Trong thời kỳ coi trọng sự kiểm nghiệm các giá trị văn hoá truyền thống như hiện nay thì việc đánh giá và thẩm định đối với tướng thuật là điều cần thiết.

Lý luận cơ bản của thuật tướng số cổ đại Trung Quốc

1/- Thiên can địa chi : Thiên can địa chi là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,  Đài Loan, Singapore và một số quốc gia khác. Nó được áp dụng với tổ hợp chu kỳ sáu mươi trong âm lịch nói chung để xác định tên gọi của thời gian cũng như trong chiêm tinh học. Người ta cho rằng nó có xuất xứ từ thời nhà Thương ở Trung Quốc. Trong đời sống thì hệ can chi được gọi đơn giản là 12 con giáp.

2/- Âm dương ngũ hành ; Âm dương ngũ hành vốn là hai khái niệm triết học gắn liền với nhau, có thể bao quát toàn bộ giới tự nhiên và xã hội con người. Mối quan hệ máu thịt giữa văn hoá thuật số Trung Quốc cổ đại với văn hoá phong kiến chính thống đã quyết định việc tướng thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết âm dương ngũ hành.

Các nhà tướng thuật thời cổ không chỉ mô phỏng những tư tưởng chính thống của giới phong kiến khi dùng nguyên lý âm dương biến hoá và lý luận ngũ hành sinh khắc để giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội, mà còn phát triển thêm một bước là đem lại cho chúng những quan niệm mang tính huyền bí và ứng dụng vào các thuật số như xem bói, tinh mệnh, tướng pháp,… để suy đoán về vận mệnh cá nhân tướng thuật cổ đại Trung Quốc cho rằng trời đất vạn vật đều có thể quy vào ngũ hành, cũng có nghĩa là con người và vạn vật tự nhiên có cùng nguồn gốc sinh ra.

Xét về lý luận của ngũ hành thì hình thể, khí chất của con người cũng có thể phân thành năm hình thái là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, từ đó hình thành nên tướng pháp ngũ hành.

3/- Phương pháp xem tướng số theo tứ trụ : Phương pháp này tương tự như tử vi nhưng phức tạp và khó nắm vững hơn vì thế ít người biết. Nó còn có thể giúp con người tìm ra giải pháp cho các cung mệnh có vấn đề. Phương pháp này do Lạc Lộc sáng tạo từ đi nhà Ðường bên Trung hoa. Nhưng theo một tài liệu khác thì ông ta sống ở đời nhà Hán cách nay trên 2000 năm.

Có thể đúng  vì học thuyết ngũ hành xuất hiện vào thời kỳ này ở Trung Hoa và toàn bộ khoa tứ trụ đều xây dựng trên ngũ hành. Có thể thấy rõ được trọng tâm  lý luận của Lạc Lộc chính là trụ năm. Phương pháp này sau đó được nhà thông thái của Hoàng gia nhà Ðường, thâm cưú bổ túc thêm nhưng vẫn còn dưới dạng các bài phú.

Khoa này cũng dùng cát thần và hung sát tương tự trong tử vi để giải đoán  vận mệnh. Chúng ta chỉ cần sử dụng khoảng 15 thần sát thường dùng là đủ vì cốt tuỷ vẫn phải là ngũ hành sinh khắc chế hoá.

Bàn luận về thuật tướng số Trung Quốc

1/- Có phải người xưa đều tin vào tướng số ? Tướng số không phải là mê tín vốn đã có từ thời xa xưa. Vì cuộc đời một người đã được định sẵn. Tướng số tồn tại chính vì muốn bảo cho con người biết rằng nên sống thuận theo tự nhiên. Các việc tốt, việc xấu con người gặp trong đời đều do nhân duyên, không phải chuyện vô duyên vô cớ. Và nếu như con người muốn kiếp sau được sống hạnh phúc thì chắc chắn kiếp này phải làm nhiều việc thiện tích đức, không làm việc xấu việc ác. Kỳ thực đây là một bộ phận của văn hóa thần truyền.

Tất cả các triều đại từ thời xa xưa cho đến nay từ vương tôn quý tộc đến bá tánh bình dân đều thích xem tướng mong sao biết trước tương lai, mời lành tránh dữ. Các nhân vật chính trị hiện nay cũng rất thích xem tướng, nếu như gặp được thầy đoán mệnh vào hàng cao nhân, vị thầy này sẽ khuyên người kia làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, như vậy thì cuộc đời chính trị mới bền lâu.

2/- Thuật tướng số giống như một môn khoa học dự báo : Thuật tướng số lý luận về số phận con người hay số phận cuộc đời. Từ những tri thức về những quy luật khách quan của khoa học tướng số có thể giúp chúng ta khám phá ra những bí ẩn của con người và cuộc đời, sự kiện và quá trình có thể hay tất nhiên sẽ xảy ra…

Nói là khoa học dự đoán không phải là không có sở chứng cứ. Bởi mỗi người sinh ra đều có giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, đó là cơ sở khoa học để xem số mệnh con người. Tiếp đó là hình hài của mỗi người, thể hiện ở cái bên trong ra cái bên ngoài cũng là cơ sở để xem tướng mạo. Rồi sự tác động của tự nhiên, cùng với vận nước, vận nhà cũng ảnh hưởng đến số phận con người và cuộc đời.

Suy cho cùng thuật tướng số giống như một thứ khoa học dự báo có pha chút thần bí duy tâm. Chính vì lẽ đó mà nó luôn là vấn đề nóng của xã hội suốt hàng ngàn năm nay. Trong một thời gian dài, thuật tướng số bị coi là mê tín, là tàn tích của xã hội phong kiến và đã bị cấm đoán một cách nghiêm ngặt. Thế nhưng cái gì càng cấm lại càng khơi gợi tính tò mò của con người. Thuật tướng số vẫn tìm mọi cách lưu hành một cách lén lút vụng trộm.

Có thể thấy thuật tướng số từ lâu đã có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ đối với rất nhiều người, nhiều giới trên một phạm vi hết sức rộng lớn. Dù muốn hay không chúng ta cũng không thể phủ nhận đây là một hiện tượng văn hoá đã cắm rễ rất sâu vào đời sống con người. Và chúng ta cũng không thể phê phán nó một cách đơn giản, một chiều.

Thuật tướng số cổ đại Trung Quốc đã phần nào cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện, thấu đáo về vấn đề tướng số từ góc độ của một nhà khoa học công tâm và sòng phẳng đi sâu tìm hiểu, phân tích và đánh giá cái hợp lý cũng như cái không hợp lý.

6 CHUYỆN TÂM LINH HUYỀN BÍ

TỪNG CHẤN ĐỘNG NĂM 2013

Những câu chuyện tâm linh, những vấn đề ngoại cảm đã trở thành những chủ đề nóng trong thời gian vừa qua. Điều bí ẩn phía sau chúng thực hư ra sao vẫn là tâm điểm chú ý rất nhiều từ phía dư luận.

H1: Được đưa ra đầu năm 2013, kế hoạch xây cầu vượt 4 làn qua vị trí đàn Xã Tắc ở Hà Nội đã gây tranh cãi gay gắt trong giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa ở Việt Nam. Luồng ý kiến phản đối cho rằng việc xây cầu vượt là “đi trên đầu tổ tiên”, trong khi những người ủng hộ nhấn mạnh những ý nghĩa về mặt giao thông nếu công trình này được xây dựng.

H2: Vào tháng 4, chuyện một “hòn đá lạ” được đặt làm… bùa chú ở phía bên trái, ngay trước cửa vào hậu cung của nơi tôn nghiêm ở Đền Thượng thuộc quần thể di tích Đền Hùng, Phú Thọ đã khiến nhiều người ngạc nhiên và hoang mang. Sau khi bị nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa phản đối, những người quản lý di tích đã phải di dời hòn đá khỏi khu vực này.

H3: Khi chuyện về “hòn đá lạ” Đền Hùng chưa lắng xuống thì chuyện cột đá Thề trước cửa Đền Thượng bị người ta ngang nhiên dời đi để thay bằng một khối đá hoa cương lạ lẫm. Về vấn đề này, ban giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng giải thích rằng, cột đá cũ không phải là hiện vật cổ mà mới chỉ được dựng lên từ năm 1968, việc thay bằng một cột đá mới đẹp hơn là điều hợp lý.

H4: Cuối tháng 10, cả nước bàng hoàng trước vụ việc bác sĩ của thẩm mỹ viện Cát Tường vứt xác của chị Lê Thị Thanh Huyền xuống sông Hồng phi tang sau khi làm nạn nhân thiệt mạng. Trong quá trình tìm kiếm xác chị Huyền, rất nhiều người tự xưng là “nhà ngoại cảm” xuất hiện và “phán” như đinh đóng cột về địa điểm có xác nạn nhân, nhưng cho đến nay cuộc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả.

H5: Chương trình “Trở về từ ký ức” do VTV trình chiếu vào tháng 11 đã gây sốc khi cho rằng phần lớn hoạt động tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở Việt Nam là lừa bịp để trục lợi. Chương trình này khiến năng lực của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng bị đặt vào vòng nghi vấn. Cùng thời gian này, nhà ngoại cảm “rởm” Nguyễn Thanh Thúy bị bắt vì đã tiến hành lừa đảo bằng chiêu bài “tìm hài cốt liệt sĩ” trên quy mô lớn.

H6: Vào ngày 7/12, tại cánh đồng Chằm, thôn Phú Mỹ (xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội), người dân đã phát hiện một ngôi mộ cổ, kích thước dài khoảng 2m, rộng khoảng 70 cm, được kết cấu bởi 3 lớp, ngoài cùng là lớp gỗ mỏng – tiếp đó là lớp nhựa thông dày bao quanh bên trong là quan tài. Sau khi mở nắp mộ, các nhà khảo cổ đã thấy một xác ướp phụ nữ còn nguyên vẹn nằm trong dầu thơm. Sau khi nghiên cứu, mộ cổ sẽ được tiến hành hoàn táng. (theo Kiến thức)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN 9 CHIẾC GIẾNG

CHƯA BAO GIỜ CẠN

BÊN CHÂN NÚI ĐỌI

Nằm cách thành phố Phủ Lý hơn 10km, xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) nổi tiếng với làng nghề “trống Đọi Tam”, ngôi chùa cổ Long Đọi Sơn với hơn 1000 năm lịch sử, và lễ hội “Tịch Điền” vua xuống đi cày hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch cầu mùa màng bội thu.

Ngoài ra, Đọi Tam còn nổi tiếng với 9 chiếc giếng bên chân núi Đọi chưa bao giờ cạn và được mệnh danh là “9 mắt rồng” có từ thủa xa xưa. Về Đọi Tam hỏi thăm về 9 chiếc giếng được mệnh danh là “9 mắt rồng”, bên chân núi Đọi, những người dân nơi đây sẽ kể vanh vách về truyền thuyết của 9 giếng nước chưa bao giờ cạn đã gắn bó với họ từ thuở “khai thiên lập địa”.

Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Cũng chẳng ai biết 9 chiếc giếng này có tự bao giờ, chỉ biết khi sinh ra họ đã thấy và được nghe ông cha kể về sự tích của chúng. Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, sự tích 9 giếng mắt rồng không có sử sách nào ghi chép lại mà do người trong làng truyền miệng cho nhau đời này qua đời khác.

Tương truyền, xa xưa, làng Đọi Sơn xảy ra một cuộc đại hạn hán kéo dài trong nhiều năm liền. Những cánh đồng, làng mạc đều khô cằn vì thiếu nước, đói khát, mất mùa triền miên. Mặc dù người dân trong làng đã mời thầy về lập đàn cầu mưa nhưng vẫn vô vọng. Nạn hạn hán tiếp tục hoành hành, khiến cây cỏ héo khô, đất cằn cỗi… khiến người dân trong làng phải bỏ xứ mà đi tìm “miên đất mới”.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt

Nhưng chính lúc người dân bỏ đi nhiều nhất, trong một đêm tối, mây đen bắt đầu kéo đến đen kịt cả một vùng, gió bắt đầu nổi lên, từ trong những đám mây đen, người dân nhìn thấy 9 con rồng không biết từ đâu xuất hiện và bắt đầu phun mưa ngập trắng chân núi Đọi, cứu cả dân làng thoát khỏi trận hạn hạn lịch sử. Sau 9 ngày 9 đêm, 9 con rồng nhất loạt dừng lại và hóa thân thành 9 chiếc giếng nằm rải rác quanh chân núi Đọi.

Theo cụ Đinh Trọng Tế, một cao niên ở Đọi Nhất, xã Đọi Sơn cho biết: “Cả 9 chiếc giếng ở đây tượng trưng cho 9 mắt của 9 con rồng thiêng xưa kia đã phun mưa cứu cả làng khỏi nạn hạn hán. Dưới giếng có những hòn đá nổi lô nhô được xem là những cái vảy và móng rồng…”.

Ở đình Thánh Cả trên đỉnh núi Đọi nằm trong đình cũng có một cái giếng mắt rồng chứa đầy bí ẩn. Vì nằm trong đình nên quanh năm chiếc giếng này được đóng kín. Mặc dù nằm trên cao, nhưng chiếc giếng này quanh năm đầy nước và thường xuyên đùn lên ùng ục nguồn nước nóng ấm vào mùa đông.

Còn ở xóm Thái Bình, thôn Đọi Nhất có một giếng rồng được gọi là giếng sống, miệng chiếc giếng có đường kính khoảng 2 mét, sâu 3 mét. Điều đặc biệt nhất là lượng nước dưới giếng rất ít, chỉ sâu 60cm, nhưng với hơn 30 chiếc máy bơm của các hộ dân bơm cả ngày lẫn đêm nhưng lượng nước trong giếng không bao giờ vơi đi đến một đốt ngón tay.

Điều đặc biệt ở những chiếc giếng này dù cắm hàng trăm máy bơm phục vụ nước cho cả làng nhưng giếng chưa bao giờ cạn. Hiện một số giếng mắt rồng là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ người dân sống xung quanh núi Đọi. Có giếng được cắm hàng chục máy bơm hút nước ngày đêm nhưng nước giếng vẫn không hề cạn.

Nhiều người đặt câu hỏi, 9 con rồng phải có 18 giếng nước – tương ứng với 18 mắt? Người làng cũng kể rằng, năm 2003, cố Giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng đã đến Đọi Sơn tìm hiểu về 9 mắt rồng nhưng cũng chưa đưa ra được lời lý giải nào.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt. Trong số 9 chiếc giếng, do tác động của con người, thời gian và chiến tranh, có 1 chiếc đã bị san lấp, người dân nơi đây gọi là giếng rồng mù. (theo Đức Văn)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

LẠNH GÁY VỚI 15 ĐỊA ĐIỂM HUYỀN BÍ,

LẠNH GÁY VỚI 15 ĐỊA ĐIỂM HUYỀN BÍ,

RÙNG RỢN NHẤT THẾ GIỚI

Những hầm mộ ngay bên dưới lòng đường Paris, đảo hoang chỉ toàn búp bê ma, lâu đài quỷ ám ở Ireland… là những địa điểm huyền bí, rùng rợn nhất thế giới khiến ngay cả những người can đảm nhất cũng phải ớn lạnh.

H1: Rừng Hoia Baciu ở Romania được xem là “Tam giác Bermuda” của tất cả các khu rừng vì sự đáng sợ, rùng rợn của nó. Rất nhiều người đi vào rồi mất tích và không bao giờ trở lại. Người ta còn đồn thổi rằng, họ thấy rất nhiều đĩa bay của người ngoài hành tinh (UFO) xuất hiện trong khu vực này. Nhiều người cũng tuyên bố nhìn thấy ma quỷ trong rừng.

H2: Nằm sâu dưới lòng đường Paris là hầm mộ Paris nổi danh đáng sợ, ghê rợn. Đây là một nghĩa địa nằm dưới lòng thủ đô nước Pháp vốn là hầm mỏ cũ, nhưng kể từ năm 1786 đã được dành để chứa hài cốt. Hầm mộ Paris có chiều dài 1,7 km, địa điểm mở cửa cho khách viếng thăm của hầm mộ nằm ở quảng trường Denfert-Rochereau.

H3: Chợ Voodoo (chợ tà thuật) ở châu Phi. Đây là khu chợ lớn nhất thế giới, nằm ở thành phố Lomé, thủ đô của Togo ở Tây Phi, là nơi bán những sản phẩm “kinh dị” từ đầu khỉ, tắc kè hoa, đầu linh cẩu cho đầu lâu sơn dương, đuôi voi hay những bộ xác còn nguyên vẹn của các loài sóc, chim hay cá sấu… để chữa bệnh, làm thuốc kích dục, hoặc đồ trang trí…

H4: Lâu đài ma ám Leap ở Bắc Roscrea, Ireland được xây dựng vào thế kỷ 15 được xem là một  trong những địa điểm bị ma ám nặng nề. Nơi đây lưu truyền tin đồn về các hồn ma vô cùng đáng sợ.

Trong đó hồn ma gây kinh hãi nhất là hồn ma có kích thước to bằng con cừu có khuôn mặt bị thối rữa và có mùi nồng nặc của lưu huỳnh.

H5: Giếng không đáy nuốt người Jacob ở Wimberley, bang Texas, Mỹ. Giếng này đã “nuốt” không ít người vào trong lòng hố sâu thẳm của mình. Nhiều người trong số này là những thợ lặn nhiều kinh nghiệm. Giếng Jacob nằm ở đáy con suối, chạy dọc xuống khoảng 10 m trước khi mở rộng phía trong lòng với nhiều ngóc ngách thêm 40 m độ sâu nữa. Có một hệ thống hang động ngầm chằng chịt nằm trong nó, thu hút nhiều người lặn xuống khám phá. Nhiều người lặn xuống sâu rồi không thể quay lên được nữa. Các nhà khoa học cho rằng, tại những khu vực nguy hiểm nhất của giếng, con người dễ rơi vào trạng thái ảo giác do bị ngộ độc khí nitơ.

H6: Cổng địa ngục ở Derweze, Turkmenistan. Đây là một cái hố khổng lồ đường kính 70m cháy hừng hực cháy suốt hơn 40 năm qua và chưa có dấu hiệu sẽ sớm lụi tàn. Nguồn gốc của cổng địa ngục này là vào năm 1971, Các chuyên gia Liên Xô đã khoan và đào khu vực trên và chạm đến một cái hang lớn chứa đầy khí đốt tự nhiên. Lo ngại cái hố này sẽ dẫn đến rò rỉ khí độc hại, các chuyên gia quyết định đốt nó. Và kết quả là lượng khí đốt bên dưới quá dồi dào, khiến ngọn lửa trong hố cứ cháy mãi không tắt.

H7: Thành phố ma Oradour-sur-Glane (Pháp) bị bỏ hoang từ sau vụ thảm sát kinh hoàng do Đức Quốc xã tiến hành trong năm 1944. 642 người – phần lớn là phụ nữ và trẻ em – đã bị giết hại. Tướng Pháp khi đó là Charles de Gaulle đã tuyên bố cả thị trấn này sẽ bị bỏ hoang và trở thành đài tưởng niệm in đậm dấu ấn cho sự tàn ác của Phát xít. Ngày nay, thành phố vẫn không có người ở. Nhiều người khẳng định, họ nhìn thấy những bóng ma đi lang thang trong thành phố vắng tanh.

H8: Các hang động xác ướp Kabayan Mummy (Philippines). Các hang động này là bằng chứng văn hóa của tộc tộc Ibalois – nhóm tộc người bản địa sinh sống ở vùng miền núi Cordillera trên bán đảo Luzon, những người thực hành ướp xác trong suốt những năm 1200 đến 1500 trước công nguyên, cho đến khi thực dân Tây Ban Nha xâm chiếm Philippines, việc thực hành ướp xác đã bị cấm, người chết được đặt trong quan tài bằng gỗ táng tại bãi chôn lấp tự nhiên như hiện nay. UNESCO đã đưa Kabayan Mummy vào danh sách 100 di sản bị đe dọa nghiêm trọng trên thế giới.

H9: Đồi thánh giá Kryziu Kalnas ở Lithuania. Tại đây, người ta có thể thấy hơn 100.000 nghìn cây thánh giá với các kích cỡ khác nhau làm bằng kim loại, gỗ và đá granite được xếp chồng lên nhau, có cây cao tới 5m. Không ai biết chính xác phong tục để lại những cây thánh giá trên ngọn đầu bắt đầu từ khi nào. Sau đó, trong suốt thời kỳ đấu tranh giành độc lập của Lithuania, dân chúng dựng những cây thánh giá trên đồi như một hình thức tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì đất nước.

H10: Pháo đài ma Maunsell : nằm tại các cửa sông Thames và Mersey của Anh, các pháo đài Maunsell từng bảo vệ đảo quốc sương mù trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 trước những cuộc không kích của phát xít Đức. Maunsell có hai loại pháo đài – một loại dành cho lục quân, còn một loại dành cho hải quân. Mỗi pháo đài bao gồm 7 tháp, với một tháp ở trung tâm. Từng giúp quân đội đồng minh đánh chặn phi cơ chiến đấu của Đức Quốc xã trong chiến tranh thế giới thứ 2, song giờ đây Maunsell đã bị bỏ hoang, chỉ còn là những khối sắt hoen rỉ trên biển.

H11: Đảo ma Varosha nằm trên bờ biển của đảo Síp. Nhìn từ xa, hòn đảo trông giống như một thành phố sầm uất. Tuy nhiên, Varosha đã bị bỏ hoang từ khi cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra, cả thành phố nhanh chóng được sơ tán. Người dân không bao giờ quay trở lại hòn đảo này và nó thành đảo ma từ năm 1974.

H12: Khu nghỉ dưỡng San Zhi ở Đài Loan. Từng có thời gian San Zhi Resort  được xem là nơi nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí đa dạng, lý tưởng. Tuy nhiên, do có rất nhiều người tử vong trong quá xây dựng, hoàn thiện khu nghỉ dưỡng này nên nhà đầu tư đã từ bỏ dự án, biến San Zhi trở thành nơi hoang phế.

H13: Thành phố Centralia, Pennsylvania (Mỹ). Một thời, Centralia từng là nơi cư ngụ của gần 3.000 cư dân, với các cửa hàng bách hóa tổng hợp, nhà thờ, khách sạn và các quán bar… Centralia giàu có nhờ việc khai thác than ở các sườn đồi Pennsylvania. Nhưng cũng chính than đá về sau trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sự sụp đổ hoàn toàn của thành phố này và biến nó thành một thành phố ma như hiện nay.

H14: Đảo búp bê Isla de las Munecas ở Mexico. Nằm biệt lập giữa kênh đào Xochimico, trên khắp hòn đảo Isla de las Munecas đầy rẫy những con búp bê với chân tay, đầu tóc bị cắt rời, với những đôi mắt trống rỗng vô hồn treo lủng lẳng trên các cành cây hoặc cắm trên cọc nhọn. Nhiều câu chuyện được thêu dệt kể rằng, những con búp bê này di chuyển được, mắt chúng thỉnh thoảng lại mở ra để quan sát, chúng nói thầm với nhau trong đêm tối và dụ dỗ người tới đảo để giết hại…

H15: Ga tàu điện ngầm ở Cincinnati (Mỹ). Trong những năm 1990, bên dưới đường phố nhộn nhịp của Cincinnati một dự án xây dựng hệ thống đường hầm cho tàu điện ngầm. Tuy nhiên, đang xây dựng dở thì dự án phải dừng lại vì hết tiền. Hệ thống tàu điện ngầm do đó cũng bị bỏ hoang, bầu không khí lạnh lẽo nơi đây khiến nhiều người sởn gai ốc khi tới đây. (Phương Đăng theo The Richest)

Xuân Mai chuyển tiếp

BẢO TƯỢNG PHẬT NGỌC

LỚN NHẤT THẾ GIỚI

Ngày 8/4/2012, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã khánh thành Bảo tượng Phật ngọc bằng đá sapphire nặng 31 tấn (cả bệ), đặt trong một tòa bảo tháp uy nghiêm. Đây là pho tượng Phật ngọc bằng đá quý lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại.

Với một vùng núi non hùng vĩ, rừng già nguyên sơ trải dài tới 80km, nằm giữa 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang), Tam Đảo có 3 ngọn núi cao ngất tạo nên 3 đỉnh “linh địa” là Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thi.

Thiền viện Tây Thiên tọa lạc ở lưng chừng ngọn Thạch Bàn với khuôn viên gần 5ha giữa khu rừng ngoại vi rộng 50 ha, được xây dựng quy mô trong những năm gần đây, trở thành một trong ba thiền viện lớn nhất của cả nước (gồm thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên).

Ngôi Đại hùng bửu điện cao 17m, diện tích 673,2m2, không gian của tòa chính điện này vô cùng bề thế, đủ chỗ ngồi cho 600 Phật tử, du khách viếng chùa vào những ngày lễ hội. Bên trái Đại hùng bửu điện là Nhà trưng bày các hiện vật có niên hiệu Lý, Trần, Lê, Nguyễn… Tất cả các hạng mục công trình ở đây từ chính điện, nhà tổ, nhà khách, nhà trưng bày, cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống… đến khu nội viện gồm Tăng đường, thiền đường, trai đường và các thất chuyên tu đều được xây dựng rất kỳ công và độc đáo mang đậm dấu ấn của kiến trúc Á Đông.

Những năm gần đây, thiền viện Tây Thiên đã trở thành địa điểm du lịch hấp dẫn, mỗi năm thu hút hàng chục vạn lượt khách trong và ngoài nước về hành hương, tham quan. Để đáp ứng nhu cầu của du khách, thiền viện dành khoảng 40 phòng để du khách ở xa đến có chỗ nghỉ lại.

Đứng dưới chân núi nhìn lên, thiền viện thấp thoáng trong mây. Đường lên khúc khuỷu, quanh co, bốn bề mây bay, thông reo, gió thổi, thoáng rộng và thanh sạch. Nơi đây đã hút hồn du khách bởi những cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú.

Núi cao vút tận trời được phủ lên một lớp rừng già xanh thẫm với nhiều cây cổ thụ, những con suối khi tỏa ra khi thu lại, chảy quanh co. Hòa trong cảnh sắc hùng vĩ, núi non cẩm tú, thiền viện trở thành điểm nhấn cho vùng danh lam thắng cảnh Vườn quốc gia Tam Đảo, tạo nên một khu du lịch văn hóa tâm linh.

Từ mùa Phật đản năm nay trở đi, du ngoạn lên thiền viện Tây Thiên, du khách sẽ được chiêm bái bảo tượng Phật Thích Ca bằng đá sapphire tuyệt bích.

Tôn tượng  được khánh thành vào ngày 8/4/2012, cùng với tượng đài Quan Âm bằng đá trắng, và lễ đặt đá khởi công xây móng đại tượng Phật cao 49m bằng đá hoa cương có tên Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài. Khi chúng tôi tìm lên Tây Thiên thì lễ an vị bảo tượng đã diễn ra 2 ngày trước đó. Đại đức Thích Huệ Tịnh, một vị Tăng tu hành tại thiền viện đưa tôi chiêm bái Phật ngọc.

Bảo tượng được đặt trong tòa bảo tháp khang trang và uy nghiêm, xây dựng trên diện tích 200m². Toàn bộ tác phẩm điêu khắc đá quý có chiều cao 3,45 m với khối lượng 31 tấn, tạo tác Đức Phật Tổ Như Lai đang ngồi kiết già theo tư thế thuở xưa Ngài nhập định 49 ngày dưới cây bồ-đề.

Nhưng ở đây không có cây bồ-đề, mà sau lưng Ngài tựa vào vách đá tạc hình hài lá bồ-đề. Gương mặt tượng mang hình nét thuần hậu mềm mại của người Việt. Thế mới biết Phật ở đâu thì sẽ mang hình hài văn hóa dân tộc nơi đó, chẳng thế mà trong kinh Phật có câu “ngàn muôn ức hóa thân Phật” .

Chính vì thế Ngài hóa thân ở đất nước nào thì sẽ được người dân nước đó thổi hồn riêng qua góc nhìn của họ. Toàn bộ tượng ánh lên màu đen bóng long lanh của ngọc, bề mặt mịn đến mức không một tì vết. Theo thầy Thích Huệ Tịnh, chưa tạc thì khối đá có màu nâu xám, nhưng tạc xong, càng đánh thì càng lên màu đen bóng. Bệ tượng vẫn là nguyên khối đá tự nhiên xù xì. Chiêm ngưỡng bảo tượng, ta khâm phục sự kỳ công của những nghệ nhân Việt Nam tài hoa chế tác, đây thực sự là một kiệt tác nghệ thuật có tầm vóc, tôn vinh vai trò vị thế và tinh thần Phật giáo tại Việt Nam.

Thầy Thích Huệ Tịnh cho biết, ý tưởng chế tác bảo tượng được nung nấu trong lòng Tăng Ni Phật tử từ năm 2009, khi người dân cả nước từng nô nức chiêm bái pho tượng Phật ngọc Hòa bình thế giới được rước triển lãm qua nhiều nước (trong đó có Việt Nam), hiện nay an vị tại nước Úc.

Những thành viên của Hội Đá quý Hà Nội dự cảm với câu hỏi : Việt Nam có rất nhiều đá, nghệ nhân nước ta cũng không phải kém cỏi gì, lẽ nào chúng ta lại không có một pho tượng bằng đá quý như người Úc ?

Khát khao có được một công trình thật ý nghĩa tôn vinh được vị thế và vai trò của đạo Phật trong đời sống người dân đất Việt, Hội Đá quý Hà Nội đã bàn bạc thống nhất cùng thầy trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đại đức Thích Kiến Nguyệt về ý tưởng đi tìm đá quý tại Việt Nam để chế tác tượng Phật ngọc cho nước Việt.

Những người có tâm huyết bắt đầu hành trình đi tìm đá. Từ tháng 8 năm 2009, ròng rã trong nhiều tháng trời, đại diện Hội Đá cảnh Việt Nam cùng các chuyên gia thẩm định đá quý đã tỏa đi khắp các “vựa” đá quý trên mọi miền  đất nước để săn tìm đá. Đi Yên Bái thấy vùng Văn Chấn có rất nhiều loại đá quý, có những khối đá lớn tương đối đẹp, nhưng họ vẫn chưa ưng ý.

Sau 2 năm miệt mài tìm kiếm, vào cuối năm 2010, đoàn đến xã Châu Thành, Quỳ Hợp, Nghệ An, đoàn đã tìm được mỏ đá quý Corindon (quý chỉ sau kim cương), phát hiện được 6 khối đá đặc biệt hiếm. Ở lòng suối, nước chảy miên man suốt hàng triệu triệu năm, bởi vậy mọi loài đá cuội đều có hình tròn, bầu dục do nước chảy làm chúng mòn vẹt.

Thế nhưng kỳ lạ thay, 6 khối đá vẫn không có một chỗ nào có biểu hiện của sự mài mòn, mà vẫn nguyên mọi cạnh sắc. Ước tính tổng khối lượng của 6 phiến đá khoảng 200 tấn. Theo nghệ nhân Ngọc Châu, Phó Chủ tịch Hội Đá quý Hà Nội, các nhà khoa học địa chất đã kiểm nghiệm và kết luận: cả 6 khối đá đều thuộc loại corindon, chứa 80-90% là sapphire với độ cứng đạt tới 9, trong khi đó độ cứng lớn nhất là 10 thuộc về kim cương. Các vị phấn khởi quá bảo nhau: Phật ở đây rồi!

Tìm được ngọc rồi, nhưng quá trình vận chuyển đá về Tây Thiên mới là kỳ công. Ban đầu, người ta đưa máy cẩu, máy xúc đến để cẩu các khối đá lên, nhưng các khối đá cứ trơ trơ dưới suối, không lay chuyển được. Họ mới điện thoại cho thầy Kiến Nguyệt khuyên : “Đất có thổ công, sông có hà bá. Các vị hãy thắp hương và xin thần hộ pháp, thổ địa ở đấy để cho đem các cục đá này về tạc một pho tượng Thích Ca Mâu Ni, như thế có thể cẩu được lên”. Những người săn đá làm theo, mang hương hoa ra thắp hương khấn long thần thổ địa, quả nhiên đưa được đá lên xe ô tô tải.

Chưa hết, khi biết người ở nơi khác đến lấy đá quý dưới suối, người dân bản địa tiếc của kéo nhau ra giữ lại, không cho đưa đi. Nghệ nhân Ngọc Châu kể : Chúng tôi đã bị một số người dân địa phương cản trở, dùng xe công nông chắn đường, mặc dù chúng tôi đã làm việc với các cơ quan chức năng và được phép tiến hành việc này.

Thậm chí, có một cô gái còn nằm chắn ngang đường không cho lấy đá. Khi được giải thích rằng chúng tôi lấy đá về là để tạc tượng Phật, sẽ đặt ở Tây Thiên để người dân khắp nơi đến chiêm bái, thì cô gái và dân làng mới chấp nhận cho đi.

Vượt bao khó khăn trở ngại, 80 tấn đá quý đã được đem về thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, hành trình từ Quỳ Hợp về đến Tây Thiên mất tới một tháng. Dẫn tôi đến chỗ hai khối đá lớn đặt ở sân trước tòa bảo tháp Phật Ngọc, Đại đức Huệ Tịnh cho biết, 2 khối đá lớn đã được sử dụng.

Một khối tạc tượng Phật ngọc ban đầu nặng hơn 20 tấn, sau khi tượng hoàn thành nặng 13 tấn. Một khối 18 tấn để nguyên làm bệ tượng. Còn 2 khối ngoài sân này để dành sau này tạc tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông và tạc một pho Di Lặc.

Kể về quá trình tạc tượng cũng muôn vàn công phu. Rất nhiều nhóm nghệ nhân được mời đến để chế tác tượng nhưng họ đã bỏ cuộc, vì đá quá rắn. Bao nhiêu mũi dùi, máy cắt, máy mài đá khi chạm lên khối đá đều bị mẻ lưỡi hết, mà đá vẫn trơ trơ. Không có một mũi dao nào tạc, khắc, làm mài mòn được loại đá này, bởi vì sapphire là một thứ vũ khí để phá vật liệu khác chứ vật liệu khác không thể phá được nó.

Phải đến khi các nghệ nhân Phạm Ngọc Châu, Hoàng Nam Hải, Vương Ngọc Tiến nhận thực hiện cùng với một nhóm nghệ nhân khác hỗ trợ, họ lắp toàn bộ các mũi dùi, lưỡi cưa bằng kim cương vào các máy mài, máy cắt đá thì mới thực hiện được. Công việc chế tác tượng Phật ngọc tiến triển vô cùng chậm chạp.

Hai nhóm nghệ nhân của Hà Nội tạc bằng máy để định hình dáng, đường nét thô, sau đó một tốp nghệ nhân ở Đà Nẵng ra để chạm khắc chi tiết, chỉnh lại cho đẹp đẽ và mài bóng pho tượng. Sau gần 2 năm kỳ công mài dũa tạo tác, pho tượng Phật ngọc bằng đá sapphire, cao 3,45m, nặng 31 tấn đã được hoàn thành, trong sự ngỡ ngàng khâm phục của rất nhiều người.

Thầy Thích Kiến Nguyệt nhận định : Đây là một pho tượng Phật làm từ đá Việt, do bàn tay người Việt tác thành thì tự thân đã là bảo vật quốc gia. Pho tượng mang linh khí Việt Nam, nghệ thuật và tâm hồn người Việt Nam, gần gũi với thiên nhiên, bình dị như con người Việt Nam, bởi bản thân tượng còn mang phần đá nguyên sơ từ đất mẹ.

So với pho tượng Phật ngọc Hòa bình thế giới nặng 4,5 tấn, thì bảo tượng Thích Ca Tây Thiên nặng tới 13 tấn (không kể bệ) nặng hơn rất nhiều. Trên thế giới có rất nhiều pho tượng khổng lồ được tạc vào núi đá, nhiều đại tượng được đúc bằng đồng hoặc xây bằng xi-măng lớn hơn nhiều.

Tuy nhiên, chưa thấy một thông tin về pho tượng bằng đá sapphire nào khác trên thế giới to lớn đến như thế. Vì vậy, Phật ngọc Tây Thiên là pho tượng Đức Phật bằng đá quý lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại. Đây cũng được xem là pho tượng Phật Ngọc mang “quốc hồn quốc túy” Việt Nam, thể hiện đầy đủ tinh thần Phật giáo, từ bi hỷ xả, yêu chuộng hòa bình, cứu nhân độ thế, pháp tuệ vô biên.

Cùng với lễ khánh thành Phật ngọc, Trúc Lâm Tây Thiên còn khánh thành tượng đài Quan Âm hai mặt, tay cầm cam lộ, tay cầm nhành liễu, mặt xoay về phía trước, lưng xoay vào chùa, thể hiện tinh thần hạnh nguyện của hạnh Bồ-tát thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.

Đồng thời, làm lễ khởi công xây dựng Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài. Đây sẽ là đại tượng Phật Thích Ca khổng lồ cao tới 49m, bằng đá chất liệu đá hoa cương với trọng lượng hơn 20 nghìn tấn, ngự ở độ cao hơn 300m so với mực nước biển, trên ngọn đồi Hữu Bạch Hổ, bên phải chính điện thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.

Đại tượng cũng dựng lại hình ảnh Như Lai kiết-già dưới cây bồ-đề, con số 49 là lấy theo ngày Đức Phật ngồi thiền định trong suốt 49 ngày đêm. Bên trong tượng Phật được thiết kế rỗng gồm 10 tầng. Tổng số vốn đầu tư dự định cho tượng Phật khổng lồ nhất Đông Nam Á này là hơn 199 tỷ đồng, dự kiến 2-3 năm nữa sẽ hoàn thành.

Theo Đại đức Huệ Tịnh, hiện đã tìm được mỏ đá hoa cương ở Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái để làm nguyên liệu tạo tác đại tượng. Thiền viện đã xin cấp giấy phép được khai thác mỏ đá hoa cương này, đang chờ ý kiến của Thủ tướng để UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt. (theo Chu Minh Khôi)

Yn Huỳnh chuyển tiếp

LỜI NGUYỀN TRÊN ĐÈO RÙ RÌ

LỜI NGUYỀN

TRÊN ĐỈNH ĐÈO RÙ RÌ

Tôi khom người xuống. Chiếc xe đạp đổ đèo mỗi lúc một nhanh. Đường vắng. Đến gần khúc quẹo đầu tiên, tôi đạp nhẹ chân thắng phía sau, vừa đủ để bẻ một vòng cua thật hách.

Xe tiếp tục đổ nhanh, đợi gần đến miếu, tay bóp thắng trước, chân đạp thắng sau, nghe phựt, rồi phựt, bóp mạnh thắng tay, gót chân phải đè xuống thắng chân phía sau.

Tất cả đều nhẹ hều, chiếc xe như một mũi tên bắn, cứ lao nhanh về phía trước, tôi gập người xuống đến mức tối đa, lạng xe qua khúc quành, chiếc xe vượt khỏi tầm kiểm soát của tôi, lao thẳng giữa hai bệ chắn, mũi tên đã đạt tốc độ tối đa, vút về phía trước. Bên dưới là thung lũng đen ngòm. Tôi bay, bay, bay … từ trên cao độ gần 50 mét, so với mặt đường bên dưới chân đèo. Tôi nhắm mắt, hét lớn. Vùng dậy… Cả người vã mồ hôi.

Giấc mơ trở đi trở lại nhiều lần, làm cho tôi, dù cố gắng quên đi lời nguyền, nhưng không thể nào thoát khỏi. Vâng, đó là một lời nguyền hết sức cay độc, từ xa xưa lắm, đã được ông Cố tôi đích thân chôn xuống trên đỉnh đèo Rù Rì.

oOo

Ba Má tôi quyết định đưa gia đình về sống tại một vùng thôn quê hẻo lánh này từ đầu năm 1970. Từ đỉnh đèo Rù Rì, nhìn về hướng đông bắc, một eo biển nhỏ hiện giữa những đồi núi chập chùng. Eo biển đó là eo biển Lương Sơn, trên đường ra Ninh Hòa. Làng quê đó, chính là làng Lương Sơn như mọi người thường gọi. Đây là một làng nhỏ, cách chân đèo Rù Rì khoảng 3 km và trung tâm thành phố Nha Trang chừng 12 km. Lưng dựa vào núi, mặt nhìn về hướng biển, nên dân trong làng sống chủ yếu vào nương rẫy trên núi và tôm cá ngoài biển khơi.

Từ lúc hiểu được, tôi đã nghe, đã biết về những tai nạn thảm khốc trên đèo Rù Rì. Lên 6, 7 tuổi, tôi đã nghe những lời than khóc buồn bã từ thân nhân của những người mất, bị tai nạn trên vùng đèo này. Lớn lên tí xíu, tôi đã chính mắt nhìn thấy những thân thể đầy máu, sau những tai nạn nơi đây. Khi tôi bắt đầu vào Trung học, mỗi ngày dắt xe đạp lên đèo, xổ đèo, những hình ảnh đó luôn ám ảnh tôi. Tôi lo một, nhưng ba má tôi lo đến mười.

Mỗi năm, ít nhất một vụ tai nạn khủng khiếp xảy ra. Ngôi miếu nhỏ nằm giữa lưng chừng đèo, ở mặt Nam, luôn là nỗi ám ảnh mỗi khi một mình dắt xe đạp đi qua. Tôi sợ, nên thường đi chung với các bạn. Hoặc khi đạp xe đến tận chân đèo, nhưng chưa thấy ai, thế là ngồi chờ. Chờ có người nào đó cùng dắt xe lên đèo.

Năm 1983, số tai nạn quá nhiều, mà hai tai nạn thảm khốc, một vào giữa năm, xảy ra ngay miếu thờ, và một vào cuối năm, những ngày cận tết, bên kia dốc đèo, tại hướng ngã ba: một đường lên Thành, và đường hướng kia về Nha Trang. Tai nạn này, đã cướp đi mất một người bạn mà tôi quen biết, học trên tôi một lớp. Có lẽ, nhiều tai nạn quá khủng khiếp xảy ra liên tiếp, và chúng tôi cũng đã khôn lớn, Ba tôi, quyết định kể một chuyện hệ trọng mà ông giấu từ lâu. Câu chuyện đó liên quan đến ông Cố tôi và lời nguyền cay độc ngày xưa ấy.

oOo

Ba tôi kể rằng, vào những năm đầu 1900’s, người Pháp mở đường xá từ miền Nam ra tận miền Trung. Mở ra rộng hơn, tạo cho môt vóc dáng mới cho quốc lộ 1. Ông Cố tôi, là một người nhà quê, giỏi chữ nho từ nhỏ, nhưng thi nhiều lần không đỗ nên ông chỉ làm một ông giáo làng. Nhưng điều ngạc nhiên là không biết ông học từ đâu, mà có thể đọc và hiểu được ít nhiều tiếng Pháp.

Và khi người Pháp vừa ép buộc, vừa tuyển mộ khắp nơi để mở đường, vì kinh tế gia đình, ông cố tôi quyết định gác nghề dạy học, và tham gia đoàn người đi mở đường này. Thông thạo chữ nho, và hiểu ít nhiều tiếng Pháp, ông được giao cho việc phụ sổ sách. Dần dần, tạo được tín nhiệm với viên sĩ quan Pháp đứng đầu công trình này, ông được giao phó nhiều công việc quan trọng hơn. Cuối cùng, ông được trọng dụng như là một người giúp việc gần gũi và tín cẩn.

Từ thành Diên Khánh, đường được mở rộng xuống Nha Trang. Rồi từ Nha Trang ra Ninh Hòa. Nỗi vất vả của những người mở đường này là đoạn đèo Rù Rì. Đường dốc quanh co. Không ít người đã bỏ mình ở đó. Một hôm, trong lúc đang đào đất, những người phu đã phát hiện một hầm lớn bên chân đèo phía Bắc.

Khi ông Cố tôi đến, người ta phát hiện trong hầm này có nhiều lọ cổ. Trong đó có 1 cái lọ lớn và 13 cái lọ nhỏ hơn. Tất cả đều làm bằng sành. Cái lọ lớn, cao hơn nửa mét, màu xanh lá cây đậm, dạng như cái trống, chính giữa phình, hai đầu hơi nhỏ lại. Trên mặt lọ, có cái nắp đậy kín, không một khe hở. Với kích cỡ và hình dáng này, khi tôi còn nhỏ, nghe mọi người gọi là cái “thạp” hay “khạp”.

Xung quanh thân lọ, nửa dưới là những hoa văn, phần trên là những hình thù nửa thú, nửa người, trông rất kỳ quái. Mười ba cái lọ còn lại, cùng một kích cở, cao khoảng ba tấc. Dưới chân thật nhỏ, rồi phình ra lớn hơn khi lên cao. Chỗ phình cao nhất khoảng hai phần ba từ chân lọ.

Phần trên cùng hơi túm lại, nhưng vẫn lớn hơn phần đáy. Lọ không có hình thù quái gở, những ngược lại là một màu đỏ sẫm, trên khắc những hoa văn tỉ mỉ. Tất cả đều có nắp đậy và dán kín. Không ai biết bên trong lọ có gì. Ông Cố tôi cho trình lên viên sĩ quan người Pháp. Lúc đó, viên quan này đang trên đường từ Phan Thiết ra. Ba ngày sau, vị quan này mới được dịp chiêm ngưỡng những chiếc lọ cổ quái này.

Tối hôm đó, vị sĩ quan cho người mở ra. Có hai người VN được chứng kiến, người thông dịch và ông Cố tôi. Bắt đầu từ cái lọ nhỏ. Thoạt đầu, không làm sao mở được cái nắp lọ. Một chất keo đặc biệt đã dán kín, không một khe hở. Vị quan người Pháp được cố vấn là nên nung nó lên, rồi mới mở, nhưng cũng không thành công.

Sau đó, vì nóng lòng, chiếc lọ bị đập bể trên miệng. Bên trong chẳng có gì, ngoại trừ một ít tro xam xám. Cái thứ hai cũng thế. Cái thứ ba cũng thế. Viên sĩ quan Pháp ra hiệu ngừng. Đến lượt chiếc lọ lớn, hai tay cầm hai đầu, y giơ lên rồi rung nhè nhẹ. Bên trong dường như có tiếng gì khua động, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, cũng không cách nào mở được nắp lọ.

Vị quan Pháp cho dừng tay và sai thủ hạ tìm cách khoan miệng lọ. Khi miệng lọ được mở ra, hai miếng da dày, màu xám đen, chồng lên nhau, cuốn tròn lại. Ngoài ra không còn một thứ gì khác. Mọi người đều ngạc nhiên, nhất là vị quan Pháp. Ông cầm lên ngắm nghía rồi trải hai miếng da thú lên bàn. Mỗi miếng da có chiều dài khoảng gần 1 thước, chiều ngang khoảng 3 tấc. Khó đoán biết được là da dê hay da trâu.

Miếng da thứ nhất có nhiều hàng chữ nhỏ dọc ngang. Miếng thứ hai, vẽ những hình thù quái gở. Những hình người nam cụt đầu, những hình người nữ không lành lặn. Đằng sau miếng da thứ hai như có dấu triện, màu đỏ, và bốn con số viết rời nhau. Tất cả nhìn nhau, im lặng.

Viên quan Pháp hỏi ông Cố tôi về ý nghĩa của hai tấm da này, vì biết ông Cố tôi thạo chữ nho. Ông Cố tôi lắc đầu. Đó không phải là tuồng chữ nho. Tuy nhiên, trong ông, bừng lên một ý nghĩ. Đó là chữ của người Chăm Pa. Và ông trình bày ý nghĩ của mình. Muốn hiểu, phải tìm cho bằng được những người còn đọc được lối chữ cổ này. Và sau đêm đó, ông Cố tôi xuôi Nam, mang một sứ mệnh quan trọng trong đời.

oOo

Những hình nhân kỳ dị không thể là những điềm lành. Biết, nhưng vẫn phải đi. Tôi và bốn người tùy tùng lên ngựa ngay sáng hôm sau, ngược về hướng Phan Rang. Một người mang chiếc bao dày trên lưng, bên trong chứa hai miếng da kỳ dị. Ba người còn lại mang lương thực cho đoàn. Tôi như một người trưởng nhóm. Đi, nhưng trong lòng không chút hy vọng.

Ngay ở ngày thứ hai, một chuyện lạ đã xảy ra. Người mang hai tấm da đột nhiên ngã quỵ sau khi nghỉ trưa. Anh ôm bụng, mặt mày tái ngắt. Một hồi sau, anh ngưng thở. Sự việc xảy ra quá nhanh, mà không ai trong đoàn biết lý do tại sao và phải làm gì. Chúng tôi chôn anh ta lại, và chiếc bao được giao lại cho một người khác trước khi tiếp tục lên đường.

Chúng tôi đến Phan Rang vào một buổi chiều mưa buồn bã. Mưa rả rích suốt đêm. Sáng hôm sau, vào chợ, gặng hỏi nhiều người. Hầu như ai cũng lắc đầu, không hiểu. Có người chỉ cho chúng tôi đi về những khu xa vắng khác, dò tìm. Chúng tôi đi xa hơn về phía Nam. Lòng vẫn còn mang một chút hy vọng.

Qua nhiều ngày tìm kiếm, hỏi thăm, vô vọng, lại một việc kỳ lạ khác xảy ra. Người mang hai miếng da đó, bị tiêu chảy. Chúng tôi kiếm những người thầy thuốc trong khu vực gần đó, vẫn không chữa nổi. Anh ta ra đi mà đôi mắt còn trợn lên một màu trắng dã. Hai người còn lại, không ai dám mang hai miếng da này.

Ba chúng tôi đều nghĩ, những chuyện xui xẻo, chắc phải đến từ hai miếng da này. Tối hôm đó, cả ba nhìn chiếc bao đựng hai miếng da mà ngán ngẩm. Ai cũng mang trong lòng những ý nghĩ riêng tư nhưng không nói ra. Tôi quyết định mang hai miếng da này, dù gì mình cũng là trưởng đoàn. Tôi khấn vái thiên địa, thánh thần cùng linh hồn những người đã khuất rằng: chúng tôi chỉ phụng mệnh đi tìm ý nghĩa những gì ghi lại trên hai miêng da này mà thôi.

Chúng tôi không có một ý nghĩ gì xấu cả. Xin thiên, địa, thánh thần phù hộ cho chúng tôi được bình an, tai qua nạn khỏi, mà trở về với gia đình. Chúng tôi sẽ cúng tạ trời đất khi an toàn trở về. Vẫn tiếp tục dò hỏi. Vẫn vô vọng. Lương thực cạn dần. Hy vọng đã lùi xa. Chắc phải quay về. Về ? làm sao ăn nói với viên sĩ quan ?

Sáng hôm cuối cùng, trước khi trở về, chúng tôi chậm chạp trở ra con đường lớn. Bất ngờ, gặp một bà lão, người khô khốc như một thanh củi đang ngược hướng chúng tôi. Điều ngạc nhiên là khi bà cụ chận chúng tôi lại và hỏi rằng: có phải chúng tôi từ xa đến và đang đi tìm một cái gì đó phải không ?

Tôi thuật lại cho bà cụ nghe đầu đuôi câu chuyện. Bà nhìn cả ba, rồi nhìn tôi kỹ hơn. Sau đó bảo ba chúng tôi đi theo bà. Bà dẫn chúng tôi qua một đoạn đường khá xa, dẫn tới một quả đồi nhỏ. Trên đồi là một nóc nhà cũ kỹ và có phần xiêu vẹo.

Chúng tôi được bảo ngồi chờ phía trước sân. Bà lão đi ra sau, thì thầm chuyện gì đó với ai, khá lâu. Một lúc sau, một người đàn ông già, nhỏ thó, chòm râu bạc trắng, dài ngang tận bụng đi lên. Ông cụ gọi chúng tôi ra sau, mời chúng tôi ngồi xuống những hòn đá được kê làm ghế, dưới một tàn cây. Tôi tháo chiếc bao, lấy hai miếng da ra. Ông cụ nhìn ngang, thất sắc. Một hồi sau, định thần, ông cụ bắt đầu kể…

oOo

Tôi cũng không biết chi tiết những dòng chữ nhảy múa này. – Ông chỉ vào tấm da thứ nhất. Rồi tiếp. Nhưng ý nghĩa của nó và những hình thù trong tấm da kia, thì tôi hiểu. Bộ tộc chúng tôi khi nhìn vào hình ảnh vẽ trên miếng da đó, hiểu được người vẽ muốn nói gì. Còn tấm da có viết chữ… Ông lão như nghẹn lời. Đôi mắt buồn hiu, như muốn khóc. Trời đứng gió. Ai nấy nhễ nhại mồ hôi. Nhìn xa xa, những đồi cát như bốc lên từng đợt, từng đợt lửa, muốn thiêu đốt cả một vùng rộng lớn. Ông già đưa tay quệt mồ hôi rồi kể tiếp…

Tôi là một đứa trẻ mồ côi. Tôi sống với Thầy tôi, khi còn nhỏ lắm. Thầy tôi không dạy tôi những chữ cổ này. Ông dạy tôi, thứ chữ mới mà người ta đang dùng bây giờ. Tôi học được nhiều điều ở thầy, từ việc thờ phượng, cúng bái, đến việc ăn ở; từ chuyện lịch sử hưng thịnh đến sự suy vong của Chăm Pa nói chung và của bộ tộc tôi nói riêng.

Khi tôi khôn lớn, thầy bảo : nếu một mai ông mất, hãy đem tất cả gia sản trong cái hòm gỗ mà đốt đi với ông. Tôi cúi đầu vâng dạ. Tôi cũng không hỏi Thầy là trong đó có chứa đựng những gì.

Chúng tôi ngồi im lặng, nhưng cảm nhận được dường như ông già đang nấc lên theo từng hơi thở.

Sau đó vài hôm, Thầy tôi bảo : trong cái hòm gỗ đó, không có tài sản gì quí giá về tiền bạc, nhưng nó chứa đựng mồ hôi, nước mắt và máu của dòng họ ông. Đó là những bộ da thú, ghi chép về gia phả của Thầy. Một gia phả đẫm máu. Họ muốn ông phải trả thù. Nhưng vì biết mình là hậu duệ cuối cùng và không làm được, nên ông muốn đốt đi những tấm da thú ghi lại những máu và nước mắt ấy.

Thầy tôi dạy rằng : hơn hai trăm năm mươi năm trước, giặc phương Bắc đã đánh vào tận nơi này. Vua của chúng tôi vì thế yếu, đầu hàng và đồng ý dâng đất để cầu hòa. Trước khi rút lui, nhiều phần thành quách bị đập phá. Những vị tướng lãnh và thuộc hạ của họ, dù đã qui hàng vẫn bị đưa lên ngọn đầu đài.

Chỉ riêng gia tộc ông có tất cả 14 người bị chém cùng một kiểu, một dao lìa đầu. Người phương Bắc nói rằng: chém để làm gương! Ngày mà họ bị đưa lên ngọn đầu đài là một ngày đen tối trong lịch sử Chăm Pa. Sau đó, rất nhiều thanh niên bị bắt làm nô lệ. Nhiều phụ nữ bị hành hạ, bị bắt đi làm những kẻ hầu. Sử sách người Chăm Pa có ghi chép, số người bị chết trong trận chiến, bị chém sau khi qui hàng, bị bắt đi làm nô lệ, không dưới nửa vạn. Tiếng khóc than oán hờn dậy đất.
Nước mắt ông lão trào ra theo từng lời kể, cùng với mồ hôi, chảy xuống thành từng dòng. Ba chúng tôi cũng không cầm được nước mắt.

Trước khi sứ thần chính thức mang lệnh Vua dâng đất cho giặc phương Bắc, vị Vua của chúng tôi đã cho người chuẩn bị rất kỹ càng. Vua sai người viết một lời nguyền trên một tấm da thú. Tấm thứ hai vẽ lại những cảnh chém đầu mà giặc phương Bắc gây nên cùng những cảnh phụ nữ bị làm nhục, làm nô lệ. Đây chính là hai miếng da lịch sử mà thầy tôi kể lại vào những ngày cuối đời. Người viết lời nguyền này là một vị pháp sư nổi tiếng cả nước lúc bấy giờ.

Thầy đã dạy rằng : tấm da thú ghi lại lời nguyền được chôn ở một nơi hẻo lánh. Để xuôi về phương Nam, người ta phải bước qua nó. Vị Vua của chúng tôi hiểu rằng mình đang trong thế yếu. Trước sau, đất nước này, bá tánh này cũng sẽ rơi vào tay giặc. Vì thế, lời nguyền chỉ có chủ ý mong người phương Bắc đối đãi tử tế với bá tánh chúng tôi.

Tôi không nhớ chính xác từng chữ. Đại ý, lời nguyền nói rằng : mai này, khi bất cứ ai vượt qua lời nguyền để xuôi về Nam, người đó phải có một tấm lòng rộng mở, phải sống tử tế với người khác. Là dân thường, sau khi bước qua lời nguyền này, mà lòng của họ còn mang những dã tâm, thì chính bản thân hay người thân sẽ bị bao nhiêu điều xấu xảy ra, có khi phải bỏ xác nơi đèo heo gió hút này.

Là quan, sau khi bước qua lời nguyền, xuôi về Nam, thì phải có một tấm lòng bao dung, mới mong giữ được hòa thuận trong bá tánh, mới giảm được máu và nước mắt của dân tình. Nếu làm trái lại, dòng họ hay bá tánh dưới sự cai quản của người này phải gánh chịu những hậu quả trùng trùng.

Là Vương, sau khi bước qua lời nguyền này để xuôi Nam, lòng Vương phải như trời biển, thương dân như thương con, đối với kẻ cựu thù như đối với trăm họ của chính mình, cứu vớt những người cùng khổ bất chấp họ là ai; phải mang lại cơm no áo ấm cho người người, thì mới mong xã tắc vững bền, giang san mới hưng thịnh.

Ngược lại, là Vương mà lòng dạ hiểm độc, coi bá tánh như ngọn cỏ, xem kẻ cựu thù như loài thú, trong lòng chỉ nghĩ đến hận thù, thì muôn đời, lời nguyền vẫn còn đó. Máu của bá tánh không bao giờ ngưng chảy. Máu sẽ chạy dài từ nơi này đến bất cứ nơi nào mà có dấu chân của người hiểm độc đứng đầu xã tắc đã bước qua. Và chính gia đình hay hậu duệ của Vương, phải gánh lấy những điều tệ hại nhất… Trong bá tánh, ai có lỡ tay, đào thấy lời nguyền, phải chôn ngay lại tức khắc, nếu không, hậu quả sẽ không lường…

Sau đó, nhà vua cho làm một buổi lễ tế thần linh. Trong buổi lễ đó, hai tấm da được đặt vào trong cái lọ lớn. Vị Pháp sư cho rằng: phải có người theo giữ lời nguyền này, thì lời nguyền mới mãi được linh thiêng. Nhà vua nghe theo và lựa chọn 13 dũng sĩ dám hy sinh vì bá tánh, sẽ lên giàn thiêu. Nhà Vua bảo đảm bổng lộc cho gia đình họ đến suốt đời.

Hôm đó, trời nóng như thiêu đốt. Đến gần giữa ngọ, khi vị pháp sư tụng niệm những điều bí ẩn vừa chấm dứt, những hồi trống rền rã gióng lên, 13 dũng sĩ chuẩn bị bước lên giàn thiêu, thì gió ở đâu bỗng nổi lên ào ạt. Cờ, phướn bay phần phật như muôn ngàn âm binh đang lũ lượt kéo về. Những hồi trống chấm dứt, gió mới ngưng. Vạn vật như im lặng. Mười ba dũng sĩ, từng người, từng người bước lên giàn thiêu.

Đó đây, tiếng thút thít của các người thân, cùng những người tham dự, nhỏ nước mắt cho những người hy sinh vì đại nghĩa. Khi họ bước lên giàn thiêu, cả 13 người cùng đứng trong thế tấn, nhìn xuống cả quảng trường rộng với một sự bình thản lạ lùng. Một viên quan đọc những lời châu ngọc của Vua, ca tụng lòng hy sinh của họ cho bá tánh. Rồi lửa bốc lên, bốc lên. Tiếng khóc đó đây trong đám đông càng lúc càng lớn. Lửa hận thù. Lửa hy sinh, Lửa cứu độ… Xác thân còn lại của họ được bỏ trong 13 cái lọ nhỏ. Lời nguyền cùng tro bụi của 13 người dũng sĩ, sau đó, được chôn tại phía bắc của một ngọn đèo. Sau đó, Vua mới sai người mang lệnh Vua đi về phương Bắc, lòng đau đớn cắt đất tiền nhân dâng cho cường địch, để nhận lấy sự an bình trong giai đoạn nhất thời…

Ông già người Chăm, nước mắt rưng rưng sau khi kể xong: Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.

oOo

Trong lúc ông Cố tôi mải mê đi tìm ý nghĩa của hai mảnh da đó, thì viên sĩ quan người Pháp, nhận được điện tín từ Pháp quốc, cho biết vợ ông bịnh nặng. Công việc chăm coi mở đường, giao lại cho người sĩ quan mới.

Khi ông Cố tôi về, trình bày tường tận chuyến đi, cùng những lời giải thích của ông già người Chăm, viên sĩ quan mới lắc đầu. Trong đầu y nối kết những tai họa vừa xảy ra, và nhanh nhẩu bảo rằng y không muốn nhìn nó nữa. Hãy chôn lại, theo như lời ông già người Chăm đã nói.

Ngay sáng hôm sau, ông Cố tôi cho người chôn lời nguyền cùng 13 cái lọ nhỏ trở xuống, tại một nơi nào đó trên đỉnh đèo Rù Rì. Sau đó, ông xin được nghỉ việc, trở về nhà, cúng tạ trời đất, thần linh như đã hứa và tiếp tục công việc của ông, công việc của một thầy giáo làng cho đến cuối đời.

Sau khi biết được lời nguyền đó, tôi đi tìm những dấu tích lịch sử theo lời ông già người Chăm đã kể. Tôi tìm được một chút đầu mối liên quan. Sử sách cho biết, năm Mậu Tý (1648), khi Chúa Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29, thường được gọi là Hiền vương.

Năm 1653, Hiền Vương, sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân vượt đèo vượt núi Thạch Bi (đèo Cả), đánh Chăm Pa. Lực lượng mạnh, cộng thêm yếu tố bất ngờ, Hùng Lộc đã đánh đến tận Phan Rang. Vua Chiêm đại bại dâng thư xin hàng và cắt châu Kaut Hara của Chiêm Thành từ sông Phan Rang ra đến Đèo Cả dâng cho.

Chúa Nguyễn đặt dinh Thái Khang với 2 phủ, 5 huyện. Hai phủ là Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Năm huyện là Phước Điền, Hòa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh; Tân Định, Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang. Hùng Lộc được cử làm Thái Thú cai trị 2 phủ, dinh đóng tại Thái Khang tức Ninh Hòa bây giờ.

Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn. Tuy vậy, sự trả thù vẫn luôn luôn là một nỗi niềm thao thức của các vì vua Chăm Pa. Gần 40 năm sau, năm 1692, Chúa Chăm, tên Bà Tranh, đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Thái Khang. Cuộc tấn công này đã thất bại. Quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh tan tác vào năm 1693. Chúa Nguyễn đổi tên Chăm Pa thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ.

oOo

Sau này, tôi hỏi Ba : Vậy chứ lời nguyền ấy, được ông Cố chôn tại địa điểm nào trên đèo Rù Rì ? Ba bảo rằng, gia phả không ghi lại đích xác. Chỉ biết, trước khi ông Cố mất, có bảo chôn trên đỉnh đèo, ngọn núi cao nhất, ở phía tây, dưới chân cây cổ thụ già, cách đỉnh khoảng 15-20 thước.

Thời gian đã bào mòn tất cả. Bây giờ, trên ngọn đèo Rù Rì không còn một cây cổ thụ nào cả. Tuy vậy, tôi không suy nghĩ nhiều về địa điểm chôn giấu lời nguyền, mà lại bị ám ảnh về một đoạn trong lời nguyền: “Là dân… Là Quan… Là Vương…”.

Suy nghĩ lại, tôi thấy lời nguyền không cay độc như lần đầu mình được nghe. Nó chỉ cay độc, khi bất cứ ai vượt qua nó, xuôi về Nam, mà không sống tử tế với đời, với người. Và, bao nhiêu năm rồi, lời của ông già Chăm, nói với ông Cố tôi, được ghi lại trong gia phả, luôn luôn đeo đuổi tôi : Những tranh giành lịch sử, dù thành công hay thất bại, luôn luôn nhuốm máu của bá tánh.

Hy vọng, sau khi viết ra những dòng chữ này, tôi sẽ thoát khỏi giấc mơ hãi hùng đó và máu sẽ thôi chảy trên ngọn đèo Rù Rì này. (theo Đoàn Nhã Văn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHE NHẠC TÀ ÂM CHIÊU TAI HỌA

VÌ SAO NGƯỜI XƯA

ĐỐI VỚI CHÉN BÁT

CÓ NHIỀU KIÊNG KỴ ?

Bát là một vật dụng không thể thiếu trong đời sống của những người dân phương Đông.

Đặc biệt đối với người dân Việt Nam, đó là một nét văn hóa không thể thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày có tự bao đời.

Cùng với nhu cầu và sự phát triển của xã hội, các loại bát cũng ngày một nhiều và cách dùng cũng khác nhau. Có lẽ bởi quá thông dụng nên tầm quan trọng của bát thì mọi người không phải ai cũng đều hiểu hết. Kỳ thực, phong thủy liên quan tới chiếc bát mà chúng ta vẫn dùng để ăn hằng ngày là không thể coi thường. Và người xưa đặc biệt chú ý coi trọng đến điều này.

Là vật dụng được sử dụng hằng ngày, nhưng hầu hết chúng ta đều không mấy chú ý tới chiếc bát. Ít ai biết rằng, vật dụng này lại gắn liền với không ít điều kiêng kỵ về phong thủy. Tôi có anh bạn vừa chuyển nhà mới, và qua câu chuyện của anh tôi hiểu được tầm quan trọng về những kiêng kỵ gắn liền với chiếc bát ăn hằng ngày của chúng ta.

Như một thói quen của rất nhiều gia đình, khi chuyển tới nhà mới anh Lưu bạn tôi liền mang bán hết những đồ dùng gia đình ở nhà cũ, hơn nữa còn  tiện tay thu dọn những chiếc bát cũ lâu ngày bỏ vào thùng rác. Thế là sau khi chuyển tới nhà mới, chừng nửa năm sau gia đình anh liên tục gặp những điều không may mắn. Làm ăn kinh doanh thì liên tục thất bại, vợ anh thì bỏ nhà theo người đàn ông khác, bản thân anh cũng bắt đầu xuất hiện các chứng bệnh mà trước đó chưa hề mắc. Quá lo lắng anh đã đi hỏi rất nhiều thầy tướng số phong thủy, và câu trả lời mà anh nhận được đều giống nhau khiến anh sững sờ : Đều là họa do anh vứt bỏ những chiếc bát cũ.

Quả thực, người xưa đối với chén bát, vật dụng trên mâm cơm hàng ngày đều rất quý trọng, hơn nữa có rất nhiều kiêng kỵ. Dưới đây là những điều kiêng kỵ đã được đúc rút lại qua hàng ngàn năm qua, hy vọng sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta:

1/. Không được tùy tiện vứt bát cũ

Khi chuyển nhà mới hoặc sắm sửa vật dụng sinh hoạt mới, nhiều người chúng ta thường hay quan niệm nhà mới thì đồ đạc cũng cần mới nên thường bán hết đồ cũ mua đồ mới. Và cũng thường tiện tay vứt bỏ những chiếc bát cũ đã sứt mẻ. Đây chính là một thói quen “phá tài” điển hình, khiến rất nhiều người gặp trắc trở về đường tài vận, tình duyên, sức khỏe.

Bất luận là mới hay cũ, chiếc bát đều tượng trưng cho “công ăn việc làm” của gia chủ. Nếu đem chiếc bát vứt đi, chẳng khác nào bạn đang tự hất bỏ “chén cơm” của mình. Trong tiếng Hán từ bát “碗” được đọc là “Wǎn”, nó đồng âm với từ 完〞đọc là “wán” trong từ〝完蛋〞đọc là “wándàn”, nghĩa là kết thúc, là hết. Bởi vậy, những chiếc bát đã cũ dù không dùng cũng không được tùy tiện vứt bỏ đi.

2/. Bát không dùng nữa thì xử lý như thế nào ?

Bát cũ không thể vứt bỏ một cách tùy tiện, vậy thì xử lý thế nào ? Các chuyên gia phong thủy Trung Quốc cho rằng, đối với những chiếc bát vẫn còn dùng được, bạn nên cho hoặc tặng người khác, chỉ riêng bát chúc thọ là không thể tùy tiện đem cho. Nếu là bạn thân, bạn tốt, việc tặng bát còn có thể kéo dài tình hữu hảo, tăng thêm sự thân thiết, gắn bó.

Theo quan niệm của người xưa, đối với những chiếc bát đã sứt mẻ đến nỗi không dùng được, bạn cũng có thể vứt đi, nhưng cần lưu ý phải bọc bát bằng vải đỏ rồi mới đem vứt..

3/. Bát ăn cơm tự nhiên nứt vỡ nói lên điều gì ?

Nhiều người làm kinh doanh, tối kỵ nhất là bát nứt vỡ làm đôi khi đang dùng bữa. Có một doanh nhân nọ, đang mời khách dùng cơm tại nhà hàng thì bỗng nhiên chiếc bát ông cầm trên tay nứt vỡ làm đôi, ông ngạc nhiên và sợ hãi đến không nói nên lời.

Nhưng người sợ hãi hơn là chủ khách sạn nọ. Dù ông ấy đã rối rít xin lỗi, tặng khách hàng toàn bộ hóa đơn ăn uống ngày hôm đó, nhưng sau vụ “bê bối” đó ông dính phải kiện tụng liên miên, làm ăn thất bát.

Nhiều nhà phong thủy học đã phân tích rằng, bát nứt tượng trưng cho việc điềm rủi ập đến, thậm chí còn là điềm dữ như bệnh tật hoặc người thân đã khuất tìm về. Ai vốn không hiếu thuận hoặc làm ăn bất minh, nếu gặp điềm này đều sẽ gặp quả báo nhãn tiền.

4/. Bát ăn cơm bị mẻ có thể dùng tiếp được không ?

Nhiều người dân Việt chúng ta vì thói quen tiết kiệm nên khi bát đã mẻ vẫn có thói quen tiếp tục sử dụng. Nhiều cửa tiệm nhỏ lẻ, ít kinh phí cũng thường cho khách dùng bát sứt mẻ. Thật ra, chúng ta nên tránh dùng bát đã vỡ, sứt, nứt khi ăn cơm. Nguyên nhân là bởi bát ăn cơm có ngụ ý để chỉ việc làm ăn, công việc ‘kiếm cơm’ của chúng ta. Bởi vậy nếu bạn sử dụng bát đã sứt mẻ ăn cơm thì công việc của bạn sẽ không ổn định và chắc chắn. Nguồn thu nhập cũng sẽ sụt giảm đi đáng kể, đã vậy lại thường xuyên bị kẻ tiểu nhân phá quấy. Vì thế, nếu chẳng may làm mẻ bát hãy gói gọn chúng vào vải đỏ như đã nói ở trên.

5/. Nên sử dụng bát mẻ vào lúc nào ?

Chỉ ở vào những trường hợp đặc biệt mới có thể sử dụng những chiếc bát mẻ mà không được phép sử dụng những chiếc bát lành lặn. Ví dụ người ở miền bắc Trung Quốc, mỗi khi có việc ma chay người ta thường dùng một chiếc bát mẻ xới đầy cơm, sau đó thắp hương lên trên và đặt trên quan tài. Theo quan niệm của người dân ở đây, điều này có thể giúp linh hồn người quá cố được thanh thản ra đi. Và chiếc bát này vĩnh viễn sẽ không được dùng nữa mà lưu lại như một vật bày tỏ sự tưởng nhớ người đã khuất.

6/. Tại sao lại có thể lấy trộm bát ?

Bạn đừng nghĩ rằng đây là câu hỏi buồn cười ! Nhiều nơi, khi làm tiệc thượng thọ cho người cao niên trong làng, đều có tập tục tặng bát. Người đến ăn cỗ mừng thọ đều có thể thoải mái ‘lấy trộm’ bát mang về.

Gọi là ‘lấy trộm’ nhưng thật ra ai cũng có thể tùy tiện cầm đi mà không gặp sự cản trở nào của người nhà hay chủ cỗ. Bởi lẽ, mang bát đi đồng nghĩa với việc nhân rộng niềm vui và giúp người cầm bát “lây” sự trường thọ như chủ nhân.

Nhiều bậc phụ huynh còn chia sẻ rằng, những chiếc bát mừng thọ này, khi mang về cho con cái sử dụng sẽ có tác dụng trừ tà, xua đuổi ma quỷ và xui xẻo, giúp người già tăng thêm sức khỏe, giúp trẻ nhỏ chiêu tài chiêu lộc.

7/. Đập vỡ bát có thể coi là bình an được không ?

Một vài nước trên thế giới như ở Đan Mạch, Đức, Hy Lạp và ngay chính ở Trung Quốc, vào dịp năm mới hoặc trong đám cưới, hoàn toàn có thể thoải mái đập vỡ bát đĩa để cầu bình an và may mắn, sau đó lấy khăn hoặc vải đỏ bọc kín lại rồi vứt đi.

Phong tục này ngược lại hoàn toàn với quan niệm của người Việt Nam, phải kiêng làm vỡ, sứt bát đĩa vào ngày lễ Tết. Kỳ thực trong một tình huống cụ thể đập vỡ bát nhất định là có liên quan đến một điềm báo nào đó.

Tôi có anh bạn vào ngày mùng 2 Tết, khoảng tầm hơn 9h tối đi nấu mỳ. Khi đang múc mì vào tô thì nhìn thấy một con gián trong bát làm anh sợ quá buông cả bát mỳ rơi xuống đất vỡ toang. Bởi lúc đó không có ai ở nhà và anh cũng biết bị vỡ bát vào dịp Tết là không may mắn nên sợ ngây người không biết nên xử lý ra sao. Phải vài phút sau mới lấy lại bình tĩnh đi thu dọn những mảnh bát vỡ và mang chổi định đuổi con gián nhưng không thấy nó đâu. Ngay sáng hôm sau, cha mẹ anh xảy ra xô xát cãi nhau lớn rồi vài tháng sau ly hôn.

8/. Dùng bát như thế nào khi ăn cơm ?

Khi ăn cơm nên dùng bát như thế nào ? Có rất nhiều người nghĩ rằng đây không phải là vấn đề đáng để hỏi.

Khi ăn cơm nên dùng đĩa lót vào bát rồi ăn là tốt ? Hay bưng bát cơm lên ăn là tốt ? Hay đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống tận bàn và cơm là tốt ? Kỳ thực tất cả những điều này đều cần được chú trọng và mọi người hãy lưu ý: Tốt nhất không nên đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống và cơm ăn.

Theo thuyết phong thủy của người phương Đông, bát ăn cơm kỵ nhất là để lên bàn, sau đó dùng đũa gắp cơm lên miệng. Khi ăn cơm, nhất định phải dùng tay cầm bát, không nên đặt bát lên bàn rồi và cơm. Đây vừa là lưu ý về phong thủy, cũng là vừa thể hiện lễ tiết trước mặt người lớn tuổi.

9/. Sử dụng bát phong thủy như thế nào ?

Một ngày nọ tôi có người bạn nhờ tư vấn : “Anh mới được công ty phát bộ bát phong thủy nhưng không biết nó là gì và sử dụng như thế nào ?”. Bát phong thủy, nghe qua tưởng chừng chỉ là chiếc bát nhỏ, chuyên dùng để đựng cơm nhưng thực ra không phải vậy. Nó là bát chuyên dùng trong phong thủy, đặc biệt là ở chốn công sở.

Bất cứ khi nào bạn cảm thấy tài vận không tốt hoặc có người so đo theo dõi, hãy sắm ngay một chiếc bát phong thủy và đặt tại bàn làm việc hoặc tại nhà của mình.

Bát phong thủy sử dụng cần hợp với bản mệnh của mình theo ngũ hành, ví dụ có thể dùng bát bằng gốm sứ, đồng, gỗ.. Với bát lòng rộng hoặc bát rỗng, bạn có thể đựng chút nước rồi để vài đồng tiền xu bên trong, với hàm ý Kim sinh Thủy. Cách làm này sẽ giúp vượng tài, vượng khí, và an ổn về tâm lý. Tốt nhất nên để cạnh cửa sổ bàn làm việc, vì đó là nơi thu nạp khí tốt nhất.

10/. Tại sao cần đập vỡ bát khi nhà có việc ma chay ?

Nói chung khi gặp phải đám ma hoặc có những nơi khi đang tổ chức đám cưới, đang đón dâu bỗng nhiên gặp phải đám ma thì đều nên đập vỡ bát. Kỳ thực đây là một phong tục tập quán của người xưa với ngụ ý cầu mong được đại cát đại lợi, may mắn xua đuổi tà khí.

Nhiều người trong mơ còn thấy mình đập vỡ rất nhiều bát đĩa. Nếu cố tình đập mà bát không hề sứt mẻ, thì giấc mơ này cho thấy, quan hệ giữa người đó với mẹ ruột đang rất thắm thiết, tình cảm. Ngược lại mới chỉ đập khẽ mà bát đã nứt vỡ thành nhiều mảnh, thì có nghĩa là quan hệ mẹ con đang có vấn đề gay gắt.

oOo

Trên đây là những điều kiêng kỵ mà người xưa đúc rút lại, cũng là những lời nhắn nhủ hữu ích cho người đời sau. Con người ngày nay với cuộc sống vật chất đủ đầy, không ít người tỏ ra hoang phí, mua sắm đổi cũ thay mới không tiếc tay. Tuy nhiên người xưa lại rất quý trọng những gì mình đang có, dù chỉ là một chiếc bát ăn cơm đã bị sứt mẻ, dẫu có đem vứt đi cũng phải có lễ nghi. Đây chính là thể hiện phẩm hạnh đạo đức cũng như lòng tôn kính tự nhiên của người xưa.

Từ một chiếc bát, vật dụng tưởng chừng quen thuộc trên bàn ăn, lại có rất nhiều những kiêng kỵ và phong thủy. Điều đó đủ để thấy rằng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần phải lưu tâm từ những điều nhỏ nhặt nhất.

Và phong thủy ấy chính là điều được cổ nhân lưu lại, không phải để hù dọa hay làm ‘mê tín’, mà là những đúc rút để nhắn nhủ con người hãy trọng đức tu tâm, sống hòa hợp với tự nhiên đất trời và biết quý trọng, hài lòng với những gì mình đang có.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHE NHẠC ‘TÀ ÂM BẤT CHÍNH’

LÀ CÁCH CHIÊU MỜI TAI HỌA

Âm nhạc là có chứa một loại năng lượng rất mạnh làm tác động lên tâm tính con người. Âm nhạc cao thượng thanh nhã chứa đựng một loại năng lượng thuần chính, giáo hóa và dưỡng tâm con người. Trái lại, tà âm bất chính có thể hủy người và làm vong quốc.

Âm nhạc là có cát, có hung

Trong “Luận Ngữ” có ghi chép rằng, một lần, khi học trò Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về vấn đề thống trị quốc gia, Khổng Tử đáp : “Yếu xả khí Trịnh quốc đích âm nhạc”, tức là phải bỏ đi âm nhạc của nước Trịnh (một nước chư hầu nhà Chu thời Xuân Thu). Âm nhạc của nước Trịnh thời ấy là thuộc loại tà âm phóng túng tình dục.

Theo Khổng Tử, loại âm nhạc khiến nam giới bị trầm mê vào sự hấp dẫn của sắc đẹp thì sẽ làm hại đến tâm tính và tình cảm của họ, hủy hoại ý chí và đạo đức của họ.

Trong “Sử ký Nhạc thư” viết : “Thính thưởng âm nhạc, hữu cát hữu hung, giá tựu thị âm nhạc quan hồ tâm tính, nhi tâm tính hựu quan hồ tự nhiên chi thiên đích đạo lý.” Tức là, nghe, thưởng thức âm nhạc là có điều tốt lành và cũng có điều hung ác không may mắn.

Đây là sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tâm tính của người nghe. Tâm tính, đạo đức của một người là nên thuận theo Thiên đạo. Âm nhạc trái với Thiên đạo thì sẽ làm “hủy nhân vong quốc”. Người Trung Hoa cổ xưa đặc biệt chú ý đến sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tính nết con người. Họ hiểu rõ và cho rằng lợi ích lớn lao của âm nhạc chính là giáo dục con người.

Những người hiểu âm nhạc thời xưa quan niệm rằng, âm nhạc không phải để phát triển cảm giác của những giác quan. Bởi vì họ đã nhìn thấy “Cấu tạo tâm tính” và “Giáo dục qua âm nhạc”, đó là tác dụng nguyên thủy của âm nhạc.

Âm nhạc có nhiều cấp khác nhau. Âm nhạc thấp kém xâm phạm nguyên tắc của sự điều độ, nó không giới hạn việc biểu lộ cảm xúc của con người, sẽ đưa tới suy thoái và bạo lực, cuối cùng nhân loại không còn đạo đức. Loại âm nhạc này là một lời nguyền, tạo nên sự sụp đổ của một triều đại. Âm nhạc ở cấp cao biểu lộ nguyên lý của vũ trụ. Vì vậy, thưởng thức loại âm nhạc này sẽ ảnh hưởng đến đức của người nghe, và người ta có thể nâng cao được đạo đức của mình.

Một học giả tu hành đời Đường đã nói: “Âm nhạc tốt tạo nên người tốt, âm nhạc xấu tạo nên người xấu (ác)”. Quả đúng là như vậy !

Tà âm bất chính hủy nhân vong quốc

Thời cổ đại có điển cố : “Tang gian bộc thượng chi âm, vong quốc chi âm dã” (âm thanh trong ruộng dâu trên bãi sông Bộc là tiếng nhạc mất nước). Trong “Sử ký” có ghi chép lại điển cố này như sau:

Sư Khoáng là nhà âm nhạc nổi danh thời Xuân Thu, được lịch sử xưng là “Thánh nhạc”. Vua của nước Tấn là Tấn Bình Công vừa hoàn thành xong Vương Cung muốn cử hành điển lễ chúc mừng. Vua nước Vệ là Vệ Linh Công vì mong muốn hai nước có mối quan hệ hữu hảo liền dẫn nhạc công đến chúc mừng. Vua Vệ Linh Công dẫn tùy tùng đến bên bờ sông Bộc Thủy (sông Bộc) thì trời đã tối. Họ đành phải ở lại bên sông để nghỉ tạm qua đêm.

Lúc này, họ nghe thấy một ca khúc mới lạ văng vẳng vang đến, trong lòng vô cùng phấn chấn, hứng thú. Vua Vệ Linh Công liền ra lệnh cho âm nhạc gia Sư Quyên ghi chép lại. Ngày hôm sau đoàn người đến nước Tấn. Trong buổi tiệc, sau khi được thưởng thức các màn ca múa nhạc của nước Tấn, Vệ Linh Công lệnh cho Sư Quyên diễn tấu bản nhạc mà họ đã nghe ở bờ sông Bộc ngày hôm trước. Với tài gảy đàn của Sư Quyên, âm thanh bản diễn tấu vang lên, lúc thì da diết, bi thương khiến người khác tan nát cõi lòng, lúc lại giống như tiếng mưa phùn không ngớt.

Ngồi ở bàn tiếp đãi, thái sư chưởng nhạc của nước Tấn là Sư Khoáng mỉm cười, dụng tâm nghe. Nhưng chỉ một lát sau nụ cười trên gương mặt ông dần biến mất, thần sắc càng lúc càng nghiêm nghị hơn.

Sư Quyên mới gảy chưa đến một nửa bản nhạc thì Sư Khoáng rốt cuộc không nhịn được, đứng dậy giữ tay Sư Quyên lại và nghiêm nghị nói : “Mau dừng lại ! Đây là loại tà âm vong quốc, ngàn vạn lần chớ nên gảy !”

Vua Tấn Bình Công vội chất vấn thái sư : “Khúc nhạc này thực sự nghe rất hay, ngài sao lại nói là âm nhạc vong quốc được ?” 

Sư Khoáng đáp : “Vào cuối đời nhà Ân, có Sư Diên là quan âm nhạc, cùng với vua Trụ làm ra khúc nhạc uỷ mị này. Vua Trụ nghe lấy làm thích lắm. Đến khi Vũ vương ta đánh vua Trụ, Sư Diên ôm đàn chạy về phía đông, nhảy xuống sông Bộc. Từ bấy giờ có ai thích âm nhạc đi qua đấy thì lại có tiếng đàn văng vẳng ở dưới nước vang lên. Khúc nhạc này

Sư Quyên nghe được trên đường đi, là khúc đàn ở trên sông Bộc. Loại âm nhạc này rất không tốt, ai say mê nó thì thân sẽ bị hủy mà quốc gia thì bị suy sụp. Cho nên, không thể để Sư Quyên gảy hết đoạn nhạc này.”

Nói đến đây, Sư Khoáng chuyển qua nói với Sư Quyên : “Khúc nhạc mà ngài vừa gảy là khúc nhạc ngài nghe được ở bên sông Bộc phải không ?” Vua Vệ Linh Công và Sư Quyên nghe xong đều sửng sốt và lấy làm lạ. Tấn Bình Công lại hỏi Sư Khoáng rằng : “Đó là âm nhạc của đời trước, gảy nghe chơi thì có hại gì !”

Sư Khoáng nói : “Vua Trụ vì mê khúc đàn ấy mà đến nỗi mất nước, đó là một thứ âm nhạc bất tường, vậy chớ nên gảy.”

Tấn Bình công nói : “Ta thích nghe âm nhạc mới, Sư Quyên hãy vì ta gảy nốt khúc đàn ấy”. Sư Quyên lại lựa dây rồi gảy nốt khúc đàn ấy. Tiếng đàn êm ái, lên bổng xuống trầm, như than như khóc.

Tấn Bình Công lại nói : “Khúc nhạc này ta nghe thật quá cảm động lòng người, còn có khúc nào hay hơn, cảm động hơn nữa không ?”

Sư Khoáng trả lời: “Có !”

Tấn Bình Công nói : “Có thể cho ta nghe một khúc được không ?”

Sư Khoáng nói : “Phải là người có đức dày hành nghĩa thâm hậu mới có thể nghe được khúc này. Nay ngài bạc đức, không nên nghe !”

Tấn Bình Công nói : “Quả nhân chỉ mong có thể nghe ca khúc ấy, ngài đừng nên chối từ.”

Sư Khoáng bất đắc dĩ phải cầm lấy đàn mà gảy. Mới gảy được một khúc, thì có một đàn chim hạc ở phương nam bay đến. Gảy thêm khúc nữa thì chim hạc vỗ cánh mà múa, vươn cổ mà hót theo tiếng nhạc. Tấn Bình Công đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Những người đứng xem ai cũng kinh ngạc. Tấn Bình Công ngồi xuống, nói : “Còn khúc nhạc nào hay hơn, cảm động hơn thế không ?”

Sư Khoáng nói : “Có, ngày xưa vua Hoàng đến hội các thần ở núi Thái Sơn, rồi làm ra điệu nhạc này. Vua đời sau đức bạc, không xứng để nghe, nếu nghe thì có họa bại vong.”

Tấn Bình Công thấy vậy liền nói : “Quả nhân nay đã già rồi, còn lo bại vong sao ? Nếu được nghe khúc nhạc ấy mà chết thì cũng thoả lòng.”

Sư Khoáng nhất định không chịu gảy. Tấn Bình công đứng dậy, hai ba lần cố ý nài ép. Sư Khoáng bất đắc dĩ lại phải ôm cầm mà gảy.

Mới gảy một khúc, có đám mây đen ở phương tây hiện lên. Gảy khúc nữa thì bỗng nổi một cơn dông, bao nhiêu ngói ở trên nóc điện bay tung lên và cột hiên gãy hết, lại thấy có tiếng sét dậy trời, rồi mưa như trút nước.

Dưới đài ngập mấy thước, trong đài chỗ nào cũng ướt cả, Tấn Bình Công sợ hãi, cùng với Vệ Linh Công nằm phục vào một nơi. Khi mưa gió đã im lặng rồi, nội thị mới vực Tấn Bình Công và Vệ Linh Công ở trên đài xuống.

Tiếp sau đó nước Tấn gặp phải đại hạn suốt ba năm, không một ngọn cỏ nào sống sót, dân chúng lầm than cơ cực. (theo An Hòa dịch và t/h)

Phan Tất Đại chuyển tiếp