Điểm mặt các đồng cốt (1)

Linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết có hay không ? Sau đây bài viết “Linh Hồn và Cõi Âm” của GS TS Bùi Duy Tâm (sống tại Francisco, CA 94122, USA). Từ chỗ chưa có cơ sở để tin cậy vào sự tồn tại vong linh của con người, GS Tâm đã kiên trì tìm hiểu vấn đề tâm linh và cuối cùng đã rút ra kết luận chắc chắn rằng : sự sống sau cái chết là có thực !

GS Bùi Duy Tâm cũng đã đi tìm hiểu thực tế từng nhà ngoại cảm, từng vị đồng cốt có tên tuổi để có cái nhìn cho đúng thực chất hơn.

ĐIỂM MẶT CÁC NHÀ “NGOẠI CẢM”

Gs-ts – BÙI DUY TÂM

Từ khi ra mắt độc giả bài viết về “Linh hồn và Cõi âm” năm 2008 đến nay, trong thời gian đó tôi vẫn tiếp tục tìm hiểu các chứng cớ cho sự hiện hữu của “Linh Hồn và Cõi Âm” bằng cách đi thực tế tại các vùng Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Thanh Hóa cùng với nhà sinh vật học PTS Nguyễn Phúc Giác Hải hay với sự chỉ dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Chu Phác và bằng cách trao đổi với nhà tâm linh học Nguyễn Hữu Hiệu về các trường hợp một số nhà soạn nhạc quá cố nổi tiếng đã truyền đạt cho người sống viết nốt những bản hòa tấu còn dang dở hay viết tiếp các bản hòa tấu họ sáng tác sau khi qua đời. Ngoài ra tôi đọc sách và tìm trên mạng những thông tin mới về lĩnh vực này.

A. GỌI HỒN VÀ ÁP VONG

1. Cô Mến (chân cầu đầu tỉnh Hải Phòng)

Chúng tôi đến nhà cô sau 12 giờ trưa ngày thứ  bảy 16.6.2007 sau khi không chờ được cô Bằng và  không gặp được cô Thạo trên đường từ Hà Nội đến đây. Thoạt đầu cô không chịu tiếp vì trễ quá giờ tiếp khách. Nhưng chúng tôi cứ ngồi ì ra không chịu về nên cuối cùng cô cũng phải tiếp. Các vong lên dễ dàng, khá chính xác. Người bạn lái xe không chịu vào. Cô gọi đúng tên bắt vào vì có vong muốn nói chuyện. Cô Mến rất tự nhiên, dễ thương, ăn nói phải lẽ, có thể tin được : Khả Tín.

2. Cô Hoàng Thị Thiêm (Hà Nội)

Chiều thứ Tư  20.6.2007 , anh Nguyễn Phúc Giác Hải gọi  điện thoại mời tôi ra Viện Vật lý, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người số 10 Đào Tấn để gặp cô Thiêm vừa đi Nhật về (cô được mời sang Nhật để khảo nghiệm khả năng bịt cả 2 mắt mà vẫn nhìn thấy, đọc chữ và lái xe Honda). Buổi gặp gỡ ngoài cô Thiêm, em gái cô Thiêm (Hoàng Thị Thua), anh họ cô Thiêm là TS. Trần Văn Biển còn có TS. Hà Vĩnh Tân, Giám đốc Viện Vật lý Điện tử và anh Nguyễn Phúc Giác Hải – chủ nhiệm bộ môn thông tin và dự báo của Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người (TTNCTNCN). Buổi khảo nghiệm khả năng bịt mắt mà nhìn, đọc được cái thiếp bằng tiếng Anh của tôi hoàn toàn thành công, không có một chút nghi ngờ gì về khả năng này.

Tối ngày hôm sau Thứ Năm 21.6.2007 cả 3 người : cô  Thiêm, em gái cô và ông Trần Văn Biển đến nhà em gái Bình Minh của tôi (số 2 Cổ Tân, cạnh nhà hát lớn) để biểu diễn khả năng ÁP VONG.

Có hai, ba người trong gia đình ngồi để chờ các vong linh trong gia đình về nhập vào; ba người trong bọn cô Thiêm thúc giục người chịu áp vong để vong linh gia đình nhập vào mà xuất khẩu như kiểu cách thôi miên. Hết người này thay phiên người khác ngồi chờ vong áp vào. Suốt 2, 3 giờ đồng hồ chẳng có vong nào áp vào cả.

Trò  “Áp Vong” hoàn toàn thất bại, chưa kể TS. Trần Văn Biển còn dặn dò mọi người không được chất vấn các vong những câu hỏi khó khăn mà chỉ được hỏi han sức khỏe chung chung thôi.

Để xoa dịu các người đến dự, tôi yêu cầu cô Thiêm biểu diễn trò “Bịt mắt đọc sách” với chiếc khăn buột chặt quanh mặt ngang qua đôi mắt, cô đọc hết các dòng chữ trước mặt. Hỏi cô đọc bằng cái gì, cô chỉ vùng trán giữa hai con mắt. Mọi người phì cười vì chiếc khăn vòng qua mặt đã bịt cả chỗ đó. Tóm lại chính cô cũng không biết.

3. Cô Nguyễn Thị Thạo

Sinh năm 1964, tuổi Giáp Thìn, có 2 con, nhà kiểu biệt thự to lớn, sang trọng chỉ kém nhà cô Phương ở Thanh Hóa. Đi đường Hà Nội – Hải Phòng, quá địa phận Hải Dương, qua trạm phát vé kiểm soát 100m gần ga Dụ Nghĩa rẽ phải đi vào 3 cây số đến xã Đại Bản, huyện An Dương, tỉnh Hải Phòng. Tuần trước đã đến một cái điện khác của cô ở nhà anh cô tại thôn Cử, xã Lê Thiện cũng thuộc huyện An Dương tỉnh Hải Phòng.

Sáng thứ Năm 21.6.2007, một đoàn hùng hậu gồm :- Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người (TTNCTNCN), Bà Mai xuất thân là một nhà báo, GS. TS. Ngô Đạt Tam, một nhà nghiên cứu tâm linh. Ông Trần Thịnh phụ tá TS. Chu Phác ghi chép diễn tiến của buổi tiếp xúc với cô Thạo. Hai bác sĩ Lê Thanh và Ngọc Sanh, Bùi Bình Minh, em gái tôi

Ngoài  đoàn chúng tôi còn có các khách khứa bạn bè của chủ nhà. Cô Thạo là một người thiếu phụ  ngoài 40, nét mặt thanh tú sang trọng, nói rất nhỏ, vừa gieo 2 đồng tiền vừa nói nhỏ nhẹ vừa đủ cho người ngồi bên nghe. Mọi người có vẻ hài lòng, cô em Minh của tôi nói : “Đúng anh Lựu, chồng em về rồi. Cô Thạo bắt đầu bằng việc mời thuốc lá mọi người đúng hệt như thói quen của nhà em”. Giáo sư Ngô Đạt Tam thì thầm với riêng tôi: “Cô ấy nói những chuyện gia đình chỉ riêng tôi biết”. Còn đối với tôi thì chỉ là chung chung, không chuyên biệt như cô Phương Thanh Hóa – cũng tạm được.

Cô  Thạo rất có giá, đã từng được khách mộ điệu mời qua Mỹ.

4. Cô Vũ Thị Bằng (thôn xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương trên quốc lộ 5).

Ngày nào nhà cô cũng đông như cái chợ. Trong nhà ngoài sân chật cứng. TS Chu Phác giới thiệu và nhiều người khen hay nên tôi trở đi trở lại từ ngày 27.12.2007 đến ngày 31.12.2007 tất cả 5 lần.

Lần cuối cùng sáng thứ hai 31.12.2007, tôi được vào  đầu tiên lúc 7 giờ sáng : ông Nội tôi về nói chuyện 45 phút. Mọi người cho là quá thỏa đáng xứng với công tôi đi lại 5 lần trong 5 hôm liền. Nhưng đối với tôi là hoàn toàn vô giá trị vì cô Bằng đã dựa vào tờ giấy khai lý lịch gia đình của tôi còn trong câu chuyện chỉ nói chuyện vớ vẩn chung chung cho mọi người.

Tôi không u mê như hầu hết mọi người. Việc vong hiện về là có thật vì cũng như mọi lần khác chỉ có Cha tôi và ông Nội tôi về. Cha tôi về đứng đợi ngoài cổng nói với vọng vào trước chờ em Quang tôi, đợi lâu quá ông bỏ đi. Đúng là cha tôi : ông yêu em Quang hơn tôi và thường không kiên nhẫn chờ đợi. Ông Nội tôi cũng hay về là đúng. Còn nội dung câu chuyện là cô Bằng phịa ra cho vừa lòng khách. Đa số người khác hài lòng nhưng tôi không chấp nhận.

5. Cô Nguyễn Thị Tuyên

Đáng nhẽ rẽ phải vào cầu Sắt để vào cô Bằng thì cứ đi thẳng thêm 7 cây số nữa đến thị trấn Thứa – Lương Tài – Bắc Ninh (trên đường đi Phú Lương) thì rẽ phải hơn 1 cây số đường xấu, qua một cánh đồng đến Kim Đào thì thấy một cái nhà 3 tầng đầu tiên. Đó là nhà cô Tuyên, nổi tiếng cho gặp các vong sẩy thai hay trục thai.

Từ ngày 27.12.2007 đến ngày 31.12.2007, tôi trở đi trở lại mất 4 lần, lần sau cùng mới được gọi ngay nhưng vong không về. Mỗi khi vong nhập cô Tuyên, thì miệng cô cứ tru tréo như trẻ con. Khi vong thoát thì cô dãy đành đạch rồi bất tỉnh một lúc mới ngồi nhỏm dậy. Mấy bà già trầu chắp tay vái lạy lia lịa, có vẻ tin tưởng lắm. Còn tôi thấy thật đúng là trò bịp bợm. Gặp tôi coi bộ không qua mặt được nên nói là vong không về luôn cả 4 lần. Tôi nghĩ “gọi hồn” đã thành một món ăn tinh thần cho dân quê miền Bắc như đi chùa, đi nhà thờ.

6. Dương Mạnh Hùng –  Hà Nội

Chuyên bấm mạch thái tố (?), vẽ chân dung vong, nói chuyện với vong và tìm mộ. Ở nhà cô Tuyên ra, chúng tôi chui vào căn phố tối om, leo lên gác gặp anh Hùng đang dùng điện thoại di động chỉ dẫn cho một thân chủ đương đi tìm mộ, bên cạnh người bạn gái tên Nga, được giới thiệu là nhà ngoại cảm.

Hình như “gọi hồn” và “ngoại cảm” là một cái mốt thời trang của dân miền Bắc thời buổi này. Tôi muốn gặp Mẹ tôi mới qua đời được 6 tháng. Anh ta vẽ chân dung bằng bút chì nếu cố gắng cho là giống thì cũng hao hao giống như các bà già khác. Anh nói lung tung đầy vẻ tự tin nhưng toàn là láo khoét không như sách vở báo chí ca tụng.

7. Cô Hà (cây số 88, Hải Dương)

Sáng Chủ nhật ngày 15.6.2008, sau khi đã điện thoại trước lấy hẹn, chúng tôi đến gặp cô Hà. Cô tiếp chuyện chúng tôi một lúc rồi nói hôm nay có tháng nên không làm việc với các vong được.

Chúng tôi rất ngạc nhiên hỏi sao trên đường đến nhà cô chúng tôi đã điện báo trước mà cô không nói. Cô chỉ cười nhắc lại chuyện đàn bà của cô. Cô Hà cũng như cô Tuyên thấy chúng tôi hay đúng ra là chính tôi không phải thứ thân chủ dễ tin nên không dám dở trò bịp bợm.

8. Cô Nguyễn Thị Oanh (thôn Kinh Uyên, xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương)

Trên đường trở về Hà Nội, chúng tôi ghé vào điện cô Oanh. Cô này khấn vái chư Phật một hồi rồi phán lung tung, sai bét. Tôi bực mình đứng dậy ra về thì cô và gia đình cố giữ lại dùng bữa trưa để chiều làm việc tiếp. Mọi người trong đoàn có ý xiêu lòng muốn ở lại nhưng tôi quyết định đi ngay vì không muốn để cô móc tiền bữa cơm trưa. Cô Oanh không có một khả năng gọi hồn tí nào chỉ lợi dụng lòng mê tín của lũ dân quê mà nói láo ăn tiền.

9. Cô Nguyễn Ngọc Hoài (Nhà riêng cây số 26 quốc lộ 1A – Thắng Lợi – Thường Tín – Hà Tây)

Cô  Hoài có khả năng “tìm mộ từ xa” làm việc tại “Liên hiệp Khoa học UIA” (Ban khảo nghiệm các khả năng đặc biệt) thuộc Viện khoa học hình sự, Bộ công an (01 Đông Tác – Kim Liên – Đống Đa – Hà Nội). Anh Nguyễn Phúc Giác Hải chủ nhiệm Bộ môn Thông tin và Dự báo của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người dẫn gia đình tôi tham gia một buổi ÁP VONG thứ sáu hàng tuần tại nhà riêng cô Hoài.

Hôm đó là thứ Sáu 20.6.2008 , ngoài khả năng ngoại cảm tìm mộ từ xa, cô Hoài còn hướng dẫn “ÁP VONG” cho các gia đình vào ngày thứ sáu hàng tuần. Gia đình tôi có mặt đúng 8 giờ sáng đã thấy 7,8 chục người ngồi xếp chân xuống sàn nhà từng gia đình 4, 5, 6 người. Cô Hoài bắt đầu buổi “áp vong” bằng nói vài lời hướng dẫn đại khái là ngồi yên, nhắm mắt, mời vong nhà mình về …

Gia đình tôi thì vẫn như bữa cô Thiêm tới áp vong, án binh bất động, chẳng có vong nào về áp vào ai cả. Tôi đi thăm các gia đình khác. Cũng có vài ba đám có vài người nói lung tung, nửa đùa nửa thật, chẳng ra làm sao cả. Chừng hơn 2 tiếng chúng tôi bỏ về. Cô Hoài phàn nàn với anh Giác Hải là gia đình tôi không thành tâm. Tôi chán cái trò “ÁP VONG” quá.

10. Cô Núi (Mỹ Đình – Hà Nội)

Sáng hôm thứ năm 19.6.2008 chúng tôi phải đi đón một anh công an, người giới thiệu cô Núi và anh bạn Nguyễn Phúc Giác Hải. Khi đến đầu cầu đã đã thấy một người đàn ông (chồng cô Núi) đứng đợi. Anh ta đi xe Honda dẫn đường đến một căn nhà vắng hoe. Tôi có cảm tưởng không tốt vì những nơi khác thì nhà to cửa rộng người đông như họp chợ. Chỗ này coi bộ ế khách. Quả đúng như dự đoán, cô Núi là một hạng gọi hồn rẻ tiền nhất mà tôi đã từng gặp. Nói năng vớ vẩn, cũng niệm Phật … thật là khôi hài.

Tháng hai năm 2009, tôi lại về Hà Nội và tiếp tục đi tìm hiểu các cô Đồng.

11. Cô Đồng Nứa

Nửa  đêm ngày thứ Sáu 06.02.2009 tới Hà Nội, GS. Đào Văn Long, hiệu phó ĐH Y Dược Hà Nội và BS. Vũ Trường Khanh ra đón tại phi trường Nội Bài. Chủ nhật 08.02.2009 tôi đã tới thăm điện cô đồng Nứa (vùng ven đô Hà Nội). Thân chủ khá tấp nập. Có bảng hiệu Cô Đồng Nứa và nơi gửi xe tổ chức đàng hoàng. Quang cảnh cũng như mọi nơi: các bà các cô ngồi xúm chung quanh cô đồng Nứa, chắp vái lia lịa. Cô đồng tay gieo 2 đồng tiền, mồm khấn vái rồi phán lung tung …

12. Cô Đồng Thắm (do BS. Hiên giới thiệu và dẫn đến)

Ngày chủ nhật 11.02.2009 tôi lại đi đến điện cô Thắm, không có gì đặc biệt. Cũng lếu láo như các chỗ khác.

13. Cô Đồng Sánh (cầu Hàm Rồng – Thanh Hóa)

Tôi  đã chán ngấy các cô đồng quanh vùng Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng rồi. Hôm nay đi Thanh Hóa (thứ Tư 14.02.2009 ) đến điện Cô Đồng Sánh vùng Cầu Hàm Rồng. Thân chủ khá đông, lớp trong lớp ngoài ngồi cả ra sân. Chúng tôi được vào ưu tiên vì đã có hẹn trước.

Em gái Bình Minh (73 tuổi) của tôi vào thử trước. Cô  nói hết gia đình nội ngoại có những ai, bao nhiêu tuổi đúng hết 100%. Khi hỏi đến chồng ra sao. Cô nói “buồn lắm để nói sau” (vì chồng cô em tôi đã mất từ lâu rồi). Đến lượt tôi cũng vậy: anh em, con cháu bao nhiêu người, trai gái tuổi tác ra sao đúng hết 100%, chính xác đến độ người nghe phát phì cười (vì cô nói giọng khôi hài và khẳng định).

Mục đích của tôi không phải đến để coi bói toán hay thách đố thử tài các cô đồng nhưng chỉ muốn giao tiếp với người quá cố để kiểm chứng sự hiện hữu của “Linh hồn và Cõi âm”. Cô Sánh hẹn bữa khác vì có việc phải đi ngay bấy giờ. Đúng vậy, khi vào đến cổng tôi đã thấy biển đề : “Cô  Đồng Sánh phải đi giúp việc. Xin hẹn ngày sau”

Tuy không đáp ứng trực tiếp mục đích tìm kiếm của tôi nhưng cô đồng Sánh (nói thành phần trong gia đình cùng tuổi tác), Cô Hoàng Thị Thiêm (bịt mắt đọc chữ và lái xe honda), ông Đỗ Đức Trí, Sơn Tây (chỉ cần xem tên họ mà biết hết thân thế sự nghiệp), và cô Phương, Thanh Hóa (đọc tên các vong và gia đình còn sống) thật sự là những khả năng ngoại cảm rất đáng lưu ý.

14. Cô Hoa (Nghi Sơn, Thanh Hóa)

Tiện  đường chúng tôi đi tiếp đến Nghi Sơn (biên giới Thanh Hóa – Nghệ An) để gặp cô Hoa. Cô này bảo mọi người lên rút một tờ giấy bản trong đó chẳng có chữ nghĩa, hình vẽ hay dấu vết gì cả. Đối với mọi người trừ cô thì tờ nào cũng như tờ nào, cũng trống trơn. Nhưng đến khi cô gọi lên điện đưa tờ giấy của mình ra thì cô trông vào đó đọc lên một bài thơ nói về người ấy tương đối khá đúng. Đọc rất trơn tru, vần điệu, rõ ràng không ngập ngừng. Nếu nghe chưa rõ thì cô đọc lại ý như trước như thể đọc, bài thơ đã viết sẵn, xong việc phải mang tờ giấy ra sân đốt đi.

Tôi ngồi suốt buổi quan sát mỗi người là một bài thơ hoàn toàn khác nhau, đọc ra trên tờ giấy không viết một chữ nào. Vợ chồng đứa cháu gái tôi luôn luôn chê bai chỉ trích các nhà ngoại cảm và các cô đồng khác nhưng lần này thi chúng khâm phục cô Hoa sát đất.

Cô Hoa nói chúng sinh ra một trai tưởng rằng trai, hóa ra không phải trai rồi cũng lại thành ra trai. Số là khi siêu âm lần đầu, bác sĩ bảo là con trai, siêu âm lần sau bảo là không phải con trai nhưng khi sinh ra thì lại là con trai. Còn về phần tôi, không có gì sai nhưng những điều cô nói có thể cô được người khác cho biết. Tôi là một người nhiều người biết tiếng lại hay ăn nói ngông nghênh không giữ mồm giữ miệng. Hơn nữa tôi cần nói chuyện với các vong thôi nhất là mẹ tôi mới mất được một năm rưỡi. Cô Hoa hẹn khi về Mỹ, điện thoại cho cô. Cô sẽ nối nhịp cầu với cõi Âm để nói chuyện với mẹ tôi. Tôi đã điện thoại vài lần nhưng không có kết quả như tôi mong muốn. Đối với tôi cô Hoa là vô dụng.

15. Cô Phương (Cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa)

Cô  Nguyễn Thị Thanh Phương, sinh năm 1972, học hết lớp 7,năm 12 tuổi có khả năng ngoại cảm, 16 tuổi đọc tên các vong và thân nhân, 18 tuổi lấy chồng, có 2 con gái.

Trên  đường về Hà Nội, tôi ghé thăm cô Phương như một cố nhân, lần cuối cùng cách đây 2 năm khi mẹ tôi vừa mất. Cô vừa ở điện về, dáng điệu mệt mỏi sau 1 ngày dài làm việc với các vong.

Không một cô đồng gọi hồn nào có khả năng ngoại cảm mạnh như cô Phương(có lẽ ta phải kể thêm cô Nguyệt). Cô nào cũng bắt thân chủ phải ghi họ tên mình, gia đình mình, tên họ và nơi chôn cất vong mà mình muốn gặp. Riêng cô Bằng lại yêu cầu viết hết tên tuổi cả đại gia đình trên giấy. Khi đến lượt ai thì cô để danh sách nhà đó kẹp dưới đùi, vừa gọi tên vừa phun ra những chuyện chung chung vô thưởng vô phạt.

Chỉ có một mình cô Phương cầu Hàm Rồng là hết sức đặc biệt: ai đến cứ việc ngồi chờ, không phải khai tên tuổi ai cả. Vong nhà mình về thì bà chị chồng ngồi cạnh cửa hô lên là vào. Cô Phương ngồi trên chiếc chiếu bình thường (chẳng có điện thờ Phật, ảnh Bác Hồ như hầu hết các điện gọi hồn khác) tự xưng mình là ai (vong mới về) rồi chỉ mặt gọi tên từng người trong gia đình. Gia đình tôi đến gặp cô 5, 6 lần. Có khi kéo tới 8-10 người, mấy thằng cháu rể biết thân phận ngồi nép bên vợ xa xa cũng bị cô điểm danh và hỏi thăm chuyện riêng tư của từng người. Khi gặp cô Phương tôi không còn nghi ngờ gì sự hữu hiệu của “Linh Hồn và Cõi Âm”.Lý do tôi đi gặp các cô đồng khác vừa để kiểm nghiệm chuyện tâm linh vừa để tìm hiểu các mánh khóe làm ăn của bọn bất lương buôn thần bán thánh.Nhưng vì cô Phương thuộc tông tích của tôi và gia đình tôi quá nhiều nên cũng mất hay dần đi.

(Một cô đồng khác không nổi tiếng bằng cô Phương nhưng khả năng ngoại cảm và gọi tên cũng rất chính xác như cô Phương là cô Nguyệt – Ngã Tư Sở Hà nội. Cô này có thể còn lương thiện hơn cô Phương mà tôi sẽ viết trong đoạn sau)

Cô  Phương than phiền sức khỏe suy kém đi nhiều, muốn nghỉ tiếp các vong mà không thôi được vì các vong về mà không cho gặp gia đình họ thì cô bị nhức đầu lắm. Mỗi khi ra điện tiếp người sống, người chết (vong): người sống đến chờ đầy nhà đầy sân, người chết (các vong) về chờ gặp gia đình cũng chen chúc nhau. Cô có quyền gọi vong nào vào trước. Có người phải ăn chực nằm chờ cả tuần lễ mới được gọi vào. Nhưng nếu vong không về thì cô Phương cũng chịu thôi, như trường hợp thằng cháu rể tôi.

Mỗi lần tôi tới cô Phương vừa trông thấy tôi vui vẻ báo ngay : “Các cụ về rồi, bác sang điện chờ cháu nhé !” Nếu chưa về cô cũng báo cho biết. Thế ra ở cõi nào cũng vậy, cũng thiên vị, cũng hối lộ. Tham nhũng chỉ được giới hạn, nếu 3 quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được giữ biệt lập và tôn trọng đệ tứ quyền là tự do ngôn luận, tự do báo chí. Còn nếu 4 quyền nói trên thu vào một mối thì… ô hô !

(Còn 1 kỳ nữa)

Thế giới tâm linh

Phong tục tập quán

Len dong 1

LÊN ĐỒNG

Thiên Việt

Lên đồng hầu bóng tức cho các Thánh mượn xác nhâp hồn, khi Thánh giáng về được gọi về giá, còn người lên đồng được gọi là ghế, một nghi lễ đặc trưng và tiêu biểu trong việc cúng lễ của người theo tín ngưỡng thờ Tam, Tứ phủ thuộc tín ngưỡng dân gian trong đạo thờ Mẫu (Tam Toà Thánh Mẫu).

Lên đồng hầu bóng hiện nay đã được công nhận là loại hình văn hóa tâm linh, phi vật thể, mang tính đặc thù của dân tộc Việt Nam, không phải loại hình mê tín dị đoan như mọi người trước đây thường nói đến.

Trước đây nhiều người không rõ hình thái lên đồng hầu bóng có quá trình lịch sử, mục đích ý nghĩa như thế nào, nên có những cái nhìn lệch lạc và đánh giá chưa đúng, và gọi những “tín đồ” theo tín ngưỡng thờ Mẫu với giọng mỉa mai là những ông đồng, bà bóng; đánh đồng với cái gọi “cầu hồn nhập xác” của giới đồng cốt, cùng với “xác cậu”, “xác cô” của những người được các phần vong về mượn xác.Nhap cot

Có lẽ trước đây mọi người liên tưởng đến những ai cứ trùm khăn đỏ lên đầu (phủ diện), và lắc lư thân thể để “cầu Thần” là những ông bà đông côt, vì những người này cũng trùm khăn đỏ lắc lư đê “câu Hôn”. Còn đồng cô trong đạo thờ Mẫu, nói về một đồng nam được các vị Thần Thánh thuộc giới nữ giáng về mượn xác để ra đồng, như giá các Chúa, các Chầu hay các Cô nên tưởng đấy là “xác cô”; hay như bóng Cậu khi người lên đồng có giá cậu Bé nhập về, tưởng rằng là “xác cậu”.

Nên cần phân biệt những người được gọi là đồng cốt, hay xác cậu, xác cô thường không xuất hiện từ những đền điện thờ chính thống, không thuộc tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ.

Còn lên đồng hầu bóng thuộc hình thức xâm nhập tâm linh, từ các vị được phong Thánh phong Thần, mượn xác nhập hồn vào các nam nữ có căn mạng…trong khung cảnh đèn nhang, lễ nhạc, múa hát, nhằm mục đích tẩy trừ rủi ro, bệnh hoạn trước nhất cho người lên đồng, hoặc trò chuyện, chữa bệnh cho người đến dâng lễ cúng.

Các nghi lễ này giống như hình thức của thuật “khiêu Thần” – sẽ trình bày ở phần sau – một tín ngưỡng thuộc Sa-man giáo có khắp nơi trên thế giới, nhưng mỗi nơi lại có những hình thức phổ biến khác nhau. Như người Di Gan đa số sống ở Trung Âu, khi được nhập hồn trở thành những nhà tiên tri, hay chiêm tinh; những vùng còn lạc hậu có đông đảo thổ dân, bộ lạc sinh sống như ở Nam Mỹ, châu Phi, khi vào nghi thức cúng lễ, họ thường dùng đao kiếm đâm mạnh vào người, hay cho các con vật cực độc như nhện đất, rắn, rết, bò cạp đeo cắn khắp thân thể, rồi đi khắp ngã đường nhảy múa kích động theo dòng nhạc tấu lên dẫn lối đưa đường.

Những người muốn “lên đồng hầu bóng” không phải cứ ngồi trùm khăn phủ diện, rồi lắc lư đầu mà thành những ông đồng, bà bóng. Phải là người có căn mạng với tín ngưỡng thờ Tam hay Tứ Phủ mới có thể mời được các vị Thần Thánh về nhâp xác.

Tín ngưỡng Tam hay Tứ Phủ mang tính chất như :

– Tam Phủ gồm : 1/- Thiên Phủ (phủ nhà trời), 2/- Nhạc Phủ (phủ coi rừng núi) và 3/- Thoải Phủ (phủ coi về sông, biển, ao hồ, những nơi thuộc về nước).

– Tứ Phủ gồm ba phủ như Tam Phủ cùng với 4/- Địa Phủ (coi về đất đai).

Trong Tam Phủ hay Tứ Phủ, việc thờ tự chính là ba vị Thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên cai quản miền trời, Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi, Mẫu Thoải cai quản miền sông nước, và Mẫu Địa trông coi đất đai các vùng miền. Tuy nhiên Mẫu Địa được từng vùng, từng địa phương thờ phụng riêng biệt như Bà Chúa Xứ, bà Chúa Ngọc, bà Chúa Kho v.v… còn thờ chính trong các đền điện chỉ có ban thờ Tam Tòa Thánh Mẫu đã nói trên.

Người muốn “lên đồng” phải thật sự có căn mạng. Việc đầu tiên phải làm lễ đội bát nhang, sau đó tùy theo căn mạng lớn nhỏ mà mở Phủ ra đồng; và cũng tùy vào khả năng mà ra mắt đồng theo dạng tiến căn hay đại đàn. Khi ra mắt đồng phải có đồng thầy làm người đỡ đầu, người dẫn dắt tinh thần từ chứng minh đến dạy dỗ những điều cần thiết khi theo tín ngưỡng thờ Mẫu. Sau này mới được người trong đạo chấp nhận có “căn đồng”.

Thông thường một ông bà đồng một năm phải “lên đồng hầu bóng” ít nhất một vấn (một lần), người có căn Tứ Phủ thường vào tháng ba âm lịch, người có căn Tam Phủ vào tháng tám âm lịch hàng năm, tức những ngày “tháng tám giỗ cha tháng ba tiệc mẹ”.

Giỗ cha tức kỷ niệm ngày mất của Đức Thánh Trần, còn tiệc mẹ là ngày vía Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Theo quan niệm thần quyền, mỗi người đang sống đều có một chư thần thuộc thị thần của một trong ba vị Thánh Mẫu (Thượng Thiên, Thượng Ngàn, Thủy Cung) cai quản từ thể xác lẫn tinh thần. Người có căn đồng mà không ra mắt Thánh, thường hay bị thị thần của Thánh quở, hành cho đau ốm, bệnh hoạn thường xuyên; nói theo người có đạo thờ Mẫu, là bị vị thần cai quản bắt đồng; có nghĩa đã được chấm đồng, nếu từ chối ra đồng người đó sẽ hay bệnh hoạn hoặc gặp nhiều vận xui rủi đưa đến.

Còn muốn ra mắt Thánh, bước đầu phải đội bát nhang, để bắt đầu được thừa nhận đã theo tín ngưỡng thờ Tam hay Tứ Phủ, như Phật Giáo cho là Quy Y Tam Bảo, bên Thiên Chúa Giáo gọi là lễ rửa tội, nhưng chưa chính thức được xem là ông đồng, bà bóng.

Muốn đội bát nhang, chủ đền hay thầy cúng sẽ mở sách xem căn, tức xem “quan cai đầu đồng, bà thủ bản mệnh” là thị thần của Thánh đang cai quản họ đang thuộc Phủ nào. Nếu gặp căn nặng đôi khi phải đội đến bảy bát nhang. Khi tôn nhang phải có đồng thầy ra mặt chứng minh. Trước lễ đồng thầy sẽ trùm khăn phủ diện và đội lên đầu người này số bát nhang phải tôn thờ, có sớ ghi tên tuổi cùng căn mạng thuộc Phủ nào (một người chỉ ở một trong tứ phủ).

Khi tôn bát nhang xong, mới tiến đến lập đàn tiến căn hay đại đàn ra mắt Thánh.

Chuẩn bị cho buổi ra đàn (đại đàn hay tiên căn), băt đầu cho lễ tục lên đồng hầu bóng, người ra đồng phải chuẩn bị rất nhiều trang phục cho các vị Thánh giáng về mượn xác.Len dong 2

Màu sắc trang phục cũng được quy định bởi một số màu cơ bản như : màu đỏ (thiên phủ), màu vàng (địa phủ), màu xanh (nhạc phủ), màu trắng (thoải phủ).

Ngoài ra còn chuẩn bị đủ lễ vật. Lễ vật dâng lên Thánh trong một buổi ra đàn mang ý nghĩa quan trọng, gồm bánh trái, hoa quả, rượu, thuốc (ngày xưa là thuốc phiện còn ngày nay là thuốc lá, có giấy vấn màu nâu đen càng đúng nghĩa)… Lễ phải phong phú mang tính đặc trưng của từng giá về ngự về, tức lúc các Thánh hay các Thần linh mượn xác nhập hồn, lễ vật được dâng lên cho các ngài hưởng thụ.

Ra đại đàn phải thủ lễ trong ba ngày. Ngày đầu là lễ cáo yết còn gọi lễ mở đàn, mở phủ, do bốn pháp sư (thầy cúng) ngồi tứ trụ, dâng và đọc sớ, báo tên tuổi cùng căn mạng của người ra đàn lên công đồng.

Ngày thứ nhì vào đàn, tức chính lễ còn gọi lễ ra đàn, có đủ các pháp sư và thầy Địa tạng đọc sớ mời các vị Thánh hay Thần giáng về chứng minh. Sau lễ cúng, người có căn mới thực sự là những ông bà đồng khi được đồng thầy đến phủ khăn và mời các Thánh Thần, các giá giáng ngự vào xác.

Ngày thứ ba lễ tiễn đàn hay lễ tạ, nhằm hóa vàng các thứ đồ mã cúng hiến gồm một thuyền phủ màu cánh phượng, hai bên thuyền có 12 hình nhân nữ ăn mặc sơn trang (áo chàm, áo thổ) đứng chèo, một ngựa với đủ yên cương hà̀m thiếc, một voi… cùng các hình nộm nam nữ, vàng nén bạc thỏi v.v…

Còn ra đàn tiến căn, các nghi lễ cũng không thiếu, nhưng tổ chức đơn giản chỉ diễn ra trong ngày, các mân lễ, vàng mã vừa đủ mang tính tượng trưng.

Người có căn mạng nhà Trần, thường phải ra đại đàn Tam Phủ không ra đàn tiến căn vì sợ bị quở phạt, các nghi thức cũng không gì khác biệt so với đàn Tứ Phủ. Nhưng người căn Tam Phủ, khi ra đồng oai dũng như một võ tướng nhà Trần, họ xiên lình, thắt cổ, rạch lưỡi, uống dầu sôi, ngậm nhang cháy v.v… rất ít thanh đồng nào thực hiện được nếu không có căn mạng nhà Trần, tức căn Trần Triều Đại Vương, một vị Thánh cả trong Tam Phủ. Trong tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ mọi người rất trọng vọng người có căn mạng nhà Trần.

Bắt đầu một buổi lên đồng, người ra đồng trình lạy đủ ba lễ mới trùm khăn phủ diện, bắt đầu đảo người. Trong lúc đảo, nếu người ra đồng đưa ra một ngón tay, đó là biểu hiện giá Quan đệ nhất giáng về, cung văn theo giá đồng xuất hiện liền hát những bài thơ văn thích hợp với tính cách của vị Thần, Thánh đó.

Sau đó người lên đồng mới bỏ khăn phủ diện ra, các hầu dâng (người phục vụ) bấy giờ thay khăn áo cho đúng tính cách của vị Thần Thánh vừa nhập xác thanh đồng. Sau khi khăn áo chỉnh tề, người lên đồng với một bó nhang to đứng lên tấu lễ trước cung Thánh.

Người ra đồng cầm bó nhang bằng tay trái, còn tay phải rút lấy một cây từ trong bó nhang, hướng về các hướng làm động tác phù phép gọi là khai khuông, nhằm xua đuổi tà ma, các phần vong hiếu kỳ.

Làm phép khai khuông xong Thánh đã nhập hẳn vào xác. Người lên đồng bấy giờ không còn là họ, vì xác đã thuộc về thần linh, còn hồn đang phách tán đâu đó.Hau dong 9D

Các nhà nghiên cứu cho rằng, lúc này yếu tố xuất thần, tự thôi miên đã giúp họ nhảy múa một cách uyển chuyển, nhịp nhàng hay kích động mà bình thường họ không thể tự nhảy được. Đó chính là sự hứng khởi mang tính tâm linh, chỉ nhập vào một số người có căn mạng.

Múa đồng là hình thức diễn xướng được cách điệu hóa, khẳng định sự tái sinh của thần linh. Bởi vậy tùy theo từng vị Thánh, Thần mà động tác nhảy múa cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung, các điệu nhảy múa đều mang âm hưởng của chèo cổ và múa nhảy dân gian. Mỗi động tác nhảy múa trong các giá khắc họa tính cách, vị trí của mỗi vị thần linh đang được ông đồng, bà bóng thể hiện trên sàn chánh điện.

Tuy nhiên trong trạng thái phấn kích do tự thôi miên, người lên đồng nhiều khi có thể nhảy múa tự do vượt ngoài lề luật, do phấn kích với lời ca, tiếng đàn tiếng trống của cung văn khởi xướng. Khi múa đồng (múa thiêng), các ông bà đồng còn sử dụng một số đạo cụ như mồi đuốc, kiếm, đao, hèo (gậy), mái chèo, quạt, cờ…

Khi nhảy múa xong, các Thánh thường ngồi nghe cung văn hát, thí dụ như giá ông Hoàng Mười nhập về, cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác vỗ gối và thưởng tiền.

Lúc này người đến dự lễ mới đến gần Thánh để cầu xin hoặc nghe Thánh phán… đây cũng là lúc Thánh ngồi chữa bệnh, trò chuyện hay phát lộc.

Khi Thánh muốn xuất khỏi xác, ngài ra dấu bằng hai tay bắt chéo trước trán, quạt che đỉnh đầu, rồi khẽ rùng mình… tức Thánh đã thăng.

Buổi ra đồng kết thúc khi ông bà đồng hầu hết giá Cậu Bé. Một buổi lên đồng hầu bóng có thời gian kéo dài ít nhất hai tiếng và dài nhất đến sáu, bảy tiếng, tùy theo các Thánh giáng về nhiều hay ít giá.

Mỗi lần lên đồng “cầu Thần nhập xác” có rất nhiều nghi thức phức tạp, theo nhận xét những người theo tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ phải là người có căn mạng, nếu không sẽ trở thành đồng đá, vì không có Thánh Thần nào về mượn xác nhập hồn.

Lên đồng là một nghi lễ thờ cúng trong tín ngưỡng  dân gian, thường tổ chức trong các đền, điện lớn, những nơi được vua chúa xưa sắc phong (sau này là Quyết Định được chánh quyền công nhận), những điện nhỏ tại gia đều mang tính cách gia đình.

Trong các đền điện, người ta thấy có rất nhiều đồ mã được treo trên trần với đủ ngũ sắc như nón quai thao, nón chóp, đèn lồng, thuyền ghe… nhiều kích cỡ, phía dưới có ngựa, có voi. Ngoài ra mỗi cung thờ Thánh đều có lọng vàng, tán quạt đặt hai bên. Nơi cung võ, người ta còn thấy bộ chấp kích to lớn bằng đồng thau sáng bóng.

Sở dĩ có những vật trên vì từ Tam Tòa Thánh Mẫu đến Ngũ vị tôn quan, các Chúa, Chầu, các quan Hoàng, các Cô, Cậu đều là các vị Thánh hay Thần có nhiều nguồn gốc, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số, sống ở đồng bằng hay những vùng núi non, sông biển, cũng như từ mọi miền trên đất nước.

Trên nóc đền luôn có hai con rắn đưa đầu vào chầu cung Thánh Mẫu, là thần Giao Long hay Kỳ Cùng đại Vương, hóa thân của Quan Đệ Ngũ, vì thế mọi người thường cung kính gọi hai ngài bằng Ông Lốt. Rắn trắng có tên Quan lớn Ba, rắn màu sẫm có tên Quan lớn Năm.

Trong chầu văn thường hát trong giá hầu bà Chúa Ba (tức Mẫu đệ tam, Thủy tiên Thánh Mẫu, Mẫu Thoải, bên Phật giáo gọi bà Chúa Ba là Quan Âm Diệu Thiện) rằng, rắn thần có công đưa công chúa Liễu Hạnh đi gặp Thủy Long Vương xin trị thủy. Ông Lốt được đề cập, thường kịp thời cứu khốn phò nguy, được phong Thượng Đẳng thần cứu quốc.

Quan lớn Tuần Tranh rất ít về ngự giá nhập xác người lên đồng, nhưng khi về bao giờ cũng giáng sau các giá cậu Bé, có động tác đặc trưng mô phỏng như hình con rắn lượn, người lên đồng nằm dài được trùm toàn thân bằng khăn nhiễu đỏ, rồi bò đi như hình zích zắc.

Một ban thờ sơn trang như một hòn non bộ cỡ lớn, có núi, có suối, trang trí bà Chúa Sơn Trang (tức Thánh mâu Thượng Ngàn) đứng cùng 12 thị nữ kinh thượng theo hầu rải rác trên trang; ngoài ra trên sơn trang còn thờ bà Chầu Mười Đồng Mõ và Chầu Chín.

– Nằm dưới hạ ban là hình một con hổ to, có nơi tạc thành tượng, có nơi chỉ một bức tranh vẽ. Là Ngũ Dinh hay là Ngũ Hổ tôn quan ngự trị ngũ phương :

* Hoàng hổ tướng quân trấn Trung khu (Địa khu)

* Hắc hổ tướng quân trấn Bắc khu (Thủy khu)

* Bạch hổ tướng quân trấn ở Tây khu (Kim khu)

* Xích hổ tướng quân trấn ở Nam khu (Hỏa khu)

* Thanh hổ tướng quân trấn ở Đông khu (Mộc khu).

Khi giáng đồng, ông Dinh cũng như Quan lớn Tuần Tranh thường giáng vào cuối giá cậu Bé, người lên đồng được ngài nhập phải trùm khăn đỏ và vào tư thế một con hổ ngồi, dâng nhang bằng miệng. Ông Dinh cũng như Ông Lốt rất ít xuất hiện, phải người có căn mạng lớn mới được các ngài về ngự.

Nói về người có căn mạng Trần Triều, khác với người có căn Bà, căn Cô hay căn Ông Hoàng, Bà Chúa. Người mang căn mạng nhà Trần thường là những đồng nam. Trong giới đồng thường ví “một đồng nam hơn ngàn đồng nữ”, thứ nhất đa số nam giới không tin vào việc “cầu Thần nhập xác”, thứ hai họ cảm thấy xấu hổ khi ra đồng phải đứng nhảy múa trước đám đông, thứ ba người đời thường mỉa mai họ là dân đông bóng, như muốn ám chỉ họ thuộc dạng biến thái, pê-đê… nên chuyện bị bắt đồng nếu có, ít người chịu ra đàn để lên đồng hầu bóng theo lệ thường.

Người có căn Trần Triều, ngoài Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương về nhập xác, còn có những vị vua, vị tướng thời nhà Trần được phong Thần, phong Thánh, cũng thường giáng về ngự giá, giới nữ đa số không có căn Trần Triều hoặc có chỉ thuộc căn nhẹ.

Sự linh hiển của Đức Hưng Đạo Đại Vương tại đền thờ Kiếp Bạc, lúc khởi đâu được mọi người sùng bái gọi ngài là Thần (vì ngài là Thành Hoàng của làng Kiếp, làng Bạc), sau được nhiều đời vua Trần, Lê, Nguyễn phong chức Thánh thuộc Thượng Đẳng thần, nên cách xưng tụng được đổi thành Đức Thánh Trần hoặc Trần Triều Đại Vương. Người dân cho rằng Đức Thánh Trần rất linh hiển, ngài luôn giáng về để trừ ma diệt quỷ cứu nhân độ thế; những người bị cho ma ám quỷ hành, đưa đến gặp ngài ắt sẽ khỏi bệnh.

Người có căn nhà Trần khi ra hầu đồng, giá Trần Triều được giáng về đầu tiên. Ngài uy dũng ra oai cầm thương đao kiếm múa võ; có khi dùng một dải lụa thắt chặt bụng và cổ cho thấy khuôn mặt tái xanh không còn máu đỏ luân lưu là thật. Để làm bùa trừ ma diệt quỷ, ngài cắt lưỡi phun máu vào những lá bùa được lập sẵn để khai khuông. Ai có những lá bùa này đều tin sẽ trừ được tà ma quỷ ám, chúng sẽ không dám đến quấy phá nữa; trẻ con mới sinh hay khóc đêm nếu lấy lá bùa gối dưới đầu giường nó sẽ không còn khóc đêm.

Những người bị coi là ma nhập, đem lá bùa đốt và tán với nước cho uống, tức thì con ma phải xuất ra khỏi người ! Còn không trừ được bằng bùa, ngài dùng dầu sôi hay cả bó nhang ngậm trong miệng mà phun vào nạn nhân để đuổi tà ma, yêu quỷ.

Ngài còn nhập đồng khi thể hiện qua hình thức xuyên lình. Tức dùng hai cây dùi (gọi là lình) đâm vào hai bên má, khi rút ra không còn tì vết; ở đền Kiếp Bạc vào dịp giỗ Đức Thánh Trần có lễ rước kiệu Thánh, nhiều đồng nam cao niên đi theo sau kiệu đã xuyên những cái lình dài qua má, vào làn da thái dương hay ngay cổ họng… có người xuyên hông hoặc xuyên thẳng vào bụng, mà chưa từng học qua việc luyện nội công hay thần quyền.…

Lình thường làm bằng đồng thau, loại tiểu dài cỡ 4 tấc có đường kính từ 2,5 đến 3 ly, loại trung dài khoảng 7 tấc đường kính 4 đến 5 ly và loại tạ dài cả thước đường kính 5 đến 6 ly, loại dài người xuyên lình khó buộc chặt vào người, nên cần có người đỡ hai bên chuôi

THIÊN VIỆT