CÓ MA TRÊN ĐỜI THẬT KHÔNG ?

NHẬT KÝ CỦA CÔ BÉ THÚY AN

TGTL : Một truyện ngắn được gửi đến trang “Thế Giới Tâm Linh”, thật sự ban đầu tôi nghĩ đây là một câu chuyện cảm động của tuổi học trò, nhưng thực tế lại là một chuyện viết về thế giới tâm linh, có thật. Trong đó tác giả Phương Lan có lồng vào ít đoạn thời sự của những ngày trước năm 1975, nhưng chủ đề vẫn là đề tài đề cập đến thế giới vô hình, như cô nữ sinh Thúy An đã được dự báo điềm xấu sẽ đưa đến… Mời các bạn cùng đọc.

Thiên Việt

– Truyện của Phương Lan

Em có nghe tiếng kêu la trong suốt

Tuổi đôi mươi nhiều mơ ước yêu thương

Không tình yêu, chưa một lần ân ái

Hiến dâng đời tất cả cho quê huơng

… Và em có nghe giữa trời lồng lộng

Gió sững sờ chứng kiến cảnh tang thương

Giữa quê hương tràn đầy muôn xác chết

Máu lệ chan hòa, tiếng khóc thê lương

( Thơ Mặc Khách )

Tháng 11, năm 1972

Khai trường đã mấy tháng nay rồi, nhưng không khí học hành vẫn có vẻ uể oải, không phải bọn học trò chúng tôi còn luyến tiếc những ngày nghỉ hè đâu, nhưng bị ảnh hưởng của thời cuộc, chiến tranh lan tràn nên không còn tâm trí đâu mà học hành hăng hái như xưa.

Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh nên đầu còn xanh, tuổi còn thơ mà đã sớm biết ưu tư. Đêm nằm nghe tiếng súng đại bác từ xa vọng về, lòng tôi không khỏi lo sợ và ray rứt xót thương cho những người vừa gục xuống. Ôi quê hương khốn khổ! bao giờ mới chấm dứt chiến tranh, để mọi người được sống yên vui?

Tháng 3, năm 1973

Sau mùa hè đỏ lửa năm ngoái, người chết nhiều quá, nhà nào cũng có thân nhân hoặc gần, hoặc xa bị chết trong lửa đạn, không khí tang tóc bao trùm khắp nơi. Lệnh tổng động viên ban hành, gia đình nào cũng có người phải đi lính, không chồng thì cha, hoặc con em phải lên đường tòng quân, thi hành nghĩa vụ công dân. Trường tôi cũng  có vài nam giáo sư trẻ vừa nhận được giấy gọi trình diện nhập ngũ. Không khí xao động, chúng tôi chẳng còn tâm trí đâu mà học hành, đến lớp, bài vở không lo, chỉ túm năm, tụm ba bàn chuyện chiến sự, anh em bạn bè đi lính ai còn, ai mất…

Tháng 12, năm 1974

Trường Trưng Vương nghe đồn là có ma, chẳng ai biết thực hư ra sao,  nhưng chẳng một ai trong bọn chúng tôi thấy ma lần nào cả, cho tới một hôm… Sau giờ toán hắc búa với thầy Nguyễn Tá, trống ra chơi vừa điểm, bọn chúng tôi ùa ra khỏi lớp, tôi cùng các bạn xuồng cầu thang để ra sân trường. Khi xuống hết chân thang thì tôi trông thấy bọn họ đang đi dọc theo hành lang ở phía dưới, một bọn ba người, hai nam và một nữ, cô gái mặc đồng phục học trò như chúng tôi. Thoạt trông họ không có gì khác lạ cả, chỉ trừ việc hai chàng thanh niên kia, làm sao họ lọt vô đây được ? đi khơi khơi giữa một đám đông toàn là nữ sinh mà không gợi sự tò mò của mọi người, quả là một sự lạ lùng. Nhưng hình như không ai trông thấy bọn họ cả, chỉ trừ mình tôi, tôi nhìn họ chăm chú vì thấy họ có một vẻ gì hơi khác với người bình thưòng.

– Này ! nhìn xem ba người kia đang đi trên hành lang, trông họ giống ma quá.

Tôi buột miệng kêu lớn lên lên như thế, thật là một điều không nên, quả vậy,  Hạnh cười ầm lên :

– Ma à ? mày có điên không ?

Diễm thì không nói gì cả, nhưng nó nhìn tôi bằng ánh mắt chế diễu, cả hai đứa như muốn nói :

– Con này đang hoá khùng, ma gì giữa ban ngày ?

– Nhưng tụi bay có nhìn thấy họ không ? hai người con trai và một cô gái mặc áo dài xanh đồng phục ?

– Mày nói gì thế? Diễm hỏi, tao không nhìn thấy đứa con trai nào hết, còn đứa con gái nào ở trường này mà chẳng mặc đồng phục xanh ? hôm nay thứ Hai là ngày chào cờ mà ?

Bây giờ thì tôi bắt đầu hiểu, chỉ một mình tôi trông thấy bọn họ thôi, những người khác không ai thấy cả. Tóc gáy tôi dựng ngược và mồ hôi lạnh chảy dài suốt dọc tấm lưng, nhưng rồi cảm giác sợ hãi đó biến đi nhanh chóng, nhường chỗ cho một trạng thái lạ lùng chưa từng có. Tôi có cảm giác như người đang sống trong một giấc mơ, mọi vật chung quanh đều mờ dần… Bất thình lình cái hành lang dưới chân thang trở nên tối om và dơ bẩn, một trận gió mạnh thổi suốt dọc hành lang, đem theo cát bụi từ ngoài sân.  Rồi một thứ ánh sáng kỳ lạ được thắp lên, và tôi có thể phân biệt hai loại người đang ở trong hành lang : một loại như bọn tôi – những người sống – thì trở nên những bóng mờ, một loại như bọn họ – những con ma – thì trở nên trong suốt và sáng rực. Tôi có thể nhìn thấy họ thật rõ ràng, trông họ hiền lành và không có vẻ gì là đe doạ cả, họ đứng ngay dưới chân thang và đang nói chuyện với nhau, tôi chú ý nhưng không nghe được tiếng nào. Tôi kéo tay Hạnh :

– Nhìn kìa ! cô gái có mái tóc thề, người thanh niên cao lớn, đeo kính trắng và anh kia mập, tóc húi cua. Chúng mày có trông thấy họ không ?

Giọng tôi vang lên như từ một nơi xa xôi hoặc như giọng một người xa lạ nào đó, không ai trả lời. Bỗng ánh sáng đổi trở lại, tất cả đều trở nên bình thường như lúc trước. Tôi quay lại và nhìn vào những người bạn tôi và cả những học sinh khác, trông họ bình thản, tôi chắc chắn rằng không ai nhìn thấy cảnh tượng đó như tôi đã nhìn. Tôi thở ra một hơi dài :

– Dẹp chuyện đó đi, chúng mình vô lớp thôi, nhanh lên kẻo trễ !

Khi tan học, Diễm và Hạnh dường như quên hoàn toàn câu chuyện hồi sáng, nhưng tôi không thể nào quên được, vì những ngày sau đó tôi còn nhìn thấy bọn họ nhiều lần nữa. Có vài lần, người thanh niên cao lớn nhập bọn với chúng tôi bước trên hành lang, và một lần tôi trông thấy cô gái tóc thề ngồi sát bên cạnh Diễm, ngay giữa lớp học… Nhưng tôi đã được một bài học là không nên nói chuyện ma quái này với bất cứ ai thêm nữa, chắc chắn chỉ làm trò cười cho mọi người, không ai tin tôi cả, họ còn bảo tôi điên là khác. Nhưng thật sự tôi không cảm thấy sợ những con ma này tí nào, bọn họ có vẻ quen thuộc với ngôi trường này lắm và cũng tỏ ra tử tế, không doạ nạt ai cả.

Một ngày, tôi phải ở lại trường trễ một chút để sửa lại cái xe đạp bị tuột xích. Học trò đã ra về cả, sân trường vắng hoe, bất thình lình tôi thấy cô ta đứng ngay cạnh tôi trong nhà để xe, tôi muốn nói cô gái tóc thề, cô ta vẫn mặc đồng phục xanh mặc dù hôm nay không phải thứ Hai. Cô ta cố gắng để nói chuyện với tôi, chỉ thấy miệng cô ta mấp máy, nhưng tôi không nghe thấy gì hết. Tôi hỏi :

– Chào chị ! tên chị là gì ?

Nhưng cô ta dường như không nghe tôi hỏi, chúng tôi cứ đứng nhìn nhau một lúc khá lâu, không biết cách nào có thể giao tiếp… Chợt một ý tưởng đến với tôi, cô ta có thể đọc được những ý nghĩ của tôi, biết đâu đấy ? thế là tôi vội im bặt, cố hết sức tập trung tư tưởng, hỏi rằng :

– Chị là ai?

Quả là hiệu nghiệm, cô ta cũng ngừng mấp máy môi, và tôi đọc được câu trả lời :

– Tôi là Nguyễn Thị Bích Vân, còn chị tên g?

– Vũ Thúy An ! Tôi trả lời cũng bằng cách tập trung tư tưởng, đã nhiều lần tôi nhìn thấy chị và hai anh kia, nhưng các bạn tôi không tin như vậy.

– Phải rồi, họ không tin rằng linh hồn có thể hiện ra thành hình ảnh, họ không tin là có một thế giới khác, một thế giới siêu hình, nhưng  sự thật thì có đấy, như chị đã thấy.

Chúng tôi nói chuyện tới đây thì tôi cũng vừa nhìn thấy hai người thanh niên mới xuất hiện cạnh Bích Vân, họ có vẻ vừa đi đâu về. Cả bốn chúng tôi cùng nói chuyện, cùng suy nghĩ, cùng tập trung tư tưởng hay có thể gọi là gì cũng được, nhưng mục đích chính là có thể đọc được những ý nghĩ của nhau. Tôi muốn biết tại sao họ lại có mặt ở ngôi trường Trưng Vương này,  tôi hỏi :

– Tại sao các anh chị lại quanh quẩn ở đây ?

Tôi đọc được câu trả lời trong tư tưởng của Bích Vân, cô ta kể cho tôi nghe tất cả câu chuyện :

– Chúng tôi đều là học sinh ở đây, tôi muốn nói tôi học ở Trưng Vương và hai anh này học ở trường Võ Trường Toản kế bên. Tôi là em anh Danh, và anh Danh là bạn cùng lớp với anh Hoàng. Chúng tôi thân nhau lắm, năm xưa vẫn đi học chung, suốt thời gian bảy năm từ khi còn nhỏ cho tới khi ra trường. Chị biết đấy, đất nước mình chẳng bao giờ thanh bình, chiến tranh, chiến tranh cứ kéo dài không biết bao giờ mới dứt… Khi anh Danh và anh Hoàng thi rớt tú tài thì bị gọi động viên, còn tôi vẫn ở lại trường, tiếp tục việc học với một tâm trạng bất an, vừa buồn nản vừa lo sợ. Sau khóa huấn luyện quân sự, hai anh được xung vào nghĩa quân, đơn vị trấn đóng ở Củ Chi. Nơi đây là một vùng xôi đậu, ban ngày phe quốc gia và lính Mỹ thỉnh thoảng lại đột ngột mở các cuộc truy lùng Việt cộng, xông vào làng lục soát, bắt bớ. Ban đêm, những người từ Mặt Trận giải Phóng lén lút về hoạt động tuyên truyền, đe dọa, khủng bố những gia đình có con em đi lính quốc gia. Bị kẹt giữa hai phe, dân chúng khổ trăm bề, và mặc dù chiến tranh gây đau thương tang tóc, nhưng những người dân hiền lành, tội nghiệp vẫn cố bám lấy mảnh đất quê nghèo, nơi chôn nhau cắt rốn thật khó mà xa lìa. Vả lại còn đi đâu nữa ? trên toàn quốc đâu có nơi nào yên bình, không có đạn bo?

Trong một lần đi thăm hai anh, tôi bị tử thương trong một tai nạn xe đò cán phải mìn không biết của bên nào. Sau đó ít lâu, hai anh Danh và Hoàng đều lần lượt tử trận trong những cuộc giao tranh dữ dội giữa hai phe. Ngưòi chết như rạ, hàng ngàn tấn bom đạn trút xuống, cày nát vùng quê hiền hoà. Không khí điêu linh, tang tóc khắp nơi, đâu đâu cũng có những thảm cảnh con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ kêu gào bên xác con… Ôi đau đớn thay là cuộc chiến tàn khốc ! những thây người gục ngã, những giòng máu nóng đổ ra thấm đỏ mảnh đất quê huơng, những giòng máu đó đều là của người Việt Nam…

Khi chết đi, chúng tôi còn rất trẻ và đều có những ẩn ức, những tiếc hận nên không thể siêu thoát được. Chúng tôi lưu luyến trường cũ, nhớ thầy, nhớ bạn, nhớ tiếc thuở còn cắp sách đến trường là thời gian sung sướng nhất trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của chúng tôi. Sau khi chúng tôi chết đi, không hẹn mà cùng quay về trường cũ và gặp nhau ở đây, như vậy đã gần sáu năm rồi…

– Đã sáu năm rồi à ? sao mãi tới bây giờ mới thấy các anh chị xuất hiện ?

– Chúng tôi vẫn quanh quẩn ở đây đó chứ, nhưng không muốn cho ai nhìn thấy cả.

– Thế còn bây giờ ?

– Bây giờ à ? bây giờ thì…

Bích Vân ngập ngừng không muốn nói, Hoàng phải tiếp tục câu chuyện :

– Sắp có một biến cố quan trọng lắm xảy ra, chúng tôi không về trường được nữa, đúng ra chúng tôi không muốn về…

– Biến cố gì vậy ? tại sao các anh chị lại không muốn về trường ? Anh chị có cần tôi giúp đỡ gì không ?

– Không ! không ai làm gì được cả, chúng tôi không sao, còn chị… Nhưng chúng tôi cũng không thể cứu chị được.

– Sao ? tôi gặp nạn à ? tại sao phải cần người cứu ? Tôi ngạc nhiên hỏi, tim đập mạnh, hồi hộp hết sức.

– Đúng vậy ! nhưng chúng tôi không giúp chị được.

– Trời ơi ! chuyện gì vậy ? anh chị có thể cho tôi biết trước được không ?

Tôi sợ hãi la lên và không còn tập trung tư tưởng được nữa, cả ba người đều nhìn tôi bằng những cặp mắt buồn rầu, còn mắt tôi thì lạc thần. Khi tôi ngẩng lên thì họ đã biến mất. Suốt tuần lễ sau đó, câu chuyện của họ cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi bỗng có cảm giác rằng mình sắp chết, tôi phải làm gì bây giờ ? có nên tin những gì họ nói không ?

Tháng 1, năm 1975

Ngày tháng dần trôi, chẳng có gì xảy ra, tôi tự trấn an, họ nói có biến cố quan trọng, chứ đâu có nói tai nạn ? những người bạn ma của tôi bây giờ đang ở đâu ?

Gần đến Tết, không khí trong trường rộn rịp khác thường, các lớp đều tổ chức viết bích báo và tập dượt văn nghệ. Năm nay có ban nhạc bên trường Chu Văn An sang giúp vui, thôi thì đàn ca, múa hát nhộn nhịp, mọi người tạm quên đi những lo lắng về thời cuộc. Tôi được giao cho phần viết bích báo, tôi chợt nẩy ra ý định viết một bài về những người bạn ma của tôi, dĩ nhiên tôi không đả động đến chuyện ma quái. Nhưng tôi viết một bài thơ về họ, về những người học sinh vừa rời ghế nhà trường đã chết trong chiến tranh. Bài thơ của tôi được đăng trên bích báo và may mắn thay lại được chọn để ngâm vào dịp trình diễn văn nghệ tất niên. Tôi nhớ tha thiết những người bạn ma của tôi, tôi mong họ lắm, nhưng từ hôm đó không thấy họ hiện ra nữa, tôi tự hỏi không biết họ có thích bài thơ này không ?

Tháng 2, năm 1975

Rồi ngày tất niên cũng tới, một ngày tưng bừng vui vẻ, đủ mọi tiết mục văn nghệ. Bọn học trò chúng tôi nửa vui, nửa buồn, vui vì Tết sắp tới sẽ được nghỉ hai tuần, buồn vì chiến tranh gia tăng tốc độ, thời cuộc có nhiều diễn biến bất ngờ, Phước Long thất thủ và chiến cuộc bùng nổ lớn ở mấy tỉnh miền Trung. Gần cuối chương trình, Hân lên máy vi âm giới thiệu :

– Để kết thúc chương trình, xin mời thầy cô và các bạn học sinh nghe giọng ngâm của Hoàng Oanh qua bài thơ “Vĩnh biệt” của Vũ Thúy An, để vinh danh những người lính trẻ đã chết cho quê hương.

Giọng của Hoàng Oanh thật ngọt ngào, rung cảm làm tăng giá trị của bài thơ rất nhiều, đến chính tôi cũng ngạc nhiên, khán giả như bị ru hồn vào những lời thơ buồn não nuột. Tôi chợt có một cảm giác lạ như có ai đang nhìn mình, khi ngẩng lên, tôi dụi mắt… Kìa ! các bạn ma của tôi hiện ra ngay trên sân khấu, họ đứng sau lưng Hoàng Oanh, cả ba lắng nghe và mỉm cười.

Khi bài thơ chấm dứt, họ nhìn tôi và vẫy tay, tôi nhìn thấy họ rõ tới nỗi suýt nữa tôi cũng đưa tay vẫy lại. Thoáng một chốc, họ đã biến mất, tôi chợt cảm thấy cô đơn giữa một rừng người vây quanh, tôi có cảm giác đây là lần cuối cùng tôi nhìn thấy họ.

oOo

Nhật ký chấm dứt tại đây, một người vô tình lượm được quyển nhật ký này ở trong sân toà Đại sứ Hoa Kỳ, quyển nhật ký vấy máu đề tên Vũ Thị Thúy An lớp đệ Tam C trường Trưng Vương. Trong cơn sốt động của một ngày gần cuối tháng Tư, cô bé Thúy An đã cùng gia dình theo chân đoàn người hốt hoảng tràn vào toà đại sứ Mỹ, xô đẩy nhau leo lên trực thăng để được ra nước ngoài. Không biết phải gọi là may mắn hay bất hạnh khi cô lọt được vào bên trong trực thăng. Sợ hãi vì thấy cha mẹ, anh em còn kẹt ở bên ngoài, cô hốt hoảng vội nhào ra cửa định chạy xuống. Nhưng không kịp, cánh cửa trực thăng vừa đóng lại, thân hình cô đã lọt ra khỏi cửa, nhưng một bàn tay bị kẹt lại, bàn tay vẫn còn đang bám vào cánh cửa. Thúy An treo lơ lửng như một người làm xiếc khi trực thăng bốc lên cao, cô rớt xuống như một quả sung rụng, chết tan xác trước những cặp mắt kinh hoàng của những người thân của cô đang đứng ở phía dưới.  Ôi, cái giá của tự do sao quá đắt !  Những người có mặt ở trong sân toà đại sứ Mỹ hôm đó chắc không bao giờ quên được cảnh này, chuyến đó là chuyến cuối cùng bốc người đi di tản.

(Trích trong tập truyện TIẾNG ĐÀN XƯA của Phương Lan)

Advertisements

Tính chất của Phong Thủy

24 Bi an phong thuyNHẬN THỨC

TRONG THUẬT

XEM PHONG THỦY

– bài Quế Phượng

Nước ta xưa có Tả Ao tinh thông thuật phong thủy, cuốn “Tầm long gia truyền” (Dã đàm Tả Ao) của ông còn được lưu truyền cho đến nay, là do các hậu duệ soạn lại. Sách trên cho rằng, tìm long đầu (đầu rồng) và lý khí (nạp khí và sắc khí) là căn bản của nghề xem địa lý phong thủy (mọi người còn có cách gọi “thầy tướng địa”). Muốn được như vậy phải chuẩn bị kiến thức thật chu đáo.

Trước khi khoa phong thủy được phát triển ở nước ta, chúng ta cần hiểu thêm về lịch sử của môn học thuật này phát xuất vào thời điểm nào :

– Khoa phong thủy trong địa lý học Đông Phương du nhập vào nước ta từ đời nhà Đinh (từ cuối thế kỷ thứ X – 968 – 980)

Thời gian này phù hợp với thời đại Tống triều bên Trung Quốc, trong lúc đang nổi lên các học thuật được phát huy từ Dịch học như Chiêm bốc, Chiêm tinh, Mai hoa, Bát tự, Tử bình, Tử vi v.v…

Đến đời tiền Lê (thế kỷ XI), các lý thuyết về Âm Dương – Ngũ Hành ngày càng thịnh hành, mọi người tin rằng trong cuộc sống có thần quyền, đời người đều có số mệnh, muốn thay đổi số mệnh phải được thần linh giúp đỡ, từ đó người ta nghĩ đến tìm mảnh đất cất nhà cho người sống, tìm nơi an táng cho người chết, mà những người tiên phong cho phong trào này lại là các quan chức trong triều đình, làm cho người dân càng thấy tin tưởng hơn về việc tầm long trong xây dựng, tìm huyệt để điểm đất an táng.

Đời nhà Lý từ năm 1010 đã lấy Thăng Long làm kinh đô (nay là thủ đô Hà Nội – năm 2010 sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long), tên kinh đô có nghĩa : rồng bay (phi long, thăng long) nằm trong thuyết tầm long của phong thủy.

Vì thế môn địa lý phong thủy càng được dân chúng tin cậy, các sách vở về địa lý phong thủy được du nhập từ Tống triều tràn sang nước ta, tạo ra vô khối thầy xem địa lý phong thủy hoạt động.

Qua thời nhà Trần (thế kỷ XIII – 1225…) do ảnh hưởng từ đời Lý, các học thuật Đông Phương vẫn không ngừng phát triển, tinh thần Tam Giáo (Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo) tạo nên tư tưởng luân hồi trong số mệnh, người chết có 3 hồn, người sống có 9 vía. Người có công trạng được hiển thánh, người tầm tầm được phong thần, kẻ ác được gọi là ma quỷ.

Để được hiển vinh như các danh nhân, danh tướng, người người đi tầm long trong các khu đất, để mong về sau các con cháu mình được hưởng vinh hoa phú quý.

Đến đời nhà hậu Lê (1428…), Nho giáo ảnh hưởng hết sức rộng lớn, gần như lấn át cả Phật giáo và Lão giáo. Tinh thần Nho giáo thời phong kiến phân biệt người trong xã hội làm 2 thành phần :

– Quân tử và Tiểu nhân.

Người quân tử lấy tam cương, ngũ thường làm gốc, còn kẻ tiểu nhân thì không thể.

Tam cương là :

– Quân (Vua) – Sư  (Thầy) – Phụ (Cha)

Ngũ thường là :

– Nhân – Nghĩa  – Lễ – Trí – Tín

Trong địa lý phong thủy, xem quan niệm trên là cứu cánh, nên có lý luận trong mỗi gia đình phải có trên có dưới, có đạo đức mới trọn đạo thánh hiền, khi sống như khi chết, người gieo hạt nào sẽ nhận quả đó. Họ cho rằng khi xương cốt tổ tiên, ông bà, cha mẹ chưa thành đất, thì vong hồn luôn trở về, an vị trên bàn thờ, ở trong gia đình với con cháu, phù hộ độ trì cho con cháu mình; sau nữa được đất kết, con cháu nhờ ngôi đất đó mà hưng phát, trở thành người trâm anh thế phiệt.

Việc xem đất xây dựng hay nơi an táng, là do mọi người đi tìm sự đổi đời ấy. Họ tin khoa phong thủy sẽ giúp cho họ một cuộc cải tạo gia phong, thay đổi từ hèn kém ra sang trọng, từ vô học sẽ được học rộng, tài cao.

Thời hậu Lê, kẻ sĩ gọi thuật phong thủy là nghề chân chính, nghề của kẻ sĩ, một loại nghệ thuật như cầm kỳ thi họa. Vì người làm phong thủy khi cảm hứng với thế đất tốt, làm họ lâng lâng cái cảm giác như vừa hoàn thành xong một tác phẩm hay.

Trên đây chúng tôi lược thuật tiến trình về thuật xem phong thủy ở nước ta.

PThuy 2Còn Tả Ao là một nhân vật sống trong bối cảnh Nho giáo đó, nhưng ông chỉ sống với nghề thầy thuốc, hơn là sau khi học được các tinh hoa phong thủy từ Trung Quốc về. Vì thế Tả Ao sống lãng mạn với nghề địa lý, bất vụ lợi, cho nên ông không truyền dạy cho ai, đến khi chết chỉ để lại mấy cuốn sách gia truyền, mặc cho hậu bối nhận định những điều ông đã viết, tốt xấu hoặc hay dỡ tùy kiến thức mỗi người.

Trong sách, như răn dạy mọi người chớ quá mê tín đến khoa xem địa lý phong thủy, vì vậy trong lời mở đầu Tả Ao có hai câu thơ phú như sau :

“Học thầy khẩu thụ tâm truyền

Nhiệm mầu mọi vẻ kính tin mười phần”

Có ý nói, việc học chỉ theo khẩu truyền do người thầy phát xuất từ trái tim, có đúng sai khi thực hành mới rõ lời thầy dạy.

Cho nên những người học địa lý phong thủy nhưng không đạt kết quả, lý do có lẽ họ đã không nắm hết các nguyên lý tính toán của học thuật này.

Từ thế kỷ XIV, khi người Tây phương bước vào thế giới Đông Phương học, họ tìm hiểu triết học của Chu dịch, Kinh dịch, tìm hiểu các môn học thuật như chiêm tinh, chiết tự, cả về khoa địa lý phong thủy rồi viết cả trăm cuốn sách về đề tài Dương trạch – Âm trạch, nhưng chưa một ai hiểu : muốn tìm dương trạch hay âm trạch phải dụng những phép tính nào để có được đáp số (cuốn Feng-Shoui ou Prin-cipes de sience naturell de Chine của M.L. de Moutillé đã tự thán như thế), vì chưa giải được bài toán phong thủy trong môn địa lý học Đông Phương.

Chính những người Trung Quốc, cái nôi của môn địa lý học cũng nói, khoa địa lý phong thủy có rất nhiều bí ẩn dù thực hành cả vài mươi năm, có thể vẫn không đạt được chân giá trị của môn học thuật, nếu không có ông thầy uyên thâm chỉ dẫn cho tường tận. (bạn đọc nên xem bài “Phong thủy và đời sống” trong trang blog này, nơi phần mở đầu nói về những yếu tố của thuật xem phong thủy).

Bởi khi thực hành theo lý thuyết, cần không được quên nguồn gốc của nó từ dịch học, tức phải am tường Âm Dương – Ngũ Hành biện chứng, Bát Quái tiên thiên – hậu thiên, nắm bắt phương hướng của Nhị Thập Bát Tú trên vũ trụ, biết vòng Trường sinh Sinh Mộ Tử Tuyệt ở đâu, trong năm vòng Thái Tuế đang xung chiếu trong cung nào, biết nhận xét phần nạp khí, sắc khí mới làm được thầy xem phong thủy.

Đến thế kỷ XX, nền văn minh Tây phương xâm nhập vào nước ta theo bước chân lính viễn chinh, lối sống Nho giáo gần như lỗi thời, không còn người Quân Tử và kẻ Tiểu Nhân, mọi người đều bình đẳng, thanh niên không còn búi tóc, không học chữ Hán Nôm mà quay sang học quốc ngữ, và tin vào năng lực của bản thân hơn tin vào thần quyền.

Tuy nhiên người giàu và kẻ nghèo vẫn tồn tại trong xã hội; kẻ nghèo vẫn chiếm đa số, họ muốn vươn mình, muốn được đổi đời cho ngang hàng với người giàu. Cho nên việc xem phong thủy vẫn được mọi người lưu tâm coi trọng, vì thế dù cất lên một căn nhà lá nhưng có thầy địa lý đến tìm dùm cho một miếng đất, hay trấn yểm phù chú, khiến họ có niềm tin, hy vọng con cháu mình rồi sẽ phát lộc, phát phúc !?

Ông Tả Ao hình như tiên liệu được điều này khi có thêm hai câu thơ khác để nói với mọi người :

“Đạo cao đức trọng chưng thân

Hổ long liên phục, quỹ thần liên kinh”

Có nghĩa, có đức trong cuộc sống thì sẽ có phúc, người có phúc sẽ được đất kết, con cháu nhờ đức đó mà vinh hiển (được mọi người kính nể bởi tiếng tăm của cha mẹ để lại).

Diễn đạt hai câu thơ này, câu Đạo cao đức trọng chưng thân là người có đức, thì rồng cọp (Hổ Long)  cũng phải phục (chưng thân, liên phục) quỷ thần cũng tránh xa (quỹ thần liên kinh).

Hiểu sâu sa hơn lời của Tả Ao, làm người phải sống có đạo lý, kính trên nhường dưới, tôn trọng nhân lễ nghĩa trí tín, mọi sự sẽ được tốt lành. Đức không phải từ Thiên Địa (Trời đất) ban, mà chính con người phải tạo ra mới có. Có đức ắt sẽ có đất kết, không cần phải tầm long.

Chúng tôi muốn mượn lời Tả Ao, một thầy địa lý nổi danh của nước ta, để bắt đầu đi vào loạt bài về thuật xem Phong Thủy

(Bài viết này được trích trong sách “Bí ẩn Phong Thủy” của Thiên Việt do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, nhà sách Văn Chương 81 đường Nguyễn Chí Thanh, Q10, tổng phát hành).

QUẾ PHƯỢNG

CHUYÊN MỤC : PHONG THỦY

1-     Tìm hiểu môn phong thủy (25/6)

2-     Thước Lỗ Ban (30/6)

3-     Giai thoại Tả Ao (2 bài – 7-9/7)

4-     Phong thủy và đời sống (2 bài – 6/10)

5-  Tính chất trong thuật Phong Thủy (11/10)

Tin Văn Nghệ Sài Gòn

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

MA SƯ TRẢ HẬN & BA CÔ GÁI SUỐI MA

2 TIỂU THUYẾT MỚI CỦA NGUYỄN LÊ QUAN

Trong tháng 9/09 các nhà sách trong nước đều bày bán hai cuốn tiểu thuyết kinh dị mới của nhà văn Nguyễn Lê Quan tức Khách Giang Hồ mang tựa “Ma sư trả hận” và “Ba cô gái suối ma” trong chủ đề Ly kỳ truyện.

Xin giới thiệu đến bạn đọc những lời dẫn truyện của hai cuốn tiểu thuyết nói trên :

BA CÔ GÁI SUỐI MA

Trong chúng ta có lẽ ai cũng đã nghe qua hoặc xem sách báo phim ảnh, nói về các loài ma quỷ xuất hiện đi phá quấy hay xâm hại đến tâm linh con người. Nhất là trong thời đại văn minh, màn ảnh và truyền hình thường quảng bá những bộ phim kinh dị nói về các loài ma quỷ một cách kinh dị gớm ghiết.

Suoi maThật sự trên thế gian này có ma quỷ hay không ?

Ở phương Tây, đa số người biết đến ma quỷ là loài ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình có răng nanh chuyên đi hút máu, sống trà trộn cùng loài người. Nhưng trong thực tế ma cà rồng hoàn toàn không có thật, nó chỉ là truyền thuyết sau trở thành huyền thoại, bởi sự hư cấu của các nhà văn châu Âu từ đầu thế kỷ 19 trở lại đây. Còn trong thế giới tâm linh phương Đông, không ai nói đến ma cà rồng, thứ ác quỷ hữu hình nói trên; mà chỉ nhắc đến những loài ma quỷ vốn vô hình vô sắc, thường xâm nhập vào phần xác con người rồi dùng linh hồn ma quỷ để chi phối con người đi thực hiện những chuyện tàn bạo ác nhân thất đức.

Hay rùng rợn hơn khi nói đến quỷ nhập tràng, ma sói, tương tự như loài ma cà rồng nơi phương Tây vừa nói mà thôi.

Nhưng dù là ma hay quỷ, hữu hình hay vô hình, nhưng chưa ai đã thấy được hình dáng của ma quỷ, nếu có là chỉ do óc tưởng tượng mà hình thành trong tâm trí mọi người. Nên có người cho rằng, ma quỷ xuất hiện chỉ do ảo giác sinh ra ảo ảnh, hay dùng triết lý để nói “người cũng là ma, ma cũng là người”, vì cái tâm của người khi không tốt là chính linh hồn của loài ma quỷ đang dựa vào phần xác để thực hiện những thứ tội ác mà “trời không dung, đất không tha” kia thôi.

Cuốn truyện không đọc lúc nửa đêm này có tựa “3 cô gái Suối Ma”, tác giả xin diễn đạt đến người đọc ba câu chuyện về ma quỷ trong một nội dung liên hoàn, và cho thấy lưới trời thật lồng lộng không bao giờ dung tha cho thứ “luật của ma quỷ”, để các hồn ma tự đi xâm hại mọi người, bởi ma quỷ cũng sẽ phải đón nhận thứ quy luật bị “quả báo” như con người sống trên thế gian này.

Nội dung truyện hoàn toàn hư cấu, không ngoài mục đích tạo ra một sáng tác kinh dị để mọi người đọc giải trí, đồng thời nói đến những ân oán tình thù gây ra hiện tượng hồn ma báo oán, như vậy có phải “người cũng là ma, ma cũng là người” không !

MA SƯ TRẢ HẬN

Hồn ma báo oán luôn là đề tài trong các truyện kinh dị, và trong chúng ta có lẽ ai cũng muốn nghe hoặc xem các sách báo, phim ảnh nói về ma quỷ thường hay xuất hiện trả thù.

Ma su

Mà tại sao lại có hiện tượng ma báo oán?

Nếu bạn đã xem bộ phim “Oan hồn” chiếu trên màn ảnh nhỏ, kể về một thanh niên bị giết oan ức vì thế linh hồn không thể siêu thoát, anh ta phải trả xong mối thù tức phải báo oán, đồng thời làm thêm điều thiện, cuối cùng linh hồn anh cũng đã được giải thoát lên cõi vĩnh hằng.

Cuốn phim trên rất tương hợp với cuộc đời thường do nội dung và hình ảnh đã diễn đạt đến hiện tượng: ma luôn ở cạnh mọi người, nhưng người lại không bao giờ thấy được ma hoặc chỉ có những nhà ngoại cảm, người sống trong thế giới tâm linh mới thấy ma luôn xuất hiện xung quanh chúng ta.

Vì thế, nếu không có thù sẽ không có oán để hồn ma đến trả hận. Cho nên, nếu chúng ta không tham sân si thì không bao giờ phải gặp ma, dù chỉ do ảo giác, ảo ảnh từ tâm linh sinh ra những tưởng tượng đến mê tín.

Cuốn truyện không đọc lúc nửa đêm này, tác giả muốn diễn đạt đến người đọc câu chuyện về một võ sĩ khi chết vì quá uẩn ức mà sinh lòng thù hận với mọi người, để rồi có những lúc hiện về báo thù thật kinh dị đến rợn người. Nhưng dù ma quỷ có ma lực hơn người, nhưng trái lại con người lại thông minh trí tuệ hơn chúng, không để ma quỷ tự tung tự tác, mà phải trừ diệt để đem đến sự an lành cho mọi người.

Nội dung cho thấy lưới trời lồng lộng không bao giờ dung tha cho thứ “luật ma quỷ” đi xâm hại người… và cuối cũng ma quỷ cũng phải chịu quy luật “quả báo” như con người đang sống trên thế gian này.

Nội dung cốt truyện hoàn toàn hư cấu, không ngoài mục đích tạo ra một sáng tác kinh dị, tạo ra một sáng tác kinh dị để bạn đọc giải trí, đồng thời nói đến những thù oán mới gây ra hiện tượng hồn ma báo oán…

Trang blog xin giới thiệu cùng các bạn đọc bốn phương. Cả hai cuốn tiểu thuyết “Ma sư trả hận” và “Ba cô gái suối ma”, sách đều dày 144 trang giá bìa 23.000đ của NXB Lao Động, nhà sách Văn Chương tổng phát hành tại địa chỉ 78-80 đường Nguyễn Chí Thanh, Q10.

NHÀ VĂN HOÀNG HẢI THỦY… CHƯA CHẾT !

Một nguồn tin xuất phát từ hải ngoại, báo tin cho một họa sĩ sắp lên đường qua Mỹ triển lãm tranh, nói bằng giọng như thật “Công tử Hà Đông” đã qua đời chỉ sau nhà văn Nguyễn Thụy Long có mấy ngày. Tin này lan tràn khắp giới văn nghệ Sài Gòn. Khi “Văn nghệ người Sài Gòn” soát lại nguồn tin mới hay “Công tử Hà Đông” tức nhà văn Hoàng Hải Thủy vẫn sống khoẻ ở Mỹ. Đây là tin chính xác xin thông báo quý anh chị em văn nghệ Sài Gòn.

HH ThuyHoàng Hải Thủy tên thật là Dương Trọng Hải. Sinh năm 1933 tại Hà Đông. Ngoài bút danh Hoàng Hải Thủy, ông còn có các bút hiệu khác như Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn …

Nhìn vào cuộc đời và sự nghiệp, nhà văn Hoàng Hải Thủy vào Nam năm 1951, làm phóng viên cho nhật báo Ánh Sáng, Sài Gòn Mới. Các tác phẩm đã xuất bản trước năm 1975 gồm Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 (Phóng tác), Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác)…

TẬP TRUYỆN DÂM THƯ “I’ AM ĐÀN BÀ” ?

Trước đây có những nhà văn nữ viết truyện “dâm” như Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng (“Văn nghệ người Sài Gòn” đã có bài viết trong blog), còn bây giờ đang rộ lên nhiều nữ tác giả mà giới phê bình văn học cho rằng họ viết “dâm thư”, có thể kể tác phẩm “Bóng Đè” của Đỗ Hoàng Diệu bị kết án là sex, “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư cũng bị kết án gắt gao. Nay thì “I’m Đàn Bà” tập truyện mới phát hành của nhà văn nữ Y Ban, cũng đang làm xôn xao dư luận.

Y ban 2

Tác phẩm “I’am đàn bà” được nhà xuất bản Phụ Nữ cho phép phát hành. Sau đó bị cấm phổ biến và bị tịch thu, nên tác phẩm tự nhiên nỗi tiếng và làm nhiều độc giả tò mò muốn xem nhà văn nữ Y Ban đã viết gì mà bị lên án là một tác phẩm dâm thư, đầy chất gợi dục, nên mới bị tịch thu và cấm phát hành như vậy.

Theo dư luận nói về hình thức in ấn, cuốn sách nhỏ, mỏng, như loại sách bỏ túi, trình bày luộm thuộm, nhiều chữ đánh máy sai chính tả, nên khi đọc có hơi bực mình. Còn nộ dung “I’m đàn bà” gồm 10 truyện ngắn: I’m đàn bà, Gà ấp bóng, Cái Tý, Tự, Người đàn bà đứng trước gương, Sau chớp là dông bão, Tôi và gã, Cuộc chiến tranh giữa các nền văn hóa, Hàng khuyến mãi, Hai bảy bước chân là thiên đường.

Đọc qua tập truyện “I’m đàn bà”, Y Ban đã đi sâu vào việc mô tả những hình ảnh sex rất hiện thực. Như truyện Tự, có đoạn :

“…Nó bằng plastic màu đỏ, trông như món đồ chơi của trẻ con. Dầu vậy tôi cũng bắt đầu nóng bừng. Nhưng cái đầu tôi lại tỉnh táo đến kỳ lạ, tạnh không, có một sự liên hệ. Chỉ còn lại một vài hình ảnh trong phim mà tôi đã từng được xem qua. tôi đến trước gương. Tấm gương to, rất sáng. Tôi nhìn thấy trước tiên là khuôn mặt dài dại. Có kẻ khôn nào mà hành động như vậy không. Rồi ánh mắt cũng dài dại. Đôi tay dài dại run rẫy cởi bỏ áo quần. Trong gương thịt da sáng loáng. Một tấm thân tròn mình cá trắm, với hai cái vú bánh dày, một đôi chân dài và cái bụng đã qua một lần sinh nở mà vẫn thon, tịnh không có vết nứt. Cái tấm thân cha mẹ sinh ra thế là quý lắm, khối người đã mất bao nhiêu tiền để thẩm mỹ mà có nổi tấm thân đó đâu…

“Tôi lấy catalog để đọc hướng dẫn sử dụng: Nằm ngửa trong tư thế thật thoải mái trên giường. Người nào có đầu óc tưởng tượng thì cứ nghĩ đến một cảnh thật lãng mạn, sau đó dùng hai tay tự kích thích vào các điểm nhạy cảm như hai núm vú và âm vật. Như vậy sẽ tạo hưng phấn để cửa mình mở ra. Trường hợp nếu không thể tự làm được thì như đã hướng dẫn thì sẽ dùng dầu bôi trơn xoa lên dụng cụ rồi đưa từ từ vào cửa mình. Chú ý: Phải thật từ từ nếu không sẽ gây tổn thương, khó lường…”

Chỉ mô tả một đoạn ngắn biết ngay Y Ban đang mô tả người phụ nữ đang “tự xử” sự thèm khát từ bản thân. Đúng là hơn cả truyện “Mưa chưa ướt đất” của Trùng Dương khiến “Đàn ông đọc nằm sấp, đàn bà đọc nằm ngửa”. Chỉ tiếc rằng bây giờ mọi người mới hay mà sách bị tịch thu và cấm bày bán !

Còn ý kiến của Y Ban khi trả lời trong một phỏng vấn :

– Không chỉ các nhà văn Việt Nam hiện nay, mà cả một số nhà văn nữ của Trung Quốc như Vệ Tuệ cũng phá cách bằng cách khai thác về cuộc sống tình dục. Đối với các nhà văn nữ trẻ, họ đang trong giai đoạn sung sức, tình dục đối với họ là dĩ nhiên, bởi vậy họ đưa nó vào trong tác phẩm. Còn đối với các nhà văn nữ đã qua tuổi thanh xuân, bắt đầu vào tuổi trung niên, thì họ lại hồi tưởng lại một thời son trẻ. Tuy có thể bề ngoài của họ đã già đi, nhưng ẩn chứa trong đó vẫn là một tâm hồn lãng mạn, tinh tế và nồng nhiệt. Bởi vậy, họ cũng bị ám ảnh nhiều về sex.

Vài nét về Y Ban, tên thật là Phạm Thị Xuân Ban. Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1961, tốt nghiệp Đại học Y khoa, từng dạy học tại Trường Cao đẳng Y tại Nam Định. Tác phẩm đã in : Người đàn bà có ma lực (truyện ngắn, 1983), Người đàn bà sinh ra trong bóng đêm (truyện ngắn, 1995), I’ am đàn bà (truyện ngắn, 2006)

NHÀ VĂN NGUYỄN THỤY LONG QUA ĐỜI

Nguyen Thuy Long 1Trang Blog nhận được tin buồn, nhà văn Nguyễn Thụy Long, tác giả nổi tiếng qua cuốn tiểu thuyết Loan Mắt Nhung (từng được thực hiện thành phim do hãng Cosunam film sản xuất, với các diễn viên  Thanh Nga, Huỳnh Thanh Trà…)  đã từ trần tại nhà riêng 156/3  đường Nhiêu Tứ, P.7, Q. Phú Nhuận (ráp ranh với P.3 Q. Bình Thạnh) vào lúc 20g30 ngày 3/9/2009

Nhà văn Nguyễn Thụy Long sinh năm 1938 hưởng thọ 72 tuổi, đã hôn mê từ ngày 23/8/2009 được đưa vào nằm tại bệnh viện Gia Định (tên cũ BV Nguyễn Văn Học). Và sau 10 ngày chống chỏi với thần chết, đã thở hơi cuối cùng, vĩnh viễn xa văn đàn văn nghệ.

Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc linh hồn người nghệ sĩ sớm siêu thăng về miền lạc cảnh.

Anie-02CÔ DÂU MẤT TÍCH TRƯỚC NGÀY CƯỚI

Trên mạng đều loan tin cảnh sát bang Connecticut, Mỹ, vừa tìm thấy một thi thể giấu trong một hốc tường ở tầng hầm tòa nhà đại học Yale, nơi cô dâu gốc Việt tên Annie Le biến mất. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy cô vào tòa nhà từ ngày 8/9/2009. Thông tin trên được các bác sỹ pháp y công bố vào ngày 14 tháng 9. Le 24 tuổi, đang theo học sau đại học ngành dược tại đại học Yale và dự định sẽ cưới vào đúng ngày cảnh sát tìm thấy thi thể của cô.

Theo các nhà điều tra, họ tìm thấy vải dính máu nằm rải rác khắp tòa và chúng được giấu trên các viên gạch ở phần trần phụ. Theo các nhà điều tra đã tìm thấy bóp tiền, chìa khóa và túi xách của cô vẫn để ở đây. Cảnh sát hiện chưa cho biết thêm thông tin nhưng tin rằng đây là một vụ giết người có chủ đích. Và một kẻ tình nghi đã bị bắt giữ, không phải là vị hôn phu của Le.

Le biến mất khi chỉ còn 5 ngày nữa là tới đám cưới. Lần cuối cùng cô viết trên trang facebook cá nhân là vào ngày 6/9, khi đó tỏ ra hồ hởi vì lễ kết hôn gần kề. Đồng nghiệp của cô cũng cho hay, Le rất hào hứng về đám cưới này.

Ngày 15/9 cảnh sát và đặc vụ FBI đã lục soát nhà của một chuyên viên nghiên cứu động vật của Đại học Yale tên Raymond Clark, 24 tuổi,  sau đó còng tay dẫn đi trong sự hoan nghênh của những người hàng xóm khi thấy họ đã tìm ra manh mối của vụ giết hại đang gây chấn động nước Mỹ.

Anie-01Tuy chưa có cáo buộc Clark là thủ phạm, nhưng đã bắt anh ta sau khi tìm thấy các bằng chứng về DNA và những bằng chứng khác có liên quan đến vụ giết hại Annie Le, như tóc, móng tay và nước bọt của Clark cùng với hơn 150 mẫu bằng chứng thu thập được tại hiện trường.

Hoàng Vân thân mến,

Mấy ngày qua anh đọc mẫu tin trên thật dửng dưng, không nghĩ Annie Le là con gái em với nhà báo Hoàng Phương, vì ngày 26/8 em còn online với anh về đám cưới của con gái, sắp tổ chức ở bang California; và trước đó hồi đầu năm em về VN đưa thiệp báo tin đến mọi người.

Cho đến hôm qua anh Thân Bình gọi điện cho anh biết, tin “cô dâu Việt mất tích trước ngày cưới” các báo ở VN đăng, chính là Lê An (Annie Le) con gái em, làm anh sửng sốt vô cùng. Bởi anh không thể ngờ được sự việc đau buồn lại diễn ra ngẫu nhiên đến như thế, nhưng trên thế gian này không có gì là không thể. Chỉ mong mất mát này sẽ chóng trôi qua.

Cho hai anh gửi lời chia buồn cùng em. (Nguyễn Việt và Thân Bình)

1 A Ben tam hon 1BẾN TÂM HỒN

MỘT THỜI SÀI GÒN” RA MẮT

Những ngày đầu tháng 9 vừa qua, nhà thơ Thiên Hà ở Sài Gòn đã hoàn thành cuốn Hợp tuyển Bến Tâm Hồn mang chủ đề “Một thời Sài Gòn” do anh chủ trương thực hiện.

Sách dày 252 trang, khổ 13×19 cộng 16 trang phụ bản, tập hợp 30 văn-nghệ-sĩ một-thời-Sài Gòn đã thành danh từ thập niên 50-60 của thế kỷ trước được nhiều người mến mộ.

Trong tập hợp tuyển này với 30 khuôn mặt Thơ – Nhạc và Họa, gồm những người còn sống hay đã chết. Những người ở trong nước hay hải ngoại còn sống đều đã trên tuổi lục tuần như Kiên Giang Hà Huy Hà, Tô  Kiều  Ngân, Phong Sơn, Phạm Cung, Thiên Hà, Lý Thụy Ý, Trương Đạm Thủy, Hàn Song Tâm, Phan Bá Thụy Dương, Ngọc Hoài Phương, Trang Thanh Liêm, Chúc Mai, Lệ Khánh, Vi Vi,  Miên Đức Thắng, Lan Thương, Lương Truờng Thọ, Trần Huiền Ân.

Cùng các khuôn mặt đã qua đời như Bùi Giáng, Sơn Nam, Phạm Thế Mỹ,  Ngọc Linh, Hoàng Anh Tuấn (đạo diễn), Thục Vũ, Hoàng Trúc Ly, Trường Anh, Tâm Đạm Dương Trữ La, Kim Tuấn,  Anh Việt Thu, Phương Triều…

Hiện sách đã phát hành trong và ngoài nước. Xin hân hạnh giới thiệu cùng độc giả. Đọc Bến Tâm Hồn để nhớ một-thời-Sài Gòn để yêu hơn Sài Gòn hôm qua và Sài Gòn hôm nay.

bia Huong rungHƯƠNG RỪNG PHƯƠNG NAM ĐANG TỚI NHÀ IN

Trước 1975, Phan Thanh Bằng từng chủ trương tờ tuần báo Sân Khấu Mới cùng ký giả Văn Lương – Đặng Tấn, tờ báo chuyên tạo scandal trong giới nghệ sĩ tân cổ. Bây giờ anh đã lớn tuổi nên ngồi nhà viết sách, nhưng không phải viết lại các vụ scandal năm xưa mà viết địa phương chí theo cung cách cuốn “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam.

Phan Thanh Bằng cho biết, lúc còn sống nhà văn Sơn Nam thường khuyến khích anh viết một cuốn về tỉnh Vĩnh Long xưa khi còn gọi là “Vãn Long”, cho nên anh quyết tâm viết và có tựa “Hương rừng Phương Nam” dày gần 300 trang. Sách có nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Dương Hà, nhà văn Thiên Hà và Nguyễn Lê Quan viết lời tựa và giới thiệu.

Để xem “Hương Rừng Phương Nam” nói về tỉnh Vĩnh Long thời chống Pháp ra sao, nghe nói sách đã có giấy phép và đang bắt đầu in ấn sắp phát hành nay mai.

NS Bao PhucKHI NÀO GẶP PHẢI “PHẠM PHÒNG” ?

liên quan bài “Bóng ma trên sàn diễn”

trong my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Đọc bài của Khách Giang Hồ về “Bóng ma trên sàn diễn” nói về cái chết đột tử của nhạc sĩ Bảo Phúc. Mà hiện nay theo dư luận đang đồn đoán, anh chàng nhạc sĩ 51 tuổi này mắc phải chuyện “Phạm Phòng”. Xin cho biết thế nào là mắc chuyện “Phạm Phòng” ?

(hothihuong@….)

Đáp : “Phạm Phòng” còn được người đời gọi là mắc “Thượng Mã Phong” hay chết trên mình “ngựa cái”, nói theo khoa học là người đàn ông bị trúng gió khi đang ân ái. (Đọc trong loạt bài Hạnh phúc lứa đôi).

Thượng mã phong chỉ xảy ra cho nam giới khi bị trúng gió, lúc đó dương vật to cứng còn thân thể lạnh ngắt, mắt mở trừng trừng, mặt tái, chân tay bất động. Đây mới chỉ là một hình thức “chết giả”, nếu người vợ, người tình, không biết cách chữa trị sẽ biến nạn nhân “đột tử” gây ra cái chết thật.

Nhiều phụ nữ chưa gặp cảnh đối tượng bị mắc Thượng Mã Phong sẽ rất sợ hãi, thường xô đẩy họ ra khỏi người, như thế rất khó cứu chữa.

Để trị việc trúng gió dẫn đến mắc chứng Thượng Mã Phong, người phụ nữ ấy phải dùng những vật nhọn như trâm cài, kim khâu để giải quyết, phải thật bình tĩnh tay ôm lấy lưng đối tượng để truyền thêm hơi ấm, còn một tay lấy trâm chích dưới hốc xương chậu cho máu độc chảy ra.

Nếu người nam không có lông mao nơi hậu môn mà người nữ cũng không có sẵn trâm hay kim, mới lấy tay giật từng túm tóc mai cho thật đau. Chỉ một lúc sau người đó sẽ dần hồi tỉnh, bấy giờ mới nhẹ nhàng đẩy người đàn ông ra khỏi người, rồi mới nên kêu người vào trợ giúp.

CS Ho Q Huong 1CÓ HỒN MA QUẤY NHIỄU THẬT KHÔNG ?

liên quan bài “Bóng ma trên sàn diễn”

trong my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Qua thông tin ca sĩ Hồ Quỳnh Hương đã ở bên nhạc sĩ Bảo Phúc lúc anh bị đột tử, và bây giờ hồn ma Bảo Phúc cứ hiện về quấy nhiễu không cho Hồ Quỳnh Hương hát có đúng không ?

(talashotgun2005@…..)

Đáp : chuyện này chỉ suy đoán theo lời đồn, chứ có mấy ai đã thấy được ma trong thế giới vô hình. Còn chuyện ca sĩ Hồ Quỳnh Hương đã ở bên nhạc sĩ Bảo Phúc lúc anh bị đột tử, do web Dân Trí viết : “trước khi nhạc sĩ Bảo Phúc ra đi mãi mãi  thì cô ca sĩ cuối cùng còn làm việc với anh chính là Hồ Quỳnh Hương” nên tác giả Khách Giang Hồ chỉ chấp bút viết lại.

Xe lanTỐN 30 TRIỆU ĐỂ KẾT NẠP VÀO

HỘI “VĂN NGHỆ VĂN GỪNG” ?!

liên quan  bài : Nhà văn “xe lăn” trong

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Một tin đăng trên “Văn nghệ người Sài Gòn” có nói đến ông nhà văn xe lăn “Toán Tiền”, do có tiền (đong xăng gian lận) mới được kết nạp vào Hội Văn Nghệ Văn Gừng gì đó. Nhưng vì ông ta chỉ mới có 4 quyển sách in ra dùng để tặng, trong lúc người có mấy chục tác phẩm được phát hành rộng rãi lại không được kết nạp, nên ở quán Văn Nghệ 81 người ta nói ông “Toán Tiền” phải lót tay đến 30 triệu cho một người có uy tín trong Hội lên tiếng đề nghị để được kết nạp. Và để “rửa tiền”, vị này đã viết cho ông nhà văn “Toán Tiền” một bài giới thiệu tràng giang đại hải, nhằm không cho ai biết chuyện ở sau hậu trường. Có đúng vậy không ?

(dancaubacang)

Đáp : đó là lời đồn thôi, ai có thấy ông Toán Tiền đưa 30 triệu cho vị ấy đâu. Còn ông nhà văn xe lăn sở dĩ được kết nạp vào Hội Văn Nghệ Văn Gừng này, rất có thể do văn chương của ông thuộc loại siêu phàm; còn các nhà văn, nhà thơ chưa được kết nạp là do văn chương thi phú không bốc lên mùi tiền đó thôi.

Cafe 1KÝ GIẢ CÀ PHÊ LÀ GÌ ?

trong loạt bài “Nghề làm báo”

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : ở loạt bài “Nghề làm báo” các kỳ 1, 2, 3, 4 có nói đến ký giả cà phê, theo em được biết, họ là những ký giả hay ngồi uống cà phê trong giờ làm việc nên mới được gán ghép cho mấy chữ này ?

(mongbinhthuong@….)

Đáp : không phải vậy đâu, bởi ký giả là người hay chạy nhông nhông ngoài đường, hoặc đi đến các cơ quan săn tin, đâu ai quản lý về giờ giấc. Chẳng những họ uống cà phê, đôi khi còn uống cả bia, rượu, và nếu “trúng mánh” còn có thể vô nhà hàng karaoke để “ôm” đào nữa kìa.

Bốn chữ “ký giả cà phê “ chỉ là hình dung từ để ám chỉ một người viết báo có chân thường trực trong một tờ báo nào đó, thường xuyên viết về một đối tượng nào đó, thí dụ đối tượng bị táo bón, xổ mũi ấm đầu, mất ngủ hay mất cắp hột xoàn đều được đăng lên xoành xoạch cho bàn dân thiên hạ hay biết, để tháng tháng lấy tiền lại quả; mà đôi khi còn là người “ái mộ” đối tượng viết dùm tin tức không công bất vụ lợi. Như có một cô em đang hành nghề viết báo mục văn nghệ, thường xuyên viết về anh chàng ca sĩ Mr. Khỉ Gió, nên cũng được liệt vào hàng ngũ “ký giả cà phê”.

len dongNGHỆ SĨ “ĐỒNG BÓNG”

Hỏi : người ta đồn mấy anh hề trên sân khấu hài, có anh pê đê lại cái, có anh thích lên đồng. Tôi từng theo dõi blog “Văn nghệ người Sài Gòn” có lúc đề cập đến 2 anh hể HL và DP hay “lên đồng” ở đền Sòng trên đường Nguyễn thiện Thuật, Q3, có đúng không vậy ?

(dancaubacang)

Đáp : câu hỏi này rất đúng, chỉ có HL “lên đồng” ở đền Sòng, còn DP ở đền Ông Tề hay một đền gì đó tuốt bên Khánh Hội. Nay đang tháng 8 ÂL theo câu “tháng tám giỗ cha, tháng ba tiệc mẹ”, hai anh hề này sắp sửa soạn khăn áo để đi hầu đờng, mà không chừng năm nay còn có một anh MC cũng nối bước theo HL và DP nữa không chừng.

“Văn nghệ người Sài Gòn” đang theo đuổi để chụp vài pô ảnh chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy, mà cũng khó lắm, bởi mấy ông đồng nam này thường lên đồng vào lúc nửa đêm, hạn chế người vào lễ Thánh, nên chưa dám hứa chắc chụp được hình này.

Nguyen Tat Nhien 2NHÀ THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN MẮC TÂM THẦN ?

trong bài “tài danh sớm bạc mệnh”

my.opera.com/khaisang2002

Hỏi : Đọc bài “Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, một tài danh sớm bạc mệnh” khiến tôi quá đổi sửng sốt, khi biết thi sĩ này từng mắc bệnh tâm thần, từng ở trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, mà sao Nguyễn Tất Nhiên làm thơ tình hay quá. Rồi lại thêm tin Nguyễn Tất Nhiên do treo cổ tự tử mà chết chứ không phải nằm chết trong xe hơi như tin trên mạng. Vậy những tin này có đúng không ?

(nusinhtrungvuong2005@…)

Đáp : chuyện nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên có thời gian nằm trị bệnh trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa là đúng, đây là lời do nhạc sĩ Phạm Duy tiết lộ, một người từng phổ rất nhiều thơ của anh. Còn chuyện Nguyễn Tất Nhiên có treo cổ tự tử hay không, chuyện này chỉ có cảnh sát ở bang California nắm rõ và nhất là gia đình cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên biết, do tin trên chỉ là lời đồn.

NGUYỄN LÊ QUAN

Giới thiệu Blog hay

Cau ba 1Lướt Blog xem Blog

– Thiên Việt XIN TRÍCH ĐOẠN…

“Dân chơi cầu Ba Cẳng”

trên my.opera.com/khaisang2002

Chuyện phiếm của Trương Đạm Thủy

… Cái món gì ai xài cũng được mà còn được miễn phí, xài xã láng, xài vô tư thì được bàn dân thiên hạ gọi là…”của chùa”. Thí dụ như ở cơ quan nhà nước nhiều chủ vị công chức thay vì sử dụng cái “mô – bai” của mình để nói chuyện riêng tư thì lại è vào cái điện thoại công mà rỉ rả chuyện năm non bảy núi hàng giờ. Cái điện thoại ấy bị gọi là”điện thoại chùa”.

Trong chuyện ăn nhậu mà khách “biên đình” ngại nhất là đang bửa nhậu “ tửu phùng tri kỷ “bổng dưng xuất hiện một khách không mời tự nhiên cười cười nói nói sà vô bàn bưng ly rót rót nhẩm tửu vô tư như người… Sao Hỏa. Cái món bia bọt mà vị khách “người Sao Hỏa” kia uống bị gọi là Bia chùa. Hay như gói thuốc mới “khui tem” chưa kịp đốt tự dưng có một bàn tay ở đâu trên trời rơi xuống chộp lấy rồi rút ra một điếu điềm nhiên gắn vào mép bật quẹt và nhả khói với đôi mắt đăm chiêu tư lự như đang thả hồn tìm ý cho một bài thơ. Không chỉ một điếu mà ngồi hoài, hết điếu này sang điếu khác… Cái kiểu hút thuốc hồn nhiên vô tội vạ nầy được gọi là hút “thuốc chùa”…của dân chơi cầu Ba Cẳng.

Ở đây nói “dài dòng văn tự ” vậy để dễ đi vào chuyện “đào chùa” là một từ ghép bí hiểm mà chỉ có dân “chát – chát – xình” mới hiểu nó là gì?.

Thông thường trong giới đi vũ trường có hai loại : một là có người đi nhảy có đôi có cặp gọi là đi chơi đủ đào đủ kép, hai là đi cu – ky một mình rồi mời mấy em vũ nữ (cave) cùng “nhót” với nhau. Mấy em vũ nữ nầy là “đào” còn ông anh nhảy chung được gọi là “kép”. Nhưng đào cave – vũ nữ là đào có nhận tiền ticket mà khách nhảy phải trả.

Cau ba 2Vậy “đào chùa” là đào gì? Xin đọc hồi sau sẽ rõ!.

Mà nhảy đầm là loại hình “múa đôi”, đâu có tự nhảy một mình được?. Nói phải tội, nhìn thấy các bà sữa soạn chưng diện như ngày đi cưới chồng, vậy mà vào vũ trường họ phải đi sớm để ngồi đồng ở dãy bàn sát sàn piste. Cứ vào bất cứ sân chơi khiêu vũ suất Matinée (sáng 9g – 11g 30 – chiều 3g – 5g 30) đều có thể nhìn thấy một hàng dài các bà các chị ngồi với ly nước trước mặt. Bất cứ dân nhảy đàn ông nào cũng có thể hồn nhiên đến mời nhảy liên tù tì ba tăng các bà các chị cũng không một lời ta thán mà biết đâu còn được “âu yếm” mời dùng bia hoặc nước ngọt miễn phí.

… Ngọc D. dù tóc bà đã nhuộm đen tuyền, nhưng cứ xem những dấu chân chim nơi khóe mắt cũng có thể đoán bà trên 50. Theo lời bà kể với bè bạn thì bà có chồng. Hồi đó bà bỏ tiền ra cho ổng vượt biên nhưng sang đến Cali rồi sau vài năm còn thư từ qua lại rồi ổng biệt luôn. Nghe bạn bè báo tin là ổng có vợ mới và đã bỏ Cali đi ở đâu đó không còn ai gặp mặt, bà chị hận chồng nên mới đi học nhảy chơi cho bỏ ghét.

– “Sao chị, 10 năm vẫn làm đào chùa hoài sao, mắc gì chẳng kiếm mấy đấng mày râu để họ nâng khăn sửa túi cho bà chị?”.

Nghe hỏi bà D nhún vai như đầm:

– Bộ chú em tưởng bà chị không thử rồi hả? Ban đầu họ là bạn partenaire, sau tình cảm nhích lên một chút mấy ổng đòi làm bồ. Được làm bồ rồi đòi đồng hồ, xe Đờ – rim, đi ăn nhậu họ bắt mình trả tiền. Họ nâng khăn tới mức cái áo không còn, sửa túi hoài nên tiền trong ngân hàng gần cạn. Vậy nên cứ làm đào chùa, ai mời nhảy chơi, không thì ngồi đồng, cóc cần con ma nào nâng khăn sửa túi cả”.

… Ngoài dạng đào chùa do trời sinh ra dưới một vì sao xấu: hơi bị lớn tuổi, không có ngoại hình và nhan sắc đành đến vũ trường ngồi vật vờ chờ ai mời thì nhảy, còn có một dạng đào chùa khác họ đến đó để ngồi…câu.

Đây là dạng đào chùa U.40, có chút nhan sắc, ngoại hình tương đối đủ lôi kéo một anh già trốn vợ sẵn sàng chi địa.

Em Bông ‘cô đơn” là dạng đào chùa “cao cấp” nầy. Cũng cần mở một ngoặt đơn là dân chát – xình luôn xài “ngoại hiệu” để xưng hô với nhau thôi, còn tên thật của họ là gì ít ai chịu tiết lộ. Bông “cô đơn” là một thí dụ. Nước da trắng trẻo,tóc cắt kiễu “tém Nhựt” luôn chơi bộ đầm dây màu đen.

Do có ai đó tiết lộ rằng cô ta hồi trước là thợ chuyên xâu chuỗi hạt cườm để cung cấp cho nhà làm vòng hoa cườm để phúng điếu ma chay. Và vì thế mà có cái tên Bông “cô đơn” ra lò ở cái CLB khiêu vũ nầy. Bông “cô đơn” cũng đi chơi một mình và nhập vào hàng ngủ đào chùa nhưng không phải đụng ai mời cũng nhảy. Còn với mấy gã vũ nam chuyên chờ tiền boa thì đừng hòng Bông “cô đơn” dòm tới. Bông “cô đơn” chỉ chuyên nhảy với các ông tóc hoa râm trở lên.
Khi mới nhảy lần đầu với cha già trốn vợ đi ăn mãnh nào đó, cô nàng luôn giữ vẻ lạnh lùng như thể trái tim cô nàng đã chôn từ lâu lắm dưới những tảng băng lạnh giá để làm màu. Nếu như phát hiện “partenaire” của mình chỉ là một cha già đa mỗi ngày vợ chỉ cho dằn túi năm bảy chục ngàn thì lập tức không có lần sau nữa đâu anh ơi. Chàng có ân cần mời nhảy nàng cũng một mực lắc đầu “Hôm nay em mệt quá, xin lỗi”.

Có lần Bông “cô đơn” mở lời khuyên một bà chị già đương thất tình với một gã vũ nam. Bông “lên lớp” rằng:

– ”Bà hơi đâu mà vật vã với mấy thằng ấy. Xem em nè, đi nhảy phải chọn mấy lão ấm túi, chịu chi. Nó nhảy đẹp xấu bất cần. Có nhiều cha điệu gì cũng chỉ biết lắc lắc “xì – lô”. Mặc kệ, miễn sao sau khi nhảy nó dắt mình đi ăn, nó còn dám rủ mình đi Shopping mua sắm là được. Kể như mình ít ra cũng câu được một con cá. Sau nầy nếu gặp một con bự hơn thì vất con trước đi là xong lám gì phải lụy nó”.

Thợ câu” Bông “cô đơn” ngồi ở CLB khiêu vũ X được mấy năm nghe nói sau cùng câu được một con cá bề thế lắm. Gã nầy to cao, đầu đinh đúng điệu, đi chiếc A còng bá cố, đeo sợi dây chuyền to như dây xích chó. Hắn ta bảo đã ở nước ngoài 20 năm rồi, nay về đây định kinh doanh ngành bất động sản. Vậy thì kể như Bông vô mánh. Vì thế mấy suất nhảy có gã Việt Kiều đầu đinh nầy là cô nàng cười cười nói nói đeo dính nhảy ưỡn ẹo gợi tình như các vũ công chính hiệu.

Ai nấy đều tin rằng chị Bông lần nầy đã câu dính một con cá Nhà Táng rồi vì thấy cô nàng luôn có những bộ đầm mới, đồng hồ, lắc tay cũng đều mới. Thế là lọt vào hủ nếp, ấm cật; coi như vô lô độc đắc. Đùng một cái, một bữa kia chàng và nàng đang nhảy ngon lành thì bất ngờ xuất hiện bốn năm con “chằn tinh gấu ngựa” vây chặt và “uýnh hợp đồng” Bông một trận tê tái. Chẳng những vậy nó còn lột sạch dây chuyền, lắc, cà rá, đồng hồ túi xách của cô em….

Cafe 1“Cà phê đa hệ Sài Gòn”

trên my.opera.com/khaisang2002

Chuyện phiếm của Trương Đạm Thủy

… Dòng cà phê… vớ cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu.

Một người tên ông Chín “cù lủ”, một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao.

Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới… “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu. Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện văn chương và… rửa con mắt.
Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Pari (Pháp).

… Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa. Thời điểm nầy những nhà văn, nhà báo, các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ.

La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới thượng lưu Sàigòn.

… Có thể nói từ giai đoạn nầy người Việt Nam ở Sàigòn “thức tĩnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ quên và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác. Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái ‘đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao… nữa mà nó thuần túy chỉ có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…

Cafe 3…Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tăm tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bổng đêm đêm sáng lên rực rở ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui.

Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria nầy. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã.

… Cà phê vốn cùng đi với con đường lịch sử, mỗi một thời kỳ nó có một hình thức thể hiện bản chất và hình thái riêng. Trong khoảng 30 năm sau ngày đất nước thống nhất bước đường của cà phê đã có những bước tiến rõ rệt. Bây giờ là thời kinh tế thị trường, nghề kinh doanh cà phê không còn ở giai đoạn cà phê Tàu ngồi chân trên chân dưới mà húp cà phê vớ trong chiếc đĩa sứ cũ kỷ hay kiểu cà phê lề đường tuy vui nhưng vi phạm luật giao thông lấn chiếm lòng lề đường.

… Kinh doanh cà phê bây giờ phải có vốn hàng tỷ bạc. Vì nó không còn ở dạng Cafétéria nữa mà nó là Bar café, bề thế hơn, sang trọng hơn. Cơ ngơi kinh doanh mỗi nơi mỗi thể hiện một phong cách riêng để lưu giử một số khách hàng riêng.

Cà phê Sàigòn bây giờ sang hơn, thời thượng hơn dành cho một thành phần của cư dân có thu nhập cao hơn. Và bạn có bao giờ thử một buổi chiều đi vào một Bar café chưa? Đó sẽ là một không gian mát rượi chờ đón bạn. Gọi cà phê hay một cốc rượu nhỏ ngồi đó nghe tiếng nhạc nho nhỏ và bạn cũng chẳng cần nhìn ra khung cảnh bên ngoài làm chi.

Ở đây có biết bao “cánh hoa” đẹp: các cô phục vụ bàn, các em PR và những người đẹp từ bốn phương trời ‘đáp nhẹ” về đây. Cà phê và rượu sẽ còn phê hơn khi bạn sẽ mản nhản với những đôi chân dài chập chờn trong thứ ánh đèn mờ ảo như ru bạn vào những giấc mơ đến dại khờ… Giá cà phê ở những nơi nầy tất nhiên là hơi đắc, không biết vì tại chổ ngồi sang, vì cà phê sản xuất từ trên Sao Hỏa hay tại các chiếc áo lửng hai dây và những cái chân dài.

“Ái tình tuổi Teen… xưa và nay”

H Teen 1trên nguyenlequan.blogspot.com

Bài của Khách Giang Hồ

CHUYỆN XƯA…. Ngày trước, theo người viết còn nhớ, vào thập niên 60 của thế kỷ trước, lớp tuổi Teen như thế đã có phong trào yêu cuồng sống vội, được gọi “CTY” tức “Cho Tình Yêu”, có đời sống rất vô tư trong vấn đề tình dục. Phong trào CTY đã nở rộ khắp các trường học từ Đệ Nhị Cấp trở lên, từ trường nữ sang đến trường nam.

Ở Sài Gòn có mấy trường nữ sinh học riêng như Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt trong nhà vệ sinh luôn thấy chuối già, chuối sứ được vất tung toé bừa bãi. Mới đầu các giám thị khi nghe các bác lao công lên tiếng báo động lại nghĩ rằng, thứ trái cây dùng làm tráng miệng này chắc bị hư thúi, dập ủng nên các nàng mới bỏ đi. Sau mới “tá hỏa tam tinh” hiểu rằng, các nàng tuổi Teen đang… “tự xử” cho cái gọi là “ăn quen nhịn không quen”, vì trái chuối đã chín tới đâu mà dập ủng hư thúi ! Thế là các trường cấm nữ sinh mang chuối đi học, ai không chấp hành sẽ bị “cấm túc” một tháng !….

Bên trường nam thì không như nữ, vì giới chưa “đủ lông đủ cánh” này thường hẹn hò với các nữ sinh “cúp cua” đi vào rạp xi-nê trong lúc tối mò mò làm trò con khỉ ngay tại ghế ngồi hay trong những toa-lét lúc vắng người.…

Cho nên những cuộc choảng nhau diễn ra ngay trong trường hay từ trường này qua trường kia diễn ra hàng ngày; khiến mấy anh nhà báo thích tìm tòi tin tức vào cuộc điều tra để làm phóng sự. Mới biết có phong trào CTY.

H Teen 2CHUYỆN NAY…. Chuyện chụp hình nude (khỏa thân) ở nước ta có từ trước năm 2000 khi mọi người đang đồn đoán thế giới sắp “tận thế” trái đất sẽ nổ tung (?!), thế là mọi người từ già đến trẻ đi tìm người để “ôm”, để có chết cũng biết thế nào thứ ái tình xác thịt mà tạo hóa đã bày ra từ vườn Địa Đàng. Riêng các bà “sồn sồn” hãy còn xa lạ với Chát với Voice trên mạng Internet, cho nên nhiều bà “xí xọn” đi chụp ảnh nude hết cả cuộn phim 36 tấm, rồi trân trọng bày hàng trong quyển album bỏ túi nhờ người giới thiệu cho vài anh “kép trẻ” biết đến thân già. Chuyện tiếp thị kiểu mới này đã có hiệu quả tức thời. Nhiều anh thanh niên mới lớn đôi khi còn vớ được mối bở, được mấy bà nạ dòng săn đón rối rít, cung phụng từ A đến Z.

Thế là các cô nàng tuổi Teen cũng bắt chước đi chụp ảnh nude dùng để khoe hay dùng để thi thố thân thể với bạn bè, coi ai đẹp hơn, hoặc giống như mấy bà góa, nạ dòng dùng ảnh đi tiếp thị để kiếm bồ. Chỉ khiến mấy bác phó nhòm một phen no mắt, thấy có người như trái chanh trái táo có người lại như trái cam trái bưởi thi nhau khoe thân thể trước ống kính; trước đây cửa tiệm còn xập xệ bỗng phất lên thành nhà lầu, trưng bảng quảng cáo “chụp đủ model đẹp, thẩm mỹ”. Còn các anh chàng nhí chưa mọc “đủ lông đủ cánh” cứ thấy hình cô bạn học đang nude 100% trong ảnh đâm ra thèm thuồng rồi sinh tà ý… chết người !

Cafe den 2“Văn hóa cà phê… đen”

trên nguyenlequan.blogspot.com

Bài của Khách Giang Hồ

… Các dãy “nhà lá” này tuy nhếch nhác và không cần biết khách có chê bai không, nhưng thức uống nào giá cũng “bèo” nhất là 50.000 đồng. Đổi lại, nếu khách đi một mình sẽ được hướng dẫn vào khu vực có mấy cô “tiếp viên” chờ sẵn, sẵn sàng màn thổi kèn tây hay kéo đàn cò cho khách.

….Còn ở tại khu cà phê sân vườn bên Thanh Đa – Bình Quới, gần đây lại có một chiêu kinh doanh mới thu hút khách hàng. Trước đây các quán cũng dựng những căn nhà chòi, nhưng từ khi có loạt đĩa hình quay lén các cô cậu đang “tự xử”, hiện nay các quán đồng loạt bỏ hết bàn ghế để khách uống cà phê… trên giường. Như càng trêu gan “mấy tên” thích quay phim lén đưa lên mạng hay sang thành đĩa sex để bán buôn.

Mới đây đang rộ lên một đĩa VCD phim sex lấy tựa “Nữ sinh Ngô Quyền” xuất hiện trên thị trường đĩa lậu, mở màn cho hàng loạt những phim ngắn, phim dài với nội dung thật trần trụi, đang gây sốc với giới thích phim “nghèo”.

Cafe den

Hầu hết là những đoạn phim quay lén trong quán cà phê đèn mờ, nhân vật chính là những đôi tình nhân tuổi học trò bị biến thành diễn viên bất đắc

dĩ. Đặc biệt, phim này còn làm người xem bất ngờ bởi những cận cảnh quay nhiều khuôn mặt non choẹt với ba lô, cặp táp, phù hiệu còn hiện rõ tên trường trên ngực áo của một số nữ sinh không biết vô tình hay cố ý để đóng cuốn phim dài gần 2 giờ này.

Trở lại vụ cà phê… trên giường; quán cà phê Hoa Sữa chiều chiều thường có vài chục đôi tình nhân trẻ trung vào quán, nhưng bên trong lại yên ắng lạ lùng. Quán này được thiết kế như nhà trọ với những căn phòng kín mít, chạy dọc theo hành lang. Mỗi phòng có một giá nhỏ đặt vừa đủ hai chai nước, hai cái khăn và một chiếc ghế bọc da dài khoảng 1,5 m. Trong bóng tối tràn ngập những tiếng thở, tiếng rên siết hay tiếng thì thầm nhắc nhở nhau….

Đọc thơ “Hát Xẩm Giữa Đêm”

HÁT XẨM GIỮA ĐÊM

Thơ TRƯƠNG ĐẠM THỦY

– Bài QUỐC NAM

Quoc Nam

Khi tôi còn là một cậu học sinh trung học thì Trương Đạm Thủy đã là một nhà văn, nhà báo thành danh giữa trung tâm thành phố Sài Gòn. Những thập niên 60 của thế kỷ 20 anh đã cho ra đời các tập truyện, tiểu thuyết như: “Cành cây nước lũ”, “Chuyện những dòng sông”, “Miền đất hồi sinh và thập niên 90”, tiếp tục các tập tiểu thuyết: “Không có tình yêu”, “Bên kia bờ cỏ xanh”, “Như lá vàng bay”

Hat xam

Phải nói trước năm 1975 anh ít làm thơ, nhưng với anh sáng tác như là nghiệp dĩ. Lúc nào, hòan cảnh nào anh cũng viết, phải nói Trương Đạm Thủy đã sống chết với ngòi bút từ năm 1960 đến nay.

Mặc dù nổi danh như thế nhưng anh bản chất bình dân, hiền từ, chân thật như một người nông dân. Sau nầy tôi thường gặp anh có khi uống ly cà phê, hoặc mời anh uống vài ly bia. Đặc biệt anh chỉ uống bia Tiger và hút thuốc Bastos chứ không dùng lọại khác dù được mời. Cách đây hơn một năm anh nói riêng với tôi trong lúc ngồi nhâm nhi tâm sự:

– Mình cố gắng sẽ ra một tập thơ.

Tôi tiếp lời:

– Thấy anh làm thơ lai rai đăng các báo tập hợp lại là làm được chớ gì. Anh nói tựa tập thơ là: HÁT XẨM GIỮA ĐÊM. Tôi nghe cái tựa hơi lạ, hát xẩm là lối hát của người mù đi hát dạo theo kiểu kể chuyện điệu huê tình. Lại còn hát giữa đêm nữa thì buồn biết dường nào. Anh cười nói:

– À ai nghe thì nghe, không nghe cũng chả sao, cứ để mặc mưa gió cuốn bay đi về phương trời vô định nào cũng được.

Hôm nay cầm tập thơ HÁT XẨM GIỮA ĐÊM do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào quý III năm 2008, tôi thành thật chúc mừng anh.

Trương Đạm Thủy có thói quen ngồi lặng lẽ một mình. Anh nhìn cảnh vật, trời mây, mưa gió, lá rơi… như chiêm nghiệm hay chiêm ngưởng một điều gì và những hình ảnh ấy trở thành hình tượng hiện rõ trong thơ anh. Với anh “Lá rơi đâu phải vì lá/ Lá rơi để chạm vào bước chân người” (KHÔNG ĐỀ).

Tr Dam Thuy 4

Những chiếc lá rơi như mỗi đời người, mỗi kỷ niệm,mỗi dấu chân xưa. Những chiếc lá rơi cho mỗi ngày qua, một sợi tóc bạc thêm, một phận người rong ruổi, những xót xa cho cuộc tình và những hạnh phúc, khổ đau, gian truân trong cuộc sống. Cứ thế trong cái nhìn đăm chiêu của Trương Đạm Thủy: “Còn lại vài chiếc lá/ khô vàng/ đong đưa gió./ Mai giã từ cành xưa/ rơi tản mạn/ trải thảm lối đi/ lá ôm dấu chân em/ ôm chiếc bóng nhỏ/ ấp ủ/ nồng nàn/ lặng lẽ…/ những chiếc lá/ la đà chạm nỗi đau/ vết thương thời gian mưng mủ/ mang theo dấu máu/ rơi…/ rơi…/ từng giọt lá rơi…rơi…/ dưới ánh hòang hôn nắng quái/ rơi trên dấu chân em/ chạm vào chiếc bóng cũ ngày ấy/ con mắt lá/ bỗng dưng/ ngấn lệ” (MẮT LÁ)

Những chiếc lá rơi là những thân phận, niềm đau, nỗi buồn đọng lại trong tâm hồn Trương Đạm Thủy. Rơi xuống những chiếc lá/ rơi xuống những giọt lệ/ rơi xuống bóng ngày mệt lả/ rơi xuống tình yêu…/ rơi xuống…/ rơi xuống chiều…/ mé đìu hiu… (RƠI XUỐNG)

Với mưa thì trong thơ Trương Đạm Thủy đầy ắp những cơn mưa, mỗi cơn mưa có cảnh ngộ khác nhau, xao động tâm hồn, lắng sâu, gợi nhớ, tràn ngập kỷ niệm và niềm đau. Anh có rất nhiều bài thơ về mưa: “Đà Lạt mưa”, “Tháng năm mưa”, “Trong phòng ngủ nghe mưa”, “Buổi sáng mưa”, “Mưa về sáng”, “Mưa ngâu”, “Tam tấu mưa I , II”… Mỗi cơn mưa là một mảnh đời, một kỷ niệm hay một số phận của đời người.

Một buổi sáng chờ nhà thơ THIÊN HÀ người bạn thâm giao, có lúc trọ ở Chợ Lớn ,khi thì về nhà ở Thủ Đức, đi lên đi xuống làm báo. Trời chuyển mưa, Trương Đạm Thủy biết bạn mình không đến được nhưng vẫn ngồi chờ uống rượu một mình và nghĩ đến bạn với biết bao kỷ niệm, trải qua bao thời gian thăng trầm với cuộc đời: “Bạn không về được sáng nay/ Mưa mịt mù giăng bên chợ Nhỏ/ thôi ta ngồi độc ẩm rượu Hồng Đào/ lắng nghe mưa xa về tự sự/ Rượu uống một mình làm sao vui/ Đám lá cuối mùa bay theo mưa/ ánh chớp xé lòng ta buổi ấy/ bây giờ mọc lại nhánh tương tư… và biết bao lần hai người ngồi uống rượu bên cột cờ Thủ Ngữ rồi mua bong bóng bay cột vào chai bia thả trôi trên sông để mang thơ về bến bãi bờ xa. “Nhớ nhung chi những chiều say bên cột cờ Thủ Ngữ/ Thả chai xuôi dòng sông cuồn cuộn phù sa/ Những chiếc bong bóng dập dềnh trôi cuối sóng/ mang thơ về phía bãi bồi xa”.

Và Trương Đạm Thủy vẫn ngồi đó nhìn mưa tự sự chờ bạn. “Mưa rất xa phía ấy/ Trời xám màu tro bên chợ Nhỏ/ Thôi, một chén gởi về Tăng Nhơn Phú/ Để ấm lòng nhau buổi sáng mưa giăng” (BUỔI SÁNG MƯA).

Đúng là như Thiên Hà đã nói trong buổi tiệc sinh nhật của mình: -“Tôi và Trương Đạm Thủy chơi với nhau gần 50 năm mà tình không cũ vẫn còn mới tinh”. Thật là một tình bạn cao quý và đáng trân trọng.

Những tiếng hát xẩm của anh không phải là vô lý, làn điệu huê tình kể từ chuyện nầy đến chuyện khác, từ kỷ niệm nầy đến kỷ niệm khác. Anh không quên ngày sinh nhật của sư huynh nhà thơ KIÊN GIANG – HÀ HUY HÀ lúc đó ẩn dật trên đồi Tăng Nhơn Phú – Thủ Đức. “Buổi sáng ngày bảy tháng bảy/ Có cơn áp thấp kéo những áng mây về/ ở xa kia nơi căn lều gỗ trên đồi Tăng Nhơn Phú/ Anh đón cơn mưa và sinh nhật lần thứ tám mươi/ Tám mươi năm là bao nhiêu ngày/ một đời thóang qua khi nào chẳng biết/ Ai ngồi đọc thơ dưới trời sướt mướt……/ Hoa trắng thôi cài lên áo tím*/ Sông Kiên dật dờ nhánh lục bình trôi/ Giang hồ lỡ ôm mộng phiêu bạt/ Đất khách nào hay tóc bạc rồi”.(SINH NHẬT MƯA). Tôi hiểu và thấm thía điều đó vì có đôi lần ngồi nghe nhà thơ KIÊN GIANG tâm sự. Trong những bài thơ viết về mưa của Trương Đạm Thủy đặc biệt tôi lưu ý hai bài “Tam tấu mưa I và II” có phong cách mới. “Mưa làm ta nhớ người/ Nhớ mưa xưa trên thềm quán nhỏ/ lạnh con mắt đỏ/ Mưa ngày xưa… mưa bây giờ/ Gió nhẹ tênh không vội vã/ Cây bồ đề rụng hai chiếc lá/ Sáng nay trời lao xao/ Khuấy ly cà phê buồn bã/ Ai lăn trong hồn tảng đá/ Giá ngày xưa giữ lấy tay người/ và thôi đừng buông – một đời đi mãi…/ hoa trong vườn hẳn nở (TAM TẤU MƯA I).

Nỗi buồn nào cũng phải có lối thóat: “Nếu có chia tay nhau cuối đường/ Xin anh đừng khóc/ ngày mai mặt trời vẫn mọc/ Nếu có cuộc phân ly đầm đìa nước mắt/ Xin anh hãy lấy khăn lau lệ/ Trong vườn vẫn còn mãi hương nguyệt quế (TAM TẤU MƯA II).

Nhưng phải nói có một bài thơ không viết về mưa mà tôi cảm thấy mưa đầm đìa trong tâm hồn và trào dâng ướt đẫm trên tay. Đó là bài thơ viết sau khi tiễn đưa người bạn chí cốt nhà văn DƯƠNG TRỮ LA đến nhà thiêu Bình Hưng Hòa. Một cuộc tiễn đưa người ra đi vĩnh viễn. Trương Đạm Thủy là người chứng kiến mối tình của Dương Trữ La từ đầu đến cuối, bao thăng trầm, sóng gió, biến cố trong cuộc đời vinh nhục, đắng cay. Có lẽ đối với Dương Trữ La nhắm mắt xuôi tay thong dong trở về cõi vĩnh hằng tan thành tro bụi là hết. Nhưng Trương Đạm Thủy thì sao!? Đưa bạn xong anh trở về chiếc quán mà xưa hai người thường hò hẹn, anh ngồi uống rượu một mình và nước mắt đầm đìa đẫm ướt trên tay. “Một sáng mù sương/ xe đưa qua ngõ/ chập chờn nến đỏ/ rơi rắc tàn hương/ xe đi lắc lư/ lá vàng tơi tả/ ngày xưa là thơ/ sáng nay vàng mã/đưa nhau một dặm/ trường đình phố xá/ lệ ai ướt đẫm/ cõi về bao la/ xe đi chông chênh/ qua bờ hiu quạnh/ ma phong thổi lạnh/ ngọn đèn buồn tênh/ bờ xa đã đến/ tiễn nhau chốn nầy/ bạn theo ngọn nến/ dật dờ chân mây/ tôi về quán cũ/ rót một chén đầy/ rượu không có bạn/ ướt dầm trên tay (TIỄN NHAU).

Mỗi người đọc thơ có thể cảm nhận khác nhau. Riêng tôi thơ Trương Đạm Thủy buồn man mác, thấm đẫm và da diết quá..! Nhưng ông bạn nhạc sỹ Ngô Tùng Văn ngồi kế bên đọc thơ Trương Đạm Thủy lại nhảy dựng lên thích thú:– Đã quá! Và đọc cho tôi cùng nghe. “Mai mốt cũng tiêu điều quán nhỏ/ đâu rồi những bữa chạm ly/ bàn ghế chắc sầu ngàn trùng bụi/ linh hồn nào về thăm những hạt mưa/… Sao tôi vẫn chưa nói lời trái tim mách bảo/ để mùa đông tràn qua kẽ tay/ những chiếc lá rơi uổng mùa xanh thẳm/ ly rượu chông chênh uổng phía cuối ngày. (MAI MỐT). Ngô Tùng Văn nói – buồn thì ai không buồn nhưng “bàn ghế chắc sầu ngàn trùng bụi” câu thơ đã biết dường nào và chữ uổng trong hai câu thơ Uổng màu xanh thẳm, uổng phía cuối ngày đọc nghe sướng làm sao!

Âu đó cũng là những cảm nhận văn chương nghệ thuật thi ca. Còn tiếng hát xẩm giữa đêm có người nghe hay không cứ mặc. Hãy để dòng đời cuốn trôi giữa đêm dài, giữa trời đất, giữa tiếng dế… như lời kết đầy tự sự của tác giả.

“dế ơi! lát cỏ non vẫn xanh
trời vẫn xanh
biển vẫn xanh
xanh lắm
thôi thì hãy vắt vai với mảnh tình có màu xanh
rồi mai mốt ai có kể câu chuyện đời dâu bể
xin nhớ cho ta đã từ xưa hát khúc yêu người”.

Vâng tôi sẽ nhớ điều đó với nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy.

NGUYỄN QUỐC NAM

(Sài Gòn, một ngày mưa 25/10/2008)

Chú thích:
(*): Thơ Kiên Giang 06- 10- 2008

Xin xem các blog  tin tức văn nghệ thơ văn, tại các địa chỉ :

NGUYỄN VIỆT & MỌI NGƯỜI http://nguyenlequan.blogspot.com

VĂN NGHỆ NGƯỜI SÀI GÒN http:// my.opera.com/khaisang2002

Trương Đạm Thủy đọc thơ “Cõi Trú”

MỘT XÓ ĐỜI TA,

“CÕI TRÚ” TA…

Tr-Dam-Thuy

Bài viết của TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Có lẽ ở mỗi con người sau những sinh hoạt đời thường điều họ mơ ước đến là một chỗ để trở về, một chốn ẩn thân, một cõi trú. Trú ở đâu? Người giàu có chốn ở là biệt thự, căn hộ chung cư. Người trung bình một căn nhà phố bình yên trong xóm nhỏ. Còn người cơ hàn sa cơ lở vận lang bạt xứ người thì nơi ở là một mái hiên qua đêm mưa gió…

Cuối Đông 2008 Thiên Hà đã cho xuất bản tập thơ Cõi Trú (NXB Thanh Niên). Sau những tháng năm bôn ba hăm hở xông xáo vào đời hình như Đứa con bãi bồi U Minh Hạ Thiên Hà mới chợt bâng khuâng tự hỏi đâu là chỗ trú của đời ta?

Bìa tập thơ là bức tranh Bão tố tác phẩm sơn dầu của họa sĩ Lương Trường Thọ. Vậy, phải chăng Thiên Hà muốn nói anh cũng giống như loài chim báo bão, chốn trú thân của anh chính là nơi bão tố. Loài chim ấy chỉ có thể tung những đường bay tuyệt đẹp trên cùng giông tố. Cánh nó sẽ chệnh choạc, đường bay sẽ thiếu sinh khí trong một không gian lặng gió yên bình, lúc đó chim báo bão chỉ còn như loài chim sẻ lích chích trên mái nhà rêu.

Có những khi thấy Thiên Hà ngồi sầu con mắt đỏ, cầm ly rượu, tự ví mình như loài ngựa hoang trên thảo nguyên mà thời gian ngựa chạy đã sắp mòn gót chân.

“Rong chơi từ buổi dậy thì

Ngỡ quen cõi trú lạc loài hỗn mang”

(Ngựa Hoang).

Câu thơ buồn như chợt gieo xuống hồn niềm u ẩn của một đời lận đận mà anh đã trải qua. Con ngựa hoang nơi cánh đồng lạc lõng, con chim báo bão giữa vùng gió xoáy trùng trùng chính là chỗ náu thân của chim, của ngựa, của thơ. Còn trái tim của Thiên Hà nương náu vào đâu? Có lẽ đó chính là mối tình bút mực, một tình yêu nóng hổi cháy bỏng suốt đời anh.

Thơ chính là tình yêu, yêu đời, yêu người, yêu mình, yêu non sông gấm vóc. Nhưng cõi thơ có khi cũng là niềm hệ lụy của người thơ. Cõi thơ có khi là sóng gió, là bão táp, là phong ba. Đời anh có thể cũng đã trải qua những trận cuồng phong của dòng đời, vì vậy mới nghe Thiên Hà nghèn nghẹn:

“Ta đắm đuối với cuộc tình bút mực

Quên dấu thời gian bụi phủ xanh rêu…

Chợt tỉnh chợt say vật vã trăm chiều

Nghiêng ngửa tiếng cười pha nước mắt

Có chục vạn người yêu

Có trăm ngàn người ngoảnh mặt

Cho cũng nhiều và nhận cũng chẳng ít đâu

Hãy cho đi

Coi như ta đã nhận

Chút ân tình vay mượn thế nhân

Hãy cho đi

Coi như ta đã trả

Một phần lời trong cuộc sống gian truân…”

(Tình Bút Mực)

Năm ở tuổi đôi mươi Thiên Hà đã rời chốn quê nhà, rời xa tổ ấm ở vùng đất Mũi Cà Mau lên thành phố Sài Gòn anh mang theo ước vọng làm cuộc tao ngộ với văn chương. Anh sống đời “ngựa hoang” từ ấy “trong cõi rất đêm bơ vơ, rất ngày lạc lõng”, khi ở Sài Gòn, khi về Chợ Lớn, chốn náu thân là những căn gác trọ tồi tàn. Anh sống bụi bặm xác thân. Không đáng kể. Một góc trọ qua đêm. Không đáng kể. Anh đi tìm một thế giới mới hơn, một chỗ mà tâm hồn anh có thể bay lượn tự do. Nơi đó không có áo cơm, đói khát nó vô hình như không khí mà lại vô vàn hạnh phúc: cõi thơ.

Thiên Hà – người bạn trẻ ngày xưa của tôi, nay tóc đã chớm bạc vậy mà anh vẫn thủy chung với cuộc tình bút mực, với thơ :

“…Vốn liếng còn đây – cuộc tình bút mực

Xin trả cho em một nửa phần lời

Trả hết cho người những gì còn lại

Kể cả trái tim mà ta đã vay mượn từ hơi thở đầu đời”

(Tình Bút Mực).

Tập thơ “Cõi Trú” gồn 67 bài thơ. Nơi mỗi bài thơ là một chỗ trú. Trong tập thơ dày 160 trang này Thiên Hà có dành một số bài viết tặng người nọ người kia. Nơi mỗi người bạn, người thân mà Thiên Hà nghĩ đến như là một bến tâm hồn cho con thuyền thơ Thiên Hà neo đậu nghỉ ngơi trên dòng đời trong đục vốn chảy mãi không ngừng.

Có lẽ ở tuổi 68 là thời gian chìm nhất của đời người để Thiên Hà nhận ra nơi chốn trú ngụ của mình “Bão tố biển đời – Cõi trú ta”.

Con người không chỉ náu thân dưới một mái nhà, một mái lều, một mái hiên; còn một chốn trú ngụ khác hoàn hảo hơn, ấy là chốn… “an cư” của tâm hồn. 68 năm dài tuổi đời người, 45 năm cho tình yêu bút mực, Thiên Hà đã tự khẳng định: “Một xó đời ta  – Cõi trú ta” ấy là cõi thơ vậy!

T.Đ.T

Xin xem các blog  tin tức văn nghệ thơ văn, tại các địa chỉ :

NGUYỄN VIỆT & MỌI NGƯỜI http://nguyenlequan.blogspot.com

VĂN NGHỆ NGƯỜI SÀI GÒN http:// my.opera.com/khaisang2002

Đọc Thơ “Cõi Trú” của Thiên Hà

XANH TRONG NÉT BÚT

TRẮNG NGẦN ĐÔI TAY

D.V.Thuong Bài ĐOÀN VỊ THƯỢNG

Kỷ niệm 45 năm cầm bút, Thiên Hà xuất bản tập thơ Cõi trú này.

Trong bài thơ mới nhất của anh có câu: Bão tố biển đời- cõi trú ta. Anh nói với tôi “bão tố cũng là cõi trú. Trú trong bão tố là bình yên nhất, vì mình làm một với bão tố.”

Đọc hết thơ anh, tôi thấy quả có nhiều “bão tố” thật. Ám ảnh chiến tranh cùng những biến động trong đời sống hôm qua và bây giờ luôn đan xen trong thơ anh. Nổi bật trong đó là những gương mặt bè bạn một thời. Cả những gương mặt tưởng rất riêng tư ấy cũng có nhiều bão tố trong đời mình. Và quê hương. Quê hương Cà Mau của Thiên Hà cùng bao vùng quê khác trên dãi đất Việt Nam dường như đợi có dịp là xuất hiện trong các câu chữ, thi cảm của anh. Quê hương ấy hiện ra đầy sống động, như thể mang khuôn mặt người, luôn thao thức với những nếp nhăn, những dấu vết cày xới của sản xuất, sáng tạo nhưng cũng là dấu vết của nghìn năm chiến tranh chưa bao giờ mờ xóa hẳn.

Cảm hứng thơ của Thiên Hà là gặp gỡ, nhưng cũng là hoài niệm. Tôi tưởng chữ hoài niệm hơi bị cũ, và mòn, không nói hết được tâm thế anh khi làm thơ. Cao hơn hoài niệm, đó là sự trở mình mỗi khi thơ Thiên Hà chạm vào vùng ký ức tuổi nhỏ, ký ức đó đã hóa làm một với những đất đá, sông biển, cỏ cây, trời đất, con người anh đã sống cùng, đã trải qua. Và hóa thành một cái gì bền bỉ, trải dài cho đến hôm nay, và không chừng cho đến cuối con đường mà Thiên Hà đang đi. Hình như với Thiên Hà, ký ức không đoạn tuyệt, không ngắt quãng, nó là cái bóng ở phía sau luôn đổ dài về phía trước. Anh đi trong cái bóng đó. Dằng dặc một nỗi niềm.

Nhưng Thiên Hà luôn có những gặp gỡ mới. Anh thích vậy. Và hòa mình, tìm thấy mình trong những cái mới đó. Có điều, những gặp gỡ mới trong khi làm cho anh có nhiều cảm hứng mạnh mẽ để làm thơ thì nó cũng bắt anh phải có chút lắng đọng để trầm tư. Và vì vậy, ta thấy trong mỗi bài thơ anh thường có sự “lẫn lộn” giữa hôm nay và ngày qua, giữa hiện thực và tâm tưởng, giữa nơi này và chốn khác, thậm chí giữa niềm vui và nỗi buồn. Có cảm giác, anh vừa hăm hở ngẩng nhìn vừa nôn nao cúi xuống mỗi khi có những gặp gỡ mới, dù là với phong cảnh hay là với con người. Gặp một cái gì mới bên ngoài là thấy lại một cái gì cũ trong mình. Hai cái đó nhanh chóng giao thoa trong tâm hồn anh. Nói cách khác, trong đời thực, anh hòa nhập rất nhanh với chung quanh, nhưng trong thơ, anh chỉ hòa nhập bằng cảm xúc, rồi từ cảm xúc đó, anh lấy nó nhào nặn với tâm tư riêng của mình để phát lộ ra một tiếng nói khác, vừa gần vừa xa, vừa là hiện thực vừa không là hiện thực. Anh chỉ đi song song với hiện thực. Anh sợ những nhà thơ chỉ săm soi hiện thực chính là đã đánh mất hiện thực. Và đó là cõi thơ của Thiên Hà ?

Giọng điệu Nam Bộ trong thơ Thiên Hà cũng khá rõ. Và cả chất thơ nữa. Giọng điệu đó và chất thơ đó không quá màu mè, uẩn khúc; không triết lý xa vời và không thích trình diễn những hư tượng. Thiên Hà không gò bó trong chữ nghĩa, nhưng anh đã làm chủ được nó, theo thể cách của anh, và một phần theo thể cách của truyền thống văn chương Nam Bộ mà anh kế thừa, ngọt ngào mà phiêu linh, nhẹ nhàng mà da diết, suy tư nhưng lãng đãng, chân thực mà tài tử. Anh ít dụng công cấu tứ trong thơ mà cứ để tâm cảm trôi theo dòng cảm xúc, và chính những hình ảnh chắt lọc, ấn tượng được đưa vào thơ đã dựng nên “xương cốt” cho nó, đầy ngẫu cảm, dịch đổi trùng trùng như chính phong cảnh Nam Bộ và những điệu hò Nam Bộ, luôn bất ngờ và quyến rũ. Và cuối cùng, mở ra những tình tự bát ngát giàu cộng hưởng cho người nghe, người đọc.

Nhưng thơ Thiên Hà cũng có nhược điểm là đôi chỗ sử dụng một số ngôn ngữ phổ dụng trong thơ một thời của những năm 1960 -1970 tại miền Nam. Những ngôn ngữ đó bây giờ đọc lại thấy hơi cũ. Nhưng đừng vội trách anh. Ấy là do chiến tranh đã “đẽo tạc” nên dòng ngôn ngữ đó mà hầu hết thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ miền Nam một thời vô tình hay cố ý đều dùng, như một cách tự vệ nếu không muốn nói rằng phản chiến. Dòng ngôn ngữ đó, thực ra đã có những thành tựu vang bóng nhất định trong ca từ và thơ văn tài hoa của những Trần Thiện Thanh, Anh Việt Thu, Song Ngọc, Hoàng Anh Tuấn, Văn Quang, Trương Đạm Thủy…, những bạn văn thân thiết của Thiên Hà. Anh không là ngoại lệ. Thậm chí anh còn nổi bật ít nhiều trong nhóm đó.

Qua đó cũng cho thấy có một sự nhất quán trong phong cách thơ Thiên Hà.

Phong cách ấy đã đi trọn theo anh ngót 45 năm.

Và rõ ràng là anh đã có một cõi trú. Không phải chỉ là cõi trú cuộc đời đầy bão tố mà ai cũng có.

Cõi trú đó là thơ. Nó cũng đầy bão tố như cuộc đời và cũng sinh sôi phong phú như cuộc đời. Trong cõi trú đó, Thiên Hà không phải dựng cột kèo chống đỡ mà anh chủ động canh tác và thu gặt bằng tất cả vốn liếng tâm hồn mình.

Nhưng anh thu gặt được gì?

Xanh trong nét bút, trắng ngần đôi tay. Đó là câu trả lời của anh, nhà thơ Thiên Hà, sau ngót 45 năm cầm bút.

Cũng vẫn là một giọng điệu Cà Mau – Nam Bộ của riêng Thiên Hà!

ĐOÀN VỊ THƯỢNG

Xin xem các blog  tin tức văn nghệ thơ văn, tại các địa chỉ :

NGUYỄN VIỆT & MỌI NGƯỜI http://nguyenlequan.blogspot.com

VĂN NGHỆ NGƯỜI SÀI GÒN http:// my.opera.com/khaisang2002