KHAI QUANG ĐIỂM NHÃN LÀ GÌ ?

TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP

HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG

Tức “Khai Quang Điểm Nhãn”

Đây là một tài liệu về cách HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG tức thuật KHAI QUANG ĐIỂM NHÃN sưu tập được mà quên mất nguồn :

“Tượng Phật mới thỉnh về từ các tiệm buôn cần tẩy uế, hay rửa cho sạch bụi. Dùng một bát nước sạch có thêm hương liệu từ hoa tươi như cánh sen, hoa hồng, hoa lài v.v…, rồi đọc trì chú bài “Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha” (21 hay 27  tức đọc 9×3 lần) dùng với ấn Bảo thủ và kiết tường. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.

Trì chú Thanh Tịnh Pháp 7 hay 9 ngày. Dùng chỉ ngũ sắc kết lại thành dây. Ngũ sắc là năm mầu của ngũ hành: Vàng, Trắng, Đen (hay xanh da trời), Xanh lá cây, và Đỏ. Dùng chú tẩy uế rồi vừa kết chỉ vừa trì Lục tự Đại Minh Thần Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng”.

Sau khi đã đầy đủ, để kinh Bát Nhã phạn tự trên Kinh Đại Bi Sám Pháp, để Đại Bi Tâm chú phạn tự chồng trên kinh Bát Nhã, rồi cuốn tròn lại, cuộn sao cho thấy các chủng tử ở ngoài. Dùng dây chỉ ngũ sắc đã kết cột kinh lại. Có thể gấp lại và bỏ trong bao, dùng dây ngũ sắc cột miệng bao lại.

Vẽ 3 chủng từ Om Ah Hum (Phạn tự hay Tạng tự đều được) canh vẽ sao cho chữ Om nằm phần giữa hai lông mày, Ah ở miệng, và Hum ở cổ của tượng – khoản cách đều nhau. Hay in ra rồi lấy mực đỏ đồ lên. Khi vẽ chữ Om thì trì chữ OM, vẽ chữ Ah thì trì chú AH, vẽ chữ Hum thì trì chú HUM. Nếu tập vẽ các chủng từ, nên mang đi đốt.

Dùng giấy có Om Ah Hum dán ở trong lòng tượng đúng theo vị trí như trên. Để kinh đã cuốn dựng đứng trong lòng tượng. Để cho chữ viết đứng, đừng để ngược xuống. Niêm kín lỗ rỗng dưới lòng tượng lại. Phần này luôn trì “Nam Mô Thiên Thủ Thiên Nhãn – Quán Thế Âm Bồ Tát Linh Cảm Ứng”.

Tất cả vật dụng đều phải dùng chú để tẩy uế ! Sau đó đọc kinh an vị Phật (xem trong kinh nhật tụng)

Các tượng Phật Bồ Tát khác cũng làm như thế. Vẽ thêm chủng từ của vị Phật hay Bồ Tát của hình tượng ở phần đầu của chú Đại Bi Tâm phạn tự.

Hình Phật hay Bồ Tát cũng theo trên mà làm. Dùng nước thanh tịnh để lau chùi khung ảnh. Phần sau của hình thì vẽ các chủng tử Om Ah Hum như đã dẫn ở trên. Hay in ra dùng mực đỏ vẽ đồ lên các chủng từ rồi dán sau hình cũng được. Kinh và dây ngũ sắc để phía sau hình.

Đây là cách cho các bạn ở xa không phương tiện nhờ chư Tăng hay các thầy điểm nhãn cho hình tượng chư Phật hay Bồ Tát.

Hình tượng đã thờ lâu ngày không cần phải làm. Để đỡ tốn tiền mực, dùng hình kinh Bát Nhã phạn tự chữ đen trên nền trắng.

NHỮNG CÁCH KHÁC

Một cách khác của Thày Sương Mãn Thiên chỉ như sau : Tượng mới thỉnh về cũng làm sạch như đối với bát nhang. Các đồ trì chú cho vào tượng qua lỗ trống ở dưới đáy tương tự như khi cho vào bát nhang. Sau đó, dùng băng keo dán kín lỗ ở dưới lại. Lập đàn pháp của Tiên gia theo nghi quỹ sau :

Nghi thức cúng luyện phép :

Thường thường luyện vào các thời Tý – Ngọ – Mão – Dậu. Luyện theo trình tự như sau :

• Người luyện trước đó phải tắm rửa sạch sẽ.

• Thắp nhang 3 nén chắp tay cầm nhang theo hiệp chưởng ấn.

• Quán tưởng Linh phù như sau :

• Đọc CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI : (Ôm ram xóa ha) – 7 lần.

• Tịnh CHÚ TAM NGHIỆP : (ÁN SA PHẠ BÀ PHẠ – TRUẬT ĐÀ SA PHẠ –ĐẠT MA SA PHẠ – BÀ PHẠ TRUẬT ĐỘ HÁN) – 3 lần.

• Đọc CHÚ NIỆM HƯƠNG : (NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT) – 3 LẦN.

Nam mô hách hách dương dương.

Nhật xuất Đông Phương.

Vạn sự Thần Pháp kiết tường.

Hộ Thần đệ tử thủ chấp phần hương.

Họa Linh phù Tiên sư Tổ sư chứng giám.

Án Thiên linh linh.

Án Địa linh linh.

Ngã linh Thần phù lai ứng hiện.

Án Thiên viên – Địa phương – Thập nhị công chương.

Thần Phù đáo thử trừ Tà ma ,Quỷ mị bất đáo vãng lai.

Trừ bá bệnh ,trừ tai ương.

(Nam mô Phật tổ Minh dương Bồ tát ma ha tát ) – 3 lần. Xá 3 xá,sau đó cắm nhang trên bàn thờ.

• KIẾT ẤN HỘI TỔ : Bấm ngón tay cái vào ngón Tý của 2 lòng bàn tay, sau đó đưa lên bấm vào móng tay của ngón áp út, móc hai ngón trỏ và giữa vào nhau, ngón út dựng đứng.Đặt ấn Hội Tổ lên sát ngực và đọc CHÚ HỘI TỔ như sau :

• CHÚ HỘI TỔ :

(Nam mô Phật Tổ Như lai chứng minh.

Đạt ma Tổ sư chứng minh.

Nam mô Tam giáo Đạo sư Tam Thập lục Tổ.

Tổ Xiêm, Tổ Lèo, Tổ Miên, Tổ Mọi.

Mình dưới Châu giang – Bà lai đàng Chà.

Mẹ sanh, mẹ Lục, ông Lục Phật Tổ,Cửu Thiên Huyền nữ, Lỗ Ban chơn tử.

Thập nhị Thời Thần. 12 vị Thần Bùa, Thập lục ông Tà bà Tà, bà Lục.
Cảm ứng chứng minh cho Đệ tử là ….. – TUỔI …. đã thông Huệ Tâm, Huệ Nhãn, Huệ Nhĩ, Huệ Thiệt, Huệ Khẩu đắc quả Linh phù cứu Thế, trợ Dân)
– 3 lần.

• Xả ấn hội tổ lên trên đầu để khỏi đánh trúng các vong linh vô tình đứng gần.

• Đọc xong xá 3 xá.

• THỈNH TỔ LỖ BAN :

(Nam mô vạn Pháp Lỗ Ban.

Nam mô Tiên sư Lỗ Ban.

Nam mô vần vận chuyển.

Nam mô thanh tịnh vận chuyển .

Chư Thần vãng lai trợ trì Đệ tử … – Tuổi …. luyện phép cứu nhân độ Thế.

Sâm ăn băn khoăn – Ba ra rơ tá – Bơ rơ bơ rơ mặc mặc – Cẩn thỉnh Thần minh bảo trì cấp cấp như luật lệnh.) – 3 lần.

• Trong khi đọc Quán tưởng BÙA LỖ BAN như trên.

CHÚ KHAI QUANG – ĐIỂM NHÃN .

Lấy một thau nước sạch – Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm.
Nhúng ông Địa hay Thần Tài vào tắm. Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng. Cúng nhang, nến, nước lạnh cho tượng Phật hay rượu cho tượng Thần.
Bắt ấn Tý và đọc chú khai quan

CHÚ KHAI QUANG :

Phụng thỉnh Thổ Địa chi Thần

Hoặc – Phụng thỉnh Tài Thần.

Giáng hạ tại vị chứng minh –Kim vì ấn chú tên là ….Tuổi… Phát Tâm phụng thờ cốt vị. Xin ngài giáng hạ nhập vô – Hồn nhãn nhập nhãn – Hồn nhĩ nhập nhĩ – Hồn tâm nhập tâm – Túc bộ khai quờn –Tâm can, tì phế, thận – Cấp cấp linh linh.

Sau đó cầm ba cây nhang chỉ vào từng chỗ mà đọc :

Điểm nhãn nhãn thông minh .

Điểm nhĩ nhĩ thinh thinh.

Điểm khẩu khẩu năng thuyết.

Điểm phủ túc thông hành.

Cấp cấp như luật lệnh.

Khi quán tường tập luyện nhìn đèn cầy, nhìn nhang sao cho lá Bùa lọt toàn bộ vào trong ánh lửa. Khi luyện phép xong phải nói 3 lần : Tống Thần –Tống Thần – Tống Thần.

MỘT SỐ LÁ PHÙ CẦU TÀI

(có thể bỏ vào tượng hay dán trên bàn thờ).

Cách làm như trên thuộc phái Lỗ Ban của Đạo Tiên Gia. Còn theo Mật Tông thì sau khi đọc xong nghi quỹ của bổn tôn, các bạn chỉ cần trì 21 biến của BẠCH Y THẦN CHÚ, LỤC TỰ MINH CHÚ HAY CHUẨN ĐỀ… vào tượng. Sau cùng là hồi hướng cho các chư vị Thần là xong .

Trên đây là những hiểu biết cần thiết về bàn thờ Ông Địa – Thần Tài . Những điều đó chỉ giúp các bạn có khái niệm và những việc cần phải làm khi lập bàn thờ. Khi lập bàn thờ nên nhờ các vị có chuyên môn cao, đức hạnh trọng làm cho thì bàn thờ mới được linh nghiệm, đủ sức giúp cho thân chủ làm ăn phát đạt. Và điều sau cùng chúng tôi muốn nhắn nhủ các bạn : “CÓ ĐỨC MẶC SỨC MÀ HƯỞNG”, tu thân, tích đức mới là mọi nguồn suối của hạnh phúc. Chúc các bạn thành công. Thân ái.

GIẢI THÍCH THÊM

Bát nhang, Thần Tài – Ông Địa, ông Cóc trước khi đem thờ cúng bắt buộc phải qua công đoạn Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang). Thực chất đây là việc cung cấp cho các vật thờ cúng một nguồn năng lượng ban đầu và sau này trong quá trình thờ cúng, năng lượng đó ngày một tăng trưởng khiến cho độ linh thiêng ngày càng cao. Như vậy việc Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang) là làm tăng Linh khí của pho tượng và bát nhang trước khi thờ cúng.

Các Pháp Sư có những bài Chú hay những linh phù mượn sắc lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, làm “Phép Trấn Thần” vào bát nhang hay ảnh tượng mới mua (thỉnh) về, nhằm không cho các vong linh hỗn tạp tá vào. Sau đó sên bùa hay dùng Thần Chú để gia trì vào tượng hoặc hình, cuối cùng dùng sắc lệnh đó để Hô Thần Nhập Tượng. Khi gia trì thì sẽ được nguyện lực của Thần Chú sên vào tượng hoặc hình, vì vậy mới có các vị theo chứng minh cho thân chủ khi van vái cúng bái và tạo được linh khí để có thể giúp đỡ cho họ. Nếu không thì chỉ là một tượng hoặc hình bình thường mà thôi, có thể dùng để An Tâm (Khai Quang Điểm Nhãn là làm tăng linh khí cho pho tượng chứ không phải điểm nhãn cho các vị Phật – Tiên – Thánh – Thần. Mỗi vị đều có 1 bài Chú thỉnh riêng).

Ngưới Á Đông chúng ta rất tin tưởng vào vấn đề tâm linh, 1 bức tượng, 1 vật thể, nếu gọi đúng tên, đúng lúc thì sự linh thiêng sẽ ứng nghiệm. Sự cầu khẩn đó ứng nghiệm không phải là ngẫu nhiên mà các vật thể đó đã được vị Thầy làm cho trở nên linh vật, huyền bí. Như vậy, việc khai mở một vật từ vô tri trở nên linh thiêng thì phải có những vị Thầy biết được bộ môn Khai Quang Điểm Nhãn, tức là phải biết mật mã để khai mở (Nếu không có khả năng Khai Quang thì 1 bức tượng chỉ là 1 khối đồng, 1 khối đất mà thôi ). Sự khác biệt giữa vật vô tri và vật linh thiêng là nhờ các Thầy Pháp Sư đọc Thần Chú, cộng thêm những nguyên tắc về tâm linh. Đi sâu vào vấn đề này rất phức tạp.

Vấn đề Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang), có nhiều ý kiến, chúng tôi xin ghi lại cho các bạn một số tài liệu để tham khảo .

“Khai: mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu.

Quang: sáng.

Khai Quang : là lễ dâng cúng Đức Phật (Khai Quang còn có nghĩa là Lễ Điểm Nhãn cho tượng Thần, Phật. Cũng có một số quan niệm hòa đồng cùng lễ Hô Thần Nhập Tượng ).

Điểm Nhãn : là lễ vẽ con mắt Phật.

Tóm lại, Khai Quang là khai mắt cho tượng Phật. Khi vẽ xong 1 tượng Phật, khi tạo xong một cốt Phật, trước khi thờ phượng, người ta làm lễ, niệm kinh, đọc Chú và điểm vào cặp mắt Phật, ấy là lễ Khai Quang. Cũng gọi là lễ Khai Quang Điểm Nhãn (Khi một tượng Phật được đắp và tô vẽ xong, đem tượng Phật đặt đúng vị trí rồi lựa ngày tổ chức lễ Khai Quang Điểm Nhãn cho tượng Phật, sau đó mới bắt đầu thờ cúng tượng Phật).

Vấn đề Khai Quang Điểm Nhãn :

” Khai Quang ” và ” Điểm Nhãn ” là 2 vấn đề hoàn toàn khác biệt với nhau trong một Nghi Thức Phật Giáo.

1. Điểm Nhãn :

Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì “Điểm Nhãn” không hề dính líu gì đến Nghi Thức Phật Giáo mà phát xuất từ giới họa sĩ của Trung Quốc thời xưa. Họ quan niệm rằng trong những bức tranh vẽ về người hay thú vật, tài nghệ của người họa sĩ được thể hiện qua việc vẽ con mắt. Họa sĩ chân tài thì vẽ con mắt có “Thần”, làm cho bức tranh linh hoạt, sống động, y như thật. Thế nên trong một họa phẩm, con mắt thường được vẽ cuối cùng và nếu như người họa sĩ này tôn trọng một bậc họa sư nào đó trong vùng thì cố thỉnh mời cho được vị này đến để “Điểm Nhãn” , tức là hoàn thành nét vẽ cuối cùng của bức tranh : con mắt.

Việc này lấy từ Điển Tích Vẽ Rồng Điểm Nhãn của Trung Quốc :

– “Lương Võ Đế sùng mộ việc trang hoàng Chùa Phật, nên thường sai Tăng Dao họa nơi các Chùa; Chùa An Lạc ở nơi Kim Lăng có vẽ 4 con rồng trắng song không có vẽ mắt. Tăng Dao thường bảo nếu chấm vẽ mắt rồng (Điểm Nhãn) thì nó sẽ bay đi. Người ta cố nài chấm vẽ mắt.

Trong chốc lát, sấm sét nổi lên phá vỡ bức tường, 2 con rồng cỡi mây bay lên trời, còn 2 con chưa vẽ mắt vẫn ở chỗ cũ” (Theo Lịch Đại Danh Họa Ký Đời Lương).

Do đó, trong quảng đại quần chúng mới ứng dụng Điển Tích này trước khi bắt đầu Lễ Hội Múa Lân Sư Rồng : Trước khi ” Khai Trương ” một con Lân mới, họ phải làm lễ “Khai Quang Điểm Tinh” tức là “Điểm Mắt Cho Lân” (Khi chế tạo đầu Lân, các nghệ nhân bao giờ cũng chừa lại 2 con mắt). Lân sau khi hoàn thành tại cơ sở sản xuất, thì phải tới Chùa hoặc trước bàn thờ Sư Tổ để làm lễ “Tinh Điểm Khai Quang” trước khi đem biểu diễn.

Sau khi lựa ngày tốt, các chú Lân – Rồng sẽ thực hiện Nghi Thức “Khai Quang Điểm Nhãn” với 1 dấu chấm CHÂU SA vào Giữa Trán hoặc Lưỡi để chính thức hoạt động. Cúng Tổ và điểm mắt rồi thì Lân – Rồng mới “sống dậy” và múa được; Khi Lân – Rồng đã cũ, thì người ta đốt cháy nó để “trả lại cho Trời”… Như vậy việc “Điểm Nhãn” là như thế.

2. Khai Quang :

Khai Quang theo như chúng tôi được biết là một phần nằm trong Nghi Lễ An Vị Phật. Một số Phật tử khi mới thiết lập bàn thờ Phật trong gia đình, hay khi thỉnh tôn tượng của Phật hay Bồ Tát về thờ, thường mời quý Thầy đến làm lễ an vị Phật, trong đó có Nghi Thức Khai Quang. Cũng có khi Phật tử mang những tôn tượng này đến Chùa để nhờ 1 vị Thầy Khai Quang dùm.

Nghi Thức này bao gồm các điểm chính yếu như sau : Vị Thầy dùng cái Kính đàn (Tức là kính soi mặt mới mua về chưa có ai soi vào đó ), 1 chén nước và 3 nén hương. Tôn tượng đó được phủ bằng 1 tấm vải vàng, sẽ được vị Thầy chủ lễ vừa đọc kinh vừa từ từ kéo ra và làm những công việc cụ thể như chiếu kính vào bức tượng, rảy nước… đồng thời vừa đọc Chú vừa lấy tay vẽ chữ “Án” (OM) bằng tiếng Phạn (Theo người Atlantis : Thượng Ðế là đấng tối cao, ít khi được nói đến tên, mà chỉ tôn xưng là Ngài. Khi cần cầu đến Thượng Ðế thì chúm môi lại tròn như chữ o và phát âm thanh “o” để chỉ mặt trời, và ngậm miệng lại phát âm thanh “om” (Nhiều câu chú trong kinh Phật có chữ “Ôm”, ta thường đọc là “Úm” hoặc “Án”). Nếu được như thế thì đó là căn nguyên của tiếng “Om” trong khi thiền vậy).

Nghi thức “Khai Quang” tựu chung là như vậy và quý Thầy của tất cả các tông phái Bắc Tông, Nam Tông và Mật Tông của VN đều sử dụng Nghi thức này nếu có yêu cầu của Phật tử.

Advertisements

ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN 2554

TÌM HIỂU THÂN THẾ

ĐỨC THÍCH CA MÂU NI

Hàng năm Phật Giáo lấy ngày rằm tháng 4 ÂL làm ngày đại lễ Phật Đản, tức ngày lễ lớn của các Phật Tử kỷ niệm ngày khai sinh ra Đức Thích Ca Mâu Ni.

Thân Thế của Thái Tử Tất Ðạt Ða

Ðức Phật Thích Ca tên là Tất Ðạt Ða, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Ðạt Ða. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ-la-vệ. Mẹ Ngài là Ma-Gia hoàng hậu. Nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía đông bắc thành Ba-la-Nại, phía nam nước Népal.

Thái tử sanh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng hai Ấn-độ, tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu, vào năm 544 năm trước Tây-lịch. Như vậy đến năm 1962 là đúng với Phật-lịch 2,506. Ngài sanh dưới cây vô-ưu, trong vườn Lâm-Tỳ-Ni trong khi Bà Ma-Gia đang dạo chơi vườn cảnh.

Thái Tử và Lời Tiên Ðoán của A Tư Ðà

Khi Thái tử sanh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sanh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A-Tư-Ðà đến đoán tướng Ngài nói rằng : Thái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phật Tổ.

Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày thời bà Ma-Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho người dì tên là Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo-sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.

Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quí, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những tòa lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn-Ðộ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn-hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng Ngài không bao giờ say đắm, trên mặt luôn luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người. Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.

Thái Tử Lập Gia Ðình

Ðến 17 tuổi, Ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da-Du-Ðà-La. Theo tục quý phái xưa, Thái tử đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da-Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ ngài. Thái tử (và công chúa) sanh được một người con tên là La-Hầu-La.

Vì có lời tiên đoán của ông A-Tư-Ðà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phạn để cho Thái tử du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.

– Cảnh khổ thứ nhất : Sống là khổ. Một hôm Ngài theo vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khổ đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. Ngài thương chúng sanh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.

– Ba cảnh khổ của cuộc đời : Già, bịnh, chết. Lần sau Ngài lại xin phép Phụ vương ra cửa thành dạo chơi. Lần thứ nhứt Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lần thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ đoanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.

Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sanh, Ngài luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến những nỗi đọa-đày lầm than của chúng sanh, và Ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sanh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sanh thoát khỏi đau khổ.

– Cảnh giải thoát. Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một Vị Sa-môn thanh cao bình-tỉnh. Ngài hỏi rằng: ỗNgài là ai?ỗ Vị Sa-môn đáp: “Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chếtỗ . Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ xuất gia tìm đạo là phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi bể khổ mênh mông.

– Thái tử xuất gia. Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da-Du-Ðà-La ngõ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi-nữ hay bịn-rịn có thể ngăn trở ý-định, Ngài chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa-Nặc, thắng ngựa Kiền Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mãi ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng hai.

Kết Luận

Trong lịch sử Phật Giáo nói, khoảng năm 560 đến 482 trước công nguyên (Tr.CN) ở Ấn Độ. Siddhartha Gautama là tên vị hoàng tử của một vương quốc nằm phía bắc Ấn Độ (nước Ấn Độ thời bấy giờ cũng đang bị chia năm xẻ bảy). Năm ngài 29 tuổi sau những buổi đi thị sát thực tế ngoài dân chúng, hoàng tử thấy cuộc đời đầy sự đau khổ, đời sống giữa người nghèo và người giàu quá chênh lệch, mà người nghèo lại chiếm đại đa số trong xã hội.

Bấy giờ xã hội Ấn Độ được chia làm bốn giai cấp :

– Bậc thứ nhất : các tu sĩ đạo Bà La Môn làm chủ, coi riêng việc tế tự.

– Bậc thứ hai : giới Lý Đế Lợi tức các nhà quý tộc làm chủ, coi về chính trị hành chánh.

– Bậc thứ ba : là Phệ Xá tức hạng người trưởng giả giàu có, giới địa chủ chuyên áp bức kẻ dưới.

– Bậc thứ tư : là người nghèo lao động, hạng cùng đinh chỉ đi làm nô lệ cho địa chủ, là thành phần đông đảo nhất.

Vì thế hoàng tử Gautama muốn đi tìm ý nghĩa chân thật của cuộc sống, ngài đã từ bỏ địa vị vương gia, bỏ lại ba người vợ và một con trai, đi đến núi Toàn Sơn tìm đường tu khổ hạnh như người cùng đinh.

Trải qua nhiều chông gai thử thách, ma quỷ cám dỗ nhưng ngài nhất quyết nhập định tại gốc cây bồ đề tại làng Bihah.

Năm 528 Tr.CN, ngài thấy sự soi sáng mà ngài đang tìm và hiểu nguyên nhân của sự đau khổ, rồi ngài truyền dạy triết lý Buddha (có nghĩa tâm linh được soi sáng) cho các đệ tử xong thì đi vào cõi niết bàn. Trước lúc viên tịch ngài đã thốt lên câu “Nay ta đã lên cõi Niết Bàn, nghĩa là lên đến chỗ cực lạc của thế giới”.

Từ đó triết lý Buddha ra đời, người ta gọi vắn tắt là đạo Phật, đặt tên ngài là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni); Truyền thuyết Phật Giáo cho rằng ngài là con của Đức Phật Tổ Như Lai giáng thế.

Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các đệ tử của ngài gom góp các triết lý, các di ngôn lại thành 3 quyển sách gọi là kinh Tam Tạng (Tạng có nghĩa là chứa, Tam Tạng là các lời Đức Phật nói chứa vào trong ba quyển kinh này) gồm : Kinh tạng (những lời về luân thường đạo lý), Luật tạng (những lời về giới cấm) và Luận tạng (những phát triển trong triết lý đạo Phật).

Hiện nay Phật giáo chia làm 2 nhóm tu : nhóm Tiểu thừa tu rất đơn giản và nhóm Đại thừa có nhiều sắc thái phức tạp.

Trở lại với ngày sinh của Đức Thích Ca Mâu Ni, có sách ghi ngài sinh vào ngày mùng 8 tháng 4 ÂL nhưng tính theo lịch mới của Grégorius (thế kỷ XVI) thì lệch đi 7 ngày so với âm lịch. Nên các nước điều chỉnh ngày theo lịch mới và ngày sinh của Đức Phật nhằm vào ngày rằm tháng 4.

Theo truyền thuyết trước lúc Hoàng Hậu mang thai ngài, bà nằm mộng thấy một người vàng đến đầu thai mà sinh ra ngài (có sách viết, bà nằm mộng thấy một một con voi trắng có sáu ngà biến thành hào quang soi vào bụng, rồi bà mang thai đủ 10 tháng. Đến lúc sinh bà thấy bên sườn phía phải có một bông sen nở ra để đỡ ngài lên, rồi có hai con rồng phun nước tắm cho ngài và có bách thần xuống chăm sóc.

Khi mới lọt lòng da ngài màu vàng, còn lông tóc dựng ngược đã biết đi bảy bước, một tay chỉ trời một tay chỉ đất mà nói : “Trên có trời, dưới có đất, duy có ta là quý hơn tất cả”)

Trong ngày Lễ Phật Đản, các chùa cử hành lễ rất trọng thể, các Phật tử cung kính ngồi nghe các Hòa Thượng, Thượng Tọa thuyết giảng kinh Phật. Còn ở gia đình họ dâng hương lên bàn thờ Phật với tấm lòng mộ đạo.

Lễ Phật Đản chỉ có dâng hương và nghe kinh tại các chùa, ngoài ra không có không khí hội hè như Lễ Giáng Sinh của người theo đạo Thiên Chúa.

Khôi Việt

TU VIỆN PHẬT GIÁO TẠI  BHUTAN

Nhân ngày đại lễ Phật Đản 2554 sắp đến (15/4 ÂL), chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc những công trình kiến trúc Phật Giáo đặc sắc và hùng vĩ nhất. Đó là tu viện mang tên Tiger’s Nest (Paro Taktsang) ở đất nước Bhutan, thực sự đ ã  khiến du khách khắp nơi chỉ một lần ghé qua là phải nhớ mãi.

Nhắc đến các công trình kiến trúc Phật giáo thì điều đầu tiên hiện ra trong suy nghĩ của nhiều người sẽ là một ngôi đền hoặc tu viện. Và một trong số đó trở nên rất nổi tiếng là tu viện Phật giáo Taktshang được xây dựng tại đất nước Bhutan.

Tu viện này nằm “chênh vênh” trên độ cao 3.108m so với đồng bằng Paro. Xây dựng từ năm 1692, tu viện Tiger’s Nest là một trong những địa điểm tín ngưỡng tôn giáo đặc sắc nhất đất nước Bhutan. Từ “Taktshang” dịch ra nghĩa là “Tu viện ẩn náu của hổ”, và “ẩn náu” đằng sau tu viện hùng vĩ này là cả một huyền thoại “sống”.

Truyện kể rằng khi xây dựng tu viện Taktshang từ thế kỷ 18, một nhân vật có thật trong lịch sử tên Guru Rinpoche được so sánh với vị Phật sống thứ hai bởi tài năng cũng như đức hạnh của ông về đạo Phật, danh tiếng của ông cùng tài truyền bá tư tưởng Phật giáo trải dài từ Tibet tới Bhutan. Trong mắt của những người mộ đạo thì vị Phật “sống” này có những sức mạnh kỳ bí khó lý giải liên quan đến khả năng tiêu diệt tà ma quỷ dữ.

Yeshe – vợ của vị vua đương triều cũng gia nhập những người sùng bái Guru Rinpoche, và cầu xin được biến thành một con hổ cái tình nguyện chở Phật trên lưng bay tới nơi Tu viện đang được xây dựng bây giờ. Một trong những hang động ở đây là nơi để Phật ngồi thiền và trầm ngâm, sau đó hang động đó trở thành địa điểm được tôn thờ nhất trong quần thể tu viện đồng thời cái tên “Tu viện ẩn náu của hổ” ra đời từ đó.

Vào ngày 19/4/1998 tại đây đã xảy ra một vụ hỏa hoạn thiêu trụi toàn bộ mái của tu viện, khiến chính phủ Bhutan phải bỏ ra một khoản tiền lớn để sửa chữa lại phần hư hỏng làm sao cho giống với nguyên bản nhất. Công việc vất vả đòi hỏi sự kiên nhẫn này kéo dài 1 năm và tới 2005 thì hoàn thành.

Ngày nay du khách có thể tới thăm quần thể Tu viện Taktshang bằng cách cưỡi la hoặc đi bộ trên những con dốc gần như dựng thẳng đứng, đặc biệt nếu không phải là người dân nơi đây thì du khách buộc phải được sự cho phép đặc biệt và đi kèm với hướng dẫn viên. Nhưng một khi đã bắt đầu chuyến du ngoạn bằng đường bộ thì du khách có thể tận hưởng cảm giác gần gũi với thiên nhiên trong phong cảnh núi rừng hùng vĩ. Tuy nhiên nếu không quen leo núi thì lời khuyên tốt nhất là hãy dùng ngựa hoặc la.

Du khách cũng phải kiên nhẫn trong chuyến đi dài để có thể tận hưởng cảm giác muốn chinh phục Tu viện cổ kính này, người leo bộ hay đi bằng lừa, ngựa cũng không thể nhìn thấy bóng dáng của công trình bởi nó đã bị cây cối che lấp. Bố trí dọc đường đi sẽ có một quán ăn nhỏ và đây là điểm ngắm cảnh lí tưởng cho những người thích dừng chân nán lại, những gì du khách nhìn thấy ở điểm dừng chân này sẽ tạo cảm giác hưng phấn hơn cho mọi người. Và từ đây du khách sẽ phải chuẩn bị tinh thần để “chinh phục” đoạn đường gập ghềnh khó khăn hơn toàn đá, thác nước và cảm nhận sự khác biệt giữa những hình ảnh mờ ảo nhìn ở dưới và sự đồ sộ của Tu viện khi tới gần hơn.

Điều gây ấn tượng và đáng nhớ nhất về công trình kiến trúc mang đậm tín ngưỡng phương Đông này đó là sự khác biệt giữa bốn ngôi đền trong tu viện, một ngôi đền được cho là nơi Phật Guru Rinpoche “trầm tư” trong 3 tháng và là nơi sinh ra của một trong những Lạt ma đứng đầu Tu viện.

Lời khuyên dành cho du khách đó là nên nghỉ ngơi và giữ sức để có thể đi xuống núi. Nếu ban đầu đi bộ lên thì chắc chắn du khách sẽ kiệt sức khi trở về, nhưng sự quyến rũ của quần thể Tu viện Taktshang này không ai có thể quên được.

Bui Viem

CÓ MA TRÊN ĐỜI THẬT KHÔNG ?

NHẬT KÝ CỦA CÔ BÉ THÚY AN

TGTL : Một truyện ngắn được gửi đến trang “Thế Giới Tâm Linh”, thật sự ban đầu tôi nghĩ đây là một câu chuyện cảm động của tuổi học trò, nhưng thực tế lại là một chuyện viết về thế giới tâm linh, có thật. Trong đó tác giả Phương Lan có lồng vào ít đoạn thời sự của những ngày trước năm 1975, nhưng chủ đề vẫn là đề tài đề cập đến thế giới vô hình, như cô nữ sinh Thúy An đã được dự báo điềm xấu sẽ đưa đến… Mời các bạn cùng đọc.

Thiên Việt

– Truyện của Phương Lan

Em có nghe tiếng kêu la trong suốt

Tuổi đôi mươi nhiều mơ ước yêu thương

Không tình yêu, chưa một lần ân ái

Hiến dâng đời tất cả cho quê huơng

… Và em có nghe giữa trời lồng lộng

Gió sững sờ chứng kiến cảnh tang thương

Giữa quê hương tràn đầy muôn xác chết

Máu lệ chan hòa, tiếng khóc thê lương

( Thơ Mặc Khách )

Tháng 11, năm 1972

Khai trường đã mấy tháng nay rồi, nhưng không khí học hành vẫn có vẻ uể oải, không phải bọn học trò chúng tôi còn luyến tiếc những ngày nghỉ hè đâu, nhưng bị ảnh hưởng của thời cuộc, chiến tranh lan tràn nên không còn tâm trí đâu mà học hành hăng hái như xưa.

Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh nên đầu còn xanh, tuổi còn thơ mà đã sớm biết ưu tư. Đêm nằm nghe tiếng súng đại bác từ xa vọng về, lòng tôi không khỏi lo sợ và ray rứt xót thương cho những người vừa gục xuống. Ôi quê hương khốn khổ! bao giờ mới chấm dứt chiến tranh, để mọi người được sống yên vui?

Tháng 3, năm 1973

Sau mùa hè đỏ lửa năm ngoái, người chết nhiều quá, nhà nào cũng có thân nhân hoặc gần, hoặc xa bị chết trong lửa đạn, không khí tang tóc bao trùm khắp nơi. Lệnh tổng động viên ban hành, gia đình nào cũng có người phải đi lính, không chồng thì cha, hoặc con em phải lên đường tòng quân, thi hành nghĩa vụ công dân. Trường tôi cũng  có vài nam giáo sư trẻ vừa nhận được giấy gọi trình diện nhập ngũ. Không khí xao động, chúng tôi chẳng còn tâm trí đâu mà học hành, đến lớp, bài vở không lo, chỉ túm năm, tụm ba bàn chuyện chiến sự, anh em bạn bè đi lính ai còn, ai mất…

Tháng 12, năm 1974

Trường Trưng Vương nghe đồn là có ma, chẳng ai biết thực hư ra sao,  nhưng chẳng một ai trong bọn chúng tôi thấy ma lần nào cả, cho tới một hôm… Sau giờ toán hắc búa với thầy Nguyễn Tá, trống ra chơi vừa điểm, bọn chúng tôi ùa ra khỏi lớp, tôi cùng các bạn xuồng cầu thang để ra sân trường. Khi xuống hết chân thang thì tôi trông thấy bọn họ đang đi dọc theo hành lang ở phía dưới, một bọn ba người, hai nam và một nữ, cô gái mặc đồng phục học trò như chúng tôi. Thoạt trông họ không có gì khác lạ cả, chỉ trừ việc hai chàng thanh niên kia, làm sao họ lọt vô đây được ? đi khơi khơi giữa một đám đông toàn là nữ sinh mà không gợi sự tò mò của mọi người, quả là một sự lạ lùng. Nhưng hình như không ai trông thấy bọn họ cả, chỉ trừ mình tôi, tôi nhìn họ chăm chú vì thấy họ có một vẻ gì hơi khác với người bình thưòng.

– Này ! nhìn xem ba người kia đang đi trên hành lang, trông họ giống ma quá.

Tôi buột miệng kêu lớn lên lên như thế, thật là một điều không nên, quả vậy,  Hạnh cười ầm lên :

– Ma à ? mày có điên không ?

Diễm thì không nói gì cả, nhưng nó nhìn tôi bằng ánh mắt chế diễu, cả hai đứa như muốn nói :

– Con này đang hoá khùng, ma gì giữa ban ngày ?

– Nhưng tụi bay có nhìn thấy họ không ? hai người con trai và một cô gái mặc áo dài xanh đồng phục ?

– Mày nói gì thế? Diễm hỏi, tao không nhìn thấy đứa con trai nào hết, còn đứa con gái nào ở trường này mà chẳng mặc đồng phục xanh ? hôm nay thứ Hai là ngày chào cờ mà ?

Bây giờ thì tôi bắt đầu hiểu, chỉ một mình tôi trông thấy bọn họ thôi, những người khác không ai thấy cả. Tóc gáy tôi dựng ngược và mồ hôi lạnh chảy dài suốt dọc tấm lưng, nhưng rồi cảm giác sợ hãi đó biến đi nhanh chóng, nhường chỗ cho một trạng thái lạ lùng chưa từng có. Tôi có cảm giác như người đang sống trong một giấc mơ, mọi vật chung quanh đều mờ dần… Bất thình lình cái hành lang dưới chân thang trở nên tối om và dơ bẩn, một trận gió mạnh thổi suốt dọc hành lang, đem theo cát bụi từ ngoài sân.  Rồi một thứ ánh sáng kỳ lạ được thắp lên, và tôi có thể phân biệt hai loại người đang ở trong hành lang : một loại như bọn tôi – những người sống – thì trở nên những bóng mờ, một loại như bọn họ – những con ma – thì trở nên trong suốt và sáng rực. Tôi có thể nhìn thấy họ thật rõ ràng, trông họ hiền lành và không có vẻ gì là đe doạ cả, họ đứng ngay dưới chân thang và đang nói chuyện với nhau, tôi chú ý nhưng không nghe được tiếng nào. Tôi kéo tay Hạnh :

– Nhìn kìa ! cô gái có mái tóc thề, người thanh niên cao lớn, đeo kính trắng và anh kia mập, tóc húi cua. Chúng mày có trông thấy họ không ?

Giọng tôi vang lên như từ một nơi xa xôi hoặc như giọng một người xa lạ nào đó, không ai trả lời. Bỗng ánh sáng đổi trở lại, tất cả đều trở nên bình thường như lúc trước. Tôi quay lại và nhìn vào những người bạn tôi và cả những học sinh khác, trông họ bình thản, tôi chắc chắn rằng không ai nhìn thấy cảnh tượng đó như tôi đã nhìn. Tôi thở ra một hơi dài :

– Dẹp chuyện đó đi, chúng mình vô lớp thôi, nhanh lên kẻo trễ !

Khi tan học, Diễm và Hạnh dường như quên hoàn toàn câu chuyện hồi sáng, nhưng tôi không thể nào quên được, vì những ngày sau đó tôi còn nhìn thấy bọn họ nhiều lần nữa. Có vài lần, người thanh niên cao lớn nhập bọn với chúng tôi bước trên hành lang, và một lần tôi trông thấy cô gái tóc thề ngồi sát bên cạnh Diễm, ngay giữa lớp học… Nhưng tôi đã được một bài học là không nên nói chuyện ma quái này với bất cứ ai thêm nữa, chắc chắn chỉ làm trò cười cho mọi người, không ai tin tôi cả, họ còn bảo tôi điên là khác. Nhưng thật sự tôi không cảm thấy sợ những con ma này tí nào, bọn họ có vẻ quen thuộc với ngôi trường này lắm và cũng tỏ ra tử tế, không doạ nạt ai cả.

Một ngày, tôi phải ở lại trường trễ một chút để sửa lại cái xe đạp bị tuột xích. Học trò đã ra về cả, sân trường vắng hoe, bất thình lình tôi thấy cô ta đứng ngay cạnh tôi trong nhà để xe, tôi muốn nói cô gái tóc thề, cô ta vẫn mặc đồng phục xanh mặc dù hôm nay không phải thứ Hai. Cô ta cố gắng để nói chuyện với tôi, chỉ thấy miệng cô ta mấp máy, nhưng tôi không nghe thấy gì hết. Tôi hỏi :

– Chào chị ! tên chị là gì ?

Nhưng cô ta dường như không nghe tôi hỏi, chúng tôi cứ đứng nhìn nhau một lúc khá lâu, không biết cách nào có thể giao tiếp… Chợt một ý tưởng đến với tôi, cô ta có thể đọc được những ý nghĩ của tôi, biết đâu đấy ? thế là tôi vội im bặt, cố hết sức tập trung tư tưởng, hỏi rằng :

– Chị là ai?

Quả là hiệu nghiệm, cô ta cũng ngừng mấp máy môi, và tôi đọc được câu trả lời :

– Tôi là Nguyễn Thị Bích Vân, còn chị tên g?

– Vũ Thúy An ! Tôi trả lời cũng bằng cách tập trung tư tưởng, đã nhiều lần tôi nhìn thấy chị và hai anh kia, nhưng các bạn tôi không tin như vậy.

– Phải rồi, họ không tin rằng linh hồn có thể hiện ra thành hình ảnh, họ không tin là có một thế giới khác, một thế giới siêu hình, nhưng  sự thật thì có đấy, như chị đã thấy.

Chúng tôi nói chuyện tới đây thì tôi cũng vừa nhìn thấy hai người thanh niên mới xuất hiện cạnh Bích Vân, họ có vẻ vừa đi đâu về. Cả bốn chúng tôi cùng nói chuyện, cùng suy nghĩ, cùng tập trung tư tưởng hay có thể gọi là gì cũng được, nhưng mục đích chính là có thể đọc được những ý nghĩ của nhau. Tôi muốn biết tại sao họ lại có mặt ở ngôi trường Trưng Vương này,  tôi hỏi :

– Tại sao các anh chị lại quanh quẩn ở đây ?

Tôi đọc được câu trả lời trong tư tưởng của Bích Vân, cô ta kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện :

– Chúng tôi đều là học sinh ở đây, tôi muốn nói tôi học ở Trưng Vương và hai anh này học ở trường Võ Trường Toản kế bên. Tôi là em anh Danh, và anh Danh là bạn cùng lớp với anh Hoàng. Chúng tôi thân nhau lắm, năm xưa vẫn đi học chung, suốt thời gian bảy năm từ khi còn nhỏ cho tới khi ra trường. Chị biết đấy, đất nước mình chẳng bao giờ thanh bình, chiến tranh, chiến tranh cứ kéo dài không biết bao giờ mới dứt… Khi anh Danh và anh Hoàng thi rớt tú tài thì bị gọi động viên, còn tôi vẫn ở lại trường, tiếp tục việc học với một tâm trạng bất an, vừa buồn nản vừa lo sợ. Sau khóa huấn luyện quân sự, hai anh được xung vào nghĩa quân, đơn vị trấn đóng ở Củ Chi. Nơi đây là một vùng xôi đậu, ban ngày phe quốc gia và lính Mỹ thỉnh thoảng lại đột ngột mở các cuộc truy lùng Việt cộng, xông vào làng lục soát, bắt bớ. Ban đêm, những người từ Mặt Trận giải Phóng lén lút về hoạt động tuyên truyền, đe dọa, khủng bố những gia đình có con em đi lính quốc gia. Bị kẹt giữa hai phe, dân chúng khổ trăm bề, và mặc dù chiến tranh gây đau thương tang tóc, nhưng những người dân hiền lành, tội nghiệp vẫn cố bám lấy mảnh đất quê nghèo, nơi chôn nhau cắt rốn thật khó mà xa lìa. Vả lại còn đi đâu nữa ? trên toàn quốc đâu có nơi nào yên bình, không có đạn bo?

Trong một lần đi thăm hai anh, tôi bị tử thương trong một tai nạn xe đò cán phải mìn không biết của bên nào. Sau đó ít lâu, hai anh Danh và Hoàng đều lần lượt tử trận trong những cuộc giao tranh dữ dội giữa hai phe. Ngưòi chết như rạ, hàng ngàn tấn bom đạn trút xuống, cày nát vùng quê hiền hoà. Không khí điêu linh, tang tóc khắp nơi, đâu đâu cũng có những thảm cảnh con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ kêu gào bên xác con… Ôi đau đớn thay là cuộc chiến tàn khốc ! những thây người gục ngã, những giòng máu nóng đổ ra thấm đỏ mảnh đất quê huơng, những giòng máu đó đều là của người Việt Nam…

Khi chết đi, chúng tôi còn rất trẻ và đều có những ẩn ức, những tiếc hận nên không thể siêu thoát được. Chúng tôi lưu luyến trường cũ, nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ tiếc thuở còn cắp sách đến trường là thời gian sung sướng nhất trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của chúng tôi. Sau khi chúng tôi chết đi, không hẹn mà cùng quay về trường cũ và gặp nhau ở đây, như vậy đã gần sáu năm rồi…

– Đã sáu năm rồi à ? sao mãi tới bây giờ mới thấy các anh chị xuất hiện ?

– Chúng tôi vẫn quanh quẩn ở đây đó chứ, nhưng không muốn cho ai nhìn thấy cả.

– Thế còn bây giờ ?

– Bây giờ à ? bây giờ thì…

Bích Vân ngập ngừng không muốn nói, Hoàng phải tiếp tục câu chuyện :

– Sắp có một biến cố quan trọng lắm xảy ra, chúng tôi không về trường được nữa, đúng ra chúng tôi không muốn về…

– Biến cố gì vậy ? tại sao các anh chị lại không muốn về trường ? Anh chị có cần tôi giúp đỡ gì không ?

– Không ! không ai làm gì được cả, chúng tôi không sao, còn chị… Nhưng chúng tôi cũng không thể cứu chị được.

– Sao ? tôi gặp nạn à ? tại sao phải cần người cứu ? Tôi ngạc nhiên hỏi, tim đập mạnh, hồi hộp hết sức.

– Đúng vậy ! nhưng chúng tôi không giúp chị được.

– Trời ơi ! chuyện gì vậy ? anh chị có thể cho tôi biết trước được không ?

Tôi sợ hãi la lên và không còn tập trung tư tưởng được nữa, cả ba người đều nhìn tôi bằng những cặp mắt buồn rầu, còn mắt tôi thì lạc thần. Khi tôi ngẩng lên thì họ đã biến mất. Suốt tuần lễ sau đó, câu chuyện của họ cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi bỗng có cảm giác rằng mình sắp chết, tôi phải làm gì bây giờ ? có nên tin những gì họ nói không ?

Tháng 1, năm 1975

Ngày tháng dần trôi, chẳng có gì xảy ra, tôi tự trấn an, họ nói có biến cố quan trọng, chứ đâu có nói tai nạn ? những người bạn ma của tôi bây giờ đang ở đâu ?

Gần đến Tết, không khí trong trường rộn rịp khác thường, các lớp đều tổ chức viết bích báo và tập dượt văn nghệ. Năm nay có ban nhạc bên trường Chu Văn An sang giúp vui, thôi thì đàn ca, múa hát nhộn nhịp, mọi người tạm quên đi những lo lắng về thời cuộc. Tôi được giao cho phần viết bích báo, tôi chợt nẩy ra ý định viết một bài về những người bạn ma của tôi, dĩ nhiên tôi không đả động đến chuyện ma quái. Nhưng tôi viết một bài thơ về họ, về những người học sinh vừa rời ghế nhà trường đã chết trong chiến tranh. Bài thơ của tôi được đăng trên bích báo và may mắn thay lại được chọn để ngâm vào dịp trình diễn văn nghệ tất niên. Tôi nhớ tha thiết những người bạn ma của tôi, tôi mong họ lắm, nhưng từ hôm đó không thấy họ hiện ra nữa, tôi tự hỏi không biết họ có thích bài thơ này không ?

Tháng 2, năm 1975

Rồi ngày tất niên cũng tới, một ngày tưng bừng vui vẻ, đủ mọi tiết mục văn nghệ. Bọn học trò chúng tôi nửa vui, nửa buồn, vui vì Tết sắp tới sẽ được nghỉ hai tuần, buồn vì chiến tranh gia tăng tốc độ, thời cuộc có nhiều diễn biến bất ngờ, Phước Long thất thủ và chiến cuộc bùng nổ lớn ở mấy tỉnh miền Trung. Gần cuối chương trình, Hân lên máy vi âm giới thiệu :

– Để kết thúc chương trình, xin mời thầy cô và các bạn học sinh nghe giọng ngâm của Hoàng Oanh qua bài thơ “Vĩnh biệt” của Vũ Thúy An, để vinh danh những người lính trẻ đã chết cho quê hương.

Giọng của Hoàng Oanh thật ngọt ngào, rung cảm làm tăng giá trị của bài thơ rất nhiều, đến chính tôi cũng ngạc nhiên, khán giả như bị ru hồn vào những lời thơ buồn não nuột. Tôi chợt có một cảm giác lạ như có ai đang nhìn mình, khi ngẩng lên, tôi dụi mắt… Kìa ! các bạn ma của tôi hiện ra ngay trên sân khấu, họ đứng sau lưng Hoàng Oanh, cả ba lắng nghe và mỉm cười.

Khi bài thơ chấm dứt, họ nhìn tôi và vẫy tay, tôi nhìn thấy họ rõ tới nỗi suýt nữa tôi cũng đưa tay vẫy lại. Thoáng một chốc, họ đã biến mất, tôi chợt cảm thấy cô đơn giữa một rừng người vây quanh, tôi có cảm giác đây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy họ.

oOo

Nhật ký chấm dứt tại đây, một người vô tình lượm được quyển nhật ký này ở trong sân toà Đại sứ Hoa Kỳ, quyển nhật ký vấy máu đề tên Vũ Thị Thúy An lớp đệ Tam C trường Trưng Vương. Trong cơn sốt động của một ngày gần cuối tháng Tư, cô bé Thúy An đã cùng gia dình theo chân đoàn người hốt hoảng tràn vào toà đại sứ Mỹ, xô đẩy nhau leo lên trực thăng để được ra nước ngoài. Không biết phải gọi là may mắn hay bất hạnh khi cô lọt được vào bên trong trực thăng. Sợ hãi vì thấy cha mẹ, anh em còn kẹt ở bên ngoài, cô hốt hoảng vội nhào ra cửa định chạy xuống. Nhưng không kịp, cánh cửa trực thăng vừa đóng lại, thân hình cô đã lọt ra khỏi cửa, nhưng một bàn tay bị kẹt lại, bàn tay vẫn còn đang bám vào cánh cửa. Thúy An treo lơ lửng như một người làm xiếc khi trực thăng bốc lên cao, cô rớt xuống như một quả sung rụng, chết tan xác trước những cặp mắt kinh hoàng của những người thân của cô đang đứng ở phía dưới.  Ôi, cái giá của tự do sao quá đắt !  Những người có mặt ở trong sân toà đại sứ Mỹ hôm đó chắc không bao giờ quên được cảnh này, chuyến đó là chuyến cuối cùng bốc người đi di tản.

(Trích trong tập truyện TIẾNG ĐÀN XƯA của Phương Lan)

NỐT RUỒI BÁO HIỆU ĐIỀU GÌ ?

Ý NGHĨA CÁC NỐT RUỒI TRÊN MẶT


1. Khắc cha mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. 2. Khắc cha mẹ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha mẹ. 3. Khắc cha mẹ. Thường mất cha mẹ từ lúc còn trẻ tuổi. 4. Người có cuộc sống bình đạm, không bon chen. 5. Người có đạo đức. 6. Sống rất thọ, cuộc đời sung túc nếu có cả nốt ruồi số 2. 7. Số may mắn, thường làm việc được thành công. 8. Ðại phú, có nhiều tiền bạc, tài của. 9. Thường có danh vọng, địa vị cao trong xã hội. 10. Người biết xuôi theo thời, thường được người có thế lực giúp đỡ.

11. Dễ bị liên quan trong các vụ kiện tụng, thưa gửi, thị phi. 12. Thường gặp nhiều may mắn trong cuộc đời. 13. Khắc cha. Thường cha chết trước mẹ. 14. Phải rời xa quê quán thì mới sự nghiệp thành công. 15. Thường sống và chết ở xứ khác. 16. Dễ bị thương hoặc xảy ra tai nạn. 17. Thường có nhiều tiền bạc, làm chơi ăn thật. 18. Thường sống độc thân, có gia đình cũng chẳng lâu bền hoặc hạnh phúc. 19. Kém may mắn. Thường không thành công trong cuộc đời. Khi chết xa quê hương. 20. Thường làm về các nghề sản xuất như công kỹ nghệ, hoặc chăn nuôi, trồng trọt. Không có số làm thương mại.

21. Giàu nhỏ nhờ làm việc nhiều và biết cần kiệm. 22. Thi cử dễ đậu cao. Thường làm các nghề chuyên môn, cần bằng cấp. 23. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc hay trúng số. 24. Phú quý. Tốt về cả công danh lẫn tài lực. 25. Thường thân cận với những người quyền quý hay giàu có. 26. Ða nghệ, nghề nào làm cũng dễ thành công. 27. Hay dễ bị xui xẻo. 28. Làm ăn dễ thất bại. 29. Làm chơi ăn thật. Thường có của trên trời rơi xuống. 30. Khôn ngoan, biết lợi dụng thời cơ để kiếm lời.

31. Làm ăn hay gặp trở ngại đến mức phá sản. Cẩn thận về cờ bạc. 32. Dễ bệnh hoạn, và dễ bị tai nạn. 33. Dễ bị tai nạn, thương tích. 34. Làm ăn trước tốt sau xấu. Chớ nên làm những việc có tính cách ngắn hạn như áp phe 35. May mắn, cuộc đời ít rủi ro và thường được nhiều người giúp đỡ. 36. Làm giàu nhanh chóng. 37. Tính người hung dữ, hay kiếm chuyện, gây rắc rối. 38. Dễ gặp tai nạn vì bất cẩn. 39. Tốt về mọi mặt từ sự nghiệp đến tình cảm. 40. Công việc thường có trở ngại lúc đầu, nhưng càng về sau càng tốt, giàu có.

41. Hay gặp rủi ro, thất bại. 42. Hay bị thương tích, thân thể thường có thương tật, tì vết. 43. Cái chết đến bất ngờ, không vì bệnh hoạn hay già yếu. 44. Lãng mạn, thường có nhiều quan hệ nhân tình. 45. Làm ăn dễ thành công, và dễ phát đạt. 46. Cái chết đến bất ngờ, không vì bệnh hoạn hay già yếu. 47. Làm ăn có lúc phát rất mạnh, những cuộc đời dễ bị phá sản. 48. Hay bị tai bay vạ gửi, không làm mà chịu. 49. Vợ chồng, nhân tình dễ xa cách. 50. Khắc con cái, sinh nhiều nuôi ít.

51. Vợ chồng dễ phân ly. 52. Khắc cha. Xa cha sẽ khá hơn. 53. Hay gặp tai họa, rủi ro. 54. Khắc mẹ. Số không sống gần mẹ. Vợ chồng cũng dễ phân ly. 55. Kém may mắn. Cuộc đời hay gặp những chuyện hung dữ, kẻ ác. 56. Khắc con cái. Thường không sống gần con. Sinh nở khó khăn. 57. Vợ chồng dễ phân ly. 58. Tính tham lam. Có tật ăn cắp vặt. 59. Lãng mạn, thường có nhiều quan hệ nhân tình bất chính. 60. Thông minh và khôn ngoan. Học ít hiểu nhiều.

61. Dễ bị tai nạn. 62. Thông minh, sống rất thọ. Tiền bạc trung bình. 63. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết. 64. Trong đời hay xảy ra những chuyện lôi thôi về kiện tụng, cò bót. 65. Khắc cha. Thường mất cha hoặc sống xa cha từ nhỏ. 66. Thông minh, học ít hiểu nhiều. Sống rất thọ. 67. Thường phải ly hương, xa gia đình, vợ con. 68. Dễ bị tai nạn về nước và lửa. 69. Bị người ghét vì nói nhiều. Nói không cẩn thận và không nghĩ đến cảm giác của người khác. 70. Ngồi lê đôi mách, hay để ý chuyện của người khác.

71. Tính xấu, thường hà tiện và tham lam. 72. Con cái, người dưới hay bị hoạn nạn. 73. Tuyệt tự, khó có con. 74. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết. 75. Dễ bị tai nạn về sông nước. 76. Tính xấu, tham lam, lòng dạ không ngay thẳng. 77. Có hoạnh tài trong chạy chọt áp phe, cờ bạc hay trúng số. 78. Họa từ miệng, thần khẩu hại xác phàm. 79. May mắn. Làm ăn, công việc luôn có người giúp. 80. Thông minh, nhạy bén, thi cử dễ đỗ cao.

81. Tiền hết lại có, không bị túng thiếu. 82. Dễ ngoại tình. 83. Thường giàu có nhờ làm ăn được nhiều người giúp đỡ. 84. Cuộc đời thường ít may mắn, khó kiếm tiền. 85. Dễ bị phá sản vì thiên tai hay chiến tranh. 86. Thường có tài lộc, của vào rất nhanh. 87. Thích chuyện tình ái. Thường có nhiều quan hệ cùng lúc. 88. Dễ sa ngã. 89. Khôn ngoan, thông minh, tính tình rộng rãi. 90. Số sung sướng, không giàu nhưng nhàn hạ, hưởng thụ.

91. Bình an, cuộc đời không sợ tai nạn. 92. Dễ bị người khác cướp giật, sang đoạt tài sản. 93. Thường có đời sống xa hoa, phong lưu, hưởng thụ. 94. Giàu có và khôn ngoan. Hay gặp may mắn về tài lộc. 95. Thường có danh vọng, địa vị trong xã hội.

NGỌC MAI

VÀ 43 NỐT RUỒI TRÊN MẶT PHỤ NỮ

Hình bên là khuôn mặt một phụ nữ, có 43 nốt ruồi được diễn giải như sau :

1- Số làm mệnh phụ, 2- Thường chán chồng nhưng không đi tìm của lạ, 3- Hại cha mẹ, 4- Không người phục dịch, 5- Có từ hai đời chồng, sanh con ít, 6- Hại người thân, 7, 15, 19, 27.37-Hại chồng, 8- Chết xa nhà, 9- Bị chồng phụ tình bỏ rơi, 10- Sanh khó.

11- Có tài lộc, 12- Chồng thường xa nhà, 13, 17- Vượng phu ích tử, 14- Số có “thiên la địa võng” giăng coi chừng tù tội, 16- Tay làm hàm nhai, 18- Được nhờ con, 20- Sống thọ.

21- Bị cướp giật nhiều lần, 22- Gặp nhiều việc tốt, 23- Tính lăn loàn, 24- Sanh ít con, 25- Mới sinh ra thường hay bệnh, 26- Mọi việc thất bại,28- Số sát phu, tình duyên lận đận, 29- Hiếu thảo với cha mẹ, hay giúp đỡ anh chị em, 30- Biết nhường nhịn chồng con.

31- Có tư tưởng tự tử, 32- Hay ganh tỵ với kẻ khác, 33, 41- Đề phòng tai nạn đường sông nước, 34- Có số sinh đôi, sinh ba, 35- Có hư thai, 36- Tai tiếng thị phi, 38- Đày đọa đầy tớ vì ghen tuông, 39- Gặp tai nạn tại nhà, 40- Hay bệnh hoạn, 42- Sát Phu và 43- Khôn vặt.

THIÊN VIỆT

THANH LAN VÀ NỐT RUỒI TRÊN MÔI

– Bài : NGƯỜI CALI

Cái bà gái già Thanh Lan luôn luôn tự cho rằng cái nốt ruồi trên môi là nhãn hiệu trình tòa của mình, làm như không ai khác có cái nốt ruồi như thế, và theo sách tướng số, nốt ruồi trên môi bên phải gần lỗ mũi là con người mang phải tướng tính tình xấu, thường hà tiện và tham lam, sát phạt kẻ khác thẳng tay không nhận thức được hành động sai trái của mình, nói nhiều, nói không suy nghĩ và không nghĩ đến cảm giác của người khác, ngồi lê đôi mách, thay đổi nhiều nhân tình… (̣̣quý vị độc giả nào đọc điều này ở bài viết về ca sĩ Thanh Lan, và cũng có nốt ruồi trên miệng này, xin hãy vào trang tử vi, tìm hiểu về tướng số, và xin thông cảm cho người viết, chỉ dựa vào ý tướng mệnh mà thôi).

Thanh Lan không nhìn vào tướng số, tin tưởng rằng có nốt ruồi trên mép miệng là tướng tốt, nên cô ta thường dùng viết chì kẻ lông mày để tô đậm cái nốt ruồi này để đập vào mắt quần chúng.

Bộ ngực thì cũng đã được sửa cho lớn hơn bằng hai túi silicone. So sánh những hình chụp trước và sau khi sửa thì sự khác biệt quá rõ ràng, cô nàng lại thích mặc áo hở ngực để phô trương bộ ngực vĩ đại sau khi sửa, càng nhìn càng thấy sự không tự nhiên, lớp da thâm xì vì phải bôi trét thêm phấn, kết quả do sửa di sửa lại nhiều lần sửa hoài cũng không được đẹp mắt lắm.

Đi xuống thấp hơn một chút nữa thì ta sẽ thấy cách đây 2 năm, Thanh Lan đã  hút mỡ bụng, nhưng một năm sau thì đâu lại hoàn đấy, chẳng khác gì trước.  Và cũng không sửa được vết thẹo khi làm C-section mổ bụng khi có con ở Saigon. Vết thẹo này hình bán nguyệt ở dưới rốn, coi giống như một miệng cười nham nhở khổng lồ, làm cho các gã đàn ông nhân tình của Thanh Lan nhỏ to bảo nhau (chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao) khó tập trung tư tưởng trong khi thi hành nhiệm vụ giải quyết sinh lý với cô ả.

Còn cái cằm chẻ trông như cái mông, cô ta nói  là từ hồi cha sinh mẹ đẻ đã có cái cằm chẻ đó rồi.  Mí mắt thì cắt đi nhiều quá nên ban ngày thì trợn trừng như muốn ăn tươi nuốt sống người khác, còn ban đêm thì hai con mắt không nhắm được, coi như ngủ mà vẫn mở mắt, như người đã chết coi thấy sợ lắm.

Bàn tay chích saline để làm căng da nhưng nó lại sưng lên như bị ong chích, chẳng có gì đẹp đẽ cả, ngược lại coi rất dị hợm. Thế mà lâu lâu lại đến phòng mạch để bác sĩ chích saline làm căng sưng da tay.  Bác sĩ đâu có cần biết xấu hay đẹp, chỉ cần trả tiền hoặc trả công là xong hết.

Trên sân khấu Thanh Lan có mái tóc dài mượt mà, nhưng thật ra đó chỉ là mái tóc giả. Tóc thật thì lưa thưa rụng nhiều từ khi bị vợ Đơn Dương là Xuân Sanh đánh ghen đổ sơn lên đầu ở Saigon. Cũng may cho Thanh Lan là đó chỉ là hộp sơn chớ không phải là chai acid, như vụ vũ nữ Cẩm Nhung ngày nào. Thế mà Thanh Lan vẫn không chừa, vẫn chứng nào tật nấy, từ khi còn là vợ Dũng Long Biên cũng đã lăng nhăng với trung úy không quân, bị Dũng Long Biên đánh te tua khi ngồi Vespa sau lưng kép.  Hèn chi mà mặt mày thường bị bầm tím, thế mà cứ xoen xoét cái miệng là “chồng tôi hay ghen bóng ghen gió”.

Lại còn anh chàng hạ sĩ quan người nhái hải quân nữa, tên này không có chức tước gì nhưng con nhà giầu nên cũng bị cô nàng đào mỏ một thời gian.

NHỮNG NGƯỜI TÌNH

Có chồng thì bị Phạm Mạnh Dũng tự Dũng Long Biên chỉ ham chơi ăn bám cha mẹ rồi ghen tức vì Thanh Lan dâm dục lẳng lơ đĩ thõa nên hành hạ cô nàng te tua. Có ông bố tên Phạm Đình Vịnh sau năm 75, lộ chân tướng là nằm vùng, chỉ điểm để chính quyền bấy giờ đi bắt bớ nhiều nhân vật chống đối chế độ, có người mất xác trong tù, có người gia đình bị truy tố rất thảm hại.

Bây giờ nghe nói Thanh Lan chỉ cặp kè với những gã đàn ông có gia đình vì những người nầy chỉ cần liên hệ giai đoạn, vì Thanh Lan không phải chung thủy với một người. Như cha luật sư bá láp Đỗ Đức Hậu đã có vợ, sau cặp kè với Thanh Lan nên bị vợ ly dị; ly dị vợ rồi sau đó không lấy Thanh Lan mà lại nhảy qua lấy con gái của Thanh Lan tên là  Bou Loan. Mối tình”bại hoại gia phong” này sinh ra kết quả, Đỗ Đức Hậu có con với Bou Loan, nên từ một thời là nhân tình, Thanh Lan trở thành mẹ vợ của luật su Hậu.

Vì thế ở hải ngoại ai cũng cho rằng, Đỗ Đức Hậu cha luật sư bá láp này được mệnh danh lẫy lừng “chơi mẹ rồi lại chơi con”.

Hãy xem show của Thanh Lan bây giờ trên TV “Một Thời Để Nhớ” thấy bộ mặt cười nói nhăn nhở của cô ca sĩ già này mới thấy cái mặt của cô gái gìa quả quá dạn dầy.

Bây giờ chán ngấy hai mẹ con Thanh Lan, tên luật sư Đỗ Đức Hậu lại quay sang cặp bồ với ca sĩ Ái Vân, bỏ tiền làm CD cho Ái Vân, thấy cảnh con Bou Loan đem con nhỏ tới tru tréo chửi rủa ở văn phòng của Hậu ở Bolsa thấy mà ngán ngẩm cho mẹ con Thanh Lan, bị một  gã già  gần 70 tuổi cho một bài học nhớ đời.

Sau Đỗ Đức Hậu, ca sĩ Thanh Lan tìm ở mỗi thành phố có một gã nhân tình để được thỏa mãn thân xác, như Đơn Dương ngày trước sẵn sàng chuyện sinh lý là mọi chuyện suôn sẻ. Như tên trai tơ chưa vợ Joseph Hiếu bị Thanh Lan tóm cổ khi vừa mới đến Hoa kỳ năm 1993. Joseph Hiếu là con của ca sĩ Yến Hương (năm nay 70 tuổi) cha Joseph Hiếu cũng là dân chơi nhạc sống ở Sài Gòn người Phi Luật Tân.

Mấy năm trước Thanh Lan thường được ông mục sư người Mỹ ở Houston biết nói tiếng Việt rất rành và có tên Việt là Tôn Thất Bình mời tham dự chương trình hàng năm ở nhà thờ Tin Lành, nhưng Thanh Lan lại lẳng lơ lăng  nhăng với ông mục sư nầy như với Trần Công Nghi,̣ nên khi bà vợ ông Bình  biết được thì bà ta đã cấm cửa Thanh Lan; và làm mang tiếng chung cho phụ nữ Việt Nam, và các bà phải coi chừng chồng cẩn thận nếu không sẽ mất chồng như chơi. Sau vụ bà mục sư Bình cấm cửa, nên từ sau năm 2004, thành phố Houston và người Việt ở Texas không còn thấy mục sư T.T. Bình tổ chức mời Thanh Lan hay các ca sĩ hát cho ngày hội mỗi năm vào cuối tháng mười tại Ocean Palace.

Thanh Lan thường tuyên bố là chỉ cặp với những ông cao ráo đẹp trai thôi. Đồng ý là hồi ở Saigon, nhạc sĩ Vũ Thành An rất cao ráo đẹp trai, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì lại nhảy qua ca sĩ Nhật Trường chẳng cao ráo gì cả, nhưng muốn lợi dụng tên tuổi đang lên của Nhật Trường hồi đó để làm đà tiến thân, nên Thanh Lan chỉ hát cặp với Nhật Trường, cùng cặp kè đú đởn và chỉ hát nhạc Trần Thiện Thanh, Nhật Trường, không hát nhạc Vũ Thành An nữa. Luật sư Đỗ đức Hậu thì có bảnh lão hay cao ráo gì đâu, thế mà hai mẹ con cùng xài chung một kép già. Còn ông Trần Công Nghị ở Orange County thì cũng rứa.  Những nhân vật nầy tuy xấu trai nhưng tốt về tiền, thấy gái chịu chơi thì hoa cả mắt, bỏ tiền ra chi không thấy tiếc.

Nói đến chuyện chi tiền thì không có vụ Thanh Lan chơi sộp, boa cho ai đâu. Nghe nói Thanh Lan rất bần tiện khi đi làm facial chà da mặt, mà không cho technician một đồng tiền tip, chỉ cho một CD nhạc, rồi đi khoe là luôn luôn cho tip 100 dollars. Chẳng ai tin vào chuyện xạo đó cả, có người nói thẳng vào mặt cô ca sĩ này như thế.

Những lúc không trang điểm và không đội tóc giả thì Thanh Lan có nhan sắc dưới trung bình, hồi xưa còn trẻ thì còn có chút nhan sắc, nhưng bây giờ thì đã quá tàn phai nếu không nói là tàn tạ. Và trên 60 tuổi rồi nhưng cứ làm như mình là cô gái 16, 17 õng à õng ẹo thấy mà chán. Ngồi ăn mà hay móc tay vào miệng điều chỉnh mấy cái răng giả, rồi cười rộ lên rất vô duyên,vô duyên chưa nói đã cười  nhăn nhở như đã có một vài người viết về điều nầy.

Người Cali