TỬ VI ĐÔNG PHƯƠNG THÁNG 10/2018

Từ ngày 1/10/2018 đến ngày 31/10/2018

NĂM MẬU TUẤT (Bình Địa MỘC – Cây sống trên đất)

Kiến NHÂM TUẤT – Tiết HÀN LỘ (thuộc Chín ÂL, Thiếu)

Ngày vào tiết Hàn Lộ : 8/9/2018 (tức ngày 29 tháng 8 ÂL)

Ngày vào khí Sương Giáng : 23/9/2018 (tức ngày 15 tháng 9 ÂL)

Hành : THỦY (Đại Hải Thủy – Nước biển lớn – Sao : Ngưu

Tháng TÁM âm lịch (kiến TÂN DẬU) chỉ ứng từ ngày 1/10/2018 đến hết ngày 7/10/2018 dương lịch. Qua ngày 8/10/2018 DL đã đi vào tiết Hàn Lộ Lộ (ngày 29 tháng 8 AL, lúc 17g36 phút), tức chính thức vào tháng CHÍN âm lịch thuộc kiến NHÂM TUẤT, về Tiết Khí cũng đã vào tháng CHÍN AL, mà mệnh vận phụ thuộc vào Tiết Khí. Về Ngũ hành là ĐẠI HẢI THỦY tức “Nước biển lớn”. Tháng này do sao Ngưu tọa thủ :

Sao NGƯU KIM NGƯU tức con TRÂU thuộc hành KIM, nằm hướng Bắc, một sao do nhóm sao Huyền Vũ cai quản. Sao xấu mọi sự.

NGŨ HÀNH SINH KHẮC THÁNG CHÍN ÂL :

Ngũ hành tương sinh tương khắc trong tháng CHÍN (thiếu) – HÀN LỘ ÂL, mang ngũ hành là ĐẠI HẢI THỦY thuộc Dương Thủy, mang tính kiết hung đối với những người mang Ngũ hành bản mệnh như sau :

A/- Tốt với người mệnh MỘC (sinh nhập – Thủy sinh Mộc – Kiết) và THỔ (khắc xuất – Thổ khắc Thủy – thứ kiết)

Tuy Kiết hay thứ Kiết nhưng cũng nên xét đến biện chứng trong sinh khắc của ngũ hành nạp âm, vì tương sinh tương khắc trong tháng CHÍN – NHÂM TUẤT ÂL, chỉ tốt hoặc xấu với từng Ngũ hành nạp âm như :

Với mệnh MỘC kiết, gồm các mệnh Đại Lâm Mộc. Bình Địa Mộc, Tùng Bá Mộc các hành Mộc khác thuộc thứ kiết.

Với mệnh THỔ gồm : Lộ Bàng Thổ, Đại Trạch Thổ, Sa Trung Thổ, còn các mệnh Thổ khác chỉ thuộc thứ kiết

B/- Xấu với người mệnh KIM (sinh xuất – Kim sinh Thủy – hung) và HỎA (khắc nhập – Thủy khắc Hỏa – thứ hung).

Với mạng KIM xấu gồm các mạng kim.

Với mệnh HỎA thứ hung gồm các mạng  Hỏa trừ Thiên Thượng Hỏa khác hành Hỏa bán kiết bán hung

C/- Còn các người mệnh THỦY đều tốt

Nhưng lưu ý bạn đọc :

Trong Âm Lịch luôn có 2 tháng liên tiếp mang cùng một Ngũ hành, nên việc kiết hung từ đó cũng ảnh hưởng đến vận hạn mà nhiều người cứ nghĩ theo Ngũ Hành Sinh Khắc như nêu trên. Mệnh tốt xấu nặng nhẹ còn do sinh vào âm tuế hay dương tuế phần Nạp Âm (nạp âm như đã phân biệt ở trên và về Ngũ Hành phần trên).

Như tháng NHÂM TUẤT (tháng Chín AL) những người sinh năm tháng ngày Dương (các năm tháng ngày Dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) sẽ không có biến chuyển về kiết hung vì rằng do gặp Lưỡng Dương nên không sinh biến động. Ngược lại, người sinh năm, tháng, ngày Âm (vào các năm tháng ngày Âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý), do tháng có Dương có Âm sẽ có sinh biến động kiết hung về vận mệnh.

ẢNH HƯỞNG QUA CÁC TUỔI :

TUỔI TÝ :

Bính Tý (Thủy, 23 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : tháng 10 này đang có vận khí tốt đẹp. Mọi mưu sự tuy không có biến động về kiết hung nhưng không phải lo lắng, kết quả như ý, tiền bạc đến tay, tình cảm an vui. Tuy nhiên với nữ mạng, cần đề phòng gặp tiểu nhân lợi dụng sinh hao tài, và trong giao dịch cần giữ gìn vật có giá. Nhưng chớ ưu phiền vì có âm phù dương trợ gặp may mắn từ tài lộc cho đến tình cảm, nhưng đề phòng “mật ngọt chết ruồi” đấy.

Giáp Tý (Kim, 35 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : tuy không có biến chuyển trong mưu sự nhưng không nên thực hiện việc lớn, vì tháng khắc kỵ vận mệnh sẽ không tốt đẹp, nam mạng đề phòng tiểu nhận dòm ngó tranh phản kiện thưa dù có quý nhân ra mặt phù trợ. Tiền bạc và tình cảm đều có lo lắng ưu phiền. Nữ mạng cũng chưa nên dự tính công việc gì mới vì sẽ gặp thất bại hơn thành công do năm này gặp sao Thái Bạch chiếu mạng, cẩn thận trong tình cảm hay tiền bạc có kẻ muốn lợi dụng lòng tin. Tránh đi xa và nhất là vùng sông nước.

Nhâm Tý (Mộc, 47 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : tháng này may mắn tốt đẹp với mạng Mộc, nên thực hiện mưu sự mới nếu có sẽ gặt hái kết quả như mong muốn, bởi mưu sự đang có vận hội tốt, tình cảm tài lộc đến tay vui vẻ. Nữ mạng tháng tốt nhưng vận xấu, mong chờ biến chuyển trong mưu sự nhưng chưa có tin tức như ý, có quý nhân trợ giúp sau mọi việc sẽ được như ý, tình cảm, tiền bạc gần cuối sẽ phấn chấn hơn.

Canh Tý (Thổ, 59 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : tháng này không có biến chuyển nên trong mưu sự chỉ diễn tiến bình thường, nam mạng nên thực hiện mưu sự mới do có vận hội tốt đến nhưng gặt hái kết quả không nằm trong tháng này, trong giao dịch cẩn thận giấy tờ hay vật có giá trị. Nữ mạng mưu sự mọi việc trong tầm tay sẽ gặt hái kết quả, tình cảm an khang, hạnh phúc, tài lộc có của hoạnh tài đưa đến trong tháng này.

Mậu Tý (Hỏa, 71 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : vận mệnh tháng này đang xấu, chớ manh động mưu sự việc mới, mọi việc sẽ thất bại nhiều hơn thành công, chưa có biến chuyển về tiền bạc còn gặp tản tài, tránh tranh luận kẽo có tai tiếng thị phi. Nữ mạng tiền bạc gặp trắc trở bế tắc, công việc nhiều ưu phiền đưa đến, đề phòng tật bệnh, gia đạo có tin. Tránh đầu tư dù là việc nhỏ.

TUỔI SỬU :

Đinh Sửu (Thủy, 22 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : nam mạng tháng này vận xấu còn đeo bám, có âm phù dương trợ nhưng chớ tự tin quá mức, có chuyển biến trong mưu cầu công việc, về tiền bạc gặp bế tắc trắc trở, gia đạo ưu phiền, có tin tức bất ngờ. Nữ mạng, trong mưu sự có biến chuyển như ý, do có âm phù dương trợ tiền bạc đã hết trắc trở bế tắc, nhưng không quá tin người có thể ân hận, cẩn thận với tật bệnh nên sớm chữa trị.

Ất Sửu (Kim, 34 nam Kế Đô nữ Thái Dương)) : tháng này mưu sự, tiền bạc đều đang trắc trở, bế tắc nhưng chưa đến phải lo lắng ưu phiền, nam mạng đề phòng tiểu nhân lợi dụng chớ quá tin người mà gặp tai tiếng. Nữ mạng tiền bạc đang gặp lo lắng phải chịu đựng tháng 9 và 10 AL, công việc còn trắc trở, tình cảm tuy có gặp gỡ nhưng chớ tin người bởi tháng này chưa gặp may mắn.

Quý Sửu (Mộc, 46 nam La Hầu nữ Kế Đô) : tháng này có biến chuyển trong mưu sự trong chiều hướng may mắn tốt đẹp, công việc và tiền bạc có quý nhân trợ giúp sẽ thuận lợi như dự tính, tình cảm tốt đẹp. Nữ mạng tháng này có thể thực hiện mọi mưu sự sẽ thành công đưa đến tình cảm gia đạo an vui, tiền bạc có hoạnh tài, đi xa tốt.

Tân Sửu (Thổ, 58 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : tháng tốt đẹp cho nam mạng dù trong vận xấu, có chuyển biến trong mưu sự trong chiều hướng may mắn từ công việc đến tài lộc, đề phòng bị lợi dụng, cẩn thận khi di chuyển, tình cảm gia đạo tốt đẹp. Nữ mạng công việc trong chiều hướng tốt đẹp, nhưng chưa nên vọng động nên trong chiều hướng bình thường về tiền bạc, tình cảm gia đạo an vui.

Kỷ Sửu (Hỏa, 70 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : tháng xấu vận xấu nhưng không đáng lo, tuy có biến chuyển về mưu sự trong chiều hướng may ít rủi nhiều, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến tiền bạc, tháng này chưa nên phát huy dự tính mới, nên nhẫn nại chờ cơ hội, gia đạo có ưu phiền. Nữ mạng mưu sự trắc trở, tiền bạc không như ý, Cẩn thận khi đi xa, dự báo sẽ làm hao tổn tiền bạc, trong giao tiếp  đề phòng tiểu nhân và các giấy tờ có giá trị.

TUỔI DẦN : cuối Tam Tai

Mậu Dần (Thổ, 21 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : tháng không có biến động về kiết hung nhưng sinh hoạt bình thường không kiết không hung, nam mạng cố giữ gìn lời nói chớ tự mãn khoa trương kẽo gặp tiếng thị phi, tuy nhiên vận may nhiều hơn vận rủi, trong mưu sự về tiền bạc hết lo lắng ưu phiền. Nữ mạng có âm phù dương trợ nên về tài lộc toại nguyện, công việc như ý, tình cảm gia đạo có tin vui đưa đến..

Bính Dần (Hỏa, 33 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Tháng này về mưu sự thật sự chưa tốt đẹp, vận hạn khắc kỵ cả nam lẫn nữ nên tiền bạc chưa đến tay, tình cảm được chú ý nhưng chớ vội tin tưởng kẽo phải lầm lẫn. Nữ mạng mưu sự và tiền bạc đang có trắc trở bế tắc, có tiểu nhân dòm ngó lợi dụng chớ nên tin người khi chưa tìm hiểu cẩn thận đối tượng, tình cảm gặp ưu phiền.

Giáp Dần (Thủy, 45 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : chưa có biến động trong mưu sự nhưng sẽ tốt đẹp dần lên vào cuối tháng, nam mạng gặp tiểu nhân tranh phản tránh tranh chấp để vượt qua tai ách kẽo gặp tổn tài, tháng này dù có vận hội tốt nhưng không nên đầu tư việc mới sẽ không có thành quả như ý. Nữ mạng có âm phù dương trợ mọi tai ách sẽ vượt qua, lo lắng ưu phiền từ công việc đến tài lộc không còn, tình cảm nhiều vui vẻ, trong gia đạo đầy hạnh phúc bất ngờ.

Nhâm Dần (Kim, 57 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : tháng xấu nhưng chưa có chuyển biến trong mưu sự, tuy vậy đã xuất hiện những bế tắc về tiền bạc, cơ hội thành công không đạt thành quả như dự định, tình cảm gia đạo có tin xa. Nữ mạng mọi công việc đang trong chiều hướng gặp phải bất bợi, nên án binh bất động chớ manh động mà ân hận, tiền bạc không vui, riêng tình cảm gia đạo được an khang.

Canh Dần (Mộc, 69 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng này đang có vận hội tốt dù vận hạn không nhiều tốt đẹp, nên thực hiện mưu sự tuy chưa có biến chuyển ngay nhưng về hậu vận sẽ gặp may mắn bất ngờ, nam mạng không còn lo lắng về tiền bạc nhưng tránh khoa trương tự mãn. Nữ mạng tiền bạc có biến chuyển tốt, nhưng sao hạn xấu chiếu mạng nên đề phòng bị tiểu nhân lợi dụng vì tin người, tình cảm gia đạo đều vui vẻ.

TUỔI MÃO :

Kỷ Mão (Thổ, 20 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn): đã có chuyển biến nhưng chưa nên thực hiện các mưu sự lớn vì chưa có vận hội mới, chớ tin người do còn có tiểu nhân dòm ngó lợi dụng đến tranh phản, gia đạo an khang. Nữ mạng tiền bạc đến như ý vui vẻ, mọi mưu cầu đến may mắn hơn là mong đợi. Đề phòng trong giao tiếp, cẩn thận về vật có giá trị.

Đinh Mão (Hỏa, 32 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : tháng này không được tốt đep lắm, mưu sự sẽ có biến chuyển trong chiều hướng xấu; nam mạng nên cẩn thận trong giao thiệp và giao dịch có tai tiếng trong công việc, tiền bạc gặp bế tắc, tình cảm ưu phiền. Nữ mạng tuy tháng khắc kỵ nhưng có quý nhân trợ giúp mọi chuyện dữ hóa lành, về tiền bạc còn lo lắng, tình cảm gặo ưu phiền, tránh đi xa nhất là miền song nước.

Ất Mão (Thủy, 44 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : nam mạng tháng này có phần phúc, có biến động về kiết hung trong chiều hướng mưu sự như ý, nhưng không nên manh động sẽ thất bại, tài lộc và tình cảm hết bế tắc, gia đạo an vui. Nữ mạng cẩn thận giữ gìn các vật có giá trị, gặp hạn xấu còn tiểu nhân còn dòm ngó, dự báo có mất mát. Công việc bình thường. Về tình cảm đề phòng bị lợi dụng tình và tiền.

Quý Mão (Kim, 56 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : tháng có biến động theo chiều hướng xấu không nên thực hiện dự tính mới, nam mạng về tiền bạc đang bế tắc trắc trở nên cẩn thận trong mọi công việc nhất là người xung quanh. Nữ mạng cũng không tốt đẹp, tránh khoa trương tự mãn kẽo gặp tai tiếng ưu phiền, mọi sự đang trong chiều hướng không thuận lợi, cẩn thận trong công việc, tiền bạc không như ý, tình cảm gia đạo bình thường.

Tân Mão (Mộc, 68 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : tháng này đã có chiều hướng tốt dần lên, mọi mưu sự có biến chuyển, tiền bạc đã đến, chỉ nên cẩn thận trong giao thiệp kẽo mang tai tiếng mà ưu phiền, gia đạo an vui. Nữ mạng đã có vận hội tốt nên thực hiện các dự tính trong tháng, có quý nhân phù trợ mọi sự sẽ như ý. Tiền bạc, tình cảm gia đạo an khang vui vẻ. Tuy nhiên chớ nên manh động đầu tư việc quá tầm tay.

TUỔI THÌN :

Canh Thìn (Kim, 19 nam La Hầu nữ Kế Đô – 79 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : tháng khắc kỵ chưa có cơ hội thực hiện mọi mưu cầu, nam mạng 2 tuổi lớn nhỏ nên thận trọng khi giao tiếp với mọi người, tiền bạc gặp lo lắng gia đạo ưu phiền. Nữ mạng tháng này không tốt đẹp, cố nhẫn nhịn chờ qua tháng sau, tài lộc không đến, gia đạo có tin. Đề phòng tật bệnh làm hao tài tổn của.

Mậu Thìn (Mộc, 31 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : tháng này không có biến chuyển nhưng mọi sự rất tốt đẹp, tuy nhiên không nên bắt tay thực hiện các dự tính sẽ không đạt sở cầu như ý vì trong năm gặp Thái Bạch chiếu mệnh, tiền bạc và tình cảm luôn đem đến may mắn và vui vẻ. Còn nữ mạng chớ có vọng động về tiền bạc đầu tư việc mới e sẽ gặp nhiều dữ ít lành. Mọi sự đang tốt dần lên nhưng chớ tin người sẽ bị hao tổn tiền bạc, trong tình cảm vui vẻ như ý, có cơ hội gặp gỡ đối tượng cần tìm.

Bính Thìn (Thổ, 43 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : công việc và tiền bạc đang trong chiều hướng tốt dần lên nhưng chớ manh động. Nên thực hiện mưu sự trong tầm tay, cẩn thận đề phòng trong giao dịch, tiền bạc tình cảm đều vui vẻ như ý. Nữ mạng tiền bạc đã hết bế tắc trắc trở, công việc gặp thuận lợi, tình cảm người còn độc thân sẽ có gặp gỡ vui vẻ phấn chấn, kẻ có gia đạo nhận tin vui.

Giáp Thìn (Hỏa, 55 nam La Hầu nữ Kế Đô) : vận hội tháng này chưa có, mọi mưu sự sẽ không mang đến kết quả như ý, chớ có manh động dù có quý nhân trợ giúp nhưng đầu tư sẽ phải ân hận. tài lộc và tình cảm ưu phiền trắc trở. Nữ mạng tháng này chưa có cơ hội thực hiện mưu sự mới vì sẽ không có kết quả tốt đẹp, tiền bạc gặp bế tắc, tránh đi xa, giao thiệp với người lạ sẽ gặp tai ách hoặc tản tài.

Nhâm Thìn (Thủy, 67 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : tháng này không có nhiều biến động nhưng mọi mưu sự có chiều hướng tốt đẹp, nam mạng tuy có âm phù dương trợ nhưng chớ vội thực hiện mưu sự hay đầu tư; tiền bạc có tin vui, gia đạo an khang hạnh phúc. Nữ mạng một năm vận mệnh xấu nên tuy tháng tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến công việc và tiền bạc, chớ nên manh động, cẩn thận trong giao tiếp và giữ gìn vật có giá. Tránh đi xa và đề phòng tật bệnh về xương cốt.

TUỔI TỴ :

Tân Tỵ (Kim, 18 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu – 78 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng này đang gặp bế tắc trong mưu cầu không được như ý, có biến chuyễn trong mưu sự nhưng trong chiều hướng lành ít dữ nhiều, nam mạng 2 tuổi tâm tư có nhiều lo lắng ưu phiền. Nữ mạng gặp vận xấu tháng xấu, càng nên cẩn thận trong mọi công việc, tiền bạc, hay tật bệnh làm hao tài tán của.

Kỷ Tỵ (Mộc, 30 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : tháng này mọi mưu sự tốt đẹp đã có chuyển biến may mắn. Nhưng cẩn thận lời nói chớ khoa trương tự mãn mà mang tai tiếng. tài lộc và tình cảm vui vẻ, có tin về công việc, có thay đổi nên chấp nhận vì đây là cơ hội mang đến may mắn. Nữ mạng có quý nhân trợ giúp, tài lộc được như ý, tình cảm sẽ có gặp gỡ mang đến tin vui, công việc có chuyển biến tốt trong tháng này.

Đinh Tỵ (Thổ, 42 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng có biến động trong chiều hướng tốt dần, trong công việc, tiền bạc đã hết bế tắc trắc trở, nam mạng có quý nhân bớt lo lắng ưu phiền; tình cảm vui vẻ phấn chấn, nhưng chớ tự mãn mà rước họa vào thân. Nữ mạng tuy tháng không gặp khắc kỵ nhưng nên đề phòng mất mát đồ vật hay gặp tiểu nhân lợi dụng tranh phản, công việc và tiền bạc như ý nhưng chớ tin người, tình cảm gia đạo an khang hạnh phúc.

Ất Tỵ (Hỏa, 54 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : nam mạng tháng này gặp khắc kỵ và một năm gặp vận xấu, dự báo về tiền bạc sẽ bế tắc và tình cảm gia đạo buồn phiền, công việc chớ nên thực hiện dự tính mới sẽ dẫn đến thất bại nhiều hơn thành công. Nữ mạng mọi mưu sự chưa nên thực hiện, nếu manh động tiền bạc sẽ thất thu, tản tài dù có âm phù dương trợ nhưng bôn ba cũng không qua thời vận tình cảm gia đạo có tin xa đưa đến.

Quý Tỵ (Thủy, 66 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : có biến chuyển trong mưu sự có vận hội đưa đến thành công như ý, công việc có thể thực hiện việc mới, nhưng tránh giao thiệp khoa trương sẽ đem đến nhiều phiền muộn, lộc tài may mắn nhưng không nhiều. Nữ mạng có quý nhận trợ giúp sẽ thuận lợi trong dự tính, tiền bạc hết bế tắc nhưng gặp tiểu nhân dòm ngó, tình cảm gia đạo an vui.

TUỔI NGỌ : cuối Tam Tai

Nhâm Ngọ (Mộc, 17 nam Thái Âm nữ Thái Bạch – 77 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : nam mạng 2 tuổi lớn nhỏ tháng này mưu sự gặp nhiều thuận lợi do có vận hội tốt, như ý về tiền bạc, tâm tình vui vẻ trong gia đạo, nhưng cẩn thận người xung quanh chớ giao tiếp quá lời mà tai tiếng thị phi. Nữ mạng tuổi 17 mọi mưu sự tuy gặp thuận lợi như ý nhưng vận xấu chớ khoa trương tự mãn, tuổi nữ 77 trong giao dịch rất tốt đẹp, đề phòng tật bệnh nên chữa trị kịp thời.

Canh Ngọ (Thổ, 29 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : tháng đã tốt đẹp về các mưu sư và tiền bạc, tuổi nam mạng không nên thực hiện việc mới sẽ phải ân hận. Tình cảm đến nhưng chớ vội tin người, còn tiểu nhân tranh phản hay lợi dụng long tin. Nữ mạng chưa có chuyển biến về công việc nhưng trong chiều hướng thuận lợi. Về tài lộc không còn lo lắng mọi sự như ý, tình cảm vui vẻ trong những gặp dỡ ban đầu.

Mậu Ngọ (Hỏa, 41 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : tuy tháng khắc kỵ với mạng Hỏa nhưng Thiên Thượng Hỏa vẫn có có cuộc sống bình hòa, chưa có chuyển biến trong mưu sự, tiền bạc không gặp lo lắng, gia đạo an khang, tránh tranh cãi. Nữ mạng công việc chưa thuận lợi như ý, tiền bạc trắc trở bế tắc, tình cảm ưu phiền.

Bính Ngọ (Thủy, 53 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : chưa có biến động nhưng không nên manh động trong các mưu sự, đầu tư việc quá tầm tay. Tháng này cuộc sống bán hung bán kiết, gặp tản tài hoặc tật bệnh, tài lộc có nhiều trắc trở. Nữ mạng việc mới nên suy xét rồi mới thực hiện để tránh tổn thất tiền của hay tai tiếng do có tiểu nhân dòm ngó tranh phản, làm việc cũ sẽ gặt hái nhiều hơn việc mới, dự báo có tật bệnh về xương cốt hay máu huyết.

Giáp Ngọ (Kim, 65 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : không nên thực hiện mưu sự, sẽ không mang đến kết quả tốt đẹp. Nam mạng cần cẩn thận về tiền bạc, tháng này gặp trắc trở bế tắc, cẩn thận trong các loại giấy tờ có giá trị và đề phòng tiểu nhân tranh phản. Nữ mạng tháng xấu vận xấu chưa có thời cơ thực hiện việc mới, tiền bạc đáng lo âu khi có tin đến, gia đạo gặp ưu phiền.

TUỔI MÙI :

Quý Mùi (Mộc, 16 nam Kế Đô nữ Thái Dương – 76 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : nam mạng mọi mưu sự đã hạnh thông trong mức độ gặp may mắn tốt đẹp, do có âm phù dương trợ nên không còn bế tắc về công việc hay tiền bạc, gia đạo an khang hạnh phúc. Nữ mạng mọi mưu cầu về tài lộc được như ý, do mệnh vận tốt đẹp, nên về tiền bạc, tình cảm gia đạo như ý, vui vẻ, đề phòng lnhững vật có giá trị kẽo gặp ưu phiền.

Tân Mùi (Thổ, 28 nam La Hầu nữ Kế Đô) : có nhiều chuyển biến trong mưu sự và đang có chiều hướng may mắn, nhưng đang năm trong vận xấu chớ tự mãn mà ân hận, tiền bạc đến trong vui vẻ có cả hoạnh tài, trong tình cảm sẽ được sự chú ý. Nữ mạng mọi mưu sự đã có vận hội thực hiện nếu lỡ sẽ ân hận, tiền bạc, tình cảm có nhiều tin vui và may mắn, không nên nhóm họp họa phúc bất lường vì có tiểu nhân dòm ngó tranh phản.

Kỷ Mùi (Hỏa, 40 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : tháng  này khắc kỵ nên có biến động gặp nhiều bế tắc, mưu sự không đạt kết quả như mong đợi. Tiền bạc trắc trở, tình cảm ưu phiền. Nữ mạng mưu sự chưa thuận lợi, tháng xấu nên đề phòng trong giao dịch và các giấy tờ có giá trị, cẩn thận có tiểu nhân lợi dụng nên chớ tin người, tài lộc và tình cảm buồn nhiều hơn vui.

Đinh Mùi (Thủy, 52 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : tháng này tuy thuận lợi nhưng chưa như mong đợi, nam mạng có quý nhân trợ giúp nhưng mọi sự chỉ diễn tiến trong chiều hướng bình thường, chớ manh động đầu tư việc mới phải ân hận. Nữ mạng tốt đẹp nhưng cẩn thận về mưu sự chưa có vận hội đến tay, manh động e rằng thất bại hơn thành công. tiền bạc như ý, tình cảm an vui.

Ất Mùi (Kim, 64 nam La Hầu nữ Kế Đô) : tháng có nhiền biến động về mưu sự dù có quý nhân trợ giúp nhưng vận hội không mấy tốt đẹp chưa thể thực hiện các mưu sự như dự tính. Nam mạng công việc và tiền bạc gặp nhiều trắc trở, bế tắc, có tiểu nhân tranh phản, đề phòng vật có giá trị. Nữ mạng có biến chuyển về tài lộc trong chiều hướng kém may, công việc gặp ưu phiền, tật bệnh kéo đến làm tổn tài.

TUỔI THÂN :

Nhâm Thân (Kim, 27 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : nam mạng gặp tháng khắc kỵ nên mọi sự không được tốt đẹp, chưa có cơ hội thực hiện dự tính nếu manh động sẽ thất bại, tiền bạc còn bế tắc, tình cảm ưu tư và lo lắng. Nữ mạng mọi mưu sự đều không như ý, trong công việc không nên thay đổi, về tình cảm sẽ gặp gỡ vui vẻ nhưng chớ quá tin người, đề phòng bị lợi dụng từ tình đến tiền.

Canh Thân (Mộc, 39 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : đã có vận hội tốt trong chiều hướng tốt đẹp dần lên, nam mạng dự báo mọi sự đã hạnh thông từ công việc đến tài lộc, tuy nhiên không nên khoa trương tự mãn, cứ âm thầm làm sẽ gặt hái được kết quả, đầy an tâm. Nữ mạng trong mưu sự đã thuận lợi, có quý nhân trợ giúp có thể thay đổi dự tính, cần nên đề phòng trong giao dịch, các vật có giá trị, tiền bạc tình cảm đều an vui. Đi xa tốt.

Mậu Thân (Thổ, 51 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng này tuy không có chuyển biến nhưng mưu sự được thuận lợi, nhưng chớ vọng động vì nữ mạng năm nay gặp vận xấu, nam mạng mọi sự từ hung hóa kiết. Nữ mạng cần đề phòng trong công việc đang có tiểu nhân tranh phản, hay lợi dụng, thực hiện công việc trong tầm tay sẽ gặt hái được thành quả, cẩn thận giấy tờ hiện vật có giá trị. Đề phòng tật bệnh về xương cốt.

Bính Thân (Hỏa, 63 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : tháng khắc kỵ tuy chưa chuyển biến trong mưu sự nhưng trong chiều hướng kém may, nếu thực hiện mưu sự gặp nhiều âu lo trắc trở, tránh vọng động thái quá mà tản tài. Tài lộc chưa có tin đưa đến. Nữ mạng công việc và tiền bạc không đượcnhư ý, có tiểu nhân lợi dụng cần đề phòng người xung quanh, tình cảm gia đạo an vui, nhưng không nên đi xa.

Giáp Thân (Thủy, 75 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : các mưu cầu chưa được hạnh thông còn gặp bế tắc trắc trở, tiền bạc còn tản tài hao của, nam mạng tuy có âm phù dương trợ nhưng mọi sự đều kém may, trong gia đạo ưu phiền. Nữ mạng mọi mưu cầu về công việc và tiền bạc chưa đạt như ý, hãy còn bế tắc. Dự báo gặp tật bệnh hay tán tài từ lòng tin người.

TUỔI DẬU :

Quý Dậu (Kim, 26 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : tháng này có nhiều biến động về cát hung nhưng trong chiều hướng về tiền bạc và công việc không được tốt đẹp may mắn, do tháng khắc kỵ mà đề phòng gặp phải tiểu nhân lợi dụng hoặc tranh phản, tình cảm ưu phiền. Nữ mạng sao Thái Bạch chiếu, không nên vọng động thực hiện các dự tính về việc mới, trong tình cảm cũng chớ quá tin người mà gặp tai tiếng, đề phòng tật bệnh kẽo tiền mất tật mang, gặp trở ngại về tiền bạc.

Tân Dậu (Mộc, 38 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : tháng này chiều hướng đang tốt dần lên, đã có biến chuyển tốt đẹp, nam mạng nên đầu tư mưu sự mới dù có tiểu nhân dòm ngó tranh phản, tiền bạc may mắn, tình cảm gia đạo an vui. Nữ mạng tháng này công việc có thể thay đổi, nhưng vận xấu có mưu sự sẽ gặt hái thành quả dưới mức bình thường không như ý. Tiền bạc, tình cảm an vui.

Kỷ Dậu (Thổ, 50 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : nam mạng đã có vận hội trong chiều hướng tốt đẹp, dự báo các mưu sự có biến chuyển, tiền bạc như ý, riêng tình cảm vẫn phải cẩn thận với tai tiếng thị phi. Nữ mạng mọi mưu sự và tài lộc đã được như mong đợi, có âm phù dương trợ mọi việc từ hung hóa kiết, cẩn thận khi đi xa hay khi di chuyển dự báo có tật bệnh về xương cốt hay máu huyết.

Đinh Dậu (Hỏa, 62 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : tháng này vận xấu, có nhiều biến động trong mưu sự trong chiều hướng bế tắc, trắc trở, tài lộc kém may mắn dù có quý nhân phù trợ, tình cảm gia đạo ưu phiền. Nữ mạng mọi mưu sự không nên thực hiện trong tháng này sẽ đưa đến thất bại phải ân hận. Tài lộc trắc trở, tình cảm gặp lo lắng ưu phiền.

Ất Dậu (Thủy, 74 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : tháng tuy bình hòa nhưng dự báo lành ít dữ nhiều vì những biến động mang chiều hướng bất lợi trong mưu sự, nam mạng chưa có cơ hội thực hiện, chớ tin người, cẩn thận về tiền bạc. Nữ mạng về mưu sự và tiền bạc gặp bế tắc gây nhiều ưu phiền, tránh đi xa, đề phòng trong di chuyển.

TUỔI TUẤT : cuối Tam Tai

Giáp Tuất (Hỏa, 25 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : mưu sự tháng này không tốt đẹp lắm, không nên thực hiện các dự tính, tiền bạc kém may mắn, tình cảm đề phòng tiểu nhân dòm ngó lợi dụng. Nữ mạng nên cẩn thận trong giao tiếp, đề phòng bị tiểu nhân lợi dụng về tiền bạc. mọi sự chưa được sở cầu như ý, cẩn thận với tật bệnh.

Nhâm Tuất (Thủy, 37 nam La Hầu nữ Kế Đô) : mưu sự đang trong chiều hướng tốt dần lên, tiền bạc có quý nhân phù trợ nên không còn bế tắc đã tốt đẹp lên, tình cảm an vui nhưng chớ manh động mà ân hận. Nữ mạng mưu sự công việc và tiền bạc đều như ý, nên thực hiện việc mới nếu có cơ hội đến tay. Tình cảm gia đạo an khang hạnh phúc.

Canh Tuất (Kim, 49 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : chưa có tín hiệu tốt đẹp, các mưu sự không nên thực hiện trong tháng này sẽ thất bại nhiều hơn thành công. Tài lộc và tình cảm chỉ trong mức độ bình thường. Nữ mạng gặp sao Thái Âm chiếu mạng nhưng đề phòng về tiền bạc có tiểu nhân còn dòm ngó lợi dụng, mưu sự bị tai tiếng, tránh tranh cãi kẽo bị thiệt thòi, cẩn thận đồ vật có giá trị, tình cảm gia đạo vui buồn bất nhất.

Mậu Tuất (Mộc, 61 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : tuy không có biến động lớn trong tháng nhưng mưu sự và tiền bạc đều hạnh thông, đạt kết quả như ý, tình cảm gia đạo an vui. Nữ mạng có âm phù dương trợ nhưng chớ tin người, mọi mưu sự tuy như ý nhưng chớ tự mãn mà bị tiểu nhân tranh phản, tình cảm gia đạo yên vui, tiền bạc có của hoạnh tài.

Bính Tuất (Thổ, 73 nam La Hầu nữ Kế Đô) : tháng này mọi sinh hoạt chỉ trong mức độ bình thường do trong vận hạn xấu, trong mưu sự chỉ nên thực hiện việc nhỏ trong tầm tay chớ vội vọng động, tài lộc, tình cảm đều gặp may mắn vui vẻ. Nữ mạng đã có chiều hướng tốt đẹp, nhưng chưa nên thực hiện các mưu cầu vì thời vận tuy bình hòa nhưng chưa có vận hội tốt đưa đến, tài lộc sẽ như mong đợi, tình cảm gia đạo an vui.

TUỔI HỢI :

Ất Hợi (Hỏa, 24 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng này nhiều biến chuyển về mưu sự hay tiền bạc nhưng trong chiều hướng kém may mắn, nam mạng có âm phù dương trợ chuyện hung thành kiết, nhưng chớ nên vọng động trong mưu sự. Nữ mạng tuổi nhỏ cần đề phòng về tiền bạc hay đồ vật có giá, dự báo gặp hao tài mất của do còn tiểu nhân lợi dụng. Tháng này các nam nữ nên cẩn thận vật có giá trị.

Quý Hợi (Thủy, 36 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : tháng này có chuyển biến tốt đẹp, thực hiện mưu sự sẽ mang đến may mắn nhưng chớ manh động hay tự mãn. Thời cơ đã có nhưng chỉ nên thực hiện việc nhỏ trong tầm tay. Tiền bạc và tình cảm đều vui vẻ. Nữ mạng có âm phù dương trợ tháng này có chuyển biến tốt đẹp trong mưu sự, đã hết trắc trở bế tắc về tài lộc và tình cảm có gặp gỡ bất ngờ.

Tân Hợi (Kim, 48 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : tháng này không tốt cho nam mạng dù có quý nhận phù trợ nhưng mưu sự đều gặp bế tắc, không nên thực hiện dự tính chờ vận hội mới, tiền bạc và tình cảm gia đạo gặp ưu phiền. Nữ mạng mọi mưu sự chưa như mong đợi, tiền bạc trắc trở, tình cảm có ưu phiền.

Kỷ Hợi (Mộc, 60 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : tháng này có biến động đưa đến may mắn cho nam mạng, mọi mưu sự sẽ gặt hái thành công, về tài lộc, tình cảm có tin vui vẻ. Nữ mạng tháng tốt nhưng vận xấu, công việc bình thường, tránh vọng động đầu tư nên cẩn thận vật có giá trị, tài lộc vừa phải, nếu có thay đổi nên mạnh dạn thực hiện nhưng chỉ nên trong tầm tay.

Đinh Hợi (Thổ, 72 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : tháng có nhiều biến chuyển trong công việc và tài lộc, trong mưu sự thành quả bán kiết bán hung, nhưng ít dữ nhiều lành, tình cảm có tin vui. Nữ mạng chưa tốt đẹp về công việc dù có âm phù dưông trợ, nhưng về tài lộc đã hết lo lắng ưu phiền, tinh cảm vui vẻ, gia đạo có tin vui.

KHÔI VIỆT

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Lịch Vạn Sự Tháng 10/2018 (Kỳ 1)

Từ ngày 1/10/2018 đến ngày 15/10/2018

NĂM MẬU TUẤT (Bình Địa MỘC – Cây sống trên đất)

Kiến NHÂM TUẤT – Tiết HÀN LỘ (thuộc Chín ÂL, Thiếu)

Ngày vào tiết Hàn Lộ : 8/9/2018 (tức ngày 29 tháng 8 ÂL)

Ngày vào khí Sương Giáng : 23/9/2018 (tức ngày 15 tháng 9 ÂL)

Hành : THỦY (Đại Hải Thủy – Nước biển lớn – Sao : Ngưu

Thứ hai – Ngày BÍNH DẦN -– 1/10 tức 22/8 (T)

Hành HỎA – Sao Tâm – Trực Chấp

Khắc tuổi Can : Nhâm Tuất, Nhâm Thìn – Khắc tuổi Chi : Giáp Thân, Nhâm Thân.

TỐT : Thiên đức, Thiên ân, Giải thần, Sát cống. Hoàng đạo : Thanh long.

Nên : cúng tế, cầu phước, vào đơn, chữa bệnh

XẤU : Kiếp sát, Hoàng sa. Ngày Tam nương

Cử : xuất hành, gả cưới, động thổ, , thay đổi

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất

Giờ hắc đạo : Dần, Mão, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi

Thứ ba – Ngày ĐINH MÃO -– 2/10 tức 23/8 (T)

Hành HỎA – Sao VĨ – Trực Phá

Khắc tuổi Can : Quý Tỵ, Quý Hợi – Khắc tuổi Chi : Ất Dậu, Quý Dậu

TỐT : Thiên ân, Trực tinh. Hoàng đạo : Minh đường.

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ

XẤU : Sát chủ, Hoang vu, Thiên tặc, Nguyệt yếm, Thần cách, Tai sát, Tội chí, Ngũ hư, Không phòng. Ngày Nguyệt kỵ

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Dần, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu

Giờ hắc đạo : Sửu, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Thứ tư – Ngày MẬU THÌN -– 3/10 tức 24/8 (T)

Hành MỘC – Sao CƠ – Trực Nguy

Khắc tuổi Can : Không có – Tự hình : Canh Thìn, Bính Thìn – Khắc tuổi Chi : Canh Tuất, Bính Tuất

TỐT : Tuế Đức, Giải thần, Ích hậu, Mẫu thương, Thiên ân,

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ

XẤU : Vãng vong, Nguyệt phá, Lục bất thành, Ly sào.

Cử : động thổ, xuất hành, dọn nhà, khai trương, giao dịch, cầu tài

Giờ hoàng đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Tuất

Thứ năm– Ngày KỶ TỴ -– 4/10 tức 25/8 (T)

Hành MỘC  – Sao Đẩu – Trực THÀNH

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Tân Hợi, Đinh Hợi

TỐT : Thiên hỉ, Nguyệt tài, Phổ hộ, Tam hợp

Nên : gả cưới, khai trương, xuất hành, giao dịch, thay đổi

XẤU : Ngũ quỷ, Cô thần, Ly sàng, Ly sào, Đao chiêm sát. Hắc đạo : Chu tước

Cử : đi xa, đính hôn,

Giờ hoàng đạo : Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu

Thứ sáu – Ngày CANH NGỌ -– 5/10 tức 26/8 (T)

Hành THỔ – Sao Ngưu – Trực THÂU

Khắc tuổi Can : Giáp Thân, Giáp Dần – Tự hình : Bính Ngọ, Nhâm Ngọ – Khắc tuổi Chi : Nhâm Tý, Bính Tý.

TỐT : Nguyệt đức, Thiên quý, Thiên tài, Phúc sinh, Kim quỹ, Tuế hợp, Đại hồng sa, Hoàng ân, Nhân chuyên

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Thiên cương, Địa phá, Địa tặc, Băng tiêu, Cửu không, Lỗ ban sát, Khô tiêu, Đao chiêm sát.

Cử : động thổ, làm cửa chính, xuất hành

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Giờ hắc đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, HợI

Thứ bảy – Ngày TÂN MÙI -– 6/10 tức 27/8 (T)

Hành THỔ  –  Sao Nữ – Trực KHAI

Khắc tuổi Can : Ất Dậu, Ất Mão – Khắc tuổi Chi : Quý Sửu, Đinh Sửu

TỐT : Thiên quý, Sinh khí, Âm đức, Đại hồng sa, Bất tương. Hoàng đạo : Kim đường.

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Hoang vu, Nhân cách, Cô quả, Trùng tang, Bát phong, Đại mộ. Ngày Tam nương

Cử : đính hôn, dọn nhà,

Giờ hoàng đạo : Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu

Chủ nhật – Ngày NHÂM THÂN -– 7/10 tức 28/8 (T)

Hành KIM – Sao Hư – Trực Bế

Khắc tuổi Can : Bính Dần, Bính Thân – Khắc tuổi Chi : Bính Dần, Canh Dần

TỐT : Thiên mã, Thánh tâm, Ngũ phú, Cát khánh, Phúc hậu, Thiên ân

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ

XẤU : Thiên ôn, Lôi công, Kim thần thất sát. Huyết chi. Hắc đạo : Bạch hổ

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất

Giờ hắc đạo : Dần, Mão, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi

Thứ hai – Ngày QUÝ DẬU -– 8/10 tức 29/8 (T)

Hành KIM – – Sao Nguy – Trực Bế

Khắc tuổi Can : Đinh Mão, Đinh Dậu – Khắc tuổi Chi : Đinh Mão, Tân Mão.

TỐT : Hoàng đạo : Kim đường.

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ, an táng

XẤU : Sát chủ, Thiên lại, Nguyệt hỏa, Nguyệt kiến, Kim thần thất sát. Phủ đầu dát, Huyết chi. Ngày Nguyệt tận

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Dần, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu

Giờ hắc đạo : Sửu, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Thứ ba – Ngày GIÁP TUẤT -– 9/10 tức 1/9 (Đ)

Hành HỎA – Sao Thất – Trực Kiến

Khắc tuổi Can : Canh Thìn, Canh Tuất – Khắc tuổi Chi : Nhâm Thìn, Canh Thìn.

TỐT : Thiên mã, Mãn đức

Nên : thay đổi, đi xa

XẤU : Thổ phù, Tội chí, Tam tang, Cô quả, Quỷ khốc. Hắc đạo : Bạch hổ.

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Tuất

Thứ tư – Ngày ẤT HỢI -– 10/10 tức 2/9 (Đ)

Hành HỎA – Sao Bích -Trực  TRỪ

Khắc tuổi Can : Tân Tỵ, Tân Hợi – Khắc tuổi Chi : Quý Tỵ, Tân Tỵ.

TỐT : Thiên thành, Ngũ phú, Kính tâm, Hoàng ân, Trực tinh. Hoàng đạo : Ngọc đường.

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Kiếp sát, Hoang vu.

Cử : động thổ, xuất hành, đính hôn

Giờ hoàng đạo : Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu

Thứ năm – Ngày BÍNH TÝ -– 11/10 tức 3/9 (Đ)

Hành THỦY – Sao Khuê – Trực MÃN

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Canh Ngọ, Mậu Ngọ.

TỐT : Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên phú, Lộc khố, Phổ hộ, Thời đức, Minh tinh

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Thiên hỏa, Thổ ôn, Tai sát, Ngũ quỷ, Quả tú, Hoàng sa, Thiên lao, Phi liêm đại sát. Ngày Tam nương

Cử : gác đòn dông, lợp mái nhà, vào đơn

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Giờ hắc đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, HợI

Thứ sáu – Ngày ĐINH SỬU -– 12/10 tức 4/9 (Đ)

Hành THỦY – Sao Lâu – Trực BÌNH

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Tân Mùi, Kỷ Mùi.

TỐT : Phúc sinh, Hoạt diệu, Mẫu thương

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ

XẤU : Thiên cương, Tiểu hồng sa, Tiểu hao, Nguyệt hư, Thần cách, Thổ cấm, Cửu thổ quỷ. Hắc đạo : Huyền vũ.

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu

Thứ bảy– Ngày MẬU DẦN -– 13/10 tức 5/9 (Đ)

Hành THỔ – Sao Vị – Trực ĐỊNH

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Canh Thân, Giáp Thân

TỐT :  Tuế đức. Thiên quan, Tam hợp, Thiên thụy, Nhân chuyên, Tư mệnh

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Đại hao, Nguyệt yếm, Cửu không, Lôi công, Ly sào, Khô tiêu. Ngày Nguyệt kỵ

Cử : nhóm họp, giao dịch, xuất hành, giao dịch, cầu tài

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất

Giờ hắc đạo : Dần, Mão, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi

Chủ nhật – Ngày KỶ MÃO -– 14/10 tức 6/9 (Đ)

Hành THỔ – Sao Mão – Trực Chấp

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Tân Dậu, Ất Dậu.

TỐT : Thánh tâm, Lục hợp, Thiên ân, Thiên thụy

Nên : làm những việc cũ, việc nhỏ

XẤU : Hoang vu, Trùng tang, Trùng phục. Hắc đạo : Câu trận

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Dần, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu

Giờ hắc đạo : Sửu, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Thứ hai – Ngày CANH THÌN -– 15/10 tức 7/9 (Đ)

Hành KIM  – Sao Tất – Trực Phá

Khắc tuổi Can : Giáp Tuất, Giáp Thìn – Khắc tuổi Chi : Giáp Tuất, Mậu Tuất.

TỐT : Thiên ân, Thiên quý, Nguyệt ân, Giải thần, Ích hậu, Mẫu thương, Hoàng đạo : Thanh long.

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Vãng vong, Nguyệt phá, Lục bất thành. Ngày Tam nương

Cử : động thổ, dọn nhà, xuất hành, khai trương, giao dịch, cầu tài

Giờ hoàng đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Tuất

NHỮNG NGÀY LỄ – KỶ NIỆM TRONG THÁNG 10 DƯƠNG LỊCH

1/10 :  Ngày quốc tế Người cao tuổi

2/10 :  Ngày quốc tế Âm nhạc

4/10 :  Ngày PCCC toàn dân

9/10/1874 : Ngày Bưu Chính Viễn Thông Thế Giới

10/10/1954 :  Ngày Giải Phóng Thủ đô – 1952 : Ngày truyền thống XB – In – Phát hành sách

11/10/1995 :  Ngày Quốc tế giảm nhẹ thiên tai

13/10 : Ngày doanh nhân VN

14/10 : Ngày tiêu chuẩn hóa quốc tế – 1930 : Ngày thành lập Hội Nông dân VN

16/10/1945 :  Ngày Lương thực Thế giới (Tức ngày thành lập FAO tổ chức Lương thực và Thực phẩm thế giới)

17/10 : Ngày vì người nghèo VN

20/10/1930 :  Ngày thành lập Hội LH Phụ nữ VN

21/10 : Ngày Quốc tế chống chiến tranh

24/10/1945 :  Ngày Liên Hiệp Quốc

26/10/2004 : Ngày VN tham gia Công ước Berne

NHỮNG NGÀY LỄ – KỶ NIỆM TRONG THÁNG 9 ÂM LỊCH

9/9 : Tết Trùng Cửu

13-15/9 : Hội Lim

15/9 : Hội chùa Cổ Lễ (Trực Ninh – Nam Định)

13-15/9 : Hội chùa Keo (Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình) (4/1 Hội Xuân)

16/9 : Lễ dâng y (Hathèn Năh Tean) của đồng bào Knmer Nam bộ

20/9 : Năm Đinh Mùi 1427 : Trận đánh Chi Lăng         

Thiên Việt

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

43 NỐT RUỒI

TRÊN MẶT PHỤ NỮ

Hình bên là khuôn mặt một phụ nữ, có 43 nốt ruồi được diễn giải như sau :

1- Số làm mệnh phụ, 2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ, 3- Hại cha mẹ, 4- Không người phục dịch, 5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít, 6- Hại người thân, 7, 15, 19, 27.37-Hại chồng, 8- Chết xa nhà, 9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi, 10- Sanh khó.

11- Có tài lộc, 12- Chồng thường xa nhà, 13, 17- Vượng phu ích tử, 14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội, 16- Tay làm hàm nhai, 18- Được nhờ con, 20- Sống thọ.

21- Bị cướp giật nhiều lần, 22- Gặp nhiều việc tốt, 23- Tính lăn loàn, 24- Sanh ít con, 25- Mới sinh ra thường hay bệnh, 26- Mọi việc thất bại,28- Số sát phu, tình duyên lận đận, 29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em, 30- Biết nhường nhịn chồng con.

31- Có tư tưởng tự tử, 32- Hay ganh tỵ với kẻ khác, 33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước, 34- Có số sinh đôi, sinh ba, 35- Có hư thai, 36- Tai tiếng thị phi, 38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông, 39- Gặp tai nạn tại nhà, 40- Hay bệnh hoạn, 42- Sát Phu và 43- Khôn vặt.

THIÊN VIỆT

PHÉP THUẬT CAO BIỀN THẬT HAY GIẢ ?

NGÀY SINH ẢNH HƯỞNG

TỚI SỐ PHẬN MỖI NGƯỜI ?

Các nhà khoa học đã phát hiện rất nhiều điều liên quan đến tháng sinh như sự thừa cân, tính tình lạc quan hay bi quan, và thậm chí có bao nhiêu con…

Căn cứ trên thống kê về tháng năm sinh và ngoại hình, tính cách, bệnh tật, số phận… người ta đã tìm ra những mối liên quan nhất định giữa ngày tháng sinh với số phận mỗi người.

Trong những tháng mang thai đầu tiên của một người mẹ, các yếu tố môi trường (thời tiết, thức ăn, nhiễm trùng theo mùa) có ảnh hưởng quan trọng tới thai nhi một cách khác nhau.

Tất nhiên, chẳng ai có thể nói tháng nào là tháng tốt nhất mà chỉ có thể cho rằng mối tháng đều có ưu và nhược điểm của nó, lợi về mặt này lại hại về mặt khác. Có điều là biết được những gì có thể xảy ra, bạn có thể điều chỉnh lại cách sống của mình và chủ động đối phó với những rắc rối.

Những đứa trẻ sinh ra vào mùa đông : Hầu hết mọi người thuận tay trái được sinh ra trong những tháng lạnh nhất là tháng12, tháng 1 và tháng 2 (và theo thời tiết, đó là những tháng có nhiệt độ thấp nhất nên người châu Âu quy định đó là mùa đông).

Trẻ em sinh mùa đông lớn lên thường có khuynh hướng mắc các bệnh tim mạch – theo các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Bristol và Edinburgh (Anh Quốc). Nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ở “trẻ em mùa đông”  hơn trẻ em sinh ra trong các mùa khác là 24%.

Đồng thời vao mùa đông, các bà mẹ do phải chống rét nên chế độ ăn nhiều mỡ cũng tạo cho các bà mẹ có mỡ máu cao. Vì thế nếu sẽ phải sinh vào mùa đông, các bà mẹ nên chú ý đặc biệt đến chuyện ăn kiêng.

Theo các nhà tâm lý học, những người sinh vào mùa đông thường là những người thành đạt. Họ năng động, có tài và có ý chí. Họ biết cách làm việc, tự tin trong hành động, chủ động gạt bỏ những khó khăn trên đường đời và do vậy dễ thành công. Tuy nhiên, trẻ em sinh trong mùa đông thường tự kiêu và cứng đầu. Từ khi còn nhỏ chúng hay cãi lại bố mẹ, không dễ dàng thừa nhận sai lầm, khó làm việc theo nhóm và thường xây dựng gia đình muộn.

Những đứa trẻ sinh ra vào mùa xuân : Trẻ em sinh vào mùa xuân (tháng 3, tháng 4 và tháng 5) rất nhạy cảm với thời tiết, dễ bị cảm lạnh, dị ứng, hay ốm đau hơn trẻ em sinh ra trong những mùa khác. Bởi vậy các bậc che mẹ phải quan tâm đến chúng nhiều hơn. Hãy chú ý đến dự báo thời tiết hàng ngày để giúp chúng đối phó kịp thời.

Các nhà tâm lý học cho rằng những người sinh ra trong mùa xuân thường sống theo cảm tính, không quyết đoán, dễ bị thuyết phục và phụ thuộc vào người khác. Không ham làm lãnh đạo. Trẻ em sinh trong mùa xuân thường rất dễ bảo, biết vâng lời, có tính tỉ mỉ và biết lắng nghe.

Chúng thực ra có những ý kiến chính xác về nhiều vần đề nhưng không muốn nói ra và thực hiện ý định của mình, ngại tranh luận, dễ sống trong tập thể. Nhiệm vụ của các bậc cha mẹ sinh con trong mùa xuân là phải chú ý rèn luyện cho chúng lòng tự tin, chủ động, có ý chí và tham vọng, kiên nhẫn, dám làm dám chịu.

Những đứa trẻ sinh ra vào mùa hè : Trẻ sinh ra trong mùa hè (tháng 6, 7 và 8) lạc quan, may mắn và vui tính – điều này đã được các nhà khoa học thuộc Trường ĐH Hertfordshire chứng minh.

Người sinh ra trong mùa hè thường tự đánh giá cao về mình, hài lòng với bản thân nên lạc quan, yêu đời, luôn thấy mình hạnh phúc. Các nhà tâm lý học cho rằng họ thuộc loại người nhạy cảm, tốt bụng, rộng rãi, bốc đồng, có thể nóng tính nhưng không thù dai hay thành kiến.

Họ sẵn sàng chấp nhận những rủi ro, mạo hiểm, ưa thích những chuyến đi xa. Cha mẹ của những đứa trẻ sinh vào mùa hè nên tạo điều kiện cho chúng tham gia vào công tác xã hội, các phong trào tình nguyện, khuyến khích chúng bênh vực những bè bạn cùng lớp yếu hơn mình.

Những đứa trẻ sinh vào mùa thu : Trẻ sinh ra trong mùa thu (tháng 9, tháng 10 và tháng 11) nói chung sẽ sống lâu hơn những bạn đồng trang lứa. Sau khi phân tích những số liệu thống kê về cuộc đời của hơn 1 triệu người từ Australia đến Na Uy, các nhà khoa học thấy họ đều có tuổi thọ cao. Họ sống khoan dung, luôn luôn điềm tĩnh, thận trọng và tỉ mỉ trong công việc, giải quyết các vấn đề thường có lý có tình và luôn là người có uy tín trong xã hội.

Trẻ em sinh vào mùa thu siêng năng trong học tập, ít gây gổ cãi nhau với bạn bè, sớm hiểu được giá trị của đông tiền và biết vâng lời. Các bậc cha mẹ có con sinh ra trong mùa thu đã có một “nguyên liệu quý” để tạo ra những người công dân gương mẫu. Hãy cố gắng hướng cho chúng đi đúng hướng.

6 ĐIỂM HIỆN TRÊN

KHUÔN MẶT ĐÀN ÔNG

BÁO TRƯỚC SẼ NGOẠI TÌNH

Nếu người đàn ông bạn quen có những nét tướng này thì nhất định nên cân nhắc kỹ càng kẻo sau này hối không kịp vì bị ‘cắm sừng’ đấy.

1/. “Mỏ nhọn”, môi mỏng : “Mỏ nhọn” (tức là miệng có phần lồi ra phía trước) là những người hay “chém gió” câu ấy, hay lươn lẹo, không thành thật. Cộng thêm với đặc điểm môi mỏng, thì chứng tỏ chủ nhân nét tướng này là thuộc tuýp nói rất nhiều, gặp ai cũng có thể làm quen, bắt chuyện, nhất là đối tượng khác giới thu hút.

Chính vì biệt tài “khoa môi múa mép” đó nên những người đàn ông này cũng “tán gái” cực siêu, đã nhắm cô nào là y như rằng cô ấy khó lòng mà thoát khỏi lưới tình anh chàng giăng ra này.

Ngoài ra, người này cũng rất là ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới cảm xúc của riêng bản thân mình. Họ có thể sẵn sàng “vụng trộm” bên ngoài mà không quan tâm nhiều đến cảm giác của vợ con.

2/. Gò má thấp lõm : Người đàn ông có gò má bị thấp lõm hoặc quá nhọn không nổi bật về tài ăn nói nhưng lại là người không có tý tinh thần trách nhiệm nào và khá “mưu mô”. Trong hôn nhân, khi vừa thấy nửa kia gặp khó khăn về tài chính hay sức khỏe là họ sẽ tự động “bốc hơi” ngay, không một lời từ biệt.

Hơn nữa những anh chàng có đặc điểm nhân tướng này thường sẽ bị hấp dẫn bởi những cô gái mới mẻ, mang đến cho họ cảm giác được sung sướng, không phải ràng buộc gì nên kể cả khi có vợ rồi họ cũng tìm mọi cách “giăng bẫy” những cô gái trẻ đẹp lọt vào tầm ngắm của mình.

3/. Tai bên cao bên thấp : Đàn ông ai có đôi tai bên cao bên thấp, không cao bằng nhau sẽ có đời sống tình cảm và hôn nhân vô cùng chật vật. Mặc dù họ không đa tình, cũng chung thủy với vợ nhưng tính tình lại cục súc, bạo lực nên vợ chồng dễ rơi vào cảnh cơm không lành, canh không ngọt.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của người đàn ông này thường đi vào bế tắc do không thể xử lý được mâu thuẫn khi chung sống vợ chồng với nhau. Họ thường phải ly hôn và chỉ trưởng thành hơn khi làm đám cưới với người thứ 2.

4/. Đầu mũi nhọn : Đàn ông có tướng mũi mà đầu mũi nhọn thường có nhiều dã tâm xấu, xảo trá, lăng nhăng, chỉ biết sống vì lợi ích cá nhân mình. Tỷ lệ ngoại tình ở người này rất cao vì họ cho rằng mình quyền được “hưởng thụ” hơn người khác. Hơn nữa, sống với người đàn ông này vợ cũng phải chịu nhiều uất ức vì họ khá gia trưởng và nhỏ nhen.

5/. Có nốt ruồi ở lòng trắng của mắt : Người đàn ông có nốt ruồi trong lòng trắng của mắt ngay có vận đào hoa cực mạnh, đi tới đâu cũng thu hút sự chú ý của nữ giới. Những người như vậy rất dễ thay lòng đổi dạ, bỏ mặc vợ con. Phần lớn trong số họ thường không sâu sắc trong chuyện tình cảm nên rất dễ ngoại tình.

6/. Khuôn mặt nữ tính : Đàn ông có khuôn mặt “non choẹt”, nhỏ nhắn, trắng trẻo hoặc trẻ trung như thiếu niên thường có vận đào hoa nên dễ sa ngã khi bị cám dỗ. Không chỉ dừng lại ở việc ngoại tình, mẫu đàn ông này còn có tính nông nổi, bồng bột nên gặp phải những cô này “mưu mô” thì có muốn dứt cũng không được.

Họ thường không đủ bản lĩnh để giữ được gia đình của mình mà phải lấy vợ 2 trong hoàn cảnh ép buộc, tiến thoái lưỡng nan. (theo Khỏe & Đẹp)

PHÉP THUẬT CAO BIỀN

THẬT HAY GIẢ ?

Năm 2007 có một sự kiện hy hữu xảy ra trong báo chí Việt Nam : Một hiện tượng đã xảy ra cách đó 6 năm nhưng nó lại biết tới bởi 6 năm sau nhiều hơn là thời gian nó tồn tại. Hơn nữa, hiện tượng đó lại chỉ được đăng tải trên những “tờ báo loại 2”, nghĩa là không mang tính chính thống. Đó chính là hiện tượng của loạt bài báo mang tên “Thánh vật sông Tô Lịch” được “nhai lại” bởi tờ “Người bảo vệ pháp luật”. Sau sự kiện trên, tờ báo kia có lẽ phải đăng một dấu đỏ chót vào trong lịch sử Guinness Việt Nam vì khả năng thổi phồng một hiện tượng nhằm thu hút độc giả lớn nhất trong thời gian ngắn nhất.

Sự thực, câu chuyện về “Báu vật sông Tô Lịch” hấp dẫn người bởi những phép thuật được cường điệu quá đà, dựa trên những câu chuyện dân gian cách đây hàng nghìn năm về nhân vật phù thủy Cao Biền nổi tiếng Trung Hoa muốn trấn yểm long mạch Việt Nam : viên tướng, thầy phù thủy, thầy phong thủy, thầy tướng dưới thời vua Đường. Nhưng câu chuyện trong quá khứ lại càng thu hút hơn bởi tính thời sự của nó, khi nó gắn với những câu chuyện đương thời.

Ngày 27/9/2001, Đội thi công số 12 (Công ty xây dựng VIC) trong khi nạo vét sông Tô Lịch đã phát hiện những di vật cổ rất lạ và huyền bí : 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông tạo thành một đa giác đều, tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ.., đồ gốm, xương voi, ngựa, dao, tiền đồng… Rồi chuyện máy xúc Komatsu tự nhiên lao xuống sông, nào là những người đang làm việc tự dưng ngã lăn ra đất, đưa la bàn ra thử thì la bàn quay tít.

Một năm sau đó, những câu chuyện buồn của các thành viên trong Đội nạo vét sông được gán với những câu chuyện mơ hồ liên quan tới thuật bùa chú. Các nhà khoa học được mời đến với nhiều giả thuyết, tranh cãi khác nhau và cũng chẳng đưa đến một kết luận nào. Câu chuyện ầm ĩ trên báo chí rồi đi vào quên lãng, cho đến khi nó được khơi mào trở lại một cách ầm ĩ hơn gấp nhiều lần trong năm vừa qua.

Vậy điều gì đã xảy ra trong quá khứ ? Cao Biền thật sự là ai ? Cao Biền có thực sự yểm bùa thành Đại La hay đó chỉ là câu chuyện của trí tưởng tượng ?

Dân gian là nguồn phát tán mạnh mẽ sâu và xa các câu chuyện truyền thuyết. Điều gì càng bí hiểm, càng mơ hồ, càng ma thuật thì càng hấp dẫn. Có thể thấy câu chuyện về Cao Biền đi vào các làng quê, trong tiếng nhai trầu bỏm bẻm của người già kể lại cho lớp con cháu sau này phong phú đến chừng nào.

Trận chiến giữa “phù thủy” phương Bắc và các vị thánh phương Nam

Trước khi tìm hiểu Cao Biền thật sự là ai và nguyên nhân Cao Biền trấn yểm long mạch, chúng ta hãy xem sức mạnh của Cao Biền thông qua cuộc chiến đấu với các vị thánh nước Nam.

Cao Biền hoảng sợ thần Long Đỗ,

lập đền Bạch Mã

Được xây dựng trước khi có thành Thăng Long, đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm, Hà Nội) nằm ở hướng chính đông, là một trong tứ trấn của kinh đô thuở ấy.

Đền xưa thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Trúc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là số 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Cao Biền đắp La Thành, mấy lần cứ bắt đầu lại  bị sụt lở. Một đêm, Cao Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo Cao Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Cao Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Đền thờ này ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Chuyện này còn có dị bản khác nói rằng Cao Biền đã cho đắp thành Đại La. Một hôm, Cao Biền ra chơi ngoài cửa đông của thành, chợt thấy trong chỗ mây mù tối tăm, có bóng người kì dị, mặc áo hoa, cưỡi rồng đỏ, tay cầm thẻ bài màu vàng, bay lượn mãi theo mây. Cao Biền kinh sợ, định lấy bùa để trấn yểm. Bỗng đêm hôm ấy thấy thần báo mộng rằng :

– Ta là tinh anh ở Long Đỗ, nghe tin ông đắp thành nên đến để hội ngộ, việc gì mà phải trấn yểm ?

Cao Biền lấy làm kỳ lạ, bèn lấy vàng, đồng, bùa và đúc một tượng sát hình nhân dị dạng nhằm yểm ngục, không cho nước Nam phát trỉển nhân tài. Chẳng dè, ngay đêm đó mưa gió sấm sét nổi lên dữ dội, sáng ra xem, thấy vàng, đồng và bùa trấn yểm đều đã tan thành cát bụi. Cao Biền sợ hãi hét lên : “Thần ma của nước Nam rất thiêng, không có cách nào trị nổi được”, bèn lập đền thờ ở ngay chỗ ấy và phong cho thần là thần Long Đỗ.

Theo một cuốn sách về văn bia ở Hà Nội thì Bạch Mã là ngôi đền rất thiêng. Đây là vị thần chúa tể của một khu vực ngàn dặm được tất cả các đời vua cúng tế. Sau này Lý Thái Tổ dời kinh đô đến đất này, đổi gọi Đại La là Thăng Long. Nhà vua sai đắp lại thành, nhưng hễ thành đắp xong lại lở, bèn sai người đến cầu đảo thần Long Đỗ. Chợt người cầu đảo thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, dạo quanh thành một vòng, đi tới đâu, để vết chân rõ ràng tại đó và cuối cùng vào đền rồi biến mất. Sau nhà vua cứ theo vết chân ngựa mà đắp thành thì thành không lở nữa, bèn nhân đó, phong làm thành hoàng của Thăng Long. Các vua đời sau cũng theo đó mà phong tới Bạch Mã Quảng Lợi Tối Linh Thượng Đẳng Thần.

Làng Cổ Pháp của dãy núi Tiêu Sơn, “đất hai vua”, nơi Cao Biền không trấn yểm được

Làng Cổ Pháp chỉ là một trong hàng ngàn ngôi làng của miền Bắc Việt Nam (nay là làng cổ Đường Lâm) nhưng đây lại là nơi ngưng và kết huyệt long mạch của dãy núi Tiêu Sơn.

Dân gian kể lại, đến đời La Quý An, thế đất Cổ Pháp vượng quá. Bao nhiêu vì sao tinh tú trên trời đều chầu về. Quan nhà Đường xem thiên văn, nhìn rõ, tâu lên vua nhà Đường là Đường Ý Tông (860-873)…

Năm Giáp Thân (864) vua Đường Ý Tông, nhân việc quan thiên văn báo cho biết thế đất Cổ Pháp và An Nam (Bắc Việt và một phần Trung Việt) có loạn, sai Cao Biền sang Giao Châu.

Khi đi, vua Đường dặn riêng với Cao Biền đại khái là Trưng thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đông Hán (25 – 220). Rồi đến Triệu Ẩu (cách người Trung Hoa gọi Bà Triệu, nhằm ý miệt thị), Lý Bôn… làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau này có biến. Khanh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An  Nam đi và vẽ địa đồ về cho trẫm

Nhân dịp đi qua đất Cổ Pháp, Cao Biền có cho đào 19 cái lỗ chôn bùa ngải để yểm đất. Ngài La Quý An biết vậy nên cho người lẻn đào 19 cái lỗ đó lên và trồng 19 cây lê vào.

Về sau, đất này là nơi sản sinh ra rất nhiều người tài giỏi. Nhiều vị anh hùng hào kiệt đã được nuôi dưỡng bởi linh khí nơi này, trong đó có hai vị vua là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Cao Biền không “phỉnh” nổi thánh Tản Viên

Thánh Tản Sơn chính là vị thần Sơn Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, và là một trong tứ vị thần bất tử của Việt Nam.

Để có thể diệt được thần bản địa, Cao Biền đã dùng một mưu mẹo rất “con người” là giả lập đàn cúng tế, lừa thần lên rồi dùng kiếm báu chém đầu. Chém xong, Cao Biền đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Truyền thuyết dân gian kể rằng khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch rất vượng, nên muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc dùng cách cũ để thần bản địa đến. Cao Biền có lần đến núi Tản (còn gọi là núi Ba Vì), định dùng chước này, nhưng Tản Viên sơn thánh biết được, liền nhổ một bãi nước bọt vào Cao Biền và bỏ đi (có truyền thuyết nói là mắng Cao Biền và bỏ đi).

Phá linh khí chùa Thiên Mụ, nhưng chúa Nguyễn

hàng trăm năm sau vẫn lấy lại được

Chuông Thiên Mụ nổi tiếng cả nước với tiếng ngân vang xa rộng của nó. Quả chuông này do chúa Hiến Tông (Nguyễn Phúc Chu) cấp tiền đúc vào năm Canh dần (1750). Tiếng chuông chùa Thiên Mụ biểu trưng cho sự hiện diện của Phật giáo hằng ngày, sớm và chiều tại cố đô Huế, trong lòng mỗi người dân tại cố đô Huế. Thiên Mụ là bà lão nhà Trời. Theo truyền thuyết, Cao Biền khi làm An Nam đô hộ phủ ở nước ta, dưới đời nhà Đường, theo lệnh vua Đường là Đường Ý Tôn (860-873), đã đi khắp nơi ở nước ta, tìm những nơi đất tốt có vượng khí, đều lập phép trấn yểm. Cao Biền đã đến Thuận Hóa, xã Hà Khê, huyện Hương Trà, thấy giữa đồng bằng đột khởi một cái đồi hình đầu rồng, biết là nơi linh địa, bèn cho đào hào cắt ngang dưới chân đồi. Đêm đến, Biền mộng thấy một bà lão tóc bạc phơ, ngồi dưới chân đồi than vãn và nói to: “Đời sau, nếu có bậc minh chủ, muốn bồi đắp mạch núi lại, đem lại linh khí cho đồi núi này, thì hãy lập chùa thờ Phật ở đây…”

Về sau, Nguyễn Hoàng khi vào Thuận Hóa, tìm cách gây dựng thế lực, để biệt lập và chống đối với họ Trịnh, đã đến nơi này, nghe các bô lão kể lại câu chuyện bà lão Trời và Cao Biền, thì rất mừng, lập tức cho xây chùa trên núi, và tự tay viết biển chùa là “Thiên Mụ tự” (chùa Thiên Mụ – chùa bà lão nhà Trời).

Người Việt Nam bình thường tin ở thuật phong thủy, nhưng đồng thời cũng tin ở Phật, Bồ-tát, và đạo Phật. Cao Biền có tài trấn yểm, nhưng dân Việt Nam có xây chùa thờ Phật là mọi phép yểm của Cao Biền đều bị phá hết. Ảnh hưởng của chùa Phật là ảnh hưởng của Tam Bảo, của đức Phật thường trú, của Chánh pháp mà bánh xe luôn luôn chuyển động, của Tăng là những người có trách nhiệm duy trì và hoằng dương Chánh pháp tại thế gian này.

Núi Hàm Rồng – cuộc chiến giữa Cao Biền và Tả Ao

Truyền thuyết kể, Biền thấy đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó lòng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và tìm cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam.

Một lần bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này tuy không phải là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân) nhưng cũng là hình con rồng què chân, không phải đất cực quý, nên bỏ đi.

Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát.

Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý thì lại càng ham thích, rắp tâm làm đến cùng. Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vỗ cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tán.

Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh là nơi phát khởi của nhiều vua chúa.

Nhiều người cho rằng, những chim nhỏ phá phép trấn yểm của Cao Biền là thần linh của sông núi nước Nam. Có người lại cho rằng đó là do Thánh Tả Ao hóa phép.

Theo truyền thuyết, cụ Tả Ao là vua phong thủy của nước ta, chuyên phá những long mạch bị Cao Biền trấn yểm. Không ai rõ tên và năm sinh, năm mất của Tả Ao nên chỉ gọi theo tên làng.

Như vậy, khi mới chỉ điểm qua những truyền thuyết tiêu biểu về Cao Biền, đã cho thấy sức mạnh của các vị Thánh nước Nam. Chúng ta có thể đưa ra giả thuyết rằng, những câu chuyện trên được dân gian dựng lên nhằm tôn vinh linh khí của chính làng mình. Phép thuật của Cao Biền có lẽ, phần đa là do những người kể chuyện xưa vẽ lên. Thời điểm Cao Biền sang nước Nam cũng chính là thời điểm mà Đạo giáo từ Trung Hoa truyền bá vào Việt Nam, cụ thể là các thuật xem tử vi, phong thủy, bùa chú, luyện linh đan… Những câu chuyện về Cao Biền là minh chứng cụ thể nhất cho tín ngưỡng Đạo giáo đang nở rộ ở nước ta thời bấy giờ.

Lan caysu chuyển tiếp

Lịch Vạn Sự Tháng 9/2018 (Kỳ 2)

Từ ngày 16/9/2018 đến ngày 30/9/2018

NĂM MẬU TUẤT (Bình Địa MỘC – Cây sống trên đất)

Kiến TÂN DẬU – Tiết BẠCH LỘ (thuộc Tám ÂL, Thiếu)

Ngày vào tiết Bạch Lộ : 8/9/2018 (tức ngày 29 tháng 7 ÂL)

Ngày vào khí Thu Phân : 23/9/2018 (tức ngày 14 tháng 8 ÂL)

Hành : MỘC (Thạch Lựu Mộc – Cây lựu trên đá) – Sao : Đẩu

Chủ nhật – Ngày TÂN HỢI -– 16/9 tức 7/8 (T)

Hành KIM – Sao Mão – Trực KIẾN.

Khắc tuổi Can : Ất Hợi, Ất Tỵ. – Khắc tuổi Chi : Ất Tỵ, Kỷ Tỵ.

TỐT : Thiên ân, Thiên quý, Thiên đức hợp, Thiên phú, Lộc khố, Nguyệt giải, Yếu yên, Dịch mã, Sát cống

Nên : gả cưới, thay đổi, khai trương, giao dịch, cầu tài, vào đơn, chữa bệnh

XẤU : Thổ ôn, Hoang vu, Quả tú, Phi liêm đại sát, Trùng tang, Đại mộ. Hắc đạo : Huyền vũ. Ngày Tam nương

Cử : đính hôn, dọn nhà

Giờ hoàng đạo : Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu

Thứ hai – Ngày NHÂM TÝ -– 17/9 tức 8/8 (T)

Hành MỘC – Sao Tất – Trực BÌNH

Khắc tuổi Can : Bính Tuất, Bính Thìn – Khắc tuổi Chi : Giáp Ngọ, Canh Ngọ.

TỐT : Thiên quan, Thiên thụy, Thời đức, Trực tinh, Tư mệnh

Nên : vào đơn, chữa bệnh, làm những việc nhỏ, việc cũ

XẤU : Thiên lại, Tiểu hao, Hà khôi, Lục bất thành, Vãng vong.

Cử : động thổ, nhóm họp,.đi sông nước,

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Giờ hắc đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, HợI

Thứ ba – Ngày QUÝ SỬU -– 18/9 tức 9/8 (T)

Hành MỘC – Sao  Chủy – Trực ĐỊNH

Khắc tuổi Can : Đinh Hợi, Đinh Tỵ – Khắc tuổi Chi : Ất Mùi, Tân Mùi

TỐT : Thiên ân, Nguyệt ân, Mãn đức, Tam hợp, Mẫu thương

Nên : làm những việc nhỏ, việc cũ

XẤU : Sát chủ, Đại hao, Thổ cấm. Hắc đạo : Câu trận.

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu

Thứ tư – Ngày GIÁP DẦN -– 19/9 tức 10/8 (T)

Hành THỦY – Sao Sâm – Trực Chấp

Khắc tuổi Can : Canh Ngọ, Canh Tý – Khắc tuổi Chi : Mậu Thân, Bính Thân

TỐT : Thiên phúc, Nguyệt không, Thiên đức, Giải thần. Hoàng đạo : Thanh long

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Kiếp sát, Hoàng sa..

Cử : xuất hành, đi xa, đính hôn, thay đổi

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất

Giờ hắc đạo : Dần, Mão, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi

Thứ năm – Ngày ẤT MÃO -– 20/9 tức 11/8 (T)

Hành THỦY – Sao Tỉnh – Trực Phá

Khắc tuổi Can : Tân Mùi, Tân Sửu – Khắc tuổi Chi : Kỷ Dậu, Đinh Dậu.

TỐT : Nguyệt đức hợp, Nhân chuyên. Hoàng đạo : Minh đường.

Nên : vào đơn, chữa bệnh

XẤU : Sát chủ, Hoang vu, Âm thác, Thiên tặc, Nguyệt yếm, Thần cách, Tai sát, Tội chí, Ngũ hư, Không phòng, Trùng phục.

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Dần, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu

Giờ hắc đạo : Sửu, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Thứ sáu– Ngày BÍNH THÌN -– 21/9 tức 12/8 (T)

Hành THỔ – Sao Quỷ – Trực Nguy

Khắc tuổi Can : Nhâm Tý, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn, Mậu Thìn – Khắc tuổi Chi : Mậu Tuất, Nhâm Tuất.

TỐT : Kính tâm, Hoạt diệu, Lục hợp, Mẫu thương

Nên : làm những việc nhỏ, việc cũ

XẤU : Thiên hình, Nguyệt phá, Nguyệt hư.

Cử : vào đơn, động thổ, khai trương, dọn nhà

Giờ hoàng đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Tuất

Thứ bảy – Ngày ĐINH TỴ -– 22/9 tức 13/8 (T)

Hành THỔ – Sao Liễu – Trực THÀNH

Khắc tuổi Can : Quý Tỵ, Quý Hợi, Quý Sửu, Quý Mùi. – Khắc tuổi Chi : Kỷ Hợi, Quý Hợi.

TỐT : Thiên hỉ, Nguyệt tài, Phổ hộ, Tam hợp

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Ngũ quỷ, Cô thần, Ly sàng, Đao chiêm sát. Hắc đạo : Chu tước. Ngày Tam nương

Cử : đi xa, xuất hành, đính hôn

Giờ hoàng đạo : Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu

Chủ nhật – Ngày MẬU NGỌ -– 23/9 tức 14/8 (T)

Hành HỎA – Sao Tinh – Trực THÂU

Khắc tuổi Can : Không có – Tự hình : Giáp Ngọ, Bính Ngọ – Khắc tuổi Chi : Bính Tý, Giáp Tý.

TỐT : Thiên tài, Phúc sinh, Tuế hợp, Đại hồng sa, Hoàng ân, Ngũ hợp, Bất tương, Kim quỹ

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Thiên cương, Địa phá, Địa tặc, Băng tiêu, Cửu không, Đao chiêm sát, Lỗ ban sát, Cửu thổ quỷ, Ly sào, Hỏa tinh, Khô tiêu. Ngày Nguyệt kỵ

Cử : xuất hành, dọn nhà, xây bếp

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Giờ hắc đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, HợI

Thứ hai – Ngày KỶ MÙI -– 24/9 tức 15/8 (T)

Hành HỎA – Sao TRƯƠNG -Trực kHAI

Khắc tuổi Can : Không có – Khắc tuổi Chi : Đinh Sửu, Ất Sửu.

TỐT : Sinh khí, Âm đức, Đại hồng sa, Ngũ hợp. Hoàng đạo : Kim đường

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Hoang vu, Nhân cách, Cô quả..

Cử : động thổ, làm cửa, đính hôm

Giờ hoàng đạo : Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu

Thứ ba – Ngày CANH THÂN -– 25/9 tức 16/8 (T)

Hành MỘC – Sao Dực – Trực Bế

Khắc tuổi Can : Giáp Tý, Giáp Ngọ – Khắc tuổi Chi : Nhâm Dần, Mậu Dần

TỐT : Nguyệt đức, Thiên quý, Thiên mã, Thánh tâm, Ngũ phú, Cát khánh, Phúc hậu, Sát cống, Trực tinh

Nên : làm những việc nhỏ, việc cũ

XẤU : Thiên ôn, Lôi công. Kim thần thất sát. Huyết chi. Hắc đạo : Bạch hổ.

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất

Giờ hắc đạo : Dần, Mão, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi

Thứ tư – Ngày TÂN DẬU -– 26/9 tức 17/8 (T)

Hành MỘC – Sao Chẩn – Trực KIẾN

Khắc tuổi Can : Ất Sửu, Ất Mùi – Khắc tuổi Chi : Quý Mão, Kỷ Mão.

TỐT : Thiên quý, Thiên thành, Quan nhật, Ích hậu, Ngũ hợp, Trực tinh. Hoàng đạo : Ngọc đường.

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Sát chủ, Thiên hỏa, Tiểu hồng sa, Thổ phù, Nguyệt hình, Nguyệt kiến, Phủ đầu dát, Trùng tang, Đại mộ, Kim thần thất sát. Dương thác.

Cử : gác đòn dông, lợp mái nhà, động thổ, vào đơn

Giờ hoàng đạo : Tý, Dần, Mão, Ngọ, Mùi, Dậu

Giờ hắc đạo : Sửu, Thìn, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Thứ năm – Ngày NHÂM TUẤT -– 27/9 tức 18/8 (T)

Hành THỦY – Sao GIÁC – Trực TRỪ

Khắc tuổi Can : Bính Thìn, Bính Tuất, Bính Dần, Bính Thân – Khắc tuổi Chi : Bính Thìn, Giáp Thìn.

TỐT : Minh tinh, U vi, Tục thế

Nên : làm những việc nhỏ, việc cũ

XẤU : Hỏa tai, Nguyệt hỏa, Tam tang, Cô quả, Ly sào, Thiên lao, Quỷ khốc, Huyết kỵ. Ngày Tam nương

Cử : mọi sự đều xấu

Giờ hoàng đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Mùi, Tuất

Thứ sáu – Ngày QUÝ HỢI -– 28/9 tức 19/8 (T)

Hành THỦY – Sao Cang – Trực MÃN

Khắc tuổi Can : Đinh Tỵ, Đinh Hợi – Khắc tuổi Chi : Đinh Tỵ, Ất Tỵ.

TỐT : Nguyệt ân, Thiên đức hợp, Thiên phú, Ngũ hợp, Lộc khố, Nguyệt giải, Yếu yên, Dịch mã

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Thổ ôn, Hoang vu, Quả tú, Phi liêm đại sát. Hắc đạo : Huyền vũ.

Cử : động thổ, khai trương, giao dịch, cầu tài

Giờ hoàng đạo : Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu

Thứ bảy – Ngày GIÁP TÝ -– 29/9 tức 20/8 (T)

Hành KIM – Sao Đê – Trực BÌNH

Khắc tuổi Can : Canh Dần, Canh Thân – Khắc tuổi Chi : Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ

TỐT : Thiên phúc, Nguyệt không, Thiên quan, Thời đức, Thiên ân, Tư mệnh

Nên : vào đơn, chữa bệnh, lợp mái nhà

XẤU : Vãng vong, Thiên lại, Tiểu hao, Hà khôi, Lục bất thành.

Cử : đi sông nước,động thổ, xuất hành, nhóm họp

Giờ hoàng đạo : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu

Giờ hắc đạo : Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, HợI

Chủ nhật – Ngày ẤT SỬU -– 30/9 tức 21/8 (T)

Hành KIM  – Sao PHÒNG – Trực ĐỊNH

Khắc tuổi Can : Tân Mão, Tân Dậu – Khắc tuổi Chi : Kỷ Mùi, Quý Mùi

TỐT : Nguyệt đức hợp, Mãn đức, Tam hợp, Mẫu thương

Nên : mọi sự đều tốt

XẤU : Sát chủ, Đại hao, Thổ cấm, Trùng phục. Hắc đạo : Câu trận.

Cử : giao dịch, cầu tài, cải táng

Giờ hoàng đạo : Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi

Giờ hắc đạo : Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu

NHỮNG NGÀY LỄ KỶ NIỆM THÁNG 9 THEO DƯƠNG LỊCH

1/9/ : Ngày Thế giới vì hòa bình

8/9/ : Ngày Quốc tế xóa mù chữ -1946 :Ngày quốc tế các nhà báo

10/9/1955 : ngày thành lập MTTQ Việt Nam

12/9/1930 : ngày Xô Viết Nghệ Tĩnh

16/9 :Ngày Quốc tế bảo vệ tầng Ozon

19/9/1977 : VN thành viên chính thức của LHQ

23/9/1945 : ngày Nam Bộ Kháng Chiến

27/9 : Ngày Du Lịch Thế giới

NHỮNG NGÀY LỄ KỶ NIỆM THÁNG 8 THEO ÂM LỊCH

1/8 : Hội Lăng Lê văn Duyệt

9/8  : Chọi trâu Đồ Sơn – Hải Phòng

15/8 : Tết Trung Thu

16/8 : Hội Đền Nguyễn Trãi (Thường Tín, Hà tây)

15-20/8 : Hội Đền Kiếp Bạc (Hưng Đạo, Chí Linh – Hải Dương, từ 15-20/8 chính hội 20/8) – Lễ giỗ Trần Hưng Đạo (20/8) – Hội Côn Sơn (Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương) (15-23/1 hội Xuân – 16-20/8 hội Thu)

26-28/8 : Hội đền Cuối (Gia Lộc, Hải Dương)

29-1/6-9 : Lễ Đôn Ta (Pithi Sen Dolta) lễ cúng ông bà tổ tiên             của người Khmer (lễ lớn thứ hai sau Chôl Chnam Thmây)

Khôi Việt

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

TẾT TRUNG THU

Tết vào ngày rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ em. Người Việt thường làm cỗ cúng, làm nhiều thứ bành trong đó có bánh nướng bánh dẻo để bày cỗ trông trăng. Ngoài bánh ra, cỗ trung thu còn có hoa quả, các con giống nặn bằng bột, nhuộm các màu.

Ở thành phố vào dịp tết Trung Thu, người ta múa sư tử múa lân, rước rồng với những vũ khúc ngoạn mục, những điệu nhạc độc đáo gồm một trống một não bạt. Ngoài ra người ta còn làm các loại đèn : đèn lồng, đèn xếp, đèn ông sao, đèn đẩy, đèn kéo quân v.v..trong thắp đèn cầy để cho trẻ em rước.

Tục ăn tết Trung thu có từ đời nhà Đường, thời vua Đường Duệ Tông niên hiệu Văn Minh (thế kỷ thứ IX). Nguyên vào ngày rằm tháng tám âm lịch, trời sáng trăng thật đẹp, nhà vua đang ngự chơi ngoài thành với dân chúng đến tận khuya mới trở về hoàng cung. Nhà vua gặp một ông lão đầu tóc bạc trắng như tuyết, nói với nhà vua :

– Tâu thánh thượng, ngài có muốn lên chơi cung trăng không ?

Nhà vua đáp ngay là rất muốn.

Ông lão liền đưa chiếc gậy ra, và hóa thành chiếc cầu vồng bảy sắc cho nhà vua đi lên cung trăng. Chẳng bao lâu nhà vua đã lên tới cung trăng, ngài nhìn thấy phong cảnh đẹp tuyệt trần, dưới trần gian không đâu dám so sánh. Trên cung trăng có từng đoàn tiên nữ nhan sắc đẹp đẻ với những xiêm áo cực kỳ lộng lẫy, đang múa những khúc nghê thường quyến rũ.

Ở trên cung trăng chưa thỏa lòng thì tiên ông đưa nhà vua về cung điện. Nhà vua cứ tiếc ngẫn tiếc ngơ, nên để ghi nhớ ngày du nguyệt điện, bèn lấy ngày rằm tháng tám âm lịch làm ngày trông trăng tưởng nhớ đến trăng.

Nhà vua ra lệnh, trong đêm rằm phải tổ chức hội hè đàn ca múa hát, kết những lồng đèn tạo thành sao trên trời.

UỐNG NƯỚC GIẾNG

ĐẺ CON TRAI

Người dân xóm 11, xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) từ lâu tin rằng uống nước giếng Thùng ở cuối xóm có thể sinh con. Vì thế “Giếng Thùng” được xem là “báu vật” của người dân xã Hưng Thông, không chỉ bởi nguồn nước rất mát lành mà nhiều người quan niệm uống nước ở đây sẽ đẻ được con trai.

Cụ Hoàng Văn Bạn (80 tuổi) ở xóm 11 cho biết, từ những năm cuối 1960 cho đến những năm 1990, người dân trong làng hầu hết đều sinh con trai. Có những cặp vợ chồng sinh liền 4 đến 5 đứa con trai một lúc, rất nhiều người muốn sinh con gái cũng không được.

Cũng vì sinh nhiều con trai nên thế hệ 70 – 80 thế kỷ trước của làng có rất nhiều người chưa lấy được vợ hoặc phải đi tìm vợ nơi khác bởi trong làng rất hiếm con gái.

Theo quan niệm của người dân, sở dĩ có hiện tượng trên là bởi trước đây, dân làng uống chung nguồn nước giếng Thùng ở cuối xóm. Giếng được xây dựng từ năm 1912, khi chưa có giếng khoan thì đây là nơi cung cấp nước ăn, tắm rửa, sinh hoạt cho đa số người dân trong xóm. Nước rất trong mát, đầy ắp cả 4 mùa nên dân làng rất quý trọng.

Từ những năm 1950-1960, dân làng bắt đầu sử dụng giếng khoan và đến nay hầu hết các hộ đã có nguồn nước tại nhà, do vậy giếng Thùng ít được sử dụng. Hiện giờ chỉ một số hộ gần đó hoặc các hộ muốn có con trai mới tới đây gánh nước này về. Tuy nhiên, cũng từ những năm 1980, quan niệm uống nước giếng Thùng đẻ con trai của một số gia đình trong xóm đã lan đi các làng khác, người dân trong vùng vẫn thường xuyên tới gánh nước về ăn để kiếm quý tử.

Đến nay, mặc dù tỷ lệ sinh nam – nữ trong làng đã cân bằng nhưng tin đồn uống nước giếng Thùng vẫn tồn tại và lâu lâu lại rộ lên khiến cho nhiều cặp vợ chồng đến đây để cầu tự, xin nước. Nhiều người dân đã đóng góp tiền của để tu sửa, xây cất lại giếng. Trong các ngày lễ, ngày rằm, ở giếng này luôn có người đến làm lễ cúng…

Trước những thông tin trên, ông Lê Đình Nhường khẳng định, những lời đổn thổi trên là vô căn cứ bởi tỷ lệ trai – gái trong xóm mấy năm gần đây là cân bằng, một số hộ dân uống nước đó quanh năm nhưng trong nhà vẫn sinh toàn con gái. “Mặc dù những tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt nhưng người dân trong xóm vẫn luôn xem giếng Thùng là tài sản quý, là báu vật bởi nguồn nước trong mát, ngọt lành và không bao giờ cạn của nó”.

Xuân Mai chuyển tiếp

BÁNH TRUNG THU XƯA VÀ NAY

BÁNH TRUNG THU :

TỪ HUYỀN THOẠI

ĐẾN PHIỀN TOÁI

Người xưa ăn bánh Trung Thu khi mùa màng đã kết thúc, chiếc bánh Trung Thu như món lễ vật dâng lên Trời Đất đã ban cho mưa thuận gió hoà. Ngày nay, chiếc bánh Trung Thu đem biếu đã trở thành một biến dị của truyền thống, lãng phí của cải và phiền toái trong quan hệ giữa người với người.

Từ huyền thoại về chiếc bánh Trung Thu

Về nguồn gốc của Tết Trung Thu, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau. Tuy nhiên, đó không phải chủ đề chính của bài viết này. Người viết chỉ có một nhận định rằng, dù có theo thuyết nào thì Tết Trung Thu cũng không thể tách rời khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp của những dân tộc Châu Á chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nhất là những khu vực trồng lúa nước.

Khi canh tác nông nghiệp, người ta theo lịch pháp truyền thống (Hoàng lịch, còn gọi là Âm lịch, thực chất là một loại Âm Dương hợp lịch), nó gắn với sự biến đổi của thời tiết trong năm như mưa nắng, nóng lạnh, con nước lên xuống, sự thay nhau của các mùa v.v.

Cho nên, khi gặt xong mùa lúa, cũng là khoảng giữa tháng tám âm lịch. Đây cũng là thời điểm trăng tròn nhất, sáng đẹp nhất, thời tiết mát mẻ nhất và người nông dân đã làm xong việc quan trọng nhất là thu hoạch mùa màng. Gió mát, trăng thanh, con người thảnh thơi thì sẽ có lễ hội.

Tết Trung Thu gắn liền với trăng tròn, với lễ hội rước đèn, với múa lân… nhưng đặc biệt không thể thiếu bánh Trung Thu. Sau đây là truyền thuyết được nhắc tới nhiều nhất.

88 năm sau khi người Mông Cổ thiết lập ách cai trị trên toàn cõi Trung Hoa, tinh thần của Hán tộc bị ngoại nhân đè nén nặng nề. Đời sống của họ bị định đoạt hoàn toàn bởi những kẻ cai trị Mông Cổ. Để loại trừ cơ hội nổi dậy của người Hán, người Mông Cổ cấm họ không được sở hữu vũ khí, thậm chí đồ ăn cũng bị chia khẩu phần. Mật thám của triều đình ở khắp nơi. Đặc biệt là người Hán không được phép tụ tập đông người. Đó là một khó khăn cho việc nhóm họp, truyền tin và tổ chức cho cuộc nổi dậy quy mô lớn của Hán tộc chống lại Mông Cổ.

Vào năm 1368, thời gian cho cuộc nổi dậy đã đến. Thủ lĩnh của cuộc nổi dậy chống Mông Cổ là Chu Nguyên Chương đã được quân sư Lưu Bá Ôn bày cho một kế hoạch. Tết Trung Thu đang đến, thời gian này mọi gia đình vẫn ăn một loại bột nhồi mà sau này sẽ được hoàn thiện thành bánh Trung Thu như ngày nay.

Lưu Bá Ôn cử người tung tin đồn rằng: sắp có một bệnh dịch chết chóc và cách duy nhất để vượt qua là ăn một loại bánh Trung Thu đặc biệt, điều đó khiến người dân rất tích cực tìm mua bánh Trung Thu. Đồng thời, ông ta cũng cho người đi khắp các tiệm bán bánh Trung Thu để nhồi vào trong nhân bánh một mẩu thông điệp khiến người Hán đồng loạt nổi dậy vào Tết Trung Thu. Có thuyết cũng cho rằng, thông điệp đó nằm trên mặt bánh và người ta phải cắt bánh ra làm bốn miếng và ghép lại thì mới nhận được thông điệp.

Bởi người Mông Cổ không ăn bánh Trung Thu, cũng không đọc được Hán tự nên họ không biết được kế hoạch này. Vậy là cuộc nổi dậy của người Hán đã thành công, người Mông Cổ đã bị đuổi ra khỏi đất nước Trung Hoa và Chu Nguyên Chương lên ngôi lập ra triều Minh. Đây là truyền thuyết được nhắc đến nhiều nhất về bánh Trung Thu, mặc dù nó không nhất thiết là chính xác nhất. Tuy nhiên, nó liên quan đến chủ nghĩa dân tộc mang tính lịch sử của người Trung Quốc..

Đến cuối thời nhà Thanh, câu chuyện lại được lan truyền lần nữa, lần này chính thức bằng văn tự. Lý do là, Hán tộc liên hệ sự cai trị của một dân tộc thiểu số là Mãn Châu, mà họ không hoàn toàn phục tùng, với sự cai trị khi xưa của người Mông Cổ. Và câu chuyện nguồn gốc bánh Trung Thu là thể hiện ước vọng quật khởi của họ.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ Trung Quốc bị xâu xé bởi các cường quốc phương Tây, ví như một chiếc bánh ngọt bị ăn bởi 8 thực khách. Chiếc bánh ngọt biểu tượng Trung Quốc đó chính là bánh Trung Thu.

Một lần nữa, hình ảnh chiếc bánh Trung Thu lại xuất hiện trong một sự kiện chính trị khác là cuộc cách mạng Ô Dù ở Hồng Kông năm 2014. Những người chống đối đã tạo hình những thông điệp chính trị ở vỏ ngoài của chiếc bánh Trung Thu.

Hình tượng bánh Trung Thu trong văn học

Trong tiểu thuyết “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” của nhà văn Kim Dung, sau khi Trương Vô Kỵ đảm nhận chức Giáo Chủ Minh Giáo, liền tập hợp giáo chúng mở cuộc đại hội Minh Giáo vào ngày rằm tháng 8 ở Hồ Điệp Cốc tỉnh Hoài Bắc.

“Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, các lộ giáo chúng ngồi cả dưới đất, các giáo chúng chấp sự tổng đàn đem bánh nhân chay ra chia cho mọi người. Ai nấy thấy bánh tròn như mặt trăng nên gọi là bánh Trung Thu. Về sau người ta truyền tụng người Trung Hoa ăn bánh Trung Thu để thề giết quân Mông Cổ chính là từ đại hội của Minh giáo mà ra”.

Trong bộ truyện “Sở Lưu Hương Hệ Liệt” của nhà văn Cổ Long có bánh trung thu “Hằng Nga hận” do tiệm bánh Tam Nhật Khai sản xuất, nổi tiếng trên giang hồ.

Bánh Trung Thu xưa và nay

Khác biệt lớn nhất của bánh Trung Thu xưa với nay nằm ở phần nhân bánh. Bánh Trung Thu truyền thống của Trung Quốc thường có nhân đậu đỏ, chà là, hạt sen nhuyễn, táo ta, 5 loại hạt. Bánh Trung Thu theo phong cách Quảng Đông còn có trứng vịt muối.

Bạn đọc Việt Nam sống trong thời bao cấp hẳn còn nhớ bánh Trung Thu hồi ấy chỉ có một loại duy nhất: nhân thập cẩm. Bánh nhân thập cẩm gồm: thịt mỡ, mứt bí, lạp xưởng, lá chanh… đôi khi có cả hạt sen, hạt dưa. Nhân bánh rất ngọt, ngọt quá mức cần thiết và nhiều dầu.

Còn ngày nay, bánh Trung Thu ở khắp nơi đã quá khác biệt. Chúng ta không thể kể hết các loại bánh Trung Thu với các chủng loại nhân bánh khác nhau, vì làm sao chúng ta có thể liệt kê được trí tưởng tượng phong phú của con người. Bất cứ thứ gì ăn được đều có thể làm nhân bánh Trung Thu, từ trà xanh, dăm bông, kem phô mai (cream cheese), chocolate, khoai môn, đậu đỏ, đậu xanh, thịt lợn, khoai lang, sầu riêng, thạch sữa v.v. Đúng là phong phú thì có phong phú thật, nhưng có lẽ cũng hơi quá. Bánh Trung Thu hiện nay hầu như đã không còn hương vị truyền thống, cũng như ý nghĩa của bánh Trung Thu trong lễ hội đêm Rằm tháng 8 đã không còn như thuở ban đầu.

Đến phiền toái từ bánh Trung Thu

Người xưa ăn bánh Trung Thu là họ kỷ niệm một thời điểm quan trọng trong năm. Đó là khi mùa màng kết thúc, nếu trời cho mưa thuận gió hòa thì người nông dân sẽ được mùa. Và chiếc bánh Trung Thu được làm từ nông sản: bột mì, bột gạo, đậu đỏ, hạt sen, hạt bí, hạt dưa… là món quà mà mẹ thiên nhiên mang lại nhờ vào sự lao động cần cù của con người. Đó là lúc con người thảnh thơi để dâng cúng các sản vật này cho Trời Đất vì “ơn trời mưa nắng phải thì…” Đồng thời, họ cùng nhau vui vẻ thưởng thức sản phẩm do chính tay họ làm ra trong cảnh trăng thanh gió mát đầy khoan khoái.

Nhưng bánh Trung Thu ngày nay không phải là để ăn, mà là để biếu. Có nhiều người mượn lễ Trung Thu, mượn bánh Trung Thu để cầu cạnh, để nhờ vả, để gieo ân tình, để gặt quan hệ, để thể hiện sự có đi có lại, sự vay trả trả vay v.v. Do vậy, người được biếu không ăn bánh nhưng cũng phải mua bánh để biếu những người quan trọng khác.

Nếu coi việc biếu xén là đương nhiên, thì không được biếu sẽ thấy khó chịu, không biếu thì thấy áy náy.

Vì bánh là để biếu nên ai cũng cần đẹp mặt, cần sự sang trọng, sự độc đáo của hình thức. Chất lượng thực sự của bánh Trung Thu như một món ăn truyền thống được đặt xuống hàng thứ yếu.

Vì cần phải độc đáo, phải lạ nên người ta sẵn sàng tìm những nguyên liệu đắt tiền nhất làm nhân bánh mà không quan tâm xem nó có phù hợp với hương vị bánh Trung Thu hay không. Từ đó mới có các loại nhân bánh quái lạ như cua huỳnh đế, bào ngư, tôm càng, hạt sen tứ quý v.v. Người viết đảm bảo rằng nếu kim cương mà ăn được thì sẽ có người cho nó vào nhân bánh và sẽ có người mua để tặng.

Vì cả người tặng bánh lẫn người được tặng cần được đẹp mặt nên hình thức bánh phải rất cầu kỳ. Không cầu kỳ sao thể hiện được tấm lòng trân trọng đây? Cho nên vỏ hộp bánh bằng da Ý nhập khẩu, hộp bánh được thiết kế bằng chất liệu gỗ, sơn mài, hay nhôm dập nổi cao cấp… cũng không có gì là lạ.

Và bánh cũng cần phải đắt tiền thì may ra mới tạo được ấn tượng với những người quen xài sang, trong đời chưa cao lương mỹ vị nào chưa từng được nếm thử. Cho nên, trong hộp bánh mới kèm cả những thứ không liên quan gì như rượu Tây hay những thứ đồ kỳ quặc khác mà trí tưởng tượng bất kham nhất của con người có thể nghĩ ra được.

Một hộp bánh như thế có thể có giá lên tới hơn chục triệu đồng.

Một thứ bánh Á Đông người ta thường dùng kèm với trà mạn mà lại đi dùng với rượu Tây? Có khác gì đem xúc xích chấm vào mắm tôm. Thật là một cuộc giao chiến (không phải giao thoa) Đông Tây về văn hóa.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng phải thôi. Bánh Trung Thu mà dùng nhân “Tây” như chocolate hay cream cheese thì rõ là phải dùng với rượu Tây chứ còn gì nữa.

… và hậu quả của bánh Trung Thu đem biếu

Vì bánh là để đem biếu, không phải để ăn. Vả lại, cũng không phải ai cũng thích ăn bánh trung Thu vì nó quá ngọt. Trong bối cảnh nhiều người béo phì và tiểu đường như hiện nay, thì bánh trung Thu cũng sẽ nằm trong thực đơn phải kiêng cữ của họ. Cho nên nhiều bánh được biếu sẽ bị bỏ đi.

Theo trang BBC thì năm 2012, có 2 triệu bánh trung Thu bị vứt bỏ ở Hồng Kông. Đó mới chỉ tính riêng cho Hồng Kông. Còn không biết với Trung Quốc đại lục thì con số ấy còn lớn đến ngần nào nữa. Và 6 năm đã trôi qua, hiện nay thì không biết con số ấy thực tế ra sao.

Lãng phí không chỉ nằm ở số bánh Trung Thu bị vứt bỏ mà còn nằm ở những vật liệu đóng gói: hộp kim loại, sơn mài, lụa lót hộp… như kể trên. Thậm chí từng chiếc bánh nướng bánh dẻo còn được bọc bằng nilon, rồi được bọc tiếp bằng hộp giấy, và lại thêm lớp hộp hoặc túi ngoài.

Người ta ước tính chỉ riêng việc đóng gói bánh Trung Thu mỗi năm đã mất gần 375 triệu đô la Mỹ.

Việc xử lý những vật liệu bị vứt bỏ này là một vấn đề không đơn giản và tốn kém. Nhiều nhà hoạt động môi trường đã phải kêu trời vì vấn đề này.

Nhưng chuyện không chỉ có thế. Đôi khi, những quà tặng đắt tiền này đã xóa nhòa ranh giới giữa quà biếu và hối lộ.

Năm 2013, chính quyền Trung Quốc của ông Tập Cận Bình đã trừng trị thẳng tay đối với những món quà biếu ngoài kiểm soát của các quan chức chính quyền, những người dùng tiền của công để mua bánh Trung Thu đem biếu xén lẫn nhau và đám cánh hẩu thương mại.

Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho bánh Trung Thu

Hậu quả từ chiếc bánh Trung Thu đem biếu là sự biến dị của truyền thống, sự lãng phí của cải xã hội và sự tiêu cực trong quan hệ giữa người với người. Xét cho cùng, nó có nguyên nhân từ tính háo danh, hám lợi và quá chú trọng hình thức của người đời. Hạn chế được những tiêu cực ấy thì sẽ hạn chế được hậu quả của “hậu Trung Thu”.

Khi bạn tặng bánh Trung Thu cho người khác, xin đừng mang tâm truy cầu lợi ích hay gieo một món nợ ân tình trong tâm trí của người. Sau khi làm được điều ấy, điều còn lại bạn cần quan tâm là khẩu vị của người được tặng bánh.

Họ có thích ăn bánh Trung Thu hay không? Khẩu vị của họ ra sao?

Nếu họ thích, bạn hãy mua tặng họ một hộp bánh không quá cầu kỳ về hình thức, không kệch cỡm về khẩu vị nhưng tinh tế trong chất lượng để đảm bảo rằng người được tặng sẽ thực sự trân trọng sự quan tâm của bạn và họ sẽ dùng nó trong những bữa tiệc ấm cúng của gia đình. Đó là thứ tình cảm quý mến và vô tư mà bạn nên cho đi. Những người tinh tế và chân thành luôn biết đánh giá cao những điều ấy hơn bất cứ một vật phẩm màu mè diêm dúa nhưng giả tạo nào.

Bạn có thể không thích ăn bánh Trung Thu truyền thống, nhưng hãy trân trọng nó như một giá trị văn hóa mà người xưa để lại cho chúng ta. Còn tốt hơn nữa nếu thế hệ sau của chúng ta vẫn được chúng ta dạy dỗ để giữ được lòng trân quý ấy.

“Con người có tổ có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Trân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp thuộc về truyền thống luôn luôn là cái gốc để làm người trong bất kỳ thời đại nào.

Và nếu nhìn dưới góc nhìn ấy, thì bánh Trung Thu không chỉ là một chiếc bánh, đó là hương hồn của cha ông, là tâm tình của lịch sử vẫn chảy trong dòng máu mỗi người Việt chúng ta. (theo Bình Nguyên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐGH PHANXICÔ

VÀ “PHÉP LẠ” BÁNH TRUNG THU

Tờ báo NCR (National Catholic Reporter) mới đây đặt một câu hỏi : “Phải làm gì khi bạn cần tới 10.000 bánh trung thu mà lại cần thật gấp rút ?”. Câu trả lời là : “Hãy viết thư cho Đức Giáo Hoàng !”

Sự thực thì Đức Giáo Hoàng nghè khó của chúng ta đã không cung cấp tất cả 10.000 chiếc bánh trung thu đâu, nhưng nghĩa cử của Ngài đã tạo ra một ‘phép lạ’ giống như xưa khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi 5000 người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ.

Có người cho rằng phép lạ đích thực của ‘hiện tượng bánh hoá ra nhiều’ của Chuá xảy ra được, chính vì cử chỉ tượng trưng của Ngài đã khuyến khích ‘tinh thần san sẻ’ giữa những người ‘có’ và người ‘không có’ trong đám đông.

Chúng ta không dám ‘lạm bàn’ về phép lạ cuả Chuá vì làm như vậy là hoài nghi về quyền năng siêu nhiên của Thiên Chúa. Tuy nhiên ‘phép lạ bánh trung thu’ mới đây nếu có thể gọi được là ‘phép lạ’, thì rõ ràng đã xảy ra bởi vì tấm gương ‘san sẻ’ cho người nghèo cuả Đức Thánh Cha.

Câu chuyện như sau :

Đức Hồng Y Joseph Zen, 81 tuổi, giám mục về hưu của Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ để chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện, phục hồi chức năng của Hồng Kông.

Ngài thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, vì phong tục ở đây là tìm về gia đình trong ngày tết trung thu để có thể chia sẻ những tấm bánh với những người có mặt và không quên để dành những lát bánh cho những người vắng mặt cũng như những người quá cố.

Cho nên, theo Đức Hồng Y Zen, thì tấm bánh trung thu mang một ý nghĩa rất đặc biệt về niềm vui gia đình, về đoàn tụ và hạnh phúc. Tặng bánh trung thu cho tù nhân là một nghĩa cử đem lại nguồn an ủi và hy vọng cho họ.

Năm nay, Đức Hồng Y Zen ước vọng có được 10.500 chiếc bánh để tặng cho tất cả mọi tù nhân vào dịp Tết Trung Thu, ngày 19 tháng 9 mới đây. Biết rằng Đức Phanxicô là một người đầy lòng thương xót, Đức Hồng Y Zen nói với Asia News, “Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây “. Ngài đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng.

Đức Hồng Y đã đoán đúng. Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 của Đức Giáo Hoàng như sau : “Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu ! Thân ái ban phép lành, PP Phanxicô.

Đức Hồng Y Zen đã nắm bắt lấy cơ hội, Ngài đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm của ĐGH (dịch ra Hhán văn) và gửi cho những giáo hữu ở Hồng Kông xin họ hãy noi gương ĐTC.

Chỉ khoảng 2 tuẩn lễ, tiền quyên góp ào ạt đổ về, lên tới 170,000 đôla HK (22,000 USD, 464,574,000.00ĐVN), đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.

Vào đầu tháng Chín, Đức Hồng Y Zen cho biết, “Tôi đã gửi cho Đức Thánh Cha một hộp bánh Trung Thu và chúc lễ hội đến Ngài”. Đó là một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối. Ngài cho biết thêm “Khi tôi đến thăm các tù nhân vào cuối tháng Tám, họ nhắc nhở tôi về bánh trung thu”, Ngài mỉm cười “Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hổ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo”.

Chuyện vui đã không ngừng ở đây, nhiều nhà thờ và tổ chức dân sự cũng đã noi gương ĐTC, quyên góp bánh trung thu và phân phối đến những người cao tuổi sống một mình và đến các gia đình có thu nhập thấp. Niềm vui lễ hội đang lan rộng tới tất cả mọi người. (theo Têrêsa Thu Lan)

ĐẶC TRƯNG MÂM CỖ

TRUNG THU KHẮP CHÂU Á

Vòng quanh các quốc gia châu Á xem cách soạnị mâm cỗ đón trăng tròn.

1/. Trung Quốc : Ở Trung Quốc, loại bánh truyền thống hàng năm là bánh nướng. Chiếc bánh này ở Trung Quốc mang ý nghĩa đoàn tụ, đoàn viên, dựa theo một tích cổ.

Theo đó, một vị tướng lĩnh là Trương Sỹ Thành, đứng đầu khởi nghĩa chống quân Nguyện đã làm 1 loại bánh trung thu nhét mảnh giấy ghi: “Bát nguyện thập ngũ dạ sát Thát tử” (Đêm 15/8 giết giặc Thái – quân Nguyên). Nhờ có mẩu giấy đó, dân chúng mới biết được thông tin, đoàn kết lại đánh giặc, và giành chiến thắng.

Ở một số vùng như Quảng Châu, người dân còn có thêm lệ ăn ốc bắt từ sông vào dịp trung thu. Ở Phúc Kiến là tục ăn thịt vịt vì theo họ 15.8 âm lịch là thời điểm vịt ngon nhất. Ở Đài Loan, ngoài bánh nướng, người dân còn ăn thêm bánh dứa.

2/. Việt Nam : Ở Việt Nam, ngoài bánh nướng, còn có cả món bánh dẻo với lớp vỏ bên ngoài trắng muốt, mềm, dẻo, nhân bên trong là thập cẩm hay cốm. Chiếc bánh thơm hương này có thể được làm theo dáng tròn hoặc làm hình con cá, khiến trẻ em càng thêm vui thích.

Ngoài bánh nướng, bánh dẻo, mâm cỗ trông trăng của người Việt thường có thêm quả bưởi, làm thành hình chú chó rất khéo, quả hồng và trà xanh tao nhã.

3/. Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, trung thu là một ngày lễ vô cùng quan trọng, kéo dài tới 3 ngày. Thời điểm này, người dân tụ tập, mừng mùa vụ, cúng tổ tiên.

Bánh Songpyeon là đặc sản của ngày lễ này. Bánh được làm từ bột gạo, nặn hình trăng lưỡi liềm, có nhiều loại nhân khác nhau như: hạt dẻ, vừng đen, các loại đậu xanh, đỏ… Một số đặc sản trung thu khác của người Hàn là miến trộn japchae, bánh jeon và hoa quả

4/. Nhật Bản : Ở Nhật Bản, tết trung thu được gọi là Tsukimi. Cũng giống như các quốc gia châu Á khác, cả gia đình tụ tập cùng ngắm trăng và ăn những món ăn truyền thống.

Món bánh được làm nhiều nhất vào trung thu là dango, làm từ bột gạo, không nhân hoặc nhân đậu, hoa quả, rưới nước sốt bên trên.

Người Nhật cũng có truyền thống uống 1 cốc sake vào dịp này và tìm cách nhìn thấy bóng trăng tròn in trên cốc vì cho rằng điều này sẽ mang lại may mắn. Bóng trăng tròn in đáy cốc cũng được cho là sẽ giúp bà mẹ hiếm muộn có con. Mâm cỗ trung thu Nhật cũng không thể nào thiếu được những bông lau dịu dàng trong gió.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp