RƯỢU “ÔNG UỐNG BÀ CHỜ…” (2)

TOA RƯỢU

MINH MẠNG

VÀ HẠNH PHÚC

LỨA ĐÔI

Nguyễn Lê Quan (tổng hợp, bài 2)

Rượu này trở thành một đặc sản của Việt Nam. Cái gì thuộc về vua chúa thời nhà Nguyễn thường được xưng tụng, trong đó có toa thuốc của Vua Minh Mạng. Toa thuốc này truyền tụng từ lâu ở Huế, được đồn là do vài vị ngự y chép được. Trong sách “Nguyễn triều cố sự” có chép ra hai bài thuốc ngâm rượu của vua Minh Mạng như sau (theo tài liệu của Lương Y Tuệ Tâm) :

Bài 1 –  “Nhất dạ ngũ giao” :

Thành phần : 1- Nhục thung dung 12g, 2- Táo nhân 8g, 3- Xuyên Qui 20g, 4- Cốt toái bổ 8g, 5- Cam cúc hoa 12 g, 6- Xuyên ngưu tất 8g, 7- Nhị Hồng sâm 20g, 8- Chích kỳ 8g, 9- Sanh địa 12g, 10 -Thạch hộc 12g, 11- Xuyên khung 12g, 12- Xuyên tục đoạn 8g, 13- Xuyên Đỗ trọng 8g, 14- Quảng bì 8g, 15- Cam Kỷ tử 20g, 16- Đảng sâm 10g, 17- Thục địa 20g, 18 – Đan sâm 12g, 19- Đại táo 10 quả, 20- Đường phèn 300 g

Toa này có người nói là « Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử » nghĩa là có một lần làm thụ thai… song sinh!!

Cách ngâm : Đường phèn để riêng, 19 vị thuốc trên đem ngâm với 3 lít rượu nếp ngon trong 5 ngày đêm. Ngày thứ sáu, nấu nửa lít nước sôi với 300 g đường phèn cho tan ra, để nguội, rồi đổ vô thẩu, trộn đều đến ngày thứ 10 thì đem ra dùng. Ngày 3 lần sáng, trưa , tối, mỗi lần 1 ly trà. Dùng liên tục.

Bài 2 « Nhất dạ lục giao »

Thành phần : 1-Thục địa 40g, 2- Đào nhân 20g, 3-Sa sâm 20g, 4- Bạch truật 12g, 5- Vân qui 12g, 6- Phòng phong 12g, 7- Bạch thược12g, 8- Trần bì 12g, 9-Xuyên khung 12g, 10- Cam thảo 12g, 11- Thục linh 12g, 12- Nhục thung dung 12g, 13- Tần giao 8g, 14-Tục đoạn 8g, 15- Mộc qua 8g, 16- Kỷ tử 20g, 17-Thường truật 8g, 18-Độc hoạt 8g, 19- Đỗ trọng 8g, 20- Đại hồi 4g, 21- Nhục quế 4g, 22- Cát tâm sâm 20g, 23- Cúc hoa 12g, 24- Đại táo 10 quả.

Cách ngâm : 24 vị  thuốc trên ngâm với hai lít rưỡi rượu tốt trong vòng 7 ngày.  Lấy 150 g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội rồi đổ vô keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa , chiều trước bữa ăn. Bã thuốc còn lại ngâm nước hai với một lít rưỡi rượu ngon- một tháng sau dùng tiếp.

Chủ trị : Cả hai bài rượu Minh Mạng trên có tác dụng đại bổ thận, bồi bổ thần kinh, gia tăng khí huyết, tăng cường sinh lực, mạnh gân cốt, bán thân bất toại, dương sự kém, tăng tuổi thọ.

Lưu ý trong hai bài thuốc trên, về cân lượng người ta dùng đơn vị Gramme (g). Ngày xưa ở Trung Hoa dùng cân (chin), lượng (liang), phân (fen). Nhưng bây giờ người ta dùng những hệ thống khác nhau về cân lượng, như 16 lượng, 12 lượng, 10 lượng; thậm chí ở các vùng quê, người dân còn dùng hệ thống 18 lượng, 20 lượng và 24 lượng.

Những ấn định về đo lường trong nhiều triều đại đã làm cho vấn đề cực kỳ trở nên phức tạp. Kể từ năm 1979, các miền Hoa lục đã chuyển theo hệ thống thập phân (metric system) thay vì hệ thống cân lượng đã nói, nên trong nhiều sách thuốc in tại lục địa (khác với sách Hong Kong, Đài Loan), hệ thống trọng lượng được thống nhất như sau, để dễ bề tính toán :

1 lượng = 30 g (hiện nay chính xác hơn là 31 .25 g); 1 tiền = 3g; 1 phân = 0,3g

Vậy về phân lượng trong  2 toa thuốc Minh Mạng trên, không rõ lương y chúng ta dựa vào toa nguyên gốc mà đổi ra gờ-ram hay phỏng chừng đổi theo cách thực dụng cho tiện việc cân khi mua thuốc.

Trong toa “Nhất dạ ngũ giao”, những vị thuốc bắt buộc phải kén chọn theo nguồn gốc sản xuất, vì các tên thuốc có kèm tên vùng thổ sản như Tứ Xuyên, Cam túc, vùng Lưỡng Quảng, ví dụ chẳng hạn như phải đòi hỏi thuốc từ Tứ Xuyên như Đương Qui, Ngưu Tất, Tục đoạn, Đỗ trọng, Xuyên khung. Trong khi trong toa “Nhất nhật lục giao”, chỉ có Vân Qui và Xuyên Khung là gốc Vân Nam và Tứ Xuyên, còn những vị Tục đoạn, Đỗ trọng, Kỷ tử thì không nói rõ ở đâu

Hai điều nói trên đây rất quan trọng, là phân lượng những thành phần kê ra trong một toa thuốc Bắc phải dựa trên tình trạng của mỗi bệnh nhân như thể chất yếu hay khỏe, bịnh trạng nặng hay nhẹ, bệnh tình mới hay đã lâu. Thành ra hai bài thuốc kê trên không phải là loại toa rượu đã định chuẩn.

Do đó, với tư cách người viết dù có vô tư nhưng cũng rất thận trọng về ý thức trách nhiệm.

Một điều khác nữa, muốn nêu ra về công hiệu của những ngự tửu. Như trường hợp của rượu Minh Mạng với những tên “Nhất dạ ngũ giao” hay “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử” có tính cách khoa trương huyền thoại  chăng ?

Chúng ta hãy thử duyệt lại số con cái của vua chúa nhà Nguyễn :

Chín đời chúa là :

– Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) có 12 con: 10 trai và 2 gái

– Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1563- 1635) có 15 con: 11 trai và 4 gái

– Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1601 – 1648) có 4 con: 3 trai và 1 gái

– Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620 – 1687) có 9 con: 6 trai và 3 gái.

– Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1650 – 1691) có 10 con: 5 trai và 5 gái

– Chúa Minh vương (Quốc chúa) Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725) có 42 con : 38 trai và 4 gái (theo nhiều sử ghi có đến 146 con ! Nhưng theo Richard Orband trong Les tombeaux des Nguyễn (1914) và Nguyễn Phúc tộc thế phả (1995) thì chỉ ghi có 42 con)

– Chúa Ninh vương Nguyễn Phúc Thụ ( 1697 – 1738) có 9 con: 3 trai và 6 gái

– Chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ( 1714 – 1765) có 30 con: 18 trai và 12 gái

– Chúa  Định vương Nguyễn Phúc Thuần ( 1753 – 1777) có một gái

Mười ba đời vua là :

– Gia long (1762 – 1819) có 31 con :13 trai và 18 gái

– Minh Mạng (1791 – 1840) có 142 con: 78 trai và 64 gái

– Thiệu trị (1807 – 1847) có 64 con: 29 trai và 35gái

– Tự Đức (1829 – 1883) không có con tuy nhiều vợ

– Dục Đức (1853- 1883) có 19 con: 11 trai và 8 con gái, chết vì bị giam đói

– Hiệp Hòa (1847 – 1883) có 17 con: 11 trai và 6 gái, chết vì bị ép uống thuốc độc

– Kiến Phúc (1869 – 1884) chưa có vợ con, chết bí mật

– Hàm Nghi (1871- 1943) một vợ, có 3 con: 1 trai và 2 gái

– Đồng Khánh (1864 – 1889) có 5 vợ, 10 con: 6 trai và 4 gái

– Thành Thái (1878 – 1954) nhiều vợ, có 45 con: 19 trai và 26 gái (Vua Thành Thái là một người phát dục rất sớm. Số con của ông còn rơi rớt rất nhiều mà thế phả nhà Nguyễn chưa kiểm tra được. Cung tần chưa đủ cho ngài gần gũi mà còn muốn vi hành ra ngoài nên mới có câu : Kim luông con gái mỹ miều /, Trẫm thương, trẫm nhớ trẫm liều, trẫm đi !)

– Duy Tân (1900 – 1945) có 2 đời vợ , có  3 trai và 2 gái

– Khải Định (1885 – 1925) có 1 trai

– Bảo Đại (1913 – 1997) có 5 con: 2 trai và 3 gái

Duyệt qua danh sách trên, ta thấy có hai đỉnh cao về con số đông con :

– Đỉnh cao thứ nhất trong đời các chúa có Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu và Võ vương Nguyễn Phúc Khoát ứng vào giai đoạn mà Chúa Nguyễn ở phía Nam (đàng trong) tuyên bố xác định vương quyền độc lập chống  lại vua Lê chúa Trịnh xứ Bắc (đàng ngoài) bằng việc dùng vương ấn và lập kinh đô ở Thuận Hóa.

– Đỉnh cao thứ hai trong đời các vua với vua Minh Mạng ứng với giai đoạn tuyên xưng đế quyền, tuyệt đối với sự ban bố bài Đế Hệ thi 20 chữ trong tham vọng con cháu của ông sẽ làm vua trong 20 đời nữa.

Chính ý niệm  xác định Vương quyền và Đế quyền phải chăng tạo ra nhu cầu sinh sản nhiều tử tức hậu duệ ?! Và “bộ máy đẻ” của nhà Nguyễn là hệ thống cung tần mỹ nữ. Đời Võ vương, vợ lớn nhỏ của chúa không gọi là Chánh hay Thứ phu nhân như bá tính mà đổi ra gọi vợ cả là Tả hành lang và vợ thứ là Hữu hành lang, con cái đẻ ra sợ chuyện ma quỉ bắt (nạn hữu sanh vô dưỡng ) nên Chúa mới đặt ra tục gọi cáccon trai là Mệ, Mụ.

Trong cung cấm nhà Nguyễn, có chín bậc gọi các bà vợ vua từ cao đến thấp gọi là Cửu giai (là : Nhất giai Phi, Nhị giai Phi, Tam giai Tân, Tứ giai Tân, Ngũ giai Tiếp , Lục giai Tiếp Dư, Thấp giai Quý Nhân, Bát giai Mỹ Nhân, Cửu giai Tài Nhân. Người cuối là Cửu giai Tài Nhân có nghĩa  là chưa vô ngạch mà chỉ chuẩn bị còn đang xem xét, chưa thể là một phi cung. Trong thế phả Nguyễn Phúc tộc, một bà tên Cung Nga có lẽ là cung nữ chưa vô ngạch Cửu giai !

Vua nhà Nguyễn không phong vợ lớn là Hoàng Hậu (trừ vua Bảo Đại sau này), vì sợ nạn quốc thích chuyên quyền như các triều Lý, Trần, tước hiệu Hoàng Hậu chỉ phong sau khi chết.

Chính vì hệ thống phi tần mỹ nữ đã làm cho những ông ngự y phải tìm những thang thuốc bổ thận cho vua chúa và những toa thuốc dưỡng thai cho các bà Cửu Giai khi mang bầu, như thế làm gì không đông con. Thức ăn ngự thiện đương nhiên gồm những thứ bổ béo mà bá tính cung tiến .

Vua Minh Mạng chỉ sống đến 50 tuổi vì nghe đâu chết vì té ngựa, thế mà đã có 142 con, nếu vua thọ thêm 20 năm nữa, con cái trực hệ còn đông đến đâu. Hệ của Minh Mạng là hệ nhì chánh (hệ nhứt chánh là hệ hoàng tử Cảnh), là hệ đông nhất gồm 56 phòng và phái nam được 1800 người.

Như vậy những cái tên Nhất dạ Ngũ giao hay Lục giao của Minh Mạng thang là những cái tên đời sau bịa ra cho thần kỳ, chứ mỗi khi một cung phi nào được vua vời tới long sàng, thì tên tuổi và ngày tháng ấy đều được ghi chép cẩn thận để sau này còn chẩn đoán thai kỳ và xác nhận phụ hệ. Những chuyện về:

Cái đêm hôm ấy đêm gì.

Bóng dương trùng bóng trà mi chập chùng

là chuyện thâm cung bí sử, ai mà rõ “ngũ giao” hay “lục giao”. Trong đống văn khố chứa trong Tàng thơ lâu, nếu còn lưu lại những y án hay phương dược của các ngự y dâng lên vua,  đâu là tài liệu xác nhận rằng vào một đêm nào đó có 5 bà phi trong bụng tiếp nhận “long chủng” qua lần ân ái với vua và tên những hoàng nam hay hoàng nữ đó là ai ?

Dựa vào kiến thức y học, câu chuyện “lục giao sanh ngũ tử “ có lẽ là ngoa ngôn hay phóng đại. Chỉ ở trong thần thoại Hy lạp, mới có thần Hercule trong một đêm gần .. 50 cô gái đã làm thụ thai 49 cô. Dẫu sao, xét về số con của vua Minh Mạng thì hậu thế phải công nhận ông thuộc vào loại có khả năng tình dục tuyệt luân. Tính theo mỗi lần giao cấu chỉ bắn tinh khí ra khoảng 2 phân khối rưỡi đến 3 là cùng sau nhiều ngày kiêng giao cấu, mà muốn làm thụ thai, mỗi phân khối tinh khối phải chứa 100 triệu tinh trùng và số tinh trùng quái dị phải dưới 20 % (Xem loạt bài Hạnh phúc lứa đôi đẫ đăng trong blog). Khối lượng và sự đậm đặc của tinh khí thường giảm xuống mau chóng sau nhiều lần giao cấu liên tục.

Như vậy trong một đêm 5 lần 6 lượt giao hợp, thường không phải sinh con mà sinh ra …. bắn súng nước hay bắn khói !

Theo sử sách, hằng đêm, vua thức khuya để coi chương sớ từ  các phiên trấn gửi về đến canh ba (11 giờ khuya) mới đi ngủ. Hoạt động chăn gối về đêm hăng như thế mà ban ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt chứng tỏ Minh Mạng là một người có một “thể chất tiên thiên “ bẩm sinh cường tráng. Những toa thuốc mà vua dùng chỉ là trợ lực cho đường sinh lý chứ không phải là chủ trị quyết định. Hãy nhìn trường hợp của vua Tự Đức (1847- 1883) thể chất tiên thiên bất túc và lúc mới lớn bị đậu mùa, dù là vua có nhiều vợ và được các ngự y chữa trị vẫn không có con.

Nhìn vào thành phần những món thuốc trong hai toa Minh Mạng thang nói trên, chúng ta thấy toàn là những vị bổ dược mà tiệm thuốc Bắc nào cũng có bán và hiệu lực của chúng theo y lý được coi là tư âm bổ dương, tăng cường tinh khí, nâng đỡ thể trạng, chứ không phải là những thức kích dục nhất thời làm cương cứng ngọc hành; hoặc những vật liệu chế từ những tạng phủ hay bộ phận của những con thú nổi tiếng mạnh về sinh lý. Thành ra rượu Minh Mạng chỉ là một loại rượu bổ chống mệt mỏi tổng quát, chứ không giống như những viên thuốc hứng dục như viên Okasa của Pháp chứa Testostérone và Yohimbine, Cantharidine hay những viên Viagra hiện nay chỉ có tác dụng cục bộ làm cương cứng ngọc hành.

Nhiều  y sĩ cho rằng sự mệt mỏi thường là nguyên nhân làm giảm hứng thú khi ân ái. Vua Minh Mạng vốn là một người có thực lực tình dục quán chúng do bẩm sinh nên vấn đề dùng thuốc bổ là sự trợ lực. Nếu phàm nhân tục tử vốn liếng chẳng bao nhiêu không biết tự lượng sức mình, mỏi gối chồn chân mà cứ dùng thuốc kích dục để tiếp tục leo trèo thì quả là tai hại !

Trước 1975 có quyển “Vạn thị Phụ Nhân khoa” do ông Nguyễn văn Tỷ chủ nhà thuốc Hồi Xuân trên đường Nguyễn Thiện Thuật, Sàigòn xuất bản. Trong sách có một đoạn bàn về các toa thuốc bổ tính dục và bí quyết sinh quí tử đại ý như sau :

– Đàn ông muốn sanh quí tử phải đạt đủ ba điều kiện trên ba tiêu chuẩn gọi là Tam chí (Can chí, Tâm chí, Thận chí). Can tức là gan. Can chủ về mộc can tức là gân. Gân khỏe (Can chí) thì gân mới đủ sức cương cứng mà hành sự;

Tâm tức là tim, chủ về huyết hỏa hay năng lượng. Tim tốt (Tâm chí) thì trí não quân bình, năng lực phương cương, sức lực bề dai, tinh trùng mới đủ sức bơi ngược giòng tử cung để thụ thai. Thận tức là cơ quan tính dục gồm dịch hoàn và các hạch nội tiết nang thượng thận, chủ về thủy, tức là tinh khí. Thận khỏe (Thận chí) thì tinh khí đặc, chứa nhiều tinh trùng nên dễ thụ thai.

Suy diễn như trên, cho thấy việc giao hợp lý tưởng là độ cương dương vật đầy đủ, một trí óc quân bình, một nguồn sản xuất tinh khí dồi dào về phẩm và lượng. Như thế, một người thận yếu, tinh khí loãng, cơ thể bạc nhược, gân thịt bèo nhèo mà dùng thuốc kích dục chẳng khác nào quất roi thúc ngựa ròm tiến bước trên con đường xa gập ghềnh.

Một toa thuốc bổ dương hoàn toàn không phải là một toa thuốc chỉ bổ thận kích dục mà theo biện chứng của Đông Y, phải nhắm vào việc bổ dưỡng toàn thân, bằng cách  bồi bổ nội tạng Can, Tâm, Thận.

Tây Y chủ trương đánh thẳng và mau vào ngọn nên hữu hiệu vào những trường hợp cấp tính; còn  Đông Y đánh bền và lâu vào gốc bệnh ly, nên thích hợp cho các chứng kinh niên mãn tính.

Nhìn chung, dùng rượu thuốc là một tập quán, một đặc thù văn hóa của dân ta đã chịu ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, sống trong thời hiện đại, mọi người phải có một thái độ suy luận thận trọng trên thực tế khi phải dùng thuốc, ngay cả khi dùng thuốc bổ không phải thuốc bổ nào cũng tốt cả như cái tên được khoa trương “ngũ giao“, “lục giao“… Một vị thuốc nào cũng vậy, bên cạnh công năng trị liệu, còn có thể có nhiều tác dụng phụ. Rượu làm khí huyết lưu thông (Tửu năng dẫn huyết) nhưng đối với những người có chứng huyết áp cao và chứng thống phong (gout) thì không nên dùng.

Tóm lại, rượu thuốc vẫn là rượu bổ nhưng nên dùng thận trọng.

Tiểu sử vua Minh Mạng

Vua Minh Mạng hay Minh Mệnh (chữ Hán: 明命, 17911841) thời nhà Nguyễn, tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị vua thứ hai (ở ngôi vua từ năm 1820 đến 1841). Ông tên là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈). Được xem là vị vua năng động và quyết đoán, đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội cácCơ mật việnkinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thànhGia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳNam kỳ.

Vua Minh Mạng là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kỳ thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài.

Ngoài việc trừ nội loạn (Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam), Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra.

Do không có thiện cảm với phương Tây, vua Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc. Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo.

Thụy hiệu do vua con Thiệu Trị đặt cho ông là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế (體天昌運至孝淳德文武明斷創述大成厚宅豐功仁皇帝).

RƯỢU “ÔNG UỐNG BÀ CHỜ…” (1)

RƯỢU

“TRỊ BÁCH BỆNH”

THEO DÂN GIAN ?!

– Nguyễn Lê Quan (tổng hợp)

Dân Việt biết uống rượu từ thời thượng cổ, như cuốn “An Nam chí lược”, và “Văn Hiến thông khảo” ghi, rượu được dùng trong cung vua khi khai yến, như chuyện Cù thái hậu bầy tiệc ruợu để ám hại tướng Lữ Gia, chuyện vua Lê Đại Hành và vua Trần Anh Tông ghiền ruợu. Còn theo cuốn “Việt Nam phong tục” cụ Phan Kế Bính viết vào đầu thế kỷ 20 cho thấy :

– “Rượu thì nấu toàn bằng gạo nếp, ủ men rồi cất ra. Trong thứ rượu ấy hoặc ướp thêm hoa sen, hoa cúc, hoa hồng, hoa cau, hoặc hoa nhài v.v.. gọi là ruợu hoa; hoặc tẩm với các vị thuốc bắc gọi ra rượu thuốc.  Rượu hoa quí nhất là rượu sen, rượu cúc, mà rượu thuốc quí nhất là rượu sâm nhung”

Về rượu hoa, chỉ có rượu hoa cau là có vẻ đặc thù Việt Nam, vì các thứ hoa khác thì Ta với Tầu đều có. Còn hoa cau thì chỉ Việt Nam mới có sẵn và có nhiều, vì tục ăn trầu cau ở ta; trồng cau cốt lấy trái ăn, ít ai dám hy sinh lấy hoa cau mà cất rượu, nên rượu hoa cau trở nên quí; cũng như trong Nam, ăn đuông chà là, đuông dừa, nhất là cù hủ dừa chỉ có dân VIP, dân giàu mới dám ăn vì phải đốn nguyên cây mà chặt lấy cái  tù hũ dừa!.

Theo Lê Quí Đôn, nước ta là xứ sản xuất nhiều cây thuốc nên bên Trung Hoa thường phải mua của chúng ta. Nếu người Trung Hoa mua dược thảo sống về bào chế ra thuốc chín hay thuốc Bắc, thì chúng ta dùng dưới dạng tươi hoặc phơi sấy gọi là thuốc Nam. Còn giới “ma tửu” lại có truyền thống ngâm rượu với các thổ sản tùy theo đặc sản từng vùng như rượu mơ, rượu mít, rượu vỏ cam… Còn ngâm những toa thuốc hay ngâm những động vật thì nguồn gốc có lẽ ảnh hưởng theo cách ngâm Y dược của người Trung Hoa. Như ngâm rượu thuốc với sâm nhung, các thứ cao (hổ cốt, ban long…)…  và những thứ động vật dân dã hoặc quý hiếm khác. Đó là nói theo sách, còn thực tế ít ai chế biến các thứ rượu thuốc đúng theo toa của các thầy lang.

Đừng nghĩ các quán nhậu và kể cả các tiệm thuốc Bắc, nhất là ở vùng rừng núi Tây Nguyên hay miệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, người ta bày bán các loại rượu thuốc đúng tiêu chuẩn 100%.

Thật ra với một xị ghi giá từ 13.000đ đến 18.000đ đôi khi đến 25 hay 30 ngàn đồng/xị (một lít tương đương 50.000đ, 70.000đ) thuộc nước 1, nhưng chỉ là rượu nước 2 và 3 được pha thêm nước và đế. Còn muốn đúng chủng loại, chẳng gì bằng chúng ta tự mua “nguyên vật liệu” về ngâm chế thì mới thật công hiệu để khi “ông uống bà khen ngon”.

Rượu thuốc hay rượu dân tộc là tên gọi, chỉ các loại rượu ngâm rất phổ biến trong hệ thống đồ uống của ẩm thực, và thường được quảng cáo là các loại rượu cường dương hay bổ âm. Rượu ngâm đa số là rượu trắng có nồng độ cao, ngâm với các nguyên liệu như dược thảo hoặc động vật có dược tính theo các phương pháp cổ truyền, với ý nghĩa không chỉ để cho chúng ta thưởng thức hương vị của rượu mà hầu hết sử dụng như một loại thuốc. Hầu như gia đình nào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đều có một vài bình rượu thuốc trong nhà và có những bình được để rất lâu.

Rượu ngâm thảo dược

Thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) được sơ chế và ngâm trong rượu. Có rất nhiều loại rượu ngâm với các loại thảo dược, thường theo hai phương thức : hoặc ngâm rượu riêng từng loại hoặc ngâm hỗn hợp theo các bài thuốc cổ truyền. Trong thực tế, tùy địa phương, vùng miền có nhiều bí quyết ngâm rượu riêng, tuy nhiên người ta thường thấy rượu được ngâm với dâm dương hoắc, sâm các loại, kỷ tử, táo tàu, cùi nhãn, cùi vải, củ và rễ đinh lăng, cây mật gấu, thục, ba kích, chuối hột, , tầm gửi (đặc biệt tầm gửi gỗ nghiến), quế chi, xuyên khung, nhục thung dung, hà thủ ô v.v.

Rượu ngâm động vật

Các loại động vật hoặc một phần của động vật được ngâm rượu, ngoại trừ những loại đã được kiểm nghiệm là có dược tính cao độ (rắn, tắc kè, bìm bịp, hổ cốt, cá ngựa…), nhiều loại chỉ được ngâm theo kinh nghiệm với nguyên tắc “đồng tạng trị liệu” (phương thức chữa bệnh dựa trên cơ sở dùng phần nào của cơ thể động vật làm thuốc hay thức ăn sẽ bổ cho phần cơ thể của con người), chẳng hạn dương vật hổ, tinh hoàn được ngâm rượu với ý nghĩa dùng để bổ dương.

Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, chỉ sơ chế qua và không nấu chín. Cá biệt có một số loại được ngâm nguyên con. Một số động vật (tắc kè, hải mã) và thực vật (tam thất, nấm linh chi) phơi, sơ chế được bày bán trên các phố lớn được dùng để ngâm rượu thuốc

Rượu ngâm nguyên con thường gặp rượu rắn ngâm theo số lẻ một con (thường là rắn hổ mang, hổ chúa), 3 (rắn hổ mang, rắn ráo), 5 con hoặc nhiều hơn; rượu tắc kè; bìm bịp, chim sẻ, cá ngựa (hải mã), ong đất, ong bò vẽ (có thể ngâm nguyên cả mảng sáp tổ ong với mật, phấn hoa, nhộng và con ong hoặc ngâm con ong riêng); rượu hải long (rồng biển, sao biển); rượu tằm; rượu sâu chít, rượu hải sâm, rượu sò huyết, rượu ngán v.v.

Rượu ngâm từng phần tạng phủ động vậ t: rượu ngâm bào thai (dê, bê, hổ, khỉ), tinh hoàndương vật (dê, hải cẩu, hổ), tiết động vật (rắn, dê), mật (mật gấu, mật rắn, mật trăn), óc (khỉ), tay (gấu) v.v.

Rượu ngâm các loại cao động vật : cao xương hoặc cao toàn tính (nấu cao cả xương và thịt động vật) được ngâm với rượu, thường thấy rượu cao hổ cốt, rượu cao khỉ, rượu cao trăn, rượu cao sơn dương v.v.

Trong thực tế, thường gặp là các loại rượu ngâm hỗn hợp cả động vật và thực vật. Một số loại rượu ngâm động vật rất tanh (như rượu rắn) tuy ngâm riêng nhưng khi uống vẫn thường được pha với các loại rượu thực vật có tinh dầu thơm (như quế chi) để át mùi tanh.

Uống rượu rắn :

Chúng ta thường nghe nói đến uống rượu với máu rắn. Sách “Thoái thực ký văn” của Trương Quốc Dung (từng làm quan tri phủ ở đất Tân Bình, Gia định, thời Minh Mạng có chép :

– “Tục Nam kỳ lấy rắn hổ mang làm món ăn quí, thường dùng đi lễ quan trên và đãi khách. Lấy máu nó hòa với ruợu uống bảo là trị phong thấp”

Trong khi ở đất Bắc thường chỉ biết ăn rắn do người Tầu (Trung Hoa) nấu ở mấy tiệm cao lâu qua món “Long Hổ hội” (nấu một con rắn cạp nong đen, một con mèo đen cùng với chân giò heo thêm vài vị thuốc bắc. Nhưng qua cuốn “Thoái thực ký văn” chúng ta mới thấy dân miền Nam rất độc đáo ly kỳ trong việc dùng rắn dùng để ăn hay ngâm rượu. Người dân vùng núi hay vùng đầm lầy Nam Bộ người dân hay tự nuôi lấy rắn “ống tre” để ăn. Cách nuôi ghi theo cuốn “Đất lề quê thói” của Nhất Thanh, như sau :

– “ Bỏ đầu và đuôi năm tấc (20 phân) cho là độc ở đó. Có nhà  nuôi rắn ấy dùng ống tre vài lóng, một đầu để mắt, đầu kia để trống bỏ rắn vào, bịt lại. Đằng mắt tre xuyên một lỗ nhỏ, giã hành thun tẩm que tre để vào lỗ. Rắn sợ hành co mình lại, một tuần sau thay que tre cũng tẩm hành mà đẩy vào thêm, rắn càng co mãi, lâu dần ngắn bằng con chạch, vẩy trắng ra, rất béo ngon” .

Cách thức ngâm rượu những loại rắn trong cuốn “Trung Quốc Trà Tửu Từ điển” có kê ra Ô Xà tửu và Xà Đảm tửu tức dùng mật của 3 thứ rắn Nhãn kính xà,  Kim Hoàn xà, Ngân Hoàn xà, nói là công hiệu khu phong, khử thấp, minh mục, ích can, cường cân tráng cốt.)

Theo “Bản thảo cương mục”, rắn thuộc hướng đông nam nên ứng vào phong, tác dụng vào Can và Thận. Do đó, ăn rắn và uống rượu rắn dân Á Đông tin là trị được chứng phong thấp, đau xương và rút gân. Mật rắn quí vì  thuộc về hành Mộc, khí Phong, ứng với tạng Can phủ Đảm, nên bao nhiêu tinh chất của rắn cô đọng trong túi mật. Đó là luận thuyết theo Y lý khí hóa của Đông phương. Còn người dân ít học trong con mắt của họ do lý luận bắt nguồn vào sự quan sát thực tại, nghĩa là bản chất sự vật thế nào thì hình hài của nó hiện ra thế ấy (như chữ ký vậy), rắn bò sở dĩ thoăn thoắt uyển chuyển chính là nhờ khớp xương lưng nó mềm mại, và dẻo dai. Hiện nay, người ta đã thực nghiệm chế những thuốc trị đau khớp với thuốc Chondroitin và Glucosamine lấy từ sụn xương lưng của cá mập, cá nhám (Kình ngư). Vi cá được coi là sản phẩm quí giá trong các món súp , món nhồi bồ câu và nhân bánh Trung thu vì sự tin tưởng trên.

Nên uống rượu rắn, khi ngâm rắn càng độc càng quý, như hổ mang, cạp nong, cạp nia…

Cách ngâm : Rắn 1 bộ khoảng 3-5 con, các vị thuốc gồm : thương truật, xuyên khung, tần giao, mộc qua, thiên niên kiện 150g; xuyên quy, độc hoạt 200g; dây đau xương 300g, (các loại này các tiệm thuốc Bắc khắp cả nước đều có bán), rượu trắng 5-7 lít. Thời gian ngâm càng lâu càng tốt, tối thiểu là một tháng có thể dùng được.

Rượu hà nàm và tử hà xa :

Chuyện lấy hà nàm (bào thai) loài thú không phải là chuyện lạ, nhất là những vùng săn bắn hay bẫy được thịt rừng.

Hà nàm thông thường là hà nàm nai. Mới đây có nhóm học sinh ở phía Bắc đã quay một cảnh phim tài liệu (được giải thưởng sơ khảo từ trong nước, và được mời đi Nhật dự vòng chung kết) đồn rằng các dân VIP, hay mấy phụ nữ cần dưỡng thai, rất  thích tẩm bổ bằng “hà nàm người”(?!). Điều này bị báo chí cho rằng, nhóm học sinh chỉ dàn dựng chứ không có việc người ăn “hà nàm người”; nhưng ăn những nhau người (cuốn rún trẻ  sơ  sinh vớiI người mẹ khi sinh đẻ. Sách thuốc gọi là “tử hà xa” vì hình tròn như lá sen).

Với chuyên môn của một bác sĩ sản khoa, xác nhận là có việc ăn nhau người. Ở Bệnh viện Quảng Đông, Từ Dũ, Hùng Vương trước đây có những người lấy những lá nhau con so tốt đem về ngâm rượu. Lá nhau chứa kích thích tố Chrionic Gonadotrophin nên có một dạo người ta có phong trào uống xia rô nhau và cấy nhau theo phương pháp Filatov của Nga.

Bây giờ nhiều nhà bảo sanh rất quý nhau người, các bác sĩ phân loại nhau người  như sau : loại A là nhau con so, loại B là nhau con thứ 2 mà mẹ khỏe mạnh, nhau lấy ra trọn vẹn để đem chế xia rô hay cấy nhau, còn loại C là nhau con rạ thì đem làm thực phẩm nuôi gia súc, nhất là cho heo ăn chóng lên ký. Một vị bác sĩ làm việc ở bệnh viện Quảng Đông cho biết, máu của các sản phụ khi người ta sổ nhau được, hứng rồi giao cho những ao nuôi cá sẽ làm cá sanh đẻ nhiều, điều này cũng lô- gíc vì thứ máu này có chứa nhiều chất : ngoài kích thích tố chorionic gonado trophin., máu đẻ còn chứa những chất hữu cơ như hồng huyết tố, chất sắt v.v…

Thành ra ruợu hà nàm thú vật trên nguyên tắc là một thứ ruợu bổ, nhưng không ai dám nói những hàm chất tươi sống của nó có bị tiêu hủy vì ngâm rượu không ?

Theo sách “Trà Tửu từ điển”, rượu ngâm hà nàm nai gọi là Lộc thai tửu.

Về bộ phận sinh dục của thú vật, dân nhậu trong Nam còn  có rượu ngâm hòn dái dê (Ngọc dương tửu). Ngoài ra, tiệm thuốc bắc bán rất đắt món Hải cẩu thận (gồm dương vật và ngọc hoàn của con hải cẩu) trị chứng hư lao, liệt sinh lý, yếu bại lưng gối. Món Đông trùng hạ thảo (Cordyceps) cũng là một dược liệu quí trị liệt dương, di tinh , đau lưng gối bán rất mắc

Rượu bìm bịp :

Mé chân cầu Ngã Bảy Phụng Hiệp qua tỉnh Hậu Giang trên con đường xuyên Việt có một khu chợ nổi tiếng về cung cấp đặc sản rùa rắn, các loài chim. Đến đây muốn mua loài chim nào cũng có: Gà nước, ốc cao, cuốc, tràng kịch… Vài năm gần đây có thêm món hàng “độc” là chim bìm bịp cho giới ma tửu. Khách mua từ khắp nơi đổ về, người bán cũng góp mặt từ các tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… Những nơi đó có rừng tràm rậm rạp cho bìm bịp sinh sôi trú ngụ.

Giới mê tửu dược cho rằng bìm bịp là “số 1” về tính năng bổ thận, tráng dương… do loài chim này thường sống chung với rắn độc, lại ăn thịt rắn độc nên xương thịt nó có thêm dược tính của rắn. Bìm bịp ngâm rượu cùng vài vị thuốc bắc chữa chứng đau lưng, mỏi gối, làm cánh đàn ông thêm… “sung sức”.

Nên dân miền Nam coi rượu bìm bịp là một rượu quý, trị nhức mỏi và cứng gân cốt. Ở nơi có bìm bịp làm tổ người ta thường đến tổ bìm bịp mới sinh con, bẻ gãy chân những con bìm bịp con, sau đó chờ cho mẹ chúng tha những cây thuốc về trị bệnh cho chim con. Lúc bấy giờ bắt chim non và cây thuốc (nếu có) đem về ngâm rượu, vì cho rằng trong con bìm bịp con có chứa những cây thuốc có đặc tính tiếp cốt vừa được bìm bịp mẹ mớm cho.

Cách ngâm : bìm bịp 2 con để nguyên tính, tiểu hồi 6g, rượu trắng 2 lít. Ngâm trong 3 tháng là có thể dùng được.

C ó những bài thuốc ngâm rượu khác :

– Bìm bịp 2 con (1 lớn, 1 nhỏ) làm thịt, để tươi; tắc kè 1 con, làm thịt, phơi khô; củ sâm cau 100 g phơi khô. Tất cả ngâm với 1 lít rượu 30-40 độ, càng lâu càng tốt. Ngày 2 lần, mỗi lần uống 30 ml.

Ruợu bao tử nhím :

Nhím là loài hay bới đào để ăn rễ những cây thuốc mọc sâu dưới đất, nên dân miền Nam cũng bắt nhím mổ lấy bao tử ngâm rượu cho rằng rất tốt. Con nhím chữ Nho là Hào trư (nhím chồn) và Thích vị (nhím chuột), nhưng trong “Tuệ tĩnh toàn tập” thì không thấy nói đến dùng bao tử nhím mà chỉ nói thịt của nhím chồn s ẽ làm tiêu bệnh cổ trướng (bụng báng nước), trị nhiệt phong; còn da nhím chuột (nhím gai) giết được trùng bệnh  trĩ, đau lưng, đau bụng. Sách thuốc Trung Hoa không thấy nói về rượu ngâm bìm bịp và bao tử nhím như ở xứ ta.

Ruợu Nhung :

Nhung là gạc non của con hươu khi cái gạc già rụng đi, có màu đen xám hay vàng mơ, nếu mọc vào tiết Hạ Chí thì gọi là mê nhung, bổ phần âm huyết; còn mọc vào tiết Đông Chí thì gọi là lộc nhung, bổ phần dương khí. Mê nhung thường lớn hơn lộc nhung. Còn về phẩm chất, thường tùy theo xuất xứ : gạc nhung vùng Chợ Bờ (miền Bắc) tốt 10, vùng Thanh hóa tốt 8, vùng Lào thì xấu, vùng Đà lạt vừa dùng. Ở vùng biên giới giáp hai nước Việt – Trung, các lái buôn bán gạc Nhung phần lớn mua lại từ Thái Lan cũng không được tốt. Nói chung, về trị liệu thì Nhung tư âm bổ thận, chữa bệnh âm hư lao tổn và những chứng thuộc phần huyết (phụ nữ cũng nên dùng) hoặc gân xương lưng gối đau nhức (phục vụ người già).

Cách ngâm : 20-40g nhung hươu trong 500ml rượu, sau 7 ngày có thể dùng được; hoặc nhung hươu 30g, bỏ lông thái lát, sơn dược 30g, cho cả 2 dược liệu vào túi lụa buộc lại cho vào bình rượu khoảng 500-1.000ml, ngâm trong 7 ngày có thể lấy ra uống. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa, chừng 30ml. Thông thường Nhung phối hợp với Sâm. Sâm đây là Nhân sâm mà xứ ta không có nhưng mua tại các tiệm thuốc Bắc lớn thì có.

Ruợu Lộc Nhung của Trung Hoa (kén chọn hươu ở Liễu Ninh hay Cát lâm) thường ngâm thêm gân hươu, các vị thuốc bắc như bắc kỳ, thục địa và nhiều vị khác. Phân chất Lộc Nhung thấy những thành phần : Steroids, Cholesterol; về chất béo lipids có proteolipids, ganglioside, sphingomyeline; và muối khoáng thì có Calcium phosphate, Calcium carbonate.

Rượu hổ cốt  :

Trong họ Mèo, cọp là loài động vật to khỏe nhất. Đầu to tròn, cổ ngắn, tai nhỏ ngắn; bốn chân to khỏe, móng rất sắc và nhọn, đuôi dài bằng nửa thân, có giá trị kinh tế rất lớn, thịt ăn ngon và bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi thành cọp bông; còn xương cọp dùng làm thuốc chữa bệnh yếu xương, viêm xương.

Trung bình một bộ xương cọp lớn nặng từ 10 có thể lên đến 16 kg, còn cọp nhỏ chỉ cho xương chỉ chừng 4-5 kg. Căn cứ vào sức nặng của bộ xương, người ta xác định được giá trị và phẩm chất của Cao Hổ Cốt, và giá mua xương cọp cũng đã khác nhau.  Bộ xương cọp dưới 4 kg được coi là loại xấu.

Toàn bộ xương cọp đều tốt trong việc nấu cao, nhưng xương 4 chân và xương đầu được coi quý nhất, đặc biệt xương chân trước không thể thiếu, vì tỷ lệ xương chân trước có một lỗ hổng đặc biệt gọi là mắt phượng, có thể dùng phân biệt thực giả.

Theo kinh nghiệm người miền núi, khi nấu cao hổ cốt ít khi sử dụng một loại xương cọp, mà phối hợp với xương nhiều con vật khác và các vị thuốc thảo mộc như thiên niên kiện, địa liên v.v… Và theo kinh nghiệm, toa Hổ cốt mộc qua ngâm rượu rất thông dụng.

Phân chất Hổ cốt thì thấy có nhiều Kalium carbonate hay muối bồ-tạt. Sách “Trung Hoa trà tửu từ điển” nói rằng, bào chế Hổ cốt tửu Bắc kinh (chắc là rượu vua dùng), ngoài xương ống chân cọp (hĩnh cốt) là chính, còn ngâm thêm  đủ thứ như nhân sâm, lộc nhung, xạ hương, hồng hoa, mộc qua, nguyên hoạt, ngưu tất… cọng cả thẩy 147 vị thuốc bắc.

Nên khi nấu tốt nhất kiếm đủ 5 bộ xương : gồm một cọp, một khỉ, một sơn dương vì xương cọp là vị thuốc chủ yếu (vua) đi kèm theo hai vị thần (quan), có nghĩa có vua có quan.

Tại nước ta ít khi thấy dùng xương cọp làm thuốc, nhưng tại Trung Hoa người ta dùng xương 4 chân, xương đầu và xương cổ, nhưng phải loại xương màu vàng mới tốt. Khi dùng lấy chày đập vỡ, cạo bỏ tủy, đổ bằng rượu hay bằng dấm. Rồi nướng trên than thành màu vàng nhạt dùng để sắc uống hay dùng ngay xương này để ngâm rượu.

Xương và cao hổ cốt là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong dân gian, chủ yếu dùng trong những bệnh đau xương, tê thấp, đi lại khó khăn, đau nhức và còn dùng trong những bệnh cảm gió hay bị điên cuồng.

Một hình thức dùng cao hổ cốt làm thuốc bồi dưỡng : làm thịt một con gà giò, mổ bỏ ruột. Cho vào bụng con gà một miếng cao hổ cốt nặng chừng 10 – 20g. Rồi đặt con gà có cao hổ cốt vào một cái nồi đất hoặc nồi tráng men (tránh nồi kim loại) có nắp. Thêm vào một chén rượu nhỏ, không cho nước vào nồi. Đặt tất cả vào nồi để nấu cách thủy. Nước trong thịt con gà sẽ hòa tan cao và các chất trong thịt gà cho thật chín nhừ. Chỉ lấy chất nước tiết ra mà cho người đau yếu ăn.

C òn theo dân dã thì cách chế biến, lấy một bộ xương ống chân hổ sao vàng, giã nhỏ rắc men ủ thành rượu; hoặc cho vào trong cái bao bằng vải rồi dầm rượu. Công dụng : Rượu cao hổ cốt chữa đau trong ống chân, nhức các khớp xương và chữa thận, bàng quang lạnh.

Rượu rùa

Rùa sống lâu đến 500 năm, dù nhịn đói hai ba tháng  cũng không chết. Chế “Qui nhục tửu” bằng cách lấy thịt rùa hòa lẫn với men, rồi ủ cho thành rượu. Ruợu này chữa chứng ho lâu năm, chứng phong co quắp tay chân hay bại xuội. Mu rùa là “Qui bản” trị các chứng xích đái, bạch đái, thấp nhiệt lở ở hạ bộ, chứng trĩ và thóp trẻ con không liền được. Phân chất mu rùa thấy có nhiều muối Calcium. Ngoài ra, sách Trung Hoa có nói về “Qui giao tửu” dùng mu rùa đen nấu thành cao, rồi ngâm rượu với câu kỷ, kim anh tử, đảng sâm,  đương qui; có tác dụng tư âm, bổ thận, cường thân tráng thể . Qui Lộc tửu rất quí lại dùng mu rùa (qui bản), nhung hươu và 10 vị thuốc khác mà chế ra.

Rượu tắc-kè:

Muốn rượu có công hiệu phải ngâm tắc kè còn nguyên đuôi, nếu có cả con đực và con cái đang “dính chặt” với nhau thì càng tốt. Tắc kè vị mặn, tính bình, hơi độc, công dụng hư lao, ho lao, ho ra máu, hen suyễn, tiểu đường (đái tháo đường), suy nhược thần kinh, liệt dương, di mộng tinh, suy giảm khả năng tình dục… (đây là thứ rượu “ông uống bà khen ngon” thật tuyệt vời). Khi dùng bỏ mắt và kỳ trên sống lưng, tẩm rượu nướng khô mới dùng.

Còn khi ngâm tắc kè bao giờ người ta cũng ngâm với một số vị thuốc khác như nhân sâm, hạnh nhân, phục linh. Ngâm càng lâu càng tốt.

Trong Nam phân biệt tắc-kè (hay cắc-kè) với cắc-ké kỳ nhông : Theo Việt Nam tự điển của Lê văn Đức & Lê ngọc Trụ, tắc kè là loài bò sát dài độ 20 cm, bụng to đuôi ngắn, sống trong kẹt hóc, không ưa ánh sáng, thường kêu ban đêm (có những loại tắc kè bông, tắc kè lửa). Còn  cắc-ké kỳ nhông là loài bò sát mình ba góc thon dài, gáy có gai, đuôi dài, mình màu xanh, tím vàng đỏ đổi màu tùy theo chỗ, sống trên cây cối, ăn sau bọ, đẻ trứng thật nhiều dưới đất sâu. (Cắc-ké kỳ nhông hay còn gọi cắc ké lục chốt chỉ thuộc hạng thấp thỏi chầu rìa).

Tắc- kè có tên chữ nho là cáp-giới, đọc theo âm Tàu là Ke-Chieh, kỳ thực là tiếng kêu khi chúng muốn bắt cặp, con đực kêu tắc tắc như con thạch sùng, con cái đáp kè.

Sách thuốc Trung Hoa nói tắc kè rất nhiều ở Quảng Đông và Quảng Tây.  Hiệu lực làm thuốc của tắc kè  là phải có đủ nguyên cái đuôi; khi người ta rình bắt nó, nó thường cắn đuôi bỏ chạy. Khi tắc kè đực cái bắt cặp thì chúng ôm nhau sát, rồi cùng té xuống đất mê man không còn biết trời trăng, khó mà gỡ ra được. Do đó, người ta mới bắt cả cặp bỏ vô rượu, hấp rồi phơi khô để bán là thuốc khích  dâm cường dương.

Tắc kè vị mặn, tính bình, hơi độc, công dụng khai phế khí, chữ hen suyễn, ho lao, lợi thủy thông kinh, chữa què gẫy.  Mắt nó độc, nhưng đuôi lành.. Khi dùng bỏ mắt và kỳ trên sống lưng, tẩm rượu nướng khô mới dùng. Con nào đứt đuôi thì dược lực kém không nên dùng.

Theo sách Trung Hoa “Trà Tửu từ điển”, Cáp giới tửu đủ 2 con đực cái dính cặp mới thiệt tốt. Người ta dùng cắc kè còn tươi sống phối hợp với lộc nhung, đảng sâm, câu kỷ tử , viên nhục, huỳnh tinh, hoài sơn, hắc táo, tỏa dương, đương qui, bắc kì, nhục thung dung, xuyên khung… cùng vài thứ linh tinh khác ngâm trong rượu gạo thứ thiệt. Hương vị rượu rất thuần hòa, hiệu lực nuôi âm, bổ thận, bổ huyết dưỡng nhan (bổ máu và làm tăng sắc đẹp ở phụ nữ).

Những công thức khác :

– Tắc kè 50g; ba kích, hà thủ ô, hoàng tinh hoặc thục địa mỗi vị 100g; đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35 độ để được 30 0ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với rượu 35 độ để được 700 ml. Hòa lẫn hai rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 15-20 ml sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.

– Hoặc Dâm dương hoắc 12g; ba kích, sa sâm mỗi vị 16g; thỏ ty tử, nhục thung dung, kỷ tử mỗi vị 12g; đỗ trọng, đương quy mỗi vị 8g; cam thảo 6g; đại táo 3 quả. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, ngâm với 1 lít rượu 35-40 độ (càng lâu càng tốt). Uống trong vòng 1 tuần.

– Dâm dương hoắc 60 g, ngài tằm đực 100 g, kim anh 50 g, ba kích 50 g, thục địa 40 g, sơn thù du 30 g, ngưu tất 30 g, kỷ tử 20 g, lá hẹ 20 g, đường kính 40 g. Tất cả ngâm với 2 lít rượu 40 độ. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 ml trước hai bữa ăn chính và khi đi ngủ.

Rượu cá ngựa (còn gọi Hải Mã) :

Hải mã đã chế biến 30g, bàn long sâm 30g, cốt toái bổ 20g, long nhãn 20g. Tất cả ngâm với một lít rượu trắng trong 5-7 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 20-40 ml. Người không uống được rượu đặc, pha thêm nước và mật o­ng mà uống.

(CÒN 1 KỲ : RƯỢU MINH MẠNG)

Hạnh phúc lứa đôi (bài 4)

Lua doi 4NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ

– NGUYỄN LÊ QUAN

(Bài 4/4)

Lời nói đầu : Sau 3 bài “Hạnh phúc lứa đôi” được đăng trên trang Blog “Thế giới tâm linh”, chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi về Blog cũng như về địa chỉ email của người phụ trách.

Rất chân thành cám ơn tấm thạnh tình của bạn đọc bốn phương, bởi nhìn qua con số thống kê người đọc Blog “Thế giới tâm linh” hàng ngày của WordPress, mới thấy mọi người quan tâm đến chuyện “làm thế nào để sinh con theo ý muốn” từ chuyện tuổi tác nam nữ đến chuyện luyến ái, từ thế giới ảo đến thế giới thật.

Những bài viết về “Hạnh phúc lứa đôi” hoàn toàn dựa vào báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) phổ biến từ những năm 1960 thế kỷ trước, nhưng đến nay chưa thể nói là lạc hậu, vì những gì viết trong đây (cũng còn có sự tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa phụ sản hiện nay) đều rất thiết thực trong cuộc sống tình dục của mỗi người.

Nhiều người đã phản hồi, sao lại đăng chuyện tình dục vào các chuyện mục tâm linh, bởi hai chuyên đề này không thể là một.

Chúng tôi đã nói trong bài đầu : những bài “Hạnh phúc lứa đôi” đều có liên quan đến “Thế giới tâm linh”, vì nếu chỉ tin vào mệnh lý học thì không thể hoàn toàn đúng 100%, do còn nhiều yếu tố ngoài mệnh vận (thuộc THỂ) là cuộc sống lứa đôi (thuộc DỤNG), nếu không có sự kết hợp hài hòa giữa tâm linh và đời sống thì 100 ông thầy coi đều sai tất cả.

Qua ba bài đầu tiên được bạn đọc hoan nghênh nhiệt liệt, bài này nằm trong chuỗi “Hạnh phúc lứa đôi” coi như kết thúc. Và nếu có những sự kiện liên quan đến “Thế giới tâm linh” chúng tôi sẽ hân hạnh viết tiếp nhằm phục vụ các bạn đọc bốn phương.

Thiên Việt

Lua doi 1NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ

Trong hạnh phúc lứa đôi có nhiều điều để nói, ngoài các yếu tố cá nhân mà người nam hay người nữ cần săn sóc hầu tránh gây tan vỡ, còn nhiều yếu tố khác có thể xuất hiện trong đời sống vợ chồng, nên chúng tôi gọi là chuyện bên lề nhưng cũng rất quan trọng.

A/- CẦN ĐỀ PHÒNG

Có những người phụ nữ hay nam giới có sở thích bạo hành hay cuồng dâm trong tình dục, nhưng qua khảo sát số người này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp trong các mối liên hệ. Tuy nhiên nếu xảy ra dễ làm cho cả hai phải lẫn tránh nhiệm vụ, ảnh hưởng đến tâm bệnh là lãnh cảm, suy yếu sinh lý, hoặc lấy nhau rồi mới biết chồng hay vợ mang tính “đồng tính ái” v.v…

1- Bệnh thống giao

Bệnh này thường xảy ra, dù biết nhưng khi cả hai có nhu cầu mà phải chiều chuộng nhau. Thống giao là đau trong lúc giao hợp, với nhiều lý do :

– Mao quá dài, rậm, khi hành sự không biết vén khéo nên vài sợi tuột vào bên trong theo dương vật như một lưỡi dao, làm trầy sướt da thịt của cả hai. Những vết sướt này khi gặp dung dịch bài tiết hormone oxytocin từ người phụ nữ sẽ làm cho rát buốt đến đau đớn, có cả rỉ máu nhưng không nhiều. Gặp trường hợp này nên chờ cho vết sướt lành hẳn mới nên giao hợp tiếp.

– Nam giới đang có mụn bọc ngoài da (nhỏ như đầu cây tăm) khi quan hệ tình dục, mụn này bị vỡ ra gặp hormone oxytocin của phụ nữ xuất ra cũng làm cho rát, đau như bị lột da.

Lua doi - khong hung– Có thể xảy ra cho người nữ trong mỗi lần giao hợp, do cửa âm đạo nhỏ so với chồng, mặc dù nơi đây có khả năng giãn nở (đủ để một thai nhi lọt lòng có đường kính trên dưới một tấc) nên phải chịu đau vài phút. Hay khi người phụ nữ bị viêm niệu đạo (bên ngoài), viêm cổ tử cung (bên trong) cũng sẽ gặp trường hợp này.

Nếu bị đau đớn khi ân ái, điều đó chứng tỏ: hoặc “màn dạo đầu” của người nam với người nữ chưa kỹ càng khiến cho âm đạo chưa đủ độ ẩm để có hormone oxytocin xuất ra. Cho nên nữ giới đừng lo lắng liệu của mình có thật sự bình thường không khi môi to, môi nhỏ, màu sắc thay đổi như đã nói ở những đoạn trên ? Điều này thì yên tâm, chỉ cần cửa âm đạo không có dấu hiệu lở loét, sưng phồng,  thì mọi việc sẽ bình thường.

2- Bất khả giao

Tức không thể giao hợp, do người phụ nữ không chịu nổi cái quá khổ của đối tượng (dương vật to hay dài hơn sự nhỏ hẹp, nông cạn của nữ giới), hay do hiện tượng “co thắt âm đạo” tức âm đạo tự động khép chặt trước đối tượng.

Về trường hợp thứ nhất có thể trị, người đàn ông cần khéo léo trong lúc hành sự (xem các phần trên), và để cho người phụ nữ chấp nhận, nên kéo dài thời kỳ này từ 2 đến 3 tháng, lúc đó họ sẽ thấy quen dần.

Trường hợp thứ hai là lỗi người đàn ông, do lúc hành sự quá thô bạo khiến phụ nữ phải sợ hãi mỗi khi chung đụng (gần như bạo hành trong tình dục). Có những lúc dù không muốn nhưng do nhiệm vụ phải chiều, và do ảnh hưởng tâm lý từ trước nên cửa âm đạo sẽ co thắt khi đối tượng vừa đến cửa mình, khiến chuyện giao hợp càng thêm khó khăn; những nam giới không hiểu cứ “tấn công” nên xảy ra hiện thượng “thống giao”cho người nữ.

3- Thượng mã phong

Thượng Mã Phong còn gọi bị “Phạm phòng” tức chết trên mình ngựa, nói theo khoa học là người đàn ông bị trúng gió khi đang ân ái. Chuyện trúng gió có thể xuất hiện trong suốt những lần ân ái giữa nam nữ.

Thượng mã phong chỉ xảy ra cho nam giới khi bị trúng gió, lúc đó dương vật to cứng còn thân thể lạnh ngắt, mắt mở trừng trừng, mặt tái, chân tay bất động. Đây là một hình thức “chết giả”, nếu người vợ không biết cách chữa trị sẽ thành “đột tử” gây ra cái chết thật cho chồng.

Có nhiều lý do phải đề phòng khi găp trường hợp thượng mã phong :

– Sau khi lao động quá mệt mỏi không được giao hợp ngay, phải chờ cho thoải mái về thể xác.Lua doi 6

– Phòng ngủ có cửa sổ gió độc sẽ lùa vào, nên đóng kín cửa lại khi hành sự.

– Người đàn ông không có mao hậu môn, gió dễ xâm nhập vào ngườì phát vào tim mạch, đa số gặp hơn người có mao.

Ở trạng thái thể chất đang suy yếu mà hưng phấn quá độ, khi gặp một cơn gió độc thổi đến làm trúng gió, sẽ̀ sinh hiện tượng “chết giả” hay ngất xỉu. Nhiều phụ nữ chưa gặp cảnh chồng bị thượng mã phong sẽ rất sợ hãi, xô đẩy họ ra khỏi người, làm mất tính âm dương, khó cứu chữa.

Để trị việc trúng gió, là người phụ nữ dùng những vật nhọn như trâm cài, kim khâu để giải quyết tình trạng trên. Người phụ nữ phải thật bình tĩnh tay ôm lấy lưng đối tượng để truyền thêm hơi ấm, còn một tay lấy trâm chích dưới hốc xương chậu cho máu độc chảy ra.

Nếu người nam có mao nơi hậu môn mà người nữ không có sẵn trâm hay kim, mới lấy tay giật từng túm (hay giật tóc mai) cho thật đau. Chỉ một lúc sau người đó sẽ dần hồi tỉnh, lúc đó mới nên kêu thêm người trợ giúp.

Cũng có trường hợp nanm giới khi bị thượng mã phong là do bênh tim mạch, huyết áp cao (nên hỏi bác sĩ về chế độ được giao hợp) khi hành sự thái quá, sẽ làm nhôi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não hoặc trụy tim mạch, gặp những trường hợp này mới chính là “đột tử”.

Trường hợp trên không riêng gì nam giới, nữ giới cũng hay mắc phải khi thay nhau hành sự, chứ không phải do trúng gió mà chết.

B/- HOÃN SINH CON

Hiện nay nhiều gia đình chuộng sinh trai hơn sinh gái, theo thống kê mới nhất ơ VN vào đầu năm 2007 cho thấy, cứ 100 bé gái sinh ra có đến 112 – 120 bé trai ra đời, tỷ lệ chênh lệch trai thừa là 12 đến 20%, với đà sinh con như trên chỉ trong 15 hay 20 năm sau sẽ sinh hiện tượng “trai thừa gái thiếu”, và dân số sẽ trên dưới 100 triệu người (đến nay tròm trèm gần 90 triệu người). Ở Ấn Độ (dân số trên 1 tỉ người chỉ sau Trung Quốc) khi kêu gọi mọi người “triệt sản”, chính phủ đều có phần thưởng bằng hiện kim cho ai tham gia.

Ngoài vấn đề dân số, cũng hiện nay ngoài lời kêu gọi hoãn sinh con, nhiều cặp vợ chồng cũng hoãn sinh đẻ bằng cách đẻ thưa, có người từ 5 đến 7 năm mới sinh tiếp đứa thứ hai, nếu đã đủ trai đủ gái tuy không triệt sản nhưng cũng không muốn sinh đẻ nữa, lý do để có thời gian làm giàu khi không vướng bận con cái.

Tạm hoãn sinh đẻ có nhiều cách và nhiều loại thuốc :

1/- Bao cao su : thường do sở thích cá nhân, hiện nay có hơn 10 loại bao khác nhau, loại bao trơn ít người dùng vì không đáp ứng được sự hưng phấn và thỏa mãn, những loại có hột, có khía được thông dụng nhất. Vừa hoãn được sinh đẻ lại phòng cả bệnh HIV/AIDS.

2/- Thuốc ngừa thai : thường một vĩ có 28 viên uống ngay ngày đầu kinh nguyệt và theo thứ tự được hướng dẫn. Thuốc ngừa thai rất hiệu nghiệm như dùng bao cao su, vợ chồng thoải mái khi hành sự. Nhưng không nên dùng quá 4 hay 5 năm, phải tạm ngưng một thời gian rồi mới tiếp tục dùng lại.

Lua doi 33/- Đặt vòng : đặt vòng cần có sự chỉ định của bác sĩ và cần tái khám thường xuyên.

4/- Thắt buồng trứng hay thắt ống dẫn tinh : khi cần sẽ mở nút để việc sinh con trở lại bình thường. Có lợi là việc sinh hoạt tình dục như người bình thường.

5/- Viên đặt tại chỗ : chỉ lớn bằng đốt ngón tay út, mềm và trắng. Khi dùng phải đặt vào âm đạo tối thiểu trước 5 phút (nhưng thời hạn hiệu lực trong vòng 4 giờ), và sau khi tiến hành xong không được rửa bằng xà bông sẽ làm thuốc hết hiệu nghiệm.

6/- Tính ngày : Nếu nữ giới có kinh nguyệt đều đặn 28 ngày, còn kinh nguyệt bất thường không nên dùng cách tính tránh giao hợp 6 ngày trước và sau khi trứng rụng (ngày trứng rụng trước 14 ngày khi có kinh nguyệt lần sau). Cách này có khuyết điểm : khi muốn lại không được, khi được lại không muốn.

Đồng thời người đàn ông có dạng tinh trùng khoẻ, chúng có thể sống trong lòng tử cung từ 4 đến 5 ngày, thậm chí cả tuần, rất dễ thụ thai.

7/- Tẩu vi thượng sách : theo binh pháp Tôn Tử, kế thứ 36 là rút lui, hay còn gọi xuất tinh ngoài âm đạo. Cách này do người đàn ông chủ động khi linh cảm thấy gần như muốn xuất phải kịp thời. Nhưng đa số phụ nữ lại không cảm khoái vì thấy không cùng nhau đồng bộ.

C/- RỐI LOẠN BẢN CHẤT

Đến nay bản chất tình dục sinh ra nhiều biến thái, có những loại hình được phổ biến công khai, có những loại chỉ thầm lén sử dụng. Giới y học gọi đây là rối loạn bản chất, tức không bình thường trong tính dục, khi nhiều đôi nam nữ lấy nhau mới biết rõ tính nết của nhau :

1/- Đồng tính ái

Lua doi - minh hoa 1Đồng tính ái (đồng tính luyến ái) được chia 2 dạng :

– Dạng thứ nhất : nam nữ đều hoàn toàn bình thường về tình dục, cũng như về nghĩa vụ cơm áo gạo tiền như mọi gia đình khác. Nhưng trong “tâm tư” hoặc một trong hai người lại hướng về một đối tượng đồng giới tính. HHọ thường hẹn hò thầm lén như đôi tình nhân và làm tình trái quy luật thiên nhiên.

Nên biết trong tính dục của nam giới, hậu môn cũng là nơi tạo ra sự cảm khoái. Còn giới đồng tính nữ tuy việc luyến ái không như nam, nhưng̣ lại có nhiều điểm nhạy cảm khác về tình dục. Khi đối tượng biết khai thác hết mọi sở thích của họ, việc yêu người đồng giới hơn chồng hay vợ sẽ có chiều hướng gia tăng đáng phải cảnh báo.

Nếu dạng đồng tính ái nói trên không được khắc phục, loại trừ sớm, chuyện bỏ vợ bỏ chồng chạy theo “tiếng sét ái tình” cũng sẽ xảy ra không xa. Do trong đời sống tính dục của những người đồng tính ái, họ rất biết chiều chuộng và săn sóc nhau hơn cả tình vợ chồng, tình nhân đồng thời còn mang tính ghen tuông rất cao.

– Dạng thứ hai : là những người xuyên giới tính, tức thể xác nam nhân nhưng tâm tính, sở thích, cử chỉ, phục sức như nữ, hay thể xác của nữ mà tâm tính, sở thích như nam. Xã hội thường gọi dạng người thứ hai là Pê-đê hay người ái nam ái nữ. Nói thể xác là nam hay nữ, nhưng thực tế những người ái nam ái nữ này có những điểm chưa được tạo hóa tạo ra hoàn chỉnh v.v…

2/- Dị tính ái

Người “dị tính ái” không thiếu trong xã hội, nhưng ở các nước Âu Mỹ có số người mang căn bệnh “dị tính ái” đông đảo hơn. Dị tính ái có thể là một căn bệnh nhưng cũng có thể vì lý do tình dục, thích người nhỏ tuổi hơn từ 20 đến 40 tuổi. Trong đó có các dạng :

– Ái nhi : theo y học gọi là pedophilia, tức quan hệ tình dục với trẻ em (khoảng từ 10 đến 14 tuổi, dưới tuổi vị thành niên). Hiện nay việc xâm phạm, quấy rối tình dục ở trẻ em có chiều hướng gia tăng. Theo các nhà xã hội học cho rằng thủ phạm nhằm vào các đối tượng trên với nhiều lý do : tránh được sự lây nhiễm bệnh HIV/AIDS do trẻ dưới vị thành niên chưa tiếp xúc với ai qua đường tình dục, với nữ nhi còn do quan niệm sự trinh trắng đem đến điều may mắn. Pháp luật có hình phạt cho thủ phạm loại xâm phạm tình dục trẻ em khá cao.

– Ái lão : là người nam hay nữ hơn nhau từ 3 đến 4 con giáp (30 – 40), nhưng các “ông già” 60, 70 tuổi lấy gái 18 đến 25 là chuyện xảy ra bình thường không hề bị xã hội dị nghị, trái lại các bà lấy trai tơ người đời lại mai mỉa là “nạ dòng”. Đôi khi những người tuổi còn thanh xuân muốn lấy ông già bà lão không vì tình yêu, tình dục mà chỉ vì tiền.

Những người có tính ái lão lại không bị kết án, chỉ mang tiếng thị phi là nhiều.

3/- Những rối loạn khác

Thường là những người bị hội chứng ẩn ức sinh lý hay tình dục do không giải quyết được  : bất lực, yếu sinh lý, rối loạn cương dương…, nên có những hành vi bất thường về tính dục, được giới y khoa liệt vào dạng rối loạn bản chất. Dạng người này cũng được chia ra : dạng nguy hại và dạng không nguy hại.

– Không nguy hại

1/- Thư dâm (không phải dâm thư) : thích đọc sách báo, tiểu thuyết, xem phim diễn tả về quan hệ tình dục.

2/- Thị dâm : thích xem lén người khác giới thay đổi quần áo, những cảnh ân ái. Ngoài ra còn trộm đồ lót của người khác giới để “thưởng thức” qua trí tưởng tượng.

3/- Khẩu dâm : thích nghe và phát ngôn tục tỉu, thích kể những chuyện luyến ái.

– Nguy hại

1/- Khổ dâm : trước khi hành sự phải chửi mắng đối tượng bằng những lời lẽ thô bỉ, nếu không sẽ không có cảm hứng khi gần gủi.

2/- Ác dâm (bạo hành tình dục) : thường cột đối tượng rồi đánh đập, bóp cổ, ngắt nhéo vào những nơi da non như bắp đùi, bắp tay, đến khi đối tượng kêu la van xin mới bắt đầu hành sự. Loại này thuộc người hiếp dâm hay bạo hành với đối tượng.

3/- Cuồng dâm : tuy ở nam giới không có khả năng đồng hành cùng lúc hai, ba người, nhưng vẫn thích có số đông nữ giới, thưởng thức mỗi bông hoa một tí. Khi cuồng dâm họ có thái độ bạo lực với đối tượng. Trái lại ở nữ giới do có sức chịu đựng, có thể cùng lúc với hai ba đối tượng mới thỏa mãn.

Dạng cuồng dâm còn biểu hiện ở những người chồng ngày đêm hành hạ vợ theo cách “đêm bảy ngày ba”, dù có một người vợ khoẻ mạnh, dẽo dai, cũng không chấp nhận nếu cứ kéo dài suốt tháng, suốt năm sang năm khác.

Các nhà xã hội học cho rằng, cuồng dâm ở nữ có thể xảy ra do đời sống tình dục của họ mạnh mẽ. Nhưng ở nam chỉ mang nghĩa bạo hành, vì đôi khi họ thuộc dạng bất lực, yếu sinh lý nên gây ra hội chứng ẩn ức tình dục, sự cuồng dâm cho họ được giải tỏa những ức chế đang căng thẳng.

Lua doi - chan goi4/- Cùng nhau thỏa mãn

– Cần thay đổi chỗ làm tình : Nhiều người nghĩ rằng khi làm tình phải được diễn ra trên một chiếc giường sạch sẽ, ngăn nắp và rộng rãi? Không phải thế. Khi ân ái trên giường nhiều khi lại đồng nghĩa với nhàm chán và nhạt nhẽo. Phải thay đổi chỗ, vì thế, nếu một khi người đàn ông muốn đột phá địa điểm bằng cách làm hành sự ngay ở bàn ăn nhà bếp, ở góc phòng tắm hay thậm chí là trong bụi cây đừng vội nghĩ rằng họ “lập dị”. Sự mới mẻ và ngẫu hứng luôn là gia vị tuyệt vời của tình yêu đó. Nhất là người thường rối loạn cương dương, điều này khi người nữ chấp nhận, sẽ tạo cho họ nguồn cảm xúc, máu nóng sôi sục ngay.

– Mật độ làm tình nên ít hay nhiều ? “ : đó là tùy theo bản chất của người phụ nữ, nên đừng lo lắng cho rằng mật độ làm tình của mình là quá ít hay quá nhiều so với những đôi khác. Mà người đàn ông cần chủ động hiểu được mức chịu đựng làm tình của đối tượng thì không bị chê khen “bạo lực” hay “kém cõi” đâu.

–  Đòi hỏi ân ái chẳng có gì đáng mắc cỡ : Nhiều người thổ lộ rằng họ thực sự muốn màn dạo đầu kéo dài thêm chút nữa để cơ thể được đánh thức hoàn toàn, hay muốn được thay nhau “cưỡi” lên mình nhau thường xuyên hơn… nhưng sự xấu hổ và ngại ngùng khiến họ không dám nói. Việc nói ra những điều mình muốn trong lúc giao hợp sẽ giúp cho cả hai thêm hiểu nhau và đối tượng sẽ tìm cách làm thỏa mãn, như thế mới có đỉnh điểm như mong đợi.

– Cần thời gian tạo hưng phấn : Hầu hết phụ nữ cần thời gian nhất định để tự làm nóng mình và đốt cháy ngọn lửa khát khao. Nếu nam giới đã sẵn sàng còn nữ giới thì chưa, hãy nói với họ đợi thêm chút nữa. Phụ nữ khó mà yên tâm làm tình khi hormone oxytocin chưa bài tiết nên cửa âm đạo còn khép kín.

–  Lo lắng về cực điểm thì càng không đạt được : Nhiều người nam cũng như nữ cảm thấy buồn, rồi tức tối, bất lực vì không thể cảm nhận được cơn cực khoái đầy ma lực trong mỗi lần ái ân. Có người đổ lỗi cho bản thân mình thiếu nhạy cảm  hoặc đổ lỗi cho đối tượng không biết làm tình.

Vậy khi làm tình đừng để trí óc suy nghĩ quá nhiều vào đó, mà hãy tập trung vào cảm giác mà mình đang thụ hưởng sau mỗi cử động làm tình của cả hai. Có như thế mới có thể đạt cực khoái được. Khi làm tình đừng nghĩ tại sao đối tượng không hành sự ở tư thế này tư thế nọ, nếu cần phải nói ra, nếu họ không làm thỏa mãn theo đề nghị lúc đó là do lỗi của đối tượng.

– Ngày kinh nguyệt đến khiến phụ nữ có cảm giác thèm được làm tình : Không ít người đàn ông kinh sợ khi thấy đối tượng có kinh nguyệt, nhưng chính trong những ngày đó là không ít phụ nữ cảm thấy cực kỳ khao khát và hào hứng với việc làm tình. Sự thay đổi hormone khiến tâm trạng những phụ nữ như  cảm thấy mình thật sexy,  do “vùng kín, vùng trủng” ẩm ướt mang lại cảm giác “cần đàn ông” hơn. Và tất nhiên điều họ mong mỏi chính là việc người tình, người chồng sẵn sàng lên giường “mây mưa”.

Tuy nhiên, họ sợ rằng đối tượng sẽ ngần ngại thì nên :

Thứ nhất, phải đảm bảo cơ thể, đặc biệt là “vùng kín” được vệ sinh sạch sẽ để tránh nguy cơ bị nhiễm khuẩn bởi môi trường ở đó lúc này rất ẩm ướt.

Thứ hai, hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng tuy nàng ham muốn nhưng cửa âm đạo vẫn bị khô trong những ngày này. Vì thế, hãy sẵn sàng cho việc dùng thêm chất bôi trơn khi cần thiết. Nếu lúc làm tình mà bị khô sẽ đau rát và chảy máu nhiều hơn.

Thứ ba, không phải tư thế nào cũng phù hợp để yêu trong những ngày này. Thí dụ như phụ nữ ở tư thế bên trên có thể làm “dòng chảy” tràn ra nhiều hơn. Cường độ “xâm nhập” của nam cũng cần nhẹ nhàng chứ không nên quá dồn dập, mạnh mẽ.

Nguyễn Lê Quan

Hạnh phúc lứa đôi (bài 3)

Lua doi - minh hoa 1TRONG TƯỚNG MỆNH

PHẢI HÀI HÒA

VỚI TÌNH DỤC

– bài Nguyễn Lê Quan

(bài 3/4)

E/- Sở thích

Người phụ nữ thường kiềm chế những ham muốn, khát khao về sex với người bạn đời, thậm chí họ còn không dám đề nghị với đối tượng về tư thế mà họ yêu thích.

Cho nên ngoài những yếu tố đem lại hạnh phúc lứa đôi, từ những quan niệm xưa cũ như mê tín hay thực dụng, theo thói thường trong xã hội hay trong gia đình. Cả hai nam và nữ còn phải biết chiều chuộng sở thích lẫn nhau.

Trong trường hợp cả hai đều xử nam – xử nữ, chưa có kinh nghiệm luyến ái, cần nên đọc những sách về tính dục để hiểu rõ những bước đầu và những bước tiếp theo trong cuộc sống làm chồng làm vợ.Lua doi - H Vu

Ở các nước Âu Mỹ bậc trung học đã dạy môn “giáo dục giới tính”, còn ở VN có người từng lên tiếng đề nghị nên có môn này trong giáo trình giảng dạy. Vì nếu mọi người đều hiểu biết các hiện tượng tâm sinh lý, sinh dục từ tuổi dậy thì, khi bước vào đời sẽ không phải ngỡ ngàng khi thấy những ngày kinh nguyệt, hay đau đớn khi màng trinh bị rách, tại sao người có mao người không có, tại sao cần cắt hay không cắt da bao quy đầu, chuyện dài ngắn, nông sâu ảnh hưởng như thế nào trong đời sống tình dục, muốn có con hay không muốn phải làm thế nào, khi phạm phòng hai vợ chồng sẽ phải xử trí ra sao v.v…

Cuối cùng là sở thích tình dục của nam hay nữ cũng là yếu tố quyết định cho hạnh phúc lứa đôi.

– Nam nữ cần đồng bộ

Ở̉ những bài trước khi nói về tình dục, chuyện “ông nói dài bà nói ngắn” cũng là sở thích của nữ giới muốn kéo dài việc hưng phấn.

Lua doi - H am daoLua doi - H xuat tinh

Theo nghiên cứu, người phụ nữ thường muốn kéo dài tối thiểu là 7 phút, nhưng nam giới người yếu sinh lý cấp IV chỉ thỏa mãn đối tượng được một hai phút là xong, nên việc hưởng thụ không đồng bộ khiến người nữ sẽ sinh ra ẩn ức và manh nha chuyện đi tìm người khác giải quyết cho được thỏa mãn.

Trước khi đi sâu vào vấn đề trên, chúng tôi muốn nói đến trong đêm tân hôn làm thế nào cho người vợ không sợ khi phải giao hợp vào những lần kế tiếp, bởi có người do lần đầu rách màng trinh làm cho đau đớn suốt cả tuần lễ.

Trước hết người đàn ông không được “dục tốc” tức vừa thấy đã phóng vô ào ào như đua xe. Phải biết ve vuốt đối tượng, để sau đó người phụ nữ mới bài tiết ra hormone oxytocin chất nhờn trong trong vùng âm hộ, và đến lúc đó mới nên hành sự nhưng thật khéo léo nhẹ nhàng. Người nữ dù có đau đớn cũng mau chóng quên đi để nghĩ đến những cảm giác mới lạ vì chưa từng được hưởng qua. Một phần cửa mình của họ đã được nở to ra và một phần nhờ hormone oxytocin làm chất bôi trơn nên không còn thấy đau rát. Tuy nhiên, việc đau rát này vẫn sẽ âm ỉ kéo dài trong ít nhất từ 3 đến 4 ngày mới dứt, vì thế trong những ngày này nam giới cần đối xử với đối tượng như ngày ban đầu để họ thấy quen dần.

Trở lại việc cả hai người cần đồng bộ để đi đến đỉnh cao cùng lúc, tức cả hai cùng cảm khoái đúng thời điểm, không sớm hoặc muộn quá – người nhạy bén sẽ thấy tiếng rên hay hơi thở của của người phụ nữ mà đánh giá thời điểm cần “bung ra” theo cho kịp thời. Đây là giai đoạn chủ yếu nếu cả hai thực hiện được chuyện này lâu dài, chắc chắn gia đình sẽ ấm êm hạnh phúc cho dù gặp cảnh nghèo đói trai năm thê bảy thiếp cũng khó rời bỏ nhau.Lua doi 6

Như đã nói trên, người phụ nữ cần ít nhất 7 phút, nhưng ở 1 – 2 phút cuối cần được người nam nhạy bén mà cùng nhau xuất đồng bộ. Các nam giới mạnh khoẻ có thể kéo dài thời gian chờ đợi, còn những người yếu chỉ được từ 2 – 3 phút, vậy phải làm thế nào cho đồng bộ ?

Người chồng khoẻ có thể đưa hoạt động lên nhanh, còn người yếu cần phải biết “bế tinh”, tức kềm hãm cho đến khi người phụ nữ có biểu hiện đã đến đỉnh mới cho xuất tinh.

Tuy nhiên muốn “bế tinh” lại không dễ dàng, phải tập luyện, vì đây thuộc hiện tượng yếu sinh lý, ngoài thuốc thang còn như lời danh y Tuệ Tĩnh nói gồm : bế tinh, dưỡng khí và tồn thần. Muốn bế tinh phải tập dưỡng sinh thái cực quyền hay yoga, để khi cần nín thở một thời gian chờ người nữ có biểu hiện đã đến đích mới cho xuất; ngoài việc tập nín thở còn phải tập trung tư tưởng không được chia trí cho những ý nghĩ khác. Với lý thuyết trên nghe qua thì dễ nhưng tập sẽ rất khó.

Cần biết ở nữ giới việc bài tiết ra dung dịch hormone oxytocin có khi ngay từ lúc đầu được vuốt ve, nhưng khi tột đỉnh thì xuất hormone estrogen là lần cuối như nam giới xuất được tinh trùng, nếu người đàn ông đã xong nhưng người phụ nữ chưa thể xuất hormone estrogen, họ vẫn chờ đợi trong khi hormone estrogen vẫn tiếp tục xuất hiện trong cửa mình. Đến khi không xuất nữa, người phụ nữ sẽ mỏi mệt vì chưa thỏa mãn, nên muốn nghỉ ngơi lâu hơn và nếu nam giới muốn tiếp tục “sáp chiến” họ sẽ lắc đầu từ chối ngay.

Sakamutra– Những tư thế cần thiết

Từ lúc có ông bành tổ cho đến cuối thế kỷ 18 qua đầu thế kỷ 19, mỗi cặp vợ chồng có lẽ chỉ biết đến những tư thế do trời đất dạy bằng luật tự nhiên.

Ở VN hình ảnh về tư thế giao hợp được tìm thấy trên Khạp đồng Đào Thịnh (hiện được trưng bày trong Viện Bảo Tàng Sài Gòn). Khạp có niên chỉ vào khoảng ba ngàn năm trước Công nguyên, thể hiện ở 4 góc có 4 cặp nam nữ với 4 tư thế giao hợp khác nhau, nhưng chủ yếu hình hai người nằm chồng lên nhau.

Ở Ấn Độ tác phẩm tình dục nổi tiếng Kamasutra (khoảng 400 Tr.CN) có hình minh họa khoảng 20 tư thế, còn Trung Quốc vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, Đổng Huyền Tử viết cuốn sách về 30 tư thế trong đời sống vợ chồng, mang những tên hoa mỹ như Rồng bay (Long uyển chuyển), Phụng múa (Loan song vũ), nam nữ tương thân (Uyên ương hợp) v.v…

Sau này các nước phương Tây tràn đến phương Đông, họ du nhập các loại hình văn hóa trong đó các sách báo khiêu dâm, hình ảnh gợi tình, khiến làm thay đổi những nếp sống cũ được cho là lạc hậu, lỗi thời. Nên từ một vài tư thế ban đầu nay đã có trên 40 kiểu cách, được các đôi nam nữ tận dụng triệt để.

Tuy nhiên, để làm vừa lòng sở thích cho phụ nữ hay nam giới lại là điều cần nói. Vì sẽ không đáng nói nếu cả hai cân xứng nhau về dài ngắn, nông sâu… còn nếu bất cân xứng phải tìm tư thế cho thích hợp để hóa giải chuyện này, nếu không đã không làm tròn sở thích trái lại còn gây ra sự mẫn cảm, ức chế thiếu hứng khởi từ đối tượng.1. Không phải tất cả phụ nữ đều thích yêu cùng một tư thế

Nói cụ thể là người phụ nữ có một (hoặc vài) tư thế “ruột”, là tư thế làm họ có thể nhanh chóng lên tuyệt đỉnh và tận hưởng được tối đa cảm giác mê man của tình yêu. Có người thích được “cầm cương” bằng cách ở trên, có người lại khoái cảm giác “bị chiếm đoạt” khi nằm dưới, cũng có không ít người tỏ ra phấn khích khi được “yêu” ở những tư thế khác.

Các tư thế có thể thay đổi liên tục và linh hoạt trong cuộc ái ân. Nhiều phụ nữ nghĩ rằng mỗi lần “yêu” việc thay đổi tư thế là sự xâm nhập cảm khoái cho mau chóng hơn. Nên người đàn ông không nên ngần ngại khi đưa ra một tư thế khá lạ lùng. Biết đâu, đó sẽ là một trải nghiệm mà cả hai không thể nào quên!

Vì thế, nam giới hãy khám phá tư thế riêng của người tình cho họ đạt đỉnh điểm.

– Các phương thuốc trợ lực

Hiện nay có nhiều loại thuốc trợ lực cho nam hay nữ khi sinh lý yếu kém, rối loạn cương dương, lãnh cảm để cả hai cùng đạt sự cảm khoái. Với tây dược khi mua cần có giấy chỉ định của bác sĩ, còn đông dược được bán tự do cho mọi người.

Ngoài các thuốc đông tây y còn có những món ăn dân dã “ăn gì bổ đó”, loại thông thường như pín bò, pín ngựa, pín dê, ngọc dương, nhũ dương… còn thức quý hiếm làm kích dương, trị lãnh cảm có sừng tê giác, chân gấu, lộc nhung, hải mã, sâm Cao Ly….Lua doi - thu thuat

Theo các bác sĩ chuyên khoa, thuốc tây y uống có đủ khả năng giải quyết những tình huống trên, nhưng mỗi thuốc trị cho những nguyên nhân khác nhau, nên tìm đến bác sĩ khám nguyên nhân để có chỉ định về thuốc cho hợp lý và an toàn, vì đối với thuốc tây y đa số có biến chứng nếu dùng không đúng.

Nguyên nhân yếu sinh lý thường phát ở người trên tuổi 40, đa số bị rối loạn cương dương do hậu quả của bệnh tiểu đường, tim mạch, thận suy, huyết áp cao, trầm cảm (stress), hay người nghiện rượu, ma tuý, người chấn thương cột sống, vùng xương mu, bộ sinh dục…

Thuốc tây y trợ lực tăng cường sự kích thích và kéo dài thời gian như nhóm Sildenafil, Nitroglycerine; nhưng dùng nhiều sẽ lờn thuốc sau phải tăng “đô” nguy hại đến sức khoẻ, và khi không dùng nữa bệnh càng thêm nặng. Thuốc đông y chủ yếu nhập lậu từ các vùng lãnh thổ Trung Quốc đều không đáng tin cậy do không được bảo chứng, và qua các xét nghiệm.

Ngoài ra còn những dụng cụ trợ giúp như thuốc xịt, thuốc bôi trơn làm kéo dài thời gian hành sự cho nam giới; có những bao cao su gai hoặc có lông mềm nhằm tạo cảm giác cho phụ nữ thêm hưng phấn (xem hình)

(Xem tiếp bài 4 – hết)

Hạnh phúc lứa đôi (bài 2)

Lua doi - minh hoa 1NGOÀI TƯỚNG MỆNH

PHẢI CÓ TÌNH DỤC

– NGUYỄN LÊ QUAN

– Bài 2/4

C/- CƠ QUAN SINH DỤC

Như đã phân biệt tính dục với tình dục, cũng nên phân biệt giữa tình dục với sinh dục, mặc dù cả ba đều liên quan nhau. Nhưng giữa tình dục và sinh dục đều được tiến hành cùng lúc. Tình dục là để đạt đến mục đích khoái cảm, còn sinh dục đạt đến sự truyền giống trong dòng họ.

Để hiểu rõ về sinh dục, chúng ta nên biết đến sự cấu tạo con người, khi trời đất đã ban cho người nam và người nữ những bộ phận để có thể sinh ra con cái.

Ở nam giới bộ phận sinh dục gồm có túi tinh sản xuất ra 70% tinh tương (hormone oxytocin – chất nhờn) bảo vệ cho tinh trùng – còn gọi là tinh dịch – hormone này không có khả năng làm thụ tinh, còn tinh hoàn (hòn dái) sản xuất ra tinh dịch còn gọi tinh trùng, là những tế bào rất nhỏ mang tính độc lập, có đuôi để bơi như cá. Thái giám nơi cung đình đều bị lấy mất tinh hoàn, nên họ đã không thể sản xuất được tinh trùng mà hệ thần kinh cũng làm mất khả năng làm cương dương; người ái nam ái nữ do tinh hoàn hoặc dương vật không phát triển.Lua doi - H sinh duc nam

Tinh hoàn sản xuất tinh trùng thường xuyên, đưa qua mào tinh để tồn trữ, khi áp suất gia tăng, tinh dịch từ mào tinh đưa lên ống dẫn tinh để xuất ra khỏi bộ phận.

Theo nghiên cứu khoa học, vận tốc tinh trùng được bắn ra ở độ tuổi thanh niên là 20 km/h và điểm xa trên dưới 1 mét, khi tuổi càng lớn vận tốc càng thấp dần và điểm xa chỉ còn từ 0,6 m đến 0,1 m khi qua tuổi lục tuần.

Cũng theo báo cáo Masters – Johnson, việc sản xuất tinh trùng cho nam giới đến trên 75 tuổi mới có thể được cho là đã chấm dứt (mãn dục với nam giới), và mỗi người có thể hành sự khoảng trên dưới 5.000 lần trong đời.

Nếu tính trung bình từ năm 20 đến 60 tuổi là 40 năm, chúng ta sẽ có bài toán như sau :

40 năm x 365 ngày =  14.600 ngày

5.000 lần : 14.600 ngày = 0,35 lần/ngày

Như vậy cứ 3 ngày 1 lần (0,35 x 3 = 1,05 ngày) sức khoẻ sẽ đảm bảo, tinh trùng sẽ có chất lượng. Nếu thời thanh niên phung phí tinh trùng quá nhiều, từ 2 đến 3 lần/ngày, khi đến tuổi trung niên số tinh trùng được tinh hoàn sản xuất sẽ kém dần đi, sức khoẻ cũng đã suy yếu, đến tuổi 55, 60 xem ra “trên bảo dưới không nghe”. Tuy nhiên với người ăn uống điều độ và có tẩm bổ đủ chất, việc này có thể tương đối hơn.

Người xưa lại có cách tính cổ truyền, lấy số tuổi tròn bỏ đi số 0, rồi nhân cho 9, sẽ ra chu kỳ chăn gối đảm bảo tinh trùng có đủ chất lượng.

Thí dụ : người 26 tuổi tính tròn hệ số là 30 bỏ số 0  còn 3 nhân 9 = 27 (nếu chưa đến 25 tuổi thì tính hệ số 20). Số hàng chục là số tuần, số đơn vị là số lần. Tức hai tuần được bảy lần chăn gối có chất lượng.Lua doi - H sinh duc nu

Như đã nói tình dục và sinh dục tuy hai mà một, khi sử dụng có bốn mục đích chính :

1- Việc truyền giống cho họ tộc, dòng tộc.

2- Tạo sự thân thương giữa vợ chồng (ngoài những cử chỉ, lời nói, sự âu yếm, săn sóc giữa đời thường).

3- Đơn thuần đi tìm cảm giác hưởng lạc (nên mới có chuyện “chán cơm thèm phở”, lấy vợ bé, cặp với nhân tình hay đi tìm gái mãi dâm v.v…).

4- Cuối cùng về mặt sinh học, kể cả nam hay nữ có đời sông tình dục cao hay do ẩn ức sinh lý, phải tìm cách giải quyết nếu không sự tồn tinh, ứ tinh làm ảnh hưởng đến tâm lý và bệnh tật (hiện tượng chảy máu cam ở người lớn). Việc giải quyết sinh lý như loại thuốc an thần, làm cơ thể và thần trí được sảng khoái, không còn sự buồn bực vô nguyên cớ.

Ở nữ giới thời gian hoạt động tình dục và sinh dục vào khoảng 35 năm. Khác với nam giới, họ chỉ có một đường sinh dục chung với đường tiểu, nhưng được tách làm hai, đường tiểu trên, đường sinh dục dưới nơi nhận tinh trùng qua cổ tử cung, và vào tử cung để phối hợp với noãn hình thành nên bào thai.

Nên biết trên tử cung là buồng trứng, theo chu kỳ kinh nguyệt đều đặn là 28 ngày, trứng từ buồng trứng theo vòi trứng xuống nằm chờ ở tử cung trước 14 ngày khi có kỳ kinh nguyệt mới. Vì thế đường sinh dục của nữ ngoài khả năng hưởng thụ còn có nhiệm vụ nuôi con (thai nhi) và sinh con theo chu kỳ 9 tháng 10 ngày.Lua doi - chan goi

Theo tính toán, với nữ giới trong 35 năm đó có thể sinh con :

35 năm x 365 ngày : 28 ngày = 456 lần rụng trứng.

Còn nam giới có trên dưới 5.000 lần hưởng thụ và truyền giống, xác suất thụ thai rất lớn giữa vợ chồng là 11 lần/trứng, với thời gian từ 4 đến 6 ngày trước và sau ngày trứng rụng.

Theo các bác sĩ sản khoa với 1 năm 3 lần vẫn có thể thụ thai, còn 1 đêm 3 lần đôi khi không thành công, do :

1/- Chất lượng tinh tinh trùng : thuộc dạng bất túc, trung hòa hay thái quá. Số liệu cho rằng trung bình vào thời thanh niên khi mỗi lần xuất tinh, tinh trùng bắn vào không gian rổng của nữ giới vào khoảng từ 200 đến 400 triệu con, tốc độ di chuyển 20 km/h (có người thuộc bất túc – ít quá – chỉ xuất từ 70 đến 150 triệu con), nên vừa vào đến cửa đã bị  tiêu diệt gần hết, do sức nóng – acid – phát sinh khi hai bên cọ sát nhau, chỉ còn vài con khoẻ mạnh nhất bơi vào trong tử cung để phối hợp cùng noãn mà thụ thai.

Lua doi - bao thaiNgười xuất tinh thuộc dạng thái quá có từ 300 đến gần 500 triệu con, có khả năng làm nữ giới thụ thai sinh đôi hay sinh ba, còn người bất túc xác suất cho thụ thai rất thấp, do tinh trùng không đủ quân và không đủ mạnh để tiến vào chỗ noãn đang đậu chờ.

2/- Chu kỳ kinh nguyệt : dù một đêm mấy lần mà không đúng thời gian nữ giới cho trứng rụng cũng không thể thụ thai (trước và sau 3 ngày trứng rụng).

3/- Sự hưng phấn : đã tính thời gian trứng rụng, nhưng người vợ không cảm thấy hưng phấn khi ân ái, sẽ không bài tiết ra dung dịch hỗ trợ (tức hormone oxytocin, chất nhờn) để tránh sự ma sát làm trầy và làm mát âm đạo. Nên sức nóng tại đây sẽ lên cực điểm (gần 38 oC) làm tiêu diệt sạch tinh trùng, không con nào sống sót để bơi vào bên trong, chứ đừng nói vào đến nơi noãn đậu chờ.

Tuy nhiên có những trường hợp ngoại lệ, như dương vật của nam quá dài so với âm hộ của nữ quá nông, tinh trùng có thể vượt nhanh, bơi qua kịp thời đến được điểm hẹn.

D/- ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ.

Người chồng hay vợ thường vào đêm tân hôn thường nhìn nhau dò xét (nếu chưa kịp tìm hiểu nhau), qua những biểu hiện trên cơ thể và trong tình dục.

Những yếu tố sau đây nếu không được phân tích rõ nguyên nhân sẽ gây trạng thái suy sụp tâm lý , khiến hạnh phúc gia đình dễ tan vỡ.

1- Tiết trinh đáng giá ngàn vàng

Tập quán khi xưa rất coi trọng tiết trinh sau mới đến trinh tiết của vợ, nên bất cứ người con gái nào trước khi về nhà chồng cũng hết sức giữ gìn tiết trinh không bị rách, hoặc do tai nạn vô tình đưa đến.Lua doi 4

Bởi không chỉ có giao cấu mới làm rách màng trinh, mà còn do nhiều nguyên nhân khác, nhưng gia đình chồng và cả chồng nào chịu hiểu, cho rằng con dâu đã thất tiết với người khác. Cũng theo quan niệm chữ trinh đáng giá ngàn vàng, ai hưởng được tiết trinh của cô gái còn xử nữ sẽ là người gặp nhiều điều may mắn. Ngày xưa mất đi tiết trinh đồng nghĩa bị nhà chồng trả về cho cha mẹ không chấp nhận con dâu trong nhà.

Ngày nay việc coi trọng tiết trinh chỉ một phần, nhưng nếu gia đình chồng nào còn phong kiến, giới y khoa có thể vá lại màng trinh như thời con gái để nó đáng giá ngàn vàng trở lại. Hoặc giả cô dâu dùng tiểu xảo trong đêm tân hôn cho có máu đào vung vãi ra giường chiếu v.v…

Qua đây cũng cần phân biệt giữa 2 từ : trinh tiết dùng để nói về người phụ nữ có lễ giáo gia phong, biết giữ đạo tam tòng tứ đức, luôn lo cho chồng con, không thuộc gái lẵng lơ, dâm đảng, lăng loàn. Còn tiết trinh do khái khái niệm sinh học, tiết là máu còn trinh là màng trinh.

Màng trinh là bức màn chắn ngay cửa âm đạo, vào khoảng nửa phân tính từ ngoài, có một hay nhiều lổ nhỏ để đường kinh nguyệt thoát ra, và nó có độ dày mỏng khác nhau do thể chất con người mà hình thành, đồng thời màng trinh còn có độ đàn hồi co giãn.

Màng trinh mỏng thuộc loại dễ rách chiếm đa số trong nữ giới, nên khi có sự va chạm mạnh hay do té ngã cũng làm màng trinh bị rách; còn nếu quá dày sẽ lại khó rách, phải dùng đến sức và thực hiện nhiều lần.

Trong y học ghi nhận, có người sinh con rồi vẫn còn màng trinh, do nó dày nên có sự co giãn, có người không có màng trinh từ lúc lọt lòng mẹ. Chỉ có bác sĩ chuyên khoa về phụ sản mới có thể khám biết màng trinh còn hay mất.Lua doi - khong hung

Khi rách màng trinh người phụ nữ sẽ cảm thấy đau buốt và rỉ máu (không nhiều), nhưng có người chẳng thấy đau đớn hay rướm máu, có người đau suốt cả tuần lễ nên tỏ ra rất sợ khi giao hợp, có người xuất huyết phải đi cấp cứu.

Nam giới khi giao hợp với người xử nữ lần đầu, không thấy họ kêu đau đớn hay có máu rịn ra, đâm hoài nghi cho rằng đối tượng đã thất tiết. Ngày nay không còn luật “thất xuất”, nên những ông chồng đã để bụng về điều này mà hất hủi vợ hay tìm mọi lý do xin ly dị.

2- Màu sắc những nơi kín đáo

Đa số các thanh niên khi yêu nhau vì có thể cảm nhau do nước da nàng trắng, mịn, hay những sợi lông măng lấp lánh ánh vàng trên đôi cánh tay nõn nà (sắc diện).

Đến khi thành hôn đã làm nhiều người vỡ mộng, thực tế làn da nàng như vậy nhưng những chỗ kín bị thâm đen, thô kệch, hay đầu ngực “gái chưa con” mà đã to kềnh, thâm quầng như những phụ nữ qua nhiều lần cho con bú mớm.

Trái lại nhiều cô gái mãi dâm, người đã nạo phá thai, hay người sinh đẻ nhiều lần, những chỗ đó vẫn đỏ hồng như gái tơ, đầu ngực vẫn nhỏ như tuổi vừa mới lớn.

Những điều này đều do sự bài tiết từ tuyến mồ hôi mà những cô gái không biết giữ gìn và làm vệ sinh cá nhân tự gây ra, chứ không phải đã qua tay đàn ông hay qua đời chồng, hoặc đã có con riêng.

Tuy nhiên, khi người chồng vỡ mộng sẽ gây ra những hệ quả về sau. Như trên đã nói, nhiều người chồng không tìm hiểu rõ nguyên nhân cứ để bụng nghi ngờ vợ đã thất tiết, mà có những thái độ đối xử không bình đẳng trong tình chồng vợ.

3- Có mao hay không mao

Đây cũng thuộc quan niệm xưa như màng trinh, nhiều người cho rằng nữ giới mà không mao (lông), sẽ đem đến điều xui xẻo. Bởi vậy có những cô gái cứ mặc cảm và ám ảnh bởi chuyện này, do bản thân từ cha sanh mẹ đẻ đã không có, không biết người yêu khi nhận ra rồi sẽ nghĩ sao ?! Đi đến chỗ không dám lấy chồng, trở thành gái già, trong lúc thèm khát thì tự thỏa mãn.

Vấn đề có mao hay không mao hoặc có ít, được dư luận phân tích khá nhiều.

Khi nhìn bên ngoài một phụ nữ thấy họ có suối tóc, chân mày hay cả lông nách, đều nghĩ tại bộ phận sinh dục của họ cũng đầy đủ như người bình thường (tuy nhiên vẫn có đặc điểm để nhận ra theo tướng thuật, nữ giới không có mao thường có lông mày rất thưa hoặc không có). Nên lấy nhau khi biết ra lại hết sức ngỡ ngàng.

Tuy nhiên, nếu thái quá trong việc nghi kỵ có mao hay không mao làm tan vỡ hạnh phúc là điều không nên, vì đây ảnh hưởng từ địa giới lúc sinh sống như nguồn nước, thức ăn v.v… Ở miền Trung có địa phương mọi người sinh sống đều gặp phải trường hợp không ai có mao.

Lua doi 54- Bao quy đầu

Tuy không mang tính mê tín như màng trinh, có mao hay không có. Việc cắt hay không cắt bao quy đầu cũng cần nên tìm hiểu.

Đầu tiên do tín ngưỡng mà trong kinh Cựu Ước nói, vào năm 60 sau Công nguyên, ông Abraham người Do Thái giáo đã làm gương cho các thế hệ sau noi theo, ông đã cắt bao quy đầu vào tuổi 99, còn ngày nay được cho là để giữ vệ sinh cho cả nam lẫn nữ khi giao hợp, tránh gây bệnh viêm loét hay ung thư cho nữ giới.

Theo giới y học việc cắt da bao quy đầu không nhất thiết phải thực hiện, mà do tự nguyện đồng thời phải có sự chỉ định của bác sĩ.

Nếu muốn cắt bao quy đầu nên được thực hiện từ rất sớm, lúc mới 8 ngày tuổi hoặc sang tuần lễ thứ nhì của trẻ sơ sinh, còn khi lớn lên phải có thuốc gây tê, vì nếu “cắt tái” như lúc mới lọt lòng có thể gây sốc dẫn đến tử vong.

Đến nay có 2 trường phái tranh luận cắt hay hay không cắt bao quy đầu :

– Một phái kêu gọi nên cắt bao quy đầu. Vì bựa sinh dục (do hormone oxytocin chất nhờn, hoặc hormone estrogen có màu trắng đục, xuất ra khi ngủ hay khi thị dâm) hoặc những chất bẩn sẽ bám vào trong lớp võ bọc (bao quy đầu). Nam giới vô tình hay không chịu vệ sinh trước khi giao hợp, những chất này khi lọt vào tử cung sẽ gây viêm loét, ung thư cho nữ giới (nếu không kịp làm vệ sinh kịp thời).

– Một phái cho rằng, nếu cắt bao quy đầu khi đứa bé trai mới sinh được một hai tuần tuổi, sức đề kháng ban đầu bằng không cho nên chúng không đau nhiều, nhưng về sau việc đề kháng rất thấp sẽ thấy đau nhiều hơn. Còn cắt đi ở tuổi đã lớn phải theo chỉ định của bác sĩ và rất tốn tiền. Trong khi nếu nam giới biết giữ vệ sinh khi giao hợp, người có da quy đầu lại là vũ khí làm kích thích giới nữ hơn người đã cắt nó bỏ đi.

Chỉ nên cắt da bao quy đầu khi nó luôn “bao dính” với quy đầu không chịu “mở mắt”, bình thường nam giới từ tuổi 18 trở lên da quy đầu sẽ tự đóng mở khi cương dương. Còn nếu bị bao dính không mở, việc vệ sinh bên trong cũng rất khó, mặt khác nếu bị bao dính người này cũng sẽ dễ mắc bệnh viêm đường tiết niệu.

Trở lại chuyện vợ chồng, ở Việt Nam có đến 80 – 90% người không cắt da bao quy đầu, nên khi người vợ thấy chồng mất da quy đầu lại tưởng chồng mắc bệnh, thường nghĩ đến những bệnh truyền nhiễm như giang mai, mồng gà, hoa khế, nên mới đi cắt và còn di căn trong người.

(Xem tiếp bài 3)

Hạnh phúc lứa đôi (bài 1)

Lua doi 1NGOÀI TƯỚNG MỆNH

PHẢI HÒA HỢP TÌNH

DỤC

– NGUYỄN LÊ QUAN

(bài 1/4)

Lời nói đầu : Trang Blog “Thế giới tâm linh” đã nhận được nhiều thư bạn đọc qua phản hồi hay bằng thư điện tử, xin được trang Blog giải đáp các thắc mắc về đề tài xem “tuổi vợ chồng”.

Có nhiều câu hỏi đặt ra như “vợ chồng tôi xem tuổi rất hợp nhau, thầy còn nói sẽ có con đàn cháu đống. Nhưng đã năm năm rồi, chúng tôi vẫn chưa thể có con cùng nhau ? Có phải thầy đã coi sai hay không ?” hay thắc mắc “muốn giữ hạnh phúc gia đình, ngoài yếu tố tuổi tác, làm thế nào cho vợ chồng chung thủy không gặp cảnh “ông ăn chả bà ăn nem” gây cảnh ghen tuông mất hòa khí ?” v.v…

Những câu hỏi trên có phần liên quan đến trang Blog “Thế giới tâm linh” này, và cũng có phần liên quan đến nghĩa vụ vợ chồng. Vì nếu chỉ tin vào mệnh lý học thì không thể hoàn toàn đúng 100% được, bởi còn nhiều yếu tố ngoài mệnh vận (thuộc THỂ) là cuộc sống lứa đôi (thuộc DỤNG), nếu không có sự kết hợp hài hòa giữa tâm linh và đời sống thì 100 ông thầy coi đều sai tất cả.

Bài viết này sẽ giải đáp tất cả các thắc mắc về đời sống vợ chồng (thể DỤNG), giúp bạn đọc tự hiểu thêm về hạnh phúc lứa đôi. Bài này được trích từ trong cuốn “Tướng mệnh và Hạnh phúc lứa đôi” của Thiên Việt, đã xuất bản, và trên Blog có thêm hình ảnh và lời chú giải rõ ràng.

Nguyễn Lê Quan

Lua doi 2Trong hôn nhân, ngày tân hôn thật quan trọng với cô dâu chú rể, bởi trong đêm hôn phối cả hai mới hiểu rỏ nhau về tình dục và tính dục. Bài viết này cũng dành cho các nam nữ thanh niên thời nay đang tự tìm hiểu nhau, tức những vụ “ăn cơm trước kẻng”, hay đang cùng “sống thử” một thời gian v.v…

Vì trong hôn nhân, ngoài tình cảm đã có còn phải được sự đồng thuận trong nghĩa vụ vợ chồng. Nghĩa vụ ở đây là chuyện gối chăn, mới là yếu tố tạo ra hạnh phúc bền vững. Vì khi đã “yên cửa yên nhà” vợ chồng mới làm nên công danh sự nghiệp, không còn phân tâm mỗi khi nhớ lại việc chăn gối không thỏa mãn lòng người.

Ngày nay chuyện tình dục mà kẻ chê người lắc, nên dù có hợp tuổi đến đâu cũng dễ gây ra đỗ vỡ, không bền vững. Ngày nay còn qua sách báo, phim ảnh (như những tạp chí Penhour, Playboy, phim sex v.v…) làm ảnh hưởng nhiều đến đạo đức trong nếp sống gia đình, bởi từ đó cả hai đều có thể so sánh được mọi sự trong vấn đề tình dục như thể hình, những kiểu cách và cả những giây phút bên nhau.

Cho nên với đời sống hiện sinh và thực dụng như hiện nay, đã khiến nhiều đôi nam nữ cùng thỏa thuận yêu thử, sống thử, nhằm tìm hiểu nhau trước ngày cưới, như tính tình, đường tình dục, rồi cả hai mới thật sự đi đến chấp nhận hôn nhân. Nhất là nữ giới chịu nhiều thua thiệt, vì họ không biết tiết trinh đáng giá ngàn vàng thế nào, để rồi khi hai người không hợp đành phải chia tay đâm ra ân hận suốt đời.

Cũng từ nếp sống mới, mọi người mới ngộ ra rằng hai chữ tình yêu không phải chỉ đẹp như một bài thơ tình lãng mạn, mà trong tình yêu còn phải có tính dục, tình dục thứ phạm trù mà trời đất đã ban cho loài người từ thuở khai thiên lập địa.

Trong y học cho rằng tình dục trong nữ giới luôn cao hơn nam giới từ 2 đến 3 lần, lúc nào cũng sẵn sàng dù muốn hay không ham muốn; còn nam giới phải có điều kiện cương dương mới hoạt động được chức năng mà tạo hóa đã ban cho họ. Nữ có thể mang thai từ tuổi 13 khi bước vào tuổi dậy thì, nhưng nam phải từ 15, 16 tuổi trở lên mới có thể trở thành người đàn ông thực thụ.

Lua doi 5Thời trai tráng mới lớn, nam giới chỉ cần sau nửa tiếng là có thể chăn gối thêm lần nữa, do sức khoẻ lúc đó đang rất thịnh; từ tuổi trung niên (40 – 50) thời gian này kéo dài độ một hai tiếng, đến tuổi lục tuần trở lên phải mất tối thiểu một buổi. Tuy nhiên tinh trùng của họ không bao giờ cạn kiệt, dù thời gian bộ tuần hoàn sản xuất có chậm hơn và ít hơn xưa rất nhiều lần. Vì vậy chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy những ông “liệt lão” nhưng hồi dương ở độ tuổi 65, 70 vẫn có thể sinh sản ra con cái được là vậy.

Nữ giới lại không thể, vì sau thời kỳ mãn kinh người phụ nữ không còn khả năng thụ thai; cho nên từ tuổi dậy thì đến trung niên (16 đến 35), đường tình dục rất mãnh liệt, từ 40 đến 45 được xem thời kỳ hồi xuân, nhưng sự bền bỉ đã kém thời trưởng thành khá xa; đến sau thời kỳ mãn kinh đa số người trở nên khô khan, nếu không đồng thuận chuyện ái ân sẽ trở nên lãnh cảm. Vì thế trong thời gian này nhiều phụ nữ muốn vui lòng chồng làm tròn nghĩa vụ làm vợ, nhưng thể xác đã “khô” không còn hưng phấn, từ đó sinh ra hiện tượng chồng có tình nhân hay vợ bé, khiến gia đạo luôn bất hòa.

Nói như vậy cả nam lẫn nữ dù trẻ hay già đều phải có một đời sống tình dục tốt, và phải biết giữ gìn mới tạo được một mái ấm gia đình hạnh phúc đến đầu bạc răng long. Nhưng muốn tốt, muốn giữ gìn đường tình dục sớm không bị “lão hóa”, phải bao gồm nhiều yếu tố và chỉ thiếu một hai yếu tố cũng có thể gây tan vỡ hạnh phúc.

Chính điều này khi các gia đình xem tuổi cưới vợ gả con, chọn ngày kén giờ, mong đôi nam nữ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống vợ chồng, nhưng bỗng nhiên chỉ vài năm sau có khi chỉ vài tháng sau, thấy hai vợ chồng trẻ đã đâm đơn xin ly dị.

Điều trên chỉ một phần trong đời sống “tâm linh”, vì ngày xưa các nhà mệnh lý học chưa nghĩ đến hay không viết ra những chuyện về tình trạng “yếu sinh lý”, “rối loạn cương dương”, “lãnh cảm”, đồng thời cũng không tính đến việc nam nữ gặp cảnh nông cạn, dài ngắn, to nhỏ bất cân xứng giữa hai vợ chồng. Nên dù hợp tuổi nhau thật đó nhưng vẫn phải chia tay.

Về mặt bệnh lý học trong tình dục, các vị lương y bác sĩ chỉ biết kê toa bốc thuốc, nhưng 10 phần chỉ gia giảm được 2, 3 phần, vì khoa học đã từng chứng minh dù nam giới có xuất tinh nhưng đâu hiểu nổi khổ khi không đảm bảo đủ số lượng hay chất lượng của tinh trùng; hoặc tính lãnh cảm của phụ nữ không chỉ sau thời kỳ mãn kinh mới có, vì còn do tâm lý không ổn định với nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan v.v…  không thể làm cửa tử cung rộng mở hay xuất ra chất hormone estrogen cho hàng triệu con tinh trùng bơi vào vùng noãn. Những nguyên nhân trên sẽ khiến vợ chồng vừa hiếm muộn con cái, vừa có tình yêu không chung thủy.

Những số liệu sau đây được lấy từ báo cáo của bác sĩ William Masters và tiến sĩ tâm lý học Virginia E. Johnson, được Tổ chức y tế thế giới (WHO) phổ biến từ những năm 1960 thế kỷ trước, cũng như người viết từng được các bác sĩ thân hữu chuyên khoa về phụ sản tư vấn. Những trích dẫn sau đây chỉ có mục đích dùng để tham khảo thêm :

Lua doi - dong thuan1/- BẢN CHẤT NAM NỮ

Mệnh thuật đã phân rõ, nam giới thuộc Dương, chủ về nóng, cứng, chủ động. Nên khi làm nghĩa vụ  họ phải có trên dưới một, hai phút mới có thể trở thành người đàn ông thực thụ, phải được trực tiếp hoặc gián tiếp mới có thể cương dương, như xe cần có xăng mới nổ được máy. Những người chậm trong vấn đề này, dù được máu dồn đến hay có trợ lực từ bên ngoài (hình ảnh sex chẳng hạn), nhưng vẫn không cương lên được, được gọi là “rối loạn cương dương”, đang ở tuổi thanh niên cần phải trị liệu, nếu không sẽ biến chứng thành bệnh “liệt dương”, còn từ tuổi 50 – 60 trở lên đang thuộc giai đoạn lão hóa, chuyện mềm cứng là lẽ thường tình, trị hay không là do mỗi người.

Nữ giới thuộc Âm, chủ về lạnh và mềm, tính thụ động, không cần khởi động trong nghĩa vụ làm vợ trong bất cứ không gian và thời gian nào; nhưng để đúng nghĩa, người nữ phải có cảm hứng để chấp nhận việc ân ái, âm đạo mới không bị “khô “. Trong chuyện giao hợp, người phụ nữ dù tinh thần hay thể xác có khô khan, nhưng khi họ chấp nhận chuyện chăn gối tức âm đạo sẽ tiết được chất oxytocin và hormone estrogen, vẫn có thể thụ thai, chỉ có người nam cảm thấy thiếu thốn nguồn cảm hứng khi thấy thể hình hay cử chỉ người nữ quá khô khan, thụ động.

Đơn giản vì trong khi ân ái, cơ thể người phụ nữ có thể xuất ra chất hormone estrogen (chất trắng đục), có tác dụng hỗ trợ cho oxytocin. Về cơ bản, oxytocin (chất nhờn) là một trong những hormone quan trọng có trong cơ thể cả người nam lẫn nữ, được tiết ra trong quá trình giao hợp và trong quá trình sinh nở của nữ giới. Nhất là nữ giới dù tinh thần và thể xác khô héo, nhưng lúc va chạm với giống đực tạo thành sự hưng phấn thì ngực và âm đạo sẽ được kích thích ngay (trừ người lãnh cảm, âm đạo khô), oxytocin bắt đầu phát tán theo máu đang chảy khắp cơ thể, gây cảm giác hưng phấn.

Lua doi 3A/- YẾU TỐ HẠNH PHÚC

Trong tình yêu sẽ mang đến tính dục và tình dục giữa đôi nam nữ. Ngoài việc tìm thấy đối tượng hợp về tính cách, sắc diện, các cử chỉ vuốt ve chiều chuộng đồng thời cả về tiền tài, địa vị khi nhìn đến tương lai, nhưng chưa đủ tạo ra hạnh phúc.

Yếu tố hạnh phúc là tính chất tình dục trong mỗi người.

Ngày xưa có tục tảo hôn, ép hôn thường mang đến hệ quả khó lường, khi người vợ lớn hơn chồng cả chục tuổi. Có phụ nữ có đời sống tình dục mãnh liệt, hàng ngày được tự do tiếp cận bên chồng (nhưng chưa trở thành người đàn ông thực thụ) nên không hưởng thụ được gì, sẽ thường lén lút vụng trộm với trai tráng trong nhà ngoài xóm, còn ai giữ được lễ giáo “tam tòng tứ đức” cũng sinh ra chứng rối loạn bản chất như “thị dâm”, “thủ dâm” v.v…

Thị dâm là thích nhìn lén đối tượng được trực tiếp nhìn thấy hay tự phát họa ra các hình ảnh trong tâm trí. Còn thủ dâm là trực tiếp kích thích cơ quan sinh dục cho đến lúc thỏa mãn.

Rối loạn bản chất tuy không nguy hại đưa đến tật bệnh, nhưng về tâm lý sẽ không ổn định, có thể làm tiêu hao lượng dung dịch khi nghĩ đến cực điểm (hượt tinh), làm suy nhược thần kinh, sinh chứng lãnh cảm; nếu sau này người chồng lớn lên không đáp ứng được những đòi hỏi, hạnh phúc gia đình có những bất hòa sẽ xảy ra.

Vì thế trong tình yêu không chỉ để hai người ngồi ngắm nhìn nhau, diễn tả cái đẹp của nhau bằng thơ văn, mà còn mang ý nghĩa tính dục và tình dục, vì khi nảy sinh tình yêu là đã nghĩ đến dục tình bùng phát trong cơ thể mỗi người.

Không có tính dục không thể có tình yêu, không có tình dục gia đình không thể hạnh phúc. Những nam nữ khi chung sống bên nhau nhưng thường bỏ bê việc chăn gối, hay không đáp ứng được đòi hỏi, sẽ sinh ra chuyện vợ lớn vợ bé hay vợ cắm sừng chồng, “ông ăn chả bà ăn nem” v.v…

B/- TÍNH DỤC VÀ TÌNH DỤC

KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO ?

Về mặt sinh lý học tình dục khác tính dục.

Tính dục nói đến bản chất sinh lý giới tính mọi người, thể hiện rõ trạng thái của giống cái hay giống đực, biết đòi hỏi nhưng có thể không có khả năng làm chuyện gối chăn. Tuy nhiên tư duy vẫn hướng đến đối tượng, như những cặp “ái nam ái nữ” (pê-đê) vẫn có thể gây tình cảm lẫn nhau, để thỏa mãn sự khao khát trong tính dục. Còn tình dục được thể hiện bản chất sinh lý tức làm được việc gối chăn giữa người nam và nữ và thể hiện bằng việc mau chóng, bền bỉ, hứng thú hay lãnh cảm.

Báo cáo của Masters và Johnson sau khi thử nghiệm trên 600 nam nữ thanh niên, cho thấy trong tình dục thân thể con người sẽ có nhiều điểm tạo ra cảm giác hứng thú dễ dẫn đến chuyện cần phải được thỏa mãn.

Những điểm nhạy cảm ấy như làn da trên thân thể, tai, môi, lưỡi, ngực, hậu môn và thứ trời ban cho nam hay nữ. Ngoài những điểm trọng yếu nói trên, ở nữ giới còn nhiều điểm nhạy cảm khác mà người đàn ông cần biết để săn sóc cho chu đáo, để họ có thêm nhiều hứng khởi.Lua doi - nhay cam 2

Nam giới không như nữ, vùng nhạy cảm không nhiều, chỉ có môi miệng khi hôn nhau và dương vật, nhưng không thể sử dụng bất cứ lúc nào, vì còn phải làm nóng cho nó khởi động như đã nói. Những người gần như bất lực hay rối loạn cương dương, cần được làm cho máu dồn lên nhưng cực khó vô cùng; nữ giới không biết hành sự trong những lúc ấy sẽ khiến đối tượng càng đâm khó khăn rồi cụt hứng.

Làm nóng có nhiều cách miễn sao cho máu dồn vào khu vực liên quan gây thành sự cương, nóng, rồi sẽ ửng đỏ; do cơ quan sinh dục nam gồm có 3 ống tròn, đặc, khi ấy lưu lượng máu sẽ gia tăng gấp 30 đến 40 lần bình thường, nên bộ phận này sẽ được thay đổi nhanh chóng về kích thước. Người rối loạn cương dương phải mất nhiều thời gian hơn người bình thường; còn người yếu sinh lý đôi khi vừa cương dương đã sớm xuất tinh.

Về hiện tượng “yếu sinh lý”, tờ Thanh niên ra ngày 15/4/2007 có bài viết “Xuất tinh sớm, nỗi khổ của quý ông, vấn đề nan giải của các nhà chuyên môn” (tác giả Thanh Tùng), trong bài viết cho rằng bình quân một cuộc giao hợp kéo dài độ 10 phút, thì người phụ nữ mới đạt được khoái cảm cao độ.

Nhiều công trình nghiên cứu ghi nhận : trung bình phụ nữ châu Phi cần 12,5 phút, phụ nữ Mỹ cần 10 phút, phụ nữ Đức cần 8,5 phút, còn phụ nữ trung Quốc và Việt Nam chỉ cần 7 phút. Phụ nữ sẽ chưa kịp cảm nhận được khoái cảm, nếu người đàn ông “dừng chân” sớm quá.

Còn theo cố bác sĩ Nguyễn Tấn Trung (tức Trần Bồng Sơn) thời ông còn sống, trước đây phụ trách mục “Việc này biết hỏi cùng ai” trên các báo và trên tổng đài 1088 đã viết :

– Tại Việt Nam có thể chia “yếu sinh lý” làm bốn cấp :

Cấp I : mới vừa va chạm đã xuất tinh.

Cấp II : mới đúng vị trí, chưa kịp hành sự đã xong.

Cấp III : được mấy động tác.

Cấp IV : chưa đến 1 phút.

Cũng theo bài báo trên (số đã dẫn) viết, 8.000 nhà chuyên môn đến từ 131 quốc gia họp tại Berlin (Đức) về đề tài tiết niệu của nam giới, chỉ đưa ý kiến chung, chia xuất tinh sớm ra làm các dạng :

– Dạng nguyên phát, là dạng bệnh thật sự, nghĩa là lúc nào người đàn ông cũng mắc phải tình trạng “tệ hại” này, mặc dù người ấy đã lập gia đình từ lâu.

– Dạng thứ hai là dạng thứ phát, nghĩa là trước đó không bị xuất tinh sớm, nhưng vê sau mắc phải.

– Dạng thứ ba là dạng giả xuất tinh sớm, tức những người bị rối loạn cương, nhưng cứ tưởng mình bị xuất tinh sớm, bởi có nhiều trường hợp do dương cương kém trong lúc giao hợp dẫn đến dễ bị xuất tinh sớm.

– Dạng thứ tư là xuất tinh sớm do yếu tố tâm lý.Lua doi - nhay cam

Theo bác sĩ Nguyễn Thành Như giải đáp cho tác giả Thanh Tùng, dạng thứ ba cần chữa trị chứng rối loạn cương; dạng thứ tư là do so sánh bản thân với phim ảnh (do tiểu xảo của phim thường kéo dài thời gian hành sự), hay do người phụ nữ quá mãnh liệt, bền sức, nên thời gian giao hợp giữa hai người “ông nói dài bà nói ngắn”, việc này chỉ xem đồng hồ là rõ.

Ngược lại nữ giới kể cả khi bị ép buộc, hay mang chứng lãnh cảm, lúc nào cũng sẵn sàng bất cứ vào thời gian nào, nhưng có hứng cảm hay không là việc khác. Không hứng cảm sẽ xảy đến hiện tượng âm đạo khô ráo.

Khô ráo ở nữ giới là khi áp suất gia tăng trong không gian rỗng nhưng không bài tiết ra chất dung dịch làm thấm ướt (hormone oxytocin chất nhờn, hoặc hormone estrogen có màu trắng đục), khiến nam giới như không có dầu mỡ bôi trơn cho sự cọ sát, mặc dù trước khi xuất tinh trùng họ cũng xuất loại tinh tương (hormone oxytocin có độ nhờn thấp). Nên sự khô ráo ở nữ giới làm sinh hiện tượng nóng rát, cuối cùng nam giới không đạt đỉnh điểm do cố làm cho xong việc.

Ngoài ra trong đời sống tình dục cần tính đến sự cân xứng với thể trạng mỗi người như nông sâu, dài ngắn v.v… Nếu bất cân xứng, người nhanh trí phải tìm những tư thế cho phù hợp mới có thể thỏa mãn được sự đòi hỏi, bấy giờ mới tạo được hạnh phúc lâu dài.

(Xem tiếp bài 2)

Sinh con theo ý muốn

3 Sinh conĐỨA CON TRONG MỘNG

– Thiên Việt

Điều đầu tiên trong hạnh phúc vợ chồng, không ai không nghĩ đến việc sinh con. Bởi khi đã lấy nhau mà những ai không muốn có con, có lẽ những cuộc hôn nhân này còn nhiều lý do.

Bởi vì con cái là sợi dây thiêng liêng ràng buộc đôi vợ chồng phải sống đời ở kiếp, dù có bằng mặt tuy không bằng lòng. Tuy nhiên, khi có đứa con của hai người ra đời, cả hai mới thấy tình phụ tử, mẫu tử là cao cả để rồi có thể trong tình hận đã chuyển đổi ra tình yêu chung thủy đến đầu bạc răng long.

Với người Á đông, cuộc hôn nhân nào cũng đi đôi với việc truyền giống cho họ tộc hay cả một dân tộc; như ở Singapore các đôi vợ chồng còn được khuyến khích sinh đẻ nhiều con, do tỷ lệ sinh đẻ ở nước này quá thấp. Trái lại những nước nhân mãn khuyến cáo công dân nên hạn chế việc sinh con, hoặc gặp năm Trâu vàng, Heo vàng gặp phải hiện tượng chọn giới tính trong việc sinh con.

Có những lúc nhiều gia đình gần như “loạn luân” nhưng đến nay đã chấm dứt. Cũng vì lý do muốn giữ tính di truyền cục bộ. Như Trung Quốc vào đời Đường, các anh chị em con cô, con cậu, con dì vẫn lấy nhau. Thời Đức Quốc Xã (1936 – 1945) chủ nghĩa Hitlerism có chủ trương người Đức thuần giống phải là người “aryen”, mặc dù cuối thế kỷ XIX các nhà di truyền học khẳng định, nếu cùng chung huyết thống mà giao hợp, sau khi qua nhiều đời dòng giống sẽ bị thoái hóa, triệt tiêu; có trường hợp còn sinh ra quái thai, dị nhân hay các tật bệnh kinh niên khác.

Điều này trong thời triều Lê (thế kỷ XV) ở nước ta, đã không cho phép người trong họ hàng dù trai bên nội được lấy gái bên ngoại; nếu cùng họ hàng nội ngoại phải xa năm, bảy đời thuộc các chi các nhánh khác mới được chấp nhận. Sau này vào thời Minh, Thanh bên Trung Quốc, để kiểm tra đôi vợ chồng sắp cưới có cùng chung một huyết thống không, người ta chích máu giữa đôi nam nữ, nếu thấy máu hòa trộn lẫn nhau trong nước là cùng huyết thống.

Ngày nay khoa học tiến bộ, việc xét nghiệm bằng ADN sẽ biết ngay nguồn cội con người thuộc “gen” nào. Xét nghiệm này cũng có thể kết luận “đây chính là con của mình hay của kẻ khác” mỗi khi nghi ngờ vợ ngoại tình.3 hinh baby

Như vậy lấy nhau ngoài việc truyền giống cho bên họ nhà chồng, có nhiều gia đình còn mang tính phong kiến muốn tối thiểu trong hai ba đứa con đầu phải sinh ra một nam nhi; nếu sinh ba cô con gái liền tay bị cho gặp họa “tam nương”, còn sinh ra năm cô con gái trở thành “ngũ long công chúa” tức nhà có phúc. Trái lại sinh ra năm anh con trai lại bị liệt vào hạn “ngũ quỷ”, chỉ cần bốn thôi để được tính “tứ quý”.

Cho nên người phụ nữ ngày xưa khi mang thai sinh con, đều tính toán ngày giờ khi ân ái cùng chồng để khỏi sinh nhằm tam nương hay ngũ quỷ, hoặc theo năm Rồng Vàng, Trâu Vàng… hay hợp tuổi vợ chồng để không nảy sinh hiện tượng con yêu con ghét.

ĐỂ SINH CON NHƯ Ý

Nhưng để sinh con theo như ý muốn, như sinh con trai đầu lòng hay “gái đầu dễ nuôi” còn tùy thuộc quan niệm trong mỗi gia đình hoặc về yếu tố tâm linh. Tuy nhiên đa số phụ nữ đều có niềm tin vào thần quyền, ngày đêm thường khấn vái hay hành hương đến các nơi thờ tự được mọi người cho là linh thiêng để được sinh con như ý muốn.

1/- BÀ MẸ SINH

Theo truyền thuyết Bà mẹ sinh tức Bà Chúa Sinh nương nương, là nữ thần theo hộ giá Thánh mẫu Thiên Hậu, bà hiển linh sau khi Thánh mẫu đã hóa (ngày xưa do kiêng kỵ, không dùng từ chết hay qua đời để nói về các nhân vật thần thánh). Bà còn có tên Kim Hoa công chúa.

Trong truyện tích về Thánh mẫu, kể bà Thiên Hậu là con gái thứ sáu của Lâm Nguyện, người Bồ Điền tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Khi bà Thiên Hậu sinh ra đã có hương thơm ngào ngạt, ánh hào quang rực rỡ.

Lúc trưởng thành bà Thiên Hậu đã có phép tiên, luyện được kim đan trường sinh bất tử, có tài gọi mây gọi gió, biết cỡi mây bay trên biển cùng các tiên nữ phò tá cứu giúp người đi biển khi lâm nạn. Sau khi bà Thiên Hâu hóa, được các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh phong là Thánh Mẫu thuộc Thượng đẳng thần, do công ích cứu nhân độ thế.

Còn công chúa Kim Hoa thuộc cấp Trung đẳng thần, là một tiên nữ theo phò bà Thiên Hậu coi về việc sinh đẻ trên chốn nhân gian, những ai sinh khó hay hiếm muộn khi cầu khẩn đến tai Bà Chúa Sinh sẽ được bà cứu khổ cứu nạn, dùng phép tiên cho được như ý.

Vì thế trong các đền điện chùa miếu, nơi nào thờ bà Thiên Hậu luôn có thờ thêm tượng thờ bà Chúa Sinh nương nương bên tay phải.

Ở Sài Gòn có ngôi Phước Hải Tự còn gọi “chùa Ngọc Hoàng”, nằm gần chợ Đakao. Đây là ngôi chùa cổ lâu đời do người Hoa xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, theo quan niệm thần quyền, chùa Ngọc Hoàng được đa số người hiếm muộn con, hoặc cầu khấn cho sinh trai hay gái, đến bái lễ cầu xin.

Trong chùa ngoài những tượng Phật và các vị La hán, các vị thần linh người Hoa, chùa còn thờ 12 Bà Mụ Sinh. Nhìn 12 pho tượng Bà Mụ Sinh, mọi người nhận thấy 12 Bà đang trong tư thế ngồi ngai khác nhau.

Hàng năm vào ngày “đưa thần” 25 tháng chạp, hay các ngày lễ chính, các vị thủ từ thường làm lễ “mộc dục” và thay đổi áo mão, mới thấy 12 tượng Bà Mụ Sanh được khắc phần thân thế nào, có người nói tùy theo cách nuôi dạy con mà tượng thể hiện các tư thế đứng ngồi khác nhau, còn tên gọi của mỗi bà không ai biết.

Chỉ biết sự tích của 12 Bà Mụ Sinh như sau :

– Có thuyết nói các bà là nữ thần giúp việc cho Ngọc Đế trên thiên đình, giúp chăm lo việc coi sóc trẻ con dưới trần gian. Nhiệm vụ mỗi bà lo một việc, người nắn tay, kẻ nắn chân, người nắn đầu, kẻ nắn mắt, người dạy trẻ tập bước, tập nói v.v… theo 12 hình tượng đang thờ như có Bà đang tắm cho trẻ, Bà đang bồng bế, Bà đưa võng, Bà cầm bình sữa v.v…

Cũng có thuyết nói, 12 bà Mụ mỗi Bà trông coi việc thai sản trong năm như các vị thần hành khiển (từ Tý đến Hợi), cứ luân phiên đúng 12 con giáp về lại năm đầu.

Ở Hà Tây ngoài miền Bắc, có một nơi được mọi người cho là linh thiêng khi cần cầu tự là chùa Hương Tích. Chùa có một hang đầy những thạch nhủ, tục gọi hang Cô hang Cậu. Người đến lễ bái cầu con, muốn được con trai qua hang Cậu mà ve vuốt các thạch nhủ, muốn có con gái đến dãy hang Cô mà khấn vái.

Khi về nhà, hàng ngày hai vợ chồng ngồi ăn có ba cái chén ba đôi đũa, ý muốn trong nhà sẽ có thêm miệng ăn. Về sau có sinh con, hàng năm đều đưa con nhỏ đến hang Cô hang Cậu lễ tạ cho đến tuổi trưởng thành.

2/- ĐỨA CON TRONG MỘNG

Trên đây nói về đức tin trong tâm linh mỗi người. Ngoài ra các đôi vợ chồng còn tự cầu con ngay tại nhà, theo nhiều hình thức.

Có hình thức tự đoán ngày giờ theo các vị nho xưa chỉ dạy, muốn sinh trai hay gái đều do hai vợ chồng phải tính ngày giờ tuổi tác theo phương pháp sau đây :

– KIỀN (CÀN) tam liên          (3 gạch liền)

– KHẢM trung mãn                (trên dưới đứt, giữa liền)

– CHẤN ngưỡng bần              (2 trên bị đứt, dưới liền)

– CẤN phú uyên                     (trên liền, 2 dưới đứt)

4 cung Kiền (Càn), Khảm, Chấn, Cấn sẽ sinh con trai.

– LY trung lư                           (rộng giữa)

– KHÔN lục đoạn                   (sáu đoạn)

– ĐOÀI thượng khuyết           (khuyết trên)

– TỐN hạ đoạn                       (khuyết dưới)

4 cung Ly, Khôn, Đoài, Tốn sẽ sinh con gái.

Thí dụ 1 :

– Tuổi chồng là 55 (tuổi ÂL) là tuổi lẻ, gạch 1 cái

– Ăn nằm vào tháng 5 thuộc tháng lẻ, gạch 1 cái

– Vợ năm nay 47 tuổi cũng tuổi lẻ, gạch 1 cái

Như vậy khi phối hợp sẽ ra quẻ KIỀN (CÀN) Tam Liên, tức sinh con trai.

Thí dụ 2 :

– Chồng 38 tuổi là tuổi chẳn, 2 gạch đứt

– Ăn nằm vào tháng 6 là tháng chẳn, 2 gạch đứt

– Vợ 36 tuổi là tuổi chẳn, 2 gạch đứt

Như vậy nhằm quẻ KHÔN Lục Đoạn (sáu đoạn) là sinh con gái.

Cách trên đây do học được từ các thái giám trong Tòa Khâm Thiên Giám (viện coi chiêm tinh) trong hoàng cung, họ được phân công theo dõi ngày giờ khi vua ăn nằm cùng hoàng hậu hay thứ phi, để biết họ mang thai hoàng tử hay công chúa. Hoặc biết ai đã vụng trộm ngoài vua để mang bầu !

Các gạch nói trên theo 8 quẻ Bát quái như hình sau đây :

3 tam que

Và nên nhớ khi dự đoán cách trên chỉ xem tháng và năm âm lịch. Tháng âm lịch được tính theo tiết khí như sau :

Tháng 1 (lẻ)                Từ tiết             Lập Xuân  đến tiết     Kinh Trập

Tháng 2 (chẵn)          –                       Kinh Trập       –           Thanh Minh

Tháng 3 (lẻ)                –                       Thanh Minh    –           Lập Hạ

Tháng 4 (chẵn)          –                       Lập Hạ              –           Mang Chủng

Tháng 5 (lẻ)                –                       Mang Chủng   –            Tiểu Thử

Tháng 6 (chẵn)           –                      Tiểu Thử          –            Lập Thu

Tháng 7 (lẻ)                –                       Lập Thu           –           Bạch Lộ

Tháng 8 (chẵn)          –                       Bạch Lộ           –            Hàn Lộ

Tháng 9 (lẻ)                –                       Hàn Lộ            –           Lập Đông

Tháng 10 (chẵn)        –                       Lập Đông       –           Đại Tuyết

Tháng 11 (lẻ)             –                       Đại Tuyết        –           Tiểu Hàn

Tháng 12 (chẵn)        –                       Tiểu Hàn         –           Lập Xuân

Còn theo khoa học giải thích, muốn sinh trai hay gái, phải tùy thuộc vào sức khoẻ của vợ chồng như tinh trùng và noãn tốt trong khi giao hợp.

Do các loại tế bào trong cơ thể mỗi người có đến 46 nhiễm sắc thể, riêng tế́ bào sinh dục nữ (noãn) và tế bào sinh dục nam (tinh trùng) chỉ có 23 nhiễm sắc thể.3 an nam

Trong 23 nhiễm sắc thể, có 22 loại thường và 1 thuộc về giới tính. Khoa học quy ước nhiễm sắc thể của tinh trùng nếu nữ là X, nếu nam là Y, còn noãn luôn luôn là X.

Nhiễm sắc thể của noãn X khi thụ tinh với tinh trùng mang giới tính X sẽ thành = XX là con gái; nếu noãn X thụ tinh với giới tính Y sẽ ra = XY là con trai.

Tinh trùng là tế bào nhỏ nhất trong cơ thể nam giới, mỗi lần giao hợp lượng tinh trùng được phóng ra bình quân từ khoảng 200 đến 400 triệu con, chúng tiến đi bằng cách vẫy đuôi với tốc độ 2 – 4 mm/ phút, mất 20 – 30 phút mới đến vùng tử cung. Tinh trùng Y mảnh mai nên thường di chuyển nhanh nhưng có nhược điểm mau mất sức. Ngược lại, tinh trùng X lớn hơn di chuyển chậm lại có bền sức.

Sau khi xuất, tinh trùng tập trung gần cổ tử cung. Ở âm đạo có môi trường acid khắc nghiệt (pH 5) nếu không vượt nhanh sẽ bị tiêu diệt, chỉ những con khỏe và nhanh nhẹn mới vượt qua được, còn khi đi qua sẽ gặp thêm một môi trường khác là chất kiềm (pH 7) nhưng thuận lợi hơn.

Cho nên từ cổ tử cung đi đến noãn, đường dài chỉ gần 2 tấc (20cm), muốn đến nơi phải mất từ 20 – 30 phút, nên đa số tinh trùng đều không đến được đích vì bị tiêu diệt, một số đến được liền vây quanh lấy noãn. Đa số chỉ có một con tinh trùng khoẻ mới chọc thủng được màng bọc để vào trong noãn thành bào thai, còn những con bên ngoài đuối sức sẽ tiếp tục tự hủy.3 Vo chong

Trong cuộc đua đến đích, loại tinh trùng nhiễm sắc thể Y luôn đến trước vì đi nhanh, nếu gặp noãn ngay nó sẽ dễ dàng tấn công vào để thụ thai thành con trai, nếu còn phải chờ khai phá lâu thì tinh trùng này đuối sức không thể chọc thủng được màng bọc ở noãn sẽ tự  hủy diệt từ ngoài. Còn tinh trùng mang sắc thể X mang tính bền bỉ vào được trở thành con gái.

Có 3 điều kiện cho vợ chồng tính toán để noãn X gặp được Y (= XY) hay gặp X (= XX) :

1/- Muốn X gặp Y, nên giao hợp sau ngày trứng rụng 1 ngày ; muốn X gặp X  nên giao hợp trước ngày trứng rụng.

2/- Muốn X gặp Y, nữ giới nên rửa âm đạo trước khi giao hợp bằng nước chín có pha một muỗng nhỏ bicarbonat natri để hạ độ acid, cho nhiều tinh trùng có thể vượt qua cổ tử cung; muốn X gặp X thì bằng nước giấm loãng hoặc pha một muỗng nhỏ nước chanh với nước chín. Hai cách trên nhằm hỗ trợ làm cho một loại tinh trùng Y hoặc X tồn tại đến được noãn theo đúng ý.

3/- Nam giới nên thực hiện chế độ ăn uống nhằm tăng lượng tinh trùng Y hoặc X. Để sinh trai không nên ăn các loại thực phẩm giàu canxi và magiê như tôm, cua, cá, trứng, sữa, bắp cải… còn sinh gái ăn uống ngược lại, trong 4 tháng liền.

Xét về tính dục người đàn ông sẽ có trên dưới 5.000 lần hành sự để truyền giống, nhưng để sinh con chỉ cần trên dưới 10 lần cho mỗi đứa con trong vòng 6 ngày, trước và sau ngày trứng rụng.

Nếu đơn thuần để thỏa mãn tình dục thì không nên để thụ thai (yếu tố sức khoẻ, tâm lý và kiểu cách sẽ ảnh hưởng đến thai nhi nếu để thụ thai), còn muốn thụ thai có đứa con như ý muốn chúng được khoẻ mạnh và thông minh, trước một tuần ngày rụng trứng không nên giao hợp, hãy chờ đến trước 3 ngày hay trong và sau 3 ngày trứng rụng mới nên giao hợp, thì việc giao hợp này mới có chất lượng.

Trong thời gian khoảng từ 3 đến 4 ngày trước khi xuất tinh, đợt tinh trùng này mới được xem có đầy đủ sức khỏe và tính năng nổ nhất, còn hàng ngày bắt tinh hoàn cung cấp tinh dịch nên những tinh trùng còn rất non yếu, chậm chạp không thể vượt cổ tử cung của nữ giới. Vì vậy, muốn tinh trùng có chất lượng tốt phải nuôi dưỡng chúng trưởng thành và khoẻ mạnh theo nhịp độ 3 – 4 ngày một lần là vậy.

Đồng thời người chồng phải thoải mái tỉnh táo, không khủng hoảng tinh thần, đủ sức khỏe, không bệnh hoạn (nhất là các bệnh HIV, giang mai, mồng gà, hoa liễu) để không bị di chứng từ bệnh lý truyền qua tinh trùng đi vào thai nhi (gen).

Nên muốn giao hợp phải sau một giấc ngủ dài, không nôn nóng vội vã, cần cho vợ có cảm giác hưng phấn trước lúc ân ái. Thời điểm tốt nhất để có con là 2 ngày trước và 1 ngày sau ngày trứng rụng, lý do trước khi trứng rụng 1 ngày thân nhiệt người vợ xuống khoảng 36,7oC tốt cho tinh trùng nhiễm sắc thể loại X, ngày trứng rụng thân nhiệt tăng lên 37,2oC tốt cho tinh trùng nhiễm sắc thể loại Y.

Khi vợ mang thai không nên hành sự trong 3 tháng đầu, và 3 tháng cuối trước khi sinh, dễ làm sẩy thai hay sinh non. Thời gian này cũng nên tránh không để tinh dịch lọt vào cổ tử cung, không kích thích đầu nhũ hoa dễ làm cho cổ tử cung co thắt lại, vì thời gian này cổ tử cung cần được giãn nở nhiều hơn là bị co thắt, phụ nữ có thai nên đi bộ nhiều sẽ dễ sinh đẻ hơn phải qua mổ vì sinh khó.

Cũng cần lưu ý các nam giới muốn sinh con : tinh hoàn vào mùa hè sản xuất tinh dịch sẽ giảm so với mùa đông mùa xuân, còn mùa thu thuộc thời gian chuyển tiếp số tinh dịch có lúc đủ lúc thiếu. Có lẽ vì thế đa số người thường làm lễ cưới từ cuối thu cho đến cuối xuân. Những người làm việc trong môi trường nóng bức thường hiếm muộn con, do lượng tinh dịch được sản xuất không đủ.

Về nữ giới, giai đoạn dễ sinh con và noãn tốt nhất ở vào tuổi 24 – 25, từ sau tuổi 30 sẽ giảm dần và rất nhanh vào tuổi 35, 40 trở đi. Nam giới ở tuổi trên 70 nếu tinh dịch đạt chất lượng như đã nói, phối hợp cùng một noãn tốt, vẫn có thể có con và thai nhi vẫn phát triển khoẻ mạnh bình thường. Với giới nữ ở tuổi ngoài 40 khó còn có noãn tốt đạt chất lượng.

Khi giao hợp người vợ phải đảm bảo đủ sức khỏe, không bệnh tật truyền nhiễm, không để thụ thai khi thân thể chỉ cân nặng dưới 38 kg, không nên làm mẹ trước tuổi 20 vì cơ thể chưa phát triển, các chức năng sinh lý chưa đạt độ trưởng thành. Cũng không nên sinh con sau tuổi 40 vì dễ bị băng huyết, vỡ tử cung…

Để đảm bảo sức khỏe và có đủ thời gian nuôi dạy con, người mẹ nên sinh con với khoảng cách 4, 5 năm /lần sinh.

Khi mang thai không uống cà phê, tuyêt đối với rượu, hút thuốc lá và nhất là những chất ma túy, sẽ làm thai nhi chậm phát triển và sinh non hoặc bị dị tật bẩm sinh.

Trong trường hợp vợ chồng sinh hoạt tình dục bình thường, không ngừa thai, nhưng sau nhiều năm (được tính từ 5 năm trở lên) vẫn không thụ thai, nên coi đây là tình trạng hiếm muộn con cái.

Nguyên nhân hiếm muộn có thể từ người chồng hay từ vợ hoặc do cả vợ chồng. Hiếm muộn ở nam giới thường do lượng tinh trùng quá ít hay tinh trùng di động yếu, chậm chạp. Còn nguyên nhân của nữ giới thường do tắc vòi trứng, kinh nguyệt không đều, u xơ tử cung… cả hai nên đến bác sĩ chuyên khoa để khám tìm nguyên nhân.

Thiên Việt

Xem “Tướng mệnh & Hạnh phúc lứa đôi” của tác giả đã xuất bản