TÍN NGƯỠNG THỜ CÁ ÔNG

CÁ ÔNG NAM HẢI

LĂNG THỜ Ở BẾN TRE

Tại cộng đồng ngư dân

An Thủy – Ba Tri – Bến Tre

Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của Đồng bằng Sông Cửu Long, nằm về phía hạ lưu sông Tiền, có chiều dài giáp biển đến 65 km. Sách Địa chí Bến Tre cho biết : “Qua khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Riêng đối với loài cá sống ven biển thì có : Cá mòi, cá nục, cá đuối, cá gúng, cá trích, cá chim,…. Sự đông đúc và đa dạng về chủng loại tôm, cá ở vùng ven biển có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành các nhóm đánh bắt thủy hải sản ở vùng ven biển Bến Tre. Mặt khác, Bến Tre có bờ biển khá dài và 4 con sông lớn (Cổ Chiên, Ba Lai, Hàm Luông, Cửa Đại) hướng ra biển, nên hình thành được hai cộng đồng ngư dân ven biển: An Thủy (huyện Ba Tri), Bình Thắng (huyện Bình Đại). Việc tìm hiểu văn hoá của các cộng đồng ngư dân này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần xác định diện mạo của các cộng đồng này qua chiều dài phát triển. Tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thuỷ là một trong những minh chứng cho điều ấy.

Theo các nhà nghiên cứu cho biết, tín ngưỡng thờ cá ông là hình thức tín ngưỡng phổ biến của cư dân ven biển Việt Nam, đặc biệt từ miền Trung trở vào, là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong quá trình Nam tiến của người Việt. Tín ngưỡng này thực chất là tín ngưỡng vật linh (animism), thể hiện sự sùng bái của con người trước biển cả trong quá trình mưu sinh, đánh bắt lênh đênh trên biển. Các sách như : Đại Nam Nhất Thống Chí của triều Nguyễn, Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Thoái Thực Ký Văn của Trương Quốc Dụng, Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ,… đều có ghi chép về cá ông, phần lớn cho rằng đây là loài cá hiền lành, linh thiêng hay cứu người đi buôn bán trên biển và chài lưới, mỡ cá dùng để cứu người.

Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ cá ông có mặt ở 3 huyện ven biển : Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú từ xưa đến nay. Lư Xuân Chí cho biết : “ Qua kết quả tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bến Tre năm 2004, toàn tỉnh có 12 lăng ông chia ra: Huyện Ba Tri 4 lăng, huyện Thạnh Phú 4 lăng, huyện Bình Đại 4 lăng”. Tuy nhiên, qua điều tra của người viết vào 2008, Bến Tre có đến 12 lăng ông thuộc 3 huyện ven biển Ba Tri (3 lăng), Bình Đại (5 lăng), Thạnh Phú (4 lăng) :

Qua đó, ở Bến Tre có các nhóm cư dân thờ cá ông như sau :

– Thứ nhất, đó là tín ngưỡng những nhóm đánh bắt nhỏ lẻ, làm nghề chài lưới ven bờ : Lăng ông ấp Thạnh Lộc và Thạnh Phú (xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri), lăng ông ấp 5 (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú), lăng ông ấp Thạnh Hải (xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú), lăng ông ấp Thừa Lợi và Thừa Trung (xã Thừa Đức, huyện Bình Đại), lăng ông ấp Thới An (xã Thới Thuận, huyện Bình Đại). Việc tôn thờ cá ông ở đây chính là nhằm cầu mong cho nghề đánh bắt được thuận lợi, trúng nhiều tôm cá. Mặt khác, riêng đối với lăng ông ấp Thạnh Hải (xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú) được thành lập năm 2004, sau khi cá ông lụy. Những ngư dân cao tuổi tổ chức xây lăng và thờ phụng, không chỉ vậy, tín ngưỡng này còn có cả những người làm nghề trồng dưa hấu tin tưởng. Đây là lăng ông “trẻ” nhất của Bến Tre. Như vậy, tín ngưỡng thờ cá ông vẫn còn trong mạch tâm linh của người dân ven biển Bến Tre cho đến tận hôm nay.

– Thứ hai, đó là tín ngưỡng những người làm nghề chài lưới ven song : Lăng ông ấp An Ninh (xã An Thuận, huyện Thạnh Phú), ấp Vinh Điền (xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại). Đây là trường hợp cá ông con chẳng may bị xẩy hay xảo, theo dòng nước vào tận bên trong sông, được lập lăng thờ cúng. Lăng ông ấp An Ninh, xã An Thuận cách cửa biển chừng 20 km, nằm bên dòng sông Cổ Chiên, được thành lập vào 1954.

Cá ông này khi lụy có hình dạng nhỏ, chiều dài chừng 1,6m, đường kính 0,5m, nặng 350 kg. Lăng ông ở Vang Quới Đông nằm bên cạnh  sông cửa Đại, cách biển chừng 30 km. Một tiều phu đốn củi tình cờ bắt gặp thi hài cá ông ở làng Phú Thuận gần đó. Người này về kể lại cho dân làng Vang Quới nghe. Các vị cao tuổi sắm khay trầu rượu và lễ vật đi cùng với vị tiều phu này sang làng Phú Thuận xin thọ tang cá ông và mang hài cốt về đây thờ. Ở trường hợp này, tín ngưỡng thờ cá ông có ảnh hưởng và lan rộng, đi sâu vào tâm thức của người dân làm nghề chài lưới ven sông, cách biển khá xa. Ngoài ra, đó phải chăng là sự tiếp nối truyền thống văn hoá của cha ông họ vốn có nguồn gốc từ miền Trung vào, mà tín ngưỡng thờ cá ông là một điển hình?

– Thứ ba, đó là chứng tích của một thời mà cư dân địa phương gần với biển, làm nghề đánh bắt ven bờ : Trường hợp lăng ông ấp Giao Thạnh (xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú). Trước năm 1938, xã Giao Thạnh nằm sát biển và có nhiều ngư dân làm nghề đáy rạo sinh sống. Tuy nhiên, vì lý do bị sạt lỡ khá nặng, năm 1938, Pháp tiến hành san lấp và khoá cửa Vàm Rỗng lại. Từ đó cho đến nay, đất phù sa đã bồi hàng chục km. Do vậy, người dân ở đây chuyển sang nghề trồng lúa, làm vườn cho đến nay. Đây là một lăng ông khá xưa của huyện Thạnh Phú, một dạng thờ cá ông khá độc đáo của Bến Tre: Từ tín ngưỡng của cư dân làm nghề chài lưới ven biển dần chuyển thành tín ngưỡng của nghề nông, do bị thay đổi bởi điều kiện tự nhiên.

– Thứ tư, đó là tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển : Lăng ông ấp An Lợi (xã An Thuỷ, huyện Ba Tri), lăng ông ấp 3 (xã Bình Thắng, huyện Bình Đại). Do ngư dân nơi đây hoạt động và gắn bó với nghề đánh bắt thuỷ sản xa bờ ngày nay và nghề chài lưới, đóng đáy, đánh bắt ven bờ trong quá khứ, cho nên tín ngưỡng thờ cá ông là hình thức tín ngưỡng trực tiếp liên quan đến nghề nghiệp của họ. Do đó, hình thức tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân là quan trọng và nổi bất hơn hết so với các nhóm cư dân khác. Nó thể hiện khá rõ trên khá nhiều phương diện như: Giai thoại dân gian lưu truyền nhiều hơn, lễ hội lớn hơn, kiến trúc thờ tự qui mô hơn,…

Qua khảo sát tại An Thủy, ngư dân có khá nhiều giai thoại liên quan đến cá ông. Theo lời kể lại của họ, cá ông vốn là vị thần được Ngọc Hoàng phái xuống trần, biến thành cá ở từng cửa biển để cứu giúp người dân mỗi khi gặp nạn. Nếu cứu được càng nhiều người sẽ tích được công đức cho đến khi thiên đình tổ chức kỳ thi. Nếu công đức nhiều, cá sẽ vượt được vũ môn hóa thành rồng, bay về trời. Ngược lại, nếu tích ít công đức, cá tiếp tục quay trở lại nơi cũ tiếp tục sứ mệnh cho đến khi đầy đủ. Khi gặp người bị nạn, cá ông không cứu sẽ bị cá đao phanh thây, đất trời nổi sóng gió. Câu chuyện này có mang yếu tố Đạo giáo khá rõ. Họ còn cho biết, mỗi khi cá ông đi tuần sẽ có một cặp cá đao, cặp tôm càng và cặp mực theo hầu. Sách Đại Nam Nhất Thống chí có ghi : “ Cá đao : đao ngư, trên đầu có xương dài, nanh sắc như dao cưa, sắc xanh không vảy, có loài đẻ con. Tục truyền khi cá ông voi bơi đi, tất có một đôi cá đao đi trước để hộ vệ. Đấy cũng là việc lạ”.

Cá ông rất thích ăn cá mồi và ruốc. Mỗi khi gặp được mồi, cá đao sẽ bao quanh vòng ngoài, mực vươn tua dài phun nước màu đen, cá ông sẽ xoay vòng nước đưa con mồi vào miệng. Tuy nhiên, cá ông rất kỵ con sam, nếu lỡ bị sam bám vào thành miệng, hút máu thì sẽ đau đớn, giãy dụa và bơi vào bờ để nhờ người gỡ dùm. Ngư dân ở đây thường gọi cá ông bằng “ông Nam Hải”, “Nam Hải Tướng quân“, hay đơn giản nhất là “ông”. Mỗi khi cá lỡ chui vào lưới, ngư dân khấn và mở lưới để ông thoát ra ngoài. Khi cá ông lụy, tùy vào mỗi nơi mà có cách an táng khác nhau, tuy nhiên, người đầu tiên nhìn thấy sẽ là con trưởng và phải chịu tang.

Ở Lăng Ông An Thủy có 3 bộ cốt cá ông. Bộ cốt đầu tiên do ông lụy vào năm 1917, được ngư dân đưa vào lăng thờ. Bộ cốt thứ hai do cá ông lụy vào năm 1954. Thi hài Ông dài chừng 7m, ngang 1,7m, nằm ở phía ngoài cồn, được một số người Bắc di cư vào đây phát hiện. Họ sửa soạn xẻ thịt cá thì ngư dân tại đây phát hiện, xin chuộc lại với số tiền khá lớn. Sau đó, ngư dân tổ chức lễ an táng.

Tại nơi cá ông lụy, người ta đào một cái hố khá lớn, bên dưới phủ vải đỏ, lập bàn hương án cho ngư dân cúng bái. Cả làng lúc này đi tìm người đầu tiên thấy ông để làm người con trưởng, chịu tang. Tuy nhiên, vì theo quan niệm của ngư dân, người làm con trưởng sẽ bị nghèo khó suốt đời, nên người này đã bỏ trốn vào Cà Mau sinh sống. Nếu không có người con trưởng, xác ông sẽ không lung lay và an táng được. Người ta bắt buộc phải tìm người thứ hai thấy ông lụy để làm con trưởng, chịu tang 3 năm.

Phải chăng việc chịu tang cá ông có sự thâm nhập của yếu tố Nho giáo vào tín ngưỡng này ? Sau khi an táng xong, ngư dân xây ngôi mộ cho ông tại nơi này. Trong thời gian để xác ông, những loài vật như chó, mèo và cả ruồi muỗi không dám đến gần. Ghe đáy rạo, đáy sông cầu quay về cúng bái long trọng. Đêm đó, trời nổi sấm chớp và giông gió lớn làm cho cả đoàn ghe va vào nhau. Những người hiếu kỳ thì đến gặp các ngư dân có trách nhiệm để xin huyết và da của ông về uống cho khỏe mạnh, làm bùa đeo cho trẻ con để trừ tà ma.

Tuy nhiên, điều này đã không được chấp nhận. Ngư dân còn kể lại rằng, vào sáng hôm sau, một ông khác to lớn đi vào cửa sông, phá đi hàng chục khẩu đáy, rồi vọi nước lên cao để trở ra ngoài khơi. Người ta cho rằng, đó là cá ông mẹ đi tìm cá ông con.

Sau đó, đến lễ nghinh ông vào năm sau (ngày 16 tháng giêng), ngư dân tổ chức lễ thỉnh cốt ông về nhập lăng. Người ta đào mộ lên, mang cốt ông rửa thật sạch, phủ vải đỏ. Đoàn đi rước có chiêng, trống, long đình và pháp sư theo cùng. Bộ cốt thứ ba ở lăng ông An Thủy khá nhỏ, do người dân thấy ông con xẩy, họ an táng và mang cốt gửi vào lăng. Nguyễn Duy Oanh, cho biết một chi tiết : “ Dân chài vùng Bãi Ngao (Ba Tri) cũng thuật rằng cũng có lần thuyền của vua Gia Long đến đây gặp sóng to gió lớn và cũng được cá ông hộ tống đến Bãi Ngao”.

Qua thực tế của người viết vào năm 2007 và 2008, câu chuyện này không xuất hiện qua lời kể của các ngư dân cao tuổi. Phải chăng nó đã bị lãng quên qua thời gian ? Đó là giai thoại dân gian khá phổ biến ở vùng ven biển Nam bộ, chứ không riêng gì ở Vàm Láng (Tiền Giang). Việc gắn cá ông  với quá trình bôn tẩu của vua Gia Long làm cho tín ngưỡng thờ cá ông có nội dung lịch sử, góp phần nâng cao vị thế của vị thần này với triều đình nhà Nguyễn. Ngoài ra, cũng không loại trừ việc tuyên truyền, ca tụng “ sứ mạng thiên tử” của Nguyễn Ánh trong lúc bôn ba phục nghiệp bằng khá nhiều giai thoại ly kì ở Nam bộ.

Cho đến nay, những câu chuyện về sự linh ứng của cá ông cứu người khi gặp nạn trên biển, đặc biệt đó là những con người thật còn sống ở địa phương, vẫn còn lưu truyền rộng rãi. Điều này chứng minh một điều tín ngưỡng thờ cá ông còn chi phối quan trọng trong đời sống tinh thần của ngư dân An Thủy, nó phản ánh việc đánh bắt xa bờ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, thường xuyên có bất trắc, điều không may đến với họ khi lênh đênh trên biển. Trong quá trình tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thủy, ngư dân có sự phân biệt khá cụ thể, rõ ràng giữa cá ông với các loài cá khác có hình dạng gần giống nhau như : Cá xà, cá dông,….

Đây là các loài cá có mặt ở vùng ven biển Bến Tre trước đây. Hiện nay, chúng còn lại rất ít.

Cá xà được ghi rõ trong Gia Định Thành Thông chí : “Cá nhám (giao sa), có tên nữa là cá xà, da có sạn, thân to lớn đến 3-4 ôm, dài hơn 1 trượng, mắt đỏ, miệng lớn. Thường thừa khi sóng gió mạnh mẽ, cả bầy đuổi theo ghe thuyền, chực ghe chìm đặng nuốt người. Tính nó rất hung dữ, người đi ghe phải bỏ xuống một khối đá hay bao gạo mong cho nó nuốt xong no bụng để đi. Cá này cũng có rún đẻ con. Có loài cá xà ở hồ, ăn tươi hay phơi khô đều dùng được. Vây của nó phơi khô đem bán là loại thức ăn thượng hạng”.

Hiện tại, qua đối chiếu với các sách Đại Nam Nhất Thống chí, Gia Định Thành Thông chí thì không thấy có ghi chép về loài cá mang tên là cá dông. Ngoài ra, sau khi tham khảo một số từ điển chuyên ngành như : Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp Việt Nam, Từ điển Thủy sản Anh-Việt,… cũng không thấy nhắc đến. Có thể đây là tên gọi của dân gian, không phải tên gọi khoa học và phổ biến. Tuy nhiên, sách Từ điển Bách Khoa Nông nghiệp Việt Nam lại có ghi chép về một số loài cá có hình dạng to lớn giống như cá ông và ăn thịt người, hay tấn công người đi trên biển ở Việt Nam : Cá nhà táng (Physeter catodon) – một loài thuộc bộ cá voi răng và cá mập ăn người (Carcharodon carcharias). Có thể cá dông chính là cá nhà táng hay cá mập ăn người. Đây là vấn đề cần tìm hiểu thêm.

Đặng Văn Thắng cho biết : “ Cá ông được phong là thần Nam hải Cự tộc Ngọc lân và từ thời Minh Mạng chỉ phong là chi thần (không phải là thượng đẳng thần hay trung đẳng thần), đến thời Tự Đức được phong là Trừng trạm, mà theo qui định của thời Tự Đức, được phong Trừng trạm là thuộc loại thủy thần hạng hạ đẳng thần, nên có thể nói từ thời Tự Đức cá ông là thuộc thủy thần hạng hạ đẳng”. Qua khảo sát 12 lăng ông ở Bến Tre, chúng tôi không thấy có sắc thần nào của triều đình nhà Nguyễn phong tặng.

Ngoài ra, bài văn chánh tế của Lăng ông An Thuỷ mang nhiều ý nghĩa trong việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cá ông nói riêng và tín ngưỡng của ngư dân nói chung. Có vài nhận xét về bài văn tế này như sau :

– Thứ nhất, nội dung của bài văn này không nằm ngoài sự ca ngợi công đức, uy lực của cá ông và lòng ngưỡng mộ của ngư dân, bày tỏ cầu mong sự phù trợ thần linh cho cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn.

– Thứ hai, qua bài văn tế này, tín ngưỡng thờ cá ông có sự ảnh hưởng của Đạo giáo, với việc đề cập cá ông được thiên đình phong tặng danh hiệu Nam Hải Đại Tướng quân Ngọc lân Thuỷ tướng Nam thần. Điều này phù hợp với giai thoại dân gian được lưu truyền ở An Thuỷ mà chúng tôi đã nêu trên. Ngoài ra, cá ông không chỉ một mình về chứng lễ của ngư dân mà còn có nhiều vị thần khác. Đặc biệt, tên của hai vị thần phụ tá cá ông là Tả Lý ngư và Hữu Lý lực.

– Thứ ba, ngoài cá ông, một số vị thần trong bài văn tế này có liên quan đến biển cả, ngư nghiệp như : Ngũ phương Long Vương, Lang Lại tướng quân, Thuỷ Long nương nương, Hà Bá Thuỷ quan,… Bên cạnh đó, các vị thần có chức năng cai quản đất đai, xứ sở mà ngư dân sinh sống, lập nghiệp như : Thành Hoàng, Thổ Công, Thổ Địa và cả các vị có công lập làng, khai cơ đã quá cố. Đây là một tập hợp vừa có nhiên thần, vừa có nhân thần, có cả thuỷ thần và thổ thần, trong đó thuỷ thần giữ vai trò chính. Nó phản ánh được đời sống kinh tế, xã hội của người dân ở đây với ngư nghiệp giữ vai trò chủ đạo.

– Thứ tư, qua bài văn tế này, có sự tích hợp giữa yếu tố Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Yếu tố Đạo giáo ảnh hưởng đến tín ngưỡng thờ cá ông và sự có mặt của các thần có chức năng quản trị hằng năm ở dương gian như: Hành khiển, hành binh, phán quan, quỉ vương. Theo quan niệm của Đạo giáo, tuỳ vào mỗi năm mà có các vị thần quản trị tương ứng, chẳng hạn năm Tý thì có : Châu Vương hành khiển, Thiên Ôn hành binh, Lý Tào phán quan, Thiên Tặc quỉ vương.

Nhìn chung, tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân An Thủy là tiêu biểu nhất cho loại hình tín ngưỡng này ở Bến Tre. Đây là dạng thức tín ngưỡng thờ vật linh, phản ánh sự may rủi và bất trắc khi ngư dân lênh đênh đánh bắt trên biển. Ở góc nhìn theo sự phát triển của các hình thức đánh bắt, tín ngưỡng thờ cá ông ở đây ban đầu là hình thức tín ngưỡng của nghề chài lưới (xiệp, lưới sỉ, lưới gõ,…) và đóng đáy ở cửa sông và ven bờ (đáy rạo, đáy sông Cầu,..).

Do vậy, họ mới có quan niệm cá ông giữ nhiệm vụ trấn giữ các cửa sông để cứu người, đưa vào bờ, không trôi dạt ra khơi. Sau này, đặc biệt từ sau 1975, việc phát triển đánh bắt xa bờ (cào, lưới đèn, câu mực,…) đã tiếp tục mở rộng thêm vai trò của cá ông, đó là phù hộ cho ngư dân những ngày dài đánh bắt giữa biển khơi bao la. Mặt khác, cũng thấy rằng, con người không chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào cá ông mà còn cứu giúp cá khi bị mắc cạn, bị ăn trúng sam,… Đó là mối quan hệ có qua có lại, mang tính hai chiều, phản ánh sự gắn bó, hài hòa giữa con người với tự nhiên, phản ánh triết lý nhân quả “cứu người thì người cứu ta”… của ngư dân. Tín ngưỡng thờ cá ông ở đây nói riêng và Việt Nam nói chung còn chứa đựng những giá trị của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo (câu chuyện cá ông là hóa thân từ chiếc áo cà sa của Quan Âm bồ tát của ngư dân miền Trung) hòa lẫn vào nhau, thể hiện được tính dung hợp văn hóa- một đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam. Trong thời điểm hiện nay, tín ngưỡng thờ cá ông còn có ý nghĩa tích cực cho việc bảo vệ môi trường sinh thái biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang có nguy cơ cạn kiệt, mang tính nhân văn rõ nét. Tín ngưỡng thờ cá ông vẫn còn nguyên vẹn trong đời sống tâm linh của ngư dân ở đây khi mà nghề đánh bắt thủy sản còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, còn đầy thử thách và khó khăn ở mỗi chuyến ra khơi.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ cá ông còn nảy sinh và tích hợp một số hình thức liên quan và gắn liền như : Lăng ông, lễ hội nghinh ông và hát bội.

Cách gọi lăng, tức nơi thờ cúng và đặt hài cốt cá ông, là cách gọi tôn kính của dân gian. Nguyễn Duy Oanh có nói đến lăng ông An Thủy : “ Ở quận Ba Tri, dân chài lưới có lập cái miếu thờ cá ông tại vùng Bãi Ngao. Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái…” Ông cũng không nói đến năm thành lập của lăng ông An Thủy.

Qua tư liệu điền dã của người viết, lăng ông An Thủy được ông Lưu Hữu Phú-ông tổ của kiến họ Lưu tại đây thành lập. Hiện nay, dòng họ này đã truyền đến đời thứ 7. Có khả năng lăng ông này được lập cách đây chừng 150 năm, là lăng ông khá xưa của Bến Tre. Con cháu của dòng họ này cho biết, ông Lưu Hữu Phú từ Vĩnh Long sang đây, tụ dân làm nghề chài lưới ở con rạch Ngao Châu gần đó và tiến hành dựng lăng thờ cá ông để cúng bái, cầu nguyện cho nghề chài lưới được phát đạt. Cũng cần nói rằng, việc thành lập lăng ông An Thủy không phải vì lý do cá ông lụy, mà ở việc nghề chài lưới phát triển, họ cần thờ cá ông để cầu sự độ trì. Các bộ cốt cá ông đều có niên đại sau khi lập lăng. Nhìn chung, kiến trúc lăng ông An Thủy giống hệt một ngôi đình ở Nam bộ : Võ ca, võ qui, chánh điện, hậu điện, nhà khách, nhà trù. Lăng này được xây cất theo hướng Đông, hướng của biển-nơi ngự trị của cá ông. Trước mặt lăng là con rạch Ngao Châu đề ghe thuyền đánh bắt có thể về đậu trước lăng cho tiện cúng bái. Qua thời gian, con rạch này đã bị bồi lắp, do vậy, nó chỉ còn lại chứng tích là bãi dừa nước ở phía trước lăng hiện nay. Lăng ông An Thủy phần lớn được xây dựng bằng chất liệu xi măng, được trùng tu qua nhiều lần nên khá rộng rãi và vững chắc. Điều này chứng tỏ sự quan tâm của ngư dân đến lăng ông, sự phát triển của đời sống kinh tế An Thủy qua hàng năm.

Nhìn chung, so với các lăng ông khác ở Bến Tre, lăng ông này có sự vững chắc, qui mô lớn, khang trang hơn nhiều lần. Phía ngoài sân của lăng ông An Thủy có thêm bia Long Mã Hà Đồ, hai miễu thờ Bạch Mã và Thái Giám. Sau bia Long Mã Hà Đồ, có ban thờ Thần Nông.

Hằng năm, Ban Khánh tiết Lăng tổ chức cúng tạ Thần Nông vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, tức lễ thượng điền. Việc có ban thờ Thần Nông và lễ cúng thượng điền tại đây có nguyên nhân của nó.

– Thứ nhất, cộng đồng ngư dân An Thủy được xem là lớp ngư dân bãi dọc, nằm trong con rạch Ngao Châu và Bà Hiền, bên dòng sông Hàm Luông chảy ra biển Đông. Do nằm sâu bên trong và cách biển khá xa, cho nên ngư dân ở đây tiến hành nghề trồng giồng trên những giồng cát và trồng lúa.

– Thứ hai, trước đây do nghề đáy sông Cầu, đáy rạo chỉ hoạt động vào mùa Nam (từ tháng 2 đến tháng 8 âm lịch) và nghỉ vào mùa chướng (từ tháng 9 đến tháng 1 âm lịch). Cho nên, với thời gian ngư nhàn khá lâu, ngư dân chuyển sang làm nghề nông để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống. Do vậy, cả hai yếu tố nông nghiệp và ngư nghiệp cùng chi phối đời sống kinh tế, xã hội và cả văn hóa ở cộng đồng ngư dân An Thủy, trong đó ngư nghiệp giữ vai trò chính.

Việc thờ Thần Nông và lệ cúng thượng điền của lăng ông An Thủy chính là sự phản ánh rõ nét yếu tố nông nghiệp đã chi phối đời sống của ngư dân ở đây xưa và nay. Lăng ông này có bày trí nổi bật. Đó là trống, mõ, lỗ bộ, cờ màu đỏ góp phần cho sự trang nghiêm. Mặt khác, các hương án được sơn màu đỏ, đắp nổi hình long-phung, long mã hà đồ, lân,… Đặc biệt, ở đây có đặt hài cốt của cá ông, hai bên ban thờ chính là xương cá đao. Trong chánh điện lăng ông An Thủy, giữa là ban thờ cá ông, có ghi chữ Thần khá lớn, hai bên là ban thờ tả ban và hữu ban. Phía sau là hậu điện, có ban thờ Tiền Hiền và Tiên Sư. Trước lăng ông An Thủy có đôi câu đối ca ngợi cá ông :

Sanh vi tướng tiền nhân thọ đức

Tử vi thần hậu thế tri ân

Hay:

Đền cổ lưu truyền tiền bối thọ

Tích xưa rọi dấu hậu nhân tu

Hằng năm, ngư dân An Thủy tổ chức lễ nghinh ông vào 3 ngày : 15 và 16, 17 tháng giêng, theo đó ngày 16 là ngày chánh. Trước đây, sau lễ nghinh ông này, ngư dân bắt đầu sửa chửa thuyền, vá lại lưới để tiến hành công việc đánh bắt sau thời gian ngư nhàn. Do đó, lễ hội nghinh ông ở đây thực chất là lễ hội cầu ngư, tức cầu cá ông độ trì cho một năm đánh bắt được thuận lợi, cho tôm cá đầy khoang. Nhìn chung, lễ hội nghinh ông An Thủy bao gồm các nghi lễ: Nghi Xây chầu Đại bội (tối ngày 15), nghi Nghinh Ông (sáng ngày 16), nghi Tế Tiền vãng (sáng ngày 16), nghi Tĩnh sanh (chiều ngày 16), nghi Chánh tế ( khuya ngày 16), nghi Đưa khách (khuya ngày 17). Ngoài ra, ở Lăng ông An Thuỷ, trước nghi tế tiền vãng là nghi tế chiến sĩ trận vong ở đền thờ liệt sĩ của xã, bởi vì họ quan niệm: Có những người vì nước xả thân, vì dân quên mình cho đất nước bình yên thì mới có công cuộc mở mang, phát triển của các bậc tiền nhân. Do vậy, nghi tế chiến sĩ phải thực hiện trước nghi Tế Tiền vãng. Bến Tre là vùng đất mà chiến tranh đã tàn phá ác liệt qua 2 cuộc kháng chiến. Chính điều này đã làm cho nội dung của lễ hội ở đây mang đậm yếu tố lịch sử, thể hiện lòng ngưỡng vọng tri ân với các anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân. Nội dung của bài văn tế tha thiết nhưng không kém phần hào hùng, thể hiện được tấm lòng của người đời sau :

Nơi trận địa từ đây vắng mặt

Lễ chiêu hồn nghĩ lại đến chiến công

Cầu vong linh phối hưởng tất lòng

Sớm siêu hưởng về nơi cõi thọ

Mặt khác, trong nghi Tế Tiền vãng ở đây, ở bàn thờ Tiền Hiền bao giờ cũng có 12 tô thịt để cúng. Nó tượng trưng cho 12 vị hương chức điều hành công việc của làng ngày xưa, bao gồm: Hương cả, hương chủ, hương sư, hương trưởng, hương hào, hương thân, hương chánh, hương lễ, hương văn, hương quan, hương ẩm và xã trưởng. Do vậy, nghi lễ này mang tính lịch sử, phản ánh được cơ cấu tổ chức làng xã của địa phương trước đây.

Tuy nhiên, lễ nghinh ông An Thuỷ không có nghi thức ra biển nghinh ông. Theo các ngư dân cao tuổi cho biết, trước đây có tổ chức lễ này, nhưng vì trong chiến tranh, đây là nơi giáp ranh giữa 2 bên ta và địch, sợ đạn pháo bắn nhầm, nên Ban Khánh tiết không dám ra khơi nghinh. Lễ hội nghinh ông của cộng đồng ngư dân An Thuỷ vừa mang ý nghĩa tâm linh, sự cầu mong một mùa đánh bắt thuận lợi, bình an nơi biển cả, nhưng cũng vừa là nhu cầu giải trí, giao lưu, và cố kết cộng đồng ngư dân với nhau. Trong ngày lễ nghinh ông, ghe đánh bắt của ngư dân An Thủy phải tề tựu về dự lễ cúng. Họ mang những lễ vật đến lăng cúng tạ ơn ông Nam Hải, ghe nào trúng mùa thì tạ lễ bằng heo quay, ngoài ra còn có xôi, chè,…

Xung quanh lăng không khí nhộn nhịp, đông vui với các hàng quán buôn bán. Mỗi gia đình đều cử người đến miếu cúng. Sau đó, họ ngồi bên nhau để lai rai và tâm tình về nghề biển, về những chuyến đánh bắt tiếp theo. Các món ăn do Ban Khánh tiết đãi là những lễ vật mà ngư dân đem đến cúng. Ngoài ra, họ còn có thêm các món : Cá đuối tái giấm hay xào nghệ, mắm cá, mắm tép ăn với thịt phay… Đây là những món ăn riêng có của vùng biển.

Liên quan đến tín ngưỡng thờ cá ông ở An Thuỷ còn có hình thức hát bội. Hát bội là hình thức nghệ thuật tiêu biểu ở Nam bộ, được sử dụng cho các lễ cúng kỳ yên ở các đình, miếu. Không chỉ vậy, hát hội còn được sử dụng trong các lễ hội nghinh ông ở Bến Tre, trong đó có ở cộng đồng ngư dân An Thuỷ. Trong lễ hội nghinh ông ở các tỉnh ven biển miền Trung, hát bội được gọi là hát án hay hát thứ lễ. Sách Từ điển Nghệ thuật Hát bội Việt Nam cho biết rằng, trước khi hát án, ban vạn tiến hành nghi lễ rước ông ra án đối diện với sân khấu để ông xem hát và chứng lễ.

Vở diễn hát án thường được chọn một số vở trong pho tuồng Tam Quốc, nhưng bắt buộc phải có vở Cổ Thành. Thường một đội hát án hát từ 30 giờ đến 60 giờ. Nhìn chung, hát bội trong lễ nghinh ông ở An Thuỷ giống với các nơi khác : Trước là cúng cho thần linh, sau cho bổn hội và bà con ngư dân giải trí. Hát bội ở đây thường là 3 suất hát, phản ánh được sự sung túc của ngư dân.

Tóm lại, tín ngưỡng thờ cá ông của cộng đồng ngư dân An Thuỷ là tiêu biểu cho loại hình tín ngưỡng này ở vùng ven biển Bến Tre. Qua đó, tín ngưỡng thờ cá ông tồn tại với các hình thức liên quan đến như: Lăng ông, lễ hội nghinh ông, hát bội và tạo nên một dạng thức văn hoá, tạm gọi là văn hoá tín ngưỡng thờ cá ông. Mặt khác, tín ngưỡng này còn phản ánh được thế giới quan, suy nghĩ và cả đời sống kinh tế-xã hội của ngư dân An Thuỷ qua chiều dài phát triển. Ở đây, tín ngưỡng nói riêng và văn hoá nói chung còn là tấm gương phản chiếu của lịch sử. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có liên quan đến lĩnh vực văn hoá của Bến Tre và địa phương cần phục hồi lại lễ ra khơi nghinh ông  ở An Thuỷ như ngày xưa đã từng có. Có như vậy, chúng ta góp phần làm cho lễ hội nghinh ông An Thuỷ tưng bừng hơn, phù hợp hơn. Làm được điều này chính là biết bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc trong thời hội nhập và phát triển.

Thùy Lan (Theo Dương Hoàng Lộc)

Advertisements

BÍ MẬT LĂNG MỘ VÕ TẮC THIÊN

VÕ TẮC THIÊN

CÔNG HAY TỘI ?

Võ Tắc Thiên là một nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, bà nổi tiếng không chỉ bởi tài năng, sự độc ác mà còn nổi tiếng về tình sử có một không hai.
Khám phá mới về lăng mộ của Võ Tắc Thiên là Lăng mộ của nữ Hoàng Đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, thuộc khu Càn Lăng nổi tiếng cách Tây An 80km về phía tây bắc. Mới đây, các nhà khảo cổ tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc đã có nhiều phát hiện mới về lăng mộ này và bí ẩn di địa hạ cung dần dần được khai phá.

Đường Càn Lăng được xây trên núi, quy mô rộng lớn là nơi an nghỉ của Hoàng đế đại Đường Cao Tông Lý Trị Hòa và Hoàng Đế Võ Tắc Thiên, là lăng mộ Hoàng Đế nhà Đường duy nhất chưa hề bị khai quật ở Trung Quốc, nơi đây thường được gọi là “Đường Lăng chi quán”.

Mộ đạo vào địa cung gồm hai phần hào đệm và đường hầm đá. Hào đệm sâu tới 17m, toàn bộ lát nền bằng đá phiến dài 1,25m, rộng từ 0,4 đến 0,6m. Mộ đạo nằm theo độ dốc, dài 63,1m, nam rộng bắc hẹp, với độ rộng bình quân là 3,9m. Đá phiến được xây móc xếp từng tầng thuận theo chiều dốc từ nam tới bắc cộng là 39 tầng. Mặt bằng dùng khoảng 8.000 phiến đá.

Giữa các phiến đá được liên kết với nhau bằng chốt (cá) rãnh cánh én bằng thép gió. Giữa phiến trên và phiến dưới đục lỗ thông và dùng cây thép xuyên quan níu chặt với nhau, rồi nung chảy thiếc sắt rót vào cho đông cứng, khiến các phiến đá kết thành một khối. Các nhà khảo cổ khảo sát quanh Càn Lăng tịnh không phát hiện dấu hiệu bọn trộm mộ từng phát hiện ra cửa đường hầm vào địa cung. Điều này chứng tỏ Càn Lăng là lăng mộ duy nhất của các hoàng đế nhà Đường chưa bị đào trộm thành công.

Hạ cung Càn Lăng được biến hóa từ Tẩm Cung trước đây mà thành, chủ yếu bao gồm Phụng mộ chủ Linh quỷ, người đời sau hay cúng bái ở nơi đây. Còn về Đường Thái Tông Lý Thế Dân khi qua đời và an táng ở Tẩm Cung, sau này do hỏa hoạn đã dời tới chân núi, hậu thế thường gọi là Hạ Cung.

Theo các nguồn tin được biết thì nơi đây được coi là một bộ phận quan trọng của “Hạng mục bảo hộ đại di sản Đường Lăng Thiểm Tây”. Năm 2000, các nhà khảo cổ đã được cấp phép nghiên cứu chi tiết và đã phát hiện một điều rất lý thú là kết cấu địa môn phía đông, tây và bắc của Càn Lăng có những đặc điểm rất giống nhau.

Ngoài ra, khảo cổ gia còn nghiên cứu chi tiết khu bắc môn thì phát hiện ra Thạch Mã, Thạch Hổ, Thạch Sư, Thạch Khắc, trong đó phát hiện ra Thạch Hổ là tư liệu quan trọng giúp con người hiểu hơn về ngoại thạch Bắc môn Lăng hoàng đế đời Đường. Và đặc biệt là tượng không đầu vẫn là bí ẩn đối với hậu thế.

Võ Tắc Thiên – Thiên tài hay ác quỷ ?

Cuộc đời của Võ Tắc Thiên đã trải qua các vị trí tài nhân, chiêu nghi, hoàng phi, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng đế, thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí hoàng hậu của nhà Đường.

Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.

Võ Tắc Thiên xuất thân từ huyện Văn Thủy, thuộc quận Tinh Châu  nay là thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Sinh ra trong một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây. Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông nhà Đường vào khoảng năm 637 và là một Tài Nhân, tức là một trong chín người thiếp cấp thứ năm.

Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông đặt tên cho bà là Mị, có nghĩa là “duyên dáng, xinh đẹp”, và vì vậy còn được người Trung Quốc gọi là Võ Mị Nương. Trong  thời gian này bà đã gặp thái tử Lý Trị và đã có quan hệ thân thiết với vị vua tương lai này.

Năm 649, Đường Thái Tông băng hà, theo luật lệ, Võ Mị Nương phải rời cung để vào chùa Cảm Nghiệp xuống tóc. Thái tử Lý Trị lên ngôi, tức là Đường Cao Tông đã đưa bà quay trở lại.

Năm 654, Võ Tắc Thiên sinh một con gái, nhưng đứa trẻ bị chết sau khi sinh vài ngày. Trước khi đứa trẻ chết, Vương hoàng hậu có đến thăm, do đó Cao Tông nghi ngờ hoàng hậu đã hạ thủ. Truyền thuyết cho rằng chính Võ Tắc Thiên đã giết con để vu tội cho hoàng hậu. Võ Chiêu nghi được phong làm Thần phi. Rất nhiều người đã chống lại Võ Tắc Thiên nhưng đều bị giết hại, bà nghiễm nhiên bước lên ghế hoàng hậu.

Năm 660, Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ, Võ hậu liền tham gia chính sự từ phía sau rèm cùng vua, nên gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông nhất nhất đều nghe theo lời Võ hậu, tuy nhiên nhận thấy sự nguy hiểm của bà, nên đã ngầm ra lệnh cho Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất.

Việc bại lộ, Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết, Cao Tông cũng mất hết quyền lực, hoàn toàn phụ thuộc vào Võ hậu. Thái tử Lý Trung (con của Cao Tông và một người thiếp thấp kém, Vương hoàng hậu nhận làm con) bị giáng và bị giết. Con cả của Võ hậu là Lý Hoằng được phong thái tử.

Năm 667, Cao Tông quá yếu, giao cho thái tử Lý Hoằng giám quốc, thực ra vẫn do Võ hậu làm chủ. Năm 674, triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng, Võ hậu là Thiên hậu. Võ Tắc Thiên thích dùng tôn xưng Thiên hậu cho đến tận khi làm hoàng đế. Võ hậu phế Thái tử Lý Hoằng, đưa con thứ hai là Lý Hiền lên làm thái tử, rồi lại giáng Lý Hiền, đưa con thứ ba là Lý Hiển lên thay.Trong giai đoạn này, Võ hậu đã có nhiều chính sách chính trị đổi mới, được đánh giá cao.

Năm 683, Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển lên ngôi, tức là Đường Trung Tông, Võ Tắc Thiên làm Hoàng thái hậu, nắm toàn bộ chính sự. Một tháng sau, với lý do Đường Trung Tông để vợ là Vi hoàng hậu lộng quyền, Võ hậu phế vua xuống làm Lư Lăng Vương, lập con trai thứ tư (Lý Đán) lên làm vua, tức Đường Duệ Tông. Trong các năm tiếp theo, Võ hậu lần lượt ra tay với các vương gia là con của Đường Thái Tông như Việt vương Lý Trinh, Lang Nha vương Lý Trọng.

Đồng thời Võ hậu cho xây dựng nhiều cung điện, lớn nhất là tòa Minh Đường cao gần ba trăm trượng, sau đổi là Vạn Tượng Thần cung. Minh Đường hoàn thành, có kẻ dâng viên đá trên có chữ “Thánh mẫu lâm nhân, Vĩnh xương đế nghiệp” nên Võ hậu đổi tôn hiệu của mình là Thánh mẫu thần hoàng.

Năm 690, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Võ hậu là Phật Di Lạc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Võ Hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.

Tháng 9 năm 690, Võ hậu lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Chu với ý kế tục sự nghiệp nhà Chu xưa kia, quốc tính là họ Võ, tôn Chu Văn Vương làm Thủy tổ Văn hoàng đế. Giáng Đường Duệ Tông xuống làm Hoàng tự, rồi sau đó phế bỏ, lại phong cháu là Võ Thừa Tự làm Ngụy vương, Võ Tam Tư làm Lương vương.

Đến năm 705, Võ hậu ngoài 80 tuổi đã rất ốm yếu. Tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi lãnh đạo cuộc đảo chính giết hai anh em họ Trương, xông vào cung buộc Võ hậu truyền ngôi cho thái tử Lý Hiển. Đường Trung Tông Lý Hiển lại lên làm vua lần nữa, Võ hậu trở thành Thái thượng hoàng, rồi qua đời vào tháng 11 năm 705. Khi lâm chung bà yêu cầu dùng thụy hiệu là Hoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do đó không có miếu hiệu.

Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa : một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, và cai trị bằng cách điều khiển từ phía hậu trường.

Lăng mộ Võ Tắc Thiên

Bọn trộm mộ thường dòm ngó đào bới hôi của; triều đại mới nổi lên, trả thù triệt “long mạch” của triều đại cũ; các nhà khảo cổ khai quật để nghiên cứu… Thế nhưng lăng mộ của nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên thì người ta đào không nổi.

Bắt đầu từ chuyện xây dựng Càn Lăng, thầy địa lý phong thủy đời nhà Đường cho rằng : Lương Sơn ở huyện Càn rất có lợi cho nữ hoàng. Bởi vậy mà nữ hoàng Võ Tắc Thiên liền chọn Lương Sơn làm nơi an giấc ngàn thu cho mình và chồng là Đường Cao tông Lý Trị sau khi qua đời.

Việc xây dựng Càn Lăng đúng vào thời kỳ cường thịnh của nhà Đường. Lúc đó, quốc lực dồi dào. Người ta xây dựng quy mô lăng mộ cực rộng, rất hoành tráng, được tôn vinh là Lăng quán quân trong lăng các hoàng đế mọi thời đại. Càn Lăng chôn chung Đường Cao tông Lý Trị và Võ Tắc Thiên, phát triển và hoàn thiện theo phong cách của Chiêu Lăng (an táng Đường Thái tông).

Kết cấu của lăng viên phỏng theo thành Tràng An (kinh đô nhà Đường), chia thành hoàng thành, cung thành và ngoại quách. Đường trục chính Nam Bắc của nó dài 4,9 km. Về lượng của cải, vàng bạc châu báu tùy táng chứa trong hầm mộ dưới lăng thì qua khảo sát nhiều năm, một chuyên gia văn vật thâm niên suy đoán chỉ ít cũng là 500 tấn !

Với lượng của cải khổng lồ như vậy, Càn Lăng đã trở thành miếng mồi ngon lôi cuốn bọn trộm mộ chuyên nghiệp, bọn quan lại, quân phiệt, thổ phỉ, thậm chí là cả quân khởi nghĩa nông dân. Họ ùn ùn vác xà beng, cuốc thuổng tới đào bới, thậm chí dùng cả máy khoan, đánh mìn để hòng moi được vàng bạc châu báu. Chuyện này từng xảy ra đến mấy lần trong lịch sử Trung Quốc.

Ba lần đào bới bất thành

Lần đầu tiên, lăng mộ Võ Tắc Thiên bị đào bằng cuốc xẻng là do Hoàng Sào, lãnh tụ đại quân tạo phản thời Đường mạt chỉ huy. Ông ta huy động tới hơn 40 vạn binh sĩ, đào bới mé tây đồi Lương Sơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng đào bới đã vạc hẳn một nửa quả đồi, từ đó để lại một “hố Hoàng Sào” sâu tới 40m.

Thế nhưng cung điện ngầm Càn Lăng dường như không có cửa vào. Về sau, quân đội vương triều Đường tập trung binh lực tổng phản công Tràng An. Hoàng Sào buộc phải bỏ dở công trình cướp mộ, bỏ chạy.

Kẻ thứ hai sờ vào Càn Lăng với mưu đồ hôi của là Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại. Thời Ngũ Đại kéo dài từ năm 907 đến năm 960. Trước khi đào Càn Lăng, Ôn Thao đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường, chỉ chừa lại có Càn Lăng. Nhưng ý đồ đào Càn Lăng của hắn cũng hoàn toàn phá sản.

Giống như Hoàng Sào, hắn cũng huy động đến mấy vạn người ngang nhiên đào bới giữa thanh thiên bạch nhật. Không ngờ trước sau ba lần, cứ lên tới đồi định “động thổ” thì lập tức trời nổi giông bão, sấm chớp ầm ầm, mưa như trút nước. Nhưng khi binh mã của hắn rút về thì trời lại quang, mây lại tạnh. Ôn Thao lấy làm lạ, chẳng hiểu thần linh báo ứng thế nào, sợ quá liền bỏ hẳn ý định đào mộ. Nhờ vậy mà Càn Lăng thoát được kiếp nạn lần thứ hai.

Nhưng nguy hiểm nhất là lần thứ ba. Lần này, một sư đoàn quân đội hiện đại, dùng bộc phá, thần công đại bác để phá Càn Lăng. Kẻ chủ mưu là tướng quân đội Quốc Dân đảng thời Trung Hoa Dân quốc tên là Tôn Liên Trọng. Hắn ngụy trang chuyện trộm cướp này bằng một cuộc diễn tập quân sự, dùng bộc phá cực mạnh phá bung, để lộ ra đường hầm mộ bằng đá dựng.

Cả bọn chuẩn bị chui vào thì đột nhiên tỏa ra một luồng khói đặc mù mịt cuồn cuộn bốc lên cao, tạo thành một cột vòi rồng lốc xoáy, tối đất đen trời, lăn đá cuốn cát. Bảy tên lính người gốc Sơn Tây hoảng loạn bỏ chạy, đập đầu vào tảng đá, gốc cây, hộc máu miệng chết tốt. Những kẻ còn lại sợ hãi, không còn dám tiến lên. Một tên hét lên kích động, lập tức cả ngàn tên quay đầu, co giò chạy thục mạng. Nhân đó bọn lính cũng đào ngũ gần hết. Nhờ vậy mà Càn Lăng lần thứ ba thoát nạn.

Sau ngày thành lập nước Trung Quốc mới (10/1949), trong một dịp tình cờ, có mấy người nông dân ngẫu nhiên phát hiện cửa hầm lăng mộ. Năm 1960, tỉnh Thiểm Tây thành lập hẳn Ủy ban khai quật Càn Lăng và ngày 3/4/1960 đã bắt đầu mở cửa đường vào địa cung Càn Lăng. Càn Lăng nằm ở lưng chừng nửa đông nam ngọn đồi chính Lương Sơn.

Ghi chú : Trên thế giới này, mộ khó đào nhất là lăng mộ Võ Tắc Thiên. Mộ Võ Tắc Thiên có tên gọi là Càn Lăng. Ở thời binh khí cổ điển, lăng mộ này đã bị đao kiếm, dáo mác băm vằm. Ở thời kỳ binh khí hiện đại, lăng mộ bị súng máy, lựu đạn, đại pháo oanh kích tơi tả.

Trong hơn 1.200 năm qua, kẻ đào trộm mộ Càn Lăng có họ có tên ghi trong hồ sơ sử sách khi ít là 17 tên. Lần đào mộ quy mô nhất huy động đông tới hơn 40 vạn người. Lương Sơn, quả đồi lớn đặt lăng mộ dường như bị vạc mất hẳn một nửa.

Cho tới nay, diện mạo Càn Lăng vẫn còn nguyên vẹn. Người ta không khỏi đặt câu hỏi : Mậu Lăng của Hán Vũ đế bị vét sạch bách, Chiêu Lăng của Đường Thái tông cũng bị càn quét như chùi, Khang Hy đại đế ngay cả xương cốt nhặt gom lại xếp không đầy một cái quách nhỏ. Vậy mà với Càn Lăng, huy động cả hàng chục vạn người đào khoét vẫn còn nguyên vẹn là vì sao ?

Nữ hoàng Võ Tắc Thiên : Ngàn năm “công” và “tội”

Hình tượng về Nữ hoàng Võ Tắc Thiên dung nhan lộng lẫy, thao lược hơn người, là Nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Hoa đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các sáng tác văn học và điện ảnh.

Trong một bộ phim dài tập, minh tinh màn bạc Lưu Hiển Khánh đã rất nổi tiếng với vai Võ Tắc Thiên từ lúc là thiếu nữ 16 tuổi đến khi trở thành bà già 80.

Sử sách Trung Quốc đã ghi chép rất nhiều về Nữ hoàng Võ Tắc Thiên. Xung quanh vấn đề công, tội của bà cũng tồn tại nhiều ý kiến trái ngược. Ngay cả tấm bia mộ “không chữ” của bà trên núi Lương Sơn – ngọn núi lưu giữ 18 lăng mộ của các Hoàng đế Đại Đường, cũng gây nhiều tranh cãi cho người đời sau.

Tấm bia mộ có một không hai trong lịch sử này cao 7,53m, rộng 2,1 m, dày 1,49 m, nặng 98,84 tấn, nhưng không có một dòng chữ nào khắc trên đó, chỉ khắc 8 đầu rồng quấn vào nhau biểu hiện quyền uy tối thượng của Nữ hoàng đế. Hai bên thân bia khắc hai con đường dài 4,12m, rộng 0,66m.

Trên con đường đó chạm một con tuấn mã và một con sư tử đực thần thái uy nghiêm… Luận giải về “Bia không chữ”, đa số người cho rằng, Võ Tắc Thiên tự cho mình công lao không thể nói hết, không thể dùng văn tự biểu đạt được.

Một số khác thuận theo ý kiến Trung Tôn Hoàng đế không biết nên gọi Võ Tắc Thiên là Hoàng đế hay Mẫu hậu. Lại có một số người giải thích, Võ Tắc Thiên cho dựng bia không chữ là để người đời sau bình phẩm, đánh giá về mình rồi khắc vào !

Lịch sử thế giới đã ghi danh những người đàn bà chiếm giữ đỉnh cao quyền lực như : Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, Nữ hoàng Anh Elizabeth, Nữ Hoàng Nga Catherine và Nữ hoàng Võ Tắc Thiên… Do đặc điểm xã hội, lịch sử của mỗi quốc gia, đường đến ngai vàng của những người đàn bà này chẳng mấy giống nhau.

Cleopatra kết hôn với em trai Ptoleme cùng kế thừa ngai vàng ở Ai Cập theo di chúc của phụ vương Ptoleme 12. Elizabeth được trở thành Nữ hoàng Anh theo chúc thư của Quốc vương Enjoy VIII. Catherine nước Nga giết chồng, chiếm ngôi…

Còn người con gái bình dân họ Võ, tên Chiếu lấy cả hai bố con vua Đường để trở thành Nữ hoàng đế – một hiện tượng hy hữu trong lịch sử phong kiến Trung Hoa ! Võ Chiếu tuy không được liệt vào hạng “tứ đại mỹ nhân”, song nhan sắc của nàng cũng đã khiến cả vua Đường Thái Tông (cha) và vua Đường Cao Tông (con) phải nghiêng ngả.

Sách cũ chép rằng : Lần đầu được dâng lên vua Đường Thái Tông, Võ Chiếu mới 14 tuổi, nhưng đã phổng phao, xinh đẹp, đối đáp trôi chảy, khiến cho ông vua háo sắc tuổi đã ngoại tứ tuần, bên mình không thiếu gì thê thiếp phải mê mẩn.

Sự hấp dẫn của một thiếu nữ đang tuổi mơn mởn đào tơ khiến vua yêu đến nỗi, trời vừa sắp hoàng hôn đã gọi cô vào “hầu ngủ”. Sử sách chép rằng, bấy giờ Thái Tông đã 41 tuổi, thấy thiếu nữ 14 tuổi, lo thân thể cô không chịu nổi vóc dáng vạm vỡ của mình. Nhưng ngược lại, cô đã hiểu phong nguyệt nên chủ động hoàn toàn không ngại ngùng.

Xuân phong âu yếm, khi khóc, khi cười đều đẹp càng làm lòng người mềm yếu, khiến người không say tự say, không mê tự mê. Thái Tông tuy có rất nhiều phi tần, vẫn chưa từng nếm mùi vị như thế. Đến khi mặt trời lên khỏi ngọn dâu, Thái Tông mới miễn cưỡng vào triều.

Sau lần được “thấy mặt Rồng”, Võ Chiếu được vua đặt cho tên Mỵ Lang, phong làm Tài nhân, cho ở cung Phúc Tuy. Vua Đường Thái Tông yêu Mỵ Lang đến mức ngày nào cũng đến cung Phúc Tuy, lại còn cho tất cả cung nữ lớn tuổi ra khỏi cung.

Cả Doãn Kỷ, Trương Kỷ là hai người được sủng ái nhất trước đó cũng không được ở lại. Mỵ Lang được vua Thái Tông sủng ái 12 năm. Trong 12 năm đó, Võ Chiếu đã trưởng thành về cả thể chất lẫn tinh thần, học được những thủ đoạn cần thiết để thực hiện giấc mộng làm vua.

Khi vua Đường Thái Tông lâm bệnh trọng, sự sống chỉ còn tính từng ngày, Mỵ Lang đã khéo dùng lời ngon ngọt xin được cắt tóc đi tu, tránh lệ bị chết theo vua.

Thái Tử Lý Trị lên ngôi Hoàng đế thay cha, vì mê sắc đẹp của Mỵ Lang nên vừa mãn tang cha đã đến chùa Cảm Nghiệp tìm người tình cũ và hoài thai Thái tử. Sau đó Mỵ Lang được hoàn tục, tiến cung, lập làm Chiêu Nghi, hiệu Thần phi. Khi Thái tử Vi Cường chào đời, Mỵ Lang quyết hạ bệ Vương Hoàng hậu và Tiêu Thục Phi, giành ngôi Hoàng hậu, dần dần tham dự vào triều chính.

Có 800 tấn châu báu trong lăng mộ Võ Tắc Thiên ?

2/7/2006 là ngày kỷ niệm 1.300 năm phong lăng hợp táng nữ hoàng Võ Tắc Thiên với hoàng đế Đường Cao Tông Lý Trị tại Càn Lăng. Lúc ấy, Cục Bảo vệ Di sản tỉnh Thiểm Tây, Viện Bảo tàng Càn Lăng đã gửi lên Quốc vụ viện Trung Quốc phương án khai quật khu di sản lừng danh này, nhưng không được chấp thuận. Năm 1960, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng đã bác bỏ một đề nghị tương tự…

Nhà văn hóa Quách Mạt Nhược từng nói với Thủ tướng Chu Ân Lai : “Không nghi ngờ gì nữa, chắc chắn là có rất nhiều thư tích, danh họa, thư pháp cất giấu trong mộ.

Nếu khai quật Càn Lăng, không biết chừng sẽ có thể thấy được 100 quyển Thùy củng tập và 10 cuốn Kim luân tập của Võ Tắc Thiên, hoặc có cả họa tượng của Võ Hậu, bút tích của Thượng Quan Uyển Nhi. Nhất định đây là một chuyện long trời lở đất !”.

Trong mấy ngàn năm lịch sử Trung Quốc, người duy nhất dám phá vỡ truyền thống, đội mũ hoàng đế chỉ có một mình Võ Tắc Thiên. Năm 66 tuổi bà dũng mãnh lật đổ ngai vàng Lý Đường, lập nên triều Võ Chu. 15 năm làm hoàng đế, bà ra lệnh đặt trước lăng mộ mình một tấm bia đen không chữ (vô tự bi), để công tội một đời mặc cho người sau luận định. Người như thế tất có tâm sự riêng, nhưng hai cuốn Thùy củng tập và Kim luân tập do bà trước tác không ai được thấy, có lẽ chúng nằm với chủ nhân trong Càn Lăng như nhận định của Quách Mạt Nhược chăng ?

Rất có thể tập Lan Đình tự nổi tiếng của thánh thủ Vương Hy Chi cũng đang nằm trong Càn Lăng. Đường Cao Tông Lý Trị là người cực yêu thư họa, khi lâm chung có di chiếu đưa tất cả những bức họa, thư pháp mà ông thích vào trong lăng. Vua cha là Lý Thế Dân đặc biệt thích Lan Đình tự, có di chiếu là phải đặt tập thư pháp này dưới đầu ông ta khi băng hà, như vậy vật báu này phải nằm ở Thiệu Lăng. Nhưng khi Đạo Ôn khai quật Thiệu Lăng thì không thấy vật báu này, như thế chỉ có thể là ở Càn Lăng.

CÀN LĂNG TAM TUYỆT

Theo các nhà khảo cổ Trung Quốc, Càn Lăng không chỉ là một kho tàng hấp dẫn mà nó còn ẩn chứa một bức màn thần bí khó lý giải.

Tháng 7/1971, Mỹ phóng thành công phi thuyền Apollo. Khi bay vào quỹ đạo Mặt Trăng, các phi hành gia bất ngờ phát hiện ở 40o vĩ Bắc, 107o11 kinh Đông thuộc phía Nam Vạn Lý Trường Thành có 9 điểm đen xếp thành hàng ngang, trong đó điểm đen ở mé cực Tây là rõ nhất.

Các phi hành gia cho rằng đó là địa điểm thiết lập vũ khí bí mật kiểu mới nên lập tức chụp ảnh và báo về Lầu Năm Góc. Năm 1981, một phi hành gia Mỹ đến Trung Quốc du lịch đã tìm đến 9 điểm đen trên ở Vị Bắc. Thì ra đấy chẳng phải là vũ khí bí mật gì mà là một hệ thống lăng mộ đế vương thời Hán Đường với hơn 20 tòa, điểm sáng nhất ở mé cực Tây chính là Càn Lăng.

Từ đời Đường Thái Tông Lý Thế Dân trở đi, hoàng đế các đời đều tuân theo nguyên tắc “Dĩ sơn vi lăng” (lấy núi làm lăng), quy mô nhất và điển hình nhất là Càn Lăng nằm trên vùng núi Lương Sơn, cách huyện Càn, tỉnh Thiểm Tây 5 km về phía Bắc.

Trong 18 lăng mộ đế vương triều Đường tập trung ở cao nguyên Vị Bắc thì Càn Lăng nằm ở cuối phía Tây, thuộc hướng Tây Bắc thành Trường An, theo hậu thiên bát quái thì Tây Bắc thuộc cung Càn (Kiền, tượng trưng cho trời, vua, cha…) nên đây gọi là Càn Lăng.

Càn Lăng có 3 điểm đặc biệt mà không lăng mộ đế vương nào có được.

Thứ nhất, đây là lăng mộ duy nhất trong lịch sử Trung Hoa và thế giới hợp táng hai vị hoàng đế có quốc hiệu khác nhau (Lý Trị là hoàng đế Đại Đường, Võ Tắc Thiên là hoàng đế triều Chu).

Thứ hai, Càn Lăng là lăng mộ của nữ hoàng đế duy nhất Trung Hoa.

Thứ ba, trong 18 tòa lăng mộ triều Đường ở đất Quan Trung, Càn Lăng là nơi duy nhất chưa từng bị kẻ trộm đột nhập vì quá kiên cố. Nếu đứng nhìn từ xa, Càn Lăng giống như hình một mỹ nữ đang nằm ngủ, cách tạo hình độc nhất vô nhị.

Càn Lăng khởi công xây từ năm 683, qua 23 năm mới hoàn thành, chiếm 2,3 triệu m3. Toàn lăng khí thế hùng vĩ, có 2 vòng thành bao bọc. Tường thành phía trong dài 5.920 m, xây dựng 378 gian huy hoàng lộng lẫy gồm Hiến điện, Khuyết lâu, Vương tân điện, từ đường của 61 công thần, hạ cung.

Vòng thành ngoài có chu vi 80 km, chiếm diện tích hơn 200.000 ha. Phần chính lăng có 4 cửa, bố trí đường tư mã, trụ hoa biểu, tượng ngựa, lạc đà, sư tử, bia ký, trụ khắc đá… đều to lớn khác thường. Đường từ đầu cổng lăng đi vào cửa mộ dài 631 m, rộng 3,9 m, có 39 lớp, toàn dùng đá xanh khổng lồ lát kín, dùng chốt sắt khóa cố định, những khe hở đều dùng sắt nấu chảy ra rồi trám vào, nên 1.300 năm qua Càn Lăng chưa hề suy suyển, tránh được nạn trộm mộ.

Theo “Kế hoạch khai quật Càn Lăng” của nhiều chuyên gia tỉnh Thiểm Tây, muốn khai quật Càn Lăng phải áp dụng một hệ thống bảo mật với công nghệ cao, chỉ cho 2 nhân viên trang bị hệ thống dưỡng khí trong điều kiện vô khuẩn (hoặc người máy) vào mộ đạo, dùng máy ảnh đặc biệt để thu thập hiện trạng, lấy đó làm cơ sở để quyết định cách thức khai quật.

Cần phải biết chính xác vị trí của phần địa cung mới có thể khai quật, nếu không sẽ phá vỡ cảnh quan mà chẳng được gì. Theo suy đoán, kết cấu địa cung của Càn Lăng sẽ là từ mộ đạo, qua động, qua thiên tỉnh đến đường thông trước sau, hai bên trái phải là cung điện, bên trái là chỗ nằm của Đường Cao Tông, bên phải là chỗ nằm của Võ Tắc Thiên.

800 tấn châu báu trong Càn Lăng ?

Ở phía Đông Nam Càn Lăng có 17 lăng mộ bồi táng sắp xếp theo ngôi vị cao thấp của chủ nhân. Có 2 tòa lăng mộ thái tử, 3 tòa vương công, 4 tòa công chúa và 8 tòa đại thần.

Từ năm 1960 đến 1972, các nhà khảo cổ Thiểm Tây đã khai quật 5 tòa lăng ở đây, trong số này có lăng mộ của thái tử Chương Hoài, thái tử Dục Đức, công chúa Vĩnh Thái, tổng số đồ châu báu quý giá trong 5 lăng mộ này là 4.300 món. Ở vách các lăng mộ phát hiện hơn 100 bức bích họa, có thể xem là tuyệt tác đời Đường, như Cung nữ đồ, Đả mã cầu đồ, Khách sứ đồ…

Nếu được khai quật thì Càn Lăng chứa bao nhiêu đồ quý giá ?

Theo giáo sư Lưu Hậu Tân, khoa lịch sử Trường Đại học Nhân Dân Trung Quốc, Nhà Đường là triều đại phát triển cực thịnh của Trung Quốc cổ đại. Sinh hoạt của đấng quân vương thời này cũng thoải mái hơn, xa xỉ hơn đời Tần Hán, do đó trong các lăng mộ đế vương triều Đường, số của cải bồi táng cũng nhất định quý hiếm hơn và nhiều hơn.
Lưu giáo sư cho rằng, nếu lấy khoảng không gian trong địa cung (nơi đặt quan tài) của Càn Lăng là 5.000 m3, theo cách tính thông thường là đồ bồi táng chiếm 1/4, như vậy “thể tích” của đồ bồi táng là khoảng 1.200 m3, khối lượng ít nhất cũng là 800 tấn.

Yên Huỳnh post

NỮ TIÊN TRI MÙ : VANGA

NHÀ TIÊN TRI VANGA

ĐÔI MẮT MÙ LÒA

NHÌN THẤU TƯƠNG LAI

Không ai có thể phủ nhận khả năng dự báo các sự kiện tương lai tài ba của bà lão mù Vanga…

Bên cạnh nhà tiên tri Nostradamus, bà lão mù Vanga cũng là người khiến cả nhân loại ngỡ ngàng vì khả năng tiên đoán chính xác nhiều sự kiện trong tương lai như : Chiến tranh thế giới II, vụ tàu ngầm Kurst (Nga) bị chìm, vụ khủng bố tòa tháp đôi WTC ngày 11/9/2001 tại New York (Mỹ) hay thậm chí là thảm họa hạt nhân Nhật Bản mới xảy ra vào năm 2011… Liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kì lạ hay thực sự “bà lão mù” Vanga có một khả năng tiên tri đại tài ?

Nhà tiên tri Vanga là ai ?

Bà Vanga tên thật là Vangelia Pandeva Dimitrova, là một nhà tiên tri, đồng thời cũng là người chuyên nghiên cứu về thảo dược. Bà sinh ngày 31/1/1911, sống trọn cuộc đời tại thành phố Rupit, Bulgary và mất ngày 11/8/1996. Thuở ấu thơ, cô bé Vanga với tóc vàng, mắt xanh đã sớm mất đi người mẹ từ nhỏ, không lâu sau lại phải xa rời người cha vì ông nhận lệnh gia nhập quân đội Bulgary. Sau Chiến tranh thế giới I (1914-1918), mấy cha con sống tại một nông trại hoang tàn; tuy nhiên, giữa hoàn cảnh thiếu thốn ấy, cô bé Vanga vẫn kiếm tìm được niềm vui riêng cho bản thân mình. Đó là trò chơi chữa bệnh – tập tành kê đơn thuốc cho bạn bè quanh mình. Đây cũng là một trong những lí do để về sau này, bà có khả năng chữa trị bệnh cho mọi người bằng thảo dược.

Thế rồi một ngày kia, cơn bão lớn ập đến làng. Trời ban ngày bỗng tối sầm lại như đêm, gió giật tung cây cối, cuốn bay mái nhà. Một cơn lốc xoáy đã nhấc bổng cô bé Vanga lên không trung và cuốn tới cánh đồng xa tít tắp. Sau nhiều nỗ lực kiếm tìm, dân làng thấy Vanga nằm bất tỉnh trong đám đất đá với hai hốc mắt đã bị lấp đầy vì cát bụi. Và Vanga bị mù từ đây, dù chữa trị bằng cách nào cũng không khỏi. Thế nhưng, may mắn thay, cô bé sớm phát triển và có một “giác quan thứ sáu” vô cùng nhạy bén.

Bà Vanga bắt đầu có khả năng “nhìn thấu tương lai” vào năm 16 tuổi. Một nhà tiên tri nói rằng, bà có khả năng tiên tri siêu việt như vậy là do nhận được thông tin từ những hình nhân xa lạ mà người thường không thể nhìn thấy được. Bà có thể giao tiếp được với họ, tuy nhiên không thể giải thích được về nguồn gốc của chính họ.

Theo lời kể của Vanga, họ tới từ hành tinh Vamphim – hành tinh thứ ba tính từ Trái đất và đã sống trên hành tinh của chúng ta nhiều năm nay. Nhờ thông tin từ họ mà khi có một người đứng trước mặt bà, toàn bộ cuộc đời của người đó từ khi sinh ra cho tới lúc nằm xuống dần hiển hiện trước mắt như những thước phim sống động. Bà có thể đọc được tất cả nhưng không có khả năng thay đổi những điều này. Nghe qua thì có vẻ hoang đường nhưng không ai có thể phủ nhận khả năng dự báo các sự kiện tương lai tài ba của “bà lão mù ấy”. Khả năng ấy của bà đã được chứng thực và chính điều đó đã khiến cho bà trở thành một nhà tiên tri đại tài của nhân loại, chỉ đứng sau Nostradamus.

Đôi mắt lòa nhìn thấu tương lai

Sinh ra trong một gia đình li tán, thiếu thốn, khó khăn, là một người thất học nên bà không hề viết sách và nói bằng thứ tiếng rất khó nghe (thậm chí những buổi truyền hình trực tiếp về bà bằng tiếng Bulgary – tiếng mẹ đẻ của bà – vẫn phải có phụ đề để chính người Bulgary có thể hiểu được những gì bà nói). Những lời tiên tri của bà thường được những người giúp việc chuyển ngữ lại, những cuốn sách viết về bà cũng do người khác tập hợp lại và biên soạn. Tuy nhiên, khác với Nostradamus, bà Vanga luôn tỏ ra thận trọng với những lời tiên đoán về thảm họa toàn cầu hay số phận của các nguyên thủ quốc gia. Bà cũng chỉ tiết lộ những dự đoán này với một số người nhất định để tránh gây hoang mang cho dân chúng. Chính vì thế, so với Nostradamus, bà được ít người biết tới hơn. Nhưng những lời tiên đoán của bà khiến mọi người phải kinh ngạc vì tính chính xác lạ kì của chúng.

Bà bắt đầu dự đoán về số phận của những người thân trong gia đình. Khi cậu em trai tên Vasil gia nhập đảng phái chống đối nhà nước, bà đã gào khóc và khuyên nhủ hết lời vì cho rằng nếu làm như vậy, anh sẽ phải hứng chịu cái chết đau đớn ở tuổi 23. Vasil cho rằng đó là chuyện tầm phào nhưng sự việc đã xảy ra. Tháng 10 năm đó, cậu đã bị bắt, bị tra tấn một cách dã man và kết thúc cuộc đời bằng một cái chết đau đớn.

Trong những năm Chiến tranh thế giới II (1939-1945), bà đã tạo dựng được lòng tin vững chắc trong lòng dân chúng nhờ giúp đỡ họ biết được số phận người thân của mình ở chiến trường, còn sống hay đã hy sinh, thi thể đang nằm lại nơi nào… Nữ tiên tri cũng mách bảo nhiều ngưới cách để né tránh hòn tên, mũi đạn; cách chữa trị vết thương, cách tìm lại kỉ vật đã mất…

Hình ảnh trong cuộc Chiến tranh thế giới II.

Trước sự nổi tiếng bởi tài tiên đoán của bà, vào năm 1942, vua Bulgary khi này là Boris III đã tới thăm và ngỏ ý muốn bà dự đoán về số phận của mình. Bà không nói nhiều với ông, chỉ dặn dò : Hãy luôn ghi nhớ ngày 28/8. Hơn một năm sau, người dân Bulgary đã tường rõ tại sao bà lại nói với đức vua như vậy. Đúng ngày 28/8/1943, đức vua Boris III qua đời.

Vào năm 1952, bà Vanga nói rằng chỉ một năm nữa thôi, lãnh tụ Stalin sẽ mất. Ngay lập tức, bà đã gặp rắc rối với chính quyền Bulgary, bị họ bắt giữ vì tội tung tin đồn thất thiệt khiến người dân hoang mang. Song, thực tế đã chứng minh bà lần này lại đúng. Một năm sau, Stalin từ trần. Ai nấy cũng đều ngỡ ngàng khi nghe tin này và rùng mình khi nhớ lại lời tiên đoán rợn người của bà lão mù ấy một năm về trước. Chính quyền ngay lập tức phải trả tự do cho bà. Kể từ đây, các chính khách rất lo sợ khi được bà nhắc tên, vì đã được bà nói tới tên nghĩa là họ sẽ sớm gặp một biến cố lớn nào đó trong đời. Người ta kể lại rằng, Adoft Hitler – người đứng đầu chế độ phát xít Đức cũng đã từng đến gặp Vanga. Ông ra về với vẻ mặt tái mét và rầu rĩ nhưng không ai biết là vì lí do gì. Không lâu sau, Hitler tự tử dưới hầm và Chiến tranh thế giới II kết thúc (1945).

Thảm họa Kursk.

Về những thảm họa lớn, bà Vanga cũng đã nhiều lần khiến toàn nhân loại phải “sởn gai ốc” khi đã tiên đoán chính xác thảm họa hạt nhân Chernobyl xảy ra vào năm 1986 hay vào năm 1980, bà đã dự đoán rằng 20 năm sau, tàu ngầm nguyên tử Kursk sẽ chìm trong nước. Bà nói rằng “Vào thời điểm chuyển giao thế kỉ, khoảng tháng 8 năm 1999 hay năm 2000, Kursrt sẽ ngập chìm trong nước và cả thế giới sẽ rơi lệ về điều này”. Quả nhiên không sai, bởi vào đúng tháng 8 năm 2000, tàu ngầm nguyên tử Kurst của Nga (đặt theo tên của thành phố Kurst) đã gặp nạn và 118 thủy thủ trên tàu không còn cơ hội sống sót. Cả thế giới nói chung và nước Nga nói riêng vô cùng đau buồn trước sự tổn thất lớn không lấy gì bù đắp lại được này.

Năm 1989, bà lão mù Vanga đã đưa ra những dự đoán về một vụ khủng bố kinh hoàng “Đáng sợ ! Đáng sợ ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”. Lời tiên tri này của bà dần rơi vào lãng quên bởi người ta không hiểu lắm về nó. Chỉ cho tới khi hai tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới tại thành phố New York bị khủng bố tấn công thì người ta mới rùng mình khi liên tưởng lại và thấy được tính chính xác của lời tiên đoán. “Anh em sinh đôi” ở đây được gắn với hai tòa tháp đôi đã đổ sụp sau khi bị hai chiếc máy bay lao vào; “chim sắt” được ám chỉ tới máy bay; “lùm cây” trong tiếng Anh là “bush” (ám chỉ tới tổng thống Mỹ khi đó là Geogre Bush). Và quả nhiên là sau vụ khủng bố, máu của nhiều dân thường vô tội đã rơi.

Thảm họa tại Nhật Bản tháng 3/2011.

Thậm chí, bà Vanga cũng đã tiên đoán khá chính xác về thảm họa kép xảy ra tại Nhật Bản vào tháng 3 năm ngoái. Mặc dù đã mất vào năm 1996 nhưng bà đã đưa ra những lời dự đoán của mình về tương lai, trong đó bà nói về năm 2011 như sau : “Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc Bán cầu, cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”. Đúng như lời bà, vào ngày 11/3/2011, cả thế giới bàng hoàng trước thảm họa kinh hoàng xảy ra tại Nhật Bản. Trận động đất với cường độ 9.0 độ richter cùng những con sóng thần cao tới 10m và sự rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và Onagawa đã đưa nước Nhật bước vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới II với số người chết và mất tích nhiều không kể xiết.

Thế nhưng, cũng có nhiều sự kiện được bà dự đoán… trật lất. Bà cho rằng, xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của người Hindu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo và nguyên thủ quốc gia sẽ dẫn tới bùng nổ Chiến tranh thế giới III vào năm 2010 và kết thúc vào năm 2014. Theo bà, Ngày tận thế là kết quả do Cuộc Chiến tranh thế giới III dẫn đến thảm họa chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, sự diệt vong của loài người và toàn bộ sự sống trên Trái đất. Thế nhưng, bây giờ đã là năm 2012 và thực tế đã chứng minh không hề có cuộc chiến tranh nào trên quy mô toàn cầu như vậy cả.

Tuy nhiên, người ta cũng khá quan tâm tới những lời tiên tri này của bà bởi với tình hình thế giới bất ổn như ngày nay: chiến tranh dầu mỏ, hạt nhân, vũ khí sinh học…; nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến quy mô lớn đến như vậy được bà đặt ra không phải là không có cơ sở.

Ngôi nhà của bà Vanga tại thành phố Rupit.

Bà Vanga qua đời vào năm 1996. Trước khi mất, bà nói rằng một cô bé mù 10 tuổi sống tại Pháp đã thừa kế được năng lực tiên tri của bà và thế giới sẽ sớm biết về người đó thôi. Tuy nhiên đã 16 năm trôi qua, thông tin về cô bé vẫn còn là một ẩn số bí ẩn chưa được khám phá…

Phú Lê post (theo Quang Khải)

HỘI ĐỀN TRẦN

Hai làng cũ Vạn Yên (thường gọi là Kiếp) và Dược Sơn (thường gọi là Bạc), nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, có chung ngôi đền mang tên là Kiếp Bạc, thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên của nhân dân Đại Việt. Ngôi đền được dựng vào năm 1300 trong khu nhà cũ, nơi ông sống những năm cuối đời ở Dược Sơn, lăng mộ của ông cũng nằm trong khu vực đền Vạn Kiếp này.

Hàng năm, đền Vạn Kiếp vào hội lễ từ ngày 15 đến 20/8 âm lịch, nhưng ngày hội chính vào ngày 18 -ngày giỗ của Hưng Đạo Vương.

Theo truyền thống, ngày lễ đền Kiếp Bạc, tức ngày giỗ của Hưng Đạo Vương là một ngày thiêng liêng vì từ bao đời nay nhân dân ta tôn thờ Hưng Đạo Vương như người cha, và truyền nhau câu ngạn ngữ : Tháng Tám giỗ cha, là để chỉ ngày giỗ của ngài.

Những người theo tín ngưởng Tam – Tứ Phủ, nhận Đức Trần Hưng Đạo là người giữ căn giữ mạng, gọi ngài là Đức Trần Triều Đại Vương, hay Đức Thánh Trần.

Ở miền Bắc xưa, và hiện nay vẫn còn tục lệ những đứa trẻ sinh ra khó nuôi, cha mẹ đem đứa bé đến đền thờ ngài mà bán khoán cho Đức Ngài, để ngài nuôi dưỡng một số năm nào đó được họ quy ước. Trong những năm đó, dù đứa trẻ vẫn ở trong gia đình, nhưng họ không được đánh đòn dạy dỗ, vì họ tin là Đức Ngài đang nuôi nấng con mình, họ chỉ giữ hộ “con” của ngài mà thôi. Vì thế những ngày tết, ngày đản sinh, ngày giỗ của Đức Thánh Trần họ mua lễ vật và dẫn con đến đền mà viếng ngài.

Tới đủ số năm như quy ước, cha mẹ đứa trẻ sắm mâm xôi con gà, dẫn con đến đền mà xin lại để nuôi. Trong thời gian bán khoán cho ngài, đứa trẻ cũng được đổi họ đổi tên, nhưng nhất thiết đứa trẻ phải mang họ Trần.

Những người theo Tam phủ thờ nhà Trần, nên vào tháng 8 âm lịch này, ngoài việc đi đền (đa số về Kiếp Bạc nơi ngài ở và mất mà viếng) những người có căn đồng phải ra hầu một vấn (ở Sài Gòn có đền thờ Đức Trần Hưng Đạo tại đường Võ Thị Sáu, đền chỉ tổ chức những lễ nghi văn hóa tín ngưỡng để tưởng niệm ngài, ngoài ra không cho hầu đồng như ngoài Kiếp Bạc hay những đền thờ khác trong nước).

Đa số những người có căn mạng nhà Trần, khi ra hầu đồng tướng hình rất uy nghi dũng mãnh (không như các vấn hầu bên Tứ Phủ). Những người có căn Trần Triều thường khi ra hầu họ xuyên lình (nhiều mũi lình to cỡ 3, 4 ly dài độ bốn, năm tấc xuyên qua má… có khi cả một ngọn dáo, phải nhiều người nâng khi xuyên lình)

Vì thế tại đền Kiếp Bạc vào tháng 8, có rất nhiều khách không theo Tam Phủ cũng hiếu kỳ đi dự lễ.

Lễ hội tại đền Kiếp Bạc có thể nói còn long trọng hơn tại Phủ Giầy (như đã nói, Phủ Giầy thờ Tam Tòa Thánh Mẫu theo Tứ Phủ) cũng những nghi thức tế yết, tế chánh và tế tạ. Cũng cờ lọng, nhạc bát âm, cũng rước kiệu với từng đoàn thanh nam thanh nữ hộ giá tung hoa, rồi những người đóng các giá bên Tam, Tứ Phủ theo sau …

ĐỨC TỔ CHỬ ĐỒNG TỬ

Nói về Đức tổ Chử Đồng Tử, chúng ta không ai là không đọc qua sách bậc tiểu học về câu chuyện một thanh niên nghèo không có đến chiếc khố mang thân lấy được Tiên Dung công chúa. Chử Đồng Tử được dân gian thờ phụng là một vị thánh bất tử của dân tộc.

Ngàn đời từ thuở vua Hùng dựng nước, đến đời vua Hùng Vương thứ 3, ngài có người con gái là Tiên Dung công chúa sắc đẹp tuyệt trần, năm lên mười sáu Tiên Dung đã thích đi đây đi đó ngắm các danh thắng của đất nước mà chẳng màng lấy chồng dù vua cha rất muốn chọn phò mã cho nàng.

Thời đó ở làng Chử Gia (nay thuộc huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên) có gia đình ông Chử Cù Vân mất vợ một mình ở vậy nuôi con tên Chử Đồng Tử. Chẳng may một ngày nọ nhà lại bị cháy, hai cha con chỉ còn độc nhất một cái khố, nên ai đi đâu mới lấy khố mặc mà đi.

Khi ông Chử Cù Vân sắp mất , ông kêu Chử Đồng Tử mà nói :

– Nếu cha chết đi, con giữ lấy cái khố mà mặc.

Nói xong ông qua đời, Chử Đồng Tử thương cha khi mất mà không có cái khố che thân, nên chàng không nghe lời cha dặn lúc lâm chung, lấy cái khố độc nhất ấy quấn cho cha mà chôn cất. Còn chàng trần truồng, đêm ở trong chòi lá ngày ngâm mình dưới nước mò cua bắt ốc hay lưới cá bán lại cho các ghe thuyền đi qua.

Khi công chúa Tiên Dung đi chơi ngoạn cảnh đến bến sông nơi Chử Đồng Tử thường ngâm mình dưới nước. Là công chúa nên đi đến đâu cũng có tiền hô hậu ủng, chiêng trống cờ xí rợp trời, lính tráng tùy tùng hộ tống đông đảo. Chử Đồng Tử thấy thế sợ hải, liền chạy vào cồn cát mà vùi mình trốn. Than ôi, cũng chính chỗ này, công chúa Tiên Dung ra lệnh cho các tì nữ kéo màn che chắn cho nàng tắm.

Làn nước sông trong xanh mát rượi, Tiên Dung dội nước mà tắm liên tục khiến cát ở cồn cứ trôi đi, để lộ ra một chàng trai trẻ cường tráng không mảnh vải che thân. Còn công chúa đang độ trăng tròn, cũng đã thoát y để tắm, lộ ra một thân hình tuổi xuân phơi phới.

Công chúa nhìn thấy Chử Đồng Tử với tư thế trần truồng, nàng quá xấu hổ, nhưng cũng kịp hỏi rằng :

– Người là ai ? Sao lại ở nơi đây ?!

Chử Đồng Tử thành thật kể lại cuộc đời cơ hàn của mình cho công chúa Tiên Dung nghe. Công chúa nghe xong rất cảm động thương cảm cho Chử Đồng Tử, nàng nói :

– Ta nguyện sẽ không lấy chồng, nhưng hôm nay gặp chàng một cách tình cờ như thế này, âu là Nguyệt Lão đã se duyên cho hai chúng ta.

Đoạn sai tì nữ lấy quần áo đưa cho Chử Đồng Tử mặc vào rồi mời chàng lên trại mở tiệc chiêu đãi. Chử Đồng Tử được Tiên Dung ngỏ lời kết tóc se duyên, chàng nghỉ đến thân thế nghèo hèn của mình mà từ chối. Tiên Dung nói :

– Đây là ý trời sao chàng lại dám cãi lại ?

Chử Đồng Tử được công chúa thuyết phục, nên chàng chấp nhận cuộc hôn nhân.

Vua Hùng Vương nghe tin, ngài nổi trận lôi đình, nhất quyết không bằng lòng cuộc hôn nhân này. Nhà vua cho rằng Tiên Dung là công chúa là lá ngọc cành vàng lại chấp nhận lấy kẻ cùng đinh, không môn đăng hộ đối, thứ bậc trong xã hội quá chênh lệch.

 Tiên Dung hay tin dữ từ ý vua cha, nàng sợ quá cùng Chử Đồng Tử không dám trở về triều đình, cả hai đi trốn ở một thị trấn xa kinh thành, cùng nhau buôn bán qua ngày. Thị trấn ấy ngày càng đông dân, kẻ buôn người bán tấp nập, ai ai trong vùng cũng đều xem Tiên Dung là người đứng đầu trong vùng, và họ đặt tên nơi chốn ấy là chợ Thám (nay là chợ Đa Hòa).

Ngày nọ có người khách buôn đến khuyên Chử Đồng Tử nên đi xa làng để học thêm cách buôn bán. Tiên Dung cho là phải, nàng khuyên chồng nên đi xa học hỏi một thời gian rồi trở về.

Chử Đồng Tử ra đi, khi đến núi Quỳnh Lãng, chàng mãi mê ngắm cảnh đẹp nên đi đến một cái am nhỏ trên đỉnh núi lúc nào không hay. Ở đấy có đạo sĩ tên Phật Quang đang ngồi thiền, thấy chàng có dáng người tiên cốt, ông bảo sẽ truyền dạy cho Chử Đồng Tử học được phép tiên, chàng chấp nhận ở lại học đạo suốt cả năm trời. Trước khi xuống núi, đạo sĩ trao cho Chử Đồng Tử một cái gậy và một cái nón  nói rằng :

– Những quyền phép mầu nhiệm mà con đã học đều ở cả hai vật này. Nhưng con nhớ rằng, con chỉ dùng nó vào việc cứu nhân độ thế mà thôi.

Chử Đồng Tử vâng lời, chàng đi nhanh về quê nhà gặp lại Tiên Dung. Chàng truyền lại đạo pháp cho vợ cùng học, rồi cả hai bỏ làng xóm ra đi để cứu đời.

Khi đến địa đầu một vùng nọ (sau này người ta cho rằng nơi đó là ở địa phận Đông An, tỉnh Hải Hưng) Tiên Dung nhìn thấy một người con gái tuổi độ 18 có nhan sắc tuyệt đẹp, liền hỏi Chử Đồng Tử :

– Chàng có muốn lấy nàng kia làm thiếp không ?

Chử Đồng Tử mĩm cười như ngầm đồng ý, tức thì Tiên Dung tiến đến bên cô gái mà hỏi :

– Nàng là người trần tục hay là tiên ? Đức lang quân ta muốn lấy nàng làm thiếp. Ta vốn là công chúa Tiên Dung con vua Hùng đời thứ ba, nhưng cùng nàng làm chị em chắc là vui lắm.

Cô gái đáp :

– Tôi là tiên nữ Tây cung, đi xuống trần thưởng ngoạn gặp người, âu đây cũng do số trời định. Người cứ gọi tôi là Tây Sa.

Nói xong Tiên Dung và nàng Tây Sa kết làm chị em, đến chỗ Chử Đồng Tử làm lễ kết giao. Rồi ba người mở tiệc ăn mừng là người một nhà.

Lúc đó ở thôn ấp vùng này đang có dịch bịnh làm chết rất nhiều người, Chử Đồng Tử liền dùng gậy chỉ vào những người đã chết họ đều sống lại, còn Tây Sa lấy tờ giấy vàng viết chữ đỏ lên đấy, đốt lên rồi dùng tàn cho người bị bịnh uống, ai cũng hết bịnh. Ai nấy mừng rở kéo ra đầu làng bái tạ gia đình Chử Đồng Tử, chàng cảm động trước chân tình của mọi người, lại dùng gậy thần, nón thần hóa phép ra ngôi đình thật to và dặn mọi người lo nhang đèn trà quả sớm hôm, làng sẽ tai qua nạn khỏi làm ăn thịnh vượng.

Ba người đi qua các vùng mà ngày nay có tên là Kim Động, Tiên Lữ. Chử Đồng Tử đều hóa phép ra nhà cửa, đình, miếu cho người dân có nơi thờ phụng các vị nhiên thần.

Họ đi mãi cho đến một nơi thì trời đã chiều tối. Chữ Đồng Tử liền cùng nhị vị phu nhân ở lại đấy nghỉ ngơi định sáng sẽ đi tiếp, chàng cắm chiếc gậy chống nón lên để tạm nghỉ, ngờ đâu Chử Đồng Tử thấy hiện ra một tòa lâu đài lộng lẫy, tường dát vàng, đồ vật là những trân châu cẩm thạch quý giá, và hơn nữa trong lâu đài có cả lính lệ đứng chầu, và người hầu kẻ hạ đông vô số kể.

Sáng dậy, dân trong vùng cũng ngạc nhiên không kém khi thấy một tòa lâu đài tráng lệ xuất hiện, họ cùng nhau đến mừng cho vợ chồng Chử Đồng Tử.

Vua Hùng Vương nghe tin, ngài cho rằng vợ chồng Tiên Dung xây lâu đài như thế chắc muốn làm loạn, nên sai quân đi đánh. Các lính lệ trong lâu đài xin ra nghinh chiến, nhưng Tiên Dung phán rằng :

– Mọi việc đều do ý trời, vợ chồng ta có gây ra đâu, và ta làm sao dám chống với vua cha. Nếu ý trời muốn vợ chồng ta chết thì chúng ta sẽ chết, còn bằng không trời đất sẽ sắp đặt lại hết.

Binh lính của vua Hùng đến trước tòa lâu đài Chử Đồng Tử thì gần nửa đêm, đành hạ trại. Khi đến canh ba, bổng nhiên trời đất nổi lên một trận cuồng phong, chỉ trong phút chốc người vật và lâu đài vợ chồng Chử Đồng Tử đều bay lên trời. Và chỗ này chỉ còn là bãi đất trơ trọi giữa đầm lầy mênh mông. Mọi người đặt cho nơi đây cái tên là bãi Tự Nhiên và tên đầm là Nhất Dạ (hay Dạ Trạch), nay bãi đất và đầm thuộc xã Tự Nhiên huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây.

Khi cả ba người về trời, vua Hùng Vương mới vỡ ra họ là những thần tiên giáng thế cứu người, liền sắc phong cho Chử Đồng Tử là “Chử Đồng Tử Đại Vương Chí Thánh” còn nhị vị phu nhân là :

– Với công chúa Tiên Dung là “Tiên Dung công chúa thượng đẳng thiên tiên tôn thần”

– Với tiên nữ Tây Sa là “Nội trạch Tây cung công chúa huyền diệu tôn thần”.

Câu chuyện về Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân buổi sơ khai đã có những chuyện linh thiêng như thế, những đời sau càng có những chuyện kỳ bí hơn :

– Vào đời Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương 549 – 570) lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ chống quân Lương. Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân đã hiển thánh, từ trời cao cả ba xuống trần hổ trợ cho Triệu Quang Phục, vì ở đầm này vị tướng họ Triệu đánh mãi mà quân Lương không lui, nên sau khi Triệu Quang Phục thắp nhang cầu xin trời đất phù hộ cho ông đánh thắng giặc Lương ra khỏi bờ cõi đất Vạn Xuân. Quả nhiên sau đó Triệu Quang Phục đánh đâu thắng đó, năm 550 thu lại đất Long Biên khỏi tay nhà Lương. Và lên ngôi vua xưng hiệu Triệu Việt Vương.

– Một truyền thuyết khác kể về sự linh thiêng của Thánh tổ Chử Đồng Tử là, khi giặc Minh xâm lược nước (1414 – 1427), lúc ấy Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản quyết tâm đi tìm minh chúa để phò vua giải phóng ách đô hộ của giặc Minh. Hai người đến đền thờ Chử Đồng Tử để cầu mộng. Trong mộng, Nguyễn Trãi thấy một tiên nữ nhan sắc tuyệt trần xưng là công chúa Tiên Dung, phu nhân của Thánh tổ Chử Đồng Tử, đang ở trên thượng giới để họp bàn cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế thì nghe ở nhà có khách quý đến cầu xin, liền bỏ về trần. Cũng trong mộng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản thưa rằng đất Đại Việt đang loạn lạc, nhân dân lầm than bởi giặc Minh xâm chiếm đặt ách cai trị hà khắc, xin Thánh tổ ra tay cứu độ chúng sanh.

Nghe kể xong, Tiên Dung báo mộng rằng :

– Ở đất Lam Sơn (Thanh Hóa ngày nay) có người anh hùng áo vải tên Lê Lợi đang phất cờ khởi nghĩa chống Minh, nên tụ hội về đây, trời đã định Lê Lợi sẽ lên ngôi vua.

Nghe công chúa Tiên Dung báo mộng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản về Lam Sơn tụ nghĩa. Năm 1418, Lê Lợi xưng Bình Định Vương và khởi nghĩa chống quân Minh ròng rã 10 năm (1418 – 1427) mới giành được độc lập dân tộc. Lên ngôi vua lấy tên Lê Thái Tổ (1428 – 1433).

Do sự linh ứng của đền thờ Chử Đồng Tử nên Nguyễn Trãi có ghi bài văn cầu mộng của mình để lại tại nhà từ đường họ Nguyễn tại Thanh Hóa.

Việc tôn thờ Chử Đồng Tử là Thánh bất tử (một trong tứ thánh bất tử trong dân gian nước ta) đã đi sâu vào tâm thức người dân và trường tồn từ trước công nguyên đến nay.

Thiên Việt (trích sách Lễ tục dân gian đã xuất bản)

TÌM HIỂU “LỖ HỔNG THỜI GIAN”

KỶ NIỆM 100 NĂM TÀU TITANIC CHÌM (4/1912 – 4/2012)

BÍ ẨN CỦA

“LỖ HỔNG THỜI GIAN”

Bí ẩn trở về của Smith và Coutts của tàu Titanic sau 80 năm (1912-1990). Đây là hiện tượng khoa học không phải hoang đường…

Những năm gần đây, giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ xôn xao bàn tán về các hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian” và “sự mất tích – tái hiện” một cách thần bí. Người ta cố gắng vận dụng mọi kiến thức để giải thích cho được những hiện tượng này.

Ngày 14/04/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước.

Sự trở về của Winnie Coutts

Ngày 24/09/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập. Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói : “Tôi tên là Winnnie Coutts, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”.

Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ, không hiểu chuyện gì đã xảy ra và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm. Coutts được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn.

Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi. Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người : chẳng lẽ Coutts từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà không hề già đi chút nào ? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Coutts đang nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra.

Sự trở về của thuyền trưởng Smith

Ngày 09/08/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía tây nam cách một núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Lúc đó người đàn ông này đang ngồi bình thản bên rìa nước. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc và rút điếu thứ hai, mắt nhìn về phía biển khơi, mặt lộ vẻ dạn dày sương gió. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.

Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Halant, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng cùng với con tàu chìm xuống biển. Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/09/1912

Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/09/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.

Sự việc cần được giải thích rõ ràng. Một số cơ quan hải dương Âu – Mỹ cho rằng thuyền trưởng Smith và hành khách Coutts đã bị rơi vào “hiện tượng mất tích – tái hiện xuyên thời gian”. Theo đó, một số chuyên gia phán đoán có khả năng trên biển vẫn còn một số hành khách Titanic sống sót đang chờ được cứu giúp, vì trong lịch sử cũng đã có không ít trường hợp mất tích – tái hiện một cách thần bí.

Sự mất tích của 25 lính hải quân Mỹ

Theo hồ sơ của bộ hải quân Mỹ, trong chiến dịch Thái Bình Dương thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, chiến hạm Indiana Bolis của Mỹ bị tàu ngầm của Nhật đánh chìm. Lúc đó, hải quân Mỹ đã thu được tín hiệu cấp cứu của 25 binh lính và sĩ quan rời khỏi chiến hạm bằng thuyền cứu hộ. Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích.

Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích. Nhưng một ngày tháng 07/1991, một đội thuyền đánh cá của Philippines trên hải phận Sibis, phía nam quần đảo Philippines, đột nhiên phát hiện một chiếc thuyền cứu sinh, trên thuyền có 25 binh lính đang trong tâm trạng hoảng loạn, dù cơ thể vẫn còn cường tráng.

Phát hiện này làm cho các nhà chức trách Mỹ vô cùng kinh ngạc. Điều khó hiểu hơn cả là chiến hạm Indiana Bolis bị đánh chìm từ năm 1945, và mãi 46 năm sau đó, người ta mới thấy họ, nhưng họ không hề thay đổi so với trước kia, thậm chí cả râu, tóc… cũng không dài thêm chút nào. 25 người một mực khẳng định họ chỉ lênh đênh trên biển một ngày đêm. 46 năm tương đương với một ngày, điều gì đã xảy ra ? Nhà thiên văn học, tiến sĩ Semesijians cho rằng, có khả năng họ đã bị rơi vào “lỗ hổng của thời gian”, mấy chục năm sau mới xuất hiện trở lại và hoàn toàn không biết mình đang ở thời điểm nào.

Chiếc khí cầu của Hary

Năm 1954, trong một cuộc thi biểu diễn khinh khí cầu, chiếc khí cầu của Hary Rogen và Derick Noidon đột nhiên mất tích. Sau nhiều năm tìm kiếm họ vẫn không tìm thấy xác chiếc khinh khí cầu bị rơi. Kỳ lạ là năm 1990, trong một cuộc thi khinh khí cầu khác tại Cuba, chiếc khinh khí cầu mất tích 36 năm về trước đột nhiên xuất hiện tại nơi mà nó đã mất tích năm 1954 trước hàng nghìn con mắt kinh ngạc của khán giả.

Khi đó người Cuba cho rằng đây là vũ khí bí mật của Mỹ nên đã cho máy bay bắn hạ khí cầu, còn Rogen và Derick thì bị đưa đến một căn cứ quân sự. Tại đây, họ khai rằng trong cuộc thi khinh khí cầu năm 1954 tại Bodorigo Saint Juan, họ đột nhiên bị kích thích vào vùng não, toàn thân đau buốt như có một luồng điện chạy qua người. Tất cả mọi thứ xung quanh từ bầu trời cho đến mặt biển đều biến thành một màu đỏ. Việc tiếp theo mà họ cảm nhận được là bị một chiếc máy bay chiến đấu tấn công. Họ không hề biết chỉ trong khoảng khắc màu đỏ ấy mà thời gian đã trôi qua 36 năm.

Đoàn tàu mất tích bí ẩn

Ở Trung Quốc, năm 1945, một đoàn tàu chở hàng trăm khách từ Quảng Đông đi Thượng Hải đã biến mất khỏi hành trình khi gần đến ga cuối, không để lại bất kỳ một dấu tích nhỏ nào.

Mất tích cả một đội quân 800 người

Trong Đại chiến Thế giới lần thứ nhất, vào ngày 21/8/1915, hơn 800 lính thuộc Trung đoàn Norfolk 5 của quân đội Anh được lệnh cơ động lên một ngọn núi cao thuộc vùng Dardanelles, Thổ Nhĩ Kỳ. Theo lời kể của các nhân chứng, có một đám mây lớn bay sà xuống và bao phủ lên đoàn quân, lúc đó đang tiến vào thung lũng. Đội quân càng lên cao thì càng chìm dần vào trong khối mây mờ.

Khi người cuối cùng khuất hẳn, cả khối mây đã bốc lên cao và biến mất, người ta không thấy bất kỳ người lính nào bước ra khỏi đám mây đã bay đi đó. Từng ngọn cây, bụi rậm trên đỉnh núi đều có thể nhìn rõ, nhưng một đội quân hơn 800 người đã mất tích hoàn toàn. Khi đó, 22 người lính của New Zealand cũng đang tập cùng trận địa với đội quân này, trên một ngọn đồi nhỏ khác cách đó khoảng 600 m. Họ đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng bí hiểm trên.

Có giả thuyết cho rằng toàn bộ đội quân đã bị lực lượng đặc nhiệm của Thổ Nhĩ Kỳ bắt làm tù binh.Tuy nhiên, sau chiến tranh, phía Thổ Nhĩ Kỳ kiên quyết khẳng định rằng họ chưa từng nhìn thấy đội quân này. 800 người lính đã bị mất tích không nằm trong danh sách những lính Anh bị tử trận, đồng thời cũng không có trong danh sách tù binh chiến tranh được Thổ Nhĩ Kỳ trao trả sau khi chiến tranh kết thúc.

Hàng trăm lính Pháp “không cánh mà bay”

Cũng trong Thế chiến I, cả một đội quân của Pháp cũng gặp mất tích đầy kỳ bí.
Quân số của đội lính Pháp này lên đến hàng trăm người lúc đó đang đóng quân trên đồi Malden. Bỗng một ngày, cả đội quân này mất tích không sót một ai và cũng không để lại dấu vết gì.

Chính phủ Pháp đã mở một cuộc tìm kiếm lớn nhưng đành trở về với kết quả là số 0.

2.000 lính Trung Quốc “bốc khói”

Vào năm 1937 trong cuộc chiến bảo vệ thành Nam Kinh trước quân đội Nhật, Quốc Dân đảng đã huy động một lực lượng hơn 200.000 để chốt giữ thành Nam Kinh. Cuộc chiến này khiến quân Trung Quốc đã thất bại nặng nề, nhất là một sư đoàn trợ chiến 2.000 người của Tứ Xuyên.

Để bảo toàn lực lượng, đội quân hơn 2.000 người được lệnh rút về vùng núi Thanh Long nhưng khi họ tiến vào Thanh Long thì không ai còn thấy một bóng dáng binh sỹ nào của sư đoàn này nữa.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, có nhiều lý giải cho rằng, sư đoàn này có thể đã tự chia nhỏ ra để phá vỡ vòng vây của Nhật nhưng giả thuyết này không được chấp nhận vì thời điểm đánh thành Nam Kinh, quân Nhật bao vây từ ba hướng và không một đội quân nào có thể “chọc thủng” được thế bao vây này để thoát ra ngoài.

Đến năm 1939, Quốc Dân Đảng đã ghi vào hồ sơ lưu trữ rằng đội quân này đã mất tích. Một cuộc điều tra do Tổng bộ Quốc Dân đảng được tiến hành nhưng cho đến nay, vụ việc vẫn nằm trong vòng bí ẩn mà không ai tìm được nguyên nhân.

Quan điểm của các học giả

Một số người cho rằng “lỗ hổng thời gian” thực chất là “thế giới phản vật chất” đang tồn tại trong vũ trụ. Họ dựa vào công thức tổng năng lượng vật chất của Einstein, theo đó tổng năng lượng vật chất có hai trị là chính và phụ. Vậy khi trị phụ xuất hiện, chúng ta cần phải làm thế nào ? Nhận thức nó ra sao ? Một số học giả liền đưa nó vào mối liên hệ với “thế giới phản vật chất”. Trước mắt, chúng ta mới hiểu biết được chưa đầy một nửa vũ trụ chúng ta đang sống, là phạm vi thế giới vật chất, còn nửa kia là một hệ thống tạo thành từ phản vật chất.

Hai bộ phận này tiếp cận với nhau dưới tác động qua lại của lực hấp dẫn. Khi tiếp cận đến một mức độ nhất định, tác dụng “đổ vỡ” do thế giới vật chất và phản vật chất sinh ra sẽ tạo ra một nguồn năng lượng vô cùng lớn, tạo thành một áp lực tách đôi hai hệ thống. Theo đó, có thể thấy rằng mất tích chính là hiện tượng phát sinh khi hai hệ thống vật chất và phản vật chất tiếp cận ở mức độ cao nhất, sinh ra năng lượng tạo nên áp lực phân tách. Khi hiện tượng “đổ vỡ” kết thúc, trường lực hấp dẫn trở lại trạng thái ban đầu, hiện tượng tái hiện xảy ra.

Trong cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhiều giả thuyết khác cũng được đưa ra. Một trong số đó là thuyết Thời gian đứng lại. Thế giới vật chất sau khi tiến vào “lỗ hổng thời gian” đồng nghĩa với việc mất tích, và từ đó đi ra cũng có nghĩa là được tái hiện. Như vậy, “lỗ hổng thời gian” và trái đất không cùng một hệ thống, và thời gian trong “lỗ hổng” là tương đối tĩnh. Do đó dù có mất tích 3-5 hay vài chục năm đi nữa, người ta sẽ không có gì thay đổi so với lúc ban đầu.

Giả thuyết thứ hai được đưa ra là thuyết Thời gian ngược, cho rằng thời gian trong “lỗ hổng thời gian” là quay ngược so với bình thường. Người mất tích sau khi rơi vào đó có khả năng sẽ quay ngược về quá khứ. Tuy nhiên, khi thời gian quay ngược một lần nữa, người này lại được đưa trở về thời điểm họ bị mất tích, kết quả là xảy ra hiện tượng tái hiện thần bí.

Trong thuyết thứ ba Đóng cửa thời gian, “lỗ hổng thời gian” là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất, không nhìn thấy và cũng không thể sờ thấy. Đối với thế giới vật chất mà con người đang tồn tại, nó vừa đóng lại vừa mở. Thỉnh thoảng khi nó mở ra một lần, kết quả là xuất hiện hiện tượng mất tích. Mở thêm một lần nữa, người mất tích tái hiện.

Trước mắt, quanh vấn đề “lỗ hổng thời gian” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa có một học thuyết nào có sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực. Hiện tượng “mất tích – tái hiện” vẫn còn là bí ẩn đang chờ con người khám phá.

Huỳnh Văn Yên post (theo LangDu lụm về)

MẤT ĂN MẤT NGỦ

VÌ NHÀ Ở HƯỚNG NGŨ QUỶ

Nhiều người quan niệm, nhà có hướng Tuyệt mạng, Ngũ quỷ hay Họa hại, Lục sát đều không tốt cho gia chủ, thậm chí có thể mang lại tai họa, chết chóc. Những lý giải khoa học của các chuyên gia phong thủy sẽ giúp bạn hiểu và “hóa giải” các yếu tố này.

4 cung xấu

Một chị ở ngõ 15 đường An Dương Vương, Hà Nội mua nhà mới. Tuy nhiên, khi xem phong thủy thì thấy rơi vào cung Ngũ quỷ. Chị này đã “mất ăn, mất ngủ” vì hướng nhà, thậm chí có lúc định bán mua căn nhà mới khác. Vì theo sách chị đọc, nhà rơi vào cung Ngũ quỷ sẽ khiến gia chủ gặp tai ương, vợ chồng mâu thuẫn…

Giải đáp băn khoăn của chị và nhiều bạn đọc có thư hỏi, một chuyên gia phong thủy cho rằng, nhiều người đọc sách hay nghe nói đến những từ như Tuyệt mạng, Ngũ quỷ hay Họa hại, Lục sát thường nghĩ tới những điều gì đó không mang tính tích cực.

Xét về lý thuyết, các khái niệm này thuộc trường phái Phong thủy Bát trạch. Tức phái nghiên cứu sự tương tác giữa tuổi của gia chủ với phương vị của ngôi nhà. Đó là những thuật ngữ mang tính ước lệ để chỉ những hướng nhà chưa phù hợp với tuổi của chủ nhà.

Trong phong thủy bát trạch có 8 cung với 8 ý nghĩa khác nhau. Trong đó có 4 cung tốt là Sinh khí, Thiên y, Phúc Đức, Phục vì; 4 cung xấu là Họa hại, Ngũ quỷ, Lục sát, Tuyệt mạng.
Tùy vào tuổi của chủ nhà sẽ ứng với một hướng (cung) phù hợp trên la bàn và bát trạch để xác định. Ví dụ, người chồng sinh năm 1976 thì hướng Ngũ quỷ là chính Đông, hay chồng sinh năm 1973 hướng chính Tây là hướng Ngũ quỷ. Trong đó, tùy vào mỗi gia cảnh, ngành nghề cũng như từng vị trí nhà sẽ thể hiện các điều không tốt cho cuộc sống.

Ví dụ, cung Họa hại thường không tốt cho sức khoẻ người nhà, người nhà bị chia rẽ, gặp nhiều tai ương. Cung Ngũ quỷ dễ gặp điều thị phi, người nhà phải mổ xẻ, đặc biệt vợ chồng hay gặp trắc trở. Cung Tuyệt mệnh xấu về đường con cái, nhà thường có chuyện u sầu. Cung Lục sát thường làm gia chủ hao tài, tốn của, đặc biệt người nhà có nguy cơ bị thương tật…

Đa cát thắng tiểu hung

Theo chuyên gia phong thủy này, khi không may rơi vào hướng Tuyệt mệnh hay Lục sát, Ngũ quỷ thì gia chủ nên tìm gặp chuyên gia phong thủy để có biện pháp hóa giải hữu hiệu nhất. Các chuyên gia phong thủy sẽ có nhiều dụng cụ trong nghiệp vụ để có thể xác định khả năng tuyệt mệnh hay không và nguy cấp đến mức nào tùy theo từng hạn mục.

Ví dụ, khi nói nhà của bạn là hướng Nam nhưng theo nguyên tắc phải biết chính xác phương vị bao nhiêu và tính chất của phương vị đó có hung hiểm hay không (nên phải có la bàn phong thủy xem bát trạch môn).

Theo các chuyên gia phong thủy, dù trên lý thuyết các cung được xem là không mang lại may mắn cho gia chủ, nhưng nếu xét chung ở phương diện khoa học thì hướng nhà chỉ là một trong nhiều yếu tố của Phong thủy ngôi nhà. Phong thủy luôn có biện pháp hóa giải theo nguyên tắc “đa cát thắng tiểu hung”. Tức nhiều yếu tố tốt trong nhà sẽ lấn át số ít điều xấu.

Vì thế, dù hướng nhà không tốt vẫn có thể hóa giải. Cụ thể, trong trường phái Bát trạch, khi gặp hướng nhà xấu, người ta vẫn có thể dùng các yếu tố khác để bổ cứu như dùng hướng bếp, hướng giường ngủ, hướng ban thờ tốt có thể khắc phục được những bất lợi do hướng nhà gây ra.

Ngoài ra, các chuyên gia phong thủy sẽ có kinh nghiệm để nhận thức và hóa giải các yếu tố, chẳng hạn như cần phải xác định các phòng ốc hay vật dụng cho đúng phương vị và hướng tốt nhất cho gia chủ, xác định chiều cao, chiều dài của bếp hay các cánh cửa nhà cho đúng kích thước chuẩn xác.

Cũng cần nghiên cứu về hướng cầu thang, các bậc thang theo sinh, lão, bệnh, tử và độ cao thấp theo tiêu chuẩn của kiến trúc.

Ngoài những yếu tố trên khi chuẩn bị xây một căn nhà chúng ta cần phải quan sát rộng rãi về nhà đối diện, nhà bên hông hay hình thể kích thước nhà ở, xem có hung trạch hay không, ví dụ, theo dạng nhà hình chữ Z, hình bình hành, góc nhọn, góc tù, xuyên góc, tù hãm hoặc tóp hậu… và xem được tính chất đất lành hay đất dữ, mà chúng ta cần phải hóa giải hoàn toàn. Vì vậy, nếu hướng nhà có phạm Tuyệt mạng, Ngũ quỷ hay Lục sát thì cũng không phải là vấn đề quá lo ngại.

Quế Phượng post