TỰ GIẢI ĐOÁN MỆNH VẬN (Bài 1)

Cách tính trị số Âm Dương

– Thiên Việt (Bài 1)

Nhiều bạn đọc thường gửi về những phản hồi, hỏi trang blog “Thế giới tâm linh” về mệnh vận của mình hay về hôn nhân, xây dựng v.v…

Trang blog đã từng lên Kính Báo, người phụ trách chỉ mong phục vụ mọi người trong tầm kiến thức hạn hữu, và vì trang blog thuộc phi lợi nhuận nên không có thời gian để giải đáp theo những yêu cầu của bạn đọc.

Tuy nhiên để làm vui lòng mọi người, trang blog sẽ gửi đến bạn đọc những bài viết thật bổ ích và xin tự tìm tòi trong bài để thấy được tất cả.

Bài viết sau đây là cách tính trị số Âm Dương để đoán mệnh vận cát hung, đồng thời từ đó xem thêm những bài giải như : Ngũ hành – Ngũ mệnh đặc quái; Hiệp hôn định cuộc v.v… mang tính giải đáp về mệnh vận, tình duyên gia đạo, xây dựng v.v…

CÁCH TÍNH NĂM VÀ CAN CHI

– Tính ra năm âm lịch :

Lấy năm dương lịch trừ cho (-) năm sinh = bội số +1 ra tuổi âm lịch.

Thí dụ : sinh năm 1954, và năm hiện hành theo dương lịch 2008, tuổi âm lịch sinh 1954 trong năm 2008 sẽ là :

2008 – 1954 = 54 + 1 = 55 là tuổi âm lịch.

– Tính năm sinh ra năm Can Chi :

Do nhiều người chỉ biết năm sinh và tên Địa Chi, không biết tên hàng Thiên Can là gì.

Theo một thí dụ xuyên suốt trong bài : người có năm sinh 1954 tuổì Ngọ, muốn biết tên năm Can Chi.

a/- Lấy năm sinh chia cho 60 để có bội số.

b/- Lấy bội số nhân cho 60 trừ số năm sinh ra số Can Chi

Theo thí dụ như người sinh năm 1954 :

a/- Lấy năm1954 chia 60 sẽ có bội số = 32

b/- Bội số 32 nhân 60 = 1920 trừ 1954 = 34

c/- Xem bảng tìm năm Can Chi dưới đây, nơi ô số 34 hàng ngang có chữ GIÁP hàng dọc có chữ NGỌ, tức sinh năm 1954 là năm Giáp Ngọ.

Bang tinh AL ra DL

Như đã nói, mỗi người sinh năm Dương Tuế được gọi Dương Nam hay Dương Nữ, năm Âm Tuế được gọi Âm Nam hay Âm Nữ, mỗi tháng hay mỗi ngày cũng đều mang tính Âm Dương theo Can Chi.

Theo thí dụ : tuổi Canh Ngọ sinh tháng 7, ngày 23 âm lịch, giờ Thìn. Tức vào tháng Giáp Thân (tiết Lập Thu, khí Xử Thử), thuộc Dương. Ngày 23 là Kỷ Mão, thuộc Âm. Giờ là Mậu Thìn thuộc Dương.

Để tính ra ngày, tháng và giờ Can Chi có những công thức tính như sau :

1/- TÍNH THÁNG CAN CHI

Bang Ngu Dan

Tháng Can Chi có chu kỳ 60 theo Lục Thập Hoa Giáp (LTHG). Xem bảng “Ngũ Dần” để tính tên tháng mang tên Can Chi gì, nhìn ô “Năm khởi đầu bằng Can” có dòng ẤT – CANH, nhìn qua ô “Tháng  giêng sẽ khởi đầu bằng Can” theo hàng ngang sẽ thấy là tháng Mậu Dần.

Vậy sinh tháng bảy âm lịch, tên tháng Can Chi là :

– Tháng giêng = Mậu Dần, tháng hai = Kỷ Mão, tháng ba = Canh Thìn, tháng tư = Tân Tỵ, tháng năm = Nhâm Ngọ, tháng  sáu = Quý Mùi và tháng bảy là Giáp Thân (theo thứ tự chu kỳ Lục Thập Hoa Giáp).

2/- TÍNH NGÀY CAN CHI

Riêng ngày Can Chi phải soạn theo chu kỳ tam nguyên, các nước còn dùng âm lịch phối hợp với Can Chi, Tiết Khí… đều phải soạn sẵn bộ “Bách niên lịch” để tra cứu ra Can Chi.

Tuy nhiên có một số công thức để tính từ ngày âm lịch ra ngày Can Chi như sau đây :

– Trong âm lịch có tháng thiếu 29 ngày, tháng đủ 30 ngày, và trong ba năm sẽ có một tháng nhuận. Nên người làm âm lịch thường dùng dương lịch để tính ra ngày Can Chi.

Biết một năm dương lịch có 365 ngày hay 366 ngày (nếu năm nhuận tháng 2 có 29 ngày). Có nghĩa trong 365 ngày sẽ có 6 chu kỳ LTHG x 60 ngày là 360 ngày, như vậy còn thiếu 5 ngày nếu tháng 2 không có ngày nhuận, hoặc thiếu 6 ngày nếu năm tháng 2 nhuận 29 ngày.

Việc tính toán theo thí dụ sau :

– Ngày 1/1/2004 có ngày Can Chi mang tên Kỷ Mão.

– Ngày 1 + 60 (một chu kỳ LTHG) = vậy ngày thứ 61 vào ngày 1/3/2004  là ngày Kỷ Mão.

Tháng 1/2004 = 31 ngày, tháng 2/2004 = 29 ngày, cộng chung 60 ngày = một chu kỳ LTHG. Ngày 61 trở lại chu kỳ mới là ngày Kỷ Mão tức ngày 1/3/2004 là vậy (không thiếu ngày)

– Tháng 3/2004 = 31 ngày, tháng 4/2004 = 30 ngày, cộng chung 61 ngày, vậy ngày 30/4/2004 cũng là ngày Kỷ Mão (lùi gày 1/5/2004 là ngày Canh Thìn).

một ngày, nên thiếu 1 ngày 1/5/2004 là ngày Canh Thìn).

– Tháng 5/2004 = 31 ngày, tháng 6/2004 = 30 ngày. Như vậy ngày 29/6/2004 cũng là ngày Kỷ Mão (61 ngày cũng lùi 1 ngày như tháng 3 và tháng 4, nên thiếu 2 ngày)

– Tháng 7/2004 = 31 ngày, tháng 8/2004 = 31 ngày, tổng cộng 62 ngày, lấy ngày 28/8/2004 là ngày Kỷ Mão  (lùi 1 ngày nên thiếu 4 ngày)

– Tháng 9/2004 = 30 ngày, tháng 10/2004 = 31 ngày, tổng cộng 61 ngày, như vậy ngày 27/10/2004 là ngày Kỷ Mão (lùi 1 ngày nên thiếu 5 ngày)

– Tháng 11/2004 = 30 ngày, tháng 12/2004 = 31 ngày, tổng cộng 61 ngày. Vậy ngày 26/12/2004 là ngày Kỷ Mão (lùi 1 ngày nên thiếu 6 ngày)

– Ngày 1/1/2005 sẽ là ngày Ất Dậu (26/12/2004 = Kỷ Mão … tính đến 31/12/2004 = Giáp Thân).

Xem tiếp giải thích dưới đây :

Qua thí dụ trên, năm 2004 có 366 ngày (tháng 2 nhuận có 29 ngày); theo cách tính chu kỳ 6 vòng LTHG + 6 ngày (tính năm dương lịch nhuận).

Trong 6 ngày thiếu nói trên, tính được :

1 – Ngày 361  (ngày 26/12)  = Kỷ Mão

2 – Ngày 362  (ngày 27/12)  = Canh Thìn

3 – Ngày 363  (ngày 28/12)  = Tân Tỵ

4 – Ngày 364  (ngày 29/12)  = Nhâm Ngọ

5 – Ngày 365  (ngày 30/12)  = Qúy Mùi

6 – Ngày 366  (ngày 31/12)  = Giáp Thân

– Ngày 1/1/2005    = Ất Dậu

– Qua năm 2005 chỉ có 365 ngày, tính ngày từ ngày Ất Dậu theo cách trên, thì Ất Dậu kế tiếp sẽ là 2/3/2005, 1/5,  30/6, 29/8, 28/10, 27/12 :

1- 27/12 (ngày 361)  = Ất Dậu

2- 28/12 (ngày 362)  = Bính Tuất

3- 29/12 (ngày 363)  = Đinh Hợi

4- 30/12 (ngày 364)  = Mậu Tý

5- 31/12 (ngày 365)  = Kỷ Sửu

– Ngày 1/1/2006   = Canh Dần

Muốn tính ngày Can Chi trong tháng giêng, tính từ ngày 1/1/2004 là Kỷ Mão, ngày 2/1/2004 Canh Thìn, 3/1 Tân Tỵ, 4/1 Nhâm Ngọ, 5/1 Quý Mùi, 6/1 Giáp Thân, 7/1 Ất Dậu… theo thứ tự chu kỳ LTHG.

Với phương pháp trên, qua thí dụ chúng ta tính được ngày 23 tháng 7 năm Canh Ngọ, tức : ngày Kỷ Mão, tháng Giáp Thân, năm Canh Ngọ.

3/- TÍNH GIỜ CAN CHI

Mỗi giờ âm lịch bằng 2 giờ dương lịch, mang tên :

Giờ TÝ            =   từ   23g   đến        01g Đêm        = canh ba

Giờ SỬU       =            01g                  03g                 = canh tư

Giờ DẦN        =          03g                  05g                 = canh năm

Giờ MÃO       =   từ   05g   đến        07g Sáng

Giờ THÌN      =          07g                 09g

Giờ TỴ            =   từ   09g    đến   11g Trưa

Giờ NGỌ        =          11g                 13g

Giờ MÙI          =     từ  13g   đến       15g Chiều

Giờ THÂN       =            15g                 17g

Giờ DẬU        =    từ  17g  đến         19g Tối

Giờ TUẤT      =         19g                  21g                 = canh một

Giờ HỢI         =          21g                 23g Đêm        = canh hai

Muốn tính giờ Can Chi phải phối hợp với ngày Can Chi theo bảng “Ngũ Tý”.

Bang Ngu Ty

Chúng ta biết tuổi Canh Ngọ : sinh ngày Kỷ Mão, tháng Giáp Thân, còn sinh vào giờ Thìn, xem bảng “Ngũ Tý” tính ra giờ Can Chi :

Theo bảng “Ngũ Tý”, tuổi Canh Ngọ có ngày sinh Kỷ Mão, tìm cột “ngày khởi đầu bằng Can” thì ngày GIÁP ngày KỶ khởi giờ Tý bằng can Giáp. Ta có :

– Từ 23 giờ đến 01 giờ đêm            :           giờ      Giáp Tý

– Từ 01 giờ đến 03 giờ sáng           :                        Ất Sửu

– Từ 03 giờ đến 05 giờ sáng           :                       Bính Dần

– Từ 05 giờ đến 07 giờ sáng           :                       Đinh Mão

– Từ 07 giờ đến 09 giờ sáng           :                       Mậu Thìn

Các giờ khác cũng theo cách trên để tính ra giờ Can Chi trong ngày.

Sau đây là bài để tính trị số Âm Dương

TIẾT KHÍ VÀ NGUYỆT LỆNH

Âm Dương là khí tạo ra trời đất muôn vật và con người, nên mỗi người chịu ảnh hưởng bởi khí Âm Dương bằng quẻ̀ Nguyệt lệnh, tức quẻ đi theo Tiết Khí.

Ta biết trong mỗi năm có 12 Tiết và 12 Khí, mỗi tháng gồm 1 tiết và 1 khí cùng song hành với một quẻ Nguyệt lệnh.

Tiết do ảnh hưởng từ mặt trăng sinh ra và dựng nên tháng, gọi là Nguyệt kiến; cách 15 ngày sau tiết đến Khí do ảnh hưởng từ mặt trời sinh ra. Còn Nguyệt lệnh tượng trưng cho biện chứng Âm Dương tiêu trưởng.

Vì thế trong một năm âm lịch chỉ có 24 tiết khí, dù có năm nhuận 13 tháng. Tiêt và Khí đi song song với 12 quẻ Nguyệt lệnh. Theo thuyết biện chứng, khi khí thiếu dương lớn lên thì khí thái âm phải suy dần, cũng như khí thiếu âm lớn dần thì khí thái dương phải suy kiệt.

Bang Nguyet lenhQua biện chứng, ta thấy tháng 11 Tý, đi từ Tiêt Đại Tuyết đến hết khí Đông Chí, là tháng bắt đầu bằng hào 1 dương còn gọi Nhất Dương Sinh, quẻ PHỤC.

Bắt đầu từ quẻ PHỤC tháng 11 đi từ hào 1 dương lúc Thiếu dương bất túc, quẻ sau biến hào 2 thành quẻ LÂM (tháng 12, Sửu), tiếp đến các quẻ biến hào 3 thành quẻ THÁI (tháng giêng Dần, trung hòa), biến hào 4 thành quẻ ĐẠI TRÁNG (tháng 2, Mão), biến hào 5 thành quẻ QUẢI (tháng 3, Thìn), đến hào 6 biến thành quẻ KIỀN (tháng 4, Tỵ), lúc này khí dương đang cực thịnh 6 hào dương đã biến thành khí Thái Dương (thái quá).

Khi khí dương cực thịnh sẽ phải suy cho khí âm lớn lên (thiếu âm đang bất túc) bằng quẻ CẤU (tháng 5, Ngọ) còn gọi là Nhất Âm Sinh :

Quẻ KIỀN gồm 6 hào dương quá thịnh nên đến tháng 5 Ngọ, cho hào 1 âm quẻ CẤU (Thái âm đang bất túc) phát triển dần lên, biến hào 2 thành quẻ ĐỘN (tháng 6, Mùi), hào 3 thành quẻ BĨ (tháng 7 Thân, trung hòa), hào 4 thành quẻ QUAN (tháng 8, Dậu), hào 5 thành quẻ BÁC (tháng 9, Tuất) đến hào 6 biến thành quẻ KHÔN (tháng 10, Hợi), lúc này khí âm cực thịnh đã thành Thái Âm (6 hào âm, thái quá). Khi khí âm quá thịnh cũng phải suy cho khí dương lớn dần lên (thiếu dương đang bất túc), trở lại bằng quẻ PHỤC (tháng 11, Tý).

Cứ thế luân lưu theo chu kỳ một năm 12 tháng, biết 12 quẻ Nguyệt lệnh để tính chỉ số Âm Dương thuận hay nghịch thời, vì Nguyệt lệnh có những tiêu chí để xét các hạng số của Âm Dương.

TÌM TỔNG SỐ ÂM DƯƠNG

Lưng 2 con Long Mã và Kim Quy lúc đầu chỉ mang biểu tượng của Hà Đồ Lạc Thư vì chưa có tên gọi, sau này có tên nên Thiên Can và Địa Chi được mang các trị số ấy như sau :

– Trị số của Thiên Can :

1          :           MẬU                           2                      : ẤT và QUÝ

3          :           CANH                         4                      : TÂN

5 & 10:           không đi với Thiên Can nào

6          :           NHÂM và GIÁP         7                      :   ĐINH

8          :          BÍNH                              9                      :   KỶ

– Trị số của Địa Chi :

– 1.6    HỢI – TÝ         hợp hướng BẮC       mùa ĐÔNG

– 2.7    TỴ – NGỌ                –           NAM           –       HẠ

– 3.8    DẦN – MÃO           –            ĐÔNG        –       XUÂN

– 4.9    THÂN – DẬU        –             TÂY            –      THU

– 5.10 THÌN – TUẤT – SỬU – MÙI (trung tâm)

– Tổng số Âm – Tổng số Dương :

Qua các trị số từ Thiên Can và Địa Chi, chúng ta quy ra thành tổng số Âm và tổng số Dương.

Theo thí dụ : người sinh năm Canh Ngọ, tháng Giáp Thân, ngày Kỷ Mão, giờ Mậu Thìn, chúng ta sẽ có bảng tóm lược theo các trị số trên như bảng sau đây :

Bang tong so AD

Đã có các số cơ bản Âm Dương, đến giai đoạn chuyển chúng thành tổng số Âm và tổng số Dương, là xếp số Âm theo hàng Âm, số Dương theo hàng Dương :

– Số Âm tức những số chẵn gồm : 2 – 4 – 6 – 8 – 10

– Số Dương tức những số lẻ gồm : 1 – 3 – 5 – 7 – 9

Như tuổi Canh Ngọ đã tính ra các trị sô Âm Dương, mang các số chẵn lẻ được sắp xếp lại như sau :

– Tổng Số Âm (số chẵn) : 2 + 6 + 4 + 8 + 10          =  30

– Tổng Số Dương (số lẻ) : 3+ 7+ 9+  9+ 3+ 1+ 5 =  37

Lưu ý : Cả hai tổng số Âm Dương có tất cả 12 con số, vì 4 Can chỉ có 4 số, còn 4 Chi có đến 8 số. Tổng số Âm bao giờ cũng là số chẵn (vì chẵn cộng với chẵn luôn ra số chẵn); Tổng số Dương có thể là số lẻ hay số chẵn (vì lẻ cộng với lẻ có lúc bằng chẵn, như 1 + 3 = 4).

Và cần nhớ :

– Số tối đa của DƯƠNG (tức Thiên = trời) chỉ có 25.

(Do chỉ có các số lẻ : 1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25)

– Số tối đa của ÂM (tức Địa = đất) chỉ có 30.

(Do chỉ có các số chẵn : 2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30)

(Còn 1 kỳ – cách giải trị số Âm Dương)

Advertisements

Những hiện tượng bí ẩn

GIẢI ĐÁP NHỮNG HIỆN TƯỢNG BÍ ẨN

– Thiên Việt

Trên một trang Web cho rằng hiện thời có 7 hiện tượng chưa có lời giải đáp, dù các nhà khoa học trong nước đã dày công nghiên cứu nhưng chưa thể chứng minh bằng khoa học. Chúng tôi trang blog “Thế giới tâm linh” xin thử giải đáp các hiện tượng này như sau :

1. Nhìn bằng “Con mắt thứ 3”

H Bi an 1TIN TỨC : Một phụ nữ tên Hoàng Thị Thiêm ở Lương Sơn, Hòa Bình; có khả năng đặc biệt nhìn bằng trán, mũi, thái dương đã được rất nhiều nhà khoa học làm thí nghiệm và tốn không ít công sức, giấy mực nghiên cứu, đã kết luận là hoàn toàn có thật. Trên thế giới, cũng có vài trường hợp có khả năng không cần nhìn bằng mắt, song không ai như chị Thiêm, vì hình ảnh mờ nhạt không rõ ràng.

Việc chị Thiêm có thể đọc báo, xem tivi, đi xe máy… tóm lại là nhìn bằng ba cơ quan nói trên thay cho đôimắt, thuộc hiện tượng kỳ dị và độc đáo nhất thế giới.

Một số nhà khoa học cũng đã đưa ra những lời giải đáp, song theo ông Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học tin học ứng dụng, người đã trực tiếp cùng các nhà khoa học nghiên cứu chị Thiêm từ nhiều năm nay, thì đây vẫn là hiện tượng bí ẩn, chưa có lời giải thích thỏa đáng.

2. Tìm mộ bằng ngoại cảm

H Bi an 5TIN TỨC : Thời gian gần đây ở trong nước thường xuất hiện rất nhiều nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ, gọi hồn, thậm chí tìm được cả tội phạm. Mặc dù nhiều người không tin và cho hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm là trò lừa bịp, song một thực tế là các nhà ngoại cảm đã cùng các nhà khoa học tìm ra cả vạn ngôi mộ thất lạc trong rừng sâu, thậm chí, cả người đã vùi xác ở nước ngoài mấy chục năm nay cũng tìm lại được. Kỳ lạ hơn, mộ của những danh nhân đã chết cách nay cả chục thế kỷ, nằm sâu dưới lòng đất cũng được tìm thấy bởi khả năng đặc dị này.

Hiện nay, chúng ta chỉ biết đến tên tuổi của hơn chục nhà ngoại cảm ở trong nước có khả năng tìm mộ thực sự. Thật hiếm có nơi nào trên trái đất mà có nhiều nhà ngoại cảm có khả năng đặc dị như ở Việt Nam. Hiện tượng này là một bí ẩn vô cùng lớn mà chỉ mới xuất hiện ở nước ta hơn chục năm nay.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : Nhiều nhà nghiên cứu tâm linh cho rằng, chị Thiêm hay các nhà ngoại cảm trên có khả năng kỳ bí, là do họ có “luân xa” số 6 và 7 được mở, vì thế có thể có những hồn ma xâm nhập vào người. Chúng có thể nhìn xuyên suốt vào quá khứ cả về dự đoán tương lai; cho nên dù chị Thiêm hay các nhà ngoại cảm có nhắm mắt, bịt mắt thì những hồn ma này vẫn có thể nhìn thấy và báo về những hình ảnh để họ được rõ và nói ra.

Với các nhà khoa học chỉ nghiên cứu hiện tượng, còn các nhà nghiên cứu tâm linh lại nhìn về thế giới siêu hình. Mà thế giới siêu hình chẳng ai có thế nhìn thấy ngoài các hồn ma.

3. Ngôi làng “ma ám”

H Bi an 2TIN TỨC : Suốt 9 năm trời, xóm Đầu ở thôn Sơn Quả, xã Lương Phong, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, các trâu, bò, lợn, chó đều chết sạch. Theo thống kê từ năm 1997 đến nay, cả xóm Đầu có tổng số 37 con trâu và bò đều chết hết. Còn heo và chó thì chết nhiều không kể xiết. Có nhà nuôi 40 con heo thì chết cả 40 con. Tất cả số gia súc chết với một triệu chứng : đang khỏe mạnh bỗng “nổi điên”, chạy nhảy lung tung, rồi lăn ra sùi bọt mép mà “đột tử”.

Hiện tượng trên được báo động, vì người dân các nơi thêu dệt thêm khiến nhiều người yếu tim khi đi vào nơi đây phải kinh sợ.

Để tìm nguyên nhân kỳ lạ nói trên, vào tháng 5 năm 2006, Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học Công nghệ đã đưa một số gia súc về xóm Đầu nuôi thử, tuy nhiên, 9 con chó vừa đưa về đây được vài hôm thì 5 con “nổi điên” rồi lăn ra chết như lời đồn, mặc dù chúng đã được chọn lọc kỹ càng, tiêm phòng cẩn thận, có cán bộ theo dõi sát sao.

Mặc dù chính quyền đã tiến hành nghiên cứu môi trường, bức xạ cũng như về an ninh trật tự để tìm nguyên nhân gia súc chết hàng loạt ở xóm Đầu, song các vẫn chưa tìm ra nguyên nhân tại sao. Trong khi đó, những ngôi làng ở ngay cạnh, chỉ cách một con đường mà người dân vẫn nuôi gia súc bình thường.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : Theo các thầy tướng địa (thầy xem địa lý phong thủy) cho biết : đất đai có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và động thực vật. Nơi đất tốt sẽ mang nhiều không khí trong lành khiến cho con người được sảng khoái, khoẻ mạnh, ít đau yếu bệnh tật và động thực vật cũng vậy. Nên theo thuật phong thủy, những nơi an táng tốt là những nơi cao ráo, đất thuần khiết và có độ ẩm ổn định, tử thi không dễ tan rả, nhiều khi xác chết còn được thiên nhiên bảo tồn cho cả trăm năm thậm chí đến cả ngàn năm. Còn nơi đất xấu thì ngược lại.

Như ở làng Duyệt Lai, thôn Tự Viên, có hai mẫu ruộng nước thật kỳ diệu, dù gặp thiên tai hạn hán, người dân dùng giống lúa gì, ruộng cũng cho loại gạo cao sản vừa thơm, vừa có năng suất cao. Ở tỉnh Hồ Nam huyện Đông Khẩu, phía tây bắc thôn Sơn Môn, Thanh Thủy, có khu đất chừng nửa sào không bao giờ mất đi mùi thơm, ai ngửi được thì tâm hồn sảng khoái, tâm trí sáng suốt và hết mỏi mệt.

Các nhà khoa học nhận xét các hiện tượng trên, cho rằng do các nguyên tố vi lượng của khoáng chất thiên nhiên đã tạo nên những sự huyều diệu đó; nhưng dân chúng lại nói, những nơi đó được thần đất ngự trị, ban phát phúc lộc cho mọi người.

Sở dĩ xóm Đầu ở tỉnh Bắc Giang toàn là súc vật bị chết, có thể nơi đây không ai tin có thần quyền để cúng bái, nên mới bị quở phạt.

Lễ nghi tế lễ đất đai có nhiều hình thức : có kiểu đắp thành đất đống, thầy cúng đứng đối mặt với đống đất mà bái lễ; có kiểu dùng rượu hay máu động vật mà tưới xuống đất cầu cho thần đất chứng minh. Như ở Hải Bạt có nhiều người Thổ sống trên một mỏm núi cao hơn 1000 mét đầy giá rét, nhưng tin có thần núi phù hộ cho họ có cơm ăn áo mặc, hơn là ở dưới chân núi ấm áp nhưng lại thiếu thốn mọi bề.

Cho nên như đã nói, nếu nhìn vào góc cạnh khoa học đôi khi sẽ không có lời giải đáp nhưng tin vào thế giới siêu hình, sẽ thấy có linh nghiệm.

4. “Ma nhập”H Bi an 3

TIN TỨC : Những câu chuyện gặp ma mà người đời thường kể như bị ma nhập hay quỷ ám, trên trang blog này chúng tôi đã từng viết. Nhưng ở đời có người tin có người không tin.

Theo tin tức, qua một cuốn băng video của các nhà khoa học ghi lại. Có một thanh niên tên H thỉnh thoảng lại bị một con “ma chửa” (có thai) nhập vào khiến mặt mũi đỏ gay đỏ gắt, nói giọng con gái ẻo lả, có lúc khóc lúc cười khanh khách. Đặc biệt, cái bụng tự nhiên to phình lên như người đang mang bầu 8 tháng (?!).

Mỗi lần bị  “ma” nhập, anh H. đã phải cởi ngay quần áo kẻo bụng phình trướng lên sẽ đứt hết nút áo nút quần, và đau đớn không chịu nổi y như phụ nữ mang thai sắp đến lúc lâm bồn. Khi anh H. bị “ma nhập”, các nhà khoa học và gia đình đều đưa anh đi bệnh viện, song cứ đến nơi là bụng liền xẹp đi, cơ thể trở về trạng thái bình thường.

Nhiều lần khác các nhà khoa học đã dùng máy móc hiện đại để chụp chiếu, siêu âm phần bụng đột nhiên to phình của anh ta, song vẫn không phát hiện ra nguyên nhân do đâu. Vì từ thể xác đến hệ thần kinh hoàn toàn bình thường. Nhưng khi các nhà khoa học sử dụng phương pháp dân gian, tức dùng roi dâu đuổi tà, vụt vào cơ thể anh H., thì tự nhiên “con ma” thoát ra ngoài, và cái bụng của anh H. cũng dần dần xẹp xuống (?!).

Việc thỉnh thoảng anh H. bị như thế đã diễn ra mấy năm nay, các nhà khoa học đã bỏ khá nhiều công sức để nghiên cứu, song vẫn chưa tìm ra lời giải đáp thuyết phục cho hiện tượng trên, nên vẫn chưa dám công bố kết quả, chưa cho tiết lộ thân phận người thanh niên tên H. Còn người đời thì cho rằng, đó là hiện tượng bị ma quỷ nhập xác.

Và mới đây, lại có một hiện tượng “ma nhập” khác hết sức kỳ dị.

Một cô gái tên Nguyễn Thị K., người Hà Nội, khá đẹp. Khi cô K. chuẩn bị làm đám cưới với người yêu thì có một “con ma” nam nhập vào cô ta rồi nhất định không cho cô… đi lấy chồng. Mỗi khi “ma nhập” cô gái nói giọng đàn ông và van xin cha mẹ cho cô được lấy anh ta, tức lấy  “con ma” làm chồng.

Mỗi khi “ma nhập”, gia đình phải cấp tốc trói cô K. lại rồi chở đến nhờ các nhà ngoại cảm giải quyết giúp. Mỗi khi “ma nhập”, thân nhiệt của cô K. lại giảm đột ngột, cơ thể lạnh ngắt. Sau khi có các biện pháp can thiệp của nhà ngoại cảm (không biết can thiệp bằng cách nào, nhưng dường như là truyền năng lượng sinh học vào người) thì con ma mới thoát ra ngoài và cô gái mới lại trở lại bình thường.

Hai tin trên quả là hiện tượng kỳ bí mà các nhà khoa học chưa thể giải thích cho chu đáo được.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : Nếu bạn đọc đã xem hết 2 bài “ma nhập – quỷ ám và phép trừ tà từng đăng trên blog là sẽ có ngay lời giải về hai hiện tượng bị ma nhập nói trên đây.

5. Nhảy lửa và bay lên không

H Bi an 4TIN TỨC : Vào dịp cuối năm, khi thời tiết mùa đông khắc nghiệt nhất, người Pà Thẻn thường làm lễ nhảy lửa.

Để chuẩn bị cho buổi lễ, các thầy mo phải làm lễ cúng thần linh trước khoảng 4 tiếng đồng hồ, vừa đọc thần chú, vừa dùng hai vật màu đen như hai thanh sắt gõ vào nhau phát ra âm thanh nhanh và kích động. Đến khi trời tối, đống củi lớn xếp giữa bãi đất được đốt cháy tạo thành đống than đỏ rực. Những người đàn ông Pà Thẻn dự hội tụ tập quanh thầy mo, đọc thần chú rồi như nhập đồng, tự nhiên có sức mạnh phi thường, liền nhảy cả hai chân vào đống than đỏ rực nóng mấy trăm độ. Một số thanh niên đứng quanh đó cũng đột nhiên không biết gì, cứ chạy vòng quanh đống than. Chạy được vài vòng thì họ bốc cả nắm than đỏ cho vào miệng mà nhai như nhai khoai. Sau khi đã no than hồng, đám thanh niên thì mới lao vào than hồng để nhảy trên lửa suốt đêm không biết mệt, không biết nóng và cũng không bị bỏng. Nhiều người sau khi nhảy chán thì cởi áo rồi nằm luôn lên đống than hồng.

Trong lễ hội đó còn có một chuyện rất kỳ bí khác xảy ra. 6 thanh niên khỏe mạnh lực lưỡng được chọn để vác trên vai một ống luồng to bằng bắp đùi. Sau khi thầy mo cúng bái, kêu gọi thần linh nhập vào ống luồng suốt mấy giờ đồng hồ, ống luồng đột nhiên bay lên trời. Cả 6 thanh niên đều ráng sức kéo xuống, thậm chí bám hai tay vào ống luồng đu cả người lên, song ống luồng cứ lao đi như tên bắn, thậm chí nhấc bổng cả vài thanh niên lên cao 20 đến 30cm (?!)

Các nhà khoa học đều không phát hiện ra hiện tượng có sự lừa bịp nào trong lễ hội nhảy lửa và đọc thần chú cho ống luồng bay của người Pà Thẻn.

Còn theo người Pà Thẻn, sau khi được thầy mo niệm chú, họ tự dưng không điều khiển được mình nữa và xuất hiện cảm giác như có một sức mạnh siêu nhiên từ ngoài nhập vào khiến họ không có cảm giác nóng khi nhảy vào lửa. Còn ống luồng bay, những người tham gia giải thích rằng, sau khi thầy mo niệm chú, đôi tay như dính liền với ống luồng rồi bị ống luồng điều khiển, nó kéo mọi người đi, rồi nhấc bổng cả cơ thể người tham gia lên. Đây là một hiện tượng vô cùng kỳ bí mà các nhà khoa học vẫn chưa giải thích nổi. Người Pà Thẻn thì tin rằng thần linh đã nhập vào họ, tiếp cho họ sức mạnh vô biên.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : trong cuốn “Những bí ẩn trong đời sống văn hóa tâm linh” của tác giả Thiên Việt (đã xuất bản) từng nói về hiện tượng trên đây, như Khiêu Thần, Đấu âm quyền, Tử cô mượn xác…

Nói về thuật “Khiêu thần”, những người theo sa-man giáo tức đa số dân Hung Nô thường sống nơi vùng cực Bắc của Trung Hoa. Trước công nguyên họ tập hợp thành những tập thể, có đời sống nhược tiểu, man khai. Người Hung Nô (sau này được gọi dân Mông Cổ) có những buổi “cầu Thần nhập xác” không khác với tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ ở nước ta. Khi thừa nhận trong đời sống của họ đều có Thần, Thánh và ma quỷ ở chung quanh, tin rằng Thần, Thánh, ma quỷ có thể can thiệp vào mọi công việc, đem lại họa hay phúc cho mọi người.

Theo cách của người Hung Nô, mỗi khi “cầu Thần nhập xác”, thầy phù thủy như người đồng cốt, thầy pháp, thầy cúng, thầy mo,dùng trống một đầu bịt da dê, trên đầu đội mũ, thân mặc đạo tràng lông thú, trên vai đính vô số vỏ sò, trước và sau lưng treo những cái gương đồng to nhỏ khác nhau, trong đó gương yểm tâm và hộ bối lớn nhất, tác dụng để soi thấy thần linh và ma quỷ hiện về trong những buổi đăng đàn. Mỗi khi đăng đàn tế lễ, các thầy phù thủy tìm đến những bãi đất trống, đốt lên một đống lửa to vào lúc nửa đêm, vì trong đêm tối các vị thần linh hay các giống ma quỷ mới xuất hiện. Những người có bệnh, người muốn chiêu hồn nhập xác để bói quẻ, hay người hiếu kỳ ngồi quanh bên bãi đăng đàn.

Khi sự chuẩn bị đã xong, các phù thủy mới đăng đàn, tay cầm trống tay cầm dùi, ngồi xếp chân trên một vị trí trước cái tháp chỉ cao hơn mặt đất chừng một thước (đàn tràng), rồi bắt đầu đánh trống. Tiếng trống càng lúc càng nhanh càng to, là lúc thần linh đã nhập vào xác, bấy giờ thầy phù thủy bắt đầu mở miệng nói lảm nhảm, thân hình cứ lảo đảo lắc lư, giống người đang nhập đồng ở nước ta.

Sau những cơn lảo đảo lắc lư, người bắt đầu run rẩy một hồi lâu, sau đó liền rùn người co vai và dần dần mất hết tri giác khi tay không còn đập trống nữa. Lúc đó thầy mới đứng lên nhảy múa, đi trên lửa, miệng bắt đầu nói những điều tiên tri cho mọi người cùng nghe. Tức những lời do thần linh vừa nhập xác phán truyền.

Còn “Đấu âm quyền” có nghĩa, người đấu quyền với ma hay hay với quỷ. Khi bọn trẻ chỉ trên dưới 10 tuổi được đưa đến trước đàn tràng, mỗi đứa sẽ đốt một cây nhang rồi cầm quỳ lạy kêu “sư phụ” đưa hồn về nhập xác, mỗi đứa có một sư phụ riêng, như đứa được Tề Thiên Đại Thánh chỉ dạy, đứa có Võ Tòng, đứa theo Hạng Võ, đứa được Trương Phi, Triệu Tử Long hướng dẫn v.v…

Muốn được “sư phụ” nhập xác, vị sư trưởng cho chúng uống bùa, chuẩn bị sẵn quần áo đạo cụ theo hình tượng của các sư phụ, như Tề Thiên Đại Thánh phải mặc áo da thú màu vàng rằn ri, đầu đội vòng kim cô, tay cầm thiết bảng. Còn Hạng Võ người mặc áo chiến bào, tay cầm thương, Võ Tòng lại chỉ có tay không…

Khi vị sư trưởng cho uống bùa xong, liền đọc bùa chú bằng tiếng Tây Tạng (tiếng Phạn), gọi là “thượng pháp” tức thỉnh Thần. Bọn trẻ bắt đầu nằm sấp xuống, khi được gọi tên sẽ vùng dậy đấu võ với sư trưởng, đao kiếm bay tới tấp, người bọn chúng cứ nhẹ như bông, dương oai diệu võ. Lúc bùa hết linh ứng tức thì chúng đã hết sức lực, lại nằm sấp xuống, răng nghiến chặt, miệng xùi bọt mép.

Hay chuyện “Tử cô mượn xác” để bay lơ lửng lên trời, nghe thấy hoang đường nhưng mọi người tin là có thật.

Trong Nghĩa Hòa Đoàn thời cuối nhà Thanh, đã có những cô gái biết bay tức học được thuật “thăng không” (bay lên trời). Nhưng thuật này theo tương truyền đã có từ đời nhà Tống.

Thông thường vào ngày rằm tháng giêng, hay vào những ngày âm khác, các cô gái trẻ còn trinh thường chiêu hồn Tử cô (cô gái còn trinh chết non) về nhập xác. Nhưng vào ngày tết Nguyên Tiêu, các “Tử cô” thường về nhập xác để vân du (cưỡi mây) hơn những ngày âm trong năm.

6. Xá lợi là gì ?H Bi an 6

TIN TỨC : Người Ai Cập cổ đại nổi tiếng thế giới về tài ướp xác hàng ngàn năm không bị phân huỷ. Tuy nhiên để ướp được xác, người Ai Cập phải lấy óc và lục phủ ngũ tạng của người chết ra, sau đó dùng các loại hóa chất, hương liệu để diệt trùng nhằm bảo quản cơ thể. Việc ướp xác theo cách đó có thể giải thích bằng khoa học khá đơn giản. Thế nhưng, khả năng ướp xác không cần thuốc diệt trùng, không cần môi trường chân không, không cần ướp lạnh mà vẫn giữ được toàn vẹn xương cốt, lục phủ ngũ tạng thì quả là kỳ tài.

Trong ngôi chùa Đậu (xã Nguyễn Trãi, Thường Tín, tỉnh Hà Tây) hiện đang lưu giữ nhục thân của hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường tồn tại từ 300 năm nay. Theo sử sách ghi lại, hai vị thiền sư này tập thiền, rồi vẫn tư thế ngồi thiền đó, hai vị sư đã đắc đạo. Xá lợi của hai thiền sư đốt không cháy, ngâm nước không tan.

Ngoài ra, tại chùa Phật Tích cũng có thiền sư Chuyết Tuyết và chùa Tiêu Sơn có thiền sư Như Trí, đều giữa được toàn thân xá lợi đã gần 300 năm nay. Các nhà khoa học cũng đã bỏ công sức nghiên cứu xá lợi của thiền sư Thích Quảng Đức mấy chục năm nay, song vẫn chưa tìm được lời giải thuyết phục.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : Theo các nhà khoa học nghiên cứu về tiềm năng con người, thời gian gần đây, cũng có một số thiền sư tu thiền đạt được xá lợi, là những viên ngọc ngũ sắc. Những viên xá lợi này chính là tinh túy của thân thể tích tụ lại, đốt ở nhiệt độ cao cũng không cháy được.

Việc luyện thiền gồm yoga, luân xa;con người có thể tạo được xá lợi sau khi chết, khó có người công phu luyện tập được, cho nên tu luyện đến mức giữ được toàn thân thành xá lợi, khi nghe như chuyện hoang đường nhưng là có thật quả là kỳ tài.  Vì muốn thân xác sau khi chết thành xá lợi, ngay từ lúc bé đã ở trong  môi trường tu khổ hạnh, là tâm luôn trong sạch, thể xác diệt dục, tâm tính không còn hỉ nộ ái ố, như Đức Phật Thích Ca khi bỏ cung điện để đến gốc Bồ Đề tu hành, hoặc như những vị sư trong nước mà tin tức trên đây đã đề cập đến.

7. “Người nam châm”

H Bi an 7TIN TỨC : Mới đây, một số nhà khoa học nghiên cứu về tiềm năng con người đã chứng kiến một buổi biểu diễn hết sức kỳ lạ : một người dùng năng lượng từ cơ thể hút đồ vật. Người biểu diễn là học viên của một lớp học cảm xạ, chuyên đào tạo, bồi dưỡng những người có khả năng đặc biệt.

Những người tham gia lớp học cảm xạ ít nhiều đều đã khám phá được khả năng tiềm ẩn của bản thân. Với những dụng cụ như con lắc, họ đã có thể vận dụng sự cảm nhận của cơ thể để phát hiện được “tia đất” độc hại hay “tia đất” có lợi ở nơi mình đang sống, từ đó biết cách “trị tia đất”, làm cho môi trường sống trong lành hơn, bảo đảm sức khỏe cho mọi người.

Các học viên của lớp học cảm xạ đặc biệt này cho hay, chỉ tập luyện một thời gian đã thấy sức khỏe rất dồi dào, bệnh tật như tan biến đâu mất. Sau mỗi bài tập cảm xạ, là những bài múa mềm dẻo, đưa cơ thể về trạng thái vô thức, cơ thể con người có một lực hút rất lớn, có thể hút được các đồ vật khá nặng bằng sắt thép, thậm chí cả những vật bằng sứ v.v… song các nhà khoa học vẫn chưa tìm được lời giải đáp về hiện tượng kỳ lạ này.

LỜI GIẢI CỦA “THẾ GIỚI TÂM LINH” : Để có sự cảm xạ trong thân thể con người không ngoài bằng thuật dùng “nhân điện”.

Trong vu thuật có nhiều thuật thần bí, trong đó có thuật thôi miên hay còn gọi là thuật nhiếp hồn.

Người biết dùng thuật thôi miên phải có đôi mắt sáng và có nhân điện cao, mới có thể khuất phục được người khác, nhân điện còn có thể cuốn hút các đồ vật như sắt thép dính vào người như có nam nhâm hút.

Muốn có nhân điện cao phải thành công khi tập đủ bảy huyệt “Luân xa” trong cơ thể (Xem bài “Luân xa là gì ?” trong blog này).

Chúng ta thường thấy một vu sư trước khi thôi miên ai, đôi mắt họ mở to, không chớp, lòng đen trắng lóng lánh, vì rằng họ đang sử dụng đến nhân điện dùng đôi mắt chiếu tia điện thẳng vào mắt người khác, cùng những lời thì thầm như đọc bùa chú, còn hai bàn tay cứ quơ qua lại trước mặt đối tượng.

Còn con người muốn hút các đồ vật vào người phải sử dụng nhân điện trở thành từ trường, mới có thể thi thố được,

Nhân đây từ việc sử dụng nhân điện để nói đến thuật thôi miên.

Người bị thôi miên sẽ bị cuốn hút vào đôi mắt sáng ấy trong trạng thái mất phương hướng, tinh thần trống rỗng và suy sụp mau lẹ sau những câu nghe như ru ngủ. Đấy là lúc người bị thôi miên mê sảng, mất phần hồn chỉ còn là cái xác vô tri thức. Như đã nói người sử dụng thôi miên phải có nhân điện cao ngoài đôi mắt sáng, muốn phá thôi miên ít nhất người bị thôi miên có phải tần số nhân điện lớn hơn hoặc bằng họ. Hoặc nếu không là dòng điện Âm chọi lại với dòng điện Dương và ngược lại.

Tác giả Michael Halbert trong cuốn “Thần giao cách cảm” cho biết, muốn luyện môn thôi miên phải tập từ nhỏ, có chế độ ăn uống với nhiều chất đạm và những thực phẩm giàu chất kim loại như sắt, kẽm, mangan… vì những chất này sinh ra điện tích trong người mang tần số cao.

Ngoài ra hằng ngày phải ngồi Thiền bất định trong nhiều giờ, đôi mắt phải chăm chú nhìn vào tâm một vật thể không được chớp. Khổ luyện thành công là khi, dùng ánh mắt nhìn vào vật trong một giờ mà không chớp, từ nhân điện mới có thể thôi miên nhiếp hồn đối tượng. Thật này còn có thể đọc được ý nghĩ trong đầu kẻ khác, tức thực hiện được cả môn “thần giao cách cảm”, còn được gọi là người có “giác quan thứ sáu”.

Trong nhân điện có người tích lũy được điện Âm hay điện Dương; người có điện dương chỉ nhiếp hồn được người có tần số điện dương thấp hơn, nếu là nguồn điện âm chỉ có thể nhiếp hồn được người có dòng nhân điện âm thấp hơn. Khi điện Dương gặp người mang tính điện Âm cao, sẽ không thể thôi miên được, vì khi Âm Dưong gặp nhau sẽ sinh biến đổi, như dòng điện Âm Dương khi gặp nhau sinh ra cháy nổ.

Với nhân điện, chúng ta thường nghe nói đến những người có biệt tài, chân tay sờ nắn được dòng điện mà không bị giậ̣t, hay dùng thân nhiệt đưa 2 dòng điện Âm Dương cho cháy sáng bóng đèn v.v…

Thiên Việt

KHÁI NIỆM VỀ MỆNH VẬN

HAY “BÁT QUÁI VẠN VẬT”

– Thiên Việt

Bat quai

Trong thuật Bảo Tài tức cách giữ tiền của và cách làm tiền của sinh sôi nảy nở, cho biết có những cách để tính cát hung cho chính mệnh vận  đời mình, có thể mang đến tính chính xác đạt chuẩn. Vì phải hiểu mệnh vận của mình mang tính sinh khắc với Âm Dương và Ngũ Hành ra sao, để lập thành bảng riêng để chọn ngày tốt xấu cho thích hợp một cách nhanh chóng.

Nhằm thực tiễn khái niệm về mệnh (chưa có vận), là khi sinh ra mọi người đã có “số” do trời định, nên “số” không thể thay đổi, còn “vận” thì có thể thay đổi tính hung thành cát, hay từ cát sang hung.

Chúng tôi sẽ theo một thí dụ lấy làm xuyên suốt trong bài này để bạn đọc tham khảo rồi tự giải cho chính mình. Cách diễn giải về mệnh vận mỗi người theo thí dụ sau đây :

– Nam, sinh năm Canh Ngọ, tháng 7, ngày 23 âm lịch, giờ Thìn (các tuổi khác theo thí dụ này để vận dụng cho chính mình). Qua các bước :

1/- SỐ MỆNH

Người xem phải biết mình sinh vào năm nào (từ Giáp Tý đến Quý Hợi), mang tính Âm Dương (năm Dương tuế hay Âm tuế), Ngũ Hành (cả phần nạp âm), cung mệnh (Bát Quái), cung Phi (Trạch cung) – những điều này đều có nơi Trang của “Thế giới tâm linh – những điều nói trên đều thuộc về số, được ghi đầy đủ trong phần Lục Thập Hoa Giáp, Cung Phi.

– Như thí dụ tuổi nam Canh Ngọ tức Dương nam (vì sinh năm Dương tuế : Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm), hành Thổ còn nạp âm là Lộ Bàng Thổ, cung mệnh là Ly hay còn gọi quẻ Ly, cung Phi là Khảm (còn nữ sinh năm Canh Ngọ thuộc Dương nữ, có cung Phi là Cấn v.v…

– Tính theo Bát Quái

Tính Bát Quái phải tính từ cung mệnh, như tuổi Canh Ngọ đã nói thuộc mệnh Ly, mà Ly thuộc Hỏa, còn trong ngũ hành nạp âm tức Lộ Bàng Thổ. Hợp với hướng chánh Nam (thuộc Đông trạch), nên sẽ hợp với các hướng và các cung mệnh hay quẻ : Khảm, Chấn và Tốn (xem phần Phong Thủy đã nói).

Cho nên để biết mệnh vận cần xem kỹ 8 cung “Bát Quái vạn vật” sau đây được lược thuật từ môn Mai Hoa dịch số, nói đến 8 tuổi theo cung mệnh, nói lên sự tương thích hoặc cách thích ứng của mỗi người, dự đoán những sự may mắn trong việc cầu danh cầu tài. Người thuộc mệnh nào xem theo cung đó.

LyCUNG LY :

Thuộc hành Hỏa, mang ý nghĩa : lửa, mặt trời, tia chớp, cái bóng, cây khô, ấn tín. Trong Dịch lý : Ly có nghĩa là Hỏa, là sự sáng suốt, trí tuệ, văn minh và hào nhoáng.

– Địa lý : hợp hướng chánh Nam, nơi có đất cao và khô, hay hướng lò bếp đang hoạt động.

– Người : chủ về thiếu nữ (vai thứ), người có bụng to, người có tật ở mắt, có chức vị cao.

– Tính tình : thông minh tài giỏi, nhưng hay nóng nảy, thích kết giao những người có chất nghệ sĩ, giỏi về thư từ.

– Thời gian : hợp tháng 5 và những năm tháng ngày giờ Tỵ, Ngọ hay thuộc Hỏa. Nhưng Hỏa vượng vào mùa Hạ sẽ suy vào mùa Đông.

– Nhà cửa : nhà hướng về chánh Nam (Ly) được cung Phục Vì, nơi sáng sủa mặt trời rọi nóng. Hướng chánh Đông (Chấn) được cung Sinh Khí, hướng chánh Bắc (Khảm) được cung Phúc Đức và hướng Đông Nam (Tốn) được cung Thiên Y, những hướng còn lại đều xấu.

– Hôn nhân, gia đạo : có cưới hỏi nên cưới gái thứ tránh trưởng nữ, còn gái Ly không nhất thiết lấy thứ nam, nếu là gái Ly là thứ nữ lấy chồng các cung Khảm, Chấn, Tốn rất tốt. Hỏi cưới tốt vào mùa Hạ, mùa Đông sẽ bất lợi. Việc hôn nhân của người mệnh Ly thường tiền hung hậu kiết.

– Ăn uống : nên ăn những món được nấu, chiên, nướng trên bêp, tránh đô nguôi lạnh.

– Sinh sản : dễ khi sinh con thứ (con so thường gặp khó), nhất là con gái. Sinh mùa Đông sẽ gặp hao tổn. Khi sinh nên đi về hướng Nam trước.

– Cầu tài lộc : sẽ đắc danh đắc lợi về hướng Nam, nghề nghiệp chuyên văn hơn võ,thích hợp những nơi làm việc mang tính Hỏa. Tránh cầu tài lộc vào mùa Đông.

– Giao tế gặp gỡ : tiếp xúc nhiều với giới văn nghệ sĩ có lợi. Mùa Đông hỏa suy nên không tốt; mùa Hạ, mùa Thu sẽ được như ý.

– Xuất hành : mỗi ngày đi theo hướng Nam trước, mùa Đông không nên khởi sự việc mới. Tránh đi trên sông biển.

– Bệnh tật : măt và tim, mùa Hạ hay trúng nắng, bệnh truyền nhiễm từ đường ruột.

– Quan sự : ít tranh cãi, ứng xử tốt sẽ có lợi.

– Mộ phần cha mẹ : chôn hướng Nam nơi trống trải ít cây cối. Được an táng vào mùa Hạ cầu danh cầu lợi sẽ thành vào mùa Đông không tốt.

– Số thích hợp :  2 – 7 – 9

– Ngũ sắc : hợp các màu đỏ tía (đỏ + xanh) và hồng.

KienCUNG KIỀN  (hay cung Càn):

– Thuộc hành Kim, mang ý nghĩa : băng tuyết, nước đá, vàng. Trong Dịch lý : Kiền càng gọi là Càn, có nghĩa là Thiên, mang đức cứng rắn, ý sáng suốt, tâm đức sáng ngời.

– Địa lý : hợp hướng Tây bắc, nơi đất cao ráo, cảnh đẹp.

– Người : chủ về địa vị cao sang, cha, chú, chồng, đại nhân (nhân sĩ, trí thức), phú gia (có tiền của), phú quý (có chức vị, có tên tuổi lớn trong xã hội) và người già.

– Tính tình : quả quyết, hay manh động, cứng đầu.

– Thời gian : thích hợp mùa Thu, năm tháng ngày giờ Thân – Dậu hay thuộc Ngũ Kim, chủ vào Thân. Kim vượng vào mùa Thu suy ở mùa Hạ.

– Nhà cửa : nên xây nhà cao cửa rộng về hướng Tây Bắc (Kiền) được cung Phục Vì, hướng chánh Tây (Đoài) cung Sinh Khí, hướng Đông Bắc (Cấn) cung Thiên Y và hướng Tây Nam (Khôn) cung Phúc Đức .

– Hôn nhân, gia đạo : cung Kiền chủ về tuổi Thân thuộc quý quan, lấy người có tên tuổi tiếng tăm vào mùa Thu sẽ thành, mùa Hạ, Đông bất lợi. Đề phòng tai ương và bất hòa trong gia đạo vào Hạ, Đông, mùa Xuân có tin vui đến.

– Ăn uống : hợp thịt ngựa, loại cá có nhiều xương, gan, phổi, thịt xông khói, đầu gia súc, những chất cay và trái cây.

– Sinh sản : dễ sinh quý tử vào mùa Thu, sinh mùa Hạ sẽ hao tài. Sắp sinh nên đi về hướng Tây Bắc trước.

– Cầu tài lộc : bàn công viêc hay chô ngôi làm việc nhìn về hướng Tây Bắc sẽ không muộn màng để thăng tiến, còn đã có chức vị không nên thêm mưu sự. Mùa Thu tốt cho cầu danh lợi, mùa Hạ không thành, còn mùa Đông được việc nhưng không hài lòng.

– Giao tế, gặp gỡ : mua bán về kim khí, vàng bạc sẽ thành công, nhưng không nên thực hiện vào mùa Hạ. Có lợi khi gặp người lớn tuổi hơn.

– Xuất hành : nên đi vào chốn tỉnh thành hướng Tây Bắc vì tài lộc ở đây. Không nên đi vào mùa Hạ.

-Bệnh tật : có tật bệnh ở đầu, mặt, phổi, gân cốt.

– Quan sự : có quý nhân phù̀ trợ trong các kiện thưa tranh cãi. Mùa Thu đắc thắng, mùa Hạ thua kiện.

– Mộ phần cha mẹ : nên an táng hướng Tây Bắc chỗ Kiền sơn, cao ráo. Nếu mất vào mùa Thu sẽ đại phú đại quý, vào mùa Hạ lại xấu có thể tán tài tán gia.

– Số thích hợp : 4 – 9 – 6

– Ngũ sắc : hợp màu đỏ thắm (đỏ + đen) .

Doai

CUNG ĐOÀI :

– Thuộc hành Kim, mang ý nghĩa : ao đầm, mưa dầm, trăng non, tinh tú, giấy bút, nhạc khí. Trong Dịch Lý : Đoài có nghĩa là Trạch (đầm, ao cạn), miệng lưỡi.

– Địa lý : hợp hướng chánh Tây, chỗ ao đầm, nơi tiếp giáp với nước, ao sụp lỡ, giếng bỏ hoang, núi lỡ, gò đất sụp, nơi nước mặn không nhiều cây cối.

– Người : chủ về thiếu nữ (gái út), thiếp (vợ bé), người phục dịch (nhân viên dưới quyền), kỹ nữ, thầy bói.

– Tính tình : vui vẻ nhưng hay gặp tiếng thị phi, do miệng nói không suy nghĩ, thích lý luân tranh cãi, thích ăn uống. Sống có hậu.

– Thời gian : thích hợp mùa Thu tháng tám âm lịch, năm tháng ngày giờ Thân, Dậu. Kim vượng vào mùa Thu suy ở mùa Hạ.

– Nhà cửa : ở về hướng chánh Tây (Đoài) được cung Phục Vì, gần ao hồ, hướng Tây Bắc (Kiền) được Sinh Khí, hướng Đông Băc (Cân) cung Phúc Đức và hướng Tây Nam (Khôn) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : thường bất thành nhưng mùa Thu sẽ tốt, có tin hỉ sự, cưới hỏi thành công, nhất là cưới vợ; không nên tiến hành vào mùa Hạ. Trong gia đạo đề phòng có bất hòa, khẩu thiệt những tháng Kim suy.

– Ăn uống : thích thịt dê, vật nuôi trong ao hồ như cá, vịt, tôm, cua, những vật cay.

– Sinh sản : bất lợi vào mùa Hạ, phòng hư sẩy thai, sinh khó, mùa Thu tôt, khi sinh đi vê hướng chánh Tây.

– Cầu tài lộc : nam thành công hơn nữ, nhưng sẽ tổn tài hao sức. Nhận công việc khởi đầu tại hướng Tây, nghề thích hợp có kim loại hay hướng dẫn viên, dù gian khổ nhưng đưa đến thành công, trong mưu sự có hao tổn. Mùa Thu có tin vui, mùa Hạ không được vừa ý.

– Giao tế, gặp gỡ : bất lợi, đề phòng khẩu thiệt, mang tiếng thị phi trong giao tiếp. Tốt mùa Thu xấu mùa Hạ. Nơi hướng Tây có quý nhân mang tài lộc đến.

– Xuất hành : không nên đi xa, nên đi gần và mỗi ngày đi về hướng Tây trước, vào mùa Thu sẽ có tài lộc.

– Bệnh tật : có tật yết hầu, trái khí sinh suyễn, ăn uống thất thường vì miệng lưỡi không vị giác.

– Quan sự : có tranh cãi, thưa kiện nên thường hao tài, đề phòng dẫn đến công quyền. Mùa Thu mà gặp người thuộc Đoài công việc sẽ đắc thắng.

– Mộ phần cha mẹ : nên an táng hướng Tây, gần đầm lầy ao hồ, nếu chỗ hoang vắng. Vào mùa Hạ an táng sẽ xấu.

– Số thích hợp : 4 – 9 – 7

– Ngũ sắc : hợp màu trắng.

ChanCUNG CHẤN :

– Thuộc hành Mộc, mang ý nghĩa : Sấm sét, thảo mộc. Trong Dịch Lý : Chân tức là Lôi, có nghĩa dũng mãnh, khí phách, thành công.

– Địa lý : hợp hướng chánh Đông, nơi chợ búa, đường cái, cây cối tươi tốt.

– Người : chủ về trưởng nam, tướng to lớn hiếu động.

– Tính tình : hay giận dỗi, thường hoang mang kinh sợ, nhưng nóng nảy, manh động, năng nổ.

– Thời gian : hợp mùa Xuân tháng 3, hợp năm tháng ngày giờ Dần, Mão hay thuộc Mộc, chủ vào Dần. Mộc vượng mùa Xuân suy ở mùa Thu.

– Nhà cửa : nhà hướng về chánh Đông (Chấn) được cung Phục Vì, gần những nơi có nhiêu cây côi (rừng, công viên), nên có gác gô. Hướng chánh Nam (Ly) cung Sinh Khí, hướng Đông Nam (Tốn) cung Phúc Đức và hướng chánh Bắc (Khảm) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : vợ chồng có thanh danh theo các cung mệnh hợp : Khảm, Chấn, Tốn, Ly, nhưng thường lo sợ viễn vông. Cưới gả cho trưởng nam được lợi. Mùa Thu không nên cưới hỏi.

– Ăn uống : thích ăn móng các động vật, thịt rừng, các loài sống trên cây, ăn tái, trái cây có vị chua.

– Sinh sản : thường sẩy thai vì tâm hay hoang mang lo sợ, sinh con so thường sinh nam. Mùa Xuân tốt, mùa Thu không nên sinh đẻ, có sinh đi về hướng Đông.

– Cầu tài lộc : hướng về Đông nơi có cây nhiều, không nên đến nơi náo động. Nghề nghiệp thích hợp với những nguyên liệu thuộc Mộc như mây, tre, lá, đồ gỗ. Trong mưu sự phải nhanh lẹ, mùa Thu không sở nguyện.

– Giao tế, gặp gỡ : gặp vào mùa Thu thường thất bại, vào mùa Xuân sẽ thành công, nên bàn công việc về vật dụng làm bằng gỗ, mỹ nghệ bằng tre, trúc.

– Xuất hành : có lợi khi đi hướng Đông, nơi có nhiêu cây cối, mùa Thu bất lợi về tiền bạc còn gặp hình thương.

– Bệnh tật : tật chân, gan, tâm bất an.

– Quan sự : kiện thưa thuộc về kẻ mạnh, biết sửa đổi, hướng thiện sẽ gặp may mắn.

– Mộ phần cha mẹ : an táng tại hướng Đông nơi có nhiều cây xanh. Táng vào mùa Thu không có lợi..

– Số thích hợp : 3 – 8 – 3.

– Ngũ sắc : hợp màu xanh, lục, biếc.

TonCUNG TỐN  :

– Thuộc hành Mộc, mang ý nghĩa : Gió, cái quạt, tươi tốt, thuận chiều. Trong Dịch lý : gọi Tốn là Phong, có nghĩa tươi tốt, chịu phục tùng.

– Địa lý : hợp hướng Đông Nam, nơi cỏ cây tươi tốt, như vườn rau, vườn cây trái.

– Người : chủ về trưởng nữ, tu sĩ, quả phụ.

– Tính tình : nhu hòa nhưng bất định kiến (không ý kiến), vui vẻ xởi lởi hay khuyên dạy người khác.

– Thời gian : cuối Xuân đầu Hạ tháng 3, năm tháng ngày giờ Dần, Mão hoặc thuộc Mộc, chủ vào Mão. Mộc vượng mùa Xuân suy ở mùa Thu.

– Nhà cửa : nhà hướng về Đông Nam (Tốn) được cung Phục Vì, nơi gần chùa, đình, miếu, nhà nên có gác gỗ vườn hoa, hoặc nơi rừng cây xanh càng tốt. Hướng chánh Bắc (Khảm) cung Sinh Khí, hướng chánh Đông (Chấn) cung Phúc Đức và hướng chánh Nam (Ly) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : cưới trưởng nữ được lợi, công

danh tấn phát. Mùa Thu không nên cưới, mùa xuân nhiều tài lộc. Vợ chồng cùng đồng tâm hiệp lực trong kinh doanh có gia đình yên ổn, hạnh phúc.

– Ăn uống : hợp thịt gà, vịt, thức ăn trên bộ, thủy sản hợp với cá đồng, rau, quả và các vị chua.

– Sinh sản : dễ sinh, con so thường là nữ. Mùa Thu tốt khi có thai, có sinh đi về hướng Đông Nam.

– Cầu tài lộc : cầu danh đắc danh, nghề nghiệp thích hợp là những nghề gián tiếp, có học lực và tâm đức tốt, như thuế quan, điều tra viên, thẩm phán, ngồi nơi làm việc nhìn về hướng Đông Nam. Mưu sự việc gì dễ thành công nhưng phải chịu phục tùng, không thể thành công khi làm người chỉ đạo, chỉ huy. Mùa Thu nhiều ý đồ nhưng không sở ý.

– Giao tế, gặp gỡ : gặp được người từ chốn rừng xanh hay từ Lâm, Nông trường sẽ có lợi, hoặc giới văn nghệ sĩ, tu sĩ cũng có nhiều lợi ích cho cá nhân.

– Xuất hành : đi theo hướng Đông Nam có lợi vì thu nhiều hơn chi. Tránh đi vào mùa Thu sẽ bất lợi về tài lộc.

-Bệnh tật : tật nơi bắp vế, cánh tay, phong, đường tiêu hóa, tiểu tiện.

– Quan sự : mọi sự hòa nhã sẽ gặp điều may mắn.

– Mộ phần cha mẹ : an táng tại hướng Đông Nam, nơi có nhiều cây cối. Táng vào mùa Thu gặp bất lợi..

– Số thích hợp : 3 – 8 – 4.

– Ngũ sắc : hợp màu xanh lục, biếc, sáng trắng.

KhamCUNG KHẢM  :

– Thuộc hành Thủy, mang ý nghĩa : mưa, mặt trăng, tuyết rơi, sương mù, rượu. Trong Dịch Lý : Khảm là Thủy, có nghĩa hay lý sự, mưu gian, hoạn nạn.

– Địa lý : hợp  nơi chánh Bắc nơi sông hồ, khe rạch, suối, giếng nước, những nơi đất ẩm thấp, sình lầy.

– Người : chủ về thứ nam (ở giữa), người giang hồ, người sống trên ghe thuyền, trộm đạo.

– Tính tình : bề ngoài tỏ ra mềm mỏng nhưng trong lòng đầy kế gian, thường mượn gió bẻ măng, lòng đầy ích kỷ và nham hiểm.

– Thời gian : thuộc mùa Đông tháng 11, hợp năm tháng ngày giờ Hợi, Tý. Ngày tháng 1 và 6. Thủy vượng mùa Đông suy các tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

– Nhà cửa : nhà hướng về chánh Bắc (Khảm) được cung Phục Vì, ở gần nơi có nước, nếu ở nhà sàn, nhà thủy tạ hay ở gần sông biển, nơi ẩm thấp sẽ tốt. Hướng Đông Nam (Tốn) cung Sinh Khí, hướng chánh Nam (Ly) cung Phúc Đức và hướng chánh Đông (Chấn) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : người thứ nam có tài lộc khi lấy vợ hay gái Khảm lấy được thứ nam. Nam nên ở rể hay ở riêng về hướng Bắc. Hôn sự có làm lễ thú phạt mới bền vững. Không nên cưới hỏi, đề phòng trộm cướp, gặp ám muội làm gia đạo xào xáo bất hòa vào những tháng Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

– Ăn uống : heo, cá, hải sản, thức ăn lạnh hay nguội, thức ăn có máu (huyết bò, huyết heo…), trái cây có hột, vật sống dưới nước, nhiều xương.

– Sinh sản : thường nguy hiểm khi sinh đẻ, có thai con dạ tốt, nhất là sinh được thứ nam, những tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không có lợi thêm tổn thọ, tổn tài. Khi sinh đi theo hướng Bắc.

– Cầu tài lộc : có tai hãm, bất lợi. Nên cầu về những nơi thuộc sông nước. Nuôi thủy, hải sản đắc địa hay sản xuất nước giải khát. Đề phòng có nữ tiểu nhân phá phách, mất trộm, hay tai tiếng. Không nên mưu sự vào 2 mùa Thu – Đông nếu có nên vừa hay dưới tầm tay mới đem lợi lôc vê.

– Giao tế, gặp gỡ : nên gặp nhau nơi miền sông nước, biển hồ, bàn những việc thuộc cá, muối, nước uống sẽ thành.

– Xuất hành : không nên đi xa, đi bằng thuyền bè trên đường sông sẽ hợp hơn đường bộ.

– Bệnh tật : về tai, tim, thận, dạ dày, hay cảm gió, lạnh bụng và máu huyết.

– Quan sự : có tiểu nhân quấy rối khó thắng kiện, gặp nguy nan, khốn đốn.

– Mộ phần cha mẹ : Huyệt nằm hướng Bắc tốt. An tháng những tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi sẽ ảnh hưởng đến đường tài lộc.

– Số thích hợp : 1 – 6 – 1

– Ngũ sắc : hợp màu đen

CanCUNG CẤN :

– Thuộc hành Thổ, mang ý nghĩa như sau : mây mù, khí bốc lên từ núi, đá. Trong Dịch Lý : Cấn có nghĩa là Sơn tức núi đá, trì trệ, nhưng có tâm đức, nơi yên tĩnh.

– Địa lý : hợp hướng Đông Bắc, gần vách núi, gò động, các nơi chôn cất (nghĩa trang).

– Người : hợp thứ nam (út), người nhàn rỗi, người ở núi.

– Tính tình : tiến thối không nhất quán, tâm tính tráo trở, thích nơi vắng vẻ, tĩnh mịch.

– Thời gian : thuộc tháng Đông Xuân tháng chạp, năm tháng ngày giờ Sửu, Mùi hay thuộc Thổ, ngày thích hợp 7, 5 và 10 âm lịch. Thổ vượng những tháng Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, suy vào mùa Xuân.

– Nhà cửa : nhà thuộc hướng Đông Bắc (Cấn) được cung Phục Vì, gần núi đá, gần đường lô, đường cái. Hướng Tây Nam (Khôn) cung Sinh Khí, hướng chánh Tây (Đoài) cung Phúc Đức và hướng Tây Bắc (Kiền) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : khó thành tựu khi còn trẻ, nên lấy nhau khi quá tuổi 30 mới có hôn nhân bền vững. Có lợi khi lấy thứ nam, lấy người ở xa nơi chôn nhau cắt rún sẽ tốt duyên. Mùa Xuân không nên cưới hỏi, trong gia đạo thường lo lắng, có bất hòa, gây trở ngại công việc.

– Ăn uống : những gì sống từ đất, thịt loài thú ngoài gia cầm, măng tre ở đồng, các món ăn thuộc đồng quê.

– Sinh sản : sinh khó có ách nạn nguy hiểm. Không nên sinh vào mùa Xuân, khi sinh đi hướng Đông Bắc sẽ có lợi.

– Cầu tài lộc : trắc trở nhiều ít thành công, nên đi về hướng Đông Bắc, chốn núi rừng, thích hợp với nghề rừng (kiểm lâm), thợ săn thú, điêu khắc đá. Có mưu sự nhưng không đúng sở cầu sở nguyện, tiến lùi thường phân vân.

– Giao tế, gặp gỡ : nên bàn về đất đai, mùa Xuân thường bất thành, có nhiều trở ngại khi giao tiếp.

– Xuất hành : không nên đi xa bằng đường bộ, có trở ngại, thích hợp với hướng Đông Bắc.

– Bệnh tật : tật tay, ngón tay, ở tì vị.

– Quan sự : có quý nhân giúp cũng không thành, thưa kiện sẽ kéo dài hao tài tốn của, đừng nên dính líu.

– Mộ phần cha mẹ : huyệt tại hướng Đông Bắc, an táng vào mùa Xuân không có lợi. Mộ nên gần đường lộ.

– Số thích hợp : 5  – 10 – 8

– Ngũ sắc : hợp màu vàng.

KhonCUNG KHÔN  :

– Thuộc hành Thổ, mang ý nghĩa như sau : mây u ám, khí mù, nhà kho, chợ búa. Trong Dịch Lý : Khôn là Địa tức đất, nhún nhường khiêm tốn, cưu mang (như câu “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”)

– Địa lý : hợp hướng Tây Nam nơi bình nguyên, có làng xã (thị trấn) đông dân.

– Người : chủ về mẹ vợ, bà lão, người nông dân, người đồng hương, người có bụng bự, nhân chứng.

– Tính tình : nhu mì, nhân hậu nhưng hẹp hòi, ích kỷ, nhu nhược trước mọi người.

– Thời gian : hợp những tháng Tứ Mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, năm tháng ngày giờ Thìn, Tuất. Ngày tháng hợp : 5 – 8 – 10. Vượng tháng Tứ mộ suy vào mùa Xuân

– Nhà cửa : xây dựng nhà trệt, nền đất, về hướng Tây Nam (Khôn) được cung Phục Vì, nơi yên tĩnh có khoảng trống rộng rãi chung quanh. Hướng Đông Bắc (Cấn) cung Sinh Khí, hướng Tây Bắc (Kiền) cung Phúc Đức và hướng chánh Tây (Đoài) cung Thiên Y.

– Hôn nhân, gia đạo : vợ chồng đồng cung có lộc mang đến, âm thịnh nhưng hạnh phúc; hoặc cưới gả với người góa vợ góa chồng. Mùa Xuân không có lợi trong cưới hỏi.

– Ăn uống : thịt trâu, bò, thú nuôi ở đất, thức ăn uống có vị ngọt, những món đồng quê (khoai lang, bắp nướng, cá lóc nướng trui, bún sáo măng…).

– Sinh sản : dễ sinh con. Mùa Xuân có tổn thất hay bất lợi cho cha mẹ, có sinh đi về hướng Tây Nam.

– Cầu tài lộc : hướng Tây Nam có lợi về đất đai. Thích hợp nghề địa chính, xây dựng, thầy phong thủy. Có mưu sự chuyện gì cũng thành công, nhất là mua bán đất đai, ruộng vườn; hãy giữ tính khiêm cung ít nói sẽ có lợi. Mùa Xuân thường không như ý.

– Giao tế, gặp gỡ : gặp vào mùa Xuân thường thất bại, vào những tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi sẽ thành công, nhất là bàn về cây cối đồ dùng bằng gỗ, vật mỹ nghệ bằng tre, trúc sống từ đất.

– Xuất hành : đi về hướng Tây Nam, đi đến những vùng chưa đô thị hóa băng đường bộ, mùa Xuân bất lợi về tiền bạc và thường xảy ra tai nạn.

– Bệnh tật : ở bụng và tỳ vị, kém ăn, ăn không tiêu.

– Quan sự : được cảm tình với người thừa hành công vụ và những người chung quanh, mọi việc sẽ hanh thông trở lại

– Mộ phần cha mẹ : nên an táng nơi đất ruộng, bằng phẳng nhưng thấp. Táng vào mùa Xuân bất lợi.

– Số thích hợp : 5 – 10 – 2.

– Ngũ sắc : hợp màu vàng và đen.

oOo

8 cung “Bát Quái vạn vật” chủ yếu nói về đường công danh sự nghiệp và mưu cầu tài lộc, cùng những tương thích của mỗi người. Ngoài ra tính theo Bát Quái còn có những thuật khác như xem về :

– Nhà cửa : có “Trạch Cung”, trong đó tính tuổi xây dựng cất nhà với 2 môn Lục Hoang Ốc – Tứ Kim Lâu, tìm các hướng tốt Sinh Khí, Phục Vì, Phúc Đức và Thiên Y, hướng xấu Tuyệt Mệnh, Ngũ Quỷ, Họa Hại và Lục Sát được giải thích rõ hơn 8 cung “Bát Quái vạn vật”.

– Hôn nhân : có bảng “Hiệp hôn định cuộc” để tính tuổi trai lấy vợ gái gả chồng, tuổi nào tương hợp, tương khắc nếu không sẽ trở thành thế Bát san tuyệt mệnh, Bát san giao chiến hay Lục thân tương hình v.v… khi đã thành vợ chồng.

– Sinh khắc cát hung : bằng các bảng “Ngũ mệnh đặc quái” để tính cung mệnh với cung ngày hiện hành.

Theo thí dụ : tuổi Canh Ngọ là mệnh Ly, gặp ngày hiện hành Đinh Sửu cũng thuộc Ly, là Ly gặp Ly, trong “Ngũ mệnh đặc quái” mục hành Hỏa (thuộc Ly) dự báo :

-“Lửa gặp lửa sẽ bốc, nhưng không nhiều may mắn. Đề phòng có tiểu nhân rình rập ám hại”.

Tại sao đồng mệnh đồng cung lại không nhiều may mắn, có tiểu nhân ám hại ?

Lúc đó hãy xem đến phần Ngũ hành, để thấy vì sao “lưỡng Hỏa – Hỏa diệt” mà không thuộc vào cách “lưỡng Hỏa thành viên” ?!

Mong rằng qua bài này người đọc sẽ hiểu rõ hơn qua các cách xem cát hung như đã nói.

Thiên Việt

Giới thiệu Blog hay

Cau ba 1Lướt Blog xem Blog

– Thiên Việt XIN TRÍCH ĐOẠN…

“Dân chơi cầu Ba Cẳng”

trên my.opera.com/khaisang2002

Chuyện phiếm của Trương Đạm Thủy

… Cái món gì ai xài cũng được mà còn được miễn phí, xài xã láng, xài vô tư thì được bàn dân thiên hạ gọi là…”của chùa”. Thí dụ như ở cơ quan nhà nước nhiều chủ vị công chức thay vì sử dụng cái “mô – bai” của mình để nói chuyện riêng tư thì lại è vào cái điện thoại công mà rỉ rả chuyện năm non bảy núi hàng giờ. Cái điện thoại ấy bị gọi là”điện thoại chùa”.

Trong chuyện ăn nhậu mà khách “biên đình” ngại nhất là đang bửa nhậu “ tửu phùng tri kỷ “bổng dưng xuất hiện một khách không mời tự nhiên cười cười nói nói sà vô bàn bưng ly rót rót nhẩm tửu vô tư như người… Sao Hỏa. Cái món bia bọt mà vị khách “người Sao Hỏa” kia uống bị gọi là Bia chùa. Hay như gói thuốc mới “khui tem” chưa kịp đốt tự dưng có một bàn tay ở đâu trên trời rơi xuống chộp lấy rồi rút ra một điếu điềm nhiên gắn vào mép bật quẹt và nhả khói với đôi mắt đăm chiêu tư lự như đang thả hồn tìm ý cho một bài thơ. Không chỉ một điếu mà ngồi hoài, hết điếu này sang điếu khác… Cái kiểu hút thuốc hồn nhiên vô tội vạ nầy được gọi là hút “thuốc chùa”…của dân chơi cầu Ba Cẳng.

Ở đây nói “dài dòng văn tự ” vậy để dễ đi vào chuyện “đào chùa” là một từ ghép bí hiểm mà chỉ có dân “chát – chát – xình” mới hiểu nó là gì?.

Thông thường trong giới đi vũ trường có hai loại : một là có người đi nhảy có đôi có cặp gọi là đi chơi đủ đào đủ kép, hai là đi cu – ky một mình rồi mời mấy em vũ nữ (cave) cùng “nhót” với nhau. Mấy em vũ nữ nầy là “đào” còn ông anh nhảy chung được gọi là “kép”. Nhưng đào cave – vũ nữ là đào có nhận tiền ticket mà khách nhảy phải trả.

Cau ba 2Vậy “đào chùa” là đào gì? Xin đọc hồi sau sẽ rõ!.

Mà nhảy đầm là loại hình “múa đôi”, đâu có tự nhảy một mình được?. Nói phải tội, nhìn thấy các bà sữa soạn chưng diện như ngày đi cưới chồng, vậy mà vào vũ trường họ phải đi sớm để ngồi đồng ở dãy bàn sát sàn piste. Cứ vào bất cứ sân chơi khiêu vũ suất Matinée (sáng 9g – 11g 30 – chiều 3g – 5g 30) đều có thể nhìn thấy một hàng dài các bà các chị ngồi với ly nước trước mặt. Bất cứ dân nhảy đàn ông nào cũng có thể hồn nhiên đến mời nhảy liên tù tì ba tăng các bà các chị cũng không một lời ta thán mà biết đâu còn được “âu yếm” mời dùng bia hoặc nước ngọt miễn phí.

… Ngọc D. dù tóc bà đã nhuộm đen tuyền, nhưng cứ xem những dấu chân chim nơi khóe mắt cũng có thể đoán bà trên 50. Theo lời bà kể với bè bạn thì bà có chồng. Hồi đó bà bỏ tiền ra cho ổng vượt biên nhưng sang đến Cali rồi sau vài năm còn thư từ qua lại rồi ổng biệt luôn. Nghe bạn bè báo tin là ổng có vợ mới và đã bỏ Cali đi ở đâu đó không còn ai gặp mặt, bà chị hận chồng nên mới đi học nhảy chơi cho bỏ ghét.

– “Sao chị, 10 năm vẫn làm đào chùa hoài sao, mắc gì chẳng kiếm mấy đấng mày râu để họ nâng khăn sửa túi cho bà chị?”.

Nghe hỏi bà D nhún vai như đầm:

– Bộ chú em tưởng bà chị không thử rồi hả? Ban đầu họ là bạn partenaire, sau tình cảm nhích lên một chút mấy ổng đòi làm bồ. Được làm bồ rồi đòi đồng hồ, xe Đờ – rim, đi ăn nhậu họ bắt mình trả tiền. Họ nâng khăn tới mức cái áo không còn, sửa túi hoài nên tiền trong ngân hàng gần cạn. Vậy nên cứ làm đào chùa, ai mời nhảy chơi, không thì ngồi đồng, cóc cần con ma nào nâng khăn sửa túi cả”.

… Ngoài dạng đào chùa do trời sinh ra dưới một vì sao xấu: hơi bị lớn tuổi, không có ngoại hình và nhan sắc đành đến vũ trường ngồi vật vờ chờ ai mời thì nhảy, còn có một dạng đào chùa khác họ đến đó để ngồi…câu.

Đây là dạng đào chùa U.40, có chút nhan sắc, ngoại hình tương đối đủ lôi kéo một anh già trốn vợ sẵn sàng chi địa.

Em Bông ‘cô đơn” là dạng đào chùa “cao cấp” nầy. Cũng cần mở một ngoặt đơn là dân chát – xình luôn xài “ngoại hiệu” để xưng hô với nhau thôi, còn tên thật của họ là gì ít ai chịu tiết lộ. Bông “cô đơn” là một thí dụ. Nước da trắng trẻo,tóc cắt kiễu “tém Nhựt” luôn chơi bộ đầm dây màu đen.

Do có ai đó tiết lộ rằng cô ta hồi trước là thợ chuyên xâu chuỗi hạt cườm để cung cấp cho nhà làm vòng hoa cườm để phúng điếu ma chay. Và vì thế mà có cái tên Bông “cô đơn” ra lò ở cái CLB khiêu vũ nầy. Bông “cô đơn” cũng đi chơi một mình và nhập vào hàng ngủ đào chùa nhưng không phải đụng ai mời cũng nhảy. Còn với mấy gã vũ nam chuyên chờ tiền boa thì đừng hòng Bông “cô đơn” dòm tới. Bông “cô đơn” chỉ chuyên nhảy với các ông tóc hoa râm trở lên.
Khi mới nhảy lần đầu với cha già trốn vợ đi ăn mãnh nào đó, cô nàng luôn giữ vẻ lạnh lùng như thể trái tim cô nàng đã chôn từ lâu lắm dưới những tảng băng lạnh giá để làm màu. Nếu như phát hiện “partenaire” của mình chỉ là một cha già đa mỗi ngày vợ chỉ cho dằn túi năm bảy chục ngàn thì lập tức không có lần sau nữa đâu anh ơi. Chàng có ân cần mời nhảy nàng cũng một mực lắc đầu “Hôm nay em mệt quá, xin lỗi”.

Có lần Bông “cô đơn” mở lời khuyên một bà chị già đương thất tình với một gã vũ nam. Bông “lên lớp” rằng:

– ”Bà hơi đâu mà vật vã với mấy thằng ấy. Xem em nè, đi nhảy phải chọn mấy lão ấm túi, chịu chi. Nó nhảy đẹp xấu bất cần. Có nhiều cha điệu gì cũng chỉ biết lắc lắc “xì – lô”. Mặc kệ, miễn sao sau khi nhảy nó dắt mình đi ăn, nó còn dám rủ mình đi Shopping mua sắm là được. Kể như mình ít ra cũng câu được một con cá. Sau nầy nếu gặp một con bự hơn thì vất con trước đi là xong lám gì phải lụy nó”.

Thợ câu” Bông “cô đơn” ngồi ở CLB khiêu vũ X được mấy năm nghe nói sau cùng câu được một con cá bề thế lắm. Gã nầy to cao, đầu đinh đúng điệu, đi chiếc A còng bá cố, đeo sợi dây chuyền to như dây xích chó. Hắn ta bảo đã ở nước ngoài 20 năm rồi, nay về đây định kinh doanh ngành bất động sản. Vậy thì kể như Bông vô mánh. Vì thế mấy suất nhảy có gã Việt Kiều đầu đinh nầy là cô nàng cười cười nói nói đeo dính nhảy ưỡn ẹo gợi tình như các vũ công chính hiệu.

Ai nấy đều tin rằng chị Bông lần nầy đã câu dính một con cá Nhà Táng rồi vì thấy cô nàng luôn có những bộ đầm mới, đồng hồ, lắc tay cũng đều mới. Thế là lọt vào hủ nếp, ấm cật; coi như vô lô độc đắc. Đùng một cái, một bữa kia chàng và nàng đang nhảy ngon lành thì bất ngờ xuất hiện bốn năm con “chằn tinh gấu ngựa” vây chặt và “uýnh hợp đồng” Bông một trận tê tái. Chẳng những vậy nó còn lột sạch dây chuyền, lắc, cà rá, đồng hồ túi xách của cô em….

Cafe 1“Cà phê đa hệ Sài Gòn”

trên my.opera.com/khaisang2002

Chuyện phiếm của Trương Đạm Thủy

… Dòng cà phê… vớ cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu.

Một người tên ông Chín “cù lủ”, một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao.

Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới… “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu. Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện văn chương và… rửa con mắt.
Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Pari (Pháp).

… Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa. Thời điểm nầy những nhà văn, nhà báo, các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ.

La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới thượng lưu Sàigòn.

… Có thể nói từ giai đoạn nầy người Việt Nam ở Sàigòn “thức tĩnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ quên và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác. Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái ‘đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao… nữa mà nó thuần túy chỉ có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…

Cafe 3…Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tăm tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bổng đêm đêm sáng lên rực rở ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui.

Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria nầy. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã.

… Cà phê vốn cùng đi với con đường lịch sử, mỗi một thời kỳ nó có một hình thức thể hiện bản chất và hình thái riêng. Trong khoảng 30 năm sau ngày đất nước thống nhất bước đường của cà phê đã có những bước tiến rõ rệt. Bây giờ là thời kinh tế thị trường, nghề kinh doanh cà phê không còn ở giai đoạn cà phê Tàu ngồi chân trên chân dưới mà húp cà phê vớ trong chiếc đĩa sứ cũ kỷ hay kiểu cà phê lề đường tuy vui nhưng vi phạm luật giao thông lấn chiếm lòng lề đường.

… Kinh doanh cà phê bây giờ phải có vốn hàng tỷ bạc. Vì nó không còn ở dạng Cafétéria nữa mà nó là Bar café, bề thế hơn, sang trọng hơn. Cơ ngơi kinh doanh mỗi nơi mỗi thể hiện một phong cách riêng để lưu giử một số khách hàng riêng.

Cà phê Sàigòn bây giờ sang hơn, thời thượng hơn dành cho một thành phần của cư dân có thu nhập cao hơn. Và bạn có bao giờ thử một buổi chiều đi vào một Bar café chưa? Đó sẽ là một không gian mát rượi chờ đón bạn. Gọi cà phê hay một cốc rượu nhỏ ngồi đó nghe tiếng nhạc nho nhỏ và bạn cũng chẳng cần nhìn ra khung cảnh bên ngoài làm chi.

Ở đây có biết bao “cánh hoa” đẹp: các cô phục vụ bàn, các em PR và những người đẹp từ bốn phương trời ‘đáp nhẹ” về đây. Cà phê và rượu sẽ còn phê hơn khi bạn sẽ mản nhản với những đôi chân dài chập chờn trong thứ ánh đèn mờ ảo như ru bạn vào những giấc mơ đến dại khờ… Giá cà phê ở những nơi nầy tất nhiên là hơi đắc, không biết vì tại chổ ngồi sang, vì cà phê sản xuất từ trên Sao Hỏa hay tại các chiếc áo lửng hai dây và những cái chân dài.

“Ái tình tuổi Teen… xưa và nay”

H Teen 1trên nguyenlequan.blogspot.com

Bài của Khách Giang Hồ

CHUYỆN XƯA…. Ngày trước, theo người viết còn nhớ, vào thập niên 60 của thế kỷ trước, lớp tuổi Teen như thế đã có phong trào yêu cuồng sống vội, được gọi “CTY” tức “Cho Tình Yêu”, có đời sống rất vô tư trong vấn đề tình dục. Phong trào CTY đã nở rộ khắp các trường học từ Đệ Nhị Cấp trở lên, từ trường nữ sang đến trường nam.

Ở Sài Gòn có mấy trường nữ sinh học riêng như Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt trong nhà vệ sinh luôn thấy chuối già, chuối sứ được vất tung toé bừa bãi. Mới đầu các giám thị khi nghe các bác lao công lên tiếng báo động lại nghĩ rằng, thứ trái cây dùng làm tráng miệng này chắc bị hư thúi, dập ủng nên các nàng mới bỏ đi. Sau mới “tá hỏa tam tinh” hiểu rằng, các nàng tuổi Teen đang… “tự xử” cho cái gọi là “ăn quen nhịn không quen”, vì trái chuối đã chín tới đâu mà dập ủng hư thúi ! Thế là các trường cấm nữ sinh mang chuối đi học, ai không chấp hành sẽ bị “cấm túc” một tháng !….

Bên trường nam thì không như nữ, vì giới chưa “đủ lông đủ cánh” này thường hẹn hò với các nữ sinh “cúp cua” đi vào rạp xi-nê trong lúc tối mò mò làm trò con khỉ ngay tại ghế ngồi hay trong những toa-lét lúc vắng người.…

Cho nên những cuộc choảng nhau diễn ra ngay trong trường hay từ trường này qua trường kia diễn ra hàng ngày; khiến mấy anh nhà báo thích tìm tòi tin tức vào cuộc điều tra để làm phóng sự. Mới biết có phong trào CTY.

H Teen 2CHUYỆN NAY…. Chuyện chụp hình nude (khỏa thân) ở nước ta có từ trước năm 2000 khi mọi người đang đồn đoán thế giới sắp “tận thế” trái đất sẽ nổ tung (?!), thế là mọi người từ già đến trẻ đi tìm người để “ôm”, để có chết cũng biết thế nào thứ ái tình xác thịt mà tạo hóa đã bày ra từ vườn Địa Đàng. Riêng các bà “sồn sồn” hãy còn xa lạ với Chát với Voice trên mạng Internet, cho nên nhiều bà “xí xọn” đi chụp ảnh nude hết cả cuộn phim 36 tấm, rồi trân trọng bày hàng trong quyển album bỏ túi nhờ người giới thiệu cho vài anh “kép trẻ” biết đến thân già. Chuyện tiếp thị kiểu mới này đã có hiệu quả tức thời. Nhiều anh thanh niên mới lớn đôi khi còn vớ được mối bở, được mấy bà nạ dòng săn đón rối rít, cung phụng từ A đến Z.

Thế là các cô nàng tuổi Teen cũng bắt chước đi chụp ảnh nude dùng để khoe hay dùng để thi thố thân thể với bạn bè, coi ai đẹp hơn, hoặc giống như mấy bà góa, nạ dòng dùng ảnh đi tiếp thị để kiếm bồ. Chỉ khiến mấy bác phó nhòm một phen no mắt, thấy có người như trái chanh trái táo có người lại như trái cam trái bưởi thi nhau khoe thân thể trước ống kính; trước đây cửa tiệm còn xập xệ bỗng phất lên thành nhà lầu, trưng bảng quảng cáo “chụp đủ model đẹp, thẩm mỹ”. Còn các anh chàng nhí chưa mọc “đủ lông đủ cánh” cứ thấy hình cô bạn học đang nude 100% trong ảnh đâm ra thèm thuồng rồi sinh tà ý… chết người !

Cafe den 2“Văn hóa cà phê… đen”

trên nguyenlequan.blogspot.com

Bài của Khách Giang Hồ

… Các dãy “nhà lá” này tuy nhếch nhác và không cần biết khách có chê bai không, nhưng thức uống nào giá cũng “bèo” nhất là 50.000 đồng. Đổi lại, nếu khách đi một mình sẽ được hướng dẫn vào khu vực có mấy cô “tiếp viên” chờ sẵn, sẵn sàng màn thổi kèn tây hay kéo đàn cò cho khách.

….Còn ở tại khu cà phê sân vườn bên Thanh Đa – Bình Quới, gần đây lại có một chiêu kinh doanh mới thu hút khách hàng. Trước đây các quán cũng dựng những căn nhà chòi, nhưng từ khi có loạt đĩa hình quay lén các cô cậu đang “tự xử”, hiện nay các quán đồng loạt bỏ hết bàn ghế để khách uống cà phê… trên giường. Như càng trêu gan “mấy tên” thích quay phim lén đưa lên mạng hay sang thành đĩa sex để bán buôn.

Mới đây đang rộ lên một đĩa VCD phim sex lấy tựa “Nữ sinh Ngô Quyền” xuất hiện trên thị trường đĩa lậu, mở màn cho hàng loạt những phim ngắn, phim dài với nội dung thật trần trụi, đang gây sốc với giới thích phim “nghèo”.

Cafe den

Hầu hết là những đoạn phim quay lén trong quán cà phê đèn mờ, nhân vật chính là những đôi tình nhân tuổi học trò bị biến thành diễn viên bất đắc

dĩ. Đặc biệt, phim này còn làm người xem bất ngờ bởi những cận cảnh quay nhiều khuôn mặt non choẹt với ba lô, cặp táp, phù hiệu còn hiện rõ tên trường trên ngực áo của một số nữ sinh không biết vô tình hay cố ý để đóng cuốn phim dài gần 2 giờ này.

Trở lại vụ cà phê… trên giường; quán cà phê Hoa Sữa chiều chiều thường có vài chục đôi tình nhân trẻ trung vào quán, nhưng bên trong lại yên ắng lạ lùng. Quán này được thiết kế như nhà trọ với những căn phòng kín mít, chạy dọc theo hành lang. Mỗi phòng có một giá nhỏ đặt vừa đủ hai chai nước, hai cái khăn và một chiếc ghế bọc da dài khoảng 1,5 m. Trong bóng tối tràn ngập những tiếng thở, tiếng rên siết hay tiếng thì thầm nhắc nhở nhau….

Cúng sao giải hạn (bài 2)

XEM SAO GIẢI HẠN

– Thiên Việt (Bài 2)

Bang tinh Sao Han 2

Tính chất Sao Hạn

1- THÁI BẠCH : Sao Kim Tinh  : lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19  – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

2- Sao THÁI DƯƠNG : Mỗi tháng cúng ngày 27 âl, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhựt Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

3-  Sao THÁI ÂM : Hàng tháng vào lúc 19 tới  21 giờ tối vào ngày 26 âl, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái.  Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl  – Kỵ  tháng 11 âl.

4- Sao KẾ ĐÔ  : Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âl nên cúng giải vào ngày 18 âl ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Thiên Vỉ Cung Phân Kế Đô tinh quân”, thắp 20 ngọn đèn, lạy 20 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần vỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21  đến 23 giờ

5- Sao LA HẦU là khẩu thiệt tinh :  sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âl nên cúng giải vào ngày 08 âl, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21  đến 23 giờ .

6- Sao THỦY DIỆU sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .

Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âl, nên cúng giải hạn vào ngày 21 â.l, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

7-  Sao THỔ TÚ tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âl, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âl, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

8- Sao MỘC ĐỨC tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ

9- Sao VÂN HỚN tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âl cúng ngày 29 âl, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

Cách Khấn : “Cung Thỉnh Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hớn Tinh Quân Vị Tiền”.

THẬP NHỊ ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN

Tại sao mọi nhà thường cúng lúc Giao thừa, vì ngoài việc đón vong linh ông bà cha mẹ “về” ăn tết cùng gia đình; trong dân gian mọi người còn nghĩ đến hàng năm đều có một vị hành khiển tức đương niên chi thần, trông coi cõi nhân gian việc làm tốt xấu của mọi người, để cuối năm về Thiên Đình báo cáo công tội mỗi người, mọi gia đình để có công thì thưởng làm ác thì phạt (thưởng phúc phạt ác) đôi khi thưởng phạt ngay sau công tội.

Các đương niên chi thần mang tên Tý, Sửu, Dần… cho đến Hợi, tức tên12 con giáp, đồng thời ứng với một vị tinh tú.

Vị hành khiển này trông coi tất cả mọi việc trên thế gian, làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người no ấm, hay trái lại sẽ gây ra tai ương dịch họa v.v..

Trong triết học Trung Quốc hay phương Tây, người ta đều đề cập đến vòng Hoàng đạo nằm trên vũ trụ, được chia thành 12 cung cách nhau 30o và đặt mỗi cung một tên từ Tý đến Hợi hay từ Bạch Dương đến Song Ngư.

Tên các con vật (Thập nhị chi) ứng với mỗi cung chỉ là hình dạng của các chòm sao có thật ở ngay cung đó, rồi hình tượng hóa thành tên gọi (theo phương Tây). Mỗi cung có ảnh hưởng đến tiết khí trên trái đất và con người đang sống trên hành tinh này.

Ngoài ra trong vũ trụ có sao Mộc (Jupiter) mà ta gọi là sao Thái Tuế, hàng năm đi ngang qua một cung trên đường Hoàng đạo, với chu kỳ 12 năm mới giáp hết vòng một quỹ đạo ứng với 12 cung trên.

Nên có thứ tự của vòng quay của sao Mộc, gặp 12 cung Hoàng đạo trong 12 năm như sau :

– Năm Thìn (Rồng)̀     0o- 30o           sao Bạch Dương

–           Tỵ (Rắn)          30 – 60            sao Kim Ngưu

–           Ngọ (Ngựa)    60 – 90           sao Song Nam

–           Mùi (Dê)        90 – 120           sao Bắc Giải

–           Thân (Khỉ)      120 – 150        sao Hải Sư

–           Dậu (Gà)        150 – 180       sao Xử Nữ

–           Tuất (Chó)     180 – 210        sao Thiên Xứng

–           Hợi (Lợn)        210 – 240      sao Hổ Cáp

–           Tý (Chuột)      240 – 270        sao Nhân Mã

–           Sửu (Trâu)       270 – 300      sao Nam Dương

–           Dần (Cọp)       300  – 330     sao Bảo Bình

–           Mão (Mèo) *     330 – 360   sao Song Ngư

* Lịch Trung Quốc gọi năm con mèo (Mão) là năm Thố tức con Thỏ.

Nên khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu v.v… vì vậy sao Mộc còn gọi là sao năm hay sao Thái tuế.

Chúng ta gọi sao Thái Tuế là vị “Hành khiển thập nhị chi thần” trông coi các đương niên hành khiển, tức dưới Thái Tuế có thêm vị Phán quan là mỗi vì sao một năm, là 12 vị hành khiển như đã nói; trông coi ghi chép việc làm trong dân gian để soạn tấu tâu trình trước Ngọc Đế cuối năm, và Ngọc Đế sẽ chỉ dụ cho vị Phán quan hành khiển sắp xuống trần thay người cũ mà thưởng phạt.

Riêng về người lại có 2 vị hành khiển và hành binh trông coi bản mệnh :

Hành Binh, Hành Khiển

Ngoài 12 vị hành khiển được gọi đương niên chi thần dưới trướng sao Thái Tuế tức “Hành khiển thập nhị chi thần”, luân phiên trông coi thế gian trong 12 năm.

Ngoài ra theo quan niệm, mỗi năm còn có một ông hành khiển và một ông hành binh cai quản số mạng con người qua Sao Hạn trong 12 năm đó, coi việc thưởng phúc phạt ác qua cách hành xử của mỗi người trong việc làm và sự an nguy (trong dân gian chỉ biết tên Sao Hạn như đã nói). Đi theo vị đương niên chi thần, là các vị hành khiển hành binh mỗi năm mang tên :

– Năm Tý :       Châu Vương hành khiển, Chúa Thiên Ôn hành binh

– Năm Sửu :   Triệu Vương hành khiển, Tam Thập Lục Thương hành binh

– Năm Dần :   Ngụy Vương hành khiển, Mộc Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Mão :   Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Thìn :    Sở Vương hành khiển, Hỏa Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Tỵ :       Ngô Vương hành khiển, Thiên Hạo Hứa Tào hành binh

– Năm Ngọ :   Tấn Vương hành khiển, Thiên Hạo Vương Tào hành binh

– Năm Mùi :    Tống Vương hành khiển, Ngũ Đảo Lầm Tào hành binh

– Năm Thân:   Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu Tống Tào hành binh

– Năm Dậu :   Lỗ Vương hành khiển, Ngũ Nhạc Cự Tào hành binh

– Năm Tuất :   Việt Vương hành khiển, Thiên Bá Thành Tào hành binh

– Năm Hợi :    Lưu Vương hành khiển, Ngũ Ôn Nguyễn Tào hành binh

Vị hành khiển thuộc quan văn, còn vị hành binh thuộc quan võ, coi trực tiếp qua Sao Hạn và cách tu thân tích đức mỗi người mà luận công tội thưởng phạt ngay trong năm.

Nói về đề mục này nhằm giúp mọi người tìm hiểu và cách khấn khi cúng vào đêm Giao thừa hàng năm.

CÁCH CÚNG NĂM TAM TAI :

Ngoài cúng Sao giải Hạn hàng năm, những tuổi gặp năm Tam Tai cũng nên cúng giải như sau :

1. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp năm Dần, Mão, Thìn thì có Tam Tai. Năm Dần là đầu Tam tai, năm Mão giữa Tam tai, năm Thìn cuối Tam Tai.

2. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp năm Thân, Dậu, Tuất thì có Tam Tai.

3. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp năm Tỵ, Ngọ, Mùi có Tam Tai.

4. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp năm Hợi, Ty, Sửu có Tam Tai.

Cúng thần Tam Tai: cổ nhân thường căn cứ Tam Tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai. Xem bảng sau đây:

Năm Tý: Ông Thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc

Năm Sửu:  Ông Đại Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc

Năm Dần: Ông Thiên Hình, cúng ngày 15, lạy về hướng Đông Bắc.

Năm Mão: Ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy hướng Đông

Năm Thìn: Ông Thiên Cướp, cúng ngày 13, lạy hướng Đông Nam.

Năm Tỵ: Ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy hướng Đông Nam.

Năm Ngọ: Ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy hướng Tây Nam

Năm Mùi: Ông Bạch Sát, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Thân: Ông Nhơn Hoàng, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Dậu: Ông Thiên Họa, cúng ngày 7, lạy hướng Tây.

Năm Tuất: Ông Địa Tai, cúng ngày 6, lạy về hướng Tây Bắc

Năm Hợi: Ông Địa Bại, cùng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.

Lễ cúng: Trầu cau: 3 miếng, thuốc lá: 3 điếu, muối, gạo, rượu, vàng tiền, hoa, quả. Lấy một ít tóc rối của người có hạn Tam Tai, bỏ vào một ít tiền lẻ, gói chung lại với gạo, muối, còn tiền vàng thì hóa, cúng tại ngã ba, ngã tư đường, vài tuổi và tên của mình, đem bỏ gói tiền, có tóc và muối gạo đó ở giũa đường mà về thì hạn đỡ.

Thiên Việt

Cúng sao giải hạn (bài 1)

XEM SAO GIẢI HẠN

– Thiên Việt (Bài 1)

Chúng ta từng nghe nói về những phương pháp soạn âm lịch còn gọi là “Lịch pháp”, là các cách vận hành an tọa các tinh đẩu trong lịch vạn sự.

Sau đây chúng tôi viết về khái niệm tốt xấu (cát – hung) của từng tinh đẩu trong văn hóa thần bí, phân tích tính chất của từng tinh đẩu đó, hầu giúp bạn đọc dễ dàng trong tham khảo khi tính sự cát hung của chúng liên quan đến đời sống hàng ngày của chúng ta.

– TÍNH CHẤT

Trong quan điểm cho rằng tinh đẩu trong âm lịch phương Đông là tinh tú có thật trong vũ trụ quan, mỗi tinh đẩu đều có ảnh hưởng đến cho cộng đồng xã hội, như sao chổi xuất hiện ở phương nào, người ta cho rằng nơi đó sẽ xảy đến đói kém hay binh biến; hay với cá nhân mỗi khi có sao kiết, sao hung ứng chiếu với mệnh vận con người.

Như năm tuổi có sao Thái Tuế chiếu mệnh, thường hay gặp tai ương bệnh tật hay cả chết chóc, do thông thường vào những năm tuổi nhất là vào tuổi 37, con người hay mang vận rủi thật nặng nề, có lúc nhà tan cửa nát, vì ngoài sao Thái Tuế (Mộc Tinh) chiếu mệnh, còn là năm nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô là hai ác tinh trong 9 sao hạn (Cửu diệu) hàng năm

Hay như sao “Thái Bạch (Kim Tinh) làm sạch cửa nhà”, rồi sao Hỏa Tinh tiếp bước theo sau để thành câu than thân trách phận “31 chưa qua, 33 đã tới” đó là nhữ̃ng năm mang đến đại hung cho mọi người, nhưng nhất là nam giới.

Xét qua tính chât của câu nói trên, năm 31 tuổi gặp sao Kim Tinh (Thái Bạch), năm 33 tuổi gặp sao Hỏa Tinh (Vân Hớn), hai sao này chủ về tai tinh (tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo, kiện thưa tranh cãi, tù tội, phá sản) v.v…

Cả 3 sao Mộc Tinh (lưu ý sao Thái Tuế khác tính chất với sao Mộc Đức trong Cửu Diệu, thuộc Triều ngươn tinh chủ về hôn sự), Kim Tinh (Thái Bạch), Hỏa Tinh (Vân Hớn) là những tinh đẩu có thật trong vũ trụ, nằm trong bộ sao Cửu Diệu hàng năm, cách tọa chiếu của chúng tính theo tuổi âm lịch như 2 bảng Sao Hạn sau đây :

Bang tinh Sao Han

2 bảng Sao Hạn trên là những năm trong mỗi người chúng ta gặp sao Cửu Diệu chiếu, tức tiểu hạn hàng năm, tuổi nam nữ xem riêng (trên bảng hình : nam xem sao bên trái, nữ xem sao bên phải, tuy cùng tuổi nhưng khác sao).

Tính chất sao Cửu Diệu như sau :

1- La Hầu : khẩu thiệt tinh, chủ về ăn nói thị phi, hay liên quan đến công quyền, nhiều chuyện phiền muộn, bệnh tật về tai mắt, máu huyết. Nam rất kỵ, nữ cũng bi ai chẳng kém. Kỵ tháng giêng, tháng bảy.

2- Kế Đô : hung tinh, kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám, đi làm ăn xa lại có tài lộc mang về.

3- Thái Dương : Thái dương tinh (măt trời) tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui, tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách.

4- Thái Âm : Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười. Nữ có bệnh tật, không nên sinh đẻ̉ e có nguy hiểm. Chủ về danh lợi, hỉ sự.

5- Mộc Đức (Mộc tinh) : Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng mười và tháng chạp.

6- Vân Hớn (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

7- Thổ Tú (Thổ tinh) : Ách Tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng tư, tháng tám.

8- Thái Bạch (Kim tinh) : Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng năm và kỵ màu trắng quanh năm.

9- Thủy Diệu (Thủy tinh) : Phước lôc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu.

Còn về hạn mỗi người hàng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu, còn về tính chất :

1- Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài

2- Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi

3- Ngũ Mộ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của

4- Thiên Tinh (Xấu) bị thưa kiện, thị phi

5- Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài

6- Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên

7- Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội

8- Diêm Vương (Xấu) người xa mang tin buồn

Với Sao Hạn mỗi năm, thí dụ như người tuổi Giáp Ngọ (1954) vào năm Mậu Tý (2008 tức được 55 tuổi âm lịch) sẽ gặp sao La Hầu, hạn Tam Kheo, mang ý nghĩa :

– Đề phòng khi ăn nói kẻo gặp chuyện thị phi, năm nay có thể liên quan đến công quyền gây nhiều chuyện phiền muộn. Coi chừng bệnh về tai mắt, máu huyết. Nam đại kỵ gặp La Hầu và nữ cũng buồn đau chẳng kém. Sao này kỵ vào tháng giêng, tháng bảy. Hạn Tam Kheo thuộc tiểu hạn không đáng lo, chỉ chủ về tay chân nhức mỏi.

Ngày xưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng thường lập đàn cúng sao để tự giải hạn, từ đó mọi người theo cách của Khổng Minh, hàng năm xem Sao Hạn mà cúng lễ cầu an (hội sao hàng năm vào mùng 8 tháng giêng âm lịch).

Nhìn bảng sao Cửu Diệu chúng ta thấy nam giới có hai năm tuổi găp sao Thái Tuế củng chiếu, là năm 37 và 49 trùng với sao La Hầu và Thái Bạch là nặng, còn nữ vào tuổi 37 với sao Kế Đô. Những năm khác nam có La Hầu, nữ gặp Kế Đô cũng không đáng lo vì không có sao Thái Tuế củng chiếu.

CÚNG SAO GIẢI HẠN

Năm nào ai gặp Sao Hạn nào thì cúng sao giải hạn theo tính chất của từng sao như cách sau đây :

Bài khấn mẫu : KHẤN CÚNG SAO GIẢI HẠN

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba cái rồi đọc :

Cung Thỉnh :

– Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Sao Kế Đô chiếu mạng) – Địa Võng Tôn Thần chư vị (Hạn Địa Võng –  ai gặp sao hạn nào, đọc tên sao hạn đó như đã diễn giải nơi trên).

Đệ tử lòng thành đốt nén nhang,

Cầu xin Phật Thánh giải tai ương,

Giúp trong lê thứ đều khương hão,

Gia nội nhân nhân đắc kiết tường..

Lại lạy 3 cái,rồi khấn tiếp :

– Việt Nam quốc, tỉnh thành……. con đang ở tại ngôi gia số…… đường……… Quận………. (địa chỉ).

– Tên là ……………. Niên canh……. (tức tuổi Can Chi) ……….. (mấy tuổi âm lịch)

Năm nay vận gặp Tinh Quân Hạn Thần : Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân, Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Thành tâm thiết lễ xin giải hạn nhương tinh,

Lòng thiền cúi lạy khả tấu khẩn cầu :

“TRUNG THIÊN TINH CHỦ BẮC CỰC – TỬ VI ĐẠI ĐẾ NGỌC HOÀNG BỆ Hạ.

Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân – Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Các ngài đang cai quản mạng căn, xem xét vận hạn, từ bi liên mẫn, phổ tế phàm thai, ân cao đức cả, soi thấu lòng thành.

Cầu cha mẹ an sinh trường thọ,

Phật Thánh đồng gia hộ cháu con,

Trong nhà đều hạnh phúc tăng long.

Lớn nhỏ thảy đều an lạc.

Nguyện xin Tinh Quân – Hạn Thần, giải trừ họa tai, bệnh tật. Dứt tà hung, gặp điều lành.

Con lòng thành khấu đầu khẩn xin.

Lạy ba lạy và niệm câu :

– Nam mô A Di Đà Phật !

– Nam mô Tiêu tai Giáng kiết tường Bồ tát.

(Lạy tất ba cái)

(Xem tiếp bài 2)