Thước Lỗ Ban

THƯỚC NÀO ĐÚNG ?

– THIÊN VIỆT

Có một cuốn sách viết về Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo đó thì cây thước này có độ dài 53cm chia làm 8 cung. Tính mỗi cung có hơn 6,5cm lại chia thành 5 trù, mỗi trù dài đúng 1cm. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí mép bên trái rồi đo lần sang mép bên phải. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm tay trái, rồi đo lần tới chỗ nào thì coi lời giải sẽ thấy tốt xấu, kiết hung.

PThuy 1

Tám cung kiết hung được gọi như sau :

– Cung đầu là Quý Nhơn, hành Mộc là cung Tốt

– Cung thứ 2 là Hiểm Họa, hành Thổ là cung Xấu.

– Cung thứ 3 là Thiên Tai, hành Thổ là cung Xấu.

– Cung thứ 4 là Thiên Tài, hành Thủy là cung Tốt.

– Cung thứ 5 là Nhơn Lộc, hành Kim là cung Tốt.

– Cung thứ 6 là Cô Độc, hành Hỏa là cung Xấu.

– Cung thứ 7 là Thiên Tặc, hành Hỏa là cung Xấu.

– Cung thứ 8 là Tể Tướng, hành Thổ là cung Tốt.

Trong 8 cung trên như đã nói, mỗi cung lại chia thành 5 trù trong đó từ đại kiết đến thứ kiết, hoặc đại hung đến thứ hung.

Đó là cách đo nhà đã xây dựng, nếu chưa thì quý vị đo tới chỗ cung tốt và hạp thì dừng lại và ấn định kích thước nơi sẽ xây dựng. Ngoài việc tính kích thước ngôi nhà, chủ yếu còn phải tính kích thước của cửa chánh, cổng nhà – nếu có – (cửa ra vào còn gọi huyền quan). Nếu nhà đã xây dựng, không may gặp cửa xấu không đúng với thước Lỗ Ban, nên sửa chữa lại để gia đình làm ăn phát đạt theo như ý muốn.

Thế nhưng khi đem 53cm chia cho 8, số thành là 6,5cm, lại chia cho 5 trù, số thành là 1cm thì sai số quá lớn. Cho nên thước Lỗ Ban này không được mọi người tin dùng. Bởi từ đời nhà Chu (257 năm trước Công nguyên) con người đã biết dùng Chỉ và Phân theo hệ thống Bát Phân để làm đơn vị đo chiều dài. Một Chỉ dài 0,408 mét, có 8 Phân, nên một Phân là 0,051 mét. Về sau từ con số đơn vị của Phân là 0,051 nhân cho 10 theo hệ thống Thập Phân, thành con số 0,51. Cái thước dài 0,51m hay 51cm lâu ngày trờ thành thước Lỗ Ban.

Hơn 2000 năm sau, các nhà Cơ Lý Học mới tìm ra được tần số của ngoại âm là 4,9 từ đó suy ra đơn vị thời gian là 1 sec / 4,9 = 0,20408. Biết được đơn vị thời gian, các nhà toán học tính ra được Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu là 40,8 bằng cách lấy 980 nhân với bình phương của đơn vị thời gian: 0,20408. Con số 0,408 chính là đơn vị Chỉ của nền văn minh Thái cổ cũng chính là Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu tương đương với 2 lần trị số của đơn vị thời gian.Thuoc Lo Ban 1

Như vậy thước Lỗ Ban người xưa sử dụng để đo chỉ có độ dài 51cm, phát xuất từ cơ sở tính toán của nền Văn minh Thái Cổ. Và thước Lỗ Ban dài 51cm được chia thành 8 cung bằng nhau. Mỗi cung lại chia thành 5 trù. Như vậy 8 cung là số của Bát Quái, cũng là thứ tự của hàng đơn vị từ 1 đến 8 thuộc hệ thống Bát Phân. Còn 5 trù nhỏ thuộc Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ.Hình 2 lo ban

Như đã nói trên, trong nội dung 8 cung, riêng cung thứ 7 có sách cho rằng thuộc hành Hỏa (Thất Tai Hỏa cục), cũng có sách cho rằng thuộc hành Kim (Thất Tai Kim cục). Xem kỷ thì cung này là cung tọa thủ của sao Phá Quân. Trong thuật Tử Vi sao Phá Quân thuộc Bắc Đẩu Tinh mang hành Thủy, chủ về Hung và Hao tinh phá tán, nhưng trong Bát Biến Du Niên của phép xem phong thủy về Dương Trạch (xem xây dựng nhà cửa) lại khẳng định sao Phá Quân thuộc hành Kim tương đồng với cung Tuyệt Mạng vốn hành Kim. Khoa địa lý phong thủy cho rằng sao Phá Quân thuộc hành Kim mới đúng, nên có thể cho rằng Thất Tai Kim cục đúng hơn Thất Tai Hỏa cục.

Tuy nhiên hiện nay các thầy tướng địa thường dùng thước Lỗ Ban theo một kích thước khác, và các nhà sản xuất thước kéo (hình 1) Lỗ Ban cũng theo các cung các trù sau đây. Một thước Lỗ Ban chỉ bằng 40cm, gồm 8 cung, mỗi cung có 4 trù, mỗi trù bằng 1,25cm (xem hình 2).

Khởi đầu với cung :

– Thứ nhất Tài Lộc (tốt) 1 Sanh nương, 2 Tấn Bửu, 3 Đăng khoa, 4 Tài chí.

– Thứ hai Trường Bệnh (xấu) 1 Khẩu thiệt, 2 Bệnh lậm, 3 Tử tuyệt, 4 Tai chí.

– Thứ ba Sinh Tạng (xấu) : 1 Thất tài, 2 Ly hương, 3 Thoái khẩu, 4 Tử biệt.

– Thứ tư Mỹ Thuật  (tốt) : 1 Phú quý, 2 Tấn ích, 3 Tích lợi, 4 Thuận lợi.

– Thứ năm Quan Lộc (tốt) : 1 Đại kiết, 2 Quý nhân, 3 Lợi ích, 4 Thêm đinh.

– Thứ sáu Kiếp Đạo (xấu) : 1 Thất thoát, 2 Ngũ Quỷ, 3 Tai kiếp, 4 Trường bệnh.

– Thứ bảy Lục Hại (xấu) : 1 Cô quả, 2 Quả canh, 3 Mạt nghệ, 4 Thoát tài.

– Thứ tám Tài Đức (tốt) : 1 Thiện sinh, 2 Nghinh phước, 3 Lục hạp, 4 Ân Đức.

Với thước Lỗ Ban gồm 4 tấc này chúng ta đo như phần trên đã nói, cho đến khi gặp cung vừa ý. Như muốn trù Đại kiết tại cung Quan Lộc, cửa chánh (loại hai cửa) phải chọn đúng từ 101 đến 104cm là chuẩn xác.

Vì thước Tầu của người Trung Hoa xưa (thời nhà Tống, thế kỷ thứ X đã sử dụng) tính 1 thước chỉ có 40cm (bốn tấc), nên không thể có thước Lỗ Ban 51cm hay 53cm được, sách nào nói một trù chỉ có 1cm là sai.

THIÊN VIỆT

(Xem Bí ẩn Phong Thủy của tác giả, đã phát hành)

Tin sách

CHỦ NHIỆM BÁO SÂN KHẤU MỚI VIẾT SÁCH

Phan Thanh Bằng nguyên chủ nhiệm tuần báo Sân Khấu Mới, một thời cùng ký giả Văn Lương – Đặng Tấn chuyên tạo scandal trong giới ca sĩ. Nhưng bây giờ lớn tuổi nên ngồi nhà viết sAnh Thenách, không phải viết lại các vụ scandal năm xưa mà viết về địa chí mang máng theo cung cách cuốn “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam.
Phan Thanh Bằng cho biết, lúc còn sống nhà văn Sơn Nam thường khuyến khích anh viết một cuốn về tỉnh Vĩnh Long khi xưa còn có tên “Vãn Long”, nay anh quyết tâm viết và có tựa “Hương rừng Vãn Long” dày khoảng trên dưới 300 trang. Trước đây nhà văn Sơn Nam hứa viết lời giới thiệu, nay nhà văn lão thành này đã qua đời nên Phan Thanh Bằng nhờ nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà và nhà văn Dương Hà viết.
Để xem “Hương Rừng Vãn Long” nói về tỉnh Vĩnh Long thời chống Pháp ra sao, nghe nói còn mấy tháng nữa sách mới phát hành.
VinhLong1872

NHÀ THƠ THIÊN HÀ

THAI NGHÉN TẬP “BẾN TÂM HỒN 2”

Thien Ha 2Tr ước đây một hai năm, nhà thơ Thiên Hà (nổi tiếng với bài thơ “Nhớ nhau hoài” do nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ nhạc) ra mắt tuyển tập thơ “Bến Tâm Hồn” gồm nhiều khuôn mặt thơ ca như Tuệ Mai, Kiên Giang Hà Huy Hà, Tường Linh, Trương Minh Dũng, Phong Sơn, Kim Tuấn, Đan Huỳnh, Hàn Song Tâm, Trương Đạm Thủy, Thiên Hà, Tn Hoài Huyền Hương, Trang Thanh Liêm, Lệ Khánh, Lý Thụy Ý.
Năm 2009 nhà thơ Thiên Hà quyết định ra mắt “Bến Tâm Hồn 2” qua nhiều khuôn mặt đang sống với thơ văn và thể loại, như nhạc, họa, truyện ngắn, tiểu thuyết v.v.. còn những ai xuất hiện trong tuyển tập này phải chờ đến khi “Bến Tâm Hồn 2” ra mắt người đọc

Tìm hiểu môn Phong Thủy

– Bài Thiên Việt

Trong “thế giới tâm linh” có rất nhiều điều để nói và viết đến, như môn Phong Thủy hiện nay rất thịnh hành từ Á lan sang các nước Âu Mỹ.

Blog “Thế giới Tâm linh” sẽ lần lượt viết về những điều kỳ thú và cả những bí quyết để bạn tự xem địa lý phong thủy cho chính mình hay cho gia đình bạn. Nhưng trước hết chúng tôi xin nói đến :

PThuy 1NHỮNG

ÔNG TỔ MÔN

ĐỊA LÝ

PHONG THỦY

Trước khi tìm hiểu về môn phong thủy, chúng ta điểm qua những ông tổ môn thuật toán này xưa nay, những người được gọi là thầy địa lý, tướng địa, bốc trạch, hay phong thủy gia… hầu có cái nhìn về môn địa lý học xem phương hướng, tìm long mạch để an táng người chết hay xây dựng nhà cửa cho người sống, sau này trở thành môn triết học Trung Quốc trên thế giới.

Khoa địa lý phong thủy bắt đầu có từ đời nhà Hạ, Thương, Chu, lúc này người ta chỉ biết bói quẻ chọn đất. Đến đời nhà Tần, nhà Hán mới tính kham dư tức xem thêm về thiên văn. Trước khi có Quách Phác (đời Tấn), ông được xem như ông tổ thuật phong thủy, lúc đó môn này còn rời rạc, khi được ông giải thích về thuật phong thủy, mọi người mới tường tận hơn. Rồi sang đời nhà Minh, có Tưởng Bình Giai quyết :

– Sinh khí, tụ khí tạo diện mạo cảnh quan, môi trường cho con người thấy thoải mái trong cuộc sống; bởi có nó con người mới “có hồn”.

Còn môn phong thủy khi xâm nhập vào nước ta, mới đầu chỉ phổ biến hạn chế trong xây dựng đình, chùa, đền, miếu và mồ mả vào thời nhà Đinh, Lê (thế kỷ thứ X). Đến đời nhà Lý, trong chiếu dời đô ra Thăng Long, vua Lý Thái Tổ cho rằng :

-“… Nơi đây là trung tâm của trời đất, được thế rồng bay hổ ngồi, đúng điểm kết tụ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc”.

Cũng vào thời kỳ vua Lê, nước ta có thầy địa lý Tả Ao, tinh thông phong thủy không kém Quách Phác đời Tấn của Trung Quốc xưa, sau Tả Ao còn có tiến sĩ Hòa Chính, cũng từng sang nước bạn học hỏi thuật xem tướng đất, dùng cất nhà và an táng.

Sau đây một số tài nghệ của các ông tổ ngành địa lý phong thủy xưa :

1/- QUẢN LỘ – đời Tam Quốc

Quản Lộ là thuật sĩ sống ở tỉnh Sơn Đông, thời Tam Quốc (226 – 248 DL), có hình dáng xấu xí, nói năng lại cộc lốc, hay uống rượu. Ông thờ chủ nghĩa thần bí qua nghề chiêm bốc và tướng địa.

PThuy 2Quản Lộ giỏi về âm trạch và dương trạch, âm là coi phần mồ mả, còn dương coi về thế đất dựng nhà.

Trong sử nói, Quản Lộ có cuốn “Quản thị địa lý chỉ mông” gồm 10 quyển, nhưng thực tế chỉ là sách mượn danh, dựa vào cuốn “Tam quốc chí – Quản Lộ truyện” ghi lại theo truyền khẩu qua nhiều người (sách nói Quản Lộ thần thông, biết xem bói, xem đất đai để táng hay xây cất, với nhiều chuyện thần kỳ được chép qua sự truyền khẩu trong dân chúng).

Có chuyện về tài của Quản Lộ khi xem âm trạch, dương trạch như sau :

– Một chuyện về âm trạch (mả táng) :

Một ngày nọ Quản Lộ đi ngang qua ngôi mả chôn Vu Khưu Kiệm, ông ngồi nghỉ chân rồi nhìn vào ngôi mả của họ Vu mà than thầm : “Cây cối xanh tốt nhưng thế đất không bền, tấm bia đề tựa tuy văn hoa nhưng không có hậu. Ngôi mả đang ở thế : Huyền Vũ giấu đầu, Thanh Long mất chân, Bạch Hổ ngậm xác còn Chu Tước đang khổ đau. Tứ phía lâm nguy !

Theo thuật phong thủy, người nhà họ Vu chỉ hai, ba năm sau sẽ bị diệt”.

Sau đó lời than thở của Quản Lộ quả nhiên ứng nghiệm. Lúc đó Quản Lộ xem mả của Vu Khưu Kiệm theo hướng thiên văn chiếu, nhìn “Tứ tượng” của chùm sao Nhị Thập Bát Tú (Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước), mà biết cát hung cho gia đình họ Vu về sau.

Còn mả bà thím của anh em Quách Ân, thầy Quản Lộ cũng qua thuật chiêm bốc cho rằng ngôi mả này đang bị “nữ quỷ” trong đất táng báo ứng. Mặc dù cuộc đất được anh em Quách Ân đã mời thầy địa lý tìm giúp, ông ta cho rằng nó đẹp về hậu vận. Nhưng về “luật nhân quả” lại không từ một cuộc đất dù đẹp cách mấy đi nữa, nhưng trong quá khứ những chuyện gian tà, gian ác sẽ để lại cho hậu nhân phải hứng nhận quả đắng để đền bù lại tội lỗi người chết đã gây ra. Đúng là ba anh em nhà Quách Ân về sau đều bị thọt chân.

Ý Quản Lộ nói, nếu làm ác mà cứ đi tìm cuộc đất tốt để táng, mong sao cho hậu nhân được sống vinh hoa phú quí là không thể được. Do luật nhân quả nói, gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy. Cho nên sống ở đời cần phải tích đức, sau hãy tìm cuộc đất tốt để an táng, như thế tính phong thủy mới được phát huy theo ý muốn.

– Một chuyện nói về dương trạch (nhà cửa) :

Một bà đang mang bệnh nặng nhờ Quản Lộ đến xem bói, bà ta nghĩ mình bị ma ám nên gia đình cứ dần dần lụn bại, làm ăn thua lổ, còn người sống cứ mang bệnh tật kinh niên không thuốc chữa khỏi.

Quản Lộ nhìn vào trong nhà mà nói với bà ta : “Góc nhà phía tây có chôn xác hai nam nhân, một người bị tên bắn trúng ngực, do vậy bà bị bệnh tim; còn một người bị giáo đâm vào đầu nên bà cũng thường hay nhức đầu. Ngôi nhà này đã bị ếm bùa của Lổ Ban. Nếu biết mà trừ, bà sẽ khỏi bệnh”.

Bà ta nghe theo lời Quản Lộ, cho người đào dưới góc nhà phía tây,  thấy có hai hình nộm đúng theo lời ông nói. Từ đó gia đình bà không còn đau yếu và buôn bán phát đạt trở lại. Thường thợ dựng nhà hay yểm bùa Lổ ban để trả lễ thánh tổ mới có công ăn việc làm thường xuyên, trong muời căn nhà phải có ít nhất một nhà mắc phải, nhưng họ yểm không độc, không làm cho chết người. Còn những kẻ có hiềm thù nhau, thường yểm những loại bùa gây ra chết chóc, chậm thì đúng một năm, nhanh thì 49 hay 100 ngày.

Còn Quản Lộ tự xem bói cho chính mình, biết ông chỉ sống đúng bốn con giáp; quả thật vào năm 49 tuổi, Quản Lộ qua đời.

Người đời sau nói, cuốn “Quản thị địa lý chi mông” trong “Tam Quốc Chí – Quản Lộ truyện” giới thiệu, gồm 10 cuốn, 100 thiên, Quản Lộ viết về thuật phong thủy không phải do chính ông nghiên cứu ra, do người khác mượn tên. Nhưng chưa ai giải thích được người viết cuốn sách này là ai ? Vì trong 100 thiên truyện đều rất thần bí và sâu sắc.

Nên đã gần 2000 năm, đến bây giờ Quản Lộ vẫn còn được mọi người xem là ông tổ của thuật “chiêm bốc” xem địa lý phong thủy, qua tài xem thiên văn nhìn phương hướng mà bói thành quẻ.

2/- QUÁCH PHÁC – đời Tấn

Quách Phác tự Cảnh Đôn, người Hà Đông, nay tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Ông sinh vào thời nhà Tấn (276-324 năm DL) sau Quản Lộ. Sách “Thái Bình quảng ký” viết về ông như sau :

– “Quách Phác hiểu biết bao la, biết thiên văn, địa lý, quy thủ long đồ, hào tượng sấm vĩ – là những môn coi bói bằng mu rùa, quẻ, thẻ, lời sấm truyền – yên mộ lo nhà ở, không có gì không tinh thâm …”.

PThuy 3Quách Phác soạn cuốn “Táng thư” (coi mộ phần) và “Tướng địa thuật” (xem thế đất), nên được tôn xưng là tỵ tổ (tức ông tổ ngành địa lý).

Trong các truyền thuyết nói về Quách Phác, một hôm Hồ Mạnh Khang quan thái thú ở Lư Giang, lấy một tỳ nữ làm thiếp. Quách Phác cũng yêu người tỳ nữ, nên muốn lấy ả làm vợ, để đoạt được mục đích, Quách Phách làm phép lấy 3 đấu đậu rắc quanh nhà Hồ Mạnh Khang.

Sáng hôm sau họ Hồ thức giấc thấy mấy ngàn binh mã đang vây kín Phủ.

Hốt hoảng, Hồ Mạnh Khang liền cho mời Quách Phác đến xin kế sách. Họ Quách phán ngay :

– Trong nhà ngài không nên nuôi người tỳ thiếp này, hãy đưa ả đi xa 20 dặm về hướng Đông Nam, ngài sẽ bán được giá, như thế chuyện dữ sẽ hóa lành.

Hồ Mạnh Khang nghe theo lời Quách Phác, ông ta vội đưa nàng tỳ thiếp chạy về hướng Đông Nam mà bán, Quách Phác biết họ Hồ tin lời mình, liền sai người đi theo mua ả ta về làm vợ. Sau đó Quách Phác bỏ bùa vào giếng nhà họ Hồ để giải việc quân mã đang vây tại Phủ.

Hồ Mạnh Khang không nghi ngờ chuyện này, ông ta còn hết lời khen ngợi Quách Phác, đi đến đâu cũng ca tụng ông là người tài giỏi trong việc xem dương trạch.

Trong sách “Nam sử – Trương Dụ truyện”, chép Quách Phác tinh thông Chu Dịch, coi các phần mồ mả an táng. Trong sách nói Quách Phác xem âm trạch cho Trương Dụ.

Cha của Trương Dụ là Trương Trừng chẳng may qua đời, Trương Dụ chuẩn bị chôn cất cha, nhờ Quách Phác tìm cho miếng đất để địa táng. Ông xem đất xong bảo :

– Táng ở chỗ này nửa đời sau của ông chỉ làm đến chức tam ty, đời sống không thịnh. Táng chỗ kia tuy đất xấu nhưng ông làm đến công khanh, cuối đời mới phát, con cháu hưởng được phước.

Trương Dụ y lời đưa cha chôn nơi đất xấu. Kết quả Trương Dụ làm quan đến năm 64 tuổi mới mất, con cháu hưng thịnh theo cha ông.

Khi Quách Phác chết, ông gọi người nhà an táng nơi đã dặn, nhờ vậy Quách Phác tu đắc đạo thành tiên, nên trong “Quách Phác – Truyện động tiên” chép :

– Sau ba ngày khi Quách Phác được chôn cất, người ở thành Nam Châu vẫn thấy ông ngồi nhà đàm đạo với người thân. Vương Phác (bạn của Quách Phác, húy là Hoàn Dĩ, phản vua nhà Tấn nên bị tru di tam tộc) còn giận Quách Phácbói cho mình ra một quẻ dữ, nên nghe lời đồn cho người đến đào mả ông, thấy trong quan tài không có thi thể của Quách Phác, mới tin là đúng.

3/- DƯƠNG QUÂN TÙNG – đời Đường

Tên húy là Ích, tự Thúc Mậu còn Quân Tùng là biệt hiệu. Người Quảng Đông sống vào đời nhà Đường (792 – 906 DL).

Dương Quân Tùng từng soạn cuốn “Chính long tử kinh”, được vua Đường phong làm Quốc sư, nắm phủ Linh đài địa lý sự (cơ quan trông coi thiên văn, địa lý, tế lễ). Khi nhà Đường mất vào tay Hoàng Sào; Dương Quân Tùng cùng Bộc Đô Lâm đã đoán quẻ biết trước, lấy đi một số sách phong thủy lâu đời nằm trong Phủ, rồi bỏ Tràng An chạy về Cống Châu thuộc Ninh Đô quy ẩn.

Từ đó trong dân gian nói rằng thuật phong thủy có từ đời Đường, vì từ Tràng An, Dương Quân Tùng đã truyền dạy nghề cho Liêu Tam người cùng thôn, Liêu Tam truyền cho con trai tên Vũ, Vũ lại truyền cho con rể là Tạ Thế Nam… từ đó thuật phong thủy của họ Dương lan rộng ra đến người ngoài họ ngoài làng.

Người đời sau mộ danh ông, cho rằng Dương Quân Tùng thuộc môn hình phái, tức xem đất đoán được nơi cát hay hãm địa, nên tôn ông làm đại sư môn địa lý.

4/- LẠI VĂN TUẤN – đời Tống

Lại Văn Tuấn tự Thái Tố, người huyện Xử Châu, làm quan tại tỉnh Phúc Kiến. Sống vào thời Tống (thế kỷ thứ X).

Ở Phúc Kiến, Lại Văn Tuấn nổi tiếng xem về địa lý, nên sách “Địa kiên chí” có chép :

– Lại bố y (tên gọi thân mật, có nghĩa Lại áo vải) có người quen La Ngạn Chương ở Lâm Xuyên. Hai người rất mến nhau, thích trò chuyện việc tìm hiểu lẽ huyền cơ về phong thủy.

Ngày nọ vợ của La Ngạn Chương mất, họ La đi tìm nơi an táng thì tìm được một chỗ dùng làm huyệt mộ rất đẹp, phía trước có khe nước chia làm 3 dòng chảy, riêng đường chảy thứ ba không sâu quá ngực người và cũng không dài lắm, chảy thẳng vào ruộng.

La Ngạn Chương đến mời Lại Văn Tuấn đến xem qua, ông bèn khen là đất táng rất hợp cách với người quá cố, và nói với họ La rằng :

– Đất đẹp có thể phát thành trạng nguyên, nhưng tiếc thay nhánh thứ ba lại đoản, nên hậu nhân chỉ làm đến bảng nhãn thôi.

Quả không sai, hai mươi năm sau con của La Ngạn Chương chỉ đậu hàng thứ hai trong khoa thi.

5/- LƯU CƠ – đời Minh

Sống vào những năm 1311-1375, tự Bá Ôn, người Thanh Điền tỉnh Triết Giang. Lưu Cơ đậu tiến sĩ triều Nguyên Thuận Đế. Khi Chu Nguyên Chương khởi binh, Lưu Cơ bàn 18 kế sách nên được họ Chu trọng dụng.

Nhà Minh lấy xong chính quyền từ tay nhà Nguyên, bèn mời Lưu Cơ làm quân sư định ra các chính sách lớn trong nước.

Khi Chu Nguyên Chương dự định đóng đô ở Kim Long, còn Lưu Cơ chọn đất ở hồ Trúc Tiền làm nền chính điện, nhưng vua Chu nói nơi này quá nhỏ, nên cho người nới rộng thêm mặt bằng ra sau cho thêm lớn.

Lưu Cơ biết việc tính đất “sai một ly đi một dặm”, không phải cứ cuộc đất nào to là tốt, nên chỉ nói : “Sau này nhà Minh còn phải dời đô đi nơi khác”.

Quả nhiên về sau Minh Thành Tổ phải dời đô đến Bắc Kinh, lời Lưu Cơ quả thật ứng nghiệm.

Trong dân gian có sách “Kham dư mạn hứng” do Lưu Cơ soạn (Kham dư có nghĩa xem phong thủy, cũng là từ ngữ khi nói đến trời đất), viết trọn vẹn về xem thiên văn địa lý, nên mọi người coi Lưu Cơ như ông tổ ngành địa lý phong thủy vào đời nhà Minh.

6/- TRẦN ĐOÀN – đời Tống

Nói về Hi Di Trần Đoàn (ông còn tên gọi Trần Chuyển) trong chúng ta hẳn có nhiều người nghe nói đến ông, vì Trần Đoàn được ca tụng nhiều trong ngành lý số qua thuật toán xem Tử Vi, Hà Lạc và còn là nhà nhân tướng học uyên bác, nhà xem tướng địa (xem đất đai nhà cửa) nữa.

Trần Đoàn sống trong thời nhà Tống, tự Đồ Nam, biệt hiệu Hi Di, người tỉnh An Huy. Khi Tống Thái Tổ lên ngôi (966-979 DL) ông về ở ẩn tại Hoa Sơn.

Nghe nói, Trần Đoàn học được khoa phong thủy với gia sư Tăng Văn Xán (có sách nói ông là môn đệ của Ma Y đạo giả, một đạo nhân hậu duệ của Nam Hoa Tiên Ông), sau khi thành danh ông đã truyền lại cho Ngô Khắc Thành, Tống Chữ Vịnh. Do tinh thông Chu Dịch nên lấy dịch học hòa trộn với môn phong thủy để thành môn xem trạch cát.

Sách “Phong thủy khư nghi” viết :

– Hi Di tiên sinh lấy trục Tý Hợi làm thủy, lấy Tý Ngọ làm hỏa… sách này mở đường cho bát quái (định phương vị), luật lữ (luật âm thanh trong nhạc khí), cả đến xem núi để định huyệt… lấy quái làm tượng (quẻ trong Chu Dịch).

Môn học này ông viết thành sách gồm 10 thiên, chỉ dẫn dùng quái, hào, luật, lữ có âm có dương có tiêu có phá và có sinh có hợp v.v…

Nên trong thuật phong thủy, người ta xem Trần Đoàn là bậc thầy trong phái “lý khí” (từ khí suy ra lý).

Ngoài 6 vị đã nói, ở Trung Quốc còn rất nhiều người uyên thâm về môn xem địa lý phong thủy, nhưng chỉ là truyền thuyết như Bàn Canh, Công Lưu, Chu Công, Tiêu Cát… riêng ở nước ta, mọi người ca tụng một thầy địa lý xuất sắc là :

7/- TẢ AO – đời nhà Lê (Việt Nam)

Là người học được khoa địa lý chính thống từ Trung Quốc, đem cái đã học đưa về nước nghiên cứu cho phù hợp với phong thổ nhân văn, mà phát huy môn phong thủy theo tính cách riêng cho mình.

Tả Ao có tên Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, sinh năm nào không rõ, nhưng ông có tên tuổi vào thời vua Lê chúa Trịnh (vào những năm 1545 – 1788).

PThuy 4Theo mọi người kể, Tả Ao có cha mất sớm còn mẹ bị mù. Vì nhà nghèo nên đến xin giúp việc cho một ông thầy thuốc (lang y) người Tầu, trước lấy tiền trị mắt cho mẹ sau được học nghề thuốc. Chính thế mà ông chữa được bệnh mù mắt cho mẹ.

Thầy lang Tầu thấy Tả Ao có chí lớn, đã dẫn ông theo về Trung Quốc dạy thêm nghề thuốc. Gần nhà lang y, có ông thầy địa lý giỏi đang bị bệnh về mắt, Tả Ao được thầy lang phái sang chữa trị.

Thầy địa lý nói, nếu Tả Ao chữa khỏi bệnh mắt cho mình thì ông sẽ thưởng 50 lượng vàng. Tả Ao đã chữa khỏi bệnh cho thầy địa lý, nhưng không nhận vàng mà chỉ xin ông ta truyền cho nghề phong thủy.

Vì ơn nghĩa, nên thầy địa lý bằng lòng, liền truyền hết tinh hoa môn phong thủy cho Tả Ao học hỏi, đến khi thành tài, học và hành viên mãn, ông xin cả 2 ông thầy Tầu cho về nước.

Trước khi cho Tả Ao về Việt Nam, ông thầy địa lý muốn thử tài sự hiểu biết của Tả Ao, ông ta làm 100 mô hình đất kết trên bãi cát, dưới mỗi huyệt có yểm một đồng tiền, rồi đưa ông 100 cây kim đi điểm huyệt.

Tả Ao điểm đúng 99 lổ của đồng tiền, còn 1 cây điểm ở mép đồng tiền, mà huyệt này lại là huyệt thứ 100. Đây là huyệt ảo, vì mô hình tạo dáng rất huyền bí, ẩn hiện dưới những mô đất nhấp nhô, những thầy địa lý giỏi cũng khó phát hiện ra đúng huyệt đạo. Thấy Tả Ao đã điểm trúng các huyệt, thầy địa lý biết rằng người Việt Nam đã học hết bí kíp phong thủy của Trung Hoa.

Khi Tả Ao về đến quê hương, ông chỉ lo hành nghề bốc thuốc chữa trị các bệnh tật cho dân chúng, ít khi sử dụng môn phong thủy đã học, chỉ khi cần thiết mới ra tay xem dùm thế đất cho mọi người, tuy vậy danh tiếng về tài xem địa lý phong thủy của ông lại nổi hơn nghề thầy thuốc.

Nhưng cũng vì Tả Ao không hành nghề xem phong thủy, nên ông không có chân truyền cho kẻ hậu bối. Khi ông mất người nhà mới tìm thấy 2 bộ sách viết về địa lý, phong thủy, là Địa đạo diễn ca và Dã đàm Tả Ao. Nhưng trong dân chúng còn có nhiều sách được in nói chính là sách của Tả Ao.

Còn các nhà xem “tướng đất” ở nước ta, khi đọc xong 2 quyển trên, đều cho rằng đây là hai bộ sách quý.

(Trích trong “Bí ẩn Phong Thủy” của Thiên Việt, sách đã xuất bản)

Người Khăn Trắng là ai ?

Người làm báo và viết văn trước 1975
Người làm báo và viết văn trước 1975

Sài Gòn vào những năm giữa thập niên 1960, trong làng sách báo rầm rộ xuất hiện hiện tượng truyện tranh ma, chủ yếu lúc đó là 2 truyện “Con quỷ truyền kiếp” (liên hoàn với các truyện Lão tướng số, Cuộc đời của bé Phước…) do Nguyễn Thọ vẽ đăng trên tờ Sân Khấu của kịch sĩ Lê Văn Vũ Bắc Tiến và truyện “Con quỷ một giò” trên tờ Thời Gian của nhà thơ Song Hồ qua nét vẽ Trường Tồn (nay có tên Chinh Phong).
Cả 2 truyện tranh trên đều do 2 ông An (tự Bạch Vân) & Bê xuất bản, tôi làm biên tập lẫn kỹ thuật. Và có số bán thuộc hàng “best seller”. Từ đó bắt đầu có chiều hướng ra sách chữ về truyện ma, những người viết ban đầu gồm có tôi (Nguyễn Việt), Hoàng Phương Hùng (Thượng Hồng), An Dạ Thủy, Vương Mộng Linh qua những “bút danh” Người Khăn Trắng, Khách Giang Hồ để sử dụng chung cho các tác phẩm ma kinh dị như đã nói, nên bút hiệu không của riêng ai.
Bây giờ anh TH muốn “độc quyền” bút danh” này vì cho rằng chính mình đã khai sinh ra tên “Người Khăn Trắng”, nhưng Vương Mộng Linh ở Mỹ vẫn ký Người Khăn Trắng bởi đây chỉ là bút hiệu chung, nên qua đây để nói về bút danh này cho rõ.
(Nguyễn Việt)

Thế giới tâm linh

Phong tục tập quán

Len dong 1

LÊN ĐỒNG

Thiên Việt

Lên đồng hầu bóng tức cho các Thánh mượn xác nhâp hồn, khi Thánh giáng về được gọi về giá, còn người lên đồng được gọi là ghế, một nghi lễ đặc trưng và tiêu biểu trong việc cúng lễ của người theo tín ngưỡng thờ Tam, Tứ phủ thuộc tín ngưỡng dân gian trong đạo thờ Mẫu (Tam Toà Thánh Mẫu).

Lên đồng hầu bóng hiện nay đã được công nhận là loại hình văn hóa tâm linh, phi vật thể, mang tính đặc thù của dân tộc Việt Nam, không phải loại hình mê tín dị đoan như mọi người trước đây thường nói đến.

Trước đây nhiều người không rõ hình thái lên đồng hầu bóng có quá trình lịch sử, mục đích ý nghĩa như thế nào, nên có những cái nhìn lệch lạc và đánh giá chưa đúng, và gọi những “tín đồ” theo tín ngưỡng thờ Mẫu với giọng mỉa mai là những ông đồng, bà bóng; đánh đồng với cái gọi “cầu hồn nhập xác” của giới đồng cốt, cùng với “xác cậu”, “xác cô” của những người được các phần vong về mượn xác.Nhap cot

Có lẽ trước đây mọi người liên tưởng đến những ai cứ trùm khăn đỏ lên đầu (phủ diện), và lắc lư thân thể để “cầu Thần” là những ông bà đông côt, vì những người này cũng trùm khăn đỏ lắc lư đê “câu Hôn”. Còn đồng cô trong đạo thờ Mẫu, nói về một đồng nam được các vị Thần Thánh thuộc giới nữ giáng về mượn xác để ra đồng, như giá các Chúa, các Chầu hay các Cô nên tưởng đấy là “xác cô”; hay như bóng Cậu khi người lên đồng có giá cậu Bé nhập về, tưởng rằng là “xác cậu”.

Nên cần phân biệt những người được gọi là đồng cốt, hay xác cậu, xác cô thường không xuất hiện từ những đền điện thờ chính thống, không thuộc tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ.

Còn lên đồng hầu bóng thuộc hình thức xâm nhập tâm linh, từ các vị được phong Thánh phong Thần, mượn xác nhập hồn vào các nam nữ có căn mạng…trong khung cảnh đèn nhang, lễ nhạc, múa hát, nhằm mục đích tẩy trừ rủi ro, bệnh hoạn trước nhất cho người lên đồng, hoặc trò chuyện, chữa bệnh cho người đến dâng lễ cúng.

Các nghi lễ này giống như hình thức của thuật “khiêu Thần” – sẽ trình bày ở phần sau – một tín ngưỡng thuộc Sa-man giáo có khắp nơi trên thế giới, nhưng mỗi nơi lại có những hình thức phổ biến khác nhau. Như người Di Gan đa số sống ở Trung Âu, khi được nhập hồn trở thành những nhà tiên tri, hay chiêm tinh; những vùng còn lạc hậu có đông đảo thổ dân, bộ lạc sinh sống như ở Nam Mỹ, châu Phi, khi vào nghi thức cúng lễ, họ thường dùng đao kiếm đâm mạnh vào người, hay cho các con vật cực độc như nhện đất, rắn, rết, bò cạp đeo cắn khắp thân thể, rồi đi khắp ngã đường nhảy múa kích động theo dòng nhạc tấu lên dẫn lối đưa đường.

Những người muốn “lên đồng hầu bóng” không phải cứ ngồi trùm khăn phủ diện, rồi lắc lư đầu mà thành những ông đồng, bà bóng. Phải là người có căn mạng với tín ngưỡng thờ Tam hay Tứ Phủ mới có thể mời được các vị Thần Thánh về nhâp xác.

Tín ngưỡng Tam hay Tứ Phủ mang tính chất như :

– Tam Phủ gồm : 1/- Thiên Phủ (phủ nhà trời), 2/- Nhạc Phủ (phủ coi rừng núi) và 3/- Thoải Phủ (phủ coi về sông, biển, ao hồ, những nơi thuộc về nước).

– Tứ Phủ gồm ba phủ như Tam Phủ cùng với 4/- Địa Phủ (coi về đất đai).

Trong Tam Phủ hay Tứ Phủ, việc thờ tự chính là ba vị Thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên cai quản miền trời, Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi, Mẫu Thoải cai quản miền sông nước, và Mẫu Địa trông coi đất đai các vùng miền. Tuy nhiên Mẫu Địa được từng vùng, từng địa phương thờ phụng riêng biệt như Bà Chúa Xứ, bà Chúa Ngọc, bà Chúa Kho v.v… còn thờ chính trong các đền điện chỉ có ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu đã nói trên.

Người muốn “lên đồng” phải thật sự có căn mạng. Việc đầu tiên phải làm lễ đội bát nhang, sau đó tùy theo căn mạng lớn nhỏ mà mở Phủ ra đồng; và cũng tùy vào khả năng mà ra mắt đồng theo dạng tiến căn hay đại đàn. Khi ra mắt đồng phải có đồng thầy làm người đỡ đầu, người dẫn dắt tinh thần từ chứng minh đến dạy dỗ những điều cần thiết khi theo tín ngưỡng thờ Mẫu. Sau này mới được người trong đạo chấp nhận có “căn đồng”.

Thông thường một ông bà đồng một năm phải “lên đồng hầu bóng” ít nhất một vấn (một lần), người có căn Tứ Phủ thường vào tháng ba âm lịch, người có căn Tam Phủ vào tháng tám âm lịch hàng năm, tức những ngày “tháng tám giỗ cha tháng ba tiệc mẹ”.

Giỗ cha tức kỷ niệm ngày mất của Đức Thánh Trần, còn tiệc mẹ là ngày vía Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Theo quan niệm thần quyền, mỗi người đang sống đều có một chư thần thuộc thị thần của một trong ba vị Thánh Mẫu (Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thủy Cung) cai quản từ thể xác lẫn tinh thần. Người có căn đồng mà không ra mắt Thánh, thường hay bị thị thần của Thánh quở, hành cho đau ốm, bệnh hoạn thường xuyên; nói theo người có đạo thờ Mẫu, là bị vị thần cai quản bắt đồng; có nghĩa đã được chấm đồng, nếu từ chối ra đồng người đó sẽ hay bệnh hoạn hoặc gặp nhiều vận xui rủi đưa đến.

Còn muốn ra mắt Thánh, bước đầu phải đội bát nhang, để bắt đầu được thừa nhận đã theo tín ngưỡng thờ Tam hay Tứ Phủ, như Phật Giáo cho là Quy Y Tam Bảo, bên Thiên Chúa Giáo gọi là lễ rửa tội, nhưng chưa chính thức được xem là ông đồng, bà bóng.

Muốn đội bát nhang, chủ đền hay thầy cúng sẽ mở sách xem căn, tức xem “quan cai đầu đồng, bà thủ bản mệnh” là thị thần của Thánh đang cai quản họ đang thuộc Phủ nào. Nếu gặp căn nặng đôi khi phải đội đến bảy bát nhang. Khi tôn nhang phải có đồng thầy ra mặt chứng minh. Trước lễ đồng thầy sẽ trùm khăn phủ diện và đội lên đầu người này số bát nhang phải tôn thờ, có sớ ghi tên tuổi cùng căn mạng thuộc Phủ nào (một người chỉ ở một trong tứ phủ).

Khi tôn bát nhang xong, mới tiến đến lập đàn tiến căn hay đại đàn ra mắt Thánh.

Chuẩn bị cho buổi ra đàn (đại đàn hay tiên căn), băt đầu cho lễ tục lên đồng hầu bóng, người ra đồng phải chuẩn bị rất nhiều trang phục cho các vị Thánh giáng về mượn xác.Len dong 2

Màu sắc trang phục cũng được quy định bởi một số màu cơ bản như : màu đỏ (thiên phủ), màu vàng (địa phủ), màu xanh (nhạc phủ), màu trắng (thoải phủ).

Ngoài ra còn chuẩn bị đủ lễ vật. Lễ vật dâng lên Thánh trong một buổi ra đàn mang ý nghĩa quan trọng, gồm bánh trái, hoa quả, rượu, thuốc (ngày xưa là thuốc phiện còn ngày nay là thuốc lá, có giấy vấn màu nâu đen càng đúng nghĩa)… Lễ phải phong phú mang tính đặc trưng của từng giá về ngự về, tức lúc các Thánh hay các Thần linh mượn xác nhập hồn, lễ vật được dâng lên cho các ngài hưởng thụ.

Ra đại đàn phải thủ lễ trong ba ngày. Ngày đầu là lễ cáo yết còn gọi lễ mở đàn, mở phủ, do bốn pháp sư (thầy cúng) ngồi tứ trụ, dâng và đọc sớ, báo tên tuổi cùng căn mạng của người ra đàn lên công đồng.

Ngày thứ nhì vào đàn, tức chính lễ còn gọi lễ ra đàn, có đủ các pháp sư và thầy Địa tạng đọc sớ mời các vị Thánh hay Thần giáng về chứng minh. Sau lễ cúng, người có căn mới thực sự là những ông bà đồng khi được đồng thầy đến phủ khăn và mời các Thánh Thần, các giá giáng ngự vào xác.

Ngày thứ ba lễ tiễn đàn hay lễ tạ, nhằm hóa vàng các thứ đồ mã cúng hiến gồm một thuyền phủ màu cánh phượng, hai bên thuyền có 12 hình nhân nữ ăn mặc sơn trang (áo chàm, áo thổ) đứng chèo, một ngựa với đủ yên cương hà̀m thiếc, một voi… cùng các hình nộm nam nữ, vàng nén bạc thỏi v.v…

Còn ra đàn tiến căn, các nghi lễ cũng không thiếu, nhưng tổ chức đơn giản chỉ diễn ra trong ngày, các mân lễ, vàng mã vừa đủ mang tính tượng trưng.

Người có căn mạng nhà Trần, thường phải ra đại đàn Tam Phủ không ra đàn tiến căn vì sợ bị quở phạt, các nghi thức cũng không gì khác biệt so với đàn Tứ Phủ. Nhưng người căn Tam Phủ, khi ra đồng oai dũng như một võ tướng nhà Trần, họ xiên lình, thắt cổ, rạch lưỡi, uống dầu sôi, ngậm nhang cháy v.v… rất ít thanh đồng nào thực hiện được nếu không có căn mạng nhà Trần, tức căn Trần Triều Đại Vương, một vị Thánh cả trong Tam Phủ. Trong tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ mọi người rất trọng vọng người có căn mạng nhà Trần.

Bắt đầu một buổi lên đồng, người ra đồng trình lạy đủ ba lễ mới trùm khăn phủ diện, bắt đầu đảo người. Trong lúc đảo, nếu người ra đồng đưa ra một ngón tay, đó là biểu hiện giá Quan đệ nhất giáng về, cung văn theo giá đồng xuất hiện liền hát những bài thơ văn thích hợp với tính cách của vị Thần, Thánh đó.

Sau đó người lên đồng mới bỏ khăn phủ diện ra, các hầu dâng (người phục vụ) bấy giờ thay khăn áo cho đúng tính cách của vị Thần Thánh vừa nhập xác thanh đồng. Sau khi khăn áo chỉnh tề, người lên đồng với một bó nhang to đứng lên tấu lễ trước cung Thánh.

Người ra đồng cầm bó nhang bằng tay trái, còn tay phải rút lấy một cây từ trong bó nhang, hướng về các hướng làm động tác phù phép gọi là khai khuông, nhằm xua đuổi tà ma, các phần vong hiếu kỳ.

Làm phép khai khuông xong Thánh đã nhập hẳn vào xác. Người lên đồng bấy giờ không còn là họ, vì xác đã thuộc về thần linh, còn hồn đang phách tán đâu đó.Hau dong 9D

Các nhà nghiên cứu cho rằng, lúc này yếu tố xuất thần, tự thôi miên đã giúp họ nhảy múa một cách uyển chuyển, nhịp nhàng hay kích động mà bình thường họ không thể tự nhảy được. Đó chính là sự hứng khởi mang tính tâm linh, chỉ nhập vào một số người có căn mạng.

Múa đồng là hình thức diễn xướng được cách điệu hóa, khẳng định sự tái sinh của thần linh. Bởi vậy tùy theo từng vị Thánh, Thần mà động tác nhảy múa cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung, các điệu nhảy múa đều mang âm hưởng của chèo cổ và múa nhảy dân gian. Mỗi động tác nhảy múa trong các giá khắc họa tính cách, vị trí của mỗi vị thần linh đang được ông đồng, bà bóng thể hiện trên sàn chánh điện.

Tuy nhiên trong trạng thái phấn kích do tự thôi miên, người lên đồng nhiều khi có thể nhảy múa tự do vượt ngoài lề luật, do phấn kích với lời ca, tiếng đàn tiếng trống của cung văn khởi xướng. Khi múa đồng (múa thiêng), các ông bà đồng còn sử dụng một số đạo cụ như mồi đuốc, kiếm, đao, hèo (gậy), mái chèo, quạt, cờ…

Khi nhảy múa xong, các Thánh thường ngồi nghe cung văn hát, thí dụ như giá ông Hoàng Mười nhập về, cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác vỗ gối và thưởng tiền.

Lúc này người đến dự lễ mới đến gần Thánh để cầu xin hoặc nghe Thánh phán… đây cũng là lúc Thánh ngồi chữa bệnh, trò chuyện hay phát lộc.

Khi Thánh muốn xuất khỏi xác, ngài ra dấu bằng hai tay bắt chéo trước trán, quạt che đỉnh đầu, rồi khẽ rùng mình… tức Thánh đã thăng.

Buổi ra đồng kết thúc khi ông bà đồng hầu hết giá Cậu Bé. Một buổi lên đồng hầu bóng có thời gian kéo dài ít nhất hai tiếng và dài nhất đến sáu, bảy tiếng, tùy theo các Thánh giáng về nhiều hay ít giá.

Mỗi lần lên đồng “cầu Thần nhập xác” có rất nhiều nghi thức phức tạp, theo nhận xét những người theo tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ phải là người có căn mạng, nếu không sẽ trở thành đồng đá, vì không có Thánh Thần nào về mượn xác nhập hồn.

Lên đồng là một nghi lễ thờ cúng trong tín ngưỡng  dân gian, thường tổ chức trong các đền, điện lớn, những nơi được vua chúa xưa sắc phong (sau này là Quyết Định được chánh quyền công nhận), những điện nhỏ tại gia đều mang tính cách gia đình.

Trong các đền điện, người ta thấy có rất nhiều đồ mã được treo trên trần với đủ ngũ sắc như nón quai thao, nón chóp, đèn lồng, thuyền ghe… nhiều kích cỡ, phía dưới có ngựa, có voi. Ngoài ra mỗi cung thờ Thánh đều có lọng vàng, tán quạt đặt hai bên. Nơi cung võ, người ta còn thấy bộ chấp kích to lớn bằng đồng thau sáng bóng.

Sở dĩ có những vật trên vì từ Tam Tòa Thánh Mẫu đến Ngũ vị tôn quan, các Chúa, Chầu, các quan Hoàng, các Cô, Cậu đều là các vị Thánh hay Thần có nhiều nguồn gốc, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số, sống ở đồng bằng hay những vùng núi non, sông biển, cũng như từ mọi miền trên đất nước.

Trên nóc đền luôn có hai con rắn đưa đầu vào chầu cung Thánh Mẫu, là thần Giao Long hay Kỳ Cùng đại Vương, hóa thân của Quan Đệ Ngũ, vì thế mọi người thường cung kính gọi hai ngài bằng Ông Lốt. Rắn trắng có tên Quan lớn Ba, rắn màu sẫm có tên Quan lớn Năm.

Trong chầu văn thường hát trong giá hầu bà Chúa Ba (tức Mẫu đệ tam, Thủy tiên Thánh Mẫu, Mẫu Thoải, bên Phật giáo gọi bà Chúa Ba là Quan Âm Diệu Thiện) rằng, rắn thần có công đưa công chúa Liễu Hạnh đi gặp Thủy Long Vương xin trị thủy. Ông Lốt được đề cập, thường kịp thời cứu khốn phò nguy, được phong Thượng Đẳng thần cứu quốc.

Quan lớn Tuần Tranh rất ít về ngự giá nhập xác người lên đồng, nhưng khi về bao giờ cũng giáng sau các giá cậu Bé, có động tác đặc trưng mô phỏng như hình con rắn lượn, người lên đồng nằm dài được trùm toàn thân bằng khăn nhiễu đỏ, rồi bò đi như hình zích zắc.

Một ban thờ sơn trang như một hòn non bộ cỡ lớn, có núi, có suối, trang trí bà Chúa Sơn Trang (tức Thánh mâu Thượng Ngàn) đứng cùng 12 thị nữ kinh thượng theo hầu rải rác trên trang; ngoài ra trên sơn trang còn thờ bà Chầu Mười Đồng Mõ và Chầu Chín.

– Nằm dưới hạ ban là hình một con hổ to, có nơi tạc thành tượng, có nơi chỉ một bức tranh vẽ. Là Ngũ Dinh hay là Ngũ Hổ tôn quan ngự trị ngũ phương :

* Hoàng hổ tướng quân trấn Trung khu (Địa khu)

* Hắc hổ tướng quân trấn Bắc khu (Thủy khu)

* Bạch hổ tướng quân trấn ở Tây khu (Kim khu)

* Xích hổ tướng quân trấn ở Nam khu (Hỏa khu)

* Thanh hổ tướng quân trấn ở Đông khu (Mộc khu).

Khi giáng đồng, ông Dinh cũng như Quan lớn Tuần Tranh thường giáng vào cuối giá cậu Bé, người lên đồng được ngài nhập phải trùm khăn đỏ và vào tư thế một con hổ ngồi, dâng nhang bằng miệng. Ông Dinh cũng như Ông Lốt rất ít xuất hiện, phải người có căn mạng lớn mới được các ngài về ngự.

Nói về người có căn mạng Trần Triều, khác với người có căn Bà, căn Cô hay căn Ông Hoàng, Bà Chúa. Người mang căn mạng nhà Trần thường là những đồng nam. Trong giới đồng thường ví “một đồng nam hơn ngàn đồng nữ”, thứ nhất đa số nam giới không tin vào việc “cầu Thần nhập xác”, thứ hai họ cảm thấy xấu hổ khi ra đồng phải đứng nhảy múa trước đám đông, thứ ba người đời thường mỉa mai họ là dân đông bóng, như muốn ám chỉ họ thuộc dạng biến thái, pê-đê… nên chuyện bị bắt đồng nếu có, ít người chịu ra đàn để lên đồng hầu bóng theo lệ thường.

Người có căn Trần Triều, ngoài Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương về nhập xác, còn có những vị vua, vị tướng thời nhà Trần được phong Thần, phong Thánh, cũng thường giáng về ngự giá, giới nữ đa số không có căn Trần Triều hoặc có chỉ thuộc căn nhẹ.

Sự linh hiển của Đức Hưng Đạo Đại Vương tại đền thờ Kiếp Bạc, lúc khởi đâu được mọi người sùng bái gọi ngài là Thần (vì ngài là Thành Hoàng của làng Kiếp, làng Bạc), sau được nhiều đời vua Trần, Lê, Nguyễn phong chức Thánh thuộc Thượng Đẳng thần, nên cách xưng tụng được đổi thành Đức Thánh Trần hoặc Trần Triều Đại Vương. Người dân cho rằng Đức Thánh Trần rất linh hiển, ngài luôn giáng về để trừ ma diệt quỷ cứu nhân độ thế; những người bị cho ma ám quỷ hành, đưa đến gặp ngài ắt sẽ khỏi bệnh.

Người có căn nhà Trần khi ra hầu đồng, giá Trần Triều được giáng về đầu tiên. Ngài uy dũng ra oai cầm thương đao kiếm múa võ; có khi dùng một dải lụa thắt chặt bụng và cổ cho thấy khuôn mặt tái xanh không còn máu đỏ luân lưu là thật. Để làm bùa trừ ma diệt quỷ, ngài cắt lưỡi phun máu vào những lá bùa được lập sẵn để khai khuông. Ai có những lá bùa này đều tin sẽ trừ được tà ma quỷ ám, chúng sẽ không dám đến quấy phá nữa; trẻ con mới sinh hay khóc đêm nếu lấy lá bùa gối dưới đầu giường nó sẽ không còn khóc đêm.

Những người bị coi là ma nhập, đem lá bùa đốt và tán với nước cho uống, tức thì con ma phải xuất ra khỏi người ! Còn không trừ được bằng bùa, ngài dùng dầu sôi hay cả bó nhang ngậm trong miệng mà phun vào nạn nhân để đuổi tà ma, yêu quỷ.

Ngài còn nhập đồng khi thể hiện qua hình thức xuyên lình. Tức dùng hai cây dùi (gọi là lình) đâm vào hai bên má, khi rút ra không còn tì vết; ở đền Kiếp Bạc vào dịp giỗ Đức Thánh Trần có lễ rước kiệu Thánh, nhiều đồng nam cao niên đi theo sau kiệu đã xuyên những cái lình dài qua má, vào làn da thái dương hay ngay cổ họng… có người xuyên hông hoặc xuyên thẳng vào bụng, mà chưa từng học qua việc luyện nội công hay thần quyền.…

Lình thường làm bằng đồng thau, loại tiểu dài cỡ 4 tấc có đường kính từ 2,5 đến 3 ly, loại trung dài khoảng 7 tấc đường kính 4 đến 5 ly và loại tạ dài cả thước đường kính 5 đến 6 ly, loại dài người xuyên lình khó buộc chặt vào người, nên cần có người đỡ hai bên chuôi

THIÊN VIỆT

Xem tướng sửa mệnh (bài 3)

1a LogoTuongso

Bai dam nu 1CÁI DÂM

TRONG TƯỚNG

PHỤ NỮ

– Khôi Việt

LUẬN VỀ CHỮ DÂM

Người Việt chúng ta khi nói đến sự hưởng thụ thường hay buột miệng câu “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, cưới vợ Nhật”, bởi đất nước từng bị Tàu đô hộ “một ngàn năm” còn Tây cả “trăm năm”, chỉ riêng Nhật có mấy năm trong Thế chiến thứ II, nhưng đã có một nhận xét rất tinh tế về người phụ nữ Nhật.

Phụ nữ Nhật nhìn bề ngoài hình thần thấy thật nhu mì, hiền hậu, đoan trang nhưng bên trong, tức khí chất là thứ núi lửa Hỏa Diệm Sơn, lúc nào cũng bùng nổ mãnh liệt, trong ái ân không thụ động như phụ nữ Trung Hoa luôn giữ gìn bốn câu “công dung ngôn hạnh” không dám đột phá trong phòng the, có lẽ e sợ mang tiếng đời cho rằng họ thuộc dạng “dâm nữ” chăng ?

Tuy nói phụ nữ Nhật biết chiều chồng tới bến, khiến các ông chồng phải say mê không chán cơm thèm phở, nhưng trong lịch sử Trung Hoa từng nói đến cái dâm trong tướng phụ nữ của họ : “Không dâm sao nẫy ra hiền”, một câu bắt nguồn từ sách Tố Nữ Kinh. Trong có đoạn viết : “việc vợ chồng ân ái là việc mở đầu cho quần luân, cũng là điều truớc nhất của tạo hóa ban. Nam nữ khi giao tiếp để cho âm dương được thuận, nên Khổng Tử ca tụng việc hôn nhân trọng đại là vậy”; để nói không chỉ phụ nữ Nhật mà đa số giới nữ khi trưởng thành đều mang dâm tính trong người, nhưng mọi người thể hiện một cách khác nhau, người thụ động và người chủ động mà thôi.Bai dam nu 2

Theo quan điểm của sách Tố Nữ Kinh, khi tạo hóa ban cho một nam một nữ tiến đến hôn nhân, thì cái dâm là điều kiện tiên quyết. Cái dâm ở đây nói đến hiện tượng sinh lý (chưa nói đến sinh dục), nếu người phụ nữ “bị khô” (lãnh cảm) hay nam giới “trên bảo dưới không nghe” (rối loạn cương dương) thì cuộc sống vợ chồng không thể có hạnh phúc. Vậy cái dâm trong tướng mệnh mỗi người ra sao ?

Xin lấy một truyện làm thí dụ cho cái dâm, như trong sử Trung Hoa có nói, Võ Tắc Thiên thuộc người phụ nữ đẹp, dâm đãng, làm thiếp của cha (vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân) sau lấy con của Thế Dân là Đường Cao Tông Lý Trị trở thành Hoàng hậu và sau nắm hết quyền hành như một vị Hoàng Đế. Nên Võ Tắc Thiên không chỉ chính danh lấy cha và con, bà ta còn dâm đãng điên cuồng theo “gien” di truyền từ mẹ ruột, tức Dương Thị, năm Dương Thị 60 tuổi còn gian dâm với cháu ngoại là Hạ Lan Kinh.

Cái dâm của Võ Tắc Thiên khi được nhắc đến có chuyện, khi bà ta bị Đường Cao Tông bỏ bê đưa vào chùa Cảm Nghiệp làm ni cô (do các thái sư nhìn sao trên trời đoán vận mệnh cho vua nói rằng, sau họ Lý là họ Võ sẽ lên ngôi thiên tử. Vì thế ai họ Võ đều mất hết binh quyền, người trong cung thì đưa vào lãnh cung là ni cô), rồi trong cảnh tịch mịch đã thông gian với một hòa thượng tên Phùng Tiểu Bảo. Lúc được Đường Cao Tông sủng ái trở lại, Võ Tắc Thiên tìm cách đưa họ Phùng vào hậu cung để mây mưa do hai người ý hợp tâm đầu, thân hình Phùng Tiểu Bảo lại vạm vỡ, rất khoẻ trong việc gối chăn. Ngoài họ Phùng, Võ Tắc Thiên còn dâm loạn ăn nằm với quan ngự y Thẩm Nam Liêu, người thường đến cung “massage” cho Hoàng hậu. Ngoài ra còn có vị đạo sĩ tên Minh Sùng Nghiễm, luôn luôn có mặt để thỏa mãn dâm tính của bà.

Vo Tac ThienRồi khi Võ Tắc Thiên nhận ra các nhân tình kia đều lớn tuổi hơn bà ta, lập tức Võ Tắc Thiên “cải cách” chuyện phòng the, tìm ngay một tình nhân nhỏ tuổi hơn bà là Trương Xuân Tông một chàng trai từng ăn nằm với Thái Bình Công Chúa con bà. Và chỉ qua một đêm Võ Tắc Thiên thấy thỏa mãn hài lòng ngay với họ Trương. Nhưng vì Trương Xuân Tông đang là nhân tình với Thái Bình Công Chúa sợ người yêu ghen nên liền tiến cử Trương Dịch cho Võ Tắc Thiên, giới thiệu Trương Dịch cũng thuộc “cao thủ võ lâm” trong đường ân ái, dù vậy Võ Tắc Thiên va74n không buông Trương Xuân Tông. Cả hai anh em họ Trương phải thi nhau cung phụng dục tình cho Võ Tắc Thiên.

Đã vậy Võ Tắc Thiên cũng chưa đủ thỏa mãn sự dâm loạn, sau khi Đường Cao Tông chết, Võ Tắc Thiên nắm hết quyền hành trong triều đình, bà ta còn ra lệnh thần dân tiến cử thêm nam nhân khoẻ mạnh, trong số có Liễu Lương Tân rất am tường chuyện phòng the, còn Vệ Trương Sử viết trong thư tự tiến cử khoe rằng mình có dương vật vừa dài vừa to, khoẻ mạnh hơn mọi nam nhân khác (hai người này được ghi trong sách “Cựu Đường Thư”), Võ Tắc Thiên đều cho vào cung để thưởng thức.

Còn rất nhiều nhân vật được Võ Tắc Thiên ăn nằm, vì với cái dâm của bà nên lúc đã gần 80 tuổi, không đêm nào Võ Tắc Thiên ngủ mà thiếu đàn ông.

Trong sử Trung Hoa còn nói đến các dâm phụ khác như Thái Bình Công Chúa con gái Võ Tắc Thiên, Vị Thị cháu nội Võ Tắc Thiên (đều bị cái “gien” dâm loạn từ bà ngoại của Võ Tắc Thiên truyền sang); Giả Nam Phong còn gọi “Hắc Trân Châu” (viên ngọc đen, vì da  bánh mật) vợ của vua Tấn Huệ Đế Tư Mã Chung; hay Từ Hi Thái Hậu Diệp Hách Na Nạp, đời Mãn Thanh v.v… chúng tôi sẽ kể trong những bài khác.

Và trong một cuộc thăm dò dư luận cho một game show mới đây, các điều tra viên hỏi 100 người nam lẫn nữ : “Bạn có thích người bạn tình – vợ, hay chồng – của mình dâm không ?” có đến 80% người trả lời “rất thích”.

Vậy ra cái dâm không phải là điều xấu, xấu hay không ở chổ thể hiện dâm tính. Nhưng thông thường mọi người hay nói đến cái dâm ở người phụ nữ, chuyện ái ân với nhau ra bàn luận “khô” hay “ướt át”, ít khi nói đến sự “dâm đãng” của người đàn ông có nhân tình, mèo mỡ, đi bia ôm đèn mờ, có người còn thích “già chơi trống bỏi” thấy nữ nhi đang tuổi dậy thì thân thể đang phát triển là híp mắt nhìn ngắm say sưa.

CÁI DÂM THỂ HIỆN TRÊN TƯỚNG MỆNH

Trong tướng mệnh, tức mệnh vận mỗi người được thể hiện ra bằng hình thần dưới những nét riêng biệt về tướng cách, sắc diện hay khí chất qua tâm tướng của người đó. Như nhìn sắc diện vào khuôn mặt, khóe mắt làn da, nhìn cách cười nói, đi lại nằm ngồi (xem bài “Thế nào là người đẹp qua tướng mệnh” và “Xem tướng sửa mệnh”), các thầy xem nhân tướng có thể suy đoán tính cách tính dục của đối tượng qua những hình tướng sau đây :Bai dam nu 3

–          Hung cao điến kiệu : ngực ưỡn đít cong.

–          Yêu tế kiên hàn : eo nhỏ vai so, lưng như lưng ong

–          Thân như phong liễu : dáng ngã nghiêng như cây liễu.

–          Hạc thoái phong yêu : gầy như chân hạc

–          Yém nhiên hàn tiếu ngữ/ Dâm dật đới tình si : vừa nói vừa cười là dâm dật đa tình, đôi khi còn trở nên dâm loạn.

–          Nữ nhân đào hoa nhãn/Tư phòng liễu diệp mi/Vô môi năng tự giá/Nguyệt hạ nữ nhân kỳ : người phụ nữ có đôi mắt ướt át, hay liếc nhìn tình tứ, lại thêm đôi lông mày lá liểu là loại thích trăng hoa. Có chồng nhưng vẫn muốn có thêm nhân tình để thỏa mãn thú vui xác thịt.

–          Lưỡng quyền cao : thuộc dạng hiếu sắc, đa dâm.

Ngày xưa trong giới cải lương có người nhìn thấy “bốn đại dâm nữ” bằng câu “Nhất T.., nhì N…, tam L…, tứ N…” mà quả thật, họ đổi chồng hay thay nhân tình như thay áo mặc hàng ngày. Còn căn cứ theo tướng pháp viết từ Thủy Kính, Ma Y Thần Tướng, cũng như Thu Đàm Nguyệt, Nữ ngọc Quản Quyết, Linh Đài Bí Quyết… cho thấy dâm tướng của người phụ nữ qua những cử chỉ sau :

– Phụ nữ ngồi thường mân mê mái tóc,  thuộc người rất đam mê tình dục

– Ngồi mà hay vuốt lông mày, liếm môi, cho tay ra sau gáy, tay chân rung, uốn éo thì ý dâm vượng thịnh, hiếu dâm, đa tình, đa dâm.

Sách “Bí truyền tướng pháp” cũng viết : Quyền hồng như chi giả chủ dâm bôn. Tức cái dâm thường thể hiện qua đôi mắt, mắt màu hat dẻ, mắt nâu mà các thầy xem nhân tướng gọi là trà sắc nhãn (mắt có màu nước trà ), thú nhãn (mắt có màu như mắt thú) là những người xem tình dục như một trò chơi

Còn tướng sư Viên Liểu Trang (thời nhà Minh bên Trung Hoa) nói đến cái dâm, cái đẹp trong  tướng mệnh người phụ nữ, viết trong sách :

– Để xem cái dâm của nữ nhi bằng cách lấy khí huyết làm chủ, da tức là máu, máu là gốc rể của da. Nên khi nhìn vào da thịt của nữ nhi có thể biết sự suy thịnh của máu; da sáng thuộc máu tốt, da đỏ hồng là máu khô, da vàng là máu đục, da như hơ lửa là máu suy, da trắng nhợt là máu trì trệ. Như vậy tiện tướng là máu đục, dâm tướng là máu suy, yểu tướng là máu trì trệ. Máu tươi nhuận là mịn màng, không xếp nếp, không trì trệ, không ủng thũng. Da thịt gợn ánh hồng, hoặc đen bánh mật, tươi sáng thì tốt về tình dục hơn trệ đục khô cằn. Vì vậy người phụ nữ cần mang dòng máu tươi, sáng trong ngoài mới coi là quý.

– Phụ nữ còn mang vẻ sang quý ở mắt, mi mắt, vai và lưng, xem đường tử tức ở bụng, vú và rún. Mặt vuông thuộc hổ diện là phạm vào sát tinh không thể trở thành mệnh phụ phu nhân. Người phụ nữ có hình thể như con phượng mới thực đại quý. Dáng phượng thì mặt tròn dài, mi như cánh cung, mắt nhỏ trải dài, cổ tròn dài, vai lưng bằng phẳng đầy đặn.

Cho nên da thịt là nơi cho khí sắc hiện lên. Da thịt có nhiều loại : Chắc và mềm mại – Bầy nhầy – Thô cứng nhăn nheo

Da thịt cần nhất là phải tương xứng với xương cốt, nếu xương nhỏ mà thịt nhiều sẽ thành bầy nhầy, nếu xương to mà thịt ít sẽ trỡ nên thô cứng. Người phụ nữ mà da thịt bầy nhầy, phù thủng sẽ có nhiều bệnh tật đến yểu mệnh. Da thịt thô cứng ắt số khắc phu, tâm khổ.

Sự biến đổi sắc diện cũng biểu lộ qua tướng cách và tâm lý. Nên nhiệt độ của da thịt tùy thuộc vào các vi huyết quản và lớp mỡ nằm dưới da, sự giãn nở từ các mạch máu sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh của cảm giác. Như một người phụ nữ khi mắc cỡ sẽ làm hồng lên đôi má, còn nếu sợ hãi sẽ đâm tím mặt và tay chân lạnh toát, đôi khi mồ hôi ra dầm dề từ mặt xuống đến thân nhất là lưng.

MÙI HƯƠNG TỪ PHỤ NỮ

Bai dam nu 4Làn da trắng, mịn màng thơm tho là biểu hiện tính cách thông tuệ, văn nhã sạch sẽ… Sách “Thần Tướng Toàn Biên” viết : Người phụ nữ da thịt lúc nào cũng lạnh thuộc tướng dâm, da ấm, nóng êm dịu là tướng tốt. Da thịt da cần phải chắc dày mới thấy có bề thế, không chảy xệ lại thơm tho và ấm áp, sắc phải trắng nhuận, da mềm mại đều là mỹ chất. Nếu sắc đục như ám khói và khô, da đen sạm và hôi hám, thịt nổi lên thành cục không phải là tướng sang, quý phái.

Vì vậy mùi hương từ người phụ nữ là thứ đặc trưng (không phải từ hương liệu), được toát ra từ da thịt của họ.

Theo giới y học cho đây là sự phóng thích của các phân tử từ phản ứng oxyt hóa chất béo có trong mồ hôi nằm ở lổ chân lông, những vùng đặc biệt như nách, bẹn, gáy, các nếp gấp… những nơi có cấu tạo da lông và tuyến mồ hôi đặc biệt, ngoài ra các cơ quan rổng cũng có riêng mùi đặc trưng, như ở miệng, mũi, tai, âm hộ, âm đạo, mùi từ hơi thở và cả nước mắt, từ tinh dịch nam giới đến chất nhờn trong âm đạo cũng có mùi vị.

Người phụ nữ biết vệ sinh cá nhân thường xuyên sẽ tạo ra một thứ mùi riêng biệt; nên khi người đàn ông ngửi đến nhiều lần đâm ra “nghiện” như nghiện ma túy không bỏ được, là người phụ nữ biết giữ chồng. Vì khi người chồng nhận ra một mùi hương quen thuộc thì một cảm xúc sẵn sàng xuất hiện, còn ngược lại sẽ mất ngay sự hứng khởi. Còn để có mùi hôi như mùi mắm thúi, e rằng chỉ ba bảy hai mươi mốt ngày cả hai đành phải xa nhau.

Trong giao tiếp ái ân, cảm xúc từ mùi hương da thịt là yếu tố chính để kích thích tâm hồn, kích dục thể xác chứ không phải sắc đẹp không phải giọng nói, vì các yếu tố này đã được chứng minh từ khi cả hai quen biết nhau. Cuối cùng qua yếu tố mùi hương mới đưa đến câu “cảm nhau vì sắc, mến nhau vì tình” là vậy.

Một người bị bệnh liệt dương, hay xuất tinh sớm yếu sinh lý có thể do người đó chưa có đủ sự kích thích dâm tính cần thiết hoặc do cảm xúc đến quá sớm (nhiều người phải dùng đến thuốc trợ giúp hay xem phim con heo, để tạo sự cảm xúc dài lâu). Vì vậy mùi vị, âm thanh, hình ảnh và xúc giác giữ vai trò rất lớn trên sự tạo ra “tâm lý đáp ứng” cho cả hai người khi cùng nhau ở chốn phòng the.

Mùi như thế nào, cảm giác ra sao thì chỉ có mỗi cặp nam nữ mới cảm nhận được, sự yêu thích hơi hám của nhau là biểu hiện cho sự hòa hợp và tình yêu, và đó là bản chất mang trạng thái dâm tính.

Thời Từ Hi Thái Hậu nhà Thanh bên Trung Hoa khi tuyển cung tần mỹ nữ vào hậu cung trước phục vụ các hoàng nhi sau tìm Hậu, Cung Phi, đã cho các cô gái mặc áo thật dày, rồi nói họ chạy quanh sân rồng cho đỗ mồ hôi. Bà Từ Hi làm như vậy cốt để xem thân thể cô gái được tiến cung có mùi thơm tho hay hôi hám. Như đã nói, mùi hương trên da thịt người phụ nữ thơm tho là tướng cách mệnh phụ, nếu thân thể hôi hám là tướng hạ tiện. Thời đó có nàng Hương Phi, thân thể nàng tỏa ra một mùi thơm ngát, ngọt ngào, còn có người mùi lại nồng nặc khó chịu.

Vì vậy mũi là cơ quan để tiếp nhận mùi, sẽ dẫn truyền sự kích thích lên não và tạo ra cảm giác hưng phấn. Dù hiện nay các sản phẩm hương liệu mùi từ hóa chất đang rất thông dụng với phụ nữ, nhưng nam giới vẫn ưa chuộng mùi từ thiên nhiên do tạo hóa ban cho họ, và trong quan hệ tình dục thì mùi tự nhiên của nàng vẫn luôn là thứ kích dâm muôn thuở.

NHAN SẮC VÀ TƯỚNG CÁCH :

Trong tướng mệnh cho thấy mệnh vận người phụ nữ tốt hay xấu hoàn toàn lệ thuộc về tướng cách, nhan sắc (hình thần – khí chất), dễ đưa đến hạnh phúc và cũng có thể dễ trở nên tại họa. Chỉ có tướng cách tốt mới có một gia đạo yên vui hạnh phúc.

Tướng cách là nét đặc biệt hiện lên trên thân tướng và ngũ quan, như bài “Thế nào là người đẹp qua tướng mệnh”, để có thể dự đoán được số mệnh. Việc dự đoán như sau :

Nhan sắc đẹp + tướng cách tốt : số đại quý (trai làm tướng, nữ mệnh phụ phu nhân)

Nhan sắc xấu + tướng cách tốt : chỉ thuộc dạng phu nhân bậc trung trong xã hội.

Nhan sắc đẹp + tướng cách xấu : mệnh vận khổ ải, thường “hồng nhan đa truân”, ba chìm bảy nổi.

Nhan sắc xấu + tướng cách xấu : thuộc hạng người nghèo khó hạ tiện.

Vì vậy có câu hỏi : Tại sao sắc đẹp người phụ nữ lại làm cho nam giới say mê đắm đuối ? Chúng gồm các yếu tố nào ?

Xin thưa các yếu tố của người phụ nữ làm say đắm nam giới là do trời phú riêng cho họ, qua : tiếng nói ngọt ngào, tính nết dịu hiền, đầu tóc đen thuyền, thịt da trắng, mềm, xương cốt yểu điệu mãnh mai, thân hình thon thả vừa tầm không cao quá khổ hay lùn quá mức, không béo phì hay như bộ xương cách trí. Ba vòng ngực, bụng và mông phải tương xứng, chứ không được ngực ưỡn đít teo. Trong ái ân cái dâm phải hài hòa, người phụ nữ chỉ biết thụ động tuy có dâm tính nhưng vẫn không thể sánh với người thường hay chủ động.

Cái dâm trong thụ động của người phụ nữ thường được gọi là “bóng ẩn” nên khiến việc chăn gối của nam giới cảm thấy không nhiều cảm xúc, hoặc nữ giới gặp người rối loạn cương dương, cả hai sẽ càng chán nhau hơn, vì trở thành “đồng sàn dị mộng”.

KHÔI VIỆT

Xem tướng sửa mệnh (bài 2)

1a LogoTuongso

NGƯỜI PHỤ NỮ QUA

HÌNH THẦN & KHÍ CHẤT

KHÔI VIỆT

Trong bài “thế nào là người đẹp qua tướng mệnh ?”, kỳ này xin nói về những bí quyết tự sửa tướng mệnh qua hình thần và khí chất.

HH 1

Như đã nói, tướng mệnh con người do hình thần thể hiện từ lúc bẩm sinh, tức hình thành nhân dáng qua huyết thống (gien) cha mẹ. Còn khí chất bao gồm dáng điệu, lời nói và tâm tính, nên theo thuyết “luân hồi’ của

Phật Giáo, thì tùy thuộc vào cung phúc đức phụ mẫu hoặc do chính đương sự từ kiếp trước tạo ra, đồng thời còn kèm theo mức họa phúc hiện hữu của cá nhân nữa. Thuyết trên gọi hai hiện tượng vừa nói thuộc về “kiếp luân hồi”“luật nhân quả”.

Hình thần và khí chất thuộc các bộ phận bên ngoài thân thể gồm các phần chính như toàn thân, mặt, mẫu trán, âm sắc, cử chỉ và dáng điệu.

Tuy nhiên các thầy xem tướng thường chú ý đến khuôn mặt, vì khuôn mặt thể hiện hết cuộc đời mỗi người, gồm những phần như lỗ tai, lông mày, ấn đường, sơn căn, mắt, hoan cốt, mũi, nhơn trung, pháp lệnh, miệng, môi, răng, lưỡi, râu và tóc. Trong hình tướng còn có phần xem chỉ tay và coi nốt ruồi toàn thân.

Với những nội dung trên, các nhà tướng thuật tìm thấy sự biến hóa tương quan, giữa khuôn mặt với các bộ phận vệ tinh mà suy đoán tương sinh tương khắc tính cát hung cho mệnh vận. Còn đường chỉ tay và nốt ruồi, chỉ là những điềm dự báo luôn được thay đổi trong tương lai qua phần họa phúc hiện hữu.

Sách “Ma y thần tướng” cho rằng, mệnh người do trời sinh và biểu lộ ra ở hình thể, hình cốt, còn cát hung thể hiện ở khí sắc tức khí chất. Nên dù không phải là thầy xem tướng nhưng khi thấy dáng điệu, màu da, lời ăn tiếng nói của một người, mọi người có thể đoán ra người đó thuộc tướng đẹp hay xấu, sang hay hèn, trí thức hay du đảng, khoẻ mạnh hay yếu ớt v.v…

Và như đã nói, hình thần khó thay đổi đôi khi phải nhờ đến bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ mới có thể được như ý đôi phần, nhưng về khí chất lại luôn đổi thay theo từng thời gian và về tính phúc đức hiện hữu của cá nhân đương sự, có thể tự cá nhân sửa được.

Trong tướng thuật các thầy nhân tướng thường xem về trán, thuộc Hỏa tinh; là bộ vị đầu tiên thuộc vận khí tính từ năm 15 đến 30 tuổi để giải đoán vận mệnh. Nên trán được chia làm 3 phần : trên, giữa và dưới trán theo số tuổi cụ thể (hình 1 chỉ minh họa chung cho nam nữ) :

Hình tran

– 15 tuổi : trán đi vào tóc khoảng 2 cm.

– 16 tuổi : phần trên cùng của trán (Thiên đình) sát với chân tóc.

– 17 tuổi : xương trán hơi lồi (Nhật Nguyệt giác).

– 18 – 19 tuổi : xem ngay giữa trán (Thiên đình)

– 20 – 21 tuổi : dưới hai xương trán, tức phụ giác chếch về bên phải, bên trái, dưới tuyến nối với Tư không (giữa trán) và  Ấn đường (giữa hai lông mày).

– 22 tuổi : xem ngay trung tâm trán (Tư không).

– 23 – 24 tuổi : chỗ giao nhau giữa tóc bên trái, phải với chân tóc (Biên thành)

– 25 tuổi : xem giữa Tư không với Ấn đường (Trung chính).

– 26 tuổi : huyệt thái dương trái (Khâm lăng)

– 27 tuổi : huyệt thái dương phải (Chủng mô)

– 28 tuổi : Ấn đường

– 29 – 30 tuổi : xem hai đầu xương trán trái phải (Sơn lâm) nơi chân tóc nối với Nhật Nguyệt giác.

Nên chỉ với phần trán đã có 10 điểm để giải đoán qua từng thời kỳ, người không thông nhân tướng rất khó giải đúng. Vì thế các nhà tướng thuật thường xem chung chung rồi đoán thêm qua những khí chất  sau đây :

CỬ CHỈ :

Người gian manh : luôn có đôi mắt xếch, tròng mắt thường ngó láo liên, tư thế ngồi thường co cụm, rút vai, rụt cổ, tai vểnh.

Người ích kỷ , cơ hội : rất khó khám phá vì họ luôn dè dặt, thường tỏ cho mọi người nghĩ họ là đứng đắn. Nhưng có điểm sơ hở hay lắng tai nghe ngóng như quên mọi điều chung quanh, lại có tính đa nghi không tin ai.

Người bất chánh : càng khó hơn người cơ hội nói trên, nếu mọi người không có nhận xét về lời nói, vì họ thường tỏ ra nhút nhát, rụt rè; tuy nhiên tính tình những người này thường kiên định, không thỏa hiệp, khi nói đôi mắt luôn cúi xuống, như tỏ vẻ khúm núm, nhún nhường, tự ti.

Người trung trực : luôn có cử chỉ tự nhiên trong cách ăn nói, đi đứng và thường tỏ vẻ tầm thường trước đám đông.

Người kiêu căng : dáng đi lúc nào cũng ngả ra sau, mắt mở to nhìn lên cao, khi chào chỉ bằng cách nhún vai, trả lời trống không, khô khan nhưng bén giọng, sau đó là thái độ kẻ cả, giọng nói như bề trên nói với kẻ dưới quyền.

– Người kém thông minh : vẻ mặt hay nhăn nhó, tính không hoạt bát, nói năng thường ấp úng.

HH 3

BƯỚC CHÂN :

– Bước dài và thong thả : nóng nảy, có nghị lực, thường có của hoạnh tài và sự may mắn.

– Bước nhanh, chân như không chạm đất : thiếu thận trọng, cuộc đời kham khổ.

– Bước nhún nhảy : kiêu hãnh, tự cao, tự đại.

– Bước khoan thai : thích được chìu chuộng và ưa mạo hiểm trong kinh doanh.

– Phụ nữ dù đẹp mà bước đi vụng về, không khoan thai, mông hay xàng qua lại : là người háo thắng, nhiều mưu mô, khó làm chủ được họ.

BÀN TAY :

– Hay xoè bàn tay khi đi đứng : thiếu khôn ngoan.

– Khi ngủ bàn tay xoè ra : phá của, trái lại là keo kiệt. Nửa xoè nửa nắm có lòng nhân ái, thích việc cộng đồng.

– Nửa xoè nửa nắm : rất nhút nhát, không cả quyết được điều gì lớn lao.

– Bàn tay nắm chặt : rất can đảm.

– Tay hay vuốt trán : hay nghĩ ngợi.

– Tay xoa đầu mũi : tâm địa xảo quyệt.

– Tay hay vuốt miệng : thiếu thành thật.

– Ưa gãi tai , vuốt tai : đa mưu lắm kế.

– Tay gãi cằm : tự kiêu, khoe khoang đến xấc xược.

– Khi bước tay chắp sau lưng : thích dạy đời.

– Hay búng tay, bẻ ngón tay : ưa nịnh và thích dối trá.

GIỌNG NÓI :

Người xảo quyệt : thường có cử chỉ và sắc mặt thay đổi nhanh chóng như một diễn viên. Ăn nói chậm chạp như muốn nuốt từng câu nói, vì họ đang cần lời nói khéo léo, tìm cách ứng xử thích hợp với môi trường chung quanh. Họ thuộc người gian manh, lừa đảo, có nhiều âm mưu, và lúc nào cũng giả nhân giả nghĩa, thích nịnh hót mọi người.

Kẻ tiểu nhân : có dáng đi rón rén, thường chậm chạp theo cung cách tiến thối lưỡng nan. Khi nói chuyện môi dính không thấy hở răng, giọng nói nhẹ và rụt rè nhưng không rõ ràng. Khi nhìn đối tượng, không dám nhìn trực diện.

Kẻ lừa đảo : tiếng nói rổn rảng, đầy tự tin, nhằm áp đảo đối tượng; nhưng tròng mắt lúc đó dường như muốn lồi ra, đôi tay nắm chặt lại, vì họ dùng nhiều nghị lực, sự can đảm để làm tốt vai diễn, nhưng nếu gặp người có nhân điện mạnh đưa mắt bắt gặp, tức khắc họ hạ giọng nói và cáo lui.

– Khi nói chuyện với người khác, ngón tay cái đút vào các ngón khác, là người có tính keo kiệt, bủn xỉn.

– Vừa nói vừa hoa tay : bộc trực, ít suy nghĩ.

NỤ CƯỜI :

– Người khôn ngoan ít cười, nếu cười thường cười mỉm.

– Người dễ dãi hay thiếu thận trọng, gì cũng cười.

– Người có tâm hồn khoan dung, độ lượng, có tài xã giao có nụ cười kín đáo, nhưng cởi mở, có cặp mắt thường mở to mỗi khi có niềm vui đến.

– Người lỗ mãng hay cười hô hố, rất to, ấn át mọi thứ.

– Người biển lận rất ít khi cười, khi cười lại như nấc (khúc khích)

– Người đa dâm cười bằng ánh mắt và môi cười nhoẽn không thành tiếng.

– Người thiếu xét đoán : hay cười không đâu vào đâu.

– Hay khinh người : thường có nụ cười ruồi.

Trên đây thuộc về hình thần lẫn khí chất, còn một vài nơi trong thân thể không thể không nói đến như :

BÀN TAY

Vận mệnh mỗi người tùy vào các hình tướng như tướng mặt, tướng thân, tướng xương cùng các dáng điệu, lời nói, nụ cười v.v… như đã nói, để tính sự sang hèn, đẹp xấu. sinh khắc. Còn một nơi khác cũng quan trọng không kém, đó là bàn tay và đường chỉ tay. Các thầy tướng số có người chuyên xem tướng, có người chỉ chuyên về môn xem chỉ tay.

Trong lòng bàn tay có Bát quái thập nhị cung, còn gọi là chưởng Bát quái, thuộc 8 vị trí để đoán quẻ khi nhìn qua các vị trí tọa thủ. Khái quát chưởng Bát Quái mang tính chất (hình 2) :

Ban tay 1

– 1 Kiền (có sách gọi là Càn) thuộc Thiên môn, biểu tượng cho cha, địa chi thuộc Tuất, Hợi, ngũ hành là Kim.

– 2 Khảm thuộc Hải môn, chủ về căn cơ (tổ nghiệp), địa chi Tý, ngũ hành là Mộc.

– 3 Cấn chủ về điền trạch, mồ mả tổ tiên, địa chi Sửu, Dần, ngũ hành là Thổ.

– 4 Chấn chủ về thê thiếp, lập thân, địa chi Mão, ngũ hành là Mộc.

– 5 Tốn chủ về tài bạch, lộc tồn, thiên mã, địa chi Thìn, Tỵ, ngũ hành là Mộc.

– 6 Ly chủ về quan lộc, địa chi thuộc Ngọ, ngũ hành là Hỏa.

– 7 Khôn chủ về phúc đức, ông bà cha mẹ để lại âm đức, địa chi thuộc Mùi, Thân, ngũ hành là Thổ.

– 8 Đoài chủ về con cái, nô bộc, địa chi thuộc Dậu, ngũ hành là Kim.

8 nơi trên có gò nổi cao hay dày là tốt, còn lõm xuống hay có đường chỉ cắt ngang là xấu.

Cung Kiền nổi thì con trưởng quyền quý.

Cung Khảm nổi được ông bà che chở.

Cung Cấn khắc hãm thì tổn hại đường gia đạo (vợ chồng, con cái).

Cung Chấn nổi sẽ có nhiều nhà cửa.

Cung Tốn tán loạn thuộc hạng ăn chơi, lêu lổng.

Cung Ly cao là người có công danh.

Cung Khôn bị phá, con cái điêu đứng, khổ sở.

Cung Đoài bị tổn hại thì đường vợ chồng sẽ sớm gặp cảnh góa bụa

Chúng tôi sẽ tiếp tục dẫn giải nơi những phần sau.

HÌNH DẠNG

Các thầy tướng số khi xem chỉ tay, thường xem 8 hướng trong Bát quái thập nhị cung, rất coi trọng các đường chỉ tay ẩn hiện, vì các đường chỉ tay thường gây phức tạp cho người giải đoán, lý do “vân tay như gỗ có thớ, có vân. Vân gỗ đẹp được xem là gỗ quý, vậy tay có chỉ tay đẹp là tướng quý”.

Trong “Ma y thần tướng” có cách xem đường  “tam tài” tức chỉ xem ba đường chỉ tay nổi rõ tính cách con người ai cũng có (hình 3), chỉ có điều dài ngắn khác nhau, đứt khúc hoặc bị cắt ngang khác nhau.

Ban tay 2

Như đường Thiên Đạo (đường trời) chủ về gốc rễ phúc đức từ tổ tiên để lại, đường Sanh Đạo (đường đời) chủ về tài bạch, công danh, sự nghiệp mỗi người và đường Minh Đường (đường người) chủ về phúc đức hiện tại.

Nếu mỗi đường chỉ tay trong sáng không bị cắt khúc, không bị đâm phá là tốt, còn ngược lại nếu gặp các thớ dọc cắt ngang sẽ gặp nhiều tai ương họa gởi, thớ ngang cắt qua thì thường không có địa vị cao sang. Có chỉ tay Minh Đường dài người đó sẽ sống thọ, bị cắt ngang, cắt dọc dễ đau ốm bệnh tật…

Ba ngón tay trỏ, giữa và út, chỉ vận số từ tuổi thiếu niên sang trung niên và lúc về già (ngón trỏ là sơ chủ, ngón giữa là trung chủ còn ngón út là lão chủ), cho biết cuộc đời chìm nổi khi những ngón tay này hồng hào, bụ bẫm hoặc trái lại. Tuy nhiên trong chỉ tay còn mang yếu tố hình dáng của bàn tay; vì tính chất bàn tay có loại ảnh hưởng đến các đường chỉ tay mỗi người :

Tầm thường : có hình dáng thô kệch, da dày, xù xì, to và ngắn. Đây là bàn tay của người lao động, thuộc người kém thông minh, lười suy nghĩ, biết hôm nay chẳng lo đến ngày mai. Nhưng người có bàn tay này lại thật thà, chất phác, sống có hậu, thủy chung trong tình vợ chồng, và tính nhân hậu, thương người.

Cương nghị : có hình dáng như chiếc quạt xoè, các ngón tay cũng xoè ra, đây là người trực tính, nóng nảy, liều lĩnh. Với người thân, bạn bè rất thành thật, thẳng thắn và hay quan tâm đến mọi người. Tính tình không đa nghi, không hay can thiệp vào chuyện người khác.

Hình nón : hay bàn tay búp măng; đầu các ngón tay tròn trịa và nhỏ, mỏng; nếu lòng bàn tay mềm và ướt thuộc người sống nội tâm, ít bộc lộ. Người có bàn tay hình nón có trí thông minh, học mau hiểu, thích tìm tòi những điều mới lạ, có lòng nhân ái, nhưng hay tin người một cách thái quá nên dễ bị lường gạt. Đây là bàn tay thích hợp với các nghề điêu khắc, hội họa, nhạc sĩ, người mẫu.

Hình vuông : thuộc người mang tính thực dụng, bảo thủ, sống thận trọng và nề nếp, ra đời dễ thành đạt hơn mọi người; với bàn tay vuông khó chọn bạn kết giao, không thích hôi hè, vui chơi phóng túng, cũng không thích nghệ thuật, chỉ chuyên tâm vào công việc.

HH 2

Bàn tay khuyết : khuyết là các lóng tay gầy yếu, trong lòng và trên mu bàn tay đầy xương, là bàn tay của người chuyên nghiên cứu những sự kiện thần bí, thích khám phá những điều hoang tưởng, cũng thành danh với những chuyên môn của mình. Tuy nhiên họ thường tỏ ra lạnh nhạt với mọi người, và rất dễ trở thành kẻ cơ hội.

Bàn tay nhọn : bàn tay có hình dáng xinh xắn, mảnh mai, các ngón tay dài thon như búp măng. Ngườị rất đa cảm cũng hay đa sầu. Khoan dung, nhân từ là tính cách chính của bàn tay nhọn. Người có bàn tay này yêu thơ văn, hội họa, sự thẩm mỹ và cả những chuyện tình nồng cháy, bất vụ lợi trong tình yêu.

Bàn tay rộng, hẹp : có bàn tay rộng là người mang nhiều tham vọng và rất tháo vát, thường tạo ra thời cơ hơn thụ động, vì thế dễ làm giàu và cũng dễ phá sản. Nếu có tam đình đều đặn, đây quả là người có thế lực, ăn to, xài lớn.

Còn bàn tay hẹp trái lại rất nhút nhát, hay lo sợ, tính tình lại đa nghi, ít tự tin, nhỏ mọn, biển lận.

Bàn tay to, nhỏ : nếu to chậm xoay xở, óc nhận xét thiếu khoa học, làm công việc gì cũng chậm nhưng kiên nhẫn chịu đựng. Tính tình kín đáo, ích kỷ. Tuy nhiên khó có chức vị cao trong công việc, nếu tự lập cánh sinh chỉ thích hợp với các nghề thủ công, mỹ nghệ.

Bàn tay nhỏ lại khác, họ tỉ mỉ, khéo léo, năng động, biết ứng phó kịp thời những trường hợp khẩn cấp; tính tình luôn vui vẻ và lạc quan. Tuy nhiên vì tính năng động nên đôi khi va vấp những chuyện xui rủi, không may. Thích hợp với các nghề bác sĩ, luật sư hay ký giả.

Bàn tay dài, ngắn : bàn tay ngắn tính nóng nảy, thiếu bình tĩnh, công việc thường làm dở dang, nhưng đầu óc hay mơ ước viễn vông, nên thích khoa trương những điều không thực tế với hoàn cảnh của họ. Do bản tính nóng nảy nên cũng hiếu động, bạo lực, đa dâm; cuộc đời thường không thọ đủ một nguyên (thuyết tam nguyên trong âm lịch).

Người có bàn tay dài có đời sống khôn ngoan, thận trọng, tỉ mỉ trong các công việc nên thường đánh mất nhiều cơ hội thăng tiến. Bàn tay này gặp bất lợi trong kinh doanh nhưng nếu trở thành luật sư, ký giả, điều tra viên lại rất thành đạt.

Bàn tay tổng hợp : bàn tay vừa vuông, có ngón tay dài, nên phối hợp làm tăng những sự tốt lành, hay đại hung nếu bàn tay trơ nhiều xương cùng những ngón tay có vết hằn. Nhưng đặc điểm chung là người có tài năng, biết xoay xơtính dễ dãi, đời sống không thiếu thốn, sống thọ.

Trên đây là hình dáng của các loại bàn tay, và trong đó còn có những ngón tay, móng tay, các gò, các đường chỉ tay vân vân, để đoán được khoảng không gian, thời gian cho một mệnh vận. Nên chúng tôi sẽ viết tiếp trong kỳ sau.

Qua bài “thế nào là người đẹp qua tướng mệnh ?”, sẽ có đa số người và nhất là nữ giới thích chỉnh sửa lại những điềm hiện rõ trên khuôn mặt và cả thân tướng, khi xét thấy chúng đem đến điềm xui rủi hoặc sự xấu xí cho bản thân. Nên cái gì có thể tự sửa nên sửa hoặc cần giải phẫu thẩm mỹ để trở thành người được hoàn mỹ hơn.  Nhưng nói về sửa tướng sửa mệnh, không phải lúc nào sửa cũng được, cần phải coi ngày lành tháng tốt (hợp xung khắc với tuổi), phạm vi bài này chưa nói đến, chúng tôi sẽ lần lượt viết tiếp.

KHÔI VIỆT