PHONG TỤC NGÀY TẾT

Logo phong tuc

9-nam-moi-1NGƯỜI VIỆT ĐÓN TẾT

NHƯ THẾ NÀO ?

– Thiên Việt

Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp về với mọi nhà. Là ngày hội lớn nhất trong năm, ai ai cũng đều được nghỉ ngơi sau 360 ngày làm việc lo cơm áo gạo tiền. Đây là một phong tục của người Á Đông, những nước khi xưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa tín ngưỡng Trung Hoa, mà nước ta là một trong số các nước đó.

Vì thế những ngày trước trong và sau Tết Nguyên Đán, luôn là những ngày mà mọi người thường đi theo tục lệ truyền thống dân gian đã có hơn từ ngàn năm nay, trong tục lệ còn có tín ngưỡng và tâm linh. Nhân ngày Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp đến, chúng tôi xin có bài viết về phong tục ngày tết :

LỊCH SỬ NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết là một ngày bắt đầu một năm mới, một tháng mới tính theo Âm lịch. Trong truyền thuyết, vào thời kỳ Ngũ Đế, vua của nước Trung Hoa này có tên Chuyên Húc, ông gọi tháng giêng là Nguyên, 9-mua-lanngày mùng một là Đán. Còn sách Nhĩ Nhã : Nguyên có nghĩa bắt đầu, Đán là sớm.

Vào đời nhà Thương (thế kỷ thứ 5 Tr.CN – Trước công nguyên) lấy tháng Sửu (tháng 12, tháng chạp), còn đời Chu (thế kỷ thứ 4 Tr.CN) lấy tháng Tý (tháng 11), còn đời Tần (thế kỷ thứ 3 Tr.CN) lấy tháng Hợi (tháng 10).

Đến đời Hán Vũ Đế (tứ năm 136 Tr.CN đến 25 sau CN) căn cứ vào thiên văn và sự tuần hoàn của vũ trụ qua bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, ông thấy mùa xuân hoa nở xanh tươi thời tiết đang giá rét chuyển qua ấm áp nên lấy ngày đầu tháng Dần (tháng 1 – tháng giêng) làm ngày đầu năm mới, và cho tổ chức hội hè đón xuân.

Tết nguyên Đán có nguồn gốc là vậy.

Nước Việt Nam chúng ta có cả ngàn năm bị giặc phương Bắc đô hộ, nên phong tục ấy đã được người dân chấp nhận từ hàng ngàn năm qua, và cứ qua mỗi đầu năm mới, trong nét văn hóa đó có những thay đổi cho phù hợp với nhân văn tại mỗi miền. Nhưng những nét chính đón mừng năm mới không thể bỏ những tục lệ sau đây :

9-ong-tao-1TỤC CÚNG  ÔNG TÁO

Ngày 23 tháng Chạp hàng năm (trước tết Nguyên Đán) là ngày ông Táo lên trời để trình với Ngọc Hoàng Thượng Đế mọi việc hung kiết trong một gia đình năm qua. Theo quan niệm của người Việt, ngày này là ngày bộ ba Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ vắng mặt ở trần gian nên công việc lúc này tạm ngừng.

Mọi người lo việc đón Tết. Hệ thống triều đình, làng xã, các dấu triện sẽ không xác nhận giấy tờ, văn bản gì nữa. Nho sinh làm lễ tạ trường, thợ săn làm lễ đóng cửa rừng v.v… Nhà nào cũng mua cá chép làm ngựa cho ông Táo về trời. Ngày hôm đó, gia đình nào cũng làm mâm cơm cúng thật thịnh soạn, khấn trước bàn thờ, kể rõ mọi việc trong năm và mong muốn trong năm mới mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tục cúng ông Công, ông Táo liên quan tới câu chuyện về một sự tích. Chuyện kể rằng vợ chồng Trọng Cao, Thị Nhi không có con, buồn phiền thường cãi nhau. Một lần vì cáu giận, Trọng Cao đánh vợ, Thị Nhi tức giận bỏ đi. Thị Nhi gặp Phạm Lang và họ thành vợ thành chồng. Mãi thấy vợ không trở về, 9-ong-tao-2Trọng Cao hối hận bỏ nhà đi tìm vợ. Hết tiền ăn đường, Trọng Cao phải đi xin ăn. Một ngày kia, Trọng Cao vào đúng nhà Thị Nhi xin ăn. Thị Nhi nhận ra chồng cũ liền hậu đãi.

Đúng lúc ấy Phạm Lang về. Sợ chồng hiểu lầm Thị Nhi liền dấu Trọng Cao vào đống rơm. Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao chết cháy.  Thương người chồng cũ, Thị Nhi nhảy vào đám lửa chết theo, Phạm Lang thấy vậy, nhảy vào cứu cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng cảm kích, cho ba người làm Táo quân.

Bởi vậy sau này, trong lễ cúng ông Táo bao giờ cũng có một mũ đàn bà màu vàng để giữa hai mũ đàn ông màu đen để hai bên, tượng trưng cho hai ông một bà. Cũng có nơi chỉ đặt một mũ nam và một đôi hia. Mũ đặt trên chiếc kệ bên dưới mỗi mũ để 100 vàng thoi. 9-phao-noTrong thực tế, mũ áo này thay đổi theo màu sắc của ngũ hành.

Năm hành là : kim mũ màu vàng – mộc mũ màu trắng –  thủy mũ màu xanh – hỏa mũ màu đỏ và thổ mũ màu đen (Năm hành được tính theo Lục Thập Hoa Giáp, thí dụ như năm Đinh Dậu có hành là Hỏa – Sơn Hạ Hỏa)

Bài vị ở bàn thờ Thổ Công thuờng ghi như sau :

“Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Thổ Địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”

Khi sửa lễ cúng ông Công, ông Táo người ta đều đốt bài vị cũ, thay bài vị mới. Sau khi lễ xong thì hóa vàng, hóa luôn cả mâm mũ năm truớc và thả một con cá chép còn sống xuống ao, cá sẽ hóa rồng để đưa ông Táo cưỡi lên chầu trời.

TỤC “GỬI TẾT” VÀ “BIẾU TẾT”

Theo tục của người Việt, con cái trong gia đình đã lớn, ra ở riêng hết, tết đến phải quy tụ về nhà tổ đường (nơi thờ tự chính, đấng Cửu huyền thất tổ như ông bà, cha me…) nếu cha mẹ còn sống, còn cha mẹ đã chết, người con cả (con trai trưởng) 9-bieu-tet-1sẽ đại diện gia đình để cùng nhau làm mâm cơm cúng bái tổ tiên (nếu người cha mẹ hay người con trưởng đại diện cho cả một chi tộc thì lễ tại tổ đường sẽ đông đảo hơn một gia đình).

Bởi vậy, các con thứ hoặc ngành thứ, vào dịp tết có tục phải gửi lễ hoặc gửi góp giỗ đến nhà anh con cả để cùng tưởng niệm Tổ Tiên gồm gà, hoa quả, vàng nhang. Nay mọi người thường gửi bằng tiền, nhằm giúp gia đình anh con cả có điều kiện soạn mâm cơm cúng giỗ tết chu đáo hơn.

Nay nhiều người hiểu sai từ “gửi tết” bằng từ “biếu tết”, vì “gửi tết” có ý nghĩa như một nhiệm vụ phải có của những người con gia đình nhớ đến ông bà cha mẹ đã quá vãng. Còn “biếu tết” chỉ là sự kính trọng giữa người dưới đối với người trên, giữa những người cùng làm ăn, những người đã, đang giúp đỡ mình hay gia đình mình, với hàng xóm láng giềng, hay bạn hữu thân thiết. Tục “gửi tết” còn đối với những người trong họ tộc nhưng khác chi, khác nhánh v.v.. cũng chung một gốc ông bà, gửi tết về cúng kiến giỗ chạp tuy nhiên không có nghĩa vụ ràng buộc như người trong gia tộc.

9-bieu-tet-2Tục này thường diễn ra sau ngày rằm tháng Chạp đến hết ngày 30 hoặc 29 Tết nếu có tháng đủ tháng thiếu trong âm lịch.

TỤC TRỒNG CÂY NÊU

Nêu là một cây tre để cả ngọn cắm ở trong sân nhà. Trên ngọn nêu là túm lá dừa, lá lông gà, lá thiên tuế hoặc những chiếc bánh, những con cá bằng đất nung cùng một tán tròn bằng tre, phía dưới dán giấy đỏ. Cạnh cây nêu, vôi bột được rắc theo hình cung tên, mũi tên hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ.

9-cay-neuTục này được gắn liền với một câu chuyện kể về cuộc tranh giành đất đai giữa người và ma quỷ. Nhờ có chiếc áo cà sa của Phật, người đã thắng. Áo cà sa được treo trên ngọn cây nêu, áo tỏa hào quang đến đâu, quỷ phải lui tới đó. Cuối cùng ma quỷ phải chạy ra biển Đông ở. Nhưng nuối tiếc vùng đất xưa, bọn ma quỷ vẫn muốn quay về.

Bởi vậy, để dọa ma quỷ, người trồng cây nêu trước sân nhà vào năm mới có ý nghĩa là vậy (Nhưng nay dựng cây nêu ngày tết chỉ còn ở những vùng quê mà thôi).

Ngoài ra, trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng ngoài”  thì ở ngoài miền Bắc, người ta trồng cây nêu bên cạnh nhà, cột nêu cao hơn nóc nhà, trên ngọn cột một cái thúng hay cái hộp nhỏ có đục nhiều lỗ, bên trong đựng thoi vàng giấy, bạc giấy để cha mẹ đã chết về nhận vào cuối năm có  tiền ăn tết.

9-cung-giao-thua-1ĐÓN ÔNG BÀ

Vì sao có tục đón ông bà ? vì ngày 23 tháng Chạp khi đưa ông táo về trời tâu lên Ngọc Hoàng những chuyện trong năm cũ của gia đình và nhận lời phán xét của Ngọc hoàng cho năm mới.

Ngày này ông bà cha mẹ (người đã chết) cũng phải về chầu âm phủ để được Diêm vương phán xét việc đầu thai hay chưa, ai được phong thần phong thánh v.v… cho nên từ 25 tháng chạp, đến ngày cuối năm (trước khi cúng đón ông bà cha mẹ) người người đến nghĩa trang thăm mộ gia tiên (rẩy mả) trước thăm viếng sau sửa sang lại ngôi mả cho thật sạch sẻ để ông bà về đón tết.

Nên từ 23 tháng chạp trở đi việc nhang khói, đánh chuông đánh trống tại các đình chùa đền miếu đều không có, mọi sự tại các nơi này yên tĩnh.

9-don-ong-baTrong ngày 29 (hoặc 30 tết), các gia đình tổ chức mâm cơm mặn vào lúc giữa trưa, trước là đón ông Công, ông Táo sau là đón ông bà cha mẹ về ăn tết cùng gia đình mình trong 3 ngày tết (đến khi hạ nêu thì tiễn ông bà). Tục này hiện nay rất phổ biến, không loại trừ những người bên đạo Thiên chúa, vì đây là sự thành kính, hiếu thảo của con cái với tổ tiên mà thôi. Trong ngày đón ông bà, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu (nếu cúng tại tổ đường thì không khí đông vui, như đã vào tết).

CÚNG GIAO THỪA

Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của cụ Phan Kế Bính có viết về Lễ cúng giao thừa.

– “Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc trần gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế đêm giao thừa là để tiễn ông cũ và đón ông mới”. 9-nam-moi-2Đó là ý nghĩa của việc cúng giao thừa ngay vào lúc trừ tịch (0 giờ ngày mới, tháng mới, năm mới), nhiều gia đình tổ chức rất long trọng, các đình chùa, miếu mạo cũng chuẩn bị thật trang nghiêm nhằm tống cựu nghinh tân.

Khi cúng giao thừa bàn thờ được lập giữa trời chứ không phải trong nhà. Có nơi cúng các hoa quả ngày tết, có nơi cúng mặn. Ngày xưa, lễ vật thường gồm một đầu heo hoặc con gà, bánh chưng xanh, bánh kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu và giấy tiền vàng bạc, đôi khi có thêm áo mũ của vị hành khiển năm mới.

Khi đúng nữa đêm, các nơi đánh chuông đánh trống, còn tại mỗi gia đình chủ nhà thắp 3 nén nhang (có người dùng 3 cây nhang đại, cháy cả ngày chưa tàn) khấn vái trời đất, khấn vái ông hành khiển mới, xin cho gia đình được một năm may mắn và những vận rủi sớm đi qua.

Theo quan niệm dân gian mỗi năm có một ông hành khiển, qua báo chí ta vẫn thấy vị hành khiển 9-cung-giao-thua-2của năm mới mang tên 1 trong 12 con giáp (theo đúng năm được gọi tên), người xưa gọi là Thập nhị hành khiển vương hiệu.

Vị thần cai quản trong năm được gọi là dương niên chi thần. Mỗi chi thần này còn có một phán quan giúp việc (Vị thần hành khiển trong năm lo việc thi hành những mệnh lệnh trên thượng giới, trình lên Ngọc hoàng Thượng đế những việc đang điều hành, còn vị phán quan lo ghi chép công tội của mọi gia đình, mọi địa phương v.v..)

TỤC HÁI LỘC

Sau giao thừa, người Việt thường có một cuộc “du xuân” để cầu may mắn. 9-hai-locNgười ta thường đến đền, chùa để làm lễ. Khi ra về ngắt một cành hoa hoặc một nhánh cây gọi là hái lộc. Về nhà, cành lộc thường đuợc trưng tại gian nhà chính và gìn giữ trọn một năm mới bỏ đi. Người Việt chúng ta tin tưởng rằng việc hái lộc để lấy may. Cành lộc thường là cành đa, cây đa lại là cây sống rất lâu. Chọn cành đa là họ mong muốn sẽ trường thọ, nhiều tiền bạc, đông con nhiều cháu.

9-xong-datTỤC XÔNG ĐẤT

Vào ngày mồng một Tết, ai là người bước chân vào đất hoặc nhà người khác đầu tiên được cho là người xông đất. Theo quan niệm, người xông đất là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của gia chủ trong một năm. Nếu người xông đất tốt thì mọi việc trong năm sẽ thuận buồm xuôi gió, ngược lại, người xông đất xấu sẽ gặp rủi ro.

“Xấu” và “tốt” ở đây có nghĩa là hợp duyên hợp vía. “Duyên” và “vía” ở đây cũng có thể là tính tình, đạo đức tư cách của người tới xông đất; cũng có thể là người xông đất năm đó có tuổi hợp với tuổi của gia chủ hay không.

Vì vậy người ta cố tránh đến nhà nhau vào sáng sớm mùng một tết, còn ai được gia chủ có nhã ý mời tới xông đất thì khi đến cũng phải rất thận trọng. Trước hết, trước khi bước vào đất của gia chủ, người xông đất phải cười vui vồn vã với gia chủ, lì xì cho con cái gia chủ thật mau mắn, sau đó mới chúc tết lẫn nhau…

KIÊNG NGÀY MÙNG MỘT TẾT

Quan niệm vào ngày mùng một tết là ngày đầu tiên trong năm, nếu  mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mùng một Tết, người ta chúc mừng nhau những điều hay. Ngoài ra người dân còn kiêng cữ  một số việc như sau:

– Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mùng hai mùng ba mới hốt đi vì sợ Thần giữ của theo rác ra đi.

– Kiêng cho lửa, vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn”. Cho lửa là cho đi sự may mắn

– Kiêng làm vỡ ly chén, tô, đĩa vì sợ sự đổ vỡ.

Tr Cuoi 12– Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hòa.

– Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mồng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm

– Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.

– Kiêng khóc than để tránh sự ảm đạm trong cả năm.

– Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.

– Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của”, hệt như việc trả nợ.

– Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình

– Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mùng một vì sợ Tr Cuoi xua 3đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.

– Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành”phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.

TỤC HỨNG NƯỚC ĐẦU NĂM

Ở nông thôn (và có thể ở cả trong thành phố) người dân quan niệm rằng đầu năm mà có người gánh nước tới nhà thì có nghĩa là tiền vào nhà như nước. Bởi vậy, những người gánh nước thuê đầu năm được gia chủ đón tiếp rất niềm nở và được thưởng tiền nhiều gấp mười lần ngày thường. Còn nơi thành phố, vì quá trình hiện đại hóa, nên đa số gia đình đều có nước thủy cục, việc thuê người gánh nước không còn ai phục vụ cho điều này nửa. Vì thế vào nửa đêm, các gia đình mở vòi nước cho chảy tràn hồ chứa nước, xem như tiền vào nhà như nước.

TỤC MỪNG TUỔI

Năm mới mọi người lớn thêm một tuổi, người lớn có tục lì xì (mừng tuổi) cho người ít tuổi hơn mình, 9-mung-tuoinhư lời nhắn nhủ, tiền lì xì ấy sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, mà vun đắp tương lai.

Tiền lì xì còn gọi là tiền “mở hàng để lấy may”. Tại Chợ Lớn, các thương gia thường lì xì cho khách hàng một bao lì xì màu đỏ trong đựng một tờ  giấy bạc mới, dù người đó có mua hàng hay không, họ cho là “tiền mở hàng” lì xì càng nhiều phong bao, họ cho là trong năm sẽ phát đạt (vì như thế tức trong năm nhiều khách hàng hơn)

Trẻ em lại thích tiền mừng tuổi, người lớn cho rằng như vậy trong năm có nhiều niềm vui trong cuộc sống, qua sự ngây thơ của trẻ nhỏ khi được bao lì xì thì cười nói tíu tít v.v…

TỤC HÓA VÀNG

Trong ba ngày tết, thông thường vào chiều ngày mùng 3, nhà nhà có tục hóa vàng (tiễn ông bà), nhiều gia đình cũng mời bà con trong họ tộc đến để dự lễ này.

Lễ hóa vàng như đã nói, tiễn đưa ông bà cha mẹ về lại tổ đường, hay chùa chiền mà họ đã gửi hương linh (theo truyền thuyết khi người chết, họ vẫn còn 3 hồn, một hồn ở nơi chôn cất, một ở nơi chết hoặc là chốn thờ tự và một hồn ở suối vàng). Sau còn ý nghĩa khác, mời họ hàng phá mồi (tức dùng hết những món ăn ngày tết đã 9-hoa-vangmua sắm trong nhà như dưa hấu, bánh chưng, thịt mở, dưa hành v.v…)

Lễ hóa vàng là đốt hết các loại giấy tiền vàng bạc đã để trên bàn thờ, khi đã đốt hết người ta đổ vào đống tro những chén rượu cúng. Tục lệ cho rằng, có như vậy ở cõi âm các vị ông bà cha mẹ mới có tiền tiêu xài trong năm mới.

Có nơi (nhiều vùng nông thôn) vẫn có tục mua 2 cây mía dùng trong việc thờ tổ tiên trong 3 ngày tết, trong ngày hóa vàng họ hơ mía trên đống tàn còn đang rực đỏ, có ý chuyển giao cho tổ tiên có gánh quải tiền về, cũng là khí giới chống bọn cướp vàng nơi cõi âm.

HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM

THÁNG GIÊNG (theo âm lịch)

– Từ mùng 1 đến mùng 3 :  Tết Nguyên Đán

– Từ mùng 2 đến mùng 3 : Hội cướp đò, xã Gia Thanh, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Lễ duyệt bia xã Hiền Quan, 9-le-hoi-1huyện Tam Thanh, Phú Thọ.

– Mùng 3 : Hội đình Tích Sơn, xã Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. – Hội Lô làng Cọi, xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, Thái Bình. – Hội tung còn Bạch Hạc, xã Bạch Hạc, TP. Việt Trì, Phú Thọ.

– Mùng 4 đến mùng 7 : Hội vật Bảo Giàn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc. – Hội vật Liễu Đôi, xã Nam Cúc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam – Hội pháo Đồng Kỵ, xã Đông Quang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Quế Võ, Bắc Ninh. – Hội Ó (chợ bán gà) xã Xuân Ó, Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội kéo dây (kéo co) làng Phùng, xã Tân Thịnh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa – Hội Chấp, xã Hữu Chấp, huyện Yên Phong, Bắc Ninh – Hội làng Đông Hồ, xã Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh

– Mùng 5 : Hội Đống Đa, quận Đống Đa, Hà Nội. – Hội Lịch Diệp (làng nghề dệt) xã Trại Chính, huyện Nam Ninh, Nam Định

– Từ mùng 6 đến 12 : – Hội Mê Linh, xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc – Hội làng Vân Sa (làng dệt lụa) xã Tân Hồng, huyện Ba Vì, Hà Tây – Hội Gióng Sóc Sơn, xã Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. – Hội Đuồm, xã Đông Đạt, huyện Phú Lương, Thái Nguyên. – Hội Cơm Hòm, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên – Hội hát dặm Quyền Sơn, làng Canh Dịch, thôn Quyền Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam. – Hội Rưng, làng Vân Trưng, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc – Hội Đền Đìa, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, Thái Bình

9-le-hoi-2– Từ mùng 6 đến rằm tháng ba : Hội Chùa Hương, xã Đục Khê, huyện Mỹ Đức, Hà Tây.

– Mùng 7 đến ngày 15 : Hội làng Hy Cường (rước chúa Ga) xã Hy Cường, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội vật Vĩnh Nộ, xã Cao Xá, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội chen, xã Nga Hoàng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh

– Mùng 8 : – Hội Vó (làng nghề đồng) xã Quang Bố, huyện Gia Lương, Bắc Ninh. – Hội du xuân, 4 xã kết nghĩa du xuân Yên Phụ, Yên Hậu, Yên Tiến, Yên Vĩ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh

– Mùng 10 : Hội voi, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. – Hội vật làng Sình, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Huế – Hội Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội – Hội Dô, xã Hiệp Tuyết, huyện Quốc Oai, Hà Tây. – Lễ hội Bà Chúa Kho – Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh

– Ngày 11 : Hội Trò trám, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Hội đánh cá Lũng Giang, xã Lũng Giang, Lũng Sơn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội Phù Ủng, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, Hưng Yên – Hội Thương Liệt, xã Đông Tân, huyện Đông Hưng, Thái Bình

– Ngày 12 : Hội rước vua sống, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội

– Ngày 13 : Hội Lim, xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội phết Hiền Quan, xã Hiền Quan, huyện Tam Thanh, Phú Thọ

– Ngày rằm (15) : Lễ Thượng ngươn, hội lớn của Phật Giáo, các chùa chiền đều mở cửa – Hội xuân Núi Bà, núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh –thien-viet Lễ vía chùa Bà Bình Dương, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương – Hội đền Và, huyện Ba Vì, Hà Tây

– Ngày 15 đến ngày 21 : Hội chèo vùng Gối, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Tây

– Ngày 17 : Hội chùa Tứ Pháp, xã Văn Lâm, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên

– Ngày 18 đến 23 : Hội Côn Sơn, xã Côn Sơn, huyện Chí Linh, Hải Dương

– Ngày 20 : Hội hoa Vị Khê, xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, Nam Định

Thiên Việt

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

NHỮNG PHONG TỤC TANG MA

Logo TG tam linh

9-quat-ma-1NGHI LỄ “TẾ QUẠT MA”

CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Tế quạt ma hay là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường. Đây là nghi lễ còn ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa được biết đến.

H1: “Nhà minh tinh” trong tang lễ người Mường. H2: Quả còn dùng để thờ trong tang lễ.

H3: Khi tế quạt ma, những người là con dâu trong dòng họ của người quá cố phải mặc bộ đồ rất đẹp gồm: Váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm, phía trước đặt một chiếc ghế mây.

H4: Mục đích của nghi lễ quạt ma này nhằm tỏ lòng thương tiếc và yêu quý người đã chết, dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản. Động tác múa trong nghi lễ quạt ma thường rất đơn giản, người múa quay mặt về phía thầy mo, 9-quat-ma-2một tay cầm quạt che trước ngực, một tay cầm gậy chống xuống đất múa theo nhịp chiêng của thầy mo. Động tác từ người dâu cả đến người dâu cuối cùng theo thứ tự đuổi nhau bằng động tác múa hình sóng lượn.

H5: Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài được phủ áo vẩy rồng bằng vải. H6: Tế quạt ma được tiến hành khi nhà có tang từ khi xảy ra đám tang cho đến lúc đưa người chết về nơi yên nghỉ. Tham gia múa quạt mà là tất cả các con dâu trong gia đình người chết.

9-quat-ma-3

Họ được sắp sếp theo thứ bậc từ dâu cả đến các cô dâu ở bậc thấp nhất, đứng xung quanh quan tài người chết.

H7: Khi người chết tắt thở, con trai trưởng trong gia đình sẽ cầm dao nín thở chặt 3 9-quat-ma-4nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. H8: Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì hàng xóm láng giềng biết gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất. H9: Bên cạnh tế quạt ma, trong đám tang của người Mường còn có lễ tế nhà xe.

H10: Các nàng dâu phải quạt hầu trong lúc linh hồn người quá cố nhòm nhà xe.H11: Quan tài, dàn thả và sập vong trong tang lễ. H12: Cờ dùng trong tang lễ của người Mường. H13: Nơi thờ người quá cố trong tang lễ.9-quat-ma-5

H14: Quả còn và những thứ làm đẹp dùng cho người quá cố trong tang lễ. H15: Đoàn người phục vụ tang lễ dẫn linh hồn người quá cố nhòm nhà xe. H16; Thày mo người Mường làm lễ trong đám tang (theo Hoàng Lâm)

Xuân Mai chuyển tiếp

9-pha-quan-1aNHƯN QUAN VÀ TỤC PHÁ QUÀN

Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Ở miền Tây Nam Bộ, với nhiều gia đình không theo tôn giáo nào, khi có người thân qua đời, trong đám tang, lúc chuẩn bị an táng người bình dân thường làm lễ phá quàn, sau đó, nhân vật gọi là Nhưn quan điều khiển đạo tỳ.

Nhưn quan điều khiển đạo tỳ (những người khiêng quan tài) sẽ di quan đến huyệt mộ trong vườn nhà hoặc ngoài đồng ruộng để asn táng.

Để làm lễ phá quàn, đại diện chủ nhà mượn một người biết làm Nhưn quan cùng mười đến mười hai thanh niên khỏe mạnh trong xóm làm đạo tỳ. Đại diện chủ nhà mời cơm rượu những người này chu đáo để cám ơn họ trước về nỗi vất vả mà họ sắp làm để đưa cha, mẹ mình về với … đất !

Sự tích gắn với tập tục

Khi đi điền dã trong dân gian vùng Bạc Liêu – Hậu Giang – Đồng Tháp, chúng tôi được các bậc trưởng thượng kể cho nghe tích Điền Hoành – một tích gắn liền với lễ phá quàn. Điền Hoành là người hiếu nghĩa, giỏi võ nghệ nhưng đã bỏ nhà từ lâu đi làm thảo khấu.

Ngày kia, khi nghe tin lâu la báo tin rằng mẹ mình đã chết, Hoành quyết bằng mọi giá phải đánh cắp quan tài mẹ, ngay trong đêm, đem nhanh về núi, để có thể săn sóc phần mộ. Công việc không dễ dàng vì bọn cường hào đang theo dõi, chờ bắt. 9-pha-quan-1Khi bọn lâu la đã hoàn thành việc dọ thám, kế hoạch được triển khai…

Nửa đêm họ xuống núi. Cả bọn được lệnh ngậm thẻ để giữ im lặng, không hở môi. Anh ta cầm đuốc mở đường, chỉ huy bọn lâu la xông vào nhà “ăn cắp” trót lọt cái quan tài, rồi trở ra nhanh. Đi khỏi xóm một đổi, anh ta mới bắt đầu than khóc, họp lâu la hò hát cho đỡ mệt lúc khiêng lên sườn núi. Dọc đường, để chăm sóc cái quan tài không bị xao động, anh ta nhảy lên đứng trên mấy cây đòn khiêng để quan sát, đề phòng bọn cường hào đuổi theo…

Đó là sự tích và câu chuyện ấy lại gắn với cách di quan và an táng của người chết ở miền đất này.

Người biết nghi thức di quan và động quan đóng vai Nhưn quan, theo tích xưa thì đấy là tên cướp chịu tang cho mẹ, nên vẽ mặt dữ dằn (chân mày đen rậm, mặt tướng), thường mặc đồ đỏ, còn những người khiêng quan tài (đạo tỳ) thì mặc quần áo có kiểu thức rất đặc biệt như bọn lâu la, mỗi người ngậm một cây nhang tượng trưng cho thẻ lệnh. Trước khi hoạt cảnh diễn ra, tất cả đều thi lễ trước quan tài người quá cố.

Đoàn đạo tỳ lạy xong, Nhưn quan quay ra, hoạt cảnh chính thức bắt đầu, Nhưn quan tay cầm hai ngọn đuốc lửa cháy rực (cán làm bằng khúc tre tươi non thước tây, ngọn đuốc quấn bằng vải mùng tẩm dầu), chỉnh tề hàng ngủ.

Trước quan tài, thầy chùa hóa thân thành người giữ linh cữu, tay cầm dải vải màu vàng chừng hai thước tây, múa mấy bài quyền như để khử trừ yêu quái, gọi là “phá quàn”. Đoạn thầy cho hai đệ tử (những người này thường nằm trong ban nhạc lễ được chủ nhà thuê) đứng trước hàng cầm hai thanh tre tượng trưng như hai thanh đao, gác tréo, chận ngang như để gìn giữ chiếc quan tài ấy.

Thầy chùa cúng vái trước quan tài xong, quay ra hét lớn : Nghe tiếng quân reo ngoài ngõ… giờ kiết nhựt linh sàng đã đến hay sao… ta chẳng thấy Nhưn quan lai đáo … Nhưn Quan nhảy ra vừa múa vừa nói : Dạ dạ… Bẩm, Nhưn quan lai đáo… xin bẩm bạch tôn sư… có điều chi tôn sư chỉ dạy… (nói giọng mỉa mai rồi định xông vào).

Thầy chùa : Dang ra… Nhà ngươi là ai… từ đâu đến… hãy hài danh hài tánh, 9-pha-quan-2hài thị hài thiềng (thị, thành – nói trại đi), cho bổn sư được rõ…

Nhưn Quan : Như ta đây Thất Đài San quê ngụ… danh tánh thị Điền Hoành… nghe gia nhân mách bảo rành rành, gia trung nầy có một quan tài,… mà quan tài ấy đáng giá ngàn vàng trăm lượng… Ta sợ yêu tà cám dỗ,…nên ta mới hạ san xuống thu đoạt quan tài tịch tịch a !…

Thầy chùa : Hay, hay dữ a ! Ngươi mau cho ta xem qua chứng chỉ của vua ban đặng hãn tường chơn giả !

Nhưn Quan : Ạ… ạ… nhà ngươi đòi xem … thì đây là chiếu chỉ vua ban… ta trình lên để hắc bạch phân minh (thò tay lấy từ thắt lưng ra tờ giấy đỏ tượng trưng cho chiếu chỉ vua !)

Thầy chùa : Nếu nhà ngươi là tướng cướp đã phục thiện làm lành thì ta nói rõ, đây không phải hòm vàng mà là một quan tài ta đã giữ từ lâu, nay gặp lại nhà ngươi ! Ta sẵn sàng giao lại. Nhưng ta cho ngươi biết quan tài nầy làm bằng gỗ huỳnh đàn… đầu chạm vàng trang sức nặng ngàn cân… nhà ngươi có binh mã bao nhiêu mà đòi thu đoạt.

Nhưn quan : Quân của ta lớp lớp… hàng hàng… Dù quan tài có nặng vạn lần, ta đây cũng san bằng trở lực…

Khi Nhưn quan hát, thầy chùa ra vẻ lóng tai nghe, tỏ ý chấp thuận, đoạn hô to : Truyền ! Các tư kỳ sự ! (Truyền : Ai lãnh việc gì phải giữ lấy việc ấy).

Hai người cầm đao canh giữ trước quan tài lùi ra, thầy chùa cũng lui vào (chuẩn bị thay áo già để dẫn vong), công việc coi như đã giao lại cho Nhưn quan. Nhưn quan cầm đuốc lửa, vừa múa vừa tiến vào : Vâng lời thầy Đức Trọng, Cao Long ! Hỡi đạo hò đàng ta ! (Đạo tỳ đồng “dạ” hoặc “ơ” thật lớn).

Nhưn quan hét : Vậy chớ nào, như hà linh cửu ?

Nhưn quan bước vào bàn minh tinh đốt nhang, rồi khóc thương thảm thiết, lấy chiếc khăn tang trắng (được chuẩn bị sẵn để trên cái dĩa ở bàn minh tinh) quấn lên đầu mình. 9-pha-quan-3Nhạc cổ truyền: kìm, cò, tranh, sáo, tiêu, … đệm theo lời ca.

Nhưn quan ca điệu Nặng tình xưa

Mẹ (hoặc cha, tùy theo người mất) ơi ! Con đến muộn, mẹ giờ quy tiên; Bất hiếu nhi vô dụng, chẳng lo gì cho mẫu thân; Nay con quỳ lạy trước linh sàng; Mong mẹ tha thứ tội tình; Bản thân con giờ đây mất mẹ; Con biết tìm đâu được mẹ kính yêu; Bổn phận con – kể từ hôm nay; Không có mẹ hiền răn la dạy bảo; Mà chỉ còn, đưa tiễn từ liêm; Mẹ thứ tha cho đứa con bất đạo; Con lạy tạ, mẹ về cực lạc; Con làm tròn hiếu tử với mẫu thân; Nay con vĩnh biệt mẹ hiền… (khóc la thảm thiết).

Đoạn Nhưn quan nhảy múa ba vòng xung quanh trước quan tài, lăn qua cả dưới đáy hòm như để khám xét xem sự nặng nhẹ, khó dễ trong việc cử quan, lúc bấy giờ trên nắp quan tài người ta có để cái dĩa với mấy đồng bạc, Nhưn quan đưa tay ra bộ lấy bỏ vào túi, miệng ngậm dầu lửa phun vào ngọn đuốc, lửa bốc cao đỏ rực, trống, kèn, đờn tấu vang liên hồi, Nhưn quan quay phắt trở ra hô to :

– Hỡi đạo hò đàng ta ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ” vang dậy). Phải chính túc đai cáo… Cúc cung từ bái ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Y lịnh, đạo tỳ đồng lạy linh cửu theo một kiểu cách đặc biệt. Xong 4 lạy. Nhưn quan hát:

– Đây chi nài khó nhọc; Đó chớ nệ tiếc công; Nghiêng mình vàng đỡ lấy quan tài; Di linh cữu táng an phần mộ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Sau đó, Nhưn quan điều khiển hai hàng đạo tỳ tiến vào (mỗi bên 5 – 6 người), chủ nhà dẹp nhanh các trướng, bàn đưa, bàn điếu, khiêng bàn minh tinh qua một bên, lư hương được con trai trưởng hoặc cháu nội lớn bưng, con dâu, hoặc đứa cháu lớn (có khi là con Út) theo che dù, theo sau là bài vị, hay ảnh chân dung người mất, và tấm triện (tấm giấy đỏ do thầy chùa viết bằng chữ Hán, với nội dung dẫn vong linh người quá cố về cõi hư vô).

Nhưn quan điều khiển tập thể đạo tỳ phò linh cữu đặt lên vai từ từ đưa ra khỏi nhà, bấy giờ, 9-pha-quan-4Nhưn quan bỏ đăng chúc (đèn), hai tay cầm hai chiếc sanh bằng cây tre, miệng hát lên, trong khi tay thì nhịp gõ:

– Bớ đạo tỳ ta ! (“ơ”) Hãy lẵng lặng mà nghe ba hồi sanh lịnh ! (gõ sanh: cắc, cắc).  – Một hồi sanh, ngồi đâu ngồi đó ! (cắc cắc… cắc).  – Hai hồi sanh, rán vó lên eo ! (cắc cắc… cắc).  – Ba hồi sanh, thượng lộ đăng đàng ! (cắc cắc… cắc)

Qua mỗi lệnh truyền và tiếp theo một hồi sanh, những động tác rập ràng thuần thục diễn ra đồng bộ trong không khí nghiêm mật và im lặng khác thường, nếu huyệt mộ ở sau vườn đất nhà thì đạo tỳ khiêng một lượt tới nơi mới để quan tài xuống ghế kê sẵn, còn nếu đường đi xa thì đưa quan tài lên chiếc nhà vàng (linh xa) từ từ chuyển động đúng theo động tác rất ăn ý của tập thể Nhưn quan, đạo tỳ. Để đánh tan cái u sầu nhất định trong giờ phút đau đớn này, Nhưn quan và đạo tỳ đồng cất giọng để tỏ lòng thương tiếc người chết :

Ô hô! Tam thốn khí tại thiên bang dụng, 

Nhứt đán vô thường vạn sự hưng. 

Người về âm cảnh quan liêu, 

Kẻ còn dương thế những triêu tịch sầu !

Thầy chùa lúc bấy giờ mặc áo già, tay cầm chiếc sênh, miệng tụng kinh để dẫn vong. Con cháu, dòng họ đưa tang tay cầm nhang lần lượt đi theo sau quan tài, ra khỏi nhà. 9-pha-quan-5Trên đường đi, trống đánh liên hồi, người ta còn rải vàng bạc dọc đường với ý nghĩa cho ma cũ lượm tiền xài, không theo phá để đạo tỳ khiêng quan tài nhẹ hơn,

… Đối với người Việt ở miền Tây Nam bộ thường không có hiện tượng “nằm lăn đường”, nhưng trong quá trình đưa đám, các con, cháu thường đi lùi, hai tay chống ngược với đạo tì thể hiện sự đau đớn, bịn rịn không muốn “đưa” cha mẹ về nhanh với … đất !

Đến nơi, người bưng lư hương đến trước, hàng được đạo tỳ đặt trên ghế, con cháu vái lạy lần nữa, rồi dưới sự hướng dẫn của Nhưn quan, hàng từ từ được đưa xuống đất (người ta để ở hai đầu hàng hai nửa cây cà bắp nối lại làm dây để thòng quan tài xuống huyệt), khi hàng chạm đáy, người ta dùng dao cắt bỏ dây, người con trai trưởng bỏ xuống huyệt nắm đất đầu tiên, sau đó các anh em con cháu khác lần lượt thực hiện thao tác ấy, nó thể hiện ý nghĩa con cháu táng an cho ông, bà cha, mẹ.

Lúc bấy giờ người ta đánh một trống dài nữa rồi dứt luôn (người ta kiêng không được đụng đến mặt trống sau khi đã chôn cất).

Những người hàng xóm được chủ nhà mượn lo việc chôn cất khỏa đất dần dần đến khi đầy, người ta đắp thành nắm mộ, trên cùng đắp chiếc chiếu cho người nằm dưới đất sâu đỡ lạnh.

Người đi đưa, dần dần trở về. Thầy chùa đi trước tụng kinh dẫn vong, người bưng lư hương quay về. Nhưn quan và đạo tỳ đã xong nhiệm vụ. Nhưn quan đi đến một quãng xa, lột “khăn tang” độc thần chú hóa bùa, làm phép “giải thoát”, rồi đốt đi. 9-pha-quan-6Coi như anh ta đã trở về người bình thường.

Một tập tục xưa mà các nhà nghiên cứu dân gian cho là gắn liền với hò đưa linh ở miền ngoài “di cư” vào đây đến nay vẫn còn đó, có điều nó đã ít nhiều thay đổi theo hướng chuyên nghiệp át dần nghi thức dân gian.

– Kim Hùng lễ phá quàn động quan (1:00’) : https://youtu.be/4o5Czd3J97E

Nhưn Quan và tục Phá Quàn :  https://youtu.be/nV8VZEDVVHY

Mời xem clip video do 7 Hiền quay :

https://www.youtube.com/watch? v=SaKpcJ9LCwI

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr buon 2HÒ ĐƯA LINH

KHÚC BIẾN TẤU ĐỘC ĐÁO

TRONG HÒ BIỂN NHÂN TRẠCH 

Xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, là một vùng quê có nhiều đời sinh sống, gắn bó với nghề đi biển. Với tính cách của người làng biển thật thà, chất phác sống chan hòa cởi mở, thân thiết ân tình trong tình làng nghĩa xóm cũng như giao hòa với biển khơi đó chính là nguồn gốc tạo nên những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo trong đời sống tinh thần của người dân làng biển Nhân Trạch.

Khi nhắc đến các làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống của Nhân Trạch thì gợi mở đầu tiên trong tâm thức của mỗi người đó chính là những điệu hát khoan chèo cạn khỏe khoắn, mạnh mẽ và những điệu hò biển ngọt ngào, gắn bó với công việc và cuộc sống hằng ngày của ngư dân, được bao thế hệ người dân nơi đây giữ gìn, phát triển…

9-ho-dua-linh-1Trong lối hò biển được người dân xã Nhân Trạch lưu truyền và phát triển từ bao đời nay có lối hò múa quạt, hò múa hoa đăng, hát chèo cạn, hò đưa linh…Các loại hình hát khoan chèo cạn của hò biển Nhân Trạch được thực hiện đầy đủ trong lễ hội cầu ngư tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân thì hò đưa linh là một trong những hình thức diễn xướng độc đáo và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống của người dân làng biển.

Hò đưa linh ở làng biển Nhân Trạch – Bố Trạch vốn khởi phát là một hình thức diễn xướng dân gian được thực hiện trong lễ cầu ngư sau khi kết thúc bài xưng của các bà cai và điệu chèo cạn của các hò con. Dưới sự chỉ huy của 2 bà cai đứng trước đội hò con xướng lên giọng hò cái với điệu hò đưa linh trước biển đông rằng :

“Biển đông đài cát đại ngàn biển đông

Cúi đầu trăm lạy đức ông

Cầu cho thất ứng thất thông nhiều bề

Anh linh hiển hách nhiều bề……

Lý Nhân Nam vui thú hề

Đức bà đẹp ý ghép vô lạch nhà…”

Điệu hò đưa linh trong lễ cầu ngư được xướng lên cao vút cùng nhịp phách, tiếng trống và cả nhịp chiêng hòa cùng gió biển, sóng biển để ngưỡng vọng tới linh hồn Đức Ông, Đức Bà (cá Voi) để cầu cho làng biển Nhân Nam (tức làng Nhân Trạch) 9-ho-dua-linh-2được trời yên biển lặng, cá tôm đầy tàu cho cuộc sống càng thêm no đủ.

Đặc biệt điệu hò đưa linh ở Nhân Trạch không những chỉ được sử dụng trong lễ cầu ngư mà lối hò đưa linh còn được dùng để phục vụ đám tang của những ngư dân làng biển Nhân Trạch. Hò đưa linh lúc này được thực hiện với ý nghĩa là cầu nối để tiễn đưa linh hồn của người đã khuất về nơi an nghĩ cuối cùng. Hò đưa linh được diễn ra trong suốt thời gian có đám tang kể từ lúc phát tang cho tới khi mai táng xong.

Ở Nhân Trạch, hò đưa linh chỉ diễn ra trong đám tang của những người được xem là đã hưởng thọ trên đời (thường là những người qua đời tuổi 60 trở lên). Câu hò được cất lên vừa để chia buồn với gia chủ, vừa giúp linh hồn người chết siêu thoát nhưng hò cũng là để thưởng thức nét đẹp văn hóa của hình thức diễn xướng dân gian làng biển.

Người đến viềng đám tang trước là để chia buồn với gia chủ, tiếc thương người quá cố đồng thời còn để thưởng thức giọng hò hay, ngôn hay ý đẹp trong điệu hò đưa linh. Nội dung của các câu hò đưa linh trong đám tang được chuẩn bị rất công phu, tỉ mĩ. 9-ho-dua-linh-3Tùy theo gia cảnh, thân thế, cuộc đời của người chết mà có các bài hò khác nhau.

Thông thường nội dung của những câu hò đượm buồn, khéo léo hơn trong mỗi chặng hò, người hát có cách chọn lựa ngữ cảnh rất chu chỉnh để xướng hò cho phù hợp, ngân giọng hò ai oán, bi thương, tiếc nuối khi người lìa cõi đời. Khi hát hò đưa linh trong đám tang sẽ có hai người hát “hò cái” gõ phách (như bà cai trong hát hò khoan ở lễ cầu ngư) và 12 người còn lại hát “hò con” vừa hò vừa diễn xướng và phụ họa, cùng một người đánh trống đại.

Những câu hò trong hò đưa linh thường có nội dung kể lại cuộc đời của người đã mất, nói lên công cha nghĩa mẹ sinh thành, thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, kể nỗi lòng đau thương, luyến tiếc của con cháu khi phải chia tay cha mẹ, ông bà. Ví dụ như hò trong đám tang của người cha thọ tám mươi tuổi các câu hò được xướng lên rằng:

“Chia tay kẻ ở người đi

Lòng nào mà chẳng sầu bi não nề

Nay sinh từ giã thân kỳ

Đưa linh một khúc mà về tây phươn…….g…

Tám mươi năm gắn bó cuộc đờ

Bao nhiêu vất vả nuôi con trưởng thành

Năm trai ba gái ngời ngời

Nay về chín suối thương hoài cháu con…”

Những câu hò được xướng lên trong các đám tang nơi miệt biển Nhân Trạch như đồng vọng với tiếng trống, tiếng kèn và đồng vọng cùng lòng người 9-ho-dua-linh-4với mong cầu tiễn đưa linh hồn người đã mất siêu thoát về nơi cực lạc.

Qua bao thời gian, điệu hò đưa linh vẫn đang được người dân Nhân Trạch lưu giữ gắn bó bền chặt trong đời sống tinh thần của ngư dân quê biển. Điệu hò ấy được cất giữ trong tâm hồn mỗi một người dân Nhân Trạch, làm nên khúc biến tấu độc đáo của điệu hò biển – lớp văn hóa đặc sắc văn hóa của làng biển quê hương. (theo Lê Hữu LợiPhòng VHTT Bố Trạch) 

– Tham khảo clip về Hò Đưa Linh : https://youtu.be/B-U2XtjIiqo

– Hò Đưa Linh (Chèo Cạn) – Đua Ghe Làng Phương Diên (0:45’)

Hò Đưa Linh hay gọi là Chèo Cạn, một buổi như văn nghệ trên bải cát đêm trước ngày đua chính thức. Đây là một phong tục tập quán của Làng Phương Diên, Thừa Thiên Huế : https://youtu.be/VePqTxMpqmg

Xuân Mai chuyển tiếp

SỰ TÍCH TẾT TRUNG THU

Logo su kien 1

9 Trung Thu 1SỰ TÍCH VÀ Ý NGHĨA

NGÀY TẾT TRUNG THU

Tết Trung thu từ lâu đã trở thành nét văn hóa truyền thống của người Việt Nam bởi vì nó mang nguồn gốc và ý nghĩa rất thú vị và đặc sắc.

Từ ngàn năm nay, cứ mỗi dịp thu về, người ta lại nô nức chào đón Tết Trung Thu – Rằm tháng Tám (15/8 Âm lịch), để cùng ngắm trăng và cầu sức khỏe và hạnh phúc cho gia đình, người thân.

Nhưng có lẽ không phải ai cũng biết rõ về sự tích huyền bí của ngày Tết Trung thu, chỉ biết vào ngày này, trăng sáng nhất và tròn nhất trong năm và người ta thường thưởng thức Bánh Trung Thu, phá cỗ và ngắm trăng.

Tại sao lại có những tục lệ đó ? Hãy quay trở về với dân gian và tìm hiểu sự tích đầy ý nghĩa này nhé !

Tại sao có Tết Trung thu ?

Theo truyền thuyết Trung Quốc giải thích Trung Thu là tiếng Hán, có nghĩa là giữa mùa thu,9 Trung Thu 2 người ta nói trăng giữa mùa thu luôn là trăng tròn và sáng nhất trong năm.

Tương truyền rằng, hai vợ chồng Hậu Nghệ và Hằng Nga đều sống trên mặt đất. Sắc đẹp của Hằng Nga và sự bất tử của Hậu Nghệ đã làm cho một số vị quan ganh ghét, và họ đã vu oan cho Hậu Nghệ trước mặt Vua Nghiêu. Từ đó, 2 vợ chồng bị đuổi khỏi hoàng cung và phải sống cuộc đời thường dân. Nhưng cuộc sống làm lụng, săn bắn đã làm cho chàng Hậu Nghệ trở thành một xạ thủ có tiếng trong dân gian.

Bấy giờ, có 10 mặt trời cùng lúc tồn tại và một ngày cả 10 mặt trời xuất hiện đã thiêu cháy hầu hết sinh linh trên mặt đất. Vua Nghiêu đã sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời chỉ để một cái lại mà thôi. Chàng Hậu Nghệ đã hoàn thành sứ mạng và để đáp lại, Vua Nghiêu đã cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn rằng “Tạm thời không được uống cái này vào, 9 Trung Thu 4hay bắt đầu cầu nguyện và ăn chay trong một năm sau đó mới được uống”.

Hậu Nghệ làm theo, chàng đem viên thuốc về nhà và giấu nó ở cái rui trên nóc nhà. Được khoảng nửa năm, Vua Nghiêu mời chàng đến kinh thành “chơi”. Hằng Nga ở nhà bỗng phát hiện ra linh dược và nàng đã uống ngay viên thuốc đó. Cùng lúc Hậu Nghệ vừa về đến nhà nhưng tất cả đã quá muộn, Hằng Nga đã bay lên mặt Trăng. Kể từ đó, mặc dù rất thương nhớ chồng nhưng Hằng Nga mãi vẫn phải ở trên mặt trăng không thể nào trở lại.

Còn ở dương thế, sự mong nhớ và nỗi hối hận ngày đêm cồn cào Hậu Nghệ. Cuối cùng, chàng xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là “Dương”, trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. 9 Trung Thu 5Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như để nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của con người.

Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có truyền thuyết về chị Hằng – chú Cuội kể rằng, ngày xưa, trên trời có một nàng tiên nữ tên là Hằng Nga, nàng rất xinh đẹp và chăm chỉ cai quản cả một Vầng Trăng sáng lung linh. Nàng rất yêu trẻ con nên mơ ước của nàng là được ghé xuống trần gian chơi đùa cùng các em nhưng do quy định của tiên giới không cho phép.

Một hôm, Ngọc Hoàng tổ chức cuộc thi “Làm bánh ngày rằm” vào ngày rằm tháng 8 – là ngày mà trăng tròn và sáng nhất trong năm, người nào làm được loại bánh ngon nhất, đẹp nhất và lạ mắt nhất sẽ được trọng thưởng bất kỳ điều gì mình muốn.

Hằng Nga rất thích thú, háo hức tham gia cuộc thi ngay. Khi xuống trần gian để tham khảo, 9 Trung Thu 6nàng gặp được “Cuội” – một chàng trai chuyên gia nói dóc, cứ mỗi tối Cuội lại tụ hợp các em nhỏ dưới gốc cây đa đầu làng mà kể chuyện tầm phào.

Ngoài tài “nói dóc”, Cuội rất giỏi nấu nướng, cậu thường tự tay làm bánh cho bọn trẻ trong làng ăn nên các bé rất yêu quý Cuội. Hằng Nga biết vậy rất vui mừng và ngỏ ý nhờ Cuội cùng nàng làm ra loại bánh mới, thế là Cuội đưa ra một sáng kiến là cứ bỏ tất cả mọi nguyên liệu hòa lại rồi đem nướng lên, nào là trứng, hạt dưa, thịt, mè, hạt sen, lạp xưởng…

Và thật kì lạ, những chiếc bánh ra lò thơm phưng phức, các em nhỏ ăn vào đều khen rất ngon, mặc dù còn chưa đẹp mắt lắm nhưng đó là món bánh ngon nhất mà bọn trẻ con được thưởng thức.9 Trung Thu 7

Đã đến thời hạn trở về thiên đình, Hằng Nga đem những chiếc bánh chưa đặt tên thật ngon lên thiên đình dự thi và chia tay những người bạn thật đáng yêu nơi trần gian, từ biệt chàng Cuội nói dóc nhưng tài năng và tốt bụng.

Nhưng chàng Cuội vì lưu luyến không muốn rời xa nàng, nên đã nắm chặt lấy tay nàng và thật kì lạ, có một sức mạnh siêu nhiên nào đó đã kéo chàng cùng cây đa đầu làng lên cung trăng. Leo lên cây đa chàng có thể nhìn thấy bọn trẻ đang vui đùa dưới trần gian. Có đôi lúc nhớ nhà, nhớ các em, Cuội chỉ biết ngồi khóc và buồn bã.

Về phần Hằng Nga, món bánh độc đáo của nàng đã giành giải nhất và được Ngọc Hoàng đặt tên là bánh Trung Thu, và ban cho nàng một điều ước. Nàng ước rằng mỗi năm đến dịp ngày rằm tháng 8 sẽ được cùng Cuội xuồng trần gian để ban phát niềm vui và vui chơi cùng các em nhỏ. 9 Trung Thu 3Điều ước được chấp nhận và Ngọc Hoàng đặt tên cho ngày rằm tháng 8 là “Tết Trung Thu” – dịp tết vui chơi của các em nhỏ.

Từ đó, cứ mỗi độ Tết Trung Thu, chị Hằng và chú Cuội lại được xuống trần gian để mang niềm vui cho các em, món bánh Trung Thu từ đó cũng trở thành món ăn đặc sắc không thể thiếu trong ngày này.

Từ đó về sau, cứ đến ngày Rằm tháng Tám, là lúc trăng sáng và tròn nhất, người ta lại tổ chức rước đèn, múa rồng múa lân dưới ánh trăng để kỷ niệm ngày chú Cuội, chị Hằng và đàn Thỏ xuống mặt đất vui chơi. Bánh Trung thu làm thành hình mặt trăng để tưởng nhớ cuộc liên hoan vui vẻ dưới trăng buổi tối mà trẻ con quen gọi là Tết Trung Thu.

Ý nghĩa ngày Tết Trung thu

Tết Trung thu là thời điểm giữa mùa thu, là thời gian người Á Đông thu hoạch xong mùa mang và chuẩn bị mở các lễ hội đón rằm thắng Tám trong niềm hân hoan, vui mừng và ấm áp.

Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên vào buổi tối khi Trăng Rằm vừa mới lên cao. Đồng thời trong ngày này, mọi người thường biếu cho ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác 9 Trung Thu 8Bánh Trung Thu, hoa quả, trà và rượu. Người Trung Hoa thường tổ chức múa rồng vào dịp Trung Thu, còn người Việt múa sư tử hay múa lân. Con Lân tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng và là điềm lành cho mọi nhà… Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống Quân trong dịp Tết Trung Thu.

Ngày này không chỉ là dịp để trẻ em được vui chơi, phá cỗ, còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì sẽ thịnh vượng. Đây cũng là dịp để chúng ta trao yêu thương cho nhau, cùng với những lời chúc Trung Thu ý nghĩa nhất, hay nhất.

Lan Hương chuyển tiếp

Logo Phong su

9 Long den 1GIA ĐÌNH BA THẾ HỆ

TẤT BẬT LÀM

ĐÈN TRUNG THU

Còn gần nửa tháng nữa mới đến Trung thu nhưng công việc làm lồng đèn của gia đình chị Lê Thị Thắm (đường Lạc Long Quân, quận 11) đã bắt đầu từ trước đó rất lâu để kịp giao cho khách hàng.

Cái duyên đưa đến với nghề làm lồng đèn từ khi chị Thắm từ Nam Định vào Nam sinh sống, có chồng và theo nghiệp của gia đình chồng. Cái nghề được truyền từ cha mẹ chồng, đến vợ chồng chị và bây giờ là các con, thấm thoát đã hơn 20 năm qua.

Làm lồng đèn quanh năm, sáng hai vợ chồng chị bận rộn với xe cơm tấm trước nhà, cứ chiều đến khi con cái đi học về, cả gia đình lại ngồi quây quần bên nhau, mỗi người một công đoạn từ chẻ tre, cột dây chì, dán giấy và vẽ trang trí cho đến khi hoàn thiện một chiếc lồng đèn.

9 Long den 2

Lồng đèn với đủ loại lớn nhỏ, tùy thị hiếu từng năm mà gia đình có thêm những mặt hàng mới. Năm nay, chị dự định sẽ làm khoảng 2.000 lồng đèn, chủ yếu giao cho các đại lý ở Chợ Lớn.

“Nghề này tuy cực nhưng vì yêu nghề, nhờ nó mà cũng có đồng vô đồng ra mà xoay xở việc học cho con sắp tới, ngày nào người ta còn mua lồng đèn thì mình vẫn còn làm” – chị Thắm tâm sự.

H1: Cả gia đình chị Thắm đang tập trung làm lồng đèn để kịp giao cho đại lý.

H2: Chị Thắm cùng chồng đã gắn bó với nghề được hơn 20 năm qua.H3: Em Nguyễn Thị Hồng Anh (con gái lớn của chị Thắm) vừa thi xong kỳ thi quốc gia, đang tranh thủ thời gian phụ cha mẹ làm lồng đèn. H4: Cả gia đình mỗi người một công đoạn cho đến khi sản phầm hoàn thành.

9 Long den 3

H5: Anh Nguyễn Mạnh Tùng (chồng chị Thắm) cột dây chì tạo hình lồng đèn. H6: Con trai thứ tư của chị Thắm (lớp 11) phụ trách công việc vẽ các họa tiết trang trí cho lồng đèn. H7: Mọi người vừa làm vừa trò chuyện.

9 Long den 4

H8: Số lồng đèn thành phẩm được treo trên trần nhà. H9: Nhờ những chiếc lồng đèn mà chị Thắm đủ tiền trang trải cho ba đứa con vào năm học mới. H10: Gần đó, hai vợ chồng cô Bùi Thị Xuân (56 tuổi) đang hì hục hoàn thành số lồng đèn theo đặt hàng của đại lý.

9 Long den 5

H11: Mỗi năm, gia đình cô Xuân làm khoảng 1.000 lồng đèn các loại như thuyền, bướm, voi… H12: Lồng đèn thuyền đã hoàn thành chờ giao cho đại lý. H13: Chị Trần Thị Thúy Ái (quận Thủ Đức) tìm đến các cơ sở làm lồng đền ở Phú Bình để mua về bán cho khách.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo TG tam linh

9 Thanh dia 1BỐN THÁNH ÐỊA

THIÊNG LIÊNG PHẬT GIÁO

VÀ VƯỜN TỨ ÐỘNG TÂM Ở CHÙA VẠN HẠNH BÊN HÀ LAN

Ước mơ trân quý của người con Phật là một lần trong đời được đến chiêm bái bốn thánh địa thiêng liêng của Phật giáo. Ðược coi là thánh địa vì nơi đây ghi dấu bốn sự kiện trọng đại của cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp của Ðức Phật Thích Ca.

Bốn thánh địa đó là: 1/. Lumbini (Vườn Lâm Tỳ Ni), nơi Đức Phật đản sanh 2/. Bodhgaya (Bồ Ðề Ðạo Tràng), nơi Đức Phật thành đạo 3/. Sarnath (Vườn Lộc Uyển), nơi Đức Phật khai giảng giáo pháp 4/. Kushinara (Câu Thi Na), nơi Đức Phật nhập niết-bàn

1/- Vườn Lâm Tỳ Ni : Vườn Lâm Tỳ Ni nằm dưới chân núi Himalaya thuộc nước Nepal, 9 Thanh dia 2phía đông kinh thành Ca Tỳ La Vệ xưa; khu vực này nằm sát thị trấn biên giới Sonauli, Ẩn Ðộ. Tại vườn Lâm Tỳ Ni, hoàng hậu Mada, vợ của vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ, đã hạ sinh hoàng tử Tất Ðạt Ða vào sáng ngày Rằm tháng tư Âm lịch (trước Tây lịch 624 năm). Hoàng tử Tất Ðạt Ða sau này trở thành Ðức Phật Thích Ca, người khai sáng đạo Phật và đem ánh sáng từ bi rọi sáng muôn loài.

2/- Bồ Ðề Ðạo Tràng : Bồ Ðề Ðạo Tràng là nơi hoàng tử Tất Ðạt Ða giác ngộ dưới gốc cây Bồ Ðề và trở thành Ðức Phật, 2560 năm trưóc.

Bồ Ðề Ðạo Tràng là một thành phố ở quận Gaya, Bihar, Ấn Ðộ. Những ai có diễm phúc thăm viếng nơi đây sẽ được thăm một di tích nổi tiếng, đó là chùa Ðại Bồ Ðề (Mahabodhi Temple). Trong chánh điện, một tượng Phật uy nghi được tạc vào thế kỷ thứ 10. 9 Thanh dia 3AChùa Ðại Bồ Ðề nổi tiếng thiêng liêng vì nơi đây, trong sân chùa, nơi khu vườn đẹp có trồng một cây Bồ Ðề oai nghi to lớn.

Ðức Phật đã ngồi thiền dưới bóng cây Bồ Ðề và thề rằng : “Nếu ta không thành đạo, thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này”.  Với ý chí hùng dũng, cương quyết ấy, sau 49 ngày tư duy, Ngài thấu rõ chân tướng của vũ trụ, của nhân sanh và đắc đạo. Cây Bồ Ðề, với những tàng cây bay cao và tỏa rộng ra xa như đem chân lý giải thoát đến cho nhân loại. Rễ cây to lớn cuộn chặt xuống đất như giữ giáo pháp của Ðức Thích Ca muôn đời bất diệt.

Ngày nay, chung quanh khu vực Bồ Ðề Ðạo Tràng, cộng đồng Phật giáo nhiều 9 Thanh dia 3Bquốc gia như Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan, Miến Ðiện, Tây Tạng, Bhutan v.v… đã xây cất các chùa hay tu viện theo cấu trúc của quốc gia mình, do vậy khu vực này đã trở thành một thị trấn Phật giáo đa dạng và rạng rỡ.

3/- Vườn Lộc Uyển : Sau khi tu thành chánh quả, Ðức Phật Thích Ca nghĩ ngay đến sứ mạng chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người. Ðầu tiên, Ngài đến vườn Lộc Uyển, tìm mấy người bạn đồng tu trước kia để thuyết pháp.

Bài giảng đầu tiên là Tứ Diệu Ðế và năm người bạn được nghe bài Pháp này là Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Ðề. Năm vị này đều được khai ngộ và trở thành năm đệ tử đầu tiên của Ngài. Nơi vườn Lộc Uyển này, Tăng Ðoàn Phật Giáo ra đời xuyên qua sự giác ngộ của Kiều Trần Như, vị đệ tử cao niên nhất trong năm đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca.

Hầu hết những toà nhà cổ và những công trình kiến trúc tại Vườn Lộc Uyển bị hư hại theo thời gian hoặc bị tàn phá bởi giặc Hung Nô vào thế kỷ thứ 5 và sự xâm lấn của đạo quân Hồi giáo từ Trung Á vào giữa thế kỷ thứ 10 và 15. 9 Thanh dia 4Tuy nhiên, trong khung cảnh đổ nát, người đi chiêm bái có thể nhận ra được các thắng tích sau đây:

– Tháp Dhamek uy nghi cao 40 mét, rộng 28 mét; – Tháp Dharmarajika được xây dựng do vua A Dục. A Dục Vương là hoàng đế Ấn Ðộ từ năm 273 đến năm 232 trước Tây lịch; – Tháp Chaukhandi là nơi kỷ niệm Đức Phật gặp gỡ các đệ tử của mình lần đầu;

– Tàn tích của tịnh xá Mulagandhakuti đánh dấu nơi Đức Phật an cư trong mùa mưa; – Trụ đá của vua A Dục;  – Ngoài ra còn có một cây Bồ Đề được chiết nhánh từ cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng.

4/- Câu Thi Na : Ròng rã 49 năm, hạt giống từ bi được reo khắp xứ ở Ấn Ðộ. Từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, từ rừng núi đến đồng bằng, không nơi nào Ðức Phật không đặt chân đến, hay truyền đệ tử Ngài đến để hóa độ chúng sinh.

Khi Ngài 80 tuổi, theo định luật vô thường, thân sắc Ngài yếu đi. Ngài gọi ông A Nan, người đệ tử luôn luôn ở bên cạnh Ngài, và nói :

“Ðạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, ta nay đã có đủ 4 hạng đệ tử: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Nhiều đệ tử có thể thay ta truyền bá Ðạo Pháp khắp nơi. Bây giờ ta có thể rời các ngươi mà đi. Thân hình ta theo luật vô thường, bây giờ như một cỗ xe đã mòn rã. Trong ba tháng nữa ta sẽ nhập Niết bàn nơi rừng cây Ta-la, thành Câu thi na”.

Tr Duc PhatTrong thời gian ba tháng cuối cùng của Ngài, đức Phật vẫn không nghỉ ngơi, mà vẫn tiếp tục đi truyền đạo.

Sau đây là lời phú chúc của Ngài để lại trong giờ phút cuối cùng :

Này ! Các người phải tự thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người !”

Sau khi đã dặn dò cặn kẽ xong, Ngài nhập định rồi vào Niết Bàn. Lúc bấy giờ nhằm ngày Rằm tháng Hai âm lịch.

5/- Vườn Tứ Ðộng Tâm – Chùa Vạn Hạnh Hà Lan : Trong khuôn viên chùa Vạn Hạnh, Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hà Lan (HPGVN/HL) đang kiến tạo một vườn Tứ Ðộng Tâm như một biểu tượng của bốn thánh địa thiêng liêng mà người Phật tử mong ước đến chiêm bái.

Qua khu vườn này, HPGVN/HL sẽ tạo dựng bốn khu đồi nhỏ, mỗi đồi cao 1 mét, trên đỉnh đồi sẽ đặt một trong các hình tượng theo thứ tự như sau : 9 Thanh dia 5Ðức Phật Ðản Sanh, Ðức Phật Thành Ðạo, Ðức Phật Chuyển Pháp Luân và Ðức Phật Nhập Niết Bàn. Tượng bằng đá và cao 1m50. Giữa khu đồi là một khoảng đất được đặt tượng Ðức Phật Di Lạc.

Mỗi cuối tuần, nhiều Phật tử phát tâm về chùa làm công quả, cùng nhau xây dựng khu vườn này. Người nhổ cỏ, trồng cây, người ban đất, lát gạch. Tất cả làm việc trong tình đồng đạo, hài hòa, vui vẻ, với một ước vọng kiến tạo ngôi chùa Vạn Hạnh ngày càng khang trang, tốt đẹp.

Với những nỗ lực góp công sức như trên, cộng thêm sự đóng góp tịnh tài và yểm trợ tinh thần của Phật tử khắp nơi, một ngày không xa, Vườn Tứ Ðộng Tâm sẽ hình thành và sẽ là nơi tĩnh tâm, an lạc cho hàng Phật tử, cũng như tạo nên vẻ thanh cao cho ngôi chùa Vạn Hạnh mới. (theo Ngô Thụy Chương)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

SỰ TÍCH RẰM THÁNG BẢY

3 Logo ptuc - tnguong

9 Vu lan 1SỰ TÍCH RẰM THÁNG BẢY

VÀ XUẤT XỨ HAI TIẾNG VU LAN

– Huệ Thiên

Đọc bài viết về Vu Lan của tác giả Huệ Thiên có trên 20 năm ở báo Kiến Thức Ngày Nay, trong số những bài viết về Vu Lan của nhiều tác giả trong ngoài Phật giáo tôi ưng ý bài này nhất. Mời xem (Bảy Hiền)

oOo

Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng “Vu Lan” ?

Sự tích Lễ Vu Lan

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật.

Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống.

9 Vu lan 2Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được.

Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, 9 Vu lan 3giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác.

Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không ! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày.

Sự tích cúng cô hồn

Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau : Cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào.

Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ 9 Co hon 1miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói : “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”.

A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái.

Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây.

9 Co hon 2Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu : “tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Luận bàn

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước.

Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65).

Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh – HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là “những người đã chết” nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. 9 Co hon 3Nhưng Vu Lan bồn là gì ? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : “Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược.

Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình là bị treo ngược (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng “Vu Lan” và “Vu Lan bồn”. Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.

Sau đây là điểm sai thứ hai : Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là “cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 “thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là “đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v…” (Từ điển tiếng Việt 1992).

Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. 9 Co hon 4Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau :

Phải toan sắm sửa chớ chầy

Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu

Lại phải sắm giường nằm nệm lót

Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu

Món ăn tinh sạch báu mầu

Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng

(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)

Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt… mà thôi. Còn thức ăn thì phải “tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát” đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.

Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về Nếp Cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau : 9 Co hon 5“Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật ” (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).

Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành “cứu nạn treo ngược”, vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là “cứu đảo huyền”. Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành “cứu đảo huyền” là đã mượn hai tiếng “đảo huyền” trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn “Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã” nghĩa là “như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy”.

Chính Từ Nguyên cũng đã giảng “đảo huyền” là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy “cứu đảo huyền” không phải là “cứu nạn treo ngược” mà lại là “giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng”. Hai tiếng “đảo huyền” ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ “đảo huyền chi tế” là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là “cảnh bị treo ngược “.

Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit “Ullabana” có nghĩa là “cứu nạn treo ngược”. Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, 9 Co hon 6nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây : Ullambana hoặc Ullambhana.

Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất : Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi ! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là “cứu nạn treo ngược” được.

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng “Vu Lan”. 9 Co hon 7Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này ? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của “Vu Lan bồn”. Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là “Vu Lan bồn”, trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a).

Vì “Vu Lan bồn” chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành “cái chậu đựng thức ăn” như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.

Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị : Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : chad (che, bọc, phủ), 9 Co hon 8dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v…

Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt … Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là “Vu Lan bồn”.

Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Tr Cau nguyen 3Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng ” treo ngược ” cả.

Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của một cá nhân. Ðúng hay sai, xin được sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học. (theo Huệ Thiên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo van de

Tr cau hoi 2NGƯỜI VÔ ĐỨC CÓ XEM BÓI NHIỀU

CŨNG KHÔNG CÓ PHÚC PHẬN

Đoán mệnh là một bộ phận trong văn hóa Thần truyền. Người xưa tôn kính Trời Đất và Thần Phật, mục đích của thầy tướng số, đoán mệnh là giúp con người hành thiện, sống thuận theo Thiên ý. Đến ngày nay đoán mệnh đã bị nhiều người lợi dụng để phục vụ cho lợi ích cá nhân mình.

Bói toán không phải là mê tín, vốn đã có từ thời xa xưa. Vì cuộc đời một người đã được định sẵn, người tinh thông Chu Dịch, Bát quái có thể bấm tay mà bói ra được. Bói toán tồn tại chính vì muốn bảo cho con người biết rằng nên sống thuận theo tự nhiên. Các việc tốt, việc xấu con người gặp trong đời đều do nhân duyên, không phải chuyện vô duyên vô cớ. Nếu muốn kiếp sau được sống hạnh phúc, kiếp này phải làm nhiều việc thiện tích đức, không làm việc xấu việc ác. Kỳ thực đây là một bộ phận của văn hóa Thần truyền.

Các thời các triều đại từ xưa đến nay, trên từ vương tôn quý tộc, dưới đến bá tánh bình dân, đều thích xem bói đoán mệnh, mong sao biết trước tương lai, mời lành tránh dữ. 9 Coi boi 1Các nhân vật chính trị hiện nay cũng rất thích đoán mệnh, nếu như gặp được thầy đoán mệnh vào hàng cao nhân, vị thầy này sẽ khuyên người kia làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, như vậy thì cuộc đời chính trị mới bền lâu; nếu như gặp phải thầy đoán mệnh dở, chính là giống như bái sư mà bái nhầm cửa vậy, tiền đồ liền sẽ rối tinh rối mù.

Không kể là đoán mệnh như thế nào, từ xưa đến nay, chỉ có người có đức mới có thể hưởng được phúc phận. Người xưa kính Trời kính Đất, đối với Thần Phật, Bồ Tát đều rất tôn kính. Người làm quan nếu thuận theo Trời Đất, tôn kính Thần Phật, mưu cầu phúc lợi cho nhân dân, thì Trời Phật đương nhiên sẽ phù trợ cho họ, do đó cuộc đời chính trị sẽ rất thuận lợi.

Hiện nay những người làm quan rất ít người suy nghĩ cho nhân dân, mục đích đoán mệnh chỉ là vì lợi ích của bản thân, hoặc sợ đối thủ làm hại, nên muốn tránh khỏi mối họa, chứ không phải là thật lòng tin vào Thần Phật.

Các bậc đế vương thời xưa có quốc sư giúp đỡ họ trong việc an bang trị quốc, đế vương làm sai ở chỗ nào thì quốc sư sẽ nhắc nhở và can gián họ. Quốc sư thường là những người tu hành, 9 Coi boi 2tu Phật hoặc tu Đạo, đức hạnh rất cao thâm, có thể trên thông thiên văn dưới tường địa lý, bản thân họ cũng vốn có công năng.

Còn bên cạnh các nhân vật chính trị thời nay, hầu như không có được những quốc sư này, những lời nghe thấy đều là những lời a dua nịnh bợ giả tạo.

Ngày nay rất nhiều người tin vào phong thủy, phong thủy cũng có ảnh hưởng đối với từ trường của thân thể con người, điều này khoa học đã chứng thực được. Nhiều vị làm chức vụ quản lý đều rất tin tưởng vào địa lý phong thủy. Các nhà doanh nghiệp, những người có tiền đều nghĩ đủ mọi cách nắm giữ long mạch, bổ sung tài khí, tu sửa mồ mạ tổ tiên để thay đổi phong thủy.

Có những người phúc phận rất lớn, thiên thể mà họ đối ứng rất lớn, rất nhiều quý nhân sẽ đến giúp đỡ họ, có những người là tiểu thiên thể chuyển sinh, phúc phận rất mau chóng đã dùng hết rồi, nếu như còn đi làm chuyện xấu nữa thì phúc phận càng tiêu hao rất ghê gớm.

Có một vị là thầy tướng số, một lần nọ ở Hồng Kông lại gặp được một thầy đoán mệnh, 9 Coi boi 3nói là rất có duyên phận với anh ấy, hỏi anh ấy có cần đoán mệnh hay không. Người kia nói không mang theo tiền, vị thầy đoán mệnh đó nói không cần tiền, thế là đã đoán mệnh cho anh ta. Vị thầy đoán mệnh này những chuyện từ nhỏ đến lớn của anh kia đều nói rõ hết, khiến cho anh này rất lấy làm kinh ngạc. Vị thầy đoán mệnh nói với anh ấy rằng, bản thân ông đã bế quan trong suốt 10 năm, lần này ra ngoài một chuyến là để tìm đồ đệ, nay muốn đem Kỳ Môn Độn Giáp và các thứ thuật loại truyền cho anh ta.

Tốn mấy tiếng đồng hồ, người thầy đoán mệnh truyền dạy công phu cho anh ta. Lúc đó, kỳ kinh bát mạch của anh này dường như đã được đánh thông, ngay lập tức chuyện gì cũng đều biết rõ cả. Sau khi trở về, anh ta đoán mệnh giúp người ta quả thật là rất chuẩn xác.

Mấy ngày sau, anh ấy lại đến Hồng Kông, thì gian hàng của vị thấy đoán mệnh kia đã không thấy đâu nữa. Cao nhân bế quan nhiều năm như vậy, tin chắc rằng rất tuân thủ giới luật. Từ xưa đến nay, những thầy đoán mệnh đức hạnh cao thâm thì thường gieo quẻ rất chuẩn, Coi boi 3những thầy đoán mệnh thời xưa đều là người tu hành cả. Họ tự mình đi tìm đồ đệ, người được chọn nhất định phải là người có phúc đức rất lớn.

Lại nói, một người nếu như sau khi đã đoán mệnh rồi muốn thay đổi vận mệnh, tự thân cũng cần phải có đức lớn mới có thể thay đổi được, phúc phận không lớn thì không có cách nào thay đổi. Nếu như là những vị quan thường hay làm việc tốt, thì có thể tránh được tai nạn, có thể nạn lớn hóa thành nạn nhỏ, nạn nhỏ hóa thành không. Còn những quan lại thường làm chuyện xấu thì không thể nào tránh khỏi tai họa được.

Rất nhiều người đều biết, hiện nay những nhân vật chính trị thường mời rất nhiều thầy đoán mệnh, khi tai nạn được đoán ra thì đều giống nhau, sẽ nghĩ đủ mọi cách, dùng các loại thuật loại để tránh nạn, thậm chí tiêu tốn rất nhiều tiền của cho việc này.

Hiện nay, đoán mệnh tương lai không còn đúng nữa

Rất nhiều người say mê tử vi đẩu số, có người tu hành cho rằng tử vi đấu số giống như môn học thống kê thời cổ đại, hiện nay dùng máy tính chính là có thể suy đoán ra được, không cần người đoán nữa. Ở một chợ đêm trên phố, có người mang theo máy tính, dùng tử vi đấu số đoán mệnh giúp người ta để kiếm sống, chỉ cần đưa cho họ sinh thân bát tự, mấy phút sau liền có thể đoán ra được. Hiện nay xuất hiện một vấn đề, chính là đoán những sự việc trong quá khứ thì rất là chuẩn xác, còn đoán tương lai thì lại không còn chuẩn nữa.

Có thầy số mệnh tu hành nói, bây giờ hệ Ngân Hà đã thoát ly khỏi tiểu vũ trụ, các nhà khoa học dùng kính viễn vọng đều đã phát hiện được điều này. 9 Coi boi 6Vì vậy, rất nhiều điều trong thuật đoán mệnh đều đã không còn chuẩn xác nữa. Bởi vì thân thể người của chúng ta liên hệ chặt chẽ với phạm vi vũ trụ lớn hơn, thể hệ vũ trụ lớn hơn; thể hệ càng vi quan thì liên quan càng lớn, tầng thứ càng cao. Nay toàn bộ hệ Ngân Hà đã lệch khỏi vị trí ban đầu, vậy nên phương vị đó đối ứng thế nào, cung đó đối ứng thế nào, đều đã không còn chuẩn xác nữa. Vị trí của 12 chòm sao giờ đã không phải là vị trí ban đầu nữa, chòm sao Xạ Thủ đã nổ tung trùng tổ lại mới, là chòm sao Xạ Thủ mới, vị trí của Mặt Trời và Mặt Trăng đều đã thay đổi, mắt thịt của chúng ta nhìn không ra, nhưng dùng kính viễn vọng thiên văn thì nhìn thấy được.

Bởi vì con người là chuyển sinh từ từng tầng, từng tầng thiên thể, khi đi vào bên trong hệ Mặt Trời, có cửa vào của 12 chòm sao này. Thể hệ bên ngoài này thật sự quá to lớn, chúng ta vốn không có cách nào bao hàm nội dung thể hệ lớn như vậy, không có cách nào thống nhất con người trong 12 chòm sao, cùng lúc bao hàm nhiều đặc tính như vậy được. (Tiểu Thiện, dịch từ epochtimes)

Sang Huỳnh chuyển tiếp

CHÚ Ý THÁNG 7 CÔ HỒN

Logo su kien 1

9 Hon ma 118 ĐIỀU KHÔNG ĐƯỢC LÀM

TRONG THÁNG CÔ HỒN HUNG HIỂM

Theo quan niệm dân gian, tháng 7 âm lịch là tháng cô hồn, ngày ma quỷ được tự do về dương thế. Vì vậy bạn nên biết những kiêng kỵ tháng cô hồn. Bên cạnh những việc nên làm trong tháng 7 âm lịch, thì cần chú ý đến 18 điều cấm kỵ trong tháng cô hồn, bởi theo dân gian ”có thờ có thiêng có kiêng có lành”, nếu không kiêng kỵ thì gia đình dễ gặp xui xẻo, bị ”ma trêu quỷ hờn” thậm chí rước vong vào nhà lúc nào không hay.

Nguồn gốc của tháng cô hồn

Theo tục cúng cô hồn xuất phát từ cổ tích Trung hoa. Mỗi năm đến dịp tháng 7 âm lịch, vào ngày đầu tháng (2/7) Diêm Vương mở cửa địa ngục để quỷ đói trở lại cõi trần gian, và đến rằm tháng 7 phải trở lại vì lúc này Quỷ Môn Quan sẽ đóng.

Theo quan niệm dân gian, khoảng thời gian này trên dương thế cô hồn xuất hiện khắp nơi vì vậy cần phải cúng cháo, gạo, đồ ăn để chúng không quấy nhiễu cuộc sống bình thường.

9 Thang co hon 1Theo tín ngưỡng của người Việt, đây cũng là hành động tâm linh ý nghĩa để giúp đỡ những linh hồn đói khổ đã khuất. Thông thường người Việt mình thường cúng cô hồn vào rằm tháng 7 trùng với lễ Vu Lan của phật giáo.

Sau đây là 18 điều cấm kỵ trong tháng cô hồn.

1/. Không đi chơi đêm trong tháng cô hồn : Tháng cô hồn ma quỷ ”vất vưởng” rất nhiều, theo dân gian thời gian này nên hạn chế đi chơi đêm. Đây là khoảng thời gian ma quỷ ”lộng hàng” nhất là vào buổi đêm, với những người yếu bóng vía dễ bị trêu thậm chí bị ”bắt hồn” đi.

2/. Không tùy tiện đốt tiền vàng, vàng mã… : Dân gian quan niệm rằng trong tháng cô hồn quỷ đói rất nhiều. Chúng đều thiếu thốn mọi thứ nên lang thang khắp nơi. Nếu bạn tùy tiện đốt vàng mã có thể sẽ khiến ma quỷ bu quanh lại bạn nhiều hơn gây ảnh hưởng đến cuộc sống, vận hạn của bạn.

3/. Không ăn vụng đồ khi cúng cô hồn : Đến rằm tháng 7 hầu hết nhà nào cũng làm mâm cỗ cúng cô hồn để ban phát đồ ăn, thức uống cho các linh hồn, quỷ đói. Theo quan niệm dân gian, đó là đồ của người âm nếu chưa cúng mà đã ăn hoặc chưa xin phép đã lấy sẽ rước phải tai họa vào thân.

4/. Không đứng gần cây đa, cây đề : Có câu ”quỷ gốc đa, ma gốc đề” ý muốn nói vào 9 Thang co hon 2ban đêm dưới gốc cây đa, cây đề hội tụ rất nhiều âm khí. Nhất là vào tháng cô hồn tốt nhất nên kiêng đứng gần, ngồi, nằm hay trốn ở đó để tránh bị ”ma trêu quỷ hờn”.

5/. Không treo chuông gió ở đầu giường : Quan niệm dân gian cho rằng việc treo chuông gió ở đầu giường trong tháng cô hồn sẽ gọi ma quỷ đến nhà.

Tiếng chuông gió sẽ thu hút ma quỷ, điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến giấc ngủ mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày, có thể dễ bị ma quỷ quấy phá.

6/. Không nhổ lông chân trong tháng cô hồn : Dân gian cho rằng “một sợi lông chân quản ba con quỷ”, nếu nhổ lông chân trong tháng cô hồn dễ gặp phải xui xẻo, trắc trở trong cuộc sống, công việc làm ăn. Người nào càng có nhiều lông chân thì ma quỷ càng ít dám đến gần.9 Thang co hon 3

7/. Không phơi quần áo vào ban đêm : Một trong 18 điều cấm kỵ trong tháng cô hồn tuyệt đối nên tránh đó là không phơi quần áo vào ban đêm bởi đây là khoảng thời gian quỷ đói, hồn ma lang thang nhiều nhất.

Nếu phơi quần áo vào ban đêm, ma quỷ nếu thấy sẽ “mượn tạm” và để lại “quỷ khí” trong các quần áo ấy gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý của người trên dương thế.

8/. Kiêng gọi tên nhau khi đi chơi đêm : Trong tháng cô hồn, nếu đi chơi đêm cần tuyệt đối tránh gọi tên nhau. Nếu không ma quỷ sẽ ghi nhớ tên người được gọi, theo dân gian đó là điềm xấu sẽ mang lại nhiều xui xẻo.

9/. Không bơi lội trong tháng cô hồn : Ma quỷ lang thang khắp nơi trong tháng cô hồn, nhất là những nơi có nước như sông suối, ao hồ… Vì vậy theo dân gian nên kiêng bơi lội trong thời gian này, nếu không cẩn thận dễ bị trẹo chân thậm chí có thể bị ”ma rủ”.

10/. Không được hù dọa người khác : Một trong những điều kiêng kỵ trong tháng cô hồn đó là không được hù dọa người khác. Điều này khiến người khác bị “hồn bay 9 Thang co hon 4phách lạc”, dễ bị ma quỷ xâm nhập lúc nào không hay.

11/. Đến nơi vắng vẻ tuyệt đối không nhìn lại phía sau : Khi đi về khuya hoặc đến những nơi vắng vẻ, nếu có cảm giác hình như có người đang đi theo hoặc gọi tên mình, bạn cũng tuyệt đối không được quay đầu lại. Đây có thể do ma quỷ đang trêu chọc, nếu quay lại sẽ dễ bị ”rủ” về cõi âm.

12/. Tránh thức quá khuya : Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, việc thức quá khuya trong tháng cô hồn có thể dẫn đến việc cơ thể suy nhược, dễ nhiễm “quỷ khí”, thậm chí dễ bị ma quỷ nhập vì ban đêm là lúc ma quỷ hoành hành.

13/. Không nhặt tiền rơi trong tháng cô hồn : Trong tháng cô hồn tuyệt đối không nên nhặt tiền rơi Trong tháng cô hồn, tuyệt đối bạn không nên nhặt tiền rơi ngoài đường vì có thể đó là tiền người ta cúng dùng để mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa. Nếu nhặt phải tiền đó thì bản thân người nhặt sẽ hứng chịu những tai họa thay cho người rải tiền.

14/. Không đến gần góc tường : Theo quan niệm dân gian, góc xó tường thường là nơi tối tăm nhất, đây là nơi trú ẩn của ma quỷ. 9 Thang co hon 5Chúng nghỉ ngơi ở đó vì vậy tuyệt đối không nên đến gần những chỗ đó.

15/. Không chụp ảnh ban đêm trong tháng cô hồn : Trong tháng cô hồn, tốt nhất không nên chụp ảnh vào ban đêm. Lúc này ma quỷ lảng vảng rất nhiều, rất có thể sẽ chui vào ống kính chụp hình cùng bạn. Khi cầm đèn pin đi chơi khuya cũng không nên chiếu loạn xạ lên cây, điều này có thể làm kinh động đến những linh hồn trên ngọn cây.

Một trong 18 điều cấm kỵ trong tháng cô hồn đó là tuyệt đối chụp ảnh qua gương. Theo quan niệm dân gian, tấm gương thuộc về âm tính, dễ dàng chiêu mời âm khí từ các linh hồn ma quỷ. Nếu không chú ý, có thể bạn sẽ phải chứng kiến những thứ 9 Thang co hon 6không mong muốn.

16/. Không để mũi dép hướng về phía giường khi ngủ : Nên kiêng để mũi dép hướng về phía giường khi ngủ. Điều này sẽ giúp ma quỷ biết rằng có người sống đang nằm trên giường, có thể chúng sẽ lên quấy phá hoặc ngủ chung với bạn.

17/. Không cắm đũa giữa bát cơm : Trong tháng cô hồn, khi ăn cơm tuyệt đối kiêng kỵ việc cắm đúa giữa bát cơm vì đây giống như việc thắp hương cúng người mất. Điều này dễ dụ ma quỷ đến nhà ăn chung.

18/. Kiêng ở nhà một mình trong phòng  : Trong ”tháng của người âm” này, nên hạn chế việc ở nhà một mình trong phòng. Điều này dễ bị ma quỷ dẫn dắt hoặc vào nhà quấy phá.

Một số điều nên kiêng kỵ khác trong tháng cô hồn 

– Tuyệt đối không nên thề thốt hay nói bậy trong bất cứ giây phút nào. Nguy hiểm nhất là nói bậy hoặc thề thốt từ 11 giờ đến 12 giờ 45 phút hoặc từ 18 giờ chiều cho đến rạng sáng.9 Thang co hon 7

– Nên kiêng kỵ việc mài dao kéo trong tháng cô hồn.

– Tuyệt đối không trú núp dưới gốc cây vào ban đêm.

– Không may quần áo trắng trong tháng này.

– Nên chú ý kiêng kỵ việc mua xe vào những ngày sát chủ, ngày kỵ thiên can – địa chi tương khắc. Nếu cần thiết phải mua nên tham khảo thầy phong thủy.

– Hạn chế ký kết hợp đồng trong tháng cô hồn, nếu cần cho việc đại sự thì nên xem ngày cho kỹ.

– Nếu nằm trong phòng bệnh viện khi ngủ không nên tắt đèn.

– Không mặc quần áo có in hình thù quỷ quái ghê sợ dễ ”dụ” ma quỷ.

– Không tụ tập lượn lách đua xe vào buổi tối.

Hon ma 12– Nên kiêng chở đồ cồng kềnh và chở nhiều người trên một xe.

– Tuyệt đối kiêng kỵ việc động thổ, nhập trạch trong tháng cô hồn. Nếu làm cần mời thầy xem xét rõ.

– Không nên tự ý chặt cây có gốc to.

– Khi cúng cô hồn, tuyệt đối không được cúng đồ ăn mặn. Nếu cúng mặn có nghĩa là khơi dậy “tham, sân, si” có thể khiến âm phần trở nên dữ tợn hơn. (theo Gia đình Việt Nam)

Xuân Mai chuyển tiếp

1 Logo Huyen bii

Cau hoi 5BIẾT NGÀY THÁNG NĂM SINH

LÀ BIẾT SỐ PHẬN GIÀU NGHÈO

Căn cứ vào ngày tháng năm sinh cũng có thể biết được cuộc đời này bạn có bao nhiêu tiền trong tay. Tất cả đều dựa vào thuật số trong phong thủy của các hiền nhân thời xa xưa.

Xem ngày sinh có thể biết được tài vận của bạn

1/. Công thức tính

– Bước 1: Viết ngày tháng năm sinh của bạn ra một tờ giấy.

9 Con so 1– Bước 2: Cộng tất cả những con số ở ngày, tháng, năm lại với nhau. Tiếp tục cộng cho tới khi kết quả là một chữ số. Đó chính là con số linh nghiệm của sinh mệnh.

– Bước 3. Đối chiếu con số linh nghiệm của sinh mệnh với kết quả dưới đây.

Ví dụ: Bạn sinh vào 18/6/1980 = 1+8+6+1+9+8+0 = 33 = 3+3 =6. Đối chiếu số 6 với kết quả dưới đây.

2/. Đối chiếu kết quả

– Con số sinh mệnh là 1 : Xem bói ngày sinh, số 1 mang ý nghĩa về tính độc lập mạnh mẽ. Người có số sinh mệnh là 1 thường làm việc gì cũng 9 So 1-2muốn tự mình làm, không thích người khác giúp đỡ. Nếu mở công ty, cơ sở kinh doanh riêng, một mình bạn sẽ kiêm cả ông/bà chủ lẫn nhân viên, việc lớn nhỏ đều tỏ tường.

Khi điều kiện kinh tế cho phép, tiền nhiều, người này thường tiêu tiền hào phóng. Nhưng ngược lại, khi kinh tế eo hẹp, ngoài việc ăn mặc, mọi hoạt động giải trí khác đều được người này loại ra khỏi lịch trình hàng ngày, tiết kiệm chi tiêu, lâu dần cũng thoát khỏi cảnh nghèo khó.

– Con số sinh mệnh là 2 : Chủ nhân của con số sinh mệnh là 2 thường có tính cách thuộc hai kiểu điển hình như sau. Một là trong ngoài bất nhất, bên ngoài thì tỏ ra hài hòa, đáng yêu, nhưng bên trong lại hiểm độc, vì lợi ích cá nhân, nói trở mặt là trở mặt được ngay.

Kiểu thứ hai là thù lâu nhớ dai. Một khi ai đó đã mượn tiền của họ mà không trả hoặc lâu rồi chưa trả được, họ sẽ khắc sâu trong tim, sống để bụng, chết mang theo.

– Con số sinh mệnh là 3 : Người có số sinh mệnh là 3 thường không giỏi biểu đạt cảm xúc, ý kiến cá nhân nhưng lại có năng khiếu và niềm đam mê nghệ thuật.

Tuýp người này không coi trọng tiền bạc, vật chất nhưng lại rất quan tâm tới giá trị tinh thần và cả vật chất của những tác phẩm nghệ thuật.9 So 3-4 Trong tay họ nắm giữ không ít tiền bạc, tác phẩm nghệ thuật có giá trị.

– Con số sinh mệnh là 4 : Mang trong mình con số sinh mệnh là 4, bạn luôn thấy thiếu an toàn, tâm hồn mong manh dễ vỡ, có thể bị tổn thương bất cứ lúc nào. Bạn lo lắng, sợ hãi khi cô đơn một mình.

Chính vì thế, bạn luôn tìm kiếm cảm giác an toàn ở phương diện tiền bạc. Bạn lao vào kiếm tiền như điên, tiết kiệm tiền bằng mọi cách, chỉ khi nhìn thấy số tiền tươi rói trong tài khoản ở ngân hàng, bạn mới thực sự cảm thấy bình yên.

9 So 5– Con số sinh mệnh là 5 : Có con số sinh mệnh là 5, chứng tỏ bạn thuộc tuýp cuồng tự do, thích bay nhảy, đi du lịch khám phá những điều mới mẻ. Để thực hiện được sở thích và cũng là những mục tiêu to lớn ấy, bạn hăng say kiếm tiền, làm thêm nhiều việc không quản vất vả.

Có những lúc bạn chi tiêu tiết kiệm tới mức, ăn không dám ăn, mặc chẳng dám mặc, còn luôn than nghèo kể khổ với bạn bè. Nhưng khi tiền đã về túi, bạn bỗng trở thành con người khác, hào sảng và phóng khoáng hơn gấp bội.

9 So 6-7– Con số sinh mệnh là 6 : Có con số sinh mệnh này, bạn sở hữu trái tim nhân hậu, tấm lòng hướng thiện cao cả. Chỉ cần người thân, bạn bè gặp khó khăn, bạn sẵn sàng tìm cách tương trợ.

Dù kiếm được rất nhiều tiền, nhưng việc tích lũy cho bản thân người này lại không nhiều. Họ vẫn giữ thói quen sống giản dị, tiết kiệm, nhưng vì hào phóng giúp đỡ người khác nên đôi khi bản thân chịu không ít thiệt thòi.

– Con số sinh mệnh là 7 : Nằm trong nhóm người có số sinh mệnh là 7, tài vận của bạn cực tốt. Thêm nữa, bạn cũng rất nhạy bén với các con số, giỏi phân tích, tính toán. Dù là khi kiếm được nhiều tiền hay ít, khi giàu sang hay nghèo khó, bạn vẫn tìm ra cho mình hướng đi phù hợp, tính toán đâu ra đó.

Nhìn chung, đời sống vật chất của người này phong phú vô cùng. Phần lớn đều có mức sống khá giả, giàu có.

– Con số sinh mệnh là 8 : Đối chiếu kết quả thấy con số sinh mệnh của bạn là 8, chứng tỏ khả năng tiết kiệm, tích lũy tiền bạc của bạn rất lớn. Hơn ai hết, bạn tự lực cánh sinh, biết quý trọng giá trị đồng tiền, vì thế chi tiêu cũng có sự tính toán kỹ càng.

9 So 8-9Với bạn, dù đột nhiên có được món tiền trúng số, lãi từ cổ phiếu… thì đó cũng chỉ là may mắn nhất thời, không quan trọng. Điều cốt lõi là ở giá trị tích lũy và thực lực cố gắng ở mỗi người.

– Con số sinh mệnh là 9 : Có con số sinh mệnh là 9, bạn không giỏi trong việc quản lý tiền bạc. Thậm chí, lúc cơ hàn, tinh thần bạn bấn loạn, lo lắng không yên. Chính vì thế, càng khó tìm ra hướng đi đúng giúp bạn nhanh chóng thoát nghèo.

Dẫu vậy, khả năng tích lũy tiền bạc của người này rất tốt. Nhờ vào lối sống cần kiệm mà họ nắm trong tay khối tài sản khá, để rồi những lúc xảy ra sự cố bất ngờ họ có thể tự tin ứng phó kịp thời. (thông tin trên chỉ mang tính tham khảo)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo kinh di 1

Tr cau hoi 2NHỮNG BỨC TRANH

BỊ “MA ÁM”

ĐÁNG SỢ NHẤT THẾ GIỚI

Dù chỉ là những bức họa bình thường, nhưng nhiều người cho rằng chúng đã bị ma ám bởi hàng loạt sự việc huyền bí đáng sợ xảy ra.

1/- Bức chân dung Bernardo de Gálvez : Bernardo de Gálvez (1746-1786) là một nhà lãnh đạo quân sự Tây Ban Nha, người đã giúp các thuộc địa Mỹ trong Chiến tranh Cách mạng. Để tưởng nhớ công lao của ông, một bức chân dung của Bernando de Gálvez đã được treo ở cuối một hành lang tại tầng trệt 9 Tranh ve 1khách sạn Galvez (Galveston, Texas, Mỹ).

Theo nhiều người kể lại, đôi mắt của bức chân dung thường nhìn theo khách khi họ đi qua. Những người tiếp cận bức tranh thường cảm thấy ớn lạnh và không thoải mái.

Nhiều khách du lịch khi biết được sự kỳ lạ về bức tranh ma ám đã nườm nượp kéo tới khách sạn xin chụp ảnh. Tuy nhiên, có vẻ như không ai có thể chụp được một hình ảnh rõ ràng, trừ khi họ xin phép Bernardo – người ở trong bức tranh.

Một đội điều tra cũng đã tới và chụp ảnh bức chân dung nổi tiếng. Tuy nhiên, do không xin phép nên tấm ảnh được cho là đã bị phá hỏng bởi một dấu hiệu bí ẩn hình chiếc xương, vì thế đến nay bí ẩn ma ám này vẫn chưa có lời giải.

2/- Cậu bé và con búp bê : Bức tranh “The Hands Resist Him” được vẽ bởi họa sĩ Bill Stoneham năm 1972. Bức tranh miêu tả một cậu bé với khuôn mặt khó hiểu, 9 Tranh ve 2bên cạnh là một con búp bê cỡ lớn, cùng với đó là rất nhiều bàn tay đằng sau khung kính nơi cậu bé đứng.

Một cặp vợ chồng tại California (Mỹ) đã mua lại bức tranh và phát hiện ra nhiều điều đáng sợ. Các sự vật trong tranh luôn dịch chuyển, đi lại hàng đêm. Cậu bé cùng con búp bê đôi khi biến mất.

Sau khi bức tranh cùng  câu chuyện kì lạ  được lan truyền trên mạng, một số người xác nhận con của họ đột nhiên la hét và chạy đi khi nhìn thấy bức tranh, một số người khác cảm thấy một vật vô hình đang kéo họ sát lại.

Đáng chú ý hơn nữa là trong một cuộc triển lãm, hai nhà phê bình nghiên cứu bức tranh đã chết chưa tới một năm sau đó.

2/- Cậu bé khóc : Họa sĩ Italy – Bruno Amadio – đã vẽ một bức tranh trong đó có hình ảnh cậu bé đang nhìn chằm chằm và khóc. Với tên gọi “Cậu bé khóc”, bức tranh được in hàng loạt rồi phát hành lần đầu năm 1950.

Sự lạ xảy ra khi tỉ lệ cháy của những ngôi nhà có treo bức tranh là rất cao. Ngạc nhiên hơn là những bức tranh “Cậu bé khóc” lại không hề bị lửa tàn phá, theo ghi nhận của một lính cứu hỏa tại Anh. Nhiều suy đoán còn cho rằng, bức tranh chính là nguyên nhân thu hút lửa tới thăm các ngôi nhà.

4/- Người đàn ông đau khổ : Năm 2010, Sean Robinson cho biết trong nhà mình đã xảy ra các hoạt động huyền bí liên quan tới bức tranh có tên “Người đàn ông đau khổ”. Để chứng minh sự việc, anh đã thiết lập một máy quay để chia sẻ với người xem trên YouTube.9 Tranh ve 3

Theo Robinson, bà ngoại của anh ban đầu sở hữu bức tranh và tin rằng nó đã bị nguyền rủa. Bà nói với anh rằng bà luôn nghe thấy tiếng rên rỉ, khóc lóc trong đêm phát ra từ bức tranh ấy. Bà cũng cho biết, nghệ sĩ vẽ đã trộn lẫn máu của chính mình với sơn, và tự tử sau khi hoàn thành họa phẩm.

Robinson thừa kế bức tranh sau khi bà nội chết và đã gặp phải những sự kiện kỳ lạ. Video mà Robinson tải lên YouTube cho thấy nhiều điều bất thường như cửa đột nhiên đóng sầm lại, khói bay trong nhà, và bức tranh rơi từ trên tường xuống.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

2 DÒNG SUỐI CHỮA BỆNH HUYỀN BÍ

Logo tim hieu

2 Dac lo 1SAU 351 NĂM MỚI GẶP

M ALEXANDRE DE RHODES

Người đã khai sinh ra mẫu tự Việt Nam

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng. Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.

H1&2: Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã “giải phóng ” nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu.

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, 9 Dac lo 2đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

H3: Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

9 Dac lo 3Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

H4: Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “hồ hởi”. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “tham quan” và nói về lịch sử nhà thờ.

H5: Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

9 Dac lo 4

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi : “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không ?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố. Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

H6: Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

9 Dac lo 5

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

H7: Năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 15 xu và 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển tiếng Việt.

H8&9: Năm 1960 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ 4 con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài Gòn gần Dinh Độc Lập. (nguồn Văn Khang / Văn Khố Ức Trai / Đại Học Chiến Tranh Chính Trị VNCH)

Logo KH huyen bi

9 Nguyen cau 7HAI DÒNG SUỐI

CÓ KHẢ NĂNG CHỮA BỆNH

Tồn tại như một món quà của Thượng đế, hai dòng suối tự nhiên này đã giúp rất nhiều người chữa lành bệnh một cách kỳ diệu. Tuy nhiên cho đến nay người ta vẫn không thể lý giải được nguyên nhân tại sao.

God’s Acre Healing Springs – Mỹ

God’s Acre Healing Springs là dòng suối tự nhiên có niên đại hơn một triệu năm, nằm phía sau nhà thờ lâu đời Baptist, thị trấn Blackville, bang South Carolina, Mỹ. Hàng năm, ước tính có hàng nghìn người trên khắp thế giới không quản ngại đường xa mang đủ các loại vật dụng đến Healing Springs lấy nước vì họ tin vào khả năng của dòng suối thánh có thể chữa lành bách bệnh.

Healing Springs bắt nguồn từ những ngọn núi cao cách hàng trăm dặm về phía Bắc, chảy ngầm xuyên qua các khối đá, do đó hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm. 9 Suoi than 1Sau khi đến định cư ở đây, người Mỹ bản địa đã đổi Healing Springs lấy ngô với một lái buôn Châu Âu.

Trải qua nhiều lần mua đi bán lại, năm 1944, người chủ cuối cùng của dòng suối thánh đã quyết định trả nó về cho Chúa để mọi người dân có thể tự do đến lấy nước, tận hưởng phước lành ngài ban tặng.

Theo trang Daily Mail, câu chuyện về khả năng cải tử hoàn sinh của Healing Springs bắt đầu khi cuộc cách mạng giành độc lập chống lại đế quốc Anh diễn ra ở Mỹ (1775-1783). Năm 1781, sau trận chiến đẫm máu tại Windy Hill Creek (phía Bắc Blackville), bốn binh lính Anh bị viên chỉ huy bỏ lại trong tình trạng thương nặng, nằm thoi thóp chờ chết. Rất may sau đó họ được một người dân bản địa tốt bụng phát hiện và kéo đến suối Healing Springs.

Sau khi được cho uống và tắm nước suối, những lính Anh không những thoát chết mà còn dần khỏe mạnh, tìm lại được về khu trại lính khiến đồng đội và viên chỉ huy vô cùng kinh ngạc. Câu chuyện hồi phục kỳ diệu của những binh lính được truyền tai nhau đi khắp nơi. 9 Suoi than 2Và kể từ đó đến nay trải qua hàng thế kỷ, bất chấp những tiến bộ vượt bậc của y học người dân vẫn đổ xô đến Healing Springs để lấy nước và mong đợi sự kỳ diệu từ dòng nước của Chúa trời tạo ra.

Năm 2012, bà Annabelle Galik, 51 tuổi, sống tại Goose Creek được chuẩn đoán mắc ung thư phổi chỉ sống được thêm bốn tháng. Thay vì nằm chờ đến ngày cuối đời, bà đã tìm đến Blackville để lấy nước uống hàng ngày và áp dụng biện pháp chữa trị truyền thống.
Đã ba năm trôi qua kể từ ngày bà được bác sĩ thông báo bà đang cận kề cái chết, Galik vẫn duy trì được sức khỏe và rất biết ơn nguồn nước suối : “Tôi thường tắm ở đây nếu có cơ hội. Dòng suối thuộc về Chúa và nếu Ngài vẫn lưu giữ nó ở đây, chắc chắn nó sẽ mang lại những lợi ích tốt đẹp” – bà Galik bày tỏ.

“Bố tôi thường uống nước ở đây và ông đã sống đến 90 tuổi” – anh Walter Tobin sống cách Blackville 80 km, thường ghé qua suối lấy nước về dùng trên đường đến thăm em gái cho hay.

Trên thực tế, Sở Y tế và Quản lý môi trường địa phương đã tiến hành thử nghiệm mẫu nước tại Healing Springs. 9 Lo Duc 1Và thật bất ngờ, nước tại dòng suối không những không hề nhiễm các loại khuẩn thường thấy mà còn được đánh giá sạch sẽ và tinh khiết.

Dòng suối thánh tại Lourdes – Pháp

Nổi tiếng nhờ khả năng chữa bệnh kỳ diệu, hàng năm dòng suối thánh tại Lourdes thu hút 8 triệu lượt khách trên khắp thế giới ghé thăm. Bắt nguồn từ hang đá nhỏ tên là Massabielle, gần nhà thờ Lourdes thuộc thị trấn Lourdes, tỉnh Hautes – Pyrénées, miền tây nước Pháp, dòng suối gắn liền với câu chuyện huyền bí về thánh nữ bất tử Bernadette Soubirous.

Tương truyền, vào ngày 11/2/1858, năm Bernadette 14 tuổi, khi đang dạo chơi trên đồi Pyrénées, Đức mẹ Maria bất ngờ hiện ra trước mặt em. Bà chỉ dẫn Bernadette đào một khoảng đất và sẽ có một dòng suối chảy ra, hãy uống nước từ dòng suối đó vì nó có thể chữa được mọi bệnh tật.

Bernadette không hề cảm thấy sợ hãi trái lại vô cùng tò mò. Em làm theo lời bà chỉ dẫn thì quả nhiên thấy một dòng nước phun ra từ trong lòng đất. Khi Bernadette quay lại chỗ cũ thì Đức mẹ đã biến mất.

9 Lo Duc 2Cũng trong năm này, Bernadette là người duy nhất được chứng kiến dung nhan Maria hiện lên 18 lần. Sau đó, Bernadette trở thành nữ tu và qua đời ở tuổi 35. Tuy nhiên sau khi được chôn cất 30 năm dưới lòng đất, thi thể của Bernadette không có dấu hiệu thối rữa mà còn nguyên vẹn, hồng hào như người sống đang say giấc nồng.

Đã 157 năm trôi qua, từ khoảng đất được đào lên, dòng suối vẫn chảy nước mãi không ngừng. Theo tư liệu tại cơ quan y tế của thị trấn Lourdes ghi nhận, khoảng hơn 7000 trường hợp đã được chữa khỏi bệnh một cách kỳ diệu nhờ nước suối.

Bà Catharine Latapie, 38 tuổi, sống tại Lourdes có cánh tay phải bị liệt từ lâu do cây đổ vào người. Sau khi nghe được câu chuyện của Bernadette Soubirous, sáng sớm ngày 1/3/1858, Catharine đã đến hang đá nơi có dòng suối và ngâm cánh tay trong hồ nhỏ đã được tạo để trữ nước.

Khi trở về nhà ngay lập tức cánh tay của Catharine có cảm giác và các ngón tay có thể cử động được. Bà sinh đứa con thứ ba ngay trong ngày hôm đó và sau này đứa bé cũng trở thành một vị linh mục.

9 Lo Duc 3Và gần đây là bà Danila Castelli, sinh năm 1946, người Mỹ mắc chứng huyết áp cao bất thường ở tuổi 34 không rõ nguyên nhân. Sau khi trải qua hàng loạt phẫu thuật từ cắt bỏ tử cung đế loại bỏ khối u xơ đến cắt bỏ tuyến tụy, rồi u bàng quang nhưng tình hình vẫn không được cải thiện.

Năm 1988, Danila Castelli quyết định tìm đến Lourdes với hy vọng cuối cùng. Ngay lần đầu tiên tắm bằng nước suối, Danila đã có cảm giác nhẹ nhõm lạ thường. Sau đó không lâu, Danila đã gửi thông báo cho cơ quan y tế Lourdes là bà đã khỏi hẳn bệnh và trở lại cuộc sống bình thường.

Trải qua bao thế kỷ cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, nhưng năng lực siêu nhiên của God’s Acre Healing Springs và dòng suối thánh tại Lourdes vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

3 Logo ptuc - tnguong

Cung 1NHNG ĐIU CHÚ Ý

KHI MUA Đ CÚNG

Ngày 9/8 (tức 5/5 AL) vừa qua là Tết Đoan ngọ, hay còn gọi là tết diệt sâu bọ. Người dân thường cúng vào sáng sớm nhưng thực chất Tết Đoan Ngọ được tiến hành vào giờ chính Ngọ (giữa trưa), khoảng từ 11h tới 13h.

Lễ vật để cúng thường gồm: Hương, hoa, vàng mã; nước; rượu nếp và các loại hoa quả như mận, hồng xiêm, dưa hấu, vả, chuối; và các loại đồ ăn như xôi, chè, bánh ú tro.

Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Triều Tiên và Việt Nam.

Ở Việt Nam, dân gian còn gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Tết giết sâu bọ, 9 Doan ngo 1là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng.

Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Đoan Ngọ

Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và còn là nhà văn hóa nổi tiếng. Tương truyền ông là tác giả bài thơ Ly Tao (thuộc thể loại Sở từ) nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong với họa mất nước.

Do can ngăn vua Hoài Vương không được, lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh, lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên.

9 Doan ngo 2Ngoài ra, có truyền thuyết khác về sự bắt nguồn của ngày tết Đoan ngọ, nhiều nguồn tin cho rằng tập tục tết Đoan Ngọ là bắt nguồn từ Hạ Trí trong thời cổ, có người thì cho rằng, đây là sự tôn sùng vật tổ của người dân vùng sông Trường Giang.

Truyền thuyết Tết Đoan ngọ tại Việt Nam

Vào một ngày sau vụ mùa, nông dân ăn mừng vì trúng mùa nhưng sâu bọ năm ấy lại kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch.

Nhân dân đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản có bánh ú, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau đó sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượt. Lão ông còn bảo thêm : 9 Doan ngo 3Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng.

Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người gọi nó là “Tết Đoan ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ. Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan Ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng như hiện nay.Cung 4

Ý nghĩa Tết Đoan Ngọ

Ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ được được coi là Tết diệt sâu bọ và thờ cúng tổ tiên. Người Việt Nam còn gọi Tết Đoan ngọ là “Tết giết sâu bọ” vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Tết Đoan Ngọ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình sum họp đầm ấm.

Ngoài ra, ngày Đoan Ngọ là ngày dân chúng cúng lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng, đồng thời để cầu bình an.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Logo Xem tu vi

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC