TÍNH CÁCH & HẬU VẬN QUA PHÁP LỆNH

1a LogoTuongso

4-phap-lenh-1ĐOÁN TÍNH CÁCH VÀ HẬU VẬN

QUA ĐƯỜNG PHÁP LỆNH

Đường vân chạy từ hai bên cánh mũi xuống tới cằm được gọi là Pháp Lệnh. Pháp Lệnh là vị trí biểu tượng cho tuổi thọ, năng lực chỉ huy và địa vị của con người trong xã hội.

H1: Theo nghiên cứu trên trang Chinesehoroscop, người sở hữu đường Pháp Lệnh rộng có tính tự lập cao. Họ tự chủ trong cuộc sống của chính mình, sống độ lượng và quan tâm đến người khác.

H2: Pháp Lệnh kép là tướng của người có cá tính mạnh mẽ và khá ương bướng. Họ giỏi hai nghề nên kiếm tiền cũng rất giàu có.

4-phap-lenh-2

H3: Đường Pháp Lệnh dài, chạy vào miệng là tướng của người trường thọ. Nếu đường này dẫn trực tiếp vào miệng thì sẽ gặp khó khăn về tài chính.

H4: Trong khi đó, đường này chạy qua miệng, xuống phía dưới cằm khá lận đận trong sự nghiệp, nhưng khi vượt qua, tương lai sẽ rộng mở.

4-phap-lenh-3H5: Đường Pháp Lệnh chạy qua miệng nhưng tới cằm không bao giời giữ đúng lời hứa nên khó tin cậy.

H6: Người sở hữu đường Pháp Lệnh ngắn, từ cánh mũi cho tới miệng khó sống qua tuổi 59. Vì vậy, những người này nên chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe.

H7: Đường Pháp Lệnh hướng lên trên, không xuống phía dưới cho thấy chủ nhân không có khả năng chịu áp lực nên thường xuyên rơi vào trạng thái căng thẳng.

4-phap-lenh-4H8: Pháp Lệnh đứt đoạn là người thiếu trách nhiệm, thường xuyên bỏ dở công việc giữa chừng.

H9: Đường Pháp Lệnh thường xuất hiện sau tuổi 30. Người nào sau tuổi 40 chưa có đường này thì khó có tiền đồ. Họ có tư tưởng an phận, không có tinh thần cầu tiến. (Viet Bao theo Kiến Thức)

Xuân Mai chuyển tiếp

9-chi-tay-1a

BẠN SẼ  BIẾT VẬN MỆNH

QUA 4 ĐƯỜNG CHỈ TAY

CƠ BẢN

Chỉ với một vài hiểu biết cơ bản về 4 đường chỉ tay chính này đã giúp bạn “nhìn thấu” cả cuộc đời mình rồi.

1/- Đường trí đạo (đường trí tuệ)

Đường trí đạo hay còn gọi là đường trí tuệ, đường học hành hay đường công danh. Ngoài ra, đường chỉ tay này còn thể hiện khả năng tư duy, sáng tạo và những khả năng đột phá của bạn.

H1: Đường trí đạo đậm và thẳng tiết lộ bạn là người sống thực tế, 9-chi-tay-1bchủ động và khá tham vọng trong về vật chất.

Đường trí đạo đậm và thẳng tiết lộ bạn là người sống thực tế, chủ động và khá tham vọng trong về vật chất. Bạn luôn có trách nhiệm với bản thân và người khác. Thậm chí nhiều chủ nhân của đường chỉ tay này còn tự lên kế hoạch chi tiết cho cả cuộc đời mình và không ít người đã thực hiện được.

H2: Đường trí đạo kéo xuống lòng bàn tay, đậm và không đứt nét cho thấy bạn là người có trực giác tốt.

9-chi-tay-1cĐường trí đạo kéo xuống lòng bàn tay, đậm và không đứt nét cho thấy bạn là người có trực giác tốt, một số có thiên bẩm về nghệ thuật. Những người sở hữu đường này con đường học hành suôn sẻ, công danh xán lạn và thành công rực rỡ không phải là điều đáng ngạc nhiên.

H3: Đường trí đạo phân nhánh ở cuối cho thấy bạn là người có khiếu ăn nói, là “bậc thầy” trong các mối quan hệ.

Đường trí đạo phân nhánh ở cuối cho thấy bạn là người có khiếu ăn nói, diễn đạt ý tưởng một cách trọn vẹn, là “bậc thầy” trong các mối quan hệ. Những người này thường thành công trong các công việc như MC, báo chí, diễn viên,..

9-chi-tay-2a2/- Đường tâm đạo (đường tình duyên)

Đường này tiết lộ những tâm tư, tình cảm của bạn trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè và đôi lứa.

H4: Những người sở hữu chỉ tay này đa số thuộc tuýp trung tính, điềm đạm.

Đường tâm đạo qua hết lòng bàn tay, đậm, thẳng và không chẻ nhánh cho thấy bạn là người có tính cách ngay thẳng, trung thực, do đó thường gặp thuận lợi trong các mối quan hệ. Những người sở hữu chỉ tay này đa số thuộc típ trung tính, điềm đạm, được dự đoán sẽ hạnh phúc và viên mãn chuyện hôn nhân gia đình.

H5: Đường tâm đạo dài nhưng lại mảnh và bị đứt đoạn tiết lộ tính cách mềm yếu về tình cảm của bạn.

Đường tâm đạo dài nhưng lại mảnh và bị đứt đoạn tiết lộ tính cách mềm yếu về tình cảm của bạn. Bạn hay do dự, đắn đo và quá mềm lòng trước hoàn cảnh của người khác do đó trong tình yêu thường dễ bị lợi dụng hoặc lừa gạt. 9-chi-tay-2bChính vì thế, mặc dù trải qua không ít mối tình trong cuộc đời nhưng lại chẳng đi đến đâu.

H6: Chủ nhân của đường tâm đạo này thường không chung thủy trong tình yêu.

Đường tâm đạo uốn lượn ở vị trí quá thấp hoặc quá cao nói rằng bạn là người phóng khoáng, tự do, thích trải nghiệm thách thức, muốn làm chủ cuộc đời mình. Chính vì khao khát những điều mới lạ nên chủ nhân của đường tâm đạo này thường không chung thủy trong tình yêu.

3/- Đường sinh đạo (Đường sức khỏe)

Đường sinh đạo mách bảo sức khỏe, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống 9-chi-tay-3acũng như những sự kiện đặc biệt trong cuộc đời bạn.

H7: Đường sinh đạo cong, dài và đậm dự báo sức khỏe của bạn cực kì tốt, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng

Đường sinh đạo cong, dài và đậm dự báo sức khỏe của bạn cực kì tốt, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng. Những người có đường chỉ tay này đa số luôn có thói quen tập thể dục thể thao và quan tâm đến chế độ ăn uống hợp lí.

H8: Đường sinh đạo ngắn, hơi duỗi và nhạt là người không có chính kiến, bị thụ động trong cuộc sống.

Đường sinh đạo ngắn, hơi duỗi và nhạt là người không có chính kiến, 9-chi-tay-3bbị thụ động trong cuộc sống. Cuộc sống của những người có chỉ tay này thường bình ổn, an yên và không có nhiều sóng gió.

H9: Đường sinh đạo nhạt và bị đứt đoạn và chẻ nhánh thể hiện tính cách phóng khoáng, thích phiêu lưu, mạo hiểm của bạn.

Đường sinh đạo nhạt và bị đứt đoạn thể hiện tính cách phóng khoáng, thích phiêu lưu, mạo hiểm của bạn. Luôn muốn thay đổi và di chuyển, do đó cuộc sống bạn thường có nhiều biến cố bất ngờ.

H10: Đường sinh đạo cong vòng, ôm sát vào ngón tay cái là người hướng về quê hương.

Đường sinh đạo cong vòng, ôm sát vào ngón tay cái là người hướng về quê hương. Dù “bôn ba” bao nhiêu nơi, trải qua bao nhiêu sắc màu trong cuộc sống họ vẫn muốn trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

9-chi-tay-4a4/- Đường định mệnh (Đường số phận)

Đường định mệnh thể hiện những điều liên quan đến sự nghiệp, công việc, những kế hoạch và định hướng trong cuộc sống.

H11: Đường định mệnh dài, đậm nét cho thấy bạn là người người lập nghiệp và có xu hướng lập nghiệp từ sớm.

Đường định mệnh dài, đậm nét cho thấy bạn là người người lập nghiệp và có xu hướng lập nghiệp từ sớm. Bạn thường mang lại nhiều sự giúp đỡ và hỗ trợ cho người thân trong gia đình và bạn bè.

H12: Đường định mệnh bị đứt đoạn, nhạt màu cho thấy bạn là người dễ thay đổi.

Đường định mệnh bị đứt đoạn, nhạt màu cho thấy bạn là người dễ thay đổi và thường 9-chi-tay-4bxuyên bị ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài. Vì không có chính kiến nên trong sự nghiệp của bạn thường gặp nhiều bất trắc.

H13: Cuộc đời gặp suôn sẻ hay hoạn nạn phụ thuộc vào cách bạn lựa chọn giữ những người ở bên cạnh.

Đường định mệnh cắt ngang các đường khác dự báo cuộc sống phía trước của bạn chịu tác động và chi phối của nhiều người khác xuất hiện trong cuộc đời bạn. Cuộc đời gặp suôn sẻ hay hoạn nạn phụ thuộc vào cách bạn lựa chọn giữ những người ở bên cạnh.

H14: Đường định mệnh hướng thẳng lên trên gần hoặc giữa ngón trỏ và ngón giữa mách bảo tiềm năng và cốt cách lãnh đạo của bạn.

Tr Thay boi 4Đường định mệnh hướng thẳng lên trên gần hoặc giữa ngón trỏ và ngón giữa mách bảo tiềm năng và cốt cách lãnh đạo của bạn. Bên cạnh đó, con đường tiến thân của bạn cũng cực kì thuận lợi.

H15: Đường định mệnh đôi tức nói rằng trong tương lai bạn có thể cùng lúc có hai sự nghiệp hoặc công việc.

Đường định mệnh đôi tức (hai đường định mệnh chạy song song nhau), nói rằng trong tương lai bạn có thể cùng lúc có hai sự nghiệp hoặc công việc. Điều đó đem lại cho bạn cuộc sống sung túc nhưng cũng khiến bạn thường xuyên mệt mỏi và căng thẳng. (Ngọc Linh theo Thegioitre)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo TG tam linh

24 ĐIỀU HUYỀN BÍ VÀ CẤM KỴ

VỀ TÂM LINH MÀ BẠN NÊN BIẾT

24 điều huyền bí và cấm kỵ về tâm linh mà bạn nên biết. Đây là một số trong những “điều kiêng kỵ” dễ gặp trong cuộc sống hàng ngày của các bạn. Động cơ đằng sau những điều kiêng kị này luôn luôn là tốt, đôi khi chúng có thể nghịch lý thông thường. 2-huyen-bi-1Các bạn có thể loại bỏ những điều này nếu thấy chúng vô nghĩa? Hoặc chúng ta nên để ý và tránh chúng bởi vì “có kiêng có lành”.

Tập hợp ở đây là một số những điều kiêng kị phổ biến để bạn có thể biết và cân nhắc chúng :

1/. Trong nhà có người chết vì treo cổ, thì khi lấy tử thi xuống phải lấy sợi dây đó đốt ngay. Đây là câu chuyện có thật, nếu nhà nào đó có người treo cổ chết nhưng không đốt sợi dây đó đi thì một năm sau cũng nhà đó có người chết treo cổ củng ở ngay vị trí ấy, chính vì thế đó được coi là sợi dây oan nghiệt, nếu không đốt đi thì nó vẫn luẩn quẩn quanh nhà đó và cứ mỗi năm thay phiên nhau chết.

2/. Nếu đi đám ma lỡ người quá cố ấy có xinh gái hay đẹp trai thì không được khen, vì nếu khen thì học sẽ đi theo mình.

3/. Người khắc tuổi với người chết trong lúc động quan hoặc hạ huyệt thì không được dòm dù là người thân. Vì như vậy sẽ làm cho người chết khó siêu thoát.

4/. Ban đêm không được sơn môi, làm mặt rồi đi ngủ, bởi hồn sẽ sợ chạy mất.

2-huyen-bi-25/. Khi tẩm liệm thì không cho con mèo nào đến gần người chết,không cho con mèo nhảy qua mình người chết, nhất là lọai mèo Linh Miêu. Vì sao không cho mèo đến gần người chết hay nhảy qua vì lý do như sau: Khi mèo đến gần tử thi nó sẽ bắt hồn người chết và khi mà nó nhảy qua thì xác chết bật dậy.Theo khoa học ngày nay cho rằng đó là do lông mèo có điện.

6/. Rớt đồ xuống sông phải nhặt lên, nếu không là bị mắc đằng dưới.

7/. Người nào có tang (khăn tang) trong người thì không nên tới nhà những người bạn hay người thân vì sẽ “lây” cái tang và đem điều không may đến cho họ.

8/. Sau khi an táng, trong vòng 1 tháng ban đêm có ai gọi tên mình thì tuyệt đối không được trả lời, không được mở cửa, không được thưa gởi gì hết. Thông thường người chết vì quá thương tiếc người thân của mình nên về bắt người thân đi theo.

9/. Buổi tối, không chơi năm mười, hay còn gọi là cút bắt (trốn tìm) sau 10h, bởi khi chơi, xui xẻo sẽ bị ma dấu.

10/. Đi ngủ cũng vậy. Đầu không được hướng ra đường, hoặc ngủ quay đầu vô bàn thờ. Bởi có hai lý do: 2-huyen-bi-3Một là đầu hướng ra đường đó là tư thế nằm của người chết. Hai là khi ngủ hồn của ta xuất ra nếu hướng ra đường thì hồn của ta sẽ đi luôn ra đường.

11/. Không mặc đồ trắng quá 12h, bởi dễ bị vong theo.

12/. Không phơi đồ ngoài sân vào ban đêm, bởi nếu không các linh hồn lang thang sẽ bị cám dỗ “gắn bó” với quần áo và “ám” những người mặc chúng, hơn nữa dễ bị sương gió ngoài trời thấm vào và gây nên bệnh. Việc giặt và treo nên được thực hiện khi có ánh nắng mặt trời vì chúng rất có lợi.

13/. Không được gõ chén khi ăn, bởi người ta quan niệm rằng khi ăn mà gõ chén sẽ gọi ma đói tới.

14/. Không bao giờ được mang những quả lê làm quà khi đến thăm người bệnh trong bệnh viện vì đây là một biểu 2-huyen-bi-4tượng liên quan đến sự chia lìa, chết chóc.

15/. Không tặng quà với số lượng bốn, vì số bốn có âm thanh như “cái chết”. Nếu bạn muốn mang quà khi đi thì nên chọn các loại bánh kẹo hoặc sôcôla.

16/. Chưa ăn không được để đũa trên chén, vì giống cúng người khuất mặt.

17/. Tránh huýt sáo vào ban đêm: Bạn có thể đi bộ và cảm thấy hạnh phúc, khi đó bạn có thể bắt đầu một cách vô thức huýt sáo một giai điệu nào đó. Theo những người lớn tuổi, làm như vậy chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của những linh hồn lang thang, sau đó bám theo bạn về nhà.

18/. Không chải tóc lúc nửa đêm: Quan niệm của ông bà ta, khi chải tóc lúc nửa đêm là chải cho ma xem.

19/. Trước khi cúng không được ăn vụng.

20/. Không mua bán đinh vào ban đêm: Các bạn cứ thử vào 7h tối tới tiệm tạp hóa mua đinh, đảm bảo chủ quán sẽ ko bán.

21/. Đi vào nơi có mồ mả không được nói bậy: Cho nên thường đi thanh minh hay tảo mộ, người ta kỵ không cho con nít theo,vì con nít còn nhỏ thường thắc mắc tò mò, đôi khi lại nói bậy, người lớn cũng vậy khi vào nơi mồ mã cũng không nên nói bậy.

22/. Không ngủ chung mèo đen bởi nó sẽ không cho hồn bạn nhập vào xác bạn.

2-huyen-bi-523/. Không soi gương chải đầu trên xe bởi bạn sẽ mang lại sự rắc rối cho nhà xe và tất cả mọi người trên xe.

24/. Không lật mình cá: Tài xế, người đi biển nếu bạn để ý thì họ ăn cá như sau: Ăn xong một bên mình con cá thì họ rút xương con cá lên ăn tiếp chứ không có lật mình con cá lại vì lật mình con cá theo những người làm tài xế thủy thủ sẽ có điềm gở, lật xuồng, lật xe, lật tàu. (Phạm Tuyên theo Thoiviet)

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo Xem tu vi

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

XEM TƯỚNG NÀNG NGỒI

Logo Nhan tuong

8 Dang ngoi 1DÁNG NGỒI THỂ HIỆN

CHUYỆN ‘YÊU’ CỦA PHỤ NỮ

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng tư thế ngồi cũng phần nào thể hiện tính cách và đặc điểm của chị em trong chuyện chăn gối.

1/. Ngồi bắt chéo chân : Những phụ nữ ngồi kiểu này thường là mẫu người tự tin, cho mình là trung tâm vũ trụ. Với cá tính mạnh, họ không bao giờ chấp nhận sự sắp đặt của người khác, và luôn đề cao nữ quyền. Trong các mối quan hệ xã hội, họ đối xử với mọi người rất chân thành nên được nhiều bạn bè, đồng nghiệp yêu quý. Tuy vậy, để chinh phục được họ lại là một vấn đề vô cùng nan giải và khó khăn.

Bình thường, những người phụ nữ này rất cẩn trọng trong lời nói và hành động, nhưng trong chuyện chăn gối lại suy nghĩ rất phóng khoáng và không mấy khắt khe. Họ cũng thường khá chủ động trong chuyện yêu.

2/. Hai chân khép song song, hơi nghiêng sang một bên : Những người phụ hay ngồi theo kiểu này thường rất nữ tính, cầu toàn và coi trọng hình thức. Nếu bạn không phải mẫu đàn ông tài giỏi và kiên nhẫn thì khó lòng chiếm được tình cảm của họ.

8 Dang ngoi 2Với bản chất nữ tính và có phần sâu lắng nên họ không thích những tình huống quá nhanh chóng và quyết liệt. Khi người đàn ông tỏ ý muốn thử một cảm giác mới mẻ, họ thường sẽ khéo léo từ chối. Có thể nói, mẫu phụ nữ này luôn tìm kiếm sự hoàn mỹ ngay cả trong chuyện chăn gối.

3/. Ngồi hai chân mở rộng : Đây là tuýp phụ nữ thoải mái, phóng khoáng. Họ độc lập trong suy nghĩ và rất quyết đoán. Ấn tượng ban đầu về những người phụ nữ này là rất dễ kết thân với họ, họ thường có nhiều người bạn thân khác giới, nhưng dần dần bạn sẽ bị sự mạnh mẽ, độc lập của họ hấp dẫn đến nỗi không thể thoát ra được.

8 Dang ngoi 3Sự chủ động của họ nhất định không làm bạn thất vọng. Khi quan hệ, họ có rất nhiều yêu cầu, tuy không nói ra nhưng bạn cần tự hiểu và điều chỉnh cho thích hợp.

4/. Đầu gối để sát vào nhau, hai cẳng chân tạo thành hình chữ V : Đây là dáng ngồi thường thấy của những cô nàng ngây thơ và đáng yêu. Đàn ông rất dễ bị vẻ đáng yêu của họ thu hút, nhưng chính sự bị động và nhiều lúc hơi trẻ con thái quá của họ lại khiến nam giới cảm thấy mệt mỏi và không thoải mái. Tuy nhiên, họ lại thường là sự lựa chọn lý tưởng với những ai muốn có một cô vợ thảo hiền, dễ bảo.

Họ sẽ đóng vai một phụ nữ truyền thống nên rất hợp với tuýp đàn ông gia trưởng. Còn nếu bạn là người ưa sáng tạo thì cần chỉ dẫn cho nàng dần dần, tuyệt đối không nên đốt cháy giai đoạn kẻo làm hỏng mọi chuyện. (theo Khánh Linh)

CHUYỆN VONG NHẬP

THẬN TRỌNG LỜI NÓI KHI RA NGHĨA TRANG

Tôi xin kể một chuyện huyền bí của Dì 5. Cũng vào khoảng 1988, sau chuyện huyền bí của nấc thang thứ 3 trong nhà dì thì có một buổi trưa, khi Dì 5 đang lim dim sắp sửa đi vào giấc mộng thì bỗng…

Cao gioCộc cộc cộc … tiếng gõ cửa dồn dập đánh thức Dì 5 :

– Chị 5 ơi chị 5 !!! Chị có nhà không ?

Mắt nhắm mắt mở vì còn say ngủ, Dì 5 hỏi :

– Đứa nào vậy? Có chuyện gì mà um sùm vậy ?

– Dạ em Tơ đây. Chị 5 làm ơn qua cạo gió dùm anh Tí. Hổng biết ảnh bị trúng gió hay sao mà đang ngồi nói chuyện tỉnh bơ tự nhiên cái… ảnh lăn đùng ra mình mẩy cứng đơ… hổng nhúc nhích hay nói chuyện gì được hết. Hai mắt ảnh thao láo không nháy nhìn lên trần nhà. Hỏi gi cũng không nói.

– Thôi được rồi để chị đi lấy tấm thẻ bài… em đợi chị chút nhe.

– Nhanh lên nhe Chị 5… cả nhà em sợ quá…

Dì 5 vội vã lên lầu tìm tấm thẻ bài đã lâu năm gắn bó với cái tài cạo gió của dì. Khi ra cửa thấy Tơ đang đứng chờ, Dì 5 nói :

– Rồi ! Chúng ta đi coi thằng Tí ra sao.

Đi được khoảng vài bước, Dì 5 sực nhớ ra để quên chai dầu ở nhà nên hỏi Tơ :

– Ý, chị quên… nhà em có dầu để cạo gió không ?

– Có … chị đừng lo. Nhanh lên Chị 5 ơi …

Nhà của gia đình Tí cách nhà Dì 5 có khoảng 10 mét. Vừa bước chân vô nhà và chưa kịp cởi dép ra thì Tí đang trong vị trí nằm dài trên cái đi văng, tự nhiên bật ngồi dậy, nhoẻn miệng cười và nói với giọng nhí nhảnh :

Vong nhap– Em chào chị 5.

Dì 5 do kinh nghiệm về mấy trường hợp vong nhập nên bình tĩnh hỏi :

– Em là ai ? … mà sao lại nhập vào xác phàm này?

– Dạ em là Tuyền, bạn của anh Tí.

– Trời đất ơi, em làm vậy đâu có được. Âm dương cách biệt mà… tình cảm này sẽ không đi tới đâu hết… em có hiểu ý chị không ?

Tuyền trong xác của Tí vội vã lắc tay phân bua :

– Ý ! Chị 5 hiểu lầm rồi… tụi em chỉ là bạn thường thôi… không phải là người yêu.

– Vậy à. Nhưng mà làm sao em quen biết với Tí ?

– Dạ, số là như vầy… em được chôn gần mộ của má anh Tí. Mà mỗi lần anh Tí đến nghĩa trang thăm mộ phần của má ảnh, thì ảnh cứ nhìn qua mộ em và ảnh nói : “… sao em còn trẻ còn đẹp quá mà chết vậy ?” Nên từ đó em mới để ý đến ảnh.

– Vậy em tên họ ra sao và khi chết thì được bao nhiêu tuổi ?

– Dạ em tên Nguyễn Thị Thanh Tuyền. Lúc mất thì là 17 tuổi. Dì 5 hỏi tiếp :

– Vậy em bị bệnh mà mất ?

6 Nghia trang– Dạ không… tại vì em đua xe nên bị tai nạn xe cộ mà mất.

– Vậy tại sao em lại nhập vô Tí bữa nay ?

– Dạ hồi nảy em đi chơi, ai nhè tự nhiên đi ngang qua đây thấy gần nhà anh Tí nên ghé vô thăm ảnh một chút… hihihi !

Suy nghĩ một chút, Dì 5 lại tiếp tục :

– Thôi thấy em còn trẻ, chị nghĩ em nên vào chùa tu học đi. Nếu em muốn thì có thể theo chị qua chùa để chị cầu xin cho em được ở lại chùa để mà tu học chứ cứ như vầy thì biết bao giờ em mới có thể siêu thoát được. Vậy em có muốn đi tu học không ?

Sau một chút lưỡng lự thì Tuyền nói :

– Dạ em chịu … vậy chị 5 giúp dùm em nhe.

Tr bang hoang– Được rồi để ngày mai chị sẽ qua chùa cầu xin cho em được đi tu học. Thôi bây giờ thì em nên trả Tí lại bình thường đi.

– Dạ, vậy em chào chị 5. Cám ơn chị đã giúp cho em … nhưng chị nhớ cầu xin dùm em nhe.

Và liền sau đó thì Tí chớp chớp đôi mắt, rồi đưa mắt nhìn quanh thấy có nhiều người đang ngồi quanh mình, Tí ngạc nhiên hỏi có chuyện gì. Người nhà bèn kể lại sự chuyện cho Tí nghe và Dì 5 có hỏi câu chuyện về mộ phần của cô gái thì Tí đã cho biết sự việc y hệt như lời của cô gái đó đã kể. Và y như lời hứa với cô gái đó, Dì 5 đã qua chùa Linh Quang Tịnh Xá để cầu xin với Chư Vị cho vong của Tuyền được tu học. Từ đó thì Tí được bình thường, không còn hiện tượng giống như ‘trúng gió’ nữa. Sau này có ra nghĩa trang mình phải nên cẩn thận lời nói. (theo Tây Đô đạo sĩ)

Xuân Mai chuyển tiếp

9 Ban tay 1

NHỮNG BÍ MẬT

TRONG BÀN TAY

Trước khi tìm hiểu các đường chỉ chánh, phụ, và những dấu hiệu lạ lùng, uẩn khúc, những lằn cắt ngang dọc, chữ thập, chỗ chấm sâu, nốt ruồi, những điểm đỏ đen, v.v. mọc lên trong bàn tay, chỗ nào, tốt xấu ra sao; chúng ta cũng nên hiểu về hình dáng của bàn tay, và ý nghĩa của nó.

 

Sau đây là một số hình dạng của các bàn tay thường gặp :

1/- Bàn tay ngắn quá : nghĩa là bàn tay không cân đối với cánh tay, hay với một thân hình to lớn quá. Cánh tay dài, hay thân hình to lớn thì phải có bàn tay dài hay to thì mới tương xứng. Người có bàn tay ngắn quá, thì đó là dấu hiệu cho thấy một con người có nhiều tánh tình lạ lùng, kỳ khôi, thường thì việc làm và lời nói không đi đôi với nhau, nói một đường làm một nẻo, hoặc muốn làm khác người.

2/- Bàn tay dài quá, và ngón tay thì gút mắt, kẽ giữa các ngón tay thưa thớt, tướng cao lêu khêu, miệng rộng, răng to, râu thưa : Bàn tay như thế, mà cộng thêm với dáng người như vậy, thì đây là hạng người hay nói nhiều, nói dai, nhưng không có cái gì ăn khớp với cái gì, và hay thù vặt.

3/- Bàn tay dài quá, mà ngón tay lại ngắn, thô kịch, có gút mắt, và ngón tay út cũng quá ngắn : Ðây là hạng người nhẹ dạ, tính tình lại hay thay đổi và quá thiên về vật chất, coi tiền bạc nặng hơn tình nghĩa, hay nói càng nói xiên chẳng vị nể ai cả.

9 Ban tay 24/- Bàn tay đầy đặn và các đường chỉ tay rõ ràng không có những lằn cắt ngang dọc cộng thêm với tướng người cao vừa vặn cân đối, khỏe mạnh, mắt không bị lộ, đây là tướng người có những đức tính tốt, trường thọ, phúc hậu, lời nói bao giờ cũng được suy nghĩ trước khi nói, và phải có lý thì mới phát biểu, chứ không bạ đâu nói đó, nói càng nói bậy.

5/- Bàn tay dài, lòng bàn tay hẹp, ngón tay không đều (ngón to ngón nhỏ, ngón mập ngón ốm) cong quẹo, đầu ngón tay cái nhọn vót, móng tay cứng, những đường chỉ trong lòng bàn tay không rõ ràng : ta đoán được những người như vậy có tính thái quá, thiếu chừng mực trong mọi việc, bạ đâu vui đó, không thủy chung, có khi còn càn bướng và láo khoét nữa.

6/- Bàn tay hơi vuông, đầu ngón tay cái và các ngón khác cũng hơi vuông, lòng bàn tay cứng và có ba dường chỉ chính (Sanh đạo, Trí đạo, và Tâm đạo – sẽ nói về sau) rõ ràng. Cộng thêm ngón út dài, chiều dài của ngón út (mở bàn tay ra và khép các ngón tay lại) dài hơn hai lóng của ngón áp út (ngón đeo nhẫn), đầu ngón út hơi tròn và có vành cao lên. Ðây là bàn tay của người siêng năng cần mẫn, việc làm rất chu đáo, biết xắp xếp, điều hòa mọi việc, biết giữ lời hứa, ít nói, tánh tình ngay thẳng, cương trực, đứng đắn, họ chịu đựng được môi hoàn cảnh của cuộc đời, cần kiệm, sống lâu, ăn uống hay chưng diện không lòe loẹt, đơn giản.

Chi tay 37/- Bàn tay với lòng bàn tay cứng dẽ, các ngón tay hơi ngắn, móng cứng, có chỉ Tâm đạo xỉa xuống giữa ngón trỏ và ngón giữa : đây là bàn tay của người có tánh lì lợm, kỳ khôo. ít chịu phục tùng ai bao giờ, dầu cho lý lẽ của họ có sai bét đi chăng nữa, họ cũng không chịu thua. Vì sự cố chấp và cứng đầu của họ, nên cuộc đời họ gặp nhiều sóng gío, nhiều lần suy xụp, đảo điên.

8/- Bàn tay mà mỏng manh, ngón tay ngắn quá, lưng bàn tay xanh xao, da mặt cũng xanh xao, răng thưa và hô, tướng ốm, tóc sợi nhỏ, lỗ mũi nhỏ và lộ xương, xương cuống họng ló ra dài, người như vậy rất có thể mang chứng bệnh lao, và chết yểu .

9/- Bàn tay vuông, các ngón tay cũng vuông, lòng bàn tay cứng dẽ,có một đường chỉ (tâm đạo) nằm vắt ngang bàn tay như chữ nhất (-) đây là bàn tay của những người tánh tình nghêng ngang, hay gây sự, kiêu căng, phách lối, nhưng lại hay làm bộ hiền lành. Phần nhiều những người này lại hay sợ … vợ.

10/- Trái lại, bàn tay cũng có đường chỉ (tâm đạo) nằm ngang, nhưng lòng bàn tay thì mềm mại và các ngón tay cân đối, ngón tay cái dài, lóng thứ nhất của ngón cái vừa dài lại vừa vuông, đầu ngón trỏ hơi vuông, ngón tay út dài, và đầu ngón cũng hơi vuông – tướng người to béo, nước da trắng, pha đen, tiếng nói lớn và vang vang. Người như vậy thường là những người có chí sưu tầm những gì tỉ mỉ, trầm tĩnh, ít nói, nếu họ là bậc trí thức, thì họ có những đặc tài riêng, nhưng nhẹ dạ và nhát gan. Nữ giới mà người nào có đường chỉ nằm ngang lòng bàn tay như vậy là người hay hờn lẫy, và ghen tuông. Tóm lại, tất cả người nào có chỉ Tâm đạo nằm trọn ngang bàn tay thì họ là những người quá hà tiện đến độ bần, và cũng thường có những chứng bệnh về bộ phận tiêu hóa như ruột, dạ dày, hoặc yếu tim, phổi v.v.

Lan Hương chuyển tiếp

LONG MẠCH VUA CHÚA VIỆT NAM

‘PHÁT’ NHƯ THẾ NÀO ? 

Phép phong thủy phân biệt hình thế của đất làm năm loại : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Tùy theo thế đất và hình dáng của cuộc đất giống con vật gì, để theo đó đặt tên, tiên đoán lành dữ cho những ai sử dụng cuộc đất ấy, như : lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thủy, hổ trục quần dương, hoặc quần tiên hội ẩm (được xem là những cuộc đất quý).

Thực hư Cao Biền trấn yểm thành Đại La

Theo tư liệu lịch sử và phong thủy, Cao Biền khi sang xâm lấn nước ta đã tiến chiếm thành Đại La và cho đắp lớn thành này cao đến 2 trượng 6 thước, chu vi hơn 1982 trượng, trên thành xây 55 vọng gác, với nhiều điểm phòng vệ quân sự. Để làm rào chắn cho thành Đại La, Cao Biền đã tập trung các hộ ở vây quanh với bốn vạn căn nhà. Là người giỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cát hung, 9 Phong thuy 1nên Cao Biền đã dò xét rất kỹ vị trí để xây thành Đại La (mà sau này vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long đã cho xây mới lại) và dò tìm đầu mối long mạch nước ta.

Nhắc đến vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn), nhắc đến thành Đại La và kinh đô Thăng Long, vì đều liên quan đến việc Cao Biền sử dụng những thuật lạ của phong thủy để trấn yểm và tiêu hủy khí tượng đế vương ở nước ta thời ấy theo lệnh của vua Đường Ý tông (860 – 873). Tài liệu ghi, khi Đường Ý tông quyết định cử Cao Biền sang nước ta, đã ngầm bảo : “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”.

Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh, thì đều yểm cả. 9 Phong thuy 2Riêng núi Tản Viên là Cao Biền không dám đụng tới vì cho rằng đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.

Trong những nơi mà Biền nhắm đến có một điểm khá quan trọng, đó là làng Cổ Pháp – nơi sẽ sinh ra bậc đế vương của trời Nam. Vì thế, sau nhiều ngày chú tâm xem xét về cuộc đất toàn vùng,Cao Biền cùng các thầy pháp và thầy địa lý của Trung Quốc đã ra tay “cắt đứt long mạch” bằng cách đục đứt sông Điềm và 19 điểm ở Phù Chấn để yểm.

La Quý nối chỗ đứt long mạch

Nhưng mưu thâm độc của vua Đường và Cao Biền trong việc phá hủy thế phong thủy và làm tan khí tượng đế vương ở nước ta đã bị một thiền sư thời ấy là ngài La Quý phá tan.

Ngài La Quý là trưởng lão tu ở chùa Song Lâm, thuở nhỏ du phương tham vấn khắp nơi, sau đến gặp pháp hội của thiền sư Thông Thiện liền khai ngộ. Khi đắc pháp, ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.

Trước khi mất, vào năm 85 tuổi (năm 936), ngài gọi đệ tử truyền pháp là Thiền Ông đến căn dặn : “Ngày trước, Cao Biền đã xây thành bên sông Tô Lịch, dùng phép phong thủy, biết vùng đất Cổ Pháp của ta có khí tượng đế vương, nên đã nhẫn tâm đào đứt sông Điềm và khuấy động 19 chỗ trấn yểm ở Phù Chẩn. Nay ta đã chủ trì lắp lại những chỗ bị đào đứt được lành lặn như xưa”.

Tr Thay boi 4“Trước khi ta mất, ta có trồng tại chùa Châu Minh một cây bông gạo. Cây bông gạo này không phải là cây bông gạo bình thường, mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đứt trong long mạch, mục đích để đời sau sẽ có một vị hoàng đế ra đời và vị này sẽ phò dựng chính pháp của chư Phật”.

Vị hoàng đế mà ngài La Quý báo trước là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn mồ côi từ nhỏ, được sư Khánh Vân đem về chùa nuôi, lớn lên Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy và sau này lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ, mở ra thời đại hộ pháp hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam… Như vậy, thuật phong thủy với khí tượng đế vương của các vùng đất đã liên quan nhiều đến lịch sử Việt Nam từ xa xưa.

Đến đời Lê, có ngài Nguyễn Đức Huyên sinh tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh, là người lặn lội học khoa địa lý phong thủy tận nơi khai sáng của khoa này trên đất Trung Hoa và cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách địa lý lưu truyền đến nay. Ngài là danh nhân có tên gọi quen thuộc không những trong dân gian mà cả giới nghiên cứu nữa: Tả Ao.

Tả Ao đã phân tích, nêu rõ hình các cuộc đất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng như việc tìm long mạch ra sao. Xin nêu ra đây đoạn nhỏ trong sách “Tả Ao địa lý toàn thư” do Cao Trung biên dịch, đại ý nêu hai mạch: Mạch dương cơ và Mạch âm phần. Mạch dương cơ nếu nhỏ thì dùng làm nhà, nếu lớn hơn làm doanh trại, hoặc rộng và tốt có thể dùng làm thị trấn, xây kinh đô. Còn Mạch âm phần dùng chôn cất.

Đại cương là vậy, về chi tiết còn có nhiều loại mạch khác, như Mạch mã tích tức mạch chạy như vết chân ngựa, lúc cạn lúc sâu; Mạch hạc tất tức mạch ở giữa nhỏ, hai đầu to ra dần, như gối của con hạc; Mạch phong yếu tức mạch nhỏ nhắn, phình ra to dần như lưng con ong; Mạch qua đằng tức mạch không chạy thẳng mà ngoằn ngoèo như các thân cây bí cây bầu, có khả năng kết được bên trái hoặc bên phải đường đi của mạch nên được xem là loại mạch quý. 9 Phong thuy 3Đất kết có hai loại: một loại dùng chôn xương người chết và một loại để người sống ở đều tốt.

Riêng đất để người sống ở, sách Tả Ao địa lý toàn thư đã đề cập đến đất dương cơ liên quan tới lịch sử nước ta: Trừ nhà Hùng Vương được đất quá lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời, nên quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà Nội. Lý Công Uẩn nghe theo, dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được tám đời; và sau đó nhà Trần và hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm kinh đô, nên bền vững lâu dài hơn”.

Nếu cơ nghiệp nhà Lý mở đầu bởi vị hoàng đế xuất thân từ vùng địa linh Cổ Pháp (Lý Công Uẩn) thì đất phát vương của nhà Trần lại nằm cách đó khá xa, về phía Đông của thượng nguồn sông Phổ Đà.

Một cuộc “tầm long”

Mãi đến đầu thế kỷ 18, sau gần 900 năm xảy ra sự kiện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, một tài liệu của Trung Quốc với tựa đề “Cao Biền di cảo” (cùng một số cuốn khác trước kia như An Nam cửu long kinh chẳng hạn), nhắc việc Cao Biền sau khi đem 5.000 quân vượt biển tiến về hướng Nam năm 865 (được chi viện thêm 7.000 quân nữa vào năm sau 866) đã đánh  chiếm nước ta và lập bàn đồng giữa trời, dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp thần bí để “tầm long” ráo riết.

9 Phong thuy 4Vậy “tầm long” là gì? Tầm long là phép tìm kiếm long mạch ngoài đất trống, như cụ Tả Ao chỉ rõ : “Chẳng qua ra đến ngoài  đồng/ Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường” và được học giả Cao Trung qua hằng chục năm nghiên cứu sách địa lý của Tả Ao giải thích rõ đại ý dưới đây :

Long mạch là mạch đất bên trong có chứa khí mạch, giống như trong cành cây có chứa nhựa cây, nó có thể chạy qua  những dãy đồi núi cao, cũng có thể đi rất thấp, luồn qua sông qua suối, thậm chí qua biển, rồi đột ngột nhô lên với những thớ đất lắm khi uốn lượn sà sà trên mặt ruộng như hình con rồng đang cuộn mình vươn tới để ôm chầu vào một huyệt đất nào đó (gọi là long nhập thủ).

Nơi đó có thể hạ huyệt chôn cất, hoặc cải táng mồ mả cha ông để con cháu đời sau phát vương, phát tướng, phát trạng, phát tài lộc phú quý. Trước huyệt kết có đất  nổi  lên  cao  che  chắn (gọi là án), hoặc  có gò bao quanh kết hình ấn kiếm, ngựa voi, chiêng trống (gọi là sa).

“Tả Ao địa lý toàn thư” ghi rõ muốn tầm long cần  phải  biết : Thái tổ sơn của toàn thể các cuộc đất xuất phát từ dãy Himalaya, phải biết Minh đường là nơi nước tụ trước huyệt để nuôi khí lành, biết Thanh long là thớ đất bên trái huyệt và Bạch hổ là thớ đất bên phải huyệt, cả hai ôm chầu  vào huyệt  kết, biết về long sinh (mạch sống động như mãng xà vương đang phóng tới), long tử (mạch nằm ngay đơ như chiếc đũa tre), long cường (mạch nổi to như sóng lớn), long nhược (mạch lặng lờ như sóng nhỏ lăn tăn).

Những điều trên chắc hẳn Cao Biền đã ứng dụng trong cuộc “tầm long” trên toàn cõi nước ta để trấn yểm, nhưng đất phát vương của 12 đời vua Trần (chưa kể thêm đời hậu Trần) đã tồn tại vượt lên ý đồ của Cao Biền. Đó là vùng đất ở nguồn sông Phổ Đà, 9 Phong thuy 6tức sông Luộc, nằm trên địa phận thôn Lưu Gia (thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay).

Phát vương trên đất kết

Đến  với vùng  đất  đó buổi  sơ khai có 3 anh em nhà họ Lưu, gồm : Lưu Khánh Đàm, Lưu  Ba, Lưu  Lượng. Về sau, cả ba người đều làm quan, trong đó Lưu Khánh Đàm được vua Lý Nhân Tông trọng dụng (khi vua sắp mất vào tháng chạp năm Đinh Mùi 1127 đã cho gọi Đàm vào nhận di chiếu để cùng Lê Bá Ngọc đưa hoàng thái tử là Lý Thần Tông lên ngôi trước linh cữu). Tên tuổi của Lưu Khánh Đàm (và Lưu  Ba) đều được Ngô Sĩ Liên nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thư”.

Đó là dòng họ thứ nhất tìm đến cư ngụ tại vùng đất phong thủy ở nguồn  sông Luộc. Dòng họ thứ hai đến với đất phát vương là nhà họ Tô chuyên buôn tơ lụa, giàu  có nhất nhì trong vùng. Nhưng cả hai họ Lưu và họ Tô cũng chỉ dừng lại ở mức quý tộc, cự phú, chứ không phát vương được. Mà phải đợi đến họ Trần xuất hiện thì “đất kết” mới ứng lên một dòng vương giả mới bắt đầu từ sự có mặt của một người đến từ hương Tức Mặc, xứ Hải Thanh, đó là Trần Hấp.

9 Phong thuy 7Trần Hấp sinh được 2 con trai là Trần Lý (lý là cá chép) và Trần Thiện. Trần Lý lớn lên kết hôn với Tô Thị Hiền 15 tuổi, thế là hai họ Trần và Tô kết sui gia và tạo thành thế lực mạnh nhất trong vùng. Trần Lý có người bạn họ Phùng rất giỏi về khoa địa lý, được dân chúng kính nể, thường gọi là “thầy Phùng”.

Ông là người biết rõ kiểu đất “hậu sinh phát đế” ở thôn Lưu Gia, mà tiến sĩ Đinh Công Vĩ đã ghi  lại trong cuốn “Chuyện tình  vua  chúa  hoàng  tộc Việt Nam” khá thuyết  phục  như sau : “Ba mũi nhọn  chồng lên nhau này là núi Tam Đảo với ba ngọn Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị. Đấy là Tổ sơn, long mạch của nó chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, thấp dần rồi chìm qua sông Thiên Đức (tức sông Đuống), đến làng Hà Liễu của châu Đằng mới đột khởi nổi lên một ngọn núi khác.

Rồi từ đấy, long  mạch  lại chạy tiếp từ làng Nhật Cảo đến làng Thái Đường, kết lại ở gò Sao. Phía trước gò ấy có ba gò lớn là Tam thai, phía sau có bảy gò nhỏ là Thất tinh, xung quanh có đầm nước bao  bọc, khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng như gương phản chiếu, đối mặt với các cù lao nhỏ hình đẹp như những bông sen đang nở,  đấy là một trong 27 kiểu đất hậu sinh phát đế”.

9 Phong thuy 8Khi phát hiện ra chỗ đất kết, thầy Phùng đã bàn với Trần Lý nên cải táng mộ ông bà của họ Trần về chôn ở đó. Vì sao thầy Phùng lại không thể dùng chỗ đất kết để chôn ông bà mình? Theo thầy và nhiều nhà phong thủy khác, người tìm ra long mạch và chỗ huyệt kết chưa hẳn là người có thể cải táng thân nhân của mình để con cháu phát vương được, vì cần phải ứng đúng mệnh số nữa.

Thầy  Phùng biết họ Trần sắp phát và đã kể lại chi tiết bí mật liên quan đến câu chuyện phong thủy ở gò Sao cho con mình là Phùng Tá Chu (cũng là một nhân vật lịch sử) được biết: Vào ngày lập thu, mộ hiển thủy  tổ khảo ở Tức Mặc và hiển thủy tổ tỷ ở Lưu Gia của dòng họ Trần đã dời chuyển đến gò Sao song táng, công  việc hoàn  tất đúng giờ chính Hợi.

9 Phong thuy 5Những người tham gia rà soát các vị trí và hình thể của long mạch lần cuối để đặt la bàn xác định nơi hạ huyệt cũng như hướng cải táng đều là người họ Trần. Chỉ duy nhất có thầy Phùng biết chuyện. Xong việc, bên trên mộ được san phẳng y như cũ để không lộ ra dấu vết.

Sau cuộc lễ chưa lâu, vào giữa một đêm rằm sáng trăng, thái tử Sảm (tức vua Lý Huệ Tông sau này) từ Thăng Long chạy loạn đến vùng Lưu Gia đã tình cờ trông thấy và nhanh chóng say mê cô con gái xinh đẹp của Trần Lý là Trần Thị Dung, lúc ấy mới 15 tuổi (là chị em chú bác ruột với Trần Thủ Độ), rồi cưới Dung. Đây là sự kiện mở đầu cho một loạt biến cố tiếp đó để vương quyền nhà Lý chuyển sang tay nhà Trần. (theo BTV)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

NỐT RUỒI TRÊN THÂN PHỤ NỮ

1a LogoTuongso

Thien AcNỐT RUỒI

TRÊN THÂN THỂ

PHỤ NỮ

Thông thường ai cũng có nốt ruồi. Nốt ruồi có màu vàng lạt hay màu nâu v.v. Nốt ruồi phải thật đen hoặc thật đỏ mới tốt. Nốt ruồi đỏ còn gọi là nốt ruồi son. Sau đây là vị trí và ý nghĩa của một số nốt ruồi trên cơ thể phụ nữ (mặt trước) để các bạn tham khảo.

1/- Nốt ruồi mọc nổi cao hoặc chìm tại giửa yết hầu : Nổi : nam nữ đô năng đắc giai ngẫu, bất kể nam hay nữ có nốt ruồi này đều tốt đẹp về mặt lương duyên. Hạnh phúc và hoạt động đều vượt bậc, chồng nói vợ nghe rất thuận thảo. Chìm : hôn nhân sớm quá đều bất lợi, lấy chồng sớm ắt có người phải chết sớm.

2/- Nốt ruồi mọc ngay dưới yết hầu : Nổi : tính ưa nay đây mai đó, không ở yên nơi quê quán, dong duổi trên đường trường. Chìm : dễ bị tai ương về xe cộ

5 Not ruoi 13/- Nốt ruồi bên vai phải : Kể cả nổi hay chìm : người rất thận trọng,đôi khi trở thành tư lự xấu xa, vì quá thủ phận mà thành ra có tính khiếp nhược, thận trọng ,nhi tâm tư lự chi tướng

4/- Nốt ruồi mọc trên vai trái : Nổi + Chìm : ưa sự luận bàn phải quấy, thích đi quá mức với bổn phận của mình, thành ra con người trở thành cứng cỏi, tranh khôn khiến cho người khác thù hiềm.

5/- Nốt ruồi mọc tại nhũ bộ, trên đầu vú hoặc bên ngoài quầng vú, kể cả mọc chìm hay nổi. Nếu mọc bên vú phải : là hạng người chỉ thường có bạn bè rượu thịt. Nói ra là chỉ gặp toàn bạn ăn hoặc bạn tiền bạc, lợi dụng

Nếu mọc bên vú trái : người biết lo lắng, có tính cần cù, mẫn cán. Thích hoạt động đi đây đi đó, là người không vung tay quá chán, ăn bữa sớm đã biết lo bữa tối. Đàn bà có nốt ruồi này thì chồng con được nhờ, là nội trợ hiền thục

6/- Nốt ruồi mọc tại khuỷu tay phía trước cùi chỏ : Nổi : tinh thần không chịu khuất phục kẻ tiểu nhân, dùng sự hòa dịu để khắc phục mọi gian nan trở ngại, đó là hướng tốt. Chìm : gặp được lương duyên giai lão, sống lâu trường thọ

7/- Nốt ruồi mọc ở mu (lưng) bàn chân kể cả chìm hay nổi : tướng rất lanh lợi về đường hoạt động, là kẻ không thích ăn không ngồi rồi. Nhưng ngược lại cũng là tướng chẳng được ổn trọng. Vì người ưa đả kích, đối kháng nên tuy có lợi về đường hoạt động nhưng có hại ở sự thâm độc.

8/- Nốt ruồi mọc trên đầu gối phải hoặc trái : Nổi : đây là tướng tốt, có lòng nhân từ, dù đối với người ngoài vẫn có lòng thân và thắm thiết thật tình. Chìm : là người thô tục tàn bạo,cũng là kẻ ưa chú ý đến sự đề cao và rất tự ái cố chấp

9/- Nốt ruồi mọc ở rốn : Nổi : cao rõ ràng tại lỗ rốn thì tiền tài và thời vận đều tốt lành, được cảnh giàu sang đem tới. Chìm : tài vận tuy có nhưng là người ưa lạm dụng chất chứa tiền tái làm của riêng, trong ý nói chớ tham lam của hoạch tài, tuy nhiên nốt ruồi mọc trong lỗ rốn dù mọc chìm hay nổi đều là tướng phước thọ

10/- Nốt ruồi mọc nơi giữa ngực giáp giới giữa ngực và bụng có chỗ lõm xuống thường gọi là tâm oa, phía dưới lớp da ngăn giữa ngực và bụng trên. Tr thay boi 2Nổi : tiền tài lợi lộc đều đẹp,tài danh phát triển, tài cán và danh vị đều nổi bật. Chìm : ưa danh vị hão huyền,làm việc gì cũng nhiệt tình tới nửa chừng, dễ bị chán chường mỏi mệt và bỏ ngang

11/- Nốt ruồi mọc tại đùi trên trước bẹn, kể cả hai bên bẹn hay là hai bên háng, thuộc phía trước đùi trên bất kể chìm hay nổi. Chỉ cần có nốt ruồi từ háng trở xuống gần tới đầu gối thuộc về phía trước, bất kể nổi cao hay bằng phẳng đều là tướng tốt. Số được của cải, mỗi ngày một thêm sự giàu sang

12/- Nốt ruồi mọc ở chỗ kín của đàn bà hay âm hộ (cửa mình) trong phạm vị nơi này bất kể trong hay ngoài,chìm hay nổi,sắc đen hay đỏ đều có tính quật cường, ương ngạnh chẳng chịu phục tùng ai, nhưng là người có tài nội trợ và có danh lợi chức quyền

XEM TƯỚNG NỐT RUỒI

– Nốt ruồi mọc ở trước ngực là giàu có, đỏ lại có hoạnh tài. Mọc ở vú trái sanh trai quí, vú mặt có gái lành. Phụ nữ có mục đỏ mọc trong nhũ hoa là sanh con quí tử, thông minh tài tuấn. Nhưng có nốt ruồi đen trên đầu nhũ hoa và núm vú hay trong quầng vú là khó nuôi con. Nếu có con cũng là nghịch tử.

5 Not ruoi 2– Nốt ruồi mọc giữa cổ đỏ là thọ, đen là ăn hay trúng thực. Nốt ruồi có lông dài nhiều sợi, mọc ở chỗ tốt thì thật tốt, mọc ở chỗ xấu tăng sự xấu hơn. Mọc ở 2 bên tai là gồng gánh nặng nề cực nhọc.

– Mọc ở trước ngực là giàu có, đỏ lại có hoạnh tài.

– Nốt ruồi mọc giữa kẻ hở của đôi nhũ hoa, đỏ thì tình duyên nồng thắm, vợ chồng rất mực thương nhau, nếu đen là truân chuyên buồn khổ, có khi dang dở.

– Nốt ruồi mọc ở bụng là phú quí, mọc quanh rún, trong rún nếu đỏ là giàu có lớn, sanh con quí, đen là ăn uống trúng thực chột bụng.

– Nốt ruồi mọc ở hông, ngang 2 bên rún dưới cạnh sườn non. Bên mặt sanh toàn gái, bên trái sanh toàn trai. Nốt ruồi đỏ quí hơn.

– Nốt ruồi mọc ở bắp đùi, vế là không con. Mọc ở bắp chuối, ống quyển là không vợ. Mọc ở kẹt háng là bôn tẩu tha phương, mọc ở dương vật và âm nang, đỏ sanh con quí tử, đen bị âm bịnh trúng phòng.

– Phụ nữ chỗ kín âm hộ có Nốt ruồi đỏ là có chồng sang quí, có Nốt ruồi đen là tình duyên dang dở, sanh con ngu hèn, coi chừng mắc nạn vì người khác bị thượng mã phong.

Tr A rap 1– Nốt ruồi mọc sau gáy cổ ngay ót, bị người đời thường nói là nốt ruồi “chết chém”, sự thật không hẳn đúng, Nốt ruồi mọc sau ót màu đỏ là rất tốt, có lợi cho sự thi cử, công danh. Nếu đen là ngang trái, trở ngại trong mọi công việc làm ăn, đại kỵ đối với đường quan trường danh vọng.

– Đàn bà sau ót có nốt ruồi đen sanh con ra khó nuôi, nốt ruồi đỏ là sang quí, không mệnh phụ phu nhân cũng là đại phú gia. Những nốt ruồi mọc ở chỗ khác, ở sau lưng, bất kỳ ở chỗ nào mình không tự nhìn thấy, nếu đỏ là quí nhơn trợ giúp ngầm, đen là có nhiều tiểu nhơn mưu hại, có thể bị đánh, đâm chém lén.

– Có như các dấu “bớt” là những vết lớn từ đồng xu cắc bạc trở lên mà là màu đỏ, hường, chu sa thì bất kỳ ở chỗ nào trong thân thể cũng tốt, đen u ám là xấu.

Đàn bà ở các chỗ kín trong thân như ngực, nhũ hoa, âm hộ mà có bớt son là nhứt định lại rất xấu. Đen mà chỗ bớt cợm lên mà lại mọc lông dài cứng như lông heo là dâm đãng, cộc cằn nóng nảy, làm việc ít suy nghĩ, không thủy chung. (theo Vietbao)

9 Thoi mien 1GIẢI MÃ CÔ GÁI

CÓ 3 ĐỜI CHỒNG…

KHÔNG CHĂN GỐI

Từ tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung đến các phim giả tưởng của các nước đều đề cập đến vấn đề thôi miên. Không đâu xa, chúng ta vẫn thường nghe nói đến các vụ lừa gạt tiền bạc do bị bỏ bùa hay thôi miên, vậy thực hư chuyện thôi miên là như thế nào  Bài viết chúng tôi trích đăng từ VTC về một chuyện gia thôi miên tại Việt Nam có khả năng đi vào tiềm thức của con người để giúp gỡ bỏ những tiềm thức xấu vốn luôn ảm ảnh người đó một cách vô thức mà họ không ngờ tới.

Nhắc đến thôi miên, hầu hết những người quan tâm đến lĩnh vực thần kinh đều biết đến Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân, hiện là Giám đốc Trung tâm UNESCO nghiên cứu và ứng dụng khoa học thôi miên Việt Nam.

Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân có thể kể hàng trăm câu chuyện kỳ lạ nhất về những trường hợp nguy hiểm do ám thị gây nên. Anh Quân nhớ nhất một trường hợp mắc bệnh rất kỳ cục, mà anh phải mất rất nhiều công sức mới điều trị được. Mặc dù lấy tới 3 lần chồng song cô gái này không thể ân ái được với ai. Cứ mỗi khi ‘lâm trận’, cô lại cứng người, đau đớn toàn thân.

Một ngày, cô gái xinh đẹp, tri thức, 32 tuổi, rụt rè đến gặp chuyên gia Nguyễn Mạnh Quân. Cô có khuôn mặt bầu bĩnh, da trắng, tóc mềm, nhưng đôi mắt thâm quầng, buồn bã. Cô bảo : “Em biết bác sĩ đã lâu, tìm hiểu rất kỹ rồi em mới đến gặp. Thú thực, em không tin bác sĩ có thể trị bệnh được cho em, nhưng có bệnh thì vái tứ phương, nên em cứ đến thử xem thế nào”.

Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân im lặng lắng nghe từng lời tâm sự chất chứa nỗi lòng. Học xong đại học, chuyên ngành tài chính, có việc làm ổn định, thì cô lấy chồng ở tuổi 22. Chồng là một doanh nhân thành đạt. Mặc dù yêu nhau một năm mới cưới, song hai người vẫn chưa ân ái. 9 Thoi mien 2Cô từng đi học nước ngoài, giao du rộng và không phải là người cổ hủ mà giữ gìn trinh tiết. Sở dĩ, cô giữ mình được đến ngày cưới là bởi vì cứ mỗi lần định ân ái với người yêu, cô lại sợ hãi co rúm người. Nghĩ rằng người yêu trong sáng, giữ gìn trinh tiết, nên anh người yêu cũng không ép buộc.

Đám cưới diễn ra trang trọng, nhưng đêm tân hôn thì rất kỳ cục. Khi hai người chuẩn bị ái ân, cô bất chợt co giật cứng người, đau đớn khắp thân thể. Anh chồng rất giận, nhưng không hiểu vì sao vợ mình lại vậy. Bản thân cô cũng rất ham muốn, nhưng cứ khi vợ chồng định làm chuyện đó, thì cơ thể cô lại phản ứng kỳ lạ, như thể cô biến thành người đàn bà khác, rất sợ hãi chuyện trai gái.

Lấy nhau mấy tháng, sống chung phòng, chung giường, nhưng chuyện kia vẫn không xảy ra. Anh chồng cũng không dám động vào vợ nữa, bởi hễ động vào, cô lại co giật đau đớn, mãi sau mới trở lại bình thường được. Rốt cục, họ chia tay sau 8 tháng chung sống. Gia đình hai bên không hiểu vì sao họ lại kết thúc dễ dàng như vậy. Bỏ chồng, cô như được giải thoát. Vài năm sau, cô gặp một người đàn ông khác. Họ yêu nhau đắm đuối và nhanh chóng đi đến hôn nhân. Nhưng rồi, sau một năm chịu đựng nhau, thì đường ai nấy đi. Một năm chung sống, không có chuyện ái ân.

Trong suốt năm ấy, cô đã gặp rất nhiều bác sĩ, đến rất nhiều bệnh viện. Các bác sĩ chuyên khoa thần kinh bó tay. Bác sĩ tâm lý chào thua. Các xét nghiệm, rồi máy móc hiện đại nhất cũng không phát hiện ra dấu hiệu bất thường nào trong não bộ, cơ thể của cô.

Sau một đợt điều trị ở bệnh viên chuyên về thần kinh ở nước ngoài, cô về nước và quyết định lấy chồng lần nữa ở tuổi 32. Lần lấy chồng này, tình trạng của cô còn tồi tệ hơn. Ngay khi chồng bước vào phòng, cởi đồ trên người, chưa động vào cô, cô đã lăn đùng ngã ngửa, người cứng đờ, miệng kêu la đau đớn. Bác sĩ trị liệu đã gọi cả vợ lẫn chồng đến phòng khám. Dùng liệu pháp tâm lý không có hiệu quả, vị bác sĩ còn dùng đến thuốc ngủ liều cao. Cô gái được cho uống thuốc ngủ, và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu.

Khi đó, anh chồng được gọi vào phòng và làm công việc phải làm với người vợ của mình. Nhưng điều kỳ dị nhất đã xảy ra, dù cô gái đang ngủ nhưng vẫn co giật cứng người, nhăn nhó tỏ vẻ đau đớn. Tóm lại, dù thử cách nào, cơ thể cô vẫn phản ứng khi đàn ông định quan hệ với mình.

9 Thoi mien 3

Không còn hy vọng cứu vãn hôn nhân, cô đã quyết định tìm cho mình một phương án giải quyết, đó là tự tử. Tuy nhiên, do cao số, nên mấy lần tự tử mà không thành. Cô vẫn tiếp tục phải sống để chống chọi với căn bệnh kỳ quặc của mình.

Với những chuyên gia thôi miên y khoa giàu kinh nghiệm, thì câu chuyện của cô có kỳ dị đến mức nào, thì họ cũng hiểu rằng, bộ não cô gái này đã bị tổn thương bởi ám thị. Chỉ có điều ám thị đó là gì, xâm nhập vào tiềm thức lúc nào, thì cần phải tìm hiểu.

Thạc sĩ Quân không tin chuyện vong hồn, nhưng với ngành thôi miên, thì vẫn chưa giải mã được tiền kiếp. Thôi miên có thể đưa con người về nhiều kiếp và khi đó, những chuyện kỳ lạ nhất sẽ xảy ra. Chuyện có tiền kiếp hay không, anh Quân chưa dám khẳng định nhưng cũng có thể đó là sự vô cùng vô tận của bộ não. Bộ não con người nhỏ bé, nhưng bí ẩn không kém gì vũ trụ bao la.

9 Thoi mien 4Anh Quân đưa cô gái vào trạng thái thôi miên để ổn định tinh thần. Khi vào trạng thái thôi miên sâu, anh hỏi : “Bạn đang làm gì ?”. Cô gái mắt nhắm lim dim đáp : “Đang xem”. Anh Quân hỏi tiếp : “Xem gì”. Cô mất bình tĩnh, run rẩy đáp : “Không được, không được”. Thấy cô có biểu hiện lo sợ, anh giúp cô thư giãn, ổn định.

Lúc này, anh Quân hỏi tên, cô lại nói tên mình là một người đàn ông, là lính ở châu Âu. Anh lính này đã hy sinh trong một trận chiến, nhưng khi “linh hồn” đang vảng vất ở mặt đất, thì gặp cảnh 4 lính Mỹ đang hiếp dâm một cô gái nhỏ. Cô gái này kêu la đau đớn và chết. Lúc đó, “linh hồn” anh lính này đã nảy sinh ý định muốn được đầu thai vào em bé, để trải nghiệm xem cảm giác bị hiếp dâm đau đớn như thế nào.

Thế rồi, “linh hồn” đầu thai vào một cô gái, con một gia đình có nhà ở gần trại lính thủy đánh bộ của Mỹ. Bố mẹ quản lý chặt, không cho con gái ra ngoài, vì lính Mỹ thường say rượu. Thế nhưng, năm 9 tuổi, cô gái quyết định đến gần trại lính chơi. Cô bị 4 tên lính hiếp dâm đến chết.

Vậy là thạc sĩ Quân đã tìm được nguyên nhân khiến cơ thể cô gái này phản ứng co giật, cứng đờ người mỗi lần gần gũi đàn ông. Tr Tien tri 3Tuy nhiên, để điều trị không phải đơn giản. Anh Quân đã thực hiện nhiều bài tập để kích động bộ não, khiến cô gái này có đức tin tuyệt đối vào mình. Khi đã đạt được mong muốn, anh tiếp tục đưa cô về tiền kiếp, lúc bị hiếp dâm.

Khi cô gái này đang quay về thời điểm bị hiếp dâm ở “kiếp trước”, anh hỏi : “Khổ không ?”. Cô bảo : “Khổ lắm. Không nỗi khổ nào bằng nỗi khổ bị hiếp dâm”. Thạc sĩ Quân lại hỏi : “Vậy bạn đừng giãy đạp nữa. Bạn cứ nằm im xem có chết không ?”. Khi cô gái nói : “Không chết”, anh Quân hỏi tiếp : “Bạn còn khổ gì nữa ?”. “Khổ vì nỗi buồn chứ không đau nữa”, cô gái kết thúc cuộc đối thoại.

Thạc sĩ Quân tiếp tục đưa cô về hiện tại, thời điểm ái ân không thành công với chồng, nhưng vẫn để cô chìm trong trạng thái thôi miên. Để cô gái trải nghiệm hết mọi nỗi đau trong trạng thái thôi miên sâu, thạc sĩ Quân mới đưa ám thị vào : “Bạn đã trải nghiệm nỗi khổ lớn nhất trong đời, không còn nỗi khổ nào hơn nữa. Thế bạn có cần phải trải nghiệm nữa không ?”. Khi cô gái lắc đầu bảo “không”, thì anh nói tiếp : “Vậy thì bạn không phải khổ nữa. Bạn vui vẻ ân ái với chồng đi”.

Sau buổi trị liệu như thể phù thủy, thầy bùa đó, cô gái khỏi bệnh thật. Cũng sau hôm đó, lần đầu tiên cô trở thành đàn bà. Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân khẳng định rằng, anh chẳng đưa cô gái này về kiếp nào cả. Cô cũng không về được kiếp nào. Tất cả những chuyện cô kể, chỉ là sự ám thị của bộ não, là do bộ não bịa ra.

Có thể, ngày bé, cô gái này đọc một câu chuyện, bài báo nào đó, hay xem một đoạn phim cảnh người lính hiếp dâm một cô gái. Câu chuyện đã ám ảnh rất lớn với cô. Trong hoàn cảnh mơ màng, rơi vào trạng thái thôi miên, cô đã có suy nghĩ muốn được trải nghiệm như cô gái trong chuyện đó.

Đó chỉ đơn giản là hiện tượng tự kỷ ám thị của bộ não. Ám thị đó nằm trong tiềm thức nhưng vô cùng mạnh. Dù cô gái này muốn ân ái với chồng, nhưng ám thị trong tiềm thức sống dậy chỉ đạo cơ thể phản ứng chống lại, dù ý thức không muốn phản kháng. Chỉ có cách gỡ ám thị xấu đó ra khỏi tiềm thức, cô gái mới trở thành người bình thường được.

THĂM ĐỀN BÀ TẤM

NGUYÊN PHI “Ỷ LAN”

Ỷ Lan là người phụ nữ Việt Nam tài sắc, có công sinh hạ và nuôi dạy vua Lý Nhân Tông nhân ái, có tài. Bà còn được phong là Quốc mẫu

9 Den y lan 1Nguyên phi Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến, cũng có sách ghi tên bà là Lê Thị Yến Loan hay Lê Thị Khiết. Bà là vợ vua Lý Thánh Tông. Ỷ Lan sinh ngày 7/3 năm Giáp Thân (1044), lúc hơn 10 tuổi thì mẹ mất, bố lấy vợ kế nhưng ít lâu sau cũng qua đời. Ỷ Lan là một cô gái rất xinh đẹp và chăm làm.

Sử cũ chép rằng, năm Quý Mão 1063, Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà chưa có con trai. Vua và hoàng hậu đi cầu tự nhiều nơi nhưng không thành. Một sáng mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương Quang, phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá.

Vua ngự giá đến trang Thổ Lỗi sau này đổi là Siêu Loại (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm- Hà Nội ngày nay), thấy thần dân đang sụp lạy, duy có một thôn nữ xinh đẹp vẫn điềm nhiên hái dâu bên cạnh gốc lan. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, cho người gạn hỏi. Người con gái đối đáp thông minh, cử chỉ đoan trang dịu dàng đó chính là Yến Loan. Vua truyền lệnh tuyển cô gái ấy vào cung, phong Yến Loan là Ỷ Lan phu nhân, có ý nghĩa đứng dựa cây lan.

9 Den y lan 2

Trong cung, Ỷ Lan không lấy việc trau chuốt nhan sắc, mong chiếm được tình yêu của vua mà quan tâm đến mọi công việc trong triều đình. Bà khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách. Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan.

Ỷ Lan là người phụ nữ có tài kinh bang tế thế, từng đã 2 lần nhiếp chính trông coi việc nước.

9 Den y lan 3Lần thứ nhất là năm Kỷ Dậu 1069, Lý Thánh Tông thân chinh cùng Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh phương Nam đã trao quyền nhiếp chính cho bà.

Lần thứ hai vào năm Nhâm Tý 1072, Vua Lý Thánh Tông đột ngột qua đời, hoàng thái tử Lý Càn Đức lên nối ngôi lúc mới 7 tuổi (tức hoàng đế Lý Nhân Tông), bà được tôn làm Hoàng thái hậu. Triều đình rối ren, Ỷ Lan đã coi triều chính, điều khiển quốc gia, cùng triều thần lãnh đạo quân dân Đại Việt tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi.

9 Den y lan 4Là một phụ nữ tài trí, đức độ, lại được triều thần ủng hộ nên Hoàng Thái hậu Ỷ Lan đã có những đóng góp tích cực vào cơ nghiệp nhà Lý, chăm lo sản xuất nông nghiệp, mở mang dân trí, quan tâm đến thi cử học hành. Bà ban hành nhiều chính sách tiến bộ như chuộc nô tỳ, tha cung nữ, giảm tô thuế, cấm giết trâu bò….

Theo tài liệu, có rất nhiều nơi thờ Nguyên Phi Ỷ Lan. Nhưng đền chùa và đền thờ Ỷ Lan được xây dựng ở Dương Xá ngay chính trên quê hương Bà. Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan hay còn gọi là Đền Bà Tấm hay đền Cả.

Quần thể khu di tích đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan gồm chùa, đền, điện, sơn trang nằm trong khuôn viên rộng khoảng 3ha có sân, nhà thủy đình, cây xanh các loại.

Nằm ở phía tay trái, trước cửa đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan là đôi rồng chầu bằng đá phủ phục, với đường nét, chạm khắc hết sức tinh xảo. Đền được xây dựng từ cuối thế kỷ XI, có kiến trúc theo lối cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc loại cổ nhất nước ta. Cách không xa đền phía tay phải có chùa mang tên : “Linh Nhân tư Phúc Tự” do chính Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan xây dựng cùng với hàng trăm ngôi chùa khác, được khánh thành vào năm Ất Mùi (1115).

Năm 2010, tưởng nhớ công đức của bà, một trong những danh nhân có tài trị nước của dân tộc, Ban quản lý di tích đền Nguyên Phi Ỷ Lan đã tôn trí tượng đài Nguyên Phi Ỷ Lan cao 9,1m, nặng 30 tấn được đúc bằng đồng nguyên chất.

9 Den y lan 5

Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà.

Một số hình về đền Bà Tấm – Nguyên Phi Ỷ Lan :

1/- Đền chính thờ Nguyên Phi Ỷ Lan với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn văn hoá nhà Lý, vừa mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, lại vừa mang giá trị nghệ thuật cao. 2/- Nghi môn có lối kiến trúc độc đáo, nhiều họa tiết trên cánh cửa. Có 2 con voi đắp nổi tai bên.

3/- Hậu cung có tượng Ỷ Lan được tạo tác rất đẹp, tạc khi bà là Nguyên phi cùng 6 vị cung nữ trong triều. 4/- Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan. 5/- Tấm văn chỉ trước cửa Đền

6/- Ngôi chùa Linh Nhân Tư Phúc Tự do hoàng thái hậu Ỷ Lan xây dựng năm 1115… 7/- … luôn đông đảo du khách thập phương đến thắp hương, dâng lễ.

8/- Vườn tháp. 9/- Năm 2010, tưởng nhớ công đức của bà, một trong những danh nhân có tài trị nước của dân tộc, Ban quản lý di tích đền Nguyên Phi Ỷ Lan đã tôn trí tượng đài Nguyên Phi Ỷ Lan cao 9,1m, nặng khoảng 30 tấn được đúc bằng đồng nguyên chất. Đằng sau có bức phù điêu đá xanh 31.2m. Tượng đặt ở bên trái cửa Đền, trên quảng trường rộng lớn, thoáng mát.

10/- Đền chính thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan với đôi câu đối : Thập bát tử, điếu phỏng thế tại tam truyền chiêu lệnh thục/Bách dư sở tự quán. 11/- Đôi rồng thời Lý (bên trái) phủ phục bên mạn sườn đồi thờ nguyên phi Ỷ Lan. 12/- Bên trái sau cổng vào đền có hồ bán nguyệt, cây cảnh và vườn hoa, tạo nên một khôn

Xuân Mai post (theo VTC)

TÌM HIỂU VỀ NỐT RUỒI (2)

VỊ TRÍ NỐT RUỒI

VÀ TƯỚNG SỐ

Hình 5 sau đây là sự đúc kết của ông cha ta qua thực tế cuộc sống chứ không phải tự nghĩ ra đâu. Kết quả có tính đúng rất cao. Đôi khi kết quả làm bạn buồn, nhưng có sao đâu ? biết được thì cố gắng bồi đắp chổ xấu đó !

1. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ

2. Khắc Cha Mẹ. Thường phải xa cha hoặc mẹ từ thuở nhỏ. Lớn lên tự lập, không có số nhờ cha, mẹ

3. Khắc cha mẹ. Thường mất cha mẹ lúc còn trẻ tuổi

4. Người có cuộc sống bình đạm, không bon chen

5. Người có đạo đức

6. Sống rất thọ, cuộc đời sung túc nếu có cả nút ruồi số 2

7. Số may mắn, làm việc thường lúc nào cũng thành công

8. Nút ruồi đại phú, có nhiều tiền bạc, tài của

9. Nút ruồi quí, thường có danh vọng, địa vị cao trong xã hội

10. Người biết xuôi theo thời, thường được người có thế lực đỡ đầu

11. Nút ruồi thị phi. Dễ bị liên quan trong các vụ kiện tụng, thưa gởi, tiếng đồn xấu ..

12. Nút ruồi đại kiết. Cuộc đời thường gặp nhiều may mắn

13. Khắc cha. Thường cha chết trước mẹ

14. Nút Mụt ruồi ly hương. Phải rời xa quê quán lập nghiệp mới thành công

15. Nút ruồi tha hương. Thường sống xa nhà , khi chết cũng ở xứ khác

16. Nút ruồi Thiên-Hình. Dễ bị thương tật, hay xãy ra tai nạn

17. Thường có nhiều tiền bạc. Làm chơi ăn thiệt

18. Nút ruồi cô quả. Thường sống độc thân, có gia đình cũng không lâu bền hoặc không hạnh phúc

19. Nút ruồi kém may mắn. Thường không thành công trong cuộc đời. Khi chết xa quê hương

20. Thường làm về các nghề sản xuất như công kỹ nghệ, hoặc chăn nuôi, trồng trọt. Không có số làm thương mại

21. Nút ruồi triệu phú. Giàu nhỏ nhờ làm việc nhiều và biết cần kiệm.

22. Nút ruồi công danh. Thi cử dễ đậu cao, thường làm việc các nghề chuyên môn, cần bằng cấp

23. Nút ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số

24. Nút ruồi phú quí. Tốt về cả công danh lẫn tài lực

25. Thường thân cận với những người quyền quí hay giàu có

26. Nút ruồi đa nghệ. Nghề nào làm cũng dễ thành công

27. Nút ruồi xui xẻo28. Làm ăn dễ thất bại. Không nên mưu sự lớn

29. Nút ruồi thiên lộc. Làm chơi ăn thiệt, thường có của trên trời rơi xuống

30. Nút ruồi khôn ngoan, biết lợi dụng thời cơ để kiếm lời

31. Nút ruồi phá gia. Làm ăn hay gặp trở ngại đến mức phá sản. Cẩn thận về cờ bạc

32. Nút ruồi tai nạn, dễ bị bịnh hoạn, tai nạn

33. Dễ bị tai nạn, thương tích

34. Tiền kiết hậu hung. Làm ăn trước tốt sau xấu. Chớ nên làm những việc có tính cách ngắn hạn như áp phe, mánh mun, sale, ..

35. May mắn. Cuộc đời ít rủi ro, thường được nhiều người giúp đỡ

36. Nút ruồi phú. Làm giàu nhanh chóng

37. Tính người hung dữ, hay kiếm chuyện, hay gây rắc rối

38. Dễ gặp tai nạn vì bất cẩn

39. Tốt về mọi mặt từ sự nghiệp đến tình cảm

40. Tiền hung hậu kiết. Công việc thường có trở ngại lúc đầu, nhưng càng về sau càng tốt, giàu có

41. Hay gặp rủi ro, thất bại

42. Hay bị thương tích, thân thể thường có thương tật, tì vết

43. Nút ruồi xui xẻo

44. Nút ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình

45. Phát đạt. Làm ăn dễ thành công

46. Nút ruồi xui xẻo

47. Nút ruồi ly hương. Làm ăn có lúc phát rất mạnh, nhưng cuộc đời dễ bị phá sản

48. Hay bị tai bay vạ gởi, không làm mà chịu

49. Nút ruồi phân ly. Vợ chồng, nhân tình dễ xa cách

50. Khắc con cái, sinh nhiều nuôi ít

51. Sát thê, vợ chồng dễ phân ly

52. Khắc cha. Xa cha sẽ khá hơn

53. Hay gặp tai họa, rủi ro

54. Khắc mẹ. Số không sống gần mẹ. Vợ chồng cũng dễ phân ly

55. Kém may mắn, cuộc đời hay gặp những chuyện hung dữ, kẻ ác

56. Khắc con cái. Thường không sống gần con. Sinh nở khó khăn

57. Sát thê. Vợ chồng dễ phân ly

58. Tính tham lam. Có tật ăn cắp vặt

59. Nút ruồi lãng mạn, nam cũng như nữ. Thường có nhiều quan hệ nhân tình bất chính

60. Thông minh và khôn ngoan. Học ít hiểu nhiều

61. Số dễ bị tai nạn

62. Thông minh, sống rất thọ. Tiền bạc trung bình

63. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết

64. Nút ruồi quan tụng. Trong đời hay xảy ra chuyện lôi thôi về kiện tụng

65. Khắc cha. Thường mất cha hoặc sống xa cha từ nhỏ

66. Thông minh, học ít hiểu nhiều. Sống rất thọ

67. Nút ruồi cô độc. Thường phải ly hương, xa gia đình, xa vợ con

68. Dễ bị tai nạn về nước và lửa

69. Nói nhiều, hay bị người ghét vì ăn nói. Nói không cẩn thận và không nghĩ đến cảm giác người khác

70. Ngồi lê đôi mách, hay để ý chuyện của người khác

71. Tính xấu, thường hà tiện và tham lam

72. Con cái, người dưới hay bị hoạn nạn

73. Nút ruồi tuyệt tự, khó có con

74. Hay bị tai nạn, trong người hay có thương tật, tì vết

75. Dễ bị tai nạn về sông nước

76. Tính xấu, tham lam, lòng dạ không ngay thẳng

77. Nút ruồi hoạnh tài. Thường chạy chọt áp phe, cờ bạc, hay trúng số

78. Nút ruồi thị phi. Họa đến từ miệng, thần khẩu hại xác phàm

79. May mắn, làm ăn, công việc luôn có người giúp

80. Thông minh, nhạy bén, thi cử dễ đổ cao

81. Nút ruồi Hòa Lộc. Tiền hết lại có, không bị túng thiếu

82. Nút ruồi ngoại tình, đa tình. Nam cũng như nữ, đều dễ ngoại tình

83. Nút ruồi phú. Thường giàu có nhờ làm ăn được nhiều người giúp đỡ

84. Nút ruồi may mắn. Cuộc đời thường may mắn, dễ kiếm tiền

85. Dễ bị phá sản vì thiên tai hay chiến tranh 

86. Nút ruồi hoạnh phát. Thường có tài lộc, của vô rất nhanh

87. Nút ruồi lãng mạn. Nam cũng như nữ đều thích chuyện tình ái, chăn gói. Thường có nhiều quan hệ cùng lúc

88. Nút ruồi trác táng. Dễ sa ngã vào rượu chè, hút sách.

89. Khôn ngoan, thông minh, tính tình rộng rãi

90. Số sung sướng, không giàu nhưng nhàn hạ, hưởng thụ.

91. Nút ruồi bình an. Cuộc đời không sợ tai nạn

92. Dễ bị người khác cướp giật, sang đoạt tài sản

93. Nút ruồi phong lưu. Thường có đời sống xa hoa, hưởng thụ

94. Giàu có và khôn ngoan. Hay gặp may mắn về tài lộc

95. Thường có danh vọng, địa vị trong xã hội.

Mụt Ruồi trên Thân thể và chổ kín

Thân Trước (H6)

Nút ruồi mọc nổi cao hoặc mọc chìm tại giữa yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : bất kể nam hay nữ được mụt ruồi này đều tốt đẹp về lương duyên. Hạnh phúc, phu xướng phụ tùng, chồng nói vợ nghe rất hòa thuận.

Nếu mọc chìm: hôn nhân sớm quá đều bất lợi, lấy chồng sớm ắt có người phải chết sớm. Ngay dưới yết hầu (xem giải thích bên dưới) : Nếu mọc nổi : Tánh ưa nay đây mai đó, không muốn ở yên nơi quê quán, thích dung rủi trên đường trường. Nếu mọc chìm : dễ bị tai ương về xe cộ

Giải thích : yết hầu tiếng Anh gọi là Pharynx, đoạn ống tiêu hóa dài khoảng 12 – 15 cm ở cổ họng người, gồm Nasopharynx, Oropharynx, Laryngopharynx. Cục yết hầu Larynx là sụn tuyến giáp. Hormone nam ở tuổi dậy thì tăng cường hoạt động khiến bộ phận này thay đổi, cục yết hầu nhô thêm ra ở cổ. Giọng các em bé trai và giọng thanh niên trai khác hẳn nhau (bễ giọng).

Chính thời gian dậy thì là khi giọng của bé nam thay đổi. Thanh quản rộng ra, dây thanh đới dầy lên và dài ra, giọng họ sẽ trầm xuống. Việc chuyển giọng có thể đột ngột, có thể dần dần. Thường người ta ít để ý quá trình đó, nhưng có một số em trai bối rối vì biến cố “bễ giọng”, nhưng đây chỉ là một hiện tượng nhất thời thôi, sau đó bạn sẽ có được chất giọng ấm áp của người đàn ông.

Nút ruồi mọc trên vai : bên phải (kể cả nổi hay chìm): người rất thận trọng, đôi khi trở thành tư lự xấu xa, có tính khiếp nhược. Thận trọng, nhi tâm tư lự chi tướng. Bên trái (kể cả nổi hay chìm): ưa thích biện luận. Ưa bàn luận phải quấy, thích đi quá mức với bổn phận của mình, con người cứng cỏi, tranh khôn khiến cho người khác thù hiềm.

Nút ruồi mọc tại nhũ bộ, trên đầu vú hoặc bên ngoài vành vú, kể cả mọc chìm hay nổi

Bên vú phải : là hạng người chỉ gặp toàn bạn ăn hoặc bạn tiền bạc lợi dụng.

Bên vú trái: người biết lo lắng, cụ bị, có tánh cần cù, mẫn cán. Thích hoạt động đi đây đi đó. Tả nhũ chi chí, cần mẫn tính cách. Hỉ ái bộ hạnh. Là người không vung tay quá trớn, ăn bữa sớm đã biết lo bữa tối. Đàn bà có mụt ruồi này thường chồng con được nhờ, là nội trợ hiền thục.

Nút ruồi mọc tại khuỷu tay phía trước cùi chỏ : Nếu mọc nổi: tinh thần không chịu thua dưới kẻ tiểu nhân, có chí khắc phục mọi gian nan trở ngại, đây là tướng tốt. Nếu mọc chìm: gặp được lương duyên giai lão, sống lâu trường thọ.

Nút ruồi mọc ở mu bàn chân, kể cả chìm hay nổi : Tướng rất lanh lợi về đường làm ăn, nhưng lại là kẻ thích ăn không ngồi rồi. Tướng chẳng được tôn trọng, là người ưa đả kích, đối kháng nên tuy có lợi về đường làm ăn nhưng có hại ở sự thâm độc.

Nút ruồi mọc ở trên đầu gối phải hoặc trái : Mọc nổi: đây là tướng tốt, có lòng nhân từ. Dù đối với người ngoài cũng vẫn có lòng thân và thắm thiết tận tình. Mọc chìm: là người thô tục tàn bạo, cũng là kẻ ưa chú ý đến sự đề cao và rất tự ái, cố chấp.

Nút ruồi mọc ở lỗ rún: mọc nổi cao rõ ràng tại lỗ rún thì tiền tài và thời vận đều tốt lành, được giàu sang đem tới. Moc chìm : tài vận tuy có, nhưng là người ưa lạm dụng chất chứa tiền tài làm của riêng. Tuy nhiên Nút ruồi ở lỗ rún dù mọc chìm hay nổi đều là tướng phước thọ.

Nút ruồi mọc giữa ngực, giáp giới giữa ngực và bụng có chổ lõm xuống thì gọi là Tâm Oa, phía dưới trái tim. Mọc nổi : Tài lộc giai hanh ngãi là tiền tài và lợi lộc đều tươi sáng. Công danh phát đạt, tài cán và danh vị đều nổi bật. Mọc chìm : Tướng ưa danh vị hảo huyền, làm việc gì cũng nhiệt thành tới nửa chừng, dễ bị chán chường mỏi mệt bỏ ngang.

Trần Đáo Trạch, có 7 nút ruồi son trên ngực, tục gọi là Thất tinh hội tụ là tướng cực quý. Trạch vốn sanh trong một gia đình rất nghèo, cha Trần Tấn Tài sinh sống bằng nghề làm ruộng, lúc Trần Đáo Trạch được 4 tuổi, một hôm theo cha ra đồng thăm ruộng, bị một kẻ bất lương cùng họ là Trần Tương lén dẫn đi bán cho một phú hộ là Từ Tử Lỗ, thấy Trạch có nút ruồi cực quý nên nhận ngay làm con, đổi thành họ Từ. Năm 20 tuổi. Trạch vào Bắc kinh thi, đậu trạng nguyên và được Minh Thần Tông tuyển làm Phò Mã ban cho cờ biển vinh quy. Khi tân trạng nguyên về đến Quảng Châu, hai họ Từ, Trần tranh nhau nhận người. Khi biết được câu chuyện, tổng đốc Quảng đông đề nghị hai họ nên nhận Đáo Trạch làm con chung, sau đó Đáo Trạch và Công chúa sanh con thì mang tên cả hai họ. Vậy là từ đó, con cháu Đáo trạng mang họ kép là Trần Từ, con cháu hai họ đều quý hiển, giàu có.

Đàn bà có nút ruồi ở ngực sanh quý tử.

Nút ruồi mọc tại đùi trên, trước bẹn, kể cả hai bên bẹn hay là hai bên háng, thuộc phía trước đùi trên, bất kể mọc chìm hay nổi : Chỉ cần có nút ruồi tại háng trở xuống gần tới đầu gối thuộc về phía trước, bất kể nổi cao hay bằng phẳng đều là tướng tốt. Số được của cải, càng ngày càng giàu thêm.

Nút ruồi mọc chổ kín của đàn bà, cũng gọi là âm hộ hay cửa mình : Trong phạm vi nơi này bất kể trong hay ngoài, chìm hay nổi, màu đen hay đỏ đều có tánh quật cường, ương nghạnh, chẳng chịu phục tùng ai. Nhưng là người có tài nội trợ và có danh lợi, chức quyền.

Nút ruồi mọc bất kỳ ở vị trí nào trên dương vật hay còn gọi là ngọc hành màu đỏ sanh quý tử, mọc ngay ở đầu ngọc hành cũng sanh quý tử. Màu đen đề phòng chứng Thượng mã phong, trong dân gian còn gọi là bị “trúng phòng” hay “phạm phòng”: xuất tinh liên tục đến chết, đột tử trong khi sinh hoạt tình dục (cách đề phòng và cấp cứu Thượng mã phong đọc thêm ở cuối bài).

Nút Mụt ruồi quanh bộ phận sinh dục, cả nam lẫn nữ đều thuộc loại người đam mê sắc dục. Nút ruồi chổ kín chủ sanh con tài giỏi, nhưng quan trọng là phải đi kèm với tướng mạo tốt: gái phải đoan trang, giọng nói nhẹ nhàng, rõ ràng và thanh, trai đi đứng ngay thẳng, nếu có những điễm phá tướng: giọng khàn, rè hay the thé, tướng ẽo lã, chưa nói đã cười, nói cười phun nước miếng, đi hai hàng, v.v. thì chỉ là hạng người đàng điếm, chơi bời, giang hồ mà lại khó tránh khỏi được bịnh phong tình.

Nút ruồi mọc trên bụng, là hai bên mạng mỡ : mọc nổi : bất cứ phía nào cũng đều là tướng người ưa tiệc tùng ăn uống, là người rất mạnh về ngôn luận. Mọc chìm : tướng vì rượu vì sắc mà dễ dàng lâm cảnh khốn khó, rối loạn tâm tư, có thể trở nên cướp bóc, sang đoạt lừa đảo, đi đến chổ gian truân.

Nút ruồi mọc ở hai nách : mọc nổi : người có tình cảm sâu xa, nghĩa nặng khiến cho người khác phái phải kính trọng, đam mê. Mọc chìm: tuy đẹp đẽ nhưng thiếu sự cuốn hút, cung phụng kẻ khác nên dễ bị moi móc, hiềm ghét, chê bai.

Thân Sau (H7)

Nút ruồi mọc ở cổ hoặc tại hai bên gáy chổ bả vai nhích lên : mọc nổi cao rõ ràng, bất kể đen hay đỏ, đều là tướng có phước, hưởng một cuộc sống cơm no áo mặc không thiếu thốn. Người tự trọng, có tâm địa hùng mạnh, ngay thẳng, khôn ngoan.
Mọc chìm hoặc không rõ rang : Tướng nghèo, không có phước hưởng lộc, áo cơm.
Nút ruồi mọc chung quanh cổ bất kể đỏ hay đen, nói chung đều là những người sống bằng nghề ăn nói.

Nút ruồi mọc ở dưới xương gu vai : mọc nổi rõ ràng bất kể lớn hay nhỏ đều là tướng giàu có, con người làm việc gì cũng có kế hoạch nhất định. Là người cẩn thận, rành rẽ và có ý chí mạnh mẽ. Mưu sự lo lắng bất kể việc lớn nhỏ cũng không bỏ sót. Đàn bà như vậy là gia đình được nhờ. Mọc chìm hoặc không rõ ràng hay có nét lộn xộn : tướng thiếu sót kế hoạch mưu sinh và thiếu tín nhiệm.

Nút ruồi mọc hai bên mông đít, kể cả chìm hay nổi, bất kể là loại nào : Là tướng có cụ bị và năng lực, nhưng không có một khuynh hướng lớn nào nhứt định, lười biếng. Dễ dàng chôn vùi mục đích của mình. Thấy động thì động, thấy tĩnh thì tĩnh, con người không chân thật, ba phải.

Nút ruồi mọc tại bộ đùi, cả đùi trên và dưới kể từ mông đít đến bắp chuối, chìm hay nổi : Là người nhiều hiểm kế. Tướng tham sắc đẹp, nói một đàng làm một nẻo, khó biết rõ tánh tình.

Nút ruồi mọc tại cùi chỏ : mọc nổi trên cùi chỏ bất kể tay nào đều là tướng người thích đi đây đó. Có đầu óc kinh doanh, không thích ngồi tại nhà, không quảng ngại mưa nắng để mưu sinh. Mọc chìm: khinh người, nông nổi, nhiều khuyết điểm về mặt xử sự, không có ý chí nhất định, thiếu nhẫn nại.

Nút ruồi mọc tại lưng : mọc nổi bên phải hoặc trái của eo, lưng, sau mạng mỡ đều là tướng tốt. Các công việc giao phó đều được thực hành sốt sắng, hết lòng làm cho bằng được. Là người biết hạn chế các dục tâm không vượt qua lễ nghĩa. Người có nút ruồi này là người thật thà, đầy đủ tín nghĩa. Làm bất cứ việc gì cũng có chuẩn bị, bước chân luôn đặt vững trên mặt đất. Mọc chìm : người dễ bất mãn, khó hoàn thành các công việc được giao phó. Coi mọi việc luôn tầm thường, không suy sét trước sau.

Nút ruồi mọc ngay giữa xương sống, hoặc tại chu vi nơi hai buồng phổi phía sau lưng : mọc nổi rõ ràng: mụt ruồi này là có nét chỉ bịnh hoạn, hay có vấn đề về đường hô hấp, yếu tim khó thở, hô hấp yếu kém. Tuy vậy lại có tướng cách sống lâu. Mọc chìm : Tướng ưa đái vắt, đái sót. Tánh chậm chạp, lừ đừ. Chỉ chú ý đến sự sống của riêng mình, không biết quan tâm và chia sẽ với ai khác.

Nút ruồi mọc tại phía bộ xương sống hoặc ở hai bên trái phải của xương sống : mọc nổi : Tướng thường mắc bịnh nhưng không nghiêm trọng, thường có bịnh về đường ruột hay bao tử. Mọc chìm: có thể phát bịnh về nội tạng. Đàn bà thì rất buồn phiền, bịnh tình thường lấn áp tâm trí và hay gây biến chứng. Nhưng số lại không yểu.

Nút ruồi đỏ ở lưng là tướng cách của quí nhân, bậc công hầu khanh tướng.

Nút ruồi mọc trên bàn tay là người có quý tướng, mọc trên lưng bàn tay thì có ý nghỉa tương tự, tuy ít “mạnh”, ít quý hơn trong lòng bàn tay. Nút ruồi son trong lòng bàn tay gọi là Chưởng Thượng Minh Châu tức là bàn tay có nắm hột ngọc, cực phú cực quý, rất giàu, tiền hô hậu ủng.

Nam Nữ như nhau, người thuận tay phải có nút ruồi trên tay phải, chủ về cầm quyền, quý cho những nghành nghề có liên quan đến “động”, thí dụ : đứng đầu trong quân đội, trong hảng xưởng, buôn bán. Người thuận tay phải có mụt ruồi trên tay trái thì có tài về những việc tĩnh, thí dụ : hạng nhứt trong gia công, nội trợ, có tài ăn nói hoạt bát, giỏi về ngoại giao, thông minh về ngôn ngữ.

– Nút ruồi nằm ở ngón tay cái: làm việc gì cũng muốn thành công mỹ mãn nhứt, là người hòa đồng với mọi người nhưng thường hay bị bạn bè ganh ghét.

– Người có mụt ruồi đen hay đỏ trên ngón tay trỏ  : là người có tài chỉ huy. Nói ra được mọi người lắng nghe và làm theo.

– Nút ruồi ở ngón giữa : người rất chững chạc. Là người tốt bụng, tánh tình cởi mở, như một luồng gió mát mùa hè. Người này đi đến đâu cũng đem lại niềm vui cho những người chung quanh.

– Nút ruồi ngón áp út: người này sống về nội tâm, vì tình cảm. Coi trọng tình yêu hơn bất cứ thứ gì, lại có khiếu về nghệ thuật. Nếu thêm ngón áp út dài hơn ngón trỏ, thì người này có thể trở thành một nghệ sĩ nổi danh.

– Nút ruồi ở ngón út: tính tình hơi con nít và hơi làm biếng, nhưng là người khá thông minh nên dù bắt đầu sau người khác cũng có thể đến đích trước.

Tóm lại, nút ruồi mọc trong bàn tay thì tốt. Theo tương truyền, đời nhà Thanh có Hải Lan Sát có tay dài quá gối, lòng bàn tay có bảy mụt ruồi, ông làm đến bậc vương hầu, quyền quý một thời.

Sách tướng đời Hán viết : “Tay nắm bảy sao, làm quan cực phẩm”. Đừng lẫn lộn với câu ” Nút ruồi ở tay, ăn vay suốt đời” đó là nút ruồi mọc ở cánh tay, chứ trong bàn tay kể cả giữa các kẻ của các ngón tay hay trên các ngón tay (phía trong) càng kín và nhiều chừng nào thì người càng có quý tướng chừng ấy.

Nút ruồi mọc ở lòng bàn chân còn gọi là “bàn chân dẫm lên ngôi sao” như Kỳ Nhạc, số cai quản ngàn quân. Chu Nguyên Chương tức Minh Thái Tổ ở lòng bàn chân có bảy nút ruồi “Chân đạp thất tinh” số làm vua, cực quý. Đàn bà có nút ruồi ở lòng bàn chân thì là người phụ nữ có chồng thành đạt và sẽ là cánh tay đắc lực của chồng.

Quế Phượng post

TÌM HIỂU VỀ NỐT RUỒI (1)

VỊ TRÍ NỐT RUỒI

VÀ TƯỚNG SỐ

Dưới đây diễn giải tất cả về nốt/nút ruồi và tướng số từ trên xuống dưới : trên mặt, trên thân thể, chổ kín, âm hộ, dương vật, nốt ruồi mọc trên bàn tay, lòng bàn chân, v.v.

Nốt ruồi (english: birthmark) ví như cây trên núi, mô đất nơi đồng bằng. Núi có mỹ chất thì sinh cây quý để tỏ tú khí của núi. Đất tích ô thổ thì sinh những thứ quái ác. Lý lẽ vạn vật là như vậy. Đến như con người, nếu chứa chấp mỹ chất sẽ nảy ra Hắc tử (mụt ruồi) để hiển hiện điều quý, nếu mang chất dơ đục sẽ sinh “ác chí” để hiện cái tiện.

Nói chung  nốt ruồi chết, đục, tĩnh, hở là xấu hoặc nếu ở vị trí tốt thì cũng không mạnh bằng. Nốt ruồi sống, đỏ, động, kín là tốt. Nếu nốt ruồi màu đen, thì phải đen hẳn mới tốt. Riêng về nốt ruồi động, nó thường làm cho người đàn bà thêm duyên dáng, cười đã đẹp mà còn có nốt ruồi duyên nữa thì khả ái biết mấy.

Có một số lý thuyết gia tướng học quá khích cho rằng “diện vô thiện chí” không nốt ruồi trên mặt nào là tốt cả. Các tướng sư lại lập luận là tùy vị trí, tùy màu sắc và nốt ruồi trên mặt, nếu được che đi thì lại càng tốt, tỉ dụ mọc trong lông mày, được lông mày che đi. Tàn nhang cũng tương tự, nhưng hầu hết đều có ý nghĩa xấu.

TƯỚNG VỀ NỐT RUỒI :

1/. Nốt ruồi mọc ở góc trán : đa phu, háo sắc

2/. Nốt ruồi mọc ngay giữa trán, khắc phu và hại chồng

3/. Các nốt ruồi mọc gần mắt, ấn đường *, sơn căn, mũi, ngư vỹ *, lệ đường, đều xấu : hại chồng, khóc con

* Ngư vỹ, vị trí : ở phía ngoài đuôi mắt 0,1 thốn (0,33cm). * Ấn Đường, vị trí : ở giữa hai đầu lông mày.

4/. Nốt ruồi mọc trên lưỡng quyền, tính hay đố kỵ, nhỏ nhen

5/. Mọc bên hai cánh mũi, pháp lệnh : Xấu, hại con hại chồng

6/. Nốt ruồi mọc trong tai, hoặc gần tai : thọ, thông minh, và hiếu thuận

7/. Nốt ruồi mọc ngay nhân trung : dể có song sinh

8/. Nốt ruồi mọc xung quanh miệng: ham ăn và luôn có lộc ăn

9/. Nốt ruồi mọc dưới miệng, khó giữ của

10/. Nốt ruồi mọc ngay giữa cằm : sát phu

11/. Nốt ruồi mọc trong khu vực trước của cổ : giàu

12/ Mọc trên hai đầu vai: khổ sở, bần tiện

13/. Mọc ngay chổ kín, xung quanh âm hộ, hay ngay âm hộ, nếu đen thì tốt, màu đỏ son thì vượng phu ích tử.

14/. Nốt ruồi màu như tàn tro mà đóng ở ngay sơn căn (*): chết bất đắc kỳ tử

15/. Nốt ruồi mọc ngay đầu mũi : có chồng chẳng ra gì

16. Nốt ruồi mọc trong lông mày, ngọc ẩn trong mây, rất tốt, gia đình hạnh phúc, anh em hòa thuận và quý hiển.

Tóm lại, mụt ruồi sống hay chết, đen hay đỏ gì cũng không nên mọc trên khuôn mặt vì ví như một thửa ruộng tốt mà khi không ngay chính giữa nổi lên một cái gò mối, hay một ngôi mộ cổ, thì thữa ruộng đó có vẽ không thông suốt, và mất mỹ quan cũng như giá trị giãm đi của một khu đất tốt (trừ mụt ruồi duyên mọc gần miệng hay trên môi ra).

Nốt ruồi nên mọc kín trong cơ thể, phải là nốt ruồi sống, đỏ hay đen tuyền, thì mới tốt. Nốt ruồi mọc ở những chổ càng kín đáo thì càng tốt, càng kín đáo đặc biệt bao nhiêu thì càng quý bấy nhiêu.

Xem nốt ruồi mọc trên mặt (H1)

NHỮNG NÉT TƯỚNG NỐT RUỒI

a/- Bản chất và ý nghĩa : Trong thuật ngữ của tướng học, danh từ nốt ruồi mọc trên mặt ruồi bao gồm :

Những dấu chấm trên làn da hoặc chìm trong da (tục ngữ gọi là tàn nhan hay bã chè), có hình dáng hơi tròn, hoặc tròn, có thể nhỏ như đầu đinh ghim hoặc lớn bằng đầu nén hương thông thường đang đốt cháy. Loại này người ta mệnh danh là tử chí hay nốt ruồi mọc trên mặt ruồi chết.

Những dấu chấm nổi cao hơn mặt da 1 cách tự nhiên (mụn cóc không được coi là nốt ruồi mọc trên mặt ruồi vì có nguồn gốc bịnh lý lan tràn rộng hay bị thu hẹp nhờ phép trị liệu y khoa thông thường), có thể lớn bằng đầu nén nhang hoặc nhỏ như hạt tấm. Loại nốt ruồi mọc trên mặt ruồi này được gọi là nốt ruồi sống (sinh chí).

Về mặt màu sắc, nốt ruồi bất kể là loại sống hay chết đều có thể có các màu sắc sau đây :

– Màu xám tro – Màu đen lợt – Vàng đậm như hoàng thổ – Hồng lợt – Đỏ đậm như màu son tàu.

Nốt ruồi động và nốt ruồi tĩnh : động là mọc nơi bắp thịt được sử dụng để cử động như chung quanh miệng. Tĩnh là mọc những nơi không cử động như lổ tai, đầu, trán v.v.

Chỉ có hai màu đen huyền và đỏ đậm như son tàu mới coi là quý, những màu khác, tạp sắc chủ về hung hiểm, phá hại.

Nốt ruồi xuất hiện trên mặt, nhất là phái đẹp, nốt ruồi son hoặc mun có hình dạng vừa phải sẽ làm tăng thêm duyên dáng của nụ cười, ánh mắt. Xuất hiện ở các bộ tĩnh vị, ví dụ như sống mũi trán làm giảm mỹ quan khuôn mặt. Về dự đoán sự tốt xấu căn cứ vào vị trí nốt ruồi, ta cần phải nhớ nguyên tắc cơ bản là nốt ruồi nên vừa phải và ở những chỗ khuất kín trên khuôn mặt, hoặc mọc sau lớp quần áo thường có ý nghĩa tốt, trái lại là xấu.

Sách Tướng Lý hoành Chân, bàn về nốt ruồi có nói : “Nốt ruồi đối với con người cũng như cỏ cây đối với núi non, gò đống đối với địa thế của đất đai. Chất đất tốt thì sinh ra cây cối tươi tốt, chất đất cằn cỗi thì sinh ra cây cỏ héo úa, xấu xa. Người có nội chất tốt thì ra nốt ruồi đẹp cho thế nhân biết được cái đẹp. Người có bản chất xấu thì không sao có nốt ruồi đẹp được.

Nốt ruồi nổi lên tượng trưng cho một gò đống đối với mặt đất, cho nên nó phải ở nơi kín, nên ẩn tàng mới quí. Gò đống hiện ra ngay giữa đường đi lối lại hay sân vườn gây cản trở, làm mất mỹ quan, nhưng ở nơi rừng núi lại góp phần vào việc làm gia tăng cảnh trí của địa thế.

– Trên mặt tượng trưng cho sảnh đường, những đường giao tiếp trên mặt tượng trưng cho đường giao thông lớn (thông cù). Nếu mọc ngay nơi sảnh đường thì làm hại khí tượng sảnh đường, mọc ở thông cù thì trở ngại cho việc đi lại.

– Nốt ruồi nằm nơi “sơn lâm cùng cốc” thì sinh được “hoa thơm cỏ lạ” như ở tóc, chân mày, râu, tóc mai, hoặc ở những bộ phận kín trên mình, đó tượng trưng cho sơn lâm. Vì vậy sách có câu : “Mặt không có nốt ruồi thì tốt. Trong mình không có nốt ruồi thì xấu”.
Bởi vậy, nốt ruồi không nên hiện ra TRÊN TRÁN, MŨI (mũi và trán ví như đường cái hoặc sân vườn) mà nên hiện ra ở chân mày, chân tóc (những nơi này với khuôn mặt ví như thâm sơn hiểm cốc).

Ông Hoành Chơn Nhã xem tướng luận về nốt ruồi có nói : “nốt ruồi như núi có rừng cây, đất có đồi gò. Núi có chất tốt thì sinh cây quí, xum xuê tỏ ra có tú sắc đẹp đẽ. Đất mà ô trọc thì sinh giống ác thảo để phô chất xấu cũng như ngọc lành có tì vết, hột xoàn có vết than. Lẽ của vạn vật cũng như vậy. Người mà sẵn có tố chất tốt đẹp thì sinh nốt ruồi tốt, đặc biệt để phô vẻ tốt, nếu xấu thì có những nốt ruồi xấu để tỏ việc ti tiện. Nốt ruồi đen mà ở nơi lộ liễu quá thì hung nhiều, ở nơi kín đáo thì cát nhiều, sinh trên mặt phần nhiều là bất lợi. Nốt ruồi đen thì thật đen mun, còn son thì phải được như màu son (đỏ hồng) thì mới tốt. Đen mà có pha màu đỏ thì chủ người nói nhiều, hay tranh biện, pha màu trắng thì chủ việc hay lo sợ, tai ách; pha màu vàng thì chủ hay quên, để thất thoát đồ vật”.

Từ những điểm trên ta thấy phép giải đoán sự cát hung của mụt ruồi có thể được thu gọn vào 3 điểm chính :

1/- Bản chất mụt ruồi (chìm hay nổi)

2/- Màu sắc (tốt xấu)

3/- Vị trí xuất hiện (đúng hay trái chỗ)

b/- Phương pháp giải đoán

Trong 3 điểm chính trên thì vị trí nốt ruồi đóng vai trò chính, còn cách cấu tạo và màu sắc chỉ có giá trị thứ yếu.

Xuất hiện đúng vị trí thích nghi là nốt ruồi sống, không lớn không nhỏ, màu đen hoặc đỏ sậm khá rõ rệt là điềm rất tốt. Sắc bóng và đậm chủ yếu về sự việc nhãn tiền, lợt dần chủ về việc quá khứ, đậm dần chủ về tương lai. Nếu nốt ruồi chết, hình dạng méo lệch thì xấu dù là màu sắc gì đi nữa.

Xuất hiện không đúng vị trí ngoài ý nghĩa đặc thù do vậy từng vị trí nốt ruồi sống cực xấu, nốt ruồi chết xấu vừa, hình dạng lớn nhỏ cũng ảnh hưởng tới sự xấu : lớn xấu nhiều, nhỏ xấu ít. Về màu sắc thì sắc đen huyền đỏ sậm giúp cho mụt ruồi sống, không lớn không nhỏ, mọc sái chỗ, sửa chữa phần nào tính chất xấu của vị trí và có ý nghĩa là tiền hung hậu kiết. Nếu mụt ruồi sống mà là các màu tạp sắc hoặc không phải là đen huyền hay đỏ sậm thì mới phải giải đoán là cực xấu.

Người da trắng mà mặt mày châu thân có nhiều nốt ruồi chết màu đen bóng chủ về thông minh, nhưng háo sắc, màu vàng khô chủ về ngu đần đê tiện.

Người cao ốm mà tuổi thiếu niên mặt và thân hình có nhiều nốt ruồi chết cỡ lớn rải rác, màu sắc hỗn tạp chủ yếu về yểu thọ.

Người mập và trẻ, có các nốt ruồi chết hiện lên trên thân hình, diện mạo thì yểu, nhưng ngoài ngũ tuần, mặt và tay chân nảy sinh ra. Bất luận màu gì miễn là có sinh khí thì đó là dấu hiệu trường thọ.

Nơi đây là ý nghĩa của mụt ruồi trên 1 số bộ vị quan trọng của khuôn mặt (H2)

Chú giải :

Thiên : chủ về không được thân cận những người quyền quí trai thường khắc cha, con gái thường làm tổn hại chồng.

Thiên đình : chủ yếu không được hưởng hạnh phúc của cha mẹ, đặc biệt là khắc mẹ.
Tư không : thường nói bao quát cả cha mẹ và có ý nghĩa tương tự như 2 bộ vị trên. Đàn bà thường suốt đời khổ vì chồng. Ngoài ra về mặt tai họa, nếu kẻ đó, bất luận nam nữ mà nghề nghiệp khiến thường xuyên phải tiếp xúc với các loại hỏa khí như lính cứu hỏa, hỏa đầu quân (đầu bếp), thợ luyện kim, v.v… thì trong đời khó thoát khỏi tai nạn về lửa, ít nhứt một lần.

Ấn đường : Mụt ruồi sống nhưng phá cách chủ về ý chí bạc nhược, làm việc có đầu không đuôi, nếu đắc cách hoàn toàn chủ về quí hiển.

Sơn căn : chủ về hình khắc (trai khắc vợ, gái khắc chồng). Nếu chính giữa sơn căn và tiếp giáp với niên thượng có mụt ruồi sống mà sắc như tàn tro chủ về chết bất đắc kì tử.
Sơn căn có vị trí ở trên giữa sống mũi, giữa đường ngang bên trong hai khóe mắt.

Sống mũi (bao gồm cả niên thượng, thọ thượng) : chủ về nghèo khó, thân thể bịnh tật. Đàn ông dễ bị đàn bà hiếp chế, đàn bà dễ bị chồng làm khổ.

Chuẩn đầu : chủ về khó tránh khỏi hao tổn tiền bạc và cũng có ý nghĩa vì háo sắc mà tốn của (chung cả nam lẫn nữ). Riêng đối với đàn bà, còn có một trong nhiều ý nghĩa quan trọng cho biết là số có chồng tính tình độc hại, nham hiểm.

Nhân trung : tại đây có nốt ruồi là một điểm cực xấu vì đó là nơi cho biết khá chính xác về thọ yểu, con cái (nhất là đàn bà vì ngoài ý nghĩa chung cho cả 2 giới còn có ý nghĩa đặc biệt là tử cung dễ bị bịnh)

Thực thương và lộc thương : chủ về hệ lụy do ăn uống mà ra (bị bịnh vì ăn uống, miệng tiếng vì ăn uống v.v…)

Thừa tương : khó tránh khỏi vì ăn nhậu mà ngộ độc hay chết vì rượu nhất là vào khoảng 54 tuổi

Miệng, môi : ham ăn và có ăn luôn luôn

Địa các : chủ về tai họa, tốn tiền hại của, do người quen biết gây ra (chẳng hạn đứng bảo lãnh cho ai thuộc về một việc liên quan đến tiền bạc, ruộng vườn v.v…)

Lệ đường (Cung phu thê) : chủ về đàn ông thường hay trai gái, nếu không lấy thêm vợ bé thì cũng lăng nhăng. Đàn bà khó tránh khỏi cảnh tái giá.

Lưỡng quyền : lưỡng quyền thấp lại có mụt ruồi, quyền của mình bị người khác chiếm đoạt hoặc vì người mà mang lụy đến thân khiến cho quyền uy của mình bị tổn hại.

Người xưa có câu : “Uy nghi là nhờ đôi mắt, lưỡng quyền và thần khí”. Đàn bà lưỡng quyền cao, người hung dữ lấn áp chồng, sát phu, hại chồng, hoặc là người rất dâm đãng.
Người Tàu ngày xưa chọn vợ cho vua, vòng loại đã kỵ người có lưỡng quyền nhô. Đàn ông lưỡng quyền nhô là loại người nham hiểm hoặc ác độc, luồn cúi người trên, đè đạp kẻ dưới quyền. Xương lưỡng quyền còn gọi là đông nhạc (lưỡng quyền bên trái) và tây nhạc (lưỡng quyền bên phải), cả hai được gọi là “nhân phủ”. Lưỡng quyền không được nhô lên hoặc lõm xuống, cũng không được kéo dài đến mai tóc mới là tướng phúc và quý. Lưỡng quyền cao là tướng xấu, nữa cuộc đời bị hại.

Lưỡng quyền là xương hai bên gò má. Tiếng Anh : cheekbones, tên y khoa: zygomatic bones.
Tai : ở phía trên, chủ thể về cá tính con người hiếu hạnh, ở phía dưới chủ về thông minh.
Ngũ Nhạc : là năm vị thần trông coi 5 ngọn núi thiêng của tàu gồm đông nhạc (Thái sơn), tây nhạc (Hoa sơn), nam nhạc (Hành sơn) là trán, trung nhạc (trung tâm, Tung sơn) là mũi, bắc nhạc (Hằng sơn) là cằm.

Trong sách Thần Tướng Toàn Biên luận về nốt ruồi ở trên đầu và mặt có nói :

Đàn ông có nốt ruồi sinh ngay giữa trán là chủ phú quý, gần trên đó là cực quý. Trên trán có 7 điểm đen chủ đại quý. Sinh ngay Thiên trung thì hại cha, ngay Thiên đình là hại mẹ, ở Tư không thì hại cả cha mẹ, ở ngay Ấn đường là chủ quý.

Nốt ruồi mọc ở hai vành tai chủ trí tuệ thông minh, trong tai chủ sống lâu, ở tai trái chủ có tài của, ở khoé mắt làm chủ giặc, nốt ruồi trong tròng trắng mắt là người cực kỳ nham hiểm, trên sơn căn chủ việc khắc hại, dưới sơn căn chủ chết vì binh đao, bên mũi bịnh lao khổ mà chết, trên con mắt nhiều cùng khốn, trong lông mày chủ phú quý, dưới mắt chủ tốt có lợi, đầu chót mũi phòng bị chết vì gươm đao, ở sống mũi bị truân chuyên và nhiều hư trệ, ở nhơn trung dễ cưới vợ, bên mép miệng khó giữ của, trong miệng chủ có ăn uống, trên lưỡi chủ nhiều hư ngôn, dưới môi phá tài của, mép miệng chủ mất chức quyền.

Ở Thừa tương chủ việc say rượu mà chết. Ở Tả sương chủ có “nhất của hoành thất” (vô cớ mà của bị mất mát). Ở Cao quảng hại cha mẹ, ở Xích dương chủ chết đường, ở Phụ giác chủ chết vì binh đao, ở Biên địa chủ chết ở nơi khách (không ở nhà mình), ở Sơn lâm chủ bị sâu bọ làm bị thương, ở Hổ giác chủ chết trong quân lính. Ở Kiếp môn bị tên bắn chết, ở Thanh lộ thì ra đường bị thương vong. Ở Thái dương* có vợ hoặc chồng tốt, ở Ngư vỹ * chủ chết ở chợ, ở Gian môn chủ chết đâm. Ở Thiên tỉnh chủ chết nước, ở Lâm trung là người thận trọng trong sạch, ở Phu tòa bị chồng chết. Ở Thuê Tòa bị chết vợ, ở Trường nam chủ khắc con nhỏ. Ở Kim quĩ chủ phá bại, ở Thượng mộ chủ không được chức quyền, ở Học đường chủ người vô học, ở Mạng môn chủ hỏa ách, ở Bậc sử chủ làm giặc, ở Anh môn chủ đói lạnh”.

Thái dương vị trí: ở giữa đuôi lông mày và đuôi mắt lùi về sau khoảng 1 thốn (3,33cm) có chỗ lõm.

Nốt Ruồi trên Mặt – Đàn Ông (H3)

1. Yểu số 2.Cự phá 3. Khắc mẹ 4. Bạch Hổ 5. Khắc cha 6. Thanh cao 7. Tính tốt 8. Thanh long 9. Đại phú 10. Chết đường 11. Không nên đi xa 12. Tốt 13. Điền trạch 14. Quý hiển 15. Đại kiết 16. Ruộng vườn 17. Quan lớn 18. Phú Quý 19. Thông minh 20. Đại phú 21. Mất cướp 22. Yểu số 23. Tai nạn 24. Hỏa ách 25. Đại kiết 26. Phú 27. Xấu 28. Quan văn 29. Đại kiết 30. Chết nước 31. Tai ách 32. Xấu 33. Hỏa ách 34. Dâm ách 35. Hại con 36. Khắc mẹ 37. Hại vợ 38. Hại cha 39. Tốt 40. Xấu 41. Con chết 42. Không con 43. Ít con 44. Tốt 45. Có tài sản 46. Khắc vợ 47. Hại vợ 48. Quan ách 49. Ly biệt 50. Hiếu 51. Thông minh 52. Thủy nạn 53. Hại gia súc 54. No đủ 55. Nghèo khổ 56. Thọ 57. Thủy nạn 58. Giác khẩu (角口 hay cãi lộn, tranh chấp bằng lời nói) 59. Bần tiện 60. Khẩu thiệt 61. Ăn lộc 62. Chết vì rượu 63. No đủ 64. Thông minh 65. Phước lộc 66. Đại tài.

Nốt Ruồi trên Mặt – Phụ Nữ (H4)

1. Nhiều chồng 2.Mẹ chồng chết 3. Hại cha mẹ 4. Ít kẻ ăn người ở 5. Tái giá 6. Hại thân 7. Hại chồng 8. Ham sắc 9. Họa ách 10. Thọ 11. Hiếu sắc 12. Có chồng sang 13. Một đời chồng 14. Hưởng lộc 15. Tốt 16. Phước 17. Nhiều đời chồng 18. Một chồng 19. Không nên đi xa 20. Thông minh 21. Xung khắc 22. Chồng tốt 23. Đại phú 24. Chồng tốt 25. Xấu 26. Tốt 27. Nhiều con 28. Chồng sang 29. Chồng chết 30. Hại chồng 31. Mất cướp 32. Tốt lâu 33. Hiếu sắc 34. Ít con 35. Hỏa ách 36. Hại chồng 37. Xấu 38. Hại con 39. Chồng chết trước 40. Hiếu sắc 41. Có hiếu 42. Tự tử 43. Ghen tương 44. Chết nước 45. Bần tiện 46. Sinh đôi 47. Bần tiện 48. Sát con 49. Khẩu thiệt 50. Chồng bị hại 51. Thủy tai 52. Tật khổ 53. Bần tiện 54. Khẩu thiệt 55. Hại chồng 56. Có của 57. Có ăn 58. Thông minh 59. Có của 60. Thủy ách 61. Hại đứa ở.

Những điều kể trên chỉ là những điểm dễ thấy trên khuôn mặt. Ngoài ra nốt ruồi còn có thể mọc (hoặc từ lúc sơ sinh, hoặc tới một thời điểm nào đó trong đời) bất cứ ở đâu, trên mặt cũng như trên châu thân (chân tay, bụng, rún, cổ, âm hộ, dương vật v.v…). Do đó liệt kê tất cả với từng danh hiệu bộ vị riêng rẽ sẽ quá ruồm rà, nên soạn giả tóm tắt những ý nghĩa chính của nốt ruồi trên mỗi bộ vị thành từng sơ đồ, độc giả chỉ cần quan sát kỹ cũng đủ có một ý niệm khá rõ rệt về nốt ruồi.

Chú thích :

– Sơn căn là chỗ trũng ngay sóng mũi giữa hai khoé mắt.

– Hỏi : Nếu nốt ruồi không mọc đúng như trên hình vẽ thì không có sao phải không ? Hay là chỉ cần mọc ở điểm gần gần trên hình vẽ thì cũng tính như vậy ?
– Trả lời : Người ta thường nói có tin thì có linh, có kiêng thì có lành… Không có gì tuyệt đối, ngay cả với cái số của mình, vì : Tướng tùy tâm sinh – Tướng tùy tâm diệt -Tướng tốt xấu là ở cái tâm con người !  Vậy nếu có nốt ruồi ngay hay gần chỗ tốt thì hãy tin là tốt, nhưng có nốt ruồi ngay gần chỗ xấu thì… đừng tin.

(Còn tiếp)

Quế Phương post

TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

SƠ LƯỢC VỀ

TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

NGƯỜI VIỆT

– Trần Văn Giang

Lời mở đầu : Bàn luận về tín ngưỡng, tôn giáo luôn luôn là một vấn đề rất tế nhị (và nguy hiểm !) Cứ nhìn vào lịch sử thế giới qua các cuộc thánh chiến đẫm máu và lịch sử nước nhà qua việc cấm đạo (kết  quả với trên 130 ngàn giáo dân bị giết) thì thấy ngay tầm mức quan trọng của vấn đề chấp nhận hay không chấp nhận một tín ngưỡng.

Tôi mạo muội (và liều lĩnh) viết bài biên khảo nhỏ này phần vì sự khuyến khích của một số thân hữu, phần vì chính cá nhân tôi đã ao ước muốn muốn hiểu rõ thêm về các tôn giáo mà tôi và gia đình tôi không thờ phụng, tức là chỉ nghe và nhìn thấy thôi.

Quý vị sẽ đọc thấy rất nhiều sử kiện, truyền thuyết, tôn chỉ… của các tín ngưỡng mà tôi thật ra chỉ chép lại từ các sử liệu và giáo liệu khác nhau đã được chính thức (hoặc không chính thức) công bố, phổ biến từ trước.  Ngay các tài liệu có sẵn này nhiều khi cũng không ăn khớp với nhau, nếu không muốn nói là tương phản với nhau. Phần tôi muốn nói “mạo muội và liều lĩnh” là các nhận định rất chủ quan, phiến diện, thô thiển của tôi đối với các tôn giáo lớn ở Việt Nam mà quý vị sẽ  thấy ở các đoạn mở đẩu bẳng các chữ “Tóm lại, Lời kết…” 

Tôi xin phép được mở rộng tất cả các cánh cửa để đón nhận những lời chỉ trích, sửa sai, bổ túc của các vị cao kiến.

“Tóm lại,” đúng hay sai còn hoàn toàn tùy vào sự thẩm định (và niềm tin) của mỗi người. Dù ở tuổi nào đi nữa, chúng ta không bao giờ hết chuyện mới để học hỏi. Thân mến

Trần Văn Giang

Sự cao cả của tính nhân bản là tín ngưỡng. 

Việt Nam là một nước đa tôn giáo. Thật khó nói cho chính xác là có bao nhiêu tôn giáo ở Việt Nam. Nói một cách chủ quan, tôn giáo Việt Nam hơi phức tạp, có nhiều chuyện huyền hoặc và mâu thuẩn… Tin hay không tin; chấp nhận hay không chấp nhận một tôn giáo là quyền của mỗi cá nhân.  Điều cần thiết là chúng ta phải tôn trọng tín ngưỡng của người khác.

Ngoài các tôn giáo lớn được đưa vào từ bên ngoài như Lão giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành…  người Việt còn có các tín ngưỡng “bản địa” như Cao đài, Hòa hảo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa… và tục thờ Ông Bà Tồ tiên.  Dù là người Việt theo tín ngưỡng ngoại sinh hay nội sinh (xin để ý là dù cho nội sinh, tôn giáo bản địa cũng không phải là thuần túy Việt Nam), người Việt vẫn hiểu rõ vai trò của lớn hơn của tổ quốc và dân tộc; sẵn sàng đoàn kết với nhau để để giữ nước khi có ngoại xâm.

Vì khôn khổ giới hạn của “cuốn sổ tay” này, trên tiêu chuẩn lịch sử, mốc thời gian, có thể liệt kê 9 tôn giáo chính ở Việt Nam như sau :

1/- Đạo thờ Thần 2/- Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên (Ông Bà) 3/- Đạo Lão 4/- Đạo Khổng (Nho giáo) 5/- Đạo Phật 6/- Đạo Thiên Chúa (Công giáo) 7/- Đạo Tin Lành 8/- Đạo Cao Đài 9/- Đạo Phật Hòa Hảo (Phật giáo Hòa Hảo)

1/- Đạo Thờ Thần

Nếu nói là chỉ có một “đạo thuần túy” Việt Nam, và lâu đời nhất thì phải kể “Đạo Thờ Thần.”  Đạo này đã có từ lúc có người Việt Nam.

Người Việt nguyên thủy tin tưởng là có thần linh ở khắp mọi nơi: trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn, bờ ruộng, trên ngọn cây, gốc cây, dưới lòng sông…  Người Việt thờ phụng và tin tưởng tất cả các sức mạnh này.  Đạo thờ Thần (cũng như thờ cúng tổ tiên) đáng lẽ ra không nên liệt kê là một tôn giáo.  Bởi lẽ không có giáo chủ, cũng như không có giáo điều (thật ra đạo thờ thần có nhiều giáo chủ : mỗi vị thần là một giáo chủ ?)  Có nhiều sự tương tự, tượng hợp giữa đạo thờ thần và đạo thờ cúng tổ tiên. Chẳng hạn, chính Ông bà Tổ Tiên được kính bái như những vị thần che chở cho con cháu, gia tộc.  Về Nghi thức, cũng có nhiều điểm giống nhau : Khi cúng một vị thần trong nhà thì gia trưởng là chủ lễ, tại làng xã thì có các vị hương xã; hoặc trong nước thì có vua hay quan thay mặt vua tế lễ; không cần đến một vị tu sĩ tôn giáo.

Xin được lần lượt kể các vị thần linh trong nhà, trong làng và các vị thần chung cho cả nước mà người Việt thờ cúng :

a/- Thổ công

Thổ công là vị thần trông coi gia cư, định sự họa phúc của gia đình.  Người Việt  tin là nhờ có Thổ công, các ma quỷ không xâm nhập gia cư một cách “trái phép” để quấy nhiễu những người trong nhà. Bàn thờ Thổ công đặt ngay gian bên, cạnh bàn thờ tổ tiên. Nếu nhà nào không có bàn thờ tổ tiên thì bàn thờ Thổ công đặt ngay gian chính giữa nhà. Bàn thờ gồm một hương án kê sát tường. Trên hương án có một mâm nhỏ, ba đài rượu có nắp đậy; phía trước là bình hương hoặc đỉnh trầm; hai bên bình hương là đôi nến; đằng sau là bài vị Thổ công. Bài vị có thể là một cái mũ (có thể là 3 cỗ mũ – mũ có cánh chuồn dán trên một bộ áo và đôi hia).  Bài vị này chỉ 3 vị thần có danh hiệu khác nhau :

Thổ công : trông coi việc trong bếp – Thổ địa : trông coi việc trong nhà – Thổ nhi (hay thổ kỳ) : trông coi việc chợ búa, hoặc sinh sản cho đàn bà.

Người Việt ta cúng Thổ công vào những ngày giỗ tết, sóc (ngày đầu tháng) vọng (ngày rằm). Lễ cúng tùy theo gia chủ. Có thể là chay hay mặn. Cốt lòng thành.  Gọi là cúng thổ công nhưng phải khấn cả 3 vị thần linh ghi trong bài vị…

b/- Thần tài

Thần tài là vị thần mang tài lộc cho gia đình. Mỗi khi có khởi sự công việc làm ăn gì, gia chủ thưởng cầu khẩn thần tài.

Bàn thờ thần tài thường được thiết lập ở một góc nhà, không cần phải to lớn. Đôi khi chỉ là một khám nhỏ hay một thùng gỗ dán giấy đỏ. Bài vị có thể là một câu đối cầu tài, xưng tụng sự giúp đỡ của thần tài.  Trước bài vị là một bát hương và một đôi nến, vài ly nước (hay rượu) và một mâm trái cây.

Những ngày giỗ tết sóc vọng, mỗi dịp xuất vốn làm ăn buôn bán đều có cầu xin làm lể Thấn tài.  Ngoài ra, mỗi buổi chiều người ta hay thắp hương, có sự khi khấn vái của gia chủ.

c/- Thánh sư (hay Nghệ sư)

Nghệ sư là ông tổ một nghề (đã truyền, dạy nghề cho đời sau).

Bàn thờ tổ tiên ở giữa, một bên là bàn thờ Thổ công, một bên là bàn thờ Nghệ sư. Bài vị của Thánh sư có thể là một bức ảnh của vị Thánh sư.

Ngoài những ngày giỗ tế, người ta cúng thánh sư vào ngày kỵ nhật của Thánh sư; để nhớ ngày qua đời của ông tổ nghề của mình.

d/- Các vị thần tại các nơi công cộng

Đạo thờ thần còn thớ các vị thần linh chung của thôn xã hoặc toàn quốc ở các nơi công cộng.

– Thành hoàng : Trong việc thờ cúng công cộng, các thôn xã lấy việc thờ phụng Thành hoàng là quan trọng nhất. Thành hoàng của thôn xã cũng đuợc ví như thổ công ở trong nhà. Thành hoàng là vị thần linh che chở cho cả thôn xã chống mọi ác thần, giúp đỡ cho thôn xã thịnh vượng. Thành hoàng hay Thần bảo hộ đại biểu linh động tổng số những kỷ niệm chung, những nguyện vọng chung của làng xã. Thành hoàng hiện thân cho tục lệ, luân lý và đồng thời sự thưởng phạt trừng giới; chính Thành hoàng phạt khi nào dân làng có người phạm lệ, hay thưởng khi lệ làng được tôn trọng. Sau cùng Thành hoàng còn là hiện thân đại diện cho cái quyền tối cao bắt nguồn và lấy hiệu lực ở chính xã hội nhân quần. Hơn nữa Thành hoàng còn là mẫu số chung của tất cả phần tử của đoàn thể làng thôn.  Thành hoàng kết thành khối, như là một thứ nhân cách tinh thần mà tất cả thuộc tính cốt yếu đều có thấy ở mỗi cá nhân.

Thành Hoàng có thể là 2, 3 vị; cũng có thể là 5, 7 vị Ức gọi là Phúc thần (Phúc thần là vị thần giáng phục cho dân gian).

Theo Phan Kế Bính trong “Việt Nam Phong Tục,” Phúc thần chia làm 3 hạng :

– Thượng đẳng : gồm các vị thiên thần như Phù đổng thiên vương, Chử đồng tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản viên Sơn thần (Sơn tinh); hay các vị nhân thần có công trạng hiển hách cho quốc gia và có tên rõ ràng như Lý Thường Kiệt,  Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi…

Trung đẳng : là những vị thần trong làng xã do dân thờ cúng từ trước.  Có thể là các quan chức có danh hiệu, có công trạng với làng xã mà không rõ tên họ (công trạng cũng lờ mờ); hoặc các thần có ít linh dị được vua ban sắc phong cho là trung đẳng thần và ra lệnh cho làng đem vế thờ.

Hạ đẳng : các vị thần do làng xã đã thờ phụng sẵn từ trước.  Họ có tên nhưng đôi khi không còn rõ sự tích ra sao.

Ngoài 3 bậc thánh thần vừa kể, có nhiều làng còn thờ nhiều vị thần rất nhảm (còn gọi là quỷ, yều thần, tà thần) mà họ tin trước đây đã chết gặp giờ linh, ra oai, quấy nhiễu làng xóm làm do dân làng phải sợ mà thờ như thần rắn, thần lợn, thần chết nghẹn, thần  trẻ con… Không phải làng xã nào cũng có Thành hoàng. Nhiều làng vì nhiều lý do không có thần, hoặc làng mới lập chưa có Thành hoàng.

Nghè : Là loại hình điện thờ thần có mái che xuất hiện sớm hơn cả. Thuật ngữ Việt cổ gọi là “Nghè.”  Đó là dạng tiên khởi của miếu thờ thần – nghĩa là thần điện có kiến trúc sơ khai. (Hiện nay ở Vĩnh Phúc còn 10 ngôi Nghè).

Đình : Đình là nơi thờ vọng Thành hoàng (thần bảo hộ mỗi làng – vị thần của làng).  Ngoài việc thờ phụng, Đình còn là trung tâm đời sống công cộng của đoàn thể. Chính ở đây, có những hội đồng kỳ mục; Chính ở tại đây làng nước giải quyết các vấn đề hành chính và tư pháp nội bộ; Cũng chính ở tại đây có những cuộc tế lễ, sinh hoạt văn hoá.  Tóm lại tất cả hành vi sinh hoạt xã hội Việt Nam mang đặc trưng văn minh Việt Nam đều diễn ra ở đây.

Đình thường tọa lạc giữa làng. Xung quanh ngôi Đình thường có những cây đa, cây cổ thụ, bóng râm mát, hồ sen và một khoảng sân rộng. Cây đa như biểu tượng thiêng liêng của sức sống vững bền, chở che cho dân làng. Ngôi Đình còn là chứng tích tâm hồn và nhân chứng lịch sử gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người làng quê.

Ngôi Đình Việt Nam cổ kính, trang nghiêm và là công trình kiến trúc văn hoá mang tính dân tộc. Kiến trúc Đình làng vì vậy cũng mang đậm dấu tích văn hoá độc đáo. Đình thường cao ráo, thoáng mát, nóc có tượng đôi rồng lượn tranh lấy quả châu, trên các thanh xà ngang là những bức hoành phi câu đối. Nơi thiêng liêng nhất để thờ thần là điện thờ.

Thời xưa, Đình làng còn là trụ sở hành chính của chính quyền tựu trung đủ mọi lề thói từ rước xách hội hè, khao vọng quan trên, đón người đỗ đạt, họp việc làng, xử kiện cùng những quy củ nhất định, có sự phân biệt chiếu trên, chiếu dưới. Khi đi ăn cỗ, bậc hương lão, hương lý ngồi giữa đình, thấp hơn ngồi hai bên, dân thường ngồi ngoài

Miếu : Miếu cũng là nơi thờ thần.  Mỗi làng thờ thần đều có tòa Miếu; nhiều nơi có cả Miếu và Đình.  Miếu và Đình kiến trúc giống nhau chỉ khác ở kích thước – Đình lớn hơn Miếu. Miếu có kiến trúc cũng như đối tượng thờ rất đa dạng.

Tên của Miếu thường được gọi theo đối tượng được thờ : Miếu Cô, Miếu Cậu, Miếu Bà Chúa Xứ (Châu Đốc), Miếu Sơn thần (thần núi), Miếu Hà bá (thần sông), Miếu Thổ thần (thờ thần đất).

Miếu cũng là nơi thờ các bậc trung liệt có công với nước như : Miếu Hùng vương (ở xã Đình Chu), Miếu Bì là (xã Đồng Ích) thờ Triệu Việt Vương… nhiều làng không có Miếu.

Miếu thường được toạ lạc ở nơi xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và chỉ là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần. Trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hoá (nhân thần), ngày hiện hoá (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ Miếu về Đình.  Tế lễ xong, lại rước thần về Miếu yên vị.

Đền : Đền là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử đã được tôn sùng như thần thánh. Chẳng hạn như : Đền Hùng (Việt trì, Phú Thọ) thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua; Đền Phù Đổng (Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh – bây giờ là Gia lâm, Hà nội), thờ Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương; Đền Hạ Lôi (xã Mê linh, Vĩnh Phúc) thờ Hai Bà Trưng; Đền Kiếp Bạc (xã Chí Linh, Hải Dương) thờ Đức Trần Hưng Đạo,  Đền Trần Nguyên Hãn (xã Sơn Đông, Lập thạch, Vĩnh Phúc); Đền Nguyễn Trãi- Nguyễn Thị Lộ (xã Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình).…

Về kiến trúc, một ngôi đền thường chia làm hai phần. Phần nội điện (hay còn gọi là hậu cung) và nhà đại bái. Kết cấu này thường được bố cục theo lối chữ “Đinh” dân gian gọi là kiểu chuôi vồ.

Nhà đại bái lại chia làm 3 khoảng (3 gian hoặc 3 gian 2 dĩ) là trung đền, tả gian và hữu gian. Trung đền còn gọi là tiền tế, nơi có chiếu nghinh thần trong các cuộc tế.

Trước Đền có sân, cùng với trung đền làm nên một không gian thực hiện tế lễ trong các ngày giỗ thần ngăn cách với bên ngoài, có cổng đền. Cổng có cánh đóng mở để tỏ sự tôn nghiêm.

Thường thì các Đền không mở hội dân gian, chữ “Hội” ở đền chỉ có ý nghĩa là toàn dân họp lại thực hiện các nghi thức tế lễ, cầu cúng và thực hiện trình diễn lại các sự kiện lịch sử liên quan đến vị thần được thờ.

Miễu : Miễu (dấu ngã) là một ngôi Miếu (dấu sắc) nhỏ, dùng để thờ những người bất đắc kỳ tử gặp giờ linh. Trước khi được lập Miễu thờ phụng, người chết này, theo tục truyền, có hiện hồn về với những quyền phép lạ chứng minh cái uy quyền của mình.

Am (chúng sinh) :  Một cái “đàn âm linh” nhỏ dựng bên cạnh các nghĩa địa để thờ vọng chung các âm hôn, mồ mả vô chủ, vô danh. (Chữ “Am” cũng dùng để gọi một ngôi chùa nhỏ thờ Phật; “Am” cũng là nơi yên tĩnh để các sư Phật giáo tịnh tâm hay đọc kinh phật).

– Tự điền, Tự trạch : Mỗi làng dành riêng mấy mẫu ruộng là tự điền; hoặc dành một cái hồ, cái đầm riêng gọi là tự trạch để mỗi năm lấy hoa lợi, ngư lợi ở đó mà dùng vào việc cúng, tế tự cho làng.  Làng nào không có tự điền, tự trạch thì dân làng phải đóng góp với nhau một khoản tiền; hoặc trích tiền từ công qũy để chi phí cho việc tế tự.

Người Thủ từ, Cai đám : Người được chỉ định trông coi đình miếu, lo việc hương đèn hương và giữ đồ phụng sự… Nhiều làng chỉ để Thủ từ lo việc giữ đình miếu; và cử riêng một người lo viếc cúng bái gọi lá Cai đám – Cai đám là một người đáng kính của làng; cũng là người thường đúng ra làm chủ tế.  Người Thủ từ được hưởng một ít hoa lợi của đình miếu và đôi khi được miễn cả thuế và tạp dịch.

Trong việc thờ Thần, cúng lễ là điều quan trọng – Không có cúng tế lễ, là không có sự thờ phụng.  Việc cúng lễ thường được thực hiện quanh năm (ngày sóc vọng và tiết lạp bốn mùa).

Cúng lễ theo định nghĩa của Tử Điển Việt Nam Phổ Thông của Đào Văn Tập là :

Cúng : Dâng lễ vật lên thần thánh và tổ tiên (thần thánh đây phải hiểu là kể cả Trời Phật…) Cúng có thể có hoặc không có âm nhạc.

Tế : Cúng lễ theo nghi thức long trọng và phải cò âm nhạc (nghi thức Tế sẽ được bàn chi tiết ở phần sau).

Lễ : Cách bái lạy cung kính trước bàn thờ.

(Chi tiết về nghi thức Cúng và Tế lễ sẽ được bàn ở bài sau – “Tế Lễ”).

(Còn tiếp) 

XEM TƯỚNG TRÁN

XEM TƯỚNG TRÁN

& NẾP NHĂN TRÊN TRÁN

Trán là phần mặt của thượng đình. Trong lãnh vực cốt tướng học, Trán là phần bạo bọc phía ngoài của tiền não bộ. Vì tiền não bộ được y giới công nhận là chủ về trí tuệ nên giữa sự cấu tạo và phát triển của tiền não bộ và hính dáng của Trán có liên quan mật thiết với nhau. Do đó xét về trí tuệ con người rộng hẹp, sâu, nông không gì bằng xét hình dạng của Trán. Thông thường Trán cao rông, đầy đặn và ngay ngắn là biểu thị của trí tuệ cao thâm vì khái quát lực, thống nhất lực và quan sat lực phát triển mạnh mẽ khiến người ta dễ dàng quyết đoán kịp thưòi và chuẩn xác. Thành công và đắc lợi là ở chổ đó. Trái lại, kẻ đầu óc trì độn hay do dự bất quyết hoặc nhận định thiếu sót thường bỏ phí nhiều cơ may vận tốt. Do đó về mặt mạng vận, tướng học cổ điển gọi trán là Quan lộc cung thật là có ý nghĩa. trán rộng và cao thì đường công danh rạng rỡ, còn hẹp và thấp thì Quan lộc diên tri và trí tuệ bất túc.

Nhưng trán rộng hay cao, hẹp hay thấp là do sự cấu tạo tiên thiên, không do cá nhân quyết định, may mắn thì được trán tốt, tức là bẩm thụ được trí tuệ cao viễn, chẳng may thì ngược lại . Bởi vậy trán còn biểu thị cung Phúc đức của môt cá nhân, Phúc đức rộng hay hẹp , dày hay mỏng có thể do trán thể hiện một phần lớn.

CÁC HÌNH THỨC CỦA TRÁN

Nếu ta gọi AC là chiều dài khuôn mặt và MN là bề ngang rộng nhất của trán thì ta sẽ có một tiêu chuẩn để định trán cao hay thấp và rông hẹp như sâu (H.1)

Nhìn một cáh tổng quát ta phân biệt được trán cao và rộng, trán thấp và trán hẹp, trán lồi và Trán vắt v.v…Trên thực tế các loại trên lại pha trộn với nhau tạo thành muôn vàng hình dáng dị biệt. Trước khi đi sâu vào chi tiết cần phải phân biệt thế nào là dài và rộng.

Thông thường, bề ngang khuôn mặt bằng chiều dài tính từ khỏng giữa 2 đầu lông mày tới cằm (xem H.1). Qua tiêu chuẩn mẫu đó thì coi là rộng, dưới tiêu chuẩn đó bị coi là hẹp. Về chiều cao của trán, đối với người thanh niên và không sói đầu quá sớm thì bằng một nữa chiều dài từ khoảng giữa 2 đầu lông mày tới cằm. trên mức độ đó là cao, dưới mức độ đó coi là thấp.

1/- Trán rộng :

Bề ngang rộng, phẳng, có bề cao trung bình biểu thị đặc tính bị động củ trí tuệ. Người có trán rộng mà thấp là kẻ có trí nhớ dai, khả năng ghi nhận các sự kiện cụ thể rất mạnh, nhưng óc phân đoán không hoàn hảo. Họ chỉ suy luận và phán đoán một cách cụ thể. Óc tưởng tượng của họ chỉ lập lại các hoàn cảnh đã trải qua chứ không kết hợp được để sáng tạo ra những hình ảnh mới . Nói một cách tổng quát, đối với một người có trán trung bình hoặc hơi thiếu bề cao, mà lại rất rộng bề ngang thì có thể quyết đoán rằng người đó có khả năng phát triển kiến thức về chiều rộng nhưng không đủ khả năng phát tiển về chiều sâu . Nếu phần dưới của trán, giáp ranh với lông mày, lại bằng phẳng và chiếm phần trội yếu thì kẻ đó thiếu hẳn trí tượng cần thiết để có thể tiên liệu được các hậu quả sẽ xảy tới trong tương lai do việc làm hiện tại của mình. Ngược lại nếu phần trên cảu trán quá rộng so với toàn bộ trán thì kẻ đó quá thiên về tưởng tượng, mơ mộng, thiếu thực tế .

2/- Trán cao :

Trán chỉ có bề cao mà bề ngang xấp xỉ ở mức trung bình thì đặc điểm của trí tuệ sẽ là sự phát tiển của óc phán đoán, tập trung tư tưởng dễ và có khả năng sáng tạo (óc tưởng tượng khá dồi dào). bề ngang càng thu hẹp ở khu vực qunh mi-cốt đi đôi với sự phát triển quá đáng của phần trên sẽ là dấu hiệu của sự tưởng tượng xa với thực tế, sự lĩnh hội chỉ ở trong lĩnh vực siêu hình hoặc không tưởng.

Nếu Trán được phát triển cả bề ngang lẫn chiều cao thì thường thường là kẻ đó được thiên phú trí tuệ thâm viễn và hoàn hảo: óc quan sát khả năng lĩnh hội và trí tưởng tượng sáng tạo phong phú dễ thích ứng với hoàn cảnh thực tại. Tuy nhiên, các đức tính trên muốn được phát huy và trở thành hữu dụng lại còn phải tùy thuộc phần lớn vào cách cấu tạo chung của khuôn mặt, sự cân xứng của các bộ vị và nhất là đặc tính về phẩm chất của các bộ vị căn bản. Sự rộng hẹp cao thấp chỉ là dấu hiệu về lượng chưa đủ để xác định rõ ràng.

Ngược lại, nếu kẻ mà Trán vừa hẹp, vừa thấp là kẻ trí tuệ bị giối hạn tới mức tối đa. Mọi khả năng quan sát, lĩnh hội và phán đoán đều ở mức dưới trung bình. Các nhận xét của họ hoàn toàn dựa vào các sự quan sát nhãn tiền về các sự vật cụ thể hữu hình. Ngoài 4 trạng thái: cao, thấp, rộng, hẹp, Trán còn có thể có một trong các hình dạng sau đây tùy theo cách phối trí của chân tóc.

3/- Trán vuông :

Trán có hình thể vuông vức (H2) là dấu hiệu bề ngoài của sự trọng thực tiễn. Vuông cạnh mà cao rộng là đặc tính của tinh thần thực tiển và có khả năng thực hiện các quan niệm của mình. Phần lớn các khoa học gia, kinh tế gia, thực nghiệp gia đều có loại Trán kể trên .

Nếu Trán thấp hẹp mà lại có góc cạnh vuông thì trỏ óc trọng thực tiễn hoặc chỉ nhận thức được những điều thực tiễn nãng tiền nhỏ hẹp .

4/- Trán có góc tròn :

Hai góc trên của Trán nẩy nở và không có tóc tạo thành hai góc tròn khá rộng khiến phần Trán tiếp giáp với chân tóc trông giống chữ M (H3)

Loại Trán này nếu cao rộng là đặc tính của khả năng văn học, nghệ thuật thiên bẩm. Đối với các hoạt động vật chất thường nhật loại người có Trán như trwn thường có ý coi rẻ nên không thích ứng với các nghề thực dụng. Ở những người Trán thấp hoặc hẹp, dạng thức trên của Trán trỏ khía cạnh tiêu cực của khả năng thẩm mỹ và nghệ thuật : cảm thấy được cái đẹp nhưng không có khả năng diển đạt hoặc thực hiện.

5/- Trán gồ (lồi) :

Ta phân biệt ba loại .

a) Gồ phần giữa (H4)

Trán gồ lên ở phần giữa mà toàn bộ Trán lại thấp (tức là dưới mức trung bình) hẳn thực tế. Loại người này không bao giờ vạch ra được một kế hoạch khả dĩ thực hành được .

b) Trán gồ và ở hai phần trên dưới (H5)

Trán hình dạng này biểu thị trí tuệ bất túc trong nhiều trường hợp, khả năng trí tuệ dễ dàng hướng dẫn hành đọng trong lãnh vực thực tiễn quen thuộc, nhưng nếu một nghịch cảnh xảy ra, người đó sẽ không biết phản ứng thích nghi với hoàn cảnh mới và sẻ lúng túng không tiìm được cách giải quyết ổn thỏa tinh thần luôn luôn bị ám ảnh.

Nếu phần lọm ở giữa Trán chỉ vừa phải, phần gồ trên dưới cũng ở mức vừa phải thì sự lúng túng sẽ có thể vượt qua sau một thời gian nghiền ngẫm. Qúa nổi bật, thì sự lúng túng đó đưa đến sự bất quyết, bần thần và có thể là sự ù lì.

c) Gồ ở phần dưới (H6)

Thông thường, nếu Trán ở mức trên trung bình về cả cao lẫn rộng, dấu hiệu này cho biết là kẻ đó có óc thông minh dựa trên dữ kiện do tất cả mọi cơ năng đem lai và dùng làm nền tảng tiến khới cho các hoạt động. Kẻ đó không thích đi sâu vào chi tiết và không trọng khuôn sáo (non conjormisie).

Nếu phần này đi đôi với phần mi-cốt nẩy nở đều và cao vừa phải, chủ về cá tính rất mạnh nhưng kém phần hàm dưỡng: Tính bạo tháo, dám nói dám làm những điều mới lạ độc đáo. Đi đôi với Trán cao rộng và vát về sau, kẻ đó rất tự tin, thích hành động mạo hiểm, nên cổ tướng pháp mệnh danh là “Bất năng tòng tục, dũng cảm, háo vi phi : Không thể sống theo thói thường, có tính dũng cảm, thích làm những gì tự cho là hợp đạo lý khi cần bất tuân luật lệ triều đình”.

6/- Trán tròn : (H7)

Cao mà tròn, đầy đặn và điều hòa là kẻ đầu óc thông tuệ. Phụ nữ mà có loại trán này thì đối với vấn đề hôn nhân đòi hỏi một mối tình lý tưởng nên khó được mãn nguyện. Do đó sau khi kết hôn dễ làm cảnh chia ly.

Đàn ông chủ về tự tư, tư lợi quá đáng, khó sống chung với thân tộc cho nên ly hương lập nghiệp mới dễ phát huy được tài năng, toàn diện.

7/- Trán lẹm : (H8 & H9)

Trán thu hẹp dần cả về bề ngang lẫn bề cao tính từ mi-cốt trở lên. Theo nhận xét các nhà tướng học Nhật Bản hiện nay là Thạch Long tử Thi trong cuốn Quan tướng học đại ý thì chính vì não bộ thiếu phát triển nên xương sọ cũng bị thiếu tăng trưởng mà thành ra hình dạng như trên.

Trán lẹm là dấu hiệu bề ngoài của trí tuệ và tình cảm thô lậu, nên hành động, ngôn ngữ không hơn gì người man dã dù rằng có được giáo hoá cũng bằng vô ích, vì những kiếm khuyết trí tuệ có tính cách tiên thiên nói trên.

Trán thì khi nhìn thẳng thì thấy cân xứng, nhìn nghiên thì thấy hơi lõm là dấu hiệu rõ rệt nhất của sự nổ lực trí tuệ. sự nổ lực đó rất dễ dàng nếu sự sai biệt giữa các phần lồi lõm đó hào hợp thích đáng (H10) và nếu sự kiện trên phối hợp với trán cao, rộng ta có thể tiên đoán rằng đó là một cá nhân thông minh một cách tế nhị, nhớ lâu những điều cần nhớ, có thứ tự về tư tưởng, óc suy luận và tập trung tư tưởng chính chắn nên phán đoán chuẩn sát hơn người thường.

Về lĩnh vực quan sát, người đó lưu ý đến hình dạng, vị trí cách phối trí và sự cân xứng hơn là về màu sắc của sự vật . Họ có khuynh hướng trừu tự hóa, suy quả cầu nhân, có khả năng tổng quát háo và hệ thống háo việc giải thích sự vật cụ thể cũng như siêu hình.

Ngược lại, Trán chỉ cao rộgn nhưng phẳng lì như mặt bàn chứ không có sự lồi lõm tối hiểu để có thể nhìn thấy từ xa một cách hòa hợp là dấu hiệu của sự hời hợt, thiếu hẳn sự sâu sắc, tư tưởng khó có thể tập trung vào một số trọng điểm cần thiết. Do đó sự phán đoán thường thiên lệch vì thiếu dữ kiện cần thiết.

Ý NGHĨA CỦA CÁC DẠNG TRÁN

Trong đoạn dạng thức cảu trán, chúng ta có suy diễn những ý nghĩa thuộc về tính tình và trí tuệ . Thật ra, trán không phải chỉ có hai ý nghĩa đó mà còn có nhiều ý nghĩa vận mệnh rất phong phú. Vận mệnh con người trên trán đã được khảo sát trong các chương nói về Thiên Đình, nói về các bộ vị ở Thiên đình như Thiên Trung , Thiên đình, trung chính nói về cung Quan Lộc, cung thiên di. Tác giả không nhắc lại ở đây để tránh sự trùnh dụng và rườm rà.

CÁC NẾP NHĂN TRÊN TRÁN :

Các nếp nhăn trên trán chỉ có tính cách phụ đới và không mấy ý nghĩa về phưưong diện mạng vận khi quá tuổi trung niên.

Nhưng nếu trong tuổi thanh niên mà nếp nhăn trên trán xuất hiện rõ rệt thì đó lại là điềm đáng lưu ý. Do đó những vằn trán nói ở đoạn này chỉ có nghĩa nhiều đối với tuổi thanh xuân mà thôi (các H11)

Đứng về phương diện quan sát phổ thông, đại đa số ngươì Á-Đông thường có 3 nếp nhăn trên trán và tướng học khi khảo cứu về vằn trán đã dựa vào đa số kể trên. Ba nếp nhăn trên trán tính từ trên xuống dưới là : Thiên văn, Nhân văn, Địa văn với các ý nghĩa tương tự như sau :

– Thiên văn : chủ về tôn trưởng, người trên

– Nhân văn : chủ về bản thân

– Địa văn : chủ về thuộc hạ, những người dưới mình.

Bởi vậy theo tướng học Á-Đông, 3 nếp nhăn trên trán xuất hiện rõ ràng không đứt đoạn tưưong xứng đoạn tương xứng và có chiều hướng đi lên được coi là các tướng vì dung hòa được cả 3 yếu tố: sự nổ lực của bản thân, giúp đỡ của người trên, kẻ dưới (H11-1). Trường hợp 3 vạch ngang không bình thường lên cũng được xem là cát tướng nhưng thứ bậc kém hơn (H11-2).

Bất cứ đường nào thuộc về Thiên văn, Nhân văn, Địa văn đều phải dài, rõ, không đứt đoạn và vắt ngang trán mới được xem là hợp cách.Thiên văn rõ ràng tươi đẹp chứng tỏ mạng vận lúc nhỏ thường được tôn trưởng, thương yêu giúp đỡ, ra đời được thượng cấp quí mến. Nhân văn hợp cách trong một khuôn khổ chung hoàn hảo của trán, biểu thị vận mạng, công danh của người đó đều do dự họ khai sáng, không nhờ cậy vào ai. Địa văn rõ ràng và dài hợp cách chủ về kẻ đó được những người dưới tay tận tâm giúp đỡ mà nên sự nghiệp.

Ngươc lại thiên văn không rõ ràng là kẻ không được người trên hổ trợ, Nhân văn không rõ ràng hoặc đứt đoạn là kẻ tính tình cáu kỉnh, hay gây gổ, Địa văn không ra gì thì kẻ đó khó cùng người dưới hợp tác chân thành.

Dưới đây là ý nghĩa và sơ đồ của một số các nếp nhăn trên trán thường có :

– Có đủ cả ba đường nhưng hoặc Thiên văn hay Nhân văn hay Địa văn không song hành (H11-3 và H11-4) thì kẻ đó sẽ gặp hoặc người trên hoặc kẻ dưới không giúp ích gì được cho mình, đôi khi còn gây rắc rối nữa.

– Cả ba đường đó rõ, hợp cách nhưng có một đường thẳng từ Ấn đường chạy lên cắt đứt như hình chữ vương (H11-5) được coi là một dấu hiệu tốt chủ về trí tuệ thông minh khoát đạt, ý trí kiên cường, nhưng đứng về mặt vợ chồng: bất hòa dễ đưa đến đổ vở vì Nhân văn tạo thành với đường thẳng đó một hình chữ thập, tượng trưng cho sự phu thê ly tán.

– Chỉ có đường Nhân văn rất dài, sâu mà không có Thiên và Địa văn : Chủ về huynh đệ bất hòa, ở chung một mái nhà dễ gây xung đột, đối với vợ, kẻ đó cũng thường hay gây gổ. Nếu cả hai vợ chồng đều có loại vằn trán này thật là đại bất hạnh trong cuộc sống lứa đôi (H11-6)

– Chỉ có Thiên, Địa văn mà không có Nhân văn hay có mà quá mờ lạt, ngắn : chủ về kẻ đó dễ bị những người xung quanh chi phối (H11-7)

– Nếp nhăn trên trán như vết rắn bò (xà hành) có thể liền (H11-8) hoặc đứt đoạn chủ về tuổi ấu thơ bị nhiều nghịch cảnh, không được hóa thuận với tôn trưởng, thân thể suy nhược, tư tưởng bi quan. Đối với đàn bà, chỉ dấu trên càng có ý nghĩa sâu sắc hơn.

– Nếp nhăn trên trán hình hạc (H11-9) vì trông tương tự như chim hạc đang bay là dấu hiệu của kẻ lãnh đạm với danh lợi vật chất, chỉ thích suy nghĩ, thần kinh suy nhược, kém giao tế. Trong nhãn quan của nữ giới, đàn ông có vằn trán hình hạc là kẻ rất lãnh đạm với thú vui chăn gối.

Lan Nguyễn

NGÔI LÀNG CÓ MA

SAU MỖI EM BÉ RA ĐỜI

Hãng thông tấn tại Argentina thuộc khu vực Nam Mỹ đưa tin gây sốc này. Gần đây, tờ báo hàng ngày Popular tại đất nước này đồng loạt đưa thông tin, “có một con ma luôn đi tìm những trẻ sơ sinh mới chào đời” và các tờ báo còn thuật lại những câu chuyện mắt thấy tai nghe của những người dân địa phương.

Con ma đi tìm những em bé sơ sinh đã xuất hiện tại một ngôi làng nhỏ Isdiro Cassanobar ở gần khu vực của thành phố Buenos Aires.

Một người dân trong làng có tên là Mariana đã 2 lần tận mắt chứng kiến con ma đó. Con ma mặc một chiếc áo choàng màu đen và đội chiếc mũ đen. Mariana trong một lần phỏng vấn đã kể lại : “Ngày mà thấy con ma đó là ngày trẻ em sinh ra trong các nhà ở làng. Chỉ cần có trẻ em sinh ra ở trong làng là lại có người nói rằng đã nhìn thấy ma”.

Một người dân khác có tên là Marlene cũng khẳng định đã nhìn thấy con ma đội mũ. Người này nói : “Tôi đã trông thấy con ma có hình dáng như con người đội mũ nhưng không thể nhìn thấy mặt nó”.

Tờ Popular đưa tin : “Một gia đình đã thực hiện nghi thức trừ tà để đuổi con ma đó đi nhưng không có hiệu quả”.

Cũng có luồng tin đồn rằng con ma đi tìm trẻ sơ sinh trong làng là linh hồn của một người đàn ông từng sinh ra ở làng này, đã tử mạng trước đó mấy chục năm. Người đàn ông đã phạm tội và đã bị giam cầm trong một nhà tù ở phía nam của Argentina cách đây 50 năm. Sau khi anh ta bị giam trong tù, vợ anh ta đã sinh con nhưng anh ta không thể nhìn thấy mặt con trai mình mà đã tắt thở tại nhà giam. Vì thế linh hồn anh ta đã biến thành con ma và mỗi khi có trẻ em được sinh ra, con ma lại xuất hiện để nhìn thấy hình ảnh của những đứa trẻ.

Tuy nhiên chưa có bằng chứng xác thực nào về những câu chuyện trên. Thực hư của câu chuyện này vẫn còn là một bí mật tại ngôi làng nhỏ.

Hoàng Vân