CÂU CHUYỆN BÙA NGẢI

Logo KH huyen bi

9-bua-ngai-1CÂU CHUYỆN BÙA NGẢI

XỨ MƯỜNG

– Đoàn Dự ghi chép

Thưa quý bạn, hồi còn nhỏ, tôi thường được nghe bác tôi kể lại các chuyện lạ lùng ở những nơi xa xôi mà dân chúng làng tôi thường gọi là “đường ngược”. Sau này, lớn lên tôi mới biết “đường ngược” là các tỉnh mạn thượng du như Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái… mà đối với dân chúng thời đó đều là những nơi rừng thiêng nước độc, gồm toàn những người Mán người Mường, người Mèo người Nùng, Thái đen Thái trắng… vô cùng bí hiểm.

Dưới thời Pháp thuộc, bác tôi là nhà giáo tốt nghiệp Sư phạm Hà Nội, được bổ đi dạy tại Phú Thọ, sau đó được đổi về Thanh Hóa, cuối cùng là về Hưng Yên rồi Hải Phòng. Đến thời kỳ Việt Minh đánh nhau với Pháp, bác tôi đã có gia đình nên đem gia đình tản cư về Thái Bình và dạy học luôn tại quê nhà theo kiểu “tự túc”, nghĩa là học sinh ai muốn học thì học, muốn trả cho thầy đồng nào thì trả, không trả cũng được vì nhà thầy có ruộng đất do ông bà để lại, thuê người canh tác cũng tạm sống được.

Tính bác tôi ít nói, thích nghiên cứu các sách báo kể cả khoa học lẫn y học để giúp đỡ cho dân chúng nên rất được dân làng quý trọng. Cách áp dụng khoa học hay y học của bác tôi cũng rất kỳ lạ. Ví dụ có lần, một cậu bé con bà chị họ trong làng – nhà một mẹ một con vì người bố đã chết – tinh nghịch trèo lên cao tuốt luốt trên ngọn cây nhãn định chọc tổ ong, bị ong đốt, ngã xuống đất, tức thở, hai mắt nhắm chặt hình như đã chết.9-bua-ngai-3

Mọi người không làm sao được bèn bế đến nhà bác tôi. Bà mẹ quỳ phục xuống đất, khóc và lạy van như tế sao :

– “Ông giáo làm ơn cứu giùm cho con tôi…” – bà là chị họ xa nhưng không dám gọi bác tôi bằng chú mà gọi bằng ông. Bác tôi không nói gì cả, lẳng lặng đi chặt mấy cành si trồng làm cảnh trên hòn non bộ trước nhà, nhỏ nhựa của nó vào chiếc bát sành, mài vào đấy một ít mật gấu bác đã để dành từ bao giờ, pha một chút nước rồi bảo mọi người phụ với bác dùng đũa cả cậy răng cậu bé, đổ hỗn hợp nhựa cây si và mật gấu vào cổ họng cậu.

Một lúc lâu sau, cậu tỉnh lại. Hiện nay nghe nói cậu làm Phó giám đốc Hành chánh thủy điện Sông Đà và đã về hưu. Trong làng có bệnh dịch trâu bò bác cũng chữa theo cách kỳ lạ như vậy : Cho trâu bò uống thứ nước gì đó mà bác bảo xương truật là vị chính; ban đêm thì “úm” chuồng trâu cũng bằng thứ thuốc đó suốt đêm, trâu bò sẽ khỏi nhưng không bao giờ bác lấy của ai một đồng nào cả mặc dầu những vị thuốc bác mua có lẽ cũng khá tốn tiền.

Bác chỉ ở trong nhà, ít khi ra đến ngoài đường và hình như cũng ít biết mặt biết tên người làng. Thời Việt Minh, cũng chẳng bao giờ bác đi họp nữa, và họ cũng quên sự hiện diện của bác, coi như không có bác trong làng. Tuy nhiên, trong những bữa giỗ của họ hàng nhà tôi, ăn uống xong bác thường kể cho con cháu nghe những chuyện lạ lùng về phong tục tập quán của người 9-bua-ngai-2Mán người Mường ở Phú Thọ khi bác còn dạy học trên đó.

Ví dụ về chuyện “ma xó”, bác kể rằng khi nhà có người chết, người ta vào rừng kiếm loại gỗ quý, hạ cây xuống, chặt lấy một đoạn, khiêng về, phần trên dùng làm cái nắp, phần dưới đục sâu xuống thành cái quan tài. Làm lễ nọ kia xong, người ta đặt thi hài người chết vào trong đó, gắn nắp lại bằng loại nhựa gì rất kiên cố rồi để ở góc nhà hàng hai ba năm trước khi đem ra nhà mồ đặt ở nhà mồ.

Người chết khi còn để trong góc nhà như vậy gọi là “ma xó”. Bác tôi cũng cho biết, theo truyền thuyết, “ma xó” rất linh thiêng, ví dụ một gia đình có cửa hàng bán các thứ gì đó, nếu có quan tài “ma xó” ở góc nhà thì dù không có người trông coi cũng không ai dám lấy trộm không trả tiền, bởi vì nếu lấy thì “ma xó” sẽ theo về tới tận nhà, hành cho đến chết.

Tôi lớn lên với những câu chuyện lạ lùng, huyền bí của người Mán người Mường ở trên “đường ngược” do bác tôi kể lại. Mặc dầu rất tin bác nhưng càng lớn lên bao nhiêu tôi càng bán tín bán nghi, không hiểu những chuyện đó ra sao, có đúng như vậy không.

Thời gian qua đi, bao nhiêu năm đã qua rồi. Gần đây, ngoài Bắc có nhóm phóng viên đứng đầu là nhà báo Hoàng Anh Sương cũng thắc mắc như tôi ngày xưa, họ lặn lội lên các tỉnh mạn thượng du ngoài Bắc tìm hiểu khá cặn kẽ và xuất bản cuốn “Bùa ngải xứ Mường”, bán rất mạnh. Còn trong Nam, có nhà báo Bùi Hữu Cương, cũng tìm hiểu vấn đề bùa ngải của người Mường từ Thanh Hóa trở vào cho tới các tỉnh vùng Tây Nguyên như Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột… Thì ra ở Thanh Hóa cũng có rất nhiều đồng bào người Mường. Bây giờ xin mời quý bạn xem qua 9-bua-ngai-5cho biết một số những điều họ đã tìm hiểu được

Bùa ngải và các huyền thoại

Để tìm hiểu về chuyện bùa chú xứ Mường, các phóng viên đã lần tìm về huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, một huyện miền núi có đến 90% người Mường sinh sống, được mệnh danh “thủ phủ” của bùa ngải xứ Thanh.

Qua chỉ dẫn của một người quen, họ tìm đến nhà cụ Bùi Quý Phi – 78 tuổi, thôn Thọ Liêu, xã Thành Tiến, một người Mường chính gốc. Sau một hồi trèo đèo, vượt dốc, có mặt tại nhà cụ Phi, bức màn bí mật về bùa yêu đã được vén lên đôi phần.

Cụ Phi khẳng định “bùa yêu” là có thật chứ không phải chuyện do người Mường bịa ra để dọa người khác. Rồi cụ chậm rãi nói :

– “Bùa yêu do thầy mo, thầy cúng làm cho các đôi yêu nhau. Bùa yêu có cả điểm tốt lẫn điểm xấu. Điểm tốt là nó làm cho các đôi định bỏ nhau quay trở lại với nhau, lo việc chăm sóc con cái. Bùa yêu sẽ khiến cho các ông chồng, bà vợ có tính “ham chơi” nhanh chóng đoàn tụ gia đình. 9-bua-ngai-6Điểm xấu là một ông thầy biết làm bùa yêu nếu thấy cô gái nào đẹp mà mình ưng ý, bèn lập tức làm bùa cho cô ta theo về làm vợ mình.

Bởi vậy nên mới có chuyện có những ông thầy bùa có tới cả chục người vợ. Những ông thầy dùng bùa yêu theo kiểu đó hậu vận không tốt, con cái sẽ chết yểu hoặc không ngóc đầu lên nổi. Những người có tiền, mua chuộc thầy bùa để có nhiều vợ hoặc để lừa tình, lường gạt con gái nhà người ta thì kết quả cũng tương tự”.

Cụ Phi kể : “Có đám ma, khi vợ vừa chết được một lúc thì người chồng cũng lăn quay ra ôm chặt lấy xác vợ và chết theo. Lúc này mọi người mới té ngửa, hóa ra trước kia ông chồng thuê làm bùa yêu để chiếm đoạt người vợ chứ không có yêu đương gì cả”. Theo đó những cặp vợ chồng đến với nhau vì bùa ngải, nếu một trong hai người không may chết đi thì phải lập tức tìm ngay thầy về giải bùa. Trong trường hợp không kịp giải bùa hoặc ông thầy còn quá non tay, giải bùa không nổi thì người đó sẽ khó sống sót”.

Những câu chuyện do cụ Phi kể lại tuy khá phù hợp với những chuyện được truyền tụng trong dân gian nhưng các phóng viên vẫn nghi ngờ về tính xác thực của nó, bởi cụ chỉ là một lão nông quanh năm lẩn quẩn trong làng, do vậy họ tiếp tục đi tìm sự thật về việc này.

May mắn là một phóng viên trong nhóm đã tìm gặp được người anh họ làm giáo viên có quen với một ông thầy bùa ngải. Ông thầy này trước cũng là giáo viên, dạy cùng trường với ông anh họ đó, nay cả hai người đã nghỉ hưu.

9-bua-ngai-4Câu chuyện của ông giáo già kiêm thầy bùa

Đó là ông Bùi Ngọc Thuấn – nguyên giáo viên có gần 40 năm dạy môn Sinh học tại trường Trung học Thạch Đồng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Ông Thuấn đã nghỉ hưu, hiện đang làm Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi, kiêm Chủ tịch Hội Đông Y xã Thạch Đồng. Ông được mọi người trong xã đặt cho biệt danh là “Thầy 3 trong 1” vì ông vừa là thầy giáo, thầy thuốc, kiêm luôn cả thầy bùa, thầy cúng.

Sau một hồi chuyện trò, ông Thuấn khẳng định chắc nịch : “Lời kể của bác Phi hoàn toàn đúng, bùa yêu có thật”. Ông cho biết thêm : “Bùa yêu không phải ai cũng học được, nó là do cha truyền con nối, không truyền ra ngoài”.

Ông kể : “Bỏ bùa yêu có nhiều cách. Trước tiên là phải biết tên tuổi người mà mình định bỏ bùa. Thầy bỏ bùa, yểm câu chú, kết hợp với gọi tên người đó rồi thổi vào các dĩa dựng muối, gạo, sỏi, v.v… Sau đó trao cho người đến xin bỏ bùa, đem về ném vào đối tượng. Nhưng đạt hiệu quả nhất vẫn là lấy những vật dụng sinh hoạt hằng ngày của đối tượng như khăn mùi-soa, khăn mặt, mũ…, đem đến nhờ thầy làm phép.

Sau khi đã bị bỏ bùa yêu, người kia sẽ yêu đến chết cũng không rời. Nếu một người chẳng may chết trước thì lập tức phải nhờ thầy giải bùa ngay cho người còn lại, nếu không kịp thì người còn sống chẳng mấy chốc cũng sẽ chết.

Ông kể tiếp : “Có nhiều thầy bùa cao tay đến mức, một khi đã bỏ bùa yêu ít có người nào hóa giải được. Điều này xảy ra tình trạng là khi cần, tìm ông thầy đó về giải bùa thì ông thầy đã đi nơi khác sinh sống hoặc đã mất từ bao giờ. Gặp trường hợp đó các thầy bùa cấp độ thấp chỉ biết đứng nhìn chứ tuyệt nhiên không dám giải bùa vì sợ bùa phản lại”.

“Do mỗi bài thần chú khá dài, có khi lên đến cả trang giấy nên người học bùa yêu, nèm bùa, ếm bùa bắt buộc phải có hơi thở dài, không sứt môi hoặc hở răng hay nói lắp (cà lăm) để có thể 9-bua-ngai-7niệm thần chú một mạch không đứt hơi, ngắt quãng, nếu không sẽ phải đọc lại từ đầu. Ngoài ra cũng không được đọc sai tên hoặc sai câu thần chú.

Có nhiều cách để hóa giải bùa yêu được các thầy bùa áp dụng. Trong đó có phương pháp dùng một ống tre, lấy phân gà bôi chung quanh, sau đó hơ qua hơ lại trên đống lửa, nam hơ 7 lần, nữ 9 lần, vừa hơ lửa vừa đọc thần chú, kết hợp với đọc tên người bị bỏ bùa, bùa yêu sẽ được hóa giải.

Như vậy các “nguyên liệu” dùng để bỏ bùa hoặc giải bùa như gạo, muối, sỏi, ống tre, phân gà… rất đơn giản nhưng quan trọng là bài thần chú và cách bỏ bùa hoặc giải bùa, điều này do cha truyền con nối nên mới có thầy giỏi và thầy không giỏi.

Hư thực về ếm bùa, ma xó, nèm bùa

Sau một hồi phân tích, ông Thuấn nói thật ông không biết làm bùa, ếm bùa, nhưng ông biết nèm bùa. Một lần nữa ông khẳng định, bùa yêu, ếm bùa, nèm bùa là có thật, riêng ma xó thì theo ông nghĩ, không có thật.

Theo ông Thuấn cho biết, những thầy bùa thường thờ thần ếm, thần bùa trong nhà, phía trên bàn thờ có lọng xanh để che, đây là điều quan trọng để phân biệt với những thầy cúng thông thường. Và mỗi thầy ếm bùa, phía ngoài vườn thường có một gian thờ nhỏ, người ngoài không biết tưởng đó là ma xó nhưng thực chất trong đó có thờ những con sâu, không bao giờ hóa bướm, thức ăn của nó chủ yếu là xác động vật.

Phân của những con sâu này rất độc, được kết hợp với nhựa cây sùi lấy từ trên rừng, trộn lẫn với nhau. Hỗn hợp chất độc đó được tẩm vào khăn, áo, mũ… và người ngấm phải chất độc nói trên sẽ ốm yếu mà không 9-bua-ngai-10bác sĩ nào có thể tìm thấy nguyên nhân gây bệnh và không có loại thuốc nào chữa khỏi, lâu dần sẽ chết.

Theo nhiều người kể lại, con sâu đó được sinh ra từ râu của con cọp, nên mỗi khi đi săn được cọp, các thợ săn lập tức phải đốt ngay bộ râu cọp đi kẻo nó rơi vào tay các thầy bùa.

(Ghi chú của ĐD: Người ta nói râu cọp cắm vào cây măng tre còn non, chỗ cắm sẽ thúi và sinh ra loại sâu, phân của chúng rất độc dùng để làm hại người khác như trên đã nói. Thật ra ở Tây nguyên như Pleiku, Ban Mê Thuột và hai bên bờ sông Đồng Nai về phía thượng nguồn như Mã Đà, Tân Phú, La Ngà… có loại cây Mã tiền (Strychnos), lá và hột của nó có chất Mã tiền tinh (Strychnin) cực độc, ăn phải là tim ngừng đập chết ngay lập tức, nhưng nếu dùng với liều lượng nhỏ chỉ có các “thầy bùa” biết thì lại rất tốt, chữa được nhiều bệnh về thần kinh, xương khớp, phụ nữ lãnh cảm..vv. Vậy loại cây Mã tiền cũng được các “thầy bùa” sử dụng như chuyện “râu cọp” chăng? – ĐD).

Ếm bùa làm cho con người chết từ từ nhưng riêng nèm bùa thì sẽ làm cho con người chết ngay lập tức, nhưng ít người dùng vì nó tàn độc, hại người, nó như một con dao hai lưỡi có thể phản lại ngay chính bản thân thầy nèm. Nèm bùa có nhiều loại, bên cạnh loại nèm bùa độc ác làm chết người còn có nhiều cách nèm bùa khác lại cứu người, làm nhiều điều tốt.

Nếu như ếm bùa chỉ truyền cho người trong dòng tộc, người phải có duyên mới học được và phải kiêng kỵ , không được chui qua dây phơi quần áo và đồ dùng phụ nữ; thì nèm bùa bất kỳ ai cũng có thể học được, lại không phải kiêng khem.9-bua-ngai-9 Có nhiều cách nèm khác nhau, có loại nèm khiến người ta say rượu. Khi muốn cho ai mau say rượu, chỉ việc nèm bùa vào ly rượu, cho dù người đó tửu lượng cao đến đâu cũng chỉ cần một ly là sẽ say li bì bất tỉnh nhân sự suốt mấy ngày liền.

Nèm săn thú, nèm bắt cá được nhiều người biết, tuy nhiên loại nèm này thường có những câu thần chú mà người học nèm phải theo như: “… Tôi nguyện sống độc thân suốt đời không vợ không con”. Mỗi khi đi nèm, cá sẽ tự chui vào lưới, thú ở đâu lù lù xuất hiện, chỉ việc giơ súng lên bóp cò. Nhìn chung ít khi đi nèm mà về tay không, song phải sống độc thân suốt đời thì cũng thiệt thòi.

Nèm cá thì không không phải chia cho ai, còn nèm thú thì khi nèm được bất cứ loại thú nào cũng phải chia cho cả bản cùng hưởng, xem như san sẻ “nghiệp chướng” của mình cho mỗi người gánh một ít.

Ngoài ra, nếu nèm được thú rừng thuộc loại trung bình như hươu, nai…, tương ứng với nó sẽ có một con vật nuôi trong nhà như chó, mèo… sẽ phải chết theo. Nếu nèm được những con vật mạnh mẽ như hổ, báo, gấu… thì vật hy sinh “mạng đổi mạng” có khi lại chính là người trong gia đình thầy nèm, vì vậy nên nèm săn thú ít được người Mường sử dụng.

Bên cạnh những loại nèm kể trên còn có những loại nèm dùng để chữa bệnh như rắn cắn, trẻ con khóc đêm, trâu bò bị bệnh… Nèm chữa rắn cắn được nhiều người biết, mỗi khi có người bị rắn độc cắn, thầy nèm sẽ dùng lá cây rừng nhai vào miệng, lẩm nhẩm đọc thần chú rồi thổi vào vết rắn cắn, chỉ một lúc nọc rắn sẽ được trục ra ngoài. Có nhiều trường hợp bệnh nhân đã bị bệnh viện trả về do nọc độc đã ngấm vào tim không thể chữa nổi, song gặp được thầy nèm cao tay thì chất độc sẽ nhanh chóng được hóa giải, mang lại sự sống.

Sau khi kể toàn bộ những hiểu biết của mình cho các phóng viên nghe về bùa ngải, ông Thuấn lúc này mới tiết lộ là ông không biết nèm thú nhưng biết nèm cá. Ông đã vác lưới ra sông là sẽ có cá mang về ăn và ông còn biết nèm chữa bệnh cho trâu, bò.

9-bua-ngai-8Theo đó, những con trâu không may bị thương tích do đá núi quẹt phải chẳng hạn, rồi ruồi bâu đậu vào, đẻ trứng, sinh ra dòi bọ nhiều vô kể, ông chỉ việc vẽ hình con trâu ra giấy, lấy tay chỉ vào khu vực bị dòi bọ bám, rồi ông ngửa cổ lên trời miệng lẩm nhẩm đọc thần chú, mang tờ giấy đó ra chuồng trâu đốt, một lúc sau toàn bộ dòi bọ sẽ chết và tự rụng xuống đất.

Ở miền núi cao huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, các phóng viên vô tình được những người già trong thôn Bướp, xã A Tiêng kể về những câu chuyện bùa yêu của người Cơ Tu từ bao đời nay.

Những câu chuyện huyễn hoặc

Rất ít người biết được những bí mật của bùa yêu nhưng có những câu chuyện của chính những người biết bùa yêu cùng loại cây cỏ lạ lùng có tên Ameer đã khiến những người ít tin vào chuyện huyễn hoặc phải mê mẩn. Anh Atin Minh, Trưởng thôn Bướp vừa là người dẫn đường, cũng vừa là người thông dịch, bởi vì như anh nói: “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của ngải yêu chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Anh Minh nói : “Người Cơ Tu biết nhiều bùa ngải, nhưng chỉ có ngải yêu được nhiều người nghe, chứ ngải độc thì không thể nói cho ai biết được. Bà Bươn biết nhiều ngải lắm đó !”.

Căn nhà của bà Bươn chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa. Khi mọi người đến, bà Bươn đang ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy khách vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn nhà của mình.

Theo anh Atin Minh thì bà Bươn cưới được chồng nhờ một lần làm bùa yêu bằng một loại cây ngải bí mật ở trong rừng. Bà Bươn thừa nhận chuyện này và kể (do anh Atin Minh thông dịch) : “Chỉ cần một lá ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá ngải bằng tay rồi thấm nước sương, sau đó lén bỏ vào túi áo, túi quần hay dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người kia, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. 9-bua-ngai-12Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng.

Mỗi năm lại phải bỏ ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải ngải đó, nếu họ “dính” phải thì có tội lắm !”. Bà Bươn cũng thành thật cho biết, từ trước đến giờ bà đã cho ngải nhiều người phụ nữ để họ lấy được chồng như ý, trong đó có một cô con gái bà.

Nhưng khi các phóng viên muốn xem “mặt mũi” cây ngải mà bà đã dùng để làm bùa yêu thì bà Bươn nhất định không chịu. Phải mất cả buổi thuyết phục, cộng với sự đảm bảo của anh trưởng thôn Atin Minh, bà Bươn mới hé lộ bí mật về cây ngải mà bà đã dùng. Bà bảo hiện vẫn “nuôi” ở gần khu vực căn nhà bà đang ở. Với tay lấy đồ nghề đi rừng, bà Bươn bước xuống cầu thang và nói với anh Atin Minh mấy câu bằng tiếng Cơ Tu, chỉ thấy anh Minh gật đầu rồi dặn mọi người không được đi theo.

Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau, bà Bươn trở lại và trên tay cầm một bụi cây không thân, lá màu xanh hình lưỡi kiếm, dài khoảng vài phân, có củ nhỏ giống như loài địa lan. Các phóng viên săm soi xem liệu đó có phải là cây ngải yêu của bà Bươn không.

Anh Minh nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Bươn là biết loài cây này sống ở đâu, ngoài ra không ai biết cả”. Chúng tôi muốn xin bà một lá để mang về nhờ người tìm hiểu nhưng nhìn cái cách bà phản ứng bằng tiếng Cơ Tu với anh phiên dịch, 9-bua-ngai-11chúng tôi hiểu mình không được phép làm điều gì đó thất lễ nên chỉ xin được chụp ảnh.

Theo bà Bươn, trong làng có một người được bà cho ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị A Rất Thị Bê. Đến nay chị Bê hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con. Nghe vậy chúng tôi lại quyết định tìm gặp chị Bê để nghe cho tận tường câu chuyện.

Chị Bê kể rằng lúc mới 16 tuổi, chị “bắt” chồng nhưng chưa kịp thì chồng chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng ngải của bà Bươn cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ ngải của bà Bươn cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng” nên dễ làm.

Chị Bê còn cho biết thêm, cách đây khá lâu bà Bươn cũng cho một số phụ nữ ngải yêu để tìm chồng. Đó là những cô giáo người Kinh ở vùng xuôi được bổ lên đây dạy học. Vì ở nơi xa xôi lại khác biệt về văn hóa nên nhiều cô khi được phân về xuôi công tác đã lâm vào cảnh quá lứa lỡ thì. Vì thương các cô giáo nên bà Bươn mới cho ngải yêu đem về xuôi. Chi Bê cũng không biết các cô giáo có dùng bùa và có hiệu nghiệm hay không.

Bí mật về các loại cây kỳ lạ làm nên bùa yêu

Già Làng Alăng Sân, 85 tuổi, ở làng Arhôông, xã A Tiêng (huyện Tây Giang, cùng tỉnh Quảng Nam) cho biết : “Cây ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Cơ Tu xưa sử dụng làm bùa yêu, vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người được biết.

Chính vì câu chuyện nói trên mà việc dùng ngải yêu của người Cơ Tu hết sức nghiêm ngặt 9-bua-ngai-14và không nhiều người làm được. Tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm bùa yêu, đó là bà Alăng Thị Ahút nay đã 90 tuổi, có 3 đời chồng, 10 con, 14 cháu. Bà từng làm ngải yêu cho hàng chục phụ nữ Cơ Tu ở nhiều làng, mỗi lần làm ngải yêu được đổi lấy một tấm tút”. (Chú thích: Tấm “tút” : tấm thổ cẩm).

Ông Bhriu Liếc, nguyên Trưởng ban Dân tộc – Miền núi huyện Tây Giang khẳng định : “Chuyện ngải yêu là có thật. Đồng bào Cơ Tu, Bhnoong, Xê Đăng ở đây còn có nhiều loại ngải công dụng khác nữa”. Một già làng người Cơ Tu cho biết : “Trước đây, cây ngải yêu có một số người trồng bí mật ở trong rừng, người có nhu cầu cần một lá ngải yêu, phải trả giá từ vài con heo hoặc đổi vài tấm tút. Theo tập quán, ngải yêu chỉ truyền cho người nữ, không truyền cho người nam. Kể từ sau năm 75, đồng bào được vận động sống văn minh nên cây ngải yêu đã mất dần và bị đẩy lùi ra khỏi cộng đồng của người Cơ Tu trên dãy Trường Sơn”.

Tiến sĩ Trần Tấn Vịnh, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Nam cho biết : Theo các nhà khoa học thì các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại hiếm, có thể trở thành thuốc độc hoặc thuốc để cứu người. Cây ngải, loại dược liệu chính để làm bùa yêu hay bùa độc mà những người dân tộc thiểu số sử dụng có rất nhiều loại và được pha trộn thêm với một số dược liệu khác.

Ví dụ cây ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. 9-bua-ngai-13Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”. Riêng cây ngải yêu lại là một loại ngải đặc biệt. Thực ra loại cây ngải này được bà con dân tộc làm “bùa yêu” vì nó có chứa chất kích thích tình dục. Loại hương liệu này nếu biết cách bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” lạ lùng tạo ra sự “thèm muốn” khó quên, khó cưỡng lại cho người bị bỏ bùa. Vì thế bùa ngải chỉ là chất xúc tác ban đầu nối kết hai người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tuy nhiên, chuyện bùa ngải đã bị huyền bí hóa và nó trở thành một phần trong đời sống tâm linh của những bộ tộc thiểu số. Chính vì bí truyền nên các loại ngải cũng được bao phủ lớp sương huyễn hoặc. Các thầy cúng, thầy pháp lợi dụng ngải, đánh vào lòng cả tin của đồng bào, tạo nên những hủ tục cúng ma, Tr bang hoang“thổi” bệnh đánh vào lòng mê tín của đồng bào…

TS Trần Tấn Vịnh nhận xét : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc thiểu số tại các khu vực nói trên vẫn chưa được thực hiện nhiều và có có hệ thống. Nếu làm được điều này, những loại dược liệu mà bà con đã dùng để làm bùa ngải sẽ là những nguồn dược liệu vô giá”. (theo Đoàn Dự ghi chép)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

BÙA NGẢI CỦA ĐỒNG BÀO PA-KÔ

Logo TG tam linh

9-dinh-kim-ngan-1NGÔI ĐÌNH KIM NGÂN

NƠI TT PHÁP GHÉ THĂM

Bia đá, cột đình cổ, hoành phi câu đối, mái vòm, không gian cổ kính là những đặc trưng của ngôi đình lớn nhất trên phố cổ Hà Nội – đình Kim Ngân được Tổng thống Francois Hollande ghé thăm.

H1: Đình Kim Ngân là điểm dừng cuối cùng của Tổng thống Francois Hollande trong chuyến dạo chơi phố cổ Hà Nội chiều 6/9/2016. Đình tọa lạc tại số 42 phố Hàng Bạc (Hoàn Kiếm, Hà Nội) được xây dựng từ thời Hậu Lê, cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, thờ ông Tổ bách nghệ (tổ trăm nghề) Hiên Viên. Đây được coi là một trong những đình cổ kính, rộng nhất trên địa bàn phố cổ.

H2: Tổng thống Francois Hollande được nghe giới thiệu sơ lược về lịch sử ngôi đình cũng như văn hóa người Việt tại đây.

9-dinh-kim-ngan-2

H3: Các giá trị chính mà di tích đình còn lưu truyền được, mang ý nghĩa lớn về mặt kiến trúc nghệ thuật và lịch sử tồn tại phát triển của một phường nghề ở Hà Nội. Vào thời Pháp thuộc, con phố Hàng Bạc có tên tiếng Pháp là Rue de changeurs (tức là phố Đổi Bạc, hay phố của những người nhiều tiền). Nơi đây quy tụ những thợ kim hoàn tinh xảo bậc nhất của đất kinh kỳ.

H4: Ngôi đình được xây theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ “Công” với gỗ và gạch là vật liệu chính. Đại đình rộng 3 gian, hậu cung 3 gian được  nâng cao và là hậu cung kép, có sàn thờ và hệ thống vách ngăn riêng biệt.

9-dinh-kim-ngan-3

H5: Nối giữa hậu cung và tiền tế là ống muống (hành lang nối giữa hai dãy nhà) làm theo kiểu kiến trúc 2 tầng mái, mái trên liên kết với tiền tế, mái dưới tạo không gian hở của hai bên và lấy ánh sáng tự nhiên. Tấm hoành phi đặt trang trọng trên cao, hai cột lớn là hai câu đối. H6: Năm 2009, đình Kim Ngân được trùng tu tôn tạo, và nới rộng mặt bằng với diện tích 575 m2. Hiện trong đình kê những bộ bàn ghế và tấm hoành phi câu đối cổ.

9-dinh-kim-ngan-4

H7: Chiếc sập với nhiều hoạ tiết hoa văn đặt giữa đình. H8: Con công được thêu những họa tiết cầu kỳ đặt trang trọng trên lưng con ngựa phía hai bên lối đi vào hậu cung. H9: Ba tấm bia đá trên bức tường.

9-dinh-kim-ngan-5

H10: Sau ngày đánh chiếm Thủ đô (năm 1954) khuôn viên đình bị thu hẹp, tuy nhiên, tại đình vẫn lưu giữ bia đá, đồ thờ tự, tượng pháp… Về kiến trúc, ở đây vẫn còn nhiều họa tiết chạm khắc rất đẹp, độc đáo. H11: Cây cột đình cổ được kê cao lưu giữ bên trong khuôn viên đình. H12: Đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 10/2012. (theo Ngọc Thành)

9-bhutan-1BHUTAN :

THIÊN ĐƯỜNG TRẦN THẾ

GÂY TÒ MÒ

Bhutan – quốc gia nhỏ bé với hơn 700 nghìn dân được xem như viên ngọc quý nằm trên dãy Himalaya, quốc gia duy nhất tự nhận mình là vương quốc hạnh phúc, lấy chỉ số hạnh phúc của người dân để đo lường sự phát triển.

Sân bay nguy hiểm nhất thế giới, đường băng ngắn nhất thế giới

Bhutan từng là mảnh đất gây tò mò bậc nhất trên toàn thế giới bởi nó được khóa kín giữa những ngọn núi và những đường biên giới, hiếm khi hé mở cho người ngoài bước vào khám phá. Tuy nhiên, những năm gần đây, khi vị vua thứ 5 của Bhutan – người tốt nghiệp Đại học Oxford danh tiếng lên trị vì đất nước, Thiên đường cuối cùng (The last Shangri-la) trên thế giới – cách người ta gọi Bhutan bắt đầu mở cửa.

Bhutan không có chỗ cho người thích du lịch bụi hay đi phượt bởi không cấp visa tự do. Người nước ngoài chỉ có thể tới đây dưới dạng visa làm việc, kết hôn hoặc visa du lịch được xin bởi hàng trăm công ty du lịch nội địa sẵn sàng 9-bhutan-2cung cấp dịch vụ cực tốt từ đặt vé máy bay, xin giấy phép du lịch đến hướng dẫn cho du khách tham quan.

Khách Việt Nam tới Bhutan chưa nhiều nên nếu không đặt được tour du lịch của công ty thuộc sở hữu của người Việt tại Bhutan, có thể tham gia các chuyến đi với hướng dẫn viên nói tiếng Anh chuyên nghiệp.

Theo quy định của vương quốc hạnh phúc, mỗi ngày một khách du lịch phải chi tiêu cho ăn ở, đi lại 200 USD vào mùa thấp điểm (tháng 1 đến 2, tháng 6 đến tháng 8 và tháng 12) và 250USD vào mùa cao điểm. Nếu bạn có ý định đi Bhutan hãy sắp xếp hành lý để lên đường ngay bởi người dân đang kiến nghị Chính phủ yêu cầu nâng mức chi tiêu lên cao hơn nữa.

Để tới được Bhutan, hành khách có thể bắt chuyến bay từ Bangkok, Hongkong và Kalkata (Ấn Độ). Đường bay tới Bhutan chỉ có hai hãng hàng không của chính quốc gia này khai thác là Drukair (Royal Bhutan Airline) và Bhutan Airlines (hàng không tư nhân). Sân bay quốc tế Paro tại Bhutan là một trong những sân bay nguy hiểm nhất thế giới bởi nằm giữa địa hình núi non hiểm trở của dãy 9-bhutan-3Himalaya và một đường băng duy nhất cũng thuộc danh sách những đường băng ngắn nhất thế giới. Hiện tại, chỉ có 8 phi công được cấp phép bay tại sân bay này.

Hạnh phúc tới từ đâu ?

Người Bhutan vẫn rất thuần chất, người trẻ tuổi có sự hồn nhiên, trong sáng, lương thiện, người trung tuổi trải đời có sự từ bi và trí tuệ của Phật tử lâu năm. Trò chuyện với họ, chúng ta bị thu hút bởi năng lượng tích cực từ họ tỏa ra một cách âm thầm. Đi đường núi cả chục cây số, họ vẫn cười nói, ân cần giúp đỡ những người yếu mệt. Bhutan không có nhiều nơi giải trí ồn ào, sẽ rất khó để tìm một quán bar hay quán cà phê. Chính vì thế người Bhutan dành phần lớn thời gian rảnh để đọc sách hoặc tập luyện leo núi.

Hạnh phúc nơi đây còn xuất phát từ sự bình đẳng. Đàn ông và phụ nữ đều có sức khỏe và làm việc nặng ngang nhau. Trong hôn nhân, đàn ông được phép lấy 4 vợ và phụ nữ cũng được lấy 4 chồng. Tuy nhiên, đàn ông muốn lấy thêm vợ phải được sự đồng ý của người vợ đầu tiên. Mặc dù vậy, đàn ông và phụ nữ ở đất nước này sống độc thân khá nhiều, tỷ lệ ly hôn cũng xấp xỉ 50%.

Thiên đường huyền bí

Cũng tại quốc gia Phật giáo thống trị này, hơn 40% đàn ông đi tu. Ở các tu viện tôi đến thăm, gặp rất nhiều trẻ em, các em đều đi tu từ nhỏ. Đến năm 18 tuổi, 9-bhutan-4các em sẽ được tự lựa chọn tiếp tục tu hành hay trở về với cuộc sống đời thường.

Điều đáng chú ý là đền thờ và tu viện của Bhutan không bao giờ thiếu kinh luân xoay (mani hay còn gọi là bánh xe luân hồi). Đây được coi là pháp bảo của Mật tông. Người dân Bhutan thường tới quay đủ kinh luân xung quanh đền, miệng niệm chú Ommani padme hung. Người ta tin tưởng mạnh mẽ rằng, chỉ cần chạm tay vào và quay kinh luân thôi cũng đã tịnh hóa được vô số tội lỗi và tích tập được một lượng công đức.

Một trong những địa điểm nhất định phải tới ở Bhutan là ngôi đền Paro Taktsang hay Tiger’s nest (Hang Cọp) nằm chơi vơi trên vách đá của thung lũng Paro – nơi Guru Rinphoche (ngài Liên Hoa Sinh – người truyền bá đạo Phật vào Bhutan) đã ngồi thiền ba năm, ba tháng, ba tuần, ba ngày và ba giờ vào thế kỉ thứ VIII. Đây cũng là ngôi đền đặc biệt linh thiêng đối với Phật giáo vùng Tây Tạng, 9-bhutan-5hành thiền tại đây dù chỉ một phút thôi cũng có thể đạt được kết quả ngang với hành thiền hàng tháng ở những nơi khác.

Để tới được đây, du khách cần leo núi khoảng 2-3 giờ, hang núi nơi ngài Liên Hoa Sinh thiền chỉ được mở cửa một lần/năm vào tháng 2 để mọi người vào chiêm bái. Thung lũng Paro buổi sáng cũng là địa điểm năng lượng phát ra mạnh mẽ, những người nhạy cảm có thể lập tức cảm nhận được ngay vì thế nếu có thời gian, hãy dậy sớm, ngồi thiền và kết nối năng lượng của bạn với nguồn năng lượng khổng lồ này.

Nếu bạn là người thích mua sắm, tốt nhất đừng tới Bhutan. Đất nước này chỉ hợp với những người có khả năng tài chính, thích đi du lịch, yêu thích khám phá văn hóa, đạo Phật, có sức khỏe, sức bền và chịu đựng được đi bộ đường dài…(theo Thanh Hương báo Giao Thông)

Logo KH huyen bi

9-bua-yeu-1BÙA YÊU NGẢI YÊU CỦA

ĐỒNG BÀO PA KÔ

VÀ VÂN KIỀU

Đó là một trong những bí mật lớn nhất của đại ngàn Trường Sơn. Nhưng có những câu chuyện của chính những người biết “Bùa yêu” làm bởi loại cây cỏ lạ lùng. Một chiều mưa gió trên miền núi cao thuộc huyện A Lưới huyện Nam Đông – Nơi có bà con dân tộc Pa Kô.Vân Kiều sinh sống thuộc TT Huế Tôi vô tình được những người già trong thôn kể về những câu chuyện “Bùa yêu” của người Pa Kô, Vân Kiều từ bao đời nay.

Sẽ yêu cho đến tận lúc chết !

Anh Hồ Ray, trưởng thôn vừa là người dẫn đường, cũng vừa là phiên dịch viên cho Tôi, bởi như Anh Ray nói : “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của “Ngãi Yêu” chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Dẫn tôi vượt qua mấy con suối nhỏ, len lỏi vào trong vườn rẫy của bà Hồ Tuyen, 9-bua-yeu-2Anh Ray vừa đi vừa nói : “Người Pa Kô, Vân Kiều biết nhiều Bùa Ngải, nhưng chỉ có “Ngãi yêu” được nhiều người nghe, chứ Ngải độc thì không thể nói cho ai biết được ! Bà Tuyen ở đây biết nhiều Ngải lắm đó !”.

Căn lều chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa như buồn hơn, và càng làm cho sự huyễn hoặc tăng thêm khi Tôi vào nhà bà Hồ Tuyen. Cái tuổi 70 phảng phất trên nhan sắc của một con người đã qua biết bao mùa rẫy khắc khổ. Bà ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy Anh Ray và Tôi vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn lều.

Một lá “Ngải yêu”

Bà Hồ Tuyen cưới được chồng nhờ một cây “Ngải bí mật” ở trong rừng. Qua phiên dịch Anh Hồ Ray, bà kể : “Chỉ cần 1 lá Ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá Ngải bằng tay rồi thấm nước sau đó lén bỏ vào túi áo quần, dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng. Mỗi năm lại phải bỏ Ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải Ngải thì có tội lắm !”.

Già Làng Hồ A Tá Khỉn, 81 tuổi, cho biết thêm : “Cây Ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Pa Ko, Vân Kiều xưa sử dụng làm “Bùa yêu”, 9-bua-yeu-3vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người biết được’!.

Trước, tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm” Bùa yêu”, đó là bà Hồ Y Ko Nut (87 tuổi), có 4 đời chồng, 8 con, 16 cháu. Bà từng làm Ngải yêu cho hơn mấy chục người phụ nữ Pa Ko, Vân Kiều ở nhiều làng, mỗi lá” Ngải yêu” được đổi lấy vải,heo,gà,lúa ,ngô….

Nhận diện “Ngải yêu”

Phải mất cả buổi vận động, thuyết phục bằng tất cả sự chân thành, cộng với sự đảm bảo của “cán bộ trưởng thôn” Anh Hồ Ray, bà Tuyen mới hé lộ bí mật về Cây Ngải nuôi trong rừng của bà. Với lấy đồ nghề đi rừng, bà bước xuống cầu thang và nói với Anh Hồ Ray mấy câu bằng tiếng Pa Ko, chỉ thấy Anh Hồ Ray gật đầu rồi dặn Tôi không được đi theo.9-bua-yeu-4

Khoảng 1 giờ sau, bà Hồ Tuyen trở về và trên tay chỉ một có một bụi cây không thân, lá màu xanh hình bản kiếm dài vài tấc,

có củ nhỏ giống như loài địa lan. Tôi săm soi xem liệu đó có phải là cây “Ngải yêu” của bà Hồ Tuyen không. Anh Hồ Ray nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Hồ Tuyen là biết loài cây này sống ở đây, ngoài ra không ai biết cả”.

Gia đình chị Hồ Vay Rom.

Bà Hồ Tuyen cho biết, trong làng có một người được bà cho Ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị Hồ Vay Rom hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con.

Hồ Vay Rom kể lúc mới mười sáu tuổi, chị bắt chồng nhưng chưa kịp thì “chồng” chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng Ngải của bà Hồ Tuyen cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ Ngải của bà Hồ Tuyen cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng”.

9-bua-yeu-5Hồ Tuyen còn kể, những năm sau giải phóng, trước cảnh mấy thầy cô giáo người Kinh tình nguyện lên đây dạy chữ cho đồng bào mà quên cả tuổi xuân nên nhiều năm không ai dám cưới, bà Hồ Tuyen đã cho Ngải để họ về xuôi tìm được vợ, chồng…

Theo các nhà khoa học, các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại ngải độc hại người hoặc ngải thuốc cứu người. Ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. Râu cọp là một loại Ngải cực độc. Lá ngón cũng vậy, chính là cây “đoạn trường thảo”. Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại Ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”.

Riêng cây “Ngải yêu” lại là một loại Ngải đặc biệt. Còn công dụng “yêu”, là do nó có chứa chất kích thích tình dục, có hương liệu, khi bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” và sự “thèm thuồng” khó quên, khó cưỡng lại. 9-bua-yeu-6Ngoài yếu tố tâm linh truyền thống tồn tại ở các tộc người còn khá gần với tự nhiên nguyên thuỷ, thì Ngải vẫn giải thích được bằng khoa học. Đó đều là cây thảo dược.

Bùa ngải chỉ là xúc tác ban đầu nối kết 2 người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tiến sỹ Văn hóa Đào Phong Vinh cho biết : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc các khu vực trên vẫn chưa được thực hiện bởi các nhà dược học và dân tộc học. Nếu được, đó sẽ là một nguồn tài sản vô giá !”

Tr bang hoangRừng sâu núi thẩm không kém các chuyện về Bùa Ngãi. Tui được duyên gặp duyên nên được tiếp cận học được các loại Bí truyền nầy ! Mong giúp được các Bạn đang cần hàn gắn hôn nhân vì có người thứ 3 chen vào. Giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau hơn, giúp các bạn cần tìm ý trung nhân… Hãy suy nghĩ thật kỷ trước khi liên hệ với Tôi các Bạn nhé !

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

1a LogoTuongso

Tr Thay boi 4NHỮNG DẤU HIỆU TRỜI ĐỊNH

BẠN SẼ CÓ SỐ HƯỞNG LỘC

Dưới đây là những dấu hiệu cực kỳ hiếm gặp trong lòng bàn tay, vì thế người sở hữu chúng được xem là đã được trời định sẵn số phận may mắn hơn người.

H1: Nếu ở cuống ngón tay cái có những vòng tròn nối đuôi nhau tạo thành một chuỗi dài thì đó gọi là đường Nhẫn gia tộc. Người sở hữu dấu hiệu này sẽ sống sung sướng, hưởng thụ cả đời nhờ phúc từ gia đình, có thể là gia đình của mình hoặc gia đình bên vợ/chồng. Tuy nhiên bạn cần cẩn thận với miệng lưỡi thế gian và sự ganh ghét của những người xung quanh.

9-dau-hieu-1H2: Cũng nằm ở cuống ngón tay cái, đường Cổ cồn trắng gồm hai đường vòng cung song song nằm vắt ngang qua phần bắp thịt. Đây là dấu hiệu của người có tố chất lãnh đạo và tài năng xuất chúng, thường đứng đầu trong nhiều lĩnh vực và khó lòng chịu thua kém ai. Họ là những người dễ đạt được thành công trong cuộc sống nhờ tài năng, kiên trì và nỗ lực.

H3: Thông thường người ta chỉ có một đường Trí tuệ trong lòng bàn tay, nhưng nếu ai may mắn sở hữu hai đường, gọi là đường Song trí, thì người đó là thiên tài bẩm sinh, trí thông minh hơn người. Việc gì họ cũng làm giỏi hơn người khác và thành công nhanh hơn người khác. Vấn đề duy nhất của họ là sự tập trung.

H4: Nếu một người mà nắm tới 3 đường Sinh mệnh trong lòng bàn tay, gọi là đường Sủng ái, thì cuộc đời người đó luôn nhận được sự yêu mến, giúp đỡ hết mình từ người khác. Cuộc sống và công việc của họ luôn gặp được quý nhân phù trợ nên thuận lợi đủ đường, 9-dau-hieu-2đường công danh sự nghiệp rộng thênh thang. Có điều họ thường gặp khó khăn trong việc tự mình đưa ra những quyết định quan trọng.

H5: Người có đường Hi vọng trong lòng bàn tay thì cuộc sống luôn gặp nhiều may mắn, ít sóng gió hay biến cố, đời sống tinh thần và tình cảm luôn thuận lợi, không phải suy nghĩ hay lo âu nhiều. Con đường công danh hay sự nghiệp của họ cũng rộng mở nhờ biết xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.

H6: Người may mắn sở hữu đường Thập thần là người có trí tuệ và thông minh bẩm sinh, thiên hướng nghệ thuật mạnh mẽ, 9-dau-hieu-3có óc sáng tạo và tố chất nghệ sĩ. Tuy nhiên những người này thường rất nhạy cảm, tâm lý tình cảm không được ổn định nên đôi khi hơi bốc đồng và làm việc theo cảm hứng là chính.

H7: Người nào nắm chỉ tay hình con cá trong lòng bàn tay, gọi là đường Mắt cá, thì coi như đã nắm chặt phú quý, tài lộc trong tay. Đây là đường chỉ tay rất hiếm gặp, vì vậy ai sở hữu nó được xem là dấu hiệu trời ban, đường công danh thênh thang rộng mở. Có điều những người này hay suy nghĩ nóng vội, hấp tấp, dễ làm hỏng chuyện.

H8: Đường Minh tinh là dấu hiệu của những người thành công, bất kể xuất phát điểm thấp đến đâu. Những người này có thể không thông minh nhưng rất khôn ngoan và kiên trì, biết cái gì là tốt, là lợi cho mình,9-dau-hieu-4 lại có tố chất lãnh đạo và biết tạo dựng mối quan hệ tốt với những người xung quanh nên làm việc gì cũng thuận lợi.

H9: Đúng với tên gọi của nó, người có đường Hài hước thường rất vui tính, dí dỏm, thông minh và khôn khéo. Cuộc sống của họ là để mang lại tiếng cười cho người khác, nhờ thế họ cũng hay được người đời yêu mến, giúp đỡ. Có điều những người này bề ngoài vui vẻ nhưng trong lòng đôi khi gặp nhiều phiền muộn.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

Logo su kien 1

9-le-via-1ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

TẠI TÂY NINH

Tây Vương Mẫu, còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần từ bi trong truyền thuyết Trung Quốc, có diện mạo là một bà già hiền lành.

Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng bàn đào là giống đào tiên, ăn vào trẻ mãi không già. Có thuyết nói rằng thuở hỗn mang, tinh tuý trời đất sinh ra Nguyên Thuỷ Thiên vương, rồi sinh Thái Nguyên ngọc nữ. Thái Nguyên ngọc nữ sinh ra Thiên hoàng và Tây Vương Mẫu, Thiên hoàng sinh Địa hoàng, Địa hoàng sinh Nhân hoàng.

Truyền thuyết khác : Tây Vương Mẫu tức Dao Trì Kim Mẫu cai quản Tây Côn Lôn, cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình, Ngọc Hoàng Đại Đế là con thứ 10 (9 người anh trước bị Hậu Nghệ bắn chết) của bà và Thiên Đế, sau khi Thiên Đế bị Ma tộc hại, Ngọc Hoàng Đại Đế lên thay. Trong Tây Du Kí có nói 9-le-via-2Tây Vương Mẫu có 1 vườn bàn đào, sau bị Tôn Ngộ Không ăn trộm gần hết.

Có thuyết nói rằng Tây Vương Mẫu họ Dương tên Hồi và còn có tên là Uyển Cấm (Thiên Dao). Bà cùng chồng là Đông Vương Công (Hạo Thiên Thiên Đế) hòa hợp hai khí âm dương tạo ra trời đất thiên địa, họ là chủ nhân và cai quản mọi vật trên thế gian.

Theo giáo lý Cao Đài thì Tây Vương Mẫu do nhị khí âm dương mà thành, quyền phép vô biên vô giới, hữu hữu vô vô, nắm trọn thiên điều trong tay mà tác thành Càn Khôn thế giới, còn gọi là Kim Bàn Phật Mẫu. Bà cai quản các nữ thần còn chồng bà cai quản các nam thần.

Trong Tam Thế bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo, khi lên trời đều phải bái Mộc Công (Đông Vương Công), sau bái Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) mới có thể lên chín tầng mây và nhập vào trong Tam Thánh.

Tây Vương mẫu sau khi dùng phép thuật giúp cho Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu, còn tặng vua Thuấn địa đồ và phái sứ giả dạy cho cách sử dụng Bạch Ngọc địch (sáo) mà thổi thì hàng năm sẽ mưa gió thuận hòa,mùa màng sung túc.

9-le-via-3

Tây Vương mẫu có tất cả 9 người con trai, 23 con gái, nên phụ nữ muốn sanh con gái thì thường cầu khấn bà. Dân gian cho rằng Tây Vương Mẫu có thuốc Trường Sinh Bất Lão, sau đó đã tặng nó cho Hằng Nga.

Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 3 là ngày sinh Tây Vương Mẫu, và cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, nên cúng tế bà.

Đạo Cao Đài lấy ngày rằm tháng 8 là ngày Hội Yến Diêu Trì tức là ngày hội của Tây Vương Mẫu với con cái của Người, chứ không có ngày đản sanh.

9-le-via-4

Ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai ngày lễ quan trọng nhứt :

– Một là ngày Vía Trời hay Vía Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ vào ngày Mồng 9 tháng Giêng âm lịch.

– Hai là ngày Vía Đất hay Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU nhằm ngày tiết Trung Thu Rằm tháng 8 âm lịch.

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ thuộc tượng CÀN (Càn vi Thiên) và trong Bát Quái Tiên Thiên tượng Càn đứng số 1 cho nên ngày vía NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cũng cử hành vào tháng thứ nhứt hay tháng Giêng của mỗi năm âm lịch.

9-le-via-5

Còn Đức KIM TRÌ KIM MẪU thuộc tượng KHÔN (Khôn vi Địa) đứng số 8 cho nên vì lẽ đó ngày vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU được cử hành vào tháng 8 âm lịch.

Theo Bát Quái Tiên Thiên thì Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, và Khôn 8.

Kinh cúng trong dịp ngày lễ Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU có câu :

“ Trung Thu tháng Tám đêm rằm,

Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần”.

Ý nghĩa ngày vía Diêu Trì Kim Mẫu

Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ 9-le-via-6trong dịp Trung Thu.

Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng.

Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan. Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.

Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.9-le-via-7

Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào. (theo Chơn Tâm và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

Logo Phong su

Tr an uong 2ĂN CƠM CHAY XỨ ĐẠO CAO ĐÀI,

NGON THẤU TRỜI !

Chỉ mỗi cây chuối mà các dì, các chị ở Tòa Thánh Tây Ninh chế biến được mấy món, nào là nấu canh chua, bóp gỏi, xào với nghệ, ăn sống với tương hột,…

Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.

Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa 9-com-chay-1quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.

Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.

Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.

9-com-chay-2

Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.

9-com-chay-3

Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.

Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.

9-com-chay-4

Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.

Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.

9-com-chay-5

Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.

9-com-chay-6

Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.

9-com-chay-7

Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo bay gio ke

Tr cau hoi 2CẶP KHÁNH ĐÁ CỔ Ở

NGÔI CHÙA NGHÌN NĂM TUỔI THỜI LÝ

Chùa Long Cảm (Thanh Hóa) được xây dựng từ thời nhà Lý hiện lưu giữ đôi khánh đá tiếng ngân như chuông đồng. Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn ở thôn Trang Các (xã Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa).

Tuy nhỏ nhưng Long Cảm tự có cảnh trí rất đẹp với lối kiến trúc cổ kính và được bao bọc bởi đồng ruộng và làng mạc thôn quê yên bình.

Theo sư thầy trụ trì Thích Đàm Quang, Long Cảm là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Thanh. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này phù trợ, ban thêm sức 9-khanh-da-1mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ sai dựng ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.

Trải qua gần 10 thế kỷ, nhiều triều đại phong kiến đời sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách cũng coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét nghìn năm, được cung tiến qua các lần trùng tu.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, ấn tượng nhất với phật tử và du khách bốn phương khi đến vãn cảnh chùa Long Cảm là cặp khánh đá cổ đặt ở sân chùa. Hai chiếc khánh rất lớn, nặng khoảng 300-400 kg, cùng màu đá xanh xám, được treo ngay ngắn trên các trụ đá và đặt song song nhau.

Điểm khác của chúng là một chiếc có hoa văn chạm trổ hình đám mây, một chiếc đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Căn cứ vào các thư tịch cổ và văn tự khắc trên đôi khánh đá, các nhà nghiên cứu lịch sử đều có chung nhận định, chúng không có chung nguồn gốc cũng như niên đại.

Theo sư thầy Thích Đàm Quang, chiếc khánh lớn có họa tiết hoa văn vốn không phải của nhà chùa. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa Long Cảm cung tiến nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân.

9-khanh-da-2Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang từng mấy chục năm làm trụ trì ở đây cũng không rõ có từ bao giờ. “Không có cứ liệu rõ ràng nhưng thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng chùa, tức là đã nghìn năm nay rồi. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, niên đại chiếc khánh cổ gần hơn, vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300-400 năm trước. Trông nó giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, có thể do sử dụng nhiều…”, thầy Đàm Quang nhận định.

Điểm khác biệt lớn nhất của hai chiếc khánh cổ còn nằm ở tiếng ngân vang. Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, với chiếc khánh đá cũ chỉ cần lấy tay vỗ vỗ sẽ phát ra những tiếng kêu trầm bổng ngân dài. 9-khanh-da-3Nếu dùng vồ gỗ gõ mạnh, nó ngân như tiếng chuông đồng, vang xa. Còn với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra tiếng “lạch, cạch” trầm đục.

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo lý giải, sự khác nhau về âm thanh của đôi khánh cổ là do chất liệu đá. “Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”, ông Bảo nói.

Ông Bảo cho hay, núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (TP Thanh Hóa), cách chùa Long Cảm gần 30 km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, núi từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng nghìn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá để làm khánh, bia, tạc tượng và nhiều vật dụng khác.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất xa xưa. Trong cuốn Vân đài loại ngữ, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng : “Hoạch Sơn loại đá kêu vang / Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi / Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút 9-khanh-da-4trần ai lạc vần…”.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, khánh là một trong những pháp khí cổ xưa của Phật giáo. Hiện nay, không còn nhiều chiếc khánh đá cổ như ở chùa Long Cảm. “Âm thanh của khánh đá có tác dụng rất mầu nhiệm với người tu thiền. Các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên cũng đủ làm cho các ngài thức giấc” sư thầy Đàm Quang nói.

Hiện du khách thập phương vẫn thường tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá cổ mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người gõ khánh để cầu may mắn, bình an hay cầu tự. (theo Lê Hoàng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

2 DÒNG SUỐI CHỮA BỆNH HUYỀN BÍ

Logo tim hieu

2 Dac lo 1SAU 351 NĂM MỚI GẶP

M ALEXANDRE DE RHODES

Người đã khai sinh ra mẫu tự Việt Nam

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng. Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.

H1&2: Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã “giải phóng ” nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu.

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, 9 Dac lo 2đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

H3: Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

9 Dac lo 3Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

H4: Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “hồ hởi”. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “tham quan” và nói về lịch sử nhà thờ.

H5: Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

9 Dac lo 4

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi : “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không ?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố. Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

H6: Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

9 Dac lo 5

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

H7: Năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 15 xu và 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển tiếng Việt.

H8&9: Năm 1960 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ 4 con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài Gòn gần Dinh Độc Lập. (nguồn Văn Khang / Văn Khố Ức Trai / Đại Học Chiến Tranh Chính Trị VNCH)

Logo KH huyen bi

9 Nguyen cau 7HAI DÒNG SUỐI

CÓ KHẢ NĂNG CHỮA BỆNH

Tồn tại như một món quà của Thượng đế, hai dòng suối tự nhiên này đã giúp rất nhiều người chữa lành bệnh một cách kỳ diệu. Tuy nhiên cho đến nay người ta vẫn không thể lý giải được nguyên nhân tại sao.

God’s Acre Healing Springs – Mỹ

God’s Acre Healing Springs là dòng suối tự nhiên có niên đại hơn một triệu năm, nằm phía sau nhà thờ lâu đời Baptist, thị trấn Blackville, bang South Carolina, Mỹ. Hàng năm, ước tính có hàng nghìn người trên khắp thế giới không quản ngại đường xa mang đủ các loại vật dụng đến Healing Springs lấy nước vì họ tin vào khả năng của dòng suối thánh có thể chữa lành bách bệnh.

Healing Springs bắt nguồn từ những ngọn núi cao cách hàng trăm dặm về phía Bắc, chảy ngầm xuyên qua các khối đá, do đó hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm. 9 Suoi than 1Sau khi đến định cư ở đây, người Mỹ bản địa đã đổi Healing Springs lấy ngô với một lái buôn Châu Âu.

Trải qua nhiều lần mua đi bán lại, năm 1944, người chủ cuối cùng của dòng suối thánh đã quyết định trả nó về cho Chúa để mọi người dân có thể tự do đến lấy nước, tận hưởng phước lành ngài ban tặng.

Theo trang Daily Mail, câu chuyện về khả năng cải tử hoàn sinh của Healing Springs bắt đầu khi cuộc cách mạng giành độc lập chống lại đế quốc Anh diễn ra ở Mỹ (1775-1783). Năm 1781, sau trận chiến đẫm máu tại Windy Hill Creek (phía Bắc Blackville), bốn binh lính Anh bị viên chỉ huy bỏ lại trong tình trạng thương nặng, nằm thoi thóp chờ chết. Rất may sau đó họ được một người dân bản địa tốt bụng phát hiện và kéo đến suối Healing Springs.

Sau khi được cho uống và tắm nước suối, những lính Anh không những thoát chết mà còn dần khỏe mạnh, tìm lại được về khu trại lính khiến đồng đội và viên chỉ huy vô cùng kinh ngạc. Câu chuyện hồi phục kỳ diệu của những binh lính được truyền tai nhau đi khắp nơi. 9 Suoi than 2Và kể từ đó đến nay trải qua hàng thế kỷ, bất chấp những tiến bộ vượt bậc của y học người dân vẫn đổ xô đến Healing Springs để lấy nước và mong đợi sự kỳ diệu từ dòng nước của Chúa trời tạo ra.

Năm 2012, bà Annabelle Galik, 51 tuổi, sống tại Goose Creek được chuẩn đoán mắc ung thư phổi chỉ sống được thêm bốn tháng. Thay vì nằm chờ đến ngày cuối đời, bà đã tìm đến Blackville để lấy nước uống hàng ngày và áp dụng biện pháp chữa trị truyền thống.
Đã ba năm trôi qua kể từ ngày bà được bác sĩ thông báo bà đang cận kề cái chết, Galik vẫn duy trì được sức khỏe và rất biết ơn nguồn nước suối : “Tôi thường tắm ở đây nếu có cơ hội. Dòng suối thuộc về Chúa và nếu Ngài vẫn lưu giữ nó ở đây, chắc chắn nó sẽ mang lại những lợi ích tốt đẹp” – bà Galik bày tỏ.

“Bố tôi thường uống nước ở đây và ông đã sống đến 90 tuổi” – anh Walter Tobin sống cách Blackville 80 km, thường ghé qua suối lấy nước về dùng trên đường đến thăm em gái cho hay.

Trên thực tế, Sở Y tế và Quản lý môi trường địa phương đã tiến hành thử nghiệm mẫu nước tại Healing Springs. 9 Lo Duc 1Và thật bất ngờ, nước tại dòng suối không những không hề nhiễm các loại khuẩn thường thấy mà còn được đánh giá sạch sẽ và tinh khiết.

Dòng suối thánh tại Lourdes – Pháp

Nổi tiếng nhờ khả năng chữa bệnh kỳ diệu, hàng năm dòng suối thánh tại Lourdes thu hút 8 triệu lượt khách trên khắp thế giới ghé thăm. Bắt nguồn từ hang đá nhỏ tên là Massabielle, gần nhà thờ Lourdes thuộc thị trấn Lourdes, tỉnh Hautes – Pyrénées, miền tây nước Pháp, dòng suối gắn liền với câu chuyện huyền bí về thánh nữ bất tử Bernadette Soubirous.

Tương truyền, vào ngày 11/2/1858, năm Bernadette 14 tuổi, khi đang dạo chơi trên đồi Pyrénées, Đức mẹ Maria bất ngờ hiện ra trước mặt em. Bà chỉ dẫn Bernadette đào một khoảng đất và sẽ có một dòng suối chảy ra, hãy uống nước từ dòng suối đó vì nó có thể chữa được mọi bệnh tật.

Bernadette không hề cảm thấy sợ hãi trái lại vô cùng tò mò. Em làm theo lời bà chỉ dẫn thì quả nhiên thấy một dòng nước phun ra từ trong lòng đất. Khi Bernadette quay lại chỗ cũ thì Đức mẹ đã biến mất.

9 Lo Duc 2Cũng trong năm này, Bernadette là người duy nhất được chứng kiến dung nhan Maria hiện lên 18 lần. Sau đó, Bernadette trở thành nữ tu và qua đời ở tuổi 35. Tuy nhiên sau khi được chôn cất 30 năm dưới lòng đất, thi thể của Bernadette không có dấu hiệu thối rữa mà còn nguyên vẹn, hồng hào như người sống đang say giấc nồng.

Đã 157 năm trôi qua, từ khoảng đất được đào lên, dòng suối vẫn chảy nước mãi không ngừng. Theo tư liệu tại cơ quan y tế của thị trấn Lourdes ghi nhận, khoảng hơn 7000 trường hợp đã được chữa khỏi bệnh một cách kỳ diệu nhờ nước suối.

Bà Catharine Latapie, 38 tuổi, sống tại Lourdes có cánh tay phải bị liệt từ lâu do cây đổ vào người. Sau khi nghe được câu chuyện của Bernadette Soubirous, sáng sớm ngày 1/3/1858, Catharine đã đến hang đá nơi có dòng suối và ngâm cánh tay trong hồ nhỏ đã được tạo để trữ nước.

Khi trở về nhà ngay lập tức cánh tay của Catharine có cảm giác và các ngón tay có thể cử động được. Bà sinh đứa con thứ ba ngay trong ngày hôm đó và sau này đứa bé cũng trở thành một vị linh mục.

9 Lo Duc 3Và gần đây là bà Danila Castelli, sinh năm 1946, người Mỹ mắc chứng huyết áp cao bất thường ở tuổi 34 không rõ nguyên nhân. Sau khi trải qua hàng loạt phẫu thuật từ cắt bỏ tử cung đế loại bỏ khối u xơ đến cắt bỏ tuyến tụy, rồi u bàng quang nhưng tình hình vẫn không được cải thiện.

Năm 1988, Danila Castelli quyết định tìm đến Lourdes với hy vọng cuối cùng. Ngay lần đầu tiên tắm bằng nước suối, Danila đã có cảm giác nhẹ nhõm lạ thường. Sau đó không lâu, Danila đã gửi thông báo cho cơ quan y tế Lourdes là bà đã khỏi hẳn bệnh và trở lại cuộc sống bình thường.

Trải qua bao thế kỷ cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, nhưng năng lực siêu nhiên của God’s Acre Healing Springs và dòng suối thánh tại Lourdes vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

3 Logo ptuc - tnguong

Cung 1NHNG ĐIU CHÚ Ý

KHI MUA Đ CÚNG

Ngày 9/8 (tức 5/5 AL) vừa qua là Tết Đoan ngọ, hay còn gọi là tết diệt sâu bọ. Người dân thường cúng vào sáng sớm nhưng thực chất Tết Đoan Ngọ được tiến hành vào giờ chính Ngọ (giữa trưa), khoảng từ 11h tới 13h.

Lễ vật để cúng thường gồm: Hương, hoa, vàng mã; nước; rượu nếp và các loại hoa quả như mận, hồng xiêm, dưa hấu, vả, chuối; và các loại đồ ăn như xôi, chè, bánh ú tro.

Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Triều Tiên và Việt Nam.

Ở Việt Nam, dân gian còn gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Tết giết sâu bọ, 9 Doan ngo 1là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng.

Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Đoan Ngọ

Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và còn là nhà văn hóa nổi tiếng. Tương truyền ông là tác giả bài thơ Ly Tao (thuộc thể loại Sở từ) nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong với họa mất nước.

Do can ngăn vua Hoài Vương không được, lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh, lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên.

9 Doan ngo 2Ngoài ra, có truyền thuyết khác về sự bắt nguồn của ngày tết Đoan ngọ, nhiều nguồn tin cho rằng tập tục tết Đoan Ngọ là bắt nguồn từ Hạ Trí trong thời cổ, có người thì cho rằng, đây là sự tôn sùng vật tổ của người dân vùng sông Trường Giang.

Truyền thuyết Tết Đoan ngọ tại Việt Nam

Vào một ngày sau vụ mùa, nông dân ăn mừng vì trúng mùa nhưng sâu bọ năm ấy lại kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch.

Nhân dân đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản có bánh ú, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau đó sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượt. Lão ông còn bảo thêm : 9 Doan ngo 3Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng.

Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người gọi nó là “Tết Đoan ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ. Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan Ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng như hiện nay.Cung 4

Ý nghĩa Tết Đoan Ngọ

Ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ được được coi là Tết diệt sâu bọ và thờ cúng tổ tiên. Người Việt Nam còn gọi Tết Đoan ngọ là “Tết giết sâu bọ” vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Tết Đoan Ngọ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình sum họp đầm ấm.

Ngoài ra, ngày Đoan Ngọ là ngày dân chúng cúng lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng, đồng thời để cầu bình an.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Logo Xem tu vi

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

TIẾT THANH MINH & TẾT HÀN THỰC

Logo su kien 1

9 Han thuc 1TẾT HÀN THỰC

LÀ NGÀY NÀO ?

Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch (năm 2016 vào ngày thứ bảy 9/4/ dương lịch). “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”. Tuy nhiên, không ít người vẫn nhầm lẫn về ngày này.

Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”. Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân, chứ ít người biết đến hai chữ “Hàn Thực” gắn với một điển tích ở Trung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc.

Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn nên phải bỏ nước lưu vong sống cảnh nay trú nước Tề, mai ở nước Sở. Bấy giờ, có một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, 9 Han thuc 2theo phò vua đã giúp đỡ nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong, hỏi ra mới biết đem lòng cảm kích vô cùng.

Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn Văn Công trong vòng mười chín năm trời, cùng nhau nếm mật nằm gai, khổ luyện thành tài. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi vương, trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công khi tòng vong, nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình theo vua phò vua là chuyện nên làm, ông cho rằng những việc đó đâu có gì đáng nói.

Vì thế, ông về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm Tử Thôi. Nhưng vì là người không tham danh vọng, Tử Thôi nhất quyết không quay về lĩnh thưởng, Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng (muốn thúc ép Tử Thôi quay về). 9 Han thuc 3Không ngờ Tử Thôi quyết chí, hai mẹ con cùng chịu chết cháy trong rừng.

Vua đau lòng, thương xót nên đã lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ nguội nấu sẵn tưởng niệm Giới Tử Thôi. Cũng từ đó, ngày mùng 3/3 âm lịch hằng năm được coi là ngày Tết Hàn thực, nhằm tưởng nhớ đến công ơn dưỡng dục của những người đã khuất. Vào những ngày này, người dân đều ăn đồ nấu chín để nguội với tấm lòng thành kính nhất.

Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng Tết Hàn thực của người Việt vẫn mang những sắc thái riêng, mang đậm chất Việt. Vào ngày này người Việt không kiêng lửa, vẫn nấu nướng bình thường. Điều đặc biệt, người Việt còn sáng tạo nên bánh trôi, bánh chay với ý nghĩa tượng trưng đó là những thức ăn nguội – hàn thực.

Như thế rõ ràng Tết Hàn thực của ta mang màu sắc dân tộc riêng, trường tồn trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hai thứ bánh trôi và chay đều làm từ bột gạo nếp thơm. Bánh trôi nặn viên nhỏ, ngoài trắng, trong nhân đường đỏ, thả luộc trong nồi nước sôi, khi bánh nổi lên mặt nước vớt ra vừa chín tới vì thế bà Hồ Xuân Hương viết :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bẩy nổi ba chìm với nước non

Còn bánh chay thì nặn tròn dẹt, không nhân, đặt lên đĩa nhỏ, khi ăn đổ nước đường lên trên.

Tết Hàn thực của người Việt không liên hệ tới Giới Tử Thôi mà những món ăn ngày này làm ra đều được cúng gia tiên với ý nghĩa con cháu đều hướng về tổ tiên, nguồn cội. Và cũng trong dịp này, dù ai đi đâu,9 Han thuc 4 ở đâu đến ngày mùng 3/3 âm lịch cũng cố gắng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình .

Ngày nay, cứ mỗi dịp tết Hàn thực về, người dân mọi vùng quê đều làm bánh trôi, bánh chay. Còn ở thị thành, ngày xuân đi du ngoạn, khách cũng được hưởng hương vị bánh trôi, bánh chay từ các quán hàng. Ngày nay trên các tỉnh thành, trong những khu phố du khách có dịp được tận hưởng hương vị bánh trôi bánh chay mà tưởng đến chuyện xưa nhiều điều thú vị

9 Thanh minh 1LAI LỊCH CÁC TẬP TỤC

VỀ TIẾT THANH MINH

Thanh minh”清明 (trong sáng) là một trong 24 tiết khí của lịch pháp cổ đại, thường rơi vào khoảng trước hoặc sau ngày 5 tháng 4 Dương lịch, sau Đông chí 108 ngày. Sở dĩ gọi là thanh minh vì lúc này mùa đông đã kết thúc, thời tiết đã bắt đầu ấm áp, bầu trời trong xanh. Tết thanh minh là một trong những ngày lễ truyền thống lớn của người Trung Quốc.

Đi tảo mộ trong tiết Thanh minh đã trở thành một tập tục quan trọng trong dân gian và truyền cho đến ngày nay, chỉ có khác là hình thức đơn giản hơn trước. Trước đây tập tục đi tảo mộ là một gia đình, một dòng họ đi tảo mộ cho ông bà tổ tiên, mở rộng đến do tổ chức, đoàn thể tập thể đi tảo mộ cho các liệt sĩ. Mỗi khi đến ngày thanh minh, mọi người đến các nghĩa trang liệt sĩ, đặt trước mộ những bó hoa tươi, hay vòng hoa, một cành tùng, bày tỏ lòng tưởng nhớ các liệt sĩ.

9 Thanh minh 2Tiết Thanh minh đúng vào lúc vào xuân, tuy là bắt nguồn từ tế lễ tổ tiên, nhưng trong quá trình phát triển lâu dài cũng xen lẫn cả những nội dung chơi xuân. Hoạt động này được gọi là hoạt động đi chơi xuân. Có những nơi còn gọi tết Thanh minh là tết chơi xuân.

Trong thời cổ còn có tập tục đi chơi xuân hái rau dại, tập tục này đến nay không còn nữa. Trong thời gian trước và sau Thanh minh là các cô gái, phụ nữ đi chơi xuân, hái rau dại tươi và non về gói sủi cảo, gói bánh rất thơm ngon với mùi vị khác thường. Có một số phụ nữ còn thích gài bông hoa rau khúc màu trắng trên đầu. Hôm Thanh minh, còn có tập tục thả diều, kéo co, chơi đu.

Người Việt chúng ta có tục ăn Tết Thanh Minh, Nguyễn Du trong truyện Kiều có câu : “Thanh Minh trong Tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”. Từ thời Lý Việt Nam đã tiếp nhận tết Hàn thực, vì tết này nằm trong tiết Thanh Minh, nhưng ý nghĩa của ngày tết này đã biến đổi và mang đậm màu sắc truyền thống người Việt, phù hợp với tâm lý cũng như cuộc sống thường nhật của người Việt.

Vào ngày tết Hàn thực, người Việt không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn được thực hiện, chỉ có điều người Việt dùng bánh trôi – bánh chay cho tết Hàn thực với ý nghĩa tượng trưng đó là những Cung 3thức ăn nguội – hàn thực. Vì vậy người Việt còn gọi tết Hàn thực bằng một tên gọi khác là tết bánh trôi – bánh chay.

Con cháu dù làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tưởng nhớ tổ tiên và sum họp với gia đình. Tết Thanh minh mang ý nghĩa cội nguồn, nhắc chúng ta không quên hướng về quê cha đất tổ. Người dân nhiều nơi kết hợp Tết Thanh minh với Tết Hàn thực, tức ngày bánh trôi bánh chay, được tổ chức vào ngày 3 tháng Ba âm lịch.

Tuy nhiên, trên thực tế Tết Thanh minh đi theo quy luật vận hành của mặt trời – lịch dương, chứ không theo lịch mặt trăng – lịch âm, thường rơi vào ngày 4 hoặc ngày 5 của tháng Tư dương lịch.

1a LogoTuongso

9 Ban tay 1CÓ ĐƯỜNG CHỈ TAY NÀY,

YÊU ĐƯƠNG NHIỀU ĐAU KHỔ

Nhìn vào đường chỉ tay, chúng ta có thể nắm bắt khá chuẩn câu chuyện tình duyên của chính mình và người xung quanh.

1/. Cuối đường chỉ tay chia thành 2 hướng : Bạn là người có số đào hoa. Tuy nhiên, sự phân nhánh của đường tình duyên cũng báo hiệu về sự tan vỡ. Bạn nên chuẩn bị sẵn tinh thần cho việc phải đối mặt với những lần hợp-tan trong tình cảm, hay có nhiều thứ 3 xuất hiện.

Bạn cần có một cách ứng xử thực sự khéo léo trong mọi tình huống nếu không 4 Ban tay 2muốn đi đến những kết cục buồn.

2/. Cuối đường tình duyên tách thành hình đinh 3 : Người có đường chỉ tay này rất nhạy bén trong chuyện tình cảm, số đa tình, đào hoa. Nhưng bạn cũng là một người có “tiêu chuẩn” cao, kén chọn trong việc tìm bạn đời.

Một phần khác là con người bạn cũng không đủ quyết đoán để lựa chọn giữa lý trí và tình cảm. Do đó, bạn thường gặp không ít chuyện đau đầu vì chuyện này.

3/. Cuối đường chia ra làm 3 nhánh, nhánh chính đậm và dài nhất : Việc này cho thấy mâu thuẫn của bạn trong việc yêu và cưới. Rất có thể bạn sẽ yêu một người nhưng lại quyết định bất ngờ lấy một người khác, hoặc một trường hợp bạn nghĩ sẽ không bao4 Ban tay 3 giờ xảy ra.

Bạn cũng thường xuyên do dự, thiếu dứt khoát trong các quyết định liên quan đến chuyện tình cảm và sẽ có vài lần lỡ dở với tình yêu đích thực của đời mình.

4/. Cuối đường chia 3 nhánh đậm bằng nhau : Bạn là một người tốt bụng, nhân hậu, sẽ là một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho đối phương. Nhưng ngược lại bạn có phần cả nể, dễ bị mềm lòng. Vậy nên, điều bạn cần là lựa chọn thật kỹ và xác định rõ đối tượng để gắn bó, không nên phó thác cho số phận hay sự gán ghép từ gia đình, bạn bè.

5/. Cuối đường chia nhánh nhỏ hướng lên trên : Bạn là người khiêm nhường, có tính cách chan hòa, suy nghĩ thấu đáo mọi việc và được nhiều người yêu quý.

4 Ban tay 4Sở hữu đường chỉ tay này, bạn có thể phần nào yên tâm về câu chuyện tình duyên của mình khi nó diễn ra êm đềm, không gặp phải nhiều sóng gió, trắc trở và trong mắt đối phương bạn là người mà không ai có thể thay thế.

6/. Chia thành nhiều nhánh nhỏ hướng xuống dưới : Càng có nhiều đường nhỏ đi xuống, càng cho thấy những dấu hiệu về sự đổ vỡ, tổn thương. Bên cạnh đó, xung quanh mối quan hệ giữa bạn và người yêu thường có những mối quan hệ lập lờ khác. Có thể chính bạn cũng khó lý giải được những mối quan hệ đó.

7/. Những nhánh nhỏ hướng lên trên : Điều này cho thấy những mối quan hệ của bạn thường rất rõ ràng. Bạn cũng là người có tinh thần bác ái, sống và làm việc về quyền lợi tập thể, cũng như tương lai của bạn đời. Cũng từ đấy, trong chuyện tình cảm bạn cũng nhận được rất nhiều sự ái mộ đặc biệt từ đối phương.

4 Ban tay 58/. Đầu đường có các nhánh nhỏ hướng lên trên : Bạn là người có đời sống tình cảm phong phú, được nhiều người theo đuổi bởi sức thu hút mạnh đối với các đối tượng khác giới. Do đó, bạn nên rõ ràng trong chuyện tình cảm cũng như các ứng xử để tránh gặp phải những chuyện rắc rối, hiểu nhầm.

9/. Đầu đường chia 2 nhánh tạo hình mũi tên : Trong chuyện tình cảm cũng như cuộc sống gia đình của bạn rất dễ gặp phải những mâu thuẫn, tranh cãi. Nhưng trong trường hợp bạn có nhiều hơn 2 nhánh ở vị trí này, nó báo hiệu bạn là người có khả năng sinh nở tốt. (theo Thế giới trẻ : Trên đây là những thông tin mang tính tham khảo)

2 Ngan co tay 1DỰ ĐOÁN TUỔI THỌ

VÀ VẬN MỆNH QUA

NGẤN HẰN CỔ TAY

Chỉ cần nhìn ngấn hằn ở cổ tay, bạn có thể nắm được tình trạng sức khỏe cũng như vận mệnh và tuổi thọ của mình. Bạn có biết rằng, người nào càng có nhiều đường ngấn ở cổ tay thì càng sống thọ không ?

Chắc hẳn bạn đã quá quen thuộc với việc xem tướng số qua những đường chỉ ở lòng bàn tay. Nhưng theo Metaphysics Knowledge, những đường ngấn ở cổ tay – hay còn gọi là đường Rascette – cũng mang nhiều ý nghĩa không kém trong việc dự đoán tuổi thọ và vận mệnh của mỗi con người.

Cụ thể, số lượng ngấn sẽ cho biết bạn có trường thọ hay không. Nếu đường ngấn đầu tiên rõ ràng và không bị gián đoạn, bạn sẽ sống ít nhất 23-28 năm. Trong khi, các đường tiếp theo sẽ lần lượt tương ứng với 46-56 năm, 69-84 năm và hơn 84 năm.

2 Ngan co tay 2Rất hiếm người sở hữu 4 đường ngấn trên cổ tay. Phần lớn đều chỉ có khoảng từ 2 đến 3 ngấn. Trong đó, đường ngấn đầu tiên được xem là quan trọng nhất. Ý nghĩa của đường ngấn hằn cổ tay đầu tiên như sau:

– Ngấn đầu tiên : Đường rõ ràng, sắc nét sẽ đại diện cho người sở hữu sức khỏe tốt. Ngược lại, bạn có thể sẽ phải đối mặt với những vấn đề không mong muốn như bệnh tật, ốm đau.

Với phụ nữ, đường ngấn cong, hướng vào phía lòng bàn tay hoặc không rõ ràng, đó là biểu hiện của bệnh phụ khoa, gây khó khăn trong việc thụ thai, kinh nguyệt không đều đặn. Trường hợp tương tự ở đàn ông cũng sẽ gặp vấn đề với tuyến tiền liệt và các vấn đề liên quan đến sinh sản.

– Ngấn thứ hai : Ngấn này thường mang ý nghĩa dự đoán vận mệnh của mỗi cá nhân. Người được xem giàu có, hạnh phúc sẽ sở hữu đường ngấn rõ ràng, sắc nét, trên một đường thẳng và không có nhiều ngấn phụ.

– Ngấn thứ ba: Nếu cũng sở hữu đường ngấn sắc nét, bạn có thể là một nhân vật nổi tiếng hoặc có tầm ảnh hưởng lớn với những người xung quanh.

– Ngấn thứ tư: Ngấn này thường song song với ngấn thứ ba và cũng đại diện cho mức độ nổi tiếng của người mang nó. (theo Tuổi trẻ thủ đô)

Logo TG tam linh

7 nhan qua 1KHÔNG MUỐN GẶP BÁO ỨNG

PHẢI TRÁNH 7 VIỆC NÀY

7 việc nhất định không nên làm để tránh nhân quả báo ứng trong cuộc đời mỗi con người.

“Nhân quả báo ứng chính là làm thiện được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. “Luật nhân quả” chính là phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng.

Mỗi hành vi xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi đó. Và cũng căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác nhau. Nếu như một người có thể bình an, vui vẻ và khoan khoái mà vượt qua cuộc đời này, thì người đó quả thực vô cùng may mắn. Nhưng nếu muốn tận lực để nghĩ cách thoát khỏi những thống khổ và phiền não này, Cau hoi 5để chúng ta mỗi ngày đều được sống một cách vui vẻ tự tại, không nuối tiếc, thì cũng không phải là điều quá khó – chỉ cần bạn tin tưởng vào “nhân quả”, nhớ kỹ câu “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, đồng thời ghi nhớ một số việc nhất định không được làm sau đây, vì những việc này ảnh hưởng cực kỳ lớn tới cả cuộc đời của bạn.

1/. Bất hiếu với cha mẹ : Cha mẹ sinh ra ta và nuôi dưỡng ta, ân đức sâu đậm, trong kinh Phật có nói rằng, con người báo đáp vài tỷ kiếp cũng chưa hết được ân đức của cha mẹ. Người bất hiếu với cha mẹ, trời đất đều khó tha thứ. Hơn nữa, ngay cả cha mẹ mình còn không hiếu lễ kính trọng, làm sao có thể lãnh đạo người khác? Làm sao có thể thuyết phục công chúng?

2/. Tham dâm háo sắc : Người tham dâm háo sắc, trong tâm có tà, thiếu ngay thẳng chính khí, sự nghiệp sẽ rất không thuận lợi, là việc làm vi phạm đạo đức, không thể viên mãn. Hơn nữa, người tham dâm háo sắc, sức khỏe khẳng định là bị hao tổn,9 Nhan qua 2 làm sao có thể không mắc bệnh?

3/. Yêu chuộng tiện nghi, cực kỳ keo kiệt, rất ít khi làm việc thiện : Người trong tâm tham lam và keo kiệt, nghèo khó thường sẽ không rời xa, không làm việc thiện, không có phúc đức, miệng ăn núi lở. Kiểu người này không có lòng thương người, không có nhân duyên, cũng nhất định khuyết thiếu tâm giúp đỡ người khác, vậy có thể nào thành công trong sự nghiệp được? Mặc dù có thể nhất thời vui vẻ, sung sướng, nhưng cuối cùng thi tiền tài cũng ra đi.

4/. Thường xuyên sát sinh : Mỗi một sinh mệnh tồn tại, đều có nhân duyên đặc biệt của nó; các sinh mệnh được sinh ra không phải là để tạo điều kiện cho con người sát sinh. 9 Nhan qua 3Người thường xuyên sát sinh, trong tâm khuyết thiếu thiện niệm, làm sao có thể đạt được thành công trong sự nghiệp và gặp hoàn cảnh tốt trong cuộc đời?

5/. Không tôn kính bậc thầy, kiêu căng ngạo mạn : Đã là thầy giáo của mình, dẫn dắt mình, khẳng định là có chỗ ưu tú hơn mình. Nếu như mình không có chút khiêm tốn nhã nhặn nào, luôn cho rằng họ giảng chỗ này không tốt, làm không tốt hay là dẫn dắt không đúng, vậy thì làm sao có thành tựu gì đây? Bởi vì trong tâm lúc nào cũng phập phồng không yên, không có “vương giả phong phạm”.

9 Nhan qua 4Khổng Tử viết: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư” (mấy người đồng hành, trong đó nhất định có thể lấy một người làm thầy của mình), người không khiêm tốn, lẽ nào có thể là người rộng lượng?

6/. Trộm cắp : Khái niệm trộm cắp vô cùng rộng, chỉ cần đó không phải là đồ của mình mà chiếm dụng nó thành của mình, cho dù là cầm một tờ giấy hay một cây bút của công ty thì đều được coi là trộm cắp. Mặc dù chúng ta có lúc làm như thế mà trong tâm thấy rất quang minh chính đại, cũng rất thản nhiên, nhưng đó vẫn là một hành vi loại này. Nó làm tiêu hao rất nhiều phúc đức của bản thân mình, hơn nữa, bạn sẽ một lúc nào đó phát hiện ra mình cũng sẽ bị tổn thất một cái gì đó tương đương. Còn có một nhóm những người chuyên môn đi trộm cắp, nhưng cho dù “trở lên giàu có” rồi, thì cuối cùng vẫn rơi vào kết cục nghèo khổ bi thảm.

7/. Thường hay nói láo : Sự hòa thuận giữa người với người, ăn ở phải đạo, coi trọng sự chân thành lẫn nhau, kiêng kỵ “hư tình giả ý” (đạo đức giả). Bất luận là người nhà ruột thịt thân thích hay mối quan hệ bạn bè với cấp trên, chỉ cần bạn thường ngày dùng ngôn ngữ chân thật, thành tâm đối xử tử tế, nhất định sẽ đạt được tín nhiệm của người khác. 9 Nhan qua 5Ngược lại, thường xuyên bịa đặt những chuyện giả tạo dù chỉ một chút, hoặc là đã dưỡng thành “thuyết hoang tâm bất hoảng” (nói dối mà trong tâm không chút sợ hãi), dần dần thành “phản xạ có điều kiện” mà thuận miệng nói láo với bất kỳ ai, có khi chỉ vì một câu nói dối tùy tiện mà phải trả giá vô cùng thê thảm.

Nếu như bạn không dính dáng gì đến bảy điều kể trên, thành thật chúc mừng bạn ! Bạn hẳn là một người tôn quý có phúc. Dù cho hiện tại bạn có gặp khó khăn gì, cũng nhất định sẽ “liễu ám hoa minh” (trong hoàn cảnh khó khăn mà tìm được lối thoát), xua tan màn đêm và nhìn thấy ánh sáng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG CẤM KỴ KHI ĐI LỄ CHÙA

Logo TG tam linh

Duc Phat 4NHỮNG NGÔI CHÙA

NỔI TIẾNG ĐẤT THĂNG LONG

Ngay giữa Hà Nội, xen kẽ giữa những phố phường tấp nập là hơn 100 ngôi chùa lớn, nhỏ. Trải qua hàng trăm năm, những ngôi chùa vẫn giữ nguyên được dáng vẻ nguyên sơ, cổ kính.

1/- Chùa Quán Sứ : Chùa Quán Sứ nằm ở số 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Trước đây, khu vực này thuộc thôn Yên Tập, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên. Chùa thờ Phật và thờ vị quốc sư triều Lý là Nguyễn Minh Không.

Năm 1943, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ. Năm 1942, chùa được xây lại theo quy mô kiến trúc và trang trí nội thất như ngày nay. Chùa có quy mô kiến trúc lớn, tam quan kiểu 3 tầng mái, chính giữa là lầu chuông.

Qua tam quan đến một sân rộng lát gạch. Giữa sân xây tòa chính điện cao, hình vuông, có hành lang bao quanh. Hai bên và đằng sau là dãy nhà dung làm thư viện, giảng đường, nhà khách và tăng phòng. 9 Chua Ha Noi 1Chùa Quán Sứ hiện nay là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

2/- Chùa Láng (Chiêu Thiền Tự) Chùa Láng được xây dựng từ thời vua Lý Thần Tông (1128-1138) để thờ Từ Đạo Hạnh là một nhà tu hành đắc đạo, nổi tiếng thời Lý. Chùa lập ngay trên nền nhà cũ của cha mẹ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh và Nguyễn Thị Loan, ở địa phận làng Yên Lãng, tức là làng Láng vì thế gọi là chùa Láng.

Tục truyền khi nhà sư Từ Đạo Hạnh đã đắc đạo liền hóa kiếp ở chùa Sài Sơn (tức chùa Thày), huyện Quốc Oai, đầu thai làm con trai Sùng Hiền hầu Dương Hoán, em ruột vua Lý Nhân Tông. Lý Nhân Tông không có con trai, lập con của Sùng Hiền hầu 9 Chua Ha Noi 2Dương Hoán làm Thái tử. Về sau, người con trai ấy làm vua tức là Lý Thần Tông. Cũng vì sự tích ấy mà sau này chùa Láng cũng như chùa Thày thờ Từ Đạo Hạnh đều có thờ Lý Thần Tông. Trong chùa có nhiều tượng phật, nhiều đồ thờ cổ.

3/- Chùa Cầu Đông : Chùa có tên là “Đông Hoa Môn tự” bắc qua sông Tô ở phía đông Hoàng thành Thăng Long xưa. Hiện nay, chùa nằm tại số 38B, phố Hàng Đường, phường Hàng Đào, trong khu vực phố cổ Hà Nội. Phố này dài 180m nhưng thuộc về đất đai của hai làng cổ. Đoạn trên là đất làng Vĩnh Thái, đoạn dưới là đất làng Đông Hoa Môn.

Chùa Cầu Đông được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ XVII). Năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), chùa được sửa chữa và mở rộng. Các năm 1639, 1711, 1816 chùa lại được trùng tu. Chùa hiện giữ được kiểu dáng kiến trúc cổ. Tam quan xây lầu cao làm gác chuông. Chùa chính hình chữ đinh, các mảng chạm hổ phù, rồng vờn mây, hoa lá mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVI.

4/- Chùa Ngũ Xã : Chùa Ngũ Xã có tên là Thần Quang Tự, được xây dựng từ thế kỷ XVIII thời hậu Lê (1428-1788 ). Xưa chùa thuộc thôn Ngũ Xã, là một bán đảo bên hồ Trúc Bạch, có nghề đúc đồng nổi tiếng thuộc tổng Thuận Thành, huyện Vĩnh Thuận, thành Thăng Long. Nay là số nhà 44 phố Ngũ Xã, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình – Hà Nội.9 Chua Ha Noi 3

Chùa Ngũ Xã ngoài việc thờ Phật còn thờ nhà sư Nguyễn Minh Không, tục truyền là tổ nghề đúc đồng. Ở đây chỉ có một pho tượng Di Đà rất lớn, mới được đúc năm 1952. Chùa được Bộ văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa ngày 11/5/1993

5/- Chùa Hòe Nhai : Chùa Hoè Nhai tên chữ là Hồng Phúc tự, nay ở số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là ngôi chùa cổ, tương truyền có từ đời nhà Lý, trải qua nhiều lần sửa chữa lớn vào các năm 1687, 1899 và 1952. Chùa Hòe Nhai là “chốn tổ” của phái Tào Động

Năm 1962, Thành Hội Phật giáo Hà Nội đã dựng tại đây tháp Ấn Quang để kỷ niệm Hòa thượng Thích Quảng Đức tu tại chùa ấn Quang Sài Gòn đã tự thiêu ngày 11-6-1963, để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam. Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa ngày 21/1/1989.

6/- Chùa Kim Liên : Chùa được dựng trên dải đất của làng Nghi Tàm, bên bờ hồ Tây, nay thuộc phường Nghi Tàm, quận Tây Hồ. Tương truyền nơi dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa có từ đời Lý. Nguyên công chúa Từ Hoa, con gái vua Lý Thần Tông (1128-1138)9 Chua Ha Noi 4 đã đem cung nữ tới khu vực này trồng dâu, nuôi tằm, mở ra trại Tàm Tang (tằm dâu). Trại này sau đổi tên là phường Nghi Tàm.

Chùa có từ thế kỷ XVII. Theo tấm bia hiện còn trong chùa soạn ra có nêu: chùa vốn có tên là Đại Bi dựng vào năm 1631. Bảy năm sau, nhân dân góp công để mở rộng thêm khu chùa. Đến năm 1771, chúa Trịnh cho dỡ chùa Bảo Lâm ở phía tây kinh thành về tu bổ lại chùa này và đổi tên chùa là Kim Liên. Chùa Kim Liên là một trong 10 di tích kiến trúc cổ đặc sắc nhất Việt Nam

7/- Chùa Liên Phái : Ở giữa phố Bạch Mai nội thành Hà Nội có một cái ngõ tên là ngõ Chùa Liên Phái. Đó chính là lối dẫn vào ngôi chùa Liên Phái cổ kính. Hai bên cổng là hai hồ rộng, ngay ở cổng chùa có tháp Diệu Quang cao 10 tầng hình lục lăng. Tiếp đến là nhà bia có tấm bia kể lại sự tích chùa.

Sau đó, Trịnh Thập biến phủ đệ của mình thành chùa Liên Tông, đồng thời xuống tóc đi tu và trở thành vị tổ thứ nhất của chùa này. Ông mất năm 37 tuổi, hài cốt được táng trong ngôi tháp xây ở giữa gò, nơi từng đào được ngó sen đá-đó là tháp Cứu Sinh. 9 Chua Ha Noi 5Theo một tấm bia hiện còn ở chùa khắc năm 1857 thì chùa được xây vào năm 1726.

8/- Chùa Trấn Quốc : Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa Trấn Quốc là điểm đến không thể bỏ qua khi đến Hà Nội

Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này.

9/- Chùa Hà : Nếu như những ngôi chùa khác tập trung nhiều tầng lớp trung niên, các cụ ông cụ bà, đến để giải hạn, để lễ bái, thì chùa Hà được đông đảo học sinh, sinh viên biết đến với một cái tên khác – Chùa Tình yêu. Là chùa cầu duyên của đất Thăng long.

Thien suChùa Hà có tên chữ là Thánh Đức tự, trước thuộc làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Cầu Giấy – Hà Nội, được xây dựng từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Chùa Hà được lập nên để Tư Thành (tên tự của vua Lê Thánh Tông) bày tỏ lòng nhớ ơn các đại thần : Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Đinh Liệt… đã cưu mang mình và phế bỏ thái tử Nghi Dân (anh trai Tư Thành – một kẻ phản vương, phản quốc) để đưa mình lên ngôi vua vào năm 1460, lấy hiệu là Lê Thánh Tông. Chùa đã được trùng tu quy mô lớn vào đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). (theo nguồn tvad.com)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo phong tuc

9 Di chua 1NHỮNG CẤM KỴ

KHI ĐI LỄ CHÙA

Những ngày đầu tiên của năm mới mọi người đều muốn đi lễ chùa để cầu mong cho bản thân và gia đình mình những điều an lành nhất. Chùa là nơi thờ Phật, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng công cộng của người Việt Nam từ xưa tới nay. Những cấm kỵ chi tiết dưới đây có thể bạn đã biết nhưng chưa chắc bạn đã biết hết.

1/- Nguyên tắc ra vào chùa

– Điều đầu tiên bạn cần ghi nhớ khi bước vào nhà chính của chùa là nên bước vào từ cửa bên, không bước vào cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa, phải bước qua bậu cửa, nếu không sẽ phạm tội bất kính. Cửa chính nhà chùa từ xưa đến nay chỉ Đức Phật, Ngọc đế, Quốc vương một nước mới được ra vào. Vì thế nhiều ngôi chùa ngày thường không mở cửa chính.

– Vào chùa, nên dùng Phật danh “A di đà Phật” thay tên gọi để mở lời chào trụ trì và tăng ni trong chùa. Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.

– Khi đi lễ chùa bạn nên thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí. Chỉ cắm 1 nén hương vào bát hương, nếu bát hương có hương rồi không cần cắm tiếp. Không cắm hương tùy tiện vào tay tượng, gốc cây, hay đồ lễ…

– Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa.

9 Di chua 2– Không đứng lễ hoặc quỳ chính giữa Phật đường lễ Phật vì đó là vị trí tối cao của trụ trì. Chỉ đứng lễ hoặc quỳ chếch sang bên một chút.

– Không tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi như vậy gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa, vật tuy sơ sài nhưng quả báo không gánh hết.

– Vào Phật đường và Tam Bảo không nên đi giày dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp.

– Không nên ngắm tượng Phật như một tác phẩm nghệ thuật, trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước Tam Bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.

– Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, Tam Bảo. Những tội này đều bị thiêu nơi địa ngục, kẻ tu hành dù chuyên chú đến mấy cũng không chính quả.

– Khi vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật và khu vực Tam Bảo, lưu ý đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật” sẽ được hưởng 5 điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn.

9 Di chua 3– Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít hay nhiều. Không nên coi đó là của chùa, trụ trì cho thì nhận mà không bố thí chút công đức, vì nếu làm vậy sẽ phạm tội “luân đạo thực quả báo” là căn nguyên rơi vào địa ngục.

– Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật…

– Không được tùy ý làm ồn hoặc nói những lời bất kính đối với Phật, Thánh, cũng không được có thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật.

– Khi bước đi không nên cắt ngang qua mặt những người đang quỳ lạy.

– Muốn làm lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương. Tùy vào từng môn phái, có thể đứng/quỳ khi làm lễ nhưng cần phải lên trước.

Sắm sửa lễ vật

– Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: Hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi, chè… Không được sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả…

– Hoa tươi lễ Phật thường là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu, hoa hồng, hoa cúc…Tuyệt đối không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.

9 Di chua 4– Quả chín dâng lên ban thờ tốt nhất là các loại quả như chuối, thanh long, nho, bưởi, táo, hồng, đu đủ, hồng xiêm…

– Tuyệt đối không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính điện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn (như gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông (vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa), Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.

– Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật, Bồ Tát tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.

– Tại chùa, không để tiền thật lẫn tiền âm phủ lên ban thờ hay mâm lễ. Tại đình, đền có thể đặt tiền âm phủ nhưng không nên đặt tiền thật.

– Rượu, bia, thuốc lá không đặt được trên ban thờ Phật nhưng có thể đặt trên ban thờ Thánh.

Trang phục

– Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái 9 Di chua 5Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.

– Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở lườn hở nách… Nhiều người khi lễ Phật, thậm chí nhiều vị trí nhạy cảm phơi hết ra ngoài, vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng.

Cầu nguyện

Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở cho con Phật chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ. Vào đình, đền bạn có thể cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…

Công đức

– Chỉ cần đặt tiền vào hòm công đức, không cần lấy giấy chứng nhận công đức. Nếu có lấy cũng không nên mang về đặt lên ban thờ nhà mình để báo công mà nên hóa vàng giấy này.

– Tất cả tiền thật đều nên đặt vào hòm công đức chính. Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ hoặc đặt vào tay tượng. Một lưu ý quan trọng là thay vì đặt tiền vào hòm công đức chính giữa, bạn nên đặt tiền vào hòm công đức nằm lệch bởi hòm công đức đặt chính giữa, ngay trước ban thờ sẽ tạo ra trường khí xấu gây nhiễu loạn tại ban thờ.Duc Phat 1Đặt tiền vào đây vô tình làm trường khí xấu càng bị xáo động, bất lợi cho mọi người.

Lộc chùa

– Nhiều người có thói quen mang các đồ ở đình chùa về đặt lên ban thờ nhà mình, là không nên. Đồ đã cúng rồi không thể cúng lại, hơn nữa nhiều đồ có chứa trường khí âm, ảnh hưởng xấu đến ban thờ.

– Không lấy cành lộc mang về đặt lên ban thờ nhà mình. Cành lộc chứa nhiều trường khí âm, bất lợi cho gia tiên, thần linh tại gia.

– Có thể lấy lộc là bánh kẹo, bao diêm, bật lửa nhưng đều không mang về đặt lên ban thờ.

– Bùa, phù chú… đa phần có trường khí âm, không nên mang về nhà, càng không nên đặt lên ban thờ tổ tiên hay nhét vào ví. Đặt bùa chú vào ví, cũng như luôn mang một trường khí âm, hỗn loạn theo người. (theo GĐXH)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo tim hieu

9 Hoa vang 1TỤC HÓA VÀNG

SAU 3 NGÀY TẾT

Người Việt đang hiểu sai quan niệm

Cứ sau 3 ngày Tết, các gia đình thường hay làm lễ hóa vàng, coi như hết Tết và có nhiều người cho rằng lúc đó là tiễn tổ tiên đi sau 3 ngày ăn Tết cùng gia đình.

​Chia sẻ với phóng viên, vào sáng 11/2 (tức mùng 4 Tết Nguyên đán) Giáo sư Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Việt Nam cho rằng người Việt đang hiểu sai quan niệm về hóa vàng sau 3 ngày Tết.

Thông thường, lễ hóa vàng thường được các gia đình làm từ mùng 3 đến mùng 10 âm lịch, tùy theo từng điều kiện gia đình. Tuy nhiên, bản chất của việc hóa vàng đó chính là đón thần tài, thần lộc về cho gia đình chứ không phải lễ tiễn gia tiên về trời.

9 Hoa vang 2Việc đốt vàng mã chính là phương pháp làm lễ hỏa tịnh, đàn hỏa thực dùng lửa đốt đồ cúng để chuyển đồ cho thần linh hay chư Phật tại các gia đình. Có một vấn đề người dân chưa thực sự biết đó chính là tổ tiên lúc nào cũng ở cạnh chúng ta, dù chúng ta có đốt nhiều vàng mã nhưng thật sự thì tổ tiên đang ở nhà và việc đốt vàng mã đó cũng không có “tác dụng” nhiều đối với những người đã khuất. Có lễ tạ với tổ tiên thì đó cũng chính là minh chứng cho lòng thành của các gia chủ trong gia đình của văn hóa Việt. Đó mới chính là điều quan trọng nhất trong việc hóa vàng 3 ngày sau Tết.

Sau khi lễ, các gia chủ sẽ hóa vàng và phần tiền, vàng của gia thần phải hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau. Tục xưa, tại nơi đốt vàng mã, người ta thường đặt vài cây mía dài. Dân gian cho rằng đây là đòn gánh để các linh hồn dùng làm gậy chống, hay mang hàng hóa. Người chết không phải là hết, chính vì vậy quan trọng nhất đó chính là hành động và các nghi lễ đốt vàng mã chứ không phải đốt càng nhiều tiền vàng thì càng được lộc – Giáo sư Ngô Đức Thịnh khẳng định.

9 Hoa vang 3Hành động đốt vàng mã là một trong các nghi lễ, mà nghi lễ nào cũng có cơ sở nhận thức và được thực hiện trên một nền tảng quan niệm vững chắc, trở thành một tập quán xã hội. Đồ vàng mã cũng vậy, dân gian quan niệm chết không phải đã hết mà linh hồn tồn tại ở một thế giới siêu nhiên nào đó nên họ tư duy “trần sao âm vậy”, có nghĩa là người sống cần gì, người âm cũng cần cái đó. Bằng rất nhiều cách, người sống cố gắng liên hệ với thế giới linh hồn. Họ đốt tiền, vàng mã là để tin rằng người chết cũng có được cuộc sống đủ đầy. Vì thế, đồ vàng mã khó có thể tách rời khỏi văn hóa tín ngưỡng của người Việt.

Tuy nhiên, cứ hết 3 ngày Tết thì người Việt lại thi nhau đốt vàng mã, cho rằng đốt thật nhiều thì càng thể hiện lòng thành, hiểu như vậy là sai. Ở nhiều nơi, việc đốt vàng mã đang bị người ta thực hiện một cách thái quá vì cho rằng dâng cúng càng nhiều thì càng được thánh thần hay người âm phù hộ. Thực chất, đây chỉ là sự “phô trương” với người trần, hơn thế nữa là để thỏa mãn thói thường “con gà tức nhau tiếng gáy”, dẫn đến sự lãng phí tiền của một cách không cần thiết, điều này đáng phê phán.

“Tổ tiên chỉ cần đốt một ít vàng mã và hương khói đầy đủ trong 3 ngày Tết cho ấm lòng, vậy là đủ chứ không phải sau 3 ngày Tết đem ra đốt hết một loạt, như vậy là hủy hoại môi trường chứ không phải mang ý nghĩa cảm ơn, rước tổ tiên về chứng giám lòng thành. Người Việt đang hiểu sai quan niệm đốt vàng mã thật nhiều sau 3 ngày Tết thì tổ tiên mới đầy đủ, phù hộ cho gia chủ phát tài”.

Chính vì thế, sau những ngày Tết âm lịch, người dân nên hạn chế việc đốt vàng mã. Tuy đốt vàng mã là một trong các nghi lễ đã trở thành một tập quán xã hội nhưng tập quán xã hội cũng cần xây dựng trên nền tảng hiểu đúng, hiểu đủ về vấn đề tâm linh này thì mới có sự phát triển bền vững được – Giáo sư Ngô Đức Thịnh trao đổi.

Chỉ dẫn sắm lễ hóa vàng : Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm : – Nhang, hoa, ngũ quả, – Trầu cau, rượu, đèn nến, bánh kẹo, – Mâm lễ mặn hoặc chay cùng các 9 Hoa vang 4món ăn ngày Tết đầy đủ, tinh khiết.

Văn khấn lễ tạ năm mới (lễ hóa vàng)

– Nam mô A di đà Phật (3 lần) – Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương – Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần – Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị Tôn thần – Con kính lạy ngài Đương niên hành khiển, ngài Bản cảnh Thành hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long mạch Tôn thần. – Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.

Hôm nay là ngày mùng 3 tháng giêng năm …………………

Chúng con là: ……………………………tuổi………………….

Hiện cư ngụ tại…………………………………………………………..

Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cung bày trước án. Kính cẩn thưa trình: tiệc xuân đã mãn, Nguyên đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn âm linh trở về âm cảnh.

Kính xin lưu phúc, lưu ân, phù hộ độ trì dương cơ âm trạch, mọi chỗ tốt lành, con cháu được bách sự như ý, vạn sự bình an, tài lộc song toàn, gia đạo hưng vượng.

Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.

Nam mô A di đà Phật (3 lần) (theo Một thế giới)

Phan Tất Đại chuyển tiếp