CÂU CHUYỆN PHONG THỦY (2)

NHỮNG NÉT PHONG THỦY

ĐỘC ĐÁO Ở HỒNG KÔNG

Repulse Bay, khu căn hộ cao cấp xa xỉ vào loại bậc nhất nơi đây, bị đục “thủng ruột”. Toàn bộ tầng một của trụ sở ngân hàng HSBC, một cao ốc bề thế, bị bỏ trống. Các cạnh nhọn của Sun Hung Kai Center, tòa nhà cao 215 mét, bị cắt lẹm. Tất cả đều được thực hiện một cách có chủ ý. Nếu có dịp tới thăm Hong Kong, dù là ở khu vực trung tâm sầm uất hay dọc theo các bãi biển thơ mộng, bạn đểu có thể cảm nhận hơi thở mãnh liệt của phong thủy. Từng tòa nhà, góc phố nơi đây đều ẩn chứa những nét độc đáo của môn nghệ thuật sống hài hòa với thiên nhiên.

Khu chung cư “thủng ruột”

Thật khó tìm thấy ở nơi nào khác ngoài Hong Kong kiểu kiến trúc độc đáo này. Nằm dọc theo khu bờ biển sầm uất nhất ở phía nam đảo Hong Kong, Repulse Bay thuộc loại khu hộ cao cấp xa xỉ đắt giá nhất Hương Cảng. Tòa nhà này được khoét một lỗ hổng lớn, tương đương 8 căn hộ theo chiều cao và 4 căn hộ theo chiều ngang.

Xét về phong thủy, Repulse Bay nằm ở vị trí đắc địa: “tọa sơn vọng thủy” nghĩa là lưng tựa núi, mặt nhìn ra biển, được coi là hết sức lý tưởng. Người ta tin rằng có một con rồng sống ở dãy núi phía sau tòa nhà. Chính hơi thở của nó đem lại sự thịnh vượng cho Repulse Bay. Lỗ hổng lớn trong lòng tòa nhà được thiết kế để rồng có thể thỏa sức xuống biển uống nước và quay trở về núi.

Khách sạn với bức tường kính khổng lồ

Inter Continental là khách sạn 5 sao nổi tiếng, nằm ở Tsim Sha Tsui, phía nam đảo Cửu Long, mặt trước hướng ra vịnh Victoria, về phía trung tâm Hong Kông. Nó được thiết kế đặc biệt để rồng trên đảo có thể thể đi xuyên qua, xuống tắm ở vịnh. Đài phun nước trước cửa khách sạn được lắp đặt nhằm thu hút rồng và một bức tường kính khổng lồ chạy suốt từ trần tới sàn nhà cho phép rồng đi qua một cách dễ dàng. Kiến trúc độc đáo này tạo ra một tầm nhìn mê hồn về phía đảo Hong Kong.

Tòa cao ốc với tầng trệt “rỗng”

Trụ sở của ngân hàng HSBC là một trong kiểu mẫu của tinh thần phong thủy. Được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng người Anh Norman Foster, HSBC là một trong những tòa nhà đắt tiền nhất thế giới tại thời thiểm khánh thành năm 1985 (gần 1 tỷ USD).

Theo các chuyên gia phong thủy, nhờ thế đất quý lưng dựa núi mặt nhìn ra biển, khí tốt từ trên núi xuống sẽ tụ lại ở biển, biến khu này thành một hồ khí lớn. Trước mặt tòa nhà HSBC là quảng trường Statue. Người ta đồn rằng ngân hàng đã bỏ tiền ra mua và tặng mảnh đất này cho chính quyền Hong Kong để làm công viên. Và do đó, ít có khả năng một tòa nhà cao tầng khác sẽ được xây trên mảnh đất này. Theo quan điểm phong thủy, khoảng trống phía trước tòa nhà (minh đường) rất quan trọng, giúp khí tích tụ, mang lại nhiều may mắn.

Xét về nội thất, chủ nhân của tòa cao ốc 180 mét này cũng chọn một giải pháp hết sức tốn kém: bỏ trống toàn bộ tầng trệt, chuyển khu sảnh của tòa nhà lên tầng 2. Điều này được lý giải như sau: Ở Hong Kong các tòa nhà mọc lên san sát, khoảng trống phía dưới tòa nhà sẽ giúp mở đường cho rồng xuống biển, hay nói cách khác là giúp khí từ trên núi di chuyển tới phía mặt tiền của tòa nhà. Nếu không có khoảng trống này, khí sẽ phải khó khăn len lỏi qua khoảng trống eo hẹp giữa các tòa nhà. Khi đi qua các khe hẹp, khí sẽ di chuyển với tốc độ quá lớn, không có lợi cho HSBC cũng như những tòa nhà xung quanh.

Các thang cuốn đưa khách lên tầng trên được chăm chút đặc biệt. Từ điểm xuất phát, góc nghiêng đến hướng chạy, tất cả đều được tính toán cẩn thận để không gây phiền nhiễu cho các “thần linh” của khu đất và giúp mang khí tốt lành tới toàn bộ tòa nhà. Bắt đầu từ góc Tây Bắc, nơi được coi là vượng khí, các thang cuốn đi dần vào trung tâm khu nhà. 62 chiếc thang cuốn hoạt động liên tục giúp mang năng lượng từ “hồ khí” ở dưới lên toàn bộ tòa nhà, góp phần mang lại sự thịnh vượng cho HSBC. Tòa nhà được xây bằng hai vật liệu chính là kính và thép cho phù hợp với vận 7 (1984-2003), khi Kim là hành chủ đạo.

Khu nhà với các cạnh bị cắt vẹt

Dưới góc độ phong thủy, các nhà thiết kế tránh tạo nên các cạnh hoặc góc nhọn vì cho rằng chúng là nguồn sát khí, ảnh hưởng xấu tới môi trường và những công trình kế bên. Để tránh hiểm họa này, các cạnh nhọn của tòa cao ốc 53 tầng Sun Hung Kai Center tại khu vực Trung tâm Hong Kong đã được cắt vẹt để trở nên thân thiện với môi trường.

Trên đây mới là vài nét chấm phá, một phần hết sức nhỏ bé của bức tranh phong thủy đầy kỳ thú của hòn đảo Hong Kong

CÔ BÉ CÓ ĐÔI MẮT

NHÌN XUYÊN THẤU

Laura đã khóc thét lên khi nhìn thấy bên trong khoang bụng của chính mình. Phía trên ngực, Laura thấy quả tim mình phập phồng. Còn đôi mắt cô bé như hai lòng trắng trứng gà giật liên hồi.

Đôi mắt kỳ lạ

Cô bé Laura Castro sinh năm 1995 tại Miami Florida, Mỹ từ khi còn nhỏ đã vô cùng xinh đẹp và dễ thương, đặc biệt được thừa hưởng từ mẹ đôi mắt nâu quyến rũ. Cô bé rất chăm chút cho đôi mắt và thường khoe với bạn bè với niềm tự hào. Tuy nhiên vào một buổi sáng sau ngày sinh nhật lần thứ 10, một điều khủng khiếp đã xảy ra với cô bé. Khi Laura thức dậy, cô bé đi thẳng vào nhà vệ sinh. Khi nhướn mình nhìn vào chiếc gương, cô bé hét lên sợ hãi. Bà mẹ Laura vội vã chạy vào. Trước mắt bà, cô con gái mặt mũi tèm lem nước và kem đánh răng, hai con mắt trở nên trắng dã, không còn chút lòng đen nào. Bà mẹ kinh hoàng trước sự biến đổi của đôi mắt con mình.

Ngay lập tức, Laura được đưa đến bệnh viện. Rất nhiều bác sĩ và chuyên gia y khoa đều lắc đầu, không ai giải thích được nguyên nhân dẫn đến đôi mắt màu trắng của cô bé. Bà Anabel Castro cho biết: “Tôi thực sự rất lo lắng và đưa cháu đến khám sĩ, nhưng tất cả đều nói rằng mắt Laura bình thường. Họ chưa từng thấy một đôi mắt nào tương tự như vậy, mỗi ngày mắt Laura càng trở nên trắng hơn”.

Điều đặc biệt là Laura không hề cảm thấy đau đớn. Cô bé vẫn có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ với tầm nhìn ngày càng mạnh mẽ hơn.

Cuộc sống dị biệt

Đôi mắt khác thường đã khiến cho Laura có một khả năng vô cùng đặc biệt, cô bé không chỉ nhìn mọi vật rõ nét hơn mà còn có thể nhìn xuyên thấu qua mọi vật.

Lần đầu tiên Laura phát hiện ra khả năng đó là một buổi sáng, cô bé tình cờ đưa mắt xuống cơ thể mình. Cô bé đã khóc thét lên khi nhìn thấy bên trong khoang bụng mình. Phía trên ngực, Laura thấy quả tim mình đang phập phồng đập.

“Con bé đã vô cùng hoảng sợ, nó hét lên đầy sợ hãi. Tình trạng hoảng loạn này của Laura chỉ giảm sau vài tháng, con bé bắt đầu điều chỉnh được khả năng của mình”, mẹ Laura kể.

Không những vậy, cô bé còn nhìn xuyên thấu được bức tường gạch dày hay những tấm kim loại vững chãi. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành một cuộc kiểm tra Laura. Họ bịt mắt cô bé lại, sau đó đặt trước mặt cô bé một khối bê tông lớn có bề dày 10cm, phía sau là 1 vật rất nhỏ bé. Sau đó cô bé tháo khăn bịt mặt và gọi tên chính xác đồ vật sau khổi bê tông khiến các nhà nghiên cứu vô cùng ngạc nhiên. Laura có thể nhìn qua những lớp gỗ dày, nhìn trong đêm tối hoàn toàn, đọc chữ và số trong danh bạ điện thoại chưa hề mở…

Việc mang trên mình đôi mắt hoàn toàn lòng trắng với khả năng nhìn xuyên thấu sự vật khiến Laura trở thành một hiện tượng kỳ dị. Cô bé bị những đứa trẻ cùng trường “tẩy chay”, chúng gọi đôi mắt của cô bé là đôi mắt ma. Bố mẹ chúng không cho bọn trẻ chơi với Laura vì cho rằng cô không phải là người bình thường mà bị quỷ ám. Những người hàng xóm cũng xa lánh cô bé. Quá buồn và mệt mỏi trước những lời đàm tiếu, cô bé nhất quyết nghỉ học và trốn biệt trong phòng.

Sau một thời gian ngắn, thông tin về cô bé có đôi mắt nhìn xuyên thấu được cả thế giới biết đến. Laura trở nên nổi tiếng và được các bạn trong lớp chơi trở lại. Cô bé cũng không còn quá hoảng sợ hay lo lắng vì sự khác biệt của mình nữa. Các nhà khoa học đã ví đôi mắt của Laura như một tia X. Nhiều người phỏng đoán rằng cô bé có thể từng bị tổn thương trong đầu, bị nhiễm độc hóa chất hay cái gì tương tự… Hiện tại cô bé vẫn đến trường học và chờ đợi thông báo kết quả nghiên cứu từ các nhà khoa học.

BÙA CHÚ TRÊN KIM TỰ THÁP

“THIÊNG” NHƯ THẾ NÀO ?

Mặc dù Kim tự tháp Ai Cập qua những tháng năm lịch sử kéo dài 4.000 năm vẫn bao trùm một bức màn bí ẩn, tràn đầy những sắc thái thần bí.

Trong đó những lời bùa chú trên bia mộ là khiến người ta kinh hãi nhất: “Bất cứ người nào đến quấy nhiễu sự yên ổn của Pharaông, thì cánh cửa tử thần sẽ giáng xuống đầu người đó”. Những lời bùa chú tựa như thần thoại đó, đã cảnh cáo trước cho những kẻ tham lam đời sau muốn nhòm ngó những báu vật vô giá trong mộ, đề phòng việc đào trộm mộ.

Lạ thay, mấy thể kỷ nay, phàm những người dám cả gan đi vào trong hầm mộ Pharaông, dù là kẻ trộm mộ, người mạo hiểm hay là các nhà khoa học, các nhân viên khảo sát, cuối cùng đều ứng nghiệm lời bùa chú, nếu không phải chết ngay tại chỗ thì cũng mắc phải chứng bệnh lạ không chữa được rồi chết trong đau đớn khổ cực.

Minh chứng là vào tháng 11/ 1922, nhà khảo cổ nổi tiếng nước Anh, ông Hôvađơ Catơ, sau 7 năm thăm dò tìm kiếm đã phát hiện và mở cửa lăng mộ Pharaông Tutancamôn tại vùng thung lũng Đế vương. Ông đã cho người đào được hơn 5.000 hiện vật gồm có châu báu, đồ trang sức, quần áo, binh khí, công nghệ phẩm, dụng cụ gia đình,… Thành công đó đã làm chấn động thế giới.

Nhưng vào ngày 18 tháng 2 năm sau, khi công việc khai quật đang đứng trước thắng lợi, huân tước Canaphen, người đã đầu tư rất nhiều tiền của giúp Catơ tiến hành công việc, đi vào trong hầm mộ thì bỗng nhiên sau đó mắc bệnh nặng, rồi qua đời. Chị gái của ông ta, trong hồi kỹ đã viết rằng: “Trước lúc chết, ông bị sốt cao và luôn miệng kêu gào: Tôi đã nghe tiếng thở của nó, tôi phải cùng đi với nó đây!”.

Cách đó không lâu sau, một nhà khảo cổ khác, ngài Môsơ trong khi khai quật đã giúp đẩy đổ bức tường đá chủ yếu trên đường vào hầm mộ cũng qua đời vì mắc phải một chứng bệnh lạ giống như thần kinh rối loạn.

Đaoglat – một chuyên gia chiếu chụp X quang cho xác ướp Pharaông, không bao lâu cũng trở thành vật hy sinh cho các lăng mộ Pharaông, ông ta ngày càng suy nhược và qua đời.

Trong 2 năm sau khi khai quật lăng mộ đó, có tới 22 người trong đội khai quật chết một cách bí ẩn, không rõ nguyên nhân. Từ đó tin tức về việc Pharaông làm chết người lan truyền khắp nơi. Lời bùa chú trên bia mộ càng khiến người tin là có thật và số khác lại phân vân không biết có đúng không.

Năm 1924, nhà sinh vật học người Ai Cập quốc tịch Anh có tên gọi Oaitơ đã đưa theo một số người hiếu kỳ đi vào hầm mộ. Điều khiến người ta khiếp sợ là, sau khi vào tham quan về, ông ta liền treo cổ tự tử. Trước lúc chết, ông cắn đầu ngón tay lấy máu viết thư để lại nói rằng cái chết của ông ta là do bùa chú của lăng mộ Pharaông tạo ra và vì bản thân rất hối hận nên ông phải ôm lòng ân hận ấy đi gặp thượng đế.

Điều khiến người ta kinh ngạc và khó hiểu hơn nữa là cái chết của giám đốc nhà bảo tàng Cairo, ông Khamin, Maihơlairơ. Xưa nay Khamin không hề tin lời bùa chú của lăng mộ Pharaông lại có thể linh nghiệm. Ông ta nói: “Cả đời tôi đã từng nhiều năm giao thiệp với xác ướp và lăng mộ cổ Ai Cập. Chẳng phải tôi vẫn đang sống mạnh khỏe đấy ư?”. Thế nhưng sau khi nói lời đó chưa đầy 4 tuần, ông bỗng nhiên mắc bệnh và qua đời. Lúc đó ông ta còn chưa đầy 52 tuổi. Hơn nữa người ta còn phát hiện ra rằng, cùng ngày ông qua đời, trước lúc chết, ông vẫn chỉ huy một đội công nhân đóng gói một lô hiện vật quý giá, mà lô hiện vật đó được khai quật và thu lượm từ lăng mộ Pharaông Tutancamông. Tất cả những điều đó khiến cho truyền kỳ về Pharaông càng được phủ thêm bức màn đen bí ẩn.

Lúc bấy giờ, người ta đặt ra câu hỏi: Những người tiếp xúc với Kim tự tháp Pharaông Ai Cập bị chết vì nguyên nhân gì? Những lời bùa chú trên bia mộ Pharaông có thật linh nghiệm không ?

Theo một nhà khoa học giải thích cho rằng, trên vách những lối đi trong hầm mộ có một lớp những thứ màu phớt hồng và màu lục xám có khả năng là lớp sinh ra tia sáng chết bởi nó phóng ra những chất làm chết người.

Một số nhà khoa học khác lại có quan điểm khác, cho rằng, nền văn minh của người Ai Cập cổ đại đã đạt tới trình độ có thể dùng những côn trùng có nọc độc cực mạnh hoặc những chất kịch độc làm vũ khí để bảo vệ lăng mộ của những người thống trị, tránh bị kẻ khác xâm phạm. Bởi năm 1956, nhà địa lý học Oaitơxơ, trong lúc khai quật lăng mộ Rôcalibi đã từng bị dơi tập kích.

Những năm gần đây, một số nhà khoa học lại dùng sinh vật học để giải thích. Chẳng hạn như Yxơđinhao – một tiến sĩ sinh vật học, giáo sư y học của đại học Cairo, đã nói rằng: Căn cứ theo kết quả mà ông định kỳ tiến hành thí nghiệm đối với các nhà khảo cổ và các nhân viên, phát hiện thấy tất cả mọi người, trên cơ thể đều tồn tại một mầm bệnh độc có thể dẫn đến sốt cao và cảm nhiễm ở đường hô hấp. Những người đã vào hầm mộ, vì nhiễm phải bệnh độc này sẽ dẫn đến viêm đường hô hấp, rồi cuối cùng sẽ dẫn đến tắc thở mà chết.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là tại sao những mầm bệnh độc này có thể có được sức sống bền bỉ và mãnh liệt đến như vậy. Nó lại sống lâu tới 4.000 năm trong xác ướp nên các nhà khoa học không thể giải thích nổi.

Năm 1983 một nữ bác sĩ người Pháp tên là Phihirô, sau nhiều năm nghiên cứu đã nhận thấy nguyên nhân cái chết đó là do phản ứng quá nhạy cảm đối với những vi khuẩn độc hại của những người khai quật và những người tham quan hầm mộ. Theo nghiên cứu của bà thì bệnh trạng của những người đó cơ bản giống nhau, bị cảm nhiễm ở phổi, khó thở mà chết. Bà giải thích: Sau khi các Pharaông cổ Ai Cập đã chết, người ta chôn theo những vàng bạc châu báu, áo quần; ngoài ra còn có rất nhiều rau quả và thực phẩm. Nhưng rau quả và thực phẩm đó, qua thời gian dài hàng ngàn năm thối rữa sinh ra những loài khuẩn độc mà mắt thường không thể nhìn thấy được.

Những khuẩn đó bám trong hầm mộ. Bất kể là ai khi thở hít phải những khuẩn độc đó, phổi sẽ mắc bệnh cấp tính, cuối cùng dẫn đế khó thở và chết trong đau khổ.

Tuy nhiên, lời giải thích đó vẫn chưa được cho là xác đáng nhất nên bí ẩn về những lời bùa chú ở bia mộ Pharaông vẫn chưa ai tìm ra lời giải và lời giải đó xem ra không hề đơn giản, ít nhất là cho tới thời điểm bây giờ.

Mỹ Nhàn

Advertisements

CÂU CHUYỆN PHONG THỦY

TÂN TRANG ĐỊA LÝ

tặng người hữu duyên

– Nguyễn Kim Anh

Tôi có nghe không rõ ràng lắm về 3 câu chuyện trong dân gian liên quan đến cụ Tả Ao, ông tổ của ngành Địa Lý Việt Nam, như sau :

1/- Có lần đi qua một xóm nghèo khám bệnh cụ nói với gia đình bệnh nhân : “Ai cho ta một bữa ăn ngon ta sẽ chỉ cho một Huyệt Kết phát thành giàu sang”. Có 3 người nghèo trong xóm hùn tiền đãi ông một bữa ăn thịnh soạn. Ông liền chỉ cho ba gia đình ấy cùng táng xương thân nhân vào chung trong một huyệt mộ. Vài năm sau đi ngang qua xóm nghèo ấy thì một trong ba người có xương thân nhân táng ở tầng dưới cùng, tìm đến cụ khiếu nại “Hai người kia hiện đang giàu to chỉ riêng tôi vẫn nghèo kiết xác ?”. Cụ trả lời : “Ông không biết tới nhà 2 người đó đòi tiền hả ?” Người ấy hiểu được câu nói, về sau cả 3 người đều trở nên giàu có.

2/- Có lần cụ tìm thấy được một Cuộc Đất phát thành giàu sang, cụ để dành Cuộc Đất cho mẹ già khi bà qua đời và mong thay đổi cuộc đời nghèo khổ của gia tộc. Nhưng đến khi mẹ qua đời đưa đến khu đất trên đúng lúc trời đổ mưa dâng nước Bình Điền làm ngập Huyệt Kết.

Người anh phản đối vì cho rằng chôn mẹ lúc này là trấn nước mẹ là bất hiếu. Sợ quá giờ hạ huyệt nên đành chôn mẹ ở một miếng đất cao bên cạnh. Cụ than van dòng họ không có đủ đức để được hưởng miếng đất trời ban vì lúc đó đúng là lúc rồng há miệng.

3/- Có lần cụ tìm thấy được một Cuộc Đất có Huyệt Kết phát thành địa tiên khi chôn người chết vào. Lúc lâm chung cụ thuê người gánh cụ tới Cuộc Đất trên nhưng trên đường đi thì cụ đã tạ thế nên đành chôn cụ bên vệ đường.

Ba câu chuyện trên thôi thúc tính tò mò, lòng tham lam và đưa tôi vào con đường tìm hiểu Khoa Địa Lý. Vì bài viết này nhắm mục đích dành cho thế hệ trẻ, phần đông không có khái niệm đúng về Khoa Địa Lý và khi muốn tìm hiểu thì lại bị sa vào hàng đống sách diễn tả vào phần ngọn thiếu khoa học mà lại mông lung như những cánh rừng với những danh từ và phương pháp tính toán lạ cổ xưa làm giới trẻ nản lòng nên tôi phải bắt đầu bài viết này bằng cách giải thích nghĩa các từ ngữ để các bạn trẻ đọc hiểu dần Khoa Địa Lý và điều tôi muốn diễn tả.

Cuộc Đất là một vùng đất có Huyệt Kết khởi nguồn từ Tổ Sơn là một ngọn núi cao chuyển theo Mạch Long là luống đất cao hơn đất bình thường vài phân kéo dài từ Tồ Sơn đến Bình Điền là hồ nước nơi Mạch Long dừng lại tạo ra Huyệt Kết. Mạch Long đi có hai dòng nước theo đi hai bên. Trước khi dừng Mạch Long tạo một một mô đất gọi là Huyền Vũ. Từ Huyền Vũ đất kéo ra thành 2 mô đất dài 2 bên như 2 cánh tay bọc lấy Huyệt Kết bên trái gọi là Tay Long thường cao hơn bên phải gọi là Tay Hổ. Các đụn đất hay đồi nhỏ nằm sau Bình Điền quanh Huyệt Kết hay 2 bên Tay Long Tay Hổ thường được gọi bằng những tên như Án, Chu Tước,Thác, Lạc, Quan, Quỉ v.v… và tùy theo hình dáng còn được gọi là Bút, Nghiên, Ấn v.v… Dù Cuộc Đất có  bao to hay bao xa với Tổ  Sơn thì huyệt kết là một vạt đất chỉ nhỏ bằng chiếc chiếu có hình dáng khác nhau gọi là Oa, Kiềm ở đất núi và Nhũ, Đột ở đất bình nguyên. Các thầy địa lý thường nhìn vào hướng, vật thể quanh Cuộc Đất và hình thể Cuộc Đất để định được Huyệt Kết sẽ phát nên thứ gì : tàn bại, giàu sang, khoa bảng v.v…  cho dòng họ người được đất trời ban.

Phần khó nhất trong Khoa Địa Lý có người theo 30 năm cũng không nắm vững  gọi là Thủy Pháp tức là nhìn hướng Thủy Khẩu là nơi nước phóng ra từ Bình Điền để định hướng đến của Mạch Long để định loại Cuộc Đất và hướng Huyệt Kết (4 loại, 24 hướng, mỗi hướng 15 độ).

Khoa Địa Lý xuất phát từ Trung Hoa, theo sử sách vào thời Đường Trung Tôn. Cao Biền được phong làm An Nam Tiết Độ Sứ để đô hộ nước ta, là người giỏi khoa Địa Lý, được lệnh yểm phá các Cuộc Đất kết lớn nào khả dĩ tạo ra những bậc tài giỏi ở nước Nam có thể ảnh hưởng xấu đến Trung Quốc. Y đã làm và tấu về Trung Quốc trong tập “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự” đề cập đến vị trí 632 huyệt chính và 1517 huyệt phụ mà y đã nhúng tay vào yểm phá, theo truyền thuyết có lúc Cao Biền dùng Phụ Đồng gọi các vị thần cai quản vùng đất nhập vào đồng nam đồng nữ rồi trừ đi, sau đó mới ra yểm đất nhưng cũng có những Cuộc Đất lớn Cao Biền thất bại trước các vị thần linh.

Đến đời nhà Minh tướng Hoàng Phúc theo hai tướng Trương Phụ và Mộc Thạnh kéo quân vào Việt Nam để phò Trần diệt Hồ có mang theo tập sách trên với kế hoạch thâm độc định yểm nốt những Cuộc Đất lớn còn lại. May thay Lê Lợi đã thành công sau 10 năm kháng chiến chống nhà Minh tịch thu được toàn bộ tài liệu và cả tập “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự” và đã truyền lại cho hậu thế đến ngày nay. Không biết Hoàng Phúc đã làm đến đâu mà chỉ thấy sau đời vua lê Lợi các anh hùng hào kiệt xuất thân ở miền bắc Việt Nam ít đi.

Cụ Tả Ao tên thực là Nguyễn Đức Huyền sinh vào thời Hậu Lê tại làng Tả Ao huyện Nghi Sinh tỉnh Hà Tĩnh, theo học nghề thuốc với một thầy Tàu được thầy đánh giá là người có đạo đức nên được truyền cho nghề Địa Lý. Cụ không có đệ tử mà chỉ để lại cho hậu thế 2 tập sách là Địa Đạo Diễn Ca (120 câu thơ) và Dã Đàm Tả Ao (văn xuôi) được giáo sư Cao Trung diễn dịch lại trong các cuốn sách Địa Lý Tả Ao, Địa Lý Gia Truyền v.v… Tôi có may mắn gối đầu một vài cuốn nói về địa lý và có đọc được một vài đoạn tập tấu thư của Cao Biền.

Khoa Địa Lý đã có mặt trong xã hội loài người trên mấy ngàn năm và có ảnh hưởng quan trọng sâu xa đến đời sống con người. Sự phát triển và sự tồn tại của Khoa Địa Lý  làm cho nhiều người không dám phủ nhận tính chính xác của nó.

Khoa Địa Lý là một khoa mang vẻ huyền bí mà còn bị thêm tính bí truyền nên mỗi ngày mỗi mai một, là một khoa quan trọng bởi nó liên quan đến sự thịnh suy của một giòng họ, từ giòng họ đó hay từ con người lại liên quan đến sự thịnh suy của xã hội hay toàn đất nước. Thầy địa lý thuộc chính tông thì rất ít và họ chẳng hành nghề vì có lẽ đều hiểu rằng nghề của họ chẳng mang lại lợi lộc gì cho họ cả mà đôi lúc còn bị vạ lây vì đã đụng đến những thứ thiêng liêng của con người, mồ mả ông bà.

Tôi không phải là thầy địa lý mà chỉ là một quân nhân của miền Nam Việt Nam. Tuổi ấu thơ của tôi trải qua trong gia đình nghèo khó. Tuổi trưởng thành lại phải lặn hụp trong chiến tranh. Tôi cứ nghĩ cuộc đời tôi đúng là cuộc đời trong bể khổ nhưng khi nhìn sang những chiến hữu đang sống quanh tôi như đại úy Dưỡng, thiếu úy Hàn, thiếu úy Tạo v.v… thì mới thấy được cuộc đời họ còn bi thảm hơn cả cuộc đời tôi. Nay ông nào cũng trên 70 vẫn tiếp tục lầm lũi đi cày chắt chiu từng đồng bạc gởi về cho đàn con còn nghèo khổ tại Việt Nam. Mỗi lần đến nhà quàn để tiễn đưa một chiến hữu niên trưởng ra đi, có chiến hữu chiều đi làm thêm giờ phụ trội tối đến vĩnh biệt anh em, là mỗi lần tôi hiểu được thêm cuộc đời con người thật vô nghĩa. Cho đến một hôm đi chùa tôi gặp cậu Hùng, đứa con duy nhất của thiếu úy Tạo đưa được sang Mỹ, ngồi bên hai cái hũ hài cốt đã hỏa táng cha mẹ, tôi mới biết vợ chồng thiếu úy Tạo đã cùng ra đi trong vòng vài tháng qua. Tôi chia buồn và hỏi “tại sao cậu không đưa 2 bác về chôn tại Việt Nam ?” “Trước khi ra đi ba em có trăn trối là chôn ông tại Mỹ, má em thì nói ông nằm đâu tao nằm đó”. Tôi buột miệng nói một câu thật vô duyên “Hai bác không nói được tiếng Anh làm sao nói chuyện được với ma Mỹ”. “Ba em có nói tao có làm ma Mỹ còn sướng hơn làm ma trong nước”. Tôi ra về mà lòng cứ thầm trách mình hay nói bậy và muốn chỉ cho Hùng một nơi chôn cha mẹ nhưng không biết Hùng có hiểu và tin những lời của mình hay không.  Nhưng từ ngày đó trở đi tôi càng quyết tâm viết bài này để trình bày những ý nghĩ của tôi dù đúng dù sai về Khoa Địa Lý may ra trong giới trẻ có ai hữu duyên đi vào khoa Địa Lý làm được một điều gì đó có lợi cho chính bản thân họ hay cho đất nước là tôi đã mãn nguyện.

Muốn cho giới trẻ hiểu và tin vào Khoa Địa lý thì phải sử dụng ngôn từ của khoa học ngày nay như: muốn cho vật chất hoạt động thì phải có lực tác dụng. Vậy lực gì đã tác dụng vào Mạch Long để mặt đất nhô lên có khi cao như bờ ruộng chạy dài từ Tổ Sơn đến Bình Điền ? (từ ngọn núi cao đến bờ hồ). Người xưa thường giải thích là khí Âm Dương của Trời Đất vì thời đó con người chưa biết đến Lực Điện Từ. Vậy nay chúng ta nên lý giải rằng lực tác dụng tạo nên Mạch Long là Lực Điện Từ trong sấm sét khi trời chuyển mưa đánh vào những ngọn núi cao (Tổ Sơn) tạo ra luồng điện chạy theo Mạch Long đền Bình Điền (bờ hồ) thì ngưng.

Hoạt động của con người mới nhìn tưởng là bao la với nhiều loại nhiều thứ khác nhau nhưng phân tích kỹ thì chỉ qui vào 2 hoạt động chính mà thôi : Tái Tạo và Sáng Tạo. Tái Tạo làm tốt làm đẹp thêm những gì có sẵn trong thiên nhiên trong xã hội. Sáng Tạo là bằng tài trí của mình, con người phát minh hay tạo ra những cái mới. Lúc còn trẻ các khoa học gia thường cho rằng mình thông minh đã phát minh ra những cái mới lạ nhưng lúc về già họ mới hiểu rằng điều mình Sáng Tạo ra chẳng qua là thứ bắt chước từ thế giới tự nhiên hay hiểu được thế giới tự nhiên vì nói cho cùng mọi phát minh chỉ là những thứ bắt chước từ thế giới tự nhiên mà thôi. Nhà phát minh siêu đẳng nhất chính là Ông Tạo hay Tạo Hóa. Khoa Địa Lý là một khoa được thành hình nhờ các thầy địa lý ngày xưa nhìn vào cấu trúc của thế giới tự  nhiên rồi dựa vào cấu trúc thiên nhiên đó cộng thêm sự hiểu biết của con người mà tạo thành một khoa phục vụ con người.

Vậy chúng ta có biết được rằng các Khoa Học Gia Tây Phương có phát minh gì giống như cấu trúc trong thiên nhiên của Khoa Điạ Lý không ? Tôi xin trả lời : Đó là cột thu lôi chống sấm sét của nhà chọc trời. Cột thu lôi chính là Tổ Sơn, dây dẫn điện từ cột thu lôi xuống giếng nước chính là Mạch Long, giếng nước là Bình Điền và đất quanh giếng nước chính là Cuộc Đất.

Khi phát minh ra cột Thu lôi vào năm 1725, cụ Benjamin Franklin vẫn chưa biết trong sấm sét có Lực Điện Từ và chắc chắn rằng cụ chẳng hề biết mô tê gì cấu trúc thiên nhiên trong  Khoa Địa Lý để mà bắt chước. Phát minh của cụ cũng giống hàng vạn phát minh khác của các khoa học gia Phương Tây, trong một sáng một chiều, giật mình thấy nó giống những gì đã có sẵn trong thế giới tự nhiên và cúi đầu tôn sùng Tạo Hóa.

Cụ Tả Ao không những là ông tổ Khoa Địa Lý của Việt Nam mà còn là một  nhà thơ nhà văn thuộc hàng siêu đẳng, cụ đã gói ghém cả Khoa Địa Lý vào trong tập thơ Địa Đạo Diễn Ca với 120 câu thơ Hán văn bằng lời lẽ bình dị rồi có lẽ sợ người đời không hiểu và Khoa Địa Lý trở thành mai một nên cụ đã trước tác bộ Dã Đàm Tả Ao bằng văn xuôi. Những người rành về Khoa Địa Lý sau khi đọc được 2 bộ sách của cụ đều cho rằng cụ đã trình bày Khoa Địa Lý rất đơn giản khoa học và chính tông. Trong chương đầu tiên và là chương chính của  bộ sách cụ bàn về Tầm Long Tróc Mạch tức là phương pháp đi tìm Mạch Long để từ đó định được vị trí và giá trị của Cuộc Đất, nghe nói từ chương này một thời làm cho các cụ mê Khoa Địa Lý còn hơn bọn thanh niên mê tứ đổ tường. Các cụ đã tay dù tay nải hàng chục năm đi từ làng này sang làng khác tìm Mạch Long để tìm cho ra Huyệt Kết mong thay đổi cuộc đời của giòng họ mình. Với những phương tiện ngày nay thì việc đi qua từng làng để tìm Mạch Long như các cụ ngày xưa không còn hợp thời nên chương này cần phải đổi tên thành chương Tầm Thủy Tróc Mạch.

Tại sao ? vì chúng ta hiện đang có trong tay các phương tiện như xe hơi, máy bay và nhất là GOOGLE MAPS thì cái hồ nước (Bình Điền) và mô đất (Huyền Vũ ) có 2 luống đất vòng cung 2 bên (Tay Long, Tay Hổ) cũng không thoát khỏi mắt chúng ta.

Các bạn trẻ ơi ! Xin hãy bắt chước các cụ ngày xưa lên đường Tầm Thủy Tróc Mạch bằng cách không cần bước đi mà ngồi yên trong phòng nhìn lên Google Maps khởi đi từ những cái hồ màu xanh gần nhà rồi lan rộng ra xa để tìm Bình Điền, Tay Long Tay Hổ và từ đó truy ra Mạch Long, truy ra Cuộc Đất mà thay đổi cuộc đời. Khi tìm được Cuộc Đất là bạn đã được Trời ban cho thứ quí thứ nhất trong dân gian (Nhất Mộ, Nhì Trạch, Tam Mệnh) thì bạn hãy bắt đầu tự chính mình tìm hiểu Khoa Địa Lý qua sách vở vì trong sách có ông thầy (Trung Thư Hữu Sư Phụ) và nếu có những nghi ngờ thì tham khảo những thầy Địa Lý nhưng cũng phải coi chừng vì thầy vô tông vô sư đang đầy dẫy trong thiên hạ, và cũng cần biết phân biệt giữa thầy Địa Lý và thầy Phong Thủy là một bên chuyên Âm Phần, một bên chuyên Dương Trạch. Giòng họ bạn tan nát hay huy hoàng ở trong tay bạn nên phải cẩn thận, phải nắm cho được phần Thủy Pháp trước khi lập mộ, phải chính tự mình tìm hiểu tin vào mình và tự mình thực hiện vì Thầy Địa Lý chính tông không bao giờ lập mộ vì tiền.

Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ cho rằng nền khoa học hiện nay chưa đủ khả năng, đủ thẩm quyền để quyết đoán về giá trị của Khoa Địa Lý và biết đâu trong tương lai, với sự tiến triển của khoa học, Khoa Địa Lý lại được sùng thượng trên hoàn vũ như khoa châm cứu hiện nay. Ước muốn của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ cũng là ước muốn chung của những người rành Khoa Địa Lý nhưng sẽ không bao giờ thành hiện thực vì khoa học hiện đại chỉ đạt tới mức phát minh ra cột thu lôi để vô hiệu hóa Lực Điện Từ hung dữ của sấm sét chứ chưa đủ khả năng sử dụng Lực Điện Từ của sấm sét để phục vụ con người, dù biết rằng một tia chớp có thể thắp sáng một ngọn đèn 100w trong vài tháng. Khoa Địa Lý thì biết sử dụng Lực Điện Từ của sấm sét khi đánh vào những hòn núi cao (Tổ Sơn) để phục vụ con người nhưng lại căn cứ vào những thuyết và những cách tính toán rất khó khăn được chấp nhận trong giới khoa học, như thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ Hành, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi v.v … và nhất là sự liên hệ giữa người chết và cuộc đời người sống khi táng xương thân nhân vào Huyệt Kết, là một sự huyền bí không thể giải thích bằng khoa học được.

Vì bài viết này dành cho các bạn trẻ nên người viết chỉ nhắm vào mục đích đơn giản và khoa học hóa một phần Khoa Địa Lý theo thiển ý của mình và không dám tranh luận hay múa rìu qua mắt các bậc trưởng thượng đã bỏ cả cuộc đời mình trong Khoa Địa Lý. Người viết thấy được bọn Tàu Bắc Phương khi xưa không từ một mưu mô thủ đoạn nào để thôn tính Việt Nam, nay đến những kế hoạch hèn hạ như mua móng trâu, mua mèo để tàn phá nền nông nghiệp Việt Nam mà chúng cũng thi hành thì kế hoạch thâm độc của tướng Hoàng Phúc nhằm triệt tiêu các anh hùng hào kiệt Việt Nam từ trong trứng nước lẽ nào chúng không tiếp tục ?

Dưới bài viết này tôi đính kèm hình ảnh một Cuộc Đất phát Đế Vương. Cuộc Đất rất dễ thấy trên GOOGLE MAPS vì nó có 3 Bình Điền (hồ nước) 3 Tay Long 3 Tay Hổ. Lúc nào các bạn trẻ tìm ra Cuộc Đất này mà cần giúp đỡ thì hãy đến Atlanta tìm tôi .Tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể làm vì tôi cũng tin rằng Cuộc Đất này có thể đưa bạn  hay con cháu bạn ngồi vào chổ ông Mỹ đen Barrack Obama đang ngồi. Chế độ dân chủ là một chế độ mà bất cứ ai cũng có quyền hy vọng trở thành tổng thống và niềm hy vọng đó đều có cơ trở thành hiện thực nếu được ông Trời ban cho một Cuộc Đất tốt.

Cuộc Đất Phát Đế Vương

Cuộc đất này có 3 Tay Long, 3 Tay Hổ, 3 Huyền Vũ và 3 hay trên 3 Bình Điền là có thể phát đế  vương.  Bên dưới có 3 hình Thủy nếu nằm ở hướng Bắc, bên trên có 3 hình Hỏa nếu nằm ở hướng Nam thì bên trái là Đông có 3 hình Mộc và bên phải là hướng Tây là hình Kim ở giữa hình Thổ là Cuộc Đất này nằm đúng ngũ hành thì phát lớn. Cụ Tả Ao nói về Cuộc Đất này như sau :

Ngũ Tinh Cách Tú Chiều Nguyên

Kim Mộc Thủy Hỏa Bốn Bên Loan Hoàn

Thổ Tinh Kết Huyệt Trung Ương

Ấy Đất Sinh Thánh Sinh Vương Đời Đời

Thiên Sơn Vạn Thủy Triều Lai

Can Chi Bát Quái Trong Ngoài Tôn Nghinh

Cuộc Đất này lại dễ tìm thấy trên GOOGLE MAPS. Chúc các bạn trẻ thành công khi thành công thì nên truyền lại cho con cháu lời di chúc quan trọng nhất “Cấm Sát Sanh” nếu muốn hưởng phúc từ Cuộc Đất trời ban.

Nguyễn Kim Anh

TIẾNG CHUÔNG “THIÊN MỤ”

VỀ TÊN GỌI

CHÙA LINH MỤ

Có phải tên gọi Thiên Mụ mới đúng, Linh Mụ là sai ? Vì sao người này gọi là Linh Mụ, người kia lại gọi Thiên Mụ ? Vậy sự thật về tên gọi ngôi chùa này như thế nào ?

“Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”.

Đó là hai câu ca dao mà mẹ tôi thường hò mỗi khi ru cháu ngủ. Ngày trước, có lần mẹ nói với tôi : “Khi mới về làm dâu, mẹ thường hay hò “Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Linh Mụ canh gà Thọ Cương”*. Một bác hàng xóm nghe vậy, nói với mẹ : Chị hò như vậy là sai rồi. Thiên Mụ mới đúng và Thọ Xương chứ không phải Thọ Cương. Từ đó mẹ nghe theo bác ấy nhưng không biết đúng sai thế nào”. Lúc ấy tôi cũng chẳng để ý gì đến lời nói đó của mẹ tôi.

Gần đây, trên diễn đàn báo chí có luận bàn nhiều về tên gọi chùa Linh Mụ, khiến tôi nhớ lại lời mẹ ngày trước mà đi tìm lại sách vở tra cứu.

Có phải tên gọi Thiên Mụ mới đúng, Linh Mụ là sai ? Vì sao người này gọi là Linh Mụ, người kia lại gọi Thiên Mụ ? Vậy sự thật về tên gọi về ngôi chùa này như thế nào ?

Chùa Thiên Mụ vốn có từ lâu đời, vào buổi hừng đông của xứ Thuận Hóa. Năm 1555, khi sách Ô Châu cận lục ra mắt bạn đọc thì chùa đã là một ngôi phạm vũ nổi tiếng ở vùng đất này. Lúc đó Thiên Mụ chưa phải là quốc tự. Thời bấy giờ cõi Hóa Châu có hai ngôi danh lam nổi tiếng, đó là chùa Sùng Hóa ở làng Lại Ân (không phải Triêm Ân), và chùa Thiên Mụ ở đồi Hà Khê. Tên gọi chùa “Thiên Mụ” đã được tiền nhân nghĩ ra và viết thành văn tự.

Hiện chưa tìm ra sử liệu nói rõ cụ thể chùa Thiên Mụ được đặt tên vào năm nào, vì thời ấy quan hệ Việt – Chăm còn chưa mật thiết. Nhưng điều chắc chắn là sự kiện này không xảy ra dưới thời chúa Nguyễn Hoàng đến thăm chùa vào năm Tân Sửu, 1601 mà phải trước thời gian đó ít nhất là trên 250 năm, kể từ khi Hoá Châu thuộc về người Đại Việt vào năm 1307. Bởi cứ vào một số tài liệu hiện nay, ta được biết, trước năm 1306, trên đất Hà Khê cũ đã có đàn, miếu của người Chàm, về sau người viết mới dựng chùa Việt ở trên đó. Như vậy, chùa Thiên Mụ sau năm 1307 không phải do người Chàm lập và đặt tên như một số người đã nhận định thiếu căn cứ.

Cũng cần nói thêm rằng, Hà Khê là một ngọn đồi mà người Chàm, người Trung Hoa, người Việt, và kể cả người Tây phương đều khẳng định đó là một ngọn núi thiêng. Mãi đến sau này vua Gia Long mới cho đổi tên thành Thiên Mụ sơn, do vậy chúng ta không nên nhầm lẫn tên núi với tên chùa.

Vì sao chùa có tên là Thiên Mụ ?

Tương truyền, ngày xưa có một Bà già ở trên trời thường hiện xuống ở đồi Hà Khê để nghe chuyện thế sự nhân tình và giúp dân. Có người nói đó là Bà Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Giàng, Bà Trời, Bà già Trời, thậm chí là Đức Bà, bậc mẫu nghi thiên hạ có quyền năng chuyển hóa con người hướng thiện. Bà là một trong nhiều hiện thân của Đức Quán Thế Âm cũng là một cách nói. Do đồi Hà Khê có Bà Trời linh thiêng như vậy, nên khi đến trấn nhậm Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng đã “mượn” Bà làm huyền thoại trong việc xây dựng sự nghiệp đế chúa của ông.

Để tỏ niềm tôn kính, người Huế ngày xưa đã gọi Bà Trời ấy bằng “Mụ”. Thiên Mụ có nghĩa là Bà Tiên hay Bà nhà Trời. Người Tây phương đã có chút gặp gỡ với người Phương Đông khi gọi bà mụ là Sage femme, có nghĩa là mụ đỡ, vừa là người đàn bà minh triết, thường chỉ dạy đạo lý và giúp đỡ con người.

Mụ là chữ Nôm, có nghĩa thông thường là “bà”, “bà già”. Người đàn bà lớn tuổi có chồng, không chồng hay chưa chồng, người Huế đều gọi là Mụ. Em gái của cha, dù còn ở độ tuổi trăng tròn, vẫn được người miền Trung gọi bằng “cô”. Lên thêm một đời, ngang hàng ông nội thì người đàn bà ấy dù trẻ tuổi vẫn được gọi bằng “Mụ Cô Bà”. Từ “Mụ” còn biến nghĩa tùy theo văn cảnh. Người Huế đôi khi dùng từ “Mụ Đầm” để gọi các “Bà Tây”, có pha đôi chút hài hước.

Thiên Mụ cũng có khi được đọc là Thiên Mỗ hay Thiên Mộ. Một chữ Mụ mà có ba cách đọc khác nhau : Mụ, Mỗ và Mộ, đọc âm nào cũng được, không sai. Dựa vào bản gốc chữ Hán sách Ô Châu cận lục do Tiến sĩ Dương Văn An hiệu đính (không phải biên soạn), các học giả xưa nay đã phiên âm theo cách riêng của mình. Năm 1960, Cử nhân Hán học cũ Bùi Lương phiên âm tên chùa Thiên Mụ là Thiên Mỗ; năm 1997, viện Hán Nôm phiên âm là Thiên Mụ, còn trong dân gian vẫn có người gọi là Thiên Mộ. Năm 1965, tôi từng nghe các cụ ở Tổng hội Cổ học Việt Nam nói “tên chùa Thiên Mụ đọc là Thiên Mộ cũng được, không sai”.

Các nhà nghiên cứu văn hóa Huế của Hội Đô Thành Hiếu Cổ giai đoạn 1913-1944 lại thích gọi tên chua Linh Mụ là Thiên Mẫu, điển hình là công sứ Pháp A. Bonhomme và nhà nghiên cứu Léopold Cadière. Tiếc rằng vào thời gian 40 năm đầu thế kỷ 20 về trước, không thấy tác giả nào lên tiếng về việc tên mới được đặt cho ngôi quốc tự cổ kính và lớn nhất ở chốn thiền kinh này.

Không những thế, dưới triều vua Thành Thái, các nhà nghiên cứu Pháp lại đặt tên cho chùa Linh Mụ là chùa Khổng Tử (pagode de Confucius) và cũng đã gọi tháp Phước Duyên là tháp Khổng Tử. Sở dĩ có sự nhầm lẫn đáng tiếc này là vì cách chùa Linh Mụ khoảng hơn 100 mét (theo số liệu phỏng chừng thời bấy giờ) có Văn Miếu thờ đức Khổng Phu Tử và Võ Miếu ghi công trạng các danh tướng triều Nguyễn mà có vị đã đỗ Tiến sĩ Võ dưới triều vua Tự Đức. Rất may là sau đó tự họ đã đính chính lại sai lầm này.

Còn trong dân gian, có nhiều người gọi tên chùa Linh Mụ là chùa “Thiêng Mụ”. Họ cho rằng vì chùa này rất linh thiêng nên gọi tên chùa là Thiêng Mụ. Dân gian có cách nói nôm na của họ, có lẽ ở đây chúng ta không cần phải bàn chuyện đúng sai.

Theo chúng tôi, do “uống nước sông Hương” mà người Tràng An có giọng nói không giống với các nơi khác, nên đã nói chữ “Thiên” thành “Thiêng” (nhưng lại viết Thiên). Từ “Thiên” được phát âm biến trại thành “Thiêng” (có “g” ở đằng sau), chứ không phải vì linh thiêng mà gọi là Thiêng Mụ.

Do không có con, vì mục đích cầu tự, vua Tự Đức đã hạ lệnh “kiêng” dùng chữ “Thiên”. Chùa Thiên Mụ được chính thức đổi tên thành Linh Mụ vào năm 1862. Bảng hiệu đề tên chùa còn ghi rõ 3 chữ hán Thiên Mụ Tự treo cao ở Nghi Môn sau tháp Phước Duyên :

“Tiếng chuông Linh Mụ gió ngân nga

Thọ Xương văng vẳng lắng canh gà”.

(Vân Bình Tôn Thất Lương)

Nghiên cứu sự đổi tên ngôi quốc tự nổi tiếng nhất thần kinh này lẽ ra là công việc của người nước ta. Nhưng không ngờ người thực hiện lại là Léopold Cadière, một linh mục người nước ngoài. Ông đã tìm hiểu sự kiện này rất kỹ. Theo ông, vào tháng giêng niên hiệu Tự Đức thứ 15 tức vào tháng 2 năm 1862, tự thân nhà vua trực nhận rằng “Chữ Thiên và Địa là cao quý, ban lệnh không được dùng những chữ ấy nữa để tỏ lòng tôn kính trời đất”, ngoại lệ tên gọi “Khâm Thiên Giám”, “Thiên Văn Đài” và “Thừa Thiên Phủ” thì khi viết chữ “Thiên” phải chừa một khoảng “trống”.

Bộ lễ tâu xin đổi tên gọi Thiên Mụ bằng “Tiên Mụ” Vua Tự Đức cho cải đổi chữ “Thiên” hoặc “Tiên” bằng chữ “Linh” cho hợp lý, hợp nghĩa, hợp vận. Học thuật xưa đòi hỏi người nghiên cứu phải cẩn trọng vì “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Vì thế mà bến đò Thiên Lộc và làng cùng tên đã được đổi thanh tên mới Thọ Lộc, làng Thiên Tùy ở huyện Phú Vang được đổi thành Xuân Tùy, chùa Thiên Ấn (cách chùa Thiên Mụ khoảng 500m) được lấy tên mới Từ Ân, thậm chí tên xóm Thiên Hóa (ở phía sau chùa Tường Vân hiện nay) được đổi thành Xuân Hóa.

Sau 7 năm thi hành quyết định, cuối cùng nhà vua vẫn không thể có con. Từ đó vua đã cho “tảng lờ” việc thay đổi tên chùa Thiên Mụ thành Linh Mụ. Biểu hiện của chùa vẫn được duy trì ở gian giữa Nghi Môn, với ngầm ý cho phép chùa có hai tên gọi Thiên Mụ hoặc Linh Mụ. Từ đó về sau các sử thần nhà Nguyễn được tùy nghi dùng hai từ “Thiên Mụ” và “Linh Mụ” trong sử sách và các văn bản khác của nhà nước. Văn bia ở chùa Linh Mụ do vua Khải Định dựng lập vào niên hiệu thứ 4, 1920 đã chứng minh điều đó: cả hai chữ Linh Mụ và Thiên Mụ được dùng lẫn lộn tùy theo nghĩa lý từng câu, từng đoạn.

Chẳng hạn : Phần trên của bài Minh là văn xuôi, ghi: Sắc kiến tự phụng Phật mệnh danh Thiên Mụ sơn Linh Mụ tự. Nghĩa là : Ban sắc dựng chùa Linh Mụ ở núi Thiên Mụ. Nhưng phần cuối của bài minh lại để lời ngự chế của vua Khải Định, trong đó có hai câu :

Thiên Mụ danh lam giá vãng lai,

Đăng lâm hà dị đáo Thiên Thai.

Nghĩa là :

Xe giá tìm thăm Thiên Mụ chơi, / Trèo lên nào khác tới Thiên Thai.

Tóm lại, chùa Linh Mụ có nhiều tên gọi : Thiên Mụ, Thiên Mỗ, Thiên Mộ, Linh Mụ, Thiên Mẫu… trong đó Thiên Mụ và Linh Mụ là hai tên gọi phổ biến. Và mặc dù gọi tên chùa là Thiên Mụ và Linh Mụ đều đúng, nhưng tên “chùa Linh Mụ” hầu như đã thấm sâu vào tâm khảm của người dân Huế từ 145 năm nay.

Cố Trưởng lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, người từng giữ chức Tăng Cang chùa lâu năm, được Phật tử và quần chúng Huế quen gọi là Ôn Linh Mụ, không ai gọi là Ôn Thiên Mụ. Trong việc biên khảo, thiết nghĩ chúng ta nên theo dòng chảy của lịch sử mà gọi tên chùa qua từng thời điểm cho chuẩn mực là tốt nhất. Thiên Mụ, Linh Mụ là hai tên gọi vừa chính thống, vừa thân thương đã song hành đi vào thơ ca, thấm sâu vào lòng dân chúng chỉ vì Thiên Mụ là tiền thân của Linh Mụ mà thôi.

(Theo Huếơi.com)

ĐỌC THÊM :

Phải chăng Quốc Tự Linh Mụ

còn có tên gọi “Thiên Mẫu” ?!

xưa nay, chùa Thiên Mụ có hai tên gọi chính thống theo sử sách: Thiên Mụ hoặc Linh Mụ. Năm Tự Đức thứ 15, 1862 vì kiêng kỵ chữ “Thiên” cho nên danh xưng Thiên Mụ (天姥) được cải đổi thành Linh Mụ (靈姥).

Biển đề tên chùa bằng gỗ quý có chạm trổ nghệ thuật, chiều dài khoảng 1,6m bề rộng 0,6m, được sơn son thếp vàng; nay tuy có bị hư hỏng phần khung và nhạt phai sắc màu vì thời gian trải qua 145 năm, được treo một cách trang nghiêm trên cửa chính của nghi môn.

Vào thời mở cửa, du khách nước ngoài viếng chùa, ai ai cũng thấy, rất nhiều người Âu Mỹ đọc được ba chữ Hán viết theo lối chân phương (靈姥寺) (Linh Mụ Tự). Thế mà, không hiểu vì sao, năm 1915, Công sứ A. Bonhomme lại khẳng định tên chùa là Thiên Mẫu. Tác giả ấy đã viết về Lịch sử, Miêu tả, Văn bia thành ba bài nghiên cứu dày công sức theo cách nhìn của học giả già dặn kinh nghiệm, khiến cho người đương thời có nhu cầu nghiên cứu chùa Huế, chùa Việt phải băn khoăn. Một dấu hỏi bay vút tận trời !

Bằng chứng còn lưu lại giấy trắng mực đen qua ba bài viết bằng tiếng Pháp có ghi chú trong bài với nhiều nét chữ Hán, được đăng tải trên tạp chí của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (Butlletin des Amis du Vieux Hue, viết tắt là B.A.V.H) vào năm 1915 như y hệt :

1. LA PAGODE THIEN-MAU: HISTORIQUE.

2. LA PAGODE THIEN-MAU: DESCORIPTION.

3. LA PAGODE THIEN-MAU: LES STÈLES.

Cẩn thận hơn, tác giả A. Bonhomme lại chú thích tựa đề bằng dấu treo cao ở cuối mỗi bài viết rất công phu rằng bài viết đã thông qua Hội, tiêu biểu là trong biên bản phiên họp của Hội này, ngày 29 tháng 06 năm 1915 hoặc tháng 11 cùng năm ấy. Cụ thể hơn, điều này trùng hợp với biên bản của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (được viết tắt bằng chữ Pháp là A.B.V.H) cùng ngày tháng đã dẫn. Xem bản dịch B.A.V.H năm 1916, trang 502, Nxb Thuận Hóa, năm 1997 thì được rõ them :

“Ông Bonhomme tiếp tục miêu tả chùa Thiên Mụ còn gọi là chùa Khổng Tử”

Thưa độc giả, chắc rằng người Việt Nam đọc và nghe như vậy, thì họ sẽ ngạc nhiên vì thấy là lạ : có chuyện lắc léo kiểu “con trâu néo sừng” ở đây chăng !? Không biết, học giả A. Bonhomme có nhầm lẫn do những người Âu đi trước đã quen gọi một cách “trắc nết” rằng “Tháp Phước Duyên là tháp Khổng Tử”. Người Việt dễ dàng cảm thông cho người ngoại đạo chỉ vì họ là ngoại kiều, họ là người Gaulois…

Một chi tiết tiêu biểu trong nhiều tình tiết cần làm sáng tỏ là trong bài viết thứ nhất về chùa Linh Mụ (tên gọi đương thời năm 1915) tác giả A. Bonhomme đã viết : “… C’est un temple bouddhisme dont le nom véritable est “Temple Thiên-Mẫu” (Thiên Mẫu Tự (天姆寺), appelé aussi vulgairement Thiện Mộ on Thiên Mụ”.

Không rõ vì lí do nào, bản Việt dịch của ông Đặng Như Tùng lại bỏ nhóm từ “Thiên-Mẫu Tự” (天姆寺) khi chuyển ngữ từ tiếng Pháp ra quốc ngữ.

“… Đây là chùa của đạo Phật mà tên đúng của nó là “Thiên Mẫu Tự” hay gọi nôm na là Thiên Mộ, hay Thiên Mụ” .

Như vậy, cả người viết và người dịch đều khẳng định tên chùa Thiên Mụ vào năm 1915, là chùa “Thiên Mẫu”.

Phải chăng ba chữ Hán (天姥寺) Thiên Mụ Tự phải đọc cho đúng là Thiên Mẫu Tự ? Và, các tên gọi “Thiên Mộ” hay “Thiên Mụ” là tên “gọi nôm na”. Ông Tây A. Bonhomme có nhầm lẫn không ? Nếu nhầm thì kéo luôn người dịch sai lầm theo.

Chữ Mụ (姥) là chữ Hán, không phải chữ Nôm. Viết từ “Mụ” bằng chữ Nôm thì mượn y hệt từ “Mụ” của chữ Hán. Thiên Mụ là “Bà Mụ nhà Trời”. Rất nhiều người trẻ đã cho rằng, “trong hai chữ cấu tạo tên gọi của chùa Thiên Mụ” thì chữ “Thiên” là từ Hán Việt; chữ Mụ (姥 ) là từ Nôm thuần túy. Theo luật “Khử Tam Thế”, thì có nhiều từ Hán Việt tùy theo văn cảnh mà đọc sai chệch theo mức độ cho phép. Từ Mụ (姥) có cấu tạo từ một bên chữ “Nữ” (女), một bên chữ “Lão” (老), hợp hai từ này thành từ mới, viết (姥), đọc “Mụ”, hoặc “Mộ”. Xưa nay, các nhà Nho, không ai đọc chữ “Mụ” (姥) là “Mẫu” bao giờ cả. Vì sao thế? Chữ “Mẫu” (姆) là từ hội ý, một bên chữ (女), một bên chữ (母), có nghĩa là Mẹ. “Phụ Mẫu” (父母) có nghĩa là “Cha Mẹ”. Chữ Mẫu có nghĩa là “Người đàn bà lớn tuổi”.

Từ năm 1962-1975, tôi có may mắn tìm đến văn phòng Tổng Hội Cổ Học Việt Nam, đặt trụ sở tại Di Luân Đường (trong khuông viên trường Trung học Hàm Nghi cũ) hỏi thăm quý cụ túc Nho khoa bảng về hai từ “Mụ” (姥) và “Mẫu” (母) có nghĩa lý như thế nào? Quý cụ Phan Ngọc Hoàn, cử nhân Hán học, Tả lý Bộ hình và cụ Phạm Lương Hàn, Tú tài Hán học, Tri phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, quý cụ đều là Hội trưởng Tổng Hội Cổ học tiền nhiệm và kế nhiệm đều khẳng định chữ “Mụ” (姥) được đọc là “Mụ”, không thể nào đọc là “Mẫu” được. Các cụ lại dặn thêm rằng; “Chữ Hán tinh tế lắm, chữ nào nghĩa nấy, không thể nào đoán nghĩa, đoán chữ rồi trả lời “bâng quơ” được đâu; không nên đùa với “chữ nghĩa của Thánh Hiền”.

Từ năm 1962-1975, tôi có may mắn tìm đến văn phòng Tổng Hội Cổ Học Việt Nam, đặt trụ sở tại Di Luân Đường (trong khuông viên trường Trung học Hàm Nghi

Nay, tôi may mắn được người bạn tốt tặng cho sách quý Từ Điển Ngũ Thể (五體字典) của hai tác giả Lạc Hằng Quang và Dư Cự Lục, do Nxb Thuận Hóa ấn hành quý 2, năm 2006. Tra đi, tra lại nghĩa lý của hai từ (姥 ) và (姆) “Mụ” và “Mẫu” thì thấy:

“Mụ” = (姥 ) (tr. 148). “Mẫu” = (姆) (tr. 121)

Chùa Thiên Mụ đã được sách Ô Châu Cận Lục của Trung tâm Khoa học Xã Hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, năm 1997 [có phần chữ Hán nguyên bản Ô Châu Cận Lục (烏州近綠)] đã dịch nguyên tác từ sách ấy, quyển 5, mục Đền Chùa-Danh Lam, tr. 78-79 như sau :

“Chùa Thiên Mụ: Chùa ở phía Nam xã Hà Khê thuộc huyện Kim Trà, nóc sát đỉnh núi, chân gối dòng sông; cách xa trần thế, gần sát bên trời. Khách có tản bộ lên chơi thì tự nhiên phát thiện tâm và tiêu tan niềm tục. Thật là cảnh trí nơi Tiên Phật”.

Sách này viết (天姥寺) (tr. 280), phần Hán văn (tr. 61b, 62a). Chú thích (1) của sách, tr. 79 ghi rõ về địa danh Hà Khê.

Nguyên văn chép xã Giang Đạm (江淡), được sửa lại là Hà Khê. Người sửa lại chỉ khiêm tốn viết chữ nhỏ treo bên dòng chữ lớn ở trang 62a, sách trang 281, chứng tỏ người xưa “dè dặt” trong việc nghiên cứu.

Từ chuyện tìm hiểu về tên gọi lệch đi của ngôi Quốc Tự lớn nhất ở Cố đô Huế, chúng ta thấy rằng “việc nghiên cứu địa danh, danh xưng liên quan đến văn hóa, một khi gặp phải điều gì “ngờ ngờ” thì nên tra cứu, tham vấn nhiều người mới sáng lẽ, sáng lòng. Đó là một thú vị trong việc tìm tòi, học hỏi. Vội vã tin sách, tin người thì dễ dàng “nhào lộn”, rồi “lộn ngược”, “lộn xuôi” mấy vòng không còn biết trời đất chi nữa.

Tăng Ni sinh ngày nay, ít người học chữ Pháp, khi có nhu cầu tra cứu, phải chạy vạy. Nếu vội vàng tin mà không đối chiếu, suy gẫm thì dễ dàng phạm phải sai lầm đáng tiếc. Chúng tôi quý trọng các học giả như ông A.Bonhomme, viết bài này không phải “sửa lưng ông”. Ông là nhà nghiên cứu có tầm cỡ đã để lại cho người đi sau nhiều tư liệu lịch sử, liên quan đến chùa Huế…

(Theo Lê Quang Thái)

TÌM HÀI CỐT DZỎM

NHIỀU “TRUNG TÂM

TÌM HÀI CỐT”DZỎM

Trên các con đường ở Quảng Trị thường có những chiếc xe treo băngrôn mang hàng chữ “xe di chuyển hài cốt liệt sĩ”. Lần theo các chuyến xe này, chúng tôi chứng kiến những hình ảnh không bình thường xung quanh chuyện tìm hài cốt đang là đề tài “nóng” ở một số tỉnh miền Trung…

Sáng 21/7, chúng tôi có mặt tại Quảng Trị. Ngồi ở quán nước trên đỉnh Dốc Miếu (Gio Linh), cứ khoảng 30 phút có một chiếc xe “di chuyển hài cốt” lao vút qua. 10g, một chiếc xe du lịch 16 chỗ biển số Hà Tĩnh tấp vào đậu trước nghĩa trang Gio Linh. Trước đầu xe treo tấm băngrôn đỏ “xe di dời hài cốt liệt sĩ”.

Một cuộc tìm kiếm hài cốt người chết

Từ trên xe đổ xuống hơn mười người mang lỉnh kỉnh hoa quả, nhang đèn, rượu thịt, vàng mã… Một phụ nữ khoảng 30 tuổi mặc quân phục mới tinh được hai người đàn ông dìu đi. Phía sau vành mũ tai bèo là gương mặt trắng bệch, mắt nhắm nghiền, chân đi xiêu vẹo. Lên hết bậc tam cấp cuối cùng của nghĩa trang liệt sĩ, chị phụ nữ bắt đầu vẩy hai tay liên hồi, hai quai hàm đánh qua lại lộp cộp, miệng thốt ra những câu vô nghĩa, không rõ ràng.

Sau 30 phút “vong (vong hồn người chết) nhập xác phàm”, bỗng dưng chị phụ nữ quơ tay chỉ vào nghĩa trang bạt ngàn ngôi mộ, miệng lập bập : “Cậu ở đây nì, 23 nớ” (cậu ở đây nè, số 23 đó). Nhóm người ùa tới hỏi tới tấp : “Cậu (chú, bác…) ở mô, sống khôn thác thiêng chỉ con cháu đưa về”.

Lúc này chị phụ nữ bắt đầu… ngáp, tay chân đạp loạn xạ, miệng ú ớ liên hồi. Để “động viên” vong, một thanh niên lấy máy nghe nhạc mở bài Hành quân xa rồi cả nhóm người vỗ tay đồng thanh hát theo. 30 phút trôi qua. Chị phụ nữ đột nhiên bật dậy miệng lắp bắp, câu nọ đứt đoạn câu kia : “Tháng mười… bảy tám… thì… thì về chứ nì, dãy 8… cái 23 nớ”. Một người đàn ông “à” một tiếng rồi “phiên dịch” : “Cậu nói hài cốt được quy tập về nghĩa trang tháng 10/1978, hàng số 8, mộ thứ 23” .

Mọi người lập tức tỏa ra đi tìm vị trí ngôi mộ, chuẩn bị bày mâm hoa quả, xôi gà, rượu thịt, nhang đèn. Anh Đặng Văn Hiệp, cháu gọi liệt sĩ Hỷ bằng cậu ruột, cho biết : “Cậu Hỷ sinh năm 1944, quê ở Hà Tĩnh. Nhập ngũ năm 1965, hi sinh năm 1968 khi đang trên đường vào chiến trường miền Nam. Sau giải phóng, gia đình cất công tìm kiếm hài cốt của cậu nhiều nơi nhưng không kết quả. Mới đây em đến trung tâm của ông Bằng ở P.Thạch Linh (TP Hà Tĩnh) cầu khấn, được vong của cậu nhập vào cháu gái là Đặng Thị Hoàn và chỉ ra nơi an nghỉ ở nghĩa trang này”.

Chúng tôi hỏi chị Hoàn cũng công tác trong quân đội hay sao, anh Hiệp nói : “Cô Hoàn chỉ làm ruộng thôi. Nhưng vì vong của cậu nhập vào nên bây giờ không còn là cô Hoàn nữa mà là liệt sĩ Nguyễn Văn Hỷ. Bộ quân phục mặc trên người cô Hoàn mua trước trung tâm của ông Bằng”.

Tranh thủ lúc “vong” tạm rời xác, chúng tôi gặp chị Hoàn. Chị Hoàn cho biết khi “vong” nhập chị như lạc vào cõi mộng, không biết mình nói gì, làm gì. Hỏi trước khi rời trung tâm có được ai cho ăn, uống thứ gì đó không bình thường không, chị Hoàn chắc nịch : “Nỏ mô (không có). Trước chừ tui có đi ra tới đây mô, khi vong nhập tui kể vanh vách từng địa danh, vị trí, địa điểm nghĩa trang. Những điều về quan hệ, đồng đội… của liệt sĩ Hỷ tui cũng đều biết”.

Khoảng 15g, “vong” quay lại tìm chị Hoàn. Chị Hoàn lại vật vã trong cơn co giật, miệng méo xệch nhưng vẫn trả lời những câu hỏi xác minh về nhân thân của liệt sĩ (tên tuổi, năm sinh, ngày nhập ngũ, ngày hi sinh, người thân…), rồi sau đó làm lễ khấn, xin keo, đặt bia (làm sẵn từ trước) lên ngôi mộ vô danh “hàng số 8, ngôi số 23” . Chúng tôi hỏi làm sao có thể khẳng định đây là mộ của liệt sĩ Nguyễn Văn Hỷ, anh Hiệp nói vì “vong đã báo là 100%”.

Sau khi cho rằng đã xác định được mộ liệt sĩ Hỷ, nhóm thân nhân đến phòng LĐ-TB&XH huyện để làm thủ tục xin hốt hài cốt. Tuy nhiên, do thiếu một số thủ tục cần thiết nên họ phải về Hà Tĩnh trong đêm. Đến sáng 2-8, anh Hiệp cho biết vẫn chưa di dời được hài cốt liệt sĩ Hỷ về quê.

Một ngày ở “trung tâm ông Bằng”

Sáng 22/7, chúng tôi có mặt tại “trung tâm ông Bằng”. Ngay từ đầu phố, chúng tôi bắt gặp một “rừng” ôtô, xe máy của khách thập phương. Các hàng quán dọc hai bên đường mở cửa từ tờ mờ sáng để phục vụ người nhà liệt sĩ đến cúng bái, cầu vong hồn liệt sĩ. Đối diện “trung tâm ông Bằng” bày bán la liệt băngrôn, hoa, quân phục, dịch vụ cho thuê xe, nấu cơm… Trước cổng trung tâm có hàng trăm người đang đợi đến giờ vào làm lễ cầu “vong”.

“Trung tâm ông Bằng” là ngôi biệt thự bề thế nằm giữa khu vườn rộng lớn. Trên lối dẫn vào sân vườn, bên tay phải có điện thờ nghi ngút khói hương, trong khoảnh sân rộng có rạp lớn kê khoảng 500 cái bàn nhựa dùng làm bàn thờ cầu vong linh cho liệt sĩ. Cuối khu vườn trổ ra phía bờ sông đặt điện thờ và sân làm lễ (khi sân chính quá tải thì dời ra đây). Ngay cửa ra vào tòa nhà đặt bàn thờ chính, thùng công đức.

7g, cửa trung tâm mở toang, trên 100 con người chen chúc ùa vào. Bên trong bắt đầu lập bàn thờ, bày biện ảnh người chết mất tích, mâm hoa quả, bánh kẹo, rượu thịt lên chiếc bàn nhựa. Chỉ thoáng chốc mùi nhang khói bốc lên mù mịt, ngột ngạt. Mỗi bàn thờ túc trực khoảng mười người thay nhau quỳ lạy xì xụp. Tiếng rì rầm cầu “vong” trỗi vang vọng cả khu vườn.

9g, khu vực hành lễ đã quá tải, không còn chỗ chen chân. Chốc chốc người nhà kẻ qua đời bật dậy reo mừng khi “vong” nhập vào người thân. Chỉ trong nháy mắt, từ một người bình thường, người được “vong” nhập bắt đầu nhảy múa, la hét, khóc lóc hoặc nằm lăn ra chiếu mắt nhắm nghiền, miệng sùi bọt mép, tay chân đạp loạn xạ. Trong khi đó người nhà liên tục vỗ tay hô to “cố lên, cố lên…” để khích lệ, động viên. Đó chỉ là màn dạo đầu, từ khi “vong” ứng cho đến lúc “vong” chịu chỉ đường dẫn lối đến địa điểm có hài cốt là cả một… lộ trình dài.

Trọn một ngày ở “trung tâm ông Bằng”, chúng tôi thấy hầu hết người nhà người mất tích đều ngồi bó gối thất vọng vì “vong” còn đang lưu lạc đâu đó. Anh Hiệp (nhà ở Hương Khê, Hà Tĩnh) cho biết đây là lần thứ hai anh đến cầu “vong”. Lần trước “vong” áp vào người cháu gái chỉ hài cốt ông bác nằm ở tận Tây Ninh. Gia đình thuê xe, sắm lễ vật đi tìm ròng rã nửa tháng nhưng không kết quả. Món nợ hơn 30 triệu đồng chưa kịp trả thì “vong” lại ứng người khác. Gia đình đang chạy tiền để chuẩn bị cho cuộc hành trình vào đầu tháng tới.

Tối khuya, ngày sắp qua nhưng khách vẫn còn nán lại vái lạy, cầu “vong”. Tại góc sân, người nhà liệt sĩ Dương Đình Chu ẩn đang quây quần bên mâm cúng. Bất ngờ một thanh niên to cao, vạm vỡ lảo đảo rồi ngã vật ra chiếu, miệng thở phì phì, mắt nhắm nghiền, miệng lải nhải mấy câu vô nghĩa. Một phụ nữ (người của trung tâm) đứng cạnh đó la lớn “vong ứng rồi” và liên tục thúc giục anh thanh niên uống chai nước suối đặt trên bàn thờ. Chờ mãi nhưng “vong” chưa chịu chỉ ra địa điểm chôn cất hài cốt. Mọi người lẳng lặng thu xếp bàn thờ ra về, hẹn hôm sau tiếp tục cầu “vong”.

Theo xác minh, chủ nhân “trung tâm” có tên Nguyễn Văn Bằng, nguyên trước đây là bộ đội. Điều hành trung tâm này là ông Nguyễn Văn Mến, một người bà con của ông Bằng. Theo lời quảng cáo của “trung tâm”, ông Bằng được một vị lãnh tụ nhập “vong” và chỉ đạo thành lập “trung tâm” để quy tập hài cốt liệt sĩ từ Nam chí Bắc. Nói chuyện với chúng tôi, ông Bằng cho biết việc “vong” ứng nhanh hay chậm còn phụ thuộc nhiều thứ. Có người chỉ 2-3 ngày là “vong” ứng, có người chờ hàng tháng trời nhưng không kết quả. Quan trọng là phải biết thành tâm và kiên nhẫn.

Đại diện chính quyền địa phương nói gì ?

Đề cập đến “trung tâm ông Bằng”, ông Trương Quang Sơn – phó phường Thạch Linh – nói : “Tôi không đồng ý chuyện mượn danh các vị lãnh tụ ra để gán ghép, áp đặt cho niềm tin tâm linh, dù mục đích có tốt đẹp, cao cả đến mấy. Ngay cả việc ông Mến mượn vong bác ruột là liệt sĩ Nguyễn Văn Tín phán rằng ông Mến được quyền thay mặt các liệt sĩ chỉ đạo, điều hành trung tâm đã bị chính người thân trong gia đình phản đối kịch liệt. Vừa rồi em ruột của liệt sĩ Tín làm đơn gửi phường tố cáo về vấn đề này”.

Theo ông Sơn, trước đây ông Bằng có tìm đến một trung tâm ở Nam Đàn (Nghệ An) kiếm hài cốt của bác ruột là liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp. Trung tâm này ban đầu khá nổi tiếng, nhưng sau đó xảy ra sự cố bốc nhầm mộ của người khác tại Quảng Trị nên nhiều người không đến nữa. Sau một thời gian tham gia giúp lễ cho trung tâm ở Nam Đàn, ông Bằng quay về mở “trung tâm” ngay tại nhà riêng. Tính từ lúc khai trương đến nay có rất nhiều người đăng ký tìm hài cốt, trong đó có 19 hài cốt được thân nhân đưa về từ rừng núi.

Ông Sơn cho biết : “Nói là hài cốt nhưng khó mà xác định được có đúng hài cốt hay không hoặc hài cốt đó có đúng không. Hầu hết 19 hài cốt đưa về không hề có bất kỳ kỷ vật gì để chứng minh có liên quan đến gia đình. Thậm chí nói là hài cốt nhưng xương cũng không có. Theo “vong” báo thì cứ thế mà đào, đến lớp đất khác màu là hốt đem về và xem đó là hài cốt”.

Trao đổi về độ tin cậy của “vong” tìm hài cốt, ông Sơn nói : “Hiện nay khoa học chưa có kết luận. Thực tế có cái đúng, có cái không đúng và có cả việc lợi dụng vào tâm linh để thu lợi. Nhiều gia đình thuê xe, chi phí 30-40 triệu đồng vào tận các tỉnh miền Trung, miền Nam đào bới hàng tháng trời nhưng không kết quả. Một số có kết quả nhưng chưa có cơ sở xác định tính chính xác. Vừa qua, tại huyện Hương Khê xuất hiện thêm ba trung tâm tìm kiếm hài cốt.

Trong quá trình hoạt động, một số trung tâm có vấn đề, gây ồn ào, có nơi vong nhập vào và đánh luôn lãnh đạo huyện. Vừa qua, chủ tịch UBND tỉnh có làm việc với lãnh đạo các địa phương, ngành chức năng và chỉ đạo khẩn trương nắm tình hình các trung tâm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ để báo cáo. Nếu có dấu hiệu lợi dụng vấn đề tâm linh để trục lợi hoặc có dấu hiệu lừa đảo thì có biện pháp chấn chỉnh, xử lý”.

Trả lời câu hỏi về tính pháp lý của “trung tâm”, ông Sơn cho biết : “Ngày 8/5, trung tâm ông Bằng khai trương. Tôi chỉ đạo bên công an nắm tình hình ngay. Đến ngày 11/5 chúng tôi có mời ông Bằng và ông Mến lên làm việc. Theo trình bày của ông Bằng, mục đích mở trung tâm là để giúp dân tìm kiếm hài cốt.

Thấy nguyện vọng chính đáng, chúng tôi tạo điều kiện cho trung tâm hoạt động nhưng trên cơ sở tôn trọng pháp luật, tôn trọng nếp sống văn minh. Ông Sơn cũng nói dù có ồn ào, đông đúc nhưng đến nay “trung tâm ông Bằng” chưa xảy ra vấn đề gì ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương..

Thực hư không rõ

Các “trung tâm tìm kiếm hài cốt” đang rộ lên ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Hằng ngày, các “trung tâm” này luôn đông nghịt người.

Phía sau những tấm lòng mong ngóng tìm mộ của người dân là bao câu chuyện chưa rõ thực hư, thậm chí mang màu sắc kinh doanh thu lợi.

Đi qua đoạn đường liên thôn ken dày hàng quán, điểm giữ xe máy, ôtô, chúng tôi đến nhà chị Phan Thị Hạnh (31 tuổi, trú tại xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, Nghệ An). Đây là “trung tâm tìm mộ” xuất hiện sớm và lớn nhất tại Nghệ An. Trên lối vào sân có một miếu thờ, liền đó là một hòm công đức. Trong sân đông nghịt người ngồi trước gần 100 cái bàn nhựa đặt sát nhau. Trên bàn có ảnh người chết, vòng hoa, đồ thờ giữa nhạt nhòa hương khói. Mỗi gia đình cử năm người thay nhau ngồi cầu khấn, chờ “vong” áp vào. Khi “vong” áp, chỉ mộ ở tỉnh nào, người nhà thuê xe theo gợi ý của trung tâm đi tìm ngay.

Chị Hạnh cho biết : “Tháng 9/2010, tôi ra nhà ông Tuấn ở thị trấn Duy Tiên, huyện Duy Tiên (Hà Nam) nhờ tìm mộ là chú ruột tên Phan Văn Dũng bằng phương pháp ngoại cảm. Cất bốc được mộ, “vong” của chú lại áp vào, nhờ tôi đi tìm đồng đội của chú đưa về quê an táng. Theo điều hành của “vong”, tháng 12-2010 tôi lập bàn thờ và mở “trung tâm tìm kiếm mộ liệt sĩ” tại nhà riêng”.

“Trung tâm” của bà Phan Thị Hạnh có 7.000 người đăng ký, đã quy tập 272 hài cốt. Có người tìm được hài cốt thì “vong” tiếp tục “đề nghị” mở thêm trung tâm mới để tìm kiếm, đưa đồng đội khác về quê. Vậy là các “trung tâm” xuất hiện ngày càng nhiều. Nghệ An hiện có 15 “trung tâm” tại các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và TP Vinh. Danh sách đăng ký tìm mộ tại 15 “trung tâm” này lên tới 15.000 người. Kết quả, cất bốc được 810 hài cốt nhưng tất cả đều chưa xét nghiệm ADN nên vẫn có nhiều gia đình băn khoăn, chưa thể biết chắc chắn ngôi mộ mình kỳ công tìm được có phải mộ thân nhân hay không.

Ông Châu Thái (trú tại xóm 1B, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn) kể : “Tôi được “trung tâm Phan Thị Hạnh” chỉ dẫn bốc mộ liệt sĩ tại nghĩa trang xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Trước khi bốc mộ, “vong” áp vào cháu tôi nói dưới mộ có di vật là chiếc đồng hồ đeo tay. Khai quật mộ, chúng tôi phát hiện một chiếc đồng hồ đúng như “vong” báo”. Anh Trần Văn Hùng, công tác ở Nghệ An, trước khi bốc mộ cho anh trai ở nghĩa trang huyện Gio Linh (Quảng Trị) được “vong” báo có chiếc võng dù nằm dưới mộ. Khi khai quật, đúng là có một chiếc võng dù nằm khuất dưới lớp xương cuối cùng. Cũng từ “trung tâm Phan Thị Hạnh”, ông Dương Tuấn tìm thấy hai mộ của anh ruột và chú ruột. Ông Tuấn nói : “Đủ độ tin cậy để yên tâm đây là hài cốt của chú và anh ruột tôi”.

Ngược lại, gia đình ông Đinh Xuân Thường (trú tại xóm 5, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn) hoàn toàn thất vọng khi “trung tâm Lê Thị Hòa” (ở xóm 4, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn) chỉ dẫn tìm mộ anh trai là liệt sĩ Đinh Xuân Cầu. Theo đó, “vong” chỉ mộ đang nằm ở vùng rừng tỉnh Bình Dương nhưng hai cựu binh Nguyễn Công Thành và Trần Văn Thường (bạn chiến đấu với Đinh Xuân Cầu) khẳng định : “Cầu hi sinh khi đang vượt sông Se Măng Hiêng ở Hạ Lào. Chính hai anh em chúng tôi đã an táng Cầu tại vùng rừng Hạ Lào”. Nghe vậy, gia đình ông Thường đắn đo rồi dừng chuyến đi. Gia đình anh Hoàng Văn Tùng (trú ở xã Tân An, huyện Tân Kỳ, Nghệ An) đến tìm mộ ở “trung tâm Sa Nam” (thị trấn Nam Đàn), được “vong” chỉ mộ nhưng kết quả là bốc nhầm mộ một khác ở nghĩa địa Võ Xá, xã Trung Sơn , huyện Gio Linh, Quảng Trị.

Quảng cáo và cạnh tranh

Hồi tháng 5, “trung tâm Nguyễn Thị Phương Mai” cho hay vừa di chuyển 121 hài cốt quy tập từ lâu trong nghĩa địa Rú Nẩy thuộc huyện Nam Đàn về chung một ngôi mộ do trung tâm này tự xây. Mộ dài 1,5m, rộng 1m, bia cao 1,8m, mặt trong đề : “Tổ quốc ghi công. Ngôi nhà chung 121 anh hùng liệt sĩ. Trung tâm 3 Sa Nam, thị trấn Nam Đàn quy tập”. “Trung tâm” không biết 121 liệt sĩ đó là ai, ở đâu nên dùng cành lau làm xương, vỏ quả dừa làm sọ người xếp vào trong mộ. Khi được các cơ quan chức năng hỏi, “trung tâm” này cho rằng do “vong” của liệt sĩ Nguyễn Cảnh Tuệ bảo xây nên phải xây.

Giữa các “trung tâm” cũng có chuyện quảng cáo hoặc cạnh tranh quyết liệt. Sau khi “trung tâm Lê Thị Hòa” xuất hiện, người của “trung tâm Phan Thị Hạnh” cho rằng “chỉ có trung tâm cô Hạnh ở Nam Cát mới điều hành được vong”. “Trung tâm” này còn treo biển : “Thông báo trung tâm tìm kiếm hài cốt tại Nam Cát, Nam Đàn là trung tâm duy nhất. Bà con lưu ý không có cơ sở nào khác, ai đi cơ sở khác “trung tâm” không chịu trách nhiệm”. Ngay sau đó, “trung tâm Nguyễn Thị Phương Mai” ở thị trấn Nam Đàn tự nhận “trung tâm chỉ huy cao nhất”. Các trung tâm còn tổ chức quay camera, dựng đĩa CD để tuyên truyền về cơ sở của mình.

Tại các “trung tâm”, người đi tìm mộ liệt sĩ phải thuê chiếu ngồi với giá 20.000 đồng/chiếc/ngày; đặt đồ lễ cúng từ 300.000-500.000 đồng/lễ. Gia đình nào có người “áp vong” liền được “trung tâm” gợi ý thuê xe giá 2,8-3,2 triệu đồng/ngày (tiền xăng gia đình lo). “Trung tâm Phan Thị Hạnh” đã mua bốn ôtô và thuê thêm tám ôtô để phục vụ người đi tìm mộ liệt sĩ. Trung bình mỗi gia đình đi tìm mộ tốn 50-80 triệu đồng. Không ít người phải vay mượn tiền bạc hoặc cầm cố tài sản để theo đuổi việc tìm mộ tại các “trung tâm”.

Nói về các “trung tâm” tìm kiếm mộ liệt sĩ đang đua nhau mọc lên, trưởng Phòng LĐ-TB&XH huyện Nam Đàn Phạm Hữu Tùng nói : “Chúng tôi rất lo ngại khi xuất hiện “vong” giả và loạn “vong”. Tại “trung tâm” Nguyễn Thị Phương Mai” ở Sa Nam, thị trấn Nam Đàn (tự phong anh rể làm giám đốc, em rể làm phó giám đốc, còn mình làm người phiên dịch cho bố là liệt sĩ Nguyễn Cảnh Tuệ để chỉ đạo việc tìm kiếm hài cốt) đã có chuyện “vong” nhập vào người đi tìm mộ nhưng toàn nói xấu cán bộ địa phương. Chị N. (20 tuổi) bị “vong áp” hơn một tháng nhưng không thành, chị Mai dùng roi dâu đánh để giải tà ma khiến chị này hoảng hốt hét lên. “Trung tâm” này còn có nhiều người “vong” không thoát nên bị nhốt trong một phòng thờ riêng, chờ giải tà ma xong mới cho về”.

Nguyễn Văn Danh (theo Vũ Toàn)

NHÀ NGOẠI CẢM

NGUYỄN VĂN NHÃ

Giới-thiệu với quý bạn một cuộc nói chuyện rất thú vị của nhà ngoại cảm nổi tiếng Nguyễn Văn Nhã vào năm 2010 tại chùa Diên Quang, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam:

http://www.youtube.com/watch?v=BYMxrz1fKQk

http://www.youtube.com/watch?v=GRSQuysqEz4&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=3CVNTnL5Dyk&NR=1

http://www.youtube.com/watch?v=qMDXs53FclU&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=KSE059ee9jA&feature=related

Nguyễn Văn Danh post