NÊN BIẾT VỀ CÕI VÔ HÌNH (2/2)

CÕI VÔ HÌNH

Kỳ 2 : tiếp theo và hết.

Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của ta.  Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh.

Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ?

Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn.

Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm.

Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị Ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.

– Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?

– Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.

Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :

– Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?

Qủa thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng, rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai muạ Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc :

– Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao ?

– Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn.

Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả.

Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết.

Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi.

Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngaỵ Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.

Giáo sư Allen ngập ngừng :

– Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao ?

Hamud lắc đầu :

– Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được.

Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu.

Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thoa? mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

– Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không ?

– Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thoa? mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thoa? mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.

– Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao ?

– Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử ‘dĩ tháí, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là ma. Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

– Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?

– Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cáidục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”

– Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?

– Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

– Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?

– Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng tạ Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

– Như vậy thì họ Ở gần hay ở xa chúng ta ?

– Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.

– Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không ?

– Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.

Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ Ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.

– Ông du hành sang cõi âm thế nào ?

– Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm.

Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngaỵ Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.

– Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?

– Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động.

Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết.

Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.

Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về doa. nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu.

Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa ; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở.

Như những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ.

Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được.

Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…

– Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?

– Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi, vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.

– Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao ?

– Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

– Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không ?

– Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao ? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ?

Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất.

Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được.

Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.

– Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?

– Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm.

Đối với người Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt.

Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…

– Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?

Hamud mỉm cười :

– Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.

Yên Huỳnh post

Advertisements

NÊN BIẾT VỀ CÕI VÔ HÌNH (1/2)

CÕI VÔ HÌNH

Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ khác phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi.

Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai cập.

Giáo sư Evans-Wentz vào đề :

– Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

Pháp sư thản nhiên :

– Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.

– Như thế ông tin rằng có ma…

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :

– Đó là một sự thật, không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

– Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?

– Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường, nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?

– Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

– Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :

– Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy :

– Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao ?

Vị pháp sư nghiêm giọng :

– Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

– Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi.

Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này.

Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn.

Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng.

Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú.

Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằn và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được.

Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt.

Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thỏa  mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng.

Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?

Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :

– Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford…

Giáo sư Harding giật mình kêu lên :

– Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?

– Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1964, và là người Ai cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

(Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1956 và tốt nghiệp năm 1964 với bằng Tiến sĩ Vật lý).

– Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?

– Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên bác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ.

Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.

Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :

– Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?

– Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…

– Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?

– Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..

– Như thế có nguy hiểm không ?

– Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn… Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….

– Ông có thể làm như vậy không ?

Vị pháp sư nghiêm mặt :

– Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.

– Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.

– Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự.

Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới.

Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngaỵ Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau.

Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dục vọng hành hạ mà không thể thỏa mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thỏa mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu.

Cõi giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thoa? mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thỏa mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm.

Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”.

Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngaỵ Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông tạ Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến.

Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”.

Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán.

Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia.

Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảmđục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại.

Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao hơn.

– Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao nhiêu lâu ?

– Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.

Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào.

Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học.

Hamud mỉm cười tiếp tục :

– Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ.

Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thoa? mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía.

(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh post

TỤC THỜ “CÁ ÔNG NAM HẢI” (2/2)

TÍN NGƯỠNG THỜ

CÁ ÔNG”NAM HẢI”

Ở BA TRI – BẾN TRE

– Dương Hoàng Lộc

Kỳ 2 (tiếp theo và hết)

Hiện tại, qua đối chiếu với các sách Đại Nam Nhất Thống chí, Gia Định Thành Thông chí thì không thấy có ghi chép về loài cá mang tên là cá dông. Ngoài ra, sau khi tham khảo một số từ điển chuyên ngành như: Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp Việt Nam, Từ điển Thủy sản Anh-Việt,…cũng không thấy nhắc đến. Có thể đây là tên gọi của dân gian, không phải tên gọi khoa học và phổ biến. Tuy nhiên, sách Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp Việt Nam lại có ghi chép về một số loài cá có hình dạng to lớn giống như cá ông và ăn thịt người, hay tấn công người đi trên biển ở Việt Nam: Cá nhà táng (Physeter catodon) -một loài thuộc bộ cá voi răng và cá mập ăn người (Carcharodon carcharias). Có thể cá dông chính là cá nhà táng hay cá mập ăn người. Đây là vấn đề cần tìm hiểu thêm.

Đặng Văn Thắng cho biết : “ Cá ông được phong là thần Nam hải Cự tộc Ngọc lân và từ thời Minh Mạng chỉ phong là chi thần (không phải là thượng đẳng thần hay trung đẳng thần), đến thời Tự Đức được phong là Trừng trạm, mà theo qui định của thời Tự Đức, được phong Trừng trạm là thuộc loại thủy thần hạng hạ đẳng thần, nên có thể nói từ thời Tự Đức cá ông là thuộc thủy thần hạng hạ đẳng” [Đặng Văn Thắng 2008: 254].

Qua khảo sát 12 lăng ông ở Bến Tre, chúng tôi không thấy có sắc thần nào của triều đình nhà Nguyễn phong tặng.

Ngoài ra, bài văn chánh tế của Lăng ông An Thuỷ mang nhiều ý nghĩa trong việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cá ông nói riêng và tín ngưỡng của ngư dân nói chung. Nguyên văn bài này như sau :

“Cảm chiêu cáo vu

– Thiên đình sắc phong di Nam Hải Đại Tướng quân Ngọc lân Thủy tướng Nam thần.

– Tả Lý ngư Phụ bắc An bang tôn thần. Hữu Lý lực Quảng độ Tế thế tôn thần.

– Ngũ đạo hải trình giang chữ : Ngao Khâm, Ngao Quảng, Ngao Nhuận, Ngao Hoá, Ngao Lai tôn thần.

– Kiêm niên quản trị :…hành khiển,…hành binh,…phán quan,…quỉ vương.

– Đông Nam Sát hải Lang lại nhị đại tướng quân.

– Thuỷ Long Thánh nữ nương nương chi vị.

– Tiền Âm tư chủ bộ Hà Bá Thuỷ quan tuần du thuỷ đạo Dạ Xoa sứ giả tôn thần.

– Đương cảnh Thành Hoàng Đại vương Bổn xứ Thổ công Thổ địa tôn thần.

– Tiền hiền Khai khẩn chi vị. Hậu hiền Khai khẩn chi vị.

– Bổn xứ Khai cơ chi vị. Cập chư bộ hạ thuỷ binh đồng thời chiếu giám

Viết :

Hải hà chung tú, thiên địa từ tinh, dương dương thâm thuỷ, tà chánh giám minh, trạch trạch khuyết linh, âm dương hiển hách, bảo vệ quần sanh, tá quốc gia chi cảnh, vận phò trừ dân chúng, bỉnh phước hoạ chi quyền hoành, thông tri tứ hải, bác vác thiên sơn, thiệt càn khôn chi dân võ thức, thiên địa chi phong lôi hoằng khai đại đức quảng hậu thâm ân, thời đương xuân tiết, chư nghệ phương hưng, nguyện chúng thắng bình cộng lạc, chúc nhơn nhơn khánh giá hân hoan, cảm vô cùng chi dư huệ giả.

Phục di cẩn cáo”

Có vài nhận xét về bài văn tế này như sau :

–  Thứ nhất, nội dung của bài văn này không nằm ngoài sự ca ngợi công đức, uy lực của cá ông và lòng ngưỡng mộ của ngư dân, bày tỏ cầu mong sự phù trợ thần linh cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

– Thứ hai, qua bài văn tế này, tín ngưỡng thờ cá ông có sự ảnh hưởng của Đạo giáo, với việc đề cập cá ông được thiên đình phong tặng danh hiệu Nam Hải Đại Tướng quân Ngọc lân Thuỷ tướng Nam thần. Điều này phù hợp với giai thoại dân gian được lưu truyền ở An Thuỷ mà chúng tôi đã nêu trên. Ngoài ra, cá ông không chỉ một mình về chứng lễ của ngư dân mà còn có nhiều vị thần khác. Đặc biệt, tên của hai vị thần phụ tá cá ông là Tả Lý ngư và Hữu Lý lực.

– Thứ ba, ngoài cá ông, một số vị thần trong bài văn tế này có liên quan đến biển cả, ngư nghiệp như: Ngũ phương Long Vương, Lang Lại tướng quân, Thuỷ Long nương nương, Hà Bá Thuỷ quan,…Bên cạnh đó, các vị thần có chức năng cai quản đất đai, xứ sở mà ngư dân sinh sống, lập nghiệp như: Thành Hoàng, Thổ Công, Thổ Địa và cả các vị có công lập làng, khai cơ đã quá cố. Đây là một tập hợp vừa có nhiên thần, vừa có nhân thần, có cả thuỷ thần và thổ thần, trong đó thuỷ thần giữ vai trò chính. Nó phản ánh được đời sống kinh tế, xã hội của người dân ở đây với ngư nghiệp giữ vai trò chủ đạo.

– Thứ tư, qua bài văn tế này, có sự tích hợp giữa yếu tố Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Yếu tố Đạo giáo ảnh hưởng đến tín ngưỡng thờ cá ông và sự có mặt của các thần có chức năng quản trị hằng năm ở dương gian như: Hành khiển, hành binh, phán quan, quỉ vương. Theo quan niệm của Đạo giáo, tuỳ vào mỗi năm mà có các vị thần quản trị tương ứng, chẳng hạn năm Tý thì có : Châu Vương hành khiển, Thiên Ôn hành binh, Lý Tào phán quan, Thiên Tặc quỉ vương.

Nhìn chung, tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân An Thủy là tiêu biểu nhất cho loại hình tín ngưỡng này ở Bến Tre. Đây là dạng thức tín ngưỡng thờ vật linh, phản ánh sự may rủi và bất trắc khi ngư dân lênh đênh đánh bắt trên biển. Ở góc nhìn theo sự phát triển của các hình thức đánh bắt, tín ngưỡng thờ cá ông ở đây ban đầu là hình thức tín ngưỡng của nghề chài lưới (xiệp, lưới sỉ, lưới gõ,…) và đóng đáy ở cửa sông và ven bờ (đáy rạo, đáy sông Cầu,..). Do vậy, họ mới có quan niệm cá ông giữ nhiệm vụ trấn giữ các cửa sông để cứu người, đưa vào bờ, không trôi dạt ra khơi.

Sau này, đặc biệt từ sau 1975, việc phát triển đánh bắt xa bờ (cào, lưới đèn, câu mực,…) đã tiếp tục mở rộng thêm vai trò của cá ông, đó là phù hộ cho ngư dân những ngày dài đánh bắt giữa biển khơi bao la. Mặt khác, cũng thấy rằng, con người không chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào cá ông mà còn cứu giúp cá khi bị mắc cạn, bị ăn trúng sam,…Đó là mối quan hệ có qua có lại, mang tính hai chiều, phản ánh sự gắn bó, hài hòa giữa con người với tự nhiên, phản ánh triết lý nhân quả “cứu người thì người cứu ta”,…của ngư dân.

Tín ngưỡng thờ cá ông ở đây nói riêng và Việt Nam nói chung còn chứa đựng những giá trị của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo (câu chuyện cá ông là hóa thân từ chiếc áo cà sa của Quan Âm bồ tát của ngư dân miền Trung) hòa lẫn vào nhau, thể hiện được tính dung hợp văn hóa- một đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam. Trong thời điểm hiện nay, tín ngưỡng thờ cá ông còn có ý nghĩa tích cực cho việc bảo vệ môi trường sinh thái biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang có nguy cơ cạn kiệt, mang tính nhân văn rõ nét. Tín ngưỡng thờ cá ông vẫn còn nguyên vẹn trong đời sống tâm linh của ngư dân ở đây khi mà nghề đánh bắt thủy sản còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, còn đầy thử thách và khó khăn ở mỗi chuyến ra khơi.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ cá ông còn nảy sinh và tích hợp một số hình thức liên quan và gắn liền như: Lăng ông, lễ hội nghinh ông và hát bội. Cách gọi lăng, tức nơi thờ cúng và đặt hài cốt cá ông, là cách gọi tôn kính của dân gian. Nguyễn Duy Oanh có nói đến lăng ông An Thủy : “ Ở quận Ba Tri, dân chài lưới có lập cái miếu thờ cá ông tại vùng Bãi Ngao. Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái…” [Nguyễn Duy Oanh 1971: 356]. Ông cũng không nói đến năm thành lập của lăng ông An Thủy. Qua tư liệu điền dã của người viết, lăng ông An Thủy được ông Lưu Hữu Phú-ông tổ của kiến họ Lưu tại đây thành lập. Hiện nay, dòng họ này đã truyền đến đời thứ 7. Có khả năng lăng ông này được lập cách đây chừng 150 năm, là lăng ông khá xưa của Bến Tre. Con cháu của dòng họ này cho biết, ông Lưu Hữu Phú từ Vĩnh Long sang đây, tụ dân làm nghề chài lưới ở con rạch Ngao Châu gần đó và tiến hành dựng lăng thờ cá ông để cúng bái, cầu nguyện cho nghề chài lưới được phát đạt. Cũng cần nói rằng, việc thành lập lăng ông An Thủy không phải vì lý do cá ông lụy, mà ở việc nghề chài lưới phát triển, họ cần thờ cá ông để cầu sự độ trì. Các bộ cốt cá ông đều có niên đại sau khi lập lăng. Nhìn chung, kiến trúc lăng ông An Thủy giống hệt một ngôi đình ở Nam bộ: Võ ca, võ qui, chánh điện, hậu điện, nhà khách, nhà trù. Lăng này được xây cất theo hướng Đông, hướng của biển-nơi ngự trị của cá ông. Trước mặt lăng là con rạch Ngao Châu đề ghe thuyền đánh bắt có thể về đậu trước lăng cho tiện cúng bái. Qua thời gian, con rạch này đã bị bồi lắp, do vậy, nó chỉ còn lại chứng tích là bãi dừa nước ở phía trước lăng hiện nay. Lăng ông An Thủy phần lớn được xây dựng bằng chất liệu xi măng, được trùng tu qua nhiều lần nên khá rộng rãi và vững chắc. Điều này chứng tỏ sự quan tâm của ngư dân đến lăng ông, sự phát triển của đời sống kinh tế An Thủy qua hàng năm. Nhìn chung, so với các lăng ông khác ở Bến Tre, lăng ông này có sự vững chắc, qui mô lớn, khang trang hơn nhiều lần.

Phía ngoài sân của lăng ông An Thủy có thêm bia Long Mã Hà Đồ, hai miễu thờ Bạch Mã và Thái Giám. Sau bia Long Mã Hà Đồ, có ban thờ Thần Nông. Hằng năm, Ban Khánh tiết Lăng tổ chức cúng tạ Thần Nông vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, tức lễ thượng điền.

Việc có ban thờ Thần Nông và lễ cúng thượng điền tại đây có nguyên nhân của nó. Thứ nhất, cộng đồng ngư dân An Thủy được xem là lớp ngư dân bãi dọc, nằm trong con rạch Ngao Châu và Bà Hiền, bên dòng sông Hàm Luông chảy ra biển Đông. Do nằm sâu bên trong và cách biển khá xa, cho nên ngư dân ở đây tiến hành nghề trồng giồng trên những giồng cát và trồng lúa. Thứ hai, trước đây do nghề đáy sông Cầu, đáy rạo chỉ hoạt động vào mùa Nam (từ tháng 2 đến tháng 8 âm lịch) và nghỉ vào mùa chướng (từ tháng 9 đến tháng 1 âm lịch). Cho nên, với thời gian ngư nhàn khá lâu, ngư dân chuyển sang làm nghề nông để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống. Do vậy, cả hai yếu tố nông nghiệp và ngư nghiệp cùng chi phối đời sống kinh tế, xã hội và cả văn hóa ở cộng đồng ngư dân An Thủy, trong đó ngư nghiệp giữ vai trò chính.

Việc thờ Thần Nông và lệ cúng thượng điền của lăng ông An Thủy chính là sự phản ánh rõ nét yếu tố nông nghiệp đã chi phối đời sống của ngư dân ở đây xưa và nay. Lăng ông này có bày trí nổi bật. Đó là trống, mõ, lỗ bộ, cờ màu đỏ góp phần cho sự trang nghiêm. Mặt khác, các hương án được sơn màu đỏ, đắp nổi hình long-phung, long mã hà đồ, lân,…Đặc biệt, ở đây có đặt hài cốt của cá ông, hai bên ban thờ chính là xương cá đao. Trong chánh điện lăng ông An Thủy, giữa là ban thờ cá ông, có ghi chữ Thần khá lớn, hai bên là ban thờ tả ban và hữu ban. Phía sau là hậu điện, có ban thờ Tiền Hiền và Tiên Sư. Trước lăng ông An Thủy có đôi câu đối ca ngợi cá ông :

Sanh vi tướng tiền nhân thọ đức

Tử vi thần hậu thế tri ân

Hay:

Đền cổ lưu truyền tiền bối thọ

Tích xưa rọi dấu hậu nhân tu

Hằng năm, ngư dân An Thủy tổ chức lễ nghinh ông vào 3 ngày : 15 và 16, 17 tháng giêng, theo đó ngày 16 là ngày chánh. Trước đây, sau lễ nghinh ông này, ngư dân bắt đầu sửa chửa thuyền, vá lại lưới để tiến hành công việc đánh bắt sau thời gian ngư nhàn. Do đó, lễ hội nghinh ông ở đây thực chất là lễ hội cầu ngư, tức cầu cá ông độ trì cho một năm đánh bắt được thuận lợi, cho tôm cá đầy khoang.

Nhìn chung, lễ hội nghinh ông An Thủy bao gồm các nghi lễ: Nghi Xây chầu Đại bội (tối ngày 15), nghi Nghinh Ông (sáng ngày 16), nghi Tế Tiền vãng (sáng ngày 16), nghi Tĩnh sanh (chiều ngày 16), nghi Chánh tế ( khuya ngày 16), nghi Đưa khách (khuya ngày 17). Ngoài ra, ở Lăng ông An Thuỷ, trước nghi tế tiền vãng là nghi tế chiến sĩ trận vong ở đền thờ liệt sĩ của xã, bởi vì họ quan niệm: Có những người vì nước xả thân, vì dân quên mình cho đất nước bình yên thì mới có công cuộc mở mang, phát triển của các bậc tiền nhân. Do vậy, nghi tế chiến sĩ phải thực hiện trước nghi Tế Tiền vãng. Bến Tre là vùng đất mà chiến tranh đã tàn phá ác liệt qua 2 cuộc kháng chiến. Chính điều này đã làm cho nội dung của lễ hội ở đây mang đậm yếu tố lịch sử, thể hiện lòng ngưỡng vọng tri ân với các anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân. Nội dung của bài văn tế tha thiết nhưng không kém phần hào hùng, thể hiện được tấm lòng của người đời sau :

Nơi trận địa từ đây vắng mặt

Lễ chiêu hồn nghĩ lại đến chiến công

Cầu vong linh phối hưởng tất lòng

Sớm siêu hưởng về nơi cõi thọ

Mặt khác, trong nghi Tế Tiền vãng ở đây, ở bàn thờ Tiền Hiền bao giờ cũng có 12 tô thịt để cúng. Nó tượng trưng cho 12 vị hương chức điều hành công việc của làng ngày xưa, bao gồm: Hương cả, hương chủ, hương sư, hương trưởng, hương hào, hương thân, hương chánh, hương lễ, hương văn, hương quan, hương ẩm và xã trưởng. Do vậy, nghi lễ này mang tính lịch sử, phản ánh được cơ cấu tổ chức làng xã của địa phương trước đây. Victor.Turner, trong bài viết khá nổi tiếng Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu, đã nhận xét :

Biểu tượng nghi lễ trở thành một thành tố trong hành động xã hội, một sức mạnh trong một phạm vi hoạt động. Biểu tượng luôn gắn liền mật thiết với những quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người cho dù những cái này hiện hữu rõ ràng hay phải luận ra từ những hành vi quan sát được” [Hội khoa học Lịch sử Việt Nam 2006: 243]. Tuy nhiên, lễ nghinh ông An Thuỷ không có nghi thức ra biển nghinh ông. Theo các ngư dân cao tuổi cho biết, trước đây có tổ chức lễ này, nhưng vì trong chiến tranh, đây là nơi giáp ranh giữa 2 bên ta và địch, sợ đạn pháo bắn nhầm, nên Ban Khánh tiết không dám ra khơi nghinh. Lễ hội nghinh ông của cộng đồng ngư dân An Thuỷ vừa mang ý nghĩa tâm linh, sự cầu mong một mùa đánh bắt thuận lợi, bình an nơi biển cả, nhưng cũng vừa là nhu cầu giải trí, giao lưu, và cố kết cộng đồng ngư dân với nhau.

Trong ngày lễ nghinh ông, ghe đánh bắt của ngư dân An Thủy phải tề tựu về dự lễ cúng. Họ mang những lễ vật đến lăng cúng tạ ơn ông Nam Hải, ghe nào trúng mùa thì tạ lễ bằng heo quay, ngoài ra còn có xôi, chè,…Xung quanh lăng không khí nhộn nhịp, đông vui với các hàng quán buôn bán. Mỗi gia đình đều cử người đến miếu cúng. Sau đó, họ ngồi bên nhau để lai rai và tâm tình về nghề biển, về những chuyến đánh bắt tiếp theo.

Các món ăn do Ban Khánh tiết đãi là những lễ vật mà ngư dân đem đến cúng. Ngoài ra, họ còn có thêm các món: Cá đuối tái giấm hay xào nghệ, mắm cá, mắm tép ăn với thịt phay…Đây là những món ăn riêng có của vùng biển. Beverly J.Stoeltfe đã nói về vai trò của ẩm thực trong lễ hội: “ Đặc biệt đáng nói là bản chất của ẩm thực trong lễ hội. Nó là hiện thân cho bản sắc cộng đồng đó và là biểu trưng cho dịp này, cho nên thức ăn trong lễ hội luôn luôn có tính đặc trưng…..Lễ hội cũng nhấn mạnh tác động có tính xã hội của ẩm thực, bởi vì trong bối cảnh này nhiều người hấp thụ truyền thống của họ một cách đồng thời, do đó khẳng định bản sắc của họ như một nhóm người liên kết bằng cách ăn những thực phẩm nhất định trong khoảng thời gian nhất định” [Ngô Đức Thịnh-Frank Proschan 2005: trang 145-146].

Liên quan đến tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thuỷ còn có hình thức hát bội. Hát bội là hình thức nghệ thuật tiêu biểu ở Nam bộ, được sử dụng cho các lễ cúng kỳ yên ở các đình, miếu. Không chỉ vậy, hát hội còn được sử dụng trong các lễ hội nghinh ông ở Bến Tre, trong đó có ở cộng đồng ngư dân An Thuỷ. Trong lễ hội nghinh ông ở các tỉnh ven biển miền Trung, hát bội được gọi là hát án hay hát thứ lễ. Sách Từ điển Nghệ thuật Hát bội Việt Nam cho biết rằng, trước khi hát án, ban vạn tiến hành nghi lễ rước ông ra án đối diện với sân khấu để ông xem hát và chứng lễ. Vở diễn hát án thường được chọn một số vở trong pho tuồng Tam Quốc, nhưng bắt buộc phải có vở Cổ Thành. Thường một đội hát án hát từ 30 giờ đến 60 giờ [Nguyễn Lộc1998: 213-214]. Nhìn chung, hát bội trong lễ nghinh ông ở An Thuỷ giống với các nơi khác: Trước là cúng cho thần linh, sau cho bổn hội và bà con ngư dân giải trí.

Hát bội ở đây thường là 3 suất hát, phản ánh được sự sung túc của ngư dân. Năm 2008, Lăng ông An Thuỷ hát tuồng: La Thông Tảo Bắc, Bao Công Xử Án Quách Hoè, Quan Công Phò Nhị tẩu. Nội dung các tuồng hát này không ngoài nhân nghĩa, trung hiếu của lễ giáo phong kiến,…góp phần định hình tính cách của ngư dân. Ngày nay, Bến Tre chỉ còn lại một số đoàn hát bội hoạt động trong dịp kỳ yên ở đình, miếu, lăng như: Đoàn Lâm Tiến và Tâm Đồng (thị xã Bến Tre), đoàn Thanh Điền (huyện Thạnh Phú), đoàn Kim Phụng và Ngọc Quí (Sở VH-TT Bến Tre), đoàn Đào Đửng (huyện Ba Tri),…

Tuỳ vào hàng năm mà Ban Khánh tiết Lăng Ông An Thuỷ có thể mời một trong các đoàn này đến biểu diễn để phục vụ bà con ngư dân. Kết thúc cả 3 tuồng hát bội là Lễ Tôn vương. Đinh Bằng Phi cho biết: “ Chính nghĩa đã chiến thắng, bọn gian tà bị tiêu diệt, những người trung thần tôn hoàng tử lên ngôi. Quân thần, phụ tử, phu thê, bằng hữu được đoàn tụ trong không khí đoàn viên, thỏa nguyện. Tất cả các nhân vật của màn cuối vở hát, với cờ xí, tàn lộng nối nhau, từ lớn tới nhỏ lần lượt rời sân khấu, đi thẳng vào chánh điện. Ban tổ chức quí tế lên đèn hương để tiếp đón đoàn diễn viên đến bái yết linh thần”[Đinh Bằng Phi 2005: 99]. Ở đây, ông bầu hay bà bầu của đoàn hát sẽ đứng ra đại diện cầu chúc đất nước, cho bổn hội, cho bà con ngư dân được một mùa bình an, đời sống phát triển.

Lễ tôn vương phản ánh rõ nét ý thức hệ phong kiến đã ảnh hưởng sâu sắc vào hát bội. Ngoài võ ca, 3 hồi trống chầu vang lên, đoàn hát bội quay vào buồng hát. Hát bội kết thúc giữa đêm khuya. Mọi người lại hẹn nhau vào mùa lễ năm sau. Mặt khác, qua khảo sát  các lăng ông ở Bến Tre, chúng tôi không thấy xuất hiện hình thức hát bả trạo trong lễ hội nghinh ông. Hát bả trạo là hình thức diễn xướng có chức năng nghi lễ, gắn liền với tục cầu ngư của ngư dân ven biển miền Trung.  Hiện nay, ở Bà Rịa-Vũng Tàu còn lại hình thức hát bả trạo trong lễ nghinh ông của ngư dân. Điều này góp phần làm nên sự khác biệt của lễ hội nghinh ông ở Bến Tre và Bà Riạ- Vũng Tàu.

Tóm lại, tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân An Thuỷ là tiêu biểu cho loại hình tín ngưỡng này ở vùng ven biển Bến Tre. Qua đó, tín ngưỡng thờ cá ông tồn tại với các hình thức liên quan đến như: Lăng ông, lễ hội nghinh ông, hát bội và tạo nên một dạng thức văn hoá, tạm gọi là văn hoá tín ngưỡng thờ cá ông. Mặt khác, tín ngưỡng này còn phản ánh được thế giới quan, suy nghĩ và cả đời sống kinh tế-xã hội của ngư dân An Thuỷ qua chiều dài phát triển. Ở đây, tín ngưỡng nói riêng và văn hoá nói chung còn là tấm gương phản chiếu của lịch sử. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực văn hoá của Bến Tre và địa phương cần phục hồi lại lễ ra khơi nghinh ông  ở An Thuỷ như ngày xưa đã từng có. Có như vậy, chúng ta góp phần làm cho lễ hội nghinh ông An Thuỷ tưng bừng hơn, phù hợp hơn. Làm được điều này chính là biết bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc trong thời hội nhập và phát triển.

Dương Hoàng Lộc

TỤC THỜ “CÁ ÔNG NAM HẢI” (1/2)

LĂNG ÔNG NAM HẢI

SÔNG ĐỐC – CÀ MAU

Cà Mau, một tỉnh có độ tiếp giáp với biển thuộc hạng cao của Việt Nam, cư dân miệt biển thường có những tín ngưỡng phù hợp với đời sống làm ăn thường nhật của mình. Vì thường xuyên đối mặt với những hiểm nguy trên biển nên họ thường tin vào những đấng thiêng liêng vô hình và hữu hình. Cá Ông – một linh vật thường được người dân tin; khi tàu thuyền của họ gặp nạn, có nhiều chiếc thuyền bị đắm nhưng ngư phủ sống sót là nhờ Cá Ông đưa vào bờ…

Sông Đốc ngày 15/7/1925, sau một đêm bão tố mịt mùng, một xác cá Ông (cá Voi) dài 20,3 m trôi dạt vào Vàm Xoáy được các ngư dân cao niên như : cụ Nguyễn Hữu Định, cụ Nguyễn Văn Học, cụ Mai Văn Lầu, cụ Huỳnh Văn Dỏng, cụ Nguyễn Văn Tiền, cụ Võ Văn Trí, cụ Phan Văn Vị đã thỉnh xác Ông Cá về Vàm Rạch Ruộng cất Lăng thờ cúng vị Ân ngư, người bạn đường của ngư phủ trên biển cả.

Năm 1943, tàu Pháp tuần tiễu bắn đạn pháo vào làm cháy Lăng Ông, ngư dân Sông Đốc đã liều mình trong lửa đỏ để cứu hài cốt của Ông Cá, nhưng cháy hết chỉ còn 2 xương cạnh hàm của Ông Cá. Phần hài cốt đó cháy sém nên ngư dân đã quấn vải đỏ và lập Lăng mới tại Vàm Sông Đốc để tiếp tục thờ cúng Ông. Bên cạnh đó, ngư dân đã thành lập Vạn Lăng Ông để cùng nhau đoàn kết trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt cộng đồng bao gồm : các ngư phủ yêu nghề biển cùng các thương nhân kinh doanh, chế biến hải sản và các tiểu thương làm dịch vụ nghề cá cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau về vốn và kinh nghiệm ngư nghiệp. Hiện nay, để quản lý và hằng năm làm Lễ Nghinh Ông nên Vạn dân đã bầu ra Ban Trị Sự Lăng Ông để đại diện ngư dân nơi đây trị sự và đối ngoại cho Vạn Lăng Ông và di dời Lăng Ông từ Vàm Sông Đốc về vị trí hiện nay, Lăng Ông đang tọa lạc tại khóm 2 thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Với sự giúp đỡ của ngư dân thập phương, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và ngành Văn hóa Thông tin tỉnh Cà Mau, Lăng đã được nhiều lần tôn tạo, trùng tu và nâng cấp, trở thành một di tích lịch sử Văn hóa tôn kính, một biểu tượng tinh thần cao đẹp của ngư dân và ngành ngư nghiệp tỉnh Cà Mau.

Bài Diệu Minh

TÍN NGƯỠNG THỜ CÁ ÔNG

Ở BA TRI BẾN TRE

– Dương Hoàng Lộc

Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của Đồng bằng Sông Cửu Long, nằm về phía hạ lưu sông Tiền, có chiều dài giáp biển đến 65 km. Sách Địa chí Bến Tre cho biết: “Qua khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài [Thạch Phương- Đoàn Tứ 2001: 228]. Riêng đối với loài cá sống ven biển thì có: Cá mòi, cá nục, cá đuối, cá gúng, cá trích, cá chim,…. Sự đông đúc và đa dạng về chủng loại tôm, cá ở vùng ven biển có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành các nhóm đánh bắt thủy hải sản ở vùng ven biển Bến Tre. Mặt khác, Bến Tre có bờ biển khá dài và 4 con sông lớn (Cổ Chiên, Ba Lai, Hàm Luông, Cửa Đại) hướng ra biển, nên hình thành được hai cộng đồng ngư dân ven biển: An Thủy (huyện Ba Tri), Bình Thắng (huyện Bình Đại). Việc tìm hiểu văn hoá của các cộng đồng ngư dân này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần xác định diện mạo của các cộng đồng này qua chiều dài phát triển. Tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thuỷ là một trong những minh chứng cho điều ấy.

Theo các nhà nghiên cứu cho biết, tín ngưỡng thờ cá ông là hình thức tín ngưỡng phổ biến của cư dân ven biển Việt Nam, đặc biệt từ miền Trung trở vào, là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Việt-Chăm trong quá trình Nam tiến của người Việt. Tín ngưỡng này thực chất là tín ngưỡng vật linh (animism), thể hiện sự sùng bái của con người trước biển cả trong quá trình mưu sinh, đánh bắt lênh đênh trên biển. Các sách như: Đại Nam Nhất Thống Chí của triều Nguyễn, Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Thoái Thực Ký Văn của Trương Quốc Dụng, Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ,…đều có ghi chép về cá ông, phần lớn cho rằng đây là loài cá hiền lành, linh thiêng hay cứu người đi buôn bán trên biển và chài lưới, mỡ cá dùng để cứu người.

Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ cá ông có mặt ở 3 huyện ven biển: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú từ xưa đến nay. Lư Xuân Chí cho biết: “ Qua kết quả tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bến Tre năm 2004, toàn tỉnh có 12 lăng ông chia ra: Huyện Ba Tri 4 lăng, huyện Thạnh Phú 4 lăng, huyện Bình Đại 4 lăng” [Lư Xuân Chí 2005 : 138]. Tuy nhiên, qua điều tra của người viết vào 2008, Bến Tre có đến 12 lăng ông thuộc 3 huyện ven biển Ba Tri (3 lăng), Bình Đại (5 lăng), Thạnh Phú (4 lăng) :

Danh sách và Địa chỉ các Lăng ông ở Bến Tre

STT Tên Địa Chỉ
1 Lăng Ông Nam Hải ấp An Lợi-xã An Thủy-huyện Ba Tri
2 Lăng Ông Nam Hải ấp Thạnh Lộc-xã Bảo Thạnh-huyện Ba Tri
3 Lăng Ông Nam Hải ấp Thạnh Phú-xã Bảo Thạnh-huyện Ba Tri
4 Lăng Ông ấp 5-xã Thạnh Phong-huyện Thạnh Phú
5 Lăng Ông Thủy Tướng ấp Giao Thạnh-xã Giao Thạnh-huyện Thạnh Phú
6 Lăng Ông Nam Hải ấp An Ninh-xã An Thuận-huyện Thạnh Phú
7 Lăng Ông Nam Hải ấp Thạnh Hải-xã Thạnh Hải-huyện Thạnh Phú
8 Lăng Ông Nam Hải ấp 3-xã Bình Thắng-huyện Bình Đại
9 Lăng Ông ấp Thừa Lợi-xã Thừa Đức-huyện Bình Đại
10 Lăng Ông ấp Thừa Trung-xã Thừa Đức-huyện Bình Đại
11 Lăng Ông Nam Hải ấp Thới An-xã Thới Thuận-huyện Bình Đại
12 Lăng Ông Nam Hải ấp Vinh Điền- xã Vang Quới Tây-huyện Bình Đại

Qua đó, ở Bến Tre có các nhóm cư dân thờ cá ông như sau :

– Thứ nhất, đó là tín ngưỡng những nhóm đánh bắt nhỏ lẻ, làm nghề chài lưới ven bờ : Lăng ông ấp Thạnh Lộc và Thạnh Phú (xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri), lăng ông ấp 5 (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú), lăng ông ấp Thạnh Hải (xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú), lăng ông ấp Thừa Lợi và Thừa Trung (xã Thừa Đức, huyện Bình Đại), lăng ông ấp Thới An (xã Thới Thuận, huyện Bình Đại). Việc tôn thờ cá ông ở đây chính là nhằm cầu mong cho nghề đánh bắt được thuận lợi, trúng nhiều tôm cá. Mặt khác, riêng đối với lăng ông ấp Thạnh Hải (xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú) được thành lập năm 2004, sau khi cá ông lụy. Những ngư dân cao tuổi tổ chức xây lăng và thờ phụng, không chỉ vậy, tín ngưỡng này còn có cả những người làm nghề trồng dưa hấu tin tưởng. Đây là lăng ông “trẻ” nhất của Bến Tre. Như vậy, tín ngưỡng thờ cá ông vẫn còn trong mạch tâm linh của người dân ven biển Bến Tre cho đến tận hôm nay.

– Thứ hai, đó là tín ngưỡng những người làm nghề chài lưới ven song : Lăng ông ấp An Ninh (xã An Thuận, huyện Thạnh Phú), ấp Vinh Điền (xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại). Đây là trường hợp cá ông con chẳng may bị xẩy hay xảo, theo dòng nước vào tận bên trong sông, được lập lăng thờ cúng. Lăng ông ấp An Ninh, xã An Thuận cách cửa biển chừng 20 km, nằm bên dòng sông Cổ Chiên, được thành lập vào 1954. Cá ông này khi lụy có hình dạng nhỏ, chiều dài chừng 1,6m, đường kính 0,5m, nặng 350 kg. Lăng ông ở Vang Quới Đông nằm bên cạnh  sông cửa Đại, cách biển chừng 30 km. Một tiều phu đốn củi tình cờ bắt gặp thi hài cá ông ở làng Phú Thuận gần đó. Người này về kể lại cho dân làng Vang Quới nghe. Các vị cao tuổi sắm khay trầu rượu và lễ vật đi cùng với vị tiều phu này sang làng Phú Thuận xin thọ tang cá ông và mang hài cốt về đây thờ. Ở trường hợp này, tín ngưỡng thờ cá ông có ảnh hưởng và lan rộng, đi sâu vào tâm thức của người dân làm nghề chài lưới ven sông, cách biển khá xa. Ngoài ra, đó phải chăng là sự tiếp nối truyền thống văn hoá của cha ông họ vốn có nguồn gốc từ miền Trung vào, mà tín ngưỡng thờ cá ông là một điển hình ?

– Thứ ba, đó là chứng tích của một thời mà cư dân địa phương gần với biển, làm nghề đánh bắt ven bờ : Trường hợp lăng ông ấp Giao Thạnh (xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú). Trước năm 1938, xã Giao Thạnh nằm sát biển và có nhiều ngư dân làm nghề đáy rạo sinh sống. Tuy nhiên, vì lý do bị sạt lỡ khá nặng, năm 1938, Pháp tiến hành san lấp và khoá cửa Vàm Rỗng lại. Từ đó cho đến nay, đất phù sa đã bồi hàng chục km. Do vậy, người dân ở đây chuyển sang nghề trồng lúa, làm vườn cho đến nay. Đây là một lăng ông khá xưa của huyện Thạnh Phú, một dạng thờ cá ông khá độc đáo của Bến Tre: Từ tín ngưỡng của cư dân làm nghề chài lưới ven biển dần chuyển thành tín ngưỡng của nghề nông, do bị thay đổi bởi điều kiện tự nhiên.

– Thứ tư, đó là tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển : Lăng ông ấp An Lợi (xã An Thuỷ, huyện Ba Tri), lăng ông ấp 3 (xã Bình Thắng, huyện Bình Đại). Do ngư dân nơi đây hoạt động và gắn bó với nghề đánh bắt thuỷ sản xa bờ ngày nay và nghề chài lưới, đóng đáy, đánh bắt ven bờ trong quá khứ, cho nên tín ngưỡng thờ cá ông là hình thức tín ngưỡng trực tiếp liên quan đến nghề nghiệp của họ. Do đó, hình thức tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân là quan trọng và nổi bất hơn hết so với các nhóm cư dân khác. Nó thể hiện khá rõ trên khá nhiều phương diện như: Giai thoại dân gian lưu truyền nhiều hơn, lễ hội lớn hơn, kiến trúc thờ tự qui mô hơn,…

Qua khảo sát tại An Thủy, ngư dân có khá nhiều giai thoại liên quan đến cá ông. Theo lời kể lại của họ, cá ông vốn là vị thần được Ngọc Hoàng phái xuống trần, biến thành cá ở từng cửa biển để cứu giúp người dân mỗi khi gặp nạn. Nếu cứu được càng nhiều người sẽ tích được công đức cho đến khi thiên đình tổ chức kỳ thi. Nếu công đức nhiều, cá sẽ vượt được vũ môn hóa thành rồng, bay về trời. Ngược lại, nếu tích ít công đức, cá tiếp tục quay trở lại nơi cũ tiếp tục sứ mệnh cho đến khi đầy đủ. Khi gặp người bị nạn, cá ông không cứu sẽ bị cá đao phanh thây, đất trời nổi sóng gió. Câu chuyện này có mang yếu tố Đạo giáo khá rõ. Họ còn cho biết, mỗi khi cá ông đi tuần sẽ có một cặp cá đao, cặp tôm càng và cặp mực theo hầu.

Sách Đại Nam Nhất Thống chí có ghi : “ Cá đao : đao ngư, trên đầu có xương dài, nanh sắc như dao cưa, sắc xanh không vảy, có loài đẻ con. Tục truyền khi cá ông voi bơi đi, tất có một đôi cá đao đi trước để hộ vệ. Đấy cũng là việc lạ”[Quốc Sử Qúan triều Nguyễn-Viện Sử học 2006 (tập 5): 483]. Cá ông rất thích ăn cá mồi và ruốc. Mỗi khi gặp được mồi, cá đao sẽ bao quanh vòng ngoài, mực vươn tua dài phun nước màu đen, cá ông sẽ xoay vòng nước đưa con mồi vào miệng. Tuy nhiên, cá ông rất kỵ con sam, nếu lỡ bị sam bám vào thành miệng, hút máu thì sẽ đau đớn, giãy dụa và bơi vào bờ để nhờ người gỡ dùm. Ngư dân ở đây thường gọi cá ông bằng “ông Nam Hải”, “Nam Hải Tướng quân“, hay đơn giản nhất là “ông”. Mỗi khi cá lỡ chui vào lưới, ngư dân khấn và mở lưới để ông thoát ra ngoài.

Khi cá ông lụy, tùy vào mỗi nơi mà có cách an táng khác nhau, tuy nhiên, người đầu tiên nhìn thấy sẽ là con trưởng và phải chịu tang. Ở Lăng Ông An Thủy có 3 bộ cốt cá ông. Bộ cốt đầu tiên do ông lụy vào năm 1917, được ngư dân đưa vào lăng thờ. Bộ cốt thứ hai do cá ông lụy vào năm 1954. Thi hài Ông dài chừng 7m, ngang 1,7m, nằm ở phía ngoài cồn, được một số người Bắc di cư vào đây phát hiện. Họ sửa soạn xẻ thịt cá thì ngư dân tại đây phát hiện, xin chuộc lại với số tiền khá lớn. Sau đó, ngư dân tổ chức lễ an táng. Tại nơi cá ông lụy, người ta đào một cái hố khá lớn, bên dưới phủ vải đỏ, lập bàn hương án cho ngư dân cúng bái. Cả làng lúc này đi tìm người đầu tiên thấy ông để làm người con trưởng, chịu tang. Tuy nhiên, vì theo quan niệm của ngư dân, người làm con trưởng sẽ bị nghèo khó suốt đời, nên người này đã bỏ trốn vào Cà Mau sinh sống. Nếu không có người con trưởng, xác ông sẽ không lung lay và  an táng được. Người ta bắt buộc phải tìm người thứ hai thấy ông lụy để làm con trưởng, chịu tang 3 năm.

Phải chăng việc chịu tang cá ông có sự thâm nhập của yếu tố Nho giáo vào tín ngưỡng này ? Sau khi an táng xong, ngư dân xây ngôi mộ cho ông tại nơi này. Trong thời gian để xác ông, những loài vật như chó, mèo và cả ruồi muỗi không dám đến gần. Ghe đáy rạo, đáy sông cầu quay về cúng bái long trọng. Đêm đó, trời nổi sấm chớp và giông gió lớn làm cho cả đoàn ghe va vào nhau. Những người hiếu kỳ thì đến gặp các ngư dân có trách nhiệm để xin huyết và da của ông về uống cho khỏe mạnh, làm bùa đeo cho trẻ con để trừ tà ma. Tuy nhiên, điều này đã không được chấp nhận. Ngư dân còn kể lại rằng, vào sáng hôm sau, một ông khác to lớn đi vào cửa sông, phá đi hàng chục khẩu đáy, rồi vọi nước lên cao để trở ra ngoài khơi. Người ta cho rằng, đó là cá ông mẹ đi tìm cá ông con. Sau đó, đến lễ nghinh ông vào năm sau (ngày 16 tháng giêng), ngư dân tổ chức lễ thỉnh cốt ông về nhập lăng. Người ta đào mộ lên, mang cốt ông rửa thật sạch, phủ vải đỏ. Đoàn đi rước có chiêng, trống, long đình và pháp sư theo cùng. Bộ cốt thứ ba ở lăng ông An Thủy khá nhỏ, do người dân thấy ông con xẩy, họ an táng và mang cốt gửi vào lăng. Nguyễn Duy Oanh, cho biết một chi tiết : “ Dân chài vùng Bãi Ngao (Ba Tri) cũng thuật rằng cũng có lần thuyền của vua Gia Long đến đây gặp sóng to gió lớn và cũng được cá ông hộ tống đến Bãi Ngao”[Nguyễn Duy Oanh 1971: 356]. Qua thực tế của người viết vào năm 2007 và 2008, câu chuyện này không xuất hiện qua lời kể của các ngư dân cao tuổi. Phải chăng nó đã bị lãng quên qua thời gian ?

Đó là giai thoại dân gian khá phổ biến ở vùng ven biển Nam bộ, chứ không riêng gì ở Vàm Láng (Tiền Giang). Việc gắn cá ông  với quá trình bôn tẩu của vua Gia Long làm cho tín ngưỡng thờ cá ông có nội dung lịch sử, góp phần nâng cao vị thế của vị thần này với triều đình nhà Nguyễn. Ngoài ra, cũng không loại trừ việc tuyên truyền, ca tụng “sứ mạng thiên tử” của Nguyễn Ánh trong lúc bôn ba phục nghiệp bằng khá nhiều giai thoại ly kì ở Nam bộ. Cho đến nay, những câu chuyện về sự linh ứng của cá ông cứu người khi gặp nạn trên biển, đặc biệt đó là những con người thật còn sống ở địa phương, vẫn còn lưu truyền rộng rãi. Điều này chứng minh một điều tín ngưỡng thờ cá ông còn chi phối quan trọng trong đời sống tinh thần của ngư dân An Thủy, nó phản ánh việc đánh bắt xa bờ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thường xuyên có bất trắc, điều không may đến với họ khi lênh đênh trên biển.

Trong quá trình tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thủy, ngư dân có sự phân biệt khá cụ thể, rõ ràng giữa cá ông với các loài cá khác có hình dạng gần giống nhau như : Cá xà, cá dông,…. Đây là các loài cá có mặt ở vùng ven biển Bến Tre trước đây. Hiện nay, chúng còn lại rất ít.

Cá xà được ghi rõ trong Gia Định Thành Thông chí : “ Cá nhám ( giao sa), có tên nữa là cá xà, da có sạn, thân to lớn đến 3-4 ôm, dài hơn 1 trượng, mắt đỏ, miệng lớn. Thường thừa khi sóng gió mạnh mẽ, cả bầy đuổi theo ghe thuyền, chực ghe chìm đặng nuốt người. Tính nó rất hung dữ, người đi ghe phải bỏ xuống một khối đá hay bao gạo mong cho nó nuốt xong no bụng để đi. Cá này cũng có rún đẻ con. Có loài cá xà ở hồ, ăn tươi hay phơi khô đều dùng được. Vây của nó phơi khô đem bán là loại thức ăn thượng hạng” [Trịnh Hoài Đức 2005: 208-209]. Tuy nhiên, giữa cá ông và cá dông rất dễ lầm lẫn với nhau. Do đó, họ có sự phân biệt cụ thể như sau:

Bảng phân biệt chi tiết cá ông và cá dông

STT TIÊU CHÍ CÁ ÔNG CÁ DÔNG
1 Da Da màu đen, láng và mịn Da màu xám, hơi mốc
2 Lưng Có rãnh máng dài trên lưng Có kỳ trên lưng
3 Đuôi Đuôi giống đuôi tôm 

(đuôi bẹ)

Đuôi giống đuôi cá bình thường
3 Miệng Không có răng Có răng lởm chởm cả 2 hàm
4 Cách vọi Vọi nước thẳng lên cao Vọi nước tua ra, không lên thẳng và cao.
5 Thức ăn Các loài cá nhỏ và giáp xác như: cá mòi và ruốc,… Ăn tạp, kể cả thịt người
6 Cách ăn Xoay cuộn nước để đưa thức ăn vào miệng Ăn theo kiểu táp tới
7 Khi chết Thịt không hôi, ruồi muỗi không đến gần. Thịt hôi rữa, ruồi muỗi bám.
8 Sau khi được người cứu Bơi ra biển, vọi nước thẳng lên biểu thị cám ơn. Quay lại ăn thịt người đã cưú

(Còn 1 kỳ nữa)

15 Điều Tâm Niệm

15 ĐIỀU TÂM NIỆM

Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta.

Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

1. Sống trong hiện tại

Phật hỏi đệ tử :

– Cuộc sống người ta được bao nhiêu ?

Các đệ tử thay nhau trả lời :

– 80 năm – Sai. – 70 năm – Còn sai – 60 năm – Sai.

– Vậy người ta sống bao lâu?

Phật mỉm cười đáp

– Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở.

Lời bình : Đừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại.

2. Sau khi chết người ta đi về đâu ?

Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku.

– Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu ?

– Tôi không biết.

– Tại sao thầy không biết ?

– Vì tôi chưa chết.

– ???

Lời bình : Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra.

3. Định mệnh nằm trong bàn tay

Thời xưa, có vị tướng quyết tấn công địch dẫu quân địch mạnh hơn gấp nhiều lần. Trên đường tiến quân, ông dừng chân ở một đền thờ cầu nguyện, xin giúp đỡ. Sau đó, ông rút ra một đồng xu và nói lớn với quân sĩ :

– Bây giờ, ta sẽ lấy đồng xu để xin keo. Nếu là sấp, quân ta sẽ thắng còn ngửa thì quân ta sẽ bại. Chúng ta phó mặc mạng sống cho định mệnh. Đồng xu bay lên, xoay mấy vòng và rơi xuống đất.

– Sấp rồi ! Chúng ta sẽ thắng ! Hãy xông lên chà nát quân thù ! – Ba quân reo hò phấn khởi.

Sau trận chiến, toàn bộ quân địch hùng hậu đông đảo bị đánh bại hoàn toàn. Vị phó tướng vui vẻ nói với tướng quân :

– Không ai có thể thay đổi được bàn tay định mệnh.

Tướng quân chỉ mỉm cười không đáp. Ông xoè tay đưa đồng tiền ra. Cả hai mặt đồng xu đều là mặt sấp.

Lời bình : Thiên đàng rất công bằng đối với tất cả mọi người, không thiên vị dành riêng cho ai. Sự giúp đỡ duy nhất mà bạn có được là chính bản thân bạn !!!

4. Con sóng nhận thức

Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình :

– Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.

Con sóng to cười đáp : – Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.

– Tôi không là sóng thế là gì ?

– Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn buồn bực gì nữa.

Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ :

– À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.

Lời bình : Con người cho rằng “ngã” là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la.

5. Thiên đường địa ngục

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi :

– Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không ?

– Thế ngài là ai ?

– Tôi là tướng quân.

Bất ngờ, thiền sư cười lớn :

– A ha ! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.

Tướng quân nổi giận, rút gươm :

– Tao băm xác mi ra !!!

Thiền sư vẫn điềm tĩnh :

– Này là mở cửa địa ngục.

Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy :

– Xin… xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.

– Này là mở cửa thiên đường – thiền sư Ekaku mỉm cười.

Lời bình : Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ ! Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.

6. Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo

Có một bà lão biệt danh “mụ già hay khóc”. Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà :

– Bà lão ơi, sao bà lại khóc ?

– Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày.

– Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy.

– À, ông có lý.

Từ đó, “mụ già hay khóc” thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng.

Lời bình : Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn.

7. Phật tại gia

Yangpu về tỉnh Sichuan định tâm tìm kiếm Bồ Tát. Trên đường đi, Yangpu gặp một nhà sư. Nhà sư hỏi:

– Cậu đi đâu đấy ?

– Tôi đi cầu Bồ Tát.

– Bồ Tát ở xa, chi bằng đi tìm Phật có hơn không?

– Tìm Phật ở đâu bây giờ ?

– Khi cậu về nhà, thấy người đón cậu trên mình khoác cái mền, chân xỏ dép trái, đó chính là Phật.

Theo lời, cậu về nhà thì trời đã khuya. Mẹ cậu nghe con gọi cửa mừng quá vội khoác mền lên người, xỏ dép trái. Bà chạy ào ra mở cửa và khi Yangpu thấy mẹ mình như vậy thì đứng chết lặng.

Lời bình : Người ta tìm chân lý nhưng điều cần là thực thi ngay trong lòng, không thì khó mà gặp được.

8. Ngón tay chỉ mặt trăng

Sư Wu Jincang hỏi Lục Tổ Huệ Năng :

– Con đọc kinh Đại Bát Niết Bàn bao năm rồi mà vẫn chưa hiểu. Xin tổ sư soi sáng cho.

Lục Tổ Huệ Năng cầm quyển kinh đưa cho ni sư, nói :

– Ta không đọc được chữ, con hãy đọc, ta sẽ giúp con hiểu.

– Tổ không đọc chữ sao ngài hiểu thông nghĩa được ? – Jincang rất ngạc nhiên.

Lục Tổ Huệ Năng thủng thỉnh đáp:

– Chân lý không dựa vào chữ nghĩa. Nó giống như trăng soi trên trời. Trong trường hợp này, chữ nghĩa giống như ngón tay trỏ vậy. Ngón tay chỉ trăng mà nó không phải là trăng. Xem trăng có cần ngón chỉ không ?

Lời bình : Ngôn ngữ văn tự đều là biểu tượng diễn chân lý. Đừng lầm chữ nghĩa với chân lý như đã lầm ngón tay với mặt trăng.

9. Ai đó

Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu – vị sư trưởng đền này. Đệ tử của Keichu vào báo :

– Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy.

– Ta không biết thống đốc nào cả – Sư trưởng trả lời.

Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki :

– Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả.

Kitagaki hiểu ra :

– Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki muốn diện kiến.

– Để tôi thử lần nữa.

Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi :

– Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.

Lời bình : Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được.

10. Càng vội càng chậm

Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ:

– Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư ?

– Có lẽ 10 năm.

– Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu ?

Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp :

– Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.

Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng :

– Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.

– Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm – Vị sư phụ mỉm cười.

Lời bình : Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.

11. Đèn đã tắt

Một anh mù đến từ giã bạn mình. Người bạn cho anh một cây đèn lồng. Anh mù cười hỏi :

– Tôi đâu cần đèn lồng. Với tôi, sáng hay tối có gì khác.

– Tôi biết. Nhưng nếu không mang nó theo, trong bóng tối người khác có thể đụng vào anh.

– Ồ, vậy thì được.

Đi được một đoạn, bất ngờ anh mù bị một người đâm sầm vào. Bực mình, anh ta quát :

– Bộ không thấy đèn hả ?

– Đèn của ông đã tắt từ lâu rồi mà.

Lời bình : Người nào dùng lời kẻ khác để dạy người có thể giống anh mù này. Đèn đã tắt từ lâu, tuy nhiên anh ta không biết điều đó.

12. Bình thường tâm

– Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào ?

– Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ.

– Đó là những điều mà mọi người thường làm mà ?

– Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan.

Lời bình : Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ ? Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày.

13. Thiền trong chén trà

Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc :

– Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa.

Nan In cười đáp :

– Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được.

Lời bình : Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

14. Con quỷ bên trong

Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư liền vấn ý sư Tổ :

– Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi.

– Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến.

Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình.

Lời bình : Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra.

15. Đích tới có một đường đi không cùng

Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian :

– Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau ?

– Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây.

Lời bình : Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn..

Yên Huỳnh post

Ý NGHĨA LÁ CỜ PHẬT GIÁO

I. NGUỒN GỐC : Người phát họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Độ.

Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo.

Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những người đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Độ.

Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala người Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới.

Ông và bà Blavatsky thọ trì tam quy, ngũ giới với Thượng Tọa Bulatgama tại chùa Wijayananda có sự hiện diện của hàng ngàn chư Tăng, Ni, Phật Tử và gây xúc động mạnh mẻ cho những Phật Tử đã chứng kiến, vì đây là lần đầu tiên Giáo Hội Tăng Già Tích Lan làm lễ quy y cho hai người Phật Tử Âu Mỹ.

Sự nghiệp truyền bá và chấn hưng Phật Giáo của ông không thể nói hết trong khuôn khổ bài nầy. Ông đã tổ chức những trường học Phật Giáo khắp xứ sở Tích Lan, từ thành thị tới thôn quê hẻo lánh.

Số trường học lúc ban đầu chỉ có 46 trường (năm 1897) và 6 năm sau (1903), số trường học đã lên đến 174 trường, và đến năm 1940 đã có 429 trường, trong đó có 12 Trường Trung học được chính phủ tài trợ . Không chỉ riêng ở Tích Lan, ông còn vận động để mở các trường học Phật Giáo ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ.

Năm 1889, ông cùng Thượng Tọa Susmangala, Tích Lan, phỏng theo sáu mầu hào quang của Đức Phật (xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam và mầu tổng hợp của năm mầu này), đã phác họa ra mẫu cờ Phật Giáo.

Về ý nghĩa, ông phát biểu như sau : “Nó có thể được các quốc gia Phật Giáo chấp nhận như một biểu tượng quốc tế cho tín ngưỡng của họ, giống như cây thánh giá đối với tín đồ Thiên chúa giáo .”

Lá cờ này được Tích Lan công nhận và treo tại các chùa ở xứ này trong ngày lễ Phật Đản từ năm 1889, và 61 năm sau, tại Đại hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên, tổ chức tại Colombo, thủ đô Tích Lan, từ ngày 25-5-1950 đến 8-6-1950 có 26 nước tham dự (1), phái đoàn Phật Giáo Việt Nam do Thượng Tọa Tố Liên, Trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội làm đại biểu (2), Hội nghị đã thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists), và chọn lá cờ Phật Giáo Tích Lan làm cờ Phật Giáo Thế Giới.

Đến ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm, cố đô Huế, một Đại Hội Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam, gồm 51 đại biểu Tăng già và cư sĩ, sau 4 ngày họp, đã thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trong dịp nầy, Thượng Tọa Tố Liên đã tặng Đại Hội lá cờ Phật Giáo Thế Giới, và đại hội đã chấp nhận lá cờ nầy cũng là cờ Phật Giáo Việt Nam.

Bằng một tâm hồn thiết tha với Đạo Pháp, ròng rã suốt 38 năm, Phật tử Henry Steel Olcott đã dùng quãng đời quí báu của mình, để phục vụ tha nhân và ông mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, quê hương Đức Phật. Lúc đó ông 75 tuổi.

II. Ý NGHĨA CỦA LÀ CỜ PHẬT GIÁO : Cờ Phật Giáo, trước hết là biểu trưng tinh thần thống nhất của PhậtTử trên toàn thế giới. Cờ Phật Giáo còn tượng trưng cho niềm Chánh tín và sự yêu chuộng hòa bình của mọi người con Phật .

Ngoài ra, cờ Phật Giáo còn có ý nghĩa cắt bỏ quan niệm cố chấp các ranh giới địa phương, gia tăng niềm hăng hái đoàn kết để phụng sự cho Đạo Pháp và dân tộc.

Năm sắc theo chiều dọc : Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam, tượng trưng cho hào quang chư Phật.

Năm sắc theo chiều ngang ( chiếm diện tích 1/6 lá cờ ) là mầu tổng hợp tượng trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật. Ý nghĩa của màu sắc phân biệt là :

1.- Xanh đậm : Tượng trưng cho Định căn. Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn, sáng suốt .

2.- Vàng lợt : Tượng trưng cho Niệm căn, vì có Chánh Niệm mới sanh Định và phát Huệ.

3.- Đỏ : Tượng trưng cho Tinh Tấn căn. Có tinh tấn mới khắc phục được mọi trở ngại, nghịch cảnh .

4.- Trắng : Tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển, và có tín căn là có Nhân Duyên với chư Phật và nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành.

5.- Da cam : Tượng trưng cho Huệ căn. Khi có Tín, Tấn, Niệm, Định đầy đủ thì Tuệ sẽ phát sanh.

6.- Màu tổng hợp : Tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của Phật giáo đồ trên toàn thế giới.

III. KẾT LUẬN : Là Phật Tử, chúng ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lá cờ Phật Giáo, vì trên hết, nó tượng trưng cho Phật Giáo, và cho tinh thần đoàn kết, bất phân biệt của tín đồ Phật Giáo trên toàn thế giới .

Ghi chú :

(1) 26 nước tham dự Đại Hội và trở nên Hội viên sáng lập Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế Giới là : Anh, Ấn Độ, Bhutan, Đức, Hawai, Hong Kong, Kampuchea, Lào, Mã Lai, Miến Điện, Mỹ, Na Uy, Nam Dương, Nhật Bản, Nepal, Pháp, Phi Luật Tân, Sikkim, Tân Gia Ba, Tây Tạng, Thái Lan, Thụy Điển, Tích Lan, Triều Tiên, Trung Hoa và Việt Nam.

(2) Phái đoàn Việt Nam chỉ có 2 người : Thượng Tọa Tố Liên — đại biểu chánh thức, và ông Phạm Chữ — công chức Bộ Ngoại Giao Quốc Gia Việt Nam, tháp tùng theo làm Thông dịch viên.

De Nguyen post

BẠN BIẾT GÌ VỀ NHÂN QUẢ CHƯA ?

LUẬT NHÂN QUẢ

CÓ THẬT KHÔNG ?

– Đào Văn Bình

Nói tới chuyện Nhân Quả một số người khinh thị, cho đó là lạc hậu, lỗi thời, quê mùa giống như chuyện “Rắn Báo Oán” chẳng hạn. Thế nhưng Luật Nhân Quả lại là định luật bất biến chi phối sự tồn vong của khoa học. Nếu mai đây khí Hydrogen và khí Oxygen hợp lại mà không thành nước thì khoa học sụp đổ, cuộc sống con người và thiên nhiên đảo lộn hòan tòan.

Luật Nhân Quả (Law of Cause and Effect) chi phối mọi họat động của con người, từng giờ, từng phút, từng sát-na nhưng con người không thèm để ý. Chỉ khi hậu quả xảy đến người ta mới chịu tin. Luật Nhân Quả là trụ cột giáo lý của Đức Phật. Chúng ta hãy nghe nhận định của Trung Tâm Phật Giáo SOKA GAKKAI INTERNATIONAL tại Anh Quốc, “As we go about our daily lives, in every single moment, we make causes in the things that we think and say and do. Buddhism teaches the existence of a law of cause and effect which explains that when we make a cause, the anticipated effect of that cause is stored deep in our lives, and when the right circumstances appear then we experience the effect. This concept of cause and effect is at the heart of Buddhism..“ (Quán chiếu cuộc sống hàng ngày, từng giây từng phút, chúng ta tạo Nhân qua những gì chúng ta suy nghĩ, nói và làm. Phật Giáo dạy chúng ta về sự hiện hữu của luật nhân quả, nói rằng khi chúng ta tạo Nhân, hậu quả của nhân đó nằm sâu trong đời sống của chúng ta, và trong một hoàn cảnh thích hợp nào đó, chúng ta sẽ nhận lãnh Quả đó. Khái niệm nhân quả là trung tâm điểm của Phật Giáo..) (1)

Hiện nay dù khoa học và kiến thức nhân loại đã tiến bộ vượt bực nhưng một số không nhỏ vẫn tin rằng những bất hạnh, những khổ đau, những tội ác ghê tởm, chiến tranh, sự diệt chủng, sự thù ghét, kỳ thị chủng tộc v.v.. là do Thần Linh (God) an bài sẵn rồi. Nếu có xảy ra thì cũng là do ý chỉ của Ngài. Vậy con người nếu muốn thoát khỏi sự “trừng phạt” hoặc những thảm họa đó, thì chỉ có nước quỳ lạy, van vái, cầu nguyện Thần Linh xót thương mà thôi. Thế nhưng cũng một số không nhỏ, thấm nhuần giáo lý của Đức Phật lại không tin như thế. Họ không tin vào Thuyết Định Mệnh với một “Sổ Đoạn Trường” nằm sẵn ở Thiên Đình, họ bác bỏ sự hiện hữu của một Thần Linh không bao giờ biết xót thương mà chỉ biết gây thảm họa triền miên cho nhân loại và có thể ban phép mầu để “rửa tội” cho những kẻ bất nhân hoặc những kẻ gây tội ác khủng khiếp đối với nhân loại. Đối với các Thần Giáo thì không có Luật Nhân Quả gì hết. Thần Linh có thể biến tội thành phước, biến phước thành tội và biến kẻ sát nhân thành Thánh.

Để lý giải về Luật Nhân Quả, chúng ta có thể dùng thí dụ nho nhỏ sau đây:

Chẳng hạn một cậu thanh niên gia nhập băng đảng, trộm cướp rồi vào tù. Trong tù cậu hối hận suy nghĩ. Cái chuyện ngồi tù ngày hôm nay chẳng phải tình cờ mà có hoặc do Thần Linh làm ra. Nguyên do, nguyên nhân (cái Nhân) bắt nguồn từ lúc cậu không nghe lời cha mẹ, thầy cô, chơi bời lêu lổng. Từ chơi bời lêu lổng cho nên có dịp (có duyên) gần gũi với băng đảng, du đãng, trộm cướp, xã hội đen. Từ chuyện gia nhập băng đảng du đãng đưa tới việc làm phi pháp, bất chính. Việc làm phi pháp, bất chính đưa đến tù tội. Ngày hôm nay, dù cậu có ăn năn, hối hận thì cũng quá muộn màng. Muộn màng ở đây có nghĩa là cậu không thể thay đổi cái Quả – tức là bản án tù, hoặc cảnh tù tội đang diễn ra sờ sờ trước mắt. Cậu phải nhận lãnh cái Quả do việc mình làm. Tuy nhiên sự hối cải, sự ăn năn, sám hối lại rất tốt đẹp và không có gì muộn màng nếu nhìn về tương lai. Giả sử cậu thanh niên thật sự hối hận và không muốn sau này cuộc đời u ám nữa. Cậu bắt đầu hiểu sơ sơ về Luật Nhân Quả tức là sẽ không gieo nhân xấu nữa. Muốn gieo nhân lành thì không gì bằng không làm việc xấu hoặc làm việc tốt lành. Trong hòan cảnh tù tội, việc làm tốt lành có thể là : Tuân thủ mọi luật lệ của trại giam, giữ gìn hạnh kiểm tốt. Không kết bè, kết đảng trong tù để tranh giành chút lợi lộc, thanh toán lẫn nhau. Tham gia các chương trình huấn nghệ để sau này có một nghề nghiệp chân chính để sinh sống (Chánh Nghiệp). Xin phép giám thị trại giam đem sách vở, kinh Phật vào trau giồi thêm vì cuộc sống tù tội cách ly với thế giới bên ngòai khiến người tù trở nên lạc hậu. Nếu đêm đêm ngồi Thiền, quán tưởng được thì càng tốt (Chánh Định).

Trong những lúc đêm khuya vắng lặng hãy quán xét về những việc mình làm trong quá khứ xem có thật sự là những việc đúng đắn không ? (Chánh Niệm) Nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng bi quan, tiêu cực, hủy họai thân thể.

Luôn luôn quán tưởng rằng “vạn vật vô thường” cho nên cái cảnh tù tội ngày hôm nay cũng là vô thường, tạm bợ (Chánh Tư Duy). Rồi ngày mai đây sẽ là một ngày mới. Ngày mới có tốt đẹp hay không là tùy nơi ta. Rồi cậu có thể hình dung tới cha già, mẹ yếu, gia đình anh chị em đang ray rứt khổ đau vì đứa con, người cha, người chồng, người anh, đứa em đang trong vòng tù tội. Rồi quán tưởng tới bạn bè cũng đang mong ngóng mình trở về với thế giới an lành.

Rồi nguyện rằng trong ngày trở về, cậu sẽ ôm cha mẹ khóc rồi hứa từ đây sẽ tu chỉnh lại, sẽ làm ăn chân chính, sẽ không ngại khó ngại khổ, sẽ cố gắng vươn lên với đời để đền đáp công ơn dưỡng dục. (Chánh Tinh Tấn). Ngày nay, một số nhà giam tại Anh Quốc và Hoa Kỳ, phạm nhân đã được Nha Cải Huấn cho phép học Thiền và hành Thiền để phạm nhân quán xét lại chính mình, nhận ra được lý Nhân Quả tức hiểu rõ hậu quả của việc mình làm, từ đó tạo được sự an tĩnh tâm hồn.

Đấy là câu chuyện cậu thanh niên hư hỏng, còn chuyện hâm nóng địa cầu thì sao? Hơn 100 năm nay, do nhu cầu sản xuất đại quy mô, vừa để tiêu thụ, vừa để xuất cảng, các nhà máy cứ “ung dung” nhả khói lên trời và tưởng như chẳng gây hậu quả gì. Có ngờ đâu khí CO2 bốc lên đã làm cho lớp Ozone – có nhiệm vụ che chở trái đất bởi hơi nóng của mặt trời, mỏng đi. Hậu quả là trái đất nóng dần. Nơi thì lụt lội, nơi thì biến thành sa mạc. Trong tương lại một số hòn đảo, nhiều thành phố sẽ vĩnh viễn chìm xuống mặt biển. Rồi còn nhiều tai họa nữa mà các khoa học gia chưa khám phá hết. Nhân lọai thấy cái Quả hiện lù lù trước mắt bèn cuống cuồng họp nhau ở Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 7 tới 18 Tháng 12 năm 2009 để tìm phương giải quyết. Nhưng liệu những cam kết có được tôn trọng không ? Hay lại tiếp tục tạo nghiệp, gieo Nhân, tức là tiếp tục nhả khói lên trời?

Chuyên địa cầu hâm nóng ngày hôm nay lại thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy sự tồn vong của trái đất, sinh mệnh của con người là do con người quyết định chứ chẳng phải do Thần Linh Mầu Nhiệm nào cả. Dầu sao thì sự “ăn năn hối lỗi” – ở đây là ý thức của nhân lọai – dù muộn màng nhưng “có còn hơn không” giống như sự ăn năn của cậu thanh niên nói ở trên.

Thưa quý bạn. Nếu hiểu được như thế, nếu nhìn được như thế thì Luật Nhân Quả có gì gọi là “quê mùa” ? Có gì là mê tín dị đoan ? Có gì là lạc hậu ? Nếu nó là mê tín, dị đoan và lạc hậu tại sao những đại trí thức của Âu Châu, Hoa Kỳ ngày nay lại tin tưởng vào giáo lý này ? Họ tin tưởng không phải vì cơm áo, thúc ép, bịt mắt hay đe dọa hoặc do truyền thống gia đình, mà vì sự khai mở của trí tuệ. Hiểu Luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta sống chừng mực, làm chuyện đúng đắn trong cuộc sống. Không tạo khổ đau cho chính mình. Không tạo khổ đau cho người, tạo sự an lành cho thế giới, như thế gọi là sống với tâm hồn cao thượng. Nếu mọi người, mọi nhà đều thực hành Luật Nhân Quả họăc biết sợ Nhân Quả thì thế giới này biến thành một Cung Trời mà chẳng cần phải bôn ba tìm kiếm Thiên Đường ở đâu khác.

Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, giáo hóa đệ tử, Đức Phật nói rất nhiều về Nhân Quả, đặc biệt tại Pháp Hội Linh Thứu Sơn. Trong pháp hội này, Đức Phật đã nói chi tiết hơn về Nhân Quả không ngòai mục đích nhắc nhở để chúng ta :

– Giúp đỡ kẻ nghèo túng.

– Kính trọng người cô quả, cô độc

– Không gian dâm với vợ người

– Không buông lung khinh rẻ chồng mình

– Không quên ơn, phụ nghĩa

– Làm hết bổn phận trong việc giảng dạy, chỉ dẫn, cố vấn kẻ khác. Ngoài ra còn phải nêu gương tốt nữa. Không có gì kỳ cục cho bằng một người giảng về đạo đức mà lại sống vô đạo đức. Một người giảng về Luật Vô Thường mà cố chấp. Một người giảng về Thanh Tịnh mà lại gom góp, tích chứa tiền bạc, ham thích thú vui. Gom góp tiền bạc và ham thích thú vui thì phiền não nảy sinh, làm sao sống thạnh tịnh được?

– Không ác khẩu, mắng nhiếc, chửi rủa cha mẹ mình

– Không làm nghề trộm cướp

– Không quỵt nợ

– Không phỉnh gạt, dụ dỗ người khác

– Không làm ác

– Không âm mưu hại người

– Không buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, giả vờ quên rồi tính cao giá

– Không ghen tị, dèm pha

– Không làm ai phải mất danh dự, tủi nhục.

– Không giết hại bừa bãi các lòai vật.

– Cúng dường chư tăng/ni để quý vị có phương tiện sinh sống và cũng là dịp bày tỏ tấm lòng tôn kính đạo đức, tôn kính kẻ hy sinh cả đời mình cho lý tưởng cao cả.

Xét cho kỹ, đây là những lời giảng dạy thiết thực cho đời sống, trong gia đình thì hạnh phúc, còn xã hội thì ổn định thăng tiến, chứ không phải chuyện “trên trời dưới biển”, ban bố phép mầu, khấn vái cầu nguyện vu vơ. Vậy những ai nói rằng đạo Phật yếm thế, xin nghiền ngẫm kinh Phật kẻo mang tội vọng ngữ, phỉ báng.

Dưới đây chúng ta sẽ bàn thêm về Luật Nhân Quả.

1) Việc mình làm là Nhân (Nguyên Nhân), kết quả gây ra gọi là Quả (Hậu Quả). Quả có quả tốt, quả xấu.

– Trèo cao là Nhân, ngã đau là Qủa.

– Học hành chăm chỉ là Nhân, thi đậu là Quả.

– Hành thiền là Nhân, an tĩnh tâm hồn là Quả.

– Tu là Nhân, giải thóat là Quả.

– Giết người là Nhân, bị người ta trả thù, hoặc bị giết hại là Quả.

– Nói dối là Nhân, người ta không còn tin tưởng mình nữa (bad credit) là Quả.

– Ham muốn là Nhân, bị khổ đau, dày vò vì lòng ham muốn là Quả.

– Ái dục là Nhân, ái mệnh là Quả (Kinh Viên Giác). Vì ngũ căn Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân đem lại khoái cảm cho ta. Vì sung sướng với những khoái cảm đó cho nên ta yêu mến thân xác. Nếu khoái cảm chẳng còn – tức ly dục- thì chẳng còn gốc Ái Mệnh nữa.

– Yêu si mê là Nhân, phát điên phát cuồng rồi tự tử chết khi thất vọng là Quả.

– Phù thủy luyện âm binh để làm phép thuật là Nhân, lụy âm binh – tức không còn kiểm sóat được âm binh nữa, để âm binh làm loạn hoặc quật lại mình là Quả.

– Mắng chửi người ta là Nhân, bị người ta chửi lại, hoặc đi thưa kiện bị tù hoặc phải bồi thừơng là Quả.

– Lộng giả (dùng thủ đọan tuyên truyền lừa mị để cho người ta tin) gọi là Nhân. Anh em, bà con, bạn bè, quyến thuộc, tín đồ, dân chúng của mình tưởng đó là sự thực (Lộng Giả Thành Chân). Sau này mình nói ngược lại hoặc thú nhận mình nói dối người ta sẽ mắng chửi mình và cho là đồ gian dối, thậm chí có khi giết hại vì cho mình bất lương, đó là Quả.

– Ăn mặn là Nhân, khát nước là Quả.

– Tranh ảnh, báo chí, truyền hình, Internet phổ biến dâm ô là Nhân, trẻ con mang bầu, phá thai, hung bạo, bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ là Quả.

– Phim ảnh bạo lực là Nhân, đem súng vào trường bắn giết bạn bè thày cô, đem súng vào công sở, chỗ làm, bắn giết đồng nghiệp là Quả.

– Tham vọng bành trướng, chạy đua vũ trang là Nhân, chiến tranh là Quả.

– Cuộc Thập Tự Chinh (Crusades) kéo dài ba Thế Kỷ 11, 12 & 13 là Nhân, sự thù hận giữa Hồi Giáo và Ca-tô Giáo La Mã ngày hôm nay là Quả.

– Phá rừng là Nhân. Lụt lội là Quả.

– Nhả khói lên trời, thải thán khí, phá hủy môi trường là Nhân, quả đất nóng dần rồi từ từ biến thành sa mạc là Quả.

– Đánh cá bừa bãi là Nhân. Cá bị diệt chủng là Quả.

– Không nghe lời cha mẹ, thầy cô là Nhân. Bỏ học, chơi bời lêu lổng, xì ke ma túy, du đãng phá làng phá xóm rồi cuối cùng vào tù là Quả.

– Cha mẹ khắc nghiệt là Nhân. Con cái bỏ đi là Quả.

– Nuông chiều con cái là Nhân. Con cái hư hỏng là Quả.

– Dạy tín đồ giáo điều cuồng tín. Tín đồ hung dữ, gây bất ổn xã hội, xung đột với các tôn giáo khác là Quả.

– Chi tiêu bừa bãi là Nhân, thiếu hụt, nợ nần là Quả.

– Thi ân, bố đức là Nhân, tiếng thơm để đời cho con cháu là Quả.

2) Nhân có nhiều nguyên nhân gộp lại.

Ví dụ :

– lười biếng + u tối khiến thi rớt

– Báo chí nhảm nhí + tranh ảnh dâm ô + tự do phóng túng + ăn mặc hở hang đưa tới nạn thiếu niên mang bầu, bắt cóc hãm hiếp phụ nữ diễn ra hằng ngày như ở Hoa Kỳ. Tại Thái Lan người ta làm thống kê cho thấy phần lớn các cô gái bị bắt cóc, hãm hiếp là vì mặc váy ngắn khiêu gợi quá mức.

– Nghèo túng + Giao du với băng đảng đưa tới trộm cướp.

3) Một Nhân nhưng có nhiều Quả

Ví dụ :

– Gian dối khi bị phát giác đưa tới quả báo là xấu hổ, mất uy tín, không còn làm ăn được nữa, công ty đổ vỡ, sự nghiệp tiêu tan v.v..

Quả sinh ra rồi lại thành Nhân sinh Quả mới.

Ví dụ :

– Giáo điều cực đoan + giáo sĩ cuồng tín đẻ ra tín đồ cuồng tín. Từ tín đồ cuồng tín đưa đến việc giết hại lẫn nhau, giết hại hoặc khủng bố tín đồ các tôn giáo khác. Từ đó đưa đến thù hận. Từ thù hận lại đưa đến giết chóc khủng bố. Càng giết chóc khủng bố lại càng cuồng tín, giáo điều. Thế là chuỗi Nhân-Quả kết chặt lại không sao thóat ra được và luân hồi, quay đảo kiếp này sang kiếp khác trong cái trục gọi là Vô Minh.

– Giáo dục tốt lành + tôn giáo Từ Bi sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức vừa cứu đời vừa hoằng dương tư tưởng tốt lành. Thuấn nhuần tư tưởng tốt lành lại sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức lại củng cố và phát huy giáo dục tốt lành. Chuỗi nhân quả cứ thế mà nối liền không dứt, kiếp này sang kiếp khác. Do đó khi tư tưởng tốt lành bị hủy diệt thì trái đất này cũng bị hủy diệt theo do gian ác, tham vọng cuồng điên và Vô Minh lên ngôi thống trị.

– Nước A chạy dua vũ trang (Nhân) khiến nước B chạy đua vũ trang (Quả). B chạy đua vũ trang lại khiến A chạy đua vũ trang. Rồi A chạy đua vũ trang lại khiến B phải chạy đua vũ trang nếu không muốn bị diệt vong. Chuỗi nhân quả cứ đan kết vào nhau như mắt xích không rời cho đến ngày A hay B bị diệt vong hoặc cả hai bị diệt vong. Sau thảm họa Thế Chiến I nhân loại tưởng có hòa bình, nào ngờ lại có Thế Chiến II. Sau Thế Chiến II thảm khốc lại có Chiến Tranh Lạnh. Sau Chiến Tranh Lạnh lại là chiến tranh bành trướng, chiến tranh chủng tộc, chiến tranh vì hận thù tôn giáo và chiến tranh để nắm giữ ngôi vị thống trị thế giới. Tất cả chỉ là sự vận hành của Chuỗi Nhân Quả do cái vọng tâm vô minh và cuồng điên của con người tạo ra chứ chẳng có Thần Linh (God) nào can dự vào đây.

4) Có khi Quả đến liền, có khi phải đợi một thời gian

– Trồng bầu, trồng bí vài tháng là có quả bầu, qủa bí ăn.

– Trồng nhãn, trồng xòai phải vài năm mới có quả.

– Một vụ án mạng, do may mắn, do nhiều nhân duyên yếu tố mà phát giác ngay ra thủ phạm và đưa thủ phạm ra tòa xét xử.

– Nhiều vụ án mạng, nhiều vụ thủ tiêu người mờ ám phải nhiều năm sau mới khám phá ra thủ phạm.

– Song cũng có nhiều vụ không sao tìm ra thủ phạm. Dù không tìm ra thủ phạm nhưng hồ sơ của nhà hữu trách đã ghi chép và lưu giữ sự kiện giết người đó.

5) Câu hỏi hóc búa cuối cùng phải trả lời

“Tại sao bao nhiêu kẻ làm tội ác tày trời mà vẫn sống khơi khơi, chẳng chịu quả báo gì cả?” Chúng ta phải công nhận rằng có những tổ chức, những tôn giáo, những cá nhân gây tội ác kinh thiên động địa với nhân lọai nhưng vẫn chưa bị trừng phạt, chưa bị “trả quả”. Tại sao vậy? Lịch sử nhân lọai đã từng chứng tỏ rằng không phải con người chỉ đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, nhiều khi con người cũng còn liều chết để bảo vệ tội ác khi họ bị lừa dối và tưởng tội ác đó là thánh thiện.

Những tổ chức, những cá nhân tạo ra tội ác như vậy thế lực của họ rất lớn. Họ có khả năng mua chuộc báo chí, truyền thông tuyên truyền lừa mị, liên kết với các thế lực quốc tế hùng mạnh để khỏa lấp tội lỗi. Họ có khả năng trả thù tất cả những ai dám nói lên sự thực về tổ chức của họ.

Thế nhưng ngày hôm nay do tư tưởng tiến bộ, một số thiện tri thức đã dũng mãnh đứng lên tố cáo tội ác của những tổ chức và những cá nhân này. Dù họ chưa bị “trả quả” nhưng Nhân tội lỗi đã nằm sẵn ở đó, nằm trong trí nhớ, nằm trong lương tâm của nhân lọai. Rất tiếc đời sống của chúng ta quá ngắn ngủi, không đủ dài để chứng kiến “ngày tàn” của những con người và tổ chức gian ác này. Nếu đời sống của chúng ta “đủ dài” chúng ta sẽ có dịp chứng kiến ngày “trả quả” của họ.

6) Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả

Khi đã hiểu Luật Nhân Quả rồi thì sợ không dám làm điều bất thiện chứ đừng nói tới làm điều ác. Bồ Tát là bậc đại trí, nhìn xa trông rộng mà lại tu Thánh Đạo cho nên rất sợ gieo nhân. Còn hàng chúng sinh như chúng ta coi thường Luật Nhân Quả cho nên “rất thích” gieo nhân. Khi quả xảy đến hối hận cũng quá muộn màng. Một vài thí dụ sau đây cho thấy thế nào là “gieo nhân”. Gặp một cô gái đẹp/một chàng trai đẹp, động tâm, nói lời bóng gió như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng mơ mộng rồi có ngày “cá mắc câu”. Thấy sì-ke ma túy hút thử chơi thôi, tức là đã “gieo nhân” thế nào cũng có ngày dính vào nghiện ngập. Thấy của cải của người ta sinh lòng tham, như vậy gọi là “gieo nhân” thế nào cũng có ngày tìm cách cướp bóc, chiếm đoạt. Thấy chuyện đời, bàn tán, mỉa mai chơi như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng có ngày bị vạ miệng, gây thù chuốc oán. Đem bài bạc về nhà chơi, đem gia đình con cái viếng Casino giải trí, thế nào trong số con cái cũng có đứa “Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.”

Tôi có một kỷ niệm gặp gỡ một vụ “gieo nhân” cười ra nước mắt như sau: Tại một trường trung học đệ nhất cấp (cấp một) ở California mà tôi phục vụ, có một nữ sinh Việt Nam, lớp 8 mới 13 tuổi. Cô bé thường xuyên trốn học và hút xì-ke ma túy. Vì thường xuyên bỏ học, không theo kịp chương trình cho nên bà giáo nhờ tôi kèm và giảng thêm bài cho em.

Nhìn cô bé tôi thương cảm vì cô bé ngoan, thông minh và chịu khó nghe giảng bài. Tôi nói, “Con à, con thông minh và xinh xắn như thế này, thế nào con cũng có một tương lai vô cùng tốt đẹp. Con ráng đi học và đừng làm cái gì bậy bạ nghe con.” Tôi không biết cô bé có xúc động gì với lời khuyên của tôi không. Nhân dịp này nhà trường cũng cho mời phụ huynh lại để thông báo. Trong lúc chờ đợi phiên họp với ông phó hiệu trưởng, tôi hỏi mẹ cô bé, tuổi chừng 40, “Em làm nghề gì vậy ?” Người mẹ đáp, “Dạ, em mở quán cà-phê.” Tôi hỏi tiếp, “Cà-phê tên gì vậy em ?” Người mẹ nói, “Cà-phê Quên Đời !” (2)

Nghe thế tôi buột miệng kêu lên, “Trời đất quỷ thần ơi ! Thiếu gì tên đẹp như… Cà-phê Ban Mai, Cà-Phê Nắng Mới, Cà-phê Vui v.v.. sao em không đặt mà chọn cái tên Cà-phê Quên Đời ?”

Nghe phê bình vậy, người đàn bà nhìn tôi không nói gì. Có thể cô ta hối hận vì con cái hư hỏng, nhưng cũng có thể là, “Trời ơi ! Cái ông thầy này ở Mỹ sao lạc hậu quá ! Chọn những cái tên như thế thì quán cà-phê làm sao sống được.” Quả thật vậy ! Nếu quý vị tới Thành Phố Tacoma Tiểu Bang Washington, Nam hoặc Bắc Cali như Los Angeles, Westminster hoặc San Jose quý vị sẽ thấy những quán cà-phê Việt Nam với đèn mờ mờ, bồi bàn bưng cà-phê là những cô gái trẻ, đi giày cao gót, ăn mặc hở hang (sexy) quá mức và được quảng cáo công khai trên báo.

Sở cảnh sát địa phương rất bực bội với những quán cà-phê này vì nó còn là nơi lén lút tiêu thụ xì-ke ma túy. Nhưng thành phố lại cho mở, vì thương mại phát triển, thành phố thu được nhiều thuế. Khách hàng thường trực của những quán này là thanh niên độc thân, hoặc gia đình đổ vỡ, thảng hoặc cũng thấy một vài ông già đầu bạc. Họ tới uống cà-phê, ngắm nghía “rửa mắt” hoặc tán dóc (tán gẫu) với mấy cô hầu bàn, hoặc coi truyền hình rồi cá độ, nhất là các trận đấu bóng bầu dục (Football). Họ cho tiền “típ” hay ” pour bois” rất nhiều. Cứ thử tưởng tượng với một khung cảnh mờ mờ, ảo ảo “quyến rũ” như thế, một cô bé học sinh ngây thơ, một ngày nào đó vì mẹ bận, thay mẹ ngồi ở quầy tính tiền, sẽ thấy những gì và sẽ nghĩ như thế nào ? Với cái Nhân xấu như thế thì cô bé có hư hỏng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Nghĩ thật đáng thương.

Vậy các bạn trẻ ở Việt Nam đừng tưởng Mỹ là Thiên Đường. Đừng tưởng Luật Nhân Quả chỉ ứng dụng cho các xứ nghèo như Việt Nam, Lào, Kampuchia, Miến Điện… chứ ở Mỹ, Úc, Âu Châu thì chẳng có Nhân-Quả gì hết. Đừng nghĩ vậy. Thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2002 cho biết con số tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù Tiểu Bang và Liên Bang Hoa Kỳ đã vượt quá 2 triệu người – con số cao nhất trong lịch sử lập quốc. Còn tại Tiểu Bang Victoria, Úc Châu, số nữ tù nhân gốc Việt đông đảo nhất, chiếm 16% trong tổng số 312 người. Trồng cần sa, gian lận trợ cấp, buôn bán ma túy, và nhất là ham mê cờ bạc đã là những lý do khiến những người phụ nữ này phải vào tù. (Thời Báo Online)

Thưa các bạn, vì cuộc sống và vì “ đắm nhiễm trần cấu” mà con người đã gây Nhân, tạo Nghiệp một cách “ngay tình”mà không hề hay biết. Chúng ta tự “gieo nhân xấu” để gây khổ lụy cho gia đình, bạn bè, làng xóm, xã hội và đất nước chứ chẳng có Thần Linh (God) nào can dự vào đây. Khi Quả vụt tới thì cuống cuồng cầu nguyện van vái Thần Linh cứu giúp.

Nếu Thần Linh có thật, có một chút hiểu biết và Thần Linh nói được chắc chắn đã quát mắng, “Ngươi tự gây ra tai họa thì ngày hôm ngươi phải nhận lãnh hậu quả. Giả sử ta có khả năng cứu giúp nhà ngươi thì tại sao ta không hóa phép để cả thế giới này không bao giờ có khổ đau để cho ta đỡ mệt? Khổ đau do chính các ngươi tạo ra. Ta thì giờ đâu, từng giây, từng phút tạo ra hàng vạn, hàng vạn thứ khổ đau ? Thôi đừng nói chuyện ba lơn nữa!”

Vậy nếu không muốn “gieo nhân”, ngoài việc ý thức về Luật Nhân Quả, hành giả lúc nào cũng phải giữ gìn “Chánh Niệm” không để Tâm mình buông thả mông lung như “Ngựa phi ngoài đồng. Khỉ leo trên cành”. (3)

Hành giả luôn luôn ở trong trạng thái cảnh giác, giống như Lão Tử nói rằng phải luôn luôn ý thức như mình đang đi trên nước sông nước đóng băng. Nếu cảnh giác được thì gọi là Định. Nói khác đi, biết mà không nói, thấy mà không bình phẩm, nghe mà không khen chê, không động tâm, đó là trạng thái “Đối cảnh vô tâm” của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Đối cảnh mà vô tâm thì chẳng “gieo nhân” gì hết. Nếu có “gieo nhân” thì gieo nhân lành chứ không phải nhân xấu. Khi không “gieo nhân” nữa thì không có Quả. Không Nhân – Quả thì Luân Hồi chấm dứt. Không gieo nhân, không tạo ác nghiệp, an nhiên tự tại là cảnh giới của Chư Phật và Chư Vị Bồ Tát vậy.

Kết Luận :

Dù bạn có coi thường Luật Nhân Quả, dù bạn không tin Luật Nhân Quả, dù bạn phủ nhận Luật Nhân Quả nhưng không bao giờ bạn thóat khỏi Luật Nhân Quả. Làm ác sẽ gặp ác (Ác Giả Ác Báo) dù bạn có chạy trốn lên cung trời nào, thế giới nào, dù bạn đã chết đi, con cái bạn cũng vẫn phải trả quả mà không một Thần Linh Tối Thượng nào có thể che chở cho bạn. Thi hành luật pháp, truy tố kẻ phạm pháp ra trước pháp đình là ứng dụng Luật Nhân Quả.

Thế giới hiện nay vẫn tiếp tục truy lùng những tòng phạm giết người hàng lọat trong các lò sát sinh thời Đức Quốc Xã ra trước Tòa Án Quốc Tế, cho dù kẻ đó đã thay đổi quốc tịch, thay đổi tên họ, cho dù có kẻ ngày nay đã già yếu nhưng vẫn phải điệu ra trước tòa để “trả quả”. Có nhìn thấy, có hiểu được như thế mới thấy Luật Nhân Quả thật đáng sợ. Hệ thống luật pháp, tòa án để trừng trị kẻ có tội là sự ứng dụng hiển nhiên của Luật Nhân Quả. Nếu không có luật pháp, không có tòa án để trừng trị kẻ có tội thì thế giới này sẽ biến thành thế giới của loài muông thú, tức là làm ác mà không bị trừng phạt gì cả. Để tạm thay cho lời kết luận không gì bằng trích dẫn ở đây lời của Tỳ Kheo Thích Chơn Quang trong cuốn sách Luận Về Nhân Quả xuất bản ở trong nước năm 1988 và tái bản ở Hoa Kỳ năm 2551 (Phật Lịch) tức năm 2007 (Tây Lịch) nơi trang 11 viết như sau :

“Luật Nhân Quả là nền đạo đức, công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác và Luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân lọai.” (4) Và lời phát biểu của Bà Christa Bentendieder, pháp danh Agganyani – Tổng Thư Ký Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc: “Đạo Phật chính là quy luật tự nhiên của trí tuệ, đó là Luật Nhân Quả.” (Buddhism as the natural law of the mind, the law of cause and effect.) (5)

Đào Văn Bình (California Tháng Ba năm 2554.PL – 2011.TL)

Chú thích :

(1) website: http://www.sgi-uk.org

(2) Thực ra không phải là Cà-phê Quên Đời mà là một cái tên khác nghe rất tiêu cực và bụi đời, để tránh đụng chạm, tôi đã phải dùng một cái tên hư cấu khác.

(3) Tâm viên ý mã

(4) Sách ấn tống không ghi địa chỉ liên lạc. Tại Hoa Kỳ quý vị có thể hỏi mua tại nhà in Papyrus 1002 South 2nd St. San Jose, CA 95112. Đây là cuốn sách khoa học, nghiên cứu công phu, đầy đủ về Luật Nhân Quả.

(5) Diễn văn đọc tại Savsiripaye, Colombo (Tích Lan) nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc 1952-2002 (Tài liệu: Buddhism in Germany)

Yên Huỳnh post