9 ĐIỀU KIÊNG KỴ TRONG TIẾT THANH MINH

5 DANH THẮNG PHẬT GIÁO

Ở CHÂU Á

NÊN ĐẾN HÀNH HƯƠNG

Phật giáo là một trong những hệ thống niềm tin có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới. Được hình thành từ hơn 2.500 năm trước, Phật giáo chỉ ra cho con người cách đoạn diệt khổ đau và triết lý Phật giáo đã bám rễ sâu rộng đến mọi ngóc ngách trên hành tinh này, kể từ những ngày đầu tiên ra đời.

Sức ảnh hưởng của Phật giáo trải dài với những tác động về niềm tin của hàng triệu con người trong lịch sử và cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khơi gợi niềm cảm hứng từ những danh thắng tuyệt vời nhất, đậm chất Phật giáo mà thế giới đã và đang được chiêm ngưỡng.

Tuy cùng một niềm cảm hứng, các chùa chiền và đền đài Phật giáo được kiến thiết với nhiều hình dáng và quy mô khác khau với những phong cách riêng biệt, đặc thù.

Dưới đây là 5 điểm tham quan Phật giáo nước ngoài tuyệt vời, tô điểm và in đậm hơn dấu ấn Phật giáo có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, mà theo mô tả của tác giả Nicholas Liusuwan, người chia sẻ các điểm tham quan này trên trang Huffington Post là “5 danh thắng Phật giáo độc nhất vô nhị mà bạn nhất định phải đến tham quan và chiêm bái”.

1/- Bảo tháp Đại Giác, Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) : Được đề xuất là di tích lịch sử Phật giáo đầu tiên nhất và đáng chiêm ngưỡng nhất trong danh sách các thắng tích, bảo tháp Đại Giác tọa lạc ở nơi Đức Phật lịch sử chứng đạt sự giác ngộ hoàn toàn với cây bồ-đề ngàn năm tuổi. Thánh địa này đặc trưng bởi tháp trung tâm được xây tạo bằng gạch cao gần 55 mét, bao bọc chung quanh là bốn tòa tháp nhỏ hơn.

Rải rác quanh ngôi đại tháp là các tháp nhỏ và các tôn tượng Đức Phật bên ngoài tháp trung tâm cùng với những bức tường khắc họa cuộc đời của Ngài. Ngôi tháp được tin là do A Dục vương xây dựng 200 năm sau khi Phật thành đạo. Bảo tháp Đại Giác được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2002.

2/- Chùa Shwedagon, Yangon (Myanmar) : Chùa Shwedagon (còn được gọi là chùa Vàng) có lẽ là một trong những ngôi chùa chói sáng nhất trên thế giới. Ngôi chùa lấp lánh ánh vàng có chóp cao khoảng 100 mét, được khảm hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc và các loại đá quý khác.

Đây được xem là thánh tích của Phật giáo; ấn tượng là ngôi tháp chính được đính viên kim cương 76 carat. Không ai biết rõ niên đại của ngôi chùa cổ theo truyền thống Nguyên thủy này; tuy nhiên các nhà sử học đều đồng tình rằng ngôi chùa có thể được kiến lập trong khoảng thế kỷ thứ VI-X. Về đêm, từ khoảng cách khá xa, ngôi chùa Vàng có thể được nhìn thấy rất rõ.

3/- Phật Quang Sơn, Cao Hùng (Đài Loan) : Chùa Phật Quang Sơn ở thành phố Cao Hùng (Đài Loan) có lịch sử lâu đời và “mang đến sự trải nghiệm Phật giáo khó phai cho thế giới hiện đại”. Ngôi chùa thuộc truyền thống Đại thừa này được thiết kế theo kiến trúc và đặc trưng đền đài truyền thống của Đông Nam Á, nổi bật với nhiều điện thờ tráng lệ, các tòa kiến trúc đồ sộ phục vụ cho nhiều hoạt động tôn giáo phong phú ngay trong nội viên.

Du khách có thể tham quan Bảo tàng Phật giáo Phật Quang Sơn, một trong những bảo tàng Phật giáo đương đại ấn tượng nhất trên thế giới. Bên trong bảo tàng bao gồm các triển lãm Phật giáo theo chủ đề đặc sắc và toàn diện, các lễ hội và sự kiện thường xuyên được diễn ra và đây còn là nơi lưu giữ xá-lợi răng của Đức Phật.

4/- Chùa Phra Dhammakaya, Pathum Thani (Thái Lan)  : Đây là ngôi chùa “vén màn” Phật giáo hiện đại trong thế giới ngày nay. Nổi tiếng với các phương pháp truyền đạo hiện đại, ngôi chùa Nguyên thủy này còn ấn tượng bởi diện tích rộng và phong cách thiết kế hiện đại.

Được kiến tạo năm 1970, ngôi chùa mang đặc trưng phong cách Thái chứa đựng bên trong đó nhiều cảnh quan đặc sắc, phải kể đến là ngôi tháp hiện đại và mỹ lệ với một ngàn tượng Phật, nhiều cổ vật Phật giáo và thiền đường có sức chứa đến hàng ngàn hành giả.

Ngôi chùa có diện tích khoảng 100 hecta, lớn gấp đôi diện tích Công quốc Monaco. Tuy vậy, ngôi chùa lại có hệ thống đường sá vào nội khu vô cùng hoàn chỉnh, được trang bị đầy đủ các phương tiện di chuyển đáp ứng mọi nhu cầu ngoạn cảnh của khách viếng chùa.

5/- Chùa Borobudur, Magelang (Indonesia) : Chùa Borobudur cổ xưa nằm trên đảo Java, Magelang (Indonesia) là điểm đến Phật giáo phổ biến nhất trong số năm danh thắng này. Ngôi chùa cũng là di sản văn hóa thế giới, được cấu trúc bằng nhiều nền tầng dẫn bước du khách vào hành trình của vũ trụ quan Phật giáo. Khu chùa được trang hoàng bằng nhiều ngôi tháp và rải rác với các bức điêu khắc mô tả về giáo lý nghiệp và những câu chuyện Phật giáo.

Ngôi chùa được xem là điểm hành hương thiêng liêng của Phật tử ở Indonesia và là nơi tổ chức Đại lễ Tam hợp hàng năm của đất nước này. (theo Trần Trọng Hiếu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ

KHÔNG NÊN LÀM

TRONG TIẾT THANH MINH

Tiết Thanh Minh (vào tháng 3 âm lỊch, năm Mậu Tuất vào ngày 5/4 dươmh lịch) không chỉ là ngày lễ truyền thống đối với người Việt Nam mà còn là một trong 12 tiết khí quan trọng trong năm.

Trong tiết khí quan trọng này có 9 điều kiêng kỵ tuyệt đối bạn không nên làm trong tết Thanh Minh để tránh gặp xui xẻo. Đây không chỉ là dịp để con cháu bày tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, mà còn là cơ hội để gìn giữ truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tiết Thanh Minh năm nay đang đến gần, có những điều gì cấm kỵ nên tránh trong những ngày này ? Sau đây là 9 điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, hãy chú ý chớ nên mắc phải những điều này.

1/. Tổ chức việc hỉ, sinh nhật hay tiệc tùng vui chơi giải trí : Tiết Thanh Minh là dịp con cháu hướng về nguồn cội, tưởng nhớ ông bà tổ tiên, tỏ lòng hiếu kính, nhớ thương người đã khuất. Nếu sinh nhật trùng hợp rơi đúng vào tiết Thanh Minh, tốt nhất nên tổ chức sớm vài ngày. Đặc biệt tuyệt đối không làm mừng thọ cho người già vào dịp này, không nhận hoa chúc mừng, cũng không ăn bánh sinh nhật ngày hôm đó.

Theo dân gian truyền lại, làm vậy sẽ tránh phạm điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, giúp người già hưởng thêm phúc lộc, thượng thọ bình an. Tương tự, kết hôn là chuyện đại sự cả đời, không thích hợp tổ chức vào thời điểm này. Đám cưới là chuyện vui mừng, thường được tổ chức rình rang, mà tiết Thanh Minh âm phần thịnh, hoạt động chủ yếu là tế tổ, tảo mộ, tưởng nhớ người đã khuất nên làm lễ kết hôn không những không được may mắn mà còn có phần bất kính với tổ tiên.

Hơn nữa, thời điểm này trời thường mưa phùn rả rích, đường xá ướt át, lấm bẩn, ách tắc, mọi người ai cũng bận rộn với việc đi tảo mộ, sắp xếp tham dự đám cưới có phần khó khăn. Nếu có đi được cũng chỉ là tiện đường qua uống chén rượu chia vui, tạo cảm giác đám cưới của bạn không được mọi người coi trọng.

Ngoài ra, nếu do nhiều nguyên nhân mà không thể đi tảo mộ, ở nhà cũng nên hạn chế tổ chức tiệc tùng vui chơi giải trí, càng không nên chửi bới, đánh nhau hay nói lời báng bổ thánh thần, kẻo sau này hậu họa khôn lường.

2/. Mặc quần áo màu mè sặc sỡ : Theo quan niệm dân gian, trong tiết Thanh Minh đặc biệt cấm kị mặc đồ rực rỡ, ngay cả nội y hay trang sức đi kèm cũng phải chú ý không dùng màu đỏ, không mang theo vật kim loại dễ gây tiếng động. Có người lại cho rằng dịp này nên mặc quần áo rực rỡ như màu đỏ hoặc vàng, còn quần áo màu đen nhìn xui rủi, dễ nhiễm âm khí.

Đây là một suy nghĩ sai lầm. Tiết Thanh Minh đi tảo mộ là việc quan trọng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, mặc trang phục thanh lịch, chỉnh tề cũng chính là tỏ lòng tôn kính với người đã khuất. Đồ tối màu như màu đen, màu tím không chỉ trang trọng, nghiêm túc mà còn là màu sắc thể hiện sự nhung nhớ, tiếc thương với người đã khuất. Tuy nhiên, người có sức khỏe không tốt, phụ nữ hay trẻ em trong thời gian này vẫn có thể mang theo mình những đồ phong thủy màu đỏ để trừ tà đuổi quỷ.

3/. Đi du lịch hay thăm hỏi bạn bè, người thân : Tốt nhất nên tránh tiết Thanh Minh, chọn dịp khác đi thăm bạn bè, người thân. Lúc này đến chơi nhà, chẳng những không thích hợp mà còn có phần kém may mắn, là điềm xấu cho cả khách và gia chủ. Nếu thực sự cần thiết, hẹn gặp mặt ở bên ngoài là thích hợp nhất. Du lịch cũng là điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Đây là thời gian dành cho việc tảo mộ và cúng tế tổ tiên, tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và trân trọng quá khứ. Chỉ nên kết hợp tảo mộ cùng với về quê thăm lại cố hương, hít thở không khí trong lành mùa xuân nơi thôn dã. Nếu lỡ xếp lịch đi chơi vào thời điểm này thì phải đặc biệt chú ý, tránh đi đến những nơi núi non nhiều người đi tế lễ, không được nói chuyện xui rủi, càng không được buông lời bất kính với người đã khuất.

Ban đêm cũng nên hạn chế các hoạt động vui chơi giải trí. Khi thuê nhà nghỉ, khách sạn, tránh chọn phòng khuất nẻo, nằm cuối hành lang. Nếu phải để giày dép bên ngoài phòng, nên để mũi giày hướng ra ngoài. Không nên ở một mình nơi hoang vắng, dễ bị tổn hao nguyên khí.

4/. Tùy tiện chụp ảnh : Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, số người sở hữu máy ảnh hay điện thoại có chế độ chụp ảnh ngày càng nhiều, song không phải ai cũng biết tùy tiện chụp ảnh cũng là một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Không nên chụp ảnh ở nghĩa trang, lăng mộ. Không chụp ảnh với người lạ, đặc biệt sau 3 giờ chiều tuyệt đối không được chụp ảnh bừa bãi, vì biết đâu còn có thứ gì khác lọt vào trong ảnh của bạn. Gặp cây cổ thụ, đồ cổ hay nhà cửa, kiến trúc lâu đời cũng không nên tùy tiện chụp ảnh.

Người xưa cho rằng cây cối, đồ vật hay nhà cửa lâu năm đều có linh hồn trú ngụ, không cẩn thận phạm điều bất kính sẽ gây hậu họa khôn lường. Ban đêm không nên chụp ảnh trong gương, bởi gương thuộc tính âm, dễ nhuốm âm khí. Tiết Thanh Minh âm khí vượng, dù là chụp ảnh người khác hay chính mình trong gương cũng đều không tốt, không may có thể nhìn thấy thứ không nên thấy.

Tương tự, đi chơi đêm tốt nhất không nên chụp ảnh, cũng đừng lấy đèn pin soi rọi lung tung, dễ kích thích những thứ đen tối đi theo mình. Khi đi đền chùa, không nên đứng dưới chân tháp chụp ảnh. Tháp được dùng để trừ tà, dễ gây cảm giác bức bối, khó chịu cho người chụp ảnh.

Ngoài ra, nên cân nhắc trước khi chụp ảnh cùng tượng Thần, tượng Phật vì có thể gây tổn hao nguyên khí. Nên tránh chụp ảnh 3 người. Xưa kia các họa sư không bao giờ vẽ 3 người vào cùng một bức tranh, vì người ở giữa sẽ bị người ở 2 bên đè ép. Tuy nhiên, nếu 3 người là người một nhà hay bạn bè thân thiết thì không có vấn đề gì. Nếu chỉ là đồng nghiệp hay đối tác làm việc thì nên cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến vận khí của mình.

5/. Đi tảo mộ người ngoài : Đi tảo mộ là tập tục truyền thống trong tiết Thanh Minh. Những người đi tảo mộ xưa nay đều là con cháu trong nhà, người ngoài tốt nhất không nên tùy tiện đi theo. Dù sao cũng không phải người một nhà, đến mộ phần vào lễ Thanh Minh có thể khiến cho trường khí hỗn loạn, mất cân bằng, là điềm xấu nên tránh.

Có thể do nhiều nguyên nhân mà nhiều người gặp phải tình huống như đi tảo mộ cùng bạn bè, cấp dưới đi tảo mộ cùng cấp trên, đối tác làm ăn cùng đi tảo mộ… Khi đó, tốt nhất nên mang theo người vật phẩm phong thủy, bùa hộ thân để xua tan tà khí cũng như tránh phạm phải điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

6/. Chọn hoa cúng tùy tiện, màu sắc sặc sỡ : Theo truyền thống, tiết Thanh Minh là để bày tỏ sự mong đợi vạn vật mùa xuân bừng sống lại, vòng tuần hoàn của cuộc đời một lần nữa bắt đầu. Thời điểm này cũng là lúc trăm hoa đua nở, song không phải loại hoa nào cũng thích hợp dùng cho cúng tế.

Người xưa cho rằng, hoa cúng khi tảo mộ không nên quá sặc sỡ, mùi hương quá nồng đậm. Nên chọn sắc hoa trang nhã, mùi hương thuần khiết để tỏ lòng kính trọng tổ tiên. Xem chi tiết nên chọn hoa gì đi tảo mộ tiết Thanh Minh. Thông thường, các loại hoa màu trắng tượng trưng cho sự tiếc thương, khi tảo mộ có thể chọn hoa cúc trắng, hoa bách hợp trắng, hoa huệ, hoa mã đề.

Hoa hồng trắng, hoa dành dành hay các loài hoa có màu trắng trơn khác còn thể hiện sự thương tiếc và nhung nhớ. Hoa cúc vàng cũng là loại hoa phổ biến, được mọi người lựa chọn nhiều, bởi hoa màu vàng tượng trưng cho sự đau buồn và tưởng niệm. Ngoài ra, có thể dựa vào tuổi tác và sở thích của người đã khuất để chọn hoa cúng sao cho phù hợp.

Với người bề trên, người cao tuổi, có thể dùng hoa cúc vàng hoặc trắng, cũng có thể chọn hoa có nhiều sắc đỏ, hồng để thể hiện tình cảm nhớ nhung, thương tiếc của con cháu. Với người cùng thế hệ, nên chọn hoa có màu sắc trang nhã như hoa lay ơn, hoa loa kèn, hoa cẩm chướng… Còn với bạn bè thân thiết thì không cần quá câu nệ hình thức, có thể thoải mái lựa chọn loại hoa mà khi sinh thời người ấy yêu thích.

7/. Tảo mộ không đúng trình tự : Tảo mộ là chuyện linh thiêng, là dịp con cháu thể hiện lòng thành kính với ông bà tổ tiên, do đó phải được tiến hành tảo mộ theo trình tự, tránh bất kính với người đã khuất.

Thông thường, buổi lễ sẽ được diễn ra theo trình tự như sau : Dọn dẹp mộ phần – Lên hương – Dâng lễ – Mời rượu – Khấn vái – Hóa vàng mã. Khi tiến hành tảo mộ, cần chú ý giữ thái độ thành kính, không cười đùa, chạy nhảy lung tung, bằng không phạm phải kiêng kỵ tiết Thanh Minh thì hậu họa khôn lường.

Trước khi dọn dẹp mộ phần, nên thắp hương khấn gia tiên, xin phép được tu sửa, dọn dẹp cho phần mộ, số nén hương phải là số lẻ (1 hoặc 3 nén) vì số lẻ tượng trưng cho cõi âm. Chú ý phát quang cỏ rậm, nhổ bỏ cỏ dại, đắp bồi thêm đất, trồng thêm hoa tươi, quét dọn khu vực xung quanh cho sạch sẽ.

Kiểm tra xung quanh mộ, nếu bị chuột hay các loài thú khác đào xới làm tổ cần nhanh chóng xử lý. Nếu quanh mộ có nước, hay nước vào trong mộ cũng đều là điềm xấu, ảnh hưởng đến vận khí, tài lộc của con cháu đời sau. Lễ vật dâng lên phải được lựa chọn cẩn thận, nên là đồ chay, bởi dân gian quan niệmăn chay niệm Phật sẽ được siêu độ, mau chóng đầu thai.

Hoa quả là đồ tươi mới, tránh dâng hoa quả héo, dập nát. Số lượng hoa và trái cây phải là số lẻ. Chuẩn bị 2 ngọn đèn hoặc 2 cây nến, tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt. Lễ vật trên bàn có thể đặt chung song nếu có nhiều bát hương thì bát nào cũng phải thắp hương.

Khi hành lễ cúng gia tiên, có 2 hình thức là vái và lễ, được thực hiện sau khi đã bày lễ vật và thắp nhang đèn. Người làm lễ dùng hai tay dâng hương ở vị trí ngang trán, vái 3 vái rồi mới cắm hương vào bát hương. Tiếp theo con cháu trong nhà lần lượt dâng hương theo thứ bậc, ví dụ như cha, mẹ rồi đến trưởng nam, trưởng nữ, thứ nam, thứ nữ…

Sau khi hương cháy được khoảng 2/3 thì lễ tạ, hóa vàng và xin lộc về nhà để làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà. Về chuyện xin lộc, có quan điểm cho rằng ngoài vấn đề tần số tâm linh thì đồ cúng ở mộ, nghĩa trang thường bị nhiễm vi khuẩn (vốn có rất nhiều ở nghĩa trang), ăn vào dễ bị ngộ độc hoặc ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, chỉ nên đem cho chim, cá ăn.

Điều này cũng khá có khoa học, chúng ta nên cân nhắc lựa chọn sao cho phù hợp. Ngoài ra, khi thắp hương cho các ngôi mộ trong khu vực của gia tiên, thông thường nên tuân theo thứ bậc từ các đời trước trở đi. Tuy nhiên, nếu khu mộ không được bố trí theo đúng trật tự thứ bậc trong dòng họ thì tùy duyên, thuận theo lối đi mà thắp, không nên quá cứng nhắc.

8/. Để tóc phủ trước trán, mua giày trong tiết Thanh Minh : Trong dân gian, tiết Thanh Minh còn được gọi là “tiết Quỷ”, bởi đây là lúc mà âm khí rất vượng, ma quỷ nhiễu nhương. Trong thời gian này, nếu có việc phải đi đêm thì phải đem theo vật hộ thân, có thể là cành dâu, cành liễu, bùa may mắn hay vật phẩm phong thủy đã được khai quang.

Đặc biệt nhớ để lộ trán, vì theo quan niệm dân gian thì trán là cánh cửa vận mệnh của con người, là nơi đèn thần soi rọi, không nên để tóc che phủ. Trong thời gian này cũng không nên mua giày mới, bởi trong tiếng Hán, chữ “hài” (giày) và chữ “tà” đồng âm, mua giày sẽ không may mắn, dễ bị tà ma theo đuổi. Nếu không chú ý, lỡ mua giày vào dịp này thì nên lấy giấy đỏ bọc giày để ngoài cửa 1 đêm, sáng hôm sau gỡ ra, đốt bỏ lớp giấy đỏ là được.

9/. Chồng mất 3 năm đầu, vợ không được đi tảo mộ : Một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh dân gian truyền lại: nếu chồng mới mất, trong 3 năm đầu người vợ không được đi tảo mộ. Nếu không cẩn thận phạm phải sẽ ảnh hưởng đến vận khí của người vợ.

Nếu cải giá, người chồng sau này có thể bị khắc chết, con cái cũng yếu ớt, dễ chết sớm. Tuy nhiên đây chỉ là phong tục của một số địa phương, nếu nơi bạn đang sống có kiêng kỵ điều này thì tốt nhất nên tuân theo, tránh sau này gặp nhiều chuyện phiền phức phải suy nghĩ.

Còn nếu nơi bạn sống không có phong tục này thì hoàn toàn có thể làm theo tâm nguyện của bản thân. Ngoài những điều đã nêu trên, còn một số điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh như trước khi đi tảo mộ, nên dùng đồ chay tịnh để tỏ lòng thành kính với tổ tiên.

Người sức khỏe yếu, mới ốm dậy hay mới động dao kéo, phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì kinh nguyệt cũng không nên ra ngoài nhiều vào dịp này, càng không nên đi tảo mộ. Ngoài vấn đề tâm linh thì đây là thời điểm giao thông ách tắc, thời tiết nồm ẩm hoặc nắng gắt, người yếu dễ bị nhiễm bệnh, nên chú ý giữ gìn sức khỏe. (theo An Nhiên / Reatimes)

Ngọc Sương chuyển tiếp

Advertisements

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

VÀ NHỮNG TIÊN ĐOÁN VĨ ĐẠI

1/- NOSTRADAMUS :

Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.

Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.

Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Ý, Do Thái và Ả Rập…

Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, vợ của vua Henry đệ II.

Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.

– Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già

Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh

Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng

Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery – “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi.

Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

– Napoleon bại trận ở Nga : Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga

Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố

Quân chủ lực sẽ phản công

Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

– Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém

Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh

Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm

Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba

Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa

Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang

Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

– Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London

Thành phố sẽ cháy vào năm 66

Vị phu nhân mất địa vị tối cao

Và nhiều nơi bị hủy hoại.

Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.

Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.

Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.

Tiên tri về cái chết của mình : Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”. Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.

Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới : Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.

Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.

– Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999 : Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.

Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc.

Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

2/- EMANUEL SWEDENBORG

Ở Thụy Điển có một người “thấy được tương lai” nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè… Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.

Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom” (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!

3/- KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG

Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bấm Độn.

Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của Gia Cát Lượng còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

4/- JEAN DIXON

Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai – bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri “nhí” Jeane đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay sẽ phát nổ.

Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.

Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những người khác.

Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh của người đó.

Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.

Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất. Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.

Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.

5/- VANGA

Vanga (tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng. Nhà tiên tri Vanga sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh viện ở thủ đô Sofia.

Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.

Bà từng nói :“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.

Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những nền văn minh khác tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.

THƯỞNG THỨC CÙNG DANH HỌA :

CHÚA GIÊ-SU

CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI MÙ

Chúa là một bậc giác giả với vô vàn quyền năng to lớn mà với con người đó là những phép lạ nhiệm màu. Kinh thánh truyền rằng Ngài đã chữa bệnh cho rất nhiều người, từ người mù bẩm sinh, tới những kẻ ma quỷ ám, hay những bà già gù lưng suốt bao nhiêu năm trời sống trong khổ cực. Xuất phát từ lòng từ bi mà Chúa dùng quyền năng chữa bệnh chấm dứt những tháng ngày đau đớn của con người. Từ đó mà răn dạy con người hiểu về nguồn gốc của bất hạnh đó.

Trong quá khứ xưa nay, các bậc giác giả hạ thế không phải là thể hiện quyền năng hay chữa bệnh. Căn bệnh mà các bậc giác giả muốn chữa cho con người chính là tâm bệnh, một loại bệnh trong mê muội, từ đó mà chuốc lấy khổ đau. Lưu lại cho con người tâm pháp và giảng giải cho họ hiểu những căn nguyên của chính khổ đau đó.

Quyền năng chữa bệnh và ẩn ý từ bài học giáo huấn của Đức Chúa được thể hiện qua bức họa.

Tác phẩm hội họa ‘Chúa chữa bệnh cho người mù’ là tác phẩm của họa sĩ Lucas Van Leyden, sinh ở Hà Lan. Đây là một bức họa nổi tiếng mô tả cảnh mà Chúa Giê-su chữa lành bệnh cho người mù Gierico. Bức họa chia ra làm hai phía đối lập, bên trái của bức họa là chúa Giê su và những con người còn chứa nhiều thiện tâm, hài hòa, đại diện cho nhóm người dễ giác ngộ về pháp mà Chúa giảng.

Bên phải của bức họa là quảng đại những người giàu sang, tiêu biểu là một thân hình nam giới cao to và gương mặt hung dữ với vẻ thất thường đầy tham vọng trần tục có vẻ hoang dã, đây chính là nhóm người mà Chúa Gie-su sẽ phải khổ công cảm hóa, kiên trì giảng pháp để cải hóa những tâm tính bất hảo và độ họ tiếp thu được pháp mà Ngài giảng.

Điều đáng lưu ý hơn là con người ta nhìn thấy ngay kẻ hung ác kia ăn mặc trang hoàng sang trọng, họ mang tiền bạc tới để xây nhà thờ, dâng lên cho Chúa không phải là từ tâm thiện của con người họ, mà chính là bỏ tiền mua chuộc Chúa, muốn đặt bàn tay của mình lên vai Chúa Giê-su.

Sự vênh váo của kẻ giầu có, coi tiền bạc là quyền năng của bản thân, thường nhìn những con người khốn khổ bằng sự khinh rẻ, họ thường thiếu tình yêu thương với người khác. Khi tận mắt chứng kiến quyền năng của Giê-su thì lập tức trong đầu muốn dùng tiền mà mua chuộc, muốn biến chúa Giê-su trở thành người phục tùng và vâng lời của mình.

Chúa Giê-su có biết được điều đó không ? Ngài biết rõ tâm những người này ra sao, nhưng ngài vẫn thương họ, thương chính bởi sự mê muội, dốt nát ấy. Họ chẳng bao giờ hiểu tiền bạc không thể mang họ tới thiên đường, và cũng không thể giúp nguời ta tới được bên Chúa. Cái mà họ sẽ mang theo bên mình chính là tội phúc của chính họ.

Lucas Van Leyden đã rất khéo léo khi tô điểm cho những kẻ tham lam, vênh váo, kênh kiệu này và tập trung khắc họa chân dung của  người đàn ông  phô trương địa vị và quyền lực: trên đầu ông tua tủa những chiếc lông chim, cổ ông ta bật ra kiêu hãnh từ chiếc cổ áo để mở. Hai tay áo tinh tế và hợp thời trang bay phần phật và đung đưa. Hai tay áo biểu tượng cho túi tham mà ông ta đang sở hữu, nó tung bay là thể hiện của cái sở thích phô trương thanh thế, thích  thể hiện bản thân.

Chúa không hướng ánh mắt về ông ta, chẳng một cái liếc nhìn dẫu cho ông ta đang cố gắng thu hút sự chú ý của Giê-su về phía mình. Chúa nhìn thấu tâm can của hắn, nhưng vì lòng từ bi thương xót, Ngài sẽ vẫn cho họ cơ hội được đắc cứu.

Bức tranh thể hiện một nhóm khác, là sự xuất hiện của hai đứa trẻ, một đứa trẻ đi cùng người mù, nó ngẩng khuôn mặt ngây thơ cung kính nghe Chúa giảng nói. Nó thuộc nhóm người còn chứa nhiều thiện tâm, nó rất dễ được cảm hóa, một đứa khác nằm dưới chân kẻ giàu có vênh váo kia, mà chỉ về phía Chúa đang chữa bệnh, nó chính là hình ảnh phản ánh lên rằng một con người có tính thiện lương ban đầu nhưng lớn lên trong sự dạy dỗ chỉ vì bản thân và không phân biệt được thiện ác, tốt xấu, mà sẽ chỉ là kẻ đứng ngoài chỉ chỏ về quyền năng nơi Chúa chứ không thấm lời Ngài dậy. Những kẻ khó lòng thoát khỏi cái bóng của ma quỷ trong tâm.

Đối với Giê-su hay với bất kì một bậc giác giả nào, thì căn bệnh khó chữa nhất của loài người chính là căn bệnh từ trong tâm.

Giê-su hạ thế là lặng lẽ, trong suốt quá trình truyền đạo truyền pháp, ngài không ngưng nghỉ đôi chân, bất kì nơi nào đi qua đều là mầm nhân duyên thiện lành mà Giê-su gieo cấy.

Cảm hóa nhiều con người thiện lương theo đạo, hóa độ những kẻ còn hoài nghi về quyền năng nơi Chúa, thức tỉnh những con người đang lầm đường lạc lối.

Trong hết thảy những chuyến đi, Ngài thể hiện phép nhiệm màu mà người thường không có được, Ông cho người đời thấy đâu là bến bờ hạnh phúc thực sự, có biết bao căn bệnh được ông chữa khỏi, có những người tưởng chừng như chết đi mà được hồi sinh kì lạ. Quyền năng to lớn ấy làm biết bao nhiêu con chiên rơi lệ cảm tạ ân sâu.

Nhưng có một căn bệnh của con người mà chính bản thân Giê-su cũng phải chấp nhận lấy cái chết của mình để cảm hóa, đó chính là căn bệnh mê muội nhân tâm. Những kẻ từng ngày đi theo từng bước chân ngài, đã từng là môn đồ của ngài, nhưng trong tâm lại không chịu buông lòng tham, sự tàn ác. Những kẻ bị cám dỗ bởi ma quỷ để rồi không phân biệt được đâu mới là người sẽ cứu độ mình, đâu là người thực sự mà họ cần phải mang ơn

Chấp nhận làm nô lệ của quyền thế và đồng tiền mà bị sai khiến đủ điều. Những con người đó thật chẳng dễ dàng gì cứu cả. Và Chúa đã phải đánh đối lấy mạng sống của mình để mong hòng cứu rỗi linh hồn họ.

Và cái kết của những con người không chịu buông đi những túi tham lam vào tiền bạc, là cái chết của chính họ, bởi người có thể  thực sự cứu họ như Giê-su họ còn bán đứng thì ai có thể cứu họ đây, đồng tiền mà họ có liệu có thể cứu được mạng sống không? Cái chết của Judas cũng là để cảnh tỉnh cho con người mai sau biết buông bỏ đi lòng tham, thoát khỏi sự khống chế của ma quỷ trong tâm mình mà trở về với Đức Chúa.

Nỗ lực của chúa Giê-su trong suốt những năm tháng truyền đạo truyền pháp, bất chấp cực khổ, bất chấp hiểm nguy và mất đi cả tính mạng của mình. Điều ấy cũng là hi vọng duy nhất mà Ngài lưu lại cho con người về con đường phá bỏ mê muội, chấm dứt khổ đau, trở về với thiên đàng.

Rất nhiều những họa sĩ tôn giáo đã thành công khi thấu hiểu được tâm tư của Chúa mà khắc họa thành công về Giê su, có lẽ sự thành công trong bức họa lưu lại tên tuổi của họ với người đời sau này chính là cảnh giới tư tưởng mà họ ngộ được trong chính pháp lý mà Giê-su giảng.

Và mỗi một chặng đường lịch sử, lại có một bậc thánh giả hạ thế cứu độ chúng sinh. Khi con người sẽ phải đối diện với hiểm nguy, thì đất trời lại đón chào Giác giả tới cứu độ. Ai là người từ trong mê mà ngộ? Ai là người sẽ được đắc cứu, đó chính là duyên phận đáng trân quý của con người. Giê-su đã lấy cái chết để cảnh tỉnh thế nhân, thì nay trong cơn mê đó, ai là người thức tỉnh? Thiên đàng hay địa ngục, đó là lựa chọn của chính chúng ta.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NGHE NHẠC TÀ ÂM CHIÊU TAI HỌA

VÌ SAO NGƯỜI XƯA

ĐỐI VỚI CHÉN BÁT

CÓ NHIỀU KIÊNG KỴ ?

Bát là một vật dụng không thể thiếu trong đời sống của những người dân phương Đông.

Đặc biệt đối với người dân Việt Nam, đó là một nét văn hóa không thể thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày có tự bao đời.

Cùng với nhu cầu và sự phát triển của xã hội, các loại bát cũng ngày một nhiều và cách dùng cũng khác nhau. Có lẽ bởi quá thông dụng nên tầm quan trọng của bát thì mọi người không phải ai cũng đều hiểu hết. Kỳ thực, phong thủy liên quan tới chiếc bát mà chúng ta vẫn dùng để ăn hằng ngày là không thể coi thường. Và người xưa đặc biệt chú ý coi trọng đến điều này.

Là vật dụng được sử dụng hằng ngày, nhưng hầu hết chúng ta đều không mấy chú ý tới chiếc bát. Ít ai biết rằng, vật dụng này lại gắn liền với không ít điều kiêng kỵ về phong thủy. Tôi có anh bạn vừa chuyển nhà mới, và qua câu chuyện của anh tôi hiểu được tầm quan trọng về những kiêng kỵ gắn liền với chiếc bát ăn hằng ngày của chúng ta.

Như một thói quen của rất nhiều gia đình, khi chuyển tới nhà mới anh Lưu bạn tôi liền mang bán hết những đồ dùng gia đình ở nhà cũ, hơn nữa còn  tiện tay thu dọn những chiếc bát cũ lâu ngày bỏ vào thùng rác. Thế là sau khi chuyển tới nhà mới, chừng nửa năm sau gia đình anh liên tục gặp những điều không may mắn. Làm ăn kinh doanh thì liên tục thất bại, vợ anh thì bỏ nhà theo người đàn ông khác, bản thân anh cũng bắt đầu xuất hiện các chứng bệnh mà trước đó chưa hề mắc. Quá lo lắng anh đã đi hỏi rất nhiều thầy tướng số phong thủy, và câu trả lời mà anh nhận được đều giống nhau khiến anh sững sờ : Đều là họa do anh vứt bỏ những chiếc bát cũ.

Quả thực, người xưa đối với chén bát, vật dụng trên mâm cơm hàng ngày đều rất quý trọng, hơn nữa có rất nhiều kiêng kỵ. Dưới đây là những điều kiêng kỵ đã được đúc rút lại qua hàng ngàn năm qua, hy vọng sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta:

1/. Không được tùy tiện vứt bát cũ

Khi chuyển nhà mới hoặc sắm sửa vật dụng sinh hoạt mới, nhiều người chúng ta thường hay quan niệm nhà mới thì đồ đạc cũng cần mới nên thường bán hết đồ cũ mua đồ mới. Và cũng thường tiện tay vứt bỏ những chiếc bát cũ đã sứt mẻ. Đây chính là một thói quen “phá tài” điển hình, khiến rất nhiều người gặp trắc trở về đường tài vận, tình duyên, sức khỏe.

Bất luận là mới hay cũ, chiếc bát đều tượng trưng cho “công ăn việc làm” của gia chủ. Nếu đem chiếc bát vứt đi, chẳng khác nào bạn đang tự hất bỏ “chén cơm” của mình. Trong tiếng Hán từ bát “碗” được đọc là “Wǎn”, nó đồng âm với từ 完〞đọc là “wán” trong từ〝完蛋〞đọc là “wándàn”, nghĩa là kết thúc, là hết. Bởi vậy, những chiếc bát đã cũ dù không dùng cũng không được tùy tiện vứt bỏ đi.

2/. Bát không dùng nữa thì xử lý như thế nào ?

Bát cũ không thể vứt bỏ một cách tùy tiện, vậy thì xử lý thế nào ? Các chuyên gia phong thủy Trung Quốc cho rằng, đối với những chiếc bát vẫn còn dùng được, bạn nên cho hoặc tặng người khác, chỉ riêng bát chúc thọ là không thể tùy tiện đem cho. Nếu là bạn thân, bạn tốt, việc tặng bát còn có thể kéo dài tình hữu hảo, tăng thêm sự thân thiết, gắn bó.

Theo quan niệm của người xưa, đối với những chiếc bát đã sứt mẻ đến nỗi không dùng được, bạn cũng có thể vứt đi, nhưng cần lưu ý phải bọc bát bằng vải đỏ rồi mới đem vứt..

3/. Bát ăn cơm tự nhiên nứt vỡ nói lên điều gì ?

Nhiều người làm kinh doanh, tối kỵ nhất là bát nứt vỡ làm đôi khi đang dùng bữa. Có một doanh nhân nọ, đang mời khách dùng cơm tại nhà hàng thì bỗng nhiên chiếc bát ông cầm trên tay nứt vỡ làm đôi, ông ngạc nhiên và sợ hãi đến không nói nên lời.

Nhưng người sợ hãi hơn là chủ khách sạn nọ. Dù ông ấy đã rối rít xin lỗi, tặng khách hàng toàn bộ hóa đơn ăn uống ngày hôm đó, nhưng sau vụ “bê bối” đó ông dính phải kiện tụng liên miên, làm ăn thất bát.

Nhiều nhà phong thủy học đã phân tích rằng, bát nứt tượng trưng cho việc điềm rủi ập đến, thậm chí còn là điềm dữ như bệnh tật hoặc người thân đã khuất tìm về. Ai vốn không hiếu thuận hoặc làm ăn bất minh, nếu gặp điềm này đều sẽ gặp quả báo nhãn tiền.

4/. Bát ăn cơm bị mẻ có thể dùng tiếp được không ?

Nhiều người dân Việt chúng ta vì thói quen tiết kiệm nên khi bát đã mẻ vẫn có thói quen tiếp tục sử dụng. Nhiều cửa tiệm nhỏ lẻ, ít kinh phí cũng thường cho khách dùng bát sứt mẻ. Thật ra, chúng ta nên tránh dùng bát đã vỡ, sứt, nứt khi ăn cơm. Nguyên nhân là bởi bát ăn cơm có ngụ ý để chỉ việc làm ăn, công việc ‘kiếm cơm’ của chúng ta. Bởi vậy nếu bạn sử dụng bát đã sứt mẻ ăn cơm thì công việc của bạn sẽ không ổn định và chắc chắn. Nguồn thu nhập cũng sẽ sụt giảm đi đáng kể, đã vậy lại thường xuyên bị kẻ tiểu nhân phá quấy. Vì thế, nếu chẳng may làm mẻ bát hãy gói gọn chúng vào vải đỏ như đã nói ở trên.

5/. Nên sử dụng bát mẻ vào lúc nào ?

Chỉ ở vào những trường hợp đặc biệt mới có thể sử dụng những chiếc bát mẻ mà không được phép sử dụng những chiếc bát lành lặn. Ví dụ người ở miền bắc Trung Quốc, mỗi khi có việc ma chay người ta thường dùng một chiếc bát mẻ xới đầy cơm, sau đó thắp hương lên trên và đặt trên quan tài. Theo quan niệm của người dân ở đây, điều này có thể giúp linh hồn người quá cố được thanh thản ra đi. Và chiếc bát này vĩnh viễn sẽ không được dùng nữa mà lưu lại như một vật bày tỏ sự tưởng nhớ người đã khuất.

6/. Tại sao lại có thể lấy trộm bát ?

Bạn đừng nghĩ rằng đây là câu hỏi buồn cười ! Nhiều nơi, khi làm tiệc thượng thọ cho người cao niên trong làng, đều có tập tục tặng bát. Người đến ăn cỗ mừng thọ đều có thể thoải mái ‘lấy trộm’ bát mang về.

Gọi là ‘lấy trộm’ nhưng thật ra ai cũng có thể tùy tiện cầm đi mà không gặp sự cản trở nào của người nhà hay chủ cỗ. Bởi lẽ, mang bát đi đồng nghĩa với việc nhân rộng niềm vui và giúp người cầm bát “lây” sự trường thọ như chủ nhân.

Nhiều bậc phụ huynh còn chia sẻ rằng, những chiếc bát mừng thọ này, khi mang về cho con cái sử dụng sẽ có tác dụng trừ tà, xua đuổi ma quỷ và xui xẻo, giúp người già tăng thêm sức khỏe, giúp trẻ nhỏ chiêu tài chiêu lộc.

7/. Đập vỡ bát có thể coi là bình an được không ?

Một vài nước trên thế giới như ở Đan Mạch, Đức, Hy Lạp và ngay chính ở Trung Quốc, vào dịp năm mới hoặc trong đám cưới, hoàn toàn có thể thoải mái đập vỡ bát đĩa để cầu bình an và may mắn, sau đó lấy khăn hoặc vải đỏ bọc kín lại rồi vứt đi.

Phong tục này ngược lại hoàn toàn với quan niệm của người Việt Nam, phải kiêng làm vỡ, sứt bát đĩa vào ngày lễ Tết. Kỳ thực trong một tình huống cụ thể đập vỡ bát nhất định là có liên quan đến một điềm báo nào đó.

Tôi có anh bạn vào ngày mùng 2 Tết, khoảng tầm hơn 9h tối đi nấu mỳ. Khi đang múc mì vào tô thì nhìn thấy một con gián trong bát làm anh sợ quá buông cả bát mỳ rơi xuống đất vỡ toang. Bởi lúc đó không có ai ở nhà và anh cũng biết bị vỡ bát vào dịp Tết là không may mắn nên sợ ngây người không biết nên xử lý ra sao. Phải vài phút sau mới lấy lại bình tĩnh đi thu dọn những mảnh bát vỡ và mang chổi định đuổi con gián nhưng không thấy nó đâu. Ngay sáng hôm sau, cha mẹ anh xảy ra xô xát cãi nhau lớn rồi vài tháng sau ly hôn.

8/. Dùng bát như thế nào khi ăn cơm ?

Khi ăn cơm nên dùng bát như thế nào ? Có rất nhiều người nghĩ rằng đây không phải là vấn đề đáng để hỏi.

Khi ăn cơm nên dùng đĩa lót vào bát rồi ăn là tốt ? Hay bưng bát cơm lên ăn là tốt ? Hay đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống tận bàn và cơm là tốt ? Kỳ thực tất cả những điều này đều cần được chú trọng và mọi người hãy lưu ý: Tốt nhất không nên đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống và cơm ăn.

Theo thuyết phong thủy của người phương Đông, bát ăn cơm kỵ nhất là để lên bàn, sau đó dùng đũa gắp cơm lên miệng. Khi ăn cơm, nhất định phải dùng tay cầm bát, không nên đặt bát lên bàn rồi và cơm. Đây vừa là lưu ý về phong thủy, cũng là vừa thể hiện lễ tiết trước mặt người lớn tuổi.

9/. Sử dụng bát phong thủy như thế nào ?

Một ngày nọ tôi có người bạn nhờ tư vấn : “Anh mới được công ty phát bộ bát phong thủy nhưng không biết nó là gì và sử dụng như thế nào ?”. Bát phong thủy, nghe qua tưởng chừng chỉ là chiếc bát nhỏ, chuyên dùng để đựng cơm nhưng thực ra không phải vậy. Nó là bát chuyên dùng trong phong thủy, đặc biệt là ở chốn công sở.

Bất cứ khi nào bạn cảm thấy tài vận không tốt hoặc có người so đo theo dõi, hãy sắm ngay một chiếc bát phong thủy và đặt tại bàn làm việc hoặc tại nhà của mình.

Bát phong thủy sử dụng cần hợp với bản mệnh của mình theo ngũ hành, ví dụ có thể dùng bát bằng gốm sứ, đồng, gỗ.. Với bát lòng rộng hoặc bát rỗng, bạn có thể đựng chút nước rồi để vài đồng tiền xu bên trong, với hàm ý Kim sinh Thủy. Cách làm này sẽ giúp vượng tài, vượng khí, và an ổn về tâm lý. Tốt nhất nên để cạnh cửa sổ bàn làm việc, vì đó là nơi thu nạp khí tốt nhất.

10/. Tại sao cần đập vỡ bát khi nhà có việc ma chay ?

Nói chung khi gặp phải đám ma hoặc có những nơi khi đang tổ chức đám cưới, đang đón dâu bỗng nhiên gặp phải đám ma thì đều nên đập vỡ bát. Kỳ thực đây là một phong tục tập quán của người xưa với ngụ ý cầu mong được đại cát đại lợi, may mắn xua đuổi tà khí.

Nhiều người trong mơ còn thấy mình đập vỡ rất nhiều bát đĩa. Nếu cố tình đập mà bát không hề sứt mẻ, thì giấc mơ này cho thấy, quan hệ giữa người đó với mẹ ruột đang rất thắm thiết, tình cảm. Ngược lại mới chỉ đập khẽ mà bát đã nứt vỡ thành nhiều mảnh, thì có nghĩa là quan hệ mẹ con đang có vấn đề gay gắt.

oOo

Trên đây là những điều kiêng kỵ mà người xưa đúc rút lại, cũng là những lời nhắn nhủ hữu ích cho người đời sau. Con người ngày nay với cuộc sống vật chất đủ đầy, không ít người tỏ ra hoang phí, mua sắm đổi cũ thay mới không tiếc tay. Tuy nhiên người xưa lại rất quý trọng những gì mình đang có, dù chỉ là một chiếc bát ăn cơm đã bị sứt mẻ, dẫu có đem vứt đi cũng phải có lễ nghi. Đây chính là thể hiện phẩm hạnh đạo đức cũng như lòng tôn kính tự nhiên của người xưa.

Từ một chiếc bát, vật dụng tưởng chừng quen thuộc trên bàn ăn, lại có rất nhiều những kiêng kỵ và phong thủy. Điều đó đủ để thấy rằng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần phải lưu tâm từ những điều nhỏ nhặt nhất.

Và phong thủy ấy chính là điều được cổ nhân lưu lại, không phải để hù dọa hay làm ‘mê tín’, mà là những đúc rút để nhắn nhủ con người hãy trọng đức tu tâm, sống hòa hợp với tự nhiên đất trời và biết quý trọng, hài lòng với những gì mình đang có.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHE NHẠC ‘TÀ ÂM BẤT CHÍNH’

LÀ CÁCH CHIÊU MỜI TAI HỌA

Âm nhạc là có chứa một loại năng lượng rất mạnh làm tác động lên tâm tính con người. Âm nhạc cao thượng thanh nhã chứa đựng một loại năng lượng thuần chính, giáo hóa và dưỡng tâm con người. Trái lại, tà âm bất chính có thể hủy người và làm vong quốc.

Âm nhạc là có cát, có hung

Trong “Luận Ngữ” có ghi chép rằng, một lần, khi học trò Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về vấn đề thống trị quốc gia, Khổng Tử đáp : “Yếu xả khí Trịnh quốc đích âm nhạc”, tức là phải bỏ đi âm nhạc của nước Trịnh (một nước chư hầu nhà Chu thời Xuân Thu). Âm nhạc của nước Trịnh thời ấy là thuộc loại tà âm phóng túng tình dục.

Theo Khổng Tử, loại âm nhạc khiến nam giới bị trầm mê vào sự hấp dẫn của sắc đẹp thì sẽ làm hại đến tâm tính và tình cảm của họ, hủy hoại ý chí và đạo đức của họ.

Trong “Sử ký Nhạc thư” viết : “Thính thưởng âm nhạc, hữu cát hữu hung, giá tựu thị âm nhạc quan hồ tâm tính, nhi tâm tính hựu quan hồ tự nhiên chi thiên đích đạo lý.” Tức là, nghe, thưởng thức âm nhạc là có điều tốt lành và cũng có điều hung ác không may mắn.

Đây là sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tâm tính của người nghe. Tâm tính, đạo đức của một người là nên thuận theo Thiên đạo. Âm nhạc trái với Thiên đạo thì sẽ làm “hủy nhân vong quốc”. Người Trung Hoa cổ xưa đặc biệt chú ý đến sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tính nết con người. Họ hiểu rõ và cho rằng lợi ích lớn lao của âm nhạc chính là giáo dục con người.

Những người hiểu âm nhạc thời xưa quan niệm rằng, âm nhạc không phải để phát triển cảm giác của những giác quan. Bởi vì họ đã nhìn thấy “Cấu tạo tâm tính” và “Giáo dục qua âm nhạc”, đó là tác dụng nguyên thủy của âm nhạc.

Âm nhạc có nhiều cấp khác nhau. Âm nhạc thấp kém xâm phạm nguyên tắc của sự điều độ, nó không giới hạn việc biểu lộ cảm xúc của con người, sẽ đưa tới suy thoái và bạo lực, cuối cùng nhân loại không còn đạo đức. Loại âm nhạc này là một lời nguyền, tạo nên sự sụp đổ của một triều đại. Âm nhạc ở cấp cao biểu lộ nguyên lý của vũ trụ. Vì vậy, thưởng thức loại âm nhạc này sẽ ảnh hưởng đến đức của người nghe, và người ta có thể nâng cao được đạo đức của mình.

Một học giả tu hành đời Đường đã nói: “Âm nhạc tốt tạo nên người tốt, âm nhạc xấu tạo nên người xấu (ác)”. Quả đúng là như vậy !

Tà âm bất chính hủy nhân vong quốc

Thời cổ đại có điển cố : “Tang gian bộc thượng chi âm, vong quốc chi âm dã” (âm thanh trong ruộng dâu trên bãi sông Bộc là tiếng nhạc mất nước). Trong “Sử ký” có ghi chép lại điển cố này như sau:

Sư Khoáng là nhà âm nhạc nổi danh thời Xuân Thu, được lịch sử xưng là “Thánh nhạc”. Vua của nước Tấn là Tấn Bình Công vừa hoàn thành xong Vương Cung muốn cử hành điển lễ chúc mừng. Vua nước Vệ là Vệ Linh Công vì mong muốn hai nước có mối quan hệ hữu hảo liền dẫn nhạc công đến chúc mừng. Vua Vệ Linh Công dẫn tùy tùng đến bên bờ sông Bộc Thủy (sông Bộc) thì trời đã tối. Họ đành phải ở lại bên sông để nghỉ tạm qua đêm.

Lúc này, họ nghe thấy một ca khúc mới lạ văng vẳng vang đến, trong lòng vô cùng phấn chấn, hứng thú. Vua Vệ Linh Công liền ra lệnh cho âm nhạc gia Sư Quyên ghi chép lại. Ngày hôm sau đoàn người đến nước Tấn. Trong buổi tiệc, sau khi được thưởng thức các màn ca múa nhạc của nước Tấn, Vệ Linh Công lệnh cho Sư Quyên diễn tấu bản nhạc mà họ đã nghe ở bờ sông Bộc ngày hôm trước. Với tài gảy đàn của Sư Quyên, âm thanh bản diễn tấu vang lên, lúc thì da diết, bi thương khiến người khác tan nát cõi lòng, lúc lại giống như tiếng mưa phùn không ngớt.

Ngồi ở bàn tiếp đãi, thái sư chưởng nhạc của nước Tấn là Sư Khoáng mỉm cười, dụng tâm nghe. Nhưng chỉ một lát sau nụ cười trên gương mặt ông dần biến mất, thần sắc càng lúc càng nghiêm nghị hơn.

Sư Quyên mới gảy chưa đến một nửa bản nhạc thì Sư Khoáng rốt cuộc không nhịn được, đứng dậy giữ tay Sư Quyên lại và nghiêm nghị nói : “Mau dừng lại ! Đây là loại tà âm vong quốc, ngàn vạn lần chớ nên gảy !”

Vua Tấn Bình Công vội chất vấn thái sư : “Khúc nhạc này thực sự nghe rất hay, ngài sao lại nói là âm nhạc vong quốc được ?” 

Sư Khoáng đáp : “Vào cuối đời nhà Ân, có Sư Diên là quan âm nhạc, cùng với vua Trụ làm ra khúc nhạc uỷ mị này. Vua Trụ nghe lấy làm thích lắm. Đến khi Vũ vương ta đánh vua Trụ, Sư Diên ôm đàn chạy về phía đông, nhảy xuống sông Bộc. Từ bấy giờ có ai thích âm nhạc đi qua đấy thì lại có tiếng đàn văng vẳng ở dưới nước vang lên. Khúc nhạc này

Sư Quyên nghe được trên đường đi, là khúc đàn ở trên sông Bộc. Loại âm nhạc này rất không tốt, ai say mê nó thì thân sẽ bị hủy mà quốc gia thì bị suy sụp. Cho nên, không thể để Sư Quyên gảy hết đoạn nhạc này.”

Nói đến đây, Sư Khoáng chuyển qua nói với Sư Quyên : “Khúc nhạc mà ngài vừa gảy là khúc nhạc ngài nghe được ở bên sông Bộc phải không ?” Vua Vệ Linh Công và Sư Quyên nghe xong đều sửng sốt và lấy làm lạ. Tấn Bình Công lại hỏi Sư Khoáng rằng : “Đó là âm nhạc của đời trước, gảy nghe chơi thì có hại gì !”

Sư Khoáng nói : “Vua Trụ vì mê khúc đàn ấy mà đến nỗi mất nước, đó là một thứ âm nhạc bất tường, vậy chớ nên gảy.”

Tấn Bình công nói : “Ta thích nghe âm nhạc mới, Sư Quyên hãy vì ta gảy nốt khúc đàn ấy”. Sư Quyên lại lựa dây rồi gảy nốt khúc đàn ấy. Tiếng đàn êm ái, lên bổng xuống trầm, như than như khóc.

Tấn Bình Công lại nói : “Khúc nhạc này ta nghe thật quá cảm động lòng người, còn có khúc nào hay hơn, cảm động hơn nữa không ?”

Sư Khoáng trả lời: “Có !”

Tấn Bình Công nói : “Có thể cho ta nghe một khúc được không ?”

Sư Khoáng nói : “Phải là người có đức dày hành nghĩa thâm hậu mới có thể nghe được khúc này. Nay ngài bạc đức, không nên nghe !”

Tấn Bình Công nói : “Quả nhân chỉ mong có thể nghe ca khúc ấy, ngài đừng nên chối từ.”

Sư Khoáng bất đắc dĩ phải cầm lấy đàn mà gảy. Mới gảy được một khúc, thì có một đàn chim hạc ở phương nam bay đến. Gảy thêm khúc nữa thì chim hạc vỗ cánh mà múa, vươn cổ mà hót theo tiếng nhạc. Tấn Bình Công đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Những người đứng xem ai cũng kinh ngạc. Tấn Bình Công ngồi xuống, nói : “Còn khúc nhạc nào hay hơn, cảm động hơn thế không ?”

Sư Khoáng nói : “Có, ngày xưa vua Hoàng đến hội các thần ở núi Thái Sơn, rồi làm ra điệu nhạc này. Vua đời sau đức bạc, không xứng để nghe, nếu nghe thì có họa bại vong.”

Tấn Bình Công thấy vậy liền nói : “Quả nhân nay đã già rồi, còn lo bại vong sao ? Nếu được nghe khúc nhạc ấy mà chết thì cũng thoả lòng.”

Sư Khoáng nhất định không chịu gảy. Tấn Bình công đứng dậy, hai ba lần cố ý nài ép. Sư Khoáng bất đắc dĩ lại phải ôm cầm mà gảy.

Mới gảy một khúc, có đám mây đen ở phương tây hiện lên. Gảy khúc nữa thì bỗng nổi một cơn dông, bao nhiêu ngói ở trên nóc điện bay tung lên và cột hiên gãy hết, lại thấy có tiếng sét dậy trời, rồi mưa như trút nước.

Dưới đài ngập mấy thước, trong đài chỗ nào cũng ướt cả, Tấn Bình Công sợ hãi, cùng với Vệ Linh Công nằm phục vào một nơi. Khi mưa gió đã im lặng rồi, nội thị mới vực Tấn Bình Công và Vệ Linh Công ở trên đài xuống.

Tiếp sau đó nước Tấn gặp phải đại hạn suốt ba năm, không một ngọn cỏ nào sống sót, dân chúng lầm than cơ cực. (theo An Hòa dịch và t/h)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

NGÀY TAM NƯƠNG

VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

– Kay Nguyễn

Thời xưa làm nông thì hay “trông trời trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Thời nay làm ăn phương Tây hay phương Đông gì cũng phải trông ngày cả. Không phải mê tín gì, nhưng chúng ta đều là động vật có hệ thần kinh cao cấp, nhạy cảm, và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường chung quanh, nhất là khi môi trường trái đất vốn chịu năng lượng xung động rất cao từ mặt trăng – vệ tinh xoay chung quanh và gần trái đất nhất.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến các bạn một khái niệm khá thông dụng về cách tính giai đoạn của mặt trăng để :

– Nếu không tin thì khi nghe người khác nói cũng không bị bỡ ngỡ

– Nếu tin thì để KHÔNG bị ảnh hưởng đến chuyện làm ăn, đến các tính toán quan trọng của mình và doanh nghiệp.

Đó là khái niệm ngày “tam nương” (của phương Đông) và Nguyệt Kỳ (moon phase) – khái niệm này, thật ngạc nhiên, cả phương Đông và phương Tây đều dùng và hoàn toàn trùng khớp nhau.

Ngày Tam Nương

Tam Nương là ba trang tuyệt sắc Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự, ba nường được coi là “quậy” nhất lịch sử Trung Quốc, với sắc đẹp ma mị khuynh thành đổ quốc gây không biết bao nhiêu là tang thương cho các thành bang.

Muội Hỉ khiến chấm dứt 500 năm trị vì của nhà Hạ (2100 BC – 1600 BC). Đát Kỷ làm sụp đổ nhà Thương (1600 – 1066 BC). Bao Tự làm tang hoang nhà Tây Chu (1066 – 771 BC).

Ngày Tam Nương chính là ngày sinh và ngày mất của 3 nường này, nên một tháng có 6 ngày Tam Nương, tính theo lịch âm (các bạn nên lấy viết ghi lại) là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Ngày nào của gái nào thì thú thật cả hội Lý Số Trung Quốc vẫn còn đang tranh luận nên tôi không biết đâu ! Chỉ biết vào các ngày âm lịch vừa kể trên, đừng nên làm chuyện gì mới mẻ : xây nhà, gả con, xuất hành, khởi nghiệp, giới thiệu sản phẩm mới, sáp nhập công ty… Vì xác suất thất bại hoặc phải làm đi làm lại là rất cao. Chưa kể đây còn là ngày của nhiều thảm họa.

Tôi xin phép được trích dẫn một vài ví dụ khá thuyết phục vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều vị học giả khoa học huyền bí ở Trung Quốc và Việt Nam.

1/.  Tàu ngầm nguyên tử Kursk chìm vào ngày 12/8/2000. Toàn bộ 118 thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm hiện đại nhất của Nga đã ra đi lúc con tàu bị chìm xuống đáy biển Barents sau hai vụ nổ. Nó đã rời cảng vào một ngày Tam Nương.

2/.  Hội đồng dân tộc Afghanistan họp tại Đức để thành lập chính phủ, dự định vào ngày 12, sau đó họ lùi lại vào ngày 13 Âm lịch. Đất nước này đến nay vẫn còn bất ổn.

3/. Cuộc chiến Iraq đã xảy ra vào ngày Tam Nương 18 tháng Hai Quí Mùi.  Đến bây giờ, đất nước này vẫn chưa thật ổn định.

Ngày này nguy hiểm ở chỗ là nó đúng bất chấp mọi lá số tử vi, cứ mỗi tháng lại xảy ra 6 ngày mệt mỏi này, nên lưu ý ghi nhận lại kết quả để nghiệm lý cho riêng mình và tự nhiên rút ra kết luận, chứ tôi cũng không muốn hù dọa gì quý vị cả. Bản thân tôi và mấy anh bạn làm công ty riêng về dịch vụ, (mấy anh này thì tin theo phương Đông lắm), cứ họp hành gì quan trọng với khách hàng là đều né ra mấy ngày này, nếu buộc phải vô họp cũng chỉ tán chuyện vòng vòng cho hết giờ rồi nán lại quyết định vào ngày hôm sau.

Có mấy lần sếp lớn của khách hàng bắt quyết luôn vào ngày Tam Nương, y như rằng lúc nào gói dịch vụ cũng bị cắt giảm tối đa hoặc đội kinh phí do khủng hoảng, hoặc thậm chí bị hủy bỏ hoàn toàn. Sợ thật !

Nguyệt Kỳ (Moon Phase)

Mấy anh bạn làm chung thì theo Phương Đông nên tôi cũng theo luôn cho tiện, chứ gốc rễ thì tôi vẫn là người theo truyền thống khoa học huyền bí của phương Tây vì tử vi Phương Tây, cách tính transit (vận hạn), bài Tarot, bói sỏi Runes, chỉ tay, quả cầu thủy tinh, con lắc, bói bã trà… nhiêu đó đủ xỉu rồi còn tính thêm ngày âm, bốc phệ, mai hoa, lục nhâm, bát môn… nữa chắc chết, riết rồi ngày nào cũng muốn ngồi nhà ngáp ruồi đọc sách cho lành !

Tuy nhiên phương Tây vẫn có cái Nguyệt Kỳ kiêng kỵ khá là khớp với cái Tam Nương này, nên tôi xin chia sẻ ở đây để thấy được cái kỳ diệu của Đông-Tây hội ngộ.

Nguyệt Kỳ của Phương Tây dùng y chang lịch âm của mình. Nếu các bạn còn nhớ 12 cung hoàng đạo, hãy tưởng tượng là có một dải băng dài chia làm 12 vùng trời bao xung quanh trái đất.

Cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới, một cung hoàng đạo mới, và tạo thành một dòng năng lượng mới (theo từng cung) ảnh hưởng tới toàn bộ sự sống trên trái đất. Ít nhất là vào ngày rằm, chúng ta thấy rõ nhất là nước triều lên, và người ta dễ khóc dễ cười dễ nổi khùng nhất, vì 90% cơ thể là nước – trong các tế bào.

Các án mạng hầu hết đều xảy ra vào trăng rằm, khi truyền thuyết phương Tây là một số người hóa sói (werewolf).

Trong một tháng, New Moon (trăng non) là kỳ trăng của sự Dưỡng Nuôi, khi năng lượng trong vũ trụ hoàn toàn thuận lợi để con người bắt đầu một việc gì đó quan trọng. Các dự án hùn hạp, làm ăn, hợp đồng nên được khởi sự tính toán vào lúc Trăng Non để nhận được nhiều thông tin và sự thông thái nhất của những người tính toán.

Trăng Non di chuyển qua cung hoàng đạo thứ 2 vào khoảng ngày 3 AL (Tam Nương) và cung thứ 3 vào ngày 7 AL (Tam Nương), nên 2 ngày nào coi như giao thời, “tranh tối tranh sáng” theo cách tính phương Tây, làm việc hay bị dở dở ương ương.

Waxing Moon / Half Moon (bán nguyệt) là từ ngày 8 – 13 AL, đó là kỳ trăng của sự Hành Động và Độc Lập, đây là lúc tập trung hành động để giải quyết vấn đề chứ không còn ngồi tính như lúc Trăng Non nữa. Phương Đông mình kỵ 13 AL (Tam Nương) cũng chính là vì đây là giai đoạn chuyển từ bán nguyệt sang trăng tròn.

Full Moon (trăng tròn) là từ 14 – 18 AL, trong đó có ngày 15 trăng hoàn toàn đối diện mặt trời (Moon opposition Sun). “Trai mùng một, gái hôm rằm” là đây, vì những người có tử vi sinh vào trăng tròn, cả ở Đông lẫn ở Tây, đều có quá nhiều năng lượng đối lập trong cuộc sống, dễ gây xung động lớn trong cuộc đời. Đây là thời điểm Gặt Hái theo quan niệm phương Tây.

Ngày 18 AL (Tam Nương) là kỳ chuyển của trăng thành Waning Moon (trăng khuyết), từ 18 – 27 AL, trong đó né ngày 22 (Tam Nương) vì là giai đoạn giao cung hoàng đạo. Thời kỳ này chúng ta nên nội liễm nhiều thứ: năng lượng, hoạt động, tính toán. Đây là thời khắc suy gẫm, đánh giá được – mất… Ai đùng đùng đi khởi đầu cái mới thì lỗ ráng chịu !

Trăng tàn (Balsamic Moon) 28 – 29.5 (phương Đông làm tròn thành 30 – kỳ thực trăng đi hết một vòng trái đất chỉ mất 29.5 ngày nên lâu lâu mình có tháng nhuận AL là vậy) chính là thời kỳ các “phù thủy” khoái nhất vì đây là lúc con người có giác quan thứ 6 mạnh nhất, thích hợp để cúng tế, học hỏi lĩnh hội cái mới trong địa hạt khoa học huyền bí. Còn các việc khác trong cuộc sống cứ để nhàn nhạt theo guồng mà chạy là tốt nhất.

Đọc bài này xong không phải để e sợ, mà để sống đúng với chu kỳ vũ trụ hơn, và cảm thấy một sự giao thoa Đông Tây tuyệt đẹp ! J.P. Morgan, nhà tài phiệt lớn nhất nước Mỹ đầu thế kỷ 20, là người luôn có những quyết định công việc theo kỳ trăng. Giờ đây ngân hàng đầu tư J.P. Morgan Chase là một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới hiện tại (trụ sở ở Sài Gòn là ở 29 Lê Duẩn). Vì dù cho chúng ta có dùng phương pháp nào, ở nền văn minh nào, để soi rọi con người và vũ trụ đi chăng nữa, thì nếu phương pháp đó là chuẩn, chúng sẽ cho cùng một kết quả ! (theo Kay Nguyễn)

Nói thêm về ngày Tam nương sát

Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch.

Chữ Hán Nôm : Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN).

Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau :

1/. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 (ngày Mão) mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý, cai trị ? – 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN – 1600 TCN).

2/. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) (sinh ngày 13 tử ngày 18 (ngày Thìn) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN – 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN – 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân.

3/. Bao Tự (sinh ngày 22 tử ngày 27 (ngày Mùi) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết, cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN – 771 TCN). Vua U chưa bao giờ thấy Bao Tự cười, ra lệnh ai làm cho nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng.

Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hoả đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U). Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, vua U cho đốt lửa trên hoả đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh đó là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.

Theo dân gian Trung Quốc, còn theo phong tục tập quán của Việt Nam thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng Đế sai 3 cô gái xinh đẹp (Tam nương) xuống hạ giới (giáng hạ) để làm mê muội và thử lòng con Người (nếu ai gặp phải) làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v.

oOo

Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thọ tử, Trùng tang, Trùng phục, Ly sàng, Không phòng, Hoang ốc, Thiên hình, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

Xem ngày tốt xấu quan trọng nhất là xem sao của ngày đó, lịch vạn sự đã nghiên cứu và xây dựng ứng dụng xem ngày tốt xấu để phục vụ các bạn hàng ngày.

NHỮNG HUYỀN THOẠI

CÓ THỰC TRÊN TRÁI ĐẤT

Thế giới thần thoại có đủ các vương quốc huyền bí và cảnh giới tồn tại song song với chúng ta. Người ta cho rằng đâu đó trên Trái Đất có điểm giao thoa giữa nơi con người sinh sống và chỗ của các vị thần. Giá như chúng ta nắm được mật khẩu để mở những cánh cửa thần kỳ đó….

1/- Yomi No Kune (nghĩa là cõi âm theo tiếng Nhật) Yomi No Kune là một phần của thần thoại Nhật Bản có xuất xứ từ thời kỳ Phật giáo được truyền bá rộng rãi.

Theo truyền thuyết, vạn vật được tạo nên bởi một vị thần tên là Izanagi và vợ Izanami. Sau khi Izanami hạ sinh ra lửa và chết đi, người chồng đau khổ đã làm cuộc hành trình sang thế giới bên kia để hồi sinh người vợ. Với sự gần gũi nổi bật trong các truyền thuyết khác, người chồng đã phát hiện ra một nơi tối tăm và ảm đạm, nơi các linh hồn có thể giữ nhục thân khỏi bị mục nát vĩnh viễn. Izanagi bị cấm không được nhìn vào vợ mình cho đến khi họ lên đến mặt đất, nhưng cũng giống như các nghịch lý huyền thoại khác, ông chợt thoáng nhìn qua và thấy cơ thể mục nát, đầy giòi bọ của bà.

Tức giận vì ông dám nhìn bà trong tình trạng đó, Izanami đã gửi quỷ nanh dữ đến để đuổi ông quay trở lại âm phủ mãi mãi, nhưng ông thoát được và phong ấn Yomi No Kune bằng một phiến đá khổng lồ. Đáp trả lại, Izanami nguyền rằng sẽ lấy đi 1.000 sinh mạng xuống cõi âm mỗi ngày và Izanagi cũng hứa sẽ tạo nên 1.005 sinh mạng mới nơi dương gian, quả thực âm giới chuyện huyền bí có thật.

Ngày nay, du khách đến thăm khu Matsue của Nhật Bản có thể ghé qua tảng đá được cho là Izanagi đã sử dụng để phong ấn cõi âm. Yomotsu Hirasaka, tên chính thức của lối vào, theo truyền thuyết nằm sau một trong những tảng đá gần đền Iya. Không rõ chính xác tảng đá nào giấu lối vào. Mộ của Izanami cũng nằm gần đó cùng với đền thờ.

2/ Xibalba : Ở đỉnh cao quyền lực, đế chế Maya trải dài cả vùng Mexico và Trung Mỹ, còn niềm tin của người dân vào thế giới bên kia rất mạnh mẽ. Nơi an nghỉ cuối cùng của họ là Xibalba, nơi chỉ người chết mới vào được và chỉ sau khi linh hồn đã vượt qua hàng loạt các thử thách, từ vượt qua con sông đầy bò cạp và máu, băng qua động dơi rồi đi theo một con chó có thể nhìn thấy trong bóng tối. Có nhiều lối ra vào Xibalba và các nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện thêm một lối khác ở bán đảo Yucatan. Các di tích lòng đất và phần chìm dưới nước làm nên một mê cung khổng lồ các hang động chứa đựng những điềm dữ theo những gì người Maya nghĩ rằng đang chờ họ phút cuối.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 11 đền thờ khác nhau trong những hang động, cùng với bằng chứng về sự hiến tế người. Một số hiện vật được để lại cho người chết, bao gồm đồ gốm, các hòn đá chạm khắc và gốm sứ. Các nhà khảo cổ khai quật các hang động cũng đã tìm thấy các cột đá khổng lồ và các cấu trúc được xây dựng dưới nước, một minh chứng cho thời gian, nỗ lực và kiên trì để xây nên ngôi đền. Mặc dù không rõ liệu huyền thoại của Xibalba được xây dựng xung quanh việc khám phá ra các hang động hay các hang động làm nên huyền thoại, có điều chắc chắn rằng cả hai có liên quan tới nhau.

3/ Các cánh cổng của Guinee (nước cộng hòa Ghi-nê) : Theo tập tục phù thủy, các cánh cổng của Guinee có tác dụng nào đó để kết nối linh hồn người sống với chết. Do có nhiều môn tà thuật với đặc điểm khác nhau, nên việc mô tả các cánh cửa này cũng nhiều khác biệt. Trong ma thuật ở New Orleans, nơi tồn tại các linh hồn sau khi chết thường hay tranh cãi xem ai là người kế tiếp sẽ đi đầu thai.

“The Gates of Guinee” là những cái cổng đó để vào thế giới bên kia, có tất cả 7 cổng. Phải mất 7 ngày để đi qua tất cả các cổng này, và nếu như linh hồn nào không vượt qua được, họ có thể trở lại dương thế trong hình hài một thây ma. Một số tay phù thủy tin rằng 7 cánh cổng này được đặt tại bảy nghĩa trang khác nhau ở New Orleans, mặc dù vị trí chính xác và số thứ tự của các cánh cổng là một bí mật được giữ kín hoàn toàn.

Các manh mối nghe nói đã lan truyền khắp thành phố và mọi nghĩa trang, để cho những ai có đủ kiến thức giải mã chúng, thường mang hình thức các dấu hiệu của ma thuật. Các cổng được cho là dễ tìm và mở ra nhất vào thời điểm các ngày lễ như Mardi Gras và lễ các Thánh, nhưng việc tìm ra chúng chỉ là sự khởi đầu của vấn đề. Các cánh cổng phải được tiếp cận và mở ra theo đúng thứ tự, mỗi cổng có một người giám hộ mà đòi hỏi phải có khẩu quyết phù hợp. Mở cửa sai thứ tự hoặc làm phật lòng giám hộ sẽ cho phép các ác linh nguy hiểm thoát qua cổng và tiến vào thế giới chúng ta.

4 / Khu vườn của Hesperides : Theo thần thoại Hy Lạp, thần Gaia đã tặng Hera một món quà cưới là những cây trổ ra quả táo bằng vàng, được cất giữ an toàn trong khu vườn của Hesperides. Hercules được giao nhiệm vụ đánh cắp một quả táo vàng trong lần trả công thứ 11 của ông, và ông đã hoàn thành bằng cách giúp thần Atlas nâng quả đất trong lúc người khổng lồ Titan chọc lấy một trong những trái cây vàng.

Lối vào khu vườn hiện nay được cho là nằm ở Lixus, một thành phố ven biển ở Ma-rốc. Nơi đây từng là một cảng tàu thuyền La Mã nhộn nhịp, các vách tường và tòa nhà của Lixus hiện nay chỉ còn chút di tích đã bị phá hủy gần hết. Di tích cho thấy phần còn lại của một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thành phố, sản xuất pa tê làm từ ruột cá lên men. Vị trí của các khu vườn được đề cập đến trong một văn bản dưới thời Hellenistic Hy Lạp, nhưng cũng có những địa điểm khác được đề cập đến, bao gồm Cyrene và một trong những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Libya.

5 / Newgrange Newgrange : Newgrange Newgrange là một hầm mộ rộng lớn được xây dựng ở thung lũng Boyne, Ireland hơn 5.000 năm trước đây. Công trình không chỉ thể hiện sự hiểu biết thông thái về thiên văn mà còn là một trong những lối vào thế giới khác của người Celt. Theo thần thoại Celtic, các vị thần đã di chuyển qua lại giữa các thế giới của họ và trần gian thông qua nghi thức nhất định và các thánh địa như Newgrange.

Người ta vẫn cho rằng Newgrange là lối đi vào một sảnh tiệc nguy nga tráng lệ dành cho những đấng gọi là Các vị chủ nhân của Ánh sáng, còn có lời đồn nó dẫn đến một vùng đất của những người trường sinh bất lão, hoặc vô bệnh. Nguồn thực phẩm và thức uống ở đó là vô hạn, ngoài ra còn có các loại cây thần kỳ liên tục sinh ra trái chín.

Thần thoại cổ xưa nhất xung quanh Newgrange kể rằng đây là nhà của sinh mệnh hiện thân cho dòng sông Boyne và là nơi có giếng cội nguồn của mọi trí huệ trên thế giới. Cây cối ở gần giếng rớt hạt vào trong nước, đem các tri thức mà nó tích tụ đến với cõi người. Các cư dân tiếp theo của thế giới khác liên quan đến Newgrange là thần Dagda, một trong những vị thần lâu đời nhất của Ai-len, người có quan hệ đến tri thức, mặt trời và bầu trời. Con trai ông là Oengus có quan hệ chặt chẽ với Newgrange, được sinh ra sau một ngày duy nhất và gia tăng quyền năng từ ngọn đồi để sống trong chín tháng. Sau đó, Oengus đã lừa đưa Dagda xuống cổng hầm mộ, nơi được cho rằng ông đã canh giữ ở đó đến ngày nay.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

CÂU CHUYỆN BÙA NGẢI

Logo KH huyen bi

9-bua-ngai-1CÂU CHUYỆN BÙA NGẢI

XỨ MƯỜNG

– Đoàn Dự ghi chép

Thưa quý bạn, hồi còn nhỏ, tôi thường được nghe bác tôi kể lại các chuyện lạ lùng ở những nơi xa xôi mà dân chúng làng tôi thường gọi là “đường ngược”. Sau này, lớn lên tôi mới biết “đường ngược” là các tỉnh mạn thượng du như Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái… mà đối với dân chúng thời đó đều là những nơi rừng thiêng nước độc, gồm toàn những người Mán người Mường, người Mèo người Nùng, Thái đen Thái trắng… vô cùng bí hiểm.

Dưới thời Pháp thuộc, bác tôi là nhà giáo tốt nghiệp Sư phạm Hà Nội, được bổ đi dạy tại Phú Thọ, sau đó được đổi về Thanh Hóa, cuối cùng là về Hưng Yên rồi Hải Phòng. Đến thời kỳ Việt Minh đánh nhau với Pháp, bác tôi đã có gia đình nên đem gia đình tản cư về Thái Bình và dạy học luôn tại quê nhà theo kiểu “tự túc”, nghĩa là học sinh ai muốn học thì học, muốn trả cho thầy đồng nào thì trả, không trả cũng được vì nhà thầy có ruộng đất do ông bà để lại, thuê người canh tác cũng tạm sống được.

Tính bác tôi ít nói, thích nghiên cứu các sách báo kể cả khoa học lẫn y học để giúp đỡ cho dân chúng nên rất được dân làng quý trọng. Cách áp dụng khoa học hay y học của bác tôi cũng rất kỳ lạ. Ví dụ có lần, một cậu bé con bà chị họ trong làng – nhà một mẹ một con vì người bố đã chết – tinh nghịch trèo lên cao tuốt luốt trên ngọn cây nhãn định chọc tổ ong, bị ong đốt, ngã xuống đất, tức thở, hai mắt nhắm chặt hình như đã chết.9-bua-ngai-3

Mọi người không làm sao được bèn bế đến nhà bác tôi. Bà mẹ quỳ phục xuống đất, khóc và lạy van như tế sao :

– “Ông giáo làm ơn cứu giùm cho con tôi…” – bà là chị họ xa nhưng không dám gọi bác tôi bằng chú mà gọi bằng ông. Bác tôi không nói gì cả, lẳng lặng đi chặt mấy cành si trồng làm cảnh trên hòn non bộ trước nhà, nhỏ nhựa của nó vào chiếc bát sành, mài vào đấy một ít mật gấu bác đã để dành từ bao giờ, pha một chút nước rồi bảo mọi người phụ với bác dùng đũa cả cậy răng cậu bé, đổ hỗn hợp nhựa cây si và mật gấu vào cổ họng cậu.

Một lúc lâu sau, cậu tỉnh lại. Hiện nay nghe nói cậu làm Phó giám đốc Hành chánh thủy điện Sông Đà và đã về hưu. Trong làng có bệnh dịch trâu bò bác cũng chữa theo cách kỳ lạ như vậy : Cho trâu bò uống thứ nước gì đó mà bác bảo xương truật là vị chính; ban đêm thì “úm” chuồng trâu cũng bằng thứ thuốc đó suốt đêm, trâu bò sẽ khỏi nhưng không bao giờ bác lấy của ai một đồng nào cả mặc dầu những vị thuốc bác mua có lẽ cũng khá tốn tiền.

Bác chỉ ở trong nhà, ít khi ra đến ngoài đường và hình như cũng ít biết mặt biết tên người làng. Thời Việt Minh, cũng chẳng bao giờ bác đi họp nữa, và họ cũng quên sự hiện diện của bác, coi như không có bác trong làng. Tuy nhiên, trong những bữa giỗ của họ hàng nhà tôi, ăn uống xong bác thường kể cho con cháu nghe những chuyện lạ lùng về phong tục tập quán của người 9-bua-ngai-2Mán người Mường ở Phú Thọ khi bác còn dạy học trên đó.

Ví dụ về chuyện “ma xó”, bác kể rằng khi nhà có người chết, người ta vào rừng kiếm loại gỗ quý, hạ cây xuống, chặt lấy một đoạn, khiêng về, phần trên dùng làm cái nắp, phần dưới đục sâu xuống thành cái quan tài. Làm lễ nọ kia xong, người ta đặt thi hài người chết vào trong đó, gắn nắp lại bằng loại nhựa gì rất kiên cố rồi để ở góc nhà hàng hai ba năm trước khi đem ra nhà mồ đặt ở nhà mồ.

Người chết khi còn để trong góc nhà như vậy gọi là “ma xó”. Bác tôi cũng cho biết, theo truyền thuyết, “ma xó” rất linh thiêng, ví dụ một gia đình có cửa hàng bán các thứ gì đó, nếu có quan tài “ma xó” ở góc nhà thì dù không có người trông coi cũng không ai dám lấy trộm không trả tiền, bởi vì nếu lấy thì “ma xó” sẽ theo về tới tận nhà, hành cho đến chết.

Tôi lớn lên với những câu chuyện lạ lùng, huyền bí của người Mán người Mường ở trên “đường ngược” do bác tôi kể lại. Mặc dầu rất tin bác nhưng càng lớn lên bao nhiêu tôi càng bán tín bán nghi, không hiểu những chuyện đó ra sao, có đúng như vậy không.

Thời gian qua đi, bao nhiêu năm đã qua rồi. Gần đây, ngoài Bắc có nhóm phóng viên đứng đầu là nhà báo Hoàng Anh Sương cũng thắc mắc như tôi ngày xưa, họ lặn lội lên các tỉnh mạn thượng du ngoài Bắc tìm hiểu khá cặn kẽ và xuất bản cuốn “Bùa ngải xứ Mường”, bán rất mạnh. Còn trong Nam, có nhà báo Bùi Hữu Cương, cũng tìm hiểu vấn đề bùa ngải của người Mường từ Thanh Hóa trở vào cho tới các tỉnh vùng Tây Nguyên như Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột… Thì ra ở Thanh Hóa cũng có rất nhiều đồng bào người Mường. Bây giờ xin mời quý bạn xem qua 9-bua-ngai-5cho biết một số những điều họ đã tìm hiểu được

Bùa ngải và các huyền thoại

Để tìm hiểu về chuyện bùa chú xứ Mường, các phóng viên đã lần tìm về huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, một huyện miền núi có đến 90% người Mường sinh sống, được mệnh danh “thủ phủ” của bùa ngải xứ Thanh.

Qua chỉ dẫn của một người quen, họ tìm đến nhà cụ Bùi Quý Phi – 78 tuổi, thôn Thọ Liêu, xã Thành Tiến, một người Mường chính gốc. Sau một hồi trèo đèo, vượt dốc, có mặt tại nhà cụ Phi, bức màn bí mật về bùa yêu đã được vén lên đôi phần.

Cụ Phi khẳng định “bùa yêu” là có thật chứ không phải chuyện do người Mường bịa ra để dọa người khác. Rồi cụ chậm rãi nói :

– “Bùa yêu do thầy mo, thầy cúng làm cho các đôi yêu nhau. Bùa yêu có cả điểm tốt lẫn điểm xấu. Điểm tốt là nó làm cho các đôi định bỏ nhau quay trở lại với nhau, lo việc chăm sóc con cái. Bùa yêu sẽ khiến cho các ông chồng, bà vợ có tính “ham chơi” nhanh chóng đoàn tụ gia đình. 9-bua-ngai-6Điểm xấu là một ông thầy biết làm bùa yêu nếu thấy cô gái nào đẹp mà mình ưng ý, bèn lập tức làm bùa cho cô ta theo về làm vợ mình.

Bởi vậy nên mới có chuyện có những ông thầy bùa có tới cả chục người vợ. Những ông thầy dùng bùa yêu theo kiểu đó hậu vận không tốt, con cái sẽ chết yểu hoặc không ngóc đầu lên nổi. Những người có tiền, mua chuộc thầy bùa để có nhiều vợ hoặc để lừa tình, lường gạt con gái nhà người ta thì kết quả cũng tương tự”.

Cụ Phi kể : “Có đám ma, khi vợ vừa chết được một lúc thì người chồng cũng lăn quay ra ôm chặt lấy xác vợ và chết theo. Lúc này mọi người mới té ngửa, hóa ra trước kia ông chồng thuê làm bùa yêu để chiếm đoạt người vợ chứ không có yêu đương gì cả”. Theo đó những cặp vợ chồng đến với nhau vì bùa ngải, nếu một trong hai người không may chết đi thì phải lập tức tìm ngay thầy về giải bùa. Trong trường hợp không kịp giải bùa hoặc ông thầy còn quá non tay, giải bùa không nổi thì người đó sẽ khó sống sót”.

Những câu chuyện do cụ Phi kể lại tuy khá phù hợp với những chuyện được truyền tụng trong dân gian nhưng các phóng viên vẫn nghi ngờ về tính xác thực của nó, bởi cụ chỉ là một lão nông quanh năm lẩn quẩn trong làng, do vậy họ tiếp tục đi tìm sự thật về việc này.

May mắn là một phóng viên trong nhóm đã tìm gặp được người anh họ làm giáo viên có quen với một ông thầy bùa ngải. Ông thầy này trước cũng là giáo viên, dạy cùng trường với ông anh họ đó, nay cả hai người đã nghỉ hưu.

9-bua-ngai-4Câu chuyện của ông giáo già kiêm thầy bùa

Đó là ông Bùi Ngọc Thuấn – nguyên giáo viên có gần 40 năm dạy môn Sinh học tại trường Trung học Thạch Đồng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Ông Thuấn đã nghỉ hưu, hiện đang làm Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi, kiêm Chủ tịch Hội Đông Y xã Thạch Đồng. Ông được mọi người trong xã đặt cho biệt danh là “Thầy 3 trong 1” vì ông vừa là thầy giáo, thầy thuốc, kiêm luôn cả thầy bùa, thầy cúng.

Sau một hồi chuyện trò, ông Thuấn khẳng định chắc nịch : “Lời kể của bác Phi hoàn toàn đúng, bùa yêu có thật”. Ông cho biết thêm : “Bùa yêu không phải ai cũng học được, nó là do cha truyền con nối, không truyền ra ngoài”.

Ông kể : “Bỏ bùa yêu có nhiều cách. Trước tiên là phải biết tên tuổi người mà mình định bỏ bùa. Thầy bỏ bùa, yểm câu chú, kết hợp với gọi tên người đó rồi thổi vào các dĩa dựng muối, gạo, sỏi, v.v… Sau đó trao cho người đến xin bỏ bùa, đem về ném vào đối tượng. Nhưng đạt hiệu quả nhất vẫn là lấy những vật dụng sinh hoạt hằng ngày của đối tượng như khăn mùi-soa, khăn mặt, mũ…, đem đến nhờ thầy làm phép.

Sau khi đã bị bỏ bùa yêu, người kia sẽ yêu đến chết cũng không rời. Nếu một người chẳng may chết trước thì lập tức phải nhờ thầy giải bùa ngay cho người còn lại, nếu không kịp thì người còn sống chẳng mấy chốc cũng sẽ chết.

Ông kể tiếp : “Có nhiều thầy bùa cao tay đến mức, một khi đã bỏ bùa yêu ít có người nào hóa giải được. Điều này xảy ra tình trạng là khi cần, tìm ông thầy đó về giải bùa thì ông thầy đã đi nơi khác sinh sống hoặc đã mất từ bao giờ. Gặp trường hợp đó các thầy bùa cấp độ thấp chỉ biết đứng nhìn chứ tuyệt nhiên không dám giải bùa vì sợ bùa phản lại”.

“Do mỗi bài thần chú khá dài, có khi lên đến cả trang giấy nên người học bùa yêu, nèm bùa, ếm bùa bắt buộc phải có hơi thở dài, không sứt môi hoặc hở răng hay nói lắp (cà lăm) để có thể 9-bua-ngai-7niệm thần chú một mạch không đứt hơi, ngắt quãng, nếu không sẽ phải đọc lại từ đầu. Ngoài ra cũng không được đọc sai tên hoặc sai câu thần chú.

Có nhiều cách để hóa giải bùa yêu được các thầy bùa áp dụng. Trong đó có phương pháp dùng một ống tre, lấy phân gà bôi chung quanh, sau đó hơ qua hơ lại trên đống lửa, nam hơ 7 lần, nữ 9 lần, vừa hơ lửa vừa đọc thần chú, kết hợp với đọc tên người bị bỏ bùa, bùa yêu sẽ được hóa giải.

Như vậy các “nguyên liệu” dùng để bỏ bùa hoặc giải bùa như gạo, muối, sỏi, ống tre, phân gà… rất đơn giản nhưng quan trọng là bài thần chú và cách bỏ bùa hoặc giải bùa, điều này do cha truyền con nối nên mới có thầy giỏi và thầy không giỏi.

Hư thực về ếm bùa, ma xó, nèm bùa

Sau một hồi phân tích, ông Thuấn nói thật ông không biết làm bùa, ếm bùa, nhưng ông biết nèm bùa. Một lần nữa ông khẳng định, bùa yêu, ếm bùa, nèm bùa là có thật, riêng ma xó thì theo ông nghĩ, không có thật.

Theo ông Thuấn cho biết, những thầy bùa thường thờ thần ếm, thần bùa trong nhà, phía trên bàn thờ có lọng xanh để che, đây là điều quan trọng để phân biệt với những thầy cúng thông thường. Và mỗi thầy ếm bùa, phía ngoài vườn thường có một gian thờ nhỏ, người ngoài không biết tưởng đó là ma xó nhưng thực chất trong đó có thờ những con sâu, không bao giờ hóa bướm, thức ăn của nó chủ yếu là xác động vật.

Phân của những con sâu này rất độc, được kết hợp với nhựa cây sùi lấy từ trên rừng, trộn lẫn với nhau. Hỗn hợp chất độc đó được tẩm vào khăn, áo, mũ… và người ngấm phải chất độc nói trên sẽ ốm yếu mà không 9-bua-ngai-10bác sĩ nào có thể tìm thấy nguyên nhân gây bệnh và không có loại thuốc nào chữa khỏi, lâu dần sẽ chết.

Theo nhiều người kể lại, con sâu đó được sinh ra từ râu của con cọp, nên mỗi khi đi săn được cọp, các thợ săn lập tức phải đốt ngay bộ râu cọp đi kẻo nó rơi vào tay các thầy bùa.

(Ghi chú của ĐD: Người ta nói râu cọp cắm vào cây măng tre còn non, chỗ cắm sẽ thúi và sinh ra loại sâu, phân của chúng rất độc dùng để làm hại người khác như trên đã nói. Thật ra ở Tây nguyên như Pleiku, Ban Mê Thuột và hai bên bờ sông Đồng Nai về phía thượng nguồn như Mã Đà, Tân Phú, La Ngà… có loại cây Mã tiền (Strychnos), lá và hột của nó có chất Mã tiền tinh (Strychnin) cực độc, ăn phải là tim ngừng đập chết ngay lập tức, nhưng nếu dùng với liều lượng nhỏ chỉ có các “thầy bùa” biết thì lại rất tốt, chữa được nhiều bệnh về thần kinh, xương khớp, phụ nữ lãnh cảm..vv. Vậy loại cây Mã tiền cũng được các “thầy bùa” sử dụng như chuyện “râu cọp” chăng? – ĐD).

Ếm bùa làm cho con người chết từ từ nhưng riêng nèm bùa thì sẽ làm cho con người chết ngay lập tức, nhưng ít người dùng vì nó tàn độc, hại người, nó như một con dao hai lưỡi có thể phản lại ngay chính bản thân thầy nèm. Nèm bùa có nhiều loại, bên cạnh loại nèm bùa độc ác làm chết người còn có nhiều cách nèm bùa khác lại cứu người, làm nhiều điều tốt.

Nếu như ếm bùa chỉ truyền cho người trong dòng tộc, người phải có duyên mới học được và phải kiêng kỵ , không được chui qua dây phơi quần áo và đồ dùng phụ nữ; thì nèm bùa bất kỳ ai cũng có thể học được, lại không phải kiêng khem.9-bua-ngai-9 Có nhiều cách nèm khác nhau, có loại nèm khiến người ta say rượu. Khi muốn cho ai mau say rượu, chỉ việc nèm bùa vào ly rượu, cho dù người đó tửu lượng cao đến đâu cũng chỉ cần một ly là sẽ say li bì bất tỉnh nhân sự suốt mấy ngày liền.

Nèm săn thú, nèm bắt cá được nhiều người biết, tuy nhiên loại nèm này thường có những câu thần chú mà người học nèm phải theo như: “… Tôi nguyện sống độc thân suốt đời không vợ không con”. Mỗi khi đi nèm, cá sẽ tự chui vào lưới, thú ở đâu lù lù xuất hiện, chỉ việc giơ súng lên bóp cò. Nhìn chung ít khi đi nèm mà về tay không, song phải sống độc thân suốt đời thì cũng thiệt thòi.

Nèm cá thì không không phải chia cho ai, còn nèm thú thì khi nèm được bất cứ loại thú nào cũng phải chia cho cả bản cùng hưởng, xem như san sẻ “nghiệp chướng” của mình cho mỗi người gánh một ít.

Ngoài ra, nếu nèm được thú rừng thuộc loại trung bình như hươu, nai…, tương ứng với nó sẽ có một con vật nuôi trong nhà như chó, mèo… sẽ phải chết theo. Nếu nèm được những con vật mạnh mẽ như hổ, báo, gấu… thì vật hy sinh “mạng đổi mạng” có khi lại chính là người trong gia đình thầy nèm, vì vậy nên nèm săn thú ít được người Mường sử dụng.

Bên cạnh những loại nèm kể trên còn có những loại nèm dùng để chữa bệnh như rắn cắn, trẻ con khóc đêm, trâu bò bị bệnh… Nèm chữa rắn cắn được nhiều người biết, mỗi khi có người bị rắn độc cắn, thầy nèm sẽ dùng lá cây rừng nhai vào miệng, lẩm nhẩm đọc thần chú rồi thổi vào vết rắn cắn, chỉ một lúc nọc rắn sẽ được trục ra ngoài. Có nhiều trường hợp bệnh nhân đã bị bệnh viện trả về do nọc độc đã ngấm vào tim không thể chữa nổi, song gặp được thầy nèm cao tay thì chất độc sẽ nhanh chóng được hóa giải, mang lại sự sống.

Sau khi kể toàn bộ những hiểu biết của mình cho các phóng viên nghe về bùa ngải, ông Thuấn lúc này mới tiết lộ là ông không biết nèm thú nhưng biết nèm cá. Ông đã vác lưới ra sông là sẽ có cá mang về ăn và ông còn biết nèm chữa bệnh cho trâu, bò.

9-bua-ngai-8Theo đó, những con trâu không may bị thương tích do đá núi quẹt phải chẳng hạn, rồi ruồi bâu đậu vào, đẻ trứng, sinh ra dòi bọ nhiều vô kể, ông chỉ việc vẽ hình con trâu ra giấy, lấy tay chỉ vào khu vực bị dòi bọ bám, rồi ông ngửa cổ lên trời miệng lẩm nhẩm đọc thần chú, mang tờ giấy đó ra chuồng trâu đốt, một lúc sau toàn bộ dòi bọ sẽ chết và tự rụng xuống đất.

Ở miền núi cao huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, các phóng viên vô tình được những người già trong thôn Bướp, xã A Tiêng kể về những câu chuyện bùa yêu của người Cơ Tu từ bao đời nay.

Những câu chuyện huyễn hoặc

Rất ít người biết được những bí mật của bùa yêu nhưng có những câu chuyện của chính những người biết bùa yêu cùng loại cây cỏ lạ lùng có tên Ameer đã khiến những người ít tin vào chuyện huyễn hoặc phải mê mẩn. Anh Atin Minh, Trưởng thôn Bướp vừa là người dẫn đường, cũng vừa là người thông dịch, bởi vì như anh nói: “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của ngải yêu chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Anh Minh nói : “Người Cơ Tu biết nhiều bùa ngải, nhưng chỉ có ngải yêu được nhiều người nghe, chứ ngải độc thì không thể nói cho ai biết được. Bà Bươn biết nhiều ngải lắm đó !”.

Căn nhà của bà Bươn chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa. Khi mọi người đến, bà Bươn đang ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy khách vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn nhà của mình.

Theo anh Atin Minh thì bà Bươn cưới được chồng nhờ một lần làm bùa yêu bằng một loại cây ngải bí mật ở trong rừng. Bà Bươn thừa nhận chuyện này và kể (do anh Atin Minh thông dịch) : “Chỉ cần một lá ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá ngải bằng tay rồi thấm nước sương, sau đó lén bỏ vào túi áo, túi quần hay dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người kia, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. 9-bua-ngai-12Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng.

Mỗi năm lại phải bỏ ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải ngải đó, nếu họ “dính” phải thì có tội lắm !”. Bà Bươn cũng thành thật cho biết, từ trước đến giờ bà đã cho ngải nhiều người phụ nữ để họ lấy được chồng như ý, trong đó có một cô con gái bà.

Nhưng khi các phóng viên muốn xem “mặt mũi” cây ngải mà bà đã dùng để làm bùa yêu thì bà Bươn nhất định không chịu. Phải mất cả buổi thuyết phục, cộng với sự đảm bảo của anh trưởng thôn Atin Minh, bà Bươn mới hé lộ bí mật về cây ngải mà bà đã dùng. Bà bảo hiện vẫn “nuôi” ở gần khu vực căn nhà bà đang ở. Với tay lấy đồ nghề đi rừng, bà Bươn bước xuống cầu thang và nói với anh Atin Minh mấy câu bằng tiếng Cơ Tu, chỉ thấy anh Minh gật đầu rồi dặn mọi người không được đi theo.

Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau, bà Bươn trở lại và trên tay cầm một bụi cây không thân, lá màu xanh hình lưỡi kiếm, dài khoảng vài phân, có củ nhỏ giống như loài địa lan. Các phóng viên săm soi xem liệu đó có phải là cây ngải yêu của bà Bươn không.

Anh Minh nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Bươn là biết loài cây này sống ở đâu, ngoài ra không ai biết cả”. Chúng tôi muốn xin bà một lá để mang về nhờ người tìm hiểu nhưng nhìn cái cách bà phản ứng bằng tiếng Cơ Tu với anh phiên dịch, 9-bua-ngai-11chúng tôi hiểu mình không được phép làm điều gì đó thất lễ nên chỉ xin được chụp ảnh.

Theo bà Bươn, trong làng có một người được bà cho ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị A Rất Thị Bê. Đến nay chị Bê hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con. Nghe vậy chúng tôi lại quyết định tìm gặp chị Bê để nghe cho tận tường câu chuyện.

Chị Bê kể rằng lúc mới 16 tuổi, chị “bắt” chồng nhưng chưa kịp thì chồng chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng ngải của bà Bươn cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ ngải của bà Bươn cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng” nên dễ làm.

Chị Bê còn cho biết thêm, cách đây khá lâu bà Bươn cũng cho một số phụ nữ ngải yêu để tìm chồng. Đó là những cô giáo người Kinh ở vùng xuôi được bổ lên đây dạy học. Vì ở nơi xa xôi lại khác biệt về văn hóa nên nhiều cô khi được phân về xuôi công tác đã lâm vào cảnh quá lứa lỡ thì. Vì thương các cô giáo nên bà Bươn mới cho ngải yêu đem về xuôi. Chi Bê cũng không biết các cô giáo có dùng bùa và có hiệu nghiệm hay không.

Bí mật về các loại cây kỳ lạ làm nên bùa yêu

Già Làng Alăng Sân, 85 tuổi, ở làng Arhôông, xã A Tiêng (huyện Tây Giang, cùng tỉnh Quảng Nam) cho biết : “Cây ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Cơ Tu xưa sử dụng làm bùa yêu, vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người được biết.

Chính vì câu chuyện nói trên mà việc dùng ngải yêu của người Cơ Tu hết sức nghiêm ngặt 9-bua-ngai-14và không nhiều người làm được. Tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm bùa yêu, đó là bà Alăng Thị Ahút nay đã 90 tuổi, có 3 đời chồng, 10 con, 14 cháu. Bà từng làm ngải yêu cho hàng chục phụ nữ Cơ Tu ở nhiều làng, mỗi lần làm ngải yêu được đổi lấy một tấm tút”. (Chú thích: Tấm “tút” : tấm thổ cẩm).

Ông Bhriu Liếc, nguyên Trưởng ban Dân tộc – Miền núi huyện Tây Giang khẳng định : “Chuyện ngải yêu là có thật. Đồng bào Cơ Tu, Bhnoong, Xê Đăng ở đây còn có nhiều loại ngải công dụng khác nữa”. Một già làng người Cơ Tu cho biết : “Trước đây, cây ngải yêu có một số người trồng bí mật ở trong rừng, người có nhu cầu cần một lá ngải yêu, phải trả giá từ vài con heo hoặc đổi vài tấm tút. Theo tập quán, ngải yêu chỉ truyền cho người nữ, không truyền cho người nam. Kể từ sau năm 75, đồng bào được vận động sống văn minh nên cây ngải yêu đã mất dần và bị đẩy lùi ra khỏi cộng đồng của người Cơ Tu trên dãy Trường Sơn”.

Tiến sĩ Trần Tấn Vịnh, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Nam cho biết : Theo các nhà khoa học thì các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại hiếm, có thể trở thành thuốc độc hoặc thuốc để cứu người. Cây ngải, loại dược liệu chính để làm bùa yêu hay bùa độc mà những người dân tộc thiểu số sử dụng có rất nhiều loại và được pha trộn thêm với một số dược liệu khác.

Ví dụ cây ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. 9-bua-ngai-13Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”. Riêng cây ngải yêu lại là một loại ngải đặc biệt. Thực ra loại cây ngải này được bà con dân tộc làm “bùa yêu” vì nó có chứa chất kích thích tình dục. Loại hương liệu này nếu biết cách bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” lạ lùng tạo ra sự “thèm muốn” khó quên, khó cưỡng lại cho người bị bỏ bùa. Vì thế bùa ngải chỉ là chất xúc tác ban đầu nối kết hai người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tuy nhiên, chuyện bùa ngải đã bị huyền bí hóa và nó trở thành một phần trong đời sống tâm linh của những bộ tộc thiểu số. Chính vì bí truyền nên các loại ngải cũng được bao phủ lớp sương huyễn hoặc. Các thầy cúng, thầy pháp lợi dụng ngải, đánh vào lòng cả tin của đồng bào, tạo nên những hủ tục cúng ma, Tr bang hoang“thổi” bệnh đánh vào lòng mê tín của đồng bào…

TS Trần Tấn Vịnh nhận xét : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc thiểu số tại các khu vực nói trên vẫn chưa được thực hiện nhiều và có có hệ thống. Nếu làm được điều này, những loại dược liệu mà bà con đã dùng để làm bùa ngải sẽ là những nguồn dược liệu vô giá”. (theo Đoàn Dự ghi chép)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

BÙA NGẢI CỦA ĐỒNG BÀO PA-KÔ

Logo TG tam linh

9-dinh-kim-ngan-1NGÔI ĐÌNH KIM NGÂN

NƠI TT PHÁP GHÉ THĂM

Bia đá, cột đình cổ, hoành phi câu đối, mái vòm, không gian cổ kính là những đặc trưng của ngôi đình lớn nhất trên phố cổ Hà Nội – đình Kim Ngân được Tổng thống Francois Hollande ghé thăm.

H1: Đình Kim Ngân là điểm dừng cuối cùng của Tổng thống Francois Hollande trong chuyến dạo chơi phố cổ Hà Nội chiều 6/9/2016. Đình tọa lạc tại số 42 phố Hàng Bạc (Hoàn Kiếm, Hà Nội) được xây dựng từ thời Hậu Lê, cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, thờ ông Tổ bách nghệ (tổ trăm nghề) Hiên Viên. Đây được coi là một trong những đình cổ kính, rộng nhất trên địa bàn phố cổ.

H2: Tổng thống Francois Hollande được nghe giới thiệu sơ lược về lịch sử ngôi đình cũng như văn hóa người Việt tại đây.

9-dinh-kim-ngan-2

H3: Các giá trị chính mà di tích đình còn lưu truyền được, mang ý nghĩa lớn về mặt kiến trúc nghệ thuật và lịch sử tồn tại phát triển của một phường nghề ở Hà Nội. Vào thời Pháp thuộc, con phố Hàng Bạc có tên tiếng Pháp là Rue de changeurs (tức là phố Đổi Bạc, hay phố của những người nhiều tiền). Nơi đây quy tụ những thợ kim hoàn tinh xảo bậc nhất của đất kinh kỳ.

H4: Ngôi đình được xây theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ “Công” với gỗ và gạch là vật liệu chính. Đại đình rộng 3 gian, hậu cung 3 gian được  nâng cao và là hậu cung kép, có sàn thờ và hệ thống vách ngăn riêng biệt.

9-dinh-kim-ngan-3

H5: Nối giữa hậu cung và tiền tế là ống muống (hành lang nối giữa hai dãy nhà) làm theo kiểu kiến trúc 2 tầng mái, mái trên liên kết với tiền tế, mái dưới tạo không gian hở của hai bên và lấy ánh sáng tự nhiên. Tấm hoành phi đặt trang trọng trên cao, hai cột lớn là hai câu đối. H6: Năm 2009, đình Kim Ngân được trùng tu tôn tạo, và nới rộng mặt bằng với diện tích 575 m2. Hiện trong đình kê những bộ bàn ghế và tấm hoành phi câu đối cổ.

9-dinh-kim-ngan-4

H7: Chiếc sập với nhiều hoạ tiết hoa văn đặt giữa đình. H8: Con công được thêu những họa tiết cầu kỳ đặt trang trọng trên lưng con ngựa phía hai bên lối đi vào hậu cung. H9: Ba tấm bia đá trên bức tường.

9-dinh-kim-ngan-5

H10: Sau ngày đánh chiếm Thủ đô (năm 1954) khuôn viên đình bị thu hẹp, tuy nhiên, tại đình vẫn lưu giữ bia đá, đồ thờ tự, tượng pháp… Về kiến trúc, ở đây vẫn còn nhiều họa tiết chạm khắc rất đẹp, độc đáo. H11: Cây cột đình cổ được kê cao lưu giữ bên trong khuôn viên đình. H12: Đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 10/2012. (theo Ngọc Thành)

9-bhutan-1BHUTAN :

THIÊN ĐƯỜNG TRẦN THẾ

GÂY TÒ MÒ

Bhutan – quốc gia nhỏ bé với hơn 700 nghìn dân được xem như viên ngọc quý nằm trên dãy Himalaya, quốc gia duy nhất tự nhận mình là vương quốc hạnh phúc, lấy chỉ số hạnh phúc của người dân để đo lường sự phát triển.

Sân bay nguy hiểm nhất thế giới, đường băng ngắn nhất thế giới

Bhutan từng là mảnh đất gây tò mò bậc nhất trên toàn thế giới bởi nó được khóa kín giữa những ngọn núi và những đường biên giới, hiếm khi hé mở cho người ngoài bước vào khám phá. Tuy nhiên, những năm gần đây, khi vị vua thứ 5 của Bhutan – người tốt nghiệp Đại học Oxford danh tiếng lên trị vì đất nước, Thiên đường cuối cùng (The last Shangri-la) trên thế giới – cách người ta gọi Bhutan bắt đầu mở cửa.

Bhutan không có chỗ cho người thích du lịch bụi hay đi phượt bởi không cấp visa tự do. Người nước ngoài chỉ có thể tới đây dưới dạng visa làm việc, kết hôn hoặc visa du lịch được xin bởi hàng trăm công ty du lịch nội địa sẵn sàng 9-bhutan-2cung cấp dịch vụ cực tốt từ đặt vé máy bay, xin giấy phép du lịch đến hướng dẫn cho du khách tham quan.

Khách Việt Nam tới Bhutan chưa nhiều nên nếu không đặt được tour du lịch của công ty thuộc sở hữu của người Việt tại Bhutan, có thể tham gia các chuyến đi với hướng dẫn viên nói tiếng Anh chuyên nghiệp.

Theo quy định của vương quốc hạnh phúc, mỗi ngày một khách du lịch phải chi tiêu cho ăn ở, đi lại 200 USD vào mùa thấp điểm (tháng 1 đến 2, tháng 6 đến tháng 8 và tháng 12) và 250USD vào mùa cao điểm. Nếu bạn có ý định đi Bhutan hãy sắp xếp hành lý để lên đường ngay bởi người dân đang kiến nghị Chính phủ yêu cầu nâng mức chi tiêu lên cao hơn nữa.

Để tới được Bhutan, hành khách có thể bắt chuyến bay từ Bangkok, Hongkong và Kalkata (Ấn Độ). Đường bay tới Bhutan chỉ có hai hãng hàng không của chính quốc gia này khai thác là Drukair (Royal Bhutan Airline) và Bhutan Airlines (hàng không tư nhân). Sân bay quốc tế Paro tại Bhutan là một trong những sân bay nguy hiểm nhất thế giới bởi nằm giữa địa hình núi non hiểm trở của dãy 9-bhutan-3Himalaya và một đường băng duy nhất cũng thuộc danh sách những đường băng ngắn nhất thế giới. Hiện tại, chỉ có 8 phi công được cấp phép bay tại sân bay này.

Hạnh phúc tới từ đâu ?

Người Bhutan vẫn rất thuần chất, người trẻ tuổi có sự hồn nhiên, trong sáng, lương thiện, người trung tuổi trải đời có sự từ bi và trí tuệ của Phật tử lâu năm. Trò chuyện với họ, chúng ta bị thu hút bởi năng lượng tích cực từ họ tỏa ra một cách âm thầm. Đi đường núi cả chục cây số, họ vẫn cười nói, ân cần giúp đỡ những người yếu mệt. Bhutan không có nhiều nơi giải trí ồn ào, sẽ rất khó để tìm một quán bar hay quán cà phê. Chính vì thế người Bhutan dành phần lớn thời gian rảnh để đọc sách hoặc tập luyện leo núi.

Hạnh phúc nơi đây còn xuất phát từ sự bình đẳng. Đàn ông và phụ nữ đều có sức khỏe và làm việc nặng ngang nhau. Trong hôn nhân, đàn ông được phép lấy 4 vợ và phụ nữ cũng được lấy 4 chồng. Tuy nhiên, đàn ông muốn lấy thêm vợ phải được sự đồng ý của người vợ đầu tiên. Mặc dù vậy, đàn ông và phụ nữ ở đất nước này sống độc thân khá nhiều, tỷ lệ ly hôn cũng xấp xỉ 50%.

Thiên đường huyền bí

Cũng tại quốc gia Phật giáo thống trị này, hơn 40% đàn ông đi tu. Ở các tu viện tôi đến thăm, gặp rất nhiều trẻ em, các em đều đi tu từ nhỏ. Đến năm 18 tuổi, 9-bhutan-4các em sẽ được tự lựa chọn tiếp tục tu hành hay trở về với cuộc sống đời thường.

Điều đáng chú ý là đền thờ và tu viện của Bhutan không bao giờ thiếu kinh luân xoay (mani hay còn gọi là bánh xe luân hồi). Đây được coi là pháp bảo của Mật tông. Người dân Bhutan thường tới quay đủ kinh luân xung quanh đền, miệng niệm chú Ommani padme hung. Người ta tin tưởng mạnh mẽ rằng, chỉ cần chạm tay vào và quay kinh luân thôi cũng đã tịnh hóa được vô số tội lỗi và tích tập được một lượng công đức.

Một trong những địa điểm nhất định phải tới ở Bhutan là ngôi đền Paro Taktsang hay Tiger’s nest (Hang Cọp) nằm chơi vơi trên vách đá của thung lũng Paro – nơi Guru Rinphoche (ngài Liên Hoa Sinh – người truyền bá đạo Phật vào Bhutan) đã ngồi thiền ba năm, ba tháng, ba tuần, ba ngày và ba giờ vào thế kỉ thứ VIII. Đây cũng là ngôi đền đặc biệt linh thiêng đối với Phật giáo vùng Tây Tạng, 9-bhutan-5hành thiền tại đây dù chỉ một phút thôi cũng có thể đạt được kết quả ngang với hành thiền hàng tháng ở những nơi khác.

Để tới được đây, du khách cần leo núi khoảng 2-3 giờ, hang núi nơi ngài Liên Hoa Sinh thiền chỉ được mở cửa một lần/năm vào tháng 2 để mọi người vào chiêm bái. Thung lũng Paro buổi sáng cũng là địa điểm năng lượng phát ra mạnh mẽ, những người nhạy cảm có thể lập tức cảm nhận được ngay vì thế nếu có thời gian, hãy dậy sớm, ngồi thiền và kết nối năng lượng của bạn với nguồn năng lượng khổng lồ này.

Nếu bạn là người thích mua sắm, tốt nhất đừng tới Bhutan. Đất nước này chỉ hợp với những người có khả năng tài chính, thích đi du lịch, yêu thích khám phá văn hóa, đạo Phật, có sức khỏe, sức bền và chịu đựng được đi bộ đường dài…(theo Thanh Hương báo Giao Thông)

Logo KH huyen bi

9-bua-yeu-1BÙA YÊU NGẢI YÊU CỦA

ĐỒNG BÀO PA KÔ

VÀ VÂN KIỀU

Đó là một trong những bí mật lớn nhất của đại ngàn Trường Sơn. Nhưng có những câu chuyện của chính những người biết “Bùa yêu” làm bởi loại cây cỏ lạ lùng. Một chiều mưa gió trên miền núi cao thuộc huyện A Lưới huyện Nam Đông – Nơi có bà con dân tộc Pa Kô.Vân Kiều sinh sống thuộc TT Huế Tôi vô tình được những người già trong thôn kể về những câu chuyện “Bùa yêu” của người Pa Kô, Vân Kiều từ bao đời nay.

Sẽ yêu cho đến tận lúc chết !

Anh Hồ Ray, trưởng thôn vừa là người dẫn đường, cũng vừa là phiên dịch viên cho Tôi, bởi như Anh Ray nói : “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của “Ngãi Yêu” chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Dẫn tôi vượt qua mấy con suối nhỏ, len lỏi vào trong vườn rẫy của bà Hồ Tuyen, 9-bua-yeu-2Anh Ray vừa đi vừa nói : “Người Pa Kô, Vân Kiều biết nhiều Bùa Ngải, nhưng chỉ có “Ngãi yêu” được nhiều người nghe, chứ Ngải độc thì không thể nói cho ai biết được ! Bà Tuyen ở đây biết nhiều Ngải lắm đó !”.

Căn lều chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa như buồn hơn, và càng làm cho sự huyễn hoặc tăng thêm khi Tôi vào nhà bà Hồ Tuyen. Cái tuổi 70 phảng phất trên nhan sắc của một con người đã qua biết bao mùa rẫy khắc khổ. Bà ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy Anh Ray và Tôi vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn lều.

Một lá “Ngải yêu”

Bà Hồ Tuyen cưới được chồng nhờ một cây “Ngải bí mật” ở trong rừng. Qua phiên dịch Anh Hồ Ray, bà kể : “Chỉ cần 1 lá Ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá Ngải bằng tay rồi thấm nước sau đó lén bỏ vào túi áo quần, dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng. Mỗi năm lại phải bỏ Ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải Ngải thì có tội lắm !”.

Già Làng Hồ A Tá Khỉn, 81 tuổi, cho biết thêm : “Cây Ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Pa Ko, Vân Kiều xưa sử dụng làm “Bùa yêu”, 9-bua-yeu-3vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người biết được’!.

Trước, tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm” Bùa yêu”, đó là bà Hồ Y Ko Nut (87 tuổi), có 4 đời chồng, 8 con, 16 cháu. Bà từng làm Ngải yêu cho hơn mấy chục người phụ nữ Pa Ko, Vân Kiều ở nhiều làng, mỗi lá” Ngải yêu” được đổi lấy vải,heo,gà,lúa ,ngô….

Nhận diện “Ngải yêu”

Phải mất cả buổi vận động, thuyết phục bằng tất cả sự chân thành, cộng với sự đảm bảo của “cán bộ trưởng thôn” Anh Hồ Ray, bà Tuyen mới hé lộ bí mật về Cây Ngải nuôi trong rừng của bà. Với lấy đồ nghề đi rừng, bà bước xuống cầu thang và nói với Anh Hồ Ray mấy câu bằng tiếng Pa Ko, chỉ thấy Anh Hồ Ray gật đầu rồi dặn Tôi không được đi theo.9-bua-yeu-4

Khoảng 1 giờ sau, bà Hồ Tuyen trở về và trên tay chỉ một có một bụi cây không thân, lá màu xanh hình bản kiếm dài vài tấc,

có củ nhỏ giống như loài địa lan. Tôi săm soi xem liệu đó có phải là cây “Ngải yêu” của bà Hồ Tuyen không. Anh Hồ Ray nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Hồ Tuyen là biết loài cây này sống ở đây, ngoài ra không ai biết cả”.

Gia đình chị Hồ Vay Rom.

Bà Hồ Tuyen cho biết, trong làng có một người được bà cho Ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị Hồ Vay Rom hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con.

Hồ Vay Rom kể lúc mới mười sáu tuổi, chị bắt chồng nhưng chưa kịp thì “chồng” chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng Ngải của bà Hồ Tuyen cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ Ngải của bà Hồ Tuyen cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng”.

9-bua-yeu-5Hồ Tuyen còn kể, những năm sau giải phóng, trước cảnh mấy thầy cô giáo người Kinh tình nguyện lên đây dạy chữ cho đồng bào mà quên cả tuổi xuân nên nhiều năm không ai dám cưới, bà Hồ Tuyen đã cho Ngải để họ về xuôi tìm được vợ, chồng…

Theo các nhà khoa học, các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại ngải độc hại người hoặc ngải thuốc cứu người. Ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. Râu cọp là một loại Ngải cực độc. Lá ngón cũng vậy, chính là cây “đoạn trường thảo”. Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại Ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”.

Riêng cây “Ngải yêu” lại là một loại Ngải đặc biệt. Còn công dụng “yêu”, là do nó có chứa chất kích thích tình dục, có hương liệu, khi bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” và sự “thèm thuồng” khó quên, khó cưỡng lại. 9-bua-yeu-6Ngoài yếu tố tâm linh truyền thống tồn tại ở các tộc người còn khá gần với tự nhiên nguyên thuỷ, thì Ngải vẫn giải thích được bằng khoa học. Đó đều là cây thảo dược.

Bùa ngải chỉ là xúc tác ban đầu nối kết 2 người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tiến sỹ Văn hóa Đào Phong Vinh cho biết : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc các khu vực trên vẫn chưa được thực hiện bởi các nhà dược học và dân tộc học. Nếu được, đó sẽ là một nguồn tài sản vô giá !”

Tr bang hoangRừng sâu núi thẩm không kém các chuyện về Bùa Ngãi. Tui được duyên gặp duyên nên được tiếp cận học được các loại Bí truyền nầy ! Mong giúp được các Bạn đang cần hàn gắn hôn nhân vì có người thứ 3 chen vào. Giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau hơn, giúp các bạn cần tìm ý trung nhân… Hãy suy nghĩ thật kỷ trước khi liên hệ với Tôi các Bạn nhé !

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

1a LogoTuongso

Tr Thay boi 4NHỮNG DẤU HIỆU TRỜI ĐỊNH

BẠN SẼ CÓ SỐ HƯỞNG LỘC

Dưới đây là những dấu hiệu cực kỳ hiếm gặp trong lòng bàn tay, vì thế người sở hữu chúng được xem là đã được trời định sẵn số phận may mắn hơn người.

H1: Nếu ở cuống ngón tay cái có những vòng tròn nối đuôi nhau tạo thành một chuỗi dài thì đó gọi là đường Nhẫn gia tộc. Người sở hữu dấu hiệu này sẽ sống sung sướng, hưởng thụ cả đời nhờ phúc từ gia đình, có thể là gia đình của mình hoặc gia đình bên vợ/chồng. Tuy nhiên bạn cần cẩn thận với miệng lưỡi thế gian và sự ganh ghét của những người xung quanh.

9-dau-hieu-1H2: Cũng nằm ở cuống ngón tay cái, đường Cổ cồn trắng gồm hai đường vòng cung song song nằm vắt ngang qua phần bắp thịt. Đây là dấu hiệu của người có tố chất lãnh đạo và tài năng xuất chúng, thường đứng đầu trong nhiều lĩnh vực và khó lòng chịu thua kém ai. Họ là những người dễ đạt được thành công trong cuộc sống nhờ tài năng, kiên trì và nỗ lực.

H3: Thông thường người ta chỉ có một đường Trí tuệ trong lòng bàn tay, nhưng nếu ai may mắn sở hữu hai đường, gọi là đường Song trí, thì người đó là thiên tài bẩm sinh, trí thông minh hơn người. Việc gì họ cũng làm giỏi hơn người khác và thành công nhanh hơn người khác. Vấn đề duy nhất của họ là sự tập trung.

H4: Nếu một người mà nắm tới 3 đường Sinh mệnh trong lòng bàn tay, gọi là đường Sủng ái, thì cuộc đời người đó luôn nhận được sự yêu mến, giúp đỡ hết mình từ người khác. Cuộc sống và công việc của họ luôn gặp được quý nhân phù trợ nên thuận lợi đủ đường, 9-dau-hieu-2đường công danh sự nghiệp rộng thênh thang. Có điều họ thường gặp khó khăn trong việc tự mình đưa ra những quyết định quan trọng.

H5: Người có đường Hi vọng trong lòng bàn tay thì cuộc sống luôn gặp nhiều may mắn, ít sóng gió hay biến cố, đời sống tinh thần và tình cảm luôn thuận lợi, không phải suy nghĩ hay lo âu nhiều. Con đường công danh hay sự nghiệp của họ cũng rộng mở nhờ biết xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.

H6: Người may mắn sở hữu đường Thập thần là người có trí tuệ và thông minh bẩm sinh, thiên hướng nghệ thuật mạnh mẽ, 9-dau-hieu-3có óc sáng tạo và tố chất nghệ sĩ. Tuy nhiên những người này thường rất nhạy cảm, tâm lý tình cảm không được ổn định nên đôi khi hơi bốc đồng và làm việc theo cảm hứng là chính.

H7: Người nào nắm chỉ tay hình con cá trong lòng bàn tay, gọi là đường Mắt cá, thì coi như đã nắm chặt phú quý, tài lộc trong tay. Đây là đường chỉ tay rất hiếm gặp, vì vậy ai sở hữu nó được xem là dấu hiệu trời ban, đường công danh thênh thang rộng mở. Có điều những người này hay suy nghĩ nóng vội, hấp tấp, dễ làm hỏng chuyện.

H8: Đường Minh tinh là dấu hiệu của những người thành công, bất kể xuất phát điểm thấp đến đâu. Những người này có thể không thông minh nhưng rất khôn ngoan và kiên trì, biết cái gì là tốt, là lợi cho mình,9-dau-hieu-4 lại có tố chất lãnh đạo và biết tạo dựng mối quan hệ tốt với những người xung quanh nên làm việc gì cũng thuận lợi.

H9: Đúng với tên gọi của nó, người có đường Hài hước thường rất vui tính, dí dỏm, thông minh và khôn khéo. Cuộc sống của họ là để mang lại tiếng cười cho người khác, nhờ thế họ cũng hay được người đời yêu mến, giúp đỡ. Có điều những người này bề ngoài vui vẻ nhưng trong lòng đôi khi gặp nhiều phiền muộn.

Phan Tất Đại chuyển tiếp