Luân xa là gì ?

Khôi Việt

Trong bài “Ma nhập, quỷ ám và phương pháp trừ tà” có nói đến 2 vùng Luân xa 6 và 7 dễ cho ma quỷ xâm nhập vào thể xác lẫn tinh thần. Vậy Luân xa là gì, đồng thời trong bài cũng đề cập đến mỗi người chúng ta có tất cả 7 vùng Luân xa, vậy nó nằm ở những huyệt nào ?

Như đã nói, toàn thân mỗi người đều có 7 vùng Luân xa năng lực; người Tây Tạng gọi đó là những điểm xoáy “Chakra”, trong khi người Hindu (Ấn Độ) gọi là “Luân Xa”. Có 7 luân xa căn bản và 21 trung tâm nhỏ hơn. 7 vùng Luân xa này có chứa năng lượng hào quang khu trú tại nhiều phần khác nhau trên cơ thể, đều có gốc là cột sống lưng, trừ luân xa xương trán ở trên đỉnh đầu (não bộ).

Tuy chúng ta không thể thấy, nhưng 7 vùng luân xa này là những điện trường cực mạnh và hoàn toàn có thực (nên những người có nhân điện cao luôn làm chủ được Luân xa thứ 7). Mỗi luân xa tập trung vào một trong số 7 tuyến nội tiết của cơ thể và nhiệm vụ của nó là kích thích sự sản xuất hóc-môn. Chính những hóc-môn này điều hành toàn bộ các chức năng của các cơ quan nội tạng trong người, nên nó mang cả tiến trình cho chúng ta sự sống và cái chết qua các giai đoạn “sinh bệnh lão tử”, vì thế theo thời gian chúng sẽ lão hóa dần đi tương ứng với tuổi thọ con người.

Để được khoẻ mạnh, để 7 vùng Luân xa hoạt động tốt chúng ta phải tập luyện. Nếu tập luyện thành công, người đó sẽ dễ dàng nhận thấy được các vùng huyệt Luân xa đang vận hành trong cơ thể con người. Vì trong mỗi vùng Luân xa, lúc đó chúng ta sẽ cảm thấy được các yếu tố mà chúng đang trực tiếp điều hành như các diễn giải như sau đây.

Hinh Luan XaHình 7 vùng Luân xa nằm trên thân thể mỗi người (đính kèm) :

Luân xa (1) hay luân xa thấp nhất tập trung ở tuyến sinh dục.

Luân xa (2) tập trung ở tuyến tụy trong vùng bụng.

Luân xa (3) tập trung tại tuyến thượng thân trong vùng đám rối dương (mạng dây thần kinh ở bụng).

Luân xa (4) tập trung tại tuyến ức ở vùng ngực.

Luân xa (5) tập trung ở tuyến giáp trạng nơi cổ.

Luân xa (6) tập trung ở tuyến tùng, tại đáy sau của não.

Luân xa (7) cao nhất, tập trung tại tuyến yên, nơi đáy trước của não.

Với người khỏe mạnh thì những luân xa đó làm lan tỏa sinh lực ra tận làn da bên ngoài; ngược lại với một cơ thể già nua bệnh hoạn thì những luân xa này hầu như không thể đẩy sinh lực lên đến bề mặt của thân thể. Vì thế, cách thức nhanh nhất để dành lại sự tươi trẻ, sức khỏe và sinh lực là làm sao cho những luân xa này hoạt động bình thường trở lại, tức bằng cách phải tập luyện.

Ðể đạt mục đích, người ta có 5 bài tập hay 5 “Thức” như tên gọi của các Lạt Ma trên Himalaya. Mỗi thức tự nó rất hữu ích, nhưng muốn có được những kết quả tối ưu thì không nên bỏ sót một thức nào mới thành công.

Luân xa 1 (tiếng Phạn: MULADHARA) vùng sinh dục

Theo các thánh thư, Luân xa 1 được xuất phát từ “Bà mẹ vũ trụ”, ở phương đông năng lực này được nhiều người biết đến với cái tên gọi Kundalini. Tuy nhiên năng lực từ vùng này có thể làm tổn thương cột sống.

Luân xa 1 tạo thành nền tảng cho sự sống tức cơ quan sinh dục, nếu Luân xa 1 hoạt động yếu, lập tức con người trở nên trầm uất, bạc nhược và có thể dẫn đến tình trạng ngất xỉu hôn mê.

Nhờ tính chất năng động, Luân xa 1 tạo ra khả năng thấy rõ quá khứ và vị lai.

Luân xa 2 ( tiếng Phạn: SVADHISTHANA ) vùng bụng

Chức năng chính của Luân xa 2 là bảo vệ sinh khí, giúp cho khí chất trong người và các cơ quan tiêu hoá hoạt động. Đây là Luân xa rất mạnh vì có thể kiểm soát được đời sống sinh dục từ Luân xa 1. Tuyến thượng thận (Luân xa 3) có liên hệ với vùng này, rất cần thiết cho sự sống, nên nếu ta cắt bỏ tuyến thượng thận, con người sẽ chết ngay.

Về mặt chiêm tinh học, Luân xa 2 có liên hệ với mặt trăng, nó thu nhận năng lượng của mặt trời và trung tâm trái đất rồi chuyển hoá thành thể khí chất cho chúng ta.

Người khoẻ mạnh sẽ chống lại các ảo tưởng, sự ghê tởm, xa xỉ, nghi ngờ, lãnh đạm và thường phát triển lòng thương yêu tất cả mọi sinh vật.

Luân xa 3 ( tiếng Phạn: MANIPURA) vùng thượng thận

Luân xa 3 được xem như một vị trí quan trọng, mặc dù không phải là một trung tâm lớn. Vị trí gần với rún (gần đám rối dương). Có sức mạnh cảm xúc do ước muốn và dây thần kinh xúc giác tạo nên, phần lớn ý thức của con người là do ở trung tâm này.

Đối với một người bình thường, Luân xa 3 thường là tác nhân gây ra các loại bệnh có nguồn gốc từ cảm xúc như bệnh đau bao tử và đường ruột, rối loạn gan mật.

Đặc tính của Luân xa 3 là sức nóng vì vậy nó tượng trưng cho Lửa, còn được gọi là nơi ” tổng hợp”, do tập trung tất cả các năng lượng bên dưới trước khi được đưa lên các phần bên trên của cơ thể.

Trong khoa chiêm tinh, Luân xa 3 tương ứng với sao Hoả và cho chúng ta thấy nó cộng hưởng với đời sống cảm xúc. Cho nên các tu sĩ theo “sa man giáo” có thể đi chân đất trên đám lửa hồng mà không cảm thấy đau đớn hoặc bị bỏng là vậy.

Muốn làm chủ được vùng trung tâm dương, con người phải thanh tẩy thói hư tật xấu, cương quyết chống lại mọi sự quyến rũ, kiêu căng, giận dữ, biếng nhác và sợ hãi.

Luân xa 4 ( tiếng Phạn : ANAHATA) vùng ngực

Luân xa 4 cho ngườichúng ta khả năng đọc được tâm tư nguyện vọng của người khác, đồng thời cũng biết rõ ham muốn và khả năng thực hiện ham muốn đó của chính mình. Trong quá trình thanh lọc tính vị kỷ, kiêu căng, tham lam, do dự và phát triển tình thân ái, vị tha, Luân xa 4 sẽ hoạt động tốt làm cho người tập luyện có được biệt tài chữa lành bệnh cho người khác, nhưng phải đạt trình độ “rung động siêu thức” mới làm được.

Luân xa 4 nhận được từ vũ trụ tia sáng màu Xanh lá cây đem năng lượng và sự nhịp nhàng đến cho quả tim hoạt động.Tia sáng màu xanh lá cây này làm quay Luân xa tim, đem máu đi nuôi khắp cơ thể.

Trong khoa chiêm tinh, Luân xa 4 tương ứng với sao Thuỷ, được kết hợp với không khí, thuộc về trực giác tâm linh.

Luân xa 5 ( tiếng Phạn:VISHUDDHA ) vùng cổ

Luân xa 5 ở tại vùng họng, đằng sau cổ, tượng trưng cho ý thức sáng tạo. Đây là điểm quan trọng nhất của thanh quản. Khi một người muốn diễn tả một điều bằng tư tưởng, lời nói hoặc hành động, phải đi qua trung tâm hầu họng. Thái độ chỉ trích hận thù, kết án, nói xấu người khác là nguyên nhân sinh ra bệnh tật đều nằm ở Luân xa 5.

Luân xa 5 tương ứng với sao Thổ và đại diện cho thể khí quang của vũ trụ (tiếng phạn Akasha). Khi Luân xa này Rung động sẽ đạt đến trạng thái siêu thức, người tập luyện có khả năng nghe được các giọng nói, hơi thở và cả tiếng nhạc từ xa vọng đến. Và khi Luân xa này phát triển hoàn toàn, sẽ cho chúng ta nhớ lại tiền kiếp, biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai của chính mình và người khác.

Luân xa 6 (tiếng Phạn: AJNA) vùng giữa hai lông mày

Luân xa 6 ở tại gốc mũi, giữa hai mắt và lông mày, báo cho chúng ta biết hai trung tâm trên cùng này hoàn toàn khác với các trung tâm mà chúng ta đã nghiên cứu trên đây. Chủ yếu giúp con người phát triển về mặt tinh thần. Chức năng chính của Luân xa 6 liên quan đến việc phát triển nhân cách thực sự của mỗi con người.

Trong trường hợp người đó không tự phát triển được nhân cách của mình, thì họ tìm cách bắt chước nhân cách của người khác, thậm chí ngay cả đến tư tưởng, lý tưởng và điệu bộ bên ngoài nữa. Một người như thế rất dễ bị ảnh hưởng từ môi trường xã hội chung quanh, sẽ tạo cơ hội thể hiện đời sống của mình theo những hiện tượng thấy từ bên ngoài, từ đó nảy sinh vấn đề tôn sùng thần tượng, chứng tỏ rằng trung tâm trán của người đó không hoạt động hoặc hoạt động rất ít.

Khi Luân xa 6 bắt đầu đạt đến trạng thái “rung động siêu thức”, người ta nhận thấy có những biến đổi sâu sắc trong tư duy và hành động. Một đôi khi sự phát triển của Luân xa 6 đem đến một số biểu hiện mới tạo ra rối loạn chẳng hạn như nhức đầu, rối loạn về tai, mắt. Vì đừng quên rằng Luân xa 6 là trung tâm thiên nhãn cho thấy rõ mọi vấn đề. Não và nhất là trán có thể bị nhiễu loạn vì luân xa trán hoạt động mạnh quá.

Luân xa 6 tương ứng với sao Kim nằm ở đáy não, dưới tầng não thứ ba, nhằm mục đích tái sinh các mô và tế bào đã hao mòn, đồng thời giữ cho cơ thể luôn ở trạng thái hài hoà.

Một khi Luân xa 6 đạt được trạng thái vô thức, con người có khả năng thấy rõ mọi sự, mọi vật, mọi người khác và có thể xoá bỏ nghiệp chướng mắc phải do lỗi lầm của mình. Đồng thời cũng cần biết rõ là có nhiều nguy hiểm đang chờ (giác quan thứ sáu).

Luân xa 7 (tiếng Phạn: SAHASRARA) vùng đỉnh đầu

Luân xa 7 nằm trên đỉnh sọ, tượng trưng cho cái thóp của thể khí quang (não hào quang). Nó giống như mặt trời toả ra hàng ngàn tia lửa lấp lánh ánh vàng. Đây là trung tâm lớn nhất và toả sáng nhiều nhất gồm 12 cánh hoa lớn màu trắng ánh vàng kim và 960 cánh hoa nhỏ hơn bao bọc chung quanh. Mỗi khi con người đạt đến cảnh giới của sự “rung động siêu thức”, Luân xa 7 trở nên hoạt động mạnh và bấy giờ chúng ta có thể thông suốt mọi điều. Với đặc tính năng động, Luân xa 7 ban cho con nguời thực hành khả năng kích động tất cả các huyệt Luân xa khác cũng như mọi quyền lực tinh thần.

Luân xa 7 là trạm cuối cùng, là trình độ tâm thức cao nhất, luôn là biểu tượng của quyền năng của con người trong thế giới siêu nhiên.

Về mặt chiêm tinh học, sao Thổ ngự trị luân xa này. Đây cũng là trung tâm ý chí của tinh thần. Cũng nên biết thêm rằng, đây là nơi giúp cho con người trực tiếp gặp gỡ các linh hồn, và còn giữ vai trò khá quan trọng trong thần giao cách cảm.

Khôi Việt

Advertisements

Ngày tốt ngày xấu trong năm

Xem ngay 1XEM NGÀY

SỬA MỆNH

– Khôi Việt

Qua ba bài viết về “Xem tướng sửa mệnh”, tác giả có nói đến nếu tướng xấu phải sửa, gặp ngày tháng xấu nên tránh. Kỳ này tác giả nói đến những ngày tháng tốt xấu (cát – hung) nhằm giúp bạn đọc tìm được ngày tốt nhất để thực hiện việc cần làm.

Nên nói về mệnh vận mỗi người tức vận hạn, đều được phổ biến trong âm lịch (cần xem trong các loại lịch vạn sự có ghi tên sao hoặc ngày tốt xấu) mang độ chính xác được tính bằng ngày.

Có những cách thức dùng để xem vận hạn trong ngày như sau :

A/- CÁCH XEM

Các phương pháp để tính cát hung cho bản mệnh :

1- Xét theo năm :

Lấy tuổi của bạn tính với Thiên Can hay Địa Chi trong năm hiện hành, để xét tính hóa hợp xung.

Thí dụ : tuổi Canh Ngọ gặp năm Mậu Tý :

Về Bát Quái : tuổi Ngọ thuộc cung Ly là hành Hỏa, hợp với các quẻ Khảm, Chấn, Tốn hay vào các tháng ngày giờ Tỵ, Ngọ, Mùi, thuộc hướng Nam và nên tránh tháng ngày giờ Hợi, Tý, Sửu thuộc hướng Bắc.

Về Ngũ Hành : Canh Ngọ vản mệnh Lộ Bàng Thổ gặp năm Mậu Tý là Tích Lịch Hỏa. Hỏa sinh Thổ, là được sinh nhập mất phần khắc, tốt.

Theo đó năm Mậu Tý có lợi cho tuổi Canh Ngọ, nhưng mưu sự thành công không lớn, do lửa sấm sét chỉ xảy ra vào đầu Hạ cuối Thu (tốt), còn Đông suy, Xuân diệt (xấu).

2- Xét theo tháng :

Tính qua Bát Quái của tuổi Canh Ngọ thuộc hành Thổ theo bản mệnh, sẽ gặp những tháng xấu vào mùa Đông là tháng 10, 11 và 12 (Hợi, Tý, Sửu) nên đề phòng. Xét về hóa hợp xung 3 tháng Hợi – Tý – Sửu :

– Tháng 10 (Quý Hợi, Thủy) Thổ khắc Thủy, Thổ gặp khắc xuất là mất phần khắc. Không xấu.

– Tháng 11 (Giáp Tý, Kim) Thổ sinh Kim, Thổ gặp sinh xuất. Xấu.

– Tháng 12 (Ất Sửu, Kim) xấu như tháng 11 Giáp Tý.

Xét Lục xung, Tứ hành xung, Tự hình với tuổi Canh Ngọ kỵ các tháng Tứ Tuyệt : Tý, Ngọ, Mão, Dậu tức tháng 2, 5, 8  và 11. Canh Ngọ còn gặp Tự hình vào tháng 5.  Cát hung như sau :

– Tháng 11 (Giáp Tý, Kim) gặp khắc xuất, xấu.

– Tháng 2 (Ất Mão, Thủy) Thổ khắc Thủy, tuy gặp khắc xuất, nhưng không xấu.

– Tháng 5 (Mậu Ngọ, Hỏa) Ngọ gặp Tự hình, là Ngọ tự hình với Ngọ. Khi gặp năm tháng Tự hình phải xét đến Thiên Can, Địa Chi và Ngũ hành nạp âm giữa tuổi với năm hiện hành.

Như tuổi Canh Ngọ Lộ Bàng Thổ với tháng Mậu Ngọ Thiên Thượng Hỏa.

Về Thiên Can, Canh chỉ kỵ với Giáp. Canh (dương Kim) có Mậu (dương Thổ) sẽ hóa Kim. Lưỡng Kim thành khí là hợp mệnh. Về Địa Chi, Ngọ với Ngọ đều thuộc dương Hỏa, thuộc thế lưỡng Hỏa thành viên hợp mệnh. Về nạp âm Hỏa sinh Thổ, nên cũng rất hợp với mệnh.

Cả ba vế Thiên Can, Địa Chi, Ngũ hành nạp âm cho thấy tuổi Canh Ngọ dù găp tháng Mậu Ngọ tự hình (hay găp tuôi, găp năm)̣ vẫn tốt, không mất phần phúc.

– Tháng 8 (Tân Dậu, Mộc) Mộc khắc Thổ, gặp khắc nhập, xấu.

– Xét Lục hại : Sửu (tháng 12, Ất Sửu, Kim) hại Ngọ, vì Thổ sinh Kim, nên Ngọ gặp sinh xuất mất phần phúc.

– Xét Tứ Tuyệt : Ngọ tuyệt với Hợi (tháng 10, Quý Hợi, Thủy), Thổ khắc Thủy, Ngọ khắc xuất, không xấu.

– Xét Tam tai : như tuổi Canh Ngọ gặp tam tai tháng, ngày tại : Thân, Dậu, Tuất (tháng 7, 8 và 9) :

Tháng 7, 8 (Canh Thân, Tân Dậu thuộc Mộc) Mộc khắc Thổ, Ngọ gặp khắc nhập xấu.

Tháng 9 (Nhâm Tuất, Thủy) Thổ khắc Thủy, Ngọ gặp khắc xuất, không xấu.

– Xét Lục hợp : Ngọ hợp với Mùi (tháng 8, Tân Dâu, Môc) nhưng Mộc khắc Thổ, Ngọ gặp khắc nhập xấu, nên chuyển từ cát sang hung.

– Xét Tam hợp : Ngọ hợp với Dần, Tuất (tháng 1, tháng 9), tháng 9 như đã nói Ngọ gặp khắc xuất, còn tháng giêng (Giáp Dần, Thủy) Thổ khắc Thủy, Ngọ gặp khắc xuất nên cũng không xấu.

Các tháng còn lại là những tháng không cần lưu ý :

– Tháng 3 (Bính Thìn, Thổ) tốt. Lưỡng Thổ thành sơn

– Tháng 4 (Đinh Tỵ, Thổ) tốt. Lưỡng Thổ thành sơn.

– Tháng 6 (Kỷ Mùi, Hỏa) tốt. Hỏa sinh Thổ.

Xét theo 12 tháng, chúng ta có thể kết luận được những tháng cát hung cho bản mệnh, theo thí dụ trên với tuổi Canh Ngọ vừa được diễn giải, ta có :

Tháng tốt : tháng 5 dù gặp Tự hình nhưng từ hung chuyển sang cát, cùng các tháng 3, 4 và 6 đi từ Thìn đến Mùi như bản mệnh (nói ở phần xét năm) là rất hợp.

– Tháng khắc mà không xấu : tháng 1, 2, 9 và 10, là những tháng không nên mưu sự hay làm những việc to lớn, đầu tư những chuyện nhỏ để chờ thời cơ. Tuy không xấu nhưng cũng không được tốt, vì chỉ là “mất phần khắc” thôi.

– Tháng xấu : tháng 7, 8, 11 và 12, làm việc gì cũng nên suy nghĩ phân tích cho kỷ, không nên đầu tư mọi viêc lớn nhỏ nào sẽ không có lợi.

3/- Xét theo ngày :

Sau các yếu tố xét về năm, tháng cho mệnh vận, để vận dụng những tháng tốt xấu xem các tinh đẩu tọa thủ trong ngày.

Ở phần này chúng tôi diễn giải cách tính hung kiết cho một ngày, và qua các thí dụ đã xuyên suốt từ trên cho tuổi Canh Ngọ lấy làm điển hình cho những tuổi khác.

Theo thí dụ : tuổi Canh Ngọ bản mệnh Lộ Bàng Thổ tức đất đường lộ, cung Ly, tính ngày Đinh Sửu trong năm Mậu Tý :

1- Theo tháng : ngày Đinh Sửu thuộc tháng giêng (Giáp Dần) năm Mậu Tý. Về tháng Dần không ảnh hưởng đến hung kiết, vì tuổi Ngọ được khắc xuất (đã diễn giải phần xét theo tháng), thêm tam hợp Dần, Ngọ, Tuất, được xem là tháng thứ kiết, do mất phần khắc, không được phần phúc.

2- Theo ngày : ngày Đinh Sửu thuộc hành Thủy (Giang Hà Thủy, nước sông dài), Thổ khắc Thủy cũng là khắc xuất với tuổi Canh Ngọ, đất đường lộ có thể cản được nước sông dài. Đồng thời Đinh Sửu thuộc cung Ly, tuổi Canh Ngọ cũng mệnh Ly, tức lưỡng Hỏa thành viên.

Theo phép coi “Ngũ mệnh đặc quái” : lửa gặp lửa sẽ bốc cháy lên to, tuy vậy nhưng không có nhiều may mắn. Có tiểu nhân rình rập ám hại (là do gặp khắc xuất mất phần khắc, nếu là sinh nhập tức được phần phúc sẽ đại cát).

Qua 2 bước trên chúng ta tính đến nhóm sao Nhị Thập Bát Tú và 12 ngày Trực.

3- Nhị Thập Bát Tú : có sao Đẩu tọa thủ, mang tính chất :Đẩu Mộc Giải (Cua, sao Mộc) tốt mọi việc.

Tác giả soạn theo bộ lịch Ngọc Hạp Thông Thư của đời nhà Nguyễn ban hành, cho rằng sao Đẩu là cát tinh (trong bộ Trạch Cát Hội Yếu của Trung Hoa lại ghi, sao Đẩu xấu mọi việc). Tuy nhiên chúng ta nên xét đến sự sinh khắc thuộc Ngũ hành.

Thí dụ tuổi Canh Ngọ mệnh Thổ gặp sao Mộc là Mộc khắc Thổ, tuổi Ngọ gặp khắc nhập tức mất phần phúc, xấu.

Những cung mệnh khác như hành Hỏa, hành Kim gặp sao Đẩu là tốt vì được sinh nhập, khắc xuất. Còn hành Thủy, hành Thổ xấu, vì gặp sinh xuất (Thủy sinh Mộc), khắc nhập (Mộc khắc Thổ).

4- 12 ngày Trực : ngày Đinh Sửu có Trực Bế, xấu mọi sự, trừ việc đắp đê, lấp rảnh. Mọi tuổi đêu không dùng được.

5- Tinh đẩu tọa thủ : trong ngày Đinh Sửu có :

Sao tốt : Thiên đức, Tuế hợp, Tục thế, Đại hồng sa, Trực tinh – Hoàng đạo Minh Đường.

Sao xấu : Địa tặc, Hoang vu, Hỏa tai, Nguyệt hư, Cô quả, Cửu thổ quỷ, Bát phong, Huyết chi, Huyết kỵ.

Ngày Đinh Sửu tức mùng 1 tháng giêng năm Mậu Tý

– Có Thủy ngấn thuộc tinh đẩu phục vụ ngành nông lâm ngư nghiệp.

– Không có những ngày : Nguyệt kỵ, Nguyệt tận, Tam nương, Dương Công kỵ nhật

– Không có các tinh đẩu như Tuế đức, Xích khẩu, Long Thần hành, Đại tiểu không vong, Sơn ngấn, Kim Thần Thất Sát, Thập Ác Đại Bại.

– Theo Tiết khí : không có Tứ Ly, Tứ Tuyệt

– Hoàng đạo, Hắc đạo : ngày Đinh Sửu có Minh đường Hoàng đạo, nên có các giờ tốt : Tý, Sửu, Mão, Ngọ, Thân, Dậu. Không có ngày giờ Hắc đạo.

– Tránh giờ Sát Chủ và Thọ Tử : Sát chủ vào giờ Dần, Thọ Tử vào giờ Ngọ.

Xem ngay 2B/- TINH ĐẨU VÀ CÔNG VIỆC

Ứng dụng các tinh đẩu tọa thủ trong ngày có ghi trong các loại lịch vạn sự, vào các việc cần làm, sẽ thấy có các nhóm tinh đẩu chủ cho một công việc mang tính cát hay hung, được liệt kê sau đây.

Như vào thời phong kiến, triều đình có 67 việc cần làm, còn dân chúng có 37 việc đáng nhớ. Nhưng nay chỉ những việc đáng quan tâm về tính cát hung dùng để chọn ngày lành tránh ngày dữ như sau :

Chọn cát tinh : (những sao tốt mọi việc) gồm Thiên đức, Thiên đức hợp, Nguyệt đức, Nguyệt đức hợp, Tuế đức, Tuế hợp, Thiên phú, Thiên quý, Thiên ân, Thiên Thụy, Thiên thành, Thiên quan, Nguyệt ân, Ngũ Phú, Tam hợp, Ngũ hợp, Lục hợp, Hoàng ân, Cát khánh, Âm đức, Mãn đức, Thời đức, Đại hồng sa, Phúc sinh, U vi tinh, Quan nhật.

– Nhóm sao Hoàng đạo có Thanh long, Minh đường, Ngọc đường, Kim đường, Kim quỹ, Tư mệnh.

– Nhóm ngày Trực tốt gồm Trực Trừ, Trực Bình và Trực Khai.

– Nhóm Nhị thập bát tú các sao tốt gồm Phòng, Vĩ, Cơ, Đẩu, Thất, Bích, Lâu, Vị, Tất, Tỉnh, Trương, Chẩn.

– Nhóm giải hạn : Giải thần, Thiên giải, Nguyệt giải, Bất tương, Thiên quý, Minh tinh, Sát cống, Nhơn chuyên, Trực tinh (3 tinh đẩu sau gặp Thất sát, Lục tinh không gây được tác dụng giải trừ), Hoạt diệu (gặp ngày Thọ tử sẽ trở nên xấu, không dùng được).

– Tránh hung tinh : (mọi việc nên tránh) gồm Sát chủ, Thọ tử, Vãng vong, Thiên cương, Kiếp sát, Kim thần thất sát, Thập ác đại bại, Đại hao, Trùng tang, Hoang vu, Thiên lại, Thiên hỏa, Tai sát, Tiểu hồng sa, Nguyệt phá, Nguyệt hình, Băng tiêu, Cửu thổ quỷ (tinh đẩu này sẽ thành đại hung khi tọa thủ cùng ngày với Trực Kiến, Phá, Bình, Thâu, còn gặp nhiều cát tinh, nhất là những ngày Hoàng đạo không kỵ).

– Nhóm sao Hắc đạo có Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ, Câu trận, Thiên hình, Thiên lao.

– Ngày hung kỵ : Nguyệt kỵ, Nguyệt tận, Tam nương, Dương công kỵ nhật, Tứ ly, Tứ tuyệt.

– Nhóm ngày Trực có Trực Phá, Trực Nguy, Trực Bế.

– Nhóm Nhị thập bát tú : Đê, Tâm, Nữ, Hư, Nguy, Mão, Chủy, Sâm, Quỷ, Liễu, Dực.

Sau khi xét 2 nhóm Cát tinh và Hung tinh, trong từng hạng mục sau đây có những tên tinh đẩu trùng lắp vì chúng thuộc sao chủ thể cần được lưu ý. Nếu gặp nhiều hung tinh cần có nhóm sao giải hạn kềm cặp để hóa giải.

XEM NGÀY XÂY DỰNG : Bao gồm ký kết mua bất động sản, động thổ đổ móng, cất nhà, gác kèo, lợp mái hay đại trung tu nhà, khởi sự công việc mới, làm bếp, sửa lò. Những tinh đẩu chủ về xây dựng :

– Tốt : ngoài nhóm Cát tinh, thêm Thiên phú (tọa thủ cùng ngày với trực Khai rất tốt), Sinh khí, Nguyệt không, Kim quỹ, Tư mệnh, Lộc khố. Trực Thành, trực Chấp. Sao Giác, Khuê, Chủy, Sâm, Tinh (sao Tinh chỉ tốt cho sửa chữa nhà làm mái, làm bếp, dựng buồng).

– Xấu : ngoài nhóm Hung tinh, còn có Kiếp sát, Sát chủ, Thọ tử, Vãng vong, Thiên xá (nếu gặp Sinh khí không ky), Thiên hỏa, Thiên ôn, Thiên tặc, Thiên địa chuyển sát, Tam tang, Trùng tang, Trùng phục, Nguyệt phá, Nguyệt hỏa, Hỏa tai (2 tinh đẩu sau tránh làm bếp, sửa bếp, đặt lò), Nguyệt tặc, Hoang vu, Thổ phù, Thổ ôn, Thổ cấm, Lỗ ban sát, Phủ đầu dát, Lục bất thành, Ngũ hư, Hỏa tinh, Lôi công.

Trực Kiến, trực Thâu, trực Khai. Sao Cơ.

Nhập trạch : tránh các sao Thiên tặc, Tai sát, Ly sào, Chu tước.

Phép quyền biến : trong xây dựng có nhiều tinh đẩu thuộc hung sát tinh rất ít cát tinh, vì vậy trong tháng nếu gạn lọc chỉ được từ hai đến ba ngày tốt. Nếu chờ có ngày tốt để khởi sự e rằng sẽ hỏng việc, vì thế cổ nhân đã chế ra phép quyền biến trong xây dựng như sau:

Nếu gia chủ không được tuổi (xem tuổi qua phép Tứ Kim Lâu, Lục Hoang ốc) mà buộc phải xây dựng trong năm, nên tìm người hợp tuổi đứng ra thay thế cúng kiến làm lễ động thổ cúng thành hoàng bản địa, các cô hồn uổng tử. Khi xây dựng nhà xong, người đóng thay soạn mâm lễ tại nhà mới vái van đến thành hoàng bản địa giao lại chìa khóa nhà cho gia chủ như cho thuê nhà.

Đến năm gia chủ đã hợp tuổi xây dựng, lúc đó mới chọn ngày giờ cúng tế như lễ thú phạt với thành hoàng, thổ công, thổ địa rồi tổ chức mừng tân gia.

XEM TUỔI LỤC HOANG ỐC – TỨ KIM LÂU

Luc hoang oc

– Cách xem Lục Hoang Ốc : Khởi đếm 10 tuổi âm lịch tại Nhứt kiết, 20 Nhì nghi, 30 Tam địa sát, 40 tại Tứ tấn tài, 50 tại Ngũ thọ tử và  60 tại Lục hoang ốc theo chiều thuận kim đồng hồ. Nếu tuổi lẻ, thí dụ tính tuổi 33, tính 30 ở Tam địa sát, 31 ở Tứ tấn tài, 32 ở Ngũ thọ tử và 33 ở Lục hoang ốc là xấu, phải qua 34 tuổi sẽ ̃ở cung Nhứt kiết mới tốt. Các cung Nhứt kiết, Nhì nghi, Tứ tấn tài là tốt, còn Tam địa sát, Ngũ thọ tử và Lục hoang ốc là xấu.

Cách xem Tứ Kim Lâu : cũng tính theo chiều thuận, khởi đầu tại cung Khôn đếm là 10, Đoài là 20, Kiề̀n 30, Khảm 40, cung trung 50, cung Cấn 60… tiếp tục các cung Chấn, Tốn, Ly. Người tuổi 50 không xây dựng được vì “ngũ thập nhập cung trung” năm trời đất. Tứ Kim Lâu có 4 cung tốt là Đoài, Khảm, Chấn, Ly còn 4 cung xấu mang các tính chất như :

Người tuổi lẻ có cách tính như Lục Hoang Ốc, thí dụ tuổi 54, tính 50 ở cung trung, 51 ở cung Cấn, 52 ở cung Chấn, 53 ở cung Tốn và 54 ở cung Ly là tốt (nhưng theo Lục Hoang Ốc thì 54 lại xấu, vì 50 ở cung Ngũ thọ tử, 51 ở Lục hoang ốc, 52 ở Nhứt kiết, 53 ở Nhì nghi và 54 ở Tam địa sát). Người tuổi 54 cũng không xây dựng được.

Tuy nhiên cách tính tuổi Tứ Kim Lâu và Lục Hoang Ốc, có 8 tuổi không kỵ việc xây dựng bất cứ năm nào, là các tuổi : Tân Mùi, Nhâm Thân, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Sửu, Nhâm Dần, Kỷ Mùi và Canh Thân.

Khi phối hợp 2 cách tính Lục Hoang Ốc và Tứ Kim Lâu, nếu cả hai đều nằm trong cung tốt mới thực sự là được vận khí, tốt cho việc xây dựng hay tu tạo nhà cửa. Còn gặp một trong hai cách, chỉ vào thứ kiết.

XEM VỀ  HÔN NHÂN : Gồm các lễ vấn danh, hỏi cưới, nhập gia, nhập phòng.

Tốt : chọn ngày giờ Hoàng đạo và cát tinh cùng sao Thiên hỉ (hóa giải được Cô thần), Ích hậu, Tục thế, Yếu yên. Trực Kiến. Sao Giác, Cang.

Tìm hướng xuất hành trong hôn nhân có Hỉ thần và Tài thần, tránh hướng Hạc thần.

Xấu : tránh những ngày Hắc đạo, tránh Hung Sát tinh và các sao Kiếp sát, Vãng vong, Ly sào, Ly sàng, Tứ Ly, Tứ tuyệt, Nguyệt yếm, Nguyệt hư, Tam tang, Trùng tang, Âm thác, Dương thác, Cô thần, Quả tú, Tứ thời Cô quả, Tai sát, Nhân cách, Ngũ hư, Xích khẩu. Sao Cơ, Khuê.

Phép quyền biến : hai họ đã chọn ngày giờ Hoàng đạo để đón rước dâu, nhưng đường sá kẹt xe nên giờ Hoàng đạo đã bước qua, người ta dùng phép quyền biến là tạm thời cha mẹ chú rể lánh mặt cho nhà gái vào nhà trước rồi mới xuất hiện sau. Vì theo phép xã giao, cha mẹ chú rể phải có mặt đón bên nhà gái, dẫn dâu vào nhà.

XEM KHAI TRƯƠNG, CẦU TÀI : Bao gồm khởi sự việc mới, khai trương, mở cửa hàng đầu năm, gặp gỡ, ký kết hợp đồng, cầu tài lộc. Sau khi chọn sao nhóm A tránh nhóm B :

– Tốt : Thiên phú, Thiên mã, Thiên tài, Kim quỹ, Lộc khố, Địa tài, Nguyệt tài, Mẫu thương, Phúc hậu. Trực Mãn, Định, Thành, Thâu, Khai.

– Xấu : Sát chủ, Vãng vong, Thập ác đại bại, Tiểu hao, Thiên tặc, Cửu không, Đại, Tiểu không vong, Lục bất thành, Nguyệt hư, Xích khẩu, Hắc đạo Chu Tước. Trực Chấp.

XEM HƯỚNG XUẤT HÀNH, HAY MUỐN THAY ĐỔI : Bao gồm ngày đầu năm, đi thực hiện công việc mới, đi xa, muốn thay đổi, di chuyển. Chọn nhóm Cát tinh tránh nhóm Sát tinh cùng các tinh đẩu khác :

– Tôt : Thiên mã, Dịch mã, Nguyệt tài, Phổ hộ, Mẫu thương. Trực Kiến.

– Xấu : Vãng vong, Kiếp sát, Địa tặc, Nguyệt yếm, Hoàng sa, Ngũ quỹ, Cửu không, Âm thác, Dương thác, Ly sào, Đại, Tiểu không vong, Quan nhật, Tiểu hao, Thất sát, Hà khôi (nếu đi về đường sông biển), Thập ác đại bại, Dương công kỵ nhật. Trực Chấp, trực Thâu.

– Phép quyền biến : dùng thuật “Tứ tung ngũ hoành”, khi muốn đi xa nhưng ngặt nỗi ngày xuất hành lại quá xấu, chọn hướng không có đường đi. Người muốn xuất hành phải đứng ở giữa cửa nhà, chắt lưỡi đúng 36 lần, rồi dùng ngón tay trỏ vạch 4 đường dọc, tiếp theo là 5 đường ngang, miệng khấn vái xin đi gặp may mắn, và bước đi thẳng không ngoái cổ lại.

XEM NGÀY AN TÁNG, CẢI TÁNG : Bao gồm tẩn liệm, động quan, hạ huyệt, bốc mả, sửa chữa mồ mả. Khi di quan nên chọn ngày giờ Hoàng đạo, hướng Hỉ thần, Tài thần, tránh hướng Hạc thần và ngày giờ Hắc đạo.

– Tốt : Nhóm cát tinh, cùng Thiên phú, Tư mệnh, Kính tâm. Sao Quỷ.

– Xấu :  các sao Hắc đạo Bạch Hổ, Huyền Vũ, Câu Trận, Thiên hình, Thiên lao, cùng Thọ tử, Sát chủ, Kiếp Sát, Tam Tang, Trùng Phục, Trùng Tang, Tứ thời Đại Mộ, Thổ Ôn, Thiên Tặc, Địa Tặc, Thổ Phù, Nguyệt Kiên, Thổ Cấm, Ngũ Hư, Nguyệt Sát, Quỷ Khốc, Âm thác, Dương thác. Trực Khai, trực Thâu. Sao Giác, Cang, Khuê, Tỉnh.

– Phép quyền biến : chỉ sử dụng từ sau tiết Đại Hàn 5 ngày, là chôn cất không cần xem ngày chọn giờ tẩn liệm, động quan và hạ huyệt, vì các vị thổ thần đang bận rộn đón Xuân (sắp vào tiết Lập Xuân) cũng như đang lo thủ tục tống cựu nghinh tân.

Từ ngày 23 đến trưa 30 tháng chạp cũng không cần coi ngày giờ, đồng thời theo phong tục tập quán cũng không để người chết nằm trong nhà khi bước qua năm mới đưa đi chôn. Phép quyền biến này được gọi là Thừa loạn mai táng.

Còn phép Thừa hung mai táng, như ngày giờ động quan, di quan hay còn gọi ngày phát dẫn, quan trọng như xem ngày giờ Hoàng đạo để đón dâu. Là lúc người chết bị vận đen (chết do tai nạn, chết oan), một là đem xác đến tang nghi quán, hai để xác ngoài đầu hè. Rồi dùng cách quyền biến Thừa hung mai táng trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 ngày, không cần chọn ngày giờ, dù là ngày có Kim thần thất sát tọa thủ, vẫn di quan hạ huyệt, rồi chờ đến tiết Thanh Minh đến đắp mả và làm lễ tạ tội tại mộ. Tức “lấy độc trị độc” trừ vận đen không theo đuổi người sống, và người sống không còn bị ám ảnh bởi người chết.

XEM NGÀY TẾ LỄ, CHỮA BỆNH : Bao gồm cúng tế cầu phúc, cầu an, cầu con, giải hạn, chữa bệnh cả về sửa tướng, sửa sắc đẹp. Trong nhóm Cát tinh có nhiều tinh đẩu mang tính giải trừ tai ương tật ách, nhưng các sao chủ gồm Thiên xá, Thánh tâm, Giải thần, Phổ hộ, Bất tương, Sát cống, Trực tinh, Nhân chuyên. Trực Mãn. Sao Cang.

Nên tránh gặp các sao hung như Thiên ôn, Thổ ôn, Thần cách,Tội chí, Quỷ khốc và Trực Định.

XEM NGÀY VÀO ĐƠN  KIỆN THƯA, TRANH CHẤP : Bao gồm vào đơn thưa kiện, tranh chấp phân chia, ly hôn (thuộc các án dân sự). Ngoài các Cát tinh mang tính giải hạn, nên tránh các ngày Hắc đạo là Chu tước, Huyên vũ cùng Nguyệt đức hợp, Sát chủ, Vãng vong, Thập ác Đại bại, Tội chí, Thần cách, Thiên hình, Thiên lao, Xích khẩu, Thổ Ôn. Trực Định.

XEM NGÀY ĐI MUA VẬT DỤNG :

Trong các cách đáng quan tâm là việc tìm ngày để đi mua vật dụng phục vụ đời sống nhằm mưu cầu tài lộc. Tuy nhiên dù ngày có các Cát tinh phù hợp, nhưng bản mệnh khắc với Can Chi ngày hiện hành tức gặp khắc nhập, sinh xuất mất phần phúc, việc mua vật dụng sẽ không như các tính chất được nói sau đây :

– Mua bóp, mua tủ, xe cộ : là hai thứ dùng chứa tiền, giữ tiền, mong cho tiền đẻ thêm tiền. Ngoài các ngày giờ Hoàng đạo, đi hướng Tài thần, cần có ngày Kim quỹ, Lộc khố đi cùng Thiên phú hay Thiên quý, Yếu yên, thêm ngày Trực Khai, trực Mãn sẽ tốt đẹp. Nên tránh ngày Sát chủ, Thiên tặc, Địa tặc (có thể bị trộm cướp viếng).

Ngoài việc mua bóp, mua tủ dùng chứa đựng tiền bạc, xe cộ là một động sản cần thiết dùng làm phương tiên di chuyên lo công việc làm ra tiền. Nên ngoài những tinh đẩu kể trên tìm thêm sao Thiên mã, Dịch mã là 2 tinh đẩu chủ về đường đi và sự thay đổi may mắn.

– Mua giường : là thứ vật dụng cần thiết cho hôn nhân và cầu con. Chọn ngày giờ Hoàng đạo đi hướng Hỉ thần, tìm sao Thiên hỉ, Kính tâm, Ích hậu. Trực Mãn, trực Kiến. Tránh Sát chủ, Thiên ôn, Thổ ôn, Lỗ ban sát, Hoang vu, Quỷ khốc, Âm thác, Dương thác, Tứ thời Cô quả hay Cô thần, Quả tú, Tứ ly, Tứ tuyệt. Ngày sao Khuê, sao Cơ.

– Mua bếp : tối kỵ mua ngày mùng 1 và 25 mỗi tháng, các ngày Dương công kỵ nhật, Nguyệt kỵ, Nguyệt tận, Tam nương, Sát chủ, Thiên hỏa, Nguyệt hỏa, Lỗ ban sát. Tìm ngày Trực Thành, trực Khai, sao Tinh cùng Thiên quý, Thiên phú, Yếu yên, Địa tài, Nguyệt tài, Nguyệt không và Phục đoan.

XEM VỀ NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP : Những tinh đẩu trực tiếp với các nghề nông lâm ngư nghiệp không nhiều, vì tính cát hung đã thể hiện trong các tinh đẩu hàng ngày. Có một số tinh đẩu mang tính chất đặc thù, như :

– Gieo trồng : tốt khi có thêm Sinh khí và sao Mão, xấu với Địa hỏa, Khô tiêu, Ngũ hư.

– Làm chuồng cho gia súc : tốt vào ngày Nguyệt tài, xấu gặp Sát chủ, Thiên ôn. Còn chọn ngày thả gia súc đi rông, kỵ ngày Phi liêm đại sát.

– Thiến mổ xỏ mũi gia súc : kỵ các sao Đao chiêm sát, Huyết chi, Huyết kỵ.

– Trừ sâu bọ : có ngày Phục đoan.

– Đào ao, đào giếng : nuôi cá, lấy nước kỵ các sao Thổ ôn, Địa tặc.

– Làm men, làm nước chấm : những thứ vùng nông thôn thường tự sản xuất, như làm men lên rượu, làm nước tương, vùng biển làm nghề nước mắm, hay những loại nước chấm lên men như mắm tôm, mắm cá kỵ gặp ngày Thủy ngấn.

– Ra sông ra biển : theo nghề chài lưới, đánh bắt cá hay du lịch trên sông biển, kỵ các ngày Long thần hành, Hà khôi, Bát phong, Diệt môn.

– Săn băn, đốn củi : tốt với ngày Thọ Tử nhưng xấu với sao Sơn ngân.

XEM VỀ MÀU SẮC : Mỗi tuổi hợp với một màu, cụ thể như :

Người thuộc Đông trạch (Khảm, Ky, Chấn, Tốn thuộc Cung Phi) : – Khảm : hợp màu đen (hay xanh đen) – Ly : Đỏ tía (màu đỏ + xanh), màu hồng đậm – Chấn : Các màu xanh  – Tốn : các màu xanh nhạt, sáng trắng.

Người Tây trạch (Đoài, Kiền, Cấn, Khôn thuộc Cung Phi) : – Đoài : màu trắng (hay các màu vàng nhạt) – Kiền : Đỏ đậm (màu đỏ + đen), hồng nhạt, trắng – Cấn : các màu vàng – Khôn : màu vàng và đen.

Về tuổi Cung Phi chúng tôi sẽ có bài viết riêng.

Như người Đông trạch, hay người Tây trạch cùng đồng mệnh, có thể sử dụng màu sắc lẫn nhau, nhưng có 4 yếu tố chính sẽ làm ảnh hưởng đến tài lộc, mang các độ số cao thấp khác nhau :

– Cung Sinh Khí : thượng kiết gồm các cung :

Đông trạch : người cung Khảm hợp với Tốn, cung Chấn hợp với Ly, cung Tốn hợp với Khảm và cung Ly hợp với Chấn.

Tây trạch : người cung Kiền hợp với Đoài, cung Cấn hợp với Khôn, cung Khôn hợp với Cấn và cung Đoài hợp với Kiền.

Thí dụ : người cung Ly hợp với đỏ tía, cung Sinh khí của Ly là Chấn, có thể chọn thêm màu xanh sẽ thích hợp hơn.

– Cung Phục Vì : kiết tại chính cung, như Khảm tại Khảm, Đoài tại Đoài v.v…

Thí dụ : người cung Khảm hợp màu đen, khi sử dụng màu đen chỉ thuộc kiếtkhông được thượng kiết.

– Cung Phúc đức : thứ kiết, gồm các cung :

Đông trạch : Tốn (của Chấn), Ly (của Khảm), Khảm (của Ly) và Chấn (của Tốn).

Tây trạch : Khôn (của Kiền), Đoài (của Cấn), Kiền (của Khôn) và Cấn (của Đoài).

Thí dụ : người cung Khôn hợp với màu vàng và đen, sử dụng thêm màu đỏ đậm (của Kiền) hay trắng (của Đoài) sẽ hóa Khôn thuộc cung Phúc đức, chỉ thuộc thứ kiết không được kiết hay thượng kiết.

– Cung Thiên y : thứ kiết, gồm các cung :

Đông trạch : Chấn (của Khảm), Khảm (của Chấn), Ly (của Tốn) và Tốn (của Ly).

Tây trạch : Cấn (của Kiền), Kiền (của Cấn), Đoài (của Khôn) và Khôn (của Đoài).

Thí dụ : theo như cung Phúc đức.

Người Cung phi Đông trạch không sử dụng màu sắc của người có Cung phi Tây trạch, sẽ khắc kỵ gây tổn tài, hại của. Do các cung Tây trạch Kiền, Cấn, Khôn,  Đoài khắc với người Đông trạch. Người Tây trạch cũng không nên sử dụng màu sắc của người Đông trạch là Khảm, Chấn, Tốn, Ly vì sẽ gặp Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Họa hại.

Thí dụ : người cung Ly (hợp màu đỏ tía) sử dụng màu của Khôn là đen sẽ gặp Lục sát, màu trắng của Đoài gặp Ngũ Quỷ, màu đỏ đậm, hồng nhạt của Kiền gặp Tuyệt mệnh hay màu vàng của Cấn gặp Họa hại.

KHÔI VIỆT

Xem tướng sửa mệnh (bài 3)

1a LogoTuongso

Bai dam nu 1CÁI DÂM

TRONG TƯỚNG

PHỤ NỮ

– Khôi Việt

LUẬN VỀ CHỮ DÂM

Người Việt chúng ta khi nói đến sự hưởng thụ thường hay buột miệng câu “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, cưới vợ Nhật”, bởi đất nước từng bị Tàu đô hộ “một ngàn năm” còn Tây cả “trăm năm”, chỉ riêng Nhật có mấy năm trong Thế chiến thứ II, nhưng đã có một nhận xét rất tinh tế về người phụ nữ Nhật.

Phụ nữ Nhật nhìn bề ngoài hình thần thấy thật nhu mì, hiền hậu, đoan trang nhưng bên trong, tức khí chất là thứ núi lửa Hỏa Diệm Sơn, lúc nào cũng bùng nổ mãnh liệt, trong ái ân không thụ động như phụ nữ Trung Hoa luôn giữ gìn bốn câu “công dung ngôn hạnh” không dám đột phá trong phòng the, có lẽ e sợ mang tiếng đời cho rằng họ thuộc dạng “dâm nữ” chăng ?

Tuy nói phụ nữ Nhật biết chiều chồng tới bến, khiến các ông chồng phải say mê không chán cơm thèm phở, nhưng trong lịch sử Trung Hoa từng nói đến cái dâm trong tướng phụ nữ của họ : “Không dâm sao nẫy ra hiền”, một câu bắt nguồn từ sách Tố Nữ Kinh. Trong có đoạn viết : “việc vợ chồng ân ái là việc mở đầu cho quần luân, cũng là điều truớc nhất của tạo hóa ban. Nam nữ khi giao tiếp để cho âm dương được thuận, nên Khổng Tử ca tụng việc hôn nhân trọng đại là vậy”; để nói không chỉ phụ nữ Nhật mà đa số giới nữ khi trưởng thành đều mang dâm tính trong người, nhưng mọi người thể hiện một cách khác nhau, người thụ động và người chủ động mà thôi.Bai dam nu 2

Theo quan điểm của sách Tố Nữ Kinh, khi tạo hóa ban cho một nam một nữ tiến đến hôn nhân, thì cái dâm là điều kiện tiên quyết. Cái dâm ở đây nói đến hiện tượng sinh lý (chưa nói đến sinh dục), nếu người phụ nữ “bị khô” (lãnh cảm) hay nam giới “trên bảo dưới không nghe” (rối loạn cương dương) thì cuộc sống vợ chồng không thể có hạnh phúc. Vậy cái dâm trong tướng mệnh mỗi người ra sao ?

Xin lấy một truyện làm thí dụ cho cái dâm, như trong sử Trung Hoa có nói, Võ Tắc Thiên thuộc người phụ nữ đẹp, dâm đãng, làm thiếp của cha (vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân) sau lấy con của Thế Dân là Đường Cao Tông Lý Trị trở thành Hoàng hậu và sau nắm hết quyền hành như một vị Hoàng Đế. Nên Võ Tắc Thiên không chỉ chính danh lấy cha và con, bà ta còn dâm đãng điên cuồng theo “gien” di truyền từ mẹ ruột, tức Dương Thị, năm Dương Thị 60 tuổi còn gian dâm với cháu ngoại là Hạ Lan Kinh.

Cái dâm của Võ Tắc Thiên khi được nhắc đến có chuyện, khi bà ta bị Đường Cao Tông bỏ bê đưa vào chùa Cảm Nghiệp làm ni cô (do các thái sư nhìn sao trên trời đoán vận mệnh cho vua nói rằng, sau họ Lý là họ Võ sẽ lên ngôi thiên tử. Vì thế ai họ Võ đều mất hết binh quyền, người trong cung thì đưa vào lãnh cung là ni cô), rồi trong cảnh tịch mịch đã thông gian với một hòa thượng tên Phùng Tiểu Bảo. Lúc được Đường Cao Tông sủng ái trở lại, Võ Tắc Thiên tìm cách đưa họ Phùng vào hậu cung để mây mưa do hai người ý hợp tâm đầu, thân hình Phùng Tiểu Bảo lại vạm vỡ, rất khoẻ trong việc gối chăn. Ngoài họ Phùng, Võ Tắc Thiên còn dâm loạn ăn nằm với quan ngự y Thẩm Nam Liêu, người thường đến cung “massage” cho Hoàng hậu. Ngoài ra còn có vị đạo sĩ tên Minh Sùng Nghiễm, luôn luôn có mặt để thỏa mãn dâm tính của bà.

Vo Tac ThienRồi khi Võ Tắc Thiên nhận ra các nhân tình kia đều lớn tuổi hơn bà ta, lập tức Võ Tắc Thiên “cải cách” chuyện phòng the, tìm ngay một tình nhân nhỏ tuổi hơn bà là Trương Xuân Tông một chàng trai từng ăn nằm với Thái Bình Công Chúa con bà. Và chỉ qua một đêm Võ Tắc Thiên thấy thỏa mãn hài lòng ngay với họ Trương. Nhưng vì Trương Xuân Tông đang là nhân tình với Thái Bình Công Chúa sợ người yêu ghen nên liền tiến cử Trương Dịch cho Võ Tắc Thiên, giới thiệu Trương Dịch cũng thuộc “cao thủ võ lâm” trong đường ân ái, dù vậy Võ Tắc Thiên va74n không buông Trương Xuân Tông. Cả hai anh em họ Trương phải thi nhau cung phụng dục tình cho Võ Tắc Thiên.

Đã vậy Võ Tắc Thiên cũng chưa đủ thỏa mãn sự dâm loạn, sau khi Đường Cao Tông chết, Võ Tắc Thiên nắm hết quyền hành trong triều đình, bà ta còn ra lệnh thần dân tiến cử thêm nam nhân khoẻ mạnh, trong số có Liễu Lương Tân rất am tường chuyện phòng the, còn Vệ Trương Sử viết trong thư tự tiến cử khoe rằng mình có dương vật vừa dài vừa to, khoẻ mạnh hơn mọi nam nhân khác (hai người này được ghi trong sách “Cựu Đường Thư”), Võ Tắc Thiên đều cho vào cung để thưởng thức.

Còn rất nhiều nhân vật được Võ Tắc Thiên ăn nằm, vì với cái dâm của bà nên lúc đã gần 80 tuổi, không đêm nào Võ Tắc Thiên ngủ mà thiếu đàn ông.

Trong sử Trung Hoa còn nói đến các dâm phụ khác như Thái Bình Công Chúa con gái Võ Tắc Thiên, Vị Thị cháu nội Võ Tắc Thiên (đều bị cái “gien” dâm loạn từ bà ngoại của Võ Tắc Thiên truyền sang); Giả Nam Phong còn gọi “Hắc Trân Châu” (viên ngọc đen, vì da  bánh mật) vợ của vua Tấn Huệ Đế Tư Mã Chung; hay Từ Hi Thái Hậu Diệp Hách Na Nạp, đời Mãn Thanh v.v… chúng tôi sẽ kể trong những bài khác.

Và trong một cuộc thăm dò dư luận cho một game show mới đây, các điều tra viên hỏi 100 người nam lẫn nữ : “Bạn có thích người bạn tình – vợ, hay chồng – của mình dâm không ?” có đến 80% người trả lời “rất thích”.

Vậy ra cái dâm không phải là điều xấu, xấu hay không ở chổ thể hiện dâm tính. Nhưng thông thường mọi người hay nói đến cái dâm ở người phụ nữ, chuyện ái ân với nhau ra bàn luận “khô” hay “ướt át”, ít khi nói đến sự “dâm đãng” của người đàn ông có nhân tình, mèo mỡ, đi bia ôm đèn mờ, có người còn thích “già chơi trống bỏi” thấy nữ nhi đang tuổi dậy thì thân thể đang phát triển là híp mắt nhìn ngắm say sưa.

CÁI DÂM THỂ HIỆN TRÊN TƯỚNG MỆNH

Trong tướng mệnh, tức mệnh vận mỗi người được thể hiện ra bằng hình thần dưới những nét riêng biệt về tướng cách, sắc diện hay khí chất qua tâm tướng của người đó. Như nhìn sắc diện vào khuôn mặt, khóe mắt làn da, nhìn cách cười nói, đi lại nằm ngồi (xem bài “Thế nào là người đẹp qua tướng mệnh” và “Xem tướng sửa mệnh”), các thầy xem nhân tướng có thể suy đoán tính cách tính dục của đối tượng qua những hình tướng sau đây :Bai dam nu 3

–          Hung cao điến kiệu : ngực ưỡn đít cong.

–          Yêu tế kiên hàn : eo nhỏ vai so, lưng như lưng ong

–          Thân như phong liễu : dáng ngã nghiêng như cây liễu.

–          Hạc thoái phong yêu : gầy như chân hạc

–          Yém nhiên hàn tiếu ngữ/ Dâm dật đới tình si : vừa nói vừa cười là dâm dật đa tình, đôi khi còn trở nên dâm loạn.

–          Nữ nhân đào hoa nhãn/Tư phòng liễu diệp mi/Vô môi năng tự giá/Nguyệt hạ nữ nhân kỳ : người phụ nữ có đôi mắt ướt át, hay liếc nhìn tình tứ, lại thêm đôi lông mày lá liểu là loại thích trăng hoa. Có chồng nhưng vẫn muốn có thêm nhân tình để thỏa mãn thú vui xác thịt.

–          Lưỡng quyền cao : thuộc dạng hiếu sắc, đa dâm.

Ngày xưa trong giới cải lương có người nhìn thấy “bốn đại dâm nữ” bằng câu “Nhất T.., nhì N…, tam L…, tứ N…” mà quả thật, họ đổi chồng hay thay nhân tình như thay áo mặc hàng ngày. Còn căn cứ theo tướng pháp viết từ Thủy Kính, Ma Y Thần Tướng, cũng như Thu Đàm Nguyệt, Nữ ngọc Quản Quyết, Linh Đài Bí Quyết… cho thấy dâm tướng của người phụ nữ qua những cử chỉ sau :

– Phụ nữ ngồi thường mân mê mái tóc,  thuộc người rất đam mê tình dục

– Ngồi mà hay vuốt lông mày, liếm môi, cho tay ra sau gáy, tay chân rung, uốn éo thì ý dâm vượng thịnh, hiếu dâm, đa tình, đa dâm.

Sách “Bí truyền tướng pháp” cũng viết : Quyền hồng như chi giả chủ dâm bôn. Tức cái dâm thường thể hiện qua đôi mắt, mắt màu hat dẻ, mắt nâu mà các thầy xem nhân tướng gọi là trà sắc nhãn (mắt có màu nước trà ), thú nhãn (mắt có màu như mắt thú) là những người xem tình dục như một trò chơi

Còn tướng sư Viên Liểu Trang (thời nhà Minh bên Trung Hoa) nói đến cái dâm, cái đẹp trong  tướng mệnh người phụ nữ, viết trong sách :

– Để xem cái dâm của nữ nhi bằng cách lấy khí huyết làm chủ, da tức là máu, máu là gốc rể của da. Nên khi nhìn vào da thịt của nữ nhi có thể biết sự suy thịnh của máu; da sáng thuộc máu tốt, da đỏ hồng là máu khô, da vàng là máu đục, da như hơ lửa là máu suy, da trắng nhợt là máu trì trệ. Như vậy tiện tướng là máu đục, dâm tướng là máu suy, yểu tướng là máu trì trệ. Máu tươi nhuận là mịn màng, không xếp nếp, không trì trệ, không ủng thũng. Da thịt gợn ánh hồng, hoặc đen bánh mật, tươi sáng thì tốt về tình dục hơn trệ đục khô cằn. Vì vậy người phụ nữ cần mang dòng máu tươi, sáng trong ngoài mới coi là quý.

– Phụ nữ còn mang vẻ sang quý ở mắt, mi mắt, vai và lưng, xem đường tử tức ở bụng, vú và rún. Mặt vuông thuộc hổ diện là phạm vào sát tinh không thể trở thành mệnh phụ phu nhân. Người phụ nữ có hình thể như con phượng mới thực đại quý. Dáng phượng thì mặt tròn dài, mi như cánh cung, mắt nhỏ trải dài, cổ tròn dài, vai lưng bằng phẳng đầy đặn.

Cho nên da thịt là nơi cho khí sắc hiện lên. Da thịt có nhiều loại : Chắc và mềm mại – Bầy nhầy – Thô cứng nhăn nheo

Da thịt cần nhất là phải tương xứng với xương cốt, nếu xương nhỏ mà thịt nhiều sẽ thành bầy nhầy, nếu xương to mà thịt ít sẽ trỡ nên thô cứng. Người phụ nữ mà da thịt bầy nhầy, phù thủng sẽ có nhiều bệnh tật đến yểu mệnh. Da thịt thô cứng ắt số khắc phu, tâm khổ.

Sự biến đổi sắc diện cũng biểu lộ qua tướng cách và tâm lý. Nên nhiệt độ của da thịt tùy thuộc vào các vi huyết quản và lớp mỡ nằm dưới da, sự giãn nở từ các mạch máu sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh của cảm giác. Như một người phụ nữ khi mắc cỡ sẽ làm hồng lên đôi má, còn nếu sợ hãi sẽ đâm tím mặt và tay chân lạnh toát, đôi khi mồ hôi ra dầm dề từ mặt xuống đến thân nhất là lưng.

MÙI HƯƠNG TỪ PHỤ NỮ

Bai dam nu 4Làn da trắng, mịn màng thơm tho là biểu hiện tính cách thông tuệ, văn nhã sạch sẽ… Sách “Thần Tướng Toàn Biên” viết : Người phụ nữ da thịt lúc nào cũng lạnh thuộc tướng dâm, da ấm, nóng êm dịu là tướng tốt. Da thịt da cần phải chắc dày mới thấy có bề thế, không chảy xệ lại thơm tho và ấm áp, sắc phải trắng nhuận, da mềm mại đều là mỹ chất. Nếu sắc đục như ám khói và khô, da đen sạm và hôi hám, thịt nổi lên thành cục không phải là tướng sang, quý phái.

Vì vậy mùi hương từ người phụ nữ là thứ đặc trưng (không phải từ hương liệu), được toát ra từ da thịt của họ.

Theo giới y học cho đây là sự phóng thích của các phân tử từ phản ứng oxyt hóa chất béo có trong mồ hôi nằm ở lổ chân lông, những vùng đặc biệt như nách, bẹn, gáy, các nếp gấp… những nơi có cấu tạo da lông và tuyến mồ hôi đặc biệt, ngoài ra các cơ quan rổng cũng có riêng mùi đặc trưng, như ở miệng, mũi, tai, âm hộ, âm đạo, mùi từ hơi thở và cả nước mắt, từ tinh dịch nam giới đến chất nhờn trong âm đạo cũng có mùi vị.

Người phụ nữ biết vệ sinh cá nhân thường xuyên sẽ tạo ra một thứ mùi riêng biệt; nên khi người đàn ông ngửi đến nhiều lần đâm ra “nghiện” như nghiện ma túy không bỏ được, là người phụ nữ biết giữ chồng. Vì khi người chồng nhận ra một mùi hương quen thuộc thì một cảm xúc sẵn sàng xuất hiện, còn ngược lại sẽ mất ngay sự hứng khởi. Còn để có mùi hôi như mùi mắm thúi, e rằng chỉ ba bảy hai mươi mốt ngày cả hai đành phải xa nhau.

Trong giao tiếp ái ân, cảm xúc từ mùi hương da thịt là yếu tố chính để kích thích tâm hồn, kích dục thể xác chứ không phải sắc đẹp không phải giọng nói, vì các yếu tố này đã được chứng minh từ khi cả hai quen biết nhau. Cuối cùng qua yếu tố mùi hương mới đưa đến câu “cảm nhau vì sắc, mến nhau vì tình” là vậy.

Một người bị bệnh liệt dương, hay xuất tinh sớm yếu sinh lý có thể do người đó chưa có đủ sự kích thích dâm tính cần thiết hoặc do cảm xúc đến quá sớm (nhiều người phải dùng đến thuốc trợ giúp hay xem phim con heo, để tạo sự cảm xúc dài lâu). Vì vậy mùi vị, âm thanh, hình ảnh và xúc giác giữ vai trò rất lớn trên sự tạo ra “tâm lý đáp ứng” cho cả hai người khi cùng nhau ở chốn phòng the.

Mùi như thế nào, cảm giác ra sao thì chỉ có mỗi cặp nam nữ mới cảm nhận được, sự yêu thích hơi hám của nhau là biểu hiện cho sự hòa hợp và tình yêu, và đó là bản chất mang trạng thái dâm tính.

Thời Từ Hi Thái Hậu nhà Thanh bên Trung Hoa khi tuyển cung tần mỹ nữ vào hậu cung trước phục vụ các hoàng nhi sau tìm Hậu, Cung Phi, đã cho các cô gái mặc áo thật dày, rồi nói họ chạy quanh sân rồng cho đỗ mồ hôi. Bà Từ Hi làm như vậy cốt để xem thân thể cô gái được tiến cung có mùi thơm tho hay hôi hám. Như đã nói, mùi hương trên da thịt người phụ nữ thơm tho là tướng cách mệnh phụ, nếu thân thể hôi hám là tướng hạ tiện. Thời đó có nàng Hương Phi, thân thể nàng tỏa ra một mùi thơm ngát, ngọt ngào, còn có người mùi lại nồng nặc khó chịu.

Vì vậy mũi là cơ quan để tiếp nhận mùi, sẽ dẫn truyền sự kích thích lên não và tạo ra cảm giác hưng phấn. Dù hiện nay các sản phẩm hương liệu mùi từ hóa chất đang rất thông dụng với phụ nữ, nhưng nam giới vẫn ưa chuộng mùi từ thiên nhiên do tạo hóa ban cho họ, và trong quan hệ tình dục thì mùi tự nhiên của nàng vẫn luôn là thứ kích dâm muôn thuở.

NHAN SẮC VÀ TƯỚNG CÁCH :

Trong tướng mệnh cho thấy mệnh vận người phụ nữ tốt hay xấu hoàn toàn lệ thuộc về tướng cách, nhan sắc (hình thần – khí chất), dễ đưa đến hạnh phúc và cũng có thể dễ trở nên tại họa. Chỉ có tướng cách tốt mới có một gia đạo yên vui hạnh phúc.

Tướng cách là nét đặc biệt hiện lên trên thân tướng và ngũ quan, như bài “Thế nào là người đẹp qua tướng mệnh”, để có thể dự đoán được số mệnh. Việc dự đoán như sau :

Nhan sắc đẹp + tướng cách tốt : số đại quý (trai làm tướng, nữ mệnh phụ phu nhân)

Nhan sắc xấu + tướng cách tốt : chỉ thuộc dạng phu nhân bậc trung trong xã hội.

Nhan sắc đẹp + tướng cách xấu : mệnh vận khổ ải, thường “hồng nhan đa truân”, ba chìm bảy nổi.

Nhan sắc xấu + tướng cách xấu : thuộc hạng người nghèo khó hạ tiện.

Vì vậy có câu hỏi : Tại sao sắc đẹp người phụ nữ lại làm cho nam giới say mê đắm đuối ? Chúng gồm các yếu tố nào ?

Xin thưa các yếu tố của người phụ nữ làm say đắm nam giới là do trời phú riêng cho họ, qua : tiếng nói ngọt ngào, tính nết dịu hiền, đầu tóc đen thuyền, thịt da trắng, mềm, xương cốt yểu điệu mãnh mai, thân hình thon thả vừa tầm không cao quá khổ hay lùn quá mức, không béo phì hay như bộ xương cách trí. Ba vòng ngực, bụng và mông phải tương xứng, chứ không được ngực ưỡn đít teo. Trong ái ân cái dâm phải hài hòa, người phụ nữ chỉ biết thụ động tuy có dâm tính nhưng vẫn không thể sánh với người thường hay chủ động.

Cái dâm trong thụ động của người phụ nữ thường được gọi là “bóng ẩn” nên khiến việc chăn gối của nam giới cảm thấy không nhiều cảm xúc, hoặc nữ giới gặp người rối loạn cương dương, cả hai sẽ càng chán nhau hơn, vì trở thành “đồng sàn dị mộng”.

KHÔI VIỆT

Xem tướng sửa mệnh (bài 1)

1a LogoTuongso

THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI ĐẸP

QUA TƯỚNG MỆNH ?

– KHÔI VIỆT

Trong các sách nói về Nhân Tướng, các chiêm tinh gia thường cho rằng, một người con gái đẹp cần nhất về ngoại hình tức hình thần và khí chất. Vì khi trời đất sản sinh ra loài người đã định : Thần tức thần sắc, hình thể; thần dựa vào hình mà trụ, còn hình dựa vào thần để vận động.

nguoi dep A

Nên trong tướng thuật đều đưa hình thần con người để so sánh người đẹp này với người đẹp khác, cũng như qua những cuộc thi sắc đẹp các vị giám khảo tuy không là thầy tướng nhưng cũng dễ dàng suy đoán ai là Hoa hậu, Á hậu. Bởi hình thần và khí chất thường bộc lộ hẳn ra cho mọi người chiêm ngưỡng.

Sau đây là những tính cách đẹp của người phụ nữ muốn trở thành một hoa hậu, á hậu trong cuộc thi sắc đẹp nào đó :

Dáng phượng : trán dài, tam đình đều đặn, lỗ tai nhiều thịt, sơn căn cao thẳng, đầu tròn, mắt dài mà đuôi vểnh, miệng nở như sen, mày thô mà thanh tú, ngũ tinh, lục diệu đều hợp cách. Ai mang tướng phượng người đó rất khoẻ mạnh ít tật bệnh, tướng cao sang, tao nhã, trí tuệ minh mẫn, từ tiền vận đã có tiếng để đời.

Dáng rồng : Ngũ nhạc đều nổi, tam tài đầy đặn, thiên địa chầu nhau, ấn đường nổi cao thấy rõ biên địa, mày dài, mắt dài, tai dài, ngũ tinh lục diệu đều tốt. Đây chính là hình con rồng, ai có hình thần này đều thuộc quý tướng, làm đến bậc nhất nhì trong thiên hạ.

Dáng hạc : có tam tài đều đặn, mắt nhỏ mày dài, từ ấn đường đến sống mũi nhọn và nhỏ thon. Trung đình trên dưới nhỏ dài nhưng ngay thẳng, cằm thon tròn, ngũ quan đều đặn. Dáng trên là dáng con hạc, thuộc tướng đại quý, suốt đời đầy tiền của, danh vọng và sống thọ.

Còn nhiều dáng vóc khác nhưng thuộc nam giới nên tác giả không nói đến. Về các vùng trên mặt xin xem hình 1 và những diễn giải sau đây :

D Hinh 1

Ngũ tinh : gồm 5 phần ngũ hành, Hỏa chỉ trán, Thổ chỉ mũi, Mộc chỉ tai phải, Kim chỉ tai trái và Thủy chỉ miệng.

Hỏa tinh (10) ở trán phải vuông mới mong có ấn vàng (ám chỉ đậu cao làm quan to). – Thổ tinh (11) sống mũi, phải dày mới trường thọ. – Thủy tinh (14) ở miệng phải đỏ hồng, tươi tắn sẽ làm đến chức tam phẩm, nữ thì mệnh phụ phu nhân lên xe xuống ngựa vinh hiển cả đời. – Kim tinh (13) là tai trái, Kim tinh hợp với màu trắng nên lỗ tai phải trắng, chắc chắn có địa vị cao sang. – Mộc tinh (12) là tai phải phải dày đều, cân đối với khuôn mặt không ngắn không dài thì nữ mệnh hưởng vinh hoa phú quý. Kim Mộc tinh quý nhất có vành khuôn rõ ràng, nằm cao hơn mắt ngang tầm với lông mày, nhất định sẽ giàu có trước tuổi.

Lục diệu : gồm Tử khí có ấn đường, La hầu là lông mày trái, Kê đô là lông mày phải, Nguyêt bôi là sơn căn, Thái âm là mặt phải, Thái dương là mặt trái (theo thuyết nam tả nữ hữu).

Thái dương (20), Thái âm (19) mắt phải sáng đồng tử đen mới có lộc vị, còn mí mắt đen thâm sẽ có bệnh tật; người có lòng đen nhiều, lòng trắng ít sáng, được sao Thái âm, Thái dương chiếu mệnh làm gì cũng thuận lợi.

Nguyệt bội (18) tức Sơn căn phải thẳng, đầy đặn, là người có danh vọng, được phục dịch, không nên có nếp nhăn, không để hai đầu lông mày châu gần nhau, hay có nút ruồi hiện sẽ xung phá.

nguoi dep 2

Tử khí (15) là Ấn đường rất quan trọng, từ Ấn đường trở xuống Sơn căn nếu bị phá thì yểu tử, nếu không suốt đời cơ cực, con cháu không may chịu nhiều tai ách.

La hầu (16), Kế đô (17) tức hai bên lông mày trái phải, sắc đen rậm dạng khô là tướng có có tài lộc; ba đời (cha mẹ, bản thân, con cái) được hưởng phước lộc. Nếu châu  nhau, sắc đỏ mà ngắn, điềm dự báo trong cốt nhục có người chết bất đắc kỳ tử.

Ngũ nhạc : gồm 5 sơn, Hành sơn thuộc trán, Hằng sơn thuộc cằm, Tung sơn thuộc Mũi, Thái sơn thuộc gò má trái, Hoa sơn thuộc gò má phải.

Trung nhạc Tung sơn (3) tức sống mũi phải nổi cao, Đông nhạc Thái sơn (4) thuộc má trái phải vươn thẳng, không đầy không cao thì không có khí thế, thường là kẻ hạ tiện, tiểu nhân, giảm thọ. Nếu sống mũi (tung sơn) lệch và mỏng không có thế, thì bốn sơn kia không vững dù có cốt cách tốt.

Đông nhạc (4) Tây nhạc (5) bị nghiêng lệch thì sự nghiệp chỉ làm đến hàng nhân viên, phụ tá là cao hơn nữa lộ tính bất nhân, bất nghĩa.

Nam nhạc (1) thuộc trán bị lệch thì tán gia bại sản;

Bắc nhạc (2) thuộc cằm, nếu bị nhọn lép thì sự nghiệp bất thành.

Tứ độc : gồm Giang là tai, Hà là mắt, Hoài là miệng và Tế là mũi.

Giang độc (6) là đôi tai phải sâu rộng thuộc người thông minh, trí thức, giữ được cơ nghiệp.

Hà độc (7) tức đôi mắt phải to và sâu, trong sáng rất trí tuệ, học một hiểu mười, sống thọ, tính tình phân minh; nếu nông, mắt nhỏ thì cả đời lận đận, chết yểu. Mắt không to, không nhỏ cũng thuộc hàng có văn hóa, cũng dễ tiến thân.

Hoài độc (8) là miệng, phải vuông vắn, môi lợi che chở nhau, trên dưới phải đều không được trên dày dưới mỏng hay ngược lại, không quá to rộng, nếu không sinh chuyện thị phi, tai tiếng, không hưởng phúc đức từ con cháu, gia nghiệp thường đỗ vở ba chìm bảy nổi.

Tế độc (9) là mũi phải đầy đặn, không to không nhỏ, lỗ mũi không để hở thì giàu có ba đời, còn ngược lại có cuộc sống kham khổ.

Trên đây nói về khuôn mặt nét đẹp xấu, cát hung qua từng phần chú giải. Còn về một số tính cách khác để xem tướng một người phụ nữ đẹp, gồm có :

TƯỚNG MẶT :

nguoi dep 1

Trán : Trán rộng đều đặn chưa thể nói thông minh, nhanh nhẹn, phải như nét gạch thẳng hàng từ đỉnh trán đến sống mũi mới mang yếu tố trí tuệ. Trán trượt ra sau là người hoạt bát, tâm hồn cao thượng nhưng cũng hay nhút nhát, rụt rè khi phải quyết định một việc quan trọng. Trán đứng có 2 loại, một, từ chân mày lên tóc là người kém thông minh, chỉ số IQ thấp, tính khô khan cộc cằn; hai, trán đứng hai phần ba trước khi đến chân tóc, là người thích suy nghĩ, khôn khéo và phát ngôn có ý nghĩa rất sâu sắc.

Tai : Lỗ rai vễnh lên, to có danh vọng; cụp xuống là quý tướng, có thể là thủ lĩnh của một trong hai phái chánh tà. Tròn to giống quân cờ tướng có tài sản lớn; dái tai chảy thọng xuống số có căn tu. Có màu đen không đều phải tha hương lập nghiệp, kham khổ đến cuối đời; mỏng như giấy là nữ nhân sớm góa bụa, bần cùng. Như tai chuột, bần tiện, yểu thọ.

Lông mày : cao hơn mắt sắc thanh có oai quyền, dài được sống thọ, cong như lưỡi liềm thông minh, nhân hậu. Mướt có số sang giàu, đỗ cao. Lông mày dày rậm nhỏ nhắn (lá liễu) thuộc hàng háo sắc, đa tình. Dài quá con mắt tính trung thực, giàu sang, sống lâu; ngắn thì tính tình khô khan, sống cô độc. Đuôi mắt ngang với tóc mai  thông minh, dáng người tuấn tú. Lông mày thưa ít anh chị em và hay vô tình bạc nghĩa. Lông mày mọc không thẳng hàng sinh con trai nhiều hơn gái, còn có vằn lại hay gặp chuyện không may.

Ấn đường : sáng tỏ là người tri thức, trí thức thuộc bậc hiền tài; mở rộng có quyền chức to. Sáng mịn gặp được nhiều điều may mắn; trật hẹp trước lông mày thì gia đạo thường đỗ vở, vợ chồng không chung thủy, ngoại tình. Có màu đen vây hãm coi chừng liên quan đến công quyền.

Sơn căn : Sáng tươi không hề gặp tai ách; cao mà rộng học giỏi tài cao, hậu vận vinh hiển, vinh hoa phú quý. Thấp mà đen có bệnh kinh niên khó lòng chữa trị. Khô mà không nhọn thì tai nạn đưa đến.

Mắt : đẹp và dài như chim phượng được cất nhắc nhanh lên địa vị cao sang, như cá giếc là có tiền của. Mắt lộ màu trắng đục số lãnh đạo gặp thất bại. Đồng tử có hằn đỏ sẽ gặp lôi thôi đưa đến pháp đình; đỏ mà tròng vàng thuộc hàng yếu tử. Hay láo liên như mắt rắn sẽ gặp độc hình, như mắt ong lồi thì cô độc; như mắt lươn thuộc hạng lừa đảo.

Mũi : to biểu hiện sự đa cảm, nếu khép lại là người sống tiện tặn, không hoang phí, mở to là tiêu xài hoang phí không giữ được tiền của, gia đạo thường bất hòa nhưng không đi đến đỗ vở.

Nếu sống mũi nhỏ thon, nhưng lỗ mũi phình ra là người đa cảm. Như mỏ chim ưng là người nhiều mưu sâu quỷ kế; có ba ngấn sẽ cô độc, còn lõm xuống số không sống gần anh chị em ruột, họ hàng. Nếu lộ ra thì tính sợ chết, nhát gan; đầu mũi thịt sa xuống rất đa dâm, hám tiền, nếu tròn, đầy đặn trái lại giàu sang. Mủi hếch để hở thì dễ chết đường, tẹt thấp thường có tư tưởng rối loạn.

Nhơn trung (nằm trên môi trên dưới lỗ mũi) : sâu mà dài, sống thọ, có con cháu đông được hưởng phúc lộc; ngắn, cạn lại ít con cháu, sống yểu. Cao và dày gần như không thấy rảnh , thường chết non hay không con nối dõi.

Pháp lệnh (hai bên khoé mũi, trên khoé miệng) : nếu rõ là có uy quyền, giàu sang phú quý; còn ngắn lại nhọn sẽ nghèo hèn chết yểu. Dài đến cằm được hưởng phước thọ đầy đủ. Ngắn mà quặp vào miệng số bần cùng, bọ xung phá dễ tù tội, còn có ngấn tròn dài sẽ cơm no áo ấm.

Hoan cốt (xương gò má) : cao, đầy có uy quyền, ngang với ấn đường, sơn căn muôn người dưới quyền, mỗi bên không đều thì bại gia; còn thấp không cân xứng với khuôn mặt là người thiếu nghị lực. Gò cao nhọn đưa xuống, đa dâm, ăn hiếp chồng, sát phu, còn đưa lên có người hỗ trợ. Có màu xanh hãm anh chị em không đoàn kết, màu trắng hãm anh chị em có người gặp nạn tai.

Miệng : cong như cánh cung làm quan đến tam, nhị phẩm; đỏ thắm như son là giàu sang phú quý, nhưng không thọ , nữ “hồng nhan bạc mệnh”, nam “bất đắt kỳ tử” (thường tròn 3 con giáp). Có câu “đàn ông miệng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”, nên nữ nhân mà miệng loa vừa tan hoang cửa nhà, vừa đa dâm, nếu nhỏ nhắn là biết cần kiệm, thủy chung. Miệng rộng, lưỡi mỏng lại là người có lòng từ tâm, vui tính, giàu có; mở miệng hở răng thì “khẩu xà tâm Phật”.

Môi : thâp không cao sớm gặp đói nghèo; có màu gan gà suôt đời bân hàn, màu đỏ hồng có của để dành, xanh đen (tái) thì chết đường vì đói. Gặp môi khuyết lõm là người hà tiện, bủn xỉn. Hai môi không ngay là bất nhất, xảo quyệt.

Răng : trắng có tính vui vẻ cởi mở, tiền tài đầy đủ; lóng lánh như màu bạc là người quý phái, sang trọng. Như hột lựu trắng có của hoạnh tài, công danh thăng tiến; có răng rồng sẽ sinh quý tử. Lợi răng lòi ra cửa miệng, có tính bép xép, không giấu kín được chuyện gì; răng khít không hở là người hà tiện, giàu có nhưng lại không hay làm phước, nếu thưa thì của cải không còn. Đến tuổi không đủ 30 cái răng thì yểu thọ, mọc đầy đủ thì đời sống không khổ; mọc từ 36 đến 38 răng thuộc hàng chỉ huy, lãnh đạo.

Lưỡi : lưỡi lớn miệng nhỏ là người ăn nói hay ấp úng, không hoạt bát, số bần hàn; còn ngược lại ăn nói ứng xử hay nhưng thường xảo ngôn. Lưỡi ngắn mà lớn tính lười biếng, nhỏ mà dài có số làm quan, nhân tâm tốt; dài liếm đến mũi thuộc hàng quý tướng, giàu sang như lưỡi rắn là người hiểm độc, dâm ô và tính toán.

Tóc : dài mà thưa thuộc người có trí thông minh, phú quý, trường thọ; ngắn cứng thô không đen thường có tính can đảm chịu cơ cực; tóc mai rối, khô, thường ưu sầu, người hay nóng nảy, tính cô độc; tóc ngã vàng, khô nếu không nghèo cũng yểu tử, tóc hoe đỏ sẽ có tai nạn. Đầu tóc mịn, dày và thơm, tướng giàu sang, trường thọ. Tóc thô cứng, dài thuôc người hạ tiên, chết non. Hai bên lỗ tai không có tóc mai thì tính ác độc; tóc mọc lan đến lông mày, mọc nhiều giữa trán sẽ gặp nhiều tai ách nếu không cũng bệnh tật. Tóc mai mượt mà có dáng người thanh tú, quý phái, danh tiếng.

TƯỚNG THÂN :

Ngoài những biểu hiện trên khuôn mặt như trên, thân thể con người cũng là những nơi xuất hiện các hiện tượng có từ bẩm sinh cho đến những điềm dự báo ngắn hạn.

Các nhà tướng thuật đã chia tướng thân làm ba phần, được gọi thượng, trung và hạ đình. Ba phần này nếu cân xứng là tướng phúc thọ; như trong cuốn “Thần tướng toàn biên” phần “Thần tướng tam đình” viết :

Thượng đình : thuộc đầu, nơi có bộ máy để chỉ huy hoạt động toàn thân, trong đó hệ thần kinh là phần tối ưu, chỉ cần hư, đứt một mạch máu có thể biến con người có đời sống thực vật, liệt cả đầu óc, chân tay. Nên người thấp lùn, đầu dài hay người cao lớn đầu ngắn, cả đời kém thông minh, nếu không nói là đần độn, suốt đời bần hàn, bị mọi người uy hiếp.

Trung đình : từ vai đến eo lưng phải cân xứng, ngắn có sô không thọ, còn dài lưng thuộc người lười biếng số sẽ nghèo hèn; lưng mềm mà đi đứng hay ngồi đều rung chuyển thì tướng mệnh yểu.

Hạ đình : từ eo lưng đến chân, chiều dài phải bằng trung đình, nếu dài hơn sẽ sinh lắm bệnh.

Tuy nhiên lời viết trên chỉ khái quát về tướng thân, các nhà xem nhân tướng thường không coi trọng thuyết “Thần tướng tam đình”, bởi thân tướng có nhiều bộ phận để xét đoán, vì chúng liên hoàn, bổ sung hay miễn trừ nhau qua tính chất Âm dương, Ngũ hành của mỗi người.

Sau đây các nhận xét về thân tướng, theo từng bộ phận con người :

Cánh tay : cánh tay dài (ngón tay chấm đến đầu gối), dáng đi ngay thẳng không cong lưng là người thích tự do, ham hoạt động, tính tình hào phóng đến phóng túng nên thường kiêu ngạo, hợm hĩnh. Nếu ngón tay quá đầu gối thuộc dị nhân, thông minh tột bực. Cánh tay ngắn so với trung đình (không quá hạ bộ) thuộc người bủn xỉn, keo kiệt, tính tình ương ngạnh và hay gây chuyện thị phi. Cánh tay đầy đặn, gân guốc có tính tự phụ nên thích được nịnh hót, tâng bốc; có nhiều lông hay đa nghi nhiều tham vọng và thích trưng diện từ người đến vật dụng. Nếu cánh tay không lông thuộc người có tính ôn hòa, khiêm tốn.

Nói chung cánh tay nên dài và mềm, phẳng và dày, xương tay nên dài và tròn; khớp cổ tay, đốt ngón tay nên nhỏ số đại cát, còn xương lộ mà thô, gân nổi mà tán, vân chỉ dày, thịt khô, gầy đều là tướng hung.

Vai : mỏng nhiều lông thuộc người có tính thận trọng nhưng lại nhẹ dạ, thiếu óc xét đoán. Nhỏ gầy hay e dè, nhút nhát, sợ sệt nhưng ưa gây chuyện không đâu vì có tự ái cao. Vai mập và rộng có nhiều sức khoẻ nhưng hà tiện, lười, nên thường bần cùng sinh đạo tặc. Hẹp và xuông đuột thuộc người khôn khéo, quỷ quyệt, tiểu nhân. Vai u thuộc người kém trí nhớ, kém thông minh, thiếu hoạt bát nên thường làm kẻ hạ nhân.

Ngực : ngực là cung đình của bách thần, là kho chứa những việc kiết hung. Các nhà tướng sô khi nhìn ngực một người có thể xét đoán sự sang hèn, khoẻ mạnh hay tật bênh. Ngực phẳng rộng thì thân yên khí hòa, lồi lõm nghiêng ngã thì trí nông cạn. Do đó ngực phải dày, dài đúng khổ và rộng mới là người có trí tuệ, mang đến phúc lộc; nếu ngắn, nhỏ hẹp thì bần hàn. Ngực còn là nơi vận thông khí huyết, hô hấp và tiêu hóa (tim, phổi, gan, mật, dạ dày), nên phải rộng vuông sẽ ít tật bệnh, còn ngắn hẹp thì bệnh hoạn triền miên.

Ngực đầy mỡ thuộc người kém thông minh, chậm hiểu. Ngực dài rất thận trọng, khôn ngoan đến xảo quyệt. Có nhiều lông ngực là người can đảm, gan lì, nhưng tính tình nhiều mưu mô chước quỷ, hay trả thù vặt. Tuy nhiên cũng thuộc người có của cải, chức vị cao. Trái lại ngực lép là người khô khan, không nói nhiều, tính nhút nhát.

Vú : vú là phần hoa của huyết mạch, với nữ giới là nơi nuôi con cái, với nam nhân bộc lộ tính sang hèn. Ở phụ nữ hai vú nên tròn, đầu tím mà không sụp xuống, không bẹp, nhỏ và trắng nhạt, thuộc tướng mệnh phụ phu nhân, đông con, nhiều phúc, đại cát, đại quý. Đầu vú nhỏ hẹp, thụt sâu, không con, nếu có con không có phần dưỡng, không của cải; đầu vú mà trắng bệch không có địa vị. Đầu vú to mà vễnh lên mới đông con nhiều cháu, có địa vị; còn cong mà thấp con khó nuôi; đầu vú to sẽ sống lâu.

Lưng : lưng dày hay mỏng rất quan trọng, vì lưng quyết định cho sự an nguy sang hèn cả một đời. Lưng phải rộng, dày bằng phẳng thì suốt đời ít gặp tai họa; lưng hẹp mỏng sẽ nghèo hèn; nếu trên lưng có xương nổi thịt dày, vuông tròn đầy đặn là người rất thông minh, ứng xử nhanh nhẹn, chức vị cao. Lưng mỏng, lõm, ngắn nhỏ thì ít phúc lộc, thường túng quẩn.

Cho nên một lưng tốt, đẹp phải cân xứng phần trung đình không nên ngắn; phải dày không nên mỏng.

Bụng : là lò luyện của thân, bên trong chứa ruột non, ruột già mà hóa vạn vật. Nên bụng cần tròn mà dài, dày mà khoẻ, tư thế trệ xuống, da trơn sẽ ít bệnh, giàu có. Da bụng mỏng thấy trơ gân nhiều bệnh lắm tật, lại nghèo khó. Bụng to mà cao là người đa dâm, nhưng lười biếng. Bụng to thon mà trệ xuống thuộc hàng trưởng giả, đại phú; bụng phệ có danh với đời. Bụng như mang thai là người nổi tiếng trong thiên hạ; còn bụng hóp thuộc kẻ bần cùng.

Hông : là núi của bụng, người không có hông thì không sang. Hông ngay, thẳng, rộng thêm da dày là người có tướng phúc lộc; hông mà lệch, hẹp, da mỏng là tướng người nghèo hèn. Người hông ngắn và mỏng, công việc thường bất nhất, có thành công cũng có thất bại. Hông rộng lớn giữ được của cải; hông cong lượn làm tướng thường thí quân, làm quan không liêm chính.

Rún : là nguồn gân mạch, biểu thị sự chuyển tiếp từ dạng Thái sang Thiếu của thuyết Âm Dương tiêu trưởng, con người nhờ rún để hình thành hiện tượng Thành, Thịnh, Suy, Hủy. Nên rún là cửa quan quản về Lục Phủ Ngũ Tạng. Do đó rún tốt xấu là có quan hệ đến thọ yểu hay thông minh, ngu đần. Vì thế rún là chỗ mạch lạc toàn thể, phải sâu, lớn và to tướng sẽ phúc thọ, rún cạn và nhỏ thì ngu dốt chết non. Rún hướng xuống thì có trí thông minh, hướng lên thường chậm hiểu, đần độn.

Rún thấp hay lo nghĩ sâu xa, còn cao lại không có đức; rún lồi không phải người sang thuộc tướng kẻ hèn. Rún nào sâu chứa được một quả sê-ri (có sách nói to bằng trái mận, điều này bất khả thi), thuộc hàng phú quý, giàu sang nứt vách, danh tiếng lẫy lừng.

Mông : mông và hông phải cân xứng, hông đi trước mông là nữ thuộc gái không chính chuyên, nhiều chồng. Mông cao mà hông lõm có địa vị thấp, thuộc hàng hạ tiện; hông cao mông bẹt thì nghèo khổ. Quý nhất giữa mông với hông khi hông rộng, ngay, mông lại phẳng tròn.

Hậu môn & bộ sinh dục : luôn gắn liền với cơ quan sinh dục. Hạ bộ có hậu môn gấp vuông là quý, có lông tránh được gió trời lại không nghèo; còn rộng mà tròn là hạ tiện. Bộ phận sinh dục có nốt ruồi ẩn màu đen sinh con quý tử, ngọc hành (hột) thẳng tuột (xệ) là nghèo khó, cơ khổ; co lại là quý.

Phụ nữ ở âm đạo mà lông mọc ngược thì gia đạo bất hòa, thiếu chung thủy với chồng.

nguoi dep 3

Đâu gối : cứng cáp và khô thuộc người tráng kiện, nhanh nhẹn, tính tình rộng rãi. Đầu gối to thường lười biếng, tính tình càn quấy, kiêu căng.

Chân : to mà nhiều gân, thịt săn thuộc người khoẻ mạnh nhưng lười lao động thích làm việc trong bóng râm. Chân nhỏ kém sức lực tính lại nhút nhát, mềm mỏng. Có lông thuộc người ham mê tửu sắc, háo danh hay thay đổi. Chân dài tão ra vẻ quý phái, tao nhã.

Bàn chân dài, đều dặn, lòng bàn chân không khuyết thuộc tướng sang trọng, quyền quý, ý chí kiên định. Nếu bàn chân nhỏ hẹp, không đều ra đời thường hay vấp ngã (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) , lòng bàn chân khuyết sâu bôn ba không qua thời vận, hèn yếu, không có óc sáng tạo. Mập nhỏ kém sức, ngắn nhỏ mưu kế nhiều, rộng và mu bàn chân bằng phẳng là người xấu xa đê tiện.

Qua những diễn giải, một người phụ nữ muốn đẹp toàn diện cần phải có những yếu tố cấu thành, nếu xấu có thể sửa tướng. Hiện nay nhiều thẩm mỹ viện có thể làm thay đổi tướng mạo, người lùn có thể cao thêm từ vài phân đến cả tấc nói gì đến những bộ phận khác.

Kỳ sau người viết sẽ nói về mẫu người đẹp lý tưởng ngoài hình thần khí chất trên đây do bẩm sinh, có thể tự con người tạo nên tất cả.

KHÔI VIỆT