NGHI THỨC CÚNG TẾ (1)

SƠ LƯỢC NGHI THỨC

CÚNG BÁI VÀ TẾ LỄ

– Bài viết của : TRẦN VĂN GIANG

Phong tục là thói quen đã được nhiều người nhận qua một thời gian dài. Phong tục nhiều khi có những nghi thức phức tạp, cầu kỳ,.. rườm rà, tỉ mỉ không giải thích được lý do tại sao lại “phải” như thế (?) mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi (có lẽ lời giải thích đã không còn thích hợp; hoặc thất truyền, mất đi theo thời gian).

Trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta, dù theo đạo nào cũng vậy, phong tục thờ cúng tổ tiên là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương kính và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì; để con cháu ta mới có cơ hội học hỏi và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.

Thờ cúng là nghi lễ của tôn giáo; cũng là phương thức cúng tế vị “Thần” vô hình tối cao theo quan điểm tôn giáo đó.

Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến nghi thức “Cúng và Tế lễ” tức là thể thức dâng đồ lễ lên Tổ tiên ông bà, thần linh của đạo thờ Ông bà và thờ Thần.

NGHI THỨC CÚNG BÁI

Nói chung, những giới luật cúng bái có chỗ “đại đồng tiểu dị,” qua nhiều thời đại và địa phương, nghi thức cúng bái thay đổi, hoặc đề ra giới luật không giống nhau, có quan điểm khác nhau ít hay nhiều, nhưng tựu trung thì mục đích vẫn thống nhất với nhau.

Có rất nhiều tài liệu khác nhau về cúng kiến, người viết xin ghi chép lại các nghi lễ thường được dùng; đồng thời thỉnh thoảng xin mạo muội góp vài ý kiến, tạm gọi là để “hướng dẫn.” Đọc giả có thể tùy nghi dựa theo đây mà thêm hoặc bớt để hợp với hoàn cảnh của cá nhân mình.

Cúng : Việc cúng thường được tổ chức trong khuôn khổ gia đình hay họ (tộc) và do gia trưởng hay trưởng tộc làm chủ, lo lấy việc hành lễ. Mỗi lần cúng đều có đồ tế lễ.

Cúng khi có giỗ Tết, kỵ nhật, có chuyện thay đổi lớn lao trong gia đình (đi xa, dựng vợ gả chồng, xây dựng nhà cửa, khai trương hàng quán thương mại…). Tùy theo hoàn cảnh giàu nghèo, cúng có đồ lễ gồm trầu, rượu, hoa quả, vàng mã, hương (nhang), cỗ chay, cỗ mặn…  hoặc đôi khi chỉ có hương và nước lạnh…

Sau khi thắp đèn (hoặc nến), đặt đồ lễ lên bàn thờ, gia trưởng (hoặc trưởng tộc) khăn áo chỉnh tề, thắp hương cắm lên bình hương và đứng nghiêm trang khấn vái. trước hết để trình bày lý do việc cúng lễ, và kế đó là mời gia tiên hưởng lễ.

Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy, và vái.

Khấn : Ăn có mời, làm có khiến…  Đối với việc cúng lễ cũng vậy. Đồ cúng lễ dù có thịnh soạn, trang trong nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ, không mời thì tổ tiên ông bà ắt không phối hưởng. Bởi vậy trong buổi cúng, con cháu phải khấn. Người Việt vốn trọng nghi lễ, cho nên mỗi dịp cúng vái đều có văn khấn riêng.

Khấn là lời cầu khẩn lâm râm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên quan đến các chi tiết về ngày tháng năm, nơi chốn, mục đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.

Trước khi khấn, gia trưởng vái ba vái ; sau khi khấn xong, gia trưởng lễ (lạy) 4 lễ và vái thêm 3 vái – ta gọi là 4 lễ rưỡi (xem thêm chi tiết về “vái và Lạy” phần sau).

Trong lời khấn, gia trưởng sẽ nói rõ ngày, tháng, năm và lý do làm lễ (và cả các điều xin, nếu có). Phải mời các cụ kỵ từ ngũ đại trở xuống, cùng với chú bác anh chị em vừa mới khuất.

Trước đây lời khấn thường do “thầy cúng” làm và dùng chữ Nho. Nhưng ngày nay việc dùng chữ Nho cho văn khấn rất hiếm. Dân gian thích dùng chữ Việt hơn, vì chữ Việt dễ viết và đọc, mạch lạc không bị hiểu lầm…

Ngoài ra, theo nghi lễ cúng cổ truyền, thường không để cho phụ nữ đàn bà phụ trách việc khấn vái (?!) (ngọai trừ gia đình có chồng chết sớm, và các con còn nhỏ).

Lời khấn cần có những chi tiết sau :

1. Báo trình địa điểm hành lễ, từ nước trở xuống Tỉnh thành, Quận huyện, Phường xã, Thôn ấp.

2. Nói rõ con cháu, liên hệ gia đình làm lễ cúng với các món cỗ bàn, dâng lên hương hồn ai có tên gì, từ trần ngày tháng năm, chôn ở đâu.

3. Mời người có tên giỗ về hưởng, chứng giám lòng thành và phù hộ cho con cháu được mọi sự tốt lành.

4. Cũng mời tất cả các vị tổ, đọc rõ tên, cùng thân thuộc nội ngoại đã quá vãng cùng về hưởng lễ cúng.

Sau đây là một số bài văn khấn mẫu, đọc giả có thể tùy ý sửa chữa để hợp với hoàn cảnh riêng của mình :

Văn khấn gia tiên

Một bài văn khấn tượng trưng bằng chữ Hán (bài này trình bày ở đây chỉ để đọc giả tham khảo thêm; hoặc đọc cho biết. Nếu thấy không cần thiết thì quý vị cứ bỏ qua phần văn khấn chữ Hán này).

“Duy Việt Nam, “Canh Dần” niên, “”thất” nguyệt,” sơ “thập nhị” nhật.

Kim thần “Trương Văn Tốt,” sinh quán “Đa Phúc” xã, “Kinh Dương” huyện, “Hải phòng” tỉnh cư ngụ “Tân hòa” xã, “Tân bình” quận, “Gia định” tỉnh.

Cẩn dĩ :

Phù lưu thanh chước, mâm bàn cụ vật, thứ phẩm chi nghi; Cảm chiêu cáo vu.

Nhân nhật chính kỵ cung thỉnh:

Cao tằng tổ khảo “Trương Quý Công,” húy “Tiền Hải , hiệu “Tự Thái” thụy “Phong Tần” lai lam chứng giám.”

Dịch nôm và giải thích :

(Cao tằng tổ khảo : kỵ ông – đối với người khấn là bốn đời – Cao tằng tổ tỷ : kỵ bà

Tằng tổ khảo : cụ ông – Tằng Tổ tỷ : cụ bà

Tổ khảo: ông – Tổ khảo : bà

Hiển khảo : Cha – Hiển tỷ: mẹ…

Tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu là biệt hiệu, bút hiệu; tên thụy là tên khi chết được đặt cho để cúng)

“Nước Việt Nam, năm Canh Dần, tháng bẩy, ngày mười hai..

Nay tôi là “Trương Văn Tốt,” sinh quán tại xã “Đa Phúc,” huyện “Kinh Dương,” tỉnh “Hải phòng.”  Hiện cư ngụ tại xã “Tân hòa,” “quận Tân bình,” tỉnh “Gia định.”

Hương hoa trầu rượu, cỗ bàn mọi vật. Dám xin kể ra. Nhân ngày giỗ chính, xin kính mời : Hương hồn kỵ là “Trương Quý Công”  húy “Tiền Hải” hiệu “Tự Thái” thụy “Phong Tần” về chứng giám.”

Ngày nay dân giam gần như không dùng văn khấn chữ Hán nữa mà chỉ dùng thẳng chữ Việt vì chữ Việt rõ ràng và dễ dùng, không bị nhầm lẫn chữ nghĩa… Một bài Văn khấn tiêu biểu bằng chữ quốc ngữ :

“Kính lạy Tổ tiên Ông Bà,

Cây có cội, nước có nguồn; người phải có tổ tiên, ông bà, cha me. Hương lửa lưu truyền, có thân lớn khôn đây là nhờ ơn Cửu Huyền ban phước.

Hôm nay là ngày…  tháng…  năm…   (Âm Lịch),  con tên họ là…   (xưng họ tên),…  tuổi, hiện ở tại…  (ấp, xã, huyện, quận, tỉnh thành phố v.v…). Được ngày lành tháng tốt, sắm bày phẩm lễ, kính trình “Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ, Chú bác Nội ngọai …” nhận lễ chứng minh, cho phép con được (đào móng, dựng nhà, lấy vợ  / gả chồng cho con v.v…).

Kính xin Ông Bà Tổ Tiên…  phù hộ độ trì cho công việc…   (Nếu là đào móng, xây, dựng  nhà, thì vái cho được tiến triển tốt đẹp, an toàn khi làm việc, chủ thợ đều bình an, nhanh chóng thuận lợi, vui vẻ mọi bề …Nếu về nhà mới thì vái cho  toàn gia được bình an mạnh khỏe, đời sống được ấm no, sung túc, trên thuận dưới hòa… Nếu là khai trương thì vái được thuận lợi, mua may bán đắt, chủ khách vui vầy, tiền bạc bốn phương tụ về, xuân hạ thu đông đều phát đạt…  Nếu là dựng vợ gả chồng thì xin độ rì trăm năm hạnh phúc…

Xin kính trình.”

Hoặc:

“Ngày… tháng… năm…

con là kế tự tên… có việc… xin đem lễ bạc, đãi chút lòng thành, nén hương đèn rượu, đĩa muối bát canh, trước bàn thờ khấn vái, xin thấu tâm linh, phù hộ cho con cháu, mọi sự yên lành.

Cẩn cáo. Cũng kính mời Thổ công Táo quân đồng lai cách cảm.”

Vái (“bái”) và Lạy : Vái lạy là phép xã giao có sẵn từ thời xưa, không chỉ dùng khi cúng tế mà người sống cũng lạy nhau.

Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn.Người ta thường nói chung hai việc thành một : “khấn vái” là vậy.

Vái lại thường đi đôi với lạy. Số lần lạy và vái có một ý nghĩa riêng rất đặc biệt. Số lần vái và lạy (sẽ nói thêm ở phần sau) là một đặc trưng phong tục Việt Nam bởi vì ngưới Tầu không có tục lệ vái lạy giống như người Việt – Họ chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái sau khi cúng mà thôi.

Vái : Vái được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này.

Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2, 3, 4, hay 5 vái…

Lạy : Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy : thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà.

Cách đơn giản : Ngày nay, cách lạy cũng đã được giản lược, hoặc vì không hiểu đúng phép người ta hành lễ một cách lấy có với những động tác vô nghĩa. Đã có xu hướng thay thế lạy bằng những cái “xá” (vái); nhất là những người ăn mặc Âu phục. Rồi đây, có thể tục lạy sẽ bị bỏ dần và mất hẳn trong mọi lễ nghi trong gia đình cùng ngay cả ở các đền chùa. Thiết tưởng cũng cần ghi lại một vài nét về tác động của cách lạy với hoài mong lưu lại một chút dấu tích về sau.

Người lạy đứng thẳng, chắp tay lên cao ngang trán, cong mình xuống, đặt hai tay vẫn chắp xuống chiếu, cúi rạp đầu xuống gần bàn tay đang chắp (đây là thế phủ phục), cất đầu vào mình thẳng lên đồng thời co hai tay vẫn lên chắp trước ngực và co đầu gối bên phải lên, đặt bàn chân phải lên chiếu để sửa soạn đứng dậy, đem hai bàn tay vẫn chắp xuống tì vào đầu gối bên phải mà đứng lên, chân trái đang quỳ tự nhiên theo cử động chót này cùng đứng thẳng lên. Người lạy, trước khi khấn đã lễ bốn lạy, và sau khi khấn từ tư thế quỳ đứng lên, đã qua như lễ được một nửa lạy, cho nên người ta thường nói là lạy “bốn lạy rưỡi” là vậy.

Để trình bày cho chi tiết hơn :  Có các thế lạy cho Nam giới và Nữ giới; đồng thời có bốn trường hợp lạy : 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý nghĩa khác nhau.  Mời đọc.

Thế Lạy Của Đàn Ông : Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

Thế Lạy Của Đàn Bà : Thế lạy của các bà là cách ngồi bệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển chuyển tha thướt, tượng trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất tiện là khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao niên còn áp dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.

Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền thống rất có ý nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành khẩn vừa trang nghiêm trong lúc cúng tổ tiên. Nếu muốn giữ phong tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh niên phải có lòng tự nguyện. Muốn áp dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập dượt nhiều lần mới nhuần nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

Ý NGHĨA CỦA LẠY VÀ VÁI

– Ý Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái : Hai lạy dùng để áp dụng cho người sống như trong trường hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng điếu, nếu người qua đời là vai dưới như em, con cháu, và những người vào hàng con em v..v.., ta nên lạy 2 lạy.

Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính cẩn, chứ không có ý nghĩa nào khác. Nhưng trong trường  hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà quàn, các người đến phúng  điếu, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì v.. v.., của người quá cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.

Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm dương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.

– Ý Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái : Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng trưng cho Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác, tức là giác ngộ, sáng suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong sạch, thanh tịnh, không bợn nhơ. Đây là nói về nguyên tắc phải theo. Tuy nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.

Trong trường hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu phục, nếu cảm thấy khó khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.

– Ý Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái : Bốn lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần. Bốn lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú ngụ.

Bốn vái dùng để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp dụng thế lạy.

– Ý Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái : Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng trưng cho trung cung tức là hành thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý kiến cho rằng 5 lạy tượng trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng Vương, quí vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng Vương là vị vua khai sáng giống nòi Việt.

Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

Trong việc cúng lễ tổ tiên ông bà, sự thành kính phải đặt hàng đầu. “Tâm động quỷ thần tri,” trong lòng nghĩ sao thì quỷ thần đều thấy rõ.  Việc cúng bái mà thiếu thành kính tức là thiếu sự hiếu thảo. Tổ tiên nào chứng giám cho những con cháu có cúng mà không có kính.

(Còn tiếp)

Trần Văn Giang

Advertisements

TÌM HIỂU VỀ NỐT RUỒI (2)

VỊ TRÍ NỐT RUỒI

VÀ TƯỚNG SỐ

Hình 5 sau đây là sự đúc kết của ông cha ta qua thực tế cuộc sống chứ không phải tự nghĩ ra đâu. Kết quả có tính đúng rất cao. Đôi khi kết quả làm bạn buồn, nhưng có sao đâu ? biết được thì cố gắng bồi đắp chổ xấu đó !

1. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ

2. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ

3. Khắc cha mẹ. Thường mất cha mẹ lúc còn trẻ tuổi

4. Người có cuộc sống bình đạm, không bon chen

5. Người có đạo đức

6. Sống rất thọ, cuộc đời sung túc nếu có cả nút ruồi số 2

7. Số may mắn, làm việc thường lúc nào cũng thành công

8. Nút ruồi đại phú, có nhiều tiền bạc, tài của

9. Nút ruồi quí, thường có danh vọng, địa vị cao trong xã hội

10. Người biết xuôi theo thời, thường được người có thế lực đỡ đầu

11. Nút ruồi thị phi. Dễ bị liên quan trong các vụ kiện tụng, thưa gởi, tiếng đồn xấu ..

12. Nút ruồi đại kiết. Cuộc đời thường gặp nhiều may mắn

13. Khắc cha. Thường cha chết trước mẹ

14. Nút Mụt ruồi ly hương. Phải rời xa quê quán lập nghiệp mới thành công

15. Nút ruồi tha hương. Thường sống xa nhà , khi chết cũng ở xứ khác

16. Nút ruồi Thiên-Hình. Dễ bị thương tật, hay xãy ra tai nạn

17. Thường có nhiều tiền bạc. Làm chơi ăn thiệt

18. Nút ruồi cô quả. Thường sống độc thân, có gia đình cũng không lâu bền hoặc không hạnh phúc

19. Nút ruồi kém may mắn. Thường không thành công trong cuộc đời. Khi chết xa quê hương

20. Thường làm về các nghề sản xuất như công kỹ nghệ, hoặc chăn nuôi, trồng trọt. Không có số làm thương mại

21. Nút ruồi triệu phú. Giàu nhỏ nhờ làm việc nhiều và biết cần kiệm.

22. Nút ruồi công danh. Thi cử dễ đậu cao, thường làm việc các nghề chuyên môn, cần bằng cấp

23. Nút ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số

24. Nút ruồi phú quí. Tốt về cả công danh lẫn tài lực

25. Thường thân cận với những người quyền quí hay giàu có

26. Nút ruồi đa nghệ. Nghề nào làm cũng dễ thành công

27. Nút ruồi xui xẻo28. Làm ăn dễ thất bại. Không nên mưu sự lớn

29. Nút ruồi thiên lộc. Làm chơi ăn thiệt, thường có của trên trời rơi xuống

30. Nút ruồi khôn ngoan, biết lợi dụng thời cơ để kiếm lời

31. Nút ruồi phá gia. Làm ăn hay gặp trở ngại đến mức phá sản. Cẩn thận về cờ bạc

32. Nút ruồi tai nạn, dễ bị bịnh hoạn, tai nạn

33. Dễ bị tai nạn, thương tích

34. Tiền kiết hậu hung. Làm ăn trước tốt sau xấu. Chớ nên làm những việc có tính cách ngắn hạn như áp phe, mánh mun, sale, ..

35. May mắn. Cuộc đời ít rủi ro, thường được nhiều người giúp đỡ

36. Nút ruồi phú. Làm giàu nhanh chóng

37. Tính người hung dữ, hay kiếm chuyện, hay gây rắc rối

38. Dễ gặp tai nạn vì bất cẩn

39. Tốt về mọi mặt từ sự nghiệp đến tình cảm

40. Tiền hung hậu kiết. Công việc thường có trở ngại lúc đầu, nhưng càng về sau càng tốt, giàu có

41. Hay gặp rủi ro, thất bại

42. Hay bị thương tích, thân thể thường có thương tật, tì vết

43. Nút ruồi xui xẻo

44. Nút ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình

45. Phát đạt. Làm ăn dễ thành công

46. Nút ruồi xui xẻo

47. Nút ruồi ly hương. Làm ăn có lúc phát rất mạnh, nhưng cuộc đời dễ bị phá sản

48. Hay bị tai bay vạ gởi, không làm mà chịu

49. Nút ruồi phân ly. Vợ chồng, nhân tình dễ xa cách

50. Khắc con cái, sinh nhiều nuôi ít

51. Sát thê, vợ chồng dễ phân ly

52. Khắc cha. Xa cha sẽ khá hơn

53. Hay gặp tai họa, rủi ro

54. Khắc mẹ. Số không sống gần mẹ. Vợ chồng cũng dễ phân ly

55. Kém may mắn, cuộc đời hay gặp những chuyện hung dữ, kẻ ác

56. Khắc con cái. Thường không sống gần con. Sinh nở khó khăn

57. Sát thê. Vợ chồng dễ phân ly

58. Tính tham lam. Có tật ăn cắp vặt

59. Nút ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình bất chính

60. Thông minh và khôn ngoan. Học ít hiểu nhiều

61. Số dễ bị tai nạn

62. Thông minh, sống rất thọ. Tiền bạc trung bình

63. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết

64. Nút ruồi quan tụng. Trong đời hay xảy ra chuyện lôi thôi về kiện tụng

65. Khắc cha. Thường mất cha hoặc sống xa cha từ nhỏ

66. Thông minh, học ít hiểu nhiều. Sống rất thọ

67. Nút ruồi cô độc. Thường phải ly hương, xa gia đình, xa vợ con

68. Dễ bị tai nạn về nước và lửa

69. Nói nhiều, hay bị người ghét vì ăn nói. Nói không cẩn thận và không nghĩ đến cảm giác người khác

70. Ngồi lê đôi mách, hay để ý chuyện của người khác

71. Tính xấu, thường hà tiện và tham lam

72. Con cái, người dưới hay bị hoạn nạn

73. Nút ruồi tuyệt tự, khó có con

74. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết

75. Dễ bị tai nạn về sông nước

76. Tính xấu, tham lam, lòng dạ không ngay thẳng

77. Nút ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số

78. Nút ruồi thị phi. Họa đến từ miệng, thần khẩu hại xác phàm

79. May mắn, làm ăn, công việc luôn có người giúp

80. Thông minh, nhạy bén, thi cử dễ đổ cao

81. Nút ruồi Hòa Lộc. Tiền hết lại có, không bị túng thiếu

82. Nút ruồi ngoại tình, đa tình. Nam cũng như nữ, đều dễ ngoại tình

83. Nút ruồi phú. Thường giàu có nhờ làm ăn được nhiều người giúp đỡ

84. Nút ruồi may mắn. Cuộc đời thường may mắn, dễ kiếm tiền

85. Dễ bị phá sản vì thiên tai hay chiến tranh 

86. Nút ruồi hoạnh phát. Thường có tài lộc, của vô rất nhanh

87. Nút ruồi lãng mạn. Nam cũng như nữ đều thích chuyện tình ái, chăn gói. Thường có nhiều quan hệ cùng lúc

88. Nút ruồi trác táng. Dễ sa ngã vào rượu chè, hút sách.

89. Khôn ngoan, thông minh, tính tình rộng rãi

90. Số sung sướng, không giàu nhưng nhàn hạ, hưởng thụ.

91. Nút ruồi bình an. Cuộc đời không sợ tai nạn

92. Dễ bị người khác cướp giật, sang đoạt tài sản

93. Nút ruồi phong lưu. Thường có đời sống xa hoa, hưởng thụ

94. Giàu có và khôn ngoan. Hay gặp may mắn về tài lộc

95. Thường có danh vọng, địa vị trong xã hội.

Mụt Ruồi trên Thân thể và chổ kín

Thân Trước (H6)

Nút ruồi mọc nổi cao hoặc mọc chìm tại giữa yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : bất kể nam hay nữ được mụt ruồi này đều tốt đẹp về lương duyên. Hạnh phúc, phu xướng phụ tùng, chồng nói vợ nghe rất hòa thuận.

Nếu mọc chìm: hôn nhân sớm quá đều bất lợi, lấy chồng sớm ắt có người phải chết sớm. Ngay dưới yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : Tánh ưa nay đây mai đó, không muốn ở yên nơi quê quán, thích dung rủi trên đường trường. Nếu mọc chìm : dễ bị tai ương về xe cộ

Giải thích : yết hầu tiếng Anh gọi là Pharynx, đoạn ống tiêu hóa dài khoảng 12 – 15 cm ở cổ họng người, gồm Nasopharynx, Oropharynx, Laryngopharynx. Cục yết hầu Larynx là sụn tuyến giáp. Hormone nam ở tuổi dậy thì tăng cường hoạt động khiến bộ phận này thay đổi, cục yết hầu nhô thêm ra ở cổ. Giọng các em bé trai và giọng thanh niên trai khác hẳn nhau (bễ giọng).

Chính thời gian dậy thì là khi giọng của bé nam thay đổi. Thanh quản rộng ra, dây thanh đới dầy lên và dài ra, giọng họ sẽ trầm xuống. Việc chuyển giọng có thể đột ngột, có thể dần dần. Thường người ta ít để ý quá trình đó, nhưng có một số em trai bối rối vì biến cố “bễ giọng”, nhưng đây chỉ là một hiện tượng nhất thời thôi, sau đó bạn sẽ có được chất giọng ấm áp của người đàn ông.

Nút ruồi mọc trên vai : bên phải (kể cả nổi hay chìm): người rất thận trọng, đôi khi trở thành tư lự xấu xa, có tính khiếp nhược. Thận trọng, nhi tâm tư lự chi tướng. Bên trái (kể cả nổi hay chìm): ưa thích biện luận. Ưa bàn luận phải quấy, thích đi quá mức với bổn phận của mình, con người cứng cỏi, tranh khôn khiến cho người khác thù hiềm.

Nút ruồi mọc tại nhũ bộ, trên đầu vú hoặc bên ngoài vành vú, kể cả mọc chìm hay nổi

Bên vú phải : là hạng người chỉ gặp toàn bạn ăn hoặc bạn tiền bạc lợi dụng.

Bên vú trái: người biết lo lắng, cụ bị, có tánh cần cù, mẫn cán. Thích hoạt động đi đây đi đó. Tả nhũ chi chí, cần mẫn tính cách. Hỉ ái bộ hạnh. Là người không vung tay quá trớn, ăn bữa sớm đã biết lo bữa tối. Đàn bà có mụt ruồi này thường chồng con được nhờ, là nội trợ hiền thục.

Nút ruồi mọc tại khuỷu tay phía trước cùi chỏ : Nếu mọc nổi: tinh thần không chịu thua dưới kẻ tiểu nhân, có chí khắc phục mọi gian nan trở ngại, đây là tướng tốt. Nếu mọc chìm: gặp được lương duyên giai lão, sống lâu trường thọ.

Nút ruồi mọc ở mu bàn chân, kể cả chìm hay nổi : Tướng rất lanh lợi về đường làm ăn, nhưng lại là kẻ thích ăn không ngồi rồi. Tướng chẳng được tôn trọng, là người ưa đả kích, đối kháng nên tuy có lợi về đường làm ăn nhưng có hại ở sự thâm độc.

Nút ruồi mọc ở trên đầu gối phải hoặc trái : Mọc nổi: đây là tướng tốt, có lòng nhân từ. Dù đối với người ngoài cũng vẫn có lòng thân và thắm thiết tận tình. Mọc chìm: là người thô tục tàn bạo, cũng là kẻ ưa chú ý đến sự đề cao và rất tự ái, cố chấp.

Nút ruồi mọc ở lỗ rún: mọc nổi cao rõ ràng tại lỗ rún thì tiền tài và thời vận đều tốt lành, được giàu sang đem tới. Moc chìm : tài vận tuy có, nhưng là người ưa lạm dụng chất chứa tiền tài làm của riêng. Tuy nhiên Nút ruồi ở lỗ rún dù mọc chìm hay nổi đều là tướng phước thọ.

Nút ruồi mọc giữa ngực, giáp giới giữa ngực và bụng có chổ lõm xuống thì gọi là Tâm Oa, phía dưới trái tim. Mọc nổi : Tài lộc giai hanh ngãi là tiền tài và lợi lộc đều tươi sáng. Công danh phát đạt, tài cán và danh vị đều nổi bật. Mọc chìm : Tướng ưa danh vị hảo huyền, làm việc gì cũng nhiệt thành tới nửa chừng, dễ bị chán chường mỏi mệt bỏ ngang.

Trần Đáo Trạch, có 7 nút ruồi son trên ngực, tục gọi là Thất tinh hội tụ là tướng cực quý. Trạch vốn sanh trong một gia đình rất nghèo, cha Trần Tấn Tài sinh sống bằng nghề làm ruộng, lúc Trần Đáo Trạch được 4 tuổi, một hôm theo cha ra đồng thăm ruộng, bị một kẻ bất lương cùng họ là Trần Tương lén dẫn đi bán cho một phú hộ là Từ Tử Lỗ, thấy Trạch có nút ruồi cực quý nên nhận ngay làm con, đổi thành họ Từ. Năm 20 tuổi. Trạch vào Bắc kinh thi, đậu trạng nguyên và được Minh Thần Tông tuyển làm Phò Mã ban cho cờ biển vinh quy. Khi tân trạng nguyên về đến Quảng Châu, hai họ Từ, Trần tranh nhau nhận người. Khi biết được câu chuyện, tổng đốc Quảng đông đề nghị hai họ nên nhận Đáo Trạch làm con chung, sau đó Đáo Trạch và Công chúa sanh con thì mang tên cả hai họ. Vậy là từ đó, con cháu Đáo trạng mang họ kép là Trần Từ, con cháu hai họ đều quý hiển, giàu có.

Đàn bà có nút ruồi ở ngực sanh quý tử.

Nút ruồi mọc tại đùi trên, trước bẹn, kể cả hai bên bẹn hay là hai bên háng, thuộc phía trước đùi trên, bất kể mọc chìm hay nổi : Chỉ cần có nút ruồi tại háng trở xuống gần tới đầu gối thuộc về phía trước, bất kể nổi cao hay bằng phẳng đều là tướng tốt. Số được của cải, càng ngày càng giàu thêm.

Nút ruồi mọc chổ kín của đàn bà, cũng gọi là âm hộ hay cửa mình : Trong phạm vi nơi này bất kể trong hay ngoài, chìm hay nổi, màu đen hay đỏ đều có tánh quật cường, ương nghạnh, chẳng chịu phục tùng ai. Nhưng là người có tài nội trợ và có danh lợi, chức quyền.

Nút ruồi mọc bất kỳ ở vị trí nào trên dương vật hay còn gọi là ngọc hành màu đỏ sanh quý tử, mọc ngay ở đầu ngọc hành cũng sanh quý tử. Màu đen đề phòng chứng Thượng mã phong, trong dân gian còn gọi là bị “trúng phòng” hay “phạm phòng”: xuất tinh liên tục đến chết, đột tử trong khi sinh hoạt tình dục (cách đề phòng và cấp cứu Thượng mã phong đọc thêm ở cuối bài).

Nút Mụt ruồi quanh bộ phận sinh dục, cả nam lẫn nữ đều thuộc loại người đam mê sắc dục. Nút ruồi chổ kín chủ sanh con tài giỏi, nhưng quan trọng là phải đi kèm với tướng mạo tốt: gái phải đoan trang, giọng nói nhẹ nhàng, rõ ràng và thanh, trai đi đứng ngay thẳng, nếu có những điễm phá tướng: giọng khàn, rè hay the thé, tướng ẽo lã, chưa nói đã cười, nói cười phun nước miếng, đi hai hàng, v.v. thì chỉ là hạng người đàng điếm, chơi bời, giang hồ mà lại khó tránh khỏi được bịnh phong tình.

Nút ruồi mọc trên bụng, là hai bên mạng mỡ : mọc nổi : bất cứ phía nào cũng đều là tướng người ưa tiệc tùng ăn uống, là người rất mạnh về ngôn luận. Mọc chìm : tướng vì rượu vì sắc mà dễ dàng lâm cảnh khốn khó, rối loạn tâm tư, có thể trở nên cướp bóc, sang đoạt lừa đảo, đi đến chổ gian truân.

Nút ruồi mọc ở hai nách : mọc nổi : người có tình cảm sâu xa, nghĩa nặng khiến cho người khác phái phải kính trọng, đam mê. Mọc chìm: tuy đẹp đẽ nhưng thiếu sự cuốn hút, cung phụng kẻ khác nên dễ bị moi móc, hiềm ghét, chê bai.

Thân Sau (H7)

Nút ruồi mọc ở cổ hoặc tại hai bên gáy chổ bả vai nhích lên : mọc nổi cao rõ ràng, bất kể đen hay đỏ, đều là tướng có phước, hưởng một cuộc sống cơm no áo mặc không thiếu thốn. Người tự trọng, có tâm địa hùng mạnh, ngay thẳng, khôn ngoan.
Mọc chìm hoặc không rõ rang : Tướng nghèo, không có phước hưởng lộc, áo cơm.
Nút ruồi mọc chung quanh cổ bất kể đỏ hay đen, nói chung đều là những người sống bằng nghề ăn nói.

Nút ruồi mọc ở dưới xương gu vai : mọc nổi rõ ràng bất kể lớn hay nhỏ đều là tướng giàu có, con người làm việc gì cũng có kế hoạch nhất định. Là người cẩn thận, rành rẽ và có ý chí mạnh mẽ. Mưu sự lo lắng bất kể việc lớn nhỏ cũng không bỏ sót. Đàn bà như vậy là gia đình được nhờ. Mọc chìm hoặc không rõ ràng hay có nét lộn xộn : tướng thiếu sót kế hoạch mưu sinh và thiếu tín nhiệm.

Nút ruồi mọc hai bên mông đít, kể cả chìm hay nổi, bất kể là loại nào : Là tướng có cụ bị và năng lực, nhưng không có một khuynh hướng lớn nào nhứt định, lười biếng. Dễ dàng chôn vùi mục đích của mình. Thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, con người không chân thật, ba phải.

Nút ruồi mọc tại bộ đùi, cả đùi trên và dưới kể từ mông đít đến bắp chuối, chìm hay nổi : Là người nhiều hiểm kế. Tướng tham sắc đẹp, nói một đàng làm một nẻo, khó biết rõ tánh tình.

Nút ruồi mọc tại cùi chỏ : mọc nổi trên cùi chỏ bất kể tay nào đều là tướng người thích đi đây đó. Có đầu óc kinh doanh, không thích ngồi tại nhà, không quảng ngại mưa nắng để mưu sinh. Mọc chìm: khinh người, nông nổi, nhiều khuyết điểm về mặt xử sự, không có ý chí nhất định, thiếu nhẫn nại.

Nút ruồi mọc tại lưng : mọc nổi bên phải hoặc trái của eo, lưng, sau mạng mỡ đều là tướng tốt. Các công việc giao phó đều được thực hành sốt sắng, hết lòng làm cho bằng được. Là người biết hạn chế các dục tâm không vượt qua lễ nghĩa. Người có nút ruồi này là người thật thà, đầy đủ tín nghĩa. Làm bất cứ việc gì cũng có chuẩn bị, bước chân luôn đặt vững trên mặt đất. Mọc chìm : người dễ bất mãn, khó hoàn thành các công việc được giao phó. Coi mọi việc luôn tầm thường, không suy sét trước sau.

Nút ruồi mọc ngay giữa xương sống, hoặc tại chu vi nơi hai buồng phổi phía sau lưng : mọc nổi rõ ràng: mụt ruồi này là có nét chỉ bịnh hoạn, hay có vấn đề về đường hô hấp, yếu tim khó thở, hô hấp yếu kém. Tuy vậy lại có tướng cách sống lâu. Mọc chìm : Tướng ưa đái vắt, đái sót. Tánh chậm chạp, lừ đừ. Chỉ chú ý đến sự sống của riêng mình, không biết quan tâm và chia sẽ với ai khác.

Nút ruồi mọc tại phía bộ xương sống hoặc ở hai bên trái phải của xương sống : mọc nổi : Tướng thường mắc bịnh nhưng không nghiêm trọng, thường có bịnh về đường ruột hay bao tử. Mọc chìm: có thể phát bịnh về nội tạng. Đàn bà thì rất buồn phiền, bịnh tình thường lấn áp tâm trí và hay gây biến chứng. Nhưng số lại không yểu.

Nút ruồi đỏ ở lưng là tướng cách của quí nhân, bậc công hầu khanh tướng.

Nút ruồi mọc trên bàn tay là người có quý tướng, mọc trên lưng bàn tay thì có ý nghỉa tương tự, tuy ít “mạnh”, ít quý hơn trong lòng bàn tay. Nút ruồi son trong lòng bàn tay gọi là Chưởng Thượng Minh Châu tức là bàn tay có nắm hột ngọc, cực phú cực quý, rất giàu, tiền hô hậu ủng.

Nam Nữ như nhau, người thuận tay phải có nút ruồi trên tay phải, chủ về cầm quyền, quý cho những nghành nghề có liên quan đến “động”, thí dụ : đứng đầu trong quân đội, trong hảng xưởng, buôn bán. Người thuận tay phải có mụt ruồi trên tay trái thì có tài về những việc tĩnh, thí dụ : hạng nhứt trong gia công, nội trợ, có tài ăn nói hoạt bát, giỏi về ngoại giao, thông minh về ngôn ngữ.

– Nút ruồi nằm ở ngón tay cái: làm việc gì cũng muốn thành công mỹ mãn nhứt, là người hòa đồng với mọi người nhưng thường hay bị bạn bè ganh ghét.

– Người có mụt ruồi đen hay đỏ trên ngón tay trỏ  : là người có tài chỉ huy. Nói ra được mọi người lắng nghe và làm theo.

– Nút ruồi ở ngón giữa : người rất chững chạc. Là người tốt bụng, tánh tình cởi mở, như một luồng gió mát mùa hè. Người này đi đến đâu cũng đem lại niềm vui cho những người chung quanh.

– Nút ruồi ngón áp út: người này sống về nội tâm, vì tình cảm. Coi trọng tình yêu hơn bất cứ thứ gì, lại có khiếu về nghệ thuật. Nếu thêm ngón áp út dài hơn ngón trỏ, thì người này có thể trở thành một nghệ sĩ nổi danh.

– Nút ruồi ở ngón út: tính tình hơi con nít và hơi làm biếng, nhưng là người khá thông minh nên dù bắt đầu sau người khác cũng có thể đến đích trước.

Tóm lại, nút ruồi mọc trong bàn tay thì tốt. Theo tương truyền, đời nhà Thanh có Hải Lan Sát có tay dài quá gối, lòng bàn tay có bảy mụt ruồi, ông làm đến bậc vương hầu, quyền quý một thời.

Sách tướng đời Hán viết : “Tay nắm bảy sao, làm quan cực phẩm”. Đừng lẫn lộn với câu ” Nút ruồi ở tay, ăn vay suốt đời” đó là nút ruồi mọc ở cánh tay, chứ trong bàn tay kể cả giữa các kẻ của các ngón tay hay trên các ngón tay (phía trong) càng kín và nhiều chừng nào thì người càng có quý tướng chừng ấy.

Nút ruồi mọc ở lòng bàn chân còn gọi là “bàn chân dẫm lên ngôi sao” như Kỳ Nhạc, số cai quản ngàn quân. Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ ở lòng bàn chân có bảy nút ruồi “Chân đạp thất tinh” số làm vua, cực quý. Đàn bà có nút ruồi ở lòng bàn chân thì là người phụ nữ có chồng thành đạt và sẽ là cánh tay đắc lực của chồng.

Quế Phượng post

TÌM HIỂU VỀ NỐT RUỒI (1)

VỊ TRÍ NỐT RUỒI

VÀ TƯỚNG SỐ

Dưới đây diễn giải tất cả về nốt/nút ruồi và tướng số từ trên xuống dưới : trên mặt, trên thân thể, chổ kín, âm hộ, dương vật, nốt ruồi mọc trên bàn tay, lòng bàn chân, v.v.

Nốt ruồi (english: birthmark) ví như cây trên núi, mô đất nơi đồng bằng. Núi có mỹ chất thì sinh cây quý để tỏ tú khí của núi. Đất tích ô thổ thì sinh những thứ quái ác. Lý lẽ vạn vật là như vậy. Đến như con người, nếu chứa chấp mỹ chất sẽ nảy ra Hắc tử (mụt ruồi) để hiển hiện điều quý, nếu mang chất dơ đục sẽ sinh “ác chí” để hiện cái tiện.

Nói chung  nốt ruồi chết, đục, tĩnh, hở là xấu hoặc nếu ở vị trí tốt thì cũng không mạnh bằng. Nốt ruồi sống, đỏ, động, kín là tốt. Nếu nốt ruồi màu đen, thì phải đen hẳn mới tốt. Riêng về nốt ruồi động, nó thường làm cho người đàn bà thêm duyên dáng, cười đã đẹp mà còn có nốt ruồi duyên nữa thì khả ái biết mấy.

Có một số lý thuyết gia tướng học quá khích cho rằng “diện vô thiện chí” không nốt ruồi trên mặt nào là tốt cả. Các tướng sư lại lập luận là tùy vị trí, tùy màu sắc và nốt ruồi trên mặt, nếu được che đi thì lại càng tốt, tỉ dụ mọc trong lông mày, được lông mày che đi. Tàn nhang cũng tương tự, nhưng hầu hết đều có ý nghĩa xấu.

TƯỚNG VỀ NỐT RUỒI :

1/. Nốt ruồi mọc ở góc trán : đa phu, háo sắc

2/. Nốt ruồi mọc ngay giữa trán, khắc phu và hại chồng

3/. Các nốt ruồi mọc gần mắt, ấn đường *, sơn căn, mũi, ngư vỹ *, lệ đường, đều xấu : hại chồng, khóc con

* Ngư vỹ, vị trí : ở phía ngoài đuôi mắt 0,1 thốn (0,33cm). * Ấn Đường, vị trí : ở giữa hai đầu lông mày.

4/. Nốt ruồi mọc trên lưỡng quyền, tính hay đố kỵ, nhỏ nhen

5/. Mọc bên hai cánh mũi, pháp lệnh : Xấu, hại con hại chồng

6/. Nốt ruồi mọc trong tai, hoặc gần tai : thọ, thông minh, và hiếu thuận

7/. Nốt ruồi mọc ngay nhân trung : dể có song sinh

8/. Nốt ruồi mọc xung quanh miệng: ham ăn và luôn có lộc ăn

9/. Nốt ruồi mọc dưới miệng, khó giữ của

10/. Nốt ruồi mọc ngay giữa cằm : sát phu

11/. Nốt ruồi mọc trong khu vực trước của cổ : giàu

12/ Mọc trên hai đầu vai: khổ sở, bần tiện

13/. Mọc ngay chổ kín, xung quanh âm hộ, hay ngay âm hộ, nếu đen thì tốt, màu đỏ son thì vượng phu ích tử.

14/. Nốt ruồi màu như tàn tro mà đóng ở ngay sơn căn (*): chết bất đắc kỳ tử

15/. Nốt ruồi mọc ngay đầu mũi : có chồng chẳng ra gì

16. Nốt ruồi mọc trong lông mày, ngọc ẩn trong mây, rất tốt, gia đình hạnh phúc, anh em hòa thuận và quý hiển.

Tóm lại, mụt ruồi sống hay chết, đen hay đỏ gì cũng không nên mọc trên khuôn mặt vì ví như một thửa ruộng tốt mà khi không ngay chính giữa nổi lên một cái gò mối, hay một ngôi mộ cổ, thì thữa ruộng đó có vẽ không thông suốt, và mất mỹ quan cũng như giá trị giãm đi của một khu đất tốt (trừ mụt ruồi duyên mọc gần miệng hay trên môi ra).

Nốt ruồi nên mọc kín trong cơ thể, phải là nốt ruồi sống, đỏ hay đen tuyền, thì mới tốt. Nốt ruồi mọc ở những chổ càng kín đáo thì càng tốt, càng kín đáo đặc biệt bao nhiêu thì càng quý bấy nhiêu.

Xem nốt ruồi mọc trên mặt (H1)

NHỮNG NÉT TƯỚNG NỐT RUỒI

a/- Bản chất và ý nghĩa : Trong thuật ngữ của tướng học, danh từ nốt ruồi mọc trên mặt ruồi bao gồm :

Những dấu chấm trên làn da hoặc chìm trong da (tục ngữ gọi là tàn nhan hay bã chè), có hình dáng hơi tròn, hoặc tròn, có thể nhỏ như đầu đinh ghim hoặc lớn bằng đầu nén hương thông thường đang đốt cháy. Loại này người ta mệnh danh là tử chí hay nốt ruồi mọc trên mặt ruồi chết.

Những dấu chấm nổi cao hơn mặt da 1 cách tự nhiên (mụn cóc không được coi là nốt ruồi mọc trên mặt ruồi vì có nguồn gốc bịnh lý lan tràn rộng hay bị thu hẹp nhờ phép trị liệu y khoa thông thường), có thể lớn bằng đầu nén nhang hoặc nhỏ như hạt tấm. Loại nốt ruồi mọc trên mặt ruồi này được gọi là nốt ruồi sống (sinh chí).

Về mặt màu sắc, nốt ruồi bất kể là loại sống hay chết đều có thể có các màu sắc sau đây :

– Màu xám tro – Màu đen lợt – Vàng đậm như hoàng thổ – Hồng lợt – Đỏ đậm như màu son tàu.

Nốt ruồi động và nốt ruồi tĩnh : động là mọc nơi bắp thịt được sử dụng để cử động như chung quanh miệng. Tĩnh là mọc những nơi không cử động như lổ tai, đầu, trán v.v.

Chỉ có hai màu đen huyền và đỏ đậm như son tàu mới coi là quý, những màu khác, tạp sắc chủ về hung hiểm, phá hại.

Nốt ruồi xuất hiện trên mặt, nhất là phái đẹp, nốt ruồi son hoặc mun có hình dạng vừa phải sẽ làm tăng thêm duyên dáng của nụ cười, ánh mắt. Xuất hiện ở các bộ tĩnh vị, ví dụ như sống mũi trán làm giảm mỹ quan khuôn mặt. Về dự đoán sự tốt xấu căn cứ vào vị trí nốt ruồi, ta cần phải nhớ nguyên tắc cơ bản là nốt ruồi nên vừa phải và ở những chỗ khuất kín trên khuôn mặt, hoặc mọc sau lớp quần áo thường có ý nghĩa tốt, trái lại là xấu.

Sách Tướng Lý hoành Chân, bàn về nốt ruồi có nói : “Nốt ruồi đối với con người cũng như cỏ cây đối với núi non, gò đống đối với địa thế của đất đai. Chất đất tốt thì sinh ra cây cối tươi tốt, chất đất cằn cỗi thì sinh ra cây cỏ héo úa, xấu xa. Người có nội chất tốt thì ra nốt ruồi đẹp cho thế nhân biết được cái đẹp. Người có bản chất xấu thì không sao có nốt ruồi đẹp được.

Nốt ruồi nổi lên tượng trưng cho một gò đống đối với mặt đất, cho nên nó phải ở nơi kín, nên ẩn tàng mới quí. Gò đống hiện ra ngay giữa đường đi lối lại hay sân vườn gây cản trở, làm mất mỹ quan, nhưng ở nơi rừng núi lại góp phần vào việc làm gia tăng cảnh trí của địa thế.

– Trên mặt tượng trưng cho sảnh đường, những đường giao tiếp trên mặt tượng trưng cho đường giao thông lớn (thông cù). Nếu mọc ngay nơi sảnh đường thì làm hại khí tượng sảnh đường, mọc ở thông cù thì trở ngại cho việc đi lại.

– Nốt ruồi nằm nơi “sơn lâm cùng cốc” thì sinh được “hoa thơm cỏ lạ” như ở tóc, chân mày, râu, tóc mai, hoặc ở những bộ phận kín trên mình, đó tượng trưng cho sơn lâm. Vì vậy sách có câu : “Mặt không có nốt ruồi thì tốt. Trong mình không có nốt ruồi thì xấu”.
Bởi vậy, nốt ruồi không nên hiện ra TRÊN TRÁN, MŨI (mũi và trán ví như đường cái hoặc sân vườn) mà nên hiện ra ở chân mày, chân tóc (những nơi này với khuôn mặt ví như thâm sơn hiểm cốc).

Ông Hoành Chơn Nhã xem tướng luận về nốt ruồi có nói : “nốt ruồi như núi có rừng cây, đất có đồi gò. Núi có chất tốt thì sinh cây quí, xum xuê tỏ ra có tú sắc đẹp đẽ. Đất mà ô trọc thì sinh giống ác thảo để phô chất xấu cũng như ngọc lành có tì vết, hột xoàn có vết than. Lẽ của vạn vật cũng như vậy. Người mà sẵn có tố chất tốt đẹp thì sinh nốt ruồi tốt, đặc biệt để phô vẻ tốt, nếu xấu thì có những nốt ruồi xấu để tỏ việc ti tiện. Nốt ruồi đen mà ở nơi lộ liễu quá thì hung nhiều, ở nơi kín đáo thì cát nhiều, sinh trên mặt phần nhiều là bất lợi. Nốt ruồi đen thì thật đen mun, còn son thì phải được như màu son (đỏ hồng) thì mới tốt. Đen mà có pha màu đỏ thì chủ người nói nhiều, hay tranh biện, pha màu trắng thì chủ việc hay lo sợ, tai ách; pha màu vàng thì chủ hay quên, để thất thoát đồ vật”.

Từ những điểm trên ta thấy phép giải đoán sự cát hung của mụt ruồi có thể được thu gọn vào 3 điểm chính :

1/- Bản chất mụt ruồi (chìm hay nổi)

2/- Màu sắc (tốt xấu)

3/- Vị trí xuất hiện (đúng hay trái chỗ)

b/- Phương pháp giải đoán

Trong 3 điểm chính trên thì vị trí nốt ruồi đóng vai trò chính, còn cách cấu tạo và màu sắc chỉ có giá trị thứ yếu.

Xuất hiện đúng vị trí thích nghi là nốt ruồi sống, không lớn không nhỏ, màu đen hoặc đỏ sậm khá rõ rệt là điềm rất tốt. Sắc bóng và đậm chủ yếu về sự việc nhãn tiền, lợt dần chủ về việc quá khứ, đậm dần chủ về tương lai. Nếu nốt ruồi chết, hình dạng méo lệch thì xấu dù là màu sắc gì đi nữa.

Xuất hiện không đúng vị trí ngoài ý nghĩa đặc thù do vậy từng vị trí nốt ruồi sống cực xấu, nốt ruồi chết xấu vừa, hình dạng lớn nhỏ cũng ảnh hưởng tới sự xấu : lớn xấu nhiều, nhỏ xấu ít. Về màu sắc thì sắc đen huyền đỏ sậm giúp cho mụt ruồi sống, không lớn không nhỏ, mọc sái chỗ, sửa chữa phần nào tính chất xấu của vị trí và có ý nghĩa là tiền hung hậu kiết. Nếu mụt ruồi sống mà là các màu tạp sắc hoặc không phải là đen huyền hay đỏ sậm thì mới phải giải đoán là cực xấu.

Người da trắng mà mặt mày châu thân có nhiều nốt ruồi chết màu đen bóng chủ về thông minh, nhưng háo sắc, màu vàng khô chủ về ngu đần đê tiện.

Người cao ốm mà tuổi thiếu niên mặt và thân hình có nhiều nốt ruồi chết cỡ lớn rải rác, màu sắc hỗn tạp chủ yếu về yểu thọ.

Người mập và trẻ, có các nốt ruồi chết hiện lên trên thân hình, diện mạo thì yểu, nhưng ngoài ngũ tuần, mặt và tay chân nảy sinh ra. Bất luận màu gì miễn là có sinh khí thì đó là dấu hiệu trường thọ.

Nơi đây là ý nghĩa của mụt ruồi trên 1 số bộ vị quan trọng của khuôn mặt (H2)

Chú giải :

Thiên : chủ về không được thân cận những người quyền quí trai thường khắc cha, con gái thường làm tổn hại chồng.

Thiên đình : chủ yếu không được hưởng hạnh phúc của cha mẹ, đặc biệt là khắc mẹ.
Tư không : thường nói bao quát cả cha mẹ và có ý nghĩa tương tự như 2 bộ vị trên. Đàn bà thường suốt đời khổ vì chồng. Ngoài ra về mặt tai họa, nếu kẻ đó, bất luận nam nữ mà nghề nghiệp khiến thường xuyên phải tiếp xúc với các loại hỏa khí như lính cứu hỏa, hỏa đầu quân (đầu bếp), thợ luyện kim, v.v… thì trong đời khó thoát khỏi tai nạn về lửa, ít nhứt một lần.

Ấn đường : Mụt ruồi sống nhưng phá cách chủ về ý chí bạc nhược, làm việc có đầu không đuôi, nếu đắc cách hoàn toàn chủ về quí hiển.

Sơn căn : chủ về hình khắc (trai khắc vợ, gái khắc chồng). Nếu chính giữa sơn căn và tiếp giáp với niên thượng có mụt ruồi sống mà sắc như tàn tro chủ về chết bất đắc kì tử.
Sơn căn có vị trí ở trên giữa sống mũi, giữa đường ngang bên trong hai khóe mắt.

Sống mũi (bao gồm cả niên thượng, thọ thượng) : chủ về nghèo khó, thân thể bịnh tật. Đàn ông dễ bị đàn bà hiếp chế, đàn bà dễ bị chồng làm khổ.

Chuẩn đầu : chủ về khó tránh khỏi hao tổn tiền bạc và cũng có ý nghĩa vì háo sắc mà tốn của (chung cả nam lẫn nữ). Riêng đối với đàn bà, còn có một trong nhiều ý nghĩa quan trọng cho biết là số có chồng tính tình độc hại, nham hiểm.

Nhân trung : tại đây có nốt ruồi là một điểm cực xấu vì đó là nơi cho biết khá chính xác về thọ yểu, con cái (nhất là đàn bà vì ngoài ý nghĩa chung cho cả 2 giới còn có ý nghĩa đặc biệt là tử cung dễ bị bịnh)

Thực thương và lộc thương : chủ về hệ lụy do ăn uống mà ra (bị bịnh vì ăn uống, miệng tiếng vì ăn uống v.v…)

Thừa tương : khó tránh khỏi vì ăn nhậu mà ngộ độc hay chết vì rượu nhất là vào khoảng 54 tuổi

Miệng, môi : ham ăn và có ăn luôn luôn

Địa các : chủ về tai họa, tốn tiền hại của, do người quen biết gây ra (chẳng hạn đứng bảo lãnh cho ai thuộc về một việc liên quan đến tiền bạc, ruộng vườn v.v…)

Lệ đường (Cung phu thê) : chủ về đàn ông thường hay trai gái, nếu không lấy thêm vợ bé thì cũng lăng nhăng. Đàn bà khó tránh khỏi cảnh tái giá.

Lưỡng quyền : lưỡng quyền thấp lại có mụt ruồi, quyền của mình bị người khác chiếm đoạt hoặc vì người mà mang lụy đến thân khiến cho quyền uy của mình bị tổn hại.

Người xưa có câu : “Uy nghi là nhờ đôi mắt, lưỡng quyền và thần khí”. Đàn bà lưỡng quyền cao, người hung dữ lấn áp chồng, sát phu, hại chồng, hoặc là người rất dâm đãng.
Người Tàu ngày xưa chọn vợ cho vua, vòng loại đã kỵ người có lưỡng quyền nhô. Đàn ông lưỡng quyền nhô là loại người nham hiểm hoặc ác độc, luồn cúi người trên, đè đạp kẻ dưới quyền. Xương lưỡng quyền còn gọi là đông nhạc (lưỡng quyền bên trái) và tây nhạc (lưỡng quyền bên phải), cả hai được gọi là “nhân phủ”. Lưỡng quyền không được nhô lên hoặc lõm xuống, cũng không được kéo dài đến mai tóc mới là tướng phúc và quý. Lưỡng quyền cao là tướng xấu, nữa cuộc đời bị hại.

Lưỡng quyền là xương hai bên gò má. Tiếng Anh : cheekbones, tên y khoa: zygomatic bones.
Tai : ở phía trên, chủ thể về cá tính con người hiếu hạnh, ở phía dưới chủ về thông minh.
Ngũ Nhạc : là năm vị thần trông coi 5 ngọn núi thiêng của tàu gồm đông nhạc (Thái sơn), tây nhạc (Hoa sơn), nam nhạc (Hành sơn) là trán, trung nhạc (trung tâm, Tung sơn) là mũi, bắc nhạc (Hằng sơn) là cằm.

Trong sách Thần Tướng Toàn Biên luận về nốt ruồi ở trên đầu và mặt có nói :

Đàn ông có nốt ruồi sinh ngay giữa trán là chủ phú quý, gần trên đó là cực quý. Trên trán có 7 điểm đen chủ đại quý. Sinh ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Thiên đình là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha mẹ, ở ngay Ấn đường là chủ quý.

Nốt ruồi mọc ở hai vành tai chủ trí tuệ thông minh, trong tai chủ sống lâu, ở tai trái chủ có tài của, ở khoé mắt làm chủ giặc, nốt ruồi trong tròng trắng mắt là người cực kỳ nham hiểm, trên sơn căn chủ việc khắc hại, dưới sơn căn chủ chết vì binh đao, bên mũi bịnh lao khổ mà chết, trên con mắt nhiều cùng khốn, trong lông mày chủ phú quý, dưới mắt chủ tốt có lợi, đầu chót mũi phòng bị chết vì gươm đao, ở sống mũi bị truân chuyên và nhiều hư trệ, ở nhơn trung dễ cưới vợ, bên mép miệng khó giữ của, trong miệng chủ có ăn uống, trên lưỡi chủ nhiều hư ngôn, dưới môi phá tài của, mép miệng chủ mất chức quyền.

Ở Thừa tương chủ việc say rượu mà chết. Ở Tả sương chủ có “nhất của hoành thất” (vô cớ mà của bị mất mát). Ở Cao quảng hại cha mẹ, ở Xích dương chủ chết đường, ở Phụ giác chủ chết vì binh đao, ở Biên địa chủ chết ở nơi khách (không ở nhà mình), ở Sơn lâm chủ bị sâu bọ làm bị thương, ở Hổ giác chủ chết trong quân lính. Ở Kiếp môn bị tên bắn chết, ở Thanh lộ thì ra đường bị thương vong. Ở Thái dương* có vợ hoặc chồng tốt, ở Ngư vỹ * chủ chết ở chợ, ở Gian môn chủ chết đâm. Ở Thiên tỉnh chủ chết nước, ở Lâm trung là người thận trọng trong sạch, ở Phu tòa bị chồng chết. Ở Thuê Tòa bị chết vợ, ở Trường nam chủ khắc con nhỏ. Ở Kim quĩ chủ phá bại, ở Thượng mộ chủ không được chức quyền, ở Học đường chủ người vô học, ở Mạng môn chủ hỏa ách, ở Bậc sử chủ làm giặc, ở Anh môn chủ đói lạnh”.

Thái dương vị trí: ở giữa đuôi lông mày và đuôi mắt lùi về sau khoảng 1 thốn (3,33cm) có chỗ lõm.

Nốt Ruồi trên Mặt – Đàn Ông (H3)

1. Yểu số 2.Cự phá 3. Khắc mẹ 4. Bạch Hổ 5. Khắc cha 6. Thanh cao 7. Tính tốt 8. Thanh long 9. Đại phú 10. Chết đường 11. Không nên đi xa 12. Tốt 13. Điền trạch 14. Quý hiển 15. Đại kiết 16. Ruộng vườn 17. Quan lớn 18. Phú Quý 19. Thông minh 20. Đại phú 21. Mất cướp 22. Yểu số 23. Tai nạn 24. Hỏa ách 25. Đại kiết 26. Phú 27. Xấu 28. Quan văn 29. Đại kiết 30. Chết nước 31. Tai ách 32. Xấu 33. Hỏa ách 34. Dâm ách 35. Hại con 36. Khắc mẹ 37. Hại vợ 38. Hại cha 39. Tốt 40. Xấu 41. Con chết 42. Không con 43. Ít con 44. Tốt 45. Có tài sản 46. Khắc vợ 47. Hại vợ 48. Quan ách 49. Ly biệt 50. Hiếu 51. Thông minh 52. Thủy nạn 53. Hại gia súc 54. No đủ 55. Nghèo khổ 56. Thọ 57. Thủy nạn 58. Giác khẩu (角口 hay cãi lộn, tranh chấp bằng lời nói) 59. Bần tiện 60. Khẩu thiệt 61. Ăn lộc 62. Chết vì rượu 63. No đủ 64. Thông minh 65. Phước lộc 66. Đại tài.

Nốt Ruồi trên Mặt – Phụ Nữ (H4)

1. Nhiều chồng 2.Mẹ chồng chết 3. Hại cha mẹ 4. Ít kẻ ăn người ở 5. Tái giá 6. Hại thân 7. Hại chồng 8. Ham sắc 9. Họa ách 10. Thọ 11. Hiếu sắc 12. Có chồng sang 13. Một đời chồng 14. Hưởng lộc 15. Tốt 16. Phước 17. Nhiều đời chồng 18. Một chồng 19. Không nên đi xa 20. Thông minh 21. Xung khắc 22. Chồng tốt 23. Đại phú 24. Chồng tốt 25. Xấu 26. Tốt 27. Nhiều con 28. Chồng sang 29. Chồng chết 30. Hại chồng 31. Mất cướp 32. Tốt lâu 33. Hiếu sắc 34. Ít con 35. Hỏa ách 36. Hại chồng 37. Xấu 38. Hại con 39. Chồng chết trước 40. Hiếu sắc 41. Có hiếu 42. Tự tử 43. Ghen tương 44. Chết nước 45. Bần tiện 46. Sinh đôi 47. Bần tiện 48. Sát con 49. Khẩu thiệt 50. Chồng bị hại 51. Thủy tai 52. Tật khổ 53. Bần tiện 54. Khẩu thiệt 55. Hại chồng 56. Có của 57. Có ăn 58. Thông minh 59. Có của 60. Thủy ách 61. Hại đứa ở.

Những điều kể trên chỉ là những điểm dễ thấy trên khuôn mặt. Ngoài ra nốt ruồi còn có thể mọc (hoặc từ lúc sơ sinh, hoặc tới một thời điểm nào đó trong đời) bất cứ ở đâu, trên mặt cũng như trên châu thân (chân tay, bụng, rún, cổ, âm hộ, dương vật v.v…). Do đó liệt kê tất cả với từng danh hiệu bộ vị riêng rẽ sẽ quá ruồm rà, nên soạn giả tóm tắt những ý nghĩa chính của nốt ruồi trên mỗi bộ vị thành từng sơ đồ, độc giả chỉ cần quan sát kỹ cũng đủ có một ý niệm khá rõ rệt về nốt ruồi.

Chú thích :

– Sơn căn là chỗ trũng ngay sóng mũi giữa hai khoé mắt.

– Hỏi : Nếu nốt ruồi không mọc đúng như trên hình vẽ thì không có sao phải không ? Hay là chỉ cần mọc ở điểm gần gần trên hình vẽ thì cũng tính như vậy ?
– Trả lời : Người ta thường nói có tin thì có linh, có kiêng thì có lành… Không có gì tuyệt đối, ngay cả với cái số của mình, vì : Tướng tùy tâm sinh – Tướng tùy tâm diệt -Tướng tốt xấu là ở cái tâm con người !  Vậy nếu có nốt ruồi ngay hay gần chỗ tốt thì hãy tin là tốt, nhưng có nốt ruồi ngay gần chỗ xấu thì… đừng tin.

(Còn tiếp)

Quế Phương post

NGÀY TẬN THẾ CÓ THẬT

MÊ MẨN VỚI MỐT

NỐT RUỒI SON

Nhiều người khi đi xem thầy phán nốt ruồi không hợp phong thủy là sẵn sàng đi tẩy, xoá. Nhưng cũng nhiều người rất tin vào câu chuyện nốt ruồi phong thủy. Họ không ngần ngại chi tiền tìm đến các trung tâm thẩm mỹ viện phun nốt ruồi son may mắn theo phong thủy.

Đua nhau phun nốt ruồi son may mắn

Hiện nay trên mạng nhan nhản dịch vụ xem, tư vấn về nốt ruồi phong thủy. Các trang web còn đưa ra bản danh sách các nốt ruồi son, nốt ruồi may mắn đối với một con người. Cũng bởi thế, trào lưu phun nốt ruồi son may mắn theo phong thủy cũng rộ lên. Tại các thẩm mỹ viện, dịch vụ phun nốt ruồi cũng rất đông khách.

Hòa một SV đang học ĐH Ngoại ngữ, Hà Nội cho rằng, dịch vụ phun nốt ruồi son đang được nhiều bạn trẻ rất chuộng. Một lần vào thăm bác ở Sài Gòn, Hoà cùng chị họ đã đến một trung tâm thẩm mỹ viện ở Q.Phú Nhuận phun nốt ruồi son ở trán mong được phú qúy và nốt ruồi trên đỉnh đầu vì tham vọng của Hoà thích có uy quyền trong xã hội. Tuy nhiên nốt ruồi trên đỉnh đầu thì không ai có thể nhìn thấy. Còn nốt ruồi ở trán, với Hoà đó là một điềm may và có duyên hơn trước mặt bạn bè.

Hoà bảo rằng : “Tôi đã đọc nhiều tài liệu và hỏi thầy phong thủy về nốt ruồi son. Ai cũng có một nốt ruồi ở những vị trí khác nhau. Nốt ruồi và định mệnh có liên quan đến nhau. Vì thế tôi đã tìm đến trung tâm thẩm mỹ phun nốt ruồi với mong muốn đem lại vận mệnh tốt cho mình”.

Trong vai một người có nhu cầu phun nốt ruồi son, tôi đã liên hệ với nhân viên Mỹ viện Th. Venus thì nhận được lời quảng cáo : “Phun nốt ruồi không đau, chỉ 5 phút là có thể thay đổi vận mệnh”.

Nữ nhân viên thẩm mỹ quả quyết : “Đảm bảo phun êm như ru, nốt ruồi có màu đẹp tự nhiên”. Phun nốt ruồi son theo phong thuỷ giá khoảng 200- 250 nghìn đồng /nốt. Cũng vì các trung tâm quảng cáo giá rẻ, không đau nên nhiều bạn trẻ coi đó là một cách làm đẹp, tìm thêm nét duyên cho mình và may mắn hơn sẽ thay đổi được vận mệnh !?”.

Xóa vẫn gặp tai ương, lục đục

Câu chuyện của chị Lê ở Đội Cấn, Hà Nội thật bi hài về chuyện tẩy nốt ruồi theo kiểu bình dân để tránh số sát con. Tình cờ trong một lần đi gội đầu, thấy chủ cửa hàng bảo tẩy nốt ruồi dễ, an toàn, chị Lê chợt nhớ đến câu chuyện “nốt ruồi sát con” mà thầy bói nọ đã phán cho mình, chị Lê cũng thử tẩy nốt ruồi ở trên sống mũi.

Lần đó, nghe chủ cửa hàng gội đầu bảo tẩy nốt ruồi có để lại sẹo nhưng mờ, giá chỉ 15- 30 nghìn đồng tùy vào nốt to hay nhỏ, chị Lê không hề đắn đo. Sau khi chủ cửa hàng bôi một loại dung dịch vào nốt ruồi, chị thấy rát và nốt ruồi bay đi.

Theo lời kể của chị Lê, mặc dù không tin vào chuyện thầy phán, nhưng nhà chỉ có một mụn con nên chị cũng đành làm theo. Chị e là khi con có mệnh hệ gì thì chị lại phải hối hận cả đời. Thế nhưng, với mong muốn xóa nốt ruồi để thay đổi vận mệnh và mang lại vận may cho con nhưng thực tế, chị Lê cũng không ngờ dù có xóa nốt ruồi cũng chẳng ích gì. Cậu con trai độc nhất của chị đã ra đi sau khi đi dự tiệc sinh nhật của bạn.

Và lỗi gây ra cái chết của con chị lại là một gã lái xe say xỉn. Chị Lê buồn rầu : “Con người có số, nó ra đi đâu phải lỗi của tôi mà do lỗi của người khác. Từ đó đến giờ tôi cũng không tin vào chuyện thầy phán nữa. Phúc đức ở tâm mình”.

Cũng chung nỗi niềm với chị Lê, chị Thanh ở Sơn Tây, luôn mặc cảm với những nốt ruồi trên khuôn mặt mình. Trên khuôn mặt chị có đến 4 nốt ruồi to như mụn thịt. Nhiều người nói những nốt ruồi đó là nốt ruồi lộc, nhiều người lại bảo nốt ruồi đó mang nhiều điềm dữ. Chị Thanh đã phân vân rất nhiều lần về những mụn nốt ruồi của mình. Hung hay cát với chị rất mơ hồ. Chị cũng mua sách về nghiên cứu nốt ruồi phong thủy.

Sau nhiều ngày tìm hiểu, chị Thanh giật mình khi biết 2 trong 4 nốt ruồi của mình có điểm “hung” (điềm dữ, không tốt). Hai nốt ruồi ấy, một nốt trong con mắt bên trái lại mang số hại chồng và một nốt giữa cằm có “số” không tốt, không hợp với ai được. Khi ấy, chị thật sự buồn rầu và suy nghĩ về những nốt ruồi trên khuôn mặt mình.

Vì trong thực tế, cuộc sống gia đình chị cũng gặp nhiều bất trắc, vợ chồng lục đục không hợp tính nhau. Cuối cùng, sau khi hỏi bạn bè tư vấn chị quyết định tìm đến Bệnh viện 108 tẩy nốt ruồi. Tẩy 2 nốt ruồi với giá 1, 2 triệu đồng. Tuy nhiên, sau khi tẩy nốt ruồi đến nay cũng được 5 năm, cuộc sống gia đình chị vẫn không có sự biến chuyển tích cực. Vẫn “ông chẳng bà chuộc”, vợ chồng giận dỗi nhau toàn những lý do vụn vặt.

(Chuyển tiếp theo Ngân Giang)

PHÉP THUẬT CAO BIỀN

THẬT HAY GIẢ ?

Năm 2007 có một sự kiện hy hữu xảy ra trong báo chí Việt Nam : Một hiện tượng đã xảy ra cách đó 6 năm nhưng nó lại biết tới bởi 6 năm sau nhiều hơn là thời gian nó tồn tại. Hơn nữa, hiện tượng đó lại chỉ được đăng tải trên những “tờ báo loại 2”, nghĩa là không mang tính chính thống. Đó chính là hiện tượng của loạt bài báo mang tên “Thánh vật sông Tô Lịch” được “nhai lại” bởi tờ “Người bảo vệ pháp luật”. Sau sự kiện trên, tờ báo kia có lẽ phải đăng một dấu đỏ chót vào trong lịch sử Guinness Việt Nam vì khả năng thổi phồng một hiện tượng nhằm thu hút độc giả lớn nhất trong thời gian ngắn nhất.

Sự thực, câu chuyện về “Báu vật sông Tô Lịch” hấp dẫn người bởi những phép thuật được cường điệu quá đà, dựa trên những câu chuyện dân gian cách đây hàng nghìn năm về nhân vật phù thủy Cao Biền nổi tiếng Trung Hoa muốn trấn yểm long mạch Việt Nam : viên tướng, thầy phù thủy, thầy phong thủy, thầy tướng dưới thời vua Đường. Nhưng câu chuyện trong quá khứ lại càng thu hút hơn bởi tính thời sự của nó, khi nó gắn với những câu chuyện đương thời.

Ngày 27/9/2001, Đội thi công số 12 (Công ty xây dựng VIC) trong khi nạo vét sông Tô Lịch đã phát hiện những di vật cổ rất lạ và huyền bí : 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông tạo thành một đa giác đều, tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ.., đồ gốm, xương voi, ngựa, dao, tiền đồng… Rồi chuyện máy xúc Komatsu tự nhiên lao xuống sông, nào là những người đang làm việc tự dưng ngã lăn ra đất, đưa la bàn ra thử thì la bàn quay tít.

Một năm sau đó, những câu chuyện buồn của các thành viên trong Đội nạo vét sông được gán với những câu chuyện mơ hồ liên quan tới thuật bùa chú. Các nhà khoa học được mời đến với nhiều giả thuyết, tranh cãi khác nhau và cũng chẳng đưa đến một kết luận nào. Câu chuyện ầm ĩ trên báo chí rồi đi vào quên lãng, cho đến khi nó được khơi mào trở lại một cách ầm ĩ hơn gấp nhiều lần trong năm vừa qua.

Vậy điều gì đã xảy ra trong quá khứ ? Cao Biền thật sự là ai ? Cao Biền có thực sự yểm bùa thành Đại La hay đó chỉ là câu chuyện của trí tưởng tượng ?

Dân gian là nguồn phát tán mạnh mẽ sâu và xa các câu chuyện truyền thuyết. Điều gì càng bí hiểm, càng mơ hồ, càng ma thuật thì càng hấp dẫn. Có thể thấy câu chuyện về Cao Biền đi vào các làng quê, trong tiếng nhai trầu bỏm bẻm của người già kể lại cho lớp con cháu sau này phong phú đến chừng nào.

Trận chiến giữa “phù thủy” phương Bắc và các vị thánh phương Nam

Trước khi tìm hiểu Cao Biền thật sự là ai và nguyên nhân Cao Biền trấn yểm long mạch, chúng ta hãy xem sức mạnh của Cao Biền thông qua cuộc chiến đấu với các vị thánh nước Nam.

Cao Biền hoảng sợ thần Long Đỗ,

lập đền Bạch Mã

Được xây dựng trước khi có thành Thăng Long, đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm, Hà Nội) nằm ở hướng chính đông, là một trong tứ trấn của kinh đô thuở ấy. Đền xưa thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Trúc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là số 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Cao Biền đắp La Thành, mấy lần cứ bắt đầu lại  bị sụt lở. Một đêm, Cao Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo Cao Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Cao Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Đền thờ này ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Chuyện này còn có dị bản khác nói rằng Cao Biền đã cho đắp thành Đại La. Một hôm, Cao Biền ra chơi ngoài cửa đông của thành, chợt thấy trong chỗ mây mù tối tăm, có bóng người kì dị, mặc áo hoa, cưỡi rồng đỏ, tay cầm thẻ bài màu vàng, bay lượn mãi theo mây. Cao Biền kinh sợ, định lấy bùa để trấn yểm. Bỗng đêm hôm ấy thấy thần báo mộng rằng :

– Ta là tinh anh ở Long Đỗ, nghe tin ông đắp thành nên đến để hội ngộ, việc gì mà phải trấn yểm ?

Cao Biền lấy làm kỳ lạ, bèn lấy vàng, đồng, bùa và đúc một tượng sát hình nhân dị dạng nhằm yểm ngục, không cho nước Nam phát trỉển nhân tài. Chẳng dè, ngay đêm đó mưa gió sấm sét nổi lên dữ dội, sáng ra xem, thấy vàng, đồng và bùa trấn yểm đều đã tan thành cát bụi. Cao Biền sợ hãi hét lên : “Thần ma của nước Nam rất thiêng, không có cách nào trị nổi được”, bèn lập đền thờ ở ngay chỗ ấy và phong cho thần là thần Long Đỗ.

Theo một cuốn sách về văn bia ở Hà Nội thì Bạch Mã là ngôi đền rất thiêng. Đây là vị thần chúa tể của một khu vực ngàn dặm được tất cả các đời vua cúng tế. Sau này Lý Thái Tổ dời kinh đô đến đất này, đổi gọi Đại La là Thăng Long. Nhà vua sai đắp lại thành, nhưng hễ thành đắp xong lại lở, bèn sai người đến cầu đảo thần Long Đỗ. Chợt người cầu đảo thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, dạo quanh thành một vòng, đi tới đâu, để vết chân rõ ràng tại đó và cuối cùng vào đền rồi biến mất. Sau nhà vua cứ theo vết chân ngựa mà đắp thành thì thành không lở nữa, bèn nhân đó, phong làm thành hoàng của Thăng Long. Các vua đời sau cũng theo đó mà phong tới Bạch Mã Quảng Lợi Tối Linh Thượng Đẳng Thần.

Làng Cổ Pháp của dãy núi Tiêu Sơn, “đất hai vua”,

nơi Cao Biền không trấn yểm được

Làng Cổ Pháp chỉ là một trong hàng ngàn ngôi làng của miền Bắc Việt Nam (nay là làng cổ Đường Lâm) nhưng đây lại là nơi ngưng và kết huyệt long mạch của dãy núi Tiêu Sơn.

Dân gian kể lại, đến đời La Quý An, thế đất Cổ Pháp vượng quá. Bao nhiêu vì sao tinh tú trên trời đều chầu về. Quan nhà Đường xem thiên văn, nhìn rõ, tâu lên vua nhà Đường là Đường Ý Tông (860-873)…

Năm Giáp Thân (864) vua Đường Ý Tông, nhân việc quan thiên văn báo cho biết thế đất Cổ Pháp và An Nam (Bắc Việt và một phần Trung Việt) có loạn, sai Cao Biền sang Giao Châu.

Khi đi, vua Đường dặn riêng với Cao Biền đại khái là Trưng thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đông Hán (25 – 220). Rồi đến Triệu Ẩu (cách người Trung Hoa gọi Bà Triệu, nhằm ý miệt thị), Lý Bôn… làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau này có biến. Khanh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An  Nam đi và vẽ địa đồ về cho trẫm

Nhân dịp đi qua đất Cổ Pháp, Cao Biền có cho đào 19 cái lỗ chôn bùa ngải để yểm đất. Ngài La Quý An biết vậy nên cho người lẻn đào 19 cái lỗ đó lên và trồng 19 cây lê vào.

Về sau, đất này là nơi sản sinh ra rất nhiều người tài giỏi. Nhiều vị anh hùng hào kiệt đã được nuôi dưỡng bởi linh khí nơi này, trong đó có hai vị vua là Ngô Quyền và Phùng Hưng.

Cao Biền không “phỉnh” nổi thánh Tản Viên

Thánh Tản Sơn chính là vị thần Sơn Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, và là một trong tứ vị thần bất tử của Việt Nam.

Để có thể diệt được thần bản địa, Cao Biền đã dùng một mưu mẹo rất “con người” là giả lập đàn cúng tế, lừa thần lên rồi dùng kiếm báu chém đầu. Chém xong, Cao Biền đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Truyền thuyết dân gian kể rằng khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch rất vượng, nên muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc dùng cách cũ để thần bản địa đến. Cao Biền có lần đến núi Tản (còn gọi là núi Ba Vì), định dùng chước này, nhưng Tản Viên sơn thánh biết được, liền nhổ một bãi nước bọt vào Cao Biền và bỏ đi (có truyền thuyết nói là mắng Cao Biền và bỏ đi).

Phá linh khí chùa Thiên Mụ, nhưng chúa Nguyễn

hàng trăm năm sau vẫn lấy lại được

Chuông Thiên Mụ nổi tiếng cả nước với tiếng ngân vang xa rộng của nó. Quả chuông này do chúa Hiến Tông (Nguyễn Phúc Chu) cấp tiền đúc vào năm Canh dần (1750). Tiếng chuông chùa Thiên Mụ biểu trưng cho sự hiện diện của Phật giáo hằng ngày, sớm và chiều tại cố đô Huế, trong lòng mỗi người dân tại cố đô Huế. Thiên Mụ là bà lão nhà Trời. Theo truyền thuyết, Cao Biền khi làm An Nam đô hộ phủ ở nước ta, dưới đời nhà Đường, theo lệnh vua Đường là Đường Ý Tôn (860-873), đã đi khắp nơi ở nước ta, tìm những nơi đất tốt có vượng khí, đều lập phép trấn yểm. Cao Biền đã đến Thuận Hóa, xã Hà Khê, huyện Hương Trà, thấy giữa đồng bằng đột khởi một cái đồi hình đầu rồng, biết là nơi linh địa, bèn cho đào hào cắt ngang dưới chân đồi. Đêm đến, Biền mộng thấy một bà lão tóc bạc phơ, ngồi dưới chân đồi than vãn và nói to: “Đời sau, nếu có bậc minh chủ, muốn bồi đắp mạch núi lại, đem lại linh khí cho đồi núi này, thì hãy lập chùa thờ Phật ở đây…”

Về sau, Nguyễn Hoàng khi vào Thuận Hóa, tìm cách gây dựng thế lực, để biệt lập và chống đối với họ Trịnh, đã đến nơi này, nghe các bô lão kể lại câu chuyện bà lão Trời và Cao Biền, thì rất mừng, lập tức cho xây chùa trên núi, và tự tay viết biển chùa là “Thiên Mụ tự” (chùa Thiên Mụ – chùa bà lão nhà Trời).

Người Việt Nam bình thường tin ở thuật phong thủy, nhưng đồng thời cũng tin ở Phật, Bồ-tát, và đạo Phật. Cao Biền có tài trấn yểm, nhưng dân Việt Nam có xây chùa thờ Phật là mọi phép yểm của Cao Biền đều bị phá hết. Ảnh hưởng của chùa Phật là ảnh hưởng của Tam Bảo, của đức Phật thường trú, của Chánh pháp mà bánh xe luôn luôn chuyển động, của Tăng là những người có trách nhiệm duy trì và hoằng dương Chánh pháp tại thế gian này.

Núi Hàm Rồng – cuộc chiến giữa Cao Biền và Tả Ao

Truyền thuyết kể, Biền thấy đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó lòng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và tìm cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam.

Một lần bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này tuy không phải là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân) nhưng cũng là hình con rồng què chân, không phải đất cực quý, nên bỏ đi.

Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát.

Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý thì lại càng ham thích, rắp tâm làm đến cùng. Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vỗ cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tán.

Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh là nơi phát khởi của nhiều vua chúa.

Nhiều người cho rằng, những chim nhỏ phá phép trấn yểm của Cao Biền là thần linh của sông núi nước Nam. Có người lại cho rằng đó là do Thánh Tả Ao hóa phép.

Theo truyền thuyết, cụ Tả Ao là vua phong thủy của nước ta, chuyên phá những long mạch bị Cao Biền trấn yểm. Không ai rõ tên và năm sinh, năm mất của Tả Ao nên chỉ gọi theo tên làng.

Như vậy, khi mới chỉ điểm qua những truyền thuyết tiêu biểu về Cao Biền, đã cho thấy sức mạnh của các vị Thánh nước Nam. Chúng ta có thể đưa ra giả thuyết rằng, những câu chuyện trên được dân gian dựng lên nhằm tôn vinh linh khí của chính làng mình. Phép thuật của Cao Biền có lẽ, phần đa là do những người kể chuyện xưa vẽ lên. Thời điểm Cao Biền sang nước Nam cũng chính là thời điểm mà Đạo giáo từ Trung Hoa truyền bá vào Việt Nam, cụ thể là các thuật xem tử vi, phong thủy, bùa chú, luyện linh đan… Những câu chuyện về Cao Biền là minh chứng cụ thể nhất cho tín ngưỡng Đạo giáo đang nở rộ ở nước ta thời bấy giờ.

Lan caysu post

NGÀY TẬN THẾ CÓ THẬT

NASA dự đoán ngày tận thế là có thật vào năm 2013 chứ không phải là 2012. Trong khi nhiều người còn đang lo lắng về “năm đại họa 2012” thì mới đây NASA đưa ra cảnh báo về trận bão từ sẽ làm thay đổi toàn bộ cuộc sống trên Trái đất vào năm 2013.

Các nhà khoa học có thâm niên của NASA cảnh báo, vào khoảng năm 2013, sau một “giấc ngủ say”, Mặt trời sẽ “thức tỉnh”, bước vào giai đoạn hoạt động mạnh, tạo nên những cơn bão từ cực mạnh tấn công Trái đất. Sức mạnh của trận bão từ này có thể tương đương với sức công phá của 100 quả bom Hydro.

Các chuyên gia cho rằng, khi Mặt trời bước vào thời kỳ hoạt động mạnh, hoạt động phun trào của các điểm đen Mặt trời cũng sẽ trở nên kịch liệt, giải phóng một lượng lớn các hạt mang điện và gây ra các cơn bão mặt trời.

Sự ảnh hưởng của bão mặt trời, theo các nhà khoa học là vượt qua sự tưởng tượng của con người. Chúng có thể khiến toàn bộ Trái đất bước vào những ngày đen tối nhất. Không chỉ tầng ô-zôn bị phá hủy, hệ thống điện cũng như mạng thông tin điện tử có thể bị tê liệt. Từ đó, những cơ quan như bệnh viện, ngân hàng và sân bay,… cũng sẽ không thể hoạt động được chứ đừng nói đến điện thoại, máy tính hay GPS.

Nếu như tất cả những điều kể trên xảy ra, chúng sẽ mang lại những tổn thất về kinh tế cực kỳ khủng khiếp, mà nhiều người dự tính là nhiều gấp 20 lần so với trận bão Katrina (Tổng thiệt hại do cơn bão này gây ra ước tính lên đến 125 tỷ USD). Đồng thời, nó cũng sẽ tạo nên một bước lùi lịch sử trong tiến trình phát triển của toàn nhân loại.

Các chuyên gia về thiên văn chỉ ra rằng, hoạt động của điểm đen mặt trời có chu kỳ là 11 năm. Vào năm 1859, tức là 151 năm trước đây, Trái đất của chúng ta từng bị một cơn bão mặt trời cực mạnh tấn công. Tuy nhiên, khi đó hệ thống điện và thông tin vẫn chưa phát triển, do vậy hậu quả mà cơn bão này gây ra vẫn chưa đến mức nghiêm trọng.

Lo lắng về sự nguy hại mà các cơn bão từ Mặt trời mang đến cho Trái đất, các nhà khoa học đã bắt đầu theo dõi sát sao Mặt trời. Vào ngày 11/2 vừa qua, một vệ tinh quan trắc các hoạt động của Mặt trời đã được phóng lên quỹ đạo.Các nhà khoa học hy vọng rằng việc theo dõi Mặt trời 24/24 sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ kết cấu cũng như các hoạt động từ trường của Mặt trời, từ đó đưa ra được những dự báo chuẩn xác giảm thiểu nguy hại từ các cơn bão Mặt trời.

Yên Huỳnh post