TỪ HY THÁI HẬU “SỐNG & CHẾT”

BÍ ẨN KỲ LẠ

3 LẦN NHẬP QUAN

CỦA TỪ HY THÁI HẬU

Được xem là người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa – nơi vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề, Từ Hy Thái hậu đã viết nên một trang sử mới cho lịch sử gần 5000 năm của đất nước rộng lớn này. Không chỉ được người đời nhớ đến khi còn sống, Từ Hy còn được ghi vào sử sách Trung Quốc về một đám tang chẳng giống ai và thi hài 3 lần nhập quan mà vẫn chưa được an nghỉ.

Đám tang “đông tây lẫn lộn”

Cuộc đời của Từ Hy Thái hậu gắn liền với triều đại Mãn Thanh – triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa đang trong giai đọan suy tàn và khủng hoảng tột độ. Từ một mỹ nữ trong dân dã được chọn vào cung làm quý nhân, rồi từ địa vị quý phi nhảy lên ngôi thái hậu, thâu tóm quyền lực, gây bao tội ác. Vì thế đến khi từ giã cõi đời, Từ Hy cũng đã chết trong cô độc khi bá quan văn võ không một ai dám động vào xác của bà.

Vào một ngày tháng 10 năm 1908, Từ Hy Thái Hậu đã trút hơi thở cuối cùng khi công trình lăng tẩm của bà vừa hoàn thành trước đó đúng 4 ngày, sau 13 năm xây dựng đằng đẵng. Cũng giống như các hoàng hậu và phi tần khác của triều đình Mãn Thanh, Từ Hy được chôn cất tại Đông Lăng – nghĩa trang hoàng gia của hai triều Minh, Thanh nằm trong thành phố Tuân Hóa tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Qua 272 năm tồn tại, Đông Lăng là nơi an nghỉ thiên thu của 5 vị hoàng đế, 15 hoàng hậu, 136 phi tần… Từ Hy Thái hậu cũng nằm tại đây bên cạnh những tiền bối lừng danh như hoàng đế Khang Hy, Càn Long, Hiếu Trang hoàng hậu…

Mặc dù nền văn minh của thế giới đã đến Trung Quốc vào cuối thế kỷ 19, nhưng là một người của hoàng tộc nên đám tang của Từ Hy vẫn diễn ra theo đúng truyền thống và quy định của hoàng gia. Tuy nhiên, một điều cực kỳ lạ lùng là ngoài những vật phẩm bằng vàng mã truyền thống ra, người ta còn cho đốt rất nhiều những loại vàng mã chưa bao giờ xuất hiện tại các đám tang ở Trung Quốc khi đó như : tiền giấy, đồng hồ, tủ… cho vị Thái hậu này.

Trước khi tang lễ được cử hành tưng bừng 2 ngày, theo lệnh của Từ Hy, Lý Liên Anh – thái giám thân cận nhất của vị thái hậu này đã cho đốt hàng trăm đội quân bằng giấy nhằm để dẹp đường và bảo vệ Từ Hy khi xuống… âm phủ. Khác với những đoàn binh sỹ trong triều đình, đội binh sỹ dẹp đường lần này cho Từ Hy vô cùng đặc biệt, họ đều mặc đồ tây và ôm súng khư khư trước ngực. Nhiều quan chức trong triều đình khi đó còn mỉa mai rằng : “Phải bồng súng thì xuống âm phủ mới có thể chiến đấu được với binh lính đến từ phương Tây” (?)

Trong đám tang đình đám vào năm đó, chiếc quan tài của Từ Hy được đặt trong một chiếc xe kéo lớn trang trí cực kỳ tinh xảo và cầu kỳ diễu qua khắp các con phố của thủ đô Bắc Kinh. Đi đầu đám tang là một nhóm kỵ binh mặc quân phục hiện đại, tiếp đến là một đoàn ngựa bạch nhỏ và hàng trăm binh lính đi sau để đổi nhau khiêng quan tài. Đằng sau nữa còn có một nhóm kỵ binh tay cầm giáo dài có treo những lá cờ màu đỏ và nhóm kỵ binh mang súng. Họ đều là người của cấm vệ quân triều đình. Sau cùng là đoàn nô tì mặc quần áo đỏ và cầm những lá cờ đủ màu sắc cũng như những dải lụa treo rủ. Đoàn người cầm cờ nhiều tới mức khiến người ta tưởng rằng, tất cả số cờ trong hoàng cung đã được đem ra để đưa tiễn Thái hậu…

Sau khi tổ chức đám tang với quy mô rầm rộ, Từ Hy đã được an táng tại Đông Lăng. Được biết, công trình này đã xây dựng trong vòng 13 năm với kinh phí lên tới hàng triệu vạn lượng bạc. Không những thế, sau khi chết, đồ bồi táng trong quan tài của Từ Hy là cả một kho vàng bạc châu báu. Đây chính là nguyên nhân khiến cho lăng mộ của bà trở thành mục tiêu săn lùng của những tên đào mộ cướp kho báu khét tiếng sau này.

Mộ Từ Hy và những điều bí ẩn

Là một người rất thích các loại đồ vàng ngọc, trân châu, mã não, đá quý… Vì thế trước khi chết, Từ Hy đã lên kế hoạch đem vào quan tài của mình những trang sức quý giá để nếu có xuống suối vàng thì bà cũng có cái để…  dùng dần. Trong tài liệu lịch sử mà giới sử gia Trung Quốc còn lưu lại đến giờ vẫn còn ghi đầy đủ “kho báu” đã chôn theo Thái hậu Từ Hy vào năm 1908.

Trong bộ sách “Ái Nguyệt Hiên” bút ký do Lý Liên Anh – thái giám thân cận nhất của Từ Hy có ghi chép rõ ràng chủng loại, số lượng, vị trí và giá trị của các đồ tùy táng trong lăng mộ Từ Hy. Theo đó, trong quan tài phía dưới lót bằng gấm quý đan sợi tơ vàng dày 7 tấc, có đính 2.604 hạt trân châu, 85 viên đá quý, 203 miếng bạch ngọc. Phủ trên thi hài Từ Hy là tấm chăn thêu bộ kinh Đà La Ni bằng tơ vàng với 25.000 chữ, trên chăn đính 820 viên trân châu.

Khi nhập liệm, Từ Hy đội mũ phụng quán, trên mũ có gắn một viên trân châu to bằng quả trứng gà, theo giá đương thời là hơn 10 triệu lượng bạc trắng. Trong miệng Từ Hy ngậm một viên minh châu, tương truyền có thể phát sáng trong đêm xa ngoài 100 bước. Trên cổ bà còn đeo 3 xâu chuỗi, trong đó 2 chuỗi bằng trân châu, 1 chuỗi bằng hồng bảo thạch. Thân mình Từ Hy mặc lễ phục dệt bằng sợi tơ vàng; tay cầm một nhánh hoa sen bằng ngọc. Ngoài ra, bên người còn đặt các đồ bồi táng như tượng Phật bằng vàng, ngọc; các đồ bằng san hô, đá quý các loại.

Và để “kho báu” này có thể an toàn nằm trong lăng mộ của mình mà không bị bọn trộm ngó tới, chính Từ Hy đã đôn đốc cho xây dựng lăng tẩm cực kỳ quy mô mang tên “Kim-Mộc-Thạch tam tuyệt” cho riêng bà. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn ở thời điểm đó thì lăng mộ này “bất khả xâm phạm”.

Theo “Thanh sử” ghi chép, chỉ riêng số vàng lá dùng đắp trong 3 đại điện của lăng mộ Từ Hy đã là 4.592 lượng vàng. Tổng cộng có 2.400 con rồng vàng và 64 chiếc cột chạm trổ hình rồng, dơi đều thếp vàng thật. Đó là kim tuyệt.

Những rường cột trong ba đại điện đều làm bằng loại mộc thượng phẩm : gỗ lê hoa vàng. Loại gỗ này nay đã gần như tuyệt tích, rất rắn chắc, vân gỗ dày mà đẹp, về giá cả, có thể nói là “tấc gỗ, tấc vàng”. Riêng quan tài của Từ Hy được chế từ thứ gỗ quý hơn nữa: Nam mộc tơ vàng. Đó là mộc tuyệt.

Tất cả đá dùng trong lăng mộ Từ Hy đều là loại Hán bạch ngọc thượng phẩm, được điêu khắc cực kỳ tinh xảo. 76 trụ trong điện đều chạm hình “Nhất phụng áp song long” – hai phụng đè một rồng, thể hiện quyền uy vô thượng của vị thái hậu này, phá vỡ quy tắc “rồng trên phụng dưới” bao đời. Cho nên mới gọi là thạch tuyệt.

Bí ẩn 3 lần nhập quan

Với một số lượng lớn trang sức và của cải được chôn theo mình, lăng mộ của Từ Hy thực sự đã được yên ổn trong vòng 20 năm đầu tiên. Vào một ngày tháng 10 năm 1928, Tôn Điện Anh – quân đoàn trưởng quân đoàn 12 của Quốc dân đảng đã dùng pháo binh mở đường khai quật lăng mộ Từ Hy. Kết quả là, quan tài của Từ Hy đã bị phá hủy, xác của bà đã bị “quẳng” ra khỏi quan tài và tất cả những gì quý giá nhất đều bị lấy đi một cách thô thiển.

Theo sử sách Trung Hoa còn ghi lại, trong đợt khai quật lần này, Tôn Điện Anh chỉ để lại cho Từ Hy đúng một chiếc quần.. lót trên người.

Được biết, khi quân lính của Tôn Điện Anh dùng dao nạy quan tài Từ Hy ra thì : “Lúc ấy, có một thứ ánh sáng chói lòa, binh sĩ mỗi người cầm một chiếc đèn pin lao tới đều đứng sững kinh ngạc. Nhìn vào quan tài, Tây Thái hậu diên mạo như còn sống, thấy rõ ở ngón tay mọc lông trắng dài cả tấc… Châu báu đầy trong quan tài, cấp bậc lớn thì lấy thứ lớn, quân lính thì lấy thứ nhỏ. Trưởng quan chỉ huy hạ lệnh lột long bào, lấy sạch châu báu trên đó…”.

Tin về Tôn Điện Anh trộm báu vật ở Đông Lăng mau chóng lan ra toàn Trung Quốc, các đoàn thể xã hội liên tiếp gửi điện đến chính phủ Quốc dân Đảng yêu cầu nghiêm trị kẻ chủ mưu trộm lăng. Lúc này, Tưởng Giới Thạch đã hạ lệnh đưa Từ Hy trở lại quan tài và để vào đó những báu vật đã thu giữ được.

Vào năm 1983, một tổ công tác bao gồm 13 người đã được thành lập để tu bổ lại di hài cũng như lăng mộ của Từ Hy. Khi mở quan tài lần này ra, cũng giống như lần đầu tiên, nhà sử học Ninh Ngọc Phúc – người đứng đầu tổ công tác này cho biết : “Lịch sử đã lặp lại khi vừa mở nắp áo quan, một thứ ánh sáng chói lòa đã làm cho các nhà khoa học lúc đó ngỡ ngàng. Di thể của Từ Hy hầu như vẫn còn nguyên vẹn”. Cũng theo ông Ninh Ngọc Phúc, sau khi nhìn thấy hiện trạng, tổ công tác đã báo cáo lên Bộ văn hóa và lịch sử Trung Quốc. Ngay tức khắc, Bộ này đã có thông báo : “Đậy nắp quan tài của Từ Hy và giữ nguyên hiện trạng”.

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ lưu giữ xác của Từ Hy một cách trọn vẹn nhất, vào tháng 4 năm 1984, một lần nữa tổ công tác của ông Ninh Ngọc Phúc đã lại tiến hành mở nắp quan tài của bà Thái hậu.

Trong đợt kiểm tra lần này, tổ công tác đã tìm thấy trong tay phải của Từ Hy có một chiếc túi nhỏ, trong đó có 1 chiếc răng và 2 chiếc móng tay của bà. Đây là những vật phẩm mà vào năm 1928, Tôn Điện Anh đã không màng tới và lấy trộm đi.

Sau khi phun chất sát trùng để tẩy uế, các nhà khoa học Trung Quốc đã tu bổ lại di thể của Từ Hy bằng những vật dụng chuyên môn nhằm giữ nguyên được xác ướp vốn đã hoàn chỉnh của bà. Được biết, mặc dù trên cơ thể của Từ Hy đã xuất hiện nhiều vết nứt, tuy nhiên da của bà vẫn dính chặt vào xương. Vì vậy, tổ công tác đã không cần phải dùng đến dây đặc dụng để “chằng buộc” cơ thể.

Mọi công tác “tu bổ và bảo dưỡng” hoàn thành chỉ sau 1 ngày. Di thể cuối cùng của Từ Hy khi đưa lại vào quan tài có chiều cao 1m60. Tất cả những vật dụng quý như trang sức, áo choàng, trân châu… lấy lại được từ vụ trộm năm 1928 vẫn để y nguyên trong nơi an nghỉ cuối cùng của vị Thái Hậu quyền lực này.

Huỳnh Văn Yên (theo nguoiduatin)

ĐỌC THÊM :

TỪ HI THÁI HẬU

(thâm cung bí sử)

Từ Hy Thái hậu (1835 – 1908) là người nắm quyền lực thực tế của triều đình nhà Thanh hơn 40 năm. Bà cùng với Võ Tắc Thiên được xem như là hai người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa, vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề (trọng nam khinh nữ), trong một thời gian dài. Thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Từ Hy Đoan Hựu Khang Di Chiêu Dự Trang Thành Thọ Cung Khâm Hiến Sùng Hi Phối Thiên Hưng Thánh Hiển hoàng hậu.

Xuất thân

Bà xuất thân từ bộ tộc Mãn Châu Yenonala – Diệc Hách Na Lạp Thi – mới đầu chỉ là một cung tần, nhờ hát hay, khéo nịnh được Hàm Phong yêu, được phong đến chức Lan Quý nhân. Năm 1856, bà sinh một trai, về sau là Hoàng đế Đồng Trị (1861-1875) , từ đó càng được sủng ái.

Nhờ trí thông minh, lại có tính cách mạnh mẽ, bà dần can thiệp vào chuyện triều chính, từ đó sinh ra hách dịch, độc tài. Tương truyền vua Hàm Phong biết trước rằng sau này bà sẽ là một tai họa cho nhà Thanh nên trước khi chết đã để lại di chúc bảo phải giết đi, nhưng viên thái giám Lý Liên Anh cho bà hay rồi hủy di chúc này, giúp đỡ bà đưa Đồng Trị lên ngôi. Lý Liên Anh từ đó thành sủng thần của Từ Hi, tham ô, làm loạn trong cung.

Làm Phụ chính lần thứ nhất

Sau khi Hoàng đế Hàm Phong qua đời, Hoàng hậu Từ An và Lan Quý nhân được triều đình tôn xưng là Từ An Thái Hậu và Từ Hy Thái hậu, và quyết định để cho hai bà làm “thùy liêm thính chính” (rủ mành mành mà nghe việc nước), nghĩa là cùng Phụ chính cho hoàng đế Đồng Trị còn nhỏ tuổi. Hai đại thần Cung Thân Vương và Văn Tường đều là người có năng lực, giúp ý kiến hai bà.

Thái hậu Từ An ít học nhưng đôn hậu, có phẩm cách. Từ Hy học khá hơn, đọc viết chữ Hán được, thông minh, lanh lợi, rất có bản lĩnh, nhưng cũng có nhiều tật : ham quyền thế, dâm dật, xa xỉ, muốn đạt mục đích đến cùng. Bà cũng có tính tình bất thường, lúc thì hiền, rộng lượng, lúc thì tàn nhẫn vô cùng. Do đó dần dần Từ Hi lấn Từ An, quyết định mọi việc. Từ An hiền hậu, nhượng bộ nhiều lần. Năm 1872, Đồng Trị 18 tuổi, hai Thái hậu dự định cưới vợ cho Đồng Trị rồi sẽ thôi thính chính nữa.

Từ An là vợ chính thức của Hàm Phong, vốn không có con, nhưng theo phong tục Trung Hoa, Đồng Trị vẫn đối đãi với bà như là mẹ cả. Đồng Trị lại không ưa mẹ đẻ mà quý Thái hậu Từ An. Do đó mà Từ Hy ghét cả Đồng Trị lẫn Từ An. Tính cách bà lại ham quyền lực, vì vậy tự ý quyết định mọi việc, lũng đoạn cả triều đình. Đồng Trị sinh chán nản, bỏ bê triều chính, thường cùng với một vài hoạn quan ban đêm trốn ra khỏi cấm thành, đi chơi phố phường, có lần về trễ, không kịp buổi triều. Hai năm sau ông chết, sử chép là do bệnh đậu, nhưng dân gian đều cho là do bệnh hoa liễu.

Do Đồng Trị không có con, Từ Hy tìm một đứa cháu trong hoàng tộc, mới bốn tuổi, em con chú của Đồng Trị, đưa lên ngôi, lấy hiệu là Quang Tự. Cũng trong thời gian này, Thái hậu Từ An đã chết một cách bí ẩn, không một người nào hay. Tương truyền bà đã bị Từ Hy đầu độc chỉ vì bắt gặp một nhà sư trong phòng ngủ của Từ Hy. Có thuyết cho rằng, vì Từ Hy biết rằng Thái Hậu Từ An có trong tay một Di Chiếu của Hàm Phong Hoàng Đế là có thể truất phế Từ Hy bất cứ lúc nào nên Từ Hy đã ra lệnh giết Từ An. Từ Hy đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của Từ An để bà trúng độc mà chết. Cái Di Chiếu đó chỉ có Từ An và Cung Thân Vương biết.

Quang Tự còn nhỏ tuổi bị Từ Hy quản thúc chặt chẽ quá, hóa ra khiếp nhược. Kể từ khi lên ngôi vua lúc 5 tuổi, không một người nào – ngay cả mẹ nữa – được phép lại gần, trừ mỗi một người là Từ Hy. Từ Hy “luyện vua” cho tới mức sợ bà như sợ cọp, bảo gì cũng phải nghe. Lớn lên vua Quang Tự mỗi ngày phải vào vấn an bà một lần, mà vấn an thì phải quỳ, cho phép đứng dậy mới đứng.

Thái giám Lý Liên Anh, sủng thần của Từ Hy, cũng ăn hiếp Quang Tự, đối xử vô cùng tàn nhẫn. Xuất thân là kép hát, rất đẹp trai, hát rất hay, được Từ Hy sủng ái, tới mức ông nói gì, bà ta cũng nghe, ông ta tự phụ, tự coi là ngang với bà. Đình thần sợ ông như sợ bà vậy. Quang Tự  cũng phải nhẫn nhịn Lý nhiều lần. Sau vụ Mậu Tuất chính biến, Quang Tự bị giam trong một phòng bẩn thỉu, ăn không được no, mặc không đủ ấm, chịu nhục nhã tới khi chết, một phần cũng là do ý của Lý.

Cuộc vận động tự cường (1862-1882)

Trước chiến tranh nha phiến, Mãn Thanh tự hào là Thiên triều, xem thường các nước Tây phương là ngoại di. Sau khi liên quân Anh – Pháp đến Bắc Kinh, buộc phải ký điều ước nhục nhã với họ, nhà Thanh mới chịu nhận rằng bọn ngoại di đó mạnh hơn mình nhiều, và muốn chống cự với họ thì phải có tàu bè như họ, súng ống như họ, quân đội phải luyện tập theo lối của họ. Vài người Mãn như Cung Thân Vương, Quế Lương nghĩ đến việc tự cường, bàn với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Tả Tông Đường. Họ đồng ý với nhau rằng “muốn tự cường thì việc luyện binh là quan trọng nhất, mà muốn luyện binh thì trước hết phải chế tạo vũ khí giới”. Năm 1862 họ giao cho Lý Hồng Chương thi hành.

Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương tiếp xúc với Ung Wing, một sinh viên nghèo ở Ma Cao và là du học sinh đầu tiên ở Mỹ, do một hội truyền giáo trợ cấp, năm 1854 đậu bằng cấp ở ĐH Yale. Tăng Quốc Phiên phái Ung Wing qua Mỹ mua máy. Ông này thuyết phục Tăng Quốc Phiên gởi 120 thanh niên đi du học. Một số lớn qua Mỹ, ba chục người sang Anh, ba chục qua Pháp, một số nhỏ qua Đức.

Phong trào tự cường tiến chậm, chủ yếu là nhắm vào quốc phòng mà thôi, chưa phải là một cuộc cải cách lớn. Nhưng nhóm thủ cựu nổi lên phản đối, cho Lý Hồng Chương là Hán gian, theo Tây phương, làm cho Trung Quốc hóa ra di địch. Họ họp thành một phe không bao giờ bàn tới học thuật Tây phương, tự cho mình là thanh cao. Dân chúng thì đại đa số vẫn cày cấy để kiếm cơm ăn, việc nước không hề biết tới. Có một người sáng suốt là Wong Tao học giỏi chữ Hán, xuất bản một nhật báo riêng, sau hợp tác với một tờ báo của người Anh ở Thượng Hải nữa (1872). Ông cảnh báo nhà cầm quyền rằng công cuộc tự cường không có kết quả được vì chỉ trị ngọn chứ không trị gốc. Phải thay đổi cả chế độ mới được. Nhưng triều đình Thanh thì vẫn không chấp nhận.

Chính biến Mậu Tuất (1898)

Sau vụ Trung Nhật chiến tranh, thấy một nước lớn như Trung Quốc mà bị một nước nhỏ xưa nay mình vẫn khinh khi là Nhật Bản đánh thua, người Trung Hoa nhận ra rằng công cuộc tự cường hơn hai chục năm không có kết quả gì cả, vũ khí không đủ để cứu nước, phải cải cách từ gốc, thay đổi chế độ, như Wang Tao đã cảnh cáo thì mới được. Họ cổ vũ canh tân chính trị, tổ chức lại điều đình, giảm phung phí trong xã hội, bỏ hệ thống khoa cử cũ, tuyển nhân tài theo cách mới… Do đó mà có cuộc vận động duy tân (đổi mới) khắp trong nước.

Hai người đề xướng là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, đưa ra khẩu hiệu là “toàn biến, tốc biến” (thay đổi triệt để và mau). Lương Khải Siêu làm đại biểu cho một nhóm 190 cử nhân Quảng Đông lên kinh thi, dâng thư lên triều đình bàn về thời cuộc. Khang Hữu Vi cùng nhóm 3.000 cử nhân khác dâng thư xin biến pháp. Rồi hai nhóm họp làm một. Kể từ thế kỷ 12 đời Nam Tống (trên bảy thế kỷ), bây giờ mới lại thấy một phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện lên vua. Lần này, thỉnh nguyện của nhóm Khang, Lương không được chấp nhận.

Năm 1896 Khang Hữu Vi lần nữa dâng thư xin biến pháp. Lần này ông đạt được đến Quang Tự nhờ một vị đại thần, thầy học cũ của Quang Tự. Quang Tự lúc này đã thực sự cầm quyền (từ năm 1889); Thái hậu Từ Hi lui về nghỉ ở Di Hòa viên, dĩ nhiên vẫn theo dõi hành động của ông. Ông tuy e sợ “Phật bà” – Từ Hi – nhưng sáng suốt, nhiệt tâm muốn cứu Trung Quốc, cho mời Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lên kinh bàn việc nước. Ông tiếp Khang, Lương suốt một buổi, phong cho họ chức tước để cùng mưu việc biến pháp.

Đề nghị nào họ đưa ra Quang Tự cũng chấp nhận hết : cải cách việc triều đình cho mới mẻ, bỏ lối văn bát cổ trong các khoa thi mà lấy môn luận về thời vụ thay vào, lập học hiệu, khuyến khích kẻ viết sách mới và kẻ chế khí cụ mới, bỏ những nha thự ít việc, luyện tập quân đội theo lối mới, trù lập ngân hàng, làm đường xe lửa, khai mỏ, mở nông và công nghiệp, lập hội buôn, mỏ rộng đường ngôn luận, cầu nhân tài… Trong khoảng chưa đầy ba tháng, hơn một trăm đạo chiếu được ban ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh xôn xao. Đúng là “toàn biến” và “tốc biến”.

Khang Hữu Vi biết rằng nhóm cựu thần tất phản đối, nên khuyên vua đừng vội bỏ hết các nha môn, mà giữ họ lại, phong đất cho họ để không mất lộc. Nhưng vị “Phật bà” Từ Hi hay biết, có ác cảm với biến pháp. Bà bổ nhiệm một người cùng phe bà là Vinh Lộc, tổng đốc Trực Lệ, chỉ huy quân đội ở thủ đô để củng cố thế lực của bà. Vua Quang Tự cương quyết, bảo: “Không cho ra biến pháp thì giết ta còn hơn”.

Đàm Tự Đồng thấy Từ Hi cản trở công cuộc đổi mới, khuyên Quang Tự đoạt lại chính quyền. Quang Tự nghe lời, triệu Viên Thế Khải (học trò của Lý Hồng Chương trong việc đào tạo quân đội) lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân tâm phúc, về Bắc Kinh bàn việc, có ý dùng quân của Viên để bao vây Di Hòa Viên.

Chẳng may việc đó bị tiết lộ (chính Viên phản vua, vì thấy Từ Hi còn mạnh). Từ Hy hay được, vội vàng từ Di Hòa Viên trở về Bắc Kinh, họp Quang Tự và các đại thần lại, bắt Quang Tự quỳ một bên, các đại thần quỳ một bên, trừng mắt, lớn tiếng mắng Quang Tự một cách tàn nhẫn : “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tiên, mày sao dám tự ý làm bậy ? Các quan đây đều do tao tuyển dụng trong nhiều năm để họ giúp mày, mày sao dám tự ý không dùng người ta ?…” Rồi bà quay sang phía các đại thần mắng là bất lực, không tận tâm với quốc sự..

Làm Phụ chính lần thứ hai

Sau cùng, năm 1898, Từ Hy tuyên bố rằng Quang Tự bệnh, bà phải thính chính trở lại, và đem giam Quang Tự ở Doanh Đài, trong hồ Tây Uyển. Vậy là cuộc biến pháp thành cuộc chính biến.

Bà ban lệnh cấm dân dâng thư, phế bỏ cục Quan Báo, đình chỉ việc lập học hiệu trung, tiểu ở các tỉnh, các huyện; dùng lại lối văn tám vế để lựa kẻ sĩ, bỏ khoa thi đặc biệt về kinh tế; bỏ các tổng cục nông công, thương, cấm báo quản, truy nã chủ bút, cấm hội họp, dùng lại các vũ khí cung đao…; tóm lại là chỉ trong một hai tuần toàn hủy, tốc hủy các canh tân của Quang Tự. Sử gọi vụ đó là “Chính biến Mậu Tuất” (1898); cũng gọi là vụ “Duy tân 100 ngày”.

Khang Hữu Vi hay tin trước, bỏ trốn. Lương Khải Siêu, sau khi việc xảy ra, mới trốn qua Nhật. Đàm Tự Đồng không chịu trốn, muốn lấy máu mình nuôi cách mạng, nên bị giết với năm người nữa. Khang Hữu Vi ở Nhật lập đảng Bảo hoàng mong lật đổ Từ Hy, phò trợ Quang Tự lên cầm quyền; Lương Khai Siêu xuất bản tờ báo Thanh Nghị mạt sát Từ Hi.

Từ Hy xin Anh, Nhật giao Khang Hữu Vi và Lương Khai Siêu cho bà, nhưng họ không nghe, còn bảo vệ cho hai người mà họ coi là phạm nhân chính trị. Từ Hi còn muốn bắt Quang Tự thoái vị để đưa một người khác lên, sai người cho dò ý công sứ các nước, họ đều phản đối. Hoa kiều ở hải ngoại đánh điện về ủng hộ Quang Tự, Từ Hi càng ghét ngoại nhân đã mớm cho Trung Hoa những ý tưởng phản động : hiến pháp, dân chủ…

Thái giám Liên Anh rất ghét nhóm Khang Lương mà Quang Tự trông cậy để đổi mới Trung Quốc. Cũng chính Lý Liên Anh khuyên Từ Hi dùng quyền phỉ để diệt người da trắng, do đó mà liên quân tám nước (Bát Quốc Liên Quân) vào phá Bắc Kinh. Chính vì sự tấn công này mà triều đình nhà Thanh phải ký hòa ước  Tân Sửunhục nhã với liệt cường năm 1901.

Dự bị lập hiến (1902-1908)

Sau hòa ước nhục nhã Tân Sửu 1901, Từ Hy bị dân chúng vạch tội, muốn mua chuộc lại lòng dân, mới chỉnh sửa đổi chính sách, bao nhiêu sắc lệnh biến pháp của Quang Tự mà năm 1898 bà hủy bỏ thì bây giờ thực hiện hết, lại lập nhiều cơ quan mới như hội nghị chính vụ xứ, thượng bộ, học bộ, luyện tân quân, chấn hưng công, thương.

Khanh Hữu Vi ghét Từ Hy nhưng vẫn chưa oán người Thanh, lập Đảng Bảo hoàng, hy vọng nơi Quang Tự, nhưng tư tưởng ông hơi thay đổi, đòi quân chủ lập hiến; Lương Khải Siêu cũng hậu thuẫn ông.

Năm 1905, dân Trung Hoa thấy Nhật theo chế độ quân chủ lập hiến mà mạnh, thắng được Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế, nên càng tin ở chế độ lập hiến, và đòi Thanh đình phải lập hiến, chứ chỉ sửa đổi chính sách (Thanh đình gọi là Tân Chính : Chính sách mới) chỉ duy tân thì không đủ. Ngay một số đại thần Hán trung với Thanh như Trương Chi Động, Viên Thế Khải cũng chủ trương lập hiến. Phong trào lập hiến sôi nổi trong nước.

Từ Hy bất đắc dĩ phải phái năm đại thần đi Nhật, Anh, Đức để khảo sát chế độ lập hiến của ba quốc gia đó. Năm sau, họ trở về đều chủ trương lập hiến. Từ Hy xuống dụ : “Trước hết cải cách quan chế rồi đến chính trị, khiến sĩ dân hiểu rõ quốc chính để dự bị cơ sở cho việc lập hiến, vài năm sau, xét lại tình hình, xem tiến bộ mau chóng mà định kỳ hạn xa gần.”

Rồi triều đình sửa đổi quan chế : đặt ra Tư chính viện ở kinh sư, Tư nghị cuộc ở các tỉnh để làm cơ sở cho Quốc hội và Tỉnh nghị hội, lập thẩm kê viện, thẩm phán sảnh, ban bố Hình luật mới…, nhưng một số biện pháp không thực hành được, có danh mà không thực.

Triều đình lại hạ chiếu lập một nội các mới bề ngoài có vẻ tiến bộ mà sự thực chỉ là để phá nguyên tắc Mãn và Hán ngang nhau, vì trong số 12 thượng thư chỉ có 4 người Hán, 1 người Mãn, 2 thị lang Mãn, 2 thị lang Hán), còn 8 người kia là Mãn, mà 5 người là hoàng tộc; vì vậy người Trung Hoa gọi nội các đó là nội các hoàng tộc.

Sau cùng, năm 1908, triều đình ban bố Hiến pháp đại cương gồm 15 điều mà điều số 1 là : Hoàng đế Đại Thanh thống trị Đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau tới vạn đời, và điều số 2 là : Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm. Nội dung là quyền vua rất lớn, quyền dân rất ít, nghị viện chỉ là một cơ quan tư vấn. Họ dự bị 9 năm sau mới hoàn thành hiến pháp. Có ý kiến nghi ngờ thực tâm muốn lập hiến theo đường lối dân chủ.

Trong năm đó, sau khi ban bố Hiến pháp đại cương thì Quang Tự chết trước rồi Từ Hy chết sau, chỉ cách nhau có mấy giờ. Dân chúng ngờ rằng Từ Hy biết mình sắp chết, không muốn cho Quang Tự sống nên đầu độc Quang Tự.

Nhận định

Có nhiều nhận định khác nhau về Thái hậu Từ Hy.

Nói chung, Thái hậu Từ Hy là con người có nhiều tham vọng, quyết đoán và độc tài, không biết dùng cận thần có năng lực để tham mưu cho bà. Bà cũng chẳng biết tin dùng người Hán,chỉ vì ít học nên không tiến kịp thời đại, Từ Hy thái hậu ích kỷ hơn vì nghĩ đến quyền lợi riêng nhiều hơn, chẳng hạn lấy số tiền dự tính đóng chiến hạm theo kiểu châu Âu để sửa sang Di Hòa viên làm nơi tĩnh dưỡng cho bà lúc về già.

So với những thái hậu từng nắm thực quyền ở Trung Hoa như Lã hậu và Võ Tắc Thiên, Từ Hy có điểm giống ở chỗ thao túng các hoàng đế, có cách cư xử tàn nhẫn. Nhưng thời đại của Từ Hy so với trước bất lợi hơn. Võ Tắc Thiên ở vào thời Trung Hoa hưng thịnh, bên ngoài mở mang bờ cõi. Trong khi đó hoàn cảnh đối ngoại của Từ Hy có điểm giống Lã Hậu. Lã Hậu bên ngoài bị Hung Nô uy hiếp, cũng như Trung Hoa của Từ Hy bị các đế quốc phương Tây xâu xé. Bởi thế có tài liệu của Trung Quốc buộc tội bà “Cắt đất cầu hoà, thờ giặc như cha”. Chuyện phòng the của bà cũng như của Lã Hậu và Vũ Tắc Thiên,rất đáng lên án vì bà ta quá dâm loạn.

Theo bách Khoa Toàn Thư

LỄ VÍA BÀ CHÚA XỨ

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

NÚI SAM – CHÂU ĐỐC

Từ 23/4 đến 27/4 âm lịch tới đây (nhằm ngày 25/5 đến 29/5/2011), được xem là ngày Vía của Bà Chúa Xứ Chậu Đốc. Chúng ta thử tìm hiểu qua “Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”, nếu các bạn chưa biết (nhưng thực tế người dân Nam bộ và miền Đông Nam Bộ, có lẽ đa số người biết đến nơi được gọi là linh thiêng này).

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc phường Núi Sam (trước đây là xã Vĩnh Tế), thuộc thị xã Châu Đốc là một di tích về lịch sử, kiến trúc & tâm linh, của tỉnh An Giang (xưa tên là Long Xuyên).

Nguồn gốc

Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh Núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng ông Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm nơi đây và đã hoàn tất  miếu vào năm 1824.

Kiến trúc

Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc Núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.

Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “Quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ thứ VI, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo.

Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng : Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đến phát hoang tìm thấy và đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng.

Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…

Việc thờ cúng

Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 ÂL hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm :

– Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 ÂL.

– Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị ông Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24/4 ÂL.

– Lễ túc yết và Lễ xây chầu : Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

– Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

– Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

Ý nghĩa việc thờ cúng

Nhà văn Sơn Nam viết :Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau…

Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài… Đây là dạng tu tiên, một dạng như : Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ hoặc Liễu Hạnh Công Chúa… nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên Núi Sam hội đủ : Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

Theo Nguyễn Đức Toàn, thì : Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở Châu Đốc… Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm : Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như : Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa… Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau :

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

Tạm dịch : Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mộng / (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

(trích Wikipedia)

ĐỌC THÊM :

Trong những ngày lễ vía Bà Chúa Xứ hàng năm từ 23 đến 27/4 ÂL, bá tánh thập phương đến dự rất đông. Trong những ngày vía có các nghi lễ được tổ chức thật tôn nghiêm như :

– Lễ “tắm Bà” (tương tự như lễ Mộc dục ở ngoài Bắc) được tổ chức vào giữa đêm 23/4 rạng sáng 24/4 ÂL. Vào lúc này mọi người đã tề tựu đông kín cả miếu, đặc biệt là những tín nữ trong tay cầm bông huệ trắng quì trước chính điện. Nghi thức “tắm Bà” bắt đầu khi một tấm màn giăng che kín tượng, hai quí bà được vào tắm cho Bà (lau bụi trên cốt tượng và rửa bằng một thứ nước trộn với quế pha nước hoa, rồi thay áo mão cho Bà).

– Lễ “thỉnh sắc” cử hành vào lúc 3 – 4 giờ chiều ngày 24/7. Đoàn rước sắc của Bà do các triều vua Nguyễn ban, từ Lăng Thoại Ngọc Hầu đi về miếu Bà thật trọng thể.

– Lễ “túc yết” cử hành vào nửa đêm ngày 24. Theo truyền thống dân làng Vĩnh Tế chọn ra những người lão thành lo lễ tế. Khi vào lễ họ mặc áo dài đầu đội khăn đống, xếp thành hai hàng đứng trước tượng Bà, cùng 8 học trò lễ hầu dâng, còn ông chánh bái đứng đối diện trước tượng.

Vật hiến tế là một con heo mao huyết, mâm xôi, trái cây và rượu. Khi dâng heo lên bàn cúng, chánh bái được 8 học trò lễ lần lượt dâng hương, dâng rượu lên Bà để ông đọc văn tế cầu xin quốc thái dân an, thần linh chứng giám. Đọc xong, các học trò lễ dâng tiếp hai lần rượu và cuối cùng là dâng trà.

– Tiếp sau lễ “túc yết” là lễ “xây chầu”. Những người hành lễ cũng áo dài, khăn đống, đứng xếp thành hai hàng trước tượng nhưng từ trước cửa điện trở ra là sân diễn cho đoàn hát bộ đang sẵn sàng. Ông chánh bái lấy cành dương nhúng vào chén nước cầm trên tay, vẩy lên và đọc lời cầu nguyện. Xong lễ, ông đánh ba hồi trống và khởi lệnh : “Ca công tiếp giá !” thì trống mõ của đoàn hát bộ tấu lên, theo đó là cuộc biểu diễn bắt đầu.

Các tuồng diễn là sự tích lịch sử như : Trưng Vương, Trần Bình Trọng… Sau đó khoảng 4 giờ sáng ngày 27 có lễ “cầu an” (giống như lễ “túc yết”). Vào 3 giờ chiều ngày 27/4 ÂL cử hành lễ đưa sắc về lại lăng Thoại Ngọc Hầu và hoàn tất những ngày lễ vía Bà Chúa Xứ.

– Tìm hiểu về cốt tượng Bà

Năm 1941, một nhà khảo cổ học thuộc trường Viễn Đông Bác cổ Maleret có đến khảo cứu về pho tượng và kết luận, tượng đá thuộc dạng tượng thần Vitnu thường thấy ở Ấn Độ, Lào, Campuchia và miền Trung Việt Nam (nơi ở của người Champa gốc Khmer, mà vào thế kỷ XII quân Khmer chiếm kinh thành của người Champa).

Nên theo truyền thuyết, bức tượng Bà Chúa Xứ do vua Miên tặng Đô thống Thoại Ngọc Hầu là không phải không có cơ sở. Như phần trên đã viết, khi Đô thống qua Miên làm công tác bảo hộ trấn Tây, ông đuổi tan quân Xiêm La đang xâm lược đất Miên, được vua Miên tặng cho pho tượng Bà, về tới quê nhà ông cho lập miếu để dân chúng thờ phụng (vào năm 1820), sau này, 1847 mới xây tiếp chùa Tây An….

Nguyễn Việt (trích trong Almanach “Phong tục thờ cúng” của tác giả, đã xuất bản)

LỜI BÀN THÊM : Hiện nay không chỉ có Miếu Bà Chúa Xứ ở Núi Sam – Châu Đốc (được gọi Miếu Bà hay còn gọi Miếu Bà 1), còn ngay tại Sài Gòn có rất nhiều Miếu Bà Chúa Xứ được lập ra thu hút bá tánh trong thành phố ngại đi xa (khoảng gần 300km), như Miếu Bà 2 trên đường Huỳnh Tấn Phát thuộc huyện Nhà Bè (gần phà Bình Khánh đi Cần Giờ); Miếu Bà 3 nằm trên cù lao Q9, trước khi ghé thăm có chùa Hội Sơn, đi đò thì đến chùa Phước Long nơi có phối tự thờ Bà; Miếu Bà 4 ở ngay bến đò Miếu Nổi – Gò Vấp (cuối đường Nguyễn Thái Sơn) thờ trong Tân Sa miếu, nếu đi đò mới ra miếu nổi Phù Châu của người Hoa; Miếu Bà 5 nằm cuối đường Trần Não Q2, Bà được thờ trong Đền Quan Thánh Đế Quân và cuối cùng…. trong hang cùng ngỏ hẽm nào cũng có nơi thờ Tượng Bà. Không biết các tỉnh thành khác trong nước có nhiều nơi phối tự như ở Sài Gòn không ?

18:00 ngày 21/5/2011 : BÁO ĐỘNG TẬN THẾ

PHƯƠNG TÂY RÚNG ĐỘNG

TIN TẬN THẾ VÀO LÚC

18:00 NGÀY 21/5/2011

Từ ngày 20/5 các báo mạng trong và ngoài nước đều có những tựa bài giật gân “PHƯƠNG TÂY RÚNG ĐỘNG VÌ “NGÀY TẬN THẾ” 21/5/2011” mà bài viết này đã post trước giờ báo động. Một số ít người theo Kitô giáo cho rằng, “Ngày Tận Thế” (The Rapture) sẽ diễn ra vào khoảng 6 giờ chiều thứ Bảy ngày 21/5/2011.

Xưa nay người ta thường quan niệm rằng Ngày Tận Thế, còn được gọi là “Ngày Phán xét” (Judgment Day) là thời điểm mà những người được Chúa lựa chọn sẽ lên thiên đường, trong khi những kẻ còn lại sẽ phải đối mặt với các trận động đất và các vụ hỏa hoạn xảy ra trong ngày.

“Thử thách dành cho những người không theo Kitô giáo có thể sẽ kéo dài trong vòng sáu tháng, nhưng đến ngày 21/10/2010, họ đều không còn tồn tại cả“, lời tiên tri nói. Tuy nhiên, một học giả Kitô giáo cho rằng, lời tiên tri đó hoàn toàn không chính xác.

“Không ai biết chính xác khi nào sẽ xảy ra những điều này” – ông Steve Wohlberg, tác giả của hơn 20 cuốn sách về Ngày Tận Thế nhận định – “Chúng tôi đang tìm hiểu mọi thảm họa và những gì sẽ xảy ra trên hành tinh này. Điều này đang tạo ra một xu hướng có sự quan tâm đặc biệt đến lời tiên tri trong Kinh Thánh. Trong tâm trí tôi, ông Harold Camping – trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo –  chỉ có một tính toán phù hợp với tiên đoán của Chúa Trời khi Ngày Phán Xét đến”.

Trong khi trên khắp đất Mỹ, một số người đang dành hầu hết thời gian còn lại để tận hưởng cuộc sống trước Ngày Tận Thế thì tại Fayetteville, Bắc Carolina (Mỹ), Hiệp hội nhân văn dự định sẽ tổ chức một lễ phản đối quan điểm này trong vòng hai ngày. Cụ thể, sẽ có một bữa tiệc vào thứ Bảy và một buổi hòa nhạc vào ngày Chủ nhật, với quan điểm rằng, sự vui vẻ trong ngày Chủ nhật có thể ngăn chặn một số thảm họa tự nhiên.

Ngày Tận Thế là một khái niệm mới mẻ trong các khóa học về đức tin Kitô giáo – thứ chỉ xuất hiện lần đầu trong chương trình giảng đạo vào thế kỷ thứ 19. Tuy nhiên, ngày nay, đây lại được xem là công việc của một giáo sĩ hiện đại.

Trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo Harold Camping (89 tuổi) đã chỉ ra ngày này bằng cách cộng các con số trong Kinh Thánh. Trước đó, ông đã từng tuyên bố rõ ràng rằng, thế giới sẽ biến mất vào năm 1994, nhưng sau đó ông đã nói lời xin lỗi và đổ lỗi cho các sai sót trong toán học.

Những môn đệ của ông đã truyền bá khắp nước Mỹ lời cảnh báo rằng “Ngày Phán Xét là 21/5/2011 – Kinh Thánh bảo đảm điều đó”. Hầu hết những tín đồ Kitô đều tin lời tiên tri của ông Camping được truyền đi từ Oakland, California (Mỹ).

Ông Camping – một kỹ sư dân dụng, từng điều hành một công ty xây dựng riêng – đã lên kế hoạch trải qua ngày này cùng với người vợ ở Alameda thuộc miền Bắc California, và xem ngày tận thế xảy đến trên truyền hình. “Tôi có lẽ sẽ cố gắng chứng kiến mọi thứ qua TV hoặc đài phát thanh hay một cái gì đó”, ông nói.

Dự báo này đã được công bố công khai trên khắp nước Mỹ“, ông Chris McCann, người làm việc cùng với một nhóm tuyên truyền cho biết. Ông McCann cũng tiết lộ, mình đang lên kế hoạch trải qua ngày thứ Bảy cùng với gia đình, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Những người cùng tư tưởng với ông đã gặp nhau lần cuối cùng vào hôm thứ Hai vừa qua. “Chúng tôi đã có một bữa ăn trưa cuối cùng với nhau và tất cả mọi người đều nói lời tạm biệt”, ông nói.

Tuy nhiên, niềm tin về thuyết Ngày Tận Thế – tin rằng Chúa sẽ mang đức tin vào giáo chủ thiên đường trước khi trái đất ngừng quay – thậm chí còn bị chia rẽ giữa các tín đồ Kitô giáo. Hầu hết đều không tin vào điều đó, một số đang tích cực chống lại nó bởi họ cảm thấy điều đó quá điên rồ.

Thuyết Ngày Tận Thế thường bị những người không thuộc nhóm đức tin chế giễu trên các diễn đàn công cộng. Một trang Facebook anti sự kiện này đã được hơn 10.000 cư dân mạng hưởng ứng. Những người tham gia nhóm đã viết những bình luận như : “Khi tất cả mọi người biến mất và không tìm thấy Chúa Trời, chúng ta cần phải chọn một vài thiết bị âm thanh ngọt ngào và có thể một số nội thất mới cho biệt thự nơi chúng ta sẽ ngồi xổm”.

Jerry Jenkins, đồng tác giả với Tim LaHaye trong bộ tiểu thuyết ngày tận thế “Còn Lại Phía Sau” – cuốn sách đã bán được hàng triệu bản trên toàn thế giới – cũng là một trong số những người phản đối lời tiên tri trên. “Là một tín hữu, tôi đã là một người lập dị với hầu hết mọi người, do đó, tôi cho rằng việc ai đó đã chọn ra một ngày và làm cho mọi người bị kích động tại một thời điểm nhất định chỉ làm cho chúng ta có cái nhìn tồi tệ hơn mà thôi”, ông Jenkins, 61 tuổi, nói.

Tuy nhiên, bà Barbara Rossing, một giáo sư ngành Tân Ứơc thuộc Trường Thần học Lutheran tại Chicago lại cho rằng ngành công nghiệp ăn theo tiên đoán trong các cuốn sách của Jenkins đã thu về nhiều lợi nhuận. Bà đã minh hoạ cho nhận định của mình bằng việc mô tả lại hàng loạt trò chơi video, trò chơi hội đồng và sách ăn theo, đồng thời nói “Nó rất cuốn hút mọi người”.

Thật vậy, theo tờ khai thuế của Tổ chức phi lợi nhuận Family Radio, họ đã quyên góp được hơn 100 triệu USD trong bảy năm qua. Tổ chức này sở hữu 66 đài phát thanh trên toàn thế giới và gần đây có hàng triệu người tham gia vào chiến dịch quảng bá quốc tế.

Khi được hỏi nhà thờ sẽ làm gì với số tiền còn lại khi thế giới kết thúc, ông Camping đã nói với tờ Contra Costa Times “Khi Ngày Tận Thế đến, nếu ai đó là một tỷ phú, họ sẽ mang tiền theo mình ư ?… Tiền không phải là tất cả. Đó là một phương tiện để truyền bá phán xét của Chúa”.

Tuy vậy, khi các tín hữu chuẩn bị cho cái mà họ tin là ngày cuối cùng trên trái đất, nhiều người vô thần sẽ vui vẻ với các phép thoái dần mà họ dự đoán. Tại Tacoma, Washington, những người theo thuyết vô thần đã tổ chức một bữa tiệc cho đêm thứ Bảy với biểu ngữ “đếm ngược để quay lại”. Họ giả định rằng ông Camping và Family Radio sẽ thay đổi câu chuyện của mình nếu Ngày Phán Xét không đến. Ít nhất 100 người sẽ tham dự bữa tiệc này.

Sam Mulvey, 33 tuổi, một người tổ chức sự kiện và nhà sản xuất chương trình phát thanh vô thần hàng tuần ở Tacoma tuyên bố : “Nếu thế giới vẫn còn tồn tại sau ngày mai, Family Radio sẽ phải nói điều gì đó.”

Nhưng đối với một số người, Ngày Tận Thế không phải là chuyện đùa. Tại Harrison, New Jersey, John Ramsey, 25 tuổi, đã nghỉ việc để cùng vợ, Marcia Paladines, truyền bá thế giới. Marcia Paladines đang mang thai và sẽ sinh em bé vào ngày 27/5 tới. Paladines đã khóc khi nói với tờ The Huffington Post: “Đức Chúa lòng lành. Tôi đã cầu nguyện Người rủ lòng thương cho con tôi. Nhưng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Nếu tôi ở đây vào ngày 21/5/2011, tôi sẽ gánh chịu hậu quả từ cơn thịnh nộ của Chúa”.

Phương Mai (Theo Dailymail)

ĐỌC THÊM :

Thế giới sẽ diệt vong vào 6h chiều 21/5/2011 ?

Thế giới sẽ diệt vong vào 6h chiều 21/5/2011 theo giờ Anh (tức khoảng 1h sáng 22/5/2011 theo giờ Hà Nội). Đó là tuyên bố của ông Harold Camping – trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo có tên là “Family Radio“, người tự nhận mình đã tạo ra một phương trình toán học có thể giải mã được lời tiên tri bí ẩn trong Kinh Thánh.

Ông Camping, 89 tuổi, đã loan tin về Ngày Tận thế trên khắp thế giới qua mạng lưới gồm 66 đài phát thanh và mạng tin trên mạng. Trước đó, ông Camping đã từng viết một cuốn sách đặt tên là “1994”, trong đó ông này đã dự đoán sai ngày tận thế của thế giới trong năm đó. Ông Camping sau đó đã lên tiếng xin lỗi vì tính toán sai phương trình toán học dẫn đến dự báo sai ngày tận thế.

Theo lời ông Camping, Ngày Tận thế được cho là thời điểm Chúa sẽ chọn những bề tôi trung thành lên thiên đường. Những người còn lại tất cả đều phải chết vì động đất hoặc hỏa hoạn.

– “Chúng tôi biết được từ Kinh Thánh rằng, Chúa có kế hoạch cứu khoảng 200 triệu người. Trong ngày đầu tiên của Ngày Phán xét  – 21/5/2011, những người này sẽ được đưa lên thiên đường bởi vì Chúa xót thương họ,” ông Camping cho biết. Cũng theo ông Camping, sẽ có một khoảng thời gian “thử thách” cho những người không tin vào Chúa. Thời gian đó kéo dài khoảng 6 tháng. Như vậy, đến ngày 21/10/2011, tất cả những người không được Chúa cứu rỗi thì đều sẽ phải chết.

Ông Camping đã tính toán ra Ngày Tận thế dựa vào một chi tiết trong Sách Sáng Thế (quyển đầu của kinh Cựu ước), trong đó Chúa nói với Noah : “7 ngày từ thời điểm này trở đi, ta sẽ gửi mưa xuống trái đất trong 40 ngày 40 đêm và ta sẽ xóa sạch mọi sinh vật sống trên trái đất mà ta đã từng tạo ra.”

Khi Chúa nói đến 7 ngày thì có nghĩa là cả 7 ngày và 7 ngàn năm bởi vì “một ngày trên Trời là một nghìn năm dưới hạ giới. Vì thế, một nghìn năm chính là một ngày.” Mưa lũ bắt đầu xảy ra từ năm 4990 trước Công nguyên. 7 nghìn năm sau là vào năm 2011. (Hãy nhớ là không có năm 0.)

Ngày Tận thế 21/5/2011 cũng được ông Camping tính toán dựa trên ý nghĩa của các con số giữa thời điểm Chúa bị đóng đinh và ngày 21/5/2011. Có 722.500 ngày giữa hai ngày trên. 722.500 là một con số có ý nghĩa bởi nó được tạo thành từ những con số có ý nghĩa 5x10x17x5x10x17. Số 5 có nghĩa là sự chuộc lỗi của loài người hay là sự cứu thế; số 10 đại diện cho sự hoàn thành và số 17 có ý nghĩa là thiên đường. Những con số trên cho biết, ngày 21/5/2011 sẽ là ngày con người chuộc lỗi và lên thiên đường. Những con số 5, 10, 17 được gấp đôi lên 2 lần để tăng phần ý nghĩa.

Tuy nhiên, những con số trên được tính toàn hoàn toàn chỉ dựa vào ông Camping và những môn đệ của ông này. Những người đó đã sử dụng nhiều thập kỷ để nghiên cứu các thông điệp được mã hóa trong Kinh Thánh.

Ông Camping rất tin tưởng vào tính toán của mình dù đã có lần ông tính sai Ngày tận thế vào năm 1994. Ông này cũng những người tin ông đã đổ hàng triệu USD vào các hoạt động nhằm tuyên truyền về Ngày Tận Thế. “Ngày Phán xét sẽ đến vào ngày 21/5/2011. Kinh Thánh bảo đảm điều đó !”

“Chúng tôi biết chắc chắn và không hề mảy may nghi ngờ về việc Ngày Tận thế sẽ đến”, ông Camping đã nói như vậy. Theo lời ông này, sẽ xảy ra một trận động đất khủng khiếp, kinh hoàng như trận động đất ở Nhật Bản vừa rồi.

Ông Camping cho biết, ngày hôm nay, ông sẽ ở nhà cùng với vợ ở Alameda, phía bắc California để theo dõi Ngày Tận thế đến qua đài truyền hình. “Tôi rất háo hức mong đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra ở bên kia thế giới khi Ngày Tận thế diễn ra,” ông Camping đã nói như vậy với hang tin Reuters.

Có vẻ có khá nhiều người tin lời dự báo Ngày Tận thế của ông Camping, cả ở Mỹ và ở nước ngoài, trong đó có Trung Đông. Mặc dù có khá nhiều người tin vào Ngày Tận thế nhưng hầu hết mọi người đều cho những tính toán của ông Camping là vớ vẩn, vô căn cứ.

Tiệc hậu Ngày Tận thế

Một số người không tin vào những tính toán của Camping đã quyết định tổ chức một bữa tiệc gọi là Tiệc hậu Ngày Tận thế. Bữa tiệc kéo dài hai ngày sẽ diễn ra ở Fayetteville, Bắc Carolina.

“Mặc dù hầu hết người dân thế giới đều hiểu đó là những tính toán ngớ ngẩn nhưng ngày hôm nay cũng là cơ hội lớn để chúng ta nói đến những niềm tin mù quáng mà một số người quá mộ đạo dựng lên đồng thời tuyên truyền để mọi người hiểu cần phải tin vào những gì có lý lẽ,” một người trong nhóm những người vô thần nói trên cho biết.

Những người vô thần ở Tacoma, Washington, thì đang hướng tới một bữa tiệc “đếm ngược”. Ít nhất 100 người sẽ dự bữa tiệc này và chờ đợi đến thời điểm mà ông Camping gọi là Ngày Tận thế. Những người này chờ đợi xem ông Camping và nhóm của ông sẽ thay đổi câu chuyện như thế nào nếu Ngày Phán xét không xảy ra. Các sự kiện tương tự cũng diễn ra ở Houston, Florida và California.

Trong khi đó, những người vô thần khác lại có cách tiếp cận thực tế hơn khi tận dụng “Ngày Tận thế” để kiếm lời. Ở New Hampshire, Bart Centre đã nhận chăm sóc những vật nuôi không được đi theo chủ lên thiên đường. Centre đã có hơn 250 khách hàng và họ phải trả cho mỗi con vật nuôi 135 USD.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

HỒN MA CÒN VẤT VƯỠNG

NHỮNG BỨC ẢNH MA

NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

1/. Cô gái ngồi trên mộ

Năm 1991, bức ảnh “Cô gái ngồi trên mộ” xuất hiện hàng loạt trên báo chí Mỹ trong đó có cả những tờ báo uy tín Chicago Sun – Times và National Examiner, như minh chứng khẳng định sự tồn tại kỳ bí của một thế giới tâm linh siêu thực.

Bức ảnh đen trắng được chụp vào ngày 10/8/1991 trong chuyến thực nghiệm của một nhóm các hội viên GRS tại khu nghĩa trang Bachelor”s Grove. Jude Huff-Felz – tác giả bức ảnh – có lẽ là người duy nhất trong đoàn chụp được những tấm hình hiếm hoi, bởi tất cả các dụng cụ và thiết bị mang theo ngày hôm đó đều đột nhiên dở chứng một cách khó hiểu.

“Cô gái ngồi trên mộ” bất ngờ lọt vào ống kính, đó là một phụ nữ trẻ có khuôn mặt nhợt nhạt và dáng điệu ủ rũ. Thứ trang phục cô khoác trên mình đã thuộc hàng lỗi mốt cách đó hàng chục năm. Và chi tiết khiến người ta “sởn da gà” nhất là cả thân hình cô gái đôi chỗ cứ trong suốt như pha lê.

2/. Gương mặt trên cửa sổ

Chồng của người phụ nữ trong ảnh đã chụp tấm hình này trong một buổi chiều nắng gắt với loại phim in bình thường. Hôm đó là ngày đầu tiên họ chuyển tới căn hộ mới ở Chicago, bang Illinois. Đằng sau cửa sổ, bên trái hiện rõ khuôn mặt của một bà lão vấn tóc, ngồi bên cạnh là chú chó bull, nhưng hai vợ chồng kia thì kiên quyết khẳng định : trong nhà không có một ai vào thời điểm ấy.

3/. Bóng ma trong rừng

Người ta không biết nhiều sự kiện liên quan đến tấm ảnh này, chỉ trừ một chi tiết duy nhất : cả hai nhân vật có mặt trong bức hình đều đã qua đời. Có thể nhìn rõ mồn một bên cạnh gốc cây cái dáng hình đùng đục như sương mù không biết có thể xác định là gì.

4/. Cậu bé trên thảm cỏ

Một phụ nữ tên là Jackie Rhame ở Florian, Alabama đã túm được khoảnh khắc này trong chuyến thăm Công viên Giải trí Six Flags Great America thuộc thành phố Arlington, Texas. Lúc đó trời đang mưa lất phất, nhiều sương mù, nhưng chiếc camera C-126 vẫn ghi lại khá rõ nét hình ảnh một cậu bé con mặc áo len đỏ, với chiếc cổ áo sơ-mi trắng thò ra ngoài.

5/. Bóng đỏ bên bờ suối

Chủ nhân tấm hình ghê rợn này khẳng định : vào thời điểm bấm máy không hề có ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào ống kính, do đó không thể xảy ra hiệu ứng lóe sáng thấu kính để tạo nên bóng đỏ được. Vả lại, cái bóng hiển hiện ngay chính giữa bức ảnh, dáng dấp như một hình người. Bức ảnh được chụp bên dòng suối trong một khu rừng bảo tồn của quốc gia.

6/. Đôi tình nhân bên mộ

Tháng 11/1982, cô Sahah ở thành phố Chicago, Illinois đã chụp được bức ảnh này bằng máy SX-70 ngay tại phần mộ của mẹ cô – đã qua đời vào năm 1934 ở tuổi 83. Vào thời điểm này có lẽ người ta còn chưa một lần nghe tới cụm từ “kỹ thuật ghép ảnh”, vả chăng, máy ảnh SX-70 cho “ra lò” tấm ảnh nguyên gốc này 60 giây ngay sau khi chụp.

Trong màn hư ảo vẫn thấy rõ từng chi tiết của cặp tình nhân “ma”: cô gái trẻ tóc nâu đang ngồi ôm con vật cưng màu đen trong lòng, còn anh người yêu bên cạnh thì choàng tay qua ôm eo một cách tình tứ. Anh chàng này mặc áo phông màu xanh, đại để là có in dòng chữ gì đó trên ngực áo.

7/. Những vị sư ở ngôi nhà ma ám Hull House

Tấm ảnh đen trắng đã sờn rách này do Dale Kaczmarek tình cờ chụp tại Hull House ở thành phố Chicago, Illinois tháng 11/1980.

Tác giả khẳng định không có nhân vật nào quanh quẩn trong ống kính vào thời điểm bấm máy, nhưng trong tấm hình lại hiện lên mờ ảo 4 nhà sư đứng ở những bậc cuối cùng dưới chân cầu thang.

“Thầy” đứng chính giữa thể hiện đúng động tác nhà Phật: chắp hai tay vào nhau, trong khi 3 vị còn lại đứng xuyên qua thành cầu thang, và hình như là không có đầu.

8/. Xương người hiện hình

Sát rạt bên phải Bill Rodgers – anh chàng vận động viên khỏe khoắn 4 lần vô địch giải marathon thành phố Boston và New York – là một bộ xương người không lẫn đi đâu được. Xương sườn, xương cột sống, xương chậu – từng chiếc hiện rõ mồn một như thể lúc ấy có hình mẫu giả ở bên.

Christophe DiCesare – sinh viên trường ĐH New York ở bang Geneseo – đã chụp bức ảnh tại phòng C2D1, ký túc xá Erie Hall năm 1985 bằng máy 35MM.

Sau nhiều lần tìm hiểu và “giở lại lịch sử”, lũ sinh viên quậy cuối cùng cũng điều tra ra lý lịch của con ma xương xẩu. Đó là một cậu chàng có tên “Tommy”, đã treo cổ tự vẫn ngay trong ký túc xá vài năm trước. Kể từ đó, sinh viên sống ở đây thỉnh thoảng hay bị những cú kéo giật bí hiểm. Thậm chí có đêm, một sinh viên còn suýt rụng tim khi nhìn thấy một anh bạn mặc áo phông bóng bầu dục kẻ sọc, với cái đầu ngoẹo hẳn sang một bên.

9/. Dáng hình của tâm tưởng

Bức ảnh được chụp bằng chiếc máy ảnh Polaroid cổ lỗ sĩ vào năm 1959, tại một ngôi nhà thuộc phía bắc Hanover Park, bang Illinois đã bị phá sập từ lâu. Không có gì đáng nói với bé gái đang trầm ngâm suy tư bên thềm tam cấp, tuy nhiên điều không ai giải thích nổi là vật thể gì nửa trong nửa đục đang di chuyển dọc cầu thang kia ?

Như thể vùng khói hư ảo ấy đang tuôn ra từ cơ thể bé gái, mà theo trí tưởng tượng phong phú của một số người thì nó xuất phát từ sâu bên trong tâm khảm cô. Một sự hiện hình của ý nghĩ, hay nói cách khác là ngoại chất linh hồn đi ra từ một cơ thể đang tồn tại. Bức hình này được xếp vào thể loại ảnh tâm linh.

10/. Lửa trời

Đó là một chiều Chủ nhật nắng ấm vào tháng 6/1980 tại Thung lũng Three Gap, cách thị trấn Revelstoke, British Columbia, Canada 12 dặm về phía tây. Bức ảnh chụp hai chị em gái đang dừng chân tại một khách sạn bên đường, dốc đá dựng thẳng đứng sau lưng. Nhưng vì sao dãy núi lại bị cắt ngọt một cách kỳ lạ đến vậy, và những ánh sáng đang vần vũ trên bầu trời kia là cái gì ? Khó đổ lỗi cho thiết bị chụp, bởi đó là loại máy thuộc loại hiện đại nhất lúc bấy giờ – máy ảnh Balda sử dụng phim tráng cuộn cỡ 120.

11/. Bóng ma khoác áo lính

Một người đi viếng mộ tại nghĩa trang Liên bang, nằm gần Biệt thự Carnton ở Franklin, bang Tennessee chụp lại khung cảnh này một cách rất tình cờ. Thoáng nhìn qua tưởng như không có điều gì bất thường hết, tuy nhiên nếu soi kỹ lên góc trên cùng bên phải của bức ảnh, lảng vảng sau những hàng cây là bóng dáng của một quân nhân. Nhìn kỹ hơn nữa thì rõ là trang phục của quân đội Liên bang.

12/. Ma ở Gettysburg

Bức ảnh do cô Chris Payne từ thị trấn Woodbridge, bang New Jersey chụp trong lần tham quan thực địa chiến trường Gettysburg năm 1988, bằng chiếc máy ảnh Instamatic 110 có sử dụng ánh sáng flash trong thời điểm chạng vạng tối. Ngay cạnh cô em Terri Payne – người phụ nữ trong ảnh, phía bên bánh xe kia của khẩu súng thần công là một đám bụi leo lét nửa xanh nửa trắng kỳ lạ.

Tất nhiên vào lúc chụp cả hai chị em không nhìn thấy dị vật này. Thêm nữa, đám bụi cũng tuyệt nhiên không xuất hiện trên bất kỳ bức ảnh khác trong cuộn phim chụp cùng thời điểm bấy giờ. Có người còn nói rằng họ nhìn thấy lờ mờ một khuôn mặt ẩn trong làn sương hư ảo.

13/. Một quả cầu bí hiểm ở nghĩa địa

Chưa ai giải thích vì sao lại có quả cầu trôi lơ lửng trong đêm tối giữa nghĩa địa Mt. Thabor, bắc bang Illinois. Bức ảnh được một người tên là Dale Kaczmarek chụp vào đêm hè tháng 6/1998 bằng máy Polaroid.

14/. Gương mặt lạ trên nghĩa địa

Một người xa lạ trên đường phố Eastwood, Manila (Indonesia) đã chụp giúp 2 cô gái tấm hình bằng điện thoại Nokia 7250. Không hiểu, nụ cười tươi tắn kia có méo xệch đi không nếu họ biết rằng, có con ma đang… vồ lấy tay cô bạn bên phải đòi chụp ké.

15/. Vệt sáng kỳ lạ

Tháng 6/1979, tác giả chụp bức ảnh với mục đích phản ánh nạn đào phá bừa bãi tại khu nghĩa trang Forest Home thuộc vùng Forest Park, bang Illinois. Tuy nhiên, khi tấm hình được rửa ra từ máy Instamatic 110 thì người ta phát hiện một vệt sáng trắng kỳ lạ, có vẻ như bốc lên từ một nấm mồ. Phóng to hơn nữa thì thấy hiện rõ gương mặt của một người đàn ông ở phía cuối đường ánh sáng.

16/. Những bóng ma trên tàu Watertown

Chuyện về chiếm hạm Watertown có thể coi là câu chuyện ma kinh điển do chính tiến sĩ Hereward Carrington – vị giám đốc lỗi lạc của Viện Tâm linh Hoa Kỳ – kể lại, đồng thời được tường thuật tiết trong tạp chí nội bộ của công ty đóng tàu.

Tháng 12/1924, tàu Watertown chuẩn bị nhổ neo cho hành trình qua Đại Tây Dương và hai thủy thủ James Courtney và Michael Meehan được giao nhiệm vụ dọn sạch khoang hành lý. Tuy nhiên trong lúc làm việc bất ngờ xảy ra vụ rò rỉ hơi ga, họ đã chết ngạt trước khi có người kịp đến cứu. Theo tập quán ngành hàng hải, người ta thả 2 cái xác về biển khơi vào ngày mùng 4/12. Chạng vạng tối ngày hôm sau, cả con tàu được phen náo loạn khi chứng kiến bóng dáng 2 chiếc đầu thủy thủ bập bềnh trên sóng nước ngay bên mạn tàu. Kể từ đó, hai gương mặt ma quái này thường xuất hiện và không lần nào không gây chuyện đứng tim.

Có người nhanh tay đã chụp được bức hình trong đêm kinh hoàng đó và chuyển nguyên vẹn cả máy lẫn phim cho thuyền trưởng Keith Tracy nhờ cất giữ. Khi tàu cập bến New Orleans, vị thuyền trưởng đã gửi thẳng tới văn phòng công ty ở New York. Tại đây, tấm hình chụp 2 khuôn mặt ma đã được in ra, phóng to và trở thành 1 trong những bức ảnh ma nổi tiếng nhất thế giới.

17/. Chiếc đầu bay ?

Bức hình chụp góc làm việc trong một xưởng máy tính có vẻ không có gì bất thường cho đến khi tác giả phóng to ra. Trên màn hình vi tính (đã tắt), không thể chối vào đâu được hình ảnh trôi nổi của một chiếc đầu không kèm thân mình, và chắc chắn không phải là hình phản chiếu của ai đó. Người chụp bức ảnh linh cảm đó là bóng ma người chồng đã quá cố của cô, nhưng xem ra khuôn mặt trẻ hơn nhiều so với lúc ông từ trần.

18/. Ma ở trang trại Myrtle

Ít nhất là đã có 10 vụ chết người, trong đó có 1 vụ tự tử xảy ra trong trang trại Myrtle, được tướng Bradford xây dựng vào năm 1796 tại vùng St. Francisville, bang Louisiana. “Vị khách” viếng thăm thường xuyên nhất là hồn ma Chloe – một bà nô lệ da đen tự tử để sám hối tội lỗi đã giết 2 cô bé gái. Bà này trước đã từng bị Clarke Woodruff – người con rể của tướng Bradford cắt tai vì tội nghe trộm, sau đó trả thù bằng cách trộn lá trúc đào vào bánh sinh nhật của bọn trẻ con.

Người ta kháo nhau rằng, bóng ma từ khu nghĩa trang dành cho nô lệ đêm đêm vẫn hiện về làm công việc nhà, và 2 cô bé bị đầu độc vẫn chơi đùa trên những dãy hàng lang dài hun hút. Bức ảnh này ghi lại bóng dáng của 1 hồn ma, mà nhiều người cho rằng đó là hồn ma Chloe, đang đứng giữa hai dãy nhà.

19/. Mặt ma tại bảo tàng Blackpool

Một phụ nữ tên Pauline Brannigan kể rằng, bà tình cờ chụp hình ông chồng trước cửa viện bảo tàng hình nhân sáp Blackpool và chỉ phát hiện ra khuôn mặt kỳ quái khi phóng ảnh. Theo tìm hiểu của bà, rất có khả năng đó là khuôn mặt của Ena Sharples – một nhân vật được nặn tượng sáp đang trưng bày bên trong, cũng là người đã chết và mai táng ở Blackpool.

Khi gửi tấm hình tới ban quản lý Bảo tàng, bà Brannigan đã nhận được nhiều phản hồi quan tâm kèm theo lời quả quyết: sự việc kỳ lạ này không chỉ đơn thuần được giải thích bằng sự phản chiếu hay các hiện tượng vật lý tương tự…

Hải Minh

LUÂN HỒI QUẢ BÁO

HIỆN TƯỢNG LUÂN HỒI

VÀ NHỮNG BÍ ẨN

Những câu chuyện chưa thể lý giải

Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không ? Tất cả vẫn chìm trong sự kỳ bí với nhiều sự việc mà con người không thể giải thích nổi…

Luân hồi là gì ?

Theo quan điểm của nhiều người, cuộc sống chưa kết thúc khi con người qua đời, mà linh hồn sau khi thoát ra khỏi thể xác chết, đã đầu thai trở lại một kiếp sống khác theo bánh xe luân hồi, cứ mãi như thế cho đến khi nó được đến cõi Niết Bàn. Cuộc sống của con người trên trần thế thực ra chỉ là một “kiếp”, thân xác chỉ là nơi cư trú của linh hồn mà thôi. Nhưng điều ngạc nhiên là không phải chỉ Phật giáo mới có khái niệm luân hồi và ý niệm về sự đầu thai, mà các khái niệm đó cũng tồn tại ở nhiều tôn giáo khác.

Ý niệm về sự luân hồi xuất hiện trong đạo Hồi, đạo Do Thái, Ấn Độ giáo, trong quan niệm của người cổ Hy Lạp, và nhiều vùng miền trên thế giới. Điều đáng kinh ngạc là nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quyển sách Bible của đạo Thiên Chúa nguyên thủy có nhiều khác biệt so với hiện nay, trong đó từng có cả những nội dung về sự luân hồi đầu thai, nhưng đã bị một số thế lực chỉnh sửa và lược bỏ đi vào khoảng thế kỷ 4 và 5 vì những nguyên do bí ẩn.

Trường hợp tiêu biểu và nổi tiếng nhất về sự đầu thai và luân hồi chuyển kiếp có lẽ là việc đi tìm Đạt Lai Lạt Ma hay Ban Thiền Lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng sau khi các Lạt Ma ấy qua đời. Những vị sư phụ trách việc này tiến hành tìm kiếm đứa trẻ nào sinh ra đúng vào thời điểm Lạt Ma qua đời. Họ dựa vào những dấu hiệu và kiến thức đặc biệt của đứa trẻ mà tương hợp với vị Lạt Ma đó khi còn sống, và cả những mô tả của vị Lạt Ma trước khi viên tịch về kiếp sau của mình, để xác định xem đứa trẻ có phải là vị Lạt Ma ấy đầu thai hay không.

Tại các quốc gia phương Tây, các nhà nghiên cứu đã bỏ nhiều thời gian và công sức nghiên cứu hiện tượng luân hồi. Kết quả là : Không ai giải thích nổi tại sao những người “kiếp sau” lại có cách cư xử, thói quen rất giống những người đã khuất, thậm chí biết cả những bí mật riêng tư của họ, có những vết bớt khi mới sinh tương hợp kỳ dị với những vết thương của người đã khuất, hoặc những đứa trẻ đi còn chưa vững đã biết ngoại ngữ, biết làm toán, biết chơi đàn… giống y như những người mà chúng nói là chính chúng trong tiền kiếp, mặc dù không ai chỉ dạy chúng cả.

Các kết quả thu được đó đã gây ra luận chiến dai dẳng giữa một bên thừa nhận, và một bên phủ nhận hiện tượng luân hồi. Những người thừa nhận nói rằng, cách duy nhất để lý giải bí ẩn này là khoa học buộc phải công nhận hiện tượng luân hồi như một thực tại khách quan hiển nhiên mà thôi.

Những hiện tượng kỳ bí

Trên thực tế có rất nhiều trường hợp kỳ lạ đã xảy ra và thật khó có thể giải thích nổi tại sao những người ở “kiếp sau” lại có cách cư xử, thói quen, thậm chí họ biết cả những bí mật của những người ở “kiếp trước”. Mặc dù một số sự kiện nhớ lại kiếp sống trước – theo nhiều người đã được ghi chép lại và thử nghiệm một cách khoa học, khoa học chưa chính thức chấp nhận đầu thai như là một hiện tượng chứng minh được.

Theo khoahoc.com.vn, thì vào ngày 29/4/2005, vợ chồng anh Chaudhary sống tại Ahmedabad (Ấn Độ) vô cùng đau xót khi đứa con trai 13 tuổi tên là Rakesh bị tai nạn xe máy và mất 5 ngày sau đó. Vài giờ trước khi Rakesh qua đời, vợ anh Chaudhary là Minaben bắt đầu có ảo giác, cô nói với chồng là Rakesh về nhà tạm biệt mẹ và hứa sẽ quay lại. Một năm sau đó, vào ngày 22/4/2006, cô Minaben sinh hạ một bé trai và đặt tên con là Rakesh.

Rakesh và người anh đã mất giống nhau như đúc, và có cách cư xử giống hệt nhau. Điểm đặc biệt hơn là cậu biết tất cả những chỗ anh trai mình để đồ chơi, nhận ra những người họ hàng chưa bao giờ gặp. Không chỉ có vậy, khi được đưa về quê của anh Chuadhary ở Palanpur, cậu bé cũng biết luôn tên của người chị họ Anila mới gặp lần đầu, cô bé này vốn ngày xưa là bạn thân của người anh trai đã mất của cậu. Rakesh cũng rủ cô bé chạy ra cái cây nơi 2 người thường chơi với nhau ngày xưa.

Cách đây hơn một thế kỷ, một ác quỷ đã xuất hiện giữa thế gian ngay tại nước Pháp. Tên của hắn là Gilles de Rais với chức vụ Thống chế. Hắn giết người không gớm tay, giết người với hăng say thích thú. Lúc bị đưa lên giàn hỏa “con quỷ dữ” đã gào lên khủng khiếp cùng với lời nguyền : “Ta sẽ trở lại thế gian này…”. Và mới đây, tại Hoa Kỳ xuất hiện một kẻ sát nhân kỳ dị với phương cách giết người hệt như Gill de Rais khi xưa.

Con “quỷ” này đã gieo bao khủng khiếp trong một ngôi nhà vắng lặng thay vì tòa lâu đài bí mật của thời xưa cổ, con quỷ dữ này có tên là C. Jeffrey Dahmer, cách giết người của hắn y hệt ác quỷ Gilles de Rais nhưng kinh khiếp hơn, rùng rợn hơn, ghê tởm hơn. Điều này khiến người ta nghĩ đến lời nguyền ghê gớm của tên sát nhân cách đây hơn một thế kỷ.

Tiền kiếp và hậu kiếp vẫn là điều bí ẩn

Có bao giờ bạn trải qua một cảm giác dường như “đã từng nhìn thấy” hay “đã từng ở” một nơi mà cả đời bạn chưa từng biết ? Nhiều nhà khoa học khẳng định, chúng ta đã từng trải qua nhiều tiền kiếp trong quá khứ, và sẽ còn những kiếp sau.

Dưới đây là một số trường hợp được nghiên cứu bởi các chuyên gia về lĩnh vực luân hồi.

Chiến binh từ quá khứ

Đại tướng George Smith Patton (11/11/1885 – 21/12/1945) là một trong những viên tướng vĩ đại nhất lịch sử Hoa Kỳ, một nhà chiến lược kỳ tài lừng danh thế giới. Một bộ phim đã được làm năm 1970 để vinh danh ông. Tính ông nghiêm khắc và luôn luôn chủ trương “kỷ luật sắt, kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Người hùng ấy, lạ lùng thay, rất tin vào sự luân hồi. Ông thường bảo : “Cuộc đời và cuộc sống là một vòng tuần hoàn chuyển tiếp. Ðời tôi cũng nằm trong một vòng tuần hoàn chuyển tiếp nào đó”. Một sĩ quan cao cấp của quân đội Hoa Kỳ kể lại câu chuyện mà ông nhớ mãi về tướng Patton.

Hôm đó, tướng Patton đến thăm một địa danh lịch sử tại Ý. Ðó là vùng đất nằm cạnh sông Métaure, nơi mà xưa kia, trong trận chiến ác liệt giữa những đoàn quân dũng mãnh của đế chế Carthage và đế chế La Mã, đã để lại trên chiến trường hàng ngàn tử thi, mặc dù hai bên đều do những chiến lược gia và danh tướng chỉ huy.

Hình ảnh bi tráng ấy đã đi vào quá khứ, và cách thời của tướng Patton đến hơn 1800 năm, nhưng khi tướng Patton cùng các tướng lĩnh và một số nhà sử học đến thăm vùng đất này, và thử luận bàn về những chiến thuật và chiến lược của trận đánh ấy thì điều kỳ dị đã xảy ra.

Trong khi tướng Patton nghe một viên Đại tá trình bày những địa điểm đóng quân của hai phe Carthage và La Mã, ông nhiều lần tỏ ý không hài lòng. Sau cùng, tướng Patton cắt ngang lời viên Đại tá và nói : “Xin lỗi Đại tá, mặc dù Ðại tá là chuyên gia nghiên cứu các trận chiến trong chiến tranh La Mã, nhưng tôi khẳng định rằng đoàn kỵ binh của tướng Hasdrubul trong trận này không phải đóng tại địa điểm đầu kia mà Ðại tá đã trình bày. Tôi quả quyết điều này vì một lẽ rất dễ hiểu là vào lúc ấy, chính tôi đã có mặt tại đó…”.

Và rồi, tướng Patton nghiêm nét mặt, đưa cao chiếc can cầm ở tay lên chỉ về một địa điểm trước mặt và nói thật chậm rãi, rõ rang : “Ðó là địa điểm mà đoàn kỵ binh của Hasdrubul đã đóng quân, và tôi nhắc lại, lúc ấy tôi đã ở đó !…”, “Nó đây, chiến trường là đây. Những người Carthage đã phòng thủ thành phố trước cuộc tấn công của 3 quân đoàn La Mã. Người Carthage kiêu hùng và can đảm, nhưng họ đã không trụ vững được. Họ đã bị tàn sát. Những người đàn bà Ả Rập đã lột quân phục, kiếm và những ngọn giáo của họ. Những người lính đã nằm trần trụi dưới mặt trời, 2.000 năm trước đây. Và tôi đã ở đó !”.

Trong những lần dừng chân nơi chiến trận hay những lúc nghỉ ngơi, tướng Patton thường nói đến những địa danh và những chiến trường cổ xưa mà ông đã từng có mặt, tuy những nơi đó đã đi vào quá khứ xa xăm hay chỉ còn lại trong các pho sử liệu của các thư viện. Trong nhật ký của mình, tướng Patton thường ghi lại những cảm nghĩ lạ lùng của mình về kiếp trước.

Có đoạn ông viết : “Tôi tin là có tiền kiếp và hậu kiếp. Tôi tin, thật ra là tôi biết, rằng tôi đã có ít nhất là một quãng đời trước đây trong binh nghiệp và hiện nay tôi lại đầu thai lần nữa vào đời binh nghiệp”. Về sau, nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng nổi tiếng Aldons Huxley (26/7/1894 – 22/11/1963) đã trình bày trường hợp của tướng Patton cùng câu chuyện lạ lùng xảy ra trong lần đi thăm chiến trường La Mã cổ xưa ấy, trong một hội nghị quốc tế có chủ đề “Ứng dụng của Khoa tâm lý học” tổ chức lần thứ 14 vào năm 1961. Aldons Huxley phát biểu : “Không riêng gì tướng Patton mà ngay cả chúng ta, đôi lúc ở những thời điểm nào đó trong đời bỗng ta có những cảm giác, những suy nghĩ, cái nhìn kỳ lạ mà ý thức của chúng ta như bỗng nhiên hé mở, có khi ta bắt gặp một hình ảnh, một sinh hoạt, một tiếng nói, một cảnh tượng, một con người mà hình như ta có lần đã thấy, đã nghe, đã ở, đã đi qua, mặc dù trong cuộc đời chưa bao giờ gặp.

Ðó là quá khứ, quá khứ ấy không phải trong một cuộc đời hay nói khác đi là trong “một kiếp” mà là trước đó nữa. Cảm nhận ấy đôi khi vượt ra khỏi những cảm nhận của các giác quan thông thường của con người chúng ta, mà thuộc về quá khứ xa xăm, hay có thể gọi là tiền kiếp”. Tờ báo Paris Match danh tiếng đã đăng tải trường hợp của Đại tướng Patton vào ngày 23/3/1989.

Những câu chuyện kỳ bí

Không chỉ có trường hợp của tướng George Smith Patton được lịch sử ghi nhận mà còn có nhiều những trường hợp khác trên thế giới như trường hợp của Chaokun Radzh-sutadzharn, sinh ngày 12/10/1908 ở miền trung Thái Lan, tên thường gọi là Choti. Cha cậu tên là Nai Pae, mẹ là Nang Rieng.

Ngay khi mới biết nói, cậu bé đã khẳng định mình là Nai Leng (tên người bác ruột của cậu bé đã mất từ trước khi cậu bé ra đời). Đáng chú ý, cậu có thói quen gõ bàn giống hệt như người bác trai, có thể nói và đọc được các thứ tiếng mà người bác lúc sinh thời từng học, và biết chính xác từng chi tiết một trong cuộc đời ông ta. Sau này Choti đi tu ở một ngôi chùa ở Bangkok và sau đó xuất bản cuốn sách về cuộc luân hồi chuyển kiếp của chính mình.

Tờ báo Pattaya Daily News cũng công bố một trường hợp khác xảy ra tại làng Nathul, phía bắc Myanmar, cô gái Ma Tin Aung Myo sinh ngày 26/12/1953 trong một gia đình có 3 chị em gái. Ngay từ nhỏ, cô bé luôn tự xem mình là con trai, và luôn miệng nói rằng mình là người lính Nhật đã bị quân đồng minh bắn chết cách ngôi nhà của cha mẹ cô bé gần 100m. Cô bé rất sợ máy bay, nhất định không chịu mặc quần áo con gái, nói tiếng Myanmar rất khó khăn, thích ăn và nấu các món ăn theo khẩu vị của người Nhật, và luôn buồn nhớ quê hương Nhật Bản. Ma Tin Aung Myo cho biết gia đình trước kia của “cô” ở miền Bắc nước Nhật.

Trước khi nhập ngũ, “cô” là chủ một cửa hiệu nhỏ nhưng khi vào quân đội thì làm đầu bếp. Cô sống độc thân không chịu lập gia đình, bởi cô “là đàn ông” và chỉ có thể kết hôn với phụ nữ mà thôi. Những trường hợp như trên vẫn là bí ẩn với thế giới loài người cho đến khi nào khoa học có thể chứng minh một cách đầy đủ nhất bản chất của hiện tượng này.

Đi tìm lời giải về hiện tượng luân hồi

Các nhà nghiên cứu về hiện tượng luân hồi, qua các tài liệu thu thập được từ cổ đại đến nay, đã tìm hiểu phân tích một số trường hợp đặc biệt có liên quan giữa những sự chuyển sinh của hàng loạt linh hồn với những thời gian và thời đại tương ứng.

Từ lâu nhiều người đã thắc mắc rằng nếu quả thật có số mệnh, có luân hồi thì tại sao lại có trường hợp hai trái bom nguyên tử của Mỹ đã tiêu diệt hai thành phố Hiroshima và Nagazakji của Nhật Bản và giết chết một lúc hàng chục vạn người ? Tại sao hàng triệu người dân Do Thái bị đưa vào phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã để chết một cách tức tưởi ? Chỉ riêng ở trại giam Auschwitz cũng đã có trên một triệu người bị giết. Những trường hợp ấy thuyết luân hồi quả báo giải thích ra sao ?

Lý giải hiện tượng

Nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới, các nhà sử học, địa lý học, xã hội học, phong tục học… nhận thấy có những giai đoạn thời gian liên quan đến sự phát triển hay suy thoái về nhiều mặt. Dân số, phong tục, nền văn minh… cũng như cả về mặt khí hậu, thiên tai (động đất, núi lửa, sóng thần, lũ lụt, hạn hán).

Như trường hợp của ông Edgar Cayce người Hoa Kỳ có khả năng biết được tiền kiếp của người khác khi đưa họ vào giấc ngủ thôi miên, ông đã thu thập được vô số trường hợp khác nhau về những gì liên hệ tới hiện tượng đầu thai và quả báo mà tài liệu có khoảng 30.000 hồ sơ còn lưu trữ tại viện nghiên cứu các hiện tượng siêu hình ở Virginia Beach thuộc tiểu bang Florida.

Chính nhờ các tài liệu này mà nhà biên soạn Gina Cerminara đã có thể viết lời giải thích tuy không phải là cho tất cả và hữu lý tuyệt đối cho những câu hỏi trên. Câu trả lời sẽ là có những nhóm linh hồn đầu thai hàng loạt trở lại để sống trên quả đất và theo thời gian đã định, theo hoàn cảnh thời đại, môi trường, những con người ấy sẽ gặp nhau cùng một nơi chốn nào đó để một lần hay lần lượt chịu quả báo. Điều này giải thích được nguyên nhân nào có sự chết đồng loạt : Như trận động đất ở Nhật Bản năm 1923 đã giết hại hơn 140.000 người (đó là chỉ riêng ở TP Tokyo thôi). Hay trận động đất ở Lisbon, Portugal năm 1755 đã khiến 60.000 người chết… Riêng ở Ý, trận phun lửa của hỏa diệm sơn Venus chôn vùi toàn bộ TP Pompeii với hàng vạn dân cư. Tro nóng của núi lửa đã khiến cho nhiều người chết nhanh đến độ có người vẫn giữ nguyên dáng đứng, ngồi hay biểu lộ các cử chỉ hốt hoảng, kinh hoàng… sau này khi khai quật thành phố trở lại mới thấy rõ điều đó.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong trường hợp gọi là chết đồng loạt ấy thật sự đôi khi vẫn còn một số người hoặc duy nhất còn một người sống sót. Trường hợp này được giải thích bằng nhiều lập luận.

Thứ nhất có thể những người còn sống sót chưa đến hạn kỳ phải chịu đại nạn. Có người còn sống sót nhưng đôi khi họ lại còn bị đau khổ đày đọa hơn những người đã chết trước đó. Trong một trại giam người Do Thái của Đức Quốc Xã, có lần hai tù nhân vượt trại trốn vào rừng. Sau bao gian nan nguy hiểm, một người bị quân Đức bắt lại, người thứ hai thoát được. Khi trở về trại thì những người bị giam trong các căn trại ấy đã bị bỏ vào lò hơi ngạt hết. Bọn Đức liền đẩy người này vào nhóm người Do Thái thứ 2 ở những trại kế tiếp để chờ đợi ngày vào phòng hơi ngạt.

Có quả báo ?

Khi ngày ấy đến, trong lúc đoàn người bị đưa lên xe chuẩn bị di chuyển thì một người Do Thái nổi điên xông vào đám lính Đức cấu xé. Nhân cuộc lộn xộn xảy ra, người này trốn khỏi đám đông chạy vào ẩn trong một nhà kho. Tuy nhiên, lính canh bắt được người này bị đánh đập vô cùng tàn nhẫn và cuối cùng anh ta cũng bị đưa vào phòng hơi ngạt. Hồ sơ người này đã được quân Đức lưu trữ và thường dùng để làm gương cho những người trốn trại.

Qua hồ sơ ấy, ta thấy rõ rằng người này tưởng là may mắn nhưng quả thật anh ta không may mắn chút nào, nếu so với những người Do Thái trước đó đã vào lò hơi ngạt. Những người ấy chỉ chết một lần, còn anh ta, trước khi chết lại bị đày đọa. Tuy nhiên, có khi người sống sót lại được an toàn cho đến mãn đời, ấy là do nghiệp quả báo của họ phải chịu sự lo sợ kinh khiếp nhưng chưa chết ngay được.

Như trường hợp cô Helen Hix kinh sợ đến độ chết đi sống lại nhiều lần trước khi bị đưa lên ngồi ghế điện. Khi dòng điện 10.000 volt truyền vào ghế điện thì cô thét lên nhưng kỳ lạ thay điện cao thế ấy lại không giết được cô mà chỉ làm cháy xém một vài nơi ở tay và chân thôi.

Điều kỳ lạ này cho ta một giải thích mới theo nghĩa quả báo luân hồi là tội nhân phải chịu hình phạt rùng rợn làm khổ đau khiếp đảm từ tinh thần đến thể xác nhiều lần. Về chu kỳ lịch sử, thời đại và sự xuất hiện của những nhân vật lịch sử vào những thời kỳ tương ứng chính là hạn kỳ, giai đoạn mà những linh hồn nào đó đã được luân hồi tái sinh trở lại. Có những linh hồn chờ đợi hoàn cảnh sự kiện thích ứng cho mình để nhắm đúng thời gian đầu thai.

Những nhà thông thái, những người làm nên lịch sử, sáng chế, phát minh, phát triển văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, tạo cuộc cách mạng, làm thay đổi thể chế chính trị nào đó đều là những người mà trước đây họ cũng đã có những tài năng tương ứng và sự luân hồi là cả một sự tiến hóa, hơn nữa có thể họ chưa đạt ý nguyện về những công việc, những hoài bão từ tiền kiếp nên họ mong chờ sẽ được chuyển sinh trở lại để hoàn tất những gì mà mình đang bỏ dở chưa hoàn thành.

Xét về mặt khoa học kỹ thuật, câu hỏi được đặt ra là những nhà khoa học, phát minh tài ba xuất hiện ở những thế kỷ trước và những thế kỷ hiện nay như Galilée, Einstein… có phải là cùng phát xuất chỉ từ một vài người thông minh nào ở thời đại xa xưa và qua sự tiến hoá của hiện tượng luân hồi mà giờ đây họ lại tái sinh và có lẽ trong những thế kỷ kế tiếp họ sẽ lại tái sinh…

Huỳnh Văn Yên post