NGÀY GIỖ ĐỨC THÁNH TRẦN

20/8 ÂL LỄ GIỖ

ĐỨC THÁNH

TRẦN HƯNG ĐẠO

Dân gian có câu “Tháng Tám giỗ Cha / Tháng Ba tiệc Mẹ” để nói đến ngày giỗ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Nên hàng năm tại Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo ở số 36 Võ Thị Sáu, P. Tân Định, Q.1, đều diễn ra lễ giỗ chính thức, lễ giỗ lần thứ 711 là vào năm 2011 tưởng nhớ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Năm nay sẽ không ngoài thong lệ đó sẽ được cử hành từ rằm tháng 8 âm lịch cho đến hết ngày 20/8 AL.

Năm 2011 tại đền Kiếp Bạc, Côn Sơn tỉnh Hải Dương từ ngày 15 đến ngày 18/8 âm lịch năm Tân Mão, tại lễ hội, ngoài những nghi lễ và trò chơi dân gian truyền thống đã được duy trì, phục dựng hàng năm như lễ khai ấn, lễ rước bộ, lễ khai hội dâng hương tưởng niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, còn có nhiều nghi lễ cổ truyền được bổ sung, nâng cao về nội dung, chất lượng, như lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu.

Trong phần hội, ngoài các trò chơi dân gian truyền thống như đua thuyền, biểu diễn múa rối, năm nay sẽ tổ chức thi bắt vịt, nấu cơm. Đây là hoạt động nhằm tái hiện lại cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Đặc biệt năm 2011 đã tổ chức lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày mất của người vào sáng 20/8 âm lịch tại nội tự đền Kiếp Bạc và núi mâm xôi với sự tham gia của nhân dân 3 làng : Vạn Yên, Bắc Đẩu, Dược Sơn (theo Tuấn Anh)

Lễ hội đền Trần Thương

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Đền thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và song thân của người. Là một vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Trong tâm đức người dân, ông là Đức Thánh Cha. Trần Hưng Đạo được thờ ở nhiều nơi ở Hà Nam mà Trần Thương là ngôi đền quy mô, bề thế nhất.

Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh : Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh).

Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng.

Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái.

Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Lễ hội đền Trần ở Vũng Tàu

Ngày 20/08 Âm Lịch hàng năm, lễ giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được tổ chức tại Hội đền thờ Đức Thánh Trần: số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu.

Đại lễ giỗ Đức Thánh Trần là dịp để đông đảo nhân dân tưởng nhớ công ơn vị tướng tài ba của dân tộc, ba lần đánh bại quân Nguyên Mông đem lại thái bình cho đất nước. Đây là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp được gìn giữ từ đời này sang đời khác tại nhiều địa phương trên cả nước. Vào dịp lễ hội, hàng vạn lượt khách thập phương và người dân địa phương cùng tham dự lễ khai mạc và lễ dâng hương.

Lễ hội đền Trần ở Hòn Đất – Kiên Giang

Không chỉ du lịch sinh thái được mọi người biết đến nhiều mà việc đi thắp hương cầu phúc, an lành trong các dịp đầu năm. Đền thờ Đức Thánh Trần cũng là một địa chỉ quen thuộc. Trong các vị anh hùng dân tộc ở nước ta vào thời phong kiến, rõ ràng không có nhân vật nào được quảng đại quần chúng nhân dân tự nguyện phụng thờ nhiều như Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, mà bà con thường gọi một cách tôn kính là Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương sinh năm 1226 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là thôn Bảo Lộc, Mỹ Phúc, ngoại thành Nam Định. Ông là một bậc kỳ tài trong dòng dõi tôn thất nhà Trần: một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị xuất sắc và một nhà văn hóa lớn. Đặc biệt ông dám xóa bỏ những hiềm thù riêng trong tôn tộc để gây lại mối đoàn kết hầu chống lại kẻ thù chung. Trong ba lần giặc Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta : 1258, 1285 và 1287, với vai trò Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ lực lượng, ông đã làm cho quân Nguyên ba phen thất bại nhục nhã. Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi bị bắt sống và Thoát Hoan phải chui vào một ống đồng trốn chạy về Tàu. Ông qua đời ngày 20/8 năm Canh Tý (1300), được vua phong tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công, trong sự ngưỡng vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Ngoài đền thờ chính nơi ấp phong của ông ở Vạn Kiếp, nhân dân trong nước nhiều nơi dựng đền miếu thờ ngài. Đặc biệt tại ấp Tà Lốc xã Sơn Kiên huyện Hòn Đất, Kiên Giang, ở biên giới Tây Nam xa xôi, nơi cư trú của nhiều đồng bào từ miền Bắc vào lập nghiệp, cũng có một đền thờ Đức Thánh Trần và hàng năm bà con đều cúng tế nghiêm cẩn. Lý do xây dựng đền thờ cũng hết sức cảm động.

Theo ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng Ban Quản lý Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên, thì đền thờ ban đầu nằm ở Nam Thái Sơn, một xã hẻo lánh bên kia sông đối diện với thị trấn Hòn Đất. Trong đợt di dân vào Nam Thái Sơn hồi năm 1941 có nhiều bà con gốc gác ở Mỹ Phúc, Nam Định. Để việc làm ăn nơi xa xôi bớt cô quạnh và có thêm hơi ấm cội nguồn, một vị bô lão trong lần về thăm quê đã xin được một dúm chân hương (tăm nhang) từ ngôi đền thờ Đức Thánh Trần ở Yên Thắng. Từ một ít chân hương đất tổ nầy những bà con ở Nam Thái Sơn đã dựng lên một ngôi đền thờ sơ sài để có chỗ lui tới gởi gắm tâm linh.

Sau năm 1975, nhiều bà con Nam Thái Sơn đã di dời ra Bình Sơn, Mỹ Lâm, Bình Giang, Sơn Kiên và thị trấn Hòn Đất… để có điều kiện phát triển công việc làm ăn. Số bà con còn ở lại không nhiều. Để tiện cho những người ở xa về cúng kiến, năm 1994 bà con đã quyết định dời ngôi đền thờ từ Nam Thái Sơn về xã Sơn Kiên, Hòn Đất, ngay địa điểm hiện nay.

Mỗi năm Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên tổ chức cúng tế hai lần: một lần vào ngày 10/3 và một lần vào 20/8 âm lịch. Từ lâu rồi lễ cúng không còn bó hẹp trong cộng đồng bà con di dân từ miền Bắc mà đã trở thành một lễ hội chung cho cả người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong tiếng chiêng trống rộn ràng, Đội tế nữ của xã Mỹ Lâm (gốc dân Nam Định) với đồng phục áo dài, mấn đỏ và đai lưng kim tuyến rực rỡ đang nghiêm trang tế lễ. Còn một đội tế nam và một đội tế nữ ở các địa phương lân cận và các câu lạc bộ dưỡng sinh của những người cao tuổi ở Rạch Giá cũng tham gia, vì lễ giỗ Đức Thánh Trần kéo dài đến hai ngày.

Đặc biệt trong lễ giỗ đức Trần Hưng Đạo không có đãi ăn. Bà con đem nhiều vật phẩm vào cúng rồi sau đó chia lộc thánh. Cũng con từ thành phố Sài Gòn, Cần Thơ, thị xã Rạch Giá và các nơi nườm nượp đổ về.

Lễ Húy Nhật Đức Thánh Trần và Quân chủng Hải Quân

Mỗi năm vào tháng Mười dương lịch, tại Paris, Thủ đô nước Pháp đều có ngày húy nhật của Đức Thánh Trần Hưng Đạo do Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH – Pháp quốc tổ chức.

Nhiều năm trước Anh Chị Đặng Vũ Lợi, Chủ tịch Hội Hải Quân Hàng Hải Paris  gửi giấy mời nhưng tôi chưa một lần có  dịp tham dự vì ở rất xa Paris. Phần tôi vốn đã không mấy có cảm tình với Quân chủng Hải Quân dầu tôi có một đời yêu lính.

Trước đây hình ảnh anh lính Hải Quân trong tiềm thức tôi mờ nhạt, bởi dư luận nói rằng lính Hải Quân là những chàng Hoàng tử hào hoa, là thần tượng của những người đep kiêu sa, mỗi bến một người tình, lả lướt đa tình như con tầu lướt trên sóng biển. Yêu Hải Quân là tự sát, là biến mình thành “góa phụ ngây thơ “.

Tháng Tám năm 2000, tại Quận 13 Paris tôi tình cờ gặp lại Anh Chị Đặng Vũ Lợi. Anh Chị rất thiết tha mời tôi đến tham dự ngày Thánh Tổ Hải Quân. Tôi có hẹn Anh Chị  :

“Nếu em còn có thể trở về, xin hứa sẽ có mặt cùng Anh Chị vào ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo“.

Cuối tháng Tám năm 2000, tôi đã vào tù bên nước Anh gần một năm tiếp đến lại lật thêm năm cuốn lịch ở Hoa Kỳ.

Ngày trở về cùng cận ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và lần này tôi tận mắt nhìn thấy buổi lễ tế cổ truyền, từng bước đi của Ban tế tự như có một trời hồn nước uy linh.

Trong lịch sử chúng ta đã từng đọc thấy rất nhiều về lòng trung quân ái quốc, nay thời buổi “đất trời nổi cơn gió bụi“, thế sự nhiễu nhương biết tìm đâu người khí tiết kiên trung. Một lần đến nơi đặt tượng Đức Thánh Trần uy nghi tại số 16 Rue de Juilly, 77290 Mytry- Mory, France đã cho tôi một cảm giác khó quên. Thường thì trong nhân gian chúng ta chỉ thấy số đông người thờ ông Thần Tài, Thần Hộ Mạng, chớ mấy ai thờ vị Anh hùng đại công thần của Tổ Quốc. Trước khuôn viên nhà rộng rãi có đền thờ tượng Thánh Trần lẫm liệt.

Trời Paris hôm nay nắng ấm nhưng tôi nghe đâu đây tiếng sóng Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang mồ chôn xác giặc.

“Nam đế Sơn hà, Nam đế cư“ Lý Thường Kiệt.

Năm năm lao tù Mỹ quốc, tôi có duyên đọc được quyển Hải Sử của Đô Đốc Đặng Cao Thăng giúp tôi hiểu đứng đắn hơn về Quân chủng Hải Quân và tại sao Hải Quân lại chọn Đức Hưng Đạo Vương làm Thánh Tổ.

“Hải Quân ơi,

Anh là những Anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm nơi bóng tối âm u

Chưa một lần được hưởng ánh Vinh hoa

Nhưng tận tụy và âm thầm cứu nước“ 

(Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy)

Hải Quân Ngụy Văn Thà, cháu con Trần Quốc Tuấn, người tuổi trẻ anh hào đánh giặc trên Biển Đông. Anh chết theo tầu cho Quê hương được sống. Hải Quân Hồ Tấn Quyền vì TRUNG  tử nạn, và hình ảnh tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Paris có phải chăng chữ TRUNG  là truyền thống của Hải Quân ?

Thì ra anh lính Hải Quân đâu chỉ có hào hoa

“Anh là lính đa tình

 Nhưng tình Non Sông rất nặng“

Cảm ơn Đô Đốc Đặng Cao Thăng đã soi sáng sự thật qua cuốn Hải Sử, cảm ơn Ông Bà Hải Quân Đặng Vũ Lợi đã duy trì bản sắc văn hóa dân tộc trên xứ người “Văn hóa còn, nước Việt còn“.

Cảm ơn những người anh, những người bạn Hải Quân xa gần bên tôi và xin thứ lỗi cho tôi đã một lần trong tôi Hải Quân mờ nhạt.

Đứng giữa trời Paris, tâm can vằng vặc

Bạch Đằng giang réo gọi Hồn Quê

Hỡi ai tỉnh, hỡi ai còn đang mê ?

(Nguyễn Thị Ngọc Hạnh – viết tại Paris nhân ngày Lễ Húy Nhật Thánh Tổ Hải Quân  Đức Trần Hưng Đạo)

(tổng hợp từ nhiều nguồn)

“BÙA RIU” TRÊN VÙNG CAO

Từ lâu, trong những câu chuyện về miền núi, người ta vẫn nhắc đến một thứ bùa, khiến những người vốn không có tình cảm bỗng trở nên quyến luyến, nhớ thương nhau, đó là bùa yêu… Thực thực, ảo ảo của bùa yêu càng khiến cho vùng cao trở nên kỳ bí, đầy chất liêu trai.

Chuyến công tác tại vùng miền núi Tuyên Quang, tôi đã có dịp đi tìm lời giải của bùa yêu. Theo người dân địa phương, bùa yêu còn được gọi bằng một cái tên khác là “bùa riu”. Ở vùng này có nhiều tộc người sinh sống, trong đó người dân tộc Tày chiếm số lượng đông thứ nhì, sau người Kinh. Và họ truyền tai nhau rằng, chỉ có người Tày mới biết thả “bùa riu”.

Huyền bí những chuyện tình

Thổ Bình (huyện Chiêm Hoá – Tuyên Quang) là một xã thuần nông, nằm cách tỉnh lỵ cả trăm kilomet đường rừng. Cảm nhận đầu tiên khi đến vùng này, ấy là vẫn còn giữ được những nét đặc trưng của một xã vùng cao : những nếp nhà sàn ẩn khuất sau luỹ tre làng, những người dân hiền lành trong những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.

Hỏi về câu chuyện “bùa riu”, ai cũng e dè, ngại ngần không muốn đề cập đến. Gặng hỏi mãi, họ thừa nhận rằng có thứ bùa khiến con người ta say đắm, mê mẩn nhau ấy. Tôi được giới thiệu để gặp một nhân vật mà theo họ, đã từng bị thả “bùa riu”. Anh Thuỳ đang kể lại chuyện mình bị thả bùa

Người tôi tìm gặp là một thanh niên ngoài 30 tuổi. Gặng hỏi anh về chuyện “bùa riu”, anh Mai Nhân Thuỳ kể :

– “Năm tôi học lớp 11, tôi chơi với người bạn ấy rất bình thường thôi, không bao giờ có suy nghĩ yêu đương gì đối với người đó cả. Sau đó, tôi có tâm trạng rất khác, lúc nào cũng nhớ đến người ta, lúc nào cũng muốn gặp người ta, một ngày không gặp tôi không thể chịu nổi, phải tìm mọi cách để được gặp. Một thời gian sau, tự tôi cảm thấy chán ghét người đó, cảm giác rất ghét, không còn muốn nhìn mặt người đó nữa. Sau thời gian đó, tôi nghĩ lại, có thể là do tôi bị thả bùa yêu. Bùa yêu chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, nếu muốn duy trì thì người đó phải thả tiếp, nếu không tự khắc nó mất đi.

Tôi bị “bùa riu” trong trường hợp nào thì tôi không biết. Người ấy sống cùng bản với tôi, giờ tôi không muốn nhắc đến tên nữa, vì họ đã lấy chồng, có con rồi.”

Ở bản Phu này người ta còn rỉ tai nhau rằng chị Pêêc biết thả “bùa riu”. Chẳng thế mà người đàn bà lam lũ, xấu xí, bàn tay co quắp vì dị tật ấy lại có thể khiến cho người đàn ông đã có vợ và hai người con trai mê mẩn mình. Chị Pêêc đã sinh một đứa con gái. Không công khai bố đứa bé là con ai nhưng dường như ai ở cái bản này cũng biết đó là con của người đàn ông đã có gia đình kia.

Tôi tìm gặp người đàn bà ấy trong một buổi chiều muộn. Chị sống cùng đứa con gái nhỏ trong một gian nhà tranh. Cái nghèo hiển hiện trong từng vật dụng của mẹ con chị : cái chén vại sứt miệng cáu bẩn, chiếc chõng tre ọp ẹp… Tôi hỏi chị về chuyện “bùa riu”, chị thừa nhận “Có đấy, nhưng chỉ làm vào dịp tết là linh nghiệm nhất, ngày thường người ta không làm bùa đâu.”

Nhưng khi tôi hỏi chị có biết thả thứ bùa đó không, chị lắc đầu và từ giây ấy, tuyệt nhiên chị không nhắc gì đến câu chuyện “bùa riu” nữa.

Hỏi thêm về thứ bùa bí ẩn này, tôi được Noóng – một cô gái dân tộc Tày – kể : “Trước kia ở đây có chị Loan Coong đem lòng yêu một anh lái xe đường dài tên Chiến. Anh này đã có vợ con ở phố rồi nên chẳng để ý đến chị ấy đâu. Thế mà một thời gian sau, mọi người thấy anh Chiến quấn quýt chị Loan Coong lắm, bỏ cả việc lái xe để ở lại đây. Đã có người trong bản nhìn thấy chị ấy đến nhờ bà Ngấm làm bùa mà. Giờ thì anh kia đã bỏ vợ, lấy chị ấy và lên phố sống rồi”.

Để chứng minh cho lời kể của mình, Noóng dẫn tôi đến cuối bản, chỉ cho tôi ngôi nhà trước đây của chị Loan Coong. Gian nhà tranh không người ở hoang tàn, cũ nát. “Thỉnh thoảng thấy chị ấy về quê, chắc để làm bùa đấy, vì thứ bùa này chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, muốn duy trì phải làm lại” – Noóng thì thầm chỉ đủ cho tôi nghe.

Lời niệm chú của bùa yêu

Trong câu chuyện Noóng kể, tôi nghe được thông tin về người biết thả “bùa riu”.

Vào vai một người thất tình, tôi tìm gặp một bà Ngấm để xin học cách làm bùa. Bà Ngấm đang đọc lời niệm chú của bùa yêu

Bà Ngấm năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng còn khá minh mẫn. Sau lần ngã khi leo lên bậc thang nhà sàn, bà Ngấm chỉ có thể nằm để tiếp chuyện tôi. Sau một hồi than vãn, năn nỉ, bà lão đồng ý dạy tôi cách thả “bùa riu” vào một ngày rằm trong tháng.

Bà Ngấm dặn tôi cách thức thả bùa : “Khi gần người mình yêu, miệng lẩm nhẩm đọc lời thần chú bằng tiếng dân tộc, vừa đọc vừa đặt tay lên vai người mình yêu. Nhớ là phải bí mật, không để đối tượng biết việc làm đó, nếu không tự nhiên sẽ ghét nhau lắm đấy”.

Rồi bà đọc để tôi chép lại lời thần chú:

“Cằm câu pấu mác phung lấn khoẳn

Cằm câu pấu mác mặn lấn ăn

Cằm câu pấu báo đai lừm me

Cằm câu pấu báo ké lừm rườn

Mừ mí hăn câu mừ hảy

Mừ hăn câu nả phằng khua mà thú…

Thương câu nắc

Rặc câu lai”

Tạm dịch là:

Lời tao thổi vào quả mơ, quả mơ rụng

Lời tao thổi vào quả mận, quả mận rơi

Lời tao thổi khiến con trai độc thân quên mẹ

Lời tao thổi khiến đàn ông có vợ quên nhà

Mày không nhìn thấy tao, mày khóc

Mày nhìn thấy tao mày cười, tìm về

Thương tao rất nhiều

Yêu tao rất nhiều”

Thay cho lời kết

Một thời gian sau đó, tôi có dịp trở lại vùng núi Tuyên Quang và ghé thăm bà Ngấm – người đã truyền dạy cho tôi những lời niệm chú bùa yêu mà tôi chưa có dịp tự mình kiểm chứng hôm nào. Bà Ngấm đã yếu hơn nhiều sau lần bị ngã ấy, giờ đây bà chỉ có thể ngồi được một lát rồi lại phải nằm xuống giường ngay vì lưng vẫn đau mỏi. chuyện của thế giới tâm linh thì khó có thể biết trước được

Đã quá trưa, tôi ở lại dùng bữa cùng gia đình bà cụ. Một điều khá đặc biệt là bữa cơm ấy được chính anh con trai bà Ngấm chuẩn bị. Thậm chí, mọi việc chăm sóc, thuốc men, vệ sinh cá nhân của bà cụ cũng một tay anh con trai làm, điều mà trước đây là công việc của chị con dâu của bà Ngấm.

Sau bữa trưa, tôi tế nhị hỏi thăm về chị con dâu. Bất ngờ, bà cụ buồn rầu thổ lộ : “Nó về bên ngoại rồi. Chúng nó đang xin xã để được bỏ nhau, làm đơn rồi”. Tôi thắc mắc, rằng tại sao bà cụ không truyền cho con trai cách làm bùa yêu, để anh ấy giữ gìn hạnh phúc gia đình mình, bà cụ lắc đầu tỏ vẻ bất lực : “Nó không yêu nhau nữa rồi, đã làm bùa nhưng không có tác dụng gì”.

Tôi chào bà cụ ra về, đầu vẫn vảng vất câu niệm chú bà truyền dạy hôm nào : “Lời tao thổi khiến con trai (con gái) độc thân quên mẹ. Lời tao…”

Lê Hoàng Nguyễn post (theo Xuân Giao)

THÔI MIÊN VÀ BÙA CHÚ

NHÂN ĐIỆN

VÀ THÔI MIÊN

Trong vu thuật còn có nhiều thuật thần bí, nhưng nhiêu thuật phát sinh ra dùng để tà mị mọi người rất nhiều. Trong đó có thuật thôi miên hay còn gọi là thuật nhiếp hồn.

Người biết dùng thuật thôi miên phải có đôi mắt sáng và có nhân điện cao, mới có thể khuất phục được người khác. Chúng ta thường thấy một vu sư trước khi thôi miên ai, đôi mắt họ mở to, không chớp, lòng đen trắng lóng lánh, vì rằng họ đang sử dụng đến nhân điện dùng đôi mắt chiếu tia điện thẳng vào mắt người khác, cùng những lời thì thầm như đọc bùa chú, còn hai bàn tay cứ quơ qua lại trước mặt đối tượng.

Người bị thôi miên sẽ bị cuốn hút vào đôi mắt sáng ấy trong trạng thái mất phương hướng, tinh thần trống rỗng và suy sụp mau lẹ sau những câu nghe như ru ngủ. Đấy là lúc người bị thôi miên mê sảng, mất phần hồn chỉ còn là cái xác vô tri thức.

Như đã nói người sử dụng thôi miên phải có nhân điện cao ngoài đôi mắt sáng, muốn phá thôi miên ít nhất người bị thôi miên có phải tần số nhân điện lớn hơn hoặc bằng họ. Hoặc nếu không là dòng điện Âm chọi lại với dòng điện Dương và ngược lại.

Tác giả Michael Halbert trong cuốn “Thần giao cách cảm” cho biết, muốn luyện môn thôi miên phải tập từ nhỏ, có chế độ ăn uống với nhiều chất đạm và những thực phẩm giàu chất kim loại như sắt, kẽm, mangan… vì những chất này sinh ra điện tích trong người mang tần số cao.

Ngoài ra hằng ngày phải ngồi Thiền bất định trong nhiều giờ, đôi mắt phải chăm chú nhìn vào tâm một vật thể không được chớp. Khổ luyện thành công là khi, dùng ánh mắt nhìn vào vật trong một giờ mà không chớp, từ nhân điện mới có thể thôi miên nhiếp hồn đối tượng. Thật này còn có thể đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ khác, tức thực hiện được cả môn “thần giao cách cảm”, còn được gọi là người có “giác quan thứ sáu”.

Trong nhân điện có người tích lũy được điện Âm hay điện Dương; người có điện dương chỉ nhiếp hồn được người có tần số điện dương thấp hơn, nếu là nguồn điện âm chỉ có thể nhiếp hồn được người có dòng nhân điện âm thấp hơn. Khi điện Dương gặp người mang tính điện Âm cao, sẽ không thể thôi miên được, vì khi Âm Dưong gặp nhau sẽ sinh biến đổi, như dòng điện Âm Dương khi gặp nhau sinh ra cháy nổ.

Với nhân điện, chúng ta thường nghe nói đến những người có biệt tài, chân tay sờ nắn được dòng điện mà không bị giật, hay dùng thân nhiệt đưa 2 dòng điện Âm Dương cho cháy sáng bóng đèn v.v…

Trên đây là thuật dùng nhân điên để thôi miên nhiếp hồn, còn những người biết vu thuật thường biểu hiện trạng thái tự thôi miên và thôi miên người khác mà không qua tập luyện, như người “cầu Thần nhập xác” bằng hình thức như :

1/- Nhảy múa : vào thời đại vua chúa, nhảy múa là bộ phận không thể tách rời trong đời sống cung đình. Nên các thần linh hiển thánh đa số là các ông hoàng, bà chúa, các quan tướng từng sống trong môi trường ấy. Nên nhảy múa được coi là biểu hiện cho tính chất nguyên thủy, đưa các vị Thần Thánh dễ hòa nhập với xác hơn.

Đồng thời nhảy múa theo tiếng nhạc, lời ca sẽ đưa những ông bà đồng bước vào trạng thái như tự bị thôi miên, thần trí mê sảng, có ảo giác qua hiện tượng “thần giao cách cảm” hay “giác quan thứ sáu”, “tự kỷ ám thị”, từ đó não bộ bị hôn mê phấn kích làm dễ dàng bộc lộ sự liên kết giữa người và thần thánh.

2/- Che mặt : người lên đồng có khăn phủ diện, người đồng cốt có quạt hoặc hai tay che lấy mặt, người sa-man giáo khi đánh đồng thiếp thì nhắm nghiền đôi mắt, đầu cúi xuống chờ thần linh giáng vào. Khi thần linh nhập xác, bấy giờ mọi người mới được nhìn rõ mặt.

Đây là phương pháp bước vào thế giới tâm linh, che mặt dùng để tập trung tư tưởng, định thần, không bị phân tâm trước những ánh mắt tò mò của mọi người đang nhìn. Đây cũng thuộc trạng thái để tự thôi miên.

Nhảy múa và che mặt là hai điểm chính yếu, khi các ông bà đồng tiến hành việc “cầu Thần nhập xác”, ngoài ra còn có những hình thức biểu hiện khác :

– Hun khói : tức dùng lửa, dùng nhang đang cháy (thường cả bó nhang) cho có khói bốc to; các dân tộc ít người (như thầy mo trên cao nguyên) dùng cành cây, rễ cây, lá cây chưa khô hẳn, đốt cho có khói thật nhiều. Đây chỉ là tục lệ, vì mọi người cho rằng các thần linh thường hay cuỡi mây bay xuống nhập vào làn khói để nhập xác.

Nhưng thật ra, việc hun khói là cách khiến cho tư tưởng không bị phân tán, do phải chăm chú cách tránh khói cay bay vào mắt, đôi mắt đôi khi phải nhắm lại là lúc họ đang tự thôi miên chính mình.

– Soi gương : trong buổi lễ lên đồng mời Thánh, trước mặt người đánh đồng thiếp đều đặt một cái gương soi. Đây có lẽ cũng theo tục lệ xưa, vì bây giờ gương soi có thể chỉ để nhìn lại cách trang phục có đúng với giá Thánh nhập hay không mà thôi.

Theo tục xưa, vị vu sư dùng gương để tiến hành đánh đồng thiếp (cầu Thần nhập xác), khi đó cho thân chủ ngồi đối diện trước một tấm gương, bên trái đặt 1 chén gạo có cắm 3 cây nhang. Khi cho thân chủ đi vào cõi âm, vị vu sư ra lệnh cho người này tập trung tinh thần đưa mắt nhìn vào tấm gương không chớp mắt, vị vu sư ở phía sau đốt bùa niệm chú rồi nhón tay lấy một ít gạo rải lên gáy thân chủ đang ngồi đồng.

Chỉ một lát người ngồi đồng liền thể hiện trạng thái cưỡi ngựa, chân dẫm chân đạp, miệng bắt đầu kể đường xuống âm phủ, tìm linh hồn người chết ra sao, và đang nói chuyện với linh hồn người chết như thế nào v.v… Đó là cách các vu sư làm người ngồi đồng tự thôi miên chính mình, đi vào trạng thái ảo giác…

BÙA CHÚ

Vào thời Pháp thuộc ở nước ta khám phá trên Thất Sơn có hàng loạt vụ giết người luyện phép, có rất nhiều cô gái còn đồng trinh bị giết chết không do bị hãm hiếp, mà vì các đạo sĩ dùng xác các cô để luyện bùa “thiên linh cái”. Sau năm 1975 chúng ta cũng phát hiện một pháp sư giết hại ba cô gái còn trinh trắng để luyện thứ bùa yêu này.

Vậy bùa “thiên linh cái” có thật sự đúng như lời đồn đại, chỉ cần quyệt nhẹ mùi hương của nó vào người ai, tức thì người đó mất hết tri giác, nghe theo lời không chút phản kháng, như chứng bệnh “liệu” ?

Cũng theo lời đồn, bùa “thiên linh cái” ngoài công dụng bắt đối tượng phải nghe theo người sử dụng, thuộc vào dạng “bùa mê thuốc lú”, nó còn có tác dụng quấy rối tình dục để đối tượng dễ dàng sa ngã vào vòng tay người khác giới.

A/- Bùa mê thuốc lú :

Theo các đạo sĩ chân chính cho biết, có nhiều pháp sư, thầy pháp học được môn bùa này từ các ông Lục thuộc phái thầy tụng (tức thầy cúng, thây pháp). Những ông Lục này thường được mọi người tán tụng là cao tay ấn biết các thuật nhiếp hồn, gọi hồn người chết về trò chuyện, hay luyện ngải tìm trầm, luyện các loại “bùa Lỗ ban”, loại bùa mê thuốc lú, nhất là môn luyện “thiên linh cái”.

Để luyện nó cần có xác một cô gái còn đồng trinh, trên mộ trồng những cây chuối hột; khi cây chuối đơm hoa kết nải tức bắt đầu thu hoạch được thứ bùa yêu này. Tuy nhiên cách luyện bùa không chỉ dễ dàng như thế, bởi hằng đêm họ phải ra nằm ngủ dưới thân cây chuối, từ khi thân chuối chỉ cao hơn nửa thước cho đến khi thân cây đã trĩu nặng những buồng, những nải.

Trong thời gian nói trên, ngoài việc lập trang thờ nạn nhân, hằng ngày còn cúng cơm ba bữa, ban đêm ra ngủ bên thân chuối, ve vuốt thân cây như ve vuốt người vợ đầu gối tay ấp. Thời gian kéo dài đến lúc các trái chuối đã chín vàng.

Còn từ khi cây chuối trổ hoa, mỗi buổi sáng tinh mơ sương mai còn đọng trên các bông, các quay lá, họ phải hứng từng giọt sương cho vào lọ. Các trái chuối chín thì bóc lấy hột phơi khô. Nước sương mai hòa cùng dầu thơm để thành “bùa mê thuốc lú”, còn hột được tán nhỏ thành chất kích dục. Họ còn phải chôn dưới đất đủ 49 ngày để mang âm khí, để trên trang thờ đủ 100 ngày cho có dương khí, mỗi đêm cầu thần niệm chú, như thế mới linh ứng.

Còn trong thực tế rất ít người dám luyện “thiên linh cái”, thứ nhất bởi có thể gây ra án mạng nếu không may mắn tìm được xác nữ đồng trinh vừa qua đời, thứ hai ngày đêm phải sống găn bó với ma quỷ; còn giết người lấy xác có thể dẫn đến hậu quả hồn ma báo oán, làm cho tan cửa nát nhà, tù tội, thứ ba trong luyện bùa còn phải biết các câu thần chú  để đọc hằng đêm v.v…

Nên nhiều người lấy danh nghĩa là bùa “thiên linh cái” hay những thứ bùa ngải khác, nhưng thực chất là dùng y thuật cổ truyền từ các sách thuốc, như lấy sừng lấy pín và tinh hoàn của dê đực, lấy nhủ hoa của dê cái, hay lấy xương cọp nấu thành cao, giết gấu lấy mật, lấy tay gấu làm thuốc tăng lực. Vùng Tịnh Biên tỉnh An Giang, người dân còn đi bắt các loại côn trùng như bò cạp, rắn rết, nhền nhện hùm, tắc kè, bổ củi, sống trong mấy gò đất, bụi rậm quanh triền núi bán cho các đạo sĩ đưa về chế thành “bùa mê thuốc lú”.

Bò cạp trị được bệnh yếu sinh lý cho nam giới, bệnh nhức mỏi cho người già, còn nhền nhện hùm hay con rết trị được chứng thấp khớp, đau thần kinh tọa, với trẻ em nhền nhện trị được cả bệnh hen suyễn.

Thứ nào dùng làm thuốc trị bệnh họ ngâm với rượu, còn thứ chế biến “bùa mê thuốc lú”, tùy theo tính chất của mỗi con vật mà khai thác, như hải mả, đuôi bò cạp phơi khô tán nhuyễn cho uống nhằm tăng cường khả năng sinh lý, dùng valium tán với hoa phù dung để có “bùa mê” v.v…

B/- Bách nhật ngải :

Nói về ngải như loại “ngậm ngải tìm trầm”, theo tương truyền ở vùng phía nam Trung Bộ nước ta, có loại cây có tên gọi “bách nhật ngải” mọc tự nhiên trong rừng sâu, những người đi rừng cho rằng nếu ngậm được cây “bách nhật ngải” – cây ngải 100 ngày – đi rừng không còn sợ thú dữ, không sợ rừng thiêng nước độc, mắt trông thấu xuống lòng đất, có thể biết nơi nào có trầm hương hay kỳ nam.

Nhưng nếu để quá 100 ngày trong miệng mà không nhả, người sẽ mọc lông, mọc đuôi, thành cọp.

C/- Các loại phù chú :

Trong thành phố đất hẹp người đông, tìm cho gia đình môt căn nhà lý tưởng vừa ý theo địa lý phong thủy không dê dàng. Và tính sùng bái thần quyền còn đậm sâu trong tâm linh mỗi người, nên mọi người thường dùng đến phù chú để sửa những căn nhà không hợp hướng hay không đủ sắc khí xét theo dương trạch.

Vào đời tiền Hán bên Trung Quốc đã có tục làm phù, tức dùng thân tre dài sáu tấc tính theo đơn vị xưa (một thước Tàu ngày xưa bằng 40 phân ngày nay), có hai mảnh giống nhau ghép lại. Lúc đó phù có uy quyền, bởi do Hoàng Đế gửi cho mọi người. Sau đó các pháp sư cho rằng thần linh cũng có phù để cho mọi người, nên đặt tên là “thần phù”.

Ban đầu cho xuất hiện loại “đào phù” dùng xua đuổi tà ma, lấy câu chuyện của Quách Phác (đời Tấn, năm 276 – 324) viết trong “Huyền Trung Ký”, kể lại chuyện :

– Phía nam kinh thành có núi Đào Đô, trên núi có cây đào to lớn cành lá xum xuê, và trên đỉnh cây có con gà trời đậu trên đó. Khi mặt trời mọc chiếu vào cây đào, con gà trời liền gáy vang báo hiệu một ngày mới đã đến. Bên dưới gốc cây đào có hai vị thần, bên tả tên Long bên hữu tên Viên. Hai vị thần tay cầm một nhành đào, đợi lúc quỷ dữ đi đêm về qua bất thần giết chết chúng (theo tương truyền, hai vị thần Long Viên còn có tên Thần Đồ và Úc Lũy).

Từ đó loan truyền cành đào trên Đào Đô sơn có thể trừ được tà ma quỷ dữ, bọn chúng khi thấy cây đào, hoa đào, hay trái đào đều muốn lánh xa. Mọi người rất tin nên đổ xô lên Đào Đô sơn chặt lấy cành đào, hoa đào hay trái đào mang về, dùng làm vật trấn loài yêu ma quỷ quái trước cửa nhà.

Các pháp sư làm “đào phù” bằng cách cho vẽ cành đào, hoa đào hay người cầm trái đào tiên, cho dán trước cửa (theo tương truyền Hoàng Thạch Công là người đầu tiên sáng tạo ra “đào phù”). Đến ngày nay vào dịp tết, mọi nhà thường trưng hoa đào, vừa trang trí đón xuân, vừa mang ý nghĩa xua tà đuổi ma.

ần dần có người muốn tờ “đào phù” không chỉ dán trước cửa nhà được năm ba ngày rồi hư hỏng, họ muốn để đạo phù hiện hữu quanh năm cho đỡ tốn kém, nên “đào phù” bắt đầu được làm bằng gỗ đào chỉ to bằng khổ sách, trên mặt khắc hình hai ông “thần giữ cửa” tức Thần Đồ và Úc Lũy, trong “đào phù” còn viết những “câu chú” giản dị, đặt nơi ma quỷ thường xâm phạm, nếu thấy phù phải tránh xa.

Đào phù có 12 miếng, viết từ chi Tý đến chi Hợi, nhà nào thuộc hướng chi nào lấy đào phù theo chi ấy.

Theo các sách, “đào chú” ra đời vào đầu thế kỷ thứ 3 và vào cuối thế kỷ trên đã biến dạng, bởi “đào phù” không nhất thiết phải vẽ trên ván đào, có khi làm bằng lá kim loại, vẽ trên gương, hay trên vải, trên giấy miễn sao giữ được lâu ngày. Bấy giờ không còn gọi “đào phù” mà thay bằng tên gọi “phù chú” hay “bùa chú”.

1/- Phù Trấn Trạch : Trong thuật xem địa lý phong thủy đặc biệt về dương trạch, nếu thấy căn nhà có họa dữ hoặc xảy ra sự việc bất tường, các thầy tướng địa thường dùng một số cách để cứu vãn, nhằm hóa hung thành kiết, gặp dữ hóa lành.

Theo Dũ Tín trong cuốn Dũ tử sơn tập – Tiểu nguyên phú, có câu “Dùng mai thạch trấn trạch thần, dùng gương soi trấn sơn tinh” (là 2 loại dùng trừ khử các ác thần).

Thông thường phù chú được viết trên giấy thô màu vàng, dùng để đeo trong người hay treo dán trước cửa nhà, hoặc để trong nhà, chôn xuống đất trừ họa tai.

– Loại phù “Ngũ nhạc trấn trạch” gồm 5 loại, chia ra trung tâm và bôn hướng Đông Tây Nam Bắc, khi gia chủ bất an hoặc thấy bất lợi về mặt vật chất hay tinh thần, dùng một trong năm loại phù này mà dán ở tâm cửa ra vào .

– Phù “Thập nhị niên thổ phủ thần sát” gồm 12 lá, từ Tý đến Hợi. Khi xây dựng nhà phạm phải thổ thần, hung thần, dùng ván gỗ cây đào để vẽ phù, đặt ngay chỗ phạm.

– Phù “Tứ phương thổ cấm tính thoái phương thần”, gồm 4 loại :1- Hợi – Tý – Sửu (Bắc, Đông Bắc), 2- Tị – Ngọ – Mùi (Nam, Tây Nam), 3- Thân – Dậu – Tuất (Tây, Tây bắc) và 4- Dần – Mão – Thìn (Đông, Đông Nam), có nghĩa dán ở phương nào thì quỷ thần phương đó phải lánh, vì đã do Thần Đất ngự trị, cai quản. Khi phạm “tam sát hung thần” dùng ván đào viết chữ son đặt vào nơi phạm (hình 1).

– Ngoài ra còn có các loại phù trấn khác như “Trấn hành niên kiến trạch thần” (tức yểm năm xây dựng xấu), trấn tám vị trí quái hào phản nghịch, trấn thân phòng tương khắc (vợ chồng thường hay xích mích), thôn phù Thượng lương v.v…

Các loại phù trấn trạch, ngày trước được vẽ trên ván đào mực chu sa, có kích thước nhất định, như rộng một thước hai (thước Tàu) hợp cho loại “Trấn trạch thập nhị thổ phù thần sát”, cao một thước hai phạm ác thần nào khớp với 12 Địa Chi hay 24 phương hướng.

Trên ván các thầy tướng địa có khi thêm chữ Thiện hoặc Phúc, tùy theo ngôi nhà phạm phải ác thần nào. Khi vẽ xong thần phù, phải chọn giờ mà treo. Đa số cho rằng ngày 8 tháng 4 âm lịch, giờ Thìn, là tốt cho các loại thần phù, treo ngay cửa ra vào.

Còn phù “Thượng lương” (hình 2) trước đây gọi là thôn phù, treo vào giờ Dần, ngày Dần, trong tháng; treo ngay giữa cây đòn giông (cây đà ngang, ngay giữa nóc nhà), loại này các thầy tướng địa ít sử dụng, chỉ bên các tu sĩ, các thầy cúng, các thợ xây dựng sử dụng, vì cho rằng phù Thượng Lương thuộc bùa tổng hợp, trừ được các ách tật, nạn tai trong nhà, từ quẻ tiên thiên hoặc hậu thiên bát quái mà hình thành. Phù được viết mực son trên giấy lụa hay vải màu vàng, ngày nay nhà được xây dựng bằng bê tông, nên phù Thượng lương bát quái được vẽ trên gương treo đặt trước cửa chính ra vào.

Nói về gương phù, ngoài phù Thượng lương, còn có gương Bạch hổ dùng để trấn yểm khi nhà ở ngã ba, nhà đối diện có cây đà chỉa vào tâm nhà, hay ở trước miểu, chùa, những nơi thờ tự v.v…

Hiện nay nhiều căn nhà có xu thế thay vì dán phù chú trước cửa nhà mang đầy tính mê tín dị đoan, người ta dựng bằng hai con chó đá, hay long, lân, quy, kình ngư trên nóc nhìn về trước, bên trong có yểm bùa. Công dụng như những lá phù chú nói trên, lại có thẩm mỹ.

2/ Hình Thức Bùa Chú : Thật ra các loại phù chú dùng trừ khử tà ma, sửa chữa nhà không hợp hướng, hoặc trừ những giấc mộng dữ, không có gì là huyền bí, nếu mọi người biết nguyên tắc mà các pháp sư, các nhà tướng địa khi vẽ trên lá bùa.

Như đã nói, đầu tiên phù được làm bằng gỗ đào rồi được vẽ hình hai vị Thần Đồ và Úc Lũy, theo tích truyện cây đào trên núi Đào Đô, cùng mấy câu “thần chú” thích hợp cho từng hoàn cảnh (chữ Hán) rồi được mô tả là “câu quyết trừ tà” có từ pháp thuật do các vị thần linh truyền lại.

Về sau để phù chú mang tính huyền bí, mọi người không thể hiểu trên đó viết những gì mà có pháp lực phi phàm, các pháp sư đã thay đổi hình vẽ hai vị thần bằng biểu tượng hoặc bằng hình Bát Quái tiên thiên hay hậu thiên, và các câu “thần chú” thay vì viết bằng chữ Hán nay viết qua chữ Phạn, theo lối chữ thảo, kéo dài ngoằng ngèo như rồng bay rắn lượn, đầy tính huyền hoặc như mật mã để không ai còn đọc được.

Đến nay các pháp sư, thầy cúng chỉ biết đến tên của lá bùa, khi hết lại sao y làm nhiều bản khác, đôi khi thành “tam sao thất bản”. Còn tâm lý người sử dụng khi thấy tờ phù chú càng huyền hoặc lại càng sùng bái, tin tưởng hơn.

 Hơn nữa khi các tờ phù chú, có khi được vẽ lộng kính, hay trên những tấm thép lá mỏng, tới tay mọi người, các pháp sư còn cúng khai khuông trừ tà, và chờ ngày lành tháng tốt đem “khai quang điểm nhãn” mới được cho là thần linh đã nhập giữ được cửa nhà.

 Để giải ác mộng, tai ương hay bùa ngải, các tờ phù chú được gấp nhỏ, để vào những nơi như bóp (ví), dưới gối, còn trẻ em thì cho vào một bao vải nhỏ có dây ngũ sắc để đeo vào cổ trước khi đi ngủ. Các chùa chiền thường cho tín đồ hay khách hành hương những lá bùa “Trì chú” (hình 3) để trấn áp các chuyện trên.

Người Nhật cũng hay dùng bùa chú khi gặp những điều xui rủi, để được “chuyện dữ hóa lành”. Khi giải trừ, họ thường niệm thần chú những câu sau đây :

– “Hách hách dương dương, nhật xuất Đông Phương, đoạn tuyệt ác mộng, tịch trừ bất tường”

Sau đó nhìn hướng đông (mặt trời mọc), chủ ý nhìn vào hướng có dương khí, thở hít vào. Khi thở ra nhìn về hướng bắc. Làm đi làm lại nam bảy lần, nữ chín lần, hít thở dương khí như thế để trừ vận rủi.

Người Nhật cho rằng “câu thần chú” này do Quản Lộ đời Tam quốc (vào năm 224 – 246) viết ra từ bí pháp do Hoàng Đế để lại.

Thiên Việt (trong cuốn “Almanach Tâm Linh” sắp xuất bản)

LỄ HỘI MA QUỶ KUKERI

“RÙNG MÌNH” VỚI

LỄ HỘI MA QUỶ KUKERI

LÚC ĐÊM KHUYA

Những người yếu tim sẽ không cảm thấy dễ chịu chút nào khi bị các con “ma giả” này quấy rối vào buổi đêm…

Hàng năm, cứ tới ngày 31/10, hầu hết những người dân châu Âu và châu Mỹ đều chào đón lễ hội ma quỷ lớn nhất trong năm – lễ hội Halloween. Còn với những người dân Đông Âu, nhất là với người Bulgaria, họ cũng có một ngày lễ tương tự như vậy : đó là lễ hội Kukeri.

Kukeri là một nghi lễ cổ xưa, ra đời từ thời Thracia cổ đại, nhằm thể hiện sự tôn thờ với vị thần Dionysus – thần bảo hộ cho xứ sở, cũng là thần rượu nho, thần sinh sản và tái sinh trong thần thoại. Người ta quan niệm rằng, tiến hành nghi lễ này sẽ giúp xua đuổi tà ma và mang lại một năm an lành cho toàn thể mọi người.

Người xem sẽ thấy rợn người trước các bộ trang phục của những người tham gia. Đây cũng chính là điểm nổi bật, hấp dẫn của nghi thức ma quỷ này. Trong ngày diễn ra lễ hội, người Bulgaria mặc lên người những bộ quần áo bằng da thú, đeo những chiếc mặt nạ gỗ cực kì đáng sợ có thể cử động, quấn quanh người chiếc chuông nhỏ kêu lách cách.

Họ còn trang bị những vật dụng khác như kiếm, đao, lá húng quế cùng những tấm da dê, hóa thân mình thành các “con quỷ” dữ tợn, nhảy múa khắp đường phố. Các bộ trang phục đều có một đặc điểm chung là chiếc sừng trâu – biểu tượng thiêng liêng của thần Dionysus.

Theo truyền thống, hầu như chỉ có con trai tham gia vào lễ hội này nhưng giờ đây, ngay cả những cô gái cũng rất gan dạ, hòa mình cùng buổi lễ. Khi tham gia nghi lễ, họ không được phép tiết lộ danh tính của mình cho bất kì ai. Với họ, chiếc mặt nạ quỷ khổng lồ chính là nơi để ma quỷ bám vào và sau khi lễ hội kết thúc, nó sẽ bị vứt bỏ để tránh tà ma.

Lễ hội sẽ bắt đầu vào buổi đêm. Tất cả những người tham gia – gọi là Kukeri – đổ ra phố. Họ cùng nhau nhảy múa trên mọi nẻo đường quanh xóm làng và ghé thăm bất cứ nhà nào họ muốn. Họ đóng giả làm những con ma hay quỷ đi lại vào ban đêm với quan niệm : không được lang thang vào buổi sáng vì sợ “Mặt trời bắt được”. Với những người yếu tim, hẳn sẽ không thấy dễ chịu chút nào nếu bị các con “ma giả” này quấy rối lúc đêm khuya.

Sau phần nghi thức nhập lễ này, người ta bầu ra một Kukeri đứng đầu như là thủ lĩnh rồi cùng tập trung tại quảng trường lớn của thành phố. Tiêu chí lựa chọn Kukeri đứng đầu là bộ trang phục của anh ta ghê rợn và công phu nhất, gồm da sống của 7 loài vật – thứ đã cho anh ta thêm sức mạnh để lãnh đạo. Khác với những Kukeri khác, Kukeri đứng đầu được sơn một vạch đen ở mặt nạ và phải đội một cái mũ lớn hình “của quý” đàn ông lớn, thể hiện khả năng sinh sản dồi dào và khỏe mạnh. Người này sẽ có nhiệm vụ quan trọng khi trực tiếp được cử ra tiến hành một số nghi lễ theo như truyền thống xưa.

Trong suốt quá trình diễn ra nghi thức huyền bí, Kukeri đứng đầu có nhiệm vụ là người đại diện cầu lễ sinh sản, sức khỏe, may mắn cho cả làng. Sau lễ, ông đến thăm từng nhà, cọ sát người lên sàn nhà của mỗi gia đình, phát cho họ bánh mì và rượu vang như một cách để phân phát sức khỏe may mắn.

Tiếp đó, Kukeri đứng đầu mang một cái cày theo và khi bắt đầu kéo, ông sẽ phải chết… giả vờ. Những người phụ nữ lúc này tiến đến gần và gieo hạt giống xung quanh chỗ Kukeri đứng đầu “chết”. Và thật kì lạ, Kukeri đứng đầu sẽ sống dậy, nhảy múa và rung những chiếc chuông ở thắt lưng, hoàn tất sự tái sinh – một quyền năng đặc biệt của thần Dionysus.

Phần nghi thức của lễ hội đến đây là kết thúc: sau cả một ngày khoác lên mình những trang phục đặc biệt, Kukeri đứng đầu sẽ chôn 7 tấm da của 7 loài vật trên người ra 7 mảnh đất khác nhau trong làng, nhằm phát tán sự may mắn ra toàn bộ ngôi làng. Cái mũ đặc biệt của ông được trao lại cho một người đàn ông không có con trong làng.

Lúc này, các Kukeri vẫn với bộ trang phục đặc biệt, có phần đáng sợ của mình sẽ cùng tập trung ở quảng trường lớn, nhảy múa, hát những bài ca truyền thống cho tất cả mọi người, gồm cả khách du lịch xem. Họ chơi đùa, nhảy múa cùng nhau trong suốt một ngày, làm không khí trở nên náo nhiệt hơn bao giờ hết.

Đây quả thật là một nghi lễ huyền bí và mang đậm màu sắc tín ngưỡng. Người ta còn phát hiện ra tàn tích của lễ hội này tại một số quốc gia như Serbia, Romania, Tây Ban Nha hay Ý.

NHỮNG CON MA KINH DỊ

TRONG TRUYỀN THUYẾT

NHẬT BẢN

Bên cạnh những con ma đáng sợ thì cũng tồn tại những chú ma vô cùng đáng yêu…

Nói đến ma quỷ, chắc hẳn bạn sẽ sởn gai ốc và nhớ về những câu chuyện ma kinh dị, về các con ma đáng sợ của người bạn xứ hoa anh đào. Chúng ta cùng điểm mặt những con ma nổi tiếng trong truyền thuyết Nhật Bản dưới đây nhé !

1/. Oni – nụ cười ác độc : Oni có gương mặt ác quỷ với 2 sừng dài, đôi mắt lồi, với nụ cười ác độc để lộ những cái răng nanh sắc nhọn cùng mái tóc xõa. Thân hình chúng có màu đỏ, xanh dương hoặc đen, thường quàng khăn da hổ và cầm một chiếc chùy sắt. Chúng câm lặng, hung ác và hiểm độc.

2/. Rokurokkubi – thiếu nữ duyên dáng với cái cổ dài : Chúng là những con yêu nữ với cái cổ dài và mềm dẻo, linh động. Chúng trông như người bình thường vào ban ngày, nhưng vào ban đêm, chúng vươn dài cổ ra để bí mật theo dõi và khiến mọi người hoảng sợ. Rokurokkubi cũng có khả năng biến khuôn mặt thành những gương mặt quỷ đáng sợ để tăng thêm vẻ đẹp “khủng khiếp” của mình.

3/. Yuki Onna – bóng trắng trong đêm tuyết phủ : Yuki Onna là một phụ nữ tuyết, thường xuất hiện trong bộ kimono trắng toát vào những đêm có bão tố. Cô chỉ cần hà hơi lên mặt của những lữ khách lạc đường là họ sẽ lạnh cóng tới chết. Mặc dù mang tiếng là rất độc ác, nhưng bản thân nàng cũng cô đơn và lạnh lẽo như tuyết vậy.

4/. Hitosume – yêu tinh 1 mắt : Là yêu tinh 1 mắt, theo nghĩa đen là có 1 con mắt lớn ngay giữa mặt. Nó trông giống như cái đầu cạo trọc của thầy tu. Nó không gây ra những trò bịp bợm, nhưng vẫn làm con người kinh sợ.

5/. Tengu : Tengu là một loại quỷ có cái mũi rất dài và mặt đỏ. Nó thường mặc một bộ quần áo của yamabushi (thầy tu sống ở trên núi) và đi một đôi guốc gỗ rất cao. Tengu có sở thích là bắt cóc trẻ em và phụ nữ.

6/. Kappa : Kappa có hình dạng giống khỉ hoặc ếch hơn là giống người. Điểm đặc trưng của loài thủy quái này là có một cái đĩa trên đầu để đựng nước, chừng nào cái đĩa còn đầy nước thì Kappa còn sức mạnh. Nó có mũi khoằm, mắt tròn, 4 chi có màng. Chúng sống ở cả trên bờ lẫn dưới nước, chuyên dìm chết nạn nhân sau đó hút hết nội tạng.

7/. Kuchisake Onna – người đàn bà bị rạch miệng : Một người đàn bà đi chơi lang thang trong đêm với khuôn mặt được che kín. Khi gặp một ai đó bà ta sẽ bẽn lẽn hỏi: “Trông tôi có đẹp không ?”. Nếu người đó nói có, bà sẽ bỏ mạng che ra, để lộ cái miệng bị rạch nát và hỏi lại câu hỏi đó. Nạn nhân thường sẽ bỏ chạy và la hét, Kuchisake Onna sẽ đuổi theo, nếu tóm được: nam sẽ bị giết và nữ sẽ bị biến thành một Kuchisake Onna khác.

8/. Noppera Bou – ma vô diện : Con ma này chủ yếu chỉ dọa dẫm con người, còn ngoài ra thì vô hại. Đầu tiên, chúng xuất hiện như những người bình thường, đôi khi đóng vai một người giống với nạn nhân, sau đó chúng sẽ từ từ khiến các bộ phận trên mặt biến mất, để lại một khuôn mặt trống trơn trên một nền da mịn, không mắt, không mũi, không mồm.

9/. Baku – yêu quái ăn giấc mơ : Baku là một con yêu quái tốt bụng trong thần thoại Nhật Bản. Đúng như tên gọi của mình, chúng ăn những giấc mơ, đặc biệt là ác mộng.

10/. Kerakera Onna và những tràng cười rùng rợn : Con ma kì quặc với những tràng cười rùng rợn này tên là Kerakera onna. Đối với một số người, không gì tồi tệ hơn việc bị cười vào mặt, với họ, một con ma suốt ngày chỉ biết cười như Kerakera Onna là loại ma kinh khủng nhất. Nhưng đồng thời, Kerakera Onna cũng được rất nhiều người yêu mến, vì họ cho rằng nó mang đến tiếng cười, niềm vui cho mọi người.

11/. Teru Chan – sinh ra trong ngày mưa : Đây là con ma vô cùng đặc biệt. Cứ ngày mưa, nó sẽ hiện ra để chuyện trò cùng bạn…

12/. Karakasa – Ma ô : Karakasa là một kẻ chuyên đi lừa gạt và rất thích dọa nạt con người. Tuy nhiên, chúng cũng rất thích chơi đùa. Chúng sẽ rất hạnh phúc khi được chơi với bất cứ ai, đặc biệt là những người có vẻ ngoài trẻ con. Karakasa rất thích bay lượn lòng vòng trong những ngày trời mưa.

QUÁI THÚ NHẬT BẢN

“XẤU NHƯ MA CẤU,

TÍNH TÌNH NHƯ TRẺ CON”

Loài “tiểu yêu” tên Kappa này khá đáng sợ nhưng lại có tính cách vô cùng thú vị ! Nền văn hóa Nhật Bản đa dạng và phong phú luôn là chủ để cực kì thu hút các bạn ham mê tìm hiểu.

Hôm nay, chúng ta sẽ vào một khía cạnh nhỏ, một nét độc đáo trong tiềm thức văn hóa dân gian của đất nước Mặt trời mọc qua quái thú Kappa – con vật kì lạ với tính cách cực kì… trẻ con !

Kappa, thoạt nghe có vẻ giống một hãng thời trang khá nổi ở Ý thế nhưng đối với người Nhật, nhất là các em nhỏ, đó lại là một con quái thú đáng sợ một cách… thú vị. Nó là một loài thủy quái không có thực, do sự tưởng tượng của người Nhật mà hình thành. Trong tiếng Nhật, Kappa là tên gọi tỉnh lược của Kawa wappa, đôi khi được gọi là Gataro, hay Suiko (Hổ nước).

Vậy mặt mũi hình dạng của Kappa ra sao mà mọi người Nhật lại sợ nó đến vậy ?

Theo như truyền thuyết dân gian, Kappa là loài tiểu yêu, kích thước cỡ bằng đứa trẻ lên 5-6, nặng tầm 20kg, thân hình giống tinh tinh, toàn thân màu xanh xám thay đổi màu sắc theo môi trường, đầu bờm xờm, trên đầu có một cái đĩa màu đỏ hình bầu dục để đựng nước. Người Nhật kể rằng khi nào trên cái đĩa ấy còn đầy nước thì chừng đó Kappa vẫn còn sở hữu sức mạnh ghê gớm, nó được dùng khi Kappa lên trên cạn kiếm ăn. Mũi Kappa dài khoằm, mặt và mắt tròn, nhìn từ phía trước trông giống con hổ, đây là nguồn gốc cái tên Suiko của chúng. Kappa có 4 chi, mỗi chi gồm 5 ngón có màng, bụng có túi đựng đồ vật, thân thể có mùi tanh như cá. Mới nghe thôi đã thấy ghê ghê, phải không nào ?

Kappa là thủy quái song lại có thể sống cả ở trên cạn lẫn dưới nước. Tuy nhiên, về cơ bản chúng ưa thích cuộc sống ẩm ướt ở các sông, hồ, ao, kênh đào. Chúng là loài bơi cực giỏi, lặn rất sâu; hình ảnh chúng ăn sâu vào tâm thức người Nhật đến nỗi những ai bơi giỏi sẽ được ví “bơi giỏi như Kappa” hay nếu chẳng may bơi giỏi mà chết đuối thì sẽ là “kappa-no-kawa-nagare” nghĩa là “Đến Kappa còn chết đuối”. Khẩu vị của Kappa khá lạ: chúng thích ăn trứng, táo, dưa chuột và gan… người nữa. Các con Kappa giao tiếp với nhau bằng những tiếng quắc quắc. Sao lại giống loài vịt thế các ấy nhỉ ?

Kappa nổi tiếng bởi hành vi và tính cách trẻ con hiếm có của loài quái thú này. Trong văn hóa Nhật Bản, Kappa là kẻ gây ra vô cùng nhiều rắc rối. Chúng cư xử như những đứa trẻ : nếu trêu chọc chúng, chúng sẽ khóc òa lên còn ngược lại nếu đối xử tốt, đôi khi chúng lại giúp đỡ con người. Song có rất ít trường hợp này xảy ra bởi cơ bản Kappa là kẻ đầu têu những trò phá rối đáng sợ. Chúng rất thích dọa và bắt cóc trẻ con, tốc váy kimono của phụ nữ, kéo chân nhiều người xuống nước. Đến tận hôm nay, nhiều trẻ em khi đi tắm sông, ao, hồ thường có thói quen vứt một quả dưa chuột xuống nước với mong muốn là Kappa sẽ không làm phiền mà trêu chọc hay bắt cóc chúng.

Hình ảnh đáng sợ của Kappa đã ăn sâu vào văn hóa người Nhật. Năm 1910, một cuốn sách nổi tiếng đề cập đến Kappa và bản tính hung hăng của nó có tên Tono Monogatari (huyền thoại vùng đất Tono) đã ra đời mà tác giả là nhà văn hóa học dân gian Yanagida Kunio. Từ đó, vùng hồ Tono luôn là một điểm du lịch nổi tiếng thu hút du khách, nhất là những người tin vào truyền thuyết và mong muốn được nhìn Kappa bằng xương bằng thịt một lần trong đời.

Bên cạnh đó, một số địa danh khác mà những người biết Kappa ham thích đó là vùng Mito hay sông Oise gần Nagoya. Thậm chí, ẩm thực Nhật Bản còn có một món ăn là kappa maki (sushi cuộn dưa chuột). Quái thú còn xuất hiện trong nhiều truyện ngắn hay phim hoạt hình Nhật Bản. Và đặc biệt, Kappa là nhân vật chính trong tiểu thuyết trào phúng xuất sắc mang tên Kappa của nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryunosuke.

Khách Giang Hồ post

NHỮNG CÁCH GỌI MA CẦU QUỶ

1/- Cầu cơ :

Chuẩn bị : tờ giấy to viết lên đó những chữ cái, kể cả dấu má

Vẽ một vòng tròn ở tờ giấy. Phía trên vòng trong vẽ 1 ô vuông đề : CÓ. Dưới vòng tròn vẽ 1 ô vuông khác đề: KHÔNG

Các ô khác viết chữ cái và các con số (0-9), cộng với dấu (,.?`~ ‘) vẽ xung quanh
Một chiếc chén nhỏ không có quai cầm, tốt nhất là chén dùng để thắp hương trên bàn thờ (nếu không dùng 1 chén khác màu trắng, chấm 1 hạt chu sa làm miệng chén) Cần ít nhất 2 người để tham gia cầu cơ.

– Cách làm : Bốn người đặt một ngón tay vào chén (lúc này chén phải được hơ qua lửa, úp chén vào vòng tròn giữa giấy). Lần lượt từng người gọi “hôm nay ngày… tháng… năm… Chúng con là….. bao nhiêu tuổi…. ở đâu… Chúng con thành tâm mời thần chén về có việc xin thần chén giúp đỡ. Nếu thần chén đồng ý thì cho chén chạy về chữ CÓ, nếu không thì chạy về chữ : KHÔNG”

Nếu các bạn may mắn thì chén sẽ chạy rất nhanh, có khi rất lâu. Nếu thấy chén có dấu hiệu chạy, hay lắc chậm, đừng nghĩ là do ai đó đẩy, cười, nếu không chén sẽ dừng lại và rất lâu mới chạy. Khi chén nhích dần về chữ CÓ. Các bạn hãy hỏi một vài câu nào đó kiểm chứng như tên bố mẹ bạn hay gì gì đó (số đề chẳng hạn). Sau đó việc hỏi gì là quyền của ban.

Trong khi cầu cơ nếu bạn yếu bóng vía bạn sẽ nhìn thấy… ma. Nếu bạn cao vía thì không thấy đâu. Việc cầu cơ này rất nguy hiểm cho những ai yếu bóng vía, nên những người yếu bóng vía tôt nhất đừng nên thử

2/- Cách gọi ma đói

Ma đói là những người chết đường, chết chợ linh hồn không về được nhà, cũng không được siêu thoát, vất vưởng bờ bụi. Không ai cúng tế nên gọi là ma đói.

– Chuẩn bị : 2 bát cơm, một bát canh. Một lọ cắm hương. Thẻ hương. Hai ngọn nến
và bát không, đũa (tùy thuộc vào số người, mỗi người 1bát, một đũa).

– Cách gọi : Ra chỗ ngã tư ,thắp nến, thắp hương lên. Dùng đũa gõ vào bát. Dần dần bạn sẽ thấy được ma đói đến bốc cơm ăn. Bạn phải gõ liên tục như thế ma mới không nhìn thấy bạn. Nếu bạn dừng lại sẽ rất nguy hiểm …..

3/- Cách thứ 3 : Mèo đen tìm ma

Chuẩn bị : ít nhất phải có 5 người. Một con mèo đen

Cách làm : Đến một chỗ đất có nhiều cây, buổi tối, chơi trò chơi trốn tìm, người phải đi tìm ôm con mèo đen trên tay. Sau đó đi tìm mọi người. Chắc chắn nếu chơi nhập tâm thì sẽ không tìm thấy 1 người vì người đó bị ma che mất. Nếu muốn tìm thấy người đó hãy thả con mèo đen ra. Nó sẽ dẫn bạn đến chỗ người đó.

4/ Cách 4 : 12h đêm chải đầu trước gương, vừa chải vừa gọi tên con ma mình muốn gặp.

5/- Cách ngủ trong quan tài : Mặc đồ người chết, ngủ trong áo quan, thắp hương, nhờ bà đồng cúng khấn. Bạn có thể đến thế giới người chết, thời gian bạn có là thời gian que hương cháy hết. Bà đồng sẽ dùng chuông để gọi bạn. Nếu lúc đó bạn không về kịp thân xác thì bạn… die

Xuân Mai post