Linh Sơn Thánh Mẫu

NÚI BÀ ĐEN TÂY NINH

“LINH SƠN

THÁNH MẪU”

– Bài Thiên Việt

Tỉnh Tây Ninh nằm sát với Sài Gòn theo hướng đông, từ huyện Củ Chi sẽ qua Trảng Bàng, Gò Dầu là đến thị xã, còn hướng đông bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, hướng nam giáp tỉnh Long An, tây nam giáp nước Campuchia.

Tỉnh Tây Ninh không có nhiều danh thắng như các tỉnh miền Trung, miền Bắc, nhưng nổi tiếng có núi Bà Đen, nơi thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, và một Thánh thất trung tâm đạo Cao Đài.

NÚI BÀ ĐEN

Với độ cao trên 1.000m, cách thị xã Tây Ninh khoảng 10 km, núi Bà Đen có chiều dài 6 km và rộng khoảng 4 km, nằm trong một dãy núi thế chân kiềng, bên hướng Tây có ngọn núi Heo cao 335m, bên hướng Nam có ngọn núi Phụng cao 600m cùng hồ Dầu Tiếng và những con sông quấn quít, tạo thành một quần thể sông núi ngoạn mục. Lưng chừng núi có điện thờ Bà Đen được vua Tự Đức năm thứ 3 sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu, mọi người cho là rất linh thiêng, dân Nam bộ tôn kính gọi Bà bằng danh xưng Đức Phật Mẫu.

Nói về lịch sử núi Bà Đen, người ta không rõ từ bao giờ trên núi Một – theo cách gọi khi xưa của dân địa phương hay còn gọi núi Vân Sơn, núi Linh Sơn, núi Bà Đinh, còn sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi là núi Sơn Hà, núi Chiêng. Cuốn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng gọi là núi Bà Đinh. Người Khmer gọi bằng tên Phnom Chơn tức Bà Đen – ở đây có một pho tượng Phật Bà rất linh thiêng.

Vào cuối thế kỷ 19 đường lên núi còn vô cùng khó khăn, bởi núi Một có rừng rậm và nhiều mảnh thú. Người dân lúc đó vì sùng bái tín ngưỡng, thần linh đã cùng hợp lực dọn thành một con đường mòn dẫn đến nơi cúng Phật, mỗi lần đi phải họp thành đoàn. Từ đó ngôi chùa dần dần hình thành, được đặt tên là chùa Linh Sơn (núi thiêng). Sau này cạnh chùa có lập thêm một điện thờ, đó là điện thờ Bà Đen.

Lai lịch về ngôi chùa trên núi các sách vở viết :

– Vào thế kỷ 18, thời Nam tiến của chúa Nguyễn, trên núi đã có nhiều vị sư trụ trì trong chùa Linh Sơn, được xem là các vị sư tổ. Trong số các nhà sư, có Tổ Đạo Trung Thiện Hiếu, tục gọi tổ Bưng Đĩa, từng trải qua hơn ba mươi năm khai sơn phá thạch trên núi, đến năm 1794 ông về Thủ Dầu Một lập chùa Long Hưng

– Thời kỳ Pháp thuộc thế kỷ 19, Tổ Thánh Thọ Phước Chí chủ trì chùa Phước Lâm (Vĩnh Xuân) lên núi xây dựng hang điện từ năm 1872 đến năm 1880.

– Vào đầu thế kỷ 20, các vị sư như Chơn Thoại có công xây dựng chùa Linh Sơn bằng gỗ từ năm 1880 đến năm 1910,

Chánh Khâm trùng tu chùa bằng đá từ 1922 đến năm 1937.

Nên sau này chùa Linh Sơn được gọi bằng tên “Linh Sơn Tiên Thạch Động” (Động đá trên ngọn núi thiêng).

Còn về thạch động hiện là điện thờ Bà Đen chưa ai rõ thời gian có từ năm nào, nhưng có những truyền thuyết về Bà sau đây chúng ta có thể lý giải được về khoảng thời gian có cốt tượng Bà được thỉnh vào điện.

– TRUYỀN THUYẾT BÀ ĐEN

Truyền thuyết thứ nhất :

Tương truyền tại Trảng Bàng cách núi Một chừng 40 km, có đôi trai gái, nàng tên Lý Thị Thiên Hương giỏi văn thơ chữ nghĩa và có cả võ nghệ, diện mạo duyên dáng nhưng nước da đen sạm; còn chàng tên Lê Sĩ Triệt cũng là người văn hay võ giỏi. Cả hai đem lòng thương mến nhau, khi ấy có con trai viên quan huyện quyết bắt Thiên Hương về làm thiếp, bị Sĩ Triệt giải nạn cứu người yêu.

Cha mẹ Thiên Hương hay tin hứa gả nàng cho Sĩ Triệt, nhưng bấy giờ Sĩ Triệt phải lên đường tòng quân, được Thiên Hương tiễn đưa và hứa hẹn đợi chàng ngày trở về.

Sau khi Sĩ Triệt lên đường chống giặc, Thiên Hương ở lại quê nhà. Một hôm Thiên Hương lên chùa trên núi Một cầu nguyện, lúc xuống núi thình lình nàng bị đám thủ hạ con quan huyện ùa tới vây bắt. Biết cùng đường và để giữ trọn trinh tiết cho Lê Sĩ Triệt, nàng đã lao xuống vực sâu tự vận.

Ba hôm sau, Hòa thượng trụ trì chùa trên núi Một đang ngồi niệm Phật, bỗng gặp một người con gái da ngâm đen đến báo mộng :

– Ta là Lý Thị Thiên Hương, vừa tròn 18 tuổi chẳng may bị bọn quan lính ức hiếp nên phải tuẫn tiết. Xác ta đã ba ngày nhưng còn nguyên vẹn, Hòa thượng đi xuống chân núi phía Đông sẽ thấy mà đem chôn giùm. Do kiếp trước ta đạt căn tu nên kiếp này đã đắc quả thần thông. Hòa thượng hãy nghe lời ta sẽ gặp nhiều điều lành.

Vị hòa thượng theo lời báo mộng của Thiên Hương, ông đi tìm được xác và đem chôn cất tử tế. Các Phật tử khi viếng chùa nghe vị hòa thượng kể lại câu chuyện, họ tới mộ Thiên Hương cầu xin mọi chuyện đều được như ý.

Chuyện từ đó đồn xa, đến tai Thượng quốc công Lê Văn Duyệt đang cai quản trấn Gia Định, ông liền lên núi Một đến ngay phần mộ Thiên Hương mà truyền :

– Trinh nữ có hiển linh hãy chứng tỏ cho ta thấy.

Vừa nói dứt lời, Thượng quốc công nghe thấy sau lưng có người con gái lên tiếng chào. Lê Văn Duyệt và đám tùy tùng đều ngạc nhiên sửng sốt. Mới biết hồn Thiên Hương đã nhập vào một cô gái đang viếng chùa, chứng tỏ sự hiển linh của mình.

Thượng quốc công Lê Văn Duyệt bèn hỏi :

– Nay ta hỏi, cớ  sao trinh nữ phải thác ?

Thiên Hương thuật lại câu chuyện gá nghĩa giữa nàng với Sĩ Triệt, rồi bị con quan huyện ép buộc bắt làm thiếp, đến đường cùng phải tuẫn tiết để giữ tròn trinh tiết.

– … Ngọc Hoàng chứng được sự đoan chính mấy kiếp của tôi, xét về kiếp trước cũng đã tu đắc quả, nên ngài cho xuống trần gian cứu dân độ thế. Xác này chỉ là đời thứ hai, trước đây khi chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam lạc bước đến nơi này, tôi đã báo phải dựa vào quân Xiêm mới làm nên nghiệp lớn.

Nói dứt lời hồn Thiên Hương thoát xác, cô gái mới hồi tỉnh lại. Thượng quốc công Lê Văn Duyệt bấy giờ mới tin lời đồn của thiên hạ, ông dâng sớ tâu trình lên vua Gia Long và xin phong sắc cho Lý Thị Thiên Hương. Vua Gia Long nhớ lại chuyện xưa thấy đúng, nên phong Thiên Hương là “Linh Sơn Thánh Mẫu” cai quản núi Một và chủ sự tại chùa Linh Sơn.

Truyền thuyết thứ hai :

Đất Tây Ninh ngày trước cũng như bây giờ, phần đất từ Trảng Bàng – Suối Sâu đến tận miệt tây và tây nam biên giới Campuchia, có nhiều người Miên sinh sống chung.

Có một gia đình người Cao Miên (có sách ghi rằng làm quan huyện lệnh tại địa phương) sinh được hai con, gồm một trai một gái. Cô con gái tên Đênh. Lúc nàng Đênh đến tuổi dậy thì có vị sư ở Bến Cát đến núi Một tìm nơi lập chùa để phụng sự Phật pháp. Khi đến Tây Ninh, ông đến nhà gia đình nàng Đênh xin tá túc một thời gian để tìm đất cất chùa.

Cha nàng Đênh liền lập cho vị sư già một ngôi chùa mang tên Ông Tàu (do nhà sư là người Hoa) nằm ở chân núi phía đông gần làng Phước Hội. Một thời gian sau vị sư về lại Bến Cát, để chùa Ông Tàu cho nàng Đênh trông nom.

Như truyện tích nàng Thiên Hương, nàng Đênh cũng được viên quan ở Trảng Bàng ngấp nghé hỏi cưới, duy có điều là nàng Đênh đã phát nguyện xuất gia thờ Phật không lấy chồng, nên nàng không chiều lòng cha mẹ được, nàng Đênh liền bỏ nhà ra đi tìm nơi tu đạo.

Khi bà Đênh từ giã cõi trần, hồn bà hiển thánh và về báo cho cha mẹ biết bà tu đã đắc đạo, được thượng giới phái xuống trần cứu nhân độ thế. Bà hiển linh báo cho chúa Nguyễn Ánh khi bôn tẩu trên núi Một ẩn trốn quân Tây Sơn, những việc phải làm để giành lại ngôi vua.

Sau này lên ngai vàng, chúa Nguyễn – Gia Long nghĩ đến bà Đênh liền sai đúc cốt Bà Đênh bằng đồng đen đem lên núi Một để thờ, phong Bà Đênh là Linh Sơn Thánh Mẫu. Nơi điện thờ Bà gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Động.

Tuy bà Đênh người không đen như Thiên Hương, nhưng là người Cao Miên có làn da bánh mật và tên gọi Bà Đênh, sau dân địa phương gọi trại là Bà Đen, gọi núi Một, núi Tây Ninh là núi Bà Đen hay núi Điện Bà.

Với hai truyền thuyết trên, chúng ta dựa vào thời gian Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu Gia Long năm 1802 (và mất năm 1819), suy đoán tượng Bà Đen có vào thời gian trong những năm 1805 -1810.

Truyền thuyết thứ ba :

Một truyện tích khác trong cuốn “Nếp Cũ” của Toan Ánh gần như chuyện vừa thuật trên, nhưng có đoạn :

– … Một đêm khi cha mẹ ngủ yên, Bà lẻn ra đi tầm Đạo. Hôm sau tưởng con mình như thường lệ đi chùa lễ Phật, nên không để ý đến sự vắng mặt của Bà. Mãi đến buổi ăn, song thân Bà Đênh mới cho người đi tìm, nhưng không thấy. Cha Bà là một viên quan trấn thủ địa phương, liền sai quân lính tỏa ra đi tìm, mới tìm ra một khúc chân người tại một hang đá trên núi Một.

Song thân Bà Đênh đến nơi nhận ra chân người nơi hang đá là chân của Bà. Mọi người ai cũng đoán Bà tìm lên núi Một bị cọp ăn thịt mất rồi.

Song thân Bà Đênh ra lịnh quân lính mang khúc chân đó lên chùa mai táng và rước thầy cúng giải oan. Dân địa phương cho rằng Bà Đênh chết oan như thế rất hiển linh, nên từ đó có việc gì khó khăn đều lên núi cầu xin Bà phù hộ và thường được như ý.

Nhiều năm sau, lúc chúa Nguyễn Ánh trốn quân Tây Sơn chạy về Trảng Mang Cá vùng Bùng Binh, được dân địa phương báo tin nên tìm trên núi Một có Bà Đênh hiển thánh, ai cầu gì được nấy. Nguyễn Ánh liền sai Lê Văn Duyệt lên núi cầu Bà phù hộ cho chúa và đoàn tùy tùng tai qua nạn khỏi, cùng hỏi chuyện tương lai.

Bà bèn báo mộng cho chúa Nguyễn Ánh hãy tìm đường qua Xiêm cầu viện, sự nghiệp sẽ thành. Chúa Nguyễn Ánh nghe theo và sau này đánh thắng được quân Tây Sơn .

Sau khi lên ngôi xưng vua, Nguyễn Ánh Gia Long bèn cho đúc tượng Bà Đênh bằng đồng đen và giao quan trấn thủ miền Nam đưa lên núi Một tại động thờ Bà, kèm theo sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu. Do đó nơi thờ Bà được các nhà sư và bá tánh gọi là Linh Sơn Tiên thạch động.

Và những truyền thuyết khác :

Trên núi Một ai cũng đồn có Phật Bà hiển thánh, nhưng việc lập điện thờ Bà làm nơi hương khói không ai  làm.

Sau này có tu sĩ Đạo Trung (vào thế kỷ 18) ở trên núi suốt 31 năm khai sơn phá thạch, sớm chiều tụng kinh niệm Phật. Bỗng thấy Phật Bà hiện trên đỉnh núi, và ít lâu sau ông tìm được một cốt tượng bằng đá chân dung hình Phật Bà ở nơi một dòng suối. Ông liền thỉnh về lập động để thờ phụng. Điện Bà có từ đó.

Với những truyền thuyết trên, xét về mặt nghệ thuật điêu khắc, tượng bà mang nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Phù Nam (Campuchia) pha trộn nền văn hóa Việt như tượng Bà Chúa Xứ .

Nên xuất xứ pho tượng Bà có thể được tạc vào thế kỷ 18, thời Tổ Đạo Trung nhưng lúc đó bằng đá, khi chúa Nguyễn Ánh lên làm vua nước Việt vào đầu thế kỷ 19, mới đúc tượng Bà bằng đồng đen như bây giờ, khớp với lịch sử xây dựng chùa và điện trên núi vào thời gian 1871 – 1880, thời của Tổ Thánh Thọ Phước Chí lên Điện Bà xây hang điện đưa cốt tượng Bà vào thờ, trước đó cốt tượng để bên chùa Linh Sơn (nay là chùa Ông hay Linh Sơn Tiên Thạch Tự).

TOÀN CẢNH NÚI BÀ ĐEN

– CHÙA TRUNG : Khi mọi người lên núi Bà Đen, sẽ gặp một ngôi chùa nằm dưới chân núi, dân địa phương cho rằng là nơi Bà dừng chân tu đạo khi đến núi, sau đó trên núi đã cất chùa Bà mới lên tu hành.

Chùa Trung ngày trước rất khang trang nhưng do chiến tranh nên hư hỏng nặng, nay chùa được dựng lên đơn sơ hơn trước, nhưng cách bài trí trong chùa vẫn theo nét cũ.

Phía ngoài chùa là tượng Tiêu Diện Đại Sĩ, bên trong đứng xoay lưng với tượng ngoài là tượng Hộ pháp, sau đó có bốn pho Tứ vị sơn thần theo 4 hướng đông tây nam bắc.

Đi vào chánh điện, dàn hàng ngang phía trái là tượng Phật Bà Quan Âm cùng Cửu Thiên Huyền Nữ, Phật Thích Ca Mâu Ni, Địa Tạng, Phật Di Đà, Phật Di Lặc. Phía phải là bàn thờ  Quan Công.

Gian sau đấu lưng với bàn thờ Phật là cung thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tượng tạc thời Bà còn trẻ, da mặt hồng hào, đội mũ triều thiên, choàng khăn áo màu đỏ. Hai bên tượng có cô Hồng, cô Cúc đứng hầu. Đối diện cung thờ Bà là bàn thờ Bà Thiên Hậu. Bên gian thờ tổ có pho Đức Diêu Trì Kim Mẫu và bàn thờ Đạt Ma Sư Tổ.

Chùa Trung thờ tự như những ngôi chùa miền Bắc thường thờ, tức Tiền Phật hậu Mẫu.

– CHÙA ÔNG (Linh Sơn Tiên Thạch Tự) : Hiện chùa Ông lấy tên Linh Sơn Tiên Thạch Tự (không còn mang tên Thạch Động như xưa), khi khách hành hương từ dưới núi lên là gặp (nay ngoài đường bộ, còn có cáp treo và máng trượt).

Chùa nằm hướng Đông Nam có kiến trúc bền vững, khang trang. Trước sân có tượng Phật Bà Quan Âm, phía sau tượng là pho Tiêu Diện Đại Sĩ, đấu lưng có tượng Hộ pháp mặt nhìn vào trong. Vào trong chùa, phía bên phải là 3 tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu (theo sách cũ ghi dãy này trước đây là những tượng mang hình tượng Thập điện Diêm Vương). Tường bên trái cũng là dãy tượng Thập Bát La Hán, nhưng nay chỉ còn 4 pho.

Nơi chánh điện, nhìn hàng ngang có 3 ban thờ. Ban giữa pho tượng lớn thờ Phật A Di Đà, bên trái ban thờ Quan Âm Bồ Tát, Phật Chuẩn Đề 18 tay, Địa Tạng, bên phải Phật Chuẩn Đề , Đại Thế Chí, Địa Tạng cưỡi sư tử.

Phía sau gian thờ tổ thờ Đạt Ma Tổ Sư, Quan Công và bàn thờ hương linh của bá tánh đến gửi vong. Ngoài ra còn ban thờ Phật Dám với tư cách coi sóc đồ lễ.

Chùa Ông khác chùa Trung là không thờ Tiền Phật hậu Mẫu, tức không thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu v.v…

– ĐIỆN BÀ : nằm  cạnh chùa Ông (ngôi chùa có từ trước đời chúa Nguyễn Ánh cuối thế kỷ 18, tức Linh Sơn Tự nơi Bà Đen hiển linh), điện Bà cũng nằm về hướng Đông Nam có kết cấu 2 phần, phần trong là một vòm hang đá được tạo bởi một phiến đá rất lớn nhô ra khỏi sườn núi, vòm chỉ cao gần 2 mét có diện tích khoảng 20m2. Phần ngoài là phần xây nối tiếp với hang động, để trống 3 mặt chỉ có trần nhà, diện tích cũng bằng gian thờ Bà.

Cửa hang được bố trí 2 cửa hai bên, có một gian nhỏ thờ ngựa gỏ, một gian thờ ông Địa. Nhưng khách hành hương nhìn thấy bên hông còn có 2 miếu nhỏ thờ Ông Tà, trong thờ 1 hòn đá hình trụ cao gần 5 tấc đường kính khoảng 1 tấc, như một Linga thờ ở miếu Bà Chúa Xứ, trên phiến đá trùm một tấm vải đỏ.

Bên trong điện, hai bên thờ Tứ Vị Sơn Thần nay chỉ có bát nhang. Phía trong cùng là chánh điện, ở giữa là cốt tượng Linh Sơn Thánh Mẫu, mặt và toàn thân màu đen, mình choàng áo thêu kim tuyến. Hai bên thờ cô cậu : Cậu Tài cậu Quý – Cô Hồng cô Hạnh.

Phía trước có 2 tượng, một trắng do khách hành hương cung tiến được cho là tượng Bà Chúa Xứ, một đen được các vị giữ điện nói đưa từ động Thanh Long về, là tượng Thánh Mẫu. Phía ngoài là tượng Địa Mẫu tạc đứng khá lớn. Cùng 4 pho Tứ Thiên Vương tên Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thọ và Ma Lễ Thanh. Cửa điện có tượng Phật Bà Quan Âm đứng.

Ở điện thờ Bà Đen ta nhận thấy cách bày trí rất kỳ ảo và không kém trang nghiêm. Đây cũng là cách thờ tiền Phật hậu Mẫu như những đền điện thờ Mẫu khác.

– CHÙA HANG (Động Ông Chàm) : từ điện Bà khách hành hương phải leo 155 bậc thang qua suối Bạc sẽ tới Chùa Hang, xưa gọi là động Ông Chàm, vì lúc mới khai phá núi, có một người Chàm lên đây lập động tu luyện bùa chú, khi ông chết mới có người phát hiện, và gọi tên là Long Châu Tự.

Chùa Hang nằm gọn trong một hang đá có diện tích, độ cao và tạo hình như điện Bà Đen đang ngự. Trước cửa hang cũng gồm hai lối ra vào, trấn cửa là Tiêu Diện Đại Sĩ phía trong tượng Hộ pháp quay mặt vào chánh điện. Ở giữa điện có tượng Phật Di Đà, bốn góc có các tượng Phật Quan Âm, Thích Ca sơ sinh, Thế Chí Bồ Tát và Chuẩn Đề 18 tay.

Phía trong cùng, dãy ban thờ hàng ngang từ ngoài nhìn vào, góc trái thờ Địa Tạng cưỡi sư tử, kế bên có tượng Linh Sơn Thánh Mẫu màu đen, hai bên tượng Bà có 2 tượng nhỏ cô cậu đứng hầu. Kế đó là tượng Bà Chúa Xứ. Bên góc phải là ban thờ tượng Ngọc Hoàng. Phía ngoài hang là một sân có 2 pho tượng Phật Bà Quan Âm cao khoảng 2m.

Ngoài ra kế bên chùa Hang là một ngôi chùa có hai tầng, kiến trúc như những ngôi chùa miền Bắc với 4 góc cong vút, được dựng trên nền Long Châu Tự cũ.

LỄ HỘI VÍA BÀ

Hằng năm, tỉnh Tây Ninh đều tổ chức Lễ hội Vía Bà Tây Ninh từ ngày mùng 10 tết đến rằm tháng giêng ÂL.

Việc tổ chức ngoài việc thu hút khách thập phương đến Tây Ninh và tham quan cảnh trí núi Điện Bà, còn là những ngày lễ hội thuần túy về tín ngưỡng, là dịp người dân địa phương đến cầu quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt và xin phù hộ cho gia đình những điều tốt lành trong năm mới đến.

Khác với lễ vía Bà Chúa Xứ, lễ vía Bà Đen rất đơn giản. Dù được tổ chức trong nhiều ngày, nhưng chỉ tập trung vào giữa đêm 14 sang 15 tháng giêng, là lễ mộc dục tắm tượng.

Trước khi diễn ra lễ trên, trong hang động thờ Bà Đen cấm cung người không phận sự không được vào, chỉ có các ni cô tiến hành lễ tắm tượng, thay khăn áo cho Bà là hiện diện.

Nước tắm là nước dừa có bông thơm, trong cung mùi trầm hương tỏa ngát. Trước khi lau cốt tượng, các ni cô giăng mùng che kín mới bắt đầu lau chùi bụi bặm trên cốt tượng rồi thay khăn áo cho Bà, khăn áo mũ mão và nước hoa tắm tượng đều do thiện nam tín nữ dâng lên để được Bà ban lộc. Khi lễ mộc dục xong, thau nước được mọi người xin để uống hoặc để xoa bóp chữa bịnh.

Lễ tắm Bà dứt là lúc mọi người bắt đầu vào viếng Điện Bà cầu an, tiếng cầu xin vang dội, hòa cùng tiếng xin xăm xin keo không dứt. Ngoài sân trước chùa Linh Sơn có sân khấu hát tuồng biểu diễn ca múa nhạc dân gian.

Linh Sơn Thánh Mẫu luôn là một nữ Thánh oai linh, vì thế khách thập phương khắp nơi đều tôn kính, mọi người hành hương đến ngày một thêm đông.

TÒA THÁNH TÂY NINH

Tỉnh Tây Ninh ngoài núi Bà Đen có điện thờ “Linh Sơn Thánh Mẫu”, còn có Tòa Thánh của đạo Cao Đài, cách thị xã khoảng 5 km.

Đạo Cao Đài ra đời trên đất Tây Ninh do giáo sĩ Phạm Công Tắc đề xướng năm 1926, biểu tượng Thiên Nhãn, thờ “đấng tối cao”.

Tòa Thánh Cao Đài được thành lập và tổ chức gần giống như Tòa Thánh Vatican của đạo Ki-tô nằm trong lòng thành phố Roma nước Ý; tức Tòa thánh Tây Ninh được xây dựng biệt lập trên một diện tích rộng lớn, nằm trong bốn bức tường rào bằng gạch, có bốn cửa đông tây nam bắc.

Bên trong Tòa thánh có tên đường, lối đi riêng biệt, cùng những nhà làm việc của từng bộ phận như nhà nghi lễ, ngoại vụ, nội vụ, tuyên giáo v.v… cùng một Thánh Thất được xây dựng đồ sộ vào năm 1933 nhưng đến năm 1955 mới thật sự hoàn tất. Trước năm 1975 ai muốn vào trong đất Thánh phải được cho phép, nay nhà nước đã mở trục đường giao thông cho xe cộ đi ngang qua trước Thánh thất.

Người dân Tây Ninh hãnh diện với Tòa Thánh, bởi ngoài việc biểu tượng cho một tôn giáo mới ở Việt Nam.

Tòa Thánh Tây Ninh còn mang hình dáng của lối kiến trúc thuộc kỷ nguyên phục hưng ở châu Âu (thế kỷ 14), cùng sự pha trộn với lối kiến trúc đền đài của phương Đông, để hình thành ra một cấu trúc riêng biệt, với cung Thánh có mái vòm cao và những thân cột to cùng với họa tiết là những hình rồng phụng đang lượn ôm quanh được tô điểm bằng những màu sắc sặc sỡ.

Thiên Việt

PHONG TỤC GIÁNG SINH

NGUỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH

TỪ A ĐẾN Z

– Thanh Thanh (Tổng hợp)

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL

Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Hình ảnh Ông Già Noel qua những văn hoạ sĩ :

– Năm 1809, nhà văn Washington Irving tả Thánh Nicolas đi trên không trung để phân phát quà .

– Sự ra đời của Ông Già Noel có lẽ được đánh dấu vào năm 1822 dưới ngòi bút của mục sư Clement Clarke Moore (ông đã tưởng tượng ra trong một bài thơ tặng cho các con ông) Năm 1821, CC Moore viết một truyện thần thoại về Noël tên là Đêm trước Noël (The night before Christmas, La nuit d’avant Noël ) trong đó Ông Già Noël xuất hiện trong chiếc xe trượt tuyết được hươu kéo. Tác giả Moore cũng viết một bài báo đăng trong tờ nhật báo Sentinel tại New York ngày 23/12/1823 có tên Cuộc viếng thăm của Thánh Nicolas (A Visit From St Nicholas, La visite de St Nicolas). Bài viết này nói về những lutins (những con yêu bé tí hon) đem quà phát cho trẻ con bằng xe được 8 con hươu kéo (các con hươu có tên Blitzen, Dasher, Dancer, Comet, Cupid, Donder, Prancer và Vixen). Con hươu thứ 9 Rudolf được thêm vô năm 1839 có nhiệm vụ soi sáng đường đi nhờ chiếc mũi đỏ và sáng.

– Năm 1863, Harper’s Illustrated weekly, một tờ báo New York đăng hình vẽ Santa Claus mặc áo lông thú màu trắng và thắt nịt đen, họa sĩ Thomas Nast là tác giả. Trong gần 30 năm, Thomas Nast vẽ cho tờ báo này hình ảnh Santa Claus bụng to, râu bạc dài và có hươu đi kèm.

Năm 1885, tờ báo này vẽ đường đi của Santa Claus, đi từ Bắc cực đến Hoa Kỳ. Vậy là lần đầu tiên nhà của Santa Claus đã được xác định chính thức. Và có lẽ, chỉ dưới những nét bút của họa sĩ Thomas Nast , hình ảnh ông già Noel mới được mọi người biết đến nhanh chóng và sâu rộng hơn..

Một năm sau, nhà văn Georges P. Webster nói rõ thêm là xưởng chế tạo đồ chơi và nhà của Cha Noël “được giấu dưới tuyết tại Bắc cực. Họa sĩ Nast lại xác nhận nơi cư ngụ của Cha Noël bằng hình vẽ.

Tên Ông Già Noël

Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël

Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng

Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo

Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh

Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất

Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình nhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô

Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh

Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon

Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel

Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Chuông Thánh Đường

Trong vài nền văn hóa Á Châu, tiếng chuông được dùng báo hiệu cho quần chúng biết một biến cố hoan hỉ hay một sự kiện buồn não vừa xảy đến. Sau khi Chúa hài đồng giáng sinh, tục lệ này được truyền đến cho những quốc gia Tây phương để rung lên chào mừng Chúa Cứu thế xuống trần. Tại đất nước Tây Ban Nha, các chuông nhà thờ ngân vang vào lúc nửa đêm báo hiệu Chúa ra đời.

Thiệp Giáng Sinh

Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh

Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

(Tổng hợp)

PHONG TỤC TÂY NGUYÊN

CHUYỆN KỲ BÍ XUNG QUANH

KỲ NAM – TRẦM HƯƠNG – NANH CỌP

– Bài THANH THANH

Những tỉnh vùng núi Tây Nguyên Vviệt Nam có rất đông dân tộc ít người đang sinh sống, họ ở trong các buôn làng và trong những khu rừng trọc đã được phát hoang, sống sinh hoạt theo từng cộng đồng dân tộc của mình không lẫn lộn với dân tộc khác.

Mỗi dân tộc đều có những tập quán, phong tục riêng, nên đối với người Kinh cho đấy là cách thờ phụng tâm linh thần bí của họ.

HỘI NHÀ MỒ

Dân tộc ít người như Gia Rai, Ba Na, sau mỗi lần có người thân trong gia đình qua đời, đều làm mồ mả cho đẹp, sau đó tổ chức ăn mừng nhà mồ. Vì vậy ngày lễ không có thời gian mà tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Nhà mồ Tây Nguyên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ, những gì có ở nhà mồ không chỉ dành cho người đã chết mà còn là niềm tin cho người đang sống. Người Ba-Na, Gia-Rai tin rằng linh hồn người chết sẽ biến hóa những thứ để trong nhà mồ sẽ có thêm nhiều hơn nữa, như tượng các con vật nuôi, những dao rựa, cung nỏ săn bắn v.v… tức phù hộ cho người sống gặp may mắn khi nuôi súc vật, đi rừng hay săn bắn.

Hội mừng nhà mồ là một nghi thức tín ngưỡng độc đáo hấp dẫn được diễn ra trong ba ngày đêm liền, và được chuẩn bị từ mấy tháng trước. Tất cả mọi người khi đến dự lễ đều phải biết múa Rông Chiêng, biết đánh cồng chiêng, gõ trống, chơi đàn Tơ rưng.

Trong ngày lễ có múa Rông chiêng nên bắt buộc mọi người phải biết múa; theo ý nghĩa Rông chiêng là quanh choé. Múa hát chung quanh choé rượu là điệu múa giành cho các cô gái, diễn tả các động tác làm nương, may vá thêu thùa, và điệu múa khiên của thanh niên trình diễn các động tác săn bắn hay chiến trận. Vì vậy Rông chiêng là điệu múa truyền thống trong ngày hội nhà mồ.

Từ buổi sáng đầu tiên, đoàn múa Rông chiêng tiến vào nhà mồ trong sự chào đón của mọi người. Đi đầu là một chàng trai vạm vỡ, đóng khố tua cườm, thắt lưng dây bạc, đầu cắm lông chim, vừa đi vừa múa, tay gõ trống đeo trước bụng, theo sau có 8 người già cắp ngang cây giáo, cũng vừa đi vừa múa, tiếp đến 6 chàng trai khiêng một cái trống lớn, rồi những người cầm cồng chiêng, chũm chọe, thanh la ăn mặc đẹp biểu diễn những động tác ngộ nghĩnh. Cuối cùng đến hai hàng thiếu nữ trong trang phục lễ với điệu múa xoang truyền thống, nhưng được cách điệu rất uyển chuyển và đẹp mắt

Khi đoàn người đi vào khu vực sân diễn của nhà mồ, sau những hồi trống lệnh được đệm bởi những tiếng cồng chiêng trầm hùng, vũ điệu Rông chiêng bắt đầu, cùng động tác múa là những tiếng hú vang xa, rồi lại chiêng trống rền vang… Cứ như thế, ngày hội như không thể dừng lại.

Hội lễ mừng nhà mồ không chỉ có một vài đoàn múa đơn lẻ, thông thường có rất nhiều đoàn từ các buôn làng bên đến góp hội, không những để mua vui mà còn là dịp để thi thố tài năng của nhau.

PHONG TỤC NGƯỜI BA NA

– LỄ BỎ MẢ : được người Ba Na tiến hành vào mùa khô, từ tháng Chạp đến tháng Tư năm sau. Lễ bỏ mả chứng tỏ người sống đã có thể cắt đứt mọi quan hệ tình thân với người chết sau mấy năm chịu tang, về sau nếu không còn cúng giỗ cũng không ai khiển trách.

Trước khi làm lễ, người Ba Na làm một căn nhà mồ mới sau khi dở bỏ cái cũ. Mọi người vừa dựng nhà vừa đánh cồng chiêng vui chơi suốt đêm, có khi kéo dài đến mấy ngày. Khi làm xong nhà mồ (mả) họ tổ chức lễ bỏ mả, gia đình đem rượu thịt vào nhà mồ để cúng, nhằm mong người chết đừng về quấy rầy người sống.

Sau lễ cúng là cuộc rước mô hình nhà mồ, các con rối đẻo bằng gỗ to nhỏ khác nhau, cùng với đoàn múa và giàn cồng chiêng theo sau.

Cuộc rước là nghi lễ giải phóng cho người thân. Người Ba Na khấn linh hồn người chết xong thì té nước vào nguời thân trong gia đình, để đánh dấu từ thời gian này trở đi, người sống không còn quan hệ với người chết, chồng hay vợ góa có thể đi lấy người khác mà không mang tội.

– LỄ CÚNG ĐẤT LÀNG : được tổ chức vào cuối tháng 2 hay đầu tháng 3 ÂL, khi sắp bước vào vụ sản xuất, nhằm thông báo với thần linh biết công việc dân làng sắp làm trong năm mới và cầu xin thần linh cho mùa màng tươi tốt, mưa gió thuận hòa.

– LỄ KHẤN TỈA LÚA : ở Gia Lai, Kontum gọi là lễ Sámãh Zmulba. Người Ba Na làm lễ khấn tỉa lúa ở nhà hay trên nương như hình thức cáo yết với các thần núi, thần nước, công việc tỉa lúa sắp bắt đầu, họ cầu xin thần linh phù hộ cho nương rẫy của mình được xanh tốt, lúa sinh sôi nảy nở, vật nuôi trong nhà thêm đông.

Khấn vái xong người Ba Na lấy một ít thóc trộn với máu gà rồi đem đi gieo tỉa, lấy cây chọc vào mảnh đất để vài hạt thóc vào lỗ tượng trưng cho vụ cấy sắp đến. Sau nghi thức đến tiệc rượu, ngày hôm sau mới bắt đầu công việc tỉa hạt.

– LỄ MỞ CỬA RỪNG : thông thường vào ngày 7/1ÂL, họ dâng lễ cúng bái xin mở cửa rừng, cầu xin bộ hạ của chúa Sơn Lâm đừng đến giết hại người Ba Na khi đang ở nhà hay đang săn bắt trong rừng.

Lễ mở cửa rừng gồm một đôi gà có trống có mái. Chủ tế cùng một số trai gái tiến vào đàn. Con trai đóng khố mang 3 mũi tên, con gái mặc váy và yếm. Sau khi cắt tiết gà đổ xuống đất, họ bắt đầu điệu múa săn gà, phụ nữ đóng vai con mồi, còn thanh niên đóng vai người đi săn, phỏng theo các động tác đi săn mồi và con thú bị dồn đuổi.

PHONG TỤC NGƯỜI TÀY (THÁI)

Người Thái Trắng sống không nhiều ở Lâm Đồng (đa số ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh) tuy vậy nơi có người Thái sinh sống, họ cũng có những phong tục tập quán của riêng dân tộc mình :

– LỄ NHÓM LỬA : Lễ này ngoài người Thái (có Thái trắng, Thái đen hay còn gọi Tày, Thổ Đà Bắc) còn của người Mường, họ thờ “thần lửa” nhằm cầu thần linh phù hộ cho gia đình mạnh khỏe, làm ăn hạnh thông, phát đạt.

Với người Thái lễ nhóm lửa do một bà cụ già giỏi việc bếp núc nhóm lên, nếu lửa bén nhanh là trong năm gặp may mắn, nếu lửa không cháy, chủ nhà phải mời thầy mo đến cúng tiếp.

Còn người Mường trước khi làm lễ, họ lấy một bẹ chuối cắt thành hình ba con cá kẹp vào một cặp nứa buộc lên cột bếp giành cho “ba ông đầu rau” (Thần táo) ăn, và đặt một quả bí xanh vào cột cái của bếp trước khi nhóm lửa, đồng thời lấy vỏ cây bỏ vào 4 góc bếp, xong mới mời một bà cụ già giỏi việc bếp tới nhóm lửa. Nếu lửa bén ngay là may mắn, nếu không phải cúng thần bếp thêm một lần nữa.

LỄ TRỒNG CỘT : vào khoảng tháng 9 ÂL, và cứ đủ một giáp 12 năm mới làm lễ một lần, với ý nghĩa trồng các cây cột để giữ sự bình yên cho đất đai.

11 chiếc cột có hình như dùi trống được đem trồng ở bãi đất bằng, cây cột chính trồng ở giữa, 10 cây cột còn lại trồng chung quanh. Một con trâu mập mạp, cùng bộ sừng và đuôi có cài bông hoa được đem ra tế thần, khi đó thầy mo lo việc cúng tế còn thanh niên nam nữ từng tốp nhảy múa, đánh cồng, thổi khèn ở quanh 11 cây cột.

– LỄ CƠM MỚI : tổ chức từ tháng chạp đến tháng 3 ÂL, người Thái coi “lễ cơm mới” giống như tết Nguyên Đán của người Kinh. Từ sáng sớm, các cô gái mặc quần áo đẹp đi đến bàn thờ tổ tiên xin dự lễ. Mọi người trong gia đình làm động tác khênh thóc gạo từ trên gác xuống để các cô đem đi giã gạo, nhuộm màu và nấu cơm, nấu xôi. Lễ cơm mới ngoài xôi cúng còn có con cá được gói trong lá chuối với bột gạo bao ngoài có dây buộc chặt.

Sau khi bày mâm cúng, thầy mo hay gia chủ làm lễ gọi hồn vía những người đã chết về vui tết với con cháu. Trong lễ cơm mới, buôn làng thường tổ chức nhiều trò chơi cổ truyền để mua vui trong ngày lễ.

– LỄ CÚNG TRỜI : đây là lễ tạ ơn Giàng đã phù hộ và cầu cho vụ mùa sau sẽ tốt hơn. Đàn cúng được lập giữa trời gồm lúa, ngô, kê, bắp, bầu, bí, gà, heo. Trong khi thầy mo cúng trời, trai gái nhảy múa chung quanh đàn đang làm lễ, nhằm mua vui cho các thần linh về hưởng lễ vật.

– HỘI HOA BAN : là lễ hội vui xuân phổ biến của người Thái (nhất là ở vùng Sơn La, Lai Châu…) nhằm ghi nhớ và tưởng niệm mối tình trong trắng của một đôi trai gái đang tuổi yêu đương, gắn với truyền thuyết về sự xuất hiện của cây hoa ê-ban

Đây là một sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Thái khi xuân về. Hội hoa ban gắn với cuộc hát giao duyên trên thuyền, hái hoa của nam nữ thanh niên dân tộc Thái.

PHONG TỤC NGƯỜI MƯỜNG

Trước đây người Mường sống nhiều các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An… sau này một số người Mường đã di dân xuống các tỉnh cao nguyên miền Trung sinh sống.

Người Mường cũng có những tập quán :

– Người họ Đinh không ăn thịt chó, vì cho rằng ngày xửa ngày xưa khi bọn giặc đánh vào buôn bản, người làng phải chạy trốn. Có một gia đình người cha mãi đi làm rẫy, mẹ đi vào nương hái cây bông vải, chạy trốn giặc mà bỏ quên đứa con trai mới sinh ở nhà, nghĩ rằng nó đã chết vì thiếu sữa. Nào ngờ trong nhà có con chó mới đẻ, thấy đứa nhỏ khóc con chó liền đến cho bú. Nên đứa nhỏ được sống đến ngày cha mẹ nó trở về. Từ đó thế hệ họ Đinh không đánh, chửi mắng và ăn thịt chó để tạ ơn chúng.

– Nhưng toàn thể dân Mường đều không ăn thịt rùa, vì rùa là nhân vật thần linh “đẻ đất đẻ nước” còn chỉ họ cách làm nhà : bốn chân là chân cột, mai rùa là mái, bụng là sàn, lỗ đầu và lỗ đuôi là lối cửa tiền cửa hậu lên xuống nhà sàn.

NHỮNG PHONG TỤC KHÁC

Người dân tộc miền núi còn mang nặng tính sùng bái thần linh, nên còn nhiều hủ tục chưa xóa bỏ được, nên khi chúng ta nghe nói đến những hủ tục này đều phải rùng mình rợn tóc :

Ma lai rút ruột : khi một người bị bệnh ngày một gầy yếu, gia đình cho rằng bệnh nhân bị ma lai rút ruột.

Ma lai còn gọi là Ma Rừng, ban ngày là người nhưng ban đêm chỉ có cái đầu lăn đi tìm phân người để ăn. Ai đi tiêu không đề phòng, bị ma lai ăn phân tức người đó bị ma lai rút ruột, lâu ngày cơ thể không còn gì là phải chết. Nếu biết nhà con ma lai mà đến tạ lễ thì sẽ sống.

Hiện tượng này trước đây xuất hiện ở tộc người Ê Đê, Mường, H’Mông, ai có cổ cao ba ngấn xem người đó là ma lai, ai sinh con ra có cổ ba ngấn liền đem vào rừng sâu mà bỏ.

Sau này có người nói không phải do ma lai rút ruột, mà do các thầy mo dùng thuốc thư (bùa ngải) trấn yểm mà vô tình dẫm qua, hay chính thầy mo thư yểm.

– Sinh con đôi : ở thành phố việc sinh đôi hay sinh ba là chuyện thông thường (có người sinh tư…). Nhưng với người H’Mông việc sinh đôi thuộc vào thế giới thần bí, những đứa trẻ này bị xem là ma rừng, nếu cha mẹ chúng không đem vào rừng sâu để bỏ, thì cả gia đình phải vào rừng mà sống với ma rừng, hay sống trong nhà không được đi ra ngoài, dù người cha là lao động chính trong nhà, không được đi làm thuê, không được uống chung dòng suối với bản làng, cho đến khi những đứa trẻ này lớn lên cổ không cao ba ngấn mới được sống chung với bản làng.

– Chôn con theo mẹ : nếu đứa trẻ còn bú sửa mẹ, nhưng chẳng may người mẹ qua đời, còn có tục chôn con theo mẹ.

NHỮNG CHUYỆN Ở RỪNG…

Rừng núi Tây Nguyên ngoài các danh thắng và phong tục tập quán của dân tộc ít người, còn có những chuyện thuộc về rừng thiêng nước độc.

– TRẦM HƯƠNG – KỲ NAM

Dọc theo dãy Trường Sơn từ Quảng Bình xuống đến Lâm Đồng, những người dân sống nơi đây thường vào rừng săn bắn, và thường tìm kiếm trầm hương và kỳ nam.

Vì một ký Trầm có thể đổi được chục cây vàng, một ký Kỳ đổi được cả ký lô vàng. Do Trầm Kỳ được sử dụng vào các môn thuốc chữa bệnh và hương liệu.

Kỳ Nam và Trầm Hương được phát hiện nhiều từ vùng Quảng Nam cho đến Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bình Định. Đây là loại rễ hay thân cây Gió lâu năm đã mục.

Cây Gió có ba loại : Gió lưỡi trâu, Gió lang và Gió bầu. Trầm hương có xuất xứ từ Gió lưỡi trâu và Gió lang còn Gió bầu sinh Kỳ Nam. Cây Gió tự mọc trong rừng qua nhiều năm trở thành cổ thụ.

Có giả thuyết cho rằng, thân cây gió bị bọng rồi những con ong, con kiến làm tổ trong đó và đưa mật hoa về ăn, nên mật hoa ngấm vào thịt cây Gió lâu năm thành Trầm thành Kỳ từ thân cho đến rễ (Trầm khai thác từ phần thân còn Kỳ thường ở dưới gốc rễ).

Muốn phân loại Trầm Kỳ tốt xấu bằng cách :

– Nếu cho vào nước Trầm Hương chìm xuống tận đáy là loại Trầm tốt nhất; nếu lơ lững thuộc loại 2, còn nổi trên nước là loại 3. Còn Kỳ Nam cũng nặng và mang tính chất như chìm nổi như Trầm, nhưng lớp áo thường rịn ra chất tinh dầu ươn ướt ngửi rất thơm.

– NHỮNG TÍNH CHẤT HUYỀN BÍ TỪ CỌP

Theo người xưa qua những kinh nghiệm từng trải, cho rằng con cọp khi chết đi thân xác nó có nhiều tác dụng :

Về nanh cọp :

– Trẻ con hay người lớn đeo nanh cọp trước ngực sẽ tránh được phong hàn, gió độc.

– Nam nữ thanh niên xem nanh cọp như thứ bùa yêu, ai đeo nó trong người sẽ ăn nói rất có duyên, dễ gây cảm tình với người khác phái.

– Bọn trộm đạo có nanh cọp trong người sẽ không còn sợ chó dữ sủa cắn.

– Có người còn nói có nanh cọp tên bắn không thủng, đạn ghim không chết, đi rừng gặp thú dữ nào cũng không sợ chúng tấn công.

Bởi thế từ xưa mọi người thường đi tìm nanh cọp để phòng thân, và tạo nó thành món hàng trang sức độc đáo, nhưng trong 10 nanh cọp tỷ lệ nanh cọp thật chỉ có một hai cái, do con buôn làm ra từ sừng trâu hoặc từ ngà voi.

Về râu cọp :

Thông thường người đi săn cọp, khi hạ được cọp liền đốt râu ria của chúng không để tồn tại.

Mọi người cho rằng, ai có được râu ria của cọp nuôi thành sâu để dùng hại người. Do khi râu cọp đựng trong ống tre nứa chôn sâu dưới đất đủ 100 ngày, mỗi sợi râu biến thành một con sâu độc.

Sâu độc bò qua thức ăn, chén, muỗng, đũa, ai dùng phải sẽ trúng độc mà chết. Sâu bò qua áo quần sẽ trở bệnh phong cùi ghẻ lỡ v.v…

Về xương cọp :

Ngoài nanh và râu cọp có những điều thần bí như trên, nhưng về xương cọp lại trở thành môn thuốc quý hiếm.

Trong họ Mèo, cọp là loài động vật to khỏe nhất. Đầu to tròn, cổ ngắn, tai nhỏ ngắn; bốn chân to khỏe, móng rất sắc và nhọn, đuôi dài bằng nửa thân, có giá trị kinh tế rất lớn, thịt ăn ngon và bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi thành cọp bông; còn xương cọp dùng làm thuốc.

Trung bình một bộ xương cọp nặng từ 10 có thể nặng đến 16 kg, cọp nhỏ chỉ choxương chừng 4-5 kg . Căn cứ vào sức nặng của bô xương, người ta xác định được giá trị và phẩm chất của cao hổ cốt, và giá mua xương cọp có khác nhau.  Bộ xương cọp dưới 4 kg được coi là loại xấu.

Toàn bộ xương cọp đều tốt trong việc nấu cao, nhưng xương 4 chân và xương đầu được coi quý nhất, đặc biệt xương chân trước không thể thiếu được, một vì tỷ lệ xương chân trước là chủ yếu, hai vì xương chân trước có một lỗ hổng đặc biệt gọi là mắt phượng, có thể dùng phân biệt thực giả.

Theo kinh nghiệm người miền núi, khi nấu cao hổ cốt ít khi sử dụng một loại xương cọp, mà phối hợp với xương nhiều con vật khác và các vị thuốc thảo mộc như thiên niên kiện, địa liên v.v…

Nên khi nấu tốt nhất kiếm đủ 5 bộ xương cọp, một bộ xương khỉ, một bộ xương sơn dương vì xương cọp là vị chủ yếu (quân) có kèm theo hai vị thần, nghĩa là có vua có quan.

Tại nước ta ít khi thấy dùng xương cọp làm thuốc, nhưng tại Trung Quốc người ta dùng xương 4 chân, xương đầu và xương cổ, nhưng phải loại xương màu vàng mới tốt. Khi dùng lấy chày đập vỡ, cạo bỏ tủy, đổ bằng rượu hay bằng dắm. Rồi nướng trên than thành màu vàng nhạt dùng để sắc uống hay dùng ngay xương này để ngâm rượu.

Xương và cao hổ cốt là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong dân gian, chủ yếu dùng trong những bệnh đau xương, tê thấp, đi lại khó khăn, đau nhức và còn dùng trong những bệnh cảm gió hay bị điên cuồng.

– Rượu hổ cốt chữa yếu xương, viêm xương.

– Một hình thức dùng cao hổ cốt làm thuốc bồi dưỡng : làm thịt một con gà giò, mổ bỏ ruột. Cho vào bụng con gà một miếng cao hổ cốt nặng chừng 10 – 20g. Rồi đặt con gà có cao hổ cốt vào một cái nồi đất hoặc nồi tráng men (tránh nồi kim loại) có nắp. Thêm vào một chén rượu nhỏ, không cho nước vào nồi. Đặt tất cả vào nồi để nấu cách thủy.

Nước trong thịt con gà sẽ hòa tan cao và các chất trong thịt gà cho thật chín dừ. Chỉ lấy chất nước tiết ra mà cho người đau yếu ăn.

Thanh Thanh

(trích trong cuốn “Trên rừng dưới biển” của Nguyễn Việt – Võ Lương)

Thế đất và âm trạch (3/3)

THUẬT PHONG THUỶ

CÁC NƠI TRÊN THẾ GIỚI

– Thiên Việt – bài 3

Qua hai bài trước, chúng tôi đề cập đến thế đất và âm trạch, dẫn chứng về các kinh đô, các lăng tẩm vua chúa của Việt Nam và Trung Hoa, Bài bày xin nói về thuật phong thủy các nước trên thế giới.

THUẬT PHONG THỦY CỦA NHẬT

Như Việt Nam, người Nhật cũng chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa cổ Trung Hoa, việc người Nhật sùng bái đất đai nhà cửa là lẽ đương nhiên, nhưng quan niệm về cách xem địa lý, phong thủy của họ lại có những nét khác biệt.

Người Nhật khi xây dựng căn nhà mới, cũng mời thầy địa lý phong thủy đến coi thế đất, để đặt hướng cho cửa chính. Ngày khởi công làm lễ địa trấn, hôm đó họ đặt 4 góc nền nhà 4 cây trúc còn đầy lá, giữa tim nhà có một vòng tròn làm rào thần, tức tâm nhà để làm lễ động thổ.

Vị pháp sư sau khi cúng kiến, ông ta sẽ chôn 4 góc nhà những hình nhân cùng sắt, đao, kiếm… những vật bằng kim loại để trừ tà hung. Khi đặt đà ngang (gác đòn dông) cũng cúng và yểm một bộ cung tên, để bắn ác ma… như người Việt chúng ta yểm bùa Thượng lương, Trung lương trên cây đà ngang đó.

Người Nhật không coi đây là sự mê tín, bởi là cách yểm bùa cầu cho sự may mắn sẽ mang lại cho gia đình họ, có tác dụng làm họ tin tưởng vào căn nhà mới xây dựng đã được trừ tà ếm quỷ.

Khi coi thế đất xây dựng hay an táng, người Nhật tìm nơi có “di thủy” tức mạch nước hay con rạch, con sông chảy từ hướng Đông qua Tây Nam, là thế Thanh long, rửa sạch được ác khí khi hướng về Bạch hổ, căn nhà sẽ ít gặp bệnh tật, thâm tâm được yên vui. Người Nhật cũng lấy Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ trong chòm sao Nhị thập bát tú (28 vì sao trên trời) để tính về âm dương trạch.

Thời trung cổ tại Nhật, từ năm 710 đến năm 794 tức vào thời Nại Lương, kinh đô ở Bình Thành Kinh, vì trước thời gian này, nước Nhật bị Trung Hoa đô hộ (vào đời nhà Đường), nên Bình Thành Kinh có quy hoạch kết cấu như thành Tràng An của nhà Đường.

Đến năm 794 khi các nhiếp chính vương thuộc triều đại Seiwa, cho dời đô về Bình An Kinh, họ đã điều nghiên tình hình phong thủy tại đây và quyết định dời kinh đô :

– Do Bình An Kinh, nơi ba mặt Đông, Bắc và Tây dựa vào núi, mặt Nam là đồng bằng phì nhiêu lại bằng phẳng vươn ra tới biển. Trong thành có 2 con sông Lưu Quế Xuyên và Gia Mậu Xuyên chảy xuyên suốt từ Bắc xuống Nam, trong đó các rạch nước dày đặc nên cây cỏ tốt tươi, người dân hưởng thụ đầy đủ ánh nắng mặt trời và khí hậu ôn hòa, đủ nước dùng lại tránh được lũ lụt.

Người Nhật gọi thế đất ở Bình An Kinh là “tàng phong tụ khí” và “long bàn hổ cứ”.

Tiếc thay đến năm 1192 qua nội chiến giữa các dòng quý tộc, tướng Yorimoto đã chiến thắng các lãnh chúa, được Hoàng đế phong làm Shogun (quan nhiếp chính trong thời kỳ phong kiến Nhật, Hoàng đế không có quyền điều khiển đất nước, chỉ có quan nhiếp chính điều hành). Đại tướng lĩnh Yorimoto liền lập kinh đô tại Kyoto.

Với quan niệm dân gian Nhật, qua cuốn “Tác đình ký” viết trong thời Bình An ghi, cách làm nhà cửa trong dân chúng thường có tục lệ như sau (hình trên) :

-“… bốn bề quanh nhà phải trồng cây để hình thành giải đất “bốn thần đều đủ”. Có di thủy từ hướng nhà chảy sang đông là thế Thanh long, nếu không có nước có thể trồng 9 cây dương liễu để thay cho Thanh long.

“Phía tây có đường lớn là Bạch hổ, nếu không có đường thì thay bằng 7 cây thu (như cây bàng ở nước ta, lá hình trứng dài, hoa trắng có vệt đỏ).

“Phía nam có ao làm Chu tước, nếu không có ao phải trồng 9 cây quế.

“Phía bắc phải có gò cao làm Huyền vũ, nếu không có thay bằng 3 cây cối (còn gọi là cây thích bá, lá như vảy cá, có bông màu vàng) …”

Trên đây là quan niệm chỗ ở được tứ thần bảo vệ, cả nhà được phúc lộc, tránh tai nạn và sống thọ; là cách mở  “tứ thần” (nếu không tìm ra đất tốt).

Nay nước Nhật đang bị nạn nhân mãn (đất ít người đông) lấy đâu ra một mảnh đất để trồng những loại cây không có hiệu quả kinh tế kia !? Nhưng đổi lại họ đã dùng những cây bonsai để thay thế.

Ngoài ra người Nhật rất coi trọng những địa điểm đặt bếp, đặt cửa chính :

– Sách “Cổ sự ký” ghi, thầy tướng địa xem việc xây dựng nhà cho đặt đà ngang, đặt cửa xong, sẽ xem chỗ đặt bếp cho thích hợp với tuổi chủ nhà, thường các ngày tốt xấu trong tháng, thầy tránh ngày 25 dù là ngày tốt. Chủ nhà phải để lửa than riu riu suốt ngày trong bếp để căn nhà đước ấm nóng.

Còn đặt cửa ít khi đặt về hướng Đông Bắc, vì họ coi hướng này thuộc “quỷ môn” có âm khí. Nếu thế nhà bắt buộc, họ khắc hình con vượn đặt trên cao dùng trừ tà (theo người Trung Quốc và người Việt, không sử dụng hình thức trên, mà có những loại phù chú dùng trừ yểm, hoặc dùng tấm kính Bát Quái treo giữa cửa chính).

NHỮNG DÂN TỘC KHÁC

Từ thời cổ đại, nhiều dân tôc trên thê giới đã biêt xem “Gió và Nước” để làm nơi sinh sống.

Người cổ Ai Cập đã có thuật xem tướng đất để xây mồ mả là các Kim Tự Tháp, làm nơi chôn cât các vị hoàng đế, đến nay vẫn bền vững với thời gian trên 3000 năm.

Tất cả các Kim Tự Tháp được xây dựng đều theo trục hướng Nam – Bắc, bằng đá hoa cương có tính năng nạp điện để hấp thụ từ trường của vũ trụ, ngăn cản sự khuếch tán từ ác khí có trong lòng đất.

Qua một thí nghiệm mới đây, người ta đưa bông hoa trái cây vào để trong Kim Tự Tháp, hơn nửa tháng chúng vẫn tươi như lúc ban đầu. Những người bị nhiễm khuẩn ngoài da, suy nhược thần kinh khi vào Kim Tự Tháp an dưỡng, bệnh dần bình phục.

Khi các nhà khảo cổ xem xét phần thiết kế của Kim Tự Tháp, mới nhận ra người xưa đã biết cách đón gió từ bên ngoài vào trong tháp cho thông thoáng, thuân tiện cho sự giao lưu địa khí. Có lẽ người Ai Câp muôn khi các Pharaoh chết đi, được ướp xác và chôn trong Kim Tự Tháp, linh hồn các vị hoàng đế sẽ tồn tại sống trong tòa tháp đó.

– Người cổ Hy Lạp, ông Acrantist (190 – 105 Tr.CN) có cuốn “Hồng Hải” nói về địa lý với sức khoẻ con người. Ông nghiên cứu về những con sông chảy qua các bộ lạc sinh sống, thấy con người muốn sinh tồn phải thích ứng với hoàn cảnh. Những nơi đất khô vì nắng sa mạc, con người không thể sống nổi, còn nơi có độ ẩm, có cây cối nơi đó mới có sự sống, người dân mới phát triển thành bộ tộc.

Ông Hippocrates (khoảng 460 – 370 Tr.CN), ông tổ của ngành Y Dược, có nói về gió như sau :

– “… Các bệnh của dân thành thị thường liên quan đến vị trí nhà ở đối với gió đông tây nam bắc. Nơi ở có gió đông sức khoẻ sẽ kém.

Còn vê nước, ông chia thành nhiều nguồn như sau :

– Nước tù (tù thủy), nước suối (tuyền thủy), nước trong khe (nham tăng thủy), nước mưa (vũ thủy), nước tuyết tan (tuyết thủy). Nguồn nước quyết định các chất nước, chất nước quyết định đên sức khoẻ con người.

Để kết luận, Hippocrates viết tiếp :

– Dân ở nơi có không khí ngột ngạt, ở vùng lòng chảo, vì khí hậu ít thay đổi (không có gió thổi đến) sẽ sinh lười biếng, khiến cuộc sống nghèo khó. Tính tình hèn yếu.

– Dân ở vùng mưa thuận gió hòa, khí hậu luôn thay đôi theo bốn mùa xuân hạ thu đông, thì cần cù, tinh thần sảng khoái nên thích hoạt động, có tính dũng cảm đến thô bạo, họ làm ra của cải nhiều hơn những nơi không thuận lợi về khí hậu.

– Dân vùng cao nguyên, gió lộng quanh năm, da dẻ hồng hào, người cao lớn.

– Dân vùng đất đai khô cằn, khí hậu bất thường thì thân thể gầy ốm, có tính cố chấp.

Những dân tộc ít người tại Việt Nam, cũng có cách xem phong thủy khi an táng như :

Người Dao còn gọi là người Mán, sinh sông nhiều ở cực Băc giáp với biên giới Trung Quôc như Lào Kai, Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn… họ “dựng quan hạ táng”.

Trước khi hạ huyêt, gia đình mời thây mo đến trước huyệt để cúng tế, trước khi quan tài đặt xuống huyệt, thầy mo miệng niệm thân chú, tay giơ con dao rựa quơ từ trái sang phải rồi chém mạnh ba nhát lên quan tài. Biểu thị bắt linh hồn người chết phải rời khỏi nhà và dương thế.

Khi hạ táng, họ đắp mả thành hình bầu dục, hay tròn vì cho rằng mả giống trái núi, giống như túi tiền của người Dao là có thể có tiền; mả đắp dài như hình cây viết, có thể cho con cái có cái chữ.

Người Thổ còn gọi là dân Cọ, Xá Lá, sống nhiều ở vùng núi Thanh Nghệ Tĩnh, đều thờ sơn thần. Họ thường đến ở những nơi dựa núi kề nước. Dựa theo núi xây “Ngạc Bác” hay “Ngao Bao”, là những đống đá làm cọc giới hạn cho nhà ở, vì tin trong giới hạn đó có thần linh phù hộ. Trên Ngao Bao có treo cờ ngũ sắc mỗi khi làm lễ cúng tế cho gia đình.

Nguyên một sơn thôn, họ tìm nơi núi non phong tỏa một vùng, rồi trồng cây dương hay cây thông, lập ra gò “đất trấn tà” để thờ Sơn Thần.

Nơi này ngăn cấm mọi người đến động thổ hay tiểu tiện, người lạ không biết sẽ găp bùa ngải của người Thô rải ra đê trừng phạt ai đên xúc phạm thân linh. Thường sẽ bị đau ốm, phù thủng, nếu biết lỗi phải đem gà chó đến cúng sám hối, họ mới cho thuốc giải. Nếu bên “đất trấn tà” có dòng suối, cũng không ai được đến tắm giặt.

Người Thái tức người Tày, còn gọi Thái Trắng, Thái Đen, sống những vùng như Lai Châu, Hòa Bình, Hà Tây, Thanh Nghệ Tĩnh… chọn đất làm mả theo phương thức, đưa cho con người chết cầm một quả trứng gà sống đi ra nương rẫy hay vào rừng, đến nơi nào vừa ý thì ném cho trứng vỡ tung. Nơi nào lòng đỏ nhiều, lấy đó làm trung tâm huyệt mộ.

Người Mèo tức người H’Mông còn gọi Mán Trắng, sống ở Lào Kai, Lai Châu, Điện Biên… có tục “xuất thân”, tức đưa quan tài qua cửa sổ mà không phải bằng cửa chính.

Trong nhà có người sắp chết, gia đình phải dời người đó xuống bếp lò đặt phía nam, không cho nằm chết tại bếp lò phía bắc, phía tây. Khi xuất thân phải vào ngày chẵn âm lịch, tức ngày có âm khí, cho người chết được mát mẻ, ra đi thảnh thơi, sau về phù hộ cho gia đình.

Trong các dân tộc ít người, tuy không rành về thuật phong thủy, nhưng các thầy mo là người biêt đến bốn phương tám hướng (Bát Quái), tìm đất làm huyệt cho người chết, làm nhà cho người sống với những tục lệ tưởng chừng không phải của thuật phong thủy.

Thiên Việt

(Tổng hợp & theo cuốn “Bí ẩn Phong thủy” của tác giả)

—————————————————————————————–

Tin buồn :

Nhà thơ Nguyễn Trung Bình qua đời

Được tin nhà thơ NGUYỄN TRUNG BÌNH đã đột ngột từ trần lúc17g10 ngày 10/12/2009 tại Sài Gòn, hưởng dương 42 tuổi. Linh cữu sẽ được quàn tại quê nhà, làng Long Phước, Nam Phước, Duy Xuyên, Quảng Nam và an táng vào ngày 13/12/2009.

Nguyễn Trung Bình làm thơ và viết báo, sinh ngày 10/5/1968 tại thị xã Hội An, Đà Nẵng. Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM.

Anh em thân hữu xin thành thật chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương hồn anh sớm siêu thăng về miền cực lạc.

NGUYỄN VIỆT – TRƯƠNG ĐẠM THỦY – THIÊN HÀ

Thế đất và âm trạch (2/3)

CỐ ĐÔ HUẾ

VÀ GIẢ THUYẾT VỀ

MỘ VUA QUANG TRUNG

– Thiên Việt – bài 2

Khác với Hà Nội, cố đô Huế mới được gần 450 năm tuổi (kể từ năm 1558), cũng như chỉ tồn tại hơn 165 năm là kinh đô các triều đại nhà Nguyễn (không tính những năm từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong).

Nhìn lại lịch sử 450 năm xây dựng thành phố Huế.

Từ năm 1366, Huế đã là thủ phủ xứ Đàng Trong bắt đầu từ lộ Thuận Hóa gồm đất Châu Ô, Châu Lý thuộc Vương triều Champa, nhưng sử ghi là đất của nước Văn Lang từ thời các đời vua Hùng Vương và do nhà Trần tạo dựng nên.

– Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 khi Trịnh – Nguyễn phân tranh, làn sóng di dân vào Nam khá rầm rộ, mà cuộc Nam tiến do chúa Nguyễn Hoàng phát động đưa dân vào vùng Thuận Hóa đến Ái Tử, thuộc huyện Đăng Xuyên, tỉnh Quảng Trị năm 1558.

– Tương truyền, khi ấy Nguyễn Kim có hai người con trai tên Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng cùng làm tướng cho vua Lê, còn chúa Trịnh Kiểm là anh rể của hai người. Khi đó họ Trịnh sợ họ Nguyễn tranh giành công trạng và quyền lực trước vua Lê, nên ông ta âm thầm giết chết Nguyễn Uông, khiến Nguyễn Hoàng đâm lo sợ bị anh rể Trịnh Kiểm sẽ giết tiếp, nên đi tìm cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi kế phòng thân.

Trình Quốc Công liền lấy giấy bút ra ghi 8 chữ :

– “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Nguyễn Hoàng hiểu ý, liền đến cầu cứu với chị là Ngọc Bảo vợ chúa Trịnh Kiểm, xin viết giấy cho vào trấn phía Nam. Năm Mậu Ngọ 1558 đời vua Lê Anh Tông chấp thuận cho Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm đất Thuận Hóa.

Khi đến Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng liền xưng Chúa đóng quân trên đất Ái Tử. Tướng Lập Bạo nhà Mạc liền đem một toán quân gồm 60 chiến thuyền theo Cửa Tùng vào đánh quân chúa Nguyễn, suốt mấy trận không bên nào thắng bại.

Một đêm đang đóng binh bên sông, chúa Nguyễn Hoàng nghe có tiếng “trảo trảo”, nhìn xuống dòng sông thấy sóng nổi lên cuồn cuộn trông rất hải hùng, chúa Nguyễn liền cúi xuống cầu nguyện “Thần sông có linh thiêng thì hãy giúp ta ra tay trừ giặc”.

Đến đêm Chúa nằm mộng thấy một người đàn bà đẹp lộng lẫy đến gần Chúa mà nói : “Nhà ngươi hãy dùng kế mỹ nhân mới thắng được quân giặc”.

Vừa tỉnh giấc Nguyễn Hoàng nhìn thấy nàng hầu tên Ngô Thị, đang mang nước rửa mặt đi vào. Nàng Ngô Thị có sắc đẹp tuyệt vời nên Chúa liền dùng nàng thực hiện kế mỹ nhân theo lời Thần sông căn dặn.

Còn Lập Bạo khi thấy nàng Ngô Thị sắc nước hương trời, mang lễ vật và thư cầu hòa của Nguyên Hoàng đến, nàng đưa mắt liếc tình nhìn làm Lập Bạo thấy mê đắm, nên đồng ý đình chiến. Khi Ngô Thị cáo lui, nàng vẫn liếc mắt như muốn rủ rê Lập Bạo đi theo.

Quá háo sắc nên tướng nhà Mạc vội vàng theo chân Ngô Thị đến chỗ chúa Nguyễn đang phục binh lúc nào không hay, khi nhận ra Lập Bạo liền nhảy xuống sông định tẩu thoát, nhưng y lặn đến đâu trên mặt nước có tiếng chim kêu đến đó. Chúa Nguyễn Hoàng biết Lập Bạo đang bơi đến làng Vân Trình bị kiệt sức nhờ đó quân chúa Nguyễn giết được y, rồi cho quân tiến công diệt sạch quân Mạc.

Hiện nay tại Ái Tử có đền thờ “Trảo Trảo” thờ Thần sông giúp chúa Nguyễn Hoàng đánh thắng giặc, và được sắc phong “Trảo Trảo Linh Thu Phổ Trạch Tướng Hiệu Phu Nhân”.

Theo dòng lịch sử, cố đô Huế có 9 đời chúa và 16 đời vua, theo thứ tự thời gian như sau :

Đời chúa Nguyễn

1/- Chúa Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên)                      1558   -1613.

2/-  –                Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi)                -1635

3/-   –               Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng)              – 1648

4/-    –    Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền)                              – 1687

5/-    –    Nguyễn Phúc Trăn (Chúa Nghĩa)                           – 1691

6/-    –    Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa)                             – 1725

7/-    –    Nguyễn Phúc Trú                                                                 – 1739

8/-    –    Nguyễn Phúc Khoát                                                            – 1765

9/-    –    Nguyễn Phúc Thuần                                                      đến 1774

– Đời chúa Trịnh :

– Từ Trịnh Sâm, Trịnh Khải đến Trịnh Bông

(Huế trực thuộc vua Lê)                                                      1774 -1786

– Đời Tây Sơn :

1/- Nguyễn Huệ tức Quang Trung                            1788 – 1792

2/- Nguyễn Quang Toản tức Cảnh Thịnh                1793 – 1802

– Đời Vua Nguyễn :

1/- Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long)                                         1802 – 1819

2/- Nguyễn Phúc Đảm (Minh Mạng)                                    1820 – 1840

3/- Nguyễn Miên Tông (Thiệu Trị)                            1840 – 1847

4/- Nguyễn Hồng Nhiệm (Tự Đức)                          1847 – 1883

5/- Nguyễn Ưng Chân (Dục Đức)                                       1883/ 3 ngày

6/- Nguyễn Hồng Dật (Hiệp Hòa)                           1883 / 6 tháng

7/- Nguyễn Ưng Đăng (Kiến Phúc)                                     1883 – 1884

8/- Nguyễn Ưng Lịch (Hàm Nghi)                                        1884 – 1885

9/- Nguyễn Ưng Kỳ (Đồng Khánh)                          1885 – 1888

10/- Nguyễn Bửu Lân (Thành Thái)                                     1888 – 1907

11/- Nguyễn Vĩnh San (Duy Tân)                                         1907 – 1916

12/- Nguyễn Bửu Đảo (Khải Định)                          1916 – 1925

13/- Nguyễn Vĩnh Thụy (Bảo Đại)                            1925 – 1945

Vùng kinh đô Huế lúc đó có 4 doanh gồm Trực Lệ Quảng Đức – Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình và Quảng Nam. Qua 13 đời vua Nguyễn vẫn lấy 4 doanh trên làm kinh đô nước Việt Nam,

Qua các đời vua chúa xây dựng trên 450 năm, cố đô Huế hiện nay còn rất nhiều cung điện.

Theo kiến trúc cũ Hoàng thành có tổng thể 147 công trình lớn nhỏ, trong đó Tử Cấm Thành có 40 hạng mục, nhưng nay không còn như điện Cần Chánh, Càn Thành, Kiến Trung, đàn tế Nam Giao đều bị phá hủy bởi chiến tranh và thời gian, một số hư hại như lăng Tự Đức, Minh Mạng, cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa…

Kinh thành Huế xưa được xây dựng theo truyền thống phương Đông, với ba vòng thành : Phòng thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành, lấy núi Ngự làm tiền án, cồn Hến và cồn Dã Viên làm “tả long hữu hổ”; ba mặt Bắc Đông Tây đều có sông đào bảo vệ, cùng con sông ở mặt Nam tạo thế “tứ thủy triều quy”, tức hội đủ các ưu thế theo thuật phong thủy.

Truyền thuyết về mộ vua Quang Trung

Ở nước ta khi Gia Long lên ngôi vua đầu đời nhà Nguyễn, cũng đã học cách phá thế “vương” của anh em nhà Tây Sơn, đã tận diệt dòng họ Tây Sơn bằng cách phá mộ, đốt hài cốt thành tro và chuyển kinh đô từ Thăng Long về Phú Xuân, theo cung cách của Sở Bá Vương Hạng Võ.

Vào đầu thế kỷ 21, có một số dư luận đưa ra giả thuyết, cho rằng hài cốt vua Quang Trung hiện được chôn cất tại xã Hàm Thắng, thuộc huyên Hàm Thuận Băc, tỉnh Bình Thuận, cách thị xã Phan Thiết chừng 10 km.

Mộ vua Quang Trung ở đâu ?

Để chứng minh cho giả thuyết mộ vua Quang Trung chôn tại Hàm Thắng, mọi người kể rằng :

– Khi Nguyễn Ánh xưng hoàng đế Gia Long thiết lập triều đình nhà Nguyễn. Gia Long cho quật mộ vua Quang Trung đang chôn ở lăng Đan Dương lên, nghiền nát xương cốt thành tro rồi cho vào thuốc súng bắn cho tứ tán khắp nơi. Nhưng hài cốt tại lăng Đan Dương là giả, vì trước đó hoàng hậu Lê Thị Ngọc Hân (công chúa Ngọc Hân) đã nghe theo lời tiên đoán của La Sơn Phu Tử, về hậu vận của nhà Tây Sơn, nên đích thân cùng tùy tùng cải táng đem hài cốt chồng xuôi từ Huế vào Nam, không đưa về Bình Định vì bà biết vua Gia Long sẽ “tận pháp trừng trị” nhà Tây Sơn, nhất là quê quán của vua Quang Trung.

Khi đến cửa biển Phú Hài gần Phan Thiết, hoàng hậu Ngọc Hân cho thuyền rẽ vào nhánh sông nhỏ để vào cánh rừng nay thuộc xã Hàm Thắng.

Và cho giả thuyết trên đúng đắn, mọi người cho biết thêm họ đã tìm thấy ấn tín của vua Quang Trung đúc năm 1791, cách Hàm Thắng chừng 40 km, có lẽ trên đường đưa hài cốt vua Quang Trung đi cải táng, hoàng hậu Ngọc Hân đã làm rơi ấn tín Hoàng đế nơi dọc đường. Còn nơi mộ vua người ta tìm thấy có pho tượng tạc một võ tướng dáng mạo uy nghiêm, trên tượng có khắc mấy chữ Hán mà khi chiết tự ra tên của Nguyễn Huệ.

Nhưng theo ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà nghiên cứu lão thành về lịch sử cố đô Huế, cho rằng dấu tích lăng mộ của Hoàng đế Quang Trung vẫn nằm trên gò Dương Xuân, ấp Bình An ở Huế. Theo ông, lăng vua Quang Trung tức lăng Đan Dương nằm một nơi nào đó gần chùa Thiền Lâm (cũ), khi nhà Nguyễn Gia Long làm lễ hiến phù đã khai quật và phá lăng, đồng thời cho chuyển chùa Thiền Lâm đi nơi khác, rồi tuyên bố “phủ Dương Xuân” mất tích cùng lúc với xương cốt vua Quang Trung bị bắn thành khói.

Nhưng thực tế ngôi mộ bị quật phá là ngôi mộ giả, còn mộ thật của vua Quang Trung vẫn còn tại gò Dương Xuân, nhưng không có một chứng tích nào biểu hiện cho thấy nơi đây đang có huyệt mộ của một vị vua từng đại phá quân Thanh năm xưa; cũng như các giới chức văn hóa và khảo cổ chưa có động thái đi tìm sự thật về hai ngôi mộ, một ở tỉnh Bình Thuận và một ở cố đô Huế, giả thuyết nào đúng ? Hay như lịch sử vẫn cho rằng mộ vua Quang Trung đã bị quật phá, còn hài cốt bị đem tán nhuyễn trộn với thuốc súng, đem bắn đi khắp nơi ?!

Long mạch bị trấn ếm ?

Vào thời Pháp thuộc, dân chúng miệt Long Châu Hà (Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên), có truyền nhau về chuyện vua Quang Trung bị trấn yểm long mạch trên núi Cấm, người ta kể tại làng Nhơn Hưng thuộc huyện Tịnh Biên, có một ông Đạo lập một nhóm môn đệ đưa vào núi Cấm luyện bùa thỉnh ngải.

Khi đưa môn đệ vào sâu trong rừng được vài dặm, họ khám phá ra một thẻ bài khắc trên đá hoa cương to cỡ nửa tấm bia, trên thẻ có hàng chữ : “Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, Trung Thu, Cốc đán” (tức Triều đình nhà Thanh, năm Càn Long thứ  57 – vào năm 1792 dương lịch – chôn vào tháng 8 âm lịch).

Ông Đạo cùng môn đệ đưa ngay tấm thẻ bài bằng đá hoa cương về thị trấn, nói là tìm thấy trên núi, mọi người nhìn tấm thẻ lấy làm lạ, vì sao lại có tấm thẻ bằng đá to như thế được chôn trong khu rừng Cấm Sơn, lại ghi chú là của triều vua Càn Long bên Trung Hoa. Và họ chôn ở núi Cấm để làm gì ?

Mọi người bàn tán, sau đó mới truy ra được sự việc, người ta cho rằng thuở ấy (khoảng những năm 1780 – 1800) con cháu họ Mạc là Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Thiêm còn trấn nhậm ở Hà Tiên, là những người từ đất Trung Hoa sang tận đây tị nạn, có thể tấm thẻ bài này là của họ Mạc đem theo lúc mới đến xin cư trú ở nước ta.

Nhưng tại sao nó lại được chôn kín trong rừng sâu ? Có thể là chiếc thẻ bài bằng đá hoa cương này, đang dùng để trấn ếm về phong thủy, như các thầy địa lý thường dùng khi để ếm những chỗ không tốt cho thân chủ ?!

Theo sử chép, Mạc Cửu là một quan chức bên Trung Quốc, ông rất am tường về môn địa lýphong thủy. Khi đoàn người của họ Mạc đến nước ta xin cư trú, lấy cớ là tị nạn. Nhưng thực tế họ Mạc và các đời con cháu của ông xin tị nạn nước ta cốt làm một việc như Cao Biền ngày xưa vâng lệnh vua Đường sang nước Việt trấn ếm long mạch đang kết phát.

Còn họ Mạc đến miệt Hà Tiên, khi đến đây thấy vùng Thất Sơn có vượng khí linh thiêng, biết tại nơi đây có Long huyệt, e nước Việt sẽ sinh ra Thánh chúa mà không chịu quy phục nước Trung Hoa theo như mấy trăm năm qua, vì vậy mà họ Mạc đã dùng tấm thẻ bài này để trấn ếm, để nước Việt luôn luôn nằm trong sự đô hộ từ phương Bắc.

Trên thẻ bài đá hoa cương còn ghi những con số trùng hợp về năm tháng với năm tháng vua Quang Trung băng hà (15/9/1792).

Vì trước đó vào cuối năm 1788, quân Thanh được vua Lê Chiêu Thống cầu viện vào chiếm đóng Thăng Long, nhưng vua Quang Trung dẫn quân ra đánh Bắc Hà vào mùng 5 tết Kỷ Dậu (1789), đánh tan 29 vạn quân Thanh, còn Lê Chiêu Thống chạy trốn qua Trung Quốc và chết tại nước này vào năm 1793, chấm dứt triều đại nhà hậu Lê. Mọi người bàn luận, đây đúng là thẻ trấn ếm Long mạch của họ Mạc, nhằm vào vua Quang Trung.

Có phải vì thế mà Quang Toản (tức vua Cảnh Thịnh, 1793 – 1801) lên nối ngôi cha chỉ được 8 năm thì nhà Tây Sơn bị tận diệt cho nhà Nguyên Gia Long ra đời đên năm 1945 mới châm dứt.

LĂNG TẨM CÁC VUA NGUYỄN

Nhà Nguyễn có tất cả 9 đời Chúa cùng 13 đời vua, và do hoàn cảnh lịch sử phức tạp,hiện nay chỉ có 8 lăng tẩm còn tồn tại ở cố đô Huế, với những nét khác biệt nhau.

Tính theo thuật phong thủy, các lăng tẩm ở Huế đều nằm theo hướng Tây Nam của cố đô, nơi xa nhất có lăng Gia Long (16 km) và gần nhất là lăng Dục Đức (3 km).

Vùng đất xây lăng được lựa chọn thận trọng theo thuật phong thủy : có núi ẩn núi chầu, có hồ tụ thủy, có khe có suối lưu thông (sơn chỉ thủy giao)… phần lớn các lăng được xây khi vua còn sống (theo quan niệm “tức vị trị lăng” mà Tần Thủy Hoàng thực hiện khi mới lên ngôi, đã cho làm lăng tẩm tại Ly Sơn). Nhìn chung cấu trúc một lăng thường được chia làm hai khu : Khu thờ phụng tưởng niệm (tẩm) và khu mộ (lăng).

Các kiến trúc lăng tẩm được bố trí theo một trật tự nhất định trên một trục xuyên suốt, hoặc trên trục song song, về đại thể bao gồm : cổng lớn và bái đình tức sân chầu, hai bên có tượng quan văn võ, voi ngựa, bi đình nơi đặt bia “Thánh Đức thần công”, sân tế có nhiều tầng cấp, tẩm điện nơi điện thờ.

Có lăng có thêm nhiều công trình phụ như đông và tây phối điện ở phía trước thờ các công thần; tả và hữu tùng viện nơi ở của thái giám hay thủ từ, thủ nhang không gia đình vợ con trông coi việc đèn nhang hương khói; bửu thành nơi đặt phần mộ… Ngoài các kiến trúc chủ yếu nói trên, trong các lăng còn có ao sen, núi giả, vườn hoa, đồi thông, cầu quán, đình tạ v.v… tạo thành quần thể kiến trúc hài hòa với cảnh trí thiên nhiên.

Vây quanh khu lăng tẩm là một dãy tường gọi là la thành, có lăng không có, ngoài la thành có thêm vành đai bảo vệ được gọi “đất quan phòng”, ngày xưa tuyệt đối không ai được xâm nhập từ đây vào trong lăng tẩm.

Sau đây là lăng tẩm các vua nhà Nguyễn, mà lăng Gia Long được lấy làm tiêu chí cho việc xây dựng về sau :

Lăng Gia Long

– Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, sau một thời gian tìm nơi cát địa (đất tốt), đến năm 1814 mới bắt đầu cho dựng lăng. Từ việc chọn đất và kiểu cách v.v… nhà vua đều đích thân tham gia. Năm 1819 khi Gia Long qua đời, năm sau 1820 việc xây lăng mới hoàn thành.

Lăng mang tên Thiên Thọ, cách Huế khoảng 16 km theo hướng Bắc Nam giữa vùng núi rợp bóng thông, có 36 ngọn núi chầu chung quanh, hai bên là nguồn Tả và Hữu Trạch như ôm ấp lấy khu lăng tẩm.

Lăng được xây dựng bên chân núi Đại Thiên Thọ được lấy làm tiền án, có dựng hai cây trụ cao, trước lăng có hồ bán nguyệt, phía sau là sân chầu, đến sân tế, cuối cùng là bửu thành nơi đặt mộ vua và mộ Thừa Thiên Cao hoàng hậu nằm song song, theo kiểu song táng “Càn Khôn hiệp đức”, phía trước có tấm bình phong che chắn, trông đơn giản mà tôn nghiêm.

Bên trái bửu thành có nhà bia và bên phải là điện Minh Thành, thờ vua và hoàng hậu, các kiến trúc toàn bằng gỗ để mộc trần nhưng được chạm khắc tỉ mỉ. Lăng vua Gia Long không có la thành nhưng đất quan phòng rộng tới 2875 ha.

Lăng Minh Mạng

– Sau lăng Gia Long là lăng vua Minh Mạng còn được gọi Hiếu Lăng, được xây dựng vào năm 1840 sau hàng chục năm tìm đất, đến năm 1843 tức gần ba năm sau khi vua Minh Mạng qua đời, lăng mới xây xong, do chính Nguyễn Tri Phương huy động cả vạn dân phu thi công. Lăng cách Huế 12 km nằm trên đồi Cẩm Kê nhìn ra ngã ba Bằng Lăng rộng 26 ha với trên 30 công trình chính phụ.

Lăng chia ra hai khu vực, nơi thờ và nơi đặt mộ. Cả khu lăng tẩm có nhiều hồ sen, cầu, cổng, đình tạ, vườn hoa cây cảnh, rừng thông… rất ngoạn mục. Vây quanh là la thành hình bầu dục dài gần 2 km, tường cao trên 3m, độ dày khoảng 1m. Phía trước có ba cổng, cổng chính tên Đại Hồng môn, còn hai bên là Tả Hữu Hồng Môn.

Sau Đại Hồng môn có sân chầu, hai bên có tượng quan văn võ và voi ngựa đứng hầu. Tiếp theo là nhà bia, một tòa nhà dựng trên nền cao ba tầng, phía trước sau đều có bậc đá lên xuống được tạc rồng. Trong nhà bia có tấm bia “Thánh Đức thần công” khắc văn bia do Thiệu Trị soạn.

Sau nhà bia là sân tế, chia làm bốn cấp cao dần, cuối sân có Hiển Đức Môn cổng vào khu thờ tự được xây kín bằng tường thành nối với la thành.

Sau Hiển Đức Môn một sân rộng ở cuối là điện Sùng Ân nơi thờ chính. Hai bên có Đông Tây phối điện. Sau điện lại có một sân hai bên là Tả Hữu tùng viện. Qua Minh Lâu đi tiếp con đường có vườn hoa, giả sơn và hai cây trụ cao 21m là đến cầu Thông Minh Chính Trực bắc qua hồ Tân Nguyệt, dẫn đến một sân hẹp có bậc đá là đến bửu thành nơi đặt mộ vua Minh Mạng.

Lăng Tự Đức

– Lăng Tự Đức cách Huế chừng 7km, giữa một rừng thông cùng với nhiều cây cổ thụ khác. Toàn khu vực được vây quanh bằng một vòng la thành lúc thẳng lúc gấp khúc, tạo một địa hình đa giác, có bốn cửa. Hiện nay ra vào lăng thường qua cửa Vụ Khiêm tức mặt chính, có hai cửa Tự Khiêm, Thương Khiêm được nối bằng một tấm bình phong.

Lăng Tự Đức cũng chia hai khu vực, nơi thờ cúng (tẩm) và nơi đặt mộ (lăng), nhưng không bố trí trên một trục như lăng Minh Mạng. Lăng được xây dựng vào năm 1867, ba năm sau đã hoàn thành khi dự kiến đến 6 năm, vì thế lăng Tự Đức làm nhiều dân phu bỏ mạng do điều kiện lao động khắc nghiệt.

Lăng Tự Đức được xây trước lúc vua qua đời đến 16 năm. Lúc còn sống nhà vua thường ra “lăng tẩm” mình nghỉ ngơi, đọc sách ngâm thơ. Vì vậy trong lăng còn thêm nhiều kiến trúc như ngự điện, lầu gác, đình tạ, cầu quán, hồ sen, vườn cảnh, nhà hát… phối trí hài hòa với khung cảnh thiên nhiên.

Lúc đầu tên lăng là Khiêm Cung sau đổi là Khiêm Lăng. Tên 50 công trình trong lăng đều mang chữ Khiêm.

Bến Dũ Khiêm ở phía bên này hồ đối diện cửa Khiêm Cung Môn là cổng chính vào điện Hòa Khiêm nơi thờ vua và hoàng hậu. Phía trước điện có một sân rộng, hai bên có dãy tả hữu vu tên Lễ Khiêm, Pháp Khiêm vu. Sau điện có hai tòa nhà, một bên tên Minh Khiêm Đường tức nhà hát, và Ôn Khiêm Đường nơi ở các thái giám trông coi lăng mộ. Phía sau có điện Lương Khiêm, nơi thờ mẹ vua Tự Đức, bên ngoài khu thờ có một số nhà phụ là nơi ở của các cung tần và những người phục dịch lúc vua Tự Đức còn sống.

Lăng Dục Đức

– Lăng Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân tức khu An Lăng, mới đầu là phần mộ của vua Dục Đức do vua Thành Thái xây cho thân phụ vào năm 1890, cạnh chùa Kim Quang gần An Cựu (bây giờ là đường Duy Tân).

Theo dã sử, Dục Đức chỉ làm vua được 3 ngày từ 19/7/1883 đến 22/7/1883 rồi bị Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị) phế truất giam giữ, đến ngày 6/10/1883 ông qua đời, thi hài được cuốn vào chiếu giao cho quân lính đem chôn tại chùa Kim Quang (chùa này trước mang tên Tường Quang Tự), nhưng gần đến chùa thì “quan tài” chiếu bị đứt dây, xác vua Dục Đức rơi nằm tại đây, nhà chùa cho rằng do trời định nên cho an táng tại chỗ, sau được vua Thành Thái cho xây thành lăng tẩm.

Sau năm 1954, vua Thành Thái đi tù từ đảo Réunion về và chết tại Sài Gòn, được đưa xác về Huế an táng, cùng hài cốt vua Duy Tân (cũng bị Pháp giam tại đảo Réunion).

Các lăng tẩm khác :

– Lăng Đồng Khánh : được xây vào năm 1917 và được vua Khải Định tu sửa từ điện Truy Tư (đời vua Thành Thái đổi tên là điện Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh), vì trong thời gian Thành Thái làm vua, nền kinh tế đất nước đang suy kiệt không thể xây lăng như các đời vua trước.

– Lăng Khải Định : khởi công vào ngày 4/9/1920 kéo dài đến năm 1931 mới hoàn thành, đây là lăng tẩm mới nhất trong các đời vua nhà Nguyễn, gồm các lối kiến trúc Á, Âu và truyền thống Việt Nam.

– Lăng Thiệu Trị : được xây dựng chỉ trong 3 tháng vào năm 1848 do chính vua Tự Đức chỉ đạo. Vua Thiệu Trị mất vào năm 1847, trước khi chết lại truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Hồng Nhậm (hay Hồng Nhiệm tức vua Tự Đức), còn con cả Nguyễn Hồng Bảo không trao vì thuộc hàng con của thứ phi, tính lại đần độn, ít chịu học hành, ham chơi.

Chính điều này về sau Hồng Bảo mưu toan cướp ngôi vua nên bị bắt giam và sau đó chết bí ẩn trong tù, có tin đồn nói vua Tự Đức đã giết anh cùng cha khác mẹ để diệt trừ hậu họa.

(Còn 1 kỳ)

Thế đất và âm trạch (1/3)

Người Trung Hoa

tìm đất

xây dựng kinh đô

Thiên Việt – bài 1

Trong bài trước chúng tôi đề cập về hình thể Rồng trong bói toán một phần ảnh hưởng từ thuật phong thủy. Bài viết sau đây nói về địa lý phong thủy cũng qua hình thể Rồng, nhưng về thế đất và âm trạch.

Nói về thế đất :

KINH ĐÔ BẮC KINH

(Qua các tên gọi Kế Châu, Yên Kinh, Trung Đô, Đại Đô, Bắc Kinh)

Kinh đô Bắc Kinh đã có tuổi thọ trên 3000 năm, và hiện nay vẫn là thủ đô của đất nước Trung Hoa.

Lịch sử ghi chép, khi Chu Vũ Vương (thế kỷ thứ 11 Trước CN) cấp cho con cháu vua Nghêu đất Kế Châu (thời đó Bắc Kinh còn gọi là Kế Châu), sau nước Yên coi Kế Châu là kinh đô, qua đời Liêu cũng công nhận nơi này là kinh đô của họ và đổi tên Kế Châu là Yên Kinh.

Đến năm 1153 vua Kim (1115 – 1234) lại đổi tên thành Bắc Kinh sau một lần lấy tên là Trung Đô. Khi dời đô từ Thượng Kinh (nay là thành phố A Thành thuộc Hắc Long Giang). Vua Kim cho xây dựng lại kinh đô Bắc Kinh thành một kinh triều kiên cố.

Đời nhà Nguyên (1271 – 1368) lấy nguyên lý “trước triều (hoàng cung) sau thành thị (nơi dân cư sinh sống), trái tổ (nơi thờ tự) phải nền (nơi các quan làm việc)”. Lại đổi tên Bắc Kinh ra tên Đại Đô.

Khi Minh Thành Tổ (từ 1368) cướp được đất đai nhà Nguyên (cai trị gần 100 năm), và để diệt nguyên khí nhà Nguyên không cho trở lại ngai vàng, vua Minh liền phá bỏ cung điện cũ đẩy dời về phía Bắc, lấy hướng Nam làm quốc lộ, xây mới cung điện đều nằm trên trục lộ này. Còn phía Bắc xây tòa Cảnh Sơn nhằm trấn áp vượng khí còn sót của triều Nguyên, lấy phong thủy cho nhà Minh bền vững trị nước lâu dài. Đồng thời cho chuyển kinh đô về Nam Kinh, còn Đại Đô đổi trở lại tên Bắc Kinh.

Đời Minh (1368 – 1644) cai trị gần 300 năm mới mất vào tay Lý Tự Thành (lấy Thiểm Tây làm kinh đô, đặt tên nước Đại Thuận) rồi để mất nước vào tay nhà Mãn Thanh vào năm 1646.

Vua nhà Thanh lại lấy Bắc Kinh làm kinh đô. Xây dựng phía Nam có Thiên Đàn, phía Bắc có Địa Đàn, phía Đông có Nhật Đàn và phía Tây có Nguyệt Đàn, cả bốn nơi dùng làm nơi tế lễ trời đất, nhằm phân biệt trước có Chu Tước, sau có Huyền Vũ, trái có Thanh Long và phải có Bạch Hổ trong chòm sao Nhị thập bát tú.

Sở dĩ Bắc Kinh luôn là thủ đô của các triều đại, vì nơi đây nằm giữa vùng đất ngoài bình nguyên Hoa Bắc, với cao nguyên Tây Bắc Mông Cổ và bình nguyên Tùng Liêu ở Đông Bắc; còn Tây Bắc là sơn mạch Yên Sơn; Tây Nam là sơn mạch núi Thái Hàng. Mặt Nam là bình nguyên Hoa Bắc, hướng Đông là vịnh Bột Hải. Hai bán đảo Sơn Đông – Liêu Đông ôm lấy Bột Hải thành tấm bình phong bảo vệ kinh thành.

Xét về nhân văn, Bắc Kinh có lợi điểm : phía Bắc có núi hiểm, phía Nam khống chế bình nguyên, nên phong thổ thuận hòa. Các nhà địa lý xem kinh đô Bắc Kinh như rồng nằm hổ phục (rồng là dãy bình nguyên từ phía Nam vươn dài đến phía Bắc, hổ là dãy núi ở phía Bắc) vị thế hùng vĩ, bao đời nay chưa ai nghĩ đến dời đô đi nữa.

CỐ ĐÔ NAM KINH

(qua các tên gọi Kim Lăng, Mạt Lăng, Kiến Nghiệp. Kiến Khang, Nam Kinh nay là tỉnh Giang Tô)

Nam Kinh cũng từng là kinh triều qua nhiều đời vua của đất nước Trung Hoa, nhưng cố đô Nam Kinh không thể so sánh với thủ đô Bắc Kinh, bởi thế ngọa hổ tàng long (cọp nằm, rồng ẩn) của nó.

Từ đời Tam Quốc có Đông Ngô, sau đến Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, sáu triều đại, từ năm 317 đến năm 589 liên tiếp, các vua đều lấy Nam Kinh làm kinh đô.

Đến khi nhà Tùy diệt nhà Trần, thống nhất Trung nguyên (còn gọi thời Nam – Bắc triều) vẫn lấy Nam Kinh làm kinh triều. Các đời Nam Đường, nhà Minh, Thái Bình Thiên quốc, Cách mạng Tân Hợi, chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đều ở Nam Kinh.

Nam Kinh có nhiều tên gọi, thời chiến quốc Sở vương gọi Nam Kinh là Kim Lăng, thời Tần gọi là Mạt Lăng, Đông Ngô gọi Kiến Nghiệp, từ thời Tấn đến Nam triều gọi là Kiến Khang. Thời nhà Minh mới đặt thành tên gọi Nam Kinh. Khi nhà Mãn Thanh lấy được Trung nguyên, họ gọi tên là phủ Giang Ninh vì đã lấy Bắc Kinh làm kinh đô.

Nam Kinh có địa thế hiểm yếu, bốn bề đều là núi; núi Thanh Lương như một con hổ ngồi, phía đông có núi Chung Sơn giống con rồng nằm cuộn khúc, nên mọi người gọi thế đất này là “hổ chiếm rồng nằm”. Ngoài bốn bề là núi, Nam Kinh còn được bao bọc bởi sông Tần Hoài đổ vào dòng sông Dương Tử.

Các thầy địa lý Trung Quốc cho rằng trong nước chỉ có 2 nơi làm kinh đô tốt, tức Nam Kinh và Bắc Kinh.

LĂNG TẨM TẦN THỦY HOÀNG

(Còn gọi Lăng Ly Sơn)

Thời nhà Tần, lăng mộ hoàng đế gọi là “sơn”. Tần Thủy Hoàng (năm 259-210 Tr.CN) cho xây dựng Ly sơn tại huyện Lâm Đồng tỉnh Thiểm Tây ngày nay, lúc mới được phụ vương là Tần Trang Vương truyền ngôi vào năm 13 tuổi.

Tần Thủy Hoàng đã xây dựng lăng Ly Sơn trong lúc còn đi gồm thâu lục quốc (trong 10 năm mới thâu tóm xong sáu nước, đưa Trung Hoa thành giang sơn thống nhất). Khi xây dựng lăng tẩm cho mình, vua Tần huy động đến 70 vạn người, đục núi Ly Sơn, xuyên qua 3 suối, đổ đồng làm quách, cung có đủ trăm quan, đồ đạt trân châu quý hiếm, Tần Thủy Hoàng đưa vào đây chất đầy.

Trong các truyền thuyết nói trong lăng mộ, Tần Thủy Hoàng cho làm nhiều cơ quan, ai đi vào sẽ bị những chiếc nỏ tự động bắn chết. Khi lăng Ly Sơn hoàn thành, Tần Thủy Hoàng đóng cửa trong, hạ cửa ngoài chôn sống tất cả dân phu chết trong đó, để không lộ các chi tiết được ông thiết kế trong lăng, cùng số của cải được giấu trong đó.

Các thầy phong thủy luận, vua Tần học theo thuyết của Vương Sung “Phương tây đất của trưởng lão, kẻ hèn ở hướng đông”, nên lấy hướng Tây làm huyền quan, hướng Đông làm hậu, trên một trục chính, có nghĩa vua Tần ngồi trấn phương Tây hướng sang Đông để trị quốc.

Từ trên xuống dưới có ba tầng : trên cùng là ngoại cung, tiếp theo là nội cung và sau cùng là tẩm cung. Diện tích tẩm cung khoảng 2 vạn m². Trong tẩm cung phát hiện nồng độ thủy ngân cao hơn mức bình thường 280 lần. Ngoài địa cung, gần khu vực có lớp đất bao bọc bên trên phát hiện thấy 300 đường hầm bồi táng (chôn kèm theo xác) với trên 5 vạn cổ vật quan trọng.

Bộ sử ký của sử gia thời Tây Hán – Tư Mã Thiên – thuật lại việc xây lăng mộ Tần Thủy Hoàng như sau : “Khi Thủy Hoàng mới lên ngôi đã sai đào núi Ly Sơn. Đến khi thôn tính được thiên hạ thì dời 70 vạn người trong thiên hạ đến xây lăng mộ, đào ba con suối, ở dưới đổ đồng và đưa quách vào. Đem những đồ quý báu của các cung, của trăm quan xuống cất đầy ở dưới. Lại sai thợ làm máy bắn tên hễ có ai đào đến gần thì bắn ra. Sai lấy thủy ngân làm một trăm con sông, Trường Giang, Hoàng Hà và biển lớn. Các máy móc làm cho nước sông và biển chảy vào nhau. Ở trên có đủ thiên văn, ở dưới có đủ địa lý, lấy đầu cá nhân ngư để thắp đuốc, trù tính thế nào để cháy lâu không tắt.”

Sau khi chôn cất xong, có người nói: “Những người thợ làm máy và cất giấu đều biết chỗ cất giấu, thế nào họ cũng tiết lộ việc lớn”. Cho nên sau khi cất giấu xong, Tần Nhị Thế (con trai Tần Thủy Hoàng) sai đóng đường hầm đi đến huyệt và cửa ngoài hầm. Những người thợ và người cất giấu không làm sao thoát ra được. Rồi sai trồng cây, trồng cỏ lên trên ngụy trang thành cái núi.
Công việc khai quật

Năm 1974, một phần hầm mộ được khai quật. Đầu tiên là đường hầm Binh mã dũng số 1. Các nhà khảo cổ ước lượng có đến 8000 tượng đất sét gồm có quan văn, quan võ, binh lính và ngựa. Năm 1994 tiếp tục khai quật đường hầm số 2. Đây được coi là “tinh hoa trong tinh hoa” của Binh mã dũng, chứa đựng trận thế kỵ binh và các cung thủ với các tư thế bắn tạo hình phong phú, tính nghệ thuật cao.

Tuy nhiên việc khai quật lăng mộ gặp rất nhiều khó khăn: vượt qua lớp thủy ngân bao bọc (nồng độ cực kỳ lớn), phải di chuyển một khối lượng đất khổng lồ, mực nước ngầm dưới lòng đất khá cao. Quan trọng nhất là việc bảo quản các văn vật được đào lên. Các tượng binh mã khi vừa đào lên thì có màu sắc riêng biệt, sau thời gian đều bị phai nhạt hết. Vì vậy bảo quản bằng phương pháp “đông khô” để tránh nứt, vỡ, phai màu. Hiện vật đào lên được đưa ngay vào hầm lạnh -40 độ C để tạo lớp băng mỏng bao bọc, sau đó bảo quản lâu dài trong kho chứa. Trước khi khai quật không quên dựng một nhà bảo quản khổng lồ bao toàn bộ khu lăng mộ. Vì vậy muốn khai quật toàn bộ khu lăng mộ thì phải tốn hàng trăm triệu đôla Mỹ. Cuộc khai quật thường tiến hành trong nhiều năm. Những hiện vật phát hiện được là những tư liệu quý về lịch sử Trung Hoa cổ đại.

Lăng Ly Sơn hội đủ địa lý, khí phong.

Về địa lý, phía Bắc lăng Ly Sơn sát sông Vị Thủy có thủy long uốn khúc, nhìn thấy biết ngay là nơi cát địa, nơi âm lắm vàng, dương lắm ngọc. Còn về khí phong, Ly Sơn cao 120 mét, chân núi có chu vi 2167 mét, nên khí hậu luôn mát mẻ, cây cối xanh tươi, không hàn không nhiệt. Đất cao mà không khô, gió thổi mà không cuồng. Thi nhân ai cũng thấy có cảm hứng khi đứng trên núi Ly Sơn ngoạn cảnh.

Nhưng di sản Ly Sơn không tồn tại ngay khi Tần Thủy Hoàng sau bốn năm băng hà, khi Tần Nhị Thế nối ngôi không ngăn nổi Hạng Võ (Sở Bá Vương) tiêu diệt nhà Tần, khi đó Hạng Võ được các quân sư hiến kế nên hủy diệt Ly Sơn, không để cho tồn tại ắt sẽ gặp nạn về sau, Hạng Võ liền san bằng Ly Sơn thành bình địa.

Tần Thủy Hoàng được an táng dưới lòng đất, chắc không nghĩ được “thế phá” của người trần, ôm mộng Tần Vạn Thế (nhà Tần muôn đời) lại mau chóng lụi tàn.

Hiện nay, các nhà khảo cổ chưa tìm ra lăng mộ của vị hoàng đế họ Tần, họ mới tìm ra được những binh mã bằng đất nung và hài cốt của những dân phu bị chôn sống như đã nói.

THỦ ĐÔ HÀ NỘI

(Còn có những tên gọi Đại La, Long Phượng, Đông Đô, Đông Kinh, Kẻ Chợ, Bắc Thành, Hà Nội)

Thủ đô Hà Nội bây giờ tức tên gọi kinh đô Thăng Long của nước Đại Việtthời Lý, Trần, , Mạc, Lê Trung hưng (10101788).

Năm 1010, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, hay “rồng bay lên” theo nghĩa Hán Việt. Ngày nay tên Thăng Long còn dùng trong văn chương, trong những cụm từ như “Thăng Long ngàn năm văn vật”… Năm 2010, là kỷ niệm 1 thiên niên kỷ của Thăng Long – Hà Nội.

Ngay sau khi dời đô, Công Uẩn đã gấp rút cùng các quần thần xây dựng những công trình cơ bản của kinh thành Thăng Long. Đến đầu năm 1011 thì hoàn thành. Khi mới xây dựng, kinh đô Thăng Long được xây dựng theo mô hình Tam trùng thành quách gồm : vòng ngoài cùng gọi là La thành hay kinh thành bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông : sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đó là 1 tòa thành đắp đất có tác dụng như một con đê ngăn nước mà dấu tích còn lại bây giờ là các cửa ô : ô Cầu Dền,ô Cầu Giấy, ô Đông Mác, ô Quan Chưởng. Thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp thành còn lại là Tử cấm thành hay Cấm thành là nơi ở của nhà vua.

Năm 1243, nhà Trần tôn tạo sửa đổi và gọi Thăng Long là Long Phượng. Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đặt tên là Đông Đô.

Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ.

Năm 1788, Lê Chiêu Thống đi cầu viện nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị đem đại quân sang chiếm Thăng Long. Dựa thế quân Thanh, Lê Chiêu Thống điên cuồng trả thù họ Trịnh. Phủ chúa bị Lê Chiêu Thống đốt trụi cháy ròng rã một tuần mới hết. Tất cả những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long bị phá sạch. Kinh thành lại một lần nữa ra tro.

Đầu năm 1789, Quang Trung – Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Hoa tỵ nạn, triều Hậu Lê kết thúc, Quang Trung định đô ở Phú Xuân (Huế). Thăng Long chỉ còn là Bắc thành.

Năm 1802 sau khi tiêu diệt xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh Gia Long lên ngôi Hoàng Đế. Kinh đô vẫn được đặt ở Phú Xuân. Cố đô Thăng Long vẫn mang tên gọi là Thăng Long nhưng chữ “Long” mang nghĩa là rồng, lúc đó bị chuyển thành chữ “Long” nghĩa là dài, thịnh vượng, với ý rằng nhà vua không còn ở đấy. Đồng thời những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau những trận đại hủy diệt cuối thế kỷ 18 cũng lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển nốt vào Phú Xuân phục vụ cho công cuộc xây dưng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi Ngự giá Bắc thành.

Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ vì cho rằng đây chỉ còn là Trấn Bắc thành mà Hoàng Thành Thăng Long thì rộng lớn quá. Gia Long cho xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp. Về quy mô thì nhỏ hơn thành cũ nhiều.

Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Cái tên này tồn tại cho đến năm 1888 khi nhà Nguyễn chính thức nhượng hẳn Hà Nội cho Pháp. Người Pháp đổi tỉnh Hà Nội lên thành thành phố. Đến khi chiếm xong toàn bộ ba nước Đông Dương họ chọn đây là thủ đô của Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp.

Lịch sử các triều vua ở Hà Nội

Nhìn lại lịch sử gần một thiên niên kỷ, Hà Nội bắt đầu từ nhà Lý gồm 9 đời vua, trị vì được 215 năm. Tiếp đến nhà Trần, từ lúc Lý Chiêu Hoàng (Chiêu Thánh công chúa, con gái vua Lý Huệ Tông) truyền ngai vàng cho Trần Cảnh tức triều đại Trần Thái Tông.

Nhà Trần bắt đầu từ năm 1225 cho đến năm 1400 (175 năm), qua 12 đời vua với 3 lần chống giặc Nguyên Mông.

Sau đó Hồ Quý Ly bức Trần Thiếu Đế nhường ngôi cho nhà Hồ, và họ Hồ làm vua được 2 đời trong 7 năm từ năm 1400 đến 1407. Sau đó tiếp tục với nhà hậu Trần lên ngôi thêm 2 đời vua, được 7 năm từ 1407 đến 1414 mới chấm dứt.

14 năm sau từ năm 1414 đến năm 1427, kinh đô Thăng Long rơi vào tay giặc Minh. Lúc đó Lê Lợi người anh hùng áo vải đất Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa, đã giành thắng lợi sau 10 năm kháng chiến chống quân Minh, đánh đuổi giặc xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dựng cơ nghiệp nhà Lê và tồn tại 99 năm (từ năm 1428 đến năm 1527), qua 10 đời từ vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đến vua Lê Cung Hoàng.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung đưa quân vào Thăng Long ép Lê Cung Hoàng phải thoái vị nhường ngôi cho họ Mạc. Họ Mạc làm vua được 5 đời với 65 năm, đến năm 1592 nhà hậu Lê lấy lại ngai vàng, đưa Lê Thế Tông lên ngôi vua.

Tuy nói nhà Mạc làm vua được 65 năm, nhưng thật sự từ năm 1533 nhà Lê đã hợp cùng chúa Trịnh, khởi binh đánh nhà Mạc gần 50 năm, từ 1543 đến 1592, mở thế trận Nam – Bắc phân tranh. Quân Lê – Trịnh đóng binh từ Thanh Hóa trở vào nam, còn họ Mạc từ Thanh Hóa ra hướng bắc, không ai hoàn toàn làm chủ đất Đại Việt, gần như chia đôi đất nước.

Khoảng thời gian nội chiến Lê – Mạc, nhà Lê đã có mấy đời vua đóng tại Thanh Hóa như :

– Lê Trang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1549-1556), Lê Anh Tông (1557-1573), Lê Thế Tông (1573-1599).

Khi nhà Mạc mất, các đời hậu Lê đều bị chúa Trịnh phân chia quyền lực từ năm 1545 đến 1788 (243 năm). Các đời vua Lê từ Lê Trang Tông đến đời Lê Chiêu Thống (16 đời vua), sống cùng chúa Trịnh từ Trịnh Kiểm cho đến Trịnh Bông (12 đời chúa). Dân chúng sống dưới sự cai trị của vua Lê nhưng quyền hành lại vào tay của chúa Trịnh.

Vào giữa thế kỷ thứ 16 đất nước lại lâm vào cuộc nội chiến, giữa xứ Đàng Ngoài của chúa Trịnh với xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn đóng tại Phú Xuân.

Vì thế vào năm 1778 quân Tây Sơn chiếm được xứ Đàng Trong ở Phú Xuân, tiếp tục tiến đánh chúa Trịnh xứ Đàng Ngoài. Quân Tây Sơn lấy tiếng “phù Lê diệt Trịnh” được vua Lê cho can dự chính sự. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân vào năm 1786.

Sau chiến thắng đại phá quân Thanh ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu 1789 tại Đống Đa, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ xưng Hoàng Đế Quang Trung lấy Phú Xuân làm kinh đô và Thăng Long trở thành cố đô trong 156 năm.

Ngày 2/9/1945, dân tộc Việt Nam giành chính quyền từ tay thực dân Pháp, xóa bỏ triều đại phong kiến quân chủ, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và nay là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, lấy thành phố Hà Nội làm thủ đô cho đến ngày nay.

(Còn 2 kỳ)

Rồng trong bói toán

XEM HÌNH THỂ RỒNG

QUA BÓI TOÁN

VÀ THUẬT PHONG THỦY

– Bài Thiên Việt


Hình thể Rồng của người chết

Trong thuật bói toán phong thủy, đa số các ông bà thầy “tướng địa” thường dựa vào sự sùng bái rồng mà tính toán phương hướng. Như các nhà địa lý nhìn qua những mô đất, gò núi mà hình dung ra những phần của rồng. Nơi nào uốn éo gọi là long mạch, trên núi đồi gọi là sơn long, còn xem hình thể con sông dòng nước mà gọi là thủy long. Nếu ngọn núi có nhánh gọi là chi long (chân rồng), những điểm khác tùy theo hình dạng đặt tên can long, giả long, khứ long, tiềm long v.v…

Còn xem cho người sống khi cha mẹ qua đời để biết việc hợp khắc – kiết hung sau này, các thầy tướng số cũng dựa vào hình thể của rồng mà dự đoán tương lai, hậu vận cho thân chủ.

Đi sâu vào chi tiết trong chủ đề này, chúng ta nên biết :

1- HÌNH THỂ RỒNG

– Sách Kim Thử Thần Thư nói, phép coi “hình thể Rồng” gồm 12 cung có nội dung :

1- MÔI RỒNG : gặp địa chi năm hiện hành xung với địa chi năm sinh, thường gặp những sự bất tường, hoặc có tranh chấp từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội cộng đồng.

2- RÚN RỒNG : các anh chị em đoàn kết, thương yêu đùm bọc nhau khi sang lẫn khi hèn.

3- MẮT RỒNG : anh chị em đều phá gia nghiệp từ cha mẹ để lại, có người dâm gian, hay tranh chấp gia sản.

4- ĐUÔI RỒNG : gái làm ca kỷ, trai tứ chiến giang hồ. Nếu khắc tuổi cha mẹ có khi phải chịu thêm bệnh tật, hay phải tha phương cầu thực.

5- TRÁN RỒNG : con cháu được người đời trọng vọng, có chức vị cao trong xã hội.

6- MŨI RỒNG : con cháu được làm quan, có nhiều người dưới quyền lực. Người mệnh Hỏa hay Môc sẽ tốt về nghiệp võ, mệnh Thổ hay Thủy thích hợp cho nghiệp văn, còn mệnh Kim thuộc bán văn bán võ.

7- SỪNG RỒNG : cái miệng làm hại xác thân, thường gặp lôi thôi tranh cãi, kiện tụng, miệng tiếng thị phi.

8- TAI RỒNG : anh chị em thương yêu, giúp đỡ nhau.

9- LƯNG RỒNG : có đời sống hư hỏng, phá gia, phá sản, đa dâm, nghiện ngập.

10- CHÂN RỒNG : số phải tha hương ly tổ, nhiều gian truân, đời sống thường gặp khó khăn, nam sinh gian tà, nữ lâm đường kỷ nữ.

11- BỤNG RỒNG : con cháu có số vinh hoa phú quý, áo gấm về làng, phú quý suốt ba đời.

12- RUỘT RỒNG : có vinh hoa phú quý ba đời, tam đại một nhà, sống thọ, hưởng phước.

2- CÁCH TÍNH HÌNH RỒNG

Muốn xem cát hung trong hình thể Rồng qua nội dung trên phải gồm hai giai đoạn.

– Giai đoạn 1 –  tìm cung tử : tính Địa Chi năm sinh của cha hay mẹ đến hàng Địa Chi năm qua đời, tính bằng tam hợp cục và khởi tính từ MÔI RỒNG tại Tứ Mộ :

– Tuổi Thân Tý Thìn khởi tính Môi Rồng tại THÌN

–           Hợi Mão Mùi              –           –                  MÙI

–           Dần, Ngọ, Tuất          –           –                   TUẤT

–           Tỵ, Dậu, Sửu             –           –                    SỬU

Khi khởi tính đều bắt đầu từ cung Thìn, Tuất, Sửu hay Mùi như dã dẫn trên đây, theo chiều thuận tên 12 con giáp và quay vòng nếu đến Hợi, nếu chưa thấy hàng Địa Chi năm qua đời của cha hay mẹ, tiếp tục đếm tiếp từ cung Tý.

Theo bảng 1 sau đây :

– Giai đoạn 2 : Từ cung Tử của cha hay mẹ (theo hàng ngang), nếu con thuộc Dương Nam hay Âm Nữ (tức sinh vào năm Dương hay năm Âm, thí dụ năm Kỷ Sửu là năm Âm, thì Nam thuộc Âm Nam còn nữ thuộc Âm Nữ, nếu sinh Mậu Tý tức năm Duơng, thì Nam thuộc Dương Nam còn nữ thuộc Dương Nữ. Năm Dương theo Thiên Can gồm : Giáp – Bính – Mậu – Canh – Nhâm còn năm Âm theo Thiên Can gồm : Ất – Đinh – Kỷ – Tân – Quý . Nếu tính theo Địa chi cũng một năm Dương rồi đến một năm Âm, từ Tý đến Hợi), tiếp tục theo chiều thuận khởi tính từ Môi Rồng là năm TÝ, nếu là Âm Nam hay Dương Nữ đi theo chiều nghịch, khởi tính năm TÝ tại cung Tử, đến hàng Địa Chi năm sinh người xem là đúng cung trên hình thể Rồng.

Thí dụ : tính giai đoạn 1, cha hay mẹ tuổi Thân qua đời vào năm Ngọ, người xem là trai, tuổi Dậu.

Bắt đầu khởi tính tại cung Thìn (vì cha mẹ nằm trong tam hợp cục Thân Tý Thìn), tiếp tục đến cung Tỵ, cung Ngọ tức cung Tử (năm cha hay mẹ mất). Thìn là Môi Rồng, Tỵ là Rún Rồng và Ngọ là năm qua đời tại Mắt Rồng.

Tính xong giai đoạn 1 bước sang giai đoạn 2 (xem bảng 2) từ cung Tử là Ngọ : trai tuổi Dậu tức sinh năm Âm tuế tức Âm Nam.

Sinh vào các năm Âm tuế : Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Nam là Âm Nam, còn nữ  là Âm Nữ.

Sinh các năm Dương tuế : Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất . Nam là Dương Nam, nữ là Dương Nữ.

Âm nam, Dương nữ tính theo chiều nghịch tại cung Tử (mắt rồng) là năm TÝ ngược về Hợi, Tuất, đến Dậu. Mắt Rồng là Tý, Rún Rồng là Hợi, Môi Rồng là Tuất và Ruột Rồng là Dậu đúng hàng Địa Chi năm sinh người xem.

Ý nghĩa : đương sự được cha hay mẹ phù hộ, số có vinh hoa phú quý, hưởng phước, hưởng thọ lâu dài.

Cũng thí dụ trên, nếu là gái tức Âm Nữ, tính theo chiều thuận (Dương Nam – Âm Nữ) tính cung Tử từ Môi Rồng là năm TÝ (không phải tại Mắt Rồng như người Âm Nam – Dương Nữ), tiếp đến Rún (Sửu), Mắt (Dần), Đuôi (Mão), Trán (Thìn), Mũi (Tỵ), Sừng (Ngọ), Tai (Mùi), Lưng (Thân) và Chân Rồng (Dậu), đúng năm tuổi người xem.

Ý nghĩa : số phải ly tổ, có cuộc sống truân chuyên nhiều khó khăn, nữ có thể đi đến nghề kỷ nữ.

Rồng trong phong thủy

Nên ngoài “hình thể Rồng” để biết tính họa phúc, sang hèn, mọi người khi xây dựng hay an táng nơi nào trong hình thể rồng cũng đều tốt :

– Đầu rồng, sinh ra nhiều trí tuệ, đi làm quan đến chức thượng thư, có bộ não có tài ứng biến.

– Thân rồng, sinh ra sẽ phát đạt.

– Đuôi rồng, sinh ra làm tướng, tính tình thích vùng vẫy khắp chiến trường.

Có câu chuyện kể về một con rồng nằm ở miền Nam thời quân chủ. Một viên quan thuộc hàng nhất phẩm, đến chức thượng thư, có mời một ông thầy địa lý đến xem tư dinh của mình đang sinh sống thuộc vào thế đất nào.

Thầy địa lý liền phán, dinh thự nằm ngay đầu rồng rất tốt, nhưng con rồng này thân đoản, nên đuôi hay vẫy, e có ngày chạm phải đầu rồng, quan trên sẽ gặp tai biến đến bất ngờ. Nếu muốn sống yên ổn phải yểm đuôi nó, không cho vẫy vùng nữa.

Vị quan nhất phẩm nghe theo lời, nhờ thầy địa lý đến yểm nơi đuôi rồng đang nằm. Thầy liền đào thành một cái hồ rộng, yểm cây cột đá cao 9 thước nặng 9 tấn vào ngay đuôi rồng, không cho nó vùng vẫy nữa.

Thầy còn phán, để hợp cách, phải xem lại các ngôi mộ tổ, nếu xấu phải tìm một miếng đất tốt mà cải táng lại, chắc chắn sẽ được ngồi ở ghế thượng thư lâu dài.

Quan thượng thư lại nghe theo lời, cho thầy địa lý về quê tìm long mạch, long huyệt mà cải táng cho cha mẹ, để một đời làm chức vị to tát chỉ dưới một người còn trên trăm họ dưới quyền.

Ngày nọ, các quan trong triều muốn hạ bệ viên quan thượng thư, biết ông ta tin vào địa lý phong thủy, đem mồ mả cha mẹ cải táng lại tại long huyệt. Bèn cho người âm thầm đến quật mồ, tán bỏ hài cốt thành tro đem rải xuống hầm xí, quả đúng ngay sau đó viên quan không còn làm chức thượng thư được nữa.

Còn nói về huyền thoại, ai cũng biết vua được coi là Rồng, thân thể gọi là mình rồng, ghế ngồi được gọi là long ngai v.v… Khi Nguyễn Ánh diệt xong quân Tây Sơn, lên xưng đế lấy hiệu Gia Long; nhà vua liền đào mả cả ba anh em nhà Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, lấy hài cốt đem tán nhuyễn, rồi nhồi vào thuốc súng đại bác bắn ra biển.

Theo dã sử, là do các thầy địa lý vấn kế cho vua nhà Nguyễn, làm như thế là tiêu diệt gốc rồng của nhà Tây Sơn, tránh hậu quả nhà Tây Sơn khôi phục lại ngôi vị đã mất.

Qua các câu chuyện trên, thứ nhất nói về thế đất rồng nằm, thứ nhì nói đến âm trạch và dương trạch, mồ mả là âm trạch thuộc gốc rễ, còn đất đai nhà cửa là dương trạch, thuộc thân cây ngọn, ngành.

Gốc rễ không còn, thân cây sẽ khô héo rồi chết. Cho nên muốn được vinh hoa phú quý, mọi người cần biết đến hai phần vừa diễn giải là âm trạch và dương trạch.

Trong thuật phong thủy, việc sùng bái rồng là một đề tài lớn, nơi nào có rồng là nơi đó coi như mỏ vàng của các thầy địa lý – một là để dòng họ thụ hưởng, sau nếu có bán đi cũng kiếm ra hàng đống vàng.

Nhưng không phải ai táng vào long huyệt cũng gặp nhiều may mắn, cổ nhân có câu :

Con vua thì được làm vua

Con của sãi chùa chỉ quét lá đa.

Đồng thời theo thuyết nhân quả nhà Phật, đời trước gieo hạt xấu thì đời sau sẽ nhận quả xấu, dù có táng được huyệt Rồng. Bởi khi sống làm nhiều chuyện ác nhân thất đức, đời sau con cháu phải gánh trả hậu quả, như trong chuyện Quản Lộ đã kể.

Còn câu ca dao tục ngữ trên đây, có ý nói người có học, giàu có mới phát huy được những ý tưởng, còn người không học, nghèo khó thì dù có ý tưởng hay cũng không thực hiện được.

Nhưng nay có lẽ câu ca dao tục ngữ này đã lỗi thời, hay chỉ đúng một phần nhỏ người trong xã hội, khi không có ý chí phấn đấu vươn mình.

THIÊN VIỆT

(Kỳ sau : Mộ của các vua chúa)