THẾ GIỚI ĐỊA PHỦ (Bài 3/3)

Từ cửa ngục thứ chín đến thứ mười

TRONG HỆ THỐNG

“THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG”

và còn nhiều Điện Ngục nữa…

– Sa di HUỆ PHÚC

Lời blog : Sau bài “Thiên đàng và Địa ngục” được mọi người đón đọc hoan nghênh và có yêu cầu nói rõ về “Thập Điện Diêm Vương”. Sa di Huệ Phúc đã tổng hợp thành một bài dài (được đăng hết trong 3 kỳ). Tuy nhiên vì Sa di Huệ Phúc là người tu đạo Phật nên hành văn có những điểm thiên về Phật Giáo; chúng tôi với quan niệm “Thế Giới Tâm Linh” không của riêng tôn giáo nào hay thành phần nào trong xã hội, được hình thành nhằm giúp mọi người tìm hiểu về Thế Giới Vô Hình, nên ai có lòng tin thì cảm nhận, ngược lại nên xem như một bài viết đọc để giải trí, thư giản mà thôi.

Bài 3 tiếp theo và hết

Điện thứ chín : Bình Đẳng Vương Lục, vía ngày mồng tám tháng tư, ty chưởng Phong Đô Thành Thiết Võng A Tỳ Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế giết người phóng hoả, bị chính quyền xử tử thì giải đến điện này, bắt cột tay chân ôm vào cột rỗng ruột (bào lạc), quạt lửa thiêu đốt cho cháy tận tim gan rồi đưa vào A Tỳ Địa Ngục chịu khổ, cho đến khi những người bị hại đều được đầu thai thì mới được thả ra, giải giao đến điện thứ mười để phát sinh vào lục đạo luân hồi.

Ngục nầy nằm dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng Tây Nam. Tên “Đại Địa Ngục A – Tỳ” có lưới sắt bao quanh. Có 16 tiểu địa ngục :

1- Xao Cốt Chước Thân (đập xương gõ vào thân)

2- Trừu Cân Lôi Cốt (kéo gân giả xương)

3- Nha Thực Tâm Can (quạ ăn tim, gan)

4- Cẩu Thực Trường Phế (chó ăn ruột, phổi)

5- Thân Tiễn Nhiệt Du (dìm thân chảo dầu sôi)

6- Não Cô Bạt Thiệt Bạt Xỉ (đai siết quanh đầu, kéo lưỡi, kéo răng)

7- Thủ Não Vị Điền (lấy óc trét vào mình con nhím)

8- Chưng Đầu Quát Não (đốt đầu moi não)

9- Dương Súc Thành Diêm (dê chà xát thành bột)

10- ‧Mộc Giáp Đỉnh Sai (kẹp gỗ siết đầu)

11- Ma Tâm (mài trái tim)

12- Phí Thang Lâm Thân (đổ nước sôi vào thân)

13- Huỳnh Phong (ong vàng chít đốt)

14- Hạt Câu (mọt đục thân thể)

15- Nghị Chú Ngao Đam (rang nướng giòn)

16- Tử Xích Độc Xà Toản Khổng (rắn độc tím, đỏ chui vào các lổ trong người)

Người khi còn sống làm những việc cực hung cực ác, tội thập ác, phải chịu sự trừng phạt theo phép nước như xử chết v.v… đã đành, khi chết lại còn phải trải qua sự hình phạt của nhiều địa ngục rồi cuối cùng là đến địa ngục A – Tỳ này. Những tội nặng đó là : Phóng hỏa đốt nhà cửa người, nuôi những loại trùng rắn độc để bào chế thuốc độc hại người, cho thuốc phá thai, dùng tà pháp thu hút dương khí người nam, âm khí người nữ… để luyện tà thuật. Viết những văn chương thi phú khêu gợi dục tình (dâm thư, sách khiêu dâm), bào chế các loại thuốc, thức uống làm cho người mê ghiền, sa đọa, khích dâm…

Hình phạt tội nhân ở các tiểu địa ngục theo vài thí dụ : bớt xén tiền cất chùa, miếu tiền in kinh, sửa trắng thay đen, phản thầy bất trung bị quăng lên núi đao. Ăn thịt trâu chó, sát mạng vật vô cớ, bị quạ mổ. Phân rẽ vợ chồng, thân tộc của người, viết sách văn thơ khiêu dâm bị chó móc ruột ăn tim. Hãm hiếp hoặc dụ dỗ trẻ thơ bị xay ra bột…Tội bất hiếu cột vào trụ đồng nung đỏ, tay chân mình mẫy đều cháy thành than v.v…

A-Tỳ địa ngục là gì ? Chữ A có nghĩa là không; chữ Tỳ có nghĩa là Cứu hay xen kẻ. Cũng có nghĩa là Vô Gián. Nghĩa là không có thời gian. Ở đây có 5 nghĩa chính :

Thứ nhất là xả thân sanh báo không có thời gian, nghĩa là sinh rồi chết, chết rồi sinh không biết bao nhiêu lần ở trong địa ngục.

Thứ hai là thọ khổ mãi mãi không có niềm vui cũng không có thời gian nhất định.

Thứ ba là thời gian không hạn định, vì ở trong vô lượng kiếp số.

Thứ tư là mệnh sống (tuổi tác) không gián đoạn

Thứ năm là thân thể không gián đoạn (không mất đi)

Địa ngục nầy ngang dọc 8 vạn, vô số người vào đây cũng đều chứa được đầy ắp trong đó. Mỗi địa ngục còn có 4 địa ngục lớn nhỏ chung quanh vây bọc. Khi hồn ma ra khỏi một trong 8 địa ngục Vô Gián này rồi, thấy những địa ngục bên cạnh như nước lạnh mát mẻ, khởi tâm thích mới chạy vào đó; không ngờ đó là địa ngục thiêu đốt, địa ngục rang nướng, cưa xẻ… tội nhân cứ chết đi sống lại, rồi bị hành hình thọ quả. Nhiều khi muốn chết mà cũng không thể chết được. Vì thụ hình chưa xong.

Những kẻ phạm tội như dưới đây vào Vô gián Địa Ngục : Kẻ bất hiếu với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ. Kẻ đâm chém, chẳng kính mà còn phỉ báng tôn giáo, phá hoại sự hòa hợp của các vị tu hành (gọi là tội ngũ nghịch). Kế đến, nhẹ hơn một chút là những kẻ xâm lấn tổn hại chùa chiền, làm ố uế tăng ni, hay ở trong nhà chùa mà dâm dục hoặc giết, hại người vật. Kẻ giả bộ thầy tu, chẳng có tâm tu, dùng phá đồ vật của cải nhà chùa, lường gạt người tại gia, làm trái giới luật, tạo ra rất nhiều tội ác. Kẻ ăn trộm ăn cắp của cải, đồ đạc, lúa gạo, thức ăn uống, quần áo của nhà chùa, người ta không cho mà cũng lấy v.v… không vào ngục Vô Gián nhưng phải chịu sự hình phạt ở hai ngục : nóng và lạnh, sau khi thân bị lửa thiêu còn bị đoạ thân qua nơi cực lạnh ,gió lạnh thổi như dao cắt toàn thân chịu thống khổ không thể tả.

Muốn giảm phần nào hình phạt sau nầy, những người trót lỡ phạm tội nặng (trừ tội ngũ nghịch đã kể trên) phải hết sức thành tâm ăn năn hối cải, sám hối, thu hồi và hủy bỏ tất cả những sản phẩm, phương tiện sai trái đã làm, ấn tống thật nhiều kinh điển khuyến thiện, giúp người cãi dữ làm lành, cứu mạng nhiều người, bố thí cơm ăn, áo mặc, thuốc men trị bệnh cho nhiều người nghèo đói khổ sở v.v…rồi vào ngày mùng tám tháng tư, vái nguyện với Ngài Bình Đẳng Vương ở Điện thứ chín xin sám hối tội lỗi đã tạo nên, nhiều năm làm như vậy, sẽ được giảm bớt hình phạt ở các tiểu địa ngục và miễn qua địa ngục lạnh.

Những người không rơi vào ngục Vô Gián thì sau khi chịu hình phạt lâu dài ở ngục thứ chín này, chuyển qua ngục thứ mười cho đi đầu thai làm kiếp thú, mãn trăm kiếp thú rồi mới được làm người. Nhưng làm người cô độc, bị bỏ rơi, nghèo khổ, đói khát triền miên, sống tạm bợ lây lất cho đến mãn kiếp (nghĩa là chỉ đở hơn địa ngục một chút thôi, gọi là dư báo). Nhiều kiếp như thế, nếu biết ăn năn sám hối tu hành thì mới được chuyển dần đến chỗ có phước đức.

Điện thứ mười : Chuyển Luân Vương Tiết, vía ngày mười bảy tháng tư, chuyên quản các quỷ hồn từ các điện giải đến, phân loại thiện ác, hạch định đẳng cấp, phân phối đến tứ đại bộ châu để đầu thai. Phán xét chi tiết tên tuổi, nam nữ thọ tử trong bao nhiêu năm, số phú quý bần tiện, mỗi tháng đều báo cáo thông qua điện thứ nhất. Hồn nào tác nghiệt cực ác thì cho hoá thành quái thai, ước định thọ mệnh ngắn dài. Sau khi hết tội thì cho phục sinh làm người, đầu thai vào đất man di. Được đưa đi đầu thai vào nhân thế, trước tiên đưa đến giao cho thần Mạnh Bà dưới Vong Đài để uống canh khiến cho quên mọi việc trong tiền kiếp.

Điện thứ mười ở dưới tầng đá ngầm của cõi U Minh, về phía chính Đông đối với thế giới ngũ trọc này.

Có tất cả là sáu loại cầu Nại Hà :- cầu làm bằng vàng, bạc, ngọc, đá, gạch, cây. Điện thứ mười là nơi nhận những quỷ hồn của các điện khác chuyển đến. Sau khi thẩm định phước phần của mỗi hồn ma, sẽ cho đi đầu thai vào các nơi tương xứng, theo tình trạng : nam hay nữ, giàu hay nghèo, sang hay hèn, khôn hay ngu, thọ hay yểu v.v…Mỗi tháng, các điện sẽ chuyển giao một lần các quỷ hồn đến đây. Việc thọ sanh tức đi đầu thai này rất chi tiết, tỉ mỉ, phức tạp, như : đường nào trong bốn đường thai, noãn, thấp, hóa; như loài vật thì có loài không chân, hai chân, bốn chân hoặc nhiều chân. Có loài thì tự chết, có loài thì bị giết chết…Việc đúc kết rất cẩn thận vì tầm quan trọng lớn lao của nó. Kết quả sẽ ghi kỹ lưỡng cho mỗi quỷ hồn để đưa đến Phong Đô đầu thai.

Thí dụ : Người không đọc sách kinh thánh hiền, rủ nhau ăn thịt trâu, chó, phạt làm ăn mày. Không kính người lớn, chẳng biết vâng theo lẽ phải, thầy dạy học trò không tốt bị người vô cớ nói xấu, khinh khi. Người hay nói ra nói vô, xúi người kiện cáo, trước đã bị hình phạt xô xuống cầu Nại Hà cho rắn cua ăn thịt, nay đầu thai thành người bị vu cáo lãnh án tù đày… Những nhân sĩ khi sống mà biết làm lành, tụng niệm, trì chú v.v… khi khi chết được miễn giảm rất nhiều hình phạt ở các ngục.
Những quỷ hồn sau khi thọ hình xong ở các Điện, Điện thứ mười tổng kết xong, lập danh sách chi tiết rồi chuyển họ đến “Dậu khu vong đài” tức nơi cho ăn cháo lú để quên quá khứ và địa ngục, nơi đây do Mạnh Bà Tôn Thần cai quản . Kế đó mới cho đi đầu thai tùy theo phước nghiệp của mỗi người.

Trường hợp có những hồn còn nhớ không thể quên được quá khứ thì cho đi đầu thai tạm thời, chỉ sống một thời gian ngắn, hoặc một hai ngày, hoặc vài tháng vài năm… phải chết lần nữa, trở lại “vong đài” uống thuốc mê cho thật quên hết rồi mới đi đầu thai chính thức.

Cũng có những trường hợp những người mang mãi mối thù hận quá sâu sắc, không chịu đi đầu thai, chấp nhận kiếp ngạ quỷ để theo đòi báo ứng cho xong, mới chịu tái sinh. Những trường hợp như vậy cũng có rất nhiều vì khi tại thế, đã gây tạo cho nhau quá nhiều hệ lụy, nào là phụ tình, nào là vong ân bạc nghĩa, nào là bị lường gạt đến nổi tán gia bại sản, nào là thù hận ganh ghét chức vụ mà hại nhau, nào là bị áp bức quá đáng… họ đã phát thề “nhớ mãi không quên” nên phải đi vào con đường quanh co đau khổ này. Cho nên “oán thù nên cởi không nên buộc, chẳng những có lợi ngay trong đời này, mà còn đở khổ cho lúc tái sinh vào đời sau”. Mọi người ráng ghi nhớ !

Khi còn sống, phải nên tự mình làm lành rồi nên khuyên bảo thân nhân, bè bạn, người xung quanh chung sức làm lành. Giúp đỡ, tương trợ nhau; bố thí cơm áo gạo tiền thuốc men cho người nghèo khổ. Sao chép, ấn tống sách khuyến thiện giúp người giác ngộ lánh dữ làm lành. Bản thân phải lo tu học cho tốt, ăn chay, tụng kinh, niệm Phật… làm việc thiện không hề lười. Vào ngày mười bảy tháng tư, vái nguyện Ngài Thập điện Chuyển Luân Vương gia trì thêm phước phần ở kiếp sau.

Thập điện chuyển kiếp sở : Tức nơi cho người đi đầu thai cũng nằm ở Điện thứ mười.

Sở chuyển kiếp này trên dưới xung quanh đều có hàng rào bằng sắt, bên trong chia ra làm 81 chỗ. Mỗi chỗ đều có đình đài khang trang, có quan lại ngồi bàn làm việc. Bên ngoài hàng rào, có những con đường nhỏ “ruột dê” (quanh co), có mười vạn tám ngàn (một trăm lẻ tám ngàn) lối đi, uốn khúc quanh co dẫn đến “tứ đại bộ châu” .

Bên trong sở, tối om như thùng sơn, chỉ thấy có một con đường để cho người đi đầu thai đi ra ngõ đó thôi. Bên ngoài nhìn vào giống như thủy tinh, chằng chịt nhiều đường ngang nẻo dọc, có các quan lại làm việc rất bận rộn, nhưng không bao giờ có sự nhầm lẫn. Có những trường hợp xét thêm để cho thăng hay giáng. Như người khi còn sống có lòng hiếu thảo với cha mẹ, hoặc những người không sát sinh mà còn phóng sinh…làm được nhiều điều thiện, sau năm lần thẩm tra, được các “thiện quan” tâu xin cho tăng thêm hưởng phước. Trái lại, những người sau khi thẩm tra lại, phát hiện ra còn sót tội, hoặc hình phạt chưa đủ, thì sẽ tâu xin giáng bớt phước, như những người bất hiếu, sát sinh nhiều quá…

Những người tội nặng, sẽ sinh ra làm thân súc vật, bị thay đầu đổi mặt, trở thành một trong bốn loài cầm (chim), thú (bốn chân), ngư (cá), trùng (côn trùng), được cho đi vào những đường nhỏ quanh co. Phàm đã sinh ra làm thân súc vật, thì phải trải qua rất nhiều kiếp, thai sinh thì có các thú, noãn sinh thì có sấu, rùa, rắn, chim …, thấp sinh thì có các loài trùng bọ…Qua nhiều kiếp như thế, mới được lên làm người. Còn những quỷ hồn chấp nhận làm ngạ quỷ, vì không tin vào luân hồi nhân quả, mang nặng chuốc sâu những thù hận oán hờn, sống vất va vất vưởng, không có khái niệm về thời gian. Nếu không có những vị Bồ-Tát từ bi lập trai đàn chẩn tế và cầu siêu cho, thì vẫn mãi mãi đói khát và không có cơ hội để đầu thai kiếp khác. Ngoài ra, nếu lỡ bị đọa vào A – Tỳ địa ngục thì mãi mãi không được trở lại làm người.

Đệ Thập Điện Mạnh Bà Thần :tức Thần Mạnh Bà cũng ở Điện thứ mười.

Vị thần tên Mạnh Bà sinh vào đời Tiền Hán, lúc nhỏ học Nho, sau chuyển qua tu Phật. Có đặc điểm là “quá khứ thì không nhớ đến, tương lai thì không nghĩ tới” , suốt đời chỉ biết khuyên người ăn chay, làm lành lánh dữ. Đến năm 81 tuổi mà “hạc phát đồng nhan” (tóc già như chim hạc mà mặt vẫn như người trẻ), vẫn còn là “xử nữ” (gái trinh). Người đời chỉ biết bà họ Mạnh, nên gọi bà là “bà vú Mạnh Bà”. Bà vào núi tu Tiên, tồn tại mãi đến đời Hậu Hán.

Trước đây, vì con người sinh ra thì vẫn còn nhớ đến kiếp trước, nên nhớ và tìm đến những quyến thuộc xưa, trí nhớ vẫn tốt nên kể lại chuyện đầu thai, làm tiết lộ thiên cơ (máy trời). Do đó, Thượng Đế mới sắc phong cho họ Mạnh làm người cai quản “Dậu khu vong đài” (đài làm quên) có các quỷ sứ giúp việc. Khi Điện thứ mười đã có quyết định là hồn sinh vào chỗ nào, địa vị ra sao… thì trước khi đi đầu thai phải đến chỗ “Đài khu vong” nầy. Ở đây, dùng các dược vật trên thế gian, bào chế thành một loại “như rượu mà không phải rượu”, chia ra làm năm vị loại : ngọt, đắng, cay, chua, mặn.

Các hồn ma được chuyển thế, phải uống loại nước nầy, quên đi tất cả người và sự việc, cảnh giới của đời trước.Theo thứ tự trên mà quên đi nhiều hay ít, lâu hay mau, sâu hay cạn… tùy theo công phu tu hành và phước đức của kiếp trước. Vì thế, người sinh ra, có kẻ khôn người ngu, kẻ học một biết mười, kẻ học hoài chẳng nhớ. Cũng có những người “không học mà biết” là do uống ít “thuốc quên” này vậy.

Đài khu vong ở Điện thứ mười nằm phía trước điện và bên ngoài của sáu chiếc cầu Nại hà. Đài to lớn khắp cả vùng đất. Số phòng có đến một trăm lẻ tám gian, hướng đông có con đường đâm thẳng vào, bề ngang hẹp chừng một thước bốn tấc (để hồn chỉ đi hàng một). Các hồn nam nữ được đưa vào từng phòng, mỗi phòng đều có bày sẵn thức uống nói trên, do nghiệp lực mà hồn cảm thấy khát nước nhiều ít mà uống nhiều hay ít. Còn hồn nào ương ngạnh không chịu uống, thì dưới chân xuất hiện một cái vòng khóa chân lại, trên cổ có một ống bằng đồng chận đè vảo cổ, phải hả miệng ra. Chịu không nổi đau đớn nên phải uống thật nhiều mới tha. Sau khi uống xong, có một quỷ sứ xuất hiện, dắt vào con đường dẫn đến chiếc cầu, bên dưới là một khe nước đỏ như máu đang chảy xiết. Đứng trên cầu, nhìn thấy phía đối diện có một hòn đá đỏ lớn, có bốn hàng chữ, mỗi chữ lớn bằng cái đấu (lít), viết như sau :-

“Vi nhân dung dị, tố nhân nan,

Tái yếu vi nhân, khủng cánh nan.

Dục sanh phước địa, vô nạn xứ,

Khẩu dữ tâm đồng, khước bất nan”

Dịch nghĩa :

“Là người thì dễ, làm người khó,

Muốn lại làm người, càng khó hơn.

Muốn sinh đất phước, không tai nạn

Thì miệng giống tâm, chẳng khó gì”

Lúc hồn đang đọc mấy hàng chữ này thì bên phía cầu bên kia, xuất hiện hai con quỷ lớn từ dưới rẻ nước bay lên. Một con thì đầu đội mão “ô sa”, mình mặc áo gấm, tay cầm giấy bút, vai mang đao bén, lưng có đeo hình cụ, trợn tròng cặp mắt, cười to ha hả…Con quỷ nầy tên là “Hoạt Vô Thường” (sinh không định trước). Một tên nữa thì mặt mày đầy máu, mình mặc áo trắng, tay cầm bàn toán (bàn tính), vai vác bao gạo, trên ngực có dán tờ giấy, hai cặp chân mày nhăn lại, than dài thở vắn. Quỷ nầy tên là “Tử Hữu Phận” (chết có phần sẵn).

Hai con quỷ nầy nắm chân hồn ma lôi kéo xuống dòng nước đỏ, tùy theo phước nghiệp mà đè xuống cạn sâu. Cạn thì được hưởng phước, sâu thì phải chịu đọa đày. Hồn lúc nầy ngơ ngơ ngác ngác, chẳng còn biết gì nữa, cứ lo ngóc đầu lên, thì chốc lát đã chui ra khỏi “tử hà xa” (bào thai, tử cung) của bà mẹ, khóc lên ba tiếng “tu-oa”. Kế rồi lớn lên, ham ăn hốt uống, mê mãi theo đời, mê muội quên hết ơn Trời, Phật, Thánh, Thần, chẳng nhớ làm thiện mà cứ theo đường ác, đến mãn kiếp lại trở về với hồn ma bóng quỷ như lần trước. Thật là tội nghiệp thay cho thân phận người không biết tu hành để giải thoát !

Các việc kể trên là do một vị thư lại, làm việc ở “Khu vong đài” theo lệnh Ngọc Đế ghi chép lại trong Ngọc Lịch để phổ biến khắp cả cho thế nhân biết mà lo tu hành, cầu đạo giải thoát.

Uổng Tử Thành

Nhiều người sống có nghe nói đến Uổng Tử Thành, và chỉ nghe một chiều về nó. Còn Đại Đế Phong Đô nói :

– “Uổng Tử Thành nằm về bên phải của Điện thứ mười. Thế gian hay lầm nghĩ rằng, những người bị tai nạn chết bất ngờ (bất đắc kỳ tử) đều phải vào trong thành nầy. Nếu điều đó là thật, thì những người chết oan chết ức đều là tốt hết cả sao ? Cho đến vẫn còn thấy rất nhiều oan hồn chưa tiêu hết phẩn hận, những kẻ tự tử, những kẻ bị hại… vẫn còn đang chịu sự hình phạt trong các điạ ngục, chưa biết ngày nào được đi đầu thai.

Vào trog Thành Uổng Tử nầy, chỉ có những người “Trung hiếu tiết nghĩa, xả thân vì nước (tận trung báo quốc), hoặc tử tiết thành thần. Vì chết bất ngờ nên chưa thẩm định kịp, phải tạm thời ở đây, chờ ngày để đầu thai nơi phước địa hoặc được phong thần. Như vậy, đây là nơi dành riêng cho những người tốt ở tạm chờ xét. Đó mới đúng là nghĩa của Uổng Tử vậy.

Huyết Ô Trì : Huyết Ô Trì, tức là cái ao bị vẫn đục do máu gây nên.
Ao nầy nằm phía sau, bên trái của Điện thứ mười. Người thế gian hiểu sai về ý nghĩa của nơi đây là do một vị Đạo Cô đã giảng sai lúc xưa.

Vị ấy nói những người đàn bà trên thế gian, khi sinh nở máu huyết làm ô uế đất cát nên phải mang tội, lúc chết bị xuống đây, điều đó là không đúng. Chỉ là trường hợp những người nữ khi sinh đẻ bị trục trặc lâm nạn mà chết, Diêm Vương không xét tội người chết đang ô uế, nên mới cho đến đây, chờ cho đủ mười ngày người ấy tỉnh táo, tắm rửa sạch sẻ thay đổi quần áo rồi mới cho lên điện để xét xử. Còn về việc làm ra sự ô uế, nếu có, thì người sản phụ chỉ chịu bảy phần, người gia trưởng của nhà đó phải chịu ba phần trách nhiệm, chứ không thể đổ hết tội lỗi cho sản phụ.

Vào trong ao nầy, đúng nghĩa là những người bất luận là nam hay nữ, khi sống đã phạm tội giao hợp với nhau mà không kiêng chỗ thờ phượng trời đất thánh thần. Cũng không chịu kiêng cử vào những ngày vía, giờ kiêng. Thí dụ như ngày 14, 15 trong tháng năm; ngày mùng 3 và 13 trong tháng tám; ngày mùng 10 tháng mười. Năm ngày ấy gọi là “Chưởng tử giới nhật” (ngày kiêng của việc tạo ra con). Phạm vào những ngày này, có thể bị thần trừng phạt mắc ác bệnh mà chết. Sau khi đã thọ xong hình phạt ở các ngục vì tội khác rồi, mới đưa đến đây để bắt họ trầm mình dưới Huyết Ô Trì này, chẳng cho lên bờ.

Lại có những kẻ hoặc nam hoặc nữ có tánh hiếu sát bừa bãi, lại bất cẩn để cho máu vương vãi, dính vào bếp táo, nơi điện thờ thần thánh tiên Phật, hoặc sách vở thánh hiền, hoặc chén dĩa ở bàn thờ… thì đều phạm tội. Những người này phải chịu sự hình phạt ở các điện về tội khác xong rồi mới đến đây để chịu phạt trầm mình dưới ao không cho ngóc đầu lên.

Muốn hóa giải, người thân ở dương thế phải ăn chay làm lành, thề nguyện không sát giới và làm hạnh phóng sinh. Làm đủ phước rồi còn tụng thêm “Huyết Ô Kinh Sám” (Kinh sám hối huyết ô) thì phạm nhân mới được giải tội để đi đầu thai.

Lại có những kẻ nam nữ ở thế gian, khi thấy có người bị nạn mà có thể cứu lại không chịu cứu, hoặc thọ ơn người mà đã không chịu đền đáp lại còn tính kế mưu hại người ơn, cũng phải chịu tội ở ao nầy. Trường hợp những người nói trên sau đó phát tâm tu hành tích lũy công đức rất lớn, thì khi chết có thể được miễn hình phạt huyết ô, nhưng vẫn phải chịu quả báo thành ra các loài quỷ như :- ly, mỵ, vọng, lượng, sơn yêu, mộc khách, thủy quái, cương thi (thây ma cứng biết đi – quỷ nhập tràng), hồn vất vưởng đây kia, hoặc nhẹ thì cũng sa hồn vào xác thân loài chồn, cáo, gấu, beo, cá sấu, rắn… hàng trăm năm, nếu biết ăn năn tu tỉnh mới được đầu thai, còn nếu không chuyển hóa được thì vẫn mãi mãi trong tình trạng như thế.

Ngưa Đầu Mã Diện :

Một điểm nữa là, ở thế gian cũng hiểu sai về việc tin có “Thần giữ của”. Thực ra đây chẳng phải là thần thánh gì, mà chỉ là hồn ma của người lúc sống có chôn cất số của cải tài sản nào đó, khi chết vẫn quyến luyến bám theo tài sản để giử của. Nếu có ai đến đào lấy, họ sẽ hiện thành ma quỷ hù nhát người đào, khiến cho người ấy có thể vì quá sợ hãi, sinh bệnh mà chết. Những loại âm hồn kiểu nầy, chẳng kể là dân giả hay nho sĩ quan lại gì cả, nếu có tánh tiếc nuối của cải tài sản đều trở thành “ma giữ của”.

Muốn hóa giải nghiệp nầy, chỉ có cách tốt nhất là mời thỉnh những vị đạo cao đức trọng, những vị chân tu có đạo lực, đến tổ chức trai đàn cầu siêu, thuyết pháp cho họ nghe hiểu mà giác ngộ lẽ vô thường của thế gian. Chính cái thân của mình còn không giữ được, huống nữa là tài sản của cải là những thứ từ ngoài vào, làm sao có thể giữ ch được. Nhờ vậy, họ mới tỉnh ngộ mà phát tâm tu hành, chuyển hóa đầu thai kiếp khác.

Nếu không có được những vị đạo đức này khuyến hóa, thì người thân có thể tổ chức những buổi cầu siêu, những dịp chẩn tế tập thể, cứu giúp được nhiều người. Sau đó, thành tâm hồi hướng tất cả công đức làm ra “cho tất cả sanh linh được sớm siêu sinh tịnh độ”. Được vậy mới khả dĩ hỗ trợ người thân mình thoát khỏi nạn “giữ của” như vậy.

Trường hợp những người vì mạng lệnh nhà vua mà phải lên đường chinh chiến, bất đắc dĩ phải chấp hành, nhưng trong lòng không muốn. Trong lúc làm lính bất đắc dĩ đó, vẫn luôn thương yêu giúp đỡ mọi người, tránh bắn giết bừa bãi dân chúng vô tội …nếu chẳng may bị chết, thì được miễn những hình phạt của các ngục. Đến điện thứ nhất xem xét nghiệp lực rồi chuyển thẳng đế điện thứ mười cho đi đầu thai vào nơi phước địa. Còn nếu, lỡ vào quân ngũ mà lại sinh tâm hiếu sát, bắn giết bừa bãi… thì khi chết sẽ gia thêm hình phạt và thời gian gấp đôi !

Hắc Bạch Vô Thường : Câu “sinh không biết kỳ, tử lại có hạn” nói lên quan điểm nhận thức của người đời đối với việc sống chết. Còn đối với hai vị “Hắc Bạch Vô Thường” thì ai ai cũng sợ hãi, cho là hai con quỷ hại người (còn gọi là Tử Thần, Thần Chết). Ấn tượng trong thế gian, Hắc vô thường mặc áo đen, Bạch vô thường lmặc áo trắng. Một hôm nào lỡ gặp hai vị nầy thì có nghĩa là số mạng không còn, phải lo gấp “hậu sự” !

Nhưng có sách vở nói rằng, đừng nên sợ hãi khi gặp Hắc Bạch Vô Thường, lúc đó chỉ cần bình tỉnh, thành tâm cầu bái và xin hai vị cho mình “bất cứ món đồ gì”, nhất định về sau sẽ “đại phú quí” ! Cho nên, trên bàn thờ của một số đoàn hát kịch ở một vài địa phương có thờ hai vị Hắc Bạch Vô Thường chung với Thần Tài, mà chiếc mão trên đầu hai vị có ghi câu “Nhất kiến sinh tài” (một lần thấy ta ắt có tiền).

Sa di HUỆ PHÚC (tổng hợp)

Advertisements

THẾ GIỚI ĐỊA PHỦ (Bài 2/3)

“THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG”

Cửa ngục thứ tư đến thứ tám

– Sa di HUỆ PHÚC

Lời blog : Sau bài “Thiên đàng và Địa ngục” được mọi người đón đọc hoan nghênh và có yêu cầu nói rõ về “Thập Điện Diêm Vương”. Sa di Huệ Phúc đã tổng hợp thành một bài dài (được đăng hết trong 3 kỳ). Tuy nhiên vì Sa di Huệ Phúc là người tu đạo Phật nên hành văn có những điểm thiên về Phật Giáo; chúng tôi với quan niệm “Thế Giới Tâm Linh” không của riêng tôn giáo nào hay thành phần nào trong xã hội, được hình thành nhằm giúp mọi người tìm hiểu về Thế Giới Vô Hình, nên ai có lòng tin thì cảm nhận, ngược lại nên xem như một bài viết đọc để giải trí, thư giản mà thôi.

BÀI 2/3

Điện thứ tư : Ngũ Quan Vương Lữ, vía ngày mười tám tháng hai, ty chưởng Hợp Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Lục Huyết Trì Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế cho vay nặng lãi, ăn bớt ăn xén, mua bán dối trá thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ năm, xem xét để gia hình phát ngục.

Ngục thứ tư nằm ở dưới tầng đá ngầm biển về hướng Đông. Ngục nầy có tên là “Chúng Hiệp Địa Ngục” (đối xử với người). Có 16 tiểu ngục :

1- Thạch Trì  (ao có bờ vách bằng đá)

2- Miêu Luyện Trúc Tiêm  (rớt xuống bàn chông tre)

3- Phí Thang Nhiễu Thủ  (nước sôi)

4- Chưởng Bạn Lưu Dịch (trấn nước)

5- Đoạn Cân Dị Cốt (cắt gân)

6- Yển Kiên Loát Bì  (xẻ vai lột da)

7- Toả Phu (căng da)

8- Tồn Phong  (ngồi trên mũi nhọn)

9- Thiết Y  (áo sắt)

10- Mộc Thạch Thổ Ngoã Áp  (gạch ngói đá đè)

11- Kiếm Nhãn (dùng kiếm khoét mắt)

12- Phi Hôi Tắc Khẩu  (nhét tro bịt miệng)

13- Quán Dược  (rót thuốc)

14- Du Đậu Hoạt Trật  (đi đường đổ dầu trơn trợt cho té )

15- Thích Chuỷ  (đâm vào miệng)

16- Toái Thạch Mai Thân  (đá đè chôn thân)

Người sống ở thế gian mà trốn sưu lậu thuế, dùng cân gian lận lường thưng tráo đấu, bào chế thuốc giả, bán gạo ẩm mốc, xài tiền giả, tráo xén bớt tiền, bán buôn hàng quá hạn, may vá ăn xén vải vóc, cho vay ăn lời quá vốn, đi đường gặp người già tàn tật không nhường bước, bắt người khác phục dịch quá đáng, nhận thư, tin tức người nhờ chuyển mà không sớm chuyển giao, lăn cây đá chặn đường đi, lấy trộm đèn đường, nghèo mà không chịu siêng năng làm ăn lại chê trách người, giàu mà không cứu giúp kẻ khó, giả bộ đi mượn tiền để người khác khỏi mượn mình, làm bộ đói rách để xin của người, thấy người khác bệnh nhà mình có thuốc (sách, bài thuốc hay) mà không cho, giấu giiếm thuốc gia truyền để làm giàu, chăn nuôi súc vật đổ phân, nước tiểu ra đường làm hôi thúi người đi đường, đổ rác rến ra giữa đường đi, trù ếm làm hại người, bỏ cha mẹ trốn lánh tự tử, bỏ hoang ruộng đất, làm cây cối ngã sập nhà, sập tường người, phách lối mắng nhiếc người …

Sau khi tra xét kỹ, tùy theo tội lỗi mà đưa vào địa ngục thích ứng để chịu sự trừng phạt, mãn hạn chuyển sang Địa ngục thứ năm để tra xét tiếp.

Những người còn sống ở thế gian, vào ngày mười tám tháng hai, hãy sám hối tự hứa không tái phạm những lỗi trên. Tự góp phần vào việc công quả, làm phước… cảm hóa người gian cho họ biết làm lành lánh dữ, thì được Ngài Tứ Điện Ngũ Quan Vương phù hộ và miễn giảm tội cũ trót lỡ gây ra.

Điện thứ năm : Diêm La Vương Thiên Tử Bao, vía ngày mồng tám tháng giêng, trước kia vốn ở tại điện thứ nhất, được giáng điều đến điện này, ty chưởng Khiếu Hoán Đại Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục moi tim nhỏ. Phàm người giải đến điện này sẽ được đưa đến Vọng Hương Đài, cho nghe lại những chuyện vì tội nghiệt mà gặp tai ương trên nhân thế, điều tra kỹ tội ác từng phạm nhân rồi đưa vào các ngục moi tim nhỏ, móc tim ra đổ cho rắn ăn. Chịu khổ đủ ngày sẽ giải đến điện khác.

Vua Diêm La nói rằng :

-“Trước đây ta ở Điện thứ nhất, vì thương hại người chết, than thở là chưa làm tròn nguyện ước, ta cho họ hoàn dương sống lại để làm cho xong, nên bị Thượng Đế điều sang cai quản ở đây. Ngục nầy tên là ngục “Khiếu (Kiếu) Hoán” (kêu la rên xiết), nằm dưới tầng đá ngầm đáy biển ở hướng Đông bắc. Có tất cả 16 Tiểu Địa Ngục đều gọi là “Đẳng Tâm ngục” (ngục chặt đứt trái tim)

Những phạm nhân trước khi đưa đến đây đều trải qua thời gian thọ tội nhiều năm ở các ngục khác. Nơi ngục thứ tư, việc tra xét không quá bảy ngày rồi chuyển sang đây, để khai thêm về những việc không làm ác lúc còn sống.

Phần lớn, các hồn ma thường khai rằng :

– “Trên thế gian chưa làm xong nguyện vọng như xây cất chùa chiền, đào giếng vét sông, làm chưa xong những việc thiện, hoặc phóng sanh chưa xong, hoặc chưa lo xong việc chuẩn bị hậu sự cho song thân, hoặc mang ơn chưa kịp đền đáp, xin cho được trở về để hoàn thành tâm nguyện, hẹn chẳng sai lời, hứa sẽ làm người tốt”.

Ta nghe như thế, bèn nói :

-“Các ngươi, lúc trước có làm ác hay không, các quỷ thần ở cõi địa phủ đều biết, hãy thành thật nhận tội đi. Nếu cõi âm ty không có quỷ oán hận thì lúc ở dương gian là không có người oán hờn. Người chân chính ở thế gian không có nhiều đâu. Nay đã đến đây, ta sẽ cho xem ở Nghiệt Cảnh thì sẽ biết hết sự thật, đừng nói nhiều lời nữa !”.

Nói rồi, ta sai ngưu đầu mã diện giải phạm nhân đến “Đài Vọng Hương” để nhìn về nơi ở xưa nay của họ. Đài này cong như cây cung, có ba mặt đông, tây và nam. Chiều cong dài tám trăm mười dậm, còn phía bắc thì có một rừng kiếm làm thành trì. Đài này cao bốn mươi chín trượng, có núi đao tua tủa. Bậc thang có sáu mươi ba cấp. Những người lương thiện thì khỏi bắt lên đài nầy, người có công tội bằng nhau thì được cho đi đầu thai. Chỉ có những kẻ làm ác thì phải lên mà thôi.

Lên trên đài này rồi, thì sẽ thấy quê nhà kế bên, người thân nói gì cũng nghe được. Nghe được những lời con cháu tranh giành của cải tài sản, không chịu thực hiện di chúc, không thực hiện lời dặn dò trăn trối. Kế thấy những cảnh thay đổi sau khi chết, sự vật khác xưa, mỗi mỗi đều thay, chẳng còn gì là của mình. Người thân là chồng thì muốn cưới vợ khác, người thân là vợ thì muốn lấy chồng khác, con cái thì tranh nhau tài sản, đánh lộn đánh lạo, chữi mắng nhau. Bà con thân thiết và bạn bè cũng chẳng ai nhớ đến mình, con cái nheo nhóc khổ sở v.v…

Thấy những cảnh ấy rồi, những hồn ma người chết la khóc inh ỏi, dập đầu bứt trán, nhào lộn tức tối, đau khổ muôn phần… Như thế rồi lại nhìn thấy tiếp những cảnh tượng người thân bị quả báo nhãn tiền do tội của họ gây ra, như là : trai bị bắt giam, nữ thì sinh quái thai, con trai bị dụ dỗ sa đọa, con gái bị gian dâm. Sự nghiệp của mình bị tiêu tan, nhà cửa bị cháy rụi, tất cả trong nhà đều bị tiêu sạch… khi ấy có ăn năn hối hận cũng đã quá muộn.

Sau đó, cho trở về trong điện để tra xét tiếp rồi tùy theo tội lớn nhỏ nhiều ít lâu mau… mà đưa đến các Tiểu Địa Ngục để chịu sự trừng phạt. Trong các Tiểu Địa Ngục này có các cọc gỗ nhọn, chó sắt rắn đồng, gông xiềng tay chân. Quỷ sứ dùng con dao nhỏ, mỗ một đường ở bụng, vạch bày ra trái tim, cắt xẻ ra từng miếng để ném cho rắn ăn, ruột thì cho chó ăn. Chịu sự trừng phạt một ngày, thì chỗ mỗ lành lại, đem giam vào ngục để mai hành hạ tiếp. Các Tiểu Địa Ngục đó còn gọi “Đẳng Tâm ngục” gồm 16 tiểu ngục sau đây :

1- Người chẳng kính quỷ thần, không tin vào nhân quả

2- Giết hại sinh vật

3- Có llời vái nguyện mà chưa cúng trả lễ. .

4- Theo học tà thuật mong cầu được trường sinh.

5- Hận người trù rủa cầu cho người mau chết.

6- Bày mưu tính kế hại người.

7- Người nam mà dụ dỗ người nữ vào con đường thất tiết.

8- Làm tổn hại người để lợi cho mình

9-  Bòn xẻn tiếc nuối tài vật mà chẳng màng sống chết.

10- Nuôi nấng người rồi cho đi ăn trộm.

11- Lấy oán báo ân.

12- Đam mê cờ bạc tán gia bại sản.

13- Lường gạt người.

14- Dùng lời nói sai quấy xúi bảo người làm bậy.

15- Có dã tâm ganh ghét người hiền tài.

16- Hay mắng nhiếc người.

Những người không tin vào luật nhân quả, cản trở người làm việc thiện việc lành, mượn tiếng đi chùa miếu dâng hương để xúi biểu người làm quấy, thiêu đốt sách thánh hiền dạy người làm ngay, xúi người phá giới, cản người ác đang biết ăn năn sám hối, biết đạo mà không giữ giới, phỉ báng tôn giáo, chẳng chịu nghe theo lời dạy đạo tu hành mà còn xúi bảo người khác đi vào đường sai quấy, đào mồ cuốc mã người khác, thiêu đốt rừng núi, cho gia đình di chuyển trước rồi đốt nhà phá xóm giềng, dùng cung tên súng đạn bắn lén người, bức ép người khác khiến họ rầu rĩ mà sinh bệnh, ném đá , gạch ngói lên mái nhà người, dùng thuốc độc hại cá, giăng lưới bắt chim, dùng muối tưới cho cây cỏ chết, thả rắn rít độc trùng làm hại người đến chết, giả mạo chức tước để hại người, chiếm đoạt nhà đất người, lấp giếng ngăn chận mương rãnh phá hoại nhà người …

Những kẻ phạm vào những tội lỗi trên, cho lên Vọng Hương Đài để xem hết những tội đã phạm cùng hậu quả báo ứng, rồi cho vào địa ngục Khiếu Oán, để họ tự ăn năn dày vò, đau khổ, khóc than một mình. Kế đó mới tùy theo tội mà chuyển đến Tiểu Địa Ngục Đằng Tâm mà hành tội thích ứng. Thọ tội xong, chuyển đến Điện thứ sáu để tra xét tiếp.

Những người khi còn sống không phạm những tội đã nêu hoặc lỡ phạm mà vào ngày mùng tám tháng giêng, biết sám hối, phát thệ lời thề không tái phạm, thì được miễn hình phạt ở ngục thứ năm này, chuyển sang ngục thứ sáu xem xét.
Những người phạm vào các tội :- giết người hại vật có ích, theo bè đảng tà ngụy, gian dâm phụ nữ, bắt ép vợ người phải thất tiết, nuôi người trộm cắp, những kẻ lấy oán báo ân, những người si mê chấp không chịu ăn năn sửa đổi, thì không được tha thứ miễn giảm

Điện thứ sáu : Biện Thành Vương Tất, vía ngày mồng tám tháng ba, ty chưởng Khiếu Hoán Đại Địa NgụcUổng Tử Thành, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người trên dương thế oán trời trách đất, than khóc không ngừng thì đưa vào ngục này để tra xét những việc phạm phải rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ hình, hết hạn thì chuyển sang điện thứ bảy, tra xét xem còn tội ác gì khác.

Ngục nầy nằm dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng chính Bắc, tên là “Đại Khiếu Hoán”, nghĩa là tội nặng hơn, bị hình phạt nặng nên khóc la lớn tiếng hơn ngục thứ năm. Có 16 Tiểu Địa Ngục là :

1- Thường Quị Thiết Sa  (cát bằng sắt bắn vào người làm té ngã)

2- Thỉ Nê Tẩm Thân  (tẩm thân thể bằng phân, nước tiểu)

3- Ma Tồi Lưu Huyết  (mài ép cho chảy máu)

4- Kiềm Chuỷ Hàm Châm  (ngậm kim châm, kẹp miệng)

5- Cát Thận Thử Giảo  (cắt thận cho chuột ăn)

6- Cức Võng Huỳnh Toản (nằm trong lưới gai bị trùng độc cắn đốt đau đớn)

7- Đối Đảo Nhục Tương (cối quết thân thể nát bằm)

8- Liệt Bì Kỵ Lôi  (lột da căng phơi)

9- Hàm Hoả Bế Hầu (lửa đốt trong cổ họng)

10- Tang Hoả Phí Hồng (lửa đốt cháy thân)

11- Phẩn Ô Tiểu Địa Ngục (ăn phân)

12- Ngưu Điêu Mã Thao (trâu đạp ngựa dậm)

13- Phi Khiếu (oằn oại rên la)

14- Táng Đầu Thoát Xác (đập đầu cho chết)

15- Yêu Trảm  (chém ngang lưng)

16- Bác Bì Tuyên Thảo  (lột da phơi trên cỏ)

Những người khi còn sống, chữi mắng trời đất, chữi gió mắng mưa, chê nóng trách lạnh, phá hủy hình tượng thần thánh tiên Phật, ăn cắp của cải chùa miếu, xưng thần thánh gạt người, chẳng kính trọng kinh sách, đem đồ dơ bẩn đổ gần chùa miếu, làm ô uế chùa miếu, cúng tế thần Phật bằng những đồ nấu nướng không tinh khiết, chẳng chịu kiêng cử thịt trâu, chó, chứa giấu sách vở đồi bại, phá hủy sách vở khuyến thiện, phá hủy tượng bát quái, kêu tên thần thánh không chút dè dặt, hủy hoại ngũ cốc, ăn uống bỏ mứa. Đầu cơ tích trữ để làm giàu…

Những tội trên đều bị trừng phạt ở ngục Đại Khiếu Hoán nầy, sau khi tra xét kỹ lưỡng thì cho đến những tiểu địa ngục thích ứng mà chịu sự trừng phạt, tiếng kêu la vang trời dậy đất, sự đau đớn khổ sở kể sao cho xiết.

Thí dụ như bế vựa chờ giá lúa cao mà bán, để người nghèo chịu đói (bế địch trợ hoang), hoặc là gian giảo ngược ngang, bị hành vào ngồi bàn chông nhọn. Chửi gió mắng mưa, kêu tên Thần Thánh chẳng chút kiêng thì bị cột trói ngược mà cưa xẻ cắt lưỡi. Hành tội đến mãn hạn thì chuyển giao cho Ngục thứ bảy xem xét tiếp.

Người nào lỡ phạm tội, biết ăn năn cải hối, vào ba ngày, 15, 16 tháng 5, phải giữ giới kiêng phòng, sám hối, thề nguyền không tái phạm, làm lành chuộc tội… thì sẽ được Ngài Biện Thành Vương cứu xét miễn giảm tội.

Điện Thứ Bảy : Thái Sơn Vương Đổng, vía ngày hai mươi bảy tháng ba, ty chưởng Nhiệt Não Địa Ngục, còn gọi là Đối Ma Nhục Tương Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế lấy xương làm thuốc, chia rẽ người khác thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ tám, xem xét để gia hình phát ngục.

Ngục nầy nằm ở dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng Tây bắc, tên là Địa Ngục Nhiệt Não (nóng bức đau đớn trong đầu). Gồm có 16 tiểu địa ngục là :

1- Truỳ Tuất Tự Thôn  (tự ăn năn đau khổ)

2- Liệt Hung  (rét lạnh ở ngực)

3- Địch Thối Hoả Bức Khanh  (xẻo bắp vế ném vào lò lửa)

4- Xuyên quyền kháng phát  (đâm gò má, bứt tóc)

5- Khuyển Giảo Hĩnh Cốt (chó ăn xương đầu gối)

6- Úc Thống Khốc Cẩu Đôn  (nhớ lỗi xưa khổ sở, bị chó nhai nuốt)

7- Tắc Đỉnh Khai Ngạch  (đóng đỉnh đầu xẻ trán)

8- Đỉnh Thạch Tôn Thân (đá sập đè thân)

9- Đoan Bảo Thượng Hạ Trác Giảo  (chim dữ cắn mổ trên dưới)

10- Vụ Bì Trư Đà  (lột da như da heo)

11- Điếu Giáp Túc  (rút móng chân)

12- Bạt Thiệt Xuyên Tai  (kéo lưỡi đâm xuyên qua má)

13- Trừu Trường  (lôi ruột ra ngoài)

14- Loa Đạp Miêu Tước  (lừa đạp mèo cắn)

15- Lạc Thủ Chỉ  (cắt từng ngón tay)

16- Du Phủ Cổn Phanh (nấu chảo dầu sôi)

Những người lúc còn sống, ăn uống bừa bãi, bỏ mứa phung phí thức ăn, rượu thịt vô độ, nài ép người phải bán của cải cho mình, trộm cắp quần áo, dấu thây chết để làm thuốc, làm ly tán thân thích người khác, mua bán tì thiếp, hiếp đáp vợ con đến chết, cờ bạc phá của, làm thầy dạy học trò không hết lòng, dạy điều sái quấy cho học trò, truy vấn đánh đập học trò quá ngặt khiến trò bị thương tích hay sinh bệnh, tham lấy của cải hàng xóm, bội bạc sư trưởng, già mồm lẽo mép cãi lẫy trấn áp người, xui giục bày biểu cho người ta tranh đấu lẫn nhau, hồ đồ không tra cứu kỹ lưỡng đã kết tội người khác…Tất cả những tội trên đều được tra xét cẩn thận ở ngục nầy, rồi tùy theo tội mà cho đưa vào ngụ nhỏ tương thích chịu sự trừng phạt. Xong, chuyển đến Điện thứ tám để tra xét tiếp.

Những người khi còn sống, lấy cớ làm thuốc để tàn sát loài vật chứ không chịu dùng thảo mộc làm thuốc. Đàn bà chế tạo món ăn mà sát hại quá nhiều sinh vật hay món ăn mà thú nửa sống nửa chết, cũng mang lấy tội nặng. Dù có làm phước mà không chịu ăn năn cho giảm bớt những việc sai trái cũng không được bỏ qua nghiệp chướng trên. Phải làm những việc lại tạo công đức như :- phóng sanh, cứu người, bớt sát sinh, khuyên người làm lành, khuyến thiện.. thì dù đã lỡ phạm tội nhưng khi chết, được các vị “Tịnh Nghiệt Sứ Giả” (làm thanh tịnh nghiệp tội đã tạo) dùng kiếng chiếu vào người đó, xóa bỏ nghiệp cũ, mới khỏi bị tội ở ngục thứ bảy này.

Những thầy thuốc ở nhân gian dùng những thây súc vật chết do bị lửa cháy, lấy da thịt chế thuốc, hoặc cắt lấy xương, gân, gan, mật, đầu sọ mà chế tạo thành thuốc cao, thuốc bột mà buôn bán… Tội ấy không thể tha thứ ở ngục nầy, dầu có làm phước khác mà không liên quan nghiệp nầy cũng không giải được. Diêm Vương cũng nhất định bắt vào địa ngục Nhiệt Não hành hình, chịu hết những hình phạt của các tiểu địa ngục.

Thí dụ như : Bày biểu hay cho thuốc phá thai bị quăng lên núi lửa. Khinh khi đạo giáo bị chó phân thây. Nói tục tĩu bị cắt lưỡi. Đàn bà có chồng còn ngoại tình với trai bị đốt nấu trong vạc đồng.

Khi xong rồi, giao cho Ngục thứ mười để đi đầu thai. Nhưng kiếp đó, phải chịu những dị tật như đui, què, mẻ, sứt … đền tội cũ kiếp trước đã làm. Tuy nhiên, cũng có phương pháp để hóa giải bớt là, chân thành ăn năn sám hối, thề nguyện không tái phạm, làm được những điều lành như : bố thí tiền, thuốc, cơm cháo. Xây dựng cầu, sửa đường đi cho thiên hạ. Biếu quan tài và đồ liệm. Nhiều năm bố thí cho người nghèo đói. Cất chùa, sửa am. Hết lòng phụng dưỡng kính yêu cha mẹ, cần mẫn thuốc thang giúp người khi bịnh hoạn…

Khi làm được những việc trên, lúc quỷ sứ đến bắt hồn người chết, Định Phước Táo Quân thờ trong nhà người đó sẽ chấm một điểm vào tấm lệnh bài để xác nhận, thì sau nầy lúc xuống địa ngục sẽ được miễn giảm hình phạt. Trên thế gian cũng có những người, vào những năm mùa màng thất bát, khắp nơi đói rách, họ cắt thịt người chết đem bán cho người khác ăn để sống, dã tâm ác độc vô cùng. Những người pham tội cắt thịt nầy, khi bị áp giải đến ngục thứ bảy nầy, Diêm Vương sẽ gia tăng hình phạt thêm lên. Mãn hạn hình phạt thống khổ 49 ngày rồi, sẽ được giải đến Điện thứ mười ghi chú vào sổ sách, lại chuyển về Ngục thứ nhất để cho đầu thai làm người hoặc súc vật, bụng lúc nào cũng đói muốn ăn, nhưng khi thấy đồ ăn thì có mùi hôi thúi, không dám ăn, chịu sự đói khát thường xuyên, để trả lại quả báo cũ.

Những trường hợp lỡ phạm như thế thì phải hết sức lập công bồi đức chuộc tội, bằng cách bố thí cơm cháo cho người đói khổ những năm bị mất mùa, lập trai đàn chẩn tế cô hồn ngạ quỷ, bố thí cho người nghèo gạo thóc thuốc men thật nhiều. Lại phải thành tâm sám hối ăn năn, khuyến thiện… để giúp người hiểu biết làm lành lánh dữ… thì khi chết mới được Diêm vương tâu lên Ngọc Đế xin miễn giảm tội.

Như thế đủ biết, khi còn sống có thể che giấu để thoát pháp luật nơi thế gian, nhưng khi chết rồi thì một mảy may cũng không thoát việc phải đền tội. Trong sách nói :- “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (lưới trời tuy thưa mà khó lọt) là vậy.

Muốn sám hối những tội lỗi lỡ tạo như trên, vào ngày hai mươi bảy tháng ba, phải thành tâm sám hối, day mặt về hướng Bắc mà van vái cầu xin Ngài Thất Điện Thái Sơn Vương phù hộ độ trì cho bớt tội. Lại phải thề nguyện không tái phạm, làm những điều lành đã nêu thì mới mong giảm được tội hình nơi ngục này.

Điện thứ tám : Đô Chủ Vương Hoàng, vía ngày mồng một tháng tư, ty chưởng Đại Nhiệt Não Đại Địa Ngục, còn gọi Nhiệt Não Muộn Oa Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế bất hiếu, khiến cha mẹ thân thích buồn phiền thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để gia hình chịu khổ, hết hạn thì chuyển giao cho điện thứ mười, thay đầu đổi mặt vĩnh viễn chịu kiếp súc sinh.

Ngục nầy ở dưới tầng đá ngầm đáy biển ở về hướng chính Tây, tên là “Địa ngục Đại Nhiệt Não”. Có 16 tiểu địa ngục là :

1- Xa Băng (xe cán)

2- Muộn Oa (nồi buồn rầu)

3- Toái Quả (nghiền xương)

4- Lạo Khổng (các lổ ra nước)

5- Tiễn Chu (kéo cắt thành miếng nhỏ)

6- Thường Thanh (chuồng nhốt)

7- Đoạn Chi (chặt tay chân)

8- Tiễn Tạng (xẻ các tạng phủ)

9- Chích Tuỷ (đâm lấy tủy)

10- Bà Trường (kéo ruột)

11- Phần Tiều (coi lò)

12- Khai Sanh (bắt nhìn thẳng)

13- Quả Hung (đục thủng ngực)

14- Phá Đỉnh Khiếu Xỉ (đục đỉnh đầu, bẻ răng)

15- Trảo Cát (cắt rút móng)

16- Cương Xoa (cây chĩa bằng gang)

Những người khi còn sống trên thế gian không hiếu thảo với cha mẹ, lúc cha mẹ còn sống không nuôi dưỡng, lúc cha mẹ chết không lo tống táng. Thường gây ra những lo âu phiền muộn đau khổ cho cha mẹ ông bà, lâu ngày mà chẳng chịu hối cải. Táo Quân dâng sớ tâu lên thiên đình, giảm trừ bớt y lộc tuổi thọ của người đó. Những người nghe lời xúi biểu của tà đạo, làm những điều ác đức xằng bậy, khi chết thì đứa con bất hiếu tới điện nào cũng bị hành phạt hoặc bị xay, cưa, đốt, giã, bị phanh rã tim gan, hoặc bị xe cán. Chứa xâu lường của, trù ếm, chửi rủa, đồ dơ đổ xuống rạch sông, ô uế trước chỗ thờ tự, phơi áo quần dơ không nể Tam quan v.v… bị xô xuống ao huyết phẩn (Huyết Ô Trì).. rồi đưa sang ngục thứ tám. Ngưu đầu mã diện và ngục tốt lại đưa vào các tiểu ngục ở đây để trừng phạt tiếp, chịu đựng không biết bao nhiêu điều thống khổ, tiếng kêu khóc vang dậy gấp nhiều lần nên gọi là “đại nhiệt não”. Thọ hình xong mới chuyển qua ngục thứ mười cho đi đầu thai làm súc vật.

Trường hợp người nào biết ăn năn cải hối, tin tưởng vào đạo giáo sách thánh hiền …vào ngày mùng một tháng tư biết sám hối, thề không tái phạm, được Ngài Đô Thị Vương phù hộ giúp đỡ. Lại đến trước bàn thờ Táo Quân để cầu xin sám hối, cũng thề không tái phạm, nguyện làm việc lành …Táo Quân sẽ xác nhận bằng cách, người đó khi chết, trước khi bị quỷ sứ dẫn đi, Táo Quân sẽ viết vào trán một trong ba chữ “Tuân”, “Thuận” hay “Cải”. Như vậy, khi hồn người chết đến các điện địa ngục từ điện thứ nhất đến thứ bảy, các vua Diêm La (ty chưởng) giảm hình phạt một nửa hoặc hết. Trường hợp những người phát tâm mạnh mẽ, ra sức khuyến thiện, giúp được nhiều người hối cải làm lành, làm được nhiều công đức thì qua điện thứ chín tra xét không phạm thêm tội nào nữa, chuyển sang điện thứ mười cho đi đầu thai vào nơi phước địa.

Những người có tôn giáo nên công đức ấn tống kinh sách sẽ được giảm khinh tội lỗi, mọi người cần nên lưu ý thực hành.

(Xem tiếp kỳ 3 – Hết)

THẾ GIỚI ĐỊA PHỦ (Bài 1/3)

ĐI XEM

“THẬP ĐIỆN

DIÊM VƯƠNG”

– Sa di HUỆ PHÚC

Lời blog : Sau bài “Thiên đàng và Địa ngục” được mọi người đón đọc hoan nghênh và có yêu cầu nói rõ về “Thập Điện Diêm Vương”. Sa di Huệ Phúc đã tổng hợp thành một bài dài (được đăng hết trong 3 kỳ). Tuy nhiên vì Sa di Huệ Phúc là người tu đạo Phật nên hành văn có những điểm thiên về Phật Giáo; chúng tôi với quan niệm “Thế Giới Tâm Linh” không của riêng tôn giáo nào hay thành phần nào trong xã hội, được hình thành nhằm giúp mọi người tìm hiểu về Thế Giới Vô Hình, nên ai có lòng tin thì cảm nhận, ngược lại nên xem như một bài viết đọc để giải trí, thư giản mà thôi.

Thập Điện Diêm Vương là hệ thống trong cõi âm ty địa ngục đứng đầu là Diêm Vương. Theo Cấm Độ Tam Muội Kinh viết : dưới sự cai trị của Diêm Vương chỉ đặt Ngũ Quan gồm có Tiên Quan cấm sát (cấm giết chóc), Thủy Quan cấm đạo (cấm trộm cướp), Thiết Quan cấm dâm (cấm dâm dục), Thổ Quan cấm lưỡng thiệt (cấm hai lời dối trá) và Thiên Quan cấm tửu (cấm uống rượu).

Còn quyển thứ ba mươi ba trong Phật Tổ Thống Ký thuộc “Sử Truyền Phật Giáo” (Trung Hoa) ghi lại : “Thế truyền Đường Đạo Minh hoà thượng thần du địa phủ, gặp mười lăm người phân trị, vì truyền tên lên thế gian nên thuộc hạ của Diêm Vương biến thành mười lăm”. Nói đến đây thì Phật giáo bắt đầu xuất hiện có Thập Điện Diêm Vương. Từng vị trong Thập Điện Diêm Vương đều được phân công, có chức quyền, phương thức xử lý tội lỗi người thế gian khi qua đời xuống địa ngục rất rõ ràng minh xác.

Thập Điện Diêm Vương là hệ thống cai trị trong cõi âm ty, các “quan chức” (ma vương) làm việc tại âm gian lấy điện thứ năm làm nơi truy xét công tội người chết, gọi chung là Thập Điện Diêm La hay Thập Điện Diêm Quân hoặc Thập Điện Diêm Vương. Diêm Vương còn được gọi là Diêm Ma Vương. Thập Điện Diêm Vương có ảnh hưởng rất lớn với người dân gian sau khi qua đời. Trong Phật giáo từ trước đến nay thường đắp tượng Thập Điện Diêm Vương đặt ở trái phải Minh Giới Tổng Quản Địa Tạng Bồ Tát trong các chùa chiền, còn thời xưa thì thường có mười lăm điện thờ trong miếu Thành Hoàng.

Cho nên ở cõi Diêm Phủ có mười vị Ma vương hay còn gọi “vua một cõi”cai quản, có nhiệm vụ và công việc khác nhau để xem xét người chết lúc còn sống trên thế gian đã phạm vào những tội lỗi gì mà có hình phạt thích đáng.

1. Nhứt Điện : Tần Quảng Vương cầm sổ sống chết.

2. Nhị Điện : Sở Giang Vương coi Đẳng Hoạt Địa Ngục

3. Tam Điện : Tống Đế Vương coi Hắc Thằng Đại Địa Ngục

4. Tứ Điện : Ngũ Quan Vương coi Chúng Hiệp Đại Địa Ngục

5. Ngũ Điện : Diêm La Vương coi Khiếu Hoán Địa Ngục

6. Lục Điện : Biện Thành Vương coi Đại Khiếu Hoán Địa Ngục

7. Thất Điện : Thái Sơn Vương coi Nhiệt Não Địa Ngục

8. Bát Điện : Bình Đẳng Vương coi Đại Nhiệt Não Địa Ngục

9. Cửu Điện : Đô Thị Vương coi A-Tỳ Địa Ngục.

10. Thập Điện : Chuyển Luân Vương cho đi đầu thai.

Trong Ngọc Lịch Sao TruyềnDiêm Vương Kinh có ghi tỉ mỉ như sau :

Điện thứ nhất : Tần Quảng Vương Tưởng, vía ngày mồng một tháng hai, ty chưởng Nhân Gian Thiên Thọ Sinh Tử, cai quản cát hung vùng u minh. Người tốt đã hết tuổi thọ thì tiếp dẫn siêu sinh. Người có công tội hai phần cân bằng thì đưa đến điện thứ mười, đầu thai vào nhân thế, nam chuyển thành nữ, nữ chuyển thành nam. Người làm ác nhiều thiện ít thì giải đến đài cao bên phải điện, gọi là Nghiệt Kính Đài để xem lòng dạ tốt xấu khi tại thế rồi phê giải đến điện thứ hai phát ngục chịu khổ.

Đây là điện đầu tiên quản lý việc ghi chép về tuổi thọ mỗi người, đồng thời quản lý hết tất cả việc lành dữ của cõi U Minh như trên trần gian thuộc “Phòng Hành Chánh Quản Trị” vậy. Cung điện Tần Quảng Vương nằm bên dưới tầng đá ngầm dưới đáy biển, hướng Tây của hắc lộ suối vàng.

Nếu người chết có làm việc thiện, thì được đưa đi sinh kiếp khác ngay. Còn nếu người chết là nam hay nữ mà công tội ngang nhau, sẽ được đưa đến Điện thứ mười cho đi đầu thai, có thể nam chuyển thành nữ hay ngược lại, tùy theo nghiệp của mỗi người mà định.

Nếu có làm ác ít, thì được đưa vào một điện có đài cao, gọi là “Nghiệt kính (cảnh) đài”. Đài nầy cao một trượng, xung quanh có kiếng, treo ở hướng Đông, trên biển có đề câu :- “Trước Đài Nghiệt Cảnh không người tốt”. Hồn người chết sẽ thấy lại tất cả những việc mình đã làm khi sống, bao nhiêu tội lỗi đã gây ra, nay phải chịu sa xuống Địa Ngục chịu sự trừng phạt. Lúc nầy thì dù “vàng ròng cũng khó đổi” được. Sau khi xem hết các tội lỗi rồi thì chuyển qua Điện thứ hai để thọ hình phạt theo tội đã gây ra.

Những tội trên thế gian : như người còn sống chẳng kính trời đất, không nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà báo đáp, hỗn hào cãi lệnh cha mẹ, coi thường mạng sống, tự ải tự vẫn (thắt cổ tự tử), uống thuốc độc hoặc nhảy sông mà chết. Những người chết như thế, ngoại trừ do bảo vệ trung hiếu tiết nghĩa mà có hành động như vậy, còn tất cả do vì tham sân si uất hận, hoặc vì lý do không đáng mà tự tử, hoặc do muốn hù dọa người mà lộng giả thành chân …mà chết (thì đều phải chịu trừng phạt). Các vị thần Môn Táo (cửa và bếp tức) sẽ giải những hồn nầy vào điện để chịu sự đói khát, từ chập tối đến nửa đêm (tức từ giờ tuất và hợi) phải chịu sự đau đớn sống chết. Hình phạt kéo dài hoặc 70 ngày hoặc hai, ba năm, rồi đưa hồn trở về quê quán để gặp vợ (chồng) con, nhưng không được hưởng cơm canh tiền bạc (do thân nhân cúng). Nếu người đó biết ăn năn tội lỗi thì không còn hiện những hình ảnh ghê sợ, dọa nhát ma người đời nữa.

Trải qua thời gian trừng phạt nầy rồi, thì thần Môn Táo lại giải xuống điện cũ để chuyển tiếp Điện thứ hai, tra xét công tội để áp dụng hình phạt thích đáng nơi ngục đó. Nếu khi sống có làm việc thiện thì có phần miễn giảm, còn toàn làm ác thì quỉ mặt xanh sẻ áp giải đến ngục khác chịu hình phạt, nếu quá nặng thì cho xuống đại Địa Ngục A -Tỳ, mãi mãi chịu hình phạt không cho đầu thau nữa.

Những kẻ khi sống làm nghề “thợ tụng ”, tụng kinh cầu nguyện cho người mà gian lận, bớt lời bớt chữ trong kinh thì đưa sang “Bổ Kinh Sở” nơi tụng kinh thêm cho đủ số. Nơi đây, có để kinh điển, thắp một cây đèn dầu leo lét, khi mờ khi tỏ không thể tụng đọc nhanh được. Mà khi tụng, bỏ sót một chữ sẽ bị quỉ sứ đánh đòn nên không dám sai trái. Những người nầy, dù ở thế gian thân nhân có rước bao nhiêu thầy đến hộ niệm đi nữa thì tội cũ vẫn không giảm được. Chỉ có trường hợp, chính người thân thiết đó, hết sức thành tâm tụng đọc, ra sức bố thí cúng dường, dù đọc kinh trì chú không hay miễn có đủ tâm thành thì có cảm ứng. Lúc ấy, vào sáu ngày lành mỗi tháng, sẽ có “Phật chỉ” đưa đến mà giảm tội cho.

Muốn tránh khỏi hình phạt ở địa ngục, chỉ có cách là phát lòng thành ăn ngay ở thẳng, làm nhiều việc công đức… thì khi qua đời được dẫn về cõi Tây phương Cực Lạc !

Vào ngày mùng 1 tháng hai (là ngày vía của Nhất Điện Tần Quảng Vương) , người theo Phật nên ăn chay tụng kinh sám hối, phát nguyện và thực hành làm lành sẽ được Tần Quảng Vương phù hộ.

Điện thứ hai : Sở Giang Vương Lịch, vía ngày mồng một tháng ba, ty chưởng Thoại Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Y Đình Hàn Băng Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương gian làm hại đến thân thể người khác, trộm cướp sát sinh sẽ bị đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ hình, hết hạn được chuyển sang điện thứ ba, xem xét để gia hình phát ngục.

Ngục nầy nằm ở đáy biển, dưới tầng đá ngầm phía chính Nam, gọi là địa ngục Đẳng Hoạt . Gồm có 16 địa ngục nhỏ như sau:-

1- Hắc Vân Sa  (cát mây đen)

2- Phẩn Niệu Nê (phân, nước tiểu, bùn)

3- Ngũ Xoa  (cây chĩa năm răng)

4- Cơ Ngạ  (đói)

5- Tiêu Khát  (khát)

6- Nùng Huyết  (chảy máu tươi)

7- Đồng Phủ  (búa đồng)

8- Đa Đồng Phủ  (nhiều búa đồng)

9- Thiết Khải  (giáp bằng sắt)

10- U Lương  (tối tăm)

11- Kê  (gà cắn mổ)

12- Hôi Hà  (tro than, sông nước)

13- Chước Tiệt  (chặt cắt)

14- Kiếm Diệp  (kiếm bén)

15- Hồ Lang  (chồn sói)

16- Hàn Băng  (băng lạnh)

Người sống trên thế gian mà phạm vào tội lừa gạt thiếu niên nam nữ, buôn bán trẻ em, cưỡng đoạt thân thể, tranh đoạt tài sản, không rành nghề hốt thuốc cho người làm tổn hại đến mắt, lỗ tai, tay, chân họ, không tha đày tớ già làm lụng cực nhọc, tham cầu lợi lộc mà làm mai mối hôn nhân, giấu giếm (khai gian) tuổi tác, cho đến nhà người hay sinh sự, làm điều dối gian, ăn nói dối trá phỉnh trên gạt dưới. Phạm tội loạn luân. Làm quan ăn của hối lộ…

Những người này khi chết, sau khi ở Nghiệt Cảnh Đài đã tra ra tội phạm nhiều ít, thời gian phạm tội lâu mau, có cố ý hay vô tình… thì cho quỷ tóc đỏ răng nanh dẫn đi đến địa ngục nhỏ tương ứng để thọ tội.

Thí dụ phạm vào tội loạn luân, bị cắt (thiến) thận, làm quan tính kế đảo điên, ăn hối lộ, bị nhốt trong hỏa xa, dối trá bị cát mây đen đè mình, xúi trẻ thơ lầm lỗi bị cầm trong ngục giá lạnh. Mãn kỳ thọ tội nầy thì chuyển sang ngục thứ ba để định tiếp. Người nào trên thế gian thường biết nói điều hay để giáo hóa người khác hoặc giúp người giác ngộ; thương yêu chúng sinh, dạy dỗ điều lành tốt cho trẻ em, không tàn hại côn trùng, bố thí thuốc men cho người bệnh, bố thí cơm cháo cho người nghèo đói, bố thí tiền bạc để cứu giúp người nghèo khổ, biết ăn năn tội lỗi đã lỡ gây tạo thì được miễn trừng phạt nơi ngục nầy, mà đưa thẳng xuống Điện thứ mười để đầu thai sang kiếp khác.

Vào ngày mùng một tháng ba, nên phát nguyện làm lành, phóng sanh, thì được Ngài Nhị Điện Sở Giang Vương phù hộ.

Điện thứ ba : Tống Đế Vương Dư, vía ngày mồng tám tháng hai, ty chưởng Hắc Thừng Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Lục Huyết Trì Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương bất kính tôn trưởng, xúi biểu người khác kiện tụng thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ tư, xem xét để gia hình phát ngục.

Ngục nầy nằm dưới tầng đá ngầm hướng Đông Nam đáy biển, tên gọi là “Hắc Thằng Địa Ngục” (dây đen). Có tất cả 16 địa ngục nhỏ như sau :

1- Hàm Lỗ  (muối mặn)

2- Ma Hoán Già Nữu  (gông xiềng)

3- Xuyên Lặc (xỏ gân)

4- Đồng Thiết Quát Kiểm (đồng sắt nạo gò má)

5- Quát Chi  (nạo chảy mỡ)

6- Kiềm Tễ Tâm Can  (đóng vào tim gan)

7- Oát Nhãn  (móc mắt)

8- Sản Bì  (phanh da)

9- Nguyệt Túc  (cắt chân)

10- Bạt Thủ Cước Giáp  (rút móng tay chân)

11- Hấp Huyết  (hút máu)

12- Đảo Điếu  (treo ngược rút lên)

13- Phân Tuỷ  (xẻ xương tủy)

14- Thư Chú  (ăn giòi bọ)

15- Kích Tất (đánh vào đầu gối)

16- Bà Tâm (bóp trái tim)

Người lúc còn sống khi làm quan, chẳng nghĩ ơn đức lớn lao của vua của đất nước, chúng sinh, mạng sống con người là quan trọng, chỉ biết hưởng thụ lợi lộc mà không làm tròn bổn phận, chẳng màng người dân khổ sở đói rét. Nếu là người dân thường thì thấy lợi bỏ quên ân nghĩa, chồng bất nghĩa, vợ chẳng hòa thuận, làm con nuôi được thọ lãnh ân huệ người ta mà muốn chiếm đoạt tài sản sinh ra vong ân bội nghĩa, đày tớ phụ ơn chủ nhà, binh lính phụ ơn của người chỉ huy, công nhân phụ ơn nghĩa giám đốc, hoặc phạm tội vượt ngục hoặc quân nhân đào ngũ, không làm tròn chức trách của trên giao phó… Phạm những lỗi trên mà không chịu sám hối thì tuy có làm điều lành đi nữa cũng không bớt được tội cũ (phải có sự ăn năn sám hối mới được)

Thêm nữa, những vị thầy phong thủy coi xem nhà cửa mồ mã cho người, học không đến nơi đến chốn, làm sai lệch mà lấy tiền người. Hoặc đào mồ cuốc mã thiên hạ, chiếm đất nghĩa địa. Hoặc dụ dỗ người làm việc phi pháp. Giết người lấy của, đi săn bắn bị cọp xé thây, gian dâm vợ người, sửa chữa giả mạo giấy tờ, người có di chúc gởi gắm cho mình mà không chịu thực hiện, đốt phá nhà cửa người, đòi nợ xiết của người khác, làm sách giả nguy hại đời sau…

Sau khi tra xét tường tận, sẽ cho Đại Lực Quỷ đưa vào tiểu ngục thích ứng chịu trừng phạt theo tội lỗi đã làm. Thọ hết hình phạt, lại chuyển sang ngục thứ tư để tra xét tiếp.

Ngày mùng tám tháng hai, nên phát nguyện và thực hiện việc làm lành, nếu theo Phật giáo nên tụng kinh sám hối nếu lỡ gây ra những tội đã nêu trên, thì sẽ được Ngài Tam Điện Tống Đế Vương hộ trì miễn giảm tội.

(Xem tiếp kỳ 2)

Thiên đàng và địa ngục

TÂM LINH

TRONG

TÍN NGƯỠNG

– Sadi HUỆ PHÚC

Lời giới thiệu : Qua bài viết của Sa di Huệ Phúc sau đây, chúng tôi đăng tải không nhằm để truyền bá tôn giáo hay giảng đạo lý đến bạn đọc trang “Thế giới Tâm Linh”. Chủ yếu chúng tôi dành đến bạn đọc tìm hiểu, thấy rằng trong cõi THIÊN – ĐỊA – NHÂN đều có mắt xích liên hoàn. Những chuyện làm phước làm lành hay dữ, có thể người đời không ai biết đến, nhưng “thần linh” lại có trăm tai ngàn mắt biết đến, nhằm tâu trình lên Trời Đất (Ngọc Đế và Diêm Vương) tính công tội mà thưởng phúc phạt ác như mẫu chuyện Mục Liên Thanh Đề do Sa Di Huệ Phúc kể dưới đây qua 10 cửa địa ngục, xin lấy đó cùng hướng thiện.

Blog THẾ GIỚI TÂM  LINH

Trong tín ngưỡng dân gian hay còn gọi “văn hóa tâm linh”, là hiện tượng do ngẫu nhiên, tức việc sùng bái mọi thứ gồm Trời Đất, Thánh Thần Tiên Phật và Ma Quỷ trong lòng mỗi người mà phát sinh.

Có những nguyên nhân trong việc tin vào cuộc sống có ba tầng là “THIÊN – ĐỊA – NHÂN’, khi mọi người nghĩ đến thần quyền. Thiên là Trời tức đấng Tạo Hóa sinh ra con người và vạn vật cầm sổ Sinh; còn Địa là Đất tức cõi Âm Ty nơi cầm sổ Tử khi con người đã hết số. Con người tức Nhân, đôi khi muốn cải tạo lại số mệnh, muốn trường sinh hay thêm tuổi Thọ, đều sống cuộc đời thánh thiện, tránh xa điều dữ làm nhiều điều lành để được Trời Đất “thưởng Phúc”.

Chính vì thế mọi người thường hay cúng tế Trời Đất khi tin vào Thần Quyền; và cách sùng bái có nhiều hình thức :

– Trời gồm : mặt trời, mặt trăng và tinh tú (tam thần)

– Địa có : sông, biển, núi, cây, đất, quặng mỏ (thuộc ngũ hành : Kim,  Mộc,  Thổ, Thủy, Hỏa).

– Nhân tin có : thánh, thần, ma, qủy và con người.

Tất cả những điều trên đều được mọi người sung bái trong tâm linh, vì tin rằng các đấng thần linh có thể ban phát cho họ mọi phúc lành và những may mắn trong đời sống.

Vì thế khi nói đến việc sùng bái Thiên – Địa – Nhân, người Á đông nói chung và người Việt nói riêng đều chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa cổ Trung Hoa từng xâm chiếm tâm hồn mọi người cả ngàn năm đô hộ;  nên đến ngày nay vẫn mang nhiều ấn tượng khi nghĩ đến Thiên Đàng và Địa Ngục, các vị Tiên Phật Thần Thánh, các loài ma quỷ ở sau hai cánh cửa trên.

A/- THIÊN ĐÀNG VÀ ĐỊA NGỤC

Khi đó mọi người đều nghĩ đến, sau cuộc sống trên cõi trần rồi sẽ đi đến cái chết, không biết lúc đó linh hồn sẽ sa xuống địa ngục hay lên được cõi thiên đàng ?!

Thiên đàng còn được gọi qua cái tên mỹ miều Bồng lai tiên cảnh. Là hình ảnh thật hay ảo nhưng được mọi người hình dung, nơi đây có Phật, Thánh, Thần, Tiên, Ngọc Đế, Giao Trì Vương Mẫu v.v… sinh sống cùng các linh hồn người chết.

Trong cõi bồng lai, những linh hồn người chết khi còn sống trên dương trần có cuộc sống thánh thiện, họ tránh những điều ác làm nhiều việc công đức giúp đời giúp người, nên khi chết đi linh hồn được phán quan luận công luận tội, thấy mang nhiều phúc hơn họa, sẽ cho lên cõi bồng lai mà hưởng phúc thọ đời đời.

Nơi cõi bồng lai, mọi linh hồn đều trở thành “thần tiên”, được sống trường thọ, hòa đồng bên nhau; ở đây không còn giai cấp kẻ giàu và người nghèo, nơi đó có vườn thượng uyển hàng ngày các vị thần tiên đến thưởng thức những vũ khúc nghê thường do Hằng Nga cùng các tiên nữ đàn ca múa hát, hay thưởng thức những bông hoa đẹp nhất trên thiên giới.

Tuy nhiên theo truyền thuyết, trên trời (Thiên) có hai địa giới rõ rệt :

– Một giới cho người tu đạo bao gồm Phật Tổ Như Lai và các vị Bồ Tát, trong Phật giáo gọi đây là miền Tây Phương cực lạc, có ngôi thứ nhất là Đấng Tạo Hóa tức Phật A Di Đà và ngôi thứ hai tức Đức Phật Thích Ca con của người từng được Phật Tổ sai xuống trần gian làm người cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Và ngôi thứ ba tức Đức Phật Di Lạc sẽ hiện hữu khi ngày tận thế đổ ụp xuống con người, ngài sẽ tiếp tục cứu độ, dẫn dắt chúng sinh đi đến miền đất mới xây dựng lại loài người.

Ở Tây Phương cực lạc chỉ có những người tu hành, ăn chay như Phật Tổ Như Lai, Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị Phật Bà Quan Thế Âm, các Đức Đạt Lai Lạt Ma, Kim Cương, La Hán, cùng Kim Đồng, Ngọc Nữ, các tăng lữ tu đắc đạo khi chết trở thành các vị Bồ Tát như Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, Hồng Hài Nhi…

– Còn giới tu tiên có Ngọc Hoàng Thượng Đế, Giao Trì Vương Mẫu, các vị Thần, Thánh và các chư Tiên. Ngọc Đế là vua cai trị nhà trời và cả trần gian, tổ chức như một quần thể chính quyền, có người trông coi vạn vât mang quyền hành tối đa. Những vị thần được Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉ định theo dõi cõi trần như :

– Thiên lý nhản : có con mắt nhìn thấu xuống mỗi người trên thế gian.

– Thuận phong nhỉ : có đôi tai lắng nghe từng tiếng nói hay tiếng kêu cầu khấn xin trong nhân loại.

– Thái Thượng Lão Quân : trông coi lò luyện thuốc trường sinh bất tử, cấp cho những ai đang sống trên thượng giới; Lão Quân còn biết chiêm đoán kiết hung cho nhà trời và trong vũ trụ quan, coi thời tiết bốn mùa xoay vần trên trái đất, để sai các thần linh điều chỉnh cho kịp thời đừng gây thiên tai đến loài người.

– Những tinh tướng nhà trời có cha con Lý Tịnh, Na Tra, Thiên lôi… trông giữ thiên đình không cho các loài ma vương bén mảng đến quấy nhiễu các thần tiên đang có cuộc sống êm đềm. Thiên lôi (còn là Thần Sét) có cây búa tầm sét, chém sắt như chém bùn, có nhiệm vụ sai đâu đánh đó, thường những kẻ làm ác dưới trần gian sẽ bị “quả báo nhãn tiền”.

– Nam Tào – Bắc Đẩu : hai vị tiên ông trông coi sổ sinh và sổ tử trong nhân loại.

– Ba ông Phúc Lộc Thọ : Ban phát phúc đức, tài lộc và tuổi thọ cho mọi người.

– Long Vương : (còn gọi Thần Mưa), tuy coi về sông biển (có Hà Bá, Thủy Thần phò trợ), nhưng là giống rồng được Ngọc Đế cho ở hai nơi, thượng giới và trần gian, có nhiệm vụ làm cho mưa thuận gió hòa, cho loài người có mùa màng tươi tốt sản sinh ra lương thực để sinh sống hàng ngày.

– Mỗi năm có một vị trong Thập Nhị Hành Khiển, trông coi sự biến đổi Âm Dương – Ngũ Hành trên trái đất, nếu có thiên tai lũ lụt hạn hán phải kịp thời báo cho Ngọc Đế xin các vị thần chuyên trách trợ giúp.

– Các vị thần khác như Táo Quân, Thổ Địa lưu trú hẳn dưới trần gian, cuối năm mới lên thiên đình chầu Ngọc Đế để báo cáo nơi các vị thần đang cai quản.

– Ngoài ra các vị Thánh dưới trần gian như Thánh Mẫu, Thánh Ông… được dân chúng dưới trần thờ cúng trang nghiêm tôn kính đã hiển Thánh, cũng sống trên tiên giới. Tùy theo mỗi vị Thánh được mọi người thờ cúng nơi đâu, hàng ngày có mặt để chứng minh lời cầu khấn của mọi người để kịp thời “thưởng phúc phạt ác”.

Còn những linh hồn người chết được xem là thần dân đang sống trong vương quốc thần tiên trên thượng giới, để một ngày lại được Ngọc Đế sai Nam Tào, Bắc Đẩu ghi tên vào sổ sinh, sổ tử cho xuống trần gian đầu thai sang kiếp khác.

Còn nói đến Địa Phủ (Địa), ở đây chỉ có một giới do Diêm Vương cai quản, gồm các Quỷ Sứ, Ma Vương cùng lũ đầu trâu mặt ngựa được phân công trông coi :

– Quỷ Sứ gồm các phán quan, mỗi người trông coi một ngục, dưới Địa phủ có tất cả 10 cửa ngục lớn (Thập Điện Diêm Vương) cùng nhiều cửa ngục nhỏ nên còn gọi là 18 cửa ngục.

– Ma Vương trông coi trên dương trần, mỗi người một hướng Đông, Tây, Nam, Bắc theo ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, còn Thổ là trung tâm do Diêm Vương cai quản; mỗi nơi có Địa Tạng trông coi các linh hồn. Ma Vương thường phối hợp với các vị Thần ở trần gian, trông coi lũ ma cỏ quậy phá dân chúng mà bắt về giao cho các cửa địa ngục trị tội.

– Hắc Bạch vô thường (còn gọi là Tử Thần) : Hai con quỷ mặt trắng mặt đen, chuyên đi bắt linh hồn người chết về địa phủ khi sổ tử ghi đã đến ngày tới số.

– Ma là những người chết sau khi chịu tội ở 10 cửa địa ngục, chờ được đầu thai kiếp khác. Những linh hồn người chết ở nơi chôn cất và nơi thờ cúng, cũng được gọi là hồn ma.

– Cô hồn : là những linh hồn khi chết bị oan ức chết bất đắc kỳ tử, hai con quỷ Hắc Bạch Vô Thường không thấy tên trong sổ tử nên không bắt xuống địa phủ. Những linh hồn này cứ đi lang thang trên chốn dương trần vất vưỡng vô định.

Nói về 10 cửa địa ngục, ta thử tìm hiểu qua chuyện :

B/- MỤC LIÊN – THANH ĐỀ

Chúng ta thường nghe kể chuyện, Mục Liên đi tìm mẹ Thanh Đề dưới 10 cửa địa ngục, chuyện này được phóng tác từ câu chuyện cổ Ấn Độ. Nội dung như sau :

– Vào năm 560 đến 482 Trước công nguyên (Tcn), Siddhartha Gautama vị Hoàng Tử của một vương quốc nằm phía Bắc nước Ấn Độ, năm ngài 29 tuổi thấy thần dân của mình sống đói khổ vì bị các giáo sĩ Bà La Môn hành hạ, và đời sống giữa người giàu và người nghèo quá chênh lệch.

Bởi lúc bấy giờ xã hội Ấn Độ được phân làm bốn giai cấp thống trị và bị thống trị :

Bậc thứ nhất : các giáo sĩ Bà La Môn, được xem là chủ mọi người từ vua xuống đến dân, ngoài việc lo tế tự cúng bái, tiêng nói của giáo sĩ Bà La Môn sẽ quyêt định tất cả.

Bậc thứ hai : giới Lý Đế Lợi tức hàng quý tộc coi về chính trị và hành chánh (Hoàng tử Gautama sống trong hàng ngũ quý tộc, nên khó xoay chuyển được những viêc nhũng nhiễu thất nhân tâm của các giáo sĩ Bà La Môn lúc bấy giờ).

Bậc thứ ba : là Phệ Xá tức hạng người trưởng giả, giàu có, địa chủ chuyên áp bức kẻ cùng đinh.

Bậc thứ tư : tức hạng cùng đinh, những người nghèo khổ trong thiên hạ, chỉ đi làm thuê cho giới Phệ Xá. Là hạng người đông đảo nhất trong xã hội.

Hoàng tử Gautama muốn cho hạng người cùng đinh bớt nổi khổ, nên ngài muốn đi tìm ý nghĩa cuộc sống mới cho mọi người. Vì thế ngài từ bỏ ngôi vị của một Hoàng tử, bỏ cả ba người vợ và một con trai để đi tu.

Cuối cùng ngài thành Phật, sáng tạo ra triết lý Buddha (tức Phật giáo) và tự đặt cho ngài một tên mới là Sakyamuni (tức Thích Ca Mâu Ni). Từ đó ngài đi thu nhận đệ tử và truyền bá kinh Tam Tạng (gồm ba quyển Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng).

Khi thành Phật, tại kinh đô của Phật Thích Ca Mâu Ni có một gia đình thuộc Phệ Xá, gồm vợ chồng và một đứa con trai.

Người chồng tên Phó Quân theo Phật giáo, luôn tu tâm giữ gìn đạo đức, hay bố thí cho người cùng đinh, nên ai ai cũng nhớ ơn ông. Trái lại bọn giáo sĩ lại ghét Phó Quân ra mặt, cho rằng ông đang đánh đổ miếng cơm manh áo bọn chúng.

Trái với chồng, bà Thanh Đề thuộc loại người ích kỷ thích hưởng thụ, làm chủ nhân mọi người, bà đi theo bọn giáo sĩ nên không muốn bố thí cho một ai, và còn hành hạ bọn người cùng đinh không thể ngóc đầu lên nổi sau một ngày làm việc cật lực.

Người con trai tên Mục Liên, càng lớn anh ta nhận thấy tính nết và cách sống của cha mẹ, người cha phúc đức nhân hậu còn người mẹ quá ác độc hà khắc. Mục Liên theo ý hướng của cha, anh cũng nhân từ hay bố thí cho người nghèo và sống theo triết lý nhà Phât, luôn luôn can gián mẹ bớt làm điều thất nhân tâm, đừng vào hùa cùng bọn giáo sĩ bắt nạt mọi người.

Thấy gia đình Phó Quân mọi người đi theo Phật hết, chỉ trừ bà Thanh Đề nên bọn giáo sĩ quyết nhổ cái gai Phó Quân ở trước mắt, ông thuộc giới Phệ Xá mà đi giúp đỡ đám cùng đinh hạ cấp sau trở thành tiền lệ cho giới Phệ Xá noi thoi. Bp5n giáo sĩ Bà La Môn liền sắp đặt cách giết Phó Quân rồi đổ cho bọn người cùng đinh đã giết hại ông để cướp của.

Khi cha mất, Mục Liên để tang cho cha đủ ba năm rồi bàn với mẹ Thanh Đề, phân chia tài sản làm ba phần, môt phần cho những người làm công và công đức cúng dường cho các chùa chiền, môt phần cho mẹ, còn phần của anh dùng đi buôn kiếm sống nuôi mẹ về sau.

Thanh Đề dù sao cũng là mẹ của Mục Liên, bà thương con không muốn Mục Liên chịu khổ cực nên can ngăn anh ở lại, vì bà vẫn muốn nuôi bọn người cùng đinh làm ra của cải như lúc Phó Quân còn sống. Nhưng Mục Liên nhất quyết ra đi, vì anh không muốn thấy bọn giáo sĩ hàng ngày đến nhà thăm mẹ bằng những lời phỉnh nịnh sau đó tổ chức tiệc tùng.

Khi Mục Liên ra đi, bà Thanh Đề với hai phần ba tài sản nắm giữ, vì bà chẳng cho ai mà cũng chẳng cúng dường cho chùa nào, lại nghe lời bọn giáo sĩ, hàng ngày thết tiệc cho chúng ăn uống no say.

Chỉ trong một thời gian ngắn tiền của cứ cạn dần, do bà không chịu làm ăn buôn bán, ngày ngày mở tiệc mời bọn giáo sĩ đến ăn uống no say. Khi thấy bà Thanh Đề đã hết tiền, nhà cửa cũng cầm cố, bọn giáo sĩ không thèm nhìn bà ta nữa. Còn những người cùng đinh nhớ ơn xưa của Phó Quân và Mục Liên, nên thường đến giúp đỡ bà Thanh Đề làm không lấy công, còn khuyên bà sớm giác ngộ đi chùa sám hối, lo tu tâm tích đức để khi chết được lên cõi niết bàn như Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thanh Đề nghe nói khi “cúng dường” cho các chùa chiền sẽ được hưởng phước lôc, nên bà đi mua gạo nếp về làm bánh dâng cho các sư sãi. Tuy nhiên người đến chùa thuộc nhiều giai cấp trừ bọn giáo sĩ Bà La Môn, họ đem đến dâng cho các tăng lữ nhiều thức ăn hơn bà, ngon hơn bánh của bà. Cho nên các tăng lữ chỉ thích nhận của họ hơn là nhận của bà ta.

Quá tự ti mặc cảm, bởi ngày trước bà Thanh Đề từng là Phệ Xá giàu có, ai cũng muốn kết thân, nay vừa mới khó khăn chẳng ai ngó ngàng đến, Thanh Đề nghĩ các tăng lữ này quá “trọng phú khinh bần”, nên rất căm giận quyết tâm trả thù.

Về nhà bà Thanh Đề bán hết số vật dụng quý giá còn để lại để có một số tiền to, lại được bọn giáo sĩ đến vấn kế hạ nhục các tăng lữ, cả bọn liền làm một món bánh có nhân thịt chó trộn với mật ong. Rồi mời các tăng lữ đến lập đàn trai tăng, cầu siêu cho Phó Quân, sau đó đem bánh nhân thịt chó ra mời các tăng lữ ăn.

Các tăng lữ theo phái Nam Tông bên người lúc nào cũng mang theo bình bát, phái Bắc Tông mặc áo thụng có cổ tay áo rộng, những thứ các tăng lữ dùng đựng của “cúng dường” mà bá tánh cho vào đó. Biết bà Thanh Đề cho họ ăn bánh có nhân thịt chó, nên các tăng lữ đã tráo bánh chay từ trong bình bát và cổ tay áo ra ăn, còn bánh nhân thịt chó lại bỏ vào trong người.

Đến khi về nửa đường các tăng lữ mới bỏ những cái bánh nhân thịt chó xuống bên đường. Từ đó mọc lên những cây hành, hẹ, tiêu, tỏi. Vì thế đến bây giờ giới tu sĩ Phật giáo không ăn những thứ gia vị nói trên, có lẽ họ nhớ đến món bánh thịt chó của bà Thanh Đề đã dâng cúng.

Còn bà Thanh Đề cùng bọn giáo sĩ rất khoái trá tưởng mưu kế trả thù của bọn họ thành công, nên đi rêu rao khắp nơi giới tăng lữ Phật giáo phá giới ăn mặn, ăn cả thịt chó thay đồ chay.

Cũng trong ngày hôm đó Mục Liên từ xa về đến nhà, thấy mẹ mình biết sám hối mời tu sĩ đến nhà lập đàn trai tăng cầu siêu cho cha, anh liền quỳ xuống lạy mẹ cám ơn. Nhưng có người hàng xóm nói nhỏ với Mục Liên về mục đích của mẹ anh khi lập đàn trai tăng, muốn cho các tăng lữ ăn phải thịt chó để rửa nhục đã khinh thường bà ta. Nghe tin này khiến Mục Liên đâm ngất xỉu, lúc tỉnh người anh mới hỏi mẹ những chuyện bà đã gây ra trong những năm anh vắng nhà, bà Thanh Đề liền thề thốt ngay với con :

– Nghe theo lời con nói, mẹ luôn kính tăng, thường ngày đi chùa cúng dường Tam Bảo. Làm gì có chuyện cho các tăng lữ ăn thịt chó. Nếu mẹ nói dối thì mẹ sẽ lâm bệnh mà chết ngay, linh hồn sẽ bị đày xuống các tầng địa ngục chịu mọi sự quả báo !

Lời nguyền của bà Thanh Đề liền được báo ứng, hôm sau bà ngã bệnh, thuốc thang chạy chữa bao nhiêu cũng không hết bệnh, và chỉ sau bảy ngày bà Thanh Đề qua đời.

Lúc bà Thanh Đề hấp hối, Mục Liên nhìn thấy rõ bọn quỷ sứ dẫn theo con chó đến lôi kéo, chân tay mẹ anh bị cùm xích, cùng linh hồn đi ra khỏi cõi dương trần. Mục Liên biết mẹ anh đã vướng vào lời thề hôm nào, nên trong lòng muốn “hồi hướng” cho mẹ. Mục Liên liền bán hết tài sản đem đến chùa cúng dường sám hối cho mẹ để mong bà sớm được siêu thoát, còn anh xuất gia tu hành để ngày ngày kinh kệ cầu xin cho mẹ sớm được siêu thoát đầu thai.

Sau ba năm Mục Liên trở thành một Sa di được mọi người tôn kính, anh muốn xuống Diêm phủ viếng thăm cha mẹ, nên lập đàn Mông Sơn đi tìm. Mục Liên ngồi nhập định, dùng phép thần thông phân thân đi đến cửa “Quỷ Môn” trình báo với Quỷ Vương gác cổng rằng :

– Tôi được Phật Tổ phong làm Sa di, nay vì thương nhớ cha mẹ nên muốn xuống địa ngục để thăm hỏi.

Quỷ Vương coi Quỷ môn, biết Mục Liên là người xuất gia tu hành, xem sổ tử không thấy có tên tức chưa tới số chết, nên rất kính trọng, liền đưa Mục Liên đi đến các cửa ngục tìm cha mẹ.

Qua hết 10 cửa địa ngục, Mục Liên chứng kiến được tất cả những ai làm ác trên dương thế sẽ nhận hậu quả ra sao, qua lời giải thích của Quỷ Vương :

Cửa ngục thứ nhất tên NHÂN QUAN : người bị móc mắt, kẻ bị chặt chân, chặt tay hay bị xẻo lỗ tai, lỗ mũi. Lý do : trên trần gian những người này từng lừa thầy phản bạn, thích dọa nạt mọi người. Thấy chuyện bất bình mắt vẫn làm ngơ, nghe chuyện hại nhau mà cứ như người điếc. Còn là bọn trộm cắp lấy tiền ăn xài.

Cửa ngục thứ hai tên XẢO MINH : các tội nhân đều bị treo ngược đầu xuống đất, tóc bị dầu chai đốt cháy. Người bị bọn ngưu đầu mã diện moi tim, người bị treo đập đầu vào vách đá. Lý do : khi còn sống thuộc hạng gian manh, thường vong ơn bội nghĩa. Có tiền thường hách dịch sai khiến những người nghèo khổ không tiền làm điều xằng bậy.

Cửa ngục thứ ba tên BÁC HOẠCH : trong đó thân thể mọi người tan nát, xương thịt ngổn ngang, máu me dầm dề. Cứ phải chết đi sống lại chịu hình phạt như thế mỗi ngày. Lý do : Không tin có quả báo trong trời đất, nên giết người không gớm tay, gây ra nhiều trận chiến đẫm máu làm chết nhiều người vô tội.

Cửa ngục thứ tư tên KIẾM THỤ ĐAO SƠN : mọi người đều ngôi trên cao chà người vào lưỡi gươm bén, làm thân thể cứ đứt lìa xương cốt, rả rời xuống sàn, ai không làm bọn quỷ sứ đánh đập không nương tay. Lý do : bọn này là người mua kẻ bán thịt thú rừng để ăn nhậu, vì cho rằng động vật càng hiếm ăn vào càng bổ dưỡng, bây giờ tùng xẻo từng đốt xương để thấy khi chúng giết thú rừng, bọn động vật đã đau đớn ra sao.

Cửa ngục thứ năm tên KHÔI HÀ NGỤC : bên trong có hơi nóng phà ra hừng hực, các tội nhân toàn thân đang bị lửa đốt cháy. Lý do : mang tội cố sát, kéo bè kéo cánh làm thứ “ông trời con” không xem ai ra gì, hay ra tay hà hiếp dân lành.

Cửa ngục thứ sáu tên ĐỒNG TRỤ : tất cả tội nhân phải ôm cây cột đồng đỏ lửa nên thân thể bốc cháy, lửa khói ngùn ngụt bên người. Lý do : Đây là bọn cậy quyền ỷ thế đọa đày người dân, thường ăn không nói có, tham nhũng, nhận hối lộ v.v…

Cửa ngục thứ bảy tên HÀN BĂNG : trong ngục lạnh giá hơn băng tuyết, các tội nhân trần truồng, da thịt nứt nẻ, máu rướm ra đóng thành nước đá đỏ lè. Lý do : khi sống bọn chúng hưởng phước giàu sang phú quý, ỷ có tiền của nên mắng chửi những kẻ cơ hàn nghèo khổ. Trời nóng lạnh vẫn sai kẻ cùng đinh làm việc vất vả mà không đoái hoài công xá.

Cửa ngực thứ tám tên HẮC ÁM : ngục thất hoàn toàn tối đen như mực, tội nhân luôn bị ma quỷ hiện ra quấy phá làm thần kinh hoảng loạn đến điên khùng. Thấy ngục Hắc ám tuy nhẹ nhưng thật ra nơi đây nhốt bọn không biết trắng đen, phải quấy, đúng sai. Đây còn gọi là U Minh ngục, tội nhân tuy sống trên đời không làm điều ác nhưng đầu óc u mê, tăm tối.

Cửa ngục thứ chín tên CANH THIỆT NGỤC : tội nhân bị lưỡi câu sắt móc cái lưỡi kéo dài ra cả thước, rồi làm trâu đi cày. Lý do : bọn tội nhân khi sống thường dẽo lưỡi, thêu dệt mọi chuyện hòng đem tư lợi về cho cá nhân, sống dối trá, nịnh hót. Nay phải kéo dài cái lưỡi của chúng mới đúng tội.

Cửa ngục thứ mười tên CAO TƯỜNG : có vách sắt dày cộm, tường cao trăm mét, lưới giăng kín bốn bề. Bên trong có bốn con chó đồng miệng khạc ra lửa, gầm thét đến đinh tai nát óc. Mục Liên chỉ nghe Quỷ Vương cho biết, tội nhân ở đây khi sống không biết tự do là gì, luôn bắt kẻ hầu hạ ở trong nhà không cho thấy ánh mặt trời, còn chửi mắng xa xả mỗi ngày. Bây giờ vào đây để sống với khung cảnh như ở trần gian.

Qua hết 10 cửa ngục Mục Liên không thấy Thanh Đề ở trong cửa ngục nào, còn Phó Quân không có dưới đây, khi chết ông có số lên cõi niết bàn sống bên Phật Tổ. Trên đường tìm mẹ, Mục Liên mới biết dưới địa phủ có tất cả 18 ngục thất, bọn tăng lữ “trọng phú khinh bần” cũng có mặt chịu tội, không được sống trong thế giới Phật trên cõi niết bàn.

Mục Liên còn nghe nói có ngục toàn lũ ma đói, đầu to như đầu trâu, bụng to như cái trống chầu, nhưng cổ chỉ nhỏ bằng cây tăm. Hình thù xấu xí không được ăn uống, khi nói toàn ra lửa.

Quỷ Vương cho biết, bọn tội nhân này khi sống có của dư đem giấu kỹ, để cha mẹ đói khổ không đoái hoài đến. Còn chê người làm phước là ngu đần không biết tích lũy phòng thân. Nên chịu tội bị bỏ đói.

Khi nghe Mục Liên nói không tìm thấy mẹ, Quỷ Vương liền lục sổ tìm giúp, mới hay bà Thanh Đề vướng phải nghiệp chướng quá nặng, bị đày vào ngục không được đầu thai đi kiếp khác, đời đời chịu hình phạt dưới Âm ty, hàng ngày bà phải ngồi bàn chông, đội máu tươi trên đầu, có lúc bị đưa vào chảo dầu sôi; hay vào cối đá xay thịt, vì lúc sống bà bôi bác tôn giáo, cho các nhà sư dùng thịt chó thay món chay, ức hiếp người bần hàn, khi có tiền phung phí nên có cả trăm tội phải chịu sự trừng phạt.

Mục Liên muốn được thăm mẹ nhưng Quỷ Vương cho biết, ngoài 10 cửa nục mà Mục Liên đã đi qua có thể vào thăm, vì các tội nhân này có thể xét cho đi đầu thai, tùy theo tội nặng nhẹ để làm người hay làm thú vật chuộc lại lỗi lầm trong kiếp trước. Còn những cửa ngục khác phải có lệnh của Diêm Vương mới được ghé qua, như tội của bà Thanh Đề đời đời chịu hình phạt dưới Diêm phủ.

Qua chuyên Mục Liên – Thanh Đề, cho thấy mọi việc ác dù nhỏ khi xuống dưới âm ty địa phủ đều phải chịu những hình phạt nặng nề, bởi không ai qua mắt được Thiên Lý Nhãn hay lời nói lọt khỏi tai Thuận Phong Nhĩ. Mọi việc được báo cho Ngọc Đế quyết định cho Nam Tào – Bắc Đẩu có rũ sổ sớm muộn hay không.

Theo thuyết, khi sống nam nhân có bảy vía còn nữ nhân có chín vía, khi chết chỉ còn Hồn và Phách.

Hồn tức linh hồn được phân làm ba, một ở nơi chôn cất, một ở nơi được thờ cúng và một xuống địa phủ chịu tội hay lên cõi bồng lai hưởng phúc thọ.

Khi đã có truyền thuyết như thế, mọi người tin rằng “người chết vẫn sống” bên cạnh họ. Nên ngoài việc cúng bái cho vong linh, có người còn “cầu thần nhập xác” để chuyện trò (lên đồng, cầu hồn)…

SA DI HUỆ PHÚC

XEM TƯỚNG BẾT MỆNH (2)

12 CUNG MỆNH TRÊN CHỈ TAY

– Thiên Việt

– ĐƯỜNG CHỈ TAY

Trong việc khám phá các bí ẩn trong “Thế giới tâm linh”, đường chỉ tay con người thường được xem là chìa khóa để mở cánh cửa mệnh lý mỗi người.

Các đường chỉ tay có rất nhiều trong lòng bàn tay, nam bên trái nữ bên phải, cả hai thường không giống nhau. Nếu là nam tay trái phải hiểu đường thê thiếp của mình sẽ ra sao, họ sinh được mấy con… Như bên tay trái đường tử tức (số11/ hình 4) có 4 đường chỉ tức dự đoán đương sự sẽ có bốn con, nhưng bàn tay phải chỉ có từ 2 đến 3 đường, tức đương sự sẽ có con ngoài giá thú hay có thêm thê thiếp, vì đường vợ chính có ít con hơn.

Các đường chỉ tay hai bên bàn tay luôn nói lên những liên đới giữa vợ chông, và các đường chỉ tay của đương sự cũng luôn liên quan với nhau.

Như xem đường Tử tức (11), các thầy tướng sô chỉ dựa vào sách tướng pháp mà giải đoán, nhưng nhiều người lại bỏ qua phần tính âm dương biến đổi, ngũ hành sinh khắc. Nên chưa phải đường tử tức thí dụ như trên đã đúng, vì muốn biết phải xem thêm cho đương sự các đường hôn nhân (6), sinh lực (7), sinh lý (8) hay đường tình dục (12), tất cả mới nói lên được sự thật (hình 16).

Trong “nhân tướng học” nói rất nhiều về các đường chỉ tay, như các môn Tử vi, Tử bình hay trong âm lịch 12 con giáp có quá nhiều tên các tinh đẩu vậy. Bàn tay cũng có quá nhiều đường chỉ phụ và đường chỉ tay phụ này không nói thêm được điêu gì mới mẻ.

Qua hình 4, chúng tôi chỉ sơ bộ ghi nhận 12 đường chỉ tay chính thường liên quan đến mỗi người :

1/- Đường Sanh đạo : còn được gọi là đường đời, sinh lão bệnh tử đều nhìn theo đường chỉ dài ngắn để đoán số mệnh yểu hay thọ. Tuy nhiên có những đường chỉ Sanh đạo quá ngắn hay bị đứt khoảng, người này vẫn sống thọ, là vì còn có đường trí đạo, tức Minh đường còn gọi đường người (2), đường Thiên đạo (3) còn gọi đường trời, và ngón tay cái tốt, hỗ trợ cho đường Sanh đạo, chế phục nét xấu.

Như đã nói các đường chỉ tay dù có tên riêng, tính chất riêng, nhưng không mang tính đôc lâp hoàn toàn, chúng luôn liên kêt hô trợ, chê ngự tính cát hung cho nhau qua các phân phúc đức từ quá khứ cho đên hiên tại.

Bình thường đường Sanh đạo xuất phát từ giữa ngón cái với ngón trỏ, nên :

– Nếu đường Sanh đạo bị cắt đứt nhiều khoảng, hoặc có nhiều đường chỉ phụ nổi bật đâm ngang, là biểu hiện về sức khoẻ, có bệnh từ bộ máy tiêu hóa.

– Nếu bắt nguồn từ ngón tay trỏ là người có tính kiêu căng, tự phụ, nhiều quỷ kế để đi đến mục đích của sự tham vọng; còn dưới chừng 3 đến 5m/m thì tính tình ngược lại.

– Nếu kết thúc gần cổ cườm tay là người thích phiêu lưu, ưa mạo hiểm, thích đối đầu với rủi ro, sống thọ, nhưng không tiền của, hậu vận bi đát. Nếu gặo dấu ngôi sao hay chữ thập có thể gặp tai ương khủng khiếp.

– Đường Sanh đạo bao quanh gò Hỏa tinh dương thuộc người nhiệt tình với mọi công việc, tính nhân hậu, giàu tình cảm và hay đa cảm. Nếu chỉ vào không sâu gò này thì tính ti tiện, ích kỷ và tham lam.

– Nếu đường Sanh đạo xoăn như ruôt gà, là có bênh về măt, cân thị, hay mù măt; có nhánh rẽ tức từ thân đường Sanh đạo có thêm nhánh phát sinh, có bệnh động kinh. Nếu từ đầu nguồn có nhiều đường chỉ đi qua, hay có cù lao, trong thời thơ ấu có nhiều bất hạnh, hoặc con ngoài giá thú.

– Nếu có nhiêu đường căt ngang, trong công viêc thường thât bại; nếu giống sợi xích thì suốt đời gian nan, có số lao tù; nếu không đều, đường chỉ lúc to lúc nhỏ là người bất nhất, ươn hèn; nếu rộng có màu đen thẫm có tính tàn bạo, thường là kẻ đâm thuê chém mướn, còn nhạt thì hoang dâm, hồng hào là được âm phù dương trợ.

– Nếu có đường Sanh đạo đôi, đường này sẽ chế ngự hay hay hỗ trợ thêm cho tính hung kiết của đường chỉ chính, nếu có dấu ngôi sao, tam giác chế ngự được tính hung mà đường chỉ chính không có.

2/- Minh đường (đường trí đạo) : Minh đường thể hiện về trí tuệ mỗi người, trong đó gồm trí thông minh, học vấn, tư tưởng.

Minh đường ở bàn tay phải xác định khả năng của đương sự và bàn tay trái thể hiện khả năng trong hiện tại và tương lai. Đó là người thuận tay phải, còn thuận tay trái thì xem ngược lại.

Đường chỉ tay này thường xuất phát theo đường Sanh đạo, tức ở giữa 2 ngón cái và trỏ.

– Minh đường tốt khi nó dài, sâu, rõ ràng và hồng hào, là người thông minh, có tính suy xét trước khi khởi đầu công việc, có tính trung trực, thanh liêm, giàu lòng bác ái, họ dạy người khác bằng cái tâm chứ không dùng quyền uy để khuất phục. Nếu đường chỉ rộng mà cạn thuộc người thiếu tự tin, lại hay hấp tấp nên việc làm dễ thất bại.

– Trên Minh đường có khoảng đứt ngang, thần kinh dễ bị khủng hoảng khi gặp những sự cố hiểm nghèo có thể dẫn đến trí nhớ kém. Có cù lao đề phòng có bệnh nặng.

– Hai đường Sanh đạo và Minh đường thường xuất phát chung một điểm, cùng dính nhau kéo dài là người có tính nhút nhát, không làm điều gì to lớn, trí tuệ không cao, phán đoán chậm chạp. Tuổi trẻ đã phải tự lập thân và hậu vận không có gì ngoài sự nghèo túng và bệnh hoạn.

– Minh đường ngắn tính theo chiều dọc vừa qua khỏi ngón giữa, là người có tính táo bạo, liều lĩnh, thuộc phường đầu trộm đuôi cướp. Gần đến ngón trỏ tính kiêu ngạo, không nghe ai dạy và cũng chẳng biết phục thiện.

– Minh đường tốt khi nằm ngoài đường Sanh đạo và xấu nếu xuất phát sau Sanh đạo. Nếu cong như lưỡi liềm là người có óc thực tiễn, thực dụng, thích máy móc tinh xảo; nếu đường chỉ này nằm trong lòng bàn tay hẹp là người mang nhiều tham vọng về tiền bạc và danh vọng. Nếu Minh đường bắt nguồn từ ngón tay trỏ chạy qua gò Thổ tinh sẽ nổi danh về đường nghệ thuật.

– Minh đường như hình chử S, một hướng lên và một hướng xuống, đương sự có thể trở thành lực sĩ, nhiều tham vọng trong thể thao. Còn Minh đường ở phần cuối đường chỉ có nhánh, nhưng đường chỉ chính chạy thẳng vào gò Mộc tinh là người rất tham vọng về danh vị và tiền bạc, cìn dưới gò này thuộc người có trí phán đoán tốt, khôn khéo, lịch thiệp, tư cách của một chính trị gia.

– Đang chạy xuống có đường rẽ, đường chỉ này báo hiệu có của hoạnh tài, nếu đường chỉ phụ chạy lên gò Thái dươnglà có số sang giàu, thành công trong các nghề về nghệ thuật như văn, thơ, nhạc, họa, điêu khắc, tạo mẫu. Còn bọc lên gỏ Thái âm thuộc người cuồng tín với thế giới thần bí.

– Minh đường bị đứt khoảng tại nhiêu nơi, là người kém thông minh, bênh tât, thân kinh thường suy nhược đên hôn loạn, mang triêu chứng của bệnh mất hay kém trí nhớ. Nếu sát vào gò Mộc tinh cần đề phòng tai ương, nhất là về chân tay bị tổn thương nặng.

3/- Đường Thiên đạo (đường tâm đạo, hay còn gọi đường trời) : là nhánh thứ ba trong ba đường chỉ tay chính, thông thường đường chỉ tay này xuất phát từ gò Kim tinh đi xuống lòng bàn tay qua vùng Hỏa tinh. Chủ về phúc đức quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu đường Thiên đạo tốt phải sâu dậm, rõ ràng, không quá rộng, hay quá hẹp và luôn có sắc hồng, có dấu ngôi sao xuất hiện, việc dự báo càng xuất hiện sớm. Những người có đường chỉ tay này luôn là người giàu sang phú quý suốt đời.

– Đường Thiên đạo mỏng, tính lạnh lùng, ít nói và không thích xen chuyện người khác, tiền của không thiếu thốn nhưng cũng ít làm việc thiện. Nếu rộng và cạn dễ cảm xúc, thương người nhưng tiền của không nhiều để ra tay cứu tế, tuy nhiên họ rất ghét kẻ gian dối, phỉnh nịnh để lừa đảo, nếu gặp phải họ thường tỏ thái độ phản ứng quyết liệt.

– Đường Thiên đạo sâu và ngoằn ngoèo, tính tình bất nhất, say mê dục vọng, nếu đường sinh lý (8) hay đường tình dục (12) có những dấu tam giác hay ngôi sao xuất hiện, hay thay người tình như thay áo, tuy nhiên cuối đời cũng sẽ chết vì tình. Nếu đường chỉ bị nhiều đường phụ cắt ngang, số lận dận trong trong tình duyên, hôn nhân và gia đạo.

– Nếu có nhánh rẽ về gò nào, hay phát sinh những đưởng chỉ phụ hồng đỏ sẽ phát huy các tính chất nơi đó, thí dụ rẽ về trí đạo, là luôn xáo trộn giữa lý trí với tình cảm, rẽ vào gò Mộc tinh là cha hay con trưởng đang phải giải quyết chuyện tình cảm, rẽ vào gò Thổ tinh coi chừng sức khoẻ suy yếu nếu gò này bị hãm, lõm và nám đen, còn nổi to, hồng hào thì sức lực cường tráng.

– Nếu Thiên đạo xuất phát từ ngón tay trỏ có kềm chế được dục vọng; nếu nằm giữa ngón trỏ và giữa rất thực dụng trong tình cảm và tình dục, nhưng thủu chung trong tình vợ chồng; xuất phát từ gò Kim tinh, tính háo sắc dâm dục sẽ phát huy mạnh nếu gò nổi lên, nữ giới thường làm nghề “bán trôn nuôi miệng”.

– Nếu đường Thiên đạo bị đứt khúc dưới ngón giữa là người yểu tướng, chết non; dưới ngón áp út thuộc người tự mãn, hay giữa ngón út và áp út thuộc người bần tiện.

– Đường Thiên đạo dài có óc thông minh và số đào hoa, nếu lấn sang Minh đường sẽ kém thông minh, đần độn. Nếu phần cuối đường chỉ Thiên đạo gặp Minh đường là người tính toán, tham vọng, dục tính gia tăng.

– Nếu đường chỉ Thiên đạo đậm và ngắn, khô cứng, các ngón tay gồ ghề thuộc dạng người nguy hiểm, hung bạo. Còn đậm, ngoằn ngoèo như như thừng sẽ giàu có, nhiều cuộc tình cháy bỏng nhưng cũng hay gặp những đối tượng dữ tợn, hoặc lợi dụng, nắm quyền.

1 Hinh 4 chi tay

4/- Đường định mệnh : thường chạy từ ngấn cổ tay hay từ gò Mộc tinh lên hướng ngón giữa, theo các sách tướng pháp thuộc đường chỉ phụ chỉ về cuộc đời. Thiểu số không có đường chỉ tay này, khi xem các thầy tướng số thường phối hợp ba đường chỉ tay chính để dự đoán.

– Nếu sâu đậm, rõ ràng sẽ có nhiều cơ hội thành công, có quý nhân phù trợ; nếu rộng và xám, không rõ ràng là người thiếu may mắn, còn mỏng là thiếu cương quyết, không có nghị lực khó thành đạt trong mọi công việc.

– Đường định mệnh có nhiều chỗ gãy, gấp khúc sẽ gặp thất bại khó thành công, thay đổi nghề liên tục; nếu gãy có dấu hình chữ nhật hay hình vuông thì thất bại càng tăng, số có của cải cũng tiêu tán sạch..

Đường chỉ tay định mệnh luôn gặp đường Thiên đạo và Minh đường cắt ngang, nếu là Minh đường thuộc người khó tiến thân trong xã hội, tình duyên trắc trở, gia cảnh khó khăn hiếm muộn con cái.

– Nếu xuất phát từ cườm tay chạy đến gò Thái âm, là có âm phù dương trợ, nếu dính đường Thiên đạo một khoảng xa, là gặp vợ hay chồng giàu sang, suốt đời dư ăn dư để. Nếu chạy đến gò Thủy tinh hay Thái dương không bị cắt đứt, không có nhánh rẽ, luôn thành công trên đường đời, được người trên che chở và thuộc về nam giới.

– Nếu gặp dấu ngôi sao nơi xuất phát hay cuối đường chỉ tay, là người có tính gian manh, nổi tiếng xấu xa. Chạy từ cổ tay thẳng đến giữa gò Kim tinh và Thái âm, sẽ gặp một trong hai chiều hướng “được làm vua thua làm giặc”.

5/- Đường chỉ Thái dương/ Thái âm (đường thành công) : nếu nam là Thái dương còn nữ là Thái âm. Thường từ ngón áp út chạy xuống, nhưng chỉ khoảng nửa số người có đường chỉ tay này.

– Nếu không có đường chỉ tay này thì hay gặp trắc trở, ít thành công, nên còn được gọi gọi là đường thành công. Nếu có sẽ xác định tính thành đạt và của cải vật chất mỗi người, cách sống sang hèn.

– Trên đường chỉ gặp những dấu cù lao hay bị gãy khúc, sẽ làm chậm trong công việc, tiền của bị phá tán; gặp dấu chữ thập cũng làm ngưng trệ sự phát triển trong công việc.

– Đường thành công càng dài, càng nhiều may mắn, nếu dứt điểm tại ngón áp út đều đặn, sâu, đậm thì thành công vào hậu vận.

– Nếu mất dần tại gò Thủy tinh, có số thất bại; nếu lu mờ thì hậu vận càng xấu thêm.

Đường chỉ thành công chỉ tốt đẹo khi sâu đậm, rõ ràng, và tươi hồng. Rộng mà không sâu sẽ ít thành công; có dấu lòi tói dây thừng, không đậm, chỉ thành công trên hình thức còn thực tế nhận những thất bại về tiền bạc (có tiếng nhưng không có miếng).

– Nếu đường chỉ gợn sóng, tính hay do dự, không dứt khoát nên dễ thất bại.

– Nếu khởi nguồn từ gò Thái âm, rất giàu trí tưởng tượng, ai có đường chỉ này thường viết những chuyện giả tưởng như thật.

6/- Đường hôn nhân : đường chỉ thường ôm lây 3 gò Môc tinh, Thô tinh và Thái dương, trong đó có đường Tử tức (11) và thường gặp đường Sinh lý (8).

Đường chỉ biểu hiện cho tính chung chạ giữa nam và nữ, nhưng không khẳng định về hôn nhân. Tuy nhiên sau đó có thể hình thành tình vợ chông nếu gặp đường Thiên đạo, tức số trời đã se duyên.

– Đường hôn nhân gần đường Thiên đạo, nói lên lúc mới vừa trưởng thành (từ 18 – 25 tuổi), gặp đường Thiên đạo là lúc thành nhân (từ 25 đến 45 tuổi) và xa đường Thiên đạo là vào hậu vận.

– Đường chỉ càng gần ngón út, có con không có giá thú, thay chồng đổi vợ nhiều lần, nếu trên đường Thiên đạo xuât hiên dâu măt xích, hoăc mỏng và trơn.

– Có nhánh rẽ làm đôi theo hướng Thiên đạo, vợ chồng có chiều hướng ly dị, ly thân.

– Đường hôn nhân dài, đâm, rõ nét, gãy đoạn, đứt khúc chạy vê gò Thái dương là có hôn nhân bền vững. Đậm, ngăn thì yêu cuông sông vôi, không bên; nêu mỏng và dài là người có biểu hiện của sự lạnh cảm, vô tình.

7/- Đường sinh lực : chồng chéo với đường sinh lý (8), đường tình dục (12) và Minh đường (trí đạo, 2), đường chỉ tay biểu hiện cho sức khoẻ và liên đới với các đường chỉ đã nói trên. Sâu, đậm, hồng, rõ ràng là người hoàn hảo, còn ngược lại là yếu kém, đầu óc chậm hiểu đi đến đần độn.

Bàn tay không có đường sinh lực là điều may mắn cho đương sự, vì nó chỉ mang đên nôi bât hạnh, nếu không có đường này, các thầy tướng xem qua những đường chỉ nói về sinh lý, tình dục để giải đoán, càng dễ dàng hơn.

– Nếu đường sinh lực xuất phát từ gò Hỏa tinh dương, đến đường trí đạo, thẳng và nằm xéo về gò Mộc tinh là tốt, ngăn ngừa các chứng bệnh tật nan y, gặp những đường sinh lý và tình dục, nếu đường sinh lực cong thì chuyện chăn gối nên giữ gìn nơi kín gió, vì thường hay xảy ra trường hợp bất đắc kỳ tử “trên mình ngựa” (nếu hậu môn có lông thì tránh được điều này).

– Nếu đường sinh lực gặp cả ba đường chỉ tay chính là Sanh đạo, Thiên đạo và Minh đường, có số chết yểu.

8/- Đường sinh lý : nối từ cổ tay đến gò Thổ tinh, nếu sâu đậm, rõ ràng, không bị gãy hay đứt khúc là người có giác quan thứ 6, linh cảm những chuyện xảy ra từ xa, đường sinh lý mạnh mẽ; còn bị gãy, đứt là người có đường tình dục kém cõi, nếu ngắn là bất lực.

Nếu có nhánh rẽ từ đường sinh lý đi ra, sâu, rõ hướng về gò Mộc tinh, là người vừa mạnh về tình dục lại thông minh về kỹ thuật tân kỳ.

9/- Ngấn cổ tay : thông thường có từ một đến ba ngấn, có người không có. Nếu cong lên ôm lấy bàn tay thì không có con cháu nối dõi, nhưng cuộc đời sung sướng với của cải vật chất làm ra.

10/- Đường du lịch (còn gọi là đường Thiên di) : có nhiều đường chỉ chạy song song theo gò Thổ tinh, nếu chạy dài vào đường định mệnh (4) cuộc đời thường đi xa nhà, xa quê hương. Thích hợp với nghề hướng dẫn du lịch, nữ là tiếp viên hàng không, đường sắt, đường thủy.

Đường Thiên di tùy thuộc vào đường định mệnh, nếu đường này sâu, đậm, rõ ràng thì mới phát huy được tính chất đặc thù. Còn đường định mệnh mà mờ, không rõ, tính chất này ít được phát huy.

11/- Đường tử tức : nằm ngay dưới ngón tay út trong gò Thái dương, là những đường chỉ nhỏ, xác định về số con cái của mỗi người (trong giá thú hay ngooài giá thú).

Thông thường đường Tử tức thể hiện rõ trên bàn tay đàn bà hơn đàn ông. Và tính tổng hợp về số con có sinh có dưỡng và vô sinh vô dưỡng (hư thai, phá thai).

– Nêu rộng và sâu là dương tính, mỏng và hẹp là âm tính. Những đường lu mờ là con vô sinh, vô dưỡng hay con sống èo uột thường uổng tử sớm.

– Nếu thẳng, sâu và rõ chứng tỏ con cái sinh ra khoẻ mạnh, đậm, dài là con thông minh hơn người.

– Nếu ngấn cổ tay ôm sát bàn tay là số không con.

12/- Đường tình dục : thông thường hay xuất hiện nối với hai đường sinh lực (7) và sinh lý (8), nhưng đa số người ít có đường chỉ này. Và nếu có đây thuộc về “yêu râu xanh”, một ngày có thể thực hiện chuyện chăn gối nhiêu lần không biết mệt.

Đường chỉ tay này biểu hiện cho sự ham muốn xác thịt  quá cường độ cho phép mỗi người, nếu bàn tay to và có đường tình dục thường thuôc người dùng quyên lực, hay sức mạnh đê đạt mục đích thỏa mãn xác thịt. Nữ giới có đường tình dục thường là người đa dâm, đồng tính luyến ái.

THIÊN VIỆT

XEM TƯỚNG BIỆT MỆNH (1)

1 Hinh 1A Tam dinh12 CUNG MỆNH

TRÊN MẶT

VÀ CHỈ TAY

– Thiên Việt

Trên trang viết “Thế giới Tâm linh” chúng tôi đã giải thích về nhân tướng (loạt bài : Xem tướng sửa mệnh”) nhưng chưa nói đến 12 cung mệnh trên khuôn mặt và trong đường chỉ tay của mỗi người. Bài viết sau đây là phần bổ sung cho loạt bài nói trên.

Trên khuôn mặt mỗi người thường chia ra nhiều phần như :

LỤC PHỦ, TAM TÀI, TAM ĐÌNH (hình trên)

Lục phủ bao gồm : hai xương hàm, hai xương gò má, hai phủ này tính từ góc hàm tới Thiên thương (hai bên trán); hai phủ giữa từ Mệnh môn (ấn đường) đến Hổ nhĩ (sống mũi); hai phủ cuối tính từ xương vai đến Địa các (cằm). Lục phủ có nghĩa Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cốc là kho tích trữ của cải, là nơi để sinh tồn.

Các phần xương hàm, xương gò má hay xương vai phải đầy, dày và cao thì cả đời no đủ; cần giữ không có vết khuyết lõm thì giàu sang. Trán cao (Thiên thương) nhiều tài lộc, cằm vuông (Địa các) có ruộng vườn cò bay thẳng cánh, nếu bị khuyết là không hợp cách.

Tam tài tức “thiên – địa – nhân” có liên quan với nhau. Cụ thể Thiên chỉ ở trán, Địa chỉ vào cằm và con người đang mang chúng. Cả ba đầy đặn, hài hòa thì được phú quý, trường thọ.

Tam đình được chia làm ba khu vực chính (xem hình) :

– Khu thượng tầng từ mắt, lông mày đến trán, liên hệ trực tiếp đến bộ óc bên trong, nói lên ý chí mỗi người.

– Khu trung tầng : gồm mắt, mũi, má và tai, liên hệ trực tiếp với bộ hô hấp và sự giao cảm mỗi khi có biến động.

– Khu hạ tầng : gồm cằm, răng, miệng, lưỡi, nhơn trung, liên hệ trực tiếp với phần hạ bộ và phần tiêu hóa.

Ba khu vực trên nếu được phân chia đều nhau, ta có thể dự đoán được người đó, luôn bền vững trên đường tạo dựng sự nghiệp.

Nếu thượng tầng cao ráo, trượt ra sau, sáng sủa là người có trí thông minh, biết tính toán nếu không nói là rất cần kiệm, trán gồ ghề là người hay suy nghĩ nhưng khắc khổ ; trung tầng dài hơn thượng và hạ tầng tính từ lưỡng quyền (hai bên gò má) rộng hay hẹp, nhất là sống mũi dài và cong là người đầy mưu lược nhưng cũng rất mưu xảo, tính tình khó ai dự đoán, tính háo sắc dễ bộc lộ; còn hạ tầng phát triển rộng và dài hơn thượng, trung tầng nói lên tính cách dâm đảng, bê tha, rượu chè, trai gái.

Ngoài phần xem Lục Phủ, Tam Tài, Tam Đình trên khuôn mặt còn xuất hiện 12 cung mệnh như là một lá số Tử Vi.

1 Hinh 1 cung12 CUNG MỆNH

Xem hình 1 chúng ta thấy trên khuôn mặt hiện ra 12 cung; cung Mệnh nằm tại Ân đường giữa hai hàng lông mày trên trên Sơn căn, và tính theo câu “nam tả nữ hữu” nếu có cùng một số nằm hai bên, có nghĩa ứng với nam hay nữ. (Lưu ý “ số sau bài chỉ vị trí trên hình vẽ).

Cung Mệnh (3) : Trước hết bàn về cung mệnh của mỗi người, nếu sáng như gương thì người đó có trí thông minh, học rộng hiểu nhiều, Sơn căn đầy đặn phẳng không lõm thì phúc thọ, từ Ấn đường chạy hết sống mũi (Thổ tinh) cao, thăng, bóng vươn mình giữa Kim, Mộc, Thủy, Hỏa tinh (trán, tai và miệng) được Thái âm, Thái dương (mắt trái, mắt phải) chiếu sáng, đen trắng rõ ràng thì giàu sang phú quý, phúc lộc mãn đường, giàu có ba đời.

Trán như chữ xuyên, mệnh thêm dịch mã xuất hiện có của hoạnh tài, còn trán bị lõm xuống trái lại cuộc đời cơ khổ; gặp lông mày nhỏ mỏng, như châu vào nhau sẽ nghèo hèn, nếu trán cao mày rậm thuộc cấp chỉ huy. Trán hẹp mày khô thì thường hao tài tán của.

Cung Tài bạch (9) nằm ngay đầu mũi, là tài tinh. Từ Ấn đường chạy xuống đều đặn, sáng loáng, lỗ mũi hẹp là người có chức vị cao, tiền của nhiều, và không để thất thoát. Cung này biểu hiện khi tiền vô là sáng và bóng, nếu mờ và khô là tán tài.Mũi như mũi kỳ lân, số sung sướng; như mỏ chim két, chim ưng thì bần hàn, mưu xảo; ngẩng cao để hở là số phải chạy ăn từng bữa.

Cung Quan lộc (2) ở ngay giữa trán, trên hợp với Ly (Ngọ, xem hình 5) lên đến chân tóc, cả đời khống náo tụng đình, có Dịch mã (12), Điền trạch (5) sáng sủa chầu đến là người chính nhân quân tử, hiển đạt mọi bề; nếu nhiều nếp nhăn xuất hiện từ tuổi trung niên, người luôn lo âu, số gặp nhiều điều phiền muộn, hao tài tốn của, chức vị không yên. Hai mắt đỏ thường sinh nóng tính, giải quyết sự việc theo cảm quan nên có khi phải gánh chịu hậu quả xấu.

Cung Tật ách (8) nằm giữa sống mũi dưới Ấn đường, Sơn căn (2,3) nổi cao, đầy đặn sức khoẻ bền bĩ, sinh lý dồi dào, tuổi thọ cao. Có dấu, bị lồi lõm là trong người có bệnh về đường hô hấp và sinh dục. Xương mũi nhọn lệch suốt đời bệnh tật; khí sắc mờ mịt tai ách kéo đến.

Cung Phúc đức (1) bên trái là Ông bà, bên phải là Cha mẹ, nằm trên phần Thiên thương có ảnh hưởng đến cuối khuôn mặt (cẳm), có Ngũ tinh chầu về (trán, mũi, miệng và hai lỗ tai) đầy đặn, hồng hào suốt đời hưởng phước lộc; có thêm Thái âm, Thái dương (hai mắt) sáng là người đạo đức, gia đạo hạnh phúc. Cằm tròn trán hẹp tuổi trẻ đã lao đao; trán rộng gò má nhọn hậu vận long đong. Mày cao mắt đứng số chỉ trung bình, mày trắng tai vễnh là người gian xảo, tiểu nhân. Cung phúc đức bên trái khô bên phải mềm, cha chết trước mẹ, chồng chết trước vợ.

Cung Phu thê (10) nằm hai bên gò má, má phải chỉ vợ, má trái chỉ chồng. Người có đuôi cá là kẻ tà dâm, háo sắc; bằng phẳng là người có trách nhiệm trong gia đạo, sống chung thủy, lấy nhau có của đưa về hay tạo ra sự nghiệp. Gò má cao nhô gần đến trán (được gọi Quyền tinh xâm thiên) là số nhờ vợ nhờ chồng, nếu lưỡng quyền nhô cao đưa xuống số đa dâm, ngoại tình, vợ chồng thường bất hòa sinh ly tán.

Cung Tử tức (7) nằm dưới hai mắt, trai bên trái, gái bên phải. Tam dương phẳng đầy con cháu được hưởng của cải cha mẹ để lại, đường nước mắt lõm sụt con cháu thường vô duyên phận, lông mi mượt mà con cháu có tiếng nhưng không có miếng.

Cung Huynh đệ (4) nằm giữa hàng lông mày, nam thuôc La hầu, nữ thuộc Kế đô. Lông mày dài qua mắt có từ ba bốn anh chị em sống hòa thuận, thương yêu trợ giúp lẫn nhau; lông mày hẹp mà thưa, góc cạnh ngay ngắn các anh chị em đều thành đạt; nếu thô, xấu, hai bên gần châu vào nhau anh chị em khắc khổ nhưng vẫn đồng thuận với nhau; lông mày hai kiểu thì khắc cha hay mẹ; lông màu xoắn anh chị em như chó với mèo, lưu lạc xa nhau.

Cung Nô bộc (11) nằm hai bên khoé miệng gần với cằm, biểu thị cho kẻ phục dịch (người ở, nhân viên dưới quyền), nếu đẫy đà tròn trịa thì người phục vụ biết hy sinh cho chủ, nếu bị lõm thường gặp kẻ phản phúc, không có người sai khiến. Cằm nhọn lệch, kẻ phục dịch thường lấy oán trả ơn.

Cung Điền trạch (5, 6), điền là đất đai, ruộng vườn còn trạch nói về nhà cửa, bất động sản. Nhà nằm hai bên Thiên thương (thái dương) trên xương gò má, còn đất đai nằm trên mắt dưới lông mày, tức mi mắt.

Nếu có mạch máu đỏ đi xiên mắt thì số không có đất đai, bên thái dương bị trán che khuất (trán vồ) thì không có nhà; xương gò má thấp đầy đặn có nhà cao cửa rộng. Đôi mắt mở to, sáng trong là suốt đời giữ được nhà đất; mắt phượng lông mày cao, gia sản cứ cộng thêm. Còn hai mắt khô trái lại nhà đất khó giữ; mắt vàng như lửa báo hiệu tán gia bại sản.

– Cung Thiên di (12) ở góc lông mày còn gọi là Thiên thương (thái dương), gặp đầy đặn, thần sắc sáng sủa thì không lo ngại có sự dời đổi, ly hương. Cuối đuôi mắt bằng phẳng, bừng bừng sáng loáng báo hiệu dịch mã xuất hiện, tiền vận dễ thăng quan tiến chức, hậu vận hưởng thú an nhàn hay đi du lịch. Góc trán thấp, lõm xuống đến già vẫn chưa yên hay có đổi dời. Lông mày dài đến Thiên thương phải chịu ly hương, phá tổ.

Như đã nói, trên khuôn mặt mỗi người đều có 12 cung mệnh như một lá số Tử Vi, lá số này do trời đất chấm số cho mỗi người, và nó sẽ được thay đổi theo vận khí, tức được trời đất “ban phúc” mỗi khi làm điều lành hoặc “phạt ác” khi làm điều dữ. Những cung này sẽ thay hình biến dạng.

Và để nắm rõ kiết hung trên đó cũng hiện ra vận khí theo từng thời gian :

1 Hinh 2 luu nien– LƯU NIÊN

VẬN KHÍ

Trên mặt mỗi người còn chia 12 cung, để tính vân khí cho năm tháng ngày giờ (hình 2), các thầy tướng khi xem đại tiểu hạn, họ sử dụng thuyết Âm dương Ngũ hành sinh khắc, biến đổi của Can Chi 12 con giáp trong thuật biện chứng : lấy Can Chi năm, tháng, ngày hay giờ để tính với 12 cung đang thể hiện trên khuôn mặt mà giải đáp các phần kiết hung.

Tý (dương Thủy) từ cằm (địa cát) lên đến Nhơn trung, Sửu (dương Thổ), Hợi (âm Thủy) nằm hai bên khoé miệng thuộc cung Nô bộc.

Dần (dương Mộc), Tuất (âm Thổ) hai bên lưỡng quyền (gò má) thuộc cung Phu Thê.

Mão (âm Mộc), Dậu (âm Kim) hai bên thái dương (thiên thương) thuộc cung Thiên di.

Thìn (âm Thổ), Thân (dương Kim) thuộc hai mắt, Tỵ (âm Hỏa); Mùi (dương Thổ) thuộc hai tai và Ngọ (dương Hỏa) thuộc trán (từ ấn đường xuống đến cuối mũi).

Trong thuật biện chứng hiện tượng khí sắc thể hiện trên 12 cung, đã diễn giải qua các phần trên để tính sinh khăc, biến đổi của Âm dương, Ngũ hành theo từng hạng mục.

– MỘT SỐ TÍNH CÁCH (Hình 3)

– Trán : Trán rộng đều đặn chưa thể nói thông minh, nhanh nhẹn, phải như nét gạch thẳng hàng từ đỉnh trán đến sống mũi mới mang yếu tố trí tuệ.

Trán trượt ra sau là người hoạt bát, tâm hồn cao thượng nhưng cũng hay nhút nhát, rụt rè khi phải quyết định một việc quan trọng.

Trán đứng có 2 loại, một, từ chân mày lên tóc là người kém thông minh, chỉ số IQ thấp, tính khô khan cộc cằn; hai, trán đứng hai phần ba trước khi đến chân tóc, là người thích suy nghĩ, khôn khéo và phát ngôn có ý nghĩa rất sâu sắc.

Tai : Lỗ rai vễnh lên, to có danh vọng; cụp xuống là quý tướng, có thể là thủ lĩnh của một trong hai phái chánh tà. Tròn to giống quân cờ tướng có tài sản lớn; dái tai chảy thọng xuống số có căn tu. Có màu đen không đều phải tha hương lập nghiệp, kham khổ đến cuối đời; mỏng như giấy là nữ nhân sớm góa bụa, bần cùng. Như tai chuột rất bần tiện, không thọ.

1 Hinh 3 tinh cachLông mày : cao hơn mắt sắc thanh có oai quyền, dài được sống thọ, cong như lưỡi liềm thông minh, nhân hậu. Mướt có số sang giàu, đỗ cao. Lông mày dày rậm nhỏ nhắn (lá liễu) thuộc hàng háo sắc, đa tình. Dài quá con mắt tính trung thực, giàu sang, sống lâu; ngắn thì tính tình khô khan, sống cô độc. Đuôi mắt ngang với tóc mai  thông minh, dáng người tuấn tú. Lông mày thưa ít anh chị em và hay vô tình bạc nghĩa. Mày mọc không thẳng hàng sinh con trai nhiều hơn gái, còn có vằn lại hay gặp chuyện không may.

– Ấn đường : sáng tỏ là người tri thức, trí thức thuộc bậc hiền tài; mở rộng có quyền chức to. Sáng mịn gặp được nhiều điều may mắn; trật hẹp trước lông mày thì gia đạo thường đỗ vở, vợ chồng không chung thủy, ngoại tình. Có màu đen vây hãm coi chừng liên quan đến công quyền.

Sơn căn : Sáng tươi không hề gặp tai ách; cao mà rộng học giỏi tài cao, hậu vận vinh hiển, vinh hoa phú quý. Thấp mà đen có bệnh kinh niên khó lòng chữa trị. Khô mà không nhọn thì tai nạn đưa đến.

Mắt : đẹp và dài như chim phượng được cất nhắc nhanh lên địa vị cao sang, như cá giếc là có tiền của. Mắt lộ màu trắng đục số lãnh đạo gặp thất bại. Đồng tử có hằn đỏ sẽ gặp lôi thôi đưa đến pháp đình; đỏ mà tròng vàng thuộc hàng yếu tử. Hay láo liên như mắt rắn sẽ gặp độc hình, như mắt ong lồi thì cô độc; như mắt lươn thuộc hạng lừa đảo.

Mũi : to biểu hiện sự đa cảm, nếu khép lại là người sống tiện tặn, không hoang phí, mở to là tiêu xài hoang phí không giữ được tiền của, gia đạo thường bất hòa nhưng không đi đến đỗ vở. Nếu sống mũi nhỏ thon, nhưng lỗ mũi phình ra là người đa cảm. Như mỏ chim ưng là người nhiều mưu sâu quỷ kế; có ba ngấn sẽ cô độc, còn lõm xuống số không sống gần anh chị em ruột, họ hàng. Nếu lộ ra thì tính sợ chết, nhát gan; đầu mũi thịt sa xuống rất đa dâm, hám tiền, nếu tròn, đầy đặn trái lại giàu sang. Mủi hếch để hở thì dễ chết đường, tẹt thấp thường có tư tưởng rối loạn.

Nhơn trung (nằm trên môi trên dưới lỗ mũi) : sâu mà dài, sống thọ, có con cháu đông được hưởng phúc lộc; ngắn, cạn lại ít con cháu, sống yểu. Cao và dày gần như không thấy rảnh , thường chết non hay không con nối dõi.

Pháp lệnh (hai bên khoé mũi, trên khoé miệng) : nếu rõ là có uy quyền, giàu sang phú quý; còn ngắn lại nhọn sẽ nghèo hèn chết yểu. Dài đến cằm được hưởng phước thọ đầy đủ. Ngắn mà quặp vào miệng số bần cùng, bọ xung phá dễ tù tội, còn có ngấn tròn dài sẽ cơm no áo ấm.

Hoan cốt (xương gò má) : cao, đầy có uy quyền, ngang với ấn đường, sơn căn muôn người dưới quyền, mỗi bên không đều thì bại gia; còn thấp không cân xứng với khuôn mặt là người thiếu nghị lực. Gò cao nhọn đưa xuống, đa dâm, ăn hiếp chồng, sát phu, còn đưa lên có người hỗ trợ. Có màu xanh hãm anh chị em không đoàn kết, màu trắng hãm anh chị em có người gặp nạn tai.

Miệng : cong như cánh cung làm quan đến tam, nhị phẩm; đỏ thắm như son là giàu sang phú quý, nhưng không thọ , nữ “hồng nhan bạc mệnh”, nam “bất đắt kỳ tử” (thường sống tròn 3 con giáp).

Câu “đàn ông miệng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”, nên nữ nhân mà miệng loa vừa tan hoang cửa nhà, vừa đa dâm, nếu nhỏ nhắn là biết cần kiệm, thủy chung. Miệng rộng, lưỡi mỏng lại là người có lòng từ tâm, vui tính, giàu có; mở miệng hở răng thì “khẩu xà tâm Phật”.

Môi : thâp không cao sớm gặp đói nghèo; có màu gan gà suôt đời bân hàn, màu đỏ hồng có của để dành, xanh đen (tái) thì chết đường vì đói. Gặp môi khuyết lõm là người hà tiện, bủn xỉn. Hai môi không ngay là bất nhất, xảo quyệt.

Răng : trắng có tính vui vẻ cởi mở, tiền tài đầy đủ; lóng lánh như màu bạc là người quý phái, sang trọng. Như hột lựu trắng có của hoạnh tài, công danh thăng tiến; có răng rồng sẽ sinh quý tử. Lợi răng lòi ra cửa miệng, có tính bép xép, không giấu kín được chuyện gì; răng khít không hở là người hà tiện, giàu có nhưng lại không hay làm phước, nếu thưa thì của cải không còn.

Đến tuổi không đủ 30 cái răng thì yểu thọ, mọc đầy đủ thì đời sống không khổ; mọc từ 36 đến 38 răng thuộc hàng chỉ huy, lãnh đạo.

Lưỡi : lưỡi lớn miệng nhỏ là người ăn nói hay ấp úng, không hoạt bát, số bần hàn; còn ngược lại ăn nói ứng xử hay nhưng thường xảo ngôn. Lưỡi ngắn mà lớn tính lười biếng, nhỏ mà dài có số làm quan, nhân tâm tốt; dài liếm đến mũi thuộc hàng quý tướng, giàu sang, như lưỡi rắn là người hiểm độc, dâm ô và tính toán.

Tóc : dài mà thưa thuộc người có trí thông minh, phú quý, trường thọ; ngắn cứng thô không đen thường có tính can đảm chịu cơ cực; tóc mai rối, khô, thường ưu sầu, người hay nóng nảy, tính cô độc; tóc ngã vàng, khô nếu không nghèo cũng yểu tử, t; tóc hoe đỏ sẽ có tai nạn

Đầu tóc mịn, dày và thơm, tướng giàu sang, trường thọ. Tóc thô cứng, dài thuôc người hạ tiên, chết non.

Hai bên lỗ tai không có tóc mai thì tính ác độc; tóc mọc lan đến lông mày, mọc nhiều giữa trán sẽ gặp nhiều tai ách nếu không cũng bệnh tật.

Râu : râu mép, tóc mai mượt mà có dáng người thanh tú, quý phái, danh tiếng. Có râu cằm, ria mép mà khô thì nóng tính, bần hàn; còn mọc ngược thì hay xung khắc với mọi người, tâm địa không liêm chính.

(Xem tiếp bài 2)

MAI HOA DỊCH SỐ (4)

MAI HOA DỊCH SỐ Bài 4 (Hết)

Bai 1-1Thể và Dụng

trong quẻ

Mai Hoa

– Thiên Việt

 

– KHẢM QUÁI (6)

Maihoa- Q Kham– Thuộc hành Thủy. Gồm 8 quẻ Khảm dưới đây, mang tính vạn vật hung kiết như sau :

– Thiên thời : Mưa, mặt trăng, tuyết rơi, sương mù.

– Địa lý : hướng chánh Bắc, nơi sông hồ, khe rạch, suối, giếng nước. Nơi đất ẩm thấp, sình lầy.

– Người : thứ nam (ở giữa), người giang hồ, người sống trên ghe thuyền, quân trộm đạo.

– Tính tình : bề ngoài tỏ ra mềm mỏng nhưng trong lòng đầy mưu kế gian manh, thường mượn gió bẻ măng, lòng đầy ích kỷ và nham hiểm.

– Thân thể : Tai, thận và máu huyết.

– Thời gian : Mùa Đông tháng 11, năm tháng ngày giờ : Tý. Ngày tháng : 1 và 6

– Động vật : Heo, cá và những động vật sống trong nước như tôm, cua, ốc, hến v.v…

– Tịnh vật : Trái cây có nước (dừa), vật có hột (mít, sầu riêng, xoài v.v…), Đồ vật hình vòng cung, những chai sành sứ đựng rượu, đựng nước.

– Nhà cửa : nhà hướng về chánh Bắc, ở gần nơi có nước, nếu ở nhà sàn hay thủy tạ hay ở gần sông biển, nơi ẩm thấp.

– Gia đạo : thường không yên ổn, vợ chồng bất hòa, ám muội, đề phòng trộm cướp vào nhà.

– Hôn nhân : có tài lộc khi gả về cho thứ nam, nam giới nên ở rể hay ở riêng về hướng Bắc. Hôn sự nên làm lễ thú phạt mới bền. Không nên cưới hỏi vào những tháng tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).

– Ăn uống : thịt heo, cá, rượu, vị lạnh, hải vị, thức ăn nguội, thức có máu (huyết bò, huyết heo…), trái cây có hột, vật sống dưới nước, nhiều xương.

– Sinh sản : thường nguy hiểm khi sinh nở, thai con dạ tốt nhất là thứ nam, những tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không có lợi mà thêm tổn thọ, tổn tài. Khi sinh đi theo hướng Bắc.

– Cầu danh, lợi : có tai hãm, bất lợi. Nền cầu về những nơi thuộc sông nước. Nuôi thủy, hải sản đắc địa hay sản xuất nước giải khát. Đề phòng có nữ tiểu nhân phá phách, mất trộm, hay tai tiếng.

– Mưu vọng : không nên mưu sự chuyện gì vì không thành công. Vào Thu – Đông nếu có mưu sự cũng vừa tầm, dưới tay mới đem lợi lôc vê.

– Giao tế : nên gặp nhau nơi có sông nước, biển hồ, bàn những việc thuộc cá, muối, nước uống sẽ thành.

– Xuất hành : không nên đi xa, đi bằng thuyền bè đường sông sẽ hợp hơn đường bộ.

-Bệnh tật : về tai, tim, thận, dạ dày, hay cảm gió, lạnh bụng và máu huyết.

– Quan sự : có tiểu nhân quấy rối khó thắng kiện, gặp nguy nan, khốn đốn.

– Mộ phần : Huyệt hướng Bắc tốt.

– Số thích hợp : 1 – 6

– Ngũ sắc : hợp màu đen

– Ngũ vị : chất mặn và chua.

– CẤN QUÁI (7)

Maihoa- Q Can– Thuộc hành Thổ. Gồm 8 quẻ Cấn bảng dưới đây, mang tính vạn vật hung kiết như sau :

– Thiên thời : Mây mù, khí bốc từ núi lên.

– Địa lý : hướng Đông Bắc, gần vách núi, gò động, các nơi chôn cất (nghĩa trang).

– Người : thứ nam, người nhàn rỗi, người ở núi.

– Tính tình : tiến thối không nhất quán, tâm tính tráo trở, thích nơi vắng vẻ, tĩnh mịch.

– Thân thể : Tay, ngón tay, sống mũi, lưng, và cương.

– Thời gian : Thuộc tháng Đông Xuân tháng chạp, năm tháng ngày giờ : Sửu, hay thuộc về Thổ, ngày thích hợp 7, 5 và 10 âm lịch.

– Động vật : cọp (hổ), gấu, những gia cầm có cánh, những con vật có mỏ đen.

– Tịnh vật : đất, đá, dưa, vật màu vàng, vật ở trong đất (quặng, mỏ)

– Nhà cửa : nhà thuộc hướng Đông Bắc, gần núi đá, gần đường lô, đường cái.

– Gia đạo : người trong nhà không hòa thuân, bât ôn, gây trở ngại cho công viêc. Mùa Xuân thường lo lăng.

– Hôn nhân : khó thành tựu hoặc lớn tuổi mới có hôn sự chính thức. Có lợi khi lấy thứ nam, nên lấy người xa nơi chôn nhau cắt rún. Mùa Xuân không nên cưới hỏi.

– Ăn uống : những gì sống từ đất, thịt loài thú ngoài gia cầm, măng tre ở đồng, các món ăn thuộc đồng quê.

– Sinh sản : sinh khó ách nạn nguy hiểm. Không nên sinh vào mùa Xuân, khi sinh đi hướng Đông Bắc có lợi.

– Cầu danh, lợi : trắc trở ít thành công, nên đi về hướng Đông Bắc, chốn núi rừng, nghề thích hợp về rừng (kiểm lâm), thợ săn thú.

– Mưu vọng : mưu sự đều không đúng sở cầu sở nguyện, tiến lùi cứ phân vân.

– Giao tế : nên bàn về đất đai, mùa Xuân thường bất thành, có nhiều trở ngại khi giao tiếp.

– Xuất hành : trở ngại không nên đi xa bằng đường bộ.

-Bệnh tật : tật tay, ngón tay, ở tì vị.

– Quan sự : có quý nhân giúp cũng không thành, thưa kiện thường kéo dài hao tốn, đừng nên dính líu.

– Mộ phần : Huyệt tại hướng Đông Bắc, táng vào mùa Xuân không có lợi. Mộ nên gần núi đá, đường lộ.

– Số thích hợp : 5 – 7 – 10

– Ngũ sắc : hợp màu vàng.

– Ngũ vị : những chất ngọt.

– KHÔN QUÁI (8)

Maihoa- Q Khon– Thuộc hành Thổ. Gồm 8 quẻ Khôn dưới đây, mang tính vạn vật hung kiết như sau :

– Thiên thời : Mây u ám, khí mù.

– Địa lý : chọn hướng Tây Nam, bình nguyên làng mạc.

– Người : mẹ vua, bà lão, người nông dân, người đồng hương,người có bụng bự, nhân chứng.

– Tính tình : nhân hậu nhưng hẹp hòi, ích kỷ, nhu nhược trước mọi người.

– Thân thể : thịt bụng, lá lách, dạ dày.

– Thời gian : Những tháng tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, năm tháng ngày giờ : Mùi, Thân. Ngày tháng hợp : 5 – 8 – 10.

– Động vật : con trâu, ngựa cái.

– Tịnh vật : những vật mềm, hình vuông, vải tơ lụa, ngũ cốc, xe, búa, đồ sành sứ.

– Nhà cửa : nhà trệt, nền đất, về hướng Tây Nam, nơi yên tĩnh có khoảng trống rộng rãi chung quanh.

– Gia đạo : âm thịnh nhưng yên ổn hạnh phúc, vào mùa Xuân có xung khắc.

– Hôn nhân : vợ chồng đồng hương có lợi lộc mang đến, hoặc cưới gả với người góa vợ góa chồng. Mùa Xuân không có lợi trong cưới hỏi.

– Ăn uống : thịt trâu, bò, thú nuôi ở đất, thức ăn uống có vị ngọt, những món đồng quê (khoai lang, bắp nướng, cá lóc nướng trui, bún sáo măng…).

– Sinh sản : dễ sinh con. Mùa Xuân có tổn thất hay bất lợi cho cha mẹ, có sinh đi về hướng Tây Nam.

– Cầu danh, lợi : ở hướng Tây Nam có lợi về đất đai. Nghề nghiệp thích hợp cán bộ địa chính, xây dựng, thầy phong thủy. Mùa Xuân thường không như ý.

– Mưu vọng : mưu sự chuyện gì cũng khá thành công, nhất là mua bán đất đai, ruộng vườn; hãy giữ tính khiêm nhường ít nói sẽ có lợi hơn khi nói nhiều.

– Giao tế : gặp vào mùa Thu thường thất bại, vào mùa Xuân sẽ khá thành công, nhất là bàn công việc về cây cối đồ dùng bằng gỗ, vật mỹ nghệ bằng tre, trúc.

– Xuất hành : đi về hướng Tây Nam, đi đến những vùng chưa đô thị hóa băng đường bộ, mùa Xuân bất lợi về tiền bạc, và thường xảy ra tai nạn.

-Bệnh tật : ở bụng và tỳ vị, kém ăn, ăn không tiêu.

– Quan sự : được cảm tình với người thừa hành công vụ, những người chung quanh nên mọi việc hanh thông trở lại

– Mộ phần : nên táng nơi đất ruộng, bằng phẳng nhưng chỗ thấp. Táng vào mùa Xuân bất lợi.

– Số thích hợp : 5 – 8 – 10.

– Ngũ sắc : hợp màu vàng và đen.

– Ngũ vị : những chất ngọt nhất là mía, đường.

Sau khi đã đã toán quẻ bạn đã có quẻ Thượng và Hạ với các trị số của quẻ đơn, bạn muốn xem về nhà cửa thì so sánh mục “Nhà Cửa” giữa 2 quẻ Thuận hay Nghịch. Nếu THUẬN là tốt còn NGHỊCH tức xấu.

– THỂ VÀ DỤNG

Mai Hoa Dịch Số lấy năm tháng ngày giờ cho bất cứ việc gì, từ bản mệnh hay mọi viêc cần được phân tích cho tính cát hung.

Nên chỉ lấy Thể và Dụng làm cách giải đoán trong các nguyên tắc toán số, không cần lập lá số chằng chịt những tên tinh đẩu như Tử Vi, hay rườm rà như Hà Lạc, Tử Bình.

Môn Mai Hoa lấy chính quẻ làm Thể, tức chủ một sự việc đang quan tâm, biến quẻ là Dụng, tức diễn giải tính cát hung của sự việc, còn quẻ Hổ là chỉ trung gian, bổ sung cho chính quẻ và biến quẻ, tức xác định và tăng giảm tính chất của chủ đề tại Thể.

Trong các cách giải đoán môn Mai Hoa, các nhà chiêm bốc thường lấy ngũ hành sinh khắc, tính cho Thể và Dụng để tìm thấy tính hung kiết ngay tức thì.

DỤNG KIỀN :

– Sinh Thể : công việc có sự vui đến như dự án, thưa kiện, cưới hỏi, tài lộc, chức vị đều thành công, thành đạt. Có lợi về kim quỹ, có quý nhân, người cao tuổi giúp đỡ từ tinh thần đến vật chất.

– Khắc Thể : có triệu chứng lo lắng về công việc, hay gặp buồn phiền trong gia đạo, có thể bị trộm cướp, hao tài, tốn của. Tâm tư thường không ổn định vì đang lỗi với những người trên trước.

DỤNG ĐOÀI :

– Sinh Thể : tài lộc nằm ở hướng Tây hoặc do người từ hướng Tây đem đến. Nhận nhiều tin vui từ bạn bè và người trong thân tộc, hội họp có lộc ăn uống vui vẻ.

Công việc nên kinh doanh về ngành kim ngân, vàng bạc (tiệm vàng, tín dụng, thị trường chứng khoán) sẽ đem đến nhiều lợi lộc.

– Khắc Thể : không có tài lộc đến, lại mang khẩu thiệt, thị phi, tai tiếng, nhiều sự rối ren trong công việc. Có tiểu nhân quấy nhiễu từ trong gia đạo đến ngoài xã hội. Coi chừng bị hình thương, tai nạn xe cộ khiến có thương tích, hoặc do ăn uống sinh bệnh.

DỤNG LY :

– Sinh Thể : có tài lộc về hướng Nam, hay có người từ hướng Nam mang đên. Tin mừng về văn chương, thơ phú hay nghề nghiệp, làm những nghề liên quan đến bếp lửa như xưởng đúc kim, bếp ăn, sử dụng đa số bằng đồ dùng kim loại rất có lợi trong sự nghiệp.

– Khắc Thể : bị quấy rối hay gặp hỏa hoạn. Có nhiều âu lo từ hướng Nam đưa đến, liên quan đến quan sự, không thắng được nếu sự việc có dính đến thiếu nữ (thuộc hàng gái thứ), thơ văn, lửa, màu đỏ, màu tía, kim khí… Vì có kẻ tiểu nhân ném đá giấu tay, nên đừng nên nóng tính mà gây ra họa lớn khó chữa.

DỤNG CHẤN :

– Sinh Thể : có lợi khi khai thác những sản phẩm về rừng mà phát phú quý. Có tin mừng trong nghề nghiệp do từ hướng Đông đưa đến, kinh doanh mua bán về lâm sản, đặc sản rừng sẽ có lợi nhuận cao. Người đứng vai trưởng nam sẽ may mắn khi Dụng sinh Thể.

– Khắc Thể : Thường lo lắng sợ sệt, trong lòng không yên ổn. Gia đạo lắm tai biến sinh chuyện buồn phiền, vợ chồng bất hòa. Tài lộc mất mát, hao tổn do chuyện kinh doanh, có kẻ từ hướng Đông đến quấy nhiễu. Coi chừng bị rắn cắn đến thập tử nhất sinh.

DỤNG TỐN :

– Sinh Thể : chủ thể thuộc Mộc nên có ảnh hưởng tốt những gì thuộc về lâm sản (cây cối, thú rừng), nhưng phải ở về hướng Đông Nam mới thật sự đắc quẻ.

Có người mang tài lộc và cả chuyện hỉ sự đến nhà. Kinh doanh nghề trà, cà phê là hợp, vì những ngành hàng này thuộc thảo mộc.

– Khắc Thể : Mưu sự thường không thành trong mùa Thu, có người tranh thương trong kinh doanh, nếu có tư tưởng bất nhất sẽ thất bại trong công việc, cần dứt khoát không nhu nhược, mềm mỏng sẽ gặp bất lợi.

DỤNG KHẢM :

– Sinh Thể : Có người từ miền sông biển, ao hồ hay từ hướng Bắc đến đem tin mừng cho chủ thể. Kinh doanh về thủy hải sản sẽ đem đến nhiều lợi nhuận, hoặc đóng ghe thuyền, dệt lưới đánh cá đều thành công, và những nghề thuộc về Thủy, như nước giải khát, rượu bia, nước mắm …

– Khắc Thể : Có hiểm họa, trộm cướp nếu đi trên sông nước về hướng Bắc, vào những tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đề phòng người sống bên sông biển gây thù chuốc oán, hay do từ bia rượu mà thành, bị hại khi ăn uống, hay khi trà dư tửu hậu gây ra khẩu thiệt.

DỤNG CẤN :

– Sinh Thể : có công việc hay người từ hướng Đông Bắc đem đến nhiều tin vui, nhất là tài lộc, đắc thể khi kinh doanh đất đai, những thú nuôi trên đất và cả cây cối. Gia đạo yên vui, mọi sự yên ổn và đều có hậu tốt.

– Khắc Thể : trăm việc đều gặp trở ngại, hao tài về những việc liên quan đến người nhàn rỗi (thường hay bất thiện, dã tâm), những người thuộc hàng thứ nam hay người từ rừng núi trở về. Đề phòng tai họa từ hướng Đông Bắc trong ba tháng mùa Xuân, hay mộ phần ông bà cha mẹ không yên ổn vì sụp lỡ.

DỤNG KHÔN :

– Sinh Thể : rất vui mừng với tin về đất đai (nhất là về ruộng rẫy, hoa màu), có người đồng hương quý mến đem chuyện hỉ sự đến nhà. Sẽ có nữ nhân đến làm lợi cho chủ thể. Kinh doanh ngành hàng rau quả, vải lụa sẽ thành đạt.

– Khắc Thể : có lo lắng về đất đai, ruộng vườn hoặc bị tiểu nhân hãm hại. Vợ hiêp đáp chông, có nữ nhân quây rôi trong gia đạo khiến không yên ổn trong công việc. Mùa Xuân đề phòng bị trộm viếng, nếu kinh doanh ngành tơ lụa dễ bị thất thoát, kinh doanh về ngũ cốc sẽ thua lỗ nặng.

– VƯỢNG VÀ SUY

Khi đã tính sinh khắc trong Dụng và Thể, khi xem môn Mai Hoa còn tính đến vượng và suy, tức môn “Quái khí tượng” gồm 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

– Mùa Xuân quẻ Tốn – Chấn (Mộc) vượng sinh Thể, mùa Thu suy nên khắc Thể.

– Mùa Hạ quẻ Ly (Hỏa) vượng sinh Thể, mùa Đông suy nên khắc Thể.

– Mùa Thu quẻ Kiền – Đoài (Kim) vượng sinh Thể, mùa Hạ suy nên khắc Thể.

– Mùa Đông quẻ Khảm (Thủy) vượng sinh Thể, bốn tháng tứ quý (còn gọi là tứ mộ) Thìn, Tuất, Sửu, Mùi suy nên khắc Thể.

– 4 tháng tứ quý Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc quẻ Cấn – Khôn (Thổ) vượng sinh Thể, mùa Xuân suy nên sẽ khắc Thể.

Khi khí vượng mà gặp sinh Thể là đại cát, gặp khắc Thể sẽ xấu, nếu Thể đã suy còn gặp khắc thì đại hung. Còn Thể suy nhưng được Dụng sinh sẽ bớt tính hung.

– THẬP ỨNG

Bai 1-3Gồm : 1. Chính ứng, 2. Hỗ ứng, 3. Biến ứng, 4. Phương ứng (hướng), 5. Nhật ứng, 6. Khắc ứng, 7. Ngoại ứng, 8. Thiên thời ứng, 9. Địa lý ứng và 10. Người ứng.

1- Chính ứng : là do chính quẻ ứng ra theo lời tượng 64 quẻ Dịch. Tính cát hung còn tùy thuộc vào 2 quẻ Thể và Dụng sinh ra từ biến quẻ.

2- Hỗ ứng : từ quẻ Hỗ ứng ra từ lời tượng 64 quẻ Dịch, làm tăng giảm ý quẻ, tính chất hung kiết.

3- Biến ứng : từ quẻ biến ứng ra, căn cứ vào 2 quẻ đơn thượng và hạ lấy làm Thể và Dụng, tính ra mọi sự cát hung.

4- Phương ứng (hướng, vị trí phương vị) : lấy Thể làm chủ thể, từ hướng nào đến, nếu sinh Thể hay bình hòa với với Thể là tốt, nếu khắc Thể là xấu.

5- Nhật ứng : cũng lấy Thể làm chủ thể, xem ngày (thuộc Dụng) có sinh Thể không (ngày lấy cung mệnh trong Lục thập hoa giáp để đoán). Nếu sinh Thể hay bình hòa là tốt, còn khắc Thể sẽ xấu.

6- Khắc ứng : thuộc về biện chứng và tam suy luận trong thuyết Ngũ hành sinh khắc.

Thí dụ : Thổ khắc Thủy, Thủy hao nhưng Thổ cũng kiệt, bên khắc và bị khắc đều có tổn hại. Nếu bị khắc (tức Thủy) là khắc nhập rất xấu, còn khắc (tức Thổ) là khắc xuất cũng xấu, nhưng thuộc diện “tiền hung hậu kiết” và “ngư ông đắc lợi”.

Nói về biện chứng và tam suy luận (tam yếu) : khi nước (Thủy) bị đất (Thổ) ngăn cản, nước không thể xâm thực, nhưng đất cũng phải cố lấy sức ngăn chặn đường nước tiến nên có hao tổn. Đó là tiền hung, còn hậu kiết khi nước tiến không xong nhưng đã làm thấm đất, nhờ đó đất không khô cằn mà trở nên màu mỡ.

Nhưng trên đất không chỉ có đất, còn có các loài thảo mộc (Mộc) sinh sôi nảy nở nhờ đất, Mộc vượng nhờ Thổ khắc Thủy, đấy là do khắc ứng mà có tức Mộc thuộc về dạng “ngư ông đắc lợi”.

7- Ngoại ứng : tức ứng ngoài quẻ. Khi Thể Dụng được xem là nội quẻ thì phần ứng là ngoại quẻ, tức thêm một cấp dự đoán của môn Mai Hoa.

Thí dụ : Thể và Dụng ứng việc bàn thảo việc mua bán vải sợi, có thành công không. Phải xét đến các yếu tố ngoại cảnh lẫn không gian, thời gian.

Ngoại cảnh là, thiên hạ đang chuộng hàng vải nào ? Như Soie (bằng sợi tổng hợp), Katé (bằng sợi pha giữa tổng hợp với cotton) hay vải (chỉ bằng sợi cotton).

Thông thường vải dệt sợi tông hợp chỉ thích hợp vào hai mùa Đông Xuân bởi chúng giữ nhiệt trước cái lạnh, còn vải Katê, Cotton được chuộng vào những mùa Hạ Thu, vì mau hút mồ hôi, tản nhiệt v.v…

Không gian là, thông thường thiên hạ đi mua sắm vải vóc may mặc vào những dịp lễ hội, và nhất là Tết dương lịch hay Tết nguyên đán.

Thời gian là, có cận hay còn xa những ngày lễ tết.

Từ các yếu tố trên mới hình thành việc bàn thảo thành công hay thất bại, quẻ ứng là tốt mà ngoại cảnh, không gian, thời gian không phù hợp, việc thương thảo này chỉ đi đến một kết quả mang tính xã giao, không được như ý v.v…

9- Địa lý ứng : thuộc về bản sắc nghề nghiệp của người xem, nếu là người đang sinh sống hay làm việc ở nơi núi rừng, sẽ thuộc quẻ Chấn, Tốn (Mộc), ở miền sông nước thuộc quẻ Khảm (Thủy), ở nơi nhiều quặng mỏ, nơi chế tác kim loại đen và màu thuộc quẻ Kiền, Đoài (Kim), ở nơi có nhiều lửa (bếp ăn, lò rèn, lò đúc hay những người vợ nội trợ) thuộc quẻ Ly (Hỏa), hoặc nơi nhiều đất cát, gạch, đá thuộc quẻ Cấn, Khôn (Thổ), đấy là Dụng.

Tính được bản sắc địa phương hay tính chất nghề nghiệp rôi tính với quẻ Thê đê biết sinh khăc.

10- Người ứng : tức xem sinh khắc từ yếu tố con người, vì mỗi người mang tính tương hợp với một số người trong xã hội (xem phần”Bát quái vạn vật”), khi xem phải biết đối tác của người xem thuộc nam hay nữ, già hay trẻ, sống ở phương nào, địa vị ra sao thuộc Dụng, tính với quẻ Thể để biết sự sinh khắc giữa Dụng và Thể.

Trên đây là Thập ứng khi xem một quẻ môn Mai Hoa, nhưng có thể không sử dụng hết 10 phần ứng trên, cũng đã dự đoán được tính cát hung, vì chính quẻ và quẻ biến đã có xác suất đến tám, chín mươi phần của sự việc. Đồng thời môn Mai Hoa còn cho thấy tính thực dụng ngoài quẻ đã toán số, như tính đến ngoại ứng, địa lý ứng, người ứng v.v…

THIÊN VIỆT