TÌM HÀI CỐT DZỎM

NHIỀU “TRUNG TÂM

TÌM HÀI CỐT”DZỎM

Trên các con đường ở Quảng Trị thường có những chiếc xe treo băngrôn mang hàng chữ “xe di chuyển hài cốt liệt sĩ”. Lần theo các chuyến xe này, chúng tôi chứng kiến những hình ảnh không bình thường xung quanh chuyện tìm hài cốt đang là đề tài “nóng” ở một số tỉnh miền Trung…

Sáng 21/7, chúng tôi có mặt tại Quảng Trị. Ngồi ở quán nước trên đỉnh Dốc Miếu (Gio Linh), cứ khoảng 30 phút có một chiếc xe “di chuyển hài cốt” lao vút qua. 10g, một chiếc xe du lịch 16 chỗ biển số Hà Tĩnh tấp vào đậu trước nghĩa trang Gio Linh. Trước đầu xe treo tấm băngrôn đỏ “xe di dời hài cốt liệt sĩ”.

Một cuộc tìm kiếm hài cốt người chết

Từ trên xe đổ xuống hơn mười người mang lỉnh kỉnh hoa quả, nhang đèn, rượu thịt, vàng mã… Một phụ nữ khoảng 30 tuổi mặc quân phục mới tinh được hai người đàn ông dìu đi. Phía sau vành mũ tai bèo là gương mặt trắng bệch, mắt nhắm nghiền, chân đi xiêu vẹo. Lên hết bậc tam cấp cuối cùng của nghĩa trang liệt sĩ, chị phụ nữ bắt đầu vẩy hai tay liên hồi, hai quai hàm đánh qua lại lộp cộp, miệng thốt ra những câu vô nghĩa, không rõ ràng.

Sau 30 phút “vong (vong hồn người chết) nhập xác phàm”, bỗng dưng chị phụ nữ quơ tay chỉ vào nghĩa trang bạt ngàn ngôi mộ, miệng lập bập : “Cậu ở đây nì, 23 nớ” (cậu ở đây nè, số 23 đó). Nhóm người ùa tới hỏi tới tấp : “Cậu (chú, bác…) ở mô, sống khôn thác thiêng chỉ con cháu đưa về”.

Lúc này chị phụ nữ bắt đầu… ngáp, tay chân đạp loạn xạ, miệng ú ớ liên hồi. Để “động viên” vong, một thanh niên lấy máy nghe nhạc mở bài Hành quân xa rồi cả nhóm người vỗ tay đồng thanh hát theo. 30 phút trôi qua. Chị phụ nữ đột nhiên bật dậy miệng lắp bắp, câu nọ đứt đoạn câu kia : “Tháng mười… bảy tám… thì… thì về chứ nì, dãy 8… cái 23 nớ”. Một người đàn ông “à” một tiếng rồi “phiên dịch” : “Cậu nói hài cốt được quy tập về nghĩa trang tháng 10/1978, hàng số 8, mộ thứ 23” .

Mọi người lập tức tỏa ra đi tìm vị trí ngôi mộ, chuẩn bị bày mâm hoa quả, xôi gà, rượu thịt, nhang đèn. Anh Đặng Văn Hiệp, cháu gọi liệt sĩ Hỷ bằng cậu ruột, cho biết : “Cậu Hỷ sinh năm 1944, quê ở Hà Tĩnh. Nhập ngũ năm 1965, hi sinh năm 1968 khi đang trên đường vào chiến trường miền Nam. Sau giải phóng, gia đình cất công tìm kiếm hài cốt của cậu nhiều nơi nhưng không kết quả. Mới đây em đến trung tâm của ông Bằng ở P.Thạch Linh (TP Hà Tĩnh) cầu khấn, được vong của cậu nhập vào cháu gái là Đặng Thị Hoàn và chỉ ra nơi an nghỉ ở nghĩa trang này”.

Chúng tôi hỏi chị Hoàn cũng công tác trong quân đội hay sao, anh Hiệp nói : “Cô Hoàn chỉ làm ruộng thôi. Nhưng vì vong của cậu nhập vào nên bây giờ không còn là cô Hoàn nữa mà là liệt sĩ Nguyễn Văn Hỷ. Bộ quân phục mặc trên người cô Hoàn mua trước trung tâm của ông Bằng”.

Tranh thủ lúc “vong” tạm rời xác, chúng tôi gặp chị Hoàn. Chị Hoàn cho biết khi “vong” nhập chị như lạc vào cõi mộng, không biết mình nói gì, làm gì. Hỏi trước khi rời trung tâm có được ai cho ăn, uống thứ gì đó không bình thường không, chị Hoàn chắc nịch : “Nỏ mô (không có). Trước chừ tui có đi ra tới đây mô, khi vong nhập tui kể vanh vách từng địa danh, vị trí, địa điểm nghĩa trang. Những điều về quan hệ, đồng đội… của liệt sĩ Hỷ tui cũng đều biết”.

Khoảng 15g, “vong” quay lại tìm chị Hoàn. Chị Hoàn lại vật vã trong cơn co giật, miệng méo xệch nhưng vẫn trả lời những câu hỏi xác minh về nhân thân của liệt sĩ (tên tuổi, năm sinh, ngày nhập ngũ, ngày hi sinh, người thân…), rồi sau đó làm lễ khấn, xin keo, đặt bia (làm sẵn từ trước) lên ngôi mộ vô danh “hàng số 8, ngôi số 23” . Chúng tôi hỏi làm sao có thể khẳng định đây là mộ của liệt sĩ Nguyễn Văn Hỷ, anh Hiệp nói vì “vong đã báo là 100%”.

Sau khi cho rằng đã xác định được mộ liệt sĩ Hỷ, nhóm thân nhân đến phòng LĐ-TB&XH huyện để làm thủ tục xin hốt hài cốt. Tuy nhiên, do thiếu một số thủ tục cần thiết nên họ phải về Hà Tĩnh trong đêm. Đến sáng 2-8, anh Hiệp cho biết vẫn chưa di dời được hài cốt liệt sĩ Hỷ về quê.

Một ngày ở “trung tâm ông Bằng”

Sáng 22/7, chúng tôi có mặt tại “trung tâm ông Bằng”. Ngay từ đầu phố, chúng tôi bắt gặp một “rừng” ôtô, xe máy của khách thập phương. Các hàng quán dọc hai bên đường mở cửa từ tờ mờ sáng để phục vụ người nhà liệt sĩ đến cúng bái, cầu vong hồn liệt sĩ. Đối diện “trung tâm ông Bằng” bày bán la liệt băngrôn, hoa, quân phục, dịch vụ cho thuê xe, nấu cơm… Trước cổng trung tâm có hàng trăm người đang đợi đến giờ vào làm lễ cầu “vong”.

“Trung tâm ông Bằng” là ngôi biệt thự bề thế nằm giữa khu vườn rộng lớn. Trên lối dẫn vào sân vườn, bên tay phải có điện thờ nghi ngút khói hương, trong khoảnh sân rộng có rạp lớn kê khoảng 500 cái bàn nhựa dùng làm bàn thờ cầu vong linh cho liệt sĩ. Cuối khu vườn trổ ra phía bờ sông đặt điện thờ và sân làm lễ (khi sân chính quá tải thì dời ra đây). Ngay cửa ra vào tòa nhà đặt bàn thờ chính, thùng công đức.

7g, cửa trung tâm mở toang, trên 100 con người chen chúc ùa vào. Bên trong bắt đầu lập bàn thờ, bày biện ảnh người chết mất tích, mâm hoa quả, bánh kẹo, rượu thịt lên chiếc bàn nhựa. Chỉ thoáng chốc mùi nhang khói bốc lên mù mịt, ngột ngạt. Mỗi bàn thờ túc trực khoảng mười người thay nhau quỳ lạy xì xụp. Tiếng rì rầm cầu “vong” trỗi vang vọng cả khu vườn.

9g, khu vực hành lễ đã quá tải, không còn chỗ chen chân. Chốc chốc người nhà kẻ qua đời bật dậy reo mừng khi “vong” nhập vào người thân. Chỉ trong nháy mắt, từ một người bình thường, người được “vong” nhập bắt đầu nhảy múa, la hét, khóc lóc hoặc nằm lăn ra chiếu mắt nhắm nghiền, miệng sùi bọt mép, tay chân đạp loạn xạ. Trong khi đó người nhà liên tục vỗ tay hô to “cố lên, cố lên…” để khích lệ, động viên. Đó chỉ là màn dạo đầu, từ khi “vong” ứng cho đến lúc “vong” chịu chỉ đường dẫn lối đến địa điểm có hài cốt là cả một… lộ trình dài.

Trọn một ngày ở “trung tâm ông Bằng”, chúng tôi thấy hầu hết người nhà người mất tích đều ngồi bó gối thất vọng vì “vong” còn đang lưu lạc đâu đó. Anh Hiệp (nhà ở Hương Khê, Hà Tĩnh) cho biết đây là lần thứ hai anh đến cầu “vong”. Lần trước “vong” áp vào người cháu gái chỉ hài cốt ông bác nằm ở tận Tây Ninh. Gia đình thuê xe, sắm lễ vật đi tìm ròng rã nửa tháng nhưng không kết quả. Món nợ hơn 30 triệu đồng chưa kịp trả thì “vong” lại ứng người khác. Gia đình đang chạy tiền để chuẩn bị cho cuộc hành trình vào đầu tháng tới.

Tối khuya, ngày sắp qua nhưng khách vẫn còn nán lại vái lạy, cầu “vong”. Tại góc sân, người nhà liệt sĩ Dương Đình Chu ẩn đang quây quần bên mâm cúng. Bất ngờ một thanh niên to cao, vạm vỡ lảo đảo rồi ngã vật ra chiếu, miệng thở phì phì, mắt nhắm nghiền, miệng lải nhải mấy câu vô nghĩa. Một phụ nữ (người của trung tâm) đứng cạnh đó la lớn “vong ứng rồi” và liên tục thúc giục anh thanh niên uống chai nước suối đặt trên bàn thờ. Chờ mãi nhưng “vong” chưa chịu chỉ ra địa điểm chôn cất hài cốt. Mọi người lẳng lặng thu xếp bàn thờ ra về, hẹn hôm sau tiếp tục cầu “vong”.

Theo xác minh, chủ nhân “trung tâm” có tên Nguyễn Văn Bằng, nguyên trước đây là bộ đội. Điều hành trung tâm này là ông Nguyễn Văn Mến, một người bà con của ông Bằng. Theo lời quảng cáo của “trung tâm”, ông Bằng được một vị lãnh tụ nhập “vong” và chỉ đạo thành lập “trung tâm” để quy tập hài cốt liệt sĩ từ Nam chí Bắc. Nói chuyện với chúng tôi, ông Bằng cho biết việc “vong” ứng nhanh hay chậm còn phụ thuộc nhiều thứ. Có người chỉ 2-3 ngày là “vong” ứng, có người chờ hàng tháng trời nhưng không kết quả. Quan trọng là phải biết thành tâm và kiên nhẫn.

Đại diện chính quyền địa phương nói gì ?

Đề cập đến “trung tâm ông Bằng”, ông Trương Quang Sơn – phó phường Thạch Linh – nói : “Tôi không đồng ý chuyện mượn danh các vị lãnh tụ ra để gán ghép, áp đặt cho niềm tin tâm linh, dù mục đích có tốt đẹp, cao cả đến mấy. Ngay cả việc ông Mến mượn vong bác ruột là liệt sĩ Nguyễn Văn Tín phán rằng ông Mến được quyền thay mặt các liệt sĩ chỉ đạo, điều hành trung tâm đã bị chính người thân trong gia đình phản đối kịch liệt. Vừa rồi em ruột của liệt sĩ Tín làm đơn gửi phường tố cáo về vấn đề này”.

Theo ông Sơn, trước đây ông Bằng có tìm đến một trung tâm ở Nam Đàn (Nghệ An) kiếm hài cốt của bác ruột là liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp. Trung tâm này ban đầu khá nổi tiếng, nhưng sau đó xảy ra sự cố bốc nhầm mộ của người khác tại Quảng Trị nên nhiều người không đến nữa. Sau một thời gian tham gia giúp lễ cho trung tâm ở Nam Đàn, ông Bằng quay về mở “trung tâm” ngay tại nhà riêng. Tính từ lúc khai trương đến nay có rất nhiều người đăng ký tìm hài cốt, trong đó có 19 hài cốt được thân nhân đưa về từ rừng núi.

Ông Sơn cho biết : “Nói là hài cốt nhưng khó mà xác định được có đúng hài cốt hay không hoặc hài cốt đó có đúng không. Hầu hết 19 hài cốt đưa về không hề có bất kỳ kỷ vật gì để chứng minh có liên quan đến gia đình. Thậm chí nói là hài cốt nhưng xương cũng không có. Theo “vong” báo thì cứ thế mà đào, đến lớp đất khác màu là hốt đem về và xem đó là hài cốt”.

Trao đổi về độ tin cậy của “vong” tìm hài cốt, ông Sơn nói : “Hiện nay khoa học chưa có kết luận. Thực tế có cái đúng, có cái không đúng và có cả việc lợi dụng vào tâm linh để thu lợi. Nhiều gia đình thuê xe, chi phí 30-40 triệu đồng vào tận các tỉnh miền Trung, miền Nam đào bới hàng tháng trời nhưng không kết quả. Một số có kết quả nhưng chưa có cơ sở xác định tính chính xác. Vừa qua, tại huyện Hương Khê xuất hiện thêm ba trung tâm tìm kiếm hài cốt.

Trong quá trình hoạt động, một số trung tâm có vấn đề, gây ồn ào, có nơi vong nhập vào và đánh luôn lãnh đạo huyện. Vừa qua, chủ tịch UBND tỉnh có làm việc với lãnh đạo các địa phương, ngành chức năng và chỉ đạo khẩn trương nắm tình hình các trung tâm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ để báo cáo. Nếu có dấu hiệu lợi dụng vấn đề tâm linh để trục lợi hoặc có dấu hiệu lừa đảo thì có biện pháp chấn chỉnh, xử lý”.

Trả lời câu hỏi về tính pháp lý của “trung tâm”, ông Sơn cho biết : “Ngày 8/5, trung tâm ông Bằng khai trương. Tôi chỉ đạo bên công an nắm tình hình ngay. Đến ngày 11/5 chúng tôi có mời ông Bằng và ông Mến lên làm việc. Theo trình bày của ông Bằng, mục đích mở trung tâm là để giúp dân tìm kiếm hài cốt.

Thấy nguyện vọng chính đáng, chúng tôi tạo điều kiện cho trung tâm hoạt động nhưng trên cơ sở tôn trọng pháp luật, tôn trọng nếp sống văn minh. Ông Sơn cũng nói dù có ồn ào, đông đúc nhưng đến nay “trung tâm ông Bằng” chưa xảy ra vấn đề gì ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương..

Thực hư không rõ

Các “trung tâm tìm kiếm hài cốt” đang rộ lên ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Hằng ngày, các “trung tâm” này luôn đông nghịt người.

Phía sau những tấm lòng mong ngóng tìm mộ của người dân là bao câu chuyện chưa rõ thực hư, thậm chí mang màu sắc kinh doanh thu lợi.

Đi qua đoạn đường liên thôn ken dày hàng quán, điểm giữ xe máy, ôtô, chúng tôi đến nhà chị Phan Thị Hạnh (31 tuổi, trú tại xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, Nghệ An). Đây là “trung tâm tìm mộ” xuất hiện sớm và lớn nhất tại Nghệ An. Trên lối vào sân có một miếu thờ, liền đó là một hòm công đức. Trong sân đông nghịt người ngồi trước gần 100 cái bàn nhựa đặt sát nhau. Trên bàn có ảnh người chết, vòng hoa, đồ thờ giữa nhạt nhòa hương khói. Mỗi gia đình cử năm người thay nhau ngồi cầu khấn, chờ “vong” áp vào. Khi “vong” áp, chỉ mộ ở tỉnh nào, người nhà thuê xe theo gợi ý của trung tâm đi tìm ngay.

Chị Hạnh cho biết : “Tháng 9/2010, tôi ra nhà ông Tuấn ở thị trấn Duy Tiên, huyện Duy Tiên (Hà Nam) nhờ tìm mộ là chú ruột tên Phan Văn Dũng bằng phương pháp ngoại cảm. Cất bốc được mộ, “vong” của chú lại áp vào, nhờ tôi đi tìm đồng đội của chú đưa về quê an táng. Theo điều hành của “vong”, tháng 12-2010 tôi lập bàn thờ và mở “trung tâm tìm kiếm mộ liệt sĩ” tại nhà riêng”.

“Trung tâm” của bà Phan Thị Hạnh có 7.000 người đăng ký, đã quy tập 272 hài cốt. Có người tìm được hài cốt thì “vong” tiếp tục “đề nghị” mở thêm trung tâm mới để tìm kiếm, đưa đồng đội khác về quê. Vậy là các “trung tâm” xuất hiện ngày càng nhiều. Nghệ An hiện có 15 “trung tâm” tại các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và TP Vinh. Danh sách đăng ký tìm mộ tại 15 “trung tâm” này lên tới 15.000 người. Kết quả, cất bốc được 810 hài cốt nhưng tất cả đều chưa xét nghiệm ADN nên vẫn có nhiều gia đình băn khoăn, chưa thể biết chắc chắn ngôi mộ mình kỳ công tìm được có phải mộ thân nhân hay không.

Ông Châu Thái (trú tại xóm 1B, xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn) kể : “Tôi được “trung tâm Phan Thị Hạnh” chỉ dẫn bốc mộ liệt sĩ tại nghĩa trang xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Trước khi bốc mộ, “vong” áp vào cháu tôi nói dưới mộ có di vật là chiếc đồng hồ đeo tay. Khai quật mộ, chúng tôi phát hiện một chiếc đồng hồ đúng như “vong” báo”. Anh Trần Văn Hùng, công tác ở Nghệ An, trước khi bốc mộ cho anh trai ở nghĩa trang huyện Gio Linh (Quảng Trị) được “vong” báo có chiếc võng dù nằm dưới mộ. Khi khai quật, đúng là có một chiếc võng dù nằm khuất dưới lớp xương cuối cùng. Cũng từ “trung tâm Phan Thị Hạnh”, ông Dương Tuấn tìm thấy hai mộ của anh ruột và chú ruột. Ông Tuấn nói : “Đủ độ tin cậy để yên tâm đây là hài cốt của chú và anh ruột tôi”.

Ngược lại, gia đình ông Đinh Xuân Thường (trú tại xóm 5, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn) hoàn toàn thất vọng khi “trung tâm Lê Thị Hòa” (ở xóm 4, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn) chỉ dẫn tìm mộ anh trai là liệt sĩ Đinh Xuân Cầu. Theo đó, “vong” chỉ mộ đang nằm ở vùng rừng tỉnh Bình Dương nhưng hai cựu binh Nguyễn Công Thành và Trần Văn Thường (bạn chiến đấu với Đinh Xuân Cầu) khẳng định : “Cầu hi sinh khi đang vượt sông Se Măng Hiêng ở Hạ Lào. Chính hai anh em chúng tôi đã an táng Cầu tại vùng rừng Hạ Lào”. Nghe vậy, gia đình ông Thường đắn đo rồi dừng chuyến đi. Gia đình anh Hoàng Văn Tùng (trú ở xã Tân An, huyện Tân Kỳ, Nghệ An) đến tìm mộ ở “trung tâm Sa Nam” (thị trấn Nam Đàn), được “vong” chỉ mộ nhưng kết quả là bốc nhầm mộ một khác ở nghĩa địa Võ Xá, xã Trung Sơn , huyện Gio Linh, Quảng Trị.

Quảng cáo và cạnh tranh

Hồi tháng 5, “trung tâm Nguyễn Thị Phương Mai” cho hay vừa di chuyển 121 hài cốt quy tập từ lâu trong nghĩa địa Rú Nẩy thuộc huyện Nam Đàn về chung một ngôi mộ do trung tâm này tự xây. Mộ dài 1,5m, rộng 1m, bia cao 1,8m, mặt trong đề : “Tổ quốc ghi công. Ngôi nhà chung 121 anh hùng liệt sĩ. Trung tâm 3 Sa Nam, thị trấn Nam Đàn quy tập”. “Trung tâm” không biết 121 liệt sĩ đó là ai, ở đâu nên dùng cành lau làm xương, vỏ quả dừa làm sọ người xếp vào trong mộ. Khi được các cơ quan chức năng hỏi, “trung tâm” này cho rằng do “vong” của liệt sĩ Nguyễn Cảnh Tuệ bảo xây nên phải xây.

Giữa các “trung tâm” cũng có chuyện quảng cáo hoặc cạnh tranh quyết liệt. Sau khi “trung tâm Lê Thị Hòa” xuất hiện, người của “trung tâm Phan Thị Hạnh” cho rằng “chỉ có trung tâm cô Hạnh ở Nam Cát mới điều hành được vong”. “Trung tâm” này còn treo biển : “Thông báo trung tâm tìm kiếm hài cốt tại Nam Cát, Nam Đàn là trung tâm duy nhất. Bà con lưu ý không có cơ sở nào khác, ai đi cơ sở khác “trung tâm” không chịu trách nhiệm”. Ngay sau đó, “trung tâm Nguyễn Thị Phương Mai” ở thị trấn Nam Đàn tự nhận “trung tâm chỉ huy cao nhất”. Các trung tâm còn tổ chức quay camera, dựng đĩa CD để tuyên truyền về cơ sở của mình.

Tại các “trung tâm”, người đi tìm mộ liệt sĩ phải thuê chiếu ngồi với giá 20.000 đồng/chiếc/ngày; đặt đồ lễ cúng từ 300.000-500.000 đồng/lễ. Gia đình nào có người “áp vong” liền được “trung tâm” gợi ý thuê xe giá 2,8-3,2 triệu đồng/ngày (tiền xăng gia đình lo). “Trung tâm Phan Thị Hạnh” đã mua bốn ôtô và thuê thêm tám ôtô để phục vụ người đi tìm mộ liệt sĩ. Trung bình mỗi gia đình đi tìm mộ tốn 50-80 triệu đồng. Không ít người phải vay mượn tiền bạc hoặc cầm cố tài sản để theo đuổi việc tìm mộ tại các “trung tâm”.

Nói về các “trung tâm” tìm kiếm mộ liệt sĩ đang đua nhau mọc lên, trưởng Phòng LĐ-TB&XH huyện Nam Đàn Phạm Hữu Tùng nói : “Chúng tôi rất lo ngại khi xuất hiện “vong” giả và loạn “vong”. Tại “trung tâm” Nguyễn Thị Phương Mai” ở Sa Nam, thị trấn Nam Đàn (tự phong anh rể làm giám đốc, em rể làm phó giám đốc, còn mình làm người phiên dịch cho bố là liệt sĩ Nguyễn Cảnh Tuệ để chỉ đạo việc tìm kiếm hài cốt) đã có chuyện “vong” nhập vào người đi tìm mộ nhưng toàn nói xấu cán bộ địa phương. Chị N. (20 tuổi) bị “vong áp” hơn một tháng nhưng không thành, chị Mai dùng roi dâu đánh để giải tà ma khiến chị này hoảng hốt hét lên. “Trung tâm” này còn có nhiều người “vong” không thoát nên bị nhốt trong một phòng thờ riêng, chờ giải tà ma xong mới cho về”.

Nguyễn Văn Danh (theo Vũ Toàn)

NHÀ NGOẠI CẢM

NGUYỄN VĂN NHÃ

Giới-thiệu với quý bạn một cuộc nói chuyện rất thú vị của nhà ngoại cảm nổi tiếng Nguyễn Văn Nhã vào năm 2010 tại chùa Diên Quang, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam:

http://www.youtube.com/watch?v=BYMxrz1fKQk

http://www.youtube.com/watch?v=GRSQuysqEz4&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=3CVNTnL5Dyk&NR=1

http://www.youtube.com/watch?v=qMDXs53FclU&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=KSE059ee9jA&feature=related

Nguyễn Văn Danh post

Advertisements

TỪ HY THÁI HẬU “SỐNG & CHẾT”

BÍ ẨN KỲ LẠ

3 LẦN NHẬP QUAN

CỦA TỪ HY THÁI HẬU

Được xem là người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa – nơi vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề, Từ Hy Thái hậu đã viết nên một trang sử mới cho lịch sử gần 5000 năm của đất nước rộng lớn này. Không chỉ được người đời nhớ đến khi còn sống, Từ Hy còn được ghi vào sử sách Trung Quốc về một đám tang chẳng giống ai và thi hài 3 lần nhập quan mà vẫn chưa được an nghỉ.

Đám tang “đông tây lẫn lộn”

Cuộc đời của Từ Hy Thái hậu gắn liền với triều đại Mãn Thanh – triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa đang trong giai đọan suy tàn và khủng hoảng tột độ. Từ một mỹ nữ trong dân dã được chọn vào cung làm quý nhân, rồi từ địa vị quý phi nhảy lên ngôi thái hậu, thâu tóm quyền lực, gây bao tội ác. Vì thế đến khi từ giã cõi đời, Từ Hy cũng đã chết trong cô độc khi bá quan văn võ không một ai dám động vào xác của bà.

Vào một ngày tháng 10 năm 1908, Từ Hy Thái Hậu đã trút hơi thở cuối cùng khi công trình lăng tẩm của bà vừa hoàn thành trước đó đúng 4 ngày, sau 13 năm xây dựng đằng đẵng. Cũng giống như các hoàng hậu và phi tần khác của triều đình Mãn Thanh, Từ Hy được chôn cất tại Đông Lăng – nghĩa trang hoàng gia của hai triều Minh, Thanh nằm trong thành phố Tuân Hóa tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Qua 272 năm tồn tại, Đông Lăng là nơi an nghỉ thiên thu của 5 vị hoàng đế, 15 hoàng hậu, 136 phi tần… Từ Hy Thái hậu cũng nằm tại đây bên cạnh những tiền bối lừng danh như hoàng đế Khang Hy, Càn Long, Hiếu Trang hoàng hậu…

Mặc dù nền văn minh của thế giới đã đến Trung Quốc vào cuối thế kỷ 19, nhưng là một người của hoàng tộc nên đám tang của Từ Hy vẫn diễn ra theo đúng truyền thống và quy định của hoàng gia. Tuy nhiên, một điều cực kỳ lạ lùng là ngoài những vật phẩm bằng vàng mã truyền thống ra, người ta còn cho đốt rất nhiều những loại vàng mã chưa bao giờ xuất hiện tại các đám tang ở Trung Quốc khi đó như : tiền giấy, đồng hồ, tủ… cho vị Thái hậu này.

Trước khi tang lễ được cử hành tưng bừng 2 ngày, theo lệnh của Từ Hy, Lý Liên Anh – thái giám thân cận nhất của vị thái hậu này đã cho đốt hàng trăm đội quân bằng giấy nhằm để dẹp đường và bảo vệ Từ Hy khi xuống… âm phủ. Khác với những đoàn binh sỹ trong triều đình, đội binh sỹ dẹp đường lần này cho Từ Hy vô cùng đặc biệt, họ đều mặc đồ tây và ôm súng khư khư trước ngực. Nhiều quan chức trong triều đình khi đó còn mỉa mai rằng : “Phải bồng súng thì xuống âm phủ mới có thể chiến đấu được với binh lính đến từ phương Tây” (?)

Trong đám tang đình đám vào năm đó, chiếc quan tài của Từ Hy được đặt trong một chiếc xe kéo lớn trang trí cực kỳ tinh xảo và cầu kỳ diễu qua khắp các con phố của thủ đô Bắc Kinh. Đi đầu đám tang là một nhóm kỵ binh mặc quân phục hiện đại, tiếp đến là một đoàn ngựa bạch nhỏ và hàng trăm binh lính đi sau để đổi nhau khiêng quan tài. Đằng sau nữa còn có một nhóm kỵ binh tay cầm giáo dài có treo những lá cờ màu đỏ và nhóm kỵ binh mang súng. Họ đều là người của cấm vệ quân triều đình. Sau cùng là đoàn nô tì mặc quần áo đỏ và cầm những lá cờ đủ màu sắc cũng như những dải lụa treo rủ. Đoàn người cầm cờ nhiều tới mức khiến người ta tưởng rằng, tất cả số cờ trong hoàng cung đã được đem ra để đưa tiễn Thái hậu…

Sau khi tổ chức đám tang với quy mô rầm rộ, Từ Hy đã được an táng tại Đông Lăng. Được biết, công trình này đã xây dựng trong vòng 13 năm với kinh phí lên tới hàng triệu vạn lượng bạc. Không những thế, sau khi chết, đồ bồi táng trong quan tài của Từ Hy là cả một kho vàng bạc châu báu. Đây chính là nguyên nhân khiến cho lăng mộ của bà trở thành mục tiêu săn lùng của những tên đào mộ cướp kho báu khét tiếng sau này.

Mộ Từ Hy và những điều bí ẩn

Là một người rất thích các loại đồ vàng ngọc, trân châu, mã não, đá quý… Vì thế trước khi chết, Từ Hy đã lên kế hoạch đem vào quan tài của mình những trang sức quý giá để nếu có xuống suối vàng thì bà cũng có cái để…  dùng dần. Trong tài liệu lịch sử mà giới sử gia Trung Quốc còn lưu lại đến giờ vẫn còn ghi đầy đủ “kho báu” đã chôn theo Thái hậu Từ Hy vào năm 1908.

Trong bộ sách “Ái Nguyệt Hiên” bút ký do Lý Liên Anh – thái giám thân cận nhất của Từ Hy có ghi chép rõ ràng chủng loại, số lượng, vị trí và giá trị của các đồ tùy táng trong lăng mộ Từ Hy. Theo đó, trong quan tài phía dưới lót bằng gấm quý đan sợi tơ vàng dày 7 tấc, có đính 2.604 hạt trân châu, 85 viên đá quý, 203 miếng bạch ngọc. Phủ trên thi hài Từ Hy là tấm chăn thêu bộ kinh Đà La Ni bằng tơ vàng với 25.000 chữ, trên chăn đính 820 viên trân châu.

Khi nhập liệm, Từ Hy đội mũ phụng quán, trên mũ có gắn một viên trân châu to bằng quả trứng gà, theo giá đương thời là hơn 10 triệu lượng bạc trắng. Trong miệng Từ Hy ngậm một viên minh châu, tương truyền có thể phát sáng trong đêm xa ngoài 100 bước. Trên cổ bà còn đeo 3 xâu chuỗi, trong đó 2 chuỗi bằng trân châu, 1 chuỗi bằng hồng bảo thạch. Thân mình Từ Hy mặc lễ phục dệt bằng sợi tơ vàng; tay cầm một nhánh hoa sen bằng ngọc. Ngoài ra, bên người còn đặt các đồ bồi táng như tượng Phật bằng vàng, ngọc; các đồ bằng san hô, đá quý các loại.

Và để “kho báu” này có thể an toàn nằm trong lăng mộ của mình mà không bị bọn trộm ngó tới, chính Từ Hy đã đôn đốc cho xây dựng lăng tẩm cực kỳ quy mô mang tên “Kim-Mộc-Thạch tam tuyệt” cho riêng bà. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn ở thời điểm đó thì lăng mộ này “bất khả xâm phạm”.

Theo “Thanh sử” ghi chép, chỉ riêng số vàng lá dùng đắp trong 3 đại điện của lăng mộ Từ Hy đã là 4.592 lượng vàng. Tổng cộng có 2.400 con rồng vàng và 64 chiếc cột chạm trổ hình rồng, dơi đều thếp vàng thật. Đó là kim tuyệt.

Những rường cột trong ba đại điện đều làm bằng loại mộc thượng phẩm : gỗ lê hoa vàng. Loại gỗ này nay đã gần như tuyệt tích, rất rắn chắc, vân gỗ dày mà đẹp, về giá cả, có thể nói là “tấc gỗ, tấc vàng”. Riêng quan tài của Từ Hy được chế từ thứ gỗ quý hơn nữa: Nam mộc tơ vàng. Đó là mộc tuyệt.

Tất cả đá dùng trong lăng mộ Từ Hy đều là loại Hán bạch ngọc thượng phẩm, được điêu khắc cực kỳ tinh xảo. 76 trụ trong điện đều chạm hình “Nhất phụng áp song long” – hai phụng đè một rồng, thể hiện quyền uy vô thượng của vị thái hậu này, phá vỡ quy tắc “rồng trên phụng dưới” bao đời. Cho nên mới gọi là thạch tuyệt.

Bí ẩn 3 lần nhập quan

Với một số lượng lớn trang sức và của cải được chôn theo mình, lăng mộ của Từ Hy thực sự đã được yên ổn trong vòng 20 năm đầu tiên. Vào một ngày tháng 10 năm 1928, Tôn Điện Anh – quân đoàn trưởng quân đoàn 12 của Quốc dân đảng đã dùng pháo binh mở đường khai quật lăng mộ Từ Hy. Kết quả là, quan tài của Từ Hy đã bị phá hủy, xác của bà đã bị “quẳng” ra khỏi quan tài và tất cả những gì quý giá nhất đều bị lấy đi một cách thô thiển.

Theo sử sách Trung Hoa còn ghi lại, trong đợt khai quật lần này, Tôn Điện Anh chỉ để lại cho Từ Hy đúng một chiếc quần.. lót trên người.

Được biết, khi quân lính của Tôn Điện Anh dùng dao nạy quan tài Từ Hy ra thì : “Lúc ấy, có một thứ ánh sáng chói lòa, binh sĩ mỗi người cầm một chiếc đèn pin lao tới đều đứng sững kinh ngạc. Nhìn vào quan tài, Tây Thái hậu diên mạo như còn sống, thấy rõ ở ngón tay mọc lông trắng dài cả tấc… Châu báu đầy trong quan tài, cấp bậc lớn thì lấy thứ lớn, quân lính thì lấy thứ nhỏ. Trưởng quan chỉ huy hạ lệnh lột long bào, lấy sạch châu báu trên đó…”.

Tin về Tôn Điện Anh trộm báu vật ở Đông Lăng mau chóng lan ra toàn Trung Quốc, các đoàn thể xã hội liên tiếp gửi điện đến chính phủ Quốc dân Đảng yêu cầu nghiêm trị kẻ chủ mưu trộm lăng. Lúc này, Tưởng Giới Thạch đã hạ lệnh đưa Từ Hy trở lại quan tài và để vào đó những báu vật đã thu giữ được.

Vào năm 1983, một tổ công tác bao gồm 13 người đã được thành lập để tu bổ lại di hài cũng như lăng mộ của Từ Hy. Khi mở quan tài lần này ra, cũng giống như lần đầu tiên, nhà sử học Ninh Ngọc Phúc – người đứng đầu tổ công tác này cho biết : “Lịch sử đã lặp lại khi vừa mở nắp áo quan, một thứ ánh sáng chói lòa đã làm cho các nhà khoa học lúc đó ngỡ ngàng. Di thể của Từ Hy hầu như vẫn còn nguyên vẹn”. Cũng theo ông Ninh Ngọc Phúc, sau khi nhìn thấy hiện trạng, tổ công tác đã báo cáo lên Bộ văn hóa và lịch sử Trung Quốc. Ngay tức khắc, Bộ này đã có thông báo : “Đậy nắp quan tài của Từ Hy và giữ nguyên hiện trạng”.

Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ lưu giữ xác của Từ Hy một cách trọn vẹn nhất, vào tháng 4 năm 1984, một lần nữa tổ công tác của ông Ninh Ngọc Phúc đã lại tiến hành mở nắp quan tài của bà Thái hậu.

Trong đợt kiểm tra lần này, tổ công tác đã tìm thấy trong tay phải của Từ Hy có một chiếc túi nhỏ, trong đó có 1 chiếc răng và 2 chiếc móng tay của bà. Đây là những vật phẩm mà vào năm 1928, Tôn Điện Anh đã không màng tới và lấy trộm đi.

Sau khi phun chất sát trùng để tẩy uế, các nhà khoa học Trung Quốc đã tu bổ lại di thể của Từ Hy bằng những vật dụng chuyên môn nhằm giữ nguyên được xác ướp vốn đã hoàn chỉnh của bà. Được biết, mặc dù trên cơ thể của Từ Hy đã xuất hiện nhiều vết nứt, tuy nhiên da của bà vẫn dính chặt vào xương. Vì vậy, tổ công tác đã không cần phải dùng đến dây đặc dụng để “chằng buộc” cơ thể.

Mọi công tác “tu bổ và bảo dưỡng” hoàn thành chỉ sau 1 ngày. Di thể cuối cùng của Từ Hy khi đưa lại vào quan tài có chiều cao 1m60. Tất cả những vật dụng quý như trang sức, áo choàng, trân châu… lấy lại được từ vụ trộm năm 1928 vẫn để y nguyên trong nơi an nghỉ cuối cùng của vị Thái Hậu quyền lực này.

Huỳnh Văn Yên (theo nguoiduatin)

ĐỌC THÊM :

TỪ HI THÁI HẬU

(thâm cung bí sử)

Từ Hy Thái hậu (1835 – 1908) là người nắm quyền lực thực tế của triều đình nhà Thanh hơn 40 năm. Bà cùng với Võ Tắc Thiên được xem như là hai người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa, vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề (trọng nam khinh nữ), trong một thời gian dài. Thụy hiệu của bà là Hiếu Khâm Từ Hy Đoan Hựu Khang Di Chiêu Dự Trang Thành Thọ Cung Khâm Hiến Sùng Hi Phối Thiên Hưng Thánh Hiển hoàng hậu.

Xuất thân

Bà xuất thân từ bộ tộc Mãn Châu Yenonala – Diệc Hách Na Lạp Thi – mới đầu chỉ là một cung tần, nhờ hát hay, khéo nịnh được Hàm Phong yêu, được phong đến chức Lan Quý nhân. Năm 1856, bà sinh một trai, về sau là Hoàng đế Đồng Trị (1861-1875) , từ đó càng được sủng ái.

Nhờ trí thông minh, lại có tính cách mạnh mẽ, bà dần can thiệp vào chuyện triều chính, từ đó sinh ra hách dịch, độc tài. Tương truyền vua Hàm Phong biết trước rằng sau này bà sẽ là một tai họa cho nhà Thanh nên trước khi chết đã để lại di chúc bảo phải giết đi, nhưng viên thái giám Lý Liên Anh cho bà hay rồi hủy di chúc này, giúp đỡ bà đưa Đồng Trị lên ngôi. Lý Liên Anh từ đó thành sủng thần của Từ Hi, tham ô, làm loạn trong cung.

Làm Phụ chính lần thứ nhất

Sau khi Hoàng đế Hàm Phong qua đời, Hoàng hậu Từ An và Lan Quý nhân được triều đình tôn xưng là Từ An Thái Hậu và Từ Hy Thái hậu, và quyết định để cho hai bà làm “thùy liêm thính chính” (rủ mành mành mà nghe việc nước), nghĩa là cùng Phụ chính cho hoàng đế Đồng Trị còn nhỏ tuổi. Hai đại thần Cung Thân Vương và Văn Tường đều là người có năng lực, giúp ý kiến hai bà.

Thái hậu Từ An ít học nhưng đôn hậu, có phẩm cách. Từ Hy học khá hơn, đọc viết chữ Hán được, thông minh, lanh lợi, rất có bản lĩnh, nhưng cũng có nhiều tật : ham quyền thế, dâm dật, xa xỉ, muốn đạt mục đích đến cùng. Bà cũng có tính tình bất thường, lúc thì hiền, rộng lượng, lúc thì tàn nhẫn vô cùng. Do đó dần dần Từ Hi lấn Từ An, quyết định mọi việc. Từ An hiền hậu, nhượng bộ nhiều lần. Năm 1872, Đồng Trị 18 tuổi, hai Thái hậu dự định cưới vợ cho Đồng Trị rồi sẽ thôi thính chính nữa.

Từ An là vợ chính thức của Hàm Phong, vốn không có con, nhưng theo phong tục Trung Hoa, Đồng Trị vẫn đối đãi với bà như là mẹ cả. Đồng Trị lại không ưa mẹ đẻ mà quý Thái hậu Từ An. Do đó mà Từ Hy ghét cả Đồng Trị lẫn Từ An. Tính cách bà lại ham quyền lực, vì vậy tự ý quyết định mọi việc, lũng đoạn cả triều đình. Đồng Trị sinh chán nản, bỏ bê triều chính, thường cùng với một vài hoạn quan ban đêm trốn ra khỏi cấm thành, đi chơi phố phường, có lần về trễ, không kịp buổi triều. Hai năm sau ông chết, sử chép là do bệnh đậu, nhưng dân gian đều cho là do bệnh hoa liễu.

Do Đồng Trị không có con, Từ Hy tìm một đứa cháu trong hoàng tộc, mới bốn tuổi, em con chú của Đồng Trị, đưa lên ngôi, lấy hiệu là Quang Tự. Cũng trong thời gian này, Thái hậu Từ An đã chết một cách bí ẩn, không một người nào hay. Tương truyền bà đã bị Từ Hy đầu độc chỉ vì bắt gặp một nhà sư trong phòng ngủ của Từ Hy. Có thuyết cho rằng, vì Từ Hy biết rằng Thái Hậu Từ An có trong tay một Di Chiếu của Hàm Phong Hoàng Đế là có thể truất phế Từ Hy bất cứ lúc nào nên Từ Hy đã ra lệnh giết Từ An. Từ Hy đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của Từ An để bà trúng độc mà chết. Cái Di Chiếu đó chỉ có Từ An và Cung Thân Vương biết.

Quang Tự còn nhỏ tuổi bị Từ Hy quản thúc chặt chẽ quá, hóa ra khiếp nhược. Kể từ khi lên ngôi vua lúc 5 tuổi, không một người nào – ngay cả mẹ nữa – được phép lại gần, trừ mỗi một người là Từ Hy. Từ Hy “luyện vua” cho tới mức sợ bà như sợ cọp, bảo gì cũng phải nghe. Lớn lên vua Quang Tự mỗi ngày phải vào vấn an bà một lần, mà vấn an thì phải quỳ, cho phép đứng dậy mới đứng.

Thái giám Lý Liên Anh, sủng thần của Từ Hy, cũng ăn hiếp Quang Tự, đối xử vô cùng tàn nhẫn. Xuất thân là kép hát, rất đẹp trai, hát rất hay, được Từ Hy sủng ái, tới mức ông nói gì, bà ta cũng nghe, ông ta tự phụ, tự coi là ngang với bà. Đình thần sợ ông như sợ bà vậy. Quang Tự  cũng phải nhẫn nhịn Lý nhiều lần. Sau vụ Mậu Tuất chính biến, Quang Tự bị giam trong một phòng bẩn thỉu, ăn không được no, mặc không đủ ấm, chịu nhục nhã tới khi chết, một phần cũng là do ý của Lý.

Cuộc vận động tự cường (1862-1882)

Trước chiến tranh nha phiến, Mãn Thanh tự hào là Thiên triều, xem thường các nước Tây phương là ngoại di. Sau khi liên quân Anh – Pháp đến Bắc Kinh, buộc phải ký điều ước nhục nhã với họ, nhà Thanh mới chịu nhận rằng bọn ngoại di đó mạnh hơn mình nhiều, và muốn chống cự với họ thì phải có tàu bè như họ, súng ống như họ, quân đội phải luyện tập theo lối của họ. Vài người Mãn như Cung Thân Vương, Quế Lương nghĩ đến việc tự cường, bàn với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Tả Tông Đường. Họ đồng ý với nhau rằng “muốn tự cường thì việc luyện binh là quan trọng nhất, mà muốn luyện binh thì trước hết phải chế tạo vũ khí giới”. Năm 1862 họ giao cho Lý Hồng Chương thi hành.

Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương tiếp xúc với Ung Wing, một sinh viên nghèo ở Ma Cao và là du học sinh đầu tiên ở Mỹ, do một hội truyền giáo trợ cấp, năm 1854 đậu bằng cấp ở ĐH Yale. Tăng Quốc Phiên phái Ung Wing qua Mỹ mua máy. Ông này thuyết phục Tăng Quốc Phiên gởi 120 thanh niên đi du học. Một số lớn qua Mỹ, ba chục người sang Anh, ba chục qua Pháp, một số nhỏ qua Đức.

Phong trào tự cường tiến chậm, chủ yếu là nhắm vào quốc phòng mà thôi, chưa phải là một cuộc cải cách lớn. Nhưng nhóm thủ cựu nổi lên phản đối, cho Lý Hồng Chương là Hán gian, theo Tây phương, làm cho Trung Quốc hóa ra di địch. Họ họp thành một phe không bao giờ bàn tới học thuật Tây phương, tự cho mình là thanh cao. Dân chúng thì đại đa số vẫn cày cấy để kiếm cơm ăn, việc nước không hề biết tới. Có một người sáng suốt là Wong Tao học giỏi chữ Hán, xuất bản một nhật báo riêng, sau hợp tác với một tờ báo của người Anh ở Thượng Hải nữa (1872). Ông cảnh báo nhà cầm quyền rằng công cuộc tự cường không có kết quả được vì chỉ trị ngọn chứ không trị gốc. Phải thay đổi cả chế độ mới được. Nhưng triều đình Thanh thì vẫn không chấp nhận.

Chính biến Mậu Tuất (1898)

Sau vụ Trung Nhật chiến tranh, thấy một nước lớn như Trung Quốc mà bị một nước nhỏ xưa nay mình vẫn khinh khi là Nhật Bản đánh thua, người Trung Hoa nhận ra rằng công cuộc tự cường hơn hai chục năm không có kết quả gì cả, vũ khí không đủ để cứu nước, phải cải cách từ gốc, thay đổi chế độ, như Wang Tao đã cảnh cáo thì mới được. Họ cổ vũ canh tân chính trị, tổ chức lại điều đình, giảm phung phí trong xã hội, bỏ hệ thống khoa cử cũ, tuyển nhân tài theo cách mới… Do đó mà có cuộc vận động duy tân (đổi mới) khắp trong nước.

Hai người đề xướng là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, đưa ra khẩu hiệu là “toàn biến, tốc biến” (thay đổi triệt để và mau). Lương Khải Siêu làm đại biểu cho một nhóm 190 cử nhân Quảng Đông lên kinh thi, dâng thư lên triều đình bàn về thời cuộc. Khang Hữu Vi cùng nhóm 3.000 cử nhân khác dâng thư xin biến pháp. Rồi hai nhóm họp làm một. Kể từ thế kỷ 12 đời Nam Tống (trên bảy thế kỷ), bây giờ mới lại thấy một phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện lên vua. Lần này, thỉnh nguyện của nhóm Khang, Lương không được chấp nhận.

Năm 1896 Khang Hữu Vi lần nữa dâng thư xin biến pháp. Lần này ông đạt được đến Quang Tự nhờ một vị đại thần, thầy học cũ của Quang Tự. Quang Tự lúc này đã thực sự cầm quyền (từ năm 1889); Thái hậu Từ Hi lui về nghỉ ở Di Hòa viên, dĩ nhiên vẫn theo dõi hành động của ông. Ông tuy e sợ “Phật bà” – Từ Hi – nhưng sáng suốt, nhiệt tâm muốn cứu Trung Quốc, cho mời Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lên kinh bàn việc nước. Ông tiếp Khang, Lương suốt một buổi, phong cho họ chức tước để cùng mưu việc biến pháp.

Đề nghị nào họ đưa ra Quang Tự cũng chấp nhận hết : cải cách việc triều đình cho mới mẻ, bỏ lối văn bát cổ trong các khoa thi mà lấy môn luận về thời vụ thay vào, lập học hiệu, khuyến khích kẻ viết sách mới và kẻ chế khí cụ mới, bỏ những nha thự ít việc, luyện tập quân đội theo lối mới, trù lập ngân hàng, làm đường xe lửa, khai mỏ, mở nông và công nghiệp, lập hội buôn, mỏ rộng đường ngôn luận, cầu nhân tài… Trong khoảng chưa đầy ba tháng, hơn một trăm đạo chiếu được ban ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh xôn xao. Đúng là “toàn biến” và “tốc biến”.

Khang Hữu Vi biết rằng nhóm cựu thần tất phản đối, nên khuyên vua đừng vội bỏ hết các nha môn, mà giữ họ lại, phong đất cho họ để không mất lộc. Nhưng vị “Phật bà” Từ Hi hay biết, có ác cảm với biến pháp. Bà bổ nhiệm một người cùng phe bà là Vinh Lộc, tổng đốc Trực Lệ, chỉ huy quân đội ở thủ đô để củng cố thế lực của bà. Vua Quang Tự cương quyết, bảo: “Không cho ra biến pháp thì giết ta còn hơn”.

Đàm Tự Đồng thấy Từ Hi cản trở công cuộc đổi mới, khuyên Quang Tự đoạt lại chính quyền. Quang Tự nghe lời, triệu Viên Thế Khải (học trò của Lý Hồng Chương trong việc đào tạo quân đội) lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân tâm phúc, về Bắc Kinh bàn việc, có ý dùng quân của Viên để bao vây Di Hòa Viên.

Chẳng may việc đó bị tiết lộ (chính Viên phản vua, vì thấy Từ Hi còn mạnh). Từ Hy hay được, vội vàng từ Di Hòa Viên trở về Bắc Kinh, họp Quang Tự và các đại thần lại, bắt Quang Tự quỳ một bên, các đại thần quỳ một bên, trừng mắt, lớn tiếng mắng Quang Tự một cách tàn nhẫn : “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tiên, mày sao dám tự ý làm bậy ? Các quan đây đều do tao tuyển dụng trong nhiều năm để họ giúp mày, mày sao dám tự ý không dùng người ta ?…” Rồi bà quay sang phía các đại thần mắng là bất lực, không tận tâm với quốc sự..

Làm Phụ chính lần thứ hai

Sau cùng, năm 1898, Từ Hy tuyên bố rằng Quang Tự bệnh, bà phải thính chính trở lại, và đem giam Quang Tự ở Doanh Đài, trong hồ Tây Uyển. Vậy là cuộc biến pháp thành cuộc chính biến.

Bà ban lệnh cấm dân dâng thư, phế bỏ cục Quan Báo, đình chỉ việc lập học hiệu trung, tiểu ở các tỉnh, các huyện; dùng lại lối văn tám vế để lựa kẻ sĩ, bỏ khoa thi đặc biệt về kinh tế; bỏ các tổng cục nông công, thương, cấm báo quản, truy nã chủ bút, cấm hội họp, dùng lại các vũ khí cung đao…; tóm lại là chỉ trong một hai tuần toàn hủy, tốc hủy các canh tân của Quang Tự. Sử gọi vụ đó là “Chính biến Mậu Tuất” (1898); cũng gọi là vụ “Duy tân 100 ngày”.

Khang Hữu Vi hay tin trước, bỏ trốn. Lương Khải Siêu, sau khi việc xảy ra, mới trốn qua Nhật. Đàm Tự Đồng không chịu trốn, muốn lấy máu mình nuôi cách mạng, nên bị giết với năm người nữa. Khang Hữu Vi ở Nhật lập đảng Bảo hoàng mong lật đổ Từ Hy, phò trợ Quang Tự lên cầm quyền; Lương Khai Siêu xuất bản tờ báo Thanh Nghị mạt sát Từ Hi.

Từ Hy xin Anh, Nhật giao Khang Hữu Vi và Lương Khai Siêu cho bà, nhưng họ không nghe, còn bảo vệ cho hai người mà họ coi là phạm nhân chính trị. Từ Hi còn muốn bắt Quang Tự thoái vị để đưa một người khác lên, sai người cho dò ý công sứ các nước, họ đều phản đối. Hoa kiều ở hải ngoại đánh điện về ủng hộ Quang Tự, Từ Hi càng ghét ngoại nhân đã mớm cho Trung Hoa những ý tưởng phản động : hiến pháp, dân chủ…

Thái giám Liên Anh rất ghét nhóm Khang Lương mà Quang Tự trông cậy để đổi mới Trung Quốc. Cũng chính Lý Liên Anh khuyên Từ Hi dùng quyền phỉ để diệt người da trắng, do đó mà liên quân tám nước (Bát Quốc Liên Quân) vào phá Bắc Kinh. Chính vì sự tấn công này mà triều đình nhà Thanh phải ký hòa ước  Tân Sửunhục nhã với liệt cường năm 1901.

Dự bị lập hiến (1902-1908)

Sau hòa ước nhục nhã Tân Sửu 1901, Từ Hy bị dân chúng vạch tội, muốn mua chuộc lại lòng dân, mới chỉnh sửa đổi chính sách, bao nhiêu sắc lệnh biến pháp của Quang Tự mà năm 1898 bà hủy bỏ thì bây giờ thực hiện hết, lại lập nhiều cơ quan mới như hội nghị chính vụ xứ, thượng bộ, học bộ, luyện tân quân, chấn hưng công, thương.

Khanh Hữu Vi ghét Từ Hy nhưng vẫn chưa oán người Thanh, lập Đảng Bảo hoàng, hy vọng nơi Quang Tự, nhưng tư tưởng ông hơi thay đổi, đòi quân chủ lập hiến; Lương Khải Siêu cũng hậu thuẫn ông.

Năm 1905, dân Trung Hoa thấy Nhật theo chế độ quân chủ lập hiến mà mạnh, thắng được Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế, nên càng tin ở chế độ lập hiến, và đòi Thanh đình phải lập hiến, chứ chỉ sửa đổi chính sách (Thanh đình gọi là Tân Chính : Chính sách mới) chỉ duy tân thì không đủ. Ngay một số đại thần Hán trung với Thanh như Trương Chi Động, Viên Thế Khải cũng chủ trương lập hiến. Phong trào lập hiến sôi nổi trong nước.

Từ Hy bất đắc dĩ phải phái năm đại thần đi Nhật, Anh, Đức để khảo sát chế độ lập hiến của ba quốc gia đó. Năm sau, họ trở về đều chủ trương lập hiến. Từ Hy xuống dụ : “Trước hết cải cách quan chế rồi đến chính trị, khiến sĩ dân hiểu rõ quốc chính để dự bị cơ sở cho việc lập hiến, vài năm sau, xét lại tình hình, xem tiến bộ mau chóng mà định kỳ hạn xa gần.”

Rồi triều đình sửa đổi quan chế : đặt ra Tư chính viện ở kinh sư, Tư nghị cuộc ở các tỉnh để làm cơ sở cho Quốc hội và Tỉnh nghị hội, lập thẩm kê viện, thẩm phán sảnh, ban bố Hình luật mới…, nhưng một số biện pháp không thực hành được, có danh mà không thực.

Triều đình lại hạ chiếu lập một nội các mới bề ngoài có vẻ tiến bộ mà sự thực chỉ là để phá nguyên tắc Mãn và Hán ngang nhau, vì trong số 12 thượng thư chỉ có 4 người Hán, 1 người Mãn, 2 thị lang Mãn, 2 thị lang Hán), còn 8 người kia là Mãn, mà 5 người là hoàng tộc; vì vậy người Trung Hoa gọi nội các đó là nội các hoàng tộc.

Sau cùng, năm 1908, triều đình ban bố Hiến pháp đại cương gồm 15 điều mà điều số 1 là : Hoàng đế Đại Thanh thống trị Đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau tới vạn đời, và điều số 2 là : Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm. Nội dung là quyền vua rất lớn, quyền dân rất ít, nghị viện chỉ là một cơ quan tư vấn. Họ dự bị 9 năm sau mới hoàn thành hiến pháp. Có ý kiến nghi ngờ thực tâm muốn lập hiến theo đường lối dân chủ.

Trong năm đó, sau khi ban bố Hiến pháp đại cương thì Quang Tự chết trước rồi Từ Hy chết sau, chỉ cách nhau có mấy giờ. Dân chúng ngờ rằng Từ Hy biết mình sắp chết, không muốn cho Quang Tự sống nên đầu độc Quang Tự.

Nhận định

Có nhiều nhận định khác nhau về Thái hậu Từ Hy.

Nói chung, Thái hậu Từ Hy là con người có nhiều tham vọng, quyết đoán và độc tài, không biết dùng cận thần có năng lực để tham mưu cho bà. Bà cũng chẳng biết tin dùng người Hán,chỉ vì ít học nên không tiến kịp thời đại, Từ Hy thái hậu ích kỷ hơn vì nghĩ đến quyền lợi riêng nhiều hơn, chẳng hạn lấy số tiền dự tính đóng chiến hạm theo kiểu châu Âu để sửa sang Di Hòa viên làm nơi tĩnh dưỡng cho bà lúc về già.

So với những thái hậu từng nắm thực quyền ở Trung Hoa như Lã hậu và Võ Tắc Thiên, Từ Hy có điểm giống ở chỗ thao túng các hoàng đế, có cách cư xử tàn nhẫn. Nhưng thời đại của Từ Hy so với trước bất lợi hơn. Võ Tắc Thiên ở vào thời Trung Hoa hưng thịnh, bên ngoài mở mang bờ cõi. Trong khi đó hoàn cảnh đối ngoại của Từ Hy có điểm giống Lã Hậu. Lã Hậu bên ngoài bị Hung Nô uy hiếp, cũng như Trung Hoa của Từ Hy bị các đế quốc phương Tây xâu xé. Bởi thế có tài liệu của Trung Quốc buộc tội bà “Cắt đất cầu hoà, thờ giặc như cha”. Chuyện phòng the của bà cũng như của Lã Hậu và Vũ Tắc Thiên,rất đáng lên án vì bà ta quá dâm loạn.

Theo bách Khoa Toàn Thư

HỒN MA CÒN VẤT VƯỠNG

NHỮNG BỨC ẢNH MA

NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

1/. Cô gái ngồi trên mộ

Năm 1991, bức ảnh “Cô gái ngồi trên mộ” xuất hiện hàng loạt trên báo chí Mỹ trong đó có cả những tờ báo uy tín Chicago Sun – Times và National Examiner, như minh chứng khẳng định sự tồn tại kỳ bí của một thế giới tâm linh siêu thực.

Bức ảnh đen trắng được chụp vào ngày 10/8/1991 trong chuyến thực nghiệm của một nhóm các hội viên GRS tại khu nghĩa trang Bachelor”s Grove. Jude Huff-Felz – tác giả bức ảnh – có lẽ là người duy nhất trong đoàn chụp được những tấm hình hiếm hoi, bởi tất cả các dụng cụ và thiết bị mang theo ngày hôm đó đều đột nhiên dở chứng một cách khó hiểu.

“Cô gái ngồi trên mộ” bất ngờ lọt vào ống kính, đó là một phụ nữ trẻ có khuôn mặt nhợt nhạt và dáng điệu ủ rũ. Thứ trang phục cô khoác trên mình đã thuộc hàng lỗi mốt cách đó hàng chục năm. Và chi tiết khiến người ta “sởn da gà” nhất là cả thân hình cô gái đôi chỗ cứ trong suốt như pha lê.

2/. Gương mặt trên cửa sổ

Chồng của người phụ nữ trong ảnh đã chụp tấm hình này trong một buổi chiều nắng gắt với loại phim in bình thường. Hôm đó là ngày đầu tiên họ chuyển tới căn hộ mới ở Chicago, bang Illinois. Đằng sau cửa sổ, bên trái hiện rõ khuôn mặt của một bà lão vấn tóc, ngồi bên cạnh là chú chó bull, nhưng hai vợ chồng kia thì kiên quyết khẳng định : trong nhà không có một ai vào thời điểm ấy.

3/. Bóng ma trong rừng

Người ta không biết nhiều sự kiện liên quan đến tấm ảnh này, chỉ trừ một chi tiết duy nhất : cả hai nhân vật có mặt trong bức hình đều đã qua đời. Có thể nhìn rõ mồn một bên cạnh gốc cây cái dáng hình đùng đục như sương mù không biết có thể xác định là gì.

4/. Cậu bé trên thảm cỏ

Một phụ nữ tên là Jackie Rhame ở Florian, Alabama đã túm được khoảnh khắc này trong chuyến thăm Công viên Giải trí Six Flags Great America thuộc thành phố Arlington, Texas. Lúc đó trời đang mưa lất phất, nhiều sương mù, nhưng chiếc camera C-126 vẫn ghi lại khá rõ nét hình ảnh một cậu bé con mặc áo len đỏ, với chiếc cổ áo sơ-mi trắng thò ra ngoài.

5/. Bóng đỏ bên bờ suối

Chủ nhân tấm hình ghê rợn này khẳng định : vào thời điểm bấm máy không hề có ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào ống kính, do đó không thể xảy ra hiệu ứng lóe sáng thấu kính để tạo nên bóng đỏ được. Vả lại, cái bóng hiển hiện ngay chính giữa bức ảnh, dáng dấp như một hình người. Bức ảnh được chụp bên dòng suối trong một khu rừng bảo tồn của quốc gia.

6/. Đôi tình nhân bên mộ

Tháng 11/1982, cô Sahah ở thành phố Chicago, Illinois đã chụp được bức ảnh này bằng máy SX-70 ngay tại phần mộ của mẹ cô – đã qua đời vào năm 1934 ở tuổi 83. Vào thời điểm này có lẽ người ta còn chưa một lần nghe tới cụm từ “kỹ thuật ghép ảnh”, vả chăng, máy ảnh SX-70 cho “ra lò” tấm ảnh nguyên gốc này 60 giây ngay sau khi chụp.

Trong màn hư ảo vẫn thấy rõ từng chi tiết của cặp tình nhân “ma”: cô gái trẻ tóc nâu đang ngồi ôm con vật cưng màu đen trong lòng, còn anh người yêu bên cạnh thì choàng tay qua ôm eo một cách tình tứ. Anh chàng này mặc áo phông màu xanh, đại để là có in dòng chữ gì đó trên ngực áo.

7/. Những vị sư ở ngôi nhà ma ám Hull House

Tấm ảnh đen trắng đã sờn rách này do Dale Kaczmarek tình cờ chụp tại Hull House ở thành phố Chicago, Illinois tháng 11/1980.

Tác giả khẳng định không có nhân vật nào quanh quẩn trong ống kính vào thời điểm bấm máy, nhưng trong tấm hình lại hiện lên mờ ảo 4 nhà sư đứng ở những bậc cuối cùng dưới chân cầu thang.

“Thầy” đứng chính giữa thể hiện đúng động tác nhà Phật: chắp hai tay vào nhau, trong khi 3 vị còn lại đứng xuyên qua thành cầu thang, và hình như là không có đầu.

8/. Xương người hiện hình

Sát rạt bên phải Bill Rodgers – anh chàng vận động viên khỏe khoắn 4 lần vô địch giải marathon thành phố Boston và New York – là một bộ xương người không lẫn đi đâu được. Xương sườn, xương cột sống, xương chậu – từng chiếc hiện rõ mồn một như thể lúc ấy có hình mẫu giả ở bên.

Christophe DiCesare – sinh viên trường ĐH New York ở bang Geneseo – đã chụp bức ảnh tại phòng C2D1, ký túc xá Erie Hall năm 1985 bằng máy 35MM.

Sau nhiều lần tìm hiểu và “giở lại lịch sử”, lũ sinh viên quậy cuối cùng cũng điều tra ra lý lịch của con ma xương xẩu. Đó là một cậu chàng có tên “Tommy”, đã treo cổ tự vẫn ngay trong ký túc xá vài năm trước. Kể từ đó, sinh viên sống ở đây thỉnh thoảng hay bị những cú kéo giật bí hiểm. Thậm chí có đêm, một sinh viên còn suýt rụng tim khi nhìn thấy một anh bạn mặc áo phông bóng bầu dục kẻ sọc, với cái đầu ngoẹo hẳn sang một bên.

9/. Dáng hình của tâm tưởng

Bức ảnh được chụp bằng chiếc máy ảnh Polaroid cổ lỗ sĩ vào năm 1959, tại một ngôi nhà thuộc phía bắc Hanover Park, bang Illinois đã bị phá sập từ lâu. Không có gì đáng nói với bé gái đang trầm ngâm suy tư bên thềm tam cấp, tuy nhiên điều không ai giải thích nổi là vật thể gì nửa trong nửa đục đang di chuyển dọc cầu thang kia ?

Như thể vùng khói hư ảo ấy đang tuôn ra từ cơ thể bé gái, mà theo trí tưởng tượng phong phú của một số người thì nó xuất phát từ sâu bên trong tâm khảm cô. Một sự hiện hình của ý nghĩ, hay nói cách khác là ngoại chất linh hồn đi ra từ một cơ thể đang tồn tại. Bức hình này được xếp vào thể loại ảnh tâm linh.

10/. Lửa trời

Đó là một chiều Chủ nhật nắng ấm vào tháng 6/1980 tại Thung lũng Three Gap, cách thị trấn Revelstoke, British Columbia, Canada 12 dặm về phía tây. Bức ảnh chụp hai chị em gái đang dừng chân tại một khách sạn bên đường, dốc đá dựng thẳng đứng sau lưng. Nhưng vì sao dãy núi lại bị cắt ngọt một cách kỳ lạ đến vậy, và những ánh sáng đang vần vũ trên bầu trời kia là cái gì ? Khó đổ lỗi cho thiết bị chụp, bởi đó là loại máy thuộc loại hiện đại nhất lúc bấy giờ – máy ảnh Balda sử dụng phim tráng cuộn cỡ 120.

11/. Bóng ma khoác áo lính

Một người đi viếng mộ tại nghĩa trang Liên bang, nằm gần Biệt thự Carnton ở Franklin, bang Tennessee chụp lại khung cảnh này một cách rất tình cờ. Thoáng nhìn qua tưởng như không có điều gì bất thường hết, tuy nhiên nếu soi kỹ lên góc trên cùng bên phải của bức ảnh, lảng vảng sau những hàng cây là bóng dáng của một quân nhân. Nhìn kỹ hơn nữa thì rõ là trang phục của quân đội Liên bang.

12/. Ma ở Gettysburg

Bức ảnh do cô Chris Payne từ thị trấn Woodbridge, bang New Jersey chụp trong lần tham quan thực địa chiến trường Gettysburg năm 1988, bằng chiếc máy ảnh Instamatic 110 có sử dụng ánh sáng flash trong thời điểm chạng vạng tối. Ngay cạnh cô em Terri Payne – người phụ nữ trong ảnh, phía bên bánh xe kia của khẩu súng thần công là một đám bụi leo lét nửa xanh nửa trắng kỳ lạ.

Tất nhiên vào lúc chụp cả hai chị em không nhìn thấy dị vật này. Thêm nữa, đám bụi cũng tuyệt nhiên không xuất hiện trên bất kỳ bức ảnh khác trong cuộn phim chụp cùng thời điểm bấy giờ. Có người còn nói rằng họ nhìn thấy lờ mờ một khuôn mặt ẩn trong làn sương hư ảo.

13/. Một quả cầu bí hiểm ở nghĩa địa

Chưa ai giải thích vì sao lại có quả cầu trôi lơ lửng trong đêm tối giữa nghĩa địa Mt. Thabor, bắc bang Illinois. Bức ảnh được một người tên là Dale Kaczmarek chụp vào đêm hè tháng 6/1998 bằng máy Polaroid.

14/. Gương mặt lạ trên nghĩa địa

Một người xa lạ trên đường phố Eastwood, Manila (Indonesia) đã chụp giúp 2 cô gái tấm hình bằng điện thoại Nokia 7250. Không hiểu, nụ cười tươi tắn kia có méo xệch đi không nếu họ biết rằng, có con ma đang… vồ lấy tay cô bạn bên phải đòi chụp ké.

15/. Vệt sáng kỳ lạ

Tháng 6/1979, tác giả chụp bức ảnh với mục đích phản ánh nạn đào phá bừa bãi tại khu nghĩa trang Forest Home thuộc vùng Forest Park, bang Illinois. Tuy nhiên, khi tấm hình được rửa ra từ máy Instamatic 110 thì người ta phát hiện một vệt sáng trắng kỳ lạ, có vẻ như bốc lên từ một nấm mồ. Phóng to hơn nữa thì thấy hiện rõ gương mặt của một người đàn ông ở phía cuối đường ánh sáng.

16/. Những bóng ma trên tàu Watertown

Chuyện về chiếm hạm Watertown có thể coi là câu chuyện ma kinh điển do chính tiến sĩ Hereward Carrington – vị giám đốc lỗi lạc của Viện Tâm linh Hoa Kỳ – kể lại, đồng thời được tường thuật tiết trong tạp chí nội bộ của công ty đóng tàu.

Tháng 12/1924, tàu Watertown chuẩn bị nhổ neo cho hành trình qua Đại Tây Dương và hai thủy thủ James Courtney và Michael Meehan được giao nhiệm vụ dọn sạch khoang hành lý. Tuy nhiên trong lúc làm việc bất ngờ xảy ra vụ rò rỉ hơi ga, họ đã chết ngạt trước khi có người kịp đến cứu. Theo tập quán ngành hàng hải, người ta thả 2 cái xác về biển khơi vào ngày mùng 4/12. Chạng vạng tối ngày hôm sau, cả con tàu được phen náo loạn khi chứng kiến bóng dáng 2 chiếc đầu thủy thủ bập bềnh trên sóng nước ngay bên mạn tàu. Kể từ đó, hai gương mặt ma quái này thường xuất hiện và không lần nào không gây chuyện đứng tim.

Có người nhanh tay đã chụp được bức hình trong đêm kinh hoàng đó và chuyển nguyên vẹn cả máy lẫn phim cho thuyền trưởng Keith Tracy nhờ cất giữ. Khi tàu cập bến New Orleans, vị thuyền trưởng đã gửi thẳng tới văn phòng công ty ở New York. Tại đây, tấm hình chụp 2 khuôn mặt ma đã được in ra, phóng to và trở thành 1 trong những bức ảnh ma nổi tiếng nhất thế giới.

17/. Chiếc đầu bay ?

Bức hình chụp góc làm việc trong một xưởng máy tính có vẻ không có gì bất thường cho đến khi tác giả phóng to ra. Trên màn hình vi tính (đã tắt), không thể chối vào đâu được hình ảnh trôi nổi của một chiếc đầu không kèm thân mình, và chắc chắn không phải là hình phản chiếu của ai đó. Người chụp bức ảnh linh cảm đó là bóng ma người chồng đã quá cố của cô, nhưng xem ra khuôn mặt trẻ hơn nhiều so với lúc ông từ trần.

18/. Ma ở trang trại Myrtle

Ít nhất là đã có 10 vụ chết người, trong đó có 1 vụ tự tử xảy ra trong trang trại Myrtle, được tướng Bradford xây dựng vào năm 1796 tại vùng St. Francisville, bang Louisiana. “Vị khách” viếng thăm thường xuyên nhất là hồn ma Chloe – một bà nô lệ da đen tự tử để sám hối tội lỗi đã giết 2 cô bé gái. Bà này trước đã từng bị Clarke Woodruff – người con rể của tướng Bradford cắt tai vì tội nghe trộm, sau đó trả thù bằng cách trộn lá trúc đào vào bánh sinh nhật của bọn trẻ con.

Người ta kháo nhau rằng, bóng ma từ khu nghĩa trang dành cho nô lệ đêm đêm vẫn hiện về làm công việc nhà, và 2 cô bé bị đầu độc vẫn chơi đùa trên những dãy hàng lang dài hun hút. Bức ảnh này ghi lại bóng dáng của 1 hồn ma, mà nhiều người cho rằng đó là hồn ma Chloe, đang đứng giữa hai dãy nhà.

19/. Mặt ma tại bảo tàng Blackpool

Một phụ nữ tên Pauline Brannigan kể rằng, bà tình cờ chụp hình ông chồng trước cửa viện bảo tàng hình nhân sáp Blackpool và chỉ phát hiện ra khuôn mặt kỳ quái khi phóng ảnh. Theo tìm hiểu của bà, rất có khả năng đó là khuôn mặt của Ena Sharples – một nhân vật được nặn tượng sáp đang trưng bày bên trong, cũng là người đã chết và mai táng ở Blackpool.

Khi gửi tấm hình tới ban quản lý Bảo tàng, bà Brannigan đã nhận được nhiều phản hồi quan tâm kèm theo lời quả quyết: sự việc kỳ lạ này không chỉ đơn thuần được giải thích bằng sự phản chiếu hay các hiện tượng vật lý tương tự…

Hải Minh

NÊN BIẾT VỀ CÕI VÔ HÌNH (2/2)

CÕI VÔ HÌNH

Kỳ 2 : tiếp theo và hết.

Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của ta.  Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh.

Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ?

Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn.

Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm.

Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị Ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.

– Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?

– Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.

Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :

– Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?

Qủa thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng, rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai muạ Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc :

– Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao ?

– Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn.

Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả.

Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết.

Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi.

Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngaỵ Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.

Giáo sư Allen ngập ngừng :

– Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao ?

Hamud lắc đầu :

– Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được.

Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu.

Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thoa? mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

– Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không ?

– Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thoa? mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thoa? mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.

– Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao ?

– Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử ‘dĩ tháí, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là ma. Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

– Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?

– Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cáidục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”

– Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?

– Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

– Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?

– Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng tạ Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

– Như vậy thì họ Ở gần hay ở xa chúng ta ?

– Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.

– Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không ?

– Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.

Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ Ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.

– Ông du hành sang cõi âm thế nào ?

– Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm.

Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngaỵ Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.

– Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?

– Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động.

Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết.

Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.

Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về doa. nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu.

Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa ; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở.

Như những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ.

Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được.

Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…

– Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?

– Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi, vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.

– Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao ?

– Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

– Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không ?

– Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao ? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ?

Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất.

Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được.

Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.

– Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?

– Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm.

Đối với người Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt.

Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…

– Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?

Hamud mỉm cười :

– Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.

Yên Huỳnh post

NÊN BIẾT VỀ CÕI VÔ HÌNH (1/2)

CÕI VÔ HÌNH

Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ khác phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi.

Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai cập.

Giáo sư Evans-Wentz vào đề :

– Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

Pháp sư thản nhiên :

– Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.

– Như thế ông tin rằng có ma…

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :

– Đó là một sự thật, không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

– Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?

– Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường, nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?

– Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

– Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :

– Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy :

– Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao ?

Vị pháp sư nghiêm giọng :

– Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

– Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi.

Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này.

Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn.

Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng.

Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú.

Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằn và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được.

Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt.

Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thỏa  mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng.

Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?

Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :

– Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford…

Giáo sư Harding giật mình kêu lên :

– Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?

– Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1964, và là người Ai cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

(Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1956 và tốt nghiệp năm 1964 với bằng Tiến sĩ Vật lý).

– Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?

– Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên bác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ.

Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.

Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :

– Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?

– Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…

– Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?

– Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..

– Như thế có nguy hiểm không ?

– Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn… Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….

– Ông có thể làm như vậy không ?

Vị pháp sư nghiêm mặt :

– Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.

– Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.

– Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự.

Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới.

Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngaỵ Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau.

Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dục vọng hành hạ mà không thể thỏa mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thỏa mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu.

Cõi giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thoa? mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thỏa mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm.

Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”.

Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngaỵ Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông tạ Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến.

Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”.

Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán.

Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia.

Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảmđục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại.

Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao hơn.

– Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao nhiêu lâu ?

– Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.

Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào.

Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học.

Hamud mỉm cười tiếp tục :

– Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ.

Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thoa? mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía.

(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh post

15 Điều Tâm Niệm

15 ĐIỀU TÂM NIỆM

Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta.

Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

1. Sống trong hiện tại

Phật hỏi đệ tử :

– Cuộc sống người ta được bao nhiêu ?

Các đệ tử thay nhau trả lời :

– 80 năm – Sai. – 70 năm – Còn sai – 60 năm – Sai.

– Vậy người ta sống bao lâu?

Phật mỉm cười đáp

– Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở.

Lời bình : Đừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại.

2. Sau khi chết người ta đi về đâu ?

Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku.

– Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu ?

– Tôi không biết.

– Tại sao thầy không biết ?

– Vì tôi chưa chết.

– ???

Lời bình : Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra.

3. Định mệnh nằm trong bàn tay

Thời xưa, có vị tướng quyết tấn công địch dẫu quân địch mạnh hơn gấp nhiều lần. Trên đường tiến quân, ông dừng chân ở một đền thờ cầu nguyện, xin giúp đỡ. Sau đó, ông rút ra một đồng xu và nói lớn với quân sĩ :

– Bây giờ, ta sẽ lấy đồng xu để xin keo. Nếu là sấp, quân ta sẽ thắng còn ngửa thì quân ta sẽ bại. Chúng ta phó mặc mạng sống cho định mệnh. Đồng xu bay lên, xoay mấy vòng và rơi xuống đất.

– Sấp rồi ! Chúng ta sẽ thắng ! Hãy xông lên chà nát quân thù ! – Ba quân reo hò phấn khởi.

Sau trận chiến, toàn bộ quân địch hùng hậu đông đảo bị đánh bại hoàn toàn. Vị phó tướng vui vẻ nói với tướng quân :

– Không ai có thể thay đổi được bàn tay định mệnh.

Tướng quân chỉ mỉm cười không đáp. Ông xoè tay đưa đồng tiền ra. Cả hai mặt đồng xu đều là mặt sấp.

Lời bình : Thiên đàng rất công bằng đối với tất cả mọi người, không thiên vị dành riêng cho ai. Sự giúp đỡ duy nhất mà bạn có được là chính bản thân bạn !!!

4. Con sóng nhận thức

Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình :

– Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này.

Con sóng to cười đáp : – Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế.

– Tôi không là sóng thế là gì ?

– Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn buồn bực gì nữa.

Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ :

– À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một.

Lời bình : Con người cho rằng “ngã” là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la.

5. Thiên đường địa ngục

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi :

– Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không ?

– Thế ngài là ai ?

– Tôi là tướng quân.

Bất ngờ, thiền sư cười lớn :

– A ha ! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.

Tướng quân nổi giận, rút gươm :

– Tao băm xác mi ra !!!

Thiền sư vẫn điềm tĩnh :

– Này là mở cửa địa ngục.

Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy :

– Xin… xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.

– Này là mở cửa thiên đường – thiền sư Ekaku mỉm cười.

Lời bình : Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ ! Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.

6. Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo

Có một bà lão biệt danh “mụ già hay khóc”. Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà :

– Bà lão ơi, sao bà lại khóc ?

– Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày.

– Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy.

– À, ông có lý.

Từ đó, “mụ già hay khóc” thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng.

Lời bình : Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn.

7. Phật tại gia

Yangpu về tỉnh Sichuan định tâm tìm kiếm Bồ Tát. Trên đường đi, Yangpu gặp một nhà sư. Nhà sư hỏi:

– Cậu đi đâu đấy ?

– Tôi đi cầu Bồ Tát.

– Bồ Tát ở xa, chi bằng đi tìm Phật có hơn không?

– Tìm Phật ở đâu bây giờ ?

– Khi cậu về nhà, thấy người đón cậu trên mình khoác cái mền, chân xỏ dép trái, đó chính là Phật.

Theo lời, cậu về nhà thì trời đã khuya. Mẹ cậu nghe con gọi cửa mừng quá vội khoác mền lên người, xỏ dép trái. Bà chạy ào ra mở cửa và khi Yangpu thấy mẹ mình như vậy thì đứng chết lặng.

Lời bình : Người ta tìm chân lý nhưng điều cần là thực thi ngay trong lòng, không thì khó mà gặp được.

8. Ngón tay chỉ mặt trăng

Sư Wu Jincang hỏi Lục Tổ Huệ Năng :

– Con đọc kinh Đại Bát Niết Bàn bao năm rồi mà vẫn chưa hiểu. Xin tổ sư soi sáng cho.

Lục Tổ Huệ Năng cầm quyển kinh đưa cho ni sư, nói :

– Ta không đọc được chữ, con hãy đọc, ta sẽ giúp con hiểu.

– Tổ không đọc chữ sao ngài hiểu thông nghĩa được ? – Jincang rất ngạc nhiên.

Lục Tổ Huệ Năng thủng thỉnh đáp:

– Chân lý không dựa vào chữ nghĩa. Nó giống như trăng soi trên trời. Trong trường hợp này, chữ nghĩa giống như ngón tay trỏ vậy. Ngón tay chỉ trăng mà nó không phải là trăng. Xem trăng có cần ngón chỉ không ?

Lời bình : Ngôn ngữ văn tự đều là biểu tượng diễn chân lý. Đừng lầm chữ nghĩa với chân lý như đã lầm ngón tay với mặt trăng.

9. Ai đó

Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu – vị sư trưởng đền này. Đệ tử của Keichu vào báo :

– Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy.

– Ta không biết thống đốc nào cả – Sư trưởng trả lời.

Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki :

– Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả.

Kitagaki hiểu ra :

– Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki muốn diện kiến.

– Để tôi thử lần nữa.

Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi :

– Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.

Lời bình : Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được.

10. Càng vội càng chậm

Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ:

– Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư ?

– Có lẽ 10 năm.

– Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu ?

Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp :

– Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.

Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng :

– Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.

– Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm – Vị sư phụ mỉm cười.

Lời bình : Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.

11. Đèn đã tắt

Một anh mù đến từ giã bạn mình. Người bạn cho anh một cây đèn lồng. Anh mù cười hỏi :

– Tôi đâu cần đèn lồng. Với tôi, sáng hay tối có gì khác.

– Tôi biết. Nhưng nếu không mang nó theo, trong bóng tối người khác có thể đụng vào anh.

– Ồ, vậy thì được.

Đi được một đoạn, bất ngờ anh mù bị một người đâm sầm vào. Bực mình, anh ta quát :

– Bộ không thấy đèn hả ?

– Đèn của ông đã tắt từ lâu rồi mà.

Lời bình : Người nào dùng lời kẻ khác để dạy người có thể giống anh mù này. Đèn đã tắt từ lâu, tuy nhiên anh ta không biết điều đó.

12. Bình thường tâm

– Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào ?

– Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ.

– Đó là những điều mà mọi người thường làm mà ?

– Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan.

Lời bình : Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ ? Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày.

13. Thiền trong chén trà

Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc :

– Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa.

Nan In cười đáp :

– Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được.

Lời bình : Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

14. Con quỷ bên trong

Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư liền vấn ý sư Tổ :

– Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi.

– Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến.

Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình.

Lời bình : Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra.

15. Đích tới có một đường đi không cùng

Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian :

– Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau ?

– Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây.

Lời bình : Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn..

Yên Huỳnh post

Ý NGHĨA LÁ CỜ PHẬT GIÁO

I. NGUỒN GỐC : Người phát họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Độ.

Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo.

Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những người đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Độ.

Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala người Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới.

Ông và bà Blavatsky thọ trì tam quy, ngũ giới với Thượng Tọa Bulatgama tại chùa Wijayananda có sự hiện diện của hàng ngàn chư Tăng, Ni, Phật Tử và gây xúc động mạnh mẻ cho những Phật Tử đã chứng kiến, vì đây là lần đầu tiên Giáo Hội Tăng Già Tích Lan làm lễ quy y cho hai người Phật Tử Âu Mỹ.

Sự nghiệp truyền bá và chấn hưng Phật Giáo của ông không thể nói hết trong khuôn khổ bài nầy. Ông đã tổ chức những trường học Phật Giáo khắp xứ sở Tích Lan, từ thành thị tới thôn quê hẻo lánh.

Số trường học lúc ban đầu chỉ có 46 trường (năm 1897) và 6 năm sau (1903), số trường học đã lên đến 174 trường, và đến năm 1940 đã có 429 trường, trong đó có 12 Trường Trung học được chính phủ tài trợ . Không chỉ riêng ở Tích Lan, ông còn vận động để mở các trường học Phật Giáo ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ.

Năm 1889, ông cùng Thượng Tọa Susmangala, Tích Lan, phỏng theo sáu mầu hào quang của Đức Phật (xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam và mầu tổng hợp của năm mầu này), đã phác họa ra mẫu cờ Phật Giáo.

Về ý nghĩa, ông phát biểu như sau : “Nó có thể được các quốc gia Phật Giáo chấp nhận như một biểu tượng quốc tế cho tín ngưỡng của họ, giống như cây thánh giá đối với tín đồ Thiên chúa giáo .”

Lá cờ này được Tích Lan công nhận và treo tại các chùa ở xứ này trong ngày lễ Phật Đản từ năm 1889, và 61 năm sau, tại Đại hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên, tổ chức tại Colombo, thủ đô Tích Lan, từ ngày 25-5-1950 đến 8-6-1950 có 26 nước tham dự (1), phái đoàn Phật Giáo Việt Nam do Thượng Tọa Tố Liên, Trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội làm đại biểu (2), Hội nghị đã thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists), và chọn lá cờ Phật Giáo Tích Lan làm cờ Phật Giáo Thế Giới.

Đến ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm, cố đô Huế, một Đại Hội Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam, gồm 51 đại biểu Tăng già và cư sĩ, sau 4 ngày họp, đã thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trong dịp nầy, Thượng Tọa Tố Liên đã tặng Đại Hội lá cờ Phật Giáo Thế Giới, và đại hội đã chấp nhận lá cờ nầy cũng là cờ Phật Giáo Việt Nam.

Bằng một tâm hồn thiết tha với Đạo Pháp, ròng rã suốt 38 năm, Phật tử Henry Steel Olcott đã dùng quãng đời quí báu của mình, để phục vụ tha nhân và ông mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, quê hương Đức Phật. Lúc đó ông 75 tuổi.

II. Ý NGHĨA CỦA LÀ CỜ PHẬT GIÁO : Cờ Phật Giáo, trước hết là biểu trưng tinh thần thống nhất của PhậtTử trên toàn thế giới. Cờ Phật Giáo còn tượng trưng cho niềm Chánh tín và sự yêu chuộng hòa bình của mọi người con Phật .

Ngoài ra, cờ Phật Giáo còn có ý nghĩa cắt bỏ quan niệm cố chấp các ranh giới địa phương, gia tăng niềm hăng hái đoàn kết để phụng sự cho Đạo Pháp và dân tộc.

Năm sắc theo chiều dọc : Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam, tượng trưng cho hào quang chư Phật.

Năm sắc theo chiều ngang ( chiếm diện tích 1/6 lá cờ ) là mầu tổng hợp tượng trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật. Ý nghĩa của màu sắc phân biệt là :

1.- Xanh đậm : Tượng trưng cho Định căn. Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn, sáng suốt .

2.- Vàng lợt : Tượng trưng cho Niệm căn, vì có Chánh Niệm mới sanh Định và phát Huệ.

3.- Đỏ : Tượng trưng cho Tinh Tấn căn. Có tinh tấn mới khắc phục được mọi trở ngại, nghịch cảnh .

4.- Trắng : Tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển, và có tín căn là có Nhân Duyên với chư Phật và nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành.

5.- Da cam : Tượng trưng cho Huệ căn. Khi có Tín, Tấn, Niệm, Định đầy đủ thì Tuệ sẽ phát sanh.

6.- Màu tổng hợp : Tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của Phật giáo đồ trên toàn thế giới.

III. KẾT LUẬN : Là Phật Tử, chúng ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lá cờ Phật Giáo, vì trên hết, nó tượng trưng cho Phật Giáo, và cho tinh thần đoàn kết, bất phân biệt của tín đồ Phật Giáo trên toàn thế giới .

Ghi chú :

(1) 26 nước tham dự Đại Hội và trở nên Hội viên sáng lập Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế Giới là : Anh, Ấn Độ, Bhutan, Đức, Hawai, Hong Kong, Kampuchea, Lào, Mã Lai, Miến Điện, Mỹ, Na Uy, Nam Dương, Nhật Bản, Nepal, Pháp, Phi Luật Tân, Sikkim, Tân Gia Ba, Tây Tạng, Thái Lan, Thụy Điển, Tích Lan, Triều Tiên, Trung Hoa và Việt Nam.

(2) Phái đoàn Việt Nam chỉ có 2 người : Thượng Tọa Tố Liên — đại biểu chánh thức, và ông Phạm Chữ — công chức Bộ Ngoại Giao Quốc Gia Việt Nam, tháp tùng theo làm Thông dịch viên.

De Nguyen post

Diễn đàn Tâm linh : PHẬT MŨI ĐEN

ÔNG PHẬT MŨI ĐEN

Có một Ni cô trên đường tìm chân lý đã chắt chiu nhờ thợ tạc riêng cho mình một tượng Phật nhỏ cỡ chừng gang tay bằng gỗ ngoài thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô rất trân quí; đi đâu cũng mang theo, và thường đốt hương cúng dường cho Phật nữa.

Năm tháng trôi qua, Ni cô vẫn luôn mang vác tượng Phật trên vai đi khắp nơi. Một ngày kia, nghĩ mình cũng lớn tuổi rồi, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa nhỏ miền quê; nhưng chùa này lại có rất nhiều tượng Phật lớn nhỏ. Mỗi vị Phật đều có bàn thờ riêng cả. Nhìn lại pho tượng Phật nhỏ xíu của mình, Ni cô thấy trong lòng ái ngại quá. Ở nhờ chùa người ta nên khó lập bàn thờ riêng cho Phật mình, Ni cô đành phải thờ ké bàn thờ vậy.

Từ hồi nào đến giờ, Ni cô thường đốt hương trầm cúng dường “Phật của mình”, nay trong cảnh thờ chung như vậy, Ni cô thấy trong lòng bất ổn; mấy ông Phật trụ xứ nhiều quá, ông nào ông nấy to lớn, lỗ mũi to như qủa quít thế kia thì hít hết khói hương trầm, còn gì cho ông Phật của mình nữa. Thiệt thòi cho Phật mình quá !

Ngày đêm suy nghĩ, Ni cô tìm được một kế thượng sách. Ni cô lấy giấy và ống nhựa nhỏ quấn lại với nhau thành hình một cái phễu (ống quặn) vừa đủ khói xông lên hun thẳng vào mũi ông Phật mình. Hay quá, thế là mấy ông Phật trụ xứ kia đừng hòng ngửi ké nhá. Ni cô rất hoan hỷ, trong lòng vui sướng, ăn ngủ ngon lành.

Trải qua mấy tuần lễ đốt hương xông thẳng vào mũi Phật, cái lỗ mũi tượng Phật của Ni cô đen thui đầy muội hương trong khi mấy pho tượng Phật trụ xứ chẳng có sao hết. Cái lỗ mũi đen trên pho tượng Phật bằng vàng làm cho pho tượng trông xấu xí, kỳ cục hơn các tượng Phật khác.

Ối chao, làm Phật rồi mà còn khổ thế. Khổ thay, khổ thay !

Vấn đề then chốt nhất của người đi tìm chân lý giải thoát là phải phân biệt rõ ràng ranh giới giữa Yêu, Ghét, Tham Đắm và Ràng Buộc. Cái ranh giới đó hay bị lẫn lộn nhập nhằng với nhau, nhưng thực ra, chúng khác nhau đấy. Sự ràng buộc đắm trước là một tai họa, một nguy hiểm giết chết Tình Yêu. Không có một vật gì nguy hiểm hơn, độc hại hơn lòng chiếm hữu dính mắc.

Bạn phải cố gắng hiểu cho kỹ điểm này, rồi chúng ta đi vào cốt truyện.
Rất nhiều người đã lầm lẫn Tình Yêu và sự Chiếm Hữu. Chiếm Hữu không phải là mặt trái, không phải là một phần của Tình Yêu gì cả. Nó là sự đối nghịch hoàn toàn.

Tình Yêu (viết hoa) không đơn thuần có ý nghĩa là tình yêu nam nữ, mà còn là tình yêu quê hương, tình yêu cha mẹ, tình yêu chúng sanh, v.v… Một thứ tình yêu bao la không biên giới, không phân biệt màu da, chủng tộc, quốc gia gì cả. Sức mạnh Tình Yêu Đại Đồng này có công năng tiêu hủy cái tự ngã vị kỷ hẹp hòi của bạn để bạn hòa hợp mình vào với mọi người, với chúng sanh, với vũ trụ và sẽ giúp bạn thăng hoa nhân cách tới mức tối thượng. Hơn thế nữa, Tình Yêu Đại Đồng đó sẽ giúp bạn đối diện dễ dàng với cái chết, và từ đó, bạn cũng sẽ dễ dàng thực tập thiền định.

Tình Yêu sâu thẳm hơn cái Chết, Thiền Định sâu thẳm hơn Tình Yêu. Trong thiền định, tự ngã của bạn phải vắng bóng; cái tự ngã của bạn phải chết đi. Khi bạn không dính mắc bám víu một cái gì, khi bạn hòan tòan thoát ly ra được cái ngục tù “Tự Ngã” thì bạn mới thể nhập được vào Đại Định. Danh từ tiếng Anh “Ecstasy” rất đẹp và có ý nghĩa. “Ecstasy” có nghĩa là đứng bên ngoài, đứng ngoài lề. Nhưng trong đạo Phật, “Đại Định” mang ý nghĩa sâu xa hơn, hàm xúc hơn, triệt để hơn ý nghĩa xuất thần, nhập định rất nhiều.

Thiền Phật giáo không đơn thuần là trạng thái xuất thần, đi vào những cảnh giới lạc thú như các cõi trời mà là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường từ triền phược đến giải thoát, nó đưa chúng ta đến uyên nguyên của cuộc sống, uống ngụm nước đầu nguồn, cởi bỏ tất cả những sự ràng buộc chấp mắc. Khi nhập vào đại định, ta có thể khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta (Thiền Luận của Dr. Suzuki). Nghệ thuật trong thiền chính là nghệ thuật học cách Chết. Chết con người khốn nạn tầm thường này để trở thành một con người mới toàn thiện hơn. Do đó, Tình Yêu có nghiã là chết đi cái tự ngã nhỏ hẹp ích kỷ để sống an lạc và chia xẻ hạnh phúc với mọi người, mọi loài… Nó khác xa tính chất độc hại của sự chiếm hữu ràng buộc.

“Có một Ni cô trên đường đi tìm chân lý đã dành dụm tiền nhờ tạc một tượng Phật bằng gỗ thếp vàng. Tượng Phật đó rất đẹp và Ni cô đi đâu cũng mang theo kè kè…”. Từng chữ một trong câu truyện này cần phải giải thích trọn vẹn. “Một Ni cô”, tại sao lại là một ni cô mà không phải là một ông thầy tăng ? Có phải vì đầu óc và trái tim phụ nữ rất chật hẹp và thích chiếm hữu cho nên nhân vật cốt truyện là một ni cô ?

Chúng ta khoan phê bình đánh giá vội. Không phải chỉ riêng có phụ nữ mới có tánh ích kỷ, hẹp hòi, tham lam, đố kỵ, nhiều tật xấu đâu, mà những ngừơi đàn ông cũng có những tật xấu đó. Nhưng trước hết, chúng ta thử phân tích “Tại sao người đàn bà ích kỷ, sở hữu nhiều hơn đàn ông?” — Bởi vì tánh ích kỷ sở hữu thoát thai từ sợ hãi.

Phụ nữ là một linh vật yếu đuối về thể chất. Vì sự yếu đuối thể chất đó, họ cần nương dựa; họ cần được bảo vệ. Từ những ngày đầu của thời kỳ khai thiên lập địa, phụ nữ đã phải nương dựa vào cánh đàn ông để được che chở và bảo vệ khỏi thú dữ để sinh tồn. Lâu dần, họ trở nên phụ thuộc và tự biến mình thành cái bóng sau lưng người đàn ông. Và càng yếu đuối chừng nào, họ càng sợ thêm chừng đó, càng sợ lại càng chiếm giữ ràng buộc, sợ mất đi sự che chở, sợ mất đi sự bảo vệ, sợ mất đi sự nương dựa. Ngay cả khi họ đang đựơc bảo vệ, họ cũng vẫn cảm thấy không hài lòng thỏa mãn. Họ vẫn cảm thấy bất an, lo sợ sẽ mất đi cái an toàn, cái phao che chở đó, và từ đó, tánh chiếm hữu ràng buộc tự lợi nẩy sanh, không muốn chia xẻ với ai cái họ đang nắm giữ. Vì thế, trong câu truyện, hình ảnh ni cô, người phụ nữ, đã được lựa chọn. Song, bạn cần phải nhớ kỹ rằng không có sự khác biệt gì nếu bạn mang thân tướng đàn ông mà ích kỷ, hẹp hòi, không rộng lượng thì thể chất đàn ông nhưng tánh khí đàn bà đó. Điều đó còn tệ hơn nữa, phải không ? Còn phụ nữ nào xả bỏ được tánh vị kỷ sở hữu thì hơn hẳn đàn ông rồi còn gì. Như vậy, sự khác biệt không phải đặt trên vấn đề nam giới hay nữ giới mà đặt trên cơ bản phong cách hành xử.

Nghe rằng Mahavira đã nói “Phụ nữ không thể nào giác ngộ được trừ phi người ấy trở thành đàn ông.” Và mọi người tin theo nghĩ rằng phụ nữ phải cố gắng làm tất cả những việc phước đức để kiếp sau tái sanh lại làm phái nam. Thực ra, ý nghĩ đó quả là buồn cười và ngờ nghệch. Mahavira muốn nói là còn tư tưởng ích kỷ chiếm hữu đó thì không thể nào giác ngộ được chứ không phải nói còn cái thân tướng đàn bà là không gíac ngộ — vì còn sợ, còn chiếm hữu thì không Tình Yêu, không Thiền Định được.

“Ni cô đó tạc một pho tượng Phật bằng gỗ thếp vàng và đi đâu, Ni cô cũng mang theo”. Từ lúc tạc tượng Phật thếp vàng, Ni cô ngủ không an giấc vì lo sợ kẻ nào đó sẽ đột nhập vào rinh mất pho tượng quí này đi. Đang đi trên đường, nếu có ai chợt nhìn vào tay nãi trong có tượng Phật, Ni cô cũng giật thót người, cảm thấy bất an nghĩ rằng biết đâu họ biết trong túi có tượng Phật thếp vàng và sẽ cướp đi mất. Pho tượng trở thành gánh nặng, trở thành hàng rào cản bước tiến giải thoát của Ni cộ Tâm trí Ni cô xoay vần với lo sợ, bất an, và dính mắc. Còn chỗ trống nào đâu để an lạc giải thoát lọt vào! Pho tượng đã trở thành tâm điểm chiếm hữu, lo sợ và thờ phụng”.

Năm tháng trôi qua. Ni cô vẫn luôn mang tượng Phật đi khắp đó đây. Và một ngày kia, Ni cô dừng chân lại một ngôi chùa làng có rất nhiều tượng Phật…”
Thời gian trôi qua, không có dấu hiệu giác ngộ gì. Mang kè kè một tượng Phật như thế mà không thấy gì à ? không giác ngộ gì sao ? Lạ thật.

Phật là Giác ngộ, là Giải thoát, là Đại Ngã, là Chân Tâm, là Bản Thể; nhưng bạn không thể giác ngộ chân lý giải thoát đó nếu bạn vẫn vác nặng hành trang ràng buộc, chấp trước và vị kỷ. Dù bạn có mang vác trên vai bao nhiêu pho tượng Phật đi chăng nữa thì cũng dã tràng xe cát biển đông mà thôi.

Bên Trung Hoa, Nhật Bản, người ta đã xây dựng rất nhiều đại tự, đại tháp để thờ Phật. Ở Trung Hoa, có một ngôi cổ tự thờ 10,000 tượng Phật. Tuy nhiên, dù có hàng 10,000 tượng đi chăng nữa cũng chẳng giúp ích được gì cho ta cả nếu ta không chịu tu tập đoạn trừ Tham Sân Si, Ngã Mạn, Tà Kiến, v.v…

Tượng Phật chỉ là một biểu trưng cho sự giác ngộ giải thoát; chiêm ngưỡng lễ lạy tượng Phật để tự nhắc nhở vốn sẵn có Phật tánh. Phật tánh có ở trong anh, có ở trong tôi, có ở trong em, có ở trong người giàu sang quyền quí cũng như ở trong kẻ ăn mày khốn khổ kia.

Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh

Tất cả chúng sanh đều thành Phật !

Tất cả chúng sanh đều bình đẳng !

Hãy tìm một vị Phật sống. Hãy tìm vị Phật sống trong ta. Đừng rong ruỗi tìm cầu bên ngoài. Đừng trông chờ mong đợi sự cứu độ. Đừng dập đầu van lạy các ngẫu tượng cầu xin giải thoát. Vì thế, Ni cô này đã vác tượng Phật gỗ suốt nhiều năm mà chẳng thấu hiểu được gì. Cái tâm đắm chấp đã che mờ giác tánh trong Ni cô. Quả vậy, có cái gì khổ theo cái nấy. Người đời có gia đình, có cái nhà cái xe là lo lắng ôm giữ bảo vệ những thứ đó cả đời, sợ mai một mất đi và lo nối dòng nối dõi để giao phó của cải. Tu sĩ thì trụ trì một ngôi chùa nào hay thánh đường nào thì cũng dính mắc vào tự viện đó không thoát ra nổi, cũng lo kiếm đệ tử truyền trao lại. Cha truyền con nối; không muốn giao cho ai khác ngoài con ruột mình, đệ tử ruột mình. Cái chế độ phong kiến tự ngàn xưa đã bị chúng ta hủy bỏ đi để xây dựng chế độ tự do dân chủ; nhưng đó chỉ là hình thức thay đổi còn nội dung vẫn như cũ. Tự Ngã vẫn hoàn lại Tự Ngã đầy tham vọng ích kỷ, tư lợi và ràng buộc. Cái hay nhất của người tu sĩ là rày đây mai đó, đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh. Chùa chiền, tự viện chỉ là trạm dừng chân qua đêm, đến sáng lại quảy gánh ra đi. Nếu phải trụ trì một ngôi chùa hay tự viện nào thì tu sĩ đó phải hằng tự giác tỉnh là Vạn Pháp vốn Vô Thường Vô Ngã. Không có cái gì trường tồn bất biến cũng không có cái gì là của ta cả. Sự vật đến đến đi đi, có có không không. Người tu sĩ phải luôn luôn có tâm niệm Xả Phá Ngã đó thì mới ứng phó đạo tràng, tùy duyên bất biến. Nếu không, họ sẽ sanh tâm đắm nhiễm, mắc kẹt vào chùa chiền, thánh đường, tự viện, tín đồ, danh lợi thế gian.

“Ni cô đó thường đốt hương trầm cúng dường tượng Phật của mình. Vì không muốn khói xông lên bay vào các tượng Phật khác, Ni cô đã chế ra một cái phễu nhỏ để khói chỉ bay thẳng vào mũi tượng Phật của mình.”

Thấy chưa ? Nội chỉ có khói hương thôi mà người ta đã phân biệt ích kỷ rồi huống chi là những thứ quí giá hơn, to lớn hơn gấp bội. Thế cho nên, chúng ta đã chứng kiến quá nhiều cảnh tranh giành tương tàn lẫn nhau để chiếm đoạt hay ôm giữ. Ông tu sĩ này nói xấu ông sư kia, bà ni cô kia bêu riếu bà vãi nọ. Đền thờ, chùa chiền, tự viện, v.v… đua nhau mọc lên như nấm, và cũng đua nhau khuếch trương, mưu cầu đóng góp, dụ dẫn tín đồ… Tất cả chẳng qua phản ảnh tâm Tham Đắm, Chấp Ngã, Mê Danh của những con người chưa liễu đạo. Ni cô trong truyện có phải chăng chính là hình ảnh của chúng ta ? Chúng ta dã từng ra rả tụng kinh, sám hối, tọa thiền… nhưng chúng ta nào có thấu được chút hương thơm giáo lý của Phật, của Chúa, của Mahavira. Chúng ta xây bao tượng Phật, tượng Chúa, đền thờ, tháp tự, v.v. nhưng nào chúng ta thực hành được chút xíu nào lời các Thánh nhân dạy về giải thoát giác ngộ? Cũng như Ni cô mang vác tượng Phật suốt nhiều năm mà vô minh vẫn hòan vô minh, trói buộc vẫn hòan trói buộc.

Và chuyện gì đã xảy ra ?

“Trải qua mấy tuần lễ bị hun khói như vậy, lỗ mũi ông tượng Phật vàng bị đen thui đầy muội hương. Cái lỗ mũi đen trên pho tượng vàng càng làm cho pho tượng Phật xấu xí, kỳ cục hơn…” Điều đó đương nhiên phải xẩy ra cho tất cả những người còn tâm đắm nhiễm vị kỷ. Hương thơm không còn là hương thơm, chân lý không còn là chân lý nữa.

Hãy trở về nhìn lại các pho tượng Phật, tượng Chúa, tượng Krishna. Ở tất cả lỗ mũi của các pho tượng đó đều bị đen thui vì ám khói ích kỷ tư lợi, chấp trước vô minh của chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta chỉ là lời cầu xin đưọc ban thêm ân huệ vật chất. Ngay khi chúng ta mở miệng ra nói: “Nhà thờ của tôi, chùa của tôi, thầy của tôi, đệ tử của tôi… Có danh từ “của tôi” thêm vào là đền đài, chùa chiền, tự viện… đều bị phá sập hoàn toàn.

Trước đây, chính tôi (tác giả) đã bị dẫn độ ra tòa vì tôi dám xâm phạm một nhà thờ. Ngôi nhà thờ đó đã đóng cửa, không hoạt động ít nhất là 20 năm rồi. Những tín đồ đã dọn đi nơi khác, không còn ở Ấn nữa. Nhà thờ này thuộc về giáo hội Thiên Chúa Giáo Anh và cũng không còn người Anh nào ở phố thị này, không ai chăm sóc trông nom nhà thờ cả. Nhà thờ ấy rất đẹp nhưng bị hoang phế.

Ngày kia, có vài tín đồ đến gặp tôi và nói :

“Chúng tôi không thuộc giáo phái Anh, nhưng chúng tôi không có nhà thờ riêng. Vậy ông có thể giúp chúng tôi mở khóa vào lễ Chúa không ?”

Tôi đáp ngay :

“Được thôi, có gì đâu.”

Và những tín đồ đó vào nhà thờ, quét dọn, lau chùi bụi bặm bám đen lỗ mũi của Chúa.

Tôi nói với họ :

“Không cần hỏi ai là chủ nhà thờ này cả. Người nào thờ phụng Chúa với tất cả lòng thành không riêng tư thì nhà thờ đó là của họ.”

Nhưng hai, ba tháng sau thì tin tức bay tới tai những người trước kia bỏ tiền ra mua nhà thờ. Họ tìm luật sư và kiện tôi ra toà vì dám xâm phạm nhà thờ.

Công tố viên buộc tội :

– Tại sao ông dám mở khóa nhà thờ ? Nhà thờ này thuộc về những nguyên cáo là những người bỏ tiền ra mua. Nó là tài sản của họ.

– Nhà thờ không phải là tài sản của bất cứ riêng ai. Nhà thờ chỉ là một phương tiện để mọi người có thể đến lễ lạy Chúa. Nhà thờ không phải là tài sản của riêng ai cả.

– Đó là luật pháp. Khi ông xâm phạm vào tài sản người khác, ông đã phạm tội.

– Được thôi, các ông có thể đóng cửa nhà thờ lại. Các ông có thể buộc tội tôi; nhưng hãy nhớ kỹ một điều là chính các ông, những con người ích kỷ tham đắm kia, đã giết chết Tôn Giáo ! Chính các ông mới là kẻ có tội !”

Hãy nhớ kỹ lời Đức Đạt Lai Lạt Ma nói :

“Ngôi chùa của tôi chính tại Tâm tôi!”

Chùa tại Tâm. Phật tại Tâm ! Vậy đủ rồi !

Kim Anh Truong post kimanh.norway2c@gmail.com

Kính gửi Tiên sinh Kim Anh Truong

Thưa Tiên sinh,

Cảm tạ Tiên sinh đã chuyển đến chúng tôi bài giáo lý thật giá trị ! Chúng tôi ghi nhận và nguyện lĩnh hội lời giáo huấn chân tình của Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Ngôi chùa của tôi chính tại tâm tôi “. Kính.

Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris

lytranlenguyen75@yahoo.fr

Chuyện Ông Phật Mũi Đen của Trương Kim Anh mới đọc vô đã thấy bà ni cô thờ phật Mũi Đen này còn tham sân si, còn nghĩ ông Phật Mũi Đen của bà ni cô này cũng tham sân si nữa. Ối giời ôi ! Học Phật tu Phật mà chẳng hiểu gì về Đức Phật, chư Phật. Đã lên niết bàn là nơi vô tham, vô si, diệt hết ưu tư, tham sân si còn lý gì đến chút tàn hương nước thải mà bà ni cô đã gán cho ông Phật Mũi Đen “cảm nghĩ” thiệt thòi vì không được hưởng “hoa quả” tham sân si… Thế mà lytranlenguyen lại biểu đồng tình thì đúng là lytranlenguyen là người chẳng hiểu giáo lý nhà Phật rồi.

Có lần đến chùa Pháp Duyên Tịnh xá ăn cơm chay với HT Thích Giác Lượng, nghe HT Thích Giác Lượng chê trách Vô Thượng Sư Thanh Hải là hỗn láo, không hiểu đạo Phật, dám xưng là “vô thượng sư, tức không có ai là thầy trên… Supreme master… y thị tự xưng thầy trên hết mọi thầy, kể cả Chúa Phật, thế mà thiên hạ nhiều người cũng nghe theo, nay lại có thêm lytranlenguyen và Trương Kim Anh…

BacKieu Phong backieuphong110@yahoo.com

Thân gửi anh Bắc Kiều Phong,

Theo tôi tất cả các Đạo Giáo đều dạy ta hướng về Thiện Tâm. Nên chỉ trao đổi ý kiến trong tinh thần cùng nhau tìm hiểu học hỏi. Tôi vốn không có khiếu ăn nói, nên thường hay im lặng. Về chuyện ÔNG PHẬT MŨI ĐEN, không rõ ai là tác giả, đã khéo léo dùng câu chuyện khôi hài ý nhị để  giáo huấn hàng đệ tử chúng sanh, mọi chi tiết nội dung cốt dẫn chúng ta đến 2 câu chính :

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói :

“Ngôi chùa của tôi chính tại Tâm tôi !”

Thế nên nhóm LÝ TRẦN LÊ NGUYỄN đã biểu đồng tình nhắc lại câu Ngài Đạt Lai Lạt Ma dạy chúng ta. Cũng đúng thôi !

Trong một vườn hoa muôn sắc muôn vẻ, mỗi chúng ta thích một loại. Cũng còn tuỳ căn Nghiệp chúng ta có cái nhìn khác nhau về 1 bài Pháp của bất cứ Tôn giáo nào. Do từ Bài Pháp Ý Nghĩa Thâm Thúy, dù nhìn theo góc cạnh nào thì chúng ta cũng nhìn chung một hướng TỪ BI HỶ XẢ.

Thưa các bạn, nếu Kim Anh trình bày thiển ý lời lẽ mộc mạc, có sơ xuất sai trái, xin lượng thứ cho.

Truong Kim Anh

Kính gửi,

Mang tâm động vọng ruỗi rong

Bắc là gió lớn, Nam mồ đó ai ?

Nhìn tay cứ ngỡ là trăng,

nào ngờ trăng đã qua cầu lặng trôi.

Tà cư sĩ.

thuy t_khangthuy@yahoo.com

Cám ơn Đạo Hữu Thuy Trần đã tặng cho chúng tôi bài thơ. Chính vì thế mà tôi không quan tâm cho lắm về các phái Thiền – Bắc Tông hay Nam Tông…!

Vừa rồi đạo hữu Hạ Hoàng gửi 1 web, tôi mới vào đọc được một it cũng hay .

Kim Anh