BÁNH TRUNG THU XƯA VÀ NAY

BÁNH TRUNG THU :

TỪ HUYỀN THOẠI

ĐẾN PHIỀN TOÁI

Người xưa ăn bánh Trung Thu khi mùa màng đã kết thúc, chiếc bánh Trung Thu như món lễ vật dâng lên Trời Đất đã ban cho mưa thuận gió hoà. Ngày nay, chiếc bánh Trung Thu đem biếu đã trở thành một biến dị của truyền thống, lãng phí của cải và phiền toái trong quan hệ giữa người với người.

Từ huyền thoại về chiếc bánh Trung Thu

Về nguồn gốc của Tết Trung Thu, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau. Tuy nhiên, đó không phải chủ đề chính của bài viết này. Người viết chỉ có một nhận định rằng, dù có theo thuyết nào thì Tết Trung Thu cũng không thể tách rời khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp của những dân tộc Châu Á chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nhất là những khu vực trồng lúa nước.

Khi canh tác nông nghiệp, người ta theo lịch pháp truyền thống (Hoàng lịch, còn gọi là Âm lịch, thực chất là một loại Âm Dương hợp lịch), nó gắn với sự biến đổi của thời tiết trong năm như mưa nắng, nóng lạnh, con nước lên xuống, sự thay nhau của các mùa v.v.

Cho nên, khi gặt xong mùa lúa, cũng là khoảng giữa tháng tám âm lịch. Đây cũng là thời điểm trăng tròn nhất, sáng đẹp nhất, thời tiết mát mẻ nhất và người nông dân đã làm xong việc quan trọng nhất là thu hoạch mùa màng. Gió mát, trăng thanh, con người thảnh thơi thì sẽ có lễ hội.

Tết Trung Thu gắn liền với trăng tròn, với lễ hội rước đèn, với múa lân… nhưng đặc biệt không thể thiếu bánh Trung Thu. Sau đây là truyền thuyết được nhắc tới nhiều nhất.

88 năm sau khi người Mông Cổ thiết lập ách cai trị trên toàn cõi Trung Hoa, tinh thần của Hán tộc bị ngoại nhân đè nén nặng nề. Đời sống của họ bị định đoạt hoàn toàn bởi những kẻ cai trị Mông Cổ. Để loại trừ cơ hội nổi dậy của người Hán, người Mông Cổ cấm họ không được sở hữu vũ khí, thậm chí đồ ăn cũng bị chia khẩu phần. Mật thám của triều đình ở khắp nơi. Đặc biệt là người Hán không được phép tụ tập đông người. Đó là một khó khăn cho việc nhóm họp, truyền tin và tổ chức cho cuộc nổi dậy quy mô lớn của Hán tộc chống lại Mông Cổ.

Vào năm 1368, thời gian cho cuộc nổi dậy đã đến. Thủ lĩnh của cuộc nổi dậy chống Mông Cổ là Chu Nguyên Chương đã được quân sư Lưu Bá Ôn bày cho một kế hoạch. Tết Trung Thu đang đến, thời gian này mọi gia đình vẫn ăn một loại bột nhồi mà sau này sẽ được hoàn thiện thành bánh Trung Thu như ngày nay.

Lưu Bá Ôn cử người tung tin đồn rằng: sắp có một bệnh dịch chết chóc và cách duy nhất để vượt qua là ăn một loại bánh Trung Thu đặc biệt, điều đó khiến người dân rất tích cực tìm mua bánh Trung Thu. Đồng thời, ông ta cũng cho người đi khắp các tiệm bán bánh Trung Thu để nhồi vào trong nhân bánh một mẩu thông điệp khiến người Hán đồng loạt nổi dậy vào Tết Trung Thu. Có thuyết cũng cho rằng, thông điệp đó nằm trên mặt bánh và người ta phải cắt bánh ra làm bốn miếng và ghép lại thì mới nhận được thông điệp.

Bởi người Mông Cổ không ăn bánh Trung Thu, cũng không đọc được Hán tự nên họ không biết được kế hoạch này. Vậy là cuộc nổi dậy của người Hán đã thành công, người Mông Cổ đã bị đuổi ra khỏi đất nước Trung Hoa và Chu Nguyên Chương lên ngôi lập ra triều Minh. Đây là truyền thuyết được nhắc đến nhiều nhất về bánh Trung Thu, mặc dù nó không nhất thiết là chính xác nhất. Tuy nhiên, nó liên quan đến chủ nghĩa dân tộc mang tính lịch sử của người Trung Quốc..

Đến cuối thời nhà Thanh, câu chuyện lại được lan truyền lần nữa, lần này chính thức bằng văn tự. Lý do là, Hán tộc liên hệ sự cai trị của một dân tộc thiểu số là Mãn Châu, mà họ không hoàn toàn phục tùng, với sự cai trị khi xưa của người Mông Cổ. Và câu chuyện nguồn gốc bánh Trung Thu là thể hiện ước vọng quật khởi của họ.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ Trung Quốc bị xâu xé bởi các cường quốc phương Tây, ví như một chiếc bánh ngọt bị ăn bởi 8 thực khách. Chiếc bánh ngọt biểu tượng Trung Quốc đó chính là bánh Trung Thu.

Một lần nữa, hình ảnh chiếc bánh Trung Thu lại xuất hiện trong một sự kiện chính trị khác là cuộc cách mạng Ô Dù ở Hồng Kông năm 2014. Những người chống đối đã tạo hình những thông điệp chính trị ở vỏ ngoài của chiếc bánh Trung Thu.

Hình tượng bánh Trung Thu trong văn học

Trong tiểu thuyết “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” của nhà văn Kim Dung, sau khi Trương Vô Kỵ đảm nhận chức Giáo Chủ Minh Giáo, liền tập hợp giáo chúng mở cuộc đại hội Minh Giáo vào ngày rằm tháng 8 ở Hồ Điệp Cốc tỉnh Hoài Bắc.

“Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, các lộ giáo chúng ngồi cả dưới đất, các giáo chúng chấp sự tổng đàn đem bánh nhân chay ra chia cho mọi người. Ai nấy thấy bánh tròn như mặt trăng nên gọi là bánh Trung Thu. Về sau người ta truyền tụng người Trung Hoa ăn bánh Trung Thu để thề giết quân Mông Cổ chính là từ đại hội của Minh giáo mà ra”.

Trong bộ truyện “Sở Lưu Hương Hệ Liệt” của nhà văn Cổ Long có bánh trung thu “Hằng Nga hận” do tiệm bánh Tam Nhật Khai sản xuất, nổi tiếng trên giang hồ.

Bánh Trung Thu xưa và nay

Khác biệt lớn nhất của bánh Trung Thu xưa với nay nằm ở phần nhân bánh. Bánh Trung Thu truyền thống của Trung Quốc thường có nhân đậu đỏ, chà là, hạt sen nhuyễn, táo ta, 5 loại hạt. Bánh Trung Thu theo phong cách Quảng Đông còn có trứng vịt muối.

Bạn đọc Việt Nam sống trong thời bao cấp hẳn còn nhớ bánh Trung Thu hồi ấy chỉ có một loại duy nhất: nhân thập cẩm. Bánh nhân thập cẩm gồm: thịt mỡ, mứt bí, lạp xưởng, lá chanh… đôi khi có cả hạt sen, hạt dưa. Nhân bánh rất ngọt, ngọt quá mức cần thiết và nhiều dầu.

Còn ngày nay, bánh Trung Thu ở khắp nơi đã quá khác biệt. Chúng ta không thể kể hết các loại bánh Trung Thu với các chủng loại nhân bánh khác nhau, vì làm sao chúng ta có thể liệt kê được trí tưởng tượng phong phú của con người. Bất cứ thứ gì ăn được đều có thể làm nhân bánh Trung Thu, từ trà xanh, dăm bông, kem phô mai (cream cheese), chocolate, khoai môn, đậu đỏ, đậu xanh, thịt lợn, khoai lang, sầu riêng, thạch sữa v.v. Đúng là phong phú thì có phong phú thật, nhưng có lẽ cũng hơi quá. Bánh Trung Thu hiện nay hầu như đã không còn hương vị truyền thống, cũng như ý nghĩa của bánh Trung Thu trong lễ hội đêm Rằm tháng 8 đã không còn như thuở ban đầu.

Đến phiền toái từ bánh Trung Thu

Người xưa ăn bánh Trung Thu là họ kỷ niệm một thời điểm quan trọng trong năm. Đó là khi mùa màng kết thúc, nếu trời cho mưa thuận gió hòa thì người nông dân sẽ được mùa. Và chiếc bánh Trung Thu được làm từ nông sản: bột mì, bột gạo, đậu đỏ, hạt sen, hạt bí, hạt dưa… là món quà mà mẹ thiên nhiên mang lại nhờ vào sự lao động cần cù của con người. Đó là lúc con người thảnh thơi để dâng cúng các sản vật này cho Trời Đất vì “ơn trời mưa nắng phải thì…” Đồng thời, họ cùng nhau vui vẻ thưởng thức sản phẩm do chính tay họ làm ra trong cảnh trăng thanh gió mát đầy khoan khoái.

Nhưng bánh Trung Thu ngày nay không phải là để ăn, mà là để biếu. Có nhiều người mượn lễ Trung Thu, mượn bánh Trung Thu để cầu cạnh, để nhờ vả, để gieo ân tình, để gặt quan hệ, để thể hiện sự có đi có lại, sự vay trả trả vay v.v. Do vậy, người được biếu không ăn bánh nhưng cũng phải mua bánh để biếu những người quan trọng khác.

Nếu coi việc biếu xén là đương nhiên, thì không được biếu sẽ thấy khó chịu, không biếu thì thấy áy náy.

Vì bánh là để biếu nên ai cũng cần đẹp mặt, cần sự sang trọng, sự độc đáo của hình thức. Chất lượng thực sự của bánh Trung Thu như một món ăn truyền thống được đặt xuống hàng thứ yếu.

Vì cần phải độc đáo, phải lạ nên người ta sẵn sàng tìm những nguyên liệu đắt tiền nhất làm nhân bánh mà không quan tâm xem nó có phù hợp với hương vị bánh Trung Thu hay không. Từ đó mới có các loại nhân bánh quái lạ như cua huỳnh đế, bào ngư, tôm càng, hạt sen tứ quý v.v. Người viết đảm bảo rằng nếu kim cương mà ăn được thì sẽ có người cho nó vào nhân bánh và sẽ có người mua để tặng.

Vì cả người tặng bánh lẫn người được tặng cần được đẹp mặt nên hình thức bánh phải rất cầu kỳ. Không cầu kỳ sao thể hiện được tấm lòng trân trọng đây? Cho nên vỏ hộp bánh bằng da Ý nhập khẩu, hộp bánh được thiết kế bằng chất liệu gỗ, sơn mài, hay nhôm dập nổi cao cấp… cũng không có gì là lạ.

Và bánh cũng cần phải đắt tiền thì may ra mới tạo được ấn tượng với những người quen xài sang, trong đời chưa cao lương mỹ vị nào chưa từng được nếm thử. Cho nên, trong hộp bánh mới kèm cả những thứ không liên quan gì như rượu Tây hay những thứ đồ kỳ quặc khác mà trí tưởng tượng bất kham nhất của con người có thể nghĩ ra được.

Một hộp bánh như thế có thể có giá lên tới hơn chục triệu đồng.

Một thứ bánh Á Đông người ta thường dùng kèm với trà mạn mà lại đi dùng với rượu Tây? Có khác gì đem xúc xích chấm vào mắm tôm. Thật là một cuộc giao chiến (không phải giao thoa) Đông Tây về văn hóa.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng phải thôi. Bánh Trung Thu mà dùng nhân “Tây” như chocolate hay cream cheese thì rõ là phải dùng với rượu Tây chứ còn gì nữa.

… và hậu quả của bánh Trung Thu đem biếu

Vì bánh là để đem biếu, không phải để ăn. Vả lại, cũng không phải ai cũng thích ăn bánh trung Thu vì nó quá ngọt. Trong bối cảnh nhiều người béo phì và tiểu đường như hiện nay, thì bánh trung Thu cũng sẽ nằm trong thực đơn phải kiêng cữ của họ. Cho nên nhiều bánh được biếu sẽ bị bỏ đi.

Theo trang BBC thì năm 2012, có 2 triệu bánh trung Thu bị vứt bỏ ở Hồng Kông. Đó mới chỉ tính riêng cho Hồng Kông. Còn không biết với Trung Quốc đại lục thì con số ấy còn lớn đến ngần nào nữa. Và 6 năm đã trôi qua, hiện nay thì không biết con số ấy thực tế ra sao.

Lãng phí không chỉ nằm ở số bánh Trung Thu bị vứt bỏ mà còn nằm ở những vật liệu đóng gói: hộp kim loại, sơn mài, lụa lót hộp… như kể trên. Thậm chí từng chiếc bánh nướng bánh dẻo còn được bọc bằng nilon, rồi được bọc tiếp bằng hộp giấy, và lại thêm lớp hộp hoặc túi ngoài.

Người ta ước tính chỉ riêng việc đóng gói bánh Trung Thu mỗi năm đã mất gần 375 triệu đô la Mỹ.

Việc xử lý những vật liệu bị vứt bỏ này là một vấn đề không đơn giản và tốn kém. Nhiều nhà hoạt động môi trường đã phải kêu trời vì vấn đề này.

Nhưng chuyện không chỉ có thế. Đôi khi, những quà tặng đắt tiền này đã xóa nhòa ranh giới giữa quà biếu và hối lộ.

Năm 2013, chính quyền Trung Quốc của ông Tập Cận Bình đã trừng trị thẳng tay đối với những món quà biếu ngoài kiểm soát của các quan chức chính quyền, những người dùng tiền của công để mua bánh Trung Thu đem biếu xén lẫn nhau và đám cánh hẩu thương mại.

Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho bánh Trung Thu

Hậu quả từ chiếc bánh Trung Thu đem biếu là sự biến dị của truyền thống, sự lãng phí của cải xã hội và sự tiêu cực trong quan hệ giữa người với người. Xét cho cùng, nó có nguyên nhân từ tính háo danh, hám lợi và quá chú trọng hình thức của người đời. Hạn chế được những tiêu cực ấy thì sẽ hạn chế được hậu quả của “hậu Trung Thu”.

Khi bạn tặng bánh Trung Thu cho người khác, xin đừng mang tâm truy cầu lợi ích hay gieo một món nợ ân tình trong tâm trí của người. Sau khi làm được điều ấy, điều còn lại bạn cần quan tâm là khẩu vị của người được tặng bánh.

Họ có thích ăn bánh Trung Thu hay không? Khẩu vị của họ ra sao?

Nếu họ thích, bạn hãy mua tặng họ một hộp bánh không quá cầu kỳ về hình thức, không kệch cỡm về khẩu vị nhưng tinh tế trong chất lượng để đảm bảo rằng người được tặng sẽ thực sự trân trọng sự quan tâm của bạn và họ sẽ dùng nó trong những bữa tiệc ấm cúng của gia đình. Đó là thứ tình cảm quý mến và vô tư mà bạn nên cho đi. Những người tinh tế và chân thành luôn biết đánh giá cao những điều ấy hơn bất cứ một vật phẩm màu mè diêm dúa nhưng giả tạo nào.

Bạn có thể không thích ăn bánh Trung Thu truyền thống, nhưng hãy trân trọng nó như một giá trị văn hóa mà người xưa để lại cho chúng ta. Còn tốt hơn nữa nếu thế hệ sau của chúng ta vẫn được chúng ta dạy dỗ để giữ được lòng trân quý ấy.

“Con người có tổ có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Trân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp thuộc về truyền thống luôn luôn là cái gốc để làm người trong bất kỳ thời đại nào.

Và nếu nhìn dưới góc nhìn ấy, thì bánh Trung Thu không chỉ là một chiếc bánh, đó là hương hồn của cha ông, là tâm tình của lịch sử vẫn chảy trong dòng máu mỗi người Việt chúng ta. (theo Bình Nguyên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐGH PHANXICÔ

VÀ “PHÉP LẠ” BÁNH TRUNG THU

Tờ báo NCR (National Catholic Reporter) mới đây đặt một câu hỏi : “Phải làm gì khi bạn cần tới 10.000 bánh trung thu mà lại cần thật gấp rút ?”. Câu trả lời là : “Hãy viết thư cho Đức Giáo Hoàng !”

Sự thực thì Đức Giáo Hoàng nghè khó của chúng ta đã không cung cấp tất cả 10.000 chiếc bánh trung thu đâu, nhưng nghĩa cử của Ngài đã tạo ra một ‘phép lạ’ giống như xưa khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi 5000 người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ.

Có người cho rằng phép lạ đích thực của ‘hiện tượng bánh hoá ra nhiều’ của Chuá xảy ra được, chính vì cử chỉ tượng trưng của Ngài đã khuyến khích ‘tinh thần san sẻ’ giữa những người ‘có’ và người ‘không có’ trong đám đông.

Chúng ta không dám ‘lạm bàn’ về phép lạ cuả Chuá vì làm như vậy là hoài nghi về quyền năng siêu nhiên của Thiên Chúa. Tuy nhiên ‘phép lạ bánh trung thu’ mới đây nếu có thể gọi được là ‘phép lạ’, thì rõ ràng đã xảy ra bởi vì tấm gương ‘san sẻ’ cho người nghèo cuả Đức Thánh Cha.

Câu chuyện như sau :

Đức Hồng Y Joseph Zen, 81 tuổi, giám mục về hưu của Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ để chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện, phục hồi chức năng của Hồng Kông.

Ngài thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, vì phong tục ở đây là tìm về gia đình trong ngày tết trung thu để có thể chia sẻ những tấm bánh với những người có mặt và không quên để dành những lát bánh cho những người vắng mặt cũng như những người quá cố.

Cho nên, theo Đức Hồng Y Zen, thì tấm bánh trung thu mang một ý nghĩa rất đặc biệt về niềm vui gia đình, về đoàn tụ và hạnh phúc. Tặng bánh trung thu cho tù nhân là một nghĩa cử đem lại nguồn an ủi và hy vọng cho họ.

Năm nay, Đức Hồng Y Zen ước vọng có được 10.500 chiếc bánh để tặng cho tất cả mọi tù nhân vào dịp Tết Trung Thu, ngày 19 tháng 9 mới đây. Biết rằng Đức Phanxicô là một người đầy lòng thương xót, Đức Hồng Y Zen nói với Asia News, “Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây “. Ngài đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng.

Đức Hồng Y đã đoán đúng. Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 của Đức Giáo Hoàng như sau : “Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu ! Thân ái ban phép lành, PP Phanxicô.

Đức Hồng Y Zen đã nắm bắt lấy cơ hội, Ngài đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm của ĐGH (dịch ra Hhán văn) và gửi cho những giáo hữu ở Hồng Kông xin họ hãy noi gương ĐTC.

Chỉ khoảng 2 tuẩn lễ, tiền quyên góp ào ạt đổ về, lên tới 170,000 đôla HK (22,000 USD, 464,574,000.00ĐVN), đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.

Vào đầu tháng Chín, Đức Hồng Y Zen cho biết, “Tôi đã gửi cho Đức Thánh Cha một hộp bánh Trung Thu và chúc lễ hội đến Ngài”. Đó là một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối. Ngài cho biết thêm “Khi tôi đến thăm các tù nhân vào cuối tháng Tám, họ nhắc nhở tôi về bánh trung thu”, Ngài mỉm cười “Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hổ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo”.

Chuyện vui đã không ngừng ở đây, nhiều nhà thờ và tổ chức dân sự cũng đã noi gương ĐTC, quyên góp bánh trung thu và phân phối đến những người cao tuổi sống một mình và đến các gia đình có thu nhập thấp. Niềm vui lễ hội đang lan rộng tới tất cả mọi người. (theo Têrêsa Thu Lan)

ĐẶC TRƯNG MÂM CỖ

TRUNG THU KHẮP CHÂU Á

Vòng quanh các quốc gia châu Á xem cách soạnị mâm cỗ đón trăng tròn.

1/. Trung Quốc : Ở Trung Quốc, loại bánh truyền thống hàng năm là bánh nướng. Chiếc bánh này ở Trung Quốc mang ý nghĩa đoàn tụ, đoàn viên, dựa theo một tích cổ.

Theo đó, một vị tướng lĩnh là Trương Sỹ Thành, đứng đầu khởi nghĩa chống quân Nguyện đã làm 1 loại bánh trung thu nhét mảnh giấy ghi: “Bát nguyện thập ngũ dạ sát Thát tử” (Đêm 15/8 giết giặc Thái – quân Nguyên). Nhờ có mẩu giấy đó, dân chúng mới biết được thông tin, đoàn kết lại đánh giặc, và giành chiến thắng.

Ở một số vùng như Quảng Châu, người dân còn có thêm lệ ăn ốc bắt từ sông vào dịp trung thu. Ở Phúc Kiến là tục ăn thịt vịt vì theo họ 15.8 âm lịch là thời điểm vịt ngon nhất. Ở Đài Loan, ngoài bánh nướng, người dân còn ăn thêm bánh dứa.

2/. Việt Nam : Ở Việt Nam, ngoài bánh nướng, còn có cả món bánh dẻo với lớp vỏ bên ngoài trắng muốt, mềm, dẻo, nhân bên trong là thập cẩm hay cốm. Chiếc bánh thơm hương này có thể được làm theo dáng tròn hoặc làm hình con cá, khiến trẻ em càng thêm vui thích.

Ngoài bánh nướng, bánh dẻo, mâm cỗ trông trăng của người Việt thường có thêm quả bưởi, làm thành hình chú chó rất khéo, quả hồng và trà xanh tao nhã.

3/. Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, trung thu là một ngày lễ vô cùng quan trọng, kéo dài tới 3 ngày. Thời điểm này, người dân tụ tập, mừng mùa vụ, cúng tổ tiên.

Bánh Songpyeon là đặc sản của ngày lễ này. Bánh được làm từ bột gạo, nặn hình trăng lưỡi liềm, có nhiều loại nhân khác nhau như: hạt dẻ, vừng đen, các loại đậu xanh, đỏ… Một số đặc sản trung thu khác của người Hàn là miến trộn japchae, bánh jeon và hoa quả

4/. Nhật Bản : Ở Nhật Bản, tết trung thu được gọi là Tsukimi. Cũng giống như các quốc gia châu Á khác, cả gia đình tụ tập cùng ngắm trăng và ăn những món ăn truyền thống.

Món bánh được làm nhiều nhất vào trung thu là dango, làm từ bột gạo, không nhân hoặc nhân đậu, hoa quả, rưới nước sốt bên trên.

Người Nhật cũng có truyền thống uống 1 cốc sake vào dịp này và tìm cách nhìn thấy bóng trăng tròn in trên cốc vì cho rằng điều này sẽ mang lại may mắn. Bóng trăng tròn in đáy cốc cũng được cho là sẽ giúp bà mẹ hiếm muộn có con. Mâm cỗ trung thu Nhật cũng không thể nào thiếu được những bông lau dịu dàng trong gió.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

LỄ GIỖ ĐỨC THÁNH TRẦN

20/8 ÂL LỄ GIỖ

ĐỨC THÁNH

TRẦN HƯNG ĐẠO

Dân gian có câu “Tháng Tám giỗ Cha / Tháng Ba tiệc Mẹ” để nói đến ngày giỗ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Nên hàng năm tại Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo ở số 36 Võ Thị Sáu, P. Tân Định, Q.1, đều diễn ra lễ giỗ chính thức, lễ giỗ lần thứ 711 là vào năm 2011 tưởng nhớ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Năm nay sẽ không ngoài thong lệ đó sẽ được cử hành từ rằm tháng 8 âm lịch cho đến hết ngày 20/8 AL.

Năm 2011 tại đền Kiếp Bạc, Côn Sơn tỉnh Hải Dương từ ngày 15 đến ngày 18/8 âm lịch năm Tân Mão, tại lễ hội, ngoài những nghi lễ và trò chơi dân gian truyền thống đã được duy trì, phục dựng hàng năm như lễ khai ấn, lễ rước bộ, lễ khai hội dâng hương tưởng niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, còn có nhiều nghi lễ cổ truyền được bổ sung, nâng cao về nội dung, chất lượng, như lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu.

Trong phần hội, ngoài các trò chơi dân gian truyền thống như đua thuyền, biểu diễn múa rối, năm nay sẽ tổ chức thi bắt vịt, nấu cơm. Đây là hoạt động nhằm tái hiện lại cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Đặc biệt năm 2011 đã tổ chức lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày mất của người vào sáng 20/8 âm lịch tại nội tự đền Kiếp Bạc và núi mâm xôi với sự tham gia của nhân dân 3 làng : Vạn Yên, Bắc Đẩu, Dược Sơn (theo Tuấn Anh)

Lễ hội đền Trần Thương

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Đền thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và song thân của người. Là một vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Trong tâm đức người dân, ông là Đức Thánh Cha. Trần Hưng Đạo được thờ ở nhiều nơi ở Hà Nam mà Trần Thương là ngôi đền quy mô, bề thế nhất.

Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh : Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh).

Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng.

Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái.

Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Lễ hội đền Trần ở Vũng Tàu

Ngày 20/08 Âm Lịch hàng năm, lễ giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được tổ chức tại Hội đền thờ Đức Thánh Trần: số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu.

Đại lễ giỗ Đức Thánh Trần là dịp để đông đảo nhân dân tưởng nhớ công ơn vị tướng tài ba của dân tộc, ba lần đánh bại quân Nguyên Mông đem lại thái bình cho đất nước. Đây là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp được gìn giữ từ đời này sang đời khác tại nhiều địa phương trên cả nước. Vào dịp lễ hội, hàng vạn lượt khách thập phương và người dân địa phương cùng tham dự lễ khai mạc và lễ dâng hương.

Lễ hội đền Trần ở Hòn Đất – Kiên Giang

Không chỉ du lịch sinh thái được mọi người biết đến nhiều mà việc đi thắp hương cầu phúc, an lành trong các dịp đầu năm. Đền thờ Đức Thánh Trần cũng là một địa chỉ quen thuộc. Trong các vị anh hùng dân tộc ở nước ta vào thời phong kiến, rõ ràng không có nhân vật nào được quảng đại quần chúng nhân dân tự nguyện phụng thờ nhiều như Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, mà bà con thường gọi một cách tôn kính là Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương sinh năm 1226 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là thôn Bảo Lộc, Mỹ Phúc, ngoại thành Nam Định. Ông là một bậc kỳ tài trong dòng dõi tôn thất nhà Trần: một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị xuất sắc và một nhà văn hóa lớn. Đặc biệt ông dám xóa bỏ những hiềm thù riêng trong tôn tộc để gây lại mối đoàn kết hầu chống lại kẻ thù chung. Trong ba lần giặc Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta : 1258, 1285 và 1287, với vai trò Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ lực lượng, ông đã làm cho quân Nguyên ba phen thất bại nhục nhã. Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi bị bắt sống và Thoát Hoan phải chui vào một ống đồng trốn chạy về Tàu. Ông qua đời ngày 20/8 năm Canh Tý (1300), được vua phong tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công, trong sự ngưỡng vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Ngoài đền thờ chính nơi ấp phong của ông ở Vạn Kiếp, nhân dân trong nước nhiều nơi dựng đền miếu thờ ngài. Đặc biệt tại ấp Tà Lốc xã Sơn Kiên huyện Hòn Đất, Kiên Giang, ở biên giới Tây Nam xa xôi, nơi cư trú của nhiều đồng bào từ miền Bắc vào lập nghiệp, cũng có một đền thờ Đức Thánh Trần và hàng năm bà con đều cúng tế nghiêm cẩn. Lý do xây dựng đền thờ cũng hết sức cảm động.

Theo ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng Ban Quản lý Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên, thì đền thờ ban đầu nằm ở Nam Thái Sơn, một xã hẻo lánh bên kia sông đối diện với thị trấn Hòn Đất. Trong đợt di dân vào Nam Thái Sơn hồi năm 1941 có nhiều bà con gốc gác ở Mỹ Phúc, Nam Định. Để việc làm ăn nơi xa xôi bớt cô quạnh và có thêm hơi ấm cội nguồn, một vị bô lão trong lần về thăm quê đã xin được một dúm chân hương (tăm nhang) từ ngôi đền thờ Đức Thánh Trần ở Yên Thắng. Từ một ít chân hương đất tổ nầy những bà con ở Nam Thái Sơn đã dựng lên một ngôi đền thờ sơ sài để có chỗ lui tới gởi gắm tâm linh.

Sau năm 1975, nhiều bà con Nam Thái Sơn đã di dời ra Bình Sơn, Mỹ Lâm, Bình Giang, Sơn Kiên và thị trấn Hòn Đất… để có điều kiện phát triển công việc làm ăn. Số bà con còn ở lại không nhiều. Để tiện cho những người ở xa về cúng kiến, năm 1994 bà con đã quyết định dời ngôi đền thờ từ Nam Thái Sơn về xã Sơn Kiên, Hòn Đất, ngay địa điểm hiện nay.

Mỗi năm Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên tổ chức cúng tế hai lần: một lần vào ngày 10/3 và một lần vào 20/8 âm lịch. Từ lâu rồi lễ cúng không còn bó hẹp trong cộng đồng bà con di dân từ miền Bắc mà đã trở thành một lễ hội chung cho cả người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong tiếng chiêng trống rộn ràng, Đội tế nữ của xã Mỹ Lâm (gốc dân Nam Định) với đồng phục áo dài, mấn đỏ và đai lưng kim tuyến rực rỡ đang nghiêm trang tế lễ. Còn một đội tế nam và một đội tế nữ ở các địa phương lân cận và các câu lạc bộ dưỡng sinh của những người cao tuổi ở Rạch Giá cũng tham gia, vì lễ giỗ Đức Thánh Trần kéo dài đến hai ngày.

Đặc biệt trong lễ giỗ đức Trần Hưng Đạo không có đãi ăn. Bà con đem nhiều vật phẩm vào cúng rồi sau đó chia lộc thánh. Cũng con từ thành phố Sài Gòn, Cần Thơ, thị xã Rạch Giá và các nơi nườm nượp đổ về.

Lễ Húy Nhật Đức Thánh Trần và Quân chủng Hải Quân

Mỗi năm vào tháng Mười dương lịch, tại Paris, Thủ đô nước Pháp đều có ngày húy nhật của Đức Thánh Trần Hưng Đạo do Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH – Pháp quốc tổ chức.

Nhiều năm trước Anh Chị Đặng Vũ Lợi, Chủ tịch Hội Hải Quân Hàng Hải Paris  gửi giấy mời nhưng tôi chưa một lần có  dịp tham dự vì ở rất xa Paris. Phần tôi vốn đã không mấy có cảm tình với Quân chủng Hải Quân dầu tôi có một đời yêu lính.

Trước đây hình ảnh anh lính Hải Quân trong tiềm thức tôi mờ nhạt, bởi dư luận nói rằng lính Hải Quân là những chàng Hoàng tử hào hoa, là thần tượng của những người đep kiêu sa, mỗi bến một người tình, lả lướt đa tình như con tầu lướt trên sóng biển. Yêu Hải Quân là tự sát, là biến mình thành “góa phụ ngây thơ “.

Tháng Tám năm 2000, tại Quận 13 Paris tôi tình cờ gặp lại Anh Chị Đặng Vũ Lợi. Anh Chị rất thiết tha mời tôi đến tham dự ngày Thánh Tổ Hải Quân. Tôi có hẹn Anh Chị  :

“Nếu em còn có thể trở về, xin hứa sẽ có mặt cùng Anh Chị vào ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo“.

Cuối tháng Tám năm 2000, tôi đã vào tù bên nước Anh gần một năm tiếp đến lại lật thêm năm cuốn lịch ở Hoa Kỳ.

Ngày trở về cùng cận ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và lần này tôi tận mắt nhìn thấy buổi lễ tế cổ truyền, từng bước đi của Ban tế tự như có một trời hồn nước uy linh.

Trong lịch sử chúng ta đã từng đọc thấy rất nhiều về lòng trung quân ái quốc, nay thời buổi “đất trời nổi cơn gió bụi“, thế sự nhiễu nhương biết tìm đâu người khí tiết kiên trung. Một lần đến nơi đặt tượng Đức Thánh Trần uy nghi tại số 16 Rue de Juilly, 77290 Mytry- Mory, France đã cho tôi một cảm giác khó quên. Thường thì trong nhân gian chúng ta chỉ thấy số đông người thờ ông Thần Tài, Thần Hộ Mạng, chớ mấy ai thờ vị Anh hùng đại công thần của Tổ Quốc. Trước khuôn viên nhà rộng rãi có đền thờ tượng Thánh Trần lẫm liệt.

Trời Paris hôm nay nắng ấm nhưng tôi nghe đâu đây tiếng sóng Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang mồ chôn xác giặc.

“Nam đế Sơn hà, Nam đế cư“ Lý Thường Kiệt.

Năm năm lao tù Mỹ quốc, tôi có duyên đọc được quyển Hải Sử của Đô Đốc Đặng Cao Thăng giúp tôi hiểu đứng đắn hơn về Quân chủng Hải Quân và tại sao Hải Quân lại chọn Đức Hưng Đạo Vương làm Thánh Tổ.

“Hải Quân ơi,

Anh là những Anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm nơi bóng tối âm u

Chưa một lần được hưởng ánh Vinh hoa

Nhưng tận tụy và âm thầm cứu nước“ 

(Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy)

Hải Quân Ngụy Văn Thà, cháu con Trần Quốc Tuấn, người tuổi trẻ anh hào đánh giặc trên Biển Đông. Anh chết theo tầu cho Quê hương được sống. Hải Quân Hồ Tấn Quyền vì TRUNG  tử nạn, và hình ảnh tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Paris có phải chăng chữ TRUNG  là truyền thống của Hải Quân ?

Thì ra anh lính Hải Quân đâu chỉ có hào hoa

“Anh là lính đa tình

 Nhưng tình Non Sông rất nặng“

Cảm ơn Đô Đốc Đặng Cao Thăng đã soi sáng sự thật qua cuốn Hải Sử, cảm ơn Ông Bà Hải Quân Đặng Vũ Lợi đã duy trì bản sắc văn hóa dân tộc trên xứ người “Văn hóa còn, nước Việt còn“.

Cảm ơn những người anh, những người bạn Hải Quân xa gần bên tôi và xin thứ lỗi cho tôi đã một lần trong tôi Hải Quân mờ nhạt.

Đứng giữa trời Paris, tâm can vằng vặc

Bạch Đằng giang réo gọi Hồn Quê

Hỡi ai tỉnh, hỡi ai còn đang mê ?

(Nguyễn Thị Ngọc Hạnh – viết tại Paris nhân ngày Lễ Húy Nhật Thánh Tổ Hải Quân  Đức Trần Hưng Đạo) (tổng hợp từ nhiều nguồn)

“BÙA RIU” TRÊN VÙNG CAO

Từ lâu, trong những câu chuyện về miền núi, người ta vẫn nhắc đến một thứ bùa, khiến những người vốn không có tình cảm bỗng trở nên quyến luyến, nhớ thương nhau, đó là bùa yêu… Thực thực, ảo ảo của bùa yêu càng khiến cho vùng cao trở nên kỳ bí, đầy chất liêu trai.

Chuyến công tác tại vùng miền núi Tuyên Quang, tôi đã có dịp đi tìm lời giải của bùa yêu. Theo người dân địa phương, bùa yêu còn được gọi bằng một cái tên khác là “bùa riu”. Ở vùng này có nhiều tộc người sinh sống, trong đó người dân tộc Tày chiếm số lượng đông thứ nhì, sau người Kinh. Và họ truyền tai nhau rằng, chỉ có người Tày mới biết thả “bùa riu”.

Huyền bí những chuyện tình

Thổ Bình (huyện Chiêm Hoá – Tuyên Quang) là một xã thuần nông, nằm cách tỉnh lỵ cả trăm kilomet đường rừng. Cảm nhận đầu tiên khi đến vùng này, ấy là vẫn còn giữ được những nét đặc trưng của một xã vùng cao : những nếp nhà sàn ẩn khuất sau luỹ tre làng, những người dân hiền lành trong những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.

Hỏi về câu chuyện “bùa riu”, ai cũng e dè, ngại ngần không muốn đề cập đến. Gặng hỏi mãi, họ thừa nhận rằng có thứ bùa khiến con người ta say đắm, mê mẩn nhau ấy. Tôi được giới thiệu để gặp một nhân vật mà theo họ, đã từng bị thả “bùa riu”. Anh Thuỳ đang kể lại chuyện mình bị thả bùa

Người tôi tìm gặp là một thanh niên ngoài 30 tuổi. Gặng hỏi anh về chuyện “bùa riu”, anh Mai Nhân Thuỳ kể :

– “Năm tôi học lớp 11, tôi chơi với người bạn ấy rất bình thường thôi, không bao giờ có suy nghĩ yêu đương gì đối với người đó cả. Sau đó, tôi có tâm trạng rất khác, lúc nào cũng nhớ đến người ta, lúc nào cũng muốn gặp người ta, một ngày không gặp tôi không thể chịu nổi, phải tìm mọi cách để được gặp. Một thời gian sau, tự tôi cảm thấy chán ghét người đó, cảm giác rất ghét, không còn muốn nhìn mặt người đó nữa. Sau thời gian đó, tôi nghĩ lại, có thể là do tôi bị thả bùa yêu. Bùa yêu chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, nếu muốn duy trì thì người đó phải thả tiếp, nếu không tự khắc nó mất đi.

Tôi bị “bùa riu” trong trường hợp nào thì tôi không biết. Người ấy sống cùng bản với tôi, giờ tôi không muốn nhắc đến tên nữa, vì họ đã lấy chồng, có con rồi.”

Ở bản Phu này người ta còn rỉ tai nhau rằng chị Pêêc biết thả “bùa riu”. Chẳng thế mà người đàn bà lam lũ, xấu xí, bàn tay co quắp vì dị tật ấy lại có thể khiến cho người đàn ông đã có vợ và hai người con trai mê mẩn mình. Chị Pêêc đã sinh một đứa con gái. Không công khai bố đứa bé là con ai nhưng dường như ai ở cái bản này cũng biết đó là con của người đàn ông đã có gia đình kia.

Tôi tìm gặp người đàn bà ấy trong một buổi chiều muộn. Chị sống cùng đứa con gái nhỏ trong một gian nhà tranh. Cái nghèo hiển hiện trong từng vật dụng của mẹ con chị : cái chén vại sứt miệng cáu bẩn, chiếc chõng tre ọp ẹp… Tôi hỏi chị về chuyện “bùa riu”, chị thừa nhận “Có đấy, nhưng chỉ làm vào dịp tết là linh nghiệm nhất, ngày thường người ta không làm bùa đâu.”

Nhưng khi tôi hỏi chị có biết thả thứ bùa đó không, chị lắc đầu và từ giây ấy, tuyệt nhiên chị không nhắc gì đến câu chuyện “bùa riu” nữa.

Hỏi thêm về thứ bùa bí ẩn này, tôi được Noóng – một cô gái dân tộc Tày – kể : “Trước kia ở đây có chị Loan Coong đem lòng yêu một anh lái xe đường dài tên Chiến. Anh này đã có vợ con ở phố rồi nên chẳng để ý đến chị ấy đâu. Thế mà một thời gian sau, mọi người thấy anh Chiến quấn quýt chị Loan Coong lắm, bỏ cả việc lái xe để ở lại đây. Đã có người trong bản nhìn thấy chị ấy đến nhờ bà Ngấm làm bùa mà. Giờ thì anh kia đã bỏ vợ, lấy chị ấy và lên phố sống rồi”.

Để chứng minh cho lời kể của mình, Noóng dẫn tôi đến cuối bản, chỉ cho tôi ngôi nhà trước đây của chị Loan Coong. Gian nhà tranh không người ở hoang tàn, cũ nát. “Thỉnh thoảng thấy chị ấy về quê, chắc để làm bùa đấy, vì thứ bùa này chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, muốn duy trì phải làm lại” – Noóng thì thầm chỉ đủ cho tôi nghe.

Lời niệm chú của bùa yêu

Trong câu chuyện Noóng kể, tôi nghe được thông tin về người biết thả “bùa riu”.

Vào vai một người thất tình, tôi tìm gặp một bà Ngấm để xin học cách làm bùa. Bà Ngấm đang đọc lời niệm chú của bùa yêu

Bà Ngấm năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng còn khá minh mẫn. Sau lần ngã khi leo lên bậc thang nhà sàn, bà Ngấm chỉ có thể nằm để tiếp chuyện tôi. Sau một hồi than vãn, năn nỉ, bà lão đồng ý dạy tôi cách thả “bùa riu” vào một ngày rằm trong tháng.

Bà Ngấm dặn tôi cách thức thả bùa : “Khi gần người mình yêu, miệng lẩm nhẩm đọc lời thần chú bằng tiếng dân tộc, vừa đọc vừa đặt tay lên vai người mình yêu. Nhớ là phải bí mật, không để đối tượng biết việc làm đó, nếu không tự nhiên sẽ ghét nhau lắm đấy”.

Rồi bà đọc để tôi chép lại lời thần chú:

“Cằm câu pấu mác phung lấn khoẳn

Cằm câu pấu mác mặn lấn ăn

Cằm câu pấu báo đai lừm me

Cằm câu pấu báo ké lừm rườn

Mừ mí hăn câu mừ hảy

Mừ hăn câu nả phằng khua mà thú…

Thương câu nắc

Rặc câu lai”

Tạm dịch là:

Lời tao thổi vào quả mơ, quả mơ rụng

Lời tao thổi vào quả mận, quả mận rơi

Lời tao thổi khiến con trai độc thân quên mẹ

Lời tao thổi khiến đàn ông có vợ quên nhà

Mày không nhìn thấy tao, mày khóc

Mày nhìn thấy tao mày cười, tìm về

Thương tao rất nhiều

Yêu tao rất nhiều”

Thay cho lời kết

Một thời gian sau đó, tôi có dịp trở lại vùng núi Tuyên Quang và ghé thăm bà Ngấm – người đã truyền dạy cho tôi những lời niệm chú bùa yêu mà tôi chưa có dịp tự mình kiểm chứng hôm nào. Bà Ngấm đã yếu hơn nhiều sau lần bị ngã ấy, giờ đây bà chỉ có thể ngồi được một lát rồi lại phải nằm xuống giường ngay vì lưng vẫn đau mỏi. chuyện của thế giới tâm linh thì khó có thể biết trước được

Đã quá trưa, tôi ở lại dùng bữa cùng gia đình bà cụ. Một điều khá đặc biệt là bữa cơm ấy được chính anh con trai bà Ngấm chuẩn bị. Thậm chí, mọi việc chăm sóc, thuốc men, vệ sinh cá nhân của bà cụ cũng một tay anh con trai làm, điều mà trước đây là công việc của chị con dâu của bà Ngấm.

Sau bữa trưa, tôi tế nhị hỏi thăm về chị con dâu. Bất ngờ, bà cụ buồn rầu thổ lộ : “Nó về bên ngoại rồi. Chúng nó đang xin xã để được bỏ nhau, làm đơn rồi”. Tôi thắc mắc, rằng tại sao bà cụ không truyền cho con trai cách làm bùa yêu, để anh ấy giữ gìn hạnh phúc gia đình mình, bà cụ lắc đầu tỏ vẻ bất lực : “Nó không yêu nhau nữa rồi, đã làm bùa nhưng không có tác dụng gì”.

Tôi chào bà cụ ra về, đầu vẫn vảng vất câu niệm chú bà truyền dạy hôm nào : “Lời tao thổi khiến con trai (con gái) độc thân quên mẹ. Lời tao…” (theo Xuân Giao)

Xuân Mai chuyển tiếp

XEM SAO GIẢI HẠN

XEM SAO GIẢI HẠN

– Thiên Việt

Chúng ta từng nghe nói về những phương pháp soạn âm lịch còn gọi là “Lịch pháp”, là các cách vận hành an tọa các tinh đẩu trong lịch vạn sự.

Sau đây chúng tôi viết về khái niệm tốt xấu (cát – hung) của từng tinh đẩu trong văn hóa thần bí, phân tích tính chất của từng tinh đẩu đó, hầu giúp bạn đọc dễ dàng trong tham khảo khi tính sự cát hung của chúng liên quan đến đời sống hàng ngày của chúng ta.

– TÍNH CHẤT

Trong quan điểm cho rằng tinh đẩu trong âm lịch phương Đông là tinh tú có thật trong vũ trụ quan, mỗi tinh đẩu đều có ảnh hưởng đến cho cộng đồng xã hội, như sao chổi xuất hiện ở phương nào, người ta cho rằng nơi đó sẽ xảy đến đói kém hay binh biến; hay với cá nhân mỗi khi có sao kiết, sao hung ứng chiếu với mệnh vận con người.

Bang tinh Sao Han 2

Như năm tuổi có sao Thái Tuế chiếu mệnh, thường hay gặp tai ương bệnh tật hay cả chết chóc, do thông thường vào những năm tuổi nhất là vào tuổi 37, con người hay mang vận rủi thật nặng nề, có lúc nhà tan cửa nát, vì ngoài sao Thái Tuế (Mộc Tinh) chiếu mệnh, còn là năm nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô là hai ác tinh trong 9 sao hạn (Cửu diệu) hàng năm

Hay như sao “Thái Bạch (Kim Tinh) làm sạch cửa nhà”, rồi sao Hỏa Tinh tiếp bước theo sau để thành câu than thân trách phận “31 chưa qua, 33 đã tới” đó là nhữ̃ng năm mang đến đại hung cho mọi người, nhưng nhất là nam giới.

Xét qua tính chât của câu nói trên, năm 31 tuổi gặp sao Kim Tinh (Thái Bạch), năm 33 tuổi gặp sao Hỏa Tinh (Vân Hớn), hai sao này chủ về tai tinh (tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo, kiện thưa tranh cãi, tù tội, phá sản) v.v…

Cả 3 sao Mộc Tinh (lưu ý sao Thái Tuế khác tính chất với sao Mộc Đức trong Cửu Diệu, thuộc Triều ngươn tinh chủ về hôn sự), Kim Tinh (Thái Bạch), Hỏa Tinh (Vân Hớn) là những tinh đẩu có thật trong vũ trụ, nằm trong bộ sao Cửu Diệu hàng năm, cách tọa chiếu của chúng tính theo tuổi âm lịch như 2 bảng Sao Hạn sau đây :

Bang tinh Sao Han

2 bảng Sao Hạn trên là những năm trong mỗi người chúng ta gặp sao Cửu Diệu chiếu, tức tiểu hạn hàng năm, tuổi nam nữ xem riêng (trên bảng hình : nam xem sao bên trái, nữ xem sao bên phải, tuy cùng tuổi nhưng khác sao).

Tính chất sao Cửu Diệu như sau :

1- La Hầu : khẩu thiệt tinh, chủ về ăn nói thị phi, hay liên quan đến công quyền, nhiều chuyện phiền muộn, bệnh tật về tai mắt, máu huyết. Nam rất kỵ, nữ cũng bi ai chẳng kém. Kỵ tháng giêng, tháng bảy.

2- Kế Đô : hung tinh, kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám, đi làm ăn xa lại có tài lộc mang về.

3- Thái Dương : Thái dương tinh (măt trời) tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui, tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách.

4- Thái Âm : Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười. Nữ có bệnh tật, không nên sinh đẻ̉ e có nguy hiểm. Chủ về danh lợi, hỉ sự.

5- Mộc Đức (Mộc tinh) : Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng mười và tháng chạp.

6- Vân Hớn (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

7- Thổ Tú (Thổ tinh) : Ách Tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng tư, tháng tám.

8- Thái Bạch (Kim tinh) : Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng năm và kỵ màu trắng quanh năm.

9- Thủy Diệu (Thủy tinh) : Phước lôc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu.

Còn về hạn mỗi người hàng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu, còn về tính chất :

1- Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài

2- Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi

3- Ngũ Mộ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của

4- Thiên Tinh (Xấu) bị thưa kiện, thị phi

5- Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài

6- Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên

7- Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội

8- Diêm Vương (Xấu) người xa mang tin buồn

Với Sao Hạn mỗi năm, thí dụ như người tuổi Giáp Ngọ (1954) vào năm Mậu Tý (2008 tức được 55 tuổi âm lịch) sẽ gặp sao La Hầu, hạn Tam Kheo, mang ý nghĩa :

– Đề phòng khi ăn nói kẻo gặp chuyện thị phi, năm nay có thể liên quan đến công quyền gây nhiều chuyện phiền muộn. Coi chừng bệnh về tai mắt, máu huyết. Nam đại kỵ gặp La Hầu và nữ cũng buồn đau chẳng kém. Sao này kỵ vào tháng giêng, tháng bảy. Hạn Tam Kheo thuộc tiểu hạn không đáng lo, chỉ chủ về tay chân nhức mỏi.

Ngày xưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng thường lập đàn cúng sao để tự giải hạn, từ đó mọi người theo cách của Khổng Minh, hàng năm xem Sao Hạn mà cúng lễ cầu an (hội sao hàng năm vào mùng 8 tháng giêng âm lịch).

Nhìn bảng sao Cửu Diệu chúng ta thấy nam giới có hai năm tuổi găp sao Thái Tuế củng chiếu, là năm 37 và 49 trùng với sao La Hầu và Thái Bạch là nặng, còn nữ vào tuổi 37 với sao Kế Đô. Những năm khác nam có La Hầu, nữ gặp Kế Đô cũng không đáng lo vì không có sao Thái Tuế củng chiếu.

CÚNG SAO GIẢI HẠN

Năm nào ai gặp Sao Hạn nào thì cúng sao giải hạn theo tính chất của từng sao như cách sau đây :

Bài khấn mẫu : KHẤN CÚNG SAO GIẢI HẠN

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba cái rồi đọc :

Cung Thỉnh :

– Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Sao Kế Đô chiếu mạng) – Địa Võng Tôn Thần chư vị (Hạn Địa Võng –  ai gặp sao hạn nào, đọc tên sao hạn đó như đã diễn giải nơi trên).

Đệ tử lòng thành đốt nén nhang,

Cầu xin Phật Thánh giải tai ương,

Giúp trong lê thứ đều khương hão,

Gia nội nhân nhân đắc kiết tường..

Lại lạy 3 cái,rồi khấn tiếp :

– Việt Nam quốc, tỉnh thành……. con đang ở tại ngôi gia số…… đường……… Quận………. (địa chỉ).

– Tên là ……………. Niên canh……. (tức tuổi Can Chi) ……….. (mấy tuổi âm lịch)

Năm nay vận gặp Tinh Quân Hạn Thần : Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân, Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Thành tâm thiết lễ xin giải hạn nhương tinh,

Lòng thiền cúi lạy khả tấu khẩn cầu :

“TRUNG THIÊN TINH CHỦ BẮC CỰC – TỬ VI ĐẠI ĐẾ NGỌC HOÀNG BỆ Hạ.

Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân – Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Các ngài đang cai quản mạng căn, xem xét vận hạn, từ bi liên mẫn, phổ tế phàm thai, ân cao đức cả, soi thấu lòng thành.

Cầu cha mẹ an sinh trường thọ,

Phật Thánh đồng gia hộ cháu con,

Trong nhà đều hạnh phúc tăng long.

Lớn nhỏ thảy đều an lạc.

Nguyện xin Tinh Quân – Hạn Thần, giải trừ họa tai, bệnh tật. Dứt tà hung, gặp điều lành.

Con lòng thành khấu đầu khẩn xin.

Lạy ba lạy và niệm câu :

– Nam mô A Di Đà Phật !

– Nam mô Tiêu tai Giáng kiết tường Bồ tát.

(Lạy tất ba cái)

Tính chất Sao Hạn

1- THÁI BẠCH : Sao Kim Tinh  : lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19  – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

2- Sao THÁI DƯƠNG : Mỗi tháng cúng ngày 27 âl, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhựt Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

3-  Sao THÁI ÂM : Hàng tháng vào lúc 19 tới  21 giờ tối vào ngày 26 âl, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái.  Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl  – Kỵ  tháng 11 âl.

4- Sao KẾ ĐÔ  : Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âl nên cúng giải vào ngày 18 âl ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Thiên Vỉ Cung Phân Kế Đô tinh quân”, thắp 20 ngọn đèn, lạy 20 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần vỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21  đến 23 giờ

5- Sao LA HẦU là khẩu thiệt tinh :  sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âl nên cúng giải vào ngày 08 âl, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21  đến 23 giờ .

6- Sao THỦY DIỆU sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .

Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âl, nên cúng giải hạn vào ngày 21 â.l, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

7-  Sao THỔ TÚ tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âl, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âl, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

8- Sao MỘC ĐỨC tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ

9- Sao VÂN HỚN tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âl cúng ngày 29 âl, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

Cách Khấn : “Cung Thỉnh Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hớn Tinh Quân Vị Tiền”.

THẬP NHỊ ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN

Tại sao mọi nhà thường cúng lúc Giao thừa, vì ngoài việc đón vong linh ông bà cha mẹ “về” ăn tết cùng gia đình; trong dân gian mọi người còn nghĩ đến hàng năm đều có một vị hành khiển tức đương niên chi thần, trông coi cõi nhân gian việc làm tốt xấu của mọi người, để cuối năm về Thiên Đình báo cáo công tội mỗi người, mọi gia đình để có công thì thưởng làm ác thì phạt (thưởng phúc phạt ác) đôi khi thưởng phạt ngay sau công tội.

Các đương niên chi thần mang tên Tý, Sửu, Dần… cho đến Hợi, tức tên12 con giáp, đồng thời ứng với một vị tinh tú.

Vị hành khiển này trông coi tất cả mọi việc trên thế gian, làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người no ấm, hay trái lại sẽ gây ra tai ương dịch họa v.v..

Trong triết học Trung Quốc hay phương Tây, người ta đều đề cập đến vòng Hoàng đạo nằm trên vũ trụ, được chia thành 12 cung cách nhau 30o và đặt mỗi cung một tên từ Tý đến Hợi hay từ Bạch Dương đến Song Ngư.

Tên các con vật (Thập nhị chi) ứng với mỗi cung chỉ là hình dạng của các chòm sao có thật ở ngay cung đó, rồi hình tượng hóa thành tên gọi (theo phương Tây). Mỗi cung có ảnh hưởng đến tiết khí trên trái đất và con người đang sống trên hành tinh này.

Ngoài ra trong vũ trụ có sao Mộc (Jupiter) mà ta gọi là sao Thái Tuế, hàng năm đi ngang qua một cung trên đường Hoàng đạo, với chu kỳ 12 năm mới giáp hết vòng một quỹ đạo ứng với 12 cung trên.

Nên có thứ tự của vòng quay của sao Mộc, gặp 12 cung Hoàng đạo trong 12 năm như sau :

– Năm Thìn (Rồng)̀     0o- 30o           sao Bạch Dương

–           Tỵ (Rắn)          30 – 60            sao Kim Ngưu

–           Ngọ (Ngựa)    60 – 90           sao Song Nam

–           Mùi (Dê)        90 – 120           sao Bắc Giải

–           Thân (Khỉ)      120 – 150        sao Hải Sư

–           Dậu (Gà)        150 – 180       sao Xử Nữ

–           Tuất (Chó)     180 – 210        sao Thiên Xứng

–           Hợi (Lợn)        210 – 240      sao Hổ Cáp

–           Tý (Chuột)      240 – 270        sao Nhân Mã

–           Sửu (Trâu)       270 – 300      sao Nam Dương

–           Dần (Cọp)       300  – 330     sao Bảo Bình

–           Mão (Mèo) *     330 – 360   sao Song Ngư

* Lịch Trung Quốc gọi năm con mèo (Mão) là năm Thố tức con Thỏ.

Nên khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu v.v… vì vậy sao Mộc còn gọi là sao năm hay sao Thái tuế.

Chúng ta gọi sao Thái Tuế là vị “Hành khiển thập nhị chi thần” trông coi các đương niên hành khiển, tức dưới Thái Tuế có thêm vị Phán quan là mỗi vì sao một năm, là 12 vị hành khiển như đã nói; trông coi ghi chép việc làm trong dân gian để soạn tấu tâu trình trước Ngọc Đế cuối năm, và Ngọc Đế sẽ chỉ dụ cho vị Phán quan hành khiển sắp xuống trần thay người cũ mà thưởng phạt.

Riêng về người lại có 2 vị hành khiển và hành binh trông coi bản mệnh :

Hành Binh, Hành Khiển

Ngoài 12 vị hành khiển được gọi đương niên chi thần dưới trướng sao Thái Tuế tức “Hành khiển thập nhị chi thần”, luân phiên trông coi thế gian trong 12 năm.

Ngoài ra theo quan niệm, mỗi năm còn có một ông hành khiển và một ông hành binh cai quản số mạng con người qua Sao Hạn trong 12 năm đó, coi việc thưởng phúc phạt ác qua cách hành xử của mỗi người trong việc làm và sự an nguy (trong dân gian chỉ biết tên Sao Hạn như đã nói). Đi theo vị đương niên chi thần, là các vị hành khiển hành binh mỗi năm mang tên :

– Năm Tý :       Châu Vương hành khiển, Chúa Thiên Ôn hành binh

– Năm Sửu :   Triệu Vương hành khiển, Tam Thập Lục Thương hành binh

– Năm Dần :   Ngụy Vương hành khiển, Mộc Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Mão :   Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Thìn :    Sở Vương hành khiển, Hỏa Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Tỵ :       Ngô Vương hành khiển, Thiên Hạo Hứa Tào hành binh

– Năm Ngọ :   Tấn Vương hành khiển, Thiên Hạo Vương Tào hành binh

– Năm Mùi :    Tống Vương hành khiển, Ngũ Đảo Lầm Tào hành binh

– Năm Thân:   Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu Tống Tào hành binh

– Năm Dậu :   Lỗ Vương hành khiển, Ngũ Nhạc Cự Tào hành binh

– Năm Tuất :   Việt Vương hành khiển, Thiên Bá Thành Tào hành binh

– Năm Hợi :    Lưu Vương hành khiển, Ngũ Ôn Nguyễn Tào hành binh

Vị hành khiển thuộc quan văn, còn vị hành binh thuộc quan võ, coi trực tiếp qua Sao Hạn và cách tu thân tích đức mỗi người mà luận công tội thưởng phạt ngay trong năm.

Nói về đề mục này nhằm giúp mọi người tìm hiểu và cách khấn khi cúng vào đêm Giao thừa hàng năm.

CÁCH CÚNG NĂM TAM TAI :

Ngoài cúng Sao giải Hạn hàng năm, những tuổi gặp năm Tam Tai cũng nên cúng giải như sau :

1. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp năm Dần, Mão, Thìn thì có Tam Tai. Năm Dần là đầu Tam tai, năm Mão giữa Tam tai, năm Thìn cuối Tam Tai.

2. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp năm Thân, Dậu, Tuất thì có Tam Tai.

3. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp năm Tỵ, Ngọ, Mùi có Tam Tai.

4. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp năm Hợi, Ty, Sửu có Tam Tai.

Cúng thần Tam Tai: cổ nhân thường căn cứ Tam Tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai. Xem bảng sau đây:

Năm Tý: Ông Thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc

Năm Sửu:  Ông Đại Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc

Năm Dần: Ông Thiên Hình, cúng ngày 15, lạy về hướng Đông Bắc.

Năm Mão: Ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy hướng Đông

Năm Thìn: Ông Thiên Cướp, cúng ngày 13, lạy hướng Đông Nam.

Năm Tỵ: Ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy hướng Đông Nam.

Năm Ngọ: Ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy hướng Tây Nam

Năm Mùi: Ông Bạch Sát, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Thân: Ông Nhơn Hoàng, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Dậu: Ông Thiên Họa, cúng ngày 7, lạy hướng Tây.

Năm Tuất: Ông Địa Tai, cúng ngày 6, lạy về hướng Tây Bắc

Năm Hợi: Ông Địa Bại, cùng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.

Lễ cúng: Trầu cau: 3 miếng, thuốc lá: 3 điếu, muối, gạo, rượu, vàng tiền, hoa, quả. Lấy một ít tóc rối của người có hạn Tam Tai, bỏ vào một ít tiền lẻ, gói chung lại với gạo, muối, còn tiền vàng thì hóa, cúng tại ngã ba, ngã tư đường, vài tuổi và tên của mình, đem bỏ gói tiền, có tóc và muối gạo đó ở giũa đường mà về thì hạn đỡ.

Thiên Việt

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ TRONG TIẾT THANH MINH

5 DANH THẮNG PHẬT GIÁO

Ở CHÂU Á

NÊN ĐẾN HÀNH HƯƠNG

Phật giáo là một trong những hệ thống niềm tin có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới. Được hình thành từ hơn 2.500 năm trước, Phật giáo chỉ ra cho con người cách đoạn diệt khổ đau và triết lý Phật giáo đã bám rễ sâu rộng đến mọi ngóc ngách trên hành tinh này, kể từ những ngày đầu tiên ra đời.

Sức ảnh hưởng của Phật giáo trải dài với những tác động về niềm tin của hàng triệu con người trong lịch sử và cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khơi gợi niềm cảm hứng từ những danh thắng tuyệt vời nhất, đậm chất Phật giáo mà thế giới đã và đang được chiêm ngưỡng.

Tuy cùng một niềm cảm hứng, các chùa chiền và đền đài Phật giáo được kiến thiết với nhiều hình dáng và quy mô khác khau với những phong cách riêng biệt, đặc thù.

Dưới đây là 5 điểm tham quan Phật giáo nước ngoài tuyệt vời, tô điểm và in đậm hơn dấu ấn Phật giáo có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, mà theo mô tả của tác giả Nicholas Liusuwan, người chia sẻ các điểm tham quan này trên trang Huffington Post là “5 danh thắng Phật giáo độc nhất vô nhị mà bạn nhất định phải đến tham quan và chiêm bái”.

1/- Bảo tháp Đại Giác, Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) : Được đề xuất là di tích lịch sử Phật giáo đầu tiên nhất và đáng chiêm ngưỡng nhất trong danh sách các thắng tích, bảo tháp Đại Giác tọa lạc ở nơi Đức Phật lịch sử chứng đạt sự giác ngộ hoàn toàn với cây bồ-đề ngàn năm tuổi. Thánh địa này đặc trưng bởi tháp trung tâm được xây tạo bằng gạch cao gần 55 mét, bao bọc chung quanh là bốn tòa tháp nhỏ hơn.

Rải rác quanh ngôi đại tháp là các tháp nhỏ và các tôn tượng Đức Phật bên ngoài tháp trung tâm cùng với những bức tường khắc họa cuộc đời của Ngài. Ngôi tháp được tin là do A Dục vương xây dựng 200 năm sau khi Phật thành đạo. Bảo tháp Đại Giác được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2002.

2/- Chùa Shwedagon, Yangon (Myanmar) : Chùa Shwedagon (còn được gọi là chùa Vàng) có lẽ là một trong những ngôi chùa chói sáng nhất trên thế giới. Ngôi chùa lấp lánh ánh vàng có chóp cao khoảng 100 mét, được khảm hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc và các loại đá quý khác.

Đây được xem là thánh tích của Phật giáo; ấn tượng là ngôi tháp chính được đính viên kim cương 76 carat. Không ai biết rõ niên đại của ngôi chùa cổ theo truyền thống Nguyên thủy này; tuy nhiên các nhà sử học đều đồng tình rằng ngôi chùa có thể được kiến lập trong khoảng thế kỷ thứ VI-X. Về đêm, từ khoảng cách khá xa, ngôi chùa Vàng có thể được nhìn thấy rất rõ.

3/- Phật Quang Sơn, Cao Hùng (Đài Loan) : Chùa Phật Quang Sơn ở thành phố Cao Hùng (Đài Loan) có lịch sử lâu đời và “mang đến sự trải nghiệm Phật giáo khó phai cho thế giới hiện đại”. Ngôi chùa thuộc truyền thống Đại thừa này được thiết kế theo kiến trúc và đặc trưng đền đài truyền thống của Đông Nam Á, nổi bật với nhiều điện thờ tráng lệ, các tòa kiến trúc đồ sộ phục vụ cho nhiều hoạt động tôn giáo phong phú ngay trong nội viên.

Du khách có thể tham quan Bảo tàng Phật giáo Phật Quang Sơn, một trong những bảo tàng Phật giáo đương đại ấn tượng nhất trên thế giới. Bên trong bảo tàng bao gồm các triển lãm Phật giáo theo chủ đề đặc sắc và toàn diện, các lễ hội và sự kiện thường xuyên được diễn ra và đây còn là nơi lưu giữ xá-lợi răng của Đức Phật.

4/- Chùa Phra Dhammakaya, Pathum Thani (Thái Lan)  : Đây là ngôi chùa “vén màn” Phật giáo hiện đại trong thế giới ngày nay. Nổi tiếng với các phương pháp truyền đạo hiện đại, ngôi chùa Nguyên thủy này còn ấn tượng bởi diện tích rộng và phong cách thiết kế hiện đại.

Được kiến tạo năm 1970, ngôi chùa mang đặc trưng phong cách Thái chứa đựng bên trong đó nhiều cảnh quan đặc sắc, phải kể đến là ngôi tháp hiện đại và mỹ lệ với một ngàn tượng Phật, nhiều cổ vật Phật giáo và thiền đường có sức chứa đến hàng ngàn hành giả.

Ngôi chùa có diện tích khoảng 100 hecta, lớn gấp đôi diện tích Công quốc Monaco. Tuy vậy, ngôi chùa lại có hệ thống đường sá vào nội khu vô cùng hoàn chỉnh, được trang bị đầy đủ các phương tiện di chuyển đáp ứng mọi nhu cầu ngoạn cảnh của khách viếng chùa.

5/- Chùa Borobudur, Magelang (Indonesia) : Chùa Borobudur cổ xưa nằm trên đảo Java, Magelang (Indonesia) là điểm đến Phật giáo phổ biến nhất trong số năm danh thắng này. Ngôi chùa cũng là di sản văn hóa thế giới, được cấu trúc bằng nhiều nền tầng dẫn bước du khách vào hành trình của vũ trụ quan Phật giáo. Khu chùa được trang hoàng bằng nhiều ngôi tháp và rải rác với các bức điêu khắc mô tả về giáo lý nghiệp và những câu chuyện Phật giáo.

Ngôi chùa được xem là điểm hành hương thiêng liêng của Phật tử ở Indonesia và là nơi tổ chức Đại lễ Tam hợp hàng năm của đất nước này. (theo Trần Trọng Hiếu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ

KHÔNG NÊN LÀM

TRONG TIẾT THANH MINH

Tiết Thanh Minh (vào tháng 3 âm lỊch, năm Mậu Tuất vào ngày 5/4 dươmh lịch) không chỉ là ngày lễ truyền thống đối với người Việt Nam mà còn là một trong 12 tiết khí quan trọng trong năm.

Trong tiết khí quan trọng này có 9 điều kiêng kỵ tuyệt đối bạn không nên làm trong tết Thanh Minh để tránh gặp xui xẻo. Đây không chỉ là dịp để con cháu bày tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, mà còn là cơ hội để gìn giữ truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tiết Thanh Minh năm nay đang đến gần, có những điều gì cấm kỵ nên tránh trong những ngày này ? Sau đây là 9 điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, hãy chú ý chớ nên mắc phải những điều này.

1/. Tổ chức việc hỉ, sinh nhật hay tiệc tùng vui chơi giải trí : Tiết Thanh Minh là dịp con cháu hướng về nguồn cội, tưởng nhớ ông bà tổ tiên, tỏ lòng hiếu kính, nhớ thương người đã khuất. Nếu sinh nhật trùng hợp rơi đúng vào tiết Thanh Minh, tốt nhất nên tổ chức sớm vài ngày. Đặc biệt tuyệt đối không làm mừng thọ cho người già vào dịp này, không nhận hoa chúc mừng, cũng không ăn bánh sinh nhật ngày hôm đó.

Theo dân gian truyền lại, làm vậy sẽ tránh phạm điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, giúp người già hưởng thêm phúc lộc, thượng thọ bình an. Tương tự, kết hôn là chuyện đại sự cả đời, không thích hợp tổ chức vào thời điểm này. Đám cưới là chuyện vui mừng, thường được tổ chức rình rang, mà tiết Thanh Minh âm phần thịnh, hoạt động chủ yếu là tế tổ, tảo mộ, tưởng nhớ người đã khuất nên làm lễ kết hôn không những không được may mắn mà còn có phần bất kính với tổ tiên.

Hơn nữa, thời điểm này trời thường mưa phùn rả rích, đường xá ướt át, lấm bẩn, ách tắc, mọi người ai cũng bận rộn với việc đi tảo mộ, sắp xếp tham dự đám cưới có phần khó khăn. Nếu có đi được cũng chỉ là tiện đường qua uống chén rượu chia vui, tạo cảm giác đám cưới của bạn không được mọi người coi trọng.

Ngoài ra, nếu do nhiều nguyên nhân mà không thể đi tảo mộ, ở nhà cũng nên hạn chế tổ chức tiệc tùng vui chơi giải trí, càng không nên chửi bới, đánh nhau hay nói lời báng bổ thánh thần, kẻo sau này hậu họa khôn lường.

2/. Mặc quần áo màu mè sặc sỡ : Theo quan niệm dân gian, trong tiết Thanh Minh đặc biệt cấm kị mặc đồ rực rỡ, ngay cả nội y hay trang sức đi kèm cũng phải chú ý không dùng màu đỏ, không mang theo vật kim loại dễ gây tiếng động. Có người lại cho rằng dịp này nên mặc quần áo rực rỡ như màu đỏ hoặc vàng, còn quần áo màu đen nhìn xui rủi, dễ nhiễm âm khí.

Đây là một suy nghĩ sai lầm. Tiết Thanh Minh đi tảo mộ là việc quan trọng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, mặc trang phục thanh lịch, chỉnh tề cũng chính là tỏ lòng tôn kính với người đã khuất. Đồ tối màu như màu đen, màu tím không chỉ trang trọng, nghiêm túc mà còn là màu sắc thể hiện sự nhung nhớ, tiếc thương với người đã khuất. Tuy nhiên, người có sức khỏe không tốt, phụ nữ hay trẻ em trong thời gian này vẫn có thể mang theo mình những đồ phong thủy màu đỏ để trừ tà đuổi quỷ.

3/. Đi du lịch hay thăm hỏi bạn bè, người thân : Tốt nhất nên tránh tiết Thanh Minh, chọn dịp khác đi thăm bạn bè, người thân. Lúc này đến chơi nhà, chẳng những không thích hợp mà còn có phần kém may mắn, là điềm xấu cho cả khách và gia chủ. Nếu thực sự cần thiết, hẹn gặp mặt ở bên ngoài là thích hợp nhất. Du lịch cũng là điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Đây là thời gian dành cho việc tảo mộ và cúng tế tổ tiên, tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và trân trọng quá khứ. Chỉ nên kết hợp tảo mộ cùng với về quê thăm lại cố hương, hít thở không khí trong lành mùa xuân nơi thôn dã. Nếu lỡ xếp lịch đi chơi vào thời điểm này thì phải đặc biệt chú ý, tránh đi đến những nơi núi non nhiều người đi tế lễ, không được nói chuyện xui rủi, càng không được buông lời bất kính với người đã khuất.

Ban đêm cũng nên hạn chế các hoạt động vui chơi giải trí. Khi thuê nhà nghỉ, khách sạn, tránh chọn phòng khuất nẻo, nằm cuối hành lang. Nếu phải để giày dép bên ngoài phòng, nên để mũi giày hướng ra ngoài. Không nên ở một mình nơi hoang vắng, dễ bị tổn hao nguyên khí.

4/. Tùy tiện chụp ảnh : Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, số người sở hữu máy ảnh hay điện thoại có chế độ chụp ảnh ngày càng nhiều, song không phải ai cũng biết tùy tiện chụp ảnh cũng là một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Không nên chụp ảnh ở nghĩa trang, lăng mộ. Không chụp ảnh với người lạ, đặc biệt sau 3 giờ chiều tuyệt đối không được chụp ảnh bừa bãi, vì biết đâu còn có thứ gì khác lọt vào trong ảnh của bạn. Gặp cây cổ thụ, đồ cổ hay nhà cửa, kiến trúc lâu đời cũng không nên tùy tiện chụp ảnh.

Người xưa cho rằng cây cối, đồ vật hay nhà cửa lâu năm đều có linh hồn trú ngụ, không cẩn thận phạm điều bất kính sẽ gây hậu họa khôn lường. Ban đêm không nên chụp ảnh trong gương, bởi gương thuộc tính âm, dễ nhuốm âm khí. Tiết Thanh Minh âm khí vượng, dù là chụp ảnh người khác hay chính mình trong gương cũng đều không tốt, không may có thể nhìn thấy thứ không nên thấy.

Tương tự, đi chơi đêm tốt nhất không nên chụp ảnh, cũng đừng lấy đèn pin soi rọi lung tung, dễ kích thích những thứ đen tối đi theo mình. Khi đi đền chùa, không nên đứng dưới chân tháp chụp ảnh. Tháp được dùng để trừ tà, dễ gây cảm giác bức bối, khó chịu cho người chụp ảnh.

Ngoài ra, nên cân nhắc trước khi chụp ảnh cùng tượng Thần, tượng Phật vì có thể gây tổn hao nguyên khí. Nên tránh chụp ảnh 3 người. Xưa kia các họa sư không bao giờ vẽ 3 người vào cùng một bức tranh, vì người ở giữa sẽ bị người ở 2 bên đè ép. Tuy nhiên, nếu 3 người là người một nhà hay bạn bè thân thiết thì không có vấn đề gì. Nếu chỉ là đồng nghiệp hay đối tác làm việc thì nên cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến vận khí của mình.

5/. Đi tảo mộ người ngoài : Đi tảo mộ là tập tục truyền thống trong tiết Thanh Minh. Những người đi tảo mộ xưa nay đều là con cháu trong nhà, người ngoài tốt nhất không nên tùy tiện đi theo. Dù sao cũng không phải người một nhà, đến mộ phần vào lễ Thanh Minh có thể khiến cho trường khí hỗn loạn, mất cân bằng, là điềm xấu nên tránh.

Có thể do nhiều nguyên nhân mà nhiều người gặp phải tình huống như đi tảo mộ cùng bạn bè, cấp dưới đi tảo mộ cùng cấp trên, đối tác làm ăn cùng đi tảo mộ… Khi đó, tốt nhất nên mang theo người vật phẩm phong thủy, bùa hộ thân để xua tan tà khí cũng như tránh phạm phải điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

6/. Chọn hoa cúng tùy tiện, màu sắc sặc sỡ : Theo truyền thống, tiết Thanh Minh là để bày tỏ sự mong đợi vạn vật mùa xuân bừng sống lại, vòng tuần hoàn của cuộc đời một lần nữa bắt đầu. Thời điểm này cũng là lúc trăm hoa đua nở, song không phải loại hoa nào cũng thích hợp dùng cho cúng tế.

Người xưa cho rằng, hoa cúng khi tảo mộ không nên quá sặc sỡ, mùi hương quá nồng đậm. Nên chọn sắc hoa trang nhã, mùi hương thuần khiết để tỏ lòng kính trọng tổ tiên. Xem chi tiết nên chọn hoa gì đi tảo mộ tiết Thanh Minh. Thông thường, các loại hoa màu trắng tượng trưng cho sự tiếc thương, khi tảo mộ có thể chọn hoa cúc trắng, hoa bách hợp trắng, hoa huệ, hoa mã đề.

Hoa hồng trắng, hoa dành dành hay các loài hoa có màu trắng trơn khác còn thể hiện sự thương tiếc và nhung nhớ. Hoa cúc vàng cũng là loại hoa phổ biến, được mọi người lựa chọn nhiều, bởi hoa màu vàng tượng trưng cho sự đau buồn và tưởng niệm. Ngoài ra, có thể dựa vào tuổi tác và sở thích của người đã khuất để chọn hoa cúng sao cho phù hợp.

Với người bề trên, người cao tuổi, có thể dùng hoa cúc vàng hoặc trắng, cũng có thể chọn hoa có nhiều sắc đỏ, hồng để thể hiện tình cảm nhớ nhung, thương tiếc của con cháu. Với người cùng thế hệ, nên chọn hoa có màu sắc trang nhã như hoa lay ơn, hoa loa kèn, hoa cẩm chướng… Còn với bạn bè thân thiết thì không cần quá câu nệ hình thức, có thể thoải mái lựa chọn loại hoa mà khi sinh thời người ấy yêu thích.

7/. Tảo mộ không đúng trình tự : Tảo mộ là chuyện linh thiêng, là dịp con cháu thể hiện lòng thành kính với ông bà tổ tiên, do đó phải được tiến hành tảo mộ theo trình tự, tránh bất kính với người đã khuất.

Thông thường, buổi lễ sẽ được diễn ra theo trình tự như sau : Dọn dẹp mộ phần – Lên hương – Dâng lễ – Mời rượu – Khấn vái – Hóa vàng mã. Khi tiến hành tảo mộ, cần chú ý giữ thái độ thành kính, không cười đùa, chạy nhảy lung tung, bằng không phạm phải kiêng kỵ tiết Thanh Minh thì hậu họa khôn lường.

Trước khi dọn dẹp mộ phần, nên thắp hương khấn gia tiên, xin phép được tu sửa, dọn dẹp cho phần mộ, số nén hương phải là số lẻ (1 hoặc 3 nén) vì số lẻ tượng trưng cho cõi âm. Chú ý phát quang cỏ rậm, nhổ bỏ cỏ dại, đắp bồi thêm đất, trồng thêm hoa tươi, quét dọn khu vực xung quanh cho sạch sẽ.

Kiểm tra xung quanh mộ, nếu bị chuột hay các loài thú khác đào xới làm tổ cần nhanh chóng xử lý. Nếu quanh mộ có nước, hay nước vào trong mộ cũng đều là điềm xấu, ảnh hưởng đến vận khí, tài lộc của con cháu đời sau. Lễ vật dâng lên phải được lựa chọn cẩn thận, nên là đồ chay, bởi dân gian quan niệmăn chay niệm Phật sẽ được siêu độ, mau chóng đầu thai.

Hoa quả là đồ tươi mới, tránh dâng hoa quả héo, dập nát. Số lượng hoa và trái cây phải là số lẻ. Chuẩn bị 2 ngọn đèn hoặc 2 cây nến, tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt. Lễ vật trên bàn có thể đặt chung song nếu có nhiều bát hương thì bát nào cũng phải thắp hương.

Khi hành lễ cúng gia tiên, có 2 hình thức là vái và lễ, được thực hiện sau khi đã bày lễ vật và thắp nhang đèn. Người làm lễ dùng hai tay dâng hương ở vị trí ngang trán, vái 3 vái rồi mới cắm hương vào bát hương. Tiếp theo con cháu trong nhà lần lượt dâng hương theo thứ bậc, ví dụ như cha, mẹ rồi đến trưởng nam, trưởng nữ, thứ nam, thứ nữ…

Sau khi hương cháy được khoảng 2/3 thì lễ tạ, hóa vàng và xin lộc về nhà để làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà. Về chuyện xin lộc, có quan điểm cho rằng ngoài vấn đề tần số tâm linh thì đồ cúng ở mộ, nghĩa trang thường bị nhiễm vi khuẩn (vốn có rất nhiều ở nghĩa trang), ăn vào dễ bị ngộ độc hoặc ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, chỉ nên đem cho chim, cá ăn.

Điều này cũng khá có khoa học, chúng ta nên cân nhắc lựa chọn sao cho phù hợp. Ngoài ra, khi thắp hương cho các ngôi mộ trong khu vực của gia tiên, thông thường nên tuân theo thứ bậc từ các đời trước trở đi. Tuy nhiên, nếu khu mộ không được bố trí theo đúng trật tự thứ bậc trong dòng họ thì tùy duyên, thuận theo lối đi mà thắp, không nên quá cứng nhắc.

8/. Để tóc phủ trước trán, mua giày trong tiết Thanh Minh : Trong dân gian, tiết Thanh Minh còn được gọi là “tiết Quỷ”, bởi đây là lúc mà âm khí rất vượng, ma quỷ nhiễu nhương. Trong thời gian này, nếu có việc phải đi đêm thì phải đem theo vật hộ thân, có thể là cành dâu, cành liễu, bùa may mắn hay vật phẩm phong thủy đã được khai quang.

Đặc biệt nhớ để lộ trán, vì theo quan niệm dân gian thì trán là cánh cửa vận mệnh của con người, là nơi đèn thần soi rọi, không nên để tóc che phủ. Trong thời gian này cũng không nên mua giày mới, bởi trong tiếng Hán, chữ “hài” (giày) và chữ “tà” đồng âm, mua giày sẽ không may mắn, dễ bị tà ma theo đuổi. Nếu không chú ý, lỡ mua giày vào dịp này thì nên lấy giấy đỏ bọc giày để ngoài cửa 1 đêm, sáng hôm sau gỡ ra, đốt bỏ lớp giấy đỏ là được.

9/. Chồng mất 3 năm đầu, vợ không được đi tảo mộ : Một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh dân gian truyền lại: nếu chồng mới mất, trong 3 năm đầu người vợ không được đi tảo mộ. Nếu không cẩn thận phạm phải sẽ ảnh hưởng đến vận khí của người vợ.

Nếu cải giá, người chồng sau này có thể bị khắc chết, con cái cũng yếu ớt, dễ chết sớm. Tuy nhiên đây chỉ là phong tục của một số địa phương, nếu nơi bạn đang sống có kiêng kỵ điều này thì tốt nhất nên tuân theo, tránh sau này gặp nhiều chuyện phiền phức phải suy nghĩ.

Còn nếu nơi bạn sống không có phong tục này thì hoàn toàn có thể làm theo tâm nguyện của bản thân. Ngoài những điều đã nêu trên, còn một số điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh như trước khi đi tảo mộ, nên dùng đồ chay tịnh để tỏ lòng thành kính với tổ tiên.

Người sức khỏe yếu, mới ốm dậy hay mới động dao kéo, phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì kinh nguyệt cũng không nên ra ngoài nhiều vào dịp này, càng không nên đi tảo mộ. Ngoài vấn đề tâm linh thì đây là thời điểm giao thông ách tắc, thời tiết nồm ẩm hoặc nắng gắt, người yếu dễ bị nhiễm bệnh, nên chú ý giữ gìn sức khỏe. (theo An Nhiên / Reatimes)

Ngọc Sương chuyển tiếp

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

VÀ NHỮNG TIÊN ĐOÁN VĨ ĐẠI

1/- NOSTRADAMUS :

Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.

Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.

Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Ý, Do Thái và Ả Rập…

Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, vợ của vua Henry đệ II.

Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.

– Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già

Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh

Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng

Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery – “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi.

Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

– Napoleon bại trận ở Nga : Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga

Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố

Quân chủ lực sẽ phản công

Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

– Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém

Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh

Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm

Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba

Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa

Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang

Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

– Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London

Thành phố sẽ cháy vào năm 66

Vị phu nhân mất địa vị tối cao

Và nhiều nơi bị hủy hoại.

Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.

Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.

Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.

Tiên tri về cái chết của mình : Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”. Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.

Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới : Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.

Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.

– Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999 : Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.

Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc.

Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

2/- EMANUEL SWEDENBORG

Ở Thụy Điển có một người “thấy được tương lai” nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè… Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.

Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom” (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!

3/- KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG

Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bấm Độn.

Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của Gia Cát Lượng còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

4/- JEAN DIXON

Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai – bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri “nhí” Jeane đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay sẽ phát nổ.

Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.

Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những người khác.

Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh của người đó.

Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.

Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất. Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.

Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.

5/- VANGA

Vanga (tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng. Nhà tiên tri Vanga sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh viện ở thủ đô Sofia.

Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.

Bà từng nói :“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.

Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những nền văn minh khác tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.

THƯỞNG THỨC CÙNG DANH HỌA :

CHÚA GIÊ-SU

CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI MÙ

Chúa là một bậc giác giả với vô vàn quyền năng to lớn mà với con người đó là những phép lạ nhiệm màu. Kinh thánh truyền rằng Ngài đã chữa bệnh cho rất nhiều người, từ người mù bẩm sinh, tới những kẻ ma quỷ ám, hay những bà già gù lưng suốt bao nhiêu năm trời sống trong khổ cực. Xuất phát từ lòng từ bi mà Chúa dùng quyền năng chữa bệnh chấm dứt những tháng ngày đau đớn của con người. Từ đó mà răn dạy con người hiểu về nguồn gốc của bất hạnh đó.

Trong quá khứ xưa nay, các bậc giác giả hạ thế không phải là thể hiện quyền năng hay chữa bệnh. Căn bệnh mà các bậc giác giả muốn chữa cho con người chính là tâm bệnh, một loại bệnh trong mê muội, từ đó mà chuốc lấy khổ đau. Lưu lại cho con người tâm pháp và giảng giải cho họ hiểu những căn nguyên của chính khổ đau đó.

Quyền năng chữa bệnh và ẩn ý từ bài học giáo huấn của Đức Chúa được thể hiện qua bức họa.

Tác phẩm hội họa ‘Chúa chữa bệnh cho người mù’ là tác phẩm của họa sĩ Lucas Van Leyden, sinh ở Hà Lan. Đây là một bức họa nổi tiếng mô tả cảnh mà Chúa Giê-su chữa lành bệnh cho người mù Gierico. Bức họa chia ra làm hai phía đối lập, bên trái của bức họa là chúa Giê su và những con người còn chứa nhiều thiện tâm, hài hòa, đại diện cho nhóm người dễ giác ngộ về pháp mà Chúa giảng.

Bên phải của bức họa là quảng đại những người giàu sang, tiêu biểu là một thân hình nam giới cao to và gương mặt hung dữ với vẻ thất thường đầy tham vọng trần tục có vẻ hoang dã, đây chính là nhóm người mà Chúa Gie-su sẽ phải khổ công cảm hóa, kiên trì giảng pháp để cải hóa những tâm tính bất hảo và độ họ tiếp thu được pháp mà Ngài giảng.

Điều đáng lưu ý hơn là con người ta nhìn thấy ngay kẻ hung ác kia ăn mặc trang hoàng sang trọng, họ mang tiền bạc tới để xây nhà thờ, dâng lên cho Chúa không phải là từ tâm thiện của con người họ, mà chính là bỏ tiền mua chuộc Chúa, muốn đặt bàn tay của mình lên vai Chúa Giê-su.

Sự vênh váo của kẻ giầu có, coi tiền bạc là quyền năng của bản thân, thường nhìn những con người khốn khổ bằng sự khinh rẻ, họ thường thiếu tình yêu thương với người khác. Khi tận mắt chứng kiến quyền năng của Giê-su thì lập tức trong đầu muốn dùng tiền mà mua chuộc, muốn biến chúa Giê-su trở thành người phục tùng và vâng lời của mình.

Chúa Giê-su có biết được điều đó không ? Ngài biết rõ tâm những người này ra sao, nhưng ngài vẫn thương họ, thương chính bởi sự mê muội, dốt nát ấy. Họ chẳng bao giờ hiểu tiền bạc không thể mang họ tới thiên đường, và cũng không thể giúp nguời ta tới được bên Chúa. Cái mà họ sẽ mang theo bên mình chính là tội phúc của chính họ.

Lucas Van Leyden đã rất khéo léo khi tô điểm cho những kẻ tham lam, vênh váo, kênh kiệu này và tập trung khắc họa chân dung của  người đàn ông  phô trương địa vị và quyền lực: trên đầu ông tua tủa những chiếc lông chim, cổ ông ta bật ra kiêu hãnh từ chiếc cổ áo để mở. Hai tay áo tinh tế và hợp thời trang bay phần phật và đung đưa. Hai tay áo biểu tượng cho túi tham mà ông ta đang sở hữu, nó tung bay là thể hiện của cái sở thích phô trương thanh thế, thích  thể hiện bản thân.

Chúa không hướng ánh mắt về ông ta, chẳng một cái liếc nhìn dẫu cho ông ta đang cố gắng thu hút sự chú ý của Giê-su về phía mình. Chúa nhìn thấu tâm can của hắn, nhưng vì lòng từ bi thương xót, Ngài sẽ vẫn cho họ cơ hội được đắc cứu.

Bức tranh thể hiện một nhóm khác, là sự xuất hiện của hai đứa trẻ, một đứa trẻ đi cùng người mù, nó ngẩng khuôn mặt ngây thơ cung kính nghe Chúa giảng nói. Nó thuộc nhóm người còn chứa nhiều thiện tâm, nó rất dễ được cảm hóa, một đứa khác nằm dưới chân kẻ giàu có vênh váo kia, mà chỉ về phía Chúa đang chữa bệnh, nó chính là hình ảnh phản ánh lên rằng một con người có tính thiện lương ban đầu nhưng lớn lên trong sự dạy dỗ chỉ vì bản thân và không phân biệt được thiện ác, tốt xấu, mà sẽ chỉ là kẻ đứng ngoài chỉ chỏ về quyền năng nơi Chúa chứ không thấm lời Ngài dậy. Những kẻ khó lòng thoát khỏi cái bóng của ma quỷ trong tâm.

Đối với Giê-su hay với bất kì một bậc giác giả nào, thì căn bệnh khó chữa nhất của loài người chính là căn bệnh từ trong tâm.

Giê-su hạ thế là lặng lẽ, trong suốt quá trình truyền đạo truyền pháp, ngài không ngưng nghỉ đôi chân, bất kì nơi nào đi qua đều là mầm nhân duyên thiện lành mà Giê-su gieo cấy.

Cảm hóa nhiều con người thiện lương theo đạo, hóa độ những kẻ còn hoài nghi về quyền năng nơi Chúa, thức tỉnh những con người đang lầm đường lạc lối.

Trong hết thảy những chuyến đi, Ngài thể hiện phép nhiệm màu mà người thường không có được, Ông cho người đời thấy đâu là bến bờ hạnh phúc thực sự, có biết bao căn bệnh được ông chữa khỏi, có những người tưởng chừng như chết đi mà được hồi sinh kì lạ. Quyền năng to lớn ấy làm biết bao nhiêu con chiên rơi lệ cảm tạ ân sâu.

Nhưng có một căn bệnh của con người mà chính bản thân Giê-su cũng phải chấp nhận lấy cái chết của mình để cảm hóa, đó chính là căn bệnh mê muội nhân tâm. Những kẻ từng ngày đi theo từng bước chân ngài, đã từng là môn đồ của ngài, nhưng trong tâm lại không chịu buông lòng tham, sự tàn ác. Những kẻ bị cám dỗ bởi ma quỷ để rồi không phân biệt được đâu mới là người sẽ cứu độ mình, đâu là người thực sự mà họ cần phải mang ơn

Chấp nhận làm nô lệ của quyền thế và đồng tiền mà bị sai khiến đủ điều. Những con người đó thật chẳng dễ dàng gì cứu cả. Và Chúa đã phải đánh đối lấy mạng sống của mình để mong hòng cứu rỗi linh hồn họ.

Và cái kết của những con người không chịu buông đi những túi tham lam vào tiền bạc, là cái chết của chính họ, bởi người có thể  thực sự cứu họ như Giê-su họ còn bán đứng thì ai có thể cứu họ đây, đồng tiền mà họ có liệu có thể cứu được mạng sống không? Cái chết của Judas cũng là để cảnh tỉnh cho con người mai sau biết buông bỏ đi lòng tham, thoát khỏi sự khống chế của ma quỷ trong tâm mình mà trở về với Đức Chúa.

Nỗ lực của chúa Giê-su trong suốt những năm tháng truyền đạo truyền pháp, bất chấp cực khổ, bất chấp hiểm nguy và mất đi cả tính mạng của mình. Điều ấy cũng là hi vọng duy nhất mà Ngài lưu lại cho con người về con đường phá bỏ mê muội, chấm dứt khổ đau, trở về với thiên đàng.

Rất nhiều những họa sĩ tôn giáo đã thành công khi thấu hiểu được tâm tư của Chúa mà khắc họa thành công về Giê su, có lẽ sự thành công trong bức họa lưu lại tên tuổi của họ với người đời sau này chính là cảnh giới tư tưởng mà họ ngộ được trong chính pháp lý mà Giê-su giảng.

Và mỗi một chặng đường lịch sử, lại có một bậc thánh giả hạ thế cứu độ chúng sinh. Khi con người sẽ phải đối diện với hiểm nguy, thì đất trời lại đón chào Giác giả tới cứu độ. Ai là người từ trong mê mà ngộ? Ai là người sẽ được đắc cứu, đó chính là duyên phận đáng trân quý của con người. Giê-su đã lấy cái chết để cảnh tỉnh thế nhân, thì nay trong cơn mê đó, ai là người thức tỉnh? Thiên đàng hay địa ngục, đó là lựa chọn của chính chúng ta.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NGHE NHẠC TÀ ÂM CHIÊU TAI HỌA

VÌ SAO NGƯỜI XƯA

ĐỐI VỚI CHÉN BÁT

CÓ NHIỀU KIÊNG KỴ ?

Bát là một vật dụng không thể thiếu trong đời sống của những người dân phương Đông.

Đặc biệt đối với người dân Việt Nam, đó là một nét văn hóa không thể thay đổi trong sinh hoạt hằng ngày có tự bao đời.

Cùng với nhu cầu và sự phát triển của xã hội, các loại bát cũng ngày một nhiều và cách dùng cũng khác nhau. Có lẽ bởi quá thông dụng nên tầm quan trọng của bát thì mọi người không phải ai cũng đều hiểu hết. Kỳ thực, phong thủy liên quan tới chiếc bát mà chúng ta vẫn dùng để ăn hằng ngày là không thể coi thường. Và người xưa đặc biệt chú ý coi trọng đến điều này.

Là vật dụng được sử dụng hằng ngày, nhưng hầu hết chúng ta đều không mấy chú ý tới chiếc bát. Ít ai biết rằng, vật dụng này lại gắn liền với không ít điều kiêng kỵ về phong thủy. Tôi có anh bạn vừa chuyển nhà mới, và qua câu chuyện của anh tôi hiểu được tầm quan trọng về những kiêng kỵ gắn liền với chiếc bát ăn hằng ngày của chúng ta.

Như một thói quen của rất nhiều gia đình, khi chuyển tới nhà mới anh Lưu bạn tôi liền mang bán hết những đồ dùng gia đình ở nhà cũ, hơn nữa còn  tiện tay thu dọn những chiếc bát cũ lâu ngày bỏ vào thùng rác. Thế là sau khi chuyển tới nhà mới, chừng nửa năm sau gia đình anh liên tục gặp những điều không may mắn. Làm ăn kinh doanh thì liên tục thất bại, vợ anh thì bỏ nhà theo người đàn ông khác, bản thân anh cũng bắt đầu xuất hiện các chứng bệnh mà trước đó chưa hề mắc. Quá lo lắng anh đã đi hỏi rất nhiều thầy tướng số phong thủy, và câu trả lời mà anh nhận được đều giống nhau khiến anh sững sờ : Đều là họa do anh vứt bỏ những chiếc bát cũ.

Quả thực, người xưa đối với chén bát, vật dụng trên mâm cơm hàng ngày đều rất quý trọng, hơn nữa có rất nhiều kiêng kỵ. Dưới đây là những điều kiêng kỵ đã được đúc rút lại qua hàng ngàn năm qua, hy vọng sẽ hữu ích cho tất cả chúng ta:

1/. Không được tùy tiện vứt bát cũ

Khi chuyển nhà mới hoặc sắm sửa vật dụng sinh hoạt mới, nhiều người chúng ta thường hay quan niệm nhà mới thì đồ đạc cũng cần mới nên thường bán hết đồ cũ mua đồ mới. Và cũng thường tiện tay vứt bỏ những chiếc bát cũ đã sứt mẻ. Đây chính là một thói quen “phá tài” điển hình, khiến rất nhiều người gặp trắc trở về đường tài vận, tình duyên, sức khỏe.

Bất luận là mới hay cũ, chiếc bát đều tượng trưng cho “công ăn việc làm” của gia chủ. Nếu đem chiếc bát vứt đi, chẳng khác nào bạn đang tự hất bỏ “chén cơm” của mình. Trong tiếng Hán từ bát “碗” được đọc là “Wǎn”, nó đồng âm với từ 完〞đọc là “wán” trong từ〝完蛋〞đọc là “wándàn”, nghĩa là kết thúc, là hết. Bởi vậy, những chiếc bát đã cũ dù không dùng cũng không được tùy tiện vứt bỏ đi.

2/. Bát không dùng nữa thì xử lý như thế nào ?

Bát cũ không thể vứt bỏ một cách tùy tiện, vậy thì xử lý thế nào ? Các chuyên gia phong thủy Trung Quốc cho rằng, đối với những chiếc bát vẫn còn dùng được, bạn nên cho hoặc tặng người khác, chỉ riêng bát chúc thọ là không thể tùy tiện đem cho. Nếu là bạn thân, bạn tốt, việc tặng bát còn có thể kéo dài tình hữu hảo, tăng thêm sự thân thiết, gắn bó.

Theo quan niệm của người xưa, đối với những chiếc bát đã sứt mẻ đến nỗi không dùng được, bạn cũng có thể vứt đi, nhưng cần lưu ý phải bọc bát bằng vải đỏ rồi mới đem vứt..

3/. Bát ăn cơm tự nhiên nứt vỡ nói lên điều gì ?

Nhiều người làm kinh doanh, tối kỵ nhất là bát nứt vỡ làm đôi khi đang dùng bữa. Có một doanh nhân nọ, đang mời khách dùng cơm tại nhà hàng thì bỗng nhiên chiếc bát ông cầm trên tay nứt vỡ làm đôi, ông ngạc nhiên và sợ hãi đến không nói nên lời.

Nhưng người sợ hãi hơn là chủ khách sạn nọ. Dù ông ấy đã rối rít xin lỗi, tặng khách hàng toàn bộ hóa đơn ăn uống ngày hôm đó, nhưng sau vụ “bê bối” đó ông dính phải kiện tụng liên miên, làm ăn thất bát.

Nhiều nhà phong thủy học đã phân tích rằng, bát nứt tượng trưng cho việc điềm rủi ập đến, thậm chí còn là điềm dữ như bệnh tật hoặc người thân đã khuất tìm về. Ai vốn không hiếu thuận hoặc làm ăn bất minh, nếu gặp điềm này đều sẽ gặp quả báo nhãn tiền.

4/. Bát ăn cơm bị mẻ có thể dùng tiếp được không ?

Nhiều người dân Việt chúng ta vì thói quen tiết kiệm nên khi bát đã mẻ vẫn có thói quen tiếp tục sử dụng. Nhiều cửa tiệm nhỏ lẻ, ít kinh phí cũng thường cho khách dùng bát sứt mẻ. Thật ra, chúng ta nên tránh dùng bát đã vỡ, sứt, nứt khi ăn cơm. Nguyên nhân là bởi bát ăn cơm có ngụ ý để chỉ việc làm ăn, công việc ‘kiếm cơm’ của chúng ta. Bởi vậy nếu bạn sử dụng bát đã sứt mẻ ăn cơm thì công việc của bạn sẽ không ổn định và chắc chắn. Nguồn thu nhập cũng sẽ sụt giảm đi đáng kể, đã vậy lại thường xuyên bị kẻ tiểu nhân phá quấy. Vì thế, nếu chẳng may làm mẻ bát hãy gói gọn chúng vào vải đỏ như đã nói ở trên.

5/. Nên sử dụng bát mẻ vào lúc nào ?

Chỉ ở vào những trường hợp đặc biệt mới có thể sử dụng những chiếc bát mẻ mà không được phép sử dụng những chiếc bát lành lặn. Ví dụ người ở miền bắc Trung Quốc, mỗi khi có việc ma chay người ta thường dùng một chiếc bát mẻ xới đầy cơm, sau đó thắp hương lên trên và đặt trên quan tài. Theo quan niệm của người dân ở đây, điều này có thể giúp linh hồn người quá cố được thanh thản ra đi. Và chiếc bát này vĩnh viễn sẽ không được dùng nữa mà lưu lại như một vật bày tỏ sự tưởng nhớ người đã khuất.

6/. Tại sao lại có thể lấy trộm bát ?

Bạn đừng nghĩ rằng đây là câu hỏi buồn cười ! Nhiều nơi, khi làm tiệc thượng thọ cho người cao niên trong làng, đều có tập tục tặng bát. Người đến ăn cỗ mừng thọ đều có thể thoải mái ‘lấy trộm’ bát mang về.

Gọi là ‘lấy trộm’ nhưng thật ra ai cũng có thể tùy tiện cầm đi mà không gặp sự cản trở nào của người nhà hay chủ cỗ. Bởi lẽ, mang bát đi đồng nghĩa với việc nhân rộng niềm vui và giúp người cầm bát “lây” sự trường thọ như chủ nhân.

Nhiều bậc phụ huynh còn chia sẻ rằng, những chiếc bát mừng thọ này, khi mang về cho con cái sử dụng sẽ có tác dụng trừ tà, xua đuổi ma quỷ và xui xẻo, giúp người già tăng thêm sức khỏe, giúp trẻ nhỏ chiêu tài chiêu lộc.

7/. Đập vỡ bát có thể coi là bình an được không ?

Một vài nước trên thế giới như ở Đan Mạch, Đức, Hy Lạp và ngay chính ở Trung Quốc, vào dịp năm mới hoặc trong đám cưới, hoàn toàn có thể thoải mái đập vỡ bát đĩa để cầu bình an và may mắn, sau đó lấy khăn hoặc vải đỏ bọc kín lại rồi vứt đi.

Phong tục này ngược lại hoàn toàn với quan niệm của người Việt Nam, phải kiêng làm vỡ, sứt bát đĩa vào ngày lễ Tết. Kỳ thực trong một tình huống cụ thể đập vỡ bát nhất định là có liên quan đến một điềm báo nào đó.

Tôi có anh bạn vào ngày mùng 2 Tết, khoảng tầm hơn 9h tối đi nấu mỳ. Khi đang múc mì vào tô thì nhìn thấy một con gián trong bát làm anh sợ quá buông cả bát mỳ rơi xuống đất vỡ toang. Bởi lúc đó không có ai ở nhà và anh cũng biết bị vỡ bát vào dịp Tết là không may mắn nên sợ ngây người không biết nên xử lý ra sao. Phải vài phút sau mới lấy lại bình tĩnh đi thu dọn những mảnh bát vỡ và mang chổi định đuổi con gián nhưng không thấy nó đâu. Ngay sáng hôm sau, cha mẹ anh xảy ra xô xát cãi nhau lớn rồi vài tháng sau ly hôn.

8/. Dùng bát như thế nào khi ăn cơm ?

Khi ăn cơm nên dùng bát như thế nào ? Có rất nhiều người nghĩ rằng đây không phải là vấn đề đáng để hỏi.

Khi ăn cơm nên dùng đĩa lót vào bát rồi ăn là tốt ? Hay bưng bát cơm lên ăn là tốt ? Hay đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống tận bàn và cơm là tốt ? Kỳ thực tất cả những điều này đều cần được chú trọng và mọi người hãy lưu ý: Tốt nhất không nên đặt bát cơm trên bàn và ghé miệng xuống và cơm ăn.

Theo thuyết phong thủy của người phương Đông, bát ăn cơm kỵ nhất là để lên bàn, sau đó dùng đũa gắp cơm lên miệng. Khi ăn cơm, nhất định phải dùng tay cầm bát, không nên đặt bát lên bàn rồi và cơm. Đây vừa là lưu ý về phong thủy, cũng là vừa thể hiện lễ tiết trước mặt người lớn tuổi.

9/. Sử dụng bát phong thủy như thế nào ?

Một ngày nọ tôi có người bạn nhờ tư vấn : “Anh mới được công ty phát bộ bát phong thủy nhưng không biết nó là gì và sử dụng như thế nào ?”. Bát phong thủy, nghe qua tưởng chừng chỉ là chiếc bát nhỏ, chuyên dùng để đựng cơm nhưng thực ra không phải vậy. Nó là bát chuyên dùng trong phong thủy, đặc biệt là ở chốn công sở.

Bất cứ khi nào bạn cảm thấy tài vận không tốt hoặc có người so đo theo dõi, hãy sắm ngay một chiếc bát phong thủy và đặt tại bàn làm việc hoặc tại nhà của mình.

Bát phong thủy sử dụng cần hợp với bản mệnh của mình theo ngũ hành, ví dụ có thể dùng bát bằng gốm sứ, đồng, gỗ.. Với bát lòng rộng hoặc bát rỗng, bạn có thể đựng chút nước rồi để vài đồng tiền xu bên trong, với hàm ý Kim sinh Thủy. Cách làm này sẽ giúp vượng tài, vượng khí, và an ổn về tâm lý. Tốt nhất nên để cạnh cửa sổ bàn làm việc, vì đó là nơi thu nạp khí tốt nhất.

10/. Tại sao cần đập vỡ bát khi nhà có việc ma chay ?

Nói chung khi gặp phải đám ma hoặc có những nơi khi đang tổ chức đám cưới, đang đón dâu bỗng nhiên gặp phải đám ma thì đều nên đập vỡ bát. Kỳ thực đây là một phong tục tập quán của người xưa với ngụ ý cầu mong được đại cát đại lợi, may mắn xua đuổi tà khí.

Nhiều người trong mơ còn thấy mình đập vỡ rất nhiều bát đĩa. Nếu cố tình đập mà bát không hề sứt mẻ, thì giấc mơ này cho thấy, quan hệ giữa người đó với mẹ ruột đang rất thắm thiết, tình cảm. Ngược lại mới chỉ đập khẽ mà bát đã nứt vỡ thành nhiều mảnh, thì có nghĩa là quan hệ mẹ con đang có vấn đề gay gắt.

oOo

Trên đây là những điều kiêng kỵ mà người xưa đúc rút lại, cũng là những lời nhắn nhủ hữu ích cho người đời sau. Con người ngày nay với cuộc sống vật chất đủ đầy, không ít người tỏ ra hoang phí, mua sắm đổi cũ thay mới không tiếc tay. Tuy nhiên người xưa lại rất quý trọng những gì mình đang có, dù chỉ là một chiếc bát ăn cơm đã bị sứt mẻ, dẫu có đem vứt đi cũng phải có lễ nghi. Đây chính là thể hiện phẩm hạnh đạo đức cũng như lòng tôn kính tự nhiên của người xưa.

Từ một chiếc bát, vật dụng tưởng chừng quen thuộc trên bàn ăn, lại có rất nhiều những kiêng kỵ và phong thủy. Điều đó đủ để thấy rằng trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cần phải lưu tâm từ những điều nhỏ nhặt nhất.

Và phong thủy ấy chính là điều được cổ nhân lưu lại, không phải để hù dọa hay làm ‘mê tín’, mà là những đúc rút để nhắn nhủ con người hãy trọng đức tu tâm, sống hòa hợp với tự nhiên đất trời và biết quý trọng, hài lòng với những gì mình đang có.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHE NHẠC ‘TÀ ÂM BẤT CHÍNH’

LÀ CÁCH CHIÊU MỜI TAI HỌA

Âm nhạc là có chứa một loại năng lượng rất mạnh làm tác động lên tâm tính con người. Âm nhạc cao thượng thanh nhã chứa đựng một loại năng lượng thuần chính, giáo hóa và dưỡng tâm con người. Trái lại, tà âm bất chính có thể hủy người và làm vong quốc.

Âm nhạc là có cát, có hung

Trong “Luận Ngữ” có ghi chép rằng, một lần, khi học trò Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về vấn đề thống trị quốc gia, Khổng Tử đáp : “Yếu xả khí Trịnh quốc đích âm nhạc”, tức là phải bỏ đi âm nhạc của nước Trịnh (một nước chư hầu nhà Chu thời Xuân Thu). Âm nhạc của nước Trịnh thời ấy là thuộc loại tà âm phóng túng tình dục.

Theo Khổng Tử, loại âm nhạc khiến nam giới bị trầm mê vào sự hấp dẫn của sắc đẹp thì sẽ làm hại đến tâm tính và tình cảm của họ, hủy hoại ý chí và đạo đức của họ.

Trong “Sử ký Nhạc thư” viết : “Thính thưởng âm nhạc, hữu cát hữu hung, giá tựu thị âm nhạc quan hồ tâm tính, nhi tâm tính hựu quan hồ tự nhiên chi thiên đích đạo lý.” Tức là, nghe, thưởng thức âm nhạc là có điều tốt lành và cũng có điều hung ác không may mắn.

Đây là sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tâm tính của người nghe. Tâm tính, đạo đức của một người là nên thuận theo Thiên đạo. Âm nhạc trái với Thiên đạo thì sẽ làm “hủy nhân vong quốc”. Người Trung Hoa cổ xưa đặc biệt chú ý đến sự ảnh hưởng của âm nhạc đối với tính nết con người. Họ hiểu rõ và cho rằng lợi ích lớn lao của âm nhạc chính là giáo dục con người.

Những người hiểu âm nhạc thời xưa quan niệm rằng, âm nhạc không phải để phát triển cảm giác của những giác quan. Bởi vì họ đã nhìn thấy “Cấu tạo tâm tính” và “Giáo dục qua âm nhạc”, đó là tác dụng nguyên thủy của âm nhạc.

Âm nhạc có nhiều cấp khác nhau. Âm nhạc thấp kém xâm phạm nguyên tắc của sự điều độ, nó không giới hạn việc biểu lộ cảm xúc của con người, sẽ đưa tới suy thoái và bạo lực, cuối cùng nhân loại không còn đạo đức. Loại âm nhạc này là một lời nguyền, tạo nên sự sụp đổ của một triều đại. Âm nhạc ở cấp cao biểu lộ nguyên lý của vũ trụ. Vì vậy, thưởng thức loại âm nhạc này sẽ ảnh hưởng đến đức của người nghe, và người ta có thể nâng cao được đạo đức của mình.

Một học giả tu hành đời Đường đã nói: “Âm nhạc tốt tạo nên người tốt, âm nhạc xấu tạo nên người xấu (ác)”. Quả đúng là như vậy !

Tà âm bất chính hủy nhân vong quốc

Thời cổ đại có điển cố : “Tang gian bộc thượng chi âm, vong quốc chi âm dã” (âm thanh trong ruộng dâu trên bãi sông Bộc là tiếng nhạc mất nước). Trong “Sử ký” có ghi chép lại điển cố này như sau:

Sư Khoáng là nhà âm nhạc nổi danh thời Xuân Thu, được lịch sử xưng là “Thánh nhạc”. Vua của nước Tấn là Tấn Bình Công vừa hoàn thành xong Vương Cung muốn cử hành điển lễ chúc mừng. Vua nước Vệ là Vệ Linh Công vì mong muốn hai nước có mối quan hệ hữu hảo liền dẫn nhạc công đến chúc mừng. Vua Vệ Linh Công dẫn tùy tùng đến bên bờ sông Bộc Thủy (sông Bộc) thì trời đã tối. Họ đành phải ở lại bên sông để nghỉ tạm qua đêm.

Lúc này, họ nghe thấy một ca khúc mới lạ văng vẳng vang đến, trong lòng vô cùng phấn chấn, hứng thú. Vua Vệ Linh Công liền ra lệnh cho âm nhạc gia Sư Quyên ghi chép lại. Ngày hôm sau đoàn người đến nước Tấn. Trong buổi tiệc, sau khi được thưởng thức các màn ca múa nhạc của nước Tấn, Vệ Linh Công lệnh cho Sư Quyên diễn tấu bản nhạc mà họ đã nghe ở bờ sông Bộc ngày hôm trước. Với tài gảy đàn của Sư Quyên, âm thanh bản diễn tấu vang lên, lúc thì da diết, bi thương khiến người khác tan nát cõi lòng, lúc lại giống như tiếng mưa phùn không ngớt.

Ngồi ở bàn tiếp đãi, thái sư chưởng nhạc của nước Tấn là Sư Khoáng mỉm cười, dụng tâm nghe. Nhưng chỉ một lát sau nụ cười trên gương mặt ông dần biến mất, thần sắc càng lúc càng nghiêm nghị hơn.

Sư Quyên mới gảy chưa đến một nửa bản nhạc thì Sư Khoáng rốt cuộc không nhịn được, đứng dậy giữ tay Sư Quyên lại và nghiêm nghị nói : “Mau dừng lại ! Đây là loại tà âm vong quốc, ngàn vạn lần chớ nên gảy !”

Vua Tấn Bình Công vội chất vấn thái sư : “Khúc nhạc này thực sự nghe rất hay, ngài sao lại nói là âm nhạc vong quốc được ?” 

Sư Khoáng đáp : “Vào cuối đời nhà Ân, có Sư Diên là quan âm nhạc, cùng với vua Trụ làm ra khúc nhạc uỷ mị này. Vua Trụ nghe lấy làm thích lắm. Đến khi Vũ vương ta đánh vua Trụ, Sư Diên ôm đàn chạy về phía đông, nhảy xuống sông Bộc. Từ bấy giờ có ai thích âm nhạc đi qua đấy thì lại có tiếng đàn văng vẳng ở dưới nước vang lên. Khúc nhạc này

Sư Quyên nghe được trên đường đi, là khúc đàn ở trên sông Bộc. Loại âm nhạc này rất không tốt, ai say mê nó thì thân sẽ bị hủy mà quốc gia thì bị suy sụp. Cho nên, không thể để Sư Quyên gảy hết đoạn nhạc này.”

Nói đến đây, Sư Khoáng chuyển qua nói với Sư Quyên : “Khúc nhạc mà ngài vừa gảy là khúc nhạc ngài nghe được ở bên sông Bộc phải không ?” Vua Vệ Linh Công và Sư Quyên nghe xong đều sửng sốt và lấy làm lạ. Tấn Bình Công lại hỏi Sư Khoáng rằng : “Đó là âm nhạc của đời trước, gảy nghe chơi thì có hại gì !”

Sư Khoáng nói : “Vua Trụ vì mê khúc đàn ấy mà đến nỗi mất nước, đó là một thứ âm nhạc bất tường, vậy chớ nên gảy.”

Tấn Bình công nói : “Ta thích nghe âm nhạc mới, Sư Quyên hãy vì ta gảy nốt khúc đàn ấy”. Sư Quyên lại lựa dây rồi gảy nốt khúc đàn ấy. Tiếng đàn êm ái, lên bổng xuống trầm, như than như khóc.

Tấn Bình Công lại nói : “Khúc nhạc này ta nghe thật quá cảm động lòng người, còn có khúc nào hay hơn, cảm động hơn nữa không ?”

Sư Khoáng trả lời: “Có !”

Tấn Bình Công nói : “Có thể cho ta nghe một khúc được không ?”

Sư Khoáng nói : “Phải là người có đức dày hành nghĩa thâm hậu mới có thể nghe được khúc này. Nay ngài bạc đức, không nên nghe !”

Tấn Bình Công nói : “Quả nhân chỉ mong có thể nghe ca khúc ấy, ngài đừng nên chối từ.”

Sư Khoáng bất đắc dĩ phải cầm lấy đàn mà gảy. Mới gảy được một khúc, thì có một đàn chim hạc ở phương nam bay đến. Gảy thêm khúc nữa thì chim hạc vỗ cánh mà múa, vươn cổ mà hót theo tiếng nhạc. Tấn Bình Công đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Những người đứng xem ai cũng kinh ngạc. Tấn Bình Công ngồi xuống, nói : “Còn khúc nhạc nào hay hơn, cảm động hơn thế không ?”

Sư Khoáng nói : “Có, ngày xưa vua Hoàng đến hội các thần ở núi Thái Sơn, rồi làm ra điệu nhạc này. Vua đời sau đức bạc, không xứng để nghe, nếu nghe thì có họa bại vong.”

Tấn Bình Công thấy vậy liền nói : “Quả nhân nay đã già rồi, còn lo bại vong sao ? Nếu được nghe khúc nhạc ấy mà chết thì cũng thoả lòng.”

Sư Khoáng nhất định không chịu gảy. Tấn Bình công đứng dậy, hai ba lần cố ý nài ép. Sư Khoáng bất đắc dĩ lại phải ôm cầm mà gảy.

Mới gảy một khúc, có đám mây đen ở phương tây hiện lên. Gảy khúc nữa thì bỗng nổi một cơn dông, bao nhiêu ngói ở trên nóc điện bay tung lên và cột hiên gãy hết, lại thấy có tiếng sét dậy trời, rồi mưa như trút nước.

Dưới đài ngập mấy thước, trong đài chỗ nào cũng ướt cả, Tấn Bình Công sợ hãi, cùng với Vệ Linh Công nằm phục vào một nơi. Khi mưa gió đã im lặng rồi, nội thị mới vực Tấn Bình Công và Vệ Linh Công ở trên đài xuống.

Tiếp sau đó nước Tấn gặp phải đại hạn suốt ba năm, không một ngọn cỏ nào sống sót, dân chúng lầm than cơ cực. (theo An Hòa dịch và t/h)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

NGÀY TAM NƯƠNG

VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

– Kay Nguyễn

Thời xưa làm nông thì hay “trông trời trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Thời nay làm ăn phương Tây hay phương Đông gì cũng phải trông ngày cả. Không phải mê tín gì, nhưng chúng ta đều là động vật có hệ thần kinh cao cấp, nhạy cảm, và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường chung quanh, nhất là khi môi trường trái đất vốn chịu năng lượng xung động rất cao từ mặt trăng – vệ tinh xoay chung quanh và gần trái đất nhất.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến các bạn một khái niệm khá thông dụng về cách tính giai đoạn của mặt trăng để :

– Nếu không tin thì khi nghe người khác nói cũng không bị bỡ ngỡ

– Nếu tin thì để KHÔNG bị ảnh hưởng đến chuyện làm ăn, đến các tính toán quan trọng của mình và doanh nghiệp.

Đó là khái niệm ngày “tam nương” (của phương Đông) và Nguyệt Kỳ (moon phase) – khái niệm này, thật ngạc nhiên, cả phương Đông và phương Tây đều dùng và hoàn toàn trùng khớp nhau.

Ngày Tam Nương

Tam Nương là ba trang tuyệt sắc Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự, ba nường được coi là “quậy” nhất lịch sử Trung Quốc, với sắc đẹp ma mị khuynh thành đổ quốc gây không biết bao nhiêu là tang thương cho các thành bang.

Muội Hỉ khiến chấm dứt 500 năm trị vì của nhà Hạ (2100 BC – 1600 BC). Đát Kỷ làm sụp đổ nhà Thương (1600 – 1066 BC). Bao Tự làm tang hoang nhà Tây Chu (1066 – 771 BC).

Ngày Tam Nương chính là ngày sinh và ngày mất của 3 nường này, nên một tháng có 6 ngày Tam Nương, tính theo lịch âm (các bạn nên lấy viết ghi lại) là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Ngày nào của gái nào thì thú thật cả hội Lý Số Trung Quốc vẫn còn đang tranh luận nên tôi không biết đâu ! Chỉ biết vào các ngày âm lịch vừa kể trên, đừng nên làm chuyện gì mới mẻ : xây nhà, gả con, xuất hành, khởi nghiệp, giới thiệu sản phẩm mới, sáp nhập công ty… Vì xác suất thất bại hoặc phải làm đi làm lại là rất cao. Chưa kể đây còn là ngày của nhiều thảm họa.

Tôi xin phép được trích dẫn một vài ví dụ khá thuyết phục vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều vị học giả khoa học huyền bí ở Trung Quốc và Việt Nam.

1/.  Tàu ngầm nguyên tử Kursk chìm vào ngày 12/8/2000. Toàn bộ 118 thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm hiện đại nhất của Nga đã ra đi lúc con tàu bị chìm xuống đáy biển Barents sau hai vụ nổ. Nó đã rời cảng vào một ngày Tam Nương.

2/.  Hội đồng dân tộc Afghanistan họp tại Đức để thành lập chính phủ, dự định vào ngày 12, sau đó họ lùi lại vào ngày 13 Âm lịch. Đất nước này đến nay vẫn còn bất ổn.

3/. Cuộc chiến Iraq đã xảy ra vào ngày Tam Nương 18 tháng Hai Quí Mùi.  Đến bây giờ, đất nước này vẫn chưa thật ổn định.

Ngày này nguy hiểm ở chỗ là nó đúng bất chấp mọi lá số tử vi, cứ mỗi tháng lại xảy ra 6 ngày mệt mỏi này, nên lưu ý ghi nhận lại kết quả để nghiệm lý cho riêng mình và tự nhiên rút ra kết luận, chứ tôi cũng không muốn hù dọa gì quý vị cả. Bản thân tôi và mấy anh bạn làm công ty riêng về dịch vụ, (mấy anh này thì tin theo phương Đông lắm), cứ họp hành gì quan trọng với khách hàng là đều né ra mấy ngày này, nếu buộc phải vô họp cũng chỉ tán chuyện vòng vòng cho hết giờ rồi nán lại quyết định vào ngày hôm sau.

Có mấy lần sếp lớn của khách hàng bắt quyết luôn vào ngày Tam Nương, y như rằng lúc nào gói dịch vụ cũng bị cắt giảm tối đa hoặc đội kinh phí do khủng hoảng, hoặc thậm chí bị hủy bỏ hoàn toàn. Sợ thật !

Nguyệt Kỳ (Moon Phase)

Mấy anh bạn làm chung thì theo Phương Đông nên tôi cũng theo luôn cho tiện, chứ gốc rễ thì tôi vẫn là người theo truyền thống khoa học huyền bí của phương Tây vì tử vi Phương Tây, cách tính transit (vận hạn), bài Tarot, bói sỏi Runes, chỉ tay, quả cầu thủy tinh, con lắc, bói bã trà… nhiêu đó đủ xỉu rồi còn tính thêm ngày âm, bốc phệ, mai hoa, lục nhâm, bát môn… nữa chắc chết, riết rồi ngày nào cũng muốn ngồi nhà ngáp ruồi đọc sách cho lành !

Tuy nhiên phương Tây vẫn có cái Nguyệt Kỳ kiêng kỵ khá là khớp với cái Tam Nương này, nên tôi xin chia sẻ ở đây để thấy được cái kỳ diệu của Đông-Tây hội ngộ.

Nguyệt Kỳ của Phương Tây dùng y chang lịch âm của mình. Nếu các bạn còn nhớ 12 cung hoàng đạo, hãy tưởng tượng là có một dải băng dài chia làm 12 vùng trời bao xung quanh trái đất.

Cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới, một cung hoàng đạo mới, và tạo thành một dòng năng lượng mới (theo từng cung) ảnh hưởng tới toàn bộ sự sống trên trái đất. Ít nhất là vào ngày rằm, chúng ta thấy rõ nhất là nước triều lên, và người ta dễ khóc dễ cười dễ nổi khùng nhất, vì 90% cơ thể là nước – trong các tế bào.

Các án mạng hầu hết đều xảy ra vào trăng rằm, khi truyền thuyết phương Tây là một số người hóa sói (werewolf).

Trong một tháng, New Moon (trăng non) là kỳ trăng của sự Dưỡng Nuôi, khi năng lượng trong vũ trụ hoàn toàn thuận lợi để con người bắt đầu một việc gì đó quan trọng. Các dự án hùn hạp, làm ăn, hợp đồng nên được khởi sự tính toán vào lúc Trăng Non để nhận được nhiều thông tin và sự thông thái nhất của những người tính toán.

Trăng Non di chuyển qua cung hoàng đạo thứ 2 vào khoảng ngày 3 AL (Tam Nương) và cung thứ 3 vào ngày 7 AL (Tam Nương), nên 2 ngày nào coi như giao thời, “tranh tối tranh sáng” theo cách tính phương Tây, làm việc hay bị dở dở ương ương.

Waxing Moon / Half Moon (bán nguyệt) là từ ngày 8 – 13 AL, đó là kỳ trăng của sự Hành Động và Độc Lập, đây là lúc tập trung hành động để giải quyết vấn đề chứ không còn ngồi tính như lúc Trăng Non nữa. Phương Đông mình kỵ 13 AL (Tam Nương) cũng chính là vì đây là giai đoạn chuyển từ bán nguyệt sang trăng tròn.

Full Moon (trăng tròn) là từ 14 – 18 AL, trong đó có ngày 15 trăng hoàn toàn đối diện mặt trời (Moon opposition Sun). “Trai mùng một, gái hôm rằm” là đây, vì những người có tử vi sinh vào trăng tròn, cả ở Đông lẫn ở Tây, đều có quá nhiều năng lượng đối lập trong cuộc sống, dễ gây xung động lớn trong cuộc đời. Đây là thời điểm Gặt Hái theo quan niệm phương Tây.

Ngày 18 AL (Tam Nương) là kỳ chuyển của trăng thành Waning Moon (trăng khuyết), từ 18 – 27 AL, trong đó né ngày 22 (Tam Nương) vì là giai đoạn giao cung hoàng đạo. Thời kỳ này chúng ta nên nội liễm nhiều thứ: năng lượng, hoạt động, tính toán. Đây là thời khắc suy gẫm, đánh giá được – mất… Ai đùng đùng đi khởi đầu cái mới thì lỗ ráng chịu !

Trăng tàn (Balsamic Moon) 28 – 29.5 (phương Đông làm tròn thành 30 – kỳ thực trăng đi hết một vòng trái đất chỉ mất 29.5 ngày nên lâu lâu mình có tháng nhuận AL là vậy) chính là thời kỳ các “phù thủy” khoái nhất vì đây là lúc con người có giác quan thứ 6 mạnh nhất, thích hợp để cúng tế, học hỏi lĩnh hội cái mới trong địa hạt khoa học huyền bí. Còn các việc khác trong cuộc sống cứ để nhàn nhạt theo guồng mà chạy là tốt nhất.

Đọc bài này xong không phải để e sợ, mà để sống đúng với chu kỳ vũ trụ hơn, và cảm thấy một sự giao thoa Đông Tây tuyệt đẹp ! J.P. Morgan, nhà tài phiệt lớn nhất nước Mỹ đầu thế kỷ 20, là người luôn có những quyết định công việc theo kỳ trăng. Giờ đây ngân hàng đầu tư J.P. Morgan Chase là một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới hiện tại (trụ sở ở Sài Gòn là ở 29 Lê Duẩn). Vì dù cho chúng ta có dùng phương pháp nào, ở nền văn minh nào, để soi rọi con người và vũ trụ đi chăng nữa, thì nếu phương pháp đó là chuẩn, chúng sẽ cho cùng một kết quả ! (theo Kay Nguyễn)

Nói thêm về ngày Tam nương sát

Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch.

Chữ Hán Nôm : Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN).

Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau :

1/. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 (ngày Mão) mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý, cai trị ? – 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN – 1600 TCN).

2/. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) (sinh ngày 13 tử ngày 18 (ngày Thìn) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN – 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN – 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân.

3/. Bao Tự (sinh ngày 22 tử ngày 27 (ngày Mùi) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết, cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN – 771 TCN). Vua U chưa bao giờ thấy Bao Tự cười, ra lệnh ai làm cho nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng.

Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hoả đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U). Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, vua U cho đốt lửa trên hoả đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh đó là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.

Theo dân gian Trung Quốc, còn theo phong tục tập quán của Việt Nam thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng Đế sai 3 cô gái xinh đẹp (Tam nương) xuống hạ giới (giáng hạ) để làm mê muội và thử lòng con Người (nếu ai gặp phải) làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v.

oOo

Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thọ tử, Trùng tang, Trùng phục, Ly sàng, Không phòng, Hoang ốc, Thiên hình, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

Xem ngày tốt xấu quan trọng nhất là xem sao của ngày đó, lịch vạn sự đã nghiên cứu và xây dựng ứng dụng xem ngày tốt xấu để phục vụ các bạn hàng ngày.

NHỮNG HUYỀN THOẠI

CÓ THỰC TRÊN TRÁI ĐẤT

Thế giới thần thoại có đủ các vương quốc huyền bí và cảnh giới tồn tại song song với chúng ta. Người ta cho rằng đâu đó trên Trái Đất có điểm giao thoa giữa nơi con người sinh sống và chỗ của các vị thần. Giá như chúng ta nắm được mật khẩu để mở những cánh cửa thần kỳ đó….

1/- Yomi No Kune (nghĩa là cõi âm theo tiếng Nhật) Yomi No Kune là một phần của thần thoại Nhật Bản có xuất xứ từ thời kỳ Phật giáo được truyền bá rộng rãi.

Theo truyền thuyết, vạn vật được tạo nên bởi một vị thần tên là Izanagi và vợ Izanami. Sau khi Izanami hạ sinh ra lửa và chết đi, người chồng đau khổ đã làm cuộc hành trình sang thế giới bên kia để hồi sinh người vợ. Với sự gần gũi nổi bật trong các truyền thuyết khác, người chồng đã phát hiện ra một nơi tối tăm và ảm đạm, nơi các linh hồn có thể giữ nhục thân khỏi bị mục nát vĩnh viễn. Izanagi bị cấm không được nhìn vào vợ mình cho đến khi họ lên đến mặt đất, nhưng cũng giống như các nghịch lý huyền thoại khác, ông chợt thoáng nhìn qua và thấy cơ thể mục nát, đầy giòi bọ của bà.

Tức giận vì ông dám nhìn bà trong tình trạng đó, Izanami đã gửi quỷ nanh dữ đến để đuổi ông quay trở lại âm phủ mãi mãi, nhưng ông thoát được và phong ấn Yomi No Kune bằng một phiến đá khổng lồ. Đáp trả lại, Izanami nguyền rằng sẽ lấy đi 1.000 sinh mạng xuống cõi âm mỗi ngày và Izanagi cũng hứa sẽ tạo nên 1.005 sinh mạng mới nơi dương gian, quả thực âm giới chuyện huyền bí có thật.

Ngày nay, du khách đến thăm khu Matsue của Nhật Bản có thể ghé qua tảng đá được cho là Izanagi đã sử dụng để phong ấn cõi âm. Yomotsu Hirasaka, tên chính thức của lối vào, theo truyền thuyết nằm sau một trong những tảng đá gần đền Iya. Không rõ chính xác tảng đá nào giấu lối vào. Mộ của Izanami cũng nằm gần đó cùng với đền thờ.

2/ Xibalba : Ở đỉnh cao quyền lực, đế chế Maya trải dài cả vùng Mexico và Trung Mỹ, còn niềm tin của người dân vào thế giới bên kia rất mạnh mẽ. Nơi an nghỉ cuối cùng của họ là Xibalba, nơi chỉ người chết mới vào được và chỉ sau khi linh hồn đã vượt qua hàng loạt các thử thách, từ vượt qua con sông đầy bò cạp và máu, băng qua động dơi rồi đi theo một con chó có thể nhìn thấy trong bóng tối. Có nhiều lối ra vào Xibalba và các nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện thêm một lối khác ở bán đảo Yucatan. Các di tích lòng đất và phần chìm dưới nước làm nên một mê cung khổng lồ các hang động chứa đựng những điềm dữ theo những gì người Maya nghĩ rằng đang chờ họ phút cuối.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 11 đền thờ khác nhau trong những hang động, cùng với bằng chứng về sự hiến tế người. Một số hiện vật được để lại cho người chết, bao gồm đồ gốm, các hòn đá chạm khắc và gốm sứ. Các nhà khảo cổ khai quật các hang động cũng đã tìm thấy các cột đá khổng lồ và các cấu trúc được xây dựng dưới nước, một minh chứng cho thời gian, nỗ lực và kiên trì để xây nên ngôi đền. Mặc dù không rõ liệu huyền thoại của Xibalba được xây dựng xung quanh việc khám phá ra các hang động hay các hang động làm nên huyền thoại, có điều chắc chắn rằng cả hai có liên quan tới nhau.

3/ Các cánh cổng của Guinee (nước cộng hòa Ghi-nê) : Theo tập tục phù thủy, các cánh cổng của Guinee có tác dụng nào đó để kết nối linh hồn người sống với chết. Do có nhiều môn tà thuật với đặc điểm khác nhau, nên việc mô tả các cánh cửa này cũng nhiều khác biệt. Trong ma thuật ở New Orleans, nơi tồn tại các linh hồn sau khi chết thường hay tranh cãi xem ai là người kế tiếp sẽ đi đầu thai.

“The Gates of Guinee” là những cái cổng đó để vào thế giới bên kia, có tất cả 7 cổng. Phải mất 7 ngày để đi qua tất cả các cổng này, và nếu như linh hồn nào không vượt qua được, họ có thể trở lại dương thế trong hình hài một thây ma. Một số tay phù thủy tin rằng 7 cánh cổng này được đặt tại bảy nghĩa trang khác nhau ở New Orleans, mặc dù vị trí chính xác và số thứ tự của các cánh cổng là một bí mật được giữ kín hoàn toàn.

Các manh mối nghe nói đã lan truyền khắp thành phố và mọi nghĩa trang, để cho những ai có đủ kiến thức giải mã chúng, thường mang hình thức các dấu hiệu của ma thuật. Các cổng được cho là dễ tìm và mở ra nhất vào thời điểm các ngày lễ như Mardi Gras và lễ các Thánh, nhưng việc tìm ra chúng chỉ là sự khởi đầu của vấn đề. Các cánh cổng phải được tiếp cận và mở ra theo đúng thứ tự, mỗi cổng có một người giám hộ mà đòi hỏi phải có khẩu quyết phù hợp. Mở cửa sai thứ tự hoặc làm phật lòng giám hộ sẽ cho phép các ác linh nguy hiểm thoát qua cổng và tiến vào thế giới chúng ta.

4 / Khu vườn của Hesperides : Theo thần thoại Hy Lạp, thần Gaia đã tặng Hera một món quà cưới là những cây trổ ra quả táo bằng vàng, được cất giữ an toàn trong khu vườn của Hesperides. Hercules được giao nhiệm vụ đánh cắp một quả táo vàng trong lần trả công thứ 11 của ông, và ông đã hoàn thành bằng cách giúp thần Atlas nâng quả đất trong lúc người khổng lồ Titan chọc lấy một trong những trái cây vàng.

Lối vào khu vườn hiện nay được cho là nằm ở Lixus, một thành phố ven biển ở Ma-rốc. Nơi đây từng là một cảng tàu thuyền La Mã nhộn nhịp, các vách tường và tòa nhà của Lixus hiện nay chỉ còn chút di tích đã bị phá hủy gần hết. Di tích cho thấy phần còn lại của một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thành phố, sản xuất pa tê làm từ ruột cá lên men. Vị trí của các khu vườn được đề cập đến trong một văn bản dưới thời Hellenistic Hy Lạp, nhưng cũng có những địa điểm khác được đề cập đến, bao gồm Cyrene và một trong những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Libya.

5 / Newgrange Newgrange : Newgrange Newgrange là một hầm mộ rộng lớn được xây dựng ở thung lũng Boyne, Ireland hơn 5.000 năm trước đây. Công trình không chỉ thể hiện sự hiểu biết thông thái về thiên văn mà còn là một trong những lối vào thế giới khác của người Celt. Theo thần thoại Celtic, các vị thần đã di chuyển qua lại giữa các thế giới của họ và trần gian thông qua nghi thức nhất định và các thánh địa như Newgrange.

Người ta vẫn cho rằng Newgrange là lối đi vào một sảnh tiệc nguy nga tráng lệ dành cho những đấng gọi là Các vị chủ nhân của Ánh sáng, còn có lời đồn nó dẫn đến một vùng đất của những người trường sinh bất lão, hoặc vô bệnh. Nguồn thực phẩm và thức uống ở đó là vô hạn, ngoài ra còn có các loại cây thần kỳ liên tục sinh ra trái chín.

Thần thoại cổ xưa nhất xung quanh Newgrange kể rằng đây là nhà của sinh mệnh hiện thân cho dòng sông Boyne và là nơi có giếng cội nguồn của mọi trí huệ trên thế giới. Cây cối ở gần giếng rớt hạt vào trong nước, đem các tri thức mà nó tích tụ đến với cõi người. Các cư dân tiếp theo của thế giới khác liên quan đến Newgrange là thần Dagda, một trong những vị thần lâu đời nhất của Ai-len, người có quan hệ đến tri thức, mặt trời và bầu trời. Con trai ông là Oengus có quan hệ chặt chẽ với Newgrange, được sinh ra sau một ngày duy nhất và gia tăng quyền năng từ ngọn đồi để sống trong chín tháng. Sau đó, Oengus đã lừa đưa Dagda xuống cổng hầm mộ, nơi được cho rằng ông đã canh giữ ở đó đến ngày nay.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC