CHUYỆN MA KINH DỊ

Logo kinh di 1

9 Ma nu 1NHỮNG ‘HỒN MA NỮ’

ÁM ẢNH NHẤT LỊCH SỬ

Họ là những “hồn ma nữ” được nhiều người biết tới vì sự đáng sợ và kinh dị chưa từng có.

Quý bà trắng : Đã có rất rất nhiều quốc gia trên thế giới từng tin vào sự tồn tại của “hồn ma” Quý bà trắng. Vào thời kì trung cổ ở Anh, “hồn ma nữ” này được biết tới như sự hiện diện của cái chết. Bà ta xuất hiện bất kể ngày hay đêm tại những nơi mà sau đó chắc chắn sẽ có người chết.

Nguồn gốc sâu xa của Quý bà trắng được cho là bắt nguồn từ một cô gái trẻ bị thất sủng và nhốt trên một tòa tháp cao, kết thúc cuộc đời mình bằng cách tự vẫn.

Jenny gào thét : Trên đường đến với những ngọn núi ở phía Tây của Virginia, câu chuyện về Jenny gào thét lại càng được mọi người kể lại không ngớt trong tâm trạng sợ hãi. 9 Ma nu 2Jenny vốn là một cô bé sống một cuộc sống nghèo khó song vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc khi luôn giúp đỡ mọi người. Tuy nhiên, cuộc sống lại không hề yên bình như mong muốn của Jenny, cô bé này đã không may qua đời trong trận hỏa hoạn lúc đang sưởi ấm bên cạnh ngọn lửa.

Tất cả những gì mà người ta biết được sau đó chỉ là những tiếng la hét của Jenny, cô bé chạy ra khỏi nhà, gào thét không ngớt khi toàn thân bị lửa đốt cháy. Cái chết bất ngờ đến đã để lại nỗi uất ức không ngừng dẫn tới của “hồn ma” cô bé này. Đây cũng là lúc mọi người bắt đầu gặp Jenny trên những ngọn núi, không ngừng gào thét trong đau đớn mỗi lần đi trên đỉnh núi ở phía nam Virginia.

9 Ma nu 3Mary đẫm máu : Cái tên “đẫm máu” đã đủ để nói lên sự đáng sợ về sự tồn tại của “hồn ma” Mary đẫm máu. Dù có nhiều câu chuyện khác nhau được kể về người từng được xem là nữ hoàng của nước Anh này. Bà từng được người dân nước Anh xem là hi vọng của Hoàng gia khi mang trong mình giọt máu của người thừa kế ngai vàng.

Tuy nhiên, việc bị xảy thai không lâu sau đó đã trở thành bi kịch lớn nhất trong cuộc đời của Mary và biến bà thành hồn ma “Mary đẫm máu”. Cứ mỗi lần ai đó nhìn vào trong gương và nói rằng “Tôi đã giết con bà đấy Mary” hay nói tên Mary 3 lần, “hồn ma” này sẽ lập tức xuất hiện và ám ảnh người đó. (theo Tri thức trẻ)

9 Thap London 1CHUYÊN MA

TỪ THÁP LONDON

Cung điện và pháo đài của Nữ hoàng, tên thường gọi là Tháp Luân Đôn, là một di tích lịch sử nằm ở trung tâm Luân Đôn, Anh quốc, trên bờ Bắc của sông Thames. Chức năng chính của tháp là một pháo đài, cung điện hoàng gia, và nhà tù (dành cho các tù nhân hoàng gia có địa vị cao, chẳng hạn Nữ hoàng Elizabeth I từng bị giam tại đây).

Nơi đây còn có một khu vực để hành hình và tra tấn, một kho vũ khí, một kho bạc, một vườn thú, Royal Mint xưởng đúc tiền của hoàng gia Anh, một đài quan sát, và từ năm 1303 là nơi lưu giữ Các vương miện của Vương Quốc Anh.

Năm 1988, Unessco đã công nhận tháp Luân Đôn là di sản thế giới. Nhưng tháp Luân Đôn cũng mang nhiều truyền thuyết huyền bí và kinh dị về các bóng ma bí ẩn : Tháp Luân Đôn là một tòa nhà bị ma ám kinh hoàng ở nước Anh. Hồn ma của hoàng hậu Anne Boleyn, 9 Hoang gia 1bị chặt đầu trong năm 1536 do chống lại vua Henry VIII, được nhìn thấy ở nơi bà được chôn cất, và đi quanh tháp, không đầu, mặc áo trắng xóa. Các hồn ma khác bao gồm Henry VI, Lady Jane Grey, Margaret Pole, và một vài hoàng tử… Sau đây một vài câu chuyện ma xuất hiện ở tháp Luân Đôn

NHỮNG HỒN MA BÍ ẨN Ở THÁP LONDON

Người ta nhìn thấy ma lần đầu tại Tháp London là vào thời vua Henry III, khi các công nhân đang xây dựng bức tường Inner Curtain Wall.

Tháp London là danh thắng nổi tiếng tại Anh được xây dựng bởi William Conqueror từ thế kỷ 11 như một biểu tượng cho quyền lực của ông, đồng thời là nơi giam giữ những kẻ dám chống lại đức vua. Bên cạnh đó, đây còn là nơi cất giữ những trang sức hoàng gia cũng như nuôi dưỡng các loài thú quý hiếm. Tuy nhiên, người ta nhớ tới Tháp London nhiều nhất vì 9 Thap London 2những hồn ma tù nhân đã bị hành quyết nơi đây, những kẻ phản bội phải nhận lấy lưỡi rìu thảm khốc từ đao phủ, vẫn nóng lòng mong quay lại báo thù…

Người ta nhìn thấy ma lần đầu tại Tháp London là vào thời vua Henry III, khi các công nhân đang xây dựng bức tường Inner Curtain Wall. Hồn ma tức giận của đức Tổng giám mục Canterbury St Thomas Beckett, người mới bị sát hại, đột nhiên xuất hiện và đập tan bức tường mới với cây thập giá của mình biến nó thành một đống đổ nát.

Vua Henry III đã rất lo ngại về sự việc này, vì St Thomas đã bị sát hại bởi những cận vệ phò tá ông nội của ông, tức vua Henry II. Sau khi suy nghĩ kỹ về cách để chế ngự hồn ma, nhà vua quyết định xây dựng nhà nguyện St Thomas Beckett phía trong những bức tường của tháp London, và may mắn thay hồn ma tức tối của đức Tổng giám mục không bao giờ xuất hiện lần nữa.

NHỮNG HỒN MA TRÊN THÁP XANH

Tháp Xanh là nơi những vụ hành quyết đặc ân được thực hiện, tránh xa đám đông chế giễu khi những kẻ phản bội và tội phạm bị xử tử. Phần lớn những người bị hành quyết ở Tháp Xanh là phụ nữ, trong đó có nữ hoàng Anne Boleyn, nữ hoàng Catherine Howard và Lady Jane Grey. Họ đều phải lĩnh bản án bi thảm tại ngọn tháp, và dân chúng thường đồn đại rằng những bóng ma nữ hoàng vẫn quay lại nơi cuộc sống của họ đã chấm dứt.

9 Thap London 3Hồn ma không đầu Anne Boleyn thường lang thang qua những căn phòng trong Tháp London. Vào năm 1864, một người lính bảo vệ đã cả gan thách thức hồn ma không đầu, nhưng anh này đã ngất lịm khi trông thấy lưỡi lê của mình có thể đâm xuyên qua hồn ma mà không gây sát thương. Anne Boleyn cũng đã được nhìn thấy trong hàng đầu một đám rước của các lãnh chúa và công nương.

Hồn ma Lady Jane Grey đã được phát hiện vào năm 1957 nhân dịp kỷ niệm ngày mất của bà bởi hai vệ sĩ dưới dạng một bóng trắng trên tường. Người ta cũng nhìn thấy hồn ma người chồng trẻ của bà, Guilford Dudley đang khóc trong tháp Beauchamp. Nữ bá tước 72 tuổi của Salisbury bị xử tử tại Tháp Xanh vào năm 1541, nhưng bà đã từ chối đặt đầu mình lên bệ gỗ và bị đao phủ dùng rìu tấn công tới chết. 9 Thap London 4Hồn ma của bà thường hay trở lại vào đúng ngày mất trong bộ dạng sợ hãi của người phụ nữ bị tên đao phủ cầm rìu rượt đuổi mãi mãi.

NHỬNG HỒN MA TRÊN THÁP TRẮNG

Tháp Trắng là khu cổ kính nhất tại Tháp London, nơi các tù nhân bị tra tấn dưới tầng hầm. Những hành lang trong tháp bị ám bởi hồn ma có biệt danh là White Lady. Những đứa trẻ đã phát hiện ra hồn ma này khi nó vẫy tay chào chúng ở tòa nhà đối diện. Bảo vệ tại lối vào nhà thờ St John cũng phàn nàn về việc đột nhiên ngửi thấy mùi nước hoa bí ẩn nồng nặc khiến cho họ cảm thấy mệt mỏi và sợ hãi.

9 Thap London 5Trong phòng trưng bày bộ giáp của vua Henry VIII, những người bảo vệ cũng mô tả về một cảm giác nặng nề đến ghê người khi đứng trong căn phòng và nó chỉ biến mất khi họ bước ra. Vào một đêm nọ, một người bảo vệ tuần tra tháp cảm thấy dường như đang có ai đó kéo mình ra phía sau và thắt chặt cổ. Ông may mắn chạy thoát về phòng bảo vệ cùng các đồng nghiệp và kỳ lạ thay, dấu dây thắt cổ vẫn còn nguyên như một bằng chứng không thể chối cãi.

HỒN MA TRÊN THÁP MÁU

Tháp Máu là “nhà” của hai hồn ma hoàng tử bé nhỏ, con trai của Vua Edward IV. Khi vua cha qua đời, những đứa trẻ bị đưa tới tòa tháp để đợi tới ngày người con cả lên ngôi Vua Edward V. Tuy nhiên, trong khi họ đang ở tháp, người chú ruột độc ác Richard III đã cướp lấy ngôi vua và hai hoàng tử biến mất một cách bí ẩn.

Rất nhiều lời đồn thổi xuất hiện cho tới khi người ta tìm thấy 2 bộ xương trong Tháp Máu vào năm 1674, được cho là của 2 hoàng tử. Các nhân chứng cho biết họ đã nhìn thấy hồn ma của 2 cậu bé ôm nhau khóc trong sợ hãi. 9 Thap London 6Một số người đã cố gắng tìm tới xoa dịu họ, nhưng nhanh chóng trở nên sợ hãi khi 2 đứa trẻ cứ lùi sâu dần vào bức tường rồi biến mất !?

Tháp London, cùng với những hồn ma của mình đang ngày càng nhuốm màu thời gian. Dù nhiều năm tháng đã qua đi, những người dân Anh vẫn truyền tụng nhau rằng nếu bạn đủ can đảm, hãy đến Tháp London vào một chiều cuối thu, khi gió bắt đầu thổi mạnh và sương giăng đầy trên bãi cỏ. Những hồn ma sẽ xuất hiện im lặng trong bầu không khí u ám đầy chết chóc… (Cao Anh Lâm theo Hubpages)

Lan Hương – tổng hợp chuyển tiếp

HỒN MA’ BÁO OÁN

Cuối cùng việc oan hồn báo oán là có thật, 2 kẻ thủ ác đã bị bắt theo đúng lời trong mộng của Tiểu Phi. Cái chết oan uổng đã khiến cô gái chết mà không siêu thoát, vì thế oan hồn của cô đã trở về báo mộng tố giác kẻ phạm tội hay chính những kẻ gây ra tội ác đã “thần hồn nát thần tính” 3 Ta xi 2để rồi tự chui đầu vào cùm…

Gã taxi đồi bại

Ngày định mệnh của Tiểu Phi bắt đầu từ chiều 30/4/1986, khi cô bước ra khỏi cơ quan để bắt xe taxi trở về nhà. Hôm đó, cô đang rất vui vì công việc của cô được đánh giá cao. Chiếc xe taxi chạy dọc đường Trường An. Người lái xe taxi nhìn có vẻ rất nho nhã và nói chuyện cũng khá lịch sự khiến cô có đôi chút cảm tình. Nhưng Tiểu Phi đâu có nhận ra ánh mắt của gã lái xe thỉnh thoảng lại liếc vào ngực mình đầy thèm muốn.

Khi xe đến gần nhà cô ở Phong Đài, cô yêu cầu tài xế dừng xe lại ở bên đường. Tiền taxi cô phải trả là 35 tệ nhưng vì kiếm cớ giữ cô lại, gã lái xe nói rằng không có tiền trả lại. Tr Con gai 1Tiểu Phi định bỏ qua số tiền lẻ ấy nhưng gã lái xe lại tỏ vẻ lịch sự nói : “Không, xe chúng tôi làm ăn đàng hoàng, không bao giờ thiếu khách một xu”, và ngỏ ý chở cô gái về nhà mình lấy tiền thừa trả lại. Cô gái nghe hắn khăng khăng nói vậy nên không chút nghi ngờ lên xe. Trước khi lên xe, cô có ghé vào một trạm điện thoại công cộng ngay gần đấy gọi điện về nói rõ sự tình cho cha mẹ đỡ sốt ruột.

Chiếc xe chạy vào khu đất trống của một cơ quan rồi dừng lại bên một căn lều chống động đất. Lúc này trời đã tối. Hắn ta nói với cô : “Đây là căn lều chống động đất của cha tôi. Cô đi đường nhiều chắc cũng mệt. Mời cô vào lều uống nước nghỉ ngơi cho đỡ mệt rồi tôi đưa cô về”. Tiểu Phi cả tin theo hắn vào trong lều, không chút nghi ngờ. Cô vừa bước vào, tên lái xe liền chốt cửa lại rồi đè cô ra hãm hiếp. Cô gái cố chống cự nhưng nào có ích gì.

Thỏa mãn thú tính xong, tên lái xe lo sợ cô gái sẽ tố cáo mình liền nghĩ rằng giết quách cô cho xong. Nghĩ sao làm vậy, hắn lấy chiếc tất siết cổ cô gái đến chết. Khi hắn đang ngồi thừ bên cái xác không biết phi tang nó thế nào thì em ruột gã là cán bộ Ủy ban Kiểm tra kỷ luật của một nhà máy lớn ở khu Thạch Cảnh Sơn tình cờ ghé qua và phát hiện. Hắn vội cầu xin em trai giữ kín bí mật  và giúp gã phi tang cái xác. Hai anh em liền cưa cái xác ra làm đôi rồi chôn vào hai cái hố sâu gần đó. Chôn xong, bọn chúng đốt sạch quần áo, giấy tờ, thu dọn hiện trường như chưa từng có điều gì xảy ra trong căn lều này.

Ngày 29/6/1993, khi nghe tin ngôi lều chống động đất trên mảnh đất trống của Cty sẽ được dỡ để thi công, Lưu Tuấn lo sợ các công nhân sẽ đào được hài cốt của cô gái năm xưa liền đem chuyện này kể với anh. Nghe kể, Lưu Kinh bàn với em đào bộ hài cốt đi phi tang. Đêm hôm đó, khi bọn chúng đang hì hục tìm kiếm, đào bới thì thấy bảo vệ đi qua nên đành phải bỏ dở. Đào mãi mà không thấy cái xác, Lưu Kinh nản, bảo em thôi khỏi cần đào nữa, nếu bộ xương có bị phát hiện thì cứ coi như không biết thì chẳng ai kết tội được mìnBao hanh 1h. Lưu Tuấn vẫn run nhưng đành nghe theo anh.

Một nửa bộ hài cốt

Đến ngày 5/7/1993, các công nhân đào đất thi công trong khu đất này đã bất ngờ đào được một bọc hài cốt gần căn lều chống động đất. Điều lạ là đây không phải bộ xương người nguyên vẹn mà chỉ có nửa thân dưới. Họ nghi ngờ có điều gì uẩn khúc nên vội vàng đi báo CA. Phần hài cốt ngay lập tức được đưa đến phòng kỹ thuật hình sự để làm giám định pháp y. Các bác sĩ pháp y kết luận: Đây là phần xương thân dưới của một phụ nữ 20 tuổi, cao khoảng 1m55, thời gian tử nạn đã trên 5 năm.

Với việc chỉ tìm được phần thân dưới của bộ hài cốt, CQĐT xác định đây là một vụ án giết người nghiêm trọng, dã man. Nạn nhân bị giết rồi còn bị cưa làm đôi trước khi đem chôn. Cảnh sát quyết tâm phá vụ án lôi hung thủ ra ánh sáng. Qua điều tra, các trinh sát xác định người quản lý căn lều chống động đất cách đây khoảng 5 năm là một công nhân già họ Lưu. Tr Giet nguoiÔng và hai cậu con trai Lưu Kinh và Lưu Tuấn từng ở đó. Cảnh sát tập trung mũi nhọn điều tra vào cậu con cả Lưu Kinh làm nghề lái taxi của ông ta.

Cảnh sát tìm hiểu một số người phụ nữ từng qua lại với Lưu Kinh thì họ đều nói rằng Lưu Kinh vẻ ngoài hào hoa, phong nhã nhưng thực chất là một kẻ háo sắc, vũ phu, tàn nhẫn… Những phụ nữ này nếu không rời bỏ hắn ta vì không thể chịu được việc hắn chửi bới, đánh đập, dọa dẫm thì cũng bị hắn ruồng rẫy sau một vài tháng.

Trước các cán bộ điều tra, khác với người anh, Lưu Tuấn không che giấu được vẻ sợ hãi, nhưng giống với anh hắn, Lưu Tuấn cũng khẳng định mình không biết gì hết. Chỉ đến khi người bảo vệ già bước lên làm chứng trước tòa rằng đêm ngày 29/6/1993 thấy Lưu Kinh và Lưu Tuấn đào bới ở hiện trường thì hắn mới giật mình và im bặt.

Người bảo vệ đã làm ở cơ quan này nhiều năm nên hầu như ai cũng biết và ai cũng hiểu ông là một người trung thực và có tinh thần trách nhiệm. Những người tham dự phiên tòa còn xì xào rằng lúc bộ hài cốt được công nhân đào lên, bầu trời đang sáng bỗng nhiên tối sầm xuống một lúc. Cô gái chết thảm thế cơ mà. Chắc hồn cô phải linh lắm. Trước nhân chứng và những lời bàn tán như vậy, trong lòng Lưu Kinh và Lưu Tuấn không khỏi hoang mang. Nhưng là một kẻ “rắn mặt” và lì lợm, Lưu Kinh cố lấy lại tinh thần. Sau những phút bối rối không thể che giấu, hắn lại quay ra đổ cho bác bảo vệ già nhìn nhầm.

9 Bao oanOan hồn báo oán ?

Khi Lưu Kinh và Lưu Tuấn đang ngồi trong phòng tạm giam thì được cảnh sát đưa lên phòng thẩm vấn hoàn tất một số thủ tục, khai báo trước khi được thả. Bọn chúng vừa đi vừa mừng rơn và hồi hộp. Cuối cùng thì chúng cũng được thả rồi. Cảnh sát đã bó tay vì những chứng cứ chưa đủ kết tội bọn chúng và sự kiên quyết chối tội bất hợp tác đã mang lại cho chúng những lợi thế không thể phủ nhận. Đang làm thủ tục ra trại, 2 anh em nghe được lời nói của mẹ Tiểu Phi nói với điều tra viên rằng bà nằm mộng thấy con gái về báo nếu tìm được phần thi hài còn lại thì sẽ phát hiện ngay ra thủ phạm là ai. Trở về nhà, hai tên vừa mừng vừa lo.

Đấu tranh trong nhiều ngày Lưu Kinh bàn với Lưu Tuấn việc đi đào phần xác còn lại phi tang. Thế là Lưu Kinh và Lưu Tuấn chọn ngày phù hợp mang theo cuốc, xẻng, và bịt mặt. Trong ánh trăng đêm mờ ảo, con đường nhỏ tới căn lều trên mảnh đất trống vào lúc nửa đêm lạnh lẽo không một bóng người. Khu vực hiện trường này đã bị cảnh sát cắm biển cấm vào nhưng không có ai trông coi và dĩ nhiên hai tên vào đó rất dễ dàng. Nhìn thấy gốc nho nơi đã chôn nửa cái xác kia, bọn chúng tiến lại dần. Mảnh đất rộng nên cảnh sát vẫn chưa đào bới được hết và chắc họ cũng không nghĩ xác cô gái lại được chôn gần gốc nho đến thế nên vẫn chưa tìm ra.

Hai tên bắt đầu hì hục đào bới dưới gốc nho. Không còn nhớ chính xác thi thể đã bị băm vằm của cô gái được chôn phía nào của gốc nho nên bọn chúng phải mất một thời gian khá lâu mới chạm được vào mảnh gra giường bọc xBao hanhác cô gái. Bọn chúng vừa mừng vừa sợ lôi cái bọc đó lên nhưng mảnh gra giường lâu ngày chôn dưới đất ẩm bị mục nên đứt tung.

Hiện lên dưới ánh trăng mờ là phần thi thể của cô gái giờ đây thịt da nát hết chỉ còn lại xương trắng. Cái đầu lâu vẫn còn bết lại những mảng tóc trông thật đáng sợ. Làn khí từ dưới đất xông lên làm bọn chúng choáng váng. Lúc này, Lưu Tuấn run rẩy khấn: “Tôi biết chúng tôi có tội với cô nhưng giờ tôi phải mang cô đi. Mong linh hồn cô siêu thoát và tha thứ cho anh em tôi”.

Đang chuẩn bị thu gom đống hài cốt thì đột nhiên một luồng ánh sáng chĩa vào cùng với giọng nói gằn lên dứt khoát : “Các anh đã bị bắt”. Cuối cùng việc oan hồn báo oán là có thật, 2 kẻ thủ ác đã bị bắt theo đúng lời trong mộng của Tiểu Phi, thế nhưng cái cách khiến anh em nhà họ Lưu sa lưới chính là nghệ thuật điều tra của lực lượng cảnh sát. (theo PL và XH)

Tr cau hoi 3BÓNG ĐÈ LÀ GÌ ?

Bóng đè là một hiện tượng thông thường, trong đời mỗi người gặp ít nhất là một lần. Bóng đè thực ra là một hiện tượng mộng mị. Khi bị bóng đè, người ta sợ toát mồ hôi, muốn kêu cứu, cựa quậy mà đành chịu. Nếu biết là mình đang bị bóng đè nghĩa là người ta vẫn còn tỉnh một nửa. Dòng điện não ghi được trong giấc mơ này cho thấy, hoạt động vỏ não nhanh, các tế bào thần kinh kích động mạnh, nhiệt độ trong sọ tăng do tăng chuyển hoá, tóm lại là chẳng khác gì lúc thức. Thế nhưng con ngươi của mắt tít lại như đang ngủ, các giác quan không tiếp xúc với bên ngoài, các bắp thịt không căng vì luồng thần kinh vận động bị chặn, các trung khu thần kinh chỉ huy lời nói và cử động bị ức chế.

Trong giai đoạn ngủ chập chờn và hay mộng, những kích thích yếu lại gây ra đáp ứng mạnh. Vì vậy, chỉ cần một bàn tay đặt lên ngực khi nằm ngửa, một cái cúc áo chật, hoặc không khí nhiều CO2 trong một buồng ngủ, thậm chí chỉ cần nằm nghiêng bên trái cũng có thể gây bóng đè với mê hoảng dữ dội. Thường “bóng” chỉ đè những người “yếu bóng vía”, hay ám ảnh vì những điều vu vơ mà thiếu suy xét khoa học, hoặc người khỏe nhưng một lúc nào đó còn một điểm yếu trong tinh thần. Theo Gáo sư Tâm lý học người Pháp Chris, hiện tượng này xảy ra rất phổ biến, khoảng 40% nhân loại đã từng bị bóng đè ít nhất một lần trong đời. Bệnh này thường xuất hiện khi bạn bước vào độ tuổi trưởng thành. Ông cho biết: “Mỗi lần bị bóng đè có thể kéo dài từ vài giây đến vài phút, người bệnh trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, họ có thể vẫn mở mắt nhưng không thể cử động”.

Tr Ma 5Không thể phủ nhận bóng đè là một trải nghiệm rất đáng sợ. Có người khi bị bóng đè cảm thấy như nghe được một giọng nói bí ẩn, có sự hiện diện của một ai đó đứng, ngồi bên cạnh hay cảm giác như bị xô ngã ra khỏi giường. Bóng đè có thể lặp lại vài lần trong một đêm.

Một số người ngại bày tỏ chuyện này vì họ sợ mọi người không tin và cho rằng mình bị tâm thần nhưng nếu liên tục bị bóng đè sẽ gây khủng hoảng tinh thần. Đáng tiếc là mọi người và ngay cả các chuyên gia sức khoẻ cũng chưa nắm rõ về căn bệnh này và hay đưa ra các chẩn đoán thiếu chính xác như là căng thẳng thần kinh, hay thậm chí là tâm thần phân liệt. Nhiều người lại liên hệ đến ma quỷ hay tâm linh. Nhưng thật ra đây chỉ là một tình trạng của não người.

Cảm thụ thần kinh cũng như những tín hiệu chỉ huy các hoạt động cơ thể được truyền dẫn bởi các hóa chất do cơ thể sinh ra. Các hóa chất não bắt đầu phát huy tác dụng trong giai đoạn gọi là REM, tức khoảng 90 phút sau khi ngủ. Trong khi REM diễn ra, hoạt động của não hết sức kích động, và các giấc mơ đạt mức cao trào. Tuy nhiên, các cơ chủ động của cơ thể, từ tay, chân, ngón tay, bất cứ phần cơ nào được kiểm soát khi thức, đều bị tê liệt. Trạng thái này giúp giữ con người nằm yên trong khi não ra sức vẽ vời những kịch bản quái dị nhất. Đó cũng là lý do một số người đôi khi trải qua cảm giác bị bất động khi ngủ, hay khi đã thức giấc rồi nhưng các cơ vẫn trong tình trạng đông cứng, dân gian gọi là “bóng đè”. 9 Bong de 1Có vẻ như cảm giác cực kỳ khó chịu đó ám ảnh không ít người, người thì cho là bị yêu tinh nữ hớp hồn, người thì đổ cho ma quái quay về cố tìm chút dư mộng ái ân ở người còn sống.

Trước đây, cơ chế khiến bắp thịt tê liệt vẫn là điều bí ẩn. Các cuộc nghiên cứu trước đây nghi ngờ một chất truyền dẫn thần kinh gọi là glycine, nhưng tình trạng bất động vẫn diễn ra khi glycine bị ngăn trở. Do đó, các chuyên gia Patricia Brooks và John Peever của Đại học Toronto (Canada) chuyển hướng nghiên cứu. Họ tập trung vào 2 loại thụ quan thần kinh khác nhau ở cơ chủ động, gồm GABAB và GABAA/glycine. Theo đó, tình trạng tê liệt người khi ngủ cần phải có sự góp sức của cả hai thụ quan này. Việc xác định được quá trình hoạt động của các chất truyền dẫn thần kinh hết sức quan trọng đối với những người bị chứng rối loạn giấc ngủ, đặc biệt rối loạn hành vi trong giai đoạn REM. Điều đó có nghĩa bệnh nhân hành động như đang mơ, nói chuyện, đấm đá trong giấc ngủ.

9 Bong de 2Có thể phòng và chống bóng đè

Với những người thường bị bóng đè, dân gian thường có một cách trị, đó là để một con dao ở đầu giường. Đó chỉ là một cách làm cho bệnh nhân yên tâm, loại bỏ các cơn ác mộng đi cùng với hiện tượng bóng đè. Các nhà khoa học cũng đã tìm ra nhiều cách để phòng và trị các cơn bóng đè.  Để đề phòng bóng đè, bạn đừng đọc loại truyện ma quỷ, kiếm hiệp trước khi ngủ. Tư thế nằm ngủ phải thoải mái: nằm nghiêng phải, chân hơi co, tay duỗi, làm cho toàn bộ cơ bắp chùng giãn, đầu không vẹo lệch. Ngoài ra, quần áo phải rộng rãi, buồng ngủ thoáng khí.

Hướng điều trị chủ yếu là nên thay đổi lối sống, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý; tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí,…. đi dã ngoại, pic-nic,… Có thể đi bộ buổi tối, trước khi đi ngủ tắm nước ấm,… giúp cho giấc ngủ sâu. Tóm lại, bóng đè thực ra chỉ là một dạng rối loạn trong hoạt động tâm thần của cơ thể. Chỉ cần duy trì một lối sống tích cực và lành mạnh, bạn sẽ chẳng còn phải lo bóng đè ghé thăm! (theo Việt Long)

Xuân Mai chuyển tiếp

KIẾP NHÂN QUẢ – LUÂN HỒI

Giáo Sư Hazel Denning

LIỆU PHÁP HƯỚNG DẪN

NHỚ LẠI KIẾP TRƯỚC  

Vào một buổi chiều lười biếng ở Sydney, tôi mở tivi và thấy chương trình Oprah Winfrey đang tranh luận về kiếp trước kiếp sau, cuộc tranh luận rất sôi nổi. Đây là một “talk show” của Mỹ. Khách mời là Dr. Hazel Denning, bác sĩ phân tâm học, là một phụ nữ có tuổi, thông minh, ăn nói rất lưu loát và là sáng lập viên của hội Association for Past life and Therapies (Hội Nghiên cứu kiếp trước kiếp sau để ứng dụng vào việc chữa trị). Là một người tiền phong trong lãnh vực này, bà đã đi nhiều nơi trên thế giới thuyết giảng về thuyết luân hồi.

Ngoài tài ăn nói rõ ràng lưu loát về đề tài luân hồi, về vấn đề kiếp trước ảnh hưởng đến kiếp hiện tại, bà còn là một bác sĩ tâm lý trị liệu rất giỏi. Tôi nghĩ công trình nghiên cứu của bà về luân hồi vào khoa tâm lý trị liệu ở Tây phương sẽ là những tài liệu quý báu cho tôi, nên tôi tìm cách hội kiến với bà.

Máy bay hạ cánh xuống một phi trường nhỏ ở miền Nam California. Giáo sư Denning thân hành ra đón tôi. Người nhỏ thó, lưng thẳng đi đứng nhanh nhẹn tuy đã ngoài tám mươi. Bà ung dung lái xe về nhà ở Riverside, nơi sản xuất cam nổi tiếng của Cali. Trong căn phòng làm việc của bà treo đầy bằng cấp, chứng chỉ : hai bằng tiến sĩ, hai bằng thạc sĩ, bằng cấp cử nhân và rất nhiều văn kiện chứng thực bà rất uyên bác về khoa thôi miên và khoa cận tâm lý (Parapsychology).

Trong hai ngày tôi ở lại nhà bà, bà kể cho tôi nghe về công việc của bà và giải thích lý do bà chọn công việc này. Từ hồi nhỏ, giáo sư Denning hay thắc mắc muốn tìm hiểu “tại sao” về việc này việc nọ, tại sao con người phải chịu khổ đau. Bà không tin đó là ý Chúa (God). Bà cho là tin như vậy có vẻ không hợp lý.

Năm ngoài hai mươi tuổi, tình cờ bà được đọc một cuốn sách về luân hồi. Bà vui mừng, “Ôi chao ! Tôi đã tìm được giải đáp cho những thắc mắc của tôi rồi. Tôi quá đổi vui mừng và suy nghĩ: cuối cùng thì tôi cũng tìm được một lời giải hợp lý, có thể lý giải được tất cả những bất công của thế gian”.

Hồi đầu thì bà chưa tin lắm. Bà tìm đọc những tài liệu xưa để xem những thức giả đời trước nghĩ sao về luân hồi, và khám phá ra rằng tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới đều tin luân hồi kể cả Thiên chúa giáo cho đến năm 533 sau Tây lịch, thì một ông vua La Mã và bà hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi nữa. Có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách. Ít người biết biết đến dữ kiện này. Cũng không mấy ai biết chuyện những cha cố ngày xưa như cha Origin và ông thánh Augustin đều tin có luân hồi.

Bà nói “Vậy những người nào nói rằng tin có luân hồi là trái với giáo điều Thiên chúa giáo là không biết những chuyện này”. Bà càng thích thú hơn khi khám phá ra những nhân vật nổi tiếng từ cổ chí kim đều tin có luân hồi, từ Plato, Aristotle, Socrates đến Henry Ford, Gladstone, Thomas Edison, đại tướng Patton và nhiều người khác nữa. Bà áp dụng những hiểu biết về luân hồi vào khoa chữa bệnh tâm thần để tìm hiểu nguyên do sâu xa do đâu mà bệnh nhân dường như sống ở một thế giới khác, hay có nhiều sợ hãi vô lý (phobia).

Tôi nóng lòng muốn biết giáo sư Denning làm sao dung hòa được hai vai trò có vẻ trái ngược, vai trò của một bác sĩ tâm thần và vai trò của một người dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về kiếp trước. Làm sao bà có thể chấp nhận lối giải thích của các bác sĩ tâm lý trị liệu hiện nay dùng chữ nghiệp (karma) để giải thích rằng những gì xảy ra trong đời này đều do nghiệp chướng đương sự đã tạo nên từ nhiều đời trước.
Giáo sư Denning không tin môi trường sống là tác nhân chính ảnh hưởng đến cách hành xử của một người. Bà công nhận hoàn cảnh bao quanh đời sống cũng đóng một vai trò khá quan trọng nhưng không phải là yếu tố chỉ huy. Theo bà thì mục đích của đời sống ở thế gian là để tu tâm hướng thượng. Một người tái sanh ở lại cõi trần là để thanh toán, thành tựu những gì mình làm dang dở trong những kiếp trước. Bà nói có những đứa trẻ sanh ra với một bản tánh yêu đời, đứa khác thì hay cáu giận, tức là mang theo chủng tử của kiếp trước.

Theo bà thì số phận (destiny) của mỗi người không thể thay đổi được những phước báu của cha mẹ hay môi trường chung quanh có thể làm cho đời sống của người ấy thoải mái hơn hay khó khăn hơn.

Vì thế giáo sư Denning quyết định trở nên một nhà thôi miên chuyên nghiệp. Bà muốn dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về sống lại kiếp trước của mình. Bà rất cẩn trọng, tỉ mỉ và trung thực trong công việc này. Bà không tìm cách khống chế tư tưởng của bệnh nhân. Bà nói ngày trước trong khoa thôi miên người ta thường dạy phương pháp gợi ý cho bệnh nhân (post-hypnotic suggestion) dùng những câu như “Không được ăn thức ăn này. Thức ăn này ghê lắm v.v…”. Tôi không dùng phương pháp ấy, trái ngược với nguyên tắc của tôi. Tôi tìm được cách riêng của tôi mà không cần khống chế tâm ý của bệnh nhân. Vì thế tôi muốn dùng cụm từ “đổi đời” (altered state) thay vì hai chữ thôi miên”.

Ở Mỹ những người tìm đến với Dr. Denning gồm đủ mọi thành phần xã hội. Bà dùng phương pháp thông thường trước. Nếu không có kết quả thì bà đưa bệnh nhân trở về kiếp trước để tìm hiểu nguyên nhân. Bệnh nhân của bà gồm đủ mọi hạng người, mục sư có, chuyên viên có, rất nhiều nhà giao, nhiều quân nhân và các thành phần khác.

Bệnh nhân của bà thường ở lứa tuổi ba mươi đến bốn mươi, nhưng có một cô bé chín tuổi xin cha mẹ đến gặp bà để tìm hiểu tại sao cô sợ máu lắm. Mới chín tuổi nhưng cô rất chững chạc. Vừa thiếp đi cô bé thấy kiếp trước của mình là một ông già đang giẫy chết vì bệnh tim. Bỗng dưng cô la lên “Không, tôi không phải chết vì bệnh mà vì tôi quá đau khổ”. Rồi cô bắt đầu kể đến ông già – tức là tiền thân của cô – đưa vợ đi ăn tiệm. Một tên cướp vào tiệm bắn chết nhiều người trong đó có vợ ông. Cô thấy người “vợ” chết trong vũng máu – ấn tượng hãi hùng đó theo thần thức qua đến đời này. Thêm vào đó là mặc cảm tội lỗi đã không cứu được người “vợ” của mình ray rức hành hạ cổ, bà kết luận.

Quan điểm của giáo sư Hazel Denning về vấn đền này rất rõ ràng vì bà chứng kiến hàng ngàn bệnh nhân đã đổi đời, bà đã thấy rõ bao nhiêu thảm cảnh trong nhiều kiếp của họ và bà đã khai triển  riêng lý thuyết của bà.

Cuộc đàm thoại sau đây giữa cô Mackenzie với giáo sư Denning, vì vậy, không những có giá trị về mặt thông tin mà còn rất thú vị và hào hứng.

Vicki Mackenzie : Tại sao lại có hiện tượng tái sanh ?

Hazel Denning : Khi đưa một người trở về kiếp trước và tìm hiểu tại sao đương sự chọn tái sanh vào gia dình này, và mục đích của họ trở lại thế gian để làm gì thì ai cũng có câu trả lời tương tự : “Quả thật tôi không muốn trở lại thế gian chút nào. Ép mình vào cái xác phàm như đi vào tù, ngột ngạt lắm”. Khi tôi hỏi lại : “Vậy tại sao ông/bà lại trở về, có ai bắt mình ở lại đâu ?” thì câu trả lời luôn luôn là : “Vì thế gian là một trường học để rèn luyện nhân phẩm của mình. Muốn trau dồi tâm linh, muốn hướng thượng thì phải trở lại thế gian. Mà thật tình tôi muốn tu tâm nên tôi phải trở lại thế gian này”. Đó là câu trả lời tôi ghi lại.

Vicki Mackenzie: Theo kinh nghiệm của bà thì người ta trở lại thế gian này bao nhiêu lần ?

Hazel Denning: Vô lượng kiếp, cho đến khi họ học hỏi thành tựu được những điều mong muốn. Ngay cả trong đời hiện tại này có người phải mất nhiều năm mới thấy rõ ý nghĩa của những chướng ngại khó khăn xảy ra cho mình. Có một bà khi đến phòng mạch lần đầu tuyên bố rằng “Tôi đến đây muốn hỏi về tình yêu lứa đôi”.

Trả lời thế nào với bà này ? Là bác sĩ chuyên môn về khoa tâm lý, tôi không thể nói bà cứ yêu đi rồi sẽ được yêu. Bà vẫn đến phòng mạch nhưng không thường xuyên. Mãi đến mười tám năm sau bà mới tìm ra “chân lý”. Trong thời gian không gặp mặt, bà có một đời chồng, ly dị, ăn ở với một ông khác, lấy chồng lần thứ hai, rồi cũng ly dị, ăn ở với năm, sáu ông khác nữa cho đến một hôm bà không chịu đựng được cảnh sống một mình nữa và cương quyết đi gặp tôi mỗi ngày cho đến khi nào tìm được nguyên nhân tại sao bà không thể chung thủy với một người. Cuối cùng thì bà thấy kiếp trước bà là con gái của một gia đình giàu có ở Hy Lạp. Khi chừng mười bốn tuổi, cô bé yêu cậu người làm cùng tuổi. Khi biết được, cha cô nổi trận lôi đình đày người yêu của cô ra một hòn đảo và bán cô cho một người đàn ông lớn tuổi. Quá đau buồn uất ức, cô tự tử chết. Trước khi chết, cô nguyện rằng “Tôi thề sẽ không bao giờ, không giờ thương yêu ai nữa”.

Qua bao năm kinh nghiệm với công việc này, tôi thấy tư tưởng hay ý nguyện cuối cùng trước khi chết, nếu là tiêu cực sẽ theo người đó qua kiếp sau. Thí dụ nếu mình chết với lòng giận dữ, với tâm thù hận thì kiếp sau mình phải tu tâm dưỡng tánh để rửa lòng, để xả bỏ những thù hận của kiếp trước.

Trở lại chuyện bà khách. Sau khi biết tiền kiếp của mình, bà gặp được một người chồng tử tế và có hai đứa con. Bà đang hụp lặn trong hạnh phúc mà trước đây bà không thể tưởng tượng có ngày bà có thể được hưởng.

Sau khi chứng kiến câu chuyện bà này, tôi nghiệm rằng có nhiều người không thể một sớm một chiều mà tìm được lời giải. Họ cần phải trải qua nhiều biến cố nữa trước khi thấy cái nghiệp của mình. Và câu chuyện này cũng giúp tôi đi đến kết luận rằng mình không thể tự dối lòng. Cho đến khi mình thấy được cái nhân của đời trước, mình mới có thể giải quyết cái quả của đời này. Nhiều khi phải đi sâu vào nhiều đời trước mới thấy được cái “nhân” chính đang chi phối đời sống hiện tại.

Vicki Mackenzie: Có bao giờ bà chứng minh được những mẫu chuyện tiền thân thật sự xảy ra không ?

Hazel Denning : Có chứ. Tôi vẫn để tâm theo dõi mỗi khi có dịp tốt. Thí dụ trường hợp một thân chủ nhất định không cho các con đi coi buổi trình diễn của gánh xiếc. Bà biết cấm đoán như vậy thật là vô lý nhưng bà không thể làm gì khác hơn. Khi được đưa trở về kiếp trước thì bà thấy chính bà là “con mụ mập” (the fat lady) của một gánh xiếc và bà ghét cay ghét đắng vai trò của mình. Bà nhớ cả tên người đàn bà mập ấy và cả tên thành phố nữa. Có một bệnh nhân khác có mặt hôm đó biết thành phố này. Ông tình nguyện sẽ tìm đến xem thì quả nhiên đầu thế kỷ 20, ở thành phố đó có một bà mập tên đó đã theo đoàn hát xiếc kiếm ăn như lời bà kia tả lại. Trong đời hiện tại bà này cũng mập.
Một bệnh nhân khác nhớ lại kiếp trước bà là một phú thương đàn ông bị chết chìm theo chiếc tàu Titanic. Bà nhớ tên tuổi của người đàn ông này. Về sau tìm xem sổ sách thì quả nhiên người đàn ông ấy là hành khách trên chiếc tàu Titanic. Bà kể khi nhìn thấy tên trong sổ bà rùng mình ớn lạnh ! Ngoài những chứng cớ cụ thể này, những chứng cớ cho thấy những chuyện tiền thân mà các thân chủ tôi nói ra là có thật, và nó rất hợp tình hợp lý với bối cảnh riêng của từng người. Nhờ đó họ có thể đổi đời, có thể thoát được những ray rứt, những sợ hãi vô lý làm xáo trộn đời sống hiện tại của họ.

Vicki Mackenzie : Có ai tỏ ra có mặc cảm tội lỗi khi nhìn thấy những việc xấu họ đã làm trong những đời trước ?

Hazel Denning : Không hẳn như thế sau khi họ hiểu mục đích của sự tái sanh và duyên nghiệp. Tôi giải thích cho họ thấy rằng những chuyện xảy ra trong quá khứ không quan trọng mấy. Quan trọng chăng là những gì mình học hỏi được từ những biến cố ấy, và dường như đây mới là nguyên tắc căn bản.

Có một trường hợp rất lạ lùng. Một bệnh nhân vừa bước vào phòng mạch là ngồi phịch xuống ghế, đấm mạnh hai tay vào thành ghế và la lớn “Tôi ghét Chúa ! Jesus Christ là một kẻ lừa đảo ! Tôi đã cố gắng làm hết mọi thứ, đã đi tìm thầy chuyên môn, đã học hết kinh Thánh mà vẫn không thay đổi gì được cuộc sống của tôi. Tôi khổ quá !” Bà gặp toàn chuyện xui. Rờ tới cái gì thì hỏng cái đó mặc dù bà là một người có khả năng xuất chúng. Sự nghiệp làm ăn bà gây dựng nên tưởng như thành công, cuối cùng cái gì cũng thất bại. Đường chồng con cũng xấu. Tuổi còn trẻ mà trông như một bà già. Bác sĩ nói cơ thể của bà già trước tuổi đến hai chục năm.

Khi được hướng dẫn trở về kiếp trước thì thấy bà là một hồng y trong Tòa Án Dị Giáo (The Inquisition) do giáo hội La Mã Thiên Chúa chủ trì để trị tội những người ngoại đạo. Sự việc này làm đức hồng y (tiền thân của bà) rất đau khổ. Ngài biết trị tội những người ngoại đạo là sai lầm, nhưng đó là việc giáo hội muốn làm. Khi được hỏi tại sao bà trở thành công cụ chính trong Tòa Án Dị Giáo thì bà buột miệng nói rằng “Đó là để cải tổ lại giáo hội vì giáo hội thời ấy quá hủ hóa, và tôi được giao trọng trách này”. Qua những chuyện tương tự, tôi thấy rằng những việc làm khủng khiếp đều có mục đích riêng.

Vicki Mackenzie : Bà có thấy ai chọn trở về gần gũi với những người họ quen biết từ nhiều kiếp trước không ?

Hazel Denning : Có, Nhưng vai vế thì thay đổi. Có người tái sanh với nhau để giải quyết nhiều vấn đề còn dang dở. Có người muốn trở lại để giúp đỡ những người thân. Tôi cho rằng các thánh tử đạo, hay những người chọn cái chết vì chính nghĩa là họ tự nguyện làm như vậy để thức tỉnh lương tri của nhân loại. Cho nên nói rằng nghiệp báo chỉ thể hiện như một sự trừng phạt thì không đúng, cũng có nghiệp dữ, nghiệp lành. Đó là luật nhân quả.

Tôi có quen biết một bà bác sĩ, một người đàn bà rất dễ thương mà lấy một ông chồng dễ ghét nhất trần gian. Khi nào ông cùng mè nheo, gắt gỏng, độc ác mà chính ông không cố tình độc ác. Dần dần, bà chán nản không còn thương chồng nữa. Nhưng không bao giờ bà có ý định ly dị. Một hôm bà đến xin soi căn và thấy rằng bà đã gặp ông này ở một kiếp trước khi ông là một linh hồn lạc lỏng. Bà hứa kiếp sau sẽ lấy ông làm chồng và sẽ giúp ông tìm lại linh hồn mình. Và sau đó thì bà thay đổi thái độ, thật tình yêu thương ông, dịu dàng kiên nhẫn với ông và chỉ một năm sau thì ông cũng đổi tính. Ông đi nhà thờ với bà, ông lái chiếc xe sport màu đỏ rong chơi khắp phố phường. Ông nói năng vui vẻ, hài hước ai cũng thích.

Tôi dùng câu chuyện này để khuyên răn những gia đình có chồng nghiện rượu. Tuy người vợ tha thứ sự nghiện ngập của chồng nhưng tình cảm đối với chồng thì đã sứt mẻ. Tôi nói với họ rằng “Nếu chị thật tình thương yêu và muốn cải hóa chồng thì chị không nên dùng giọng lời gay gắt với chồng mà nên bộc lộ tình thương, ăn nói dịu dàng thì ông sẽ thay đổi”. Có nhiều bà nghe lời và đã thành công.

Vicki Mackenzie : Bà cho biết sau khi chết, hồn có một thời gian nhất định để đi đầu thai không ?

Hazel Denning : Có người tái sanh trong vòng vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính tráng chết ngoài trận mạc. Họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang. Họ muốn nhập xác liền. Có lẽ lý do này giải thích được hiện tượng thiên hạ sinh đẻ nhiều sau những trận chiến tranh. Có nhiều người thì mấy trăm năm sau mới tái sanh. Có nhiều linh hồn từ thời Atlantean Age mà bây giờ mới trở lại trần gian. Có lẽ họ chờ đúng thời cơ để đem những hiểu biết mới giúp cho sự chuyển tiếp qua thời đại mới. (New Age).

Vicki Mackenzie : Có khi nào bà đã gặp những người đã từng sống ở hành tinh khác hay cõi giới khác không ?

Hazel Denning : Thỉnh thoảng cũng có. Rất nhiều người cho rằng hạ giới là hành tinh thấp nhất trên cột luân hồi (the totem pole). Có mấy người nói rằng trước kia họ sống trên một hành tinh khác. Có một ông viết một thứ chữ lạ hoắc rồi dịch lại tiếng Anh. Ông nói hành tinh ấy có một văn hóa khác hẳn. Ông còn nói khi ấy ông hiểu được “nguyên lý đồng thời” – hiện tại, quá khứ và vị lai đều đang thể hiện ở giây phút này. Thật là khó hiểu.

Vicki Mackenzie : Theo như bà nói thì mọi chuyện xảy ra đều có lý do ? Và cuối cùng thì cũng đưa đến sự tốt đẹp ?

Hazel Denning : Đúng thế… Tôi cho rằng con người được sinh ra với một trí tuệ sáng tạo vô bờ mà chúng ta đã ngu muội không thông hiểu, đã phá hoại và lãng quên những khả năng ấy. Thời đại này là thời đại chúng ta có thể trở về với bản năng chân thật của chúng ta.

Cũng giống như những mẫu đối thoại với các vị “gurus” Tây phương khác về luân hồi, buổi nói chuyện với Dr. Denning thật là hứng thú. Những điều tôi học được ở bà cũng như ở nhiều nhà chuyên môn khác về kiếp trước kiếp sau cũng không khác những điều tôi đã được nghe mấy Lạt Ma của phương Đông giảng dạy.

Chi tiết về trường hợp tái sanh có thể khác nhau nhưng chân lý thì chỉ có một, là chân lý mà Lama Yeshe và Lama Zopa đã nói cho chúng tôi nghe trong chiếc lều trên sườn núi của Kopan rằng sau khi chết sẽ có một đời sống khác; rằng đời sống kế tiếp như thế nào là do nghiệp báo của bao đời trước quyết định; rằng trạng thái tâm thần khi hấp hối đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đời sau; rằng người ta thường trở lại sống với những người có nghiệp duyên với chúng ta; rằng những đau khổ của đời này là chính chúng ta tạo ra v.v… Không nên oán ai, đổ lỗi cho ai vì chính mình vẫn luôn luôn làm chủ đời mình.

http://www.pastlifetimes.net/psychic_phone_readings_psychic_research_hazel_denning.htm

Huỳnh Văn Yên post

KHOA NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM (2

NHÀ THÔI MIÊN HỌC

NÓI GÌ VỀ

CÁC NHÀ NGOẠI CẢM

ĐI TÌM MỘ ?

Anh Tuấn cũng cho biết thêm, hiện tại, có 40 trường hợp sau khi áp vong tìm mộ ở trung tâm của anh, thì đã bị “vong nhập” và đã mở trung tâm tìm mộ hoạt động rầm rộ khắp cả nước. Bản thân anh Tuấn không tin bất kỳ một “đệ tử” nào trong việc tìm mộ.

Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân sau khi phân tích hiện tượng áp vong dưới góc độ thôi miên để nhà ngoại cảm này hiểu, thì anh cũng có đôi lời trách cứ. Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn đã tạo ra 40 người có biểu hiện bệnh lý tâm thần. Từ 40 người này, sẽ lại đẻ ra 400, rồi 4.000 người khác. Đến một ngày, có thể sẽ có hàng vạn người coi mình là thánh, là người giời. Đó quả là một tai hại ghê gớm của việc áp vong !

Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, việc nhìn nhận về độ chính xác rất thấp trong tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm của nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn là dũng cảm, đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, anh Quân cho rằng, các nhà ngoại cảm ở Việt Nam tìm mộ chính xác không quá 3%.

Anh Quân không tin sự chính xác của phương pháp tìm kiếm này, song theo anh, vẫn có xác xuất nhỏ tìm đúng. Trường hợp tìm đúng là do khả năng đặc biệt thật sự phát tác trong hoàn cảnh nhất định (ít ỏi) của bộ não nhà ngoại cảm, hoặc do may mắn, do có dữ liệu chính xác phục vụ cho cuộc tìm kiếm mà không nhờ đến khả năng ngoại cảm.

Anh Quân cũng tuyên bố rằng, nếu nhà ngoại cảm nào tìm mộ liệt sĩ đúng 3%, thì anh sẽ dâng cho họ toàn bộ tài sản, danh dự, cả Viện nghiên cứu ứng dụng khoa học thôi miên của anh. Còn nếu họ tìm không đúng 3%, thì anh sẽ cắt lưỡi nhà ngoại cảm. Anh Quân bảo rằng : “Tôi sẽ không lấy tài sản của họ, vì người nghèo sẽ lại dâng tài sản cho họ. Tôi muốn cắt lưỡi để họ không nói dối, lừa đảo người nhẹ dạ cả tin được nữa”.

Kết thúc cuộc gặp gỡ của nhà ngoại cảm và nhà thôi miên, là cuộc nhận thầy – trò. Nhà ngoại cảm Lê Trung Tuấn, người mà hàng vạn người xưng là thầy, cậu, thánh chính thức nhận nhà thôi miên Nguyễn Mạnh Quân làm thầy, theo học thôi miên, để tìm hiểu về cơ thể, về khả năng đặc biệt của mình.

Anh Quân bảo rằng, sau một vài năm theo học thôi miên, hiểu rõ về bộ não, vô thức, cơ thể mình, dù có cho tiền, Lê Trung Tuấn cũng sẽ không đi tìm mộ nữa. Khi đó, anh sẽ hiểu rằng, vong hồn, ma quỷ, tìm mộ thực sự là một trò dị đoan.

“Cô gái vong hành” và những khả năng kỳ dị

Khi tập yoga, K. có thể gập đôi người lại, vắt 2 chân lên cổ mình, đi lại quanh nhà bằng 2 tay, trông chả khác gì dị nhân. Thậm chí, trong tư thế đó, cô chạy lướt đi bằng hai mông. Theo lời kể của K., cô có thể nâng cơ thể mình lơ lửng trên không trung giống như những nhà yoga huyền thoại của Ấn Độ !

Như đã nói ở kỳ trước, cách đây 2 năm, khi về Việt Nam, thấy hiện tượng các trung tâm áp vong mọc lên như nấm sau mưa, người người đi áp vong, nhà nhà đi áp vong, Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân đã thốt lên rằng, chỉ thời gian nữa, sẽ có hàng loạt người phát điên, rồi có khi chết cả làng cả xã. Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân không hoàn toàn tin vào thế giới vong hồn, song cũng không bác bỏ. Tuy nhiên, anh khuyên tất cả mọi người, cần tránh xa chuyện áp vong tìm mộ, giao lưu âm dương, bởi nó quá nguy hiểm. Điều cần thiết lúc này là chờ đợi các nhà khoa học có kết luận cuối cùng về hiện tượng này.

Cảnh báo của Thạc sĩ Quân đã thành sự thật. Mỗi bệnh viện tâm thần đều có con số khá dài bệnh nhân tâm thần có nguyên nhân từ chuyện áp vong. Anh Quân đã từng khuyên một số người không nên đi áp vong, song họ không nghe, đến khi bị hoang tưởng thật, thì lại nhờ anh chữa trị. Anh đã từng bực lên và quát : “Tôi không thể đi dọn rác như thế này được !”. Nói rồi, anh Quân mở máy tính xách tay cho tôi xem để chứng thực lời anh nói. Trong mail của anh có cả trăm lá thư, với những lời lẽ thống thiết nhờ anh cứu mạng. Hầu hết những người nhờ vả anh chữa trị đều từng đi áp vong và hiện đang rơi vào trạng thái hoang tưởng, tâm thần rất nặng. Trong số những lá thư đó, tôi đặc biệt chú ý lá thư đầy đau khổ của Nguyễn Thị K. (xin được giấu tên, địa chỉ cụ thể của nhân vật này).

Sau vài lần liên lạc, tôi cũng gặp được Nguyễn Thị K. Câu chuyện của tôi và K. diễn ra tại một quán café vắng. K. đau khổ vô cùng, còn tôi thì không lạ lùng gì với những hiện tượng như K. K. vốn là một học sinh chuyên toán ở Thanh Hóa, tốt nghiệp Đại học Hà Nội 3 năm trước, hiện đang làm cho một doanh nghiệp nước ngoài tại Hà Nội. Công việc tốt, thu nhập cao, nhưng cô đang đứng trước nguy cơ đánh mất mình. Nguyên do từ chuyện áp vong. Đầu năm nay, gia đình đã đưa K. đến áp vong ở Trung tâm tìm mộ Nam Cát (Nam Đàn, Nghệ An) của “nhà ngoại cảm” Phan Thị Hạnh, để tìm mộ cậu ruột.

Câu chuyện của K. cũng ly kỳ như những người khác kể, mà tôi đã nghe quá nhiều. Rời trung tâm tìm mộ, “vong” vẫn nhập vào K. “Vong” đã dẫn gia đình vào tận Quảng Trị, lên gần đến đỉnh một ngọn núi, rồi chỉ vào một điểm giữa rừng. Gia đình đào sâu xuống lòng đất khoảng 60cm, thì thấy một họp sọ. Ngoài hộp sọ ra, thì không thấy mẩu xương nào nữa. Theo lời K. thì xương đã tan hết. Gia đình không nhìn thấy, nhưng cô thì thấy rõ. Gia đình đã mang cốt liệt sĩ về, an táng tại quê nhà. Tôi hỏi, có đúng đó là mộ của cậu K. không, thì K. lắc đầu không biết, không dám khẳng định, vì chưa đi xét nghiệm ADN. Nhưng với những gì đã xảy ra, thì gia đình K. tin tuyệt đối. K. khẳng định rằng, khi “vong” nhập, cô vừa chạy vừa bay lên đỉnh núi ! Dù chân yếu tay mềm, chẳng lên núi bao giờ, song cô chạy với tốc độ không ai đuổi kịp. Có lúc như lướt trên cành cây !

Nhưng tai họa ở chỗ, tìm mộ xong rồi, vong vẫn không buông tha cô. Có lúc “vong” nhập, cô biến thành người khác, song cũng có lúc cô vẫn là mình, nhưng lại nhìn thấy linh hồn trước mặt. Bình thường thì không sao, nhưng hễ tĩnh tâm, là ma quỷ đủ loại hiện ra trước mắt. Rồi những giọng nói sai khiến, khuyên nhủ, đe dọa. Những âm thanh từ trên cao vọng xuống, đề nghị cô phải lập trung tâm để tìm mộ liệt sĩ! (Đã có khá nhiều người áp vong ở trung tâm tìm mộ Nam Cát, sau đó đã thành “nhà ngoại cảm” và đã lập trung tâm tìm mộ – PV).

Không những bị “vong” nhập thường xuyên, nhìn thấy ma quỷ suốt ngày, mà K. cũng phát sinh rất nhiều khả năng đặc biệt. Cô khẳng định, khi nhìn vào ai đó, cô biết quá khứ, tương lai, tính cách, phẩm chất của người đó. Thậm chí, khi tập trung tư tưởng, cô biến thành người Trung Quốc. Đã có lần, cô bạn học tiếng Trung thử khả năng nói tiếng Trung của K., cô đã nhập tâm và nói chuyện lưu loát. Thậm chí, có những từ khó đến nỗi, người giỏi học vài tháng mới phát âm được, song K. chưa học ngày nào, mà nói chuẩn như người Trung Quốc. Cô bạn sợ quá la toáng lên rồi gọi mọi người vào.

Không dừng lại ở đó, K. còn biến thành một nhà yoga cực giỏi, dù trước đó K. không học yoga ngày nào, cũng không biết môn này học ra sao, học để làm gì. Đêm nào cũng vậy, khi chìm vào giấc ngủ, một luồng khí lạnh bỗng chạy dọc sống lưng, khiến K. giật thót mình, ngồi bật dậy. Lúc đó, K. vẫn nhắm mắt, nhưng lại vô cùng tỉnh táo, nhìn rõ mọi vật. Cô mở cửa, đi ra ban công, rồi bắt đầu ngồi tập yoga một cách vô thức. Cô vận khí, dẫn khí đi khắp cơ thể. Những luồng khí chạy trong người, dọc cánh tay to như quả trứng lăn dưới da rồi thoát ra ngoài qua các huyệt đạo.

Khi tập yoga, K. có thể gập đôi người lại, vắt 2 chân lên cổ mình, đi lại quanh nhà bằng 2 tay, trông chả khác gì dị nhân. Thậm chí, trong tư thế đó, cô chạy lướt đi bằng hai mông. Theo lời kể của K., cô có thể nâng cơ thể mình lơ lửng trên không trung giống như những nhà yoga huyền thoại của Ấn Độ ! Tôi đề nghị K. biểu diễn, song cô không đồng ý, vì cô rất sợ rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh đó. K. để nghị tôi xác nhận chuyện này bằng cách đến Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người để hỏi, vì cô đã biểu diễn nhiều lần ở đó. Luyện yoga chính là luyện khí và để tập được bài dẫn khí theo ý muốn như K., thì chỉ có những nhà yoga hoặc người tập khí công cực giỏi, đã tu luyện nhiều năm mới làm được.

Ở Việt Nam, có lẽ chỉ có nhà yoga huyền thoại Nguyễn Thế Trường mới luyện được đến mức đó. Nhưng để bay lơ lửng trên không trung như lời K. kể, thì ở Việt Nam chưa có ai làm được.

Những câu chuyện rùng rợn đó cứ ám ảnh K., một tiếng nói từ trên cao bắt cô phải tham gia đi tìm mộ liệt sĩ, nên cô không thể từ chối. Thế rồi, cách đây 3 tháng, K. đã tham gia Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, cùng các nhà ngoại cảm đi tìm mộ liệt sĩ. Mặc dù đầu óc mụ mị, bị “ma quỷ” sai khiến, song K. là người có trình độ đại học, tiếp thu nền tư tưởng khoa học thực nghiệm của phương Tây (K. học chuyên ngành tiếng Anh), nên cô không dễ dàng tin vào chuyện ma quỷ. Sau 2 tháng làm việc ở Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, lang thang đi tìm mộ liệt sĩ khắp nơi, K. nhận thấy có nhiều điểm rất đáng nghi, phi logic và rất khó hiểu.

Thế giới tâm linh đầy mâu thuẫn và thực sự chưa thuyết phục cô. K. nghi ngờ sự chính xác của việc tìm mộ bằng ngoại cảm, nên cô đã không tham gia tìm kiếm mộ liệt sĩ nữa. Cho đến lúc này, K. vẫn không dám bác bỏ thế giới tâm linh, nhưng dù suốt ngày nhìn thấy ma quỷ, K. vẫn không tin có ma quỷ thực sự. K. hiện đang rơi vào một trạng thái vô cùng đau khổ, không có lối thoát. Tôi đã giải thích rất nhiều với K., mong K. thoát ra khỏi vòng kim cô của ma quỷ, thần thánh. Nhiều điều K. công nhận, tin tôi, song còn một số phân tích, giải thích của tôi, của các nhà khoa học, K. vẫn chưa hài lòng. K. cũng đã săn lùng, đọc nhiều tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài nhưng K. vẫn chưa thỏa mãn. Vì chưa thỏa mãn với một điểm lý giải nào đó của khoa học, hoặc khoa học chưa giải mã được thắc mắc của K., thì K. không thể dứt ra khỏi các vong hồn, ma quỷ.

Hàng ngày, hàng đêm, K. phải chiến đấu không ngừng nghỉ với thế giới ma quỷ. Lúc đến cơ quan, cô làm việc hùng hục, không cho đầu óc được thảnh thơi, tránh để ma quỷ xâm nhập. Những lúc hết việc làm, cô gọi điện nói chuyện với bạn bè, đi gặp gỡ người nọ, người kia. Nếu để đầu óc nghỉ ngơi, hoặc thư giãn, lập tức vong hồn, ma quỷ hiện ra trước mắt, rồi những âm thanh từ cao xa vọng lại. Vì phải căng thẳng chiến đấu với ma quỷ, nên cô rất mệt, ốm liên tục. Nhưng ban ngày bận rộn còn chống lại được “ma quỷ”, chứ ban đêm, chìm vào giấc ngủ, chỉ được một lát, cô lại bật dậy như một hồn ma, ngồi luyện yoga ở ban công nhà mình. K. biết mình rơi vào trạng thái của người bị “tẩu hỏa nhập ma”, đã bị tâm thần, hoang tưởng nặng và không ngại ngần đến bệnh viện tâm thần điều trị. Tuy nhiên, sau 2 tháng điều trị, K. lại rơi vào trạng thái quái gở. Vậy là, thời gian điều trị tại bệnh viện tâm thần đã không mang lại kết quả. K. đã gọi điện, đã viết mail cho thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân, coi anh là điểm tựa duy nhất lúc này để cứu mình khỏi cơ mê muội. Tuy nhiên, vì anh Quân quá bận, chưa thể gặp được. Anh hẹn lần lữa đôi lần, K. buồn rầu không dám nhờ anh Quân nữa. K. đặt niềm tin vào tôi, nhờ tôi giúp đỡ gặp anh Quân, để mong anh gỡ cái thứ ma quỷ quái gở ra khỏi đầu óc cô, để cô được trở lại làm người bình thường.

Quái gở chuyện người đàn bà ngoại tình với “ma”

Thế là, cứ đêm xuống, khi anh chồng ngủ, con “ma” lại chui qua khe cửa vào nhà, lên giường, làm tình với chị H. Nhiều hôm, con “ma” vào phòng sớm quá, chị còn bảo nó nấp sau cánh cửa, chờ anh chồng ngủ say đã rồi hãy lên giường.

Đem chuyện gặp gỡ cô gái Nguyễn Thị K. bị ma quỷ hành hạ kể với Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân, anh Quân bảo rằng, những chuyện đại loại như thế rất nhiều. Anh Quân khẳng định rằng, K. đã rơi vào trạng thái của người bị tâm thần, bị đủ các loại ảo giác, ảo thanh, ảo vọng, ảo thị, còn gọi tâm thần phân liệt.

Theo anh Quân, bộ não gồm có phần ý thức và vô thức. Ý thức điều khiển và bảo vệ cơ thể bằng những “cầu chì”. Hiện tượng mộng du, bóng đè chính là chiếc “cầu chì” nào đó bị lỗi. Khi những “cầu chì” bảo vệ cơ thể bị lỗi, thì cơ thể sẽ bị loạn, ý thức và vô thức hoạt động lẫn lộn, khiến con người ở trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, còn gọi là “tẩu hỏa nhập ma”. Để điều trị những bệnh nhân này, phải tìm được nguyên nhân, gỡ bỏ ám thị, sửa “cầu chì”. Bệnh viện tâm thần có thể điều trị được những ca bệnh kiểu này, nhưng khó triệt để. Phương pháp thôi miên cũng có thể tìm ra nguyên nhân và điều trị tận gốc. Đây là phương pháp điều trị rất thịnh hành ở châu Âu.

Theo anh Quân, hiện tại, những chuyện quái gở kiểu như yêu “vong”, làm tình với “ma” diễn ra rất nhiều. Anh Quân đang phải điều trị cho khá nhiều chị em bị hiện tượng này sau khi đi áp vong về. Trong số những phụ nữ bị yêu đương và làm tình với “ma” được anh Quân điều trị, có một câu chuyện cười ra nước mắt mà tôi không thể tưởng tượng được. Chị Cao Thị H. đã có chồng và một con trai. Chị H. làm việc cho một ngân hàng, còn anh chồng là kỹ sư xây dựng. Nhà cửa ở Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng khá sung túc. Cuối năm ngoái, gia đình tổ chức tìm mộ liệt sĩ, nên chị H. có nhiệm vụ đi cùng để cho vong nhập. “Vong” cũng nhập vào chị H., và gia đình cũng đào một ngôi mộ vô danh về thờ. Chẳng biết rõ hài cốt đó có đúng không, vì gia đình không xét nghiệm ADN.

Nhưng sau khi tìm mộ về, chị H. phát lộ nhiều khả năng đặc biệt, có thể xem bói, gặp gỡ, trò chuyện với người âm thường xuyên. Khả năng của chị khiến anh chồng là kỹ sư, vốn không tin ma quỷ, cũng phải tin sái cổ. Nhưng khốn nỗi, một con “ma” đàn ông đã cướp mất người vợ yêu quý từ tay anh. Nhiều đêm, khi hai vợ chồng đóng cửa, tắt đèn, chuẩn bị ái ân, thì chị lại đẩy chồng ra, rồi ngồi khóc. Chồng gặng hỏi nhiều quá, thì chị buộc phải kể thật rằng, có con “ma” cứ đứng ở cạnh giường chằm chằm nhìn vợ chồng chị, khiến chị không thể chiều chồng được. Anh chồng không thể tin được chuyện này vì đó là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Thế nhưng, khốn nỗi, một thời gian sau, chị H. lại yêu “vong hồn” kia thật. Thế là, cứ đêm xuống, khi anh chồng ngủ, con “ma” lại chui qua khe cửa vào nhà, lên giường, làm tình với chị H. Nhiều hôm, con “ma” vào phòng sớm quá, chị còn bảo nó nấp sau cánh cửa, chờ anh chồng ngủ say đã rồi hãy lên giường. Nhiều lần anh chồng không biết, nhưng lần nào chị H. sung quá, rên la ầm ĩ, thậm chí đòi nhiều tư thế khác nhau, thì anh chồng tỉnh dậy và… bắt quả tang. Cuối cùng, chị H. đành phải khai thật, là đã yêu một con “ma” và đêm nào cũng làm tình với “ma” ngay trên giường của hai vợ chồng.

Hai vợ chồng không còn ái ân gì nữa. Những đêm sau đó, anh chồng cầm dao mà đành bất lực nhìn vợ mình “thác loạn” với “người âm”. Hai vợ chồng đã gặp Thạc sĩ thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân để điều trị. Anh Quân hiểu rõ được bản chất của căn bệnh và sau vài buổi điều trị, con “ma” đã biến mất khỏi cuộc đời chị H. Theo anh Quân, con “ma” đó chỉ là trí tưởng tượng, là thứ mà vô thức của chị H. vẽ ra. Tuy nhiên, hình ảnh đó rõ ràng hơn nhiều so với những giấc mơ ướt át mà người bình thường hay gặp.

Theo anh Quân, hầu hết những hiện tượng quái gở liên quan đến ma quỷ, vong hồn, thần thánh đều là biểu hiện của bệnh tâm thần, cần phải điều trị khẩn cấp. Nếu không điều trị ngay, bệnh tâm thần sẽ phát ngày một nặng, và khi lý trí không làm chủ được nữa, vô thức xâm chiếm, lãnh đạo cơ thể, thì người đó đã biến thành tâm thần hoàn toàn. Chuyện bị tâm thần, vong nhập thực ra rất đơn giản, chỉ là ám thị tự kỷ mà thôi. Đôi khi, một câu nói đơn giản, có thể giết chết một mạng người là vì vậy. Ông cha ta có câu “lời nói đọi máu” quả không sai. Khổng Minh chỉ dùng miệng lưỡi, mà Vương Lãng hộc máu chết tươi.

Kết lại vụ việc này, Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân kể một câu chuyện có thật mà anh đã tham gia điều trị. Có một nhà khoa học trong nước sang Tây Tạng nghiên cứu. Một pháp sư gặp ông và bảo : Đúng 101 ngày sau ông sẽ chết ! Thượng đế chỉ cho ông làm việc 100 ngày nữa thôi, nên ông cố gắng hoàn thành mọi việc đi. Không hiểu lời nói của vị pháp sư kia ghê gớm như thế nào, mà nhà khoa học này mất hết cả lý trí. Ông đã hoàn thành nốt vài công việc, rồi dặn dò con cháu chuyện hậu sự.

Đến ngày thứ 90 thì ông không ăn uống, không làm được việc gì nữa. Con cháu đưa đi tất cả các bệnh viện, gặp các bác sĩ đầu ngành, song không tìm ra bệnh gì. Đến ngày thứ 99 thì cơ thể không tiếp nhận dịch truyền nữa. Bệnh viện đã bó tay, đề nghị gia đình chuẩn bị hậu sự. Đúng lúc đó, một người con đã nhờ vả anh Quân. Theo lời kể của gia đình, thì ông đã bị một pháp sư Tây Tạng yểm bùa, nên chỉ sống được 101 ngày. Như vậy, chỉ còn 2 ngày nữa, ông sẽ rời cõi trần. Bác sĩ thì không tin có chuyện yểm bùa, nhưng lại không tìm ra nguyên nhân gây bệnh.

Nhưng với những chuyên gia thôi miên, thì hiện tượng này gọi là hiệu ứng NOCEBO. Anh Quân đã dùng phương pháp thôi miên sâu và duy trì giấc ngủ sâu của nhà khoa học này suốt 3 ngày, từ ngày thứ 99 đến ngày 102. Khi ra khỏi trạng thái thôi miên, câu đầu tiên mà nhà khoa học hỏi là ngày thứ bao nhiêu ? Khi biết đã sống đến ngày 102, ông liền bật dậy đi lại và bảo : “Thế là ta không chết được rồi !”. Mấy năm nay, ông vẫn sống khỏe mạnh và không bao giờ tin vào những câu nói đầy sự ám ảnh như thế nữa. Câu chuyện của Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân đầy vẻ huyền hoặc, nhưng nó là hiện tượng có thật, thậm chí là phổ biến. Chuyện người dân đổ xô gặp lang băm chữa bệnh kiểu quái gở, dị đoan, kéo nhau đến khu vườn ngồi chữa bệnh, rồi chuyện đi cầu thai khiến cái bụng bỗng to tướng là điều có thật. Đó là sự ám thị quá nặng nề. Một xã hội lành mạnh, phát triển, thì con người phải tin vào khoa học. Nếu con người cứ chìm đắm vào chuyện ma quỷ, thì sẽ đến một ngày, con người sẽ là nô lệ của cái thế giới vô hình hư ảo.

Nguyễn Thị Mỹ Nhàn post

18:00 ngày 21/5/2011 : BÁO ĐỘNG TẬN THẾ

PHƯƠNG TÂY RÚNG ĐỘNG

TIN TẬN THẾ VÀO LÚC

18:00 NGÀY 21/5/2011

Từ ngày 20/5 các báo mạng trong và ngoài nước đều có những tựa bài giật gân “PHƯƠNG TÂY RÚNG ĐỘNG VÌ “NGÀY TẬN THẾ” 21/5/2011” mà bài viết này đã post trước giờ báo động. Một số ít người theo Kitô giáo cho rằng, “Ngày Tận Thế” (The Rapture) sẽ diễn ra vào khoảng 6 giờ chiều thứ Bảy ngày 21/5/2011.

Xưa nay người ta thường quan niệm rằng Ngày Tận Thế, còn được gọi là “Ngày Phán xét” (Judgment Day) là thời điểm mà những người được Chúa lựa chọn sẽ lên thiên đường, trong khi những kẻ còn lại sẽ phải đối mặt với các trận động đất và các vụ hỏa hoạn xảy ra trong ngày.

“Thử thách dành cho những người không theo Kitô giáo có thể sẽ kéo dài trong vòng sáu tháng, nhưng đến ngày 21/10/2010, họ đều không còn tồn tại cả“, lời tiên tri nói. Tuy nhiên, một học giả Kitô giáo cho rằng, lời tiên tri đó hoàn toàn không chính xác.

“Không ai biết chính xác khi nào sẽ xảy ra những điều này” – ông Steve Wohlberg, tác giả của hơn 20 cuốn sách về Ngày Tận Thế nhận định – “Chúng tôi đang tìm hiểu mọi thảm họa và những gì sẽ xảy ra trên hành tinh này. Điều này đang tạo ra một xu hướng có sự quan tâm đặc biệt đến lời tiên tri trong Kinh Thánh. Trong tâm trí tôi, ông Harold Camping – trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo –  chỉ có một tính toán phù hợp với tiên đoán của Chúa Trời khi Ngày Phán Xét đến”.

Trong khi trên khắp đất Mỹ, một số người đang dành hầu hết thời gian còn lại để tận hưởng cuộc sống trước Ngày Tận Thế thì tại Fayetteville, Bắc Carolina (Mỹ), Hiệp hội nhân văn dự định sẽ tổ chức một lễ phản đối quan điểm này trong vòng hai ngày. Cụ thể, sẽ có một bữa tiệc vào thứ Bảy và một buổi hòa nhạc vào ngày Chủ nhật, với quan điểm rằng, sự vui vẻ trong ngày Chủ nhật có thể ngăn chặn một số thảm họa tự nhiên.

Ngày Tận Thế là một khái niệm mới mẻ trong các khóa học về đức tin Kitô giáo – thứ chỉ xuất hiện lần đầu trong chương trình giảng đạo vào thế kỷ thứ 19. Tuy nhiên, ngày nay, đây lại được xem là công việc của một giáo sĩ hiện đại.

Trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo Harold Camping (89 tuổi) đã chỉ ra ngày này bằng cách cộng các con số trong Kinh Thánh. Trước đó, ông đã từng tuyên bố rõ ràng rằng, thế giới sẽ biến mất vào năm 1994, nhưng sau đó ông đã nói lời xin lỗi và đổ lỗi cho các sai sót trong toán học.

Những môn đệ của ông đã truyền bá khắp nước Mỹ lời cảnh báo rằng “Ngày Phán Xét là 21/5/2011 – Kinh Thánh bảo đảm điều đó”. Hầu hết những tín đồ Kitô đều tin lời tiên tri của ông Camping được truyền đi từ Oakland, California (Mỹ).

Ông Camping – một kỹ sư dân dụng, từng điều hành một công ty xây dựng riêng – đã lên kế hoạch trải qua ngày này cùng với người vợ ở Alameda thuộc miền Bắc California, và xem ngày tận thế xảy đến trên truyền hình. “Tôi có lẽ sẽ cố gắng chứng kiến mọi thứ qua TV hoặc đài phát thanh hay một cái gì đó”, ông nói.

Dự báo này đã được công bố công khai trên khắp nước Mỹ“, ông Chris McCann, người làm việc cùng với một nhóm tuyên truyền cho biết. Ông McCann cũng tiết lộ, mình đang lên kế hoạch trải qua ngày thứ Bảy cùng với gia đình, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Những người cùng tư tưởng với ông đã gặp nhau lần cuối cùng vào hôm thứ Hai vừa qua. “Chúng tôi đã có một bữa ăn trưa cuối cùng với nhau và tất cả mọi người đều nói lời tạm biệt”, ông nói.

Tuy nhiên, niềm tin về thuyết Ngày Tận Thế – tin rằng Chúa sẽ mang đức tin vào giáo chủ thiên đường trước khi trái đất ngừng quay – thậm chí còn bị chia rẽ giữa các tín đồ Kitô giáo. Hầu hết đều không tin vào điều đó, một số đang tích cực chống lại nó bởi họ cảm thấy điều đó quá điên rồ.

Thuyết Ngày Tận Thế thường bị những người không thuộc nhóm đức tin chế giễu trên các diễn đàn công cộng. Một trang Facebook anti sự kiện này đã được hơn 10.000 cư dân mạng hưởng ứng. Những người tham gia nhóm đã viết những bình luận như : “Khi tất cả mọi người biến mất và không tìm thấy Chúa Trời, chúng ta cần phải chọn một vài thiết bị âm thanh ngọt ngào và có thể một số nội thất mới cho biệt thự nơi chúng ta sẽ ngồi xổm”.

Jerry Jenkins, đồng tác giả với Tim LaHaye trong bộ tiểu thuyết ngày tận thế “Còn Lại Phía Sau” – cuốn sách đã bán được hàng triệu bản trên toàn thế giới – cũng là một trong số những người phản đối lời tiên tri trên. “Là một tín hữu, tôi đã là một người lập dị với hầu hết mọi người, do đó, tôi cho rằng việc ai đó đã chọn ra một ngày và làm cho mọi người bị kích động tại một thời điểm nhất định chỉ làm cho chúng ta có cái nhìn tồi tệ hơn mà thôi”, ông Jenkins, 61 tuổi, nói.

Tuy nhiên, bà Barbara Rossing, một giáo sư ngành Tân Ứơc thuộc Trường Thần học Lutheran tại Chicago lại cho rằng ngành công nghiệp ăn theo tiên đoán trong các cuốn sách của Jenkins đã thu về nhiều lợi nhuận. Bà đã minh hoạ cho nhận định của mình bằng việc mô tả lại hàng loạt trò chơi video, trò chơi hội đồng và sách ăn theo, đồng thời nói “Nó rất cuốn hút mọi người”.

Thật vậy, theo tờ khai thuế của Tổ chức phi lợi nhuận Family Radio, họ đã quyên góp được hơn 100 triệu USD trong bảy năm qua. Tổ chức này sở hữu 66 đài phát thanh trên toàn thế giới và gần đây có hàng triệu người tham gia vào chiến dịch quảng bá quốc tế.

Khi được hỏi nhà thờ sẽ làm gì với số tiền còn lại khi thế giới kết thúc, ông Camping đã nói với tờ Contra Costa Times “Khi Ngày Tận Thế đến, nếu ai đó là một tỷ phú, họ sẽ mang tiền theo mình ư ?… Tiền không phải là tất cả. Đó là một phương tiện để truyền bá phán xét của Chúa”.

Tuy vậy, khi các tín hữu chuẩn bị cho cái mà họ tin là ngày cuối cùng trên trái đất, nhiều người vô thần sẽ vui vẻ với các phép thoái dần mà họ dự đoán. Tại Tacoma, Washington, những người theo thuyết vô thần đã tổ chức một bữa tiệc cho đêm thứ Bảy với biểu ngữ “đếm ngược để quay lại”. Họ giả định rằng ông Camping và Family Radio sẽ thay đổi câu chuyện của mình nếu Ngày Phán Xét không đến. Ít nhất 100 người sẽ tham dự bữa tiệc này.

Sam Mulvey, 33 tuổi, một người tổ chức sự kiện và nhà sản xuất chương trình phát thanh vô thần hàng tuần ở Tacoma tuyên bố : “Nếu thế giới vẫn còn tồn tại sau ngày mai, Family Radio sẽ phải nói điều gì đó.”

Nhưng đối với một số người, Ngày Tận Thế không phải là chuyện đùa. Tại Harrison, New Jersey, John Ramsey, 25 tuổi, đã nghỉ việc để cùng vợ, Marcia Paladines, truyền bá thế giới. Marcia Paladines đang mang thai và sẽ sinh em bé vào ngày 27/5 tới. Paladines đã khóc khi nói với tờ The Huffington Post: “Đức Chúa lòng lành. Tôi đã cầu nguyện Người rủ lòng thương cho con tôi. Nhưng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Nếu tôi ở đây vào ngày 21/5/2011, tôi sẽ gánh chịu hậu quả từ cơn thịnh nộ của Chúa”.

Phương Mai (Theo Dailymail)

ĐỌC THÊM :

Thế giới sẽ diệt vong vào 6h chiều 21/5/2011 ?

Thế giới sẽ diệt vong vào 6h chiều 21/5/2011 theo giờ Anh (tức khoảng 1h sáng 22/5/2011 theo giờ Hà Nội). Đó là tuyên bố của ông Harold Camping – trưởng nhóm nghiên cứu Thiên Chúa giáo có tên là “Family Radio“, người tự nhận mình đã tạo ra một phương trình toán học có thể giải mã được lời tiên tri bí ẩn trong Kinh Thánh.

Ông Camping, 89 tuổi, đã loan tin về Ngày Tận thế trên khắp thế giới qua mạng lưới gồm 66 đài phát thanh và mạng tin trên mạng. Trước đó, ông Camping đã từng viết một cuốn sách đặt tên là “1994”, trong đó ông này đã dự đoán sai ngày tận thế của thế giới trong năm đó. Ông Camping sau đó đã lên tiếng xin lỗi vì tính toán sai phương trình toán học dẫn đến dự báo sai ngày tận thế.

Theo lời ông Camping, Ngày Tận thế được cho là thời điểm Chúa sẽ chọn những bề tôi trung thành lên thiên đường. Những người còn lại tất cả đều phải chết vì động đất hoặc hỏa hoạn.

– “Chúng tôi biết được từ Kinh Thánh rằng, Chúa có kế hoạch cứu khoảng 200 triệu người. Trong ngày đầu tiên của Ngày Phán xét  – 21/5/2011, những người này sẽ được đưa lên thiên đường bởi vì Chúa xót thương họ,” ông Camping cho biết. Cũng theo ông Camping, sẽ có một khoảng thời gian “thử thách” cho những người không tin vào Chúa. Thời gian đó kéo dài khoảng 6 tháng. Như vậy, đến ngày 21/10/2011, tất cả những người không được Chúa cứu rỗi thì đều sẽ phải chết.

Ông Camping đã tính toán ra Ngày Tận thế dựa vào một chi tiết trong Sách Sáng Thế (quyển đầu của kinh Cựu ước), trong đó Chúa nói với Noah : “7 ngày từ thời điểm này trở đi, ta sẽ gửi mưa xuống trái đất trong 40 ngày 40 đêm và ta sẽ xóa sạch mọi sinh vật sống trên trái đất mà ta đã từng tạo ra.”

Khi Chúa nói đến 7 ngày thì có nghĩa là cả 7 ngày và 7 ngàn năm bởi vì “một ngày trên Trời là một nghìn năm dưới hạ giới. Vì thế, một nghìn năm chính là một ngày.” Mưa lũ bắt đầu xảy ra từ năm 4990 trước Công nguyên. 7 nghìn năm sau là vào năm 2011. (Hãy nhớ là không có năm 0.)

Ngày Tận thế 21/5/2011 cũng được ông Camping tính toán dựa trên ý nghĩa của các con số giữa thời điểm Chúa bị đóng đinh và ngày 21/5/2011. Có 722.500 ngày giữa hai ngày trên. 722.500 là một con số có ý nghĩa bởi nó được tạo thành từ những con số có ý nghĩa 5x10x17x5x10x17. Số 5 có nghĩa là sự chuộc lỗi của loài người hay là sự cứu thế; số 10 đại diện cho sự hoàn thành và số 17 có ý nghĩa là thiên đường. Những con số trên cho biết, ngày 21/5/2011 sẽ là ngày con người chuộc lỗi và lên thiên đường. Những con số 5, 10, 17 được gấp đôi lên 2 lần để tăng phần ý nghĩa.

Tuy nhiên, những con số trên được tính toàn hoàn toàn chỉ dựa vào ông Camping và những môn đệ của ông này. Những người đó đã sử dụng nhiều thập kỷ để nghiên cứu các thông điệp được mã hóa trong Kinh Thánh.

Ông Camping rất tin tưởng vào tính toán của mình dù đã có lần ông tính sai Ngày tận thế vào năm 1994. Ông này cũng những người tin ông đã đổ hàng triệu USD vào các hoạt động nhằm tuyên truyền về Ngày Tận Thế. “Ngày Phán xét sẽ đến vào ngày 21/5/2011. Kinh Thánh bảo đảm điều đó !”

“Chúng tôi biết chắc chắn và không hề mảy may nghi ngờ về việc Ngày Tận thế sẽ đến”, ông Camping đã nói như vậy. Theo lời ông này, sẽ xảy ra một trận động đất khủng khiếp, kinh hoàng như trận động đất ở Nhật Bản vừa rồi.

Ông Camping cho biết, ngày hôm nay, ông sẽ ở nhà cùng với vợ ở Alameda, phía bắc California để theo dõi Ngày Tận thế đến qua đài truyền hình. “Tôi rất háo hức mong đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra ở bên kia thế giới khi Ngày Tận thế diễn ra,” ông Camping đã nói như vậy với hang tin Reuters.

Có vẻ có khá nhiều người tin lời dự báo Ngày Tận thế của ông Camping, cả ở Mỹ và ở nước ngoài, trong đó có Trung Đông. Mặc dù có khá nhiều người tin vào Ngày Tận thế nhưng hầu hết mọi người đều cho những tính toán của ông Camping là vớ vẩn, vô căn cứ.

Tiệc hậu Ngày Tận thế

Một số người không tin vào những tính toán của Camping đã quyết định tổ chức một bữa tiệc gọi là Tiệc hậu Ngày Tận thế. Bữa tiệc kéo dài hai ngày sẽ diễn ra ở Fayetteville, Bắc Carolina.

“Mặc dù hầu hết người dân thế giới đều hiểu đó là những tính toán ngớ ngẩn nhưng ngày hôm nay cũng là cơ hội lớn để chúng ta nói đến những niềm tin mù quáng mà một số người quá mộ đạo dựng lên đồng thời tuyên truyền để mọi người hiểu cần phải tin vào những gì có lý lẽ,” một người trong nhóm những người vô thần nói trên cho biết.

Những người vô thần ở Tacoma, Washington, thì đang hướng tới một bữa tiệc “đếm ngược”. Ít nhất 100 người sẽ dự bữa tiệc này và chờ đợi đến thời điểm mà ông Camping gọi là Ngày Tận thế. Những người này chờ đợi xem ông Camping và nhóm của ông sẽ thay đổi câu chuyện như thế nào nếu Ngày Phán xét không xảy ra. Các sự kiện tương tự cũng diễn ra ở Houston, Florida và California.

Trong khi đó, những người vô thần khác lại có cách tiếp cận thực tế hơn khi tận dụng “Ngày Tận thế” để kiếm lời. Ở New Hampshire, Bart Centre đã nhận chăm sóc những vật nuôi không được đi theo chủ lên thiên đường. Centre đã có hơn 250 khách hàng và họ phải trả cho mỗi con vật nuôi 135 USD.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

HỒN MA CÒN VẤT VƯỠNG

NHỮNG BỨC ẢNH MA

NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

1/. Cô gái ngồi trên mộ

Năm 1991, bức ảnh “Cô gái ngồi trên mộ” xuất hiện hàng loạt trên báo chí Mỹ trong đó có cả những tờ báo uy tín Chicago Sun – Times và National Examiner, như minh chứng khẳng định sự tồn tại kỳ bí của một thế giới tâm linh siêu thực.

Bức ảnh đen trắng được chụp vào ngày 10/8/1991 trong chuyến thực nghiệm của một nhóm các hội viên GRS tại khu nghĩa trang Bachelor”s Grove. Jude Huff-Felz – tác giả bức ảnh – có lẽ là người duy nhất trong đoàn chụp được những tấm hình hiếm hoi, bởi tất cả các dụng cụ và thiết bị mang theo ngày hôm đó đều đột nhiên dở chứng một cách khó hiểu.

“Cô gái ngồi trên mộ” bất ngờ lọt vào ống kính, đó là một phụ nữ trẻ có khuôn mặt nhợt nhạt và dáng điệu ủ rũ. Thứ trang phục cô khoác trên mình đã thuộc hàng lỗi mốt cách đó hàng chục năm. Và chi tiết khiến người ta “sởn da gà” nhất là cả thân hình cô gái đôi chỗ cứ trong suốt như pha lê.

2/. Gương mặt trên cửa sổ

Chồng của người phụ nữ trong ảnh đã chụp tấm hình này trong một buổi chiều nắng gắt với loại phim in bình thường. Hôm đó là ngày đầu tiên họ chuyển tới căn hộ mới ở Chicago, bang Illinois. Đằng sau cửa sổ, bên trái hiện rõ khuôn mặt của một bà lão vấn tóc, ngồi bên cạnh là chú chó bull, nhưng hai vợ chồng kia thì kiên quyết khẳng định : trong nhà không có một ai vào thời điểm ấy.

3/. Bóng ma trong rừng

Người ta không biết nhiều sự kiện liên quan đến tấm ảnh này, chỉ trừ một chi tiết duy nhất : cả hai nhân vật có mặt trong bức hình đều đã qua đời. Có thể nhìn rõ mồn một bên cạnh gốc cây cái dáng hình đùng đục như sương mù không biết có thể xác định là gì.

4/. Cậu bé trên thảm cỏ

Một phụ nữ tên là Jackie Rhame ở Florian, Alabama đã túm được khoảnh khắc này trong chuyến thăm Công viên Giải trí Six Flags Great America thuộc thành phố Arlington, Texas. Lúc đó trời đang mưa lất phất, nhiều sương mù, nhưng chiếc camera C-126 vẫn ghi lại khá rõ nét hình ảnh một cậu bé con mặc áo len đỏ, với chiếc cổ áo sơ-mi trắng thò ra ngoài.

5/. Bóng đỏ bên bờ suối

Chủ nhân tấm hình ghê rợn này khẳng định : vào thời điểm bấm máy không hề có ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào ống kính, do đó không thể xảy ra hiệu ứng lóe sáng thấu kính để tạo nên bóng đỏ được. Vả lại, cái bóng hiển hiện ngay chính giữa bức ảnh, dáng dấp như một hình người. Bức ảnh được chụp bên dòng suối trong một khu rừng bảo tồn của quốc gia.

6/. Đôi tình nhân bên mộ

Tháng 11/1982, cô Sahah ở thành phố Chicago, Illinois đã chụp được bức ảnh này bằng máy SX-70 ngay tại phần mộ của mẹ cô – đã qua đời vào năm 1934 ở tuổi 83. Vào thời điểm này có lẽ người ta còn chưa một lần nghe tới cụm từ “kỹ thuật ghép ảnh”, vả chăng, máy ảnh SX-70 cho “ra lò” tấm ảnh nguyên gốc này 60 giây ngay sau khi chụp.

Trong màn hư ảo vẫn thấy rõ từng chi tiết của cặp tình nhân “ma”: cô gái trẻ tóc nâu đang ngồi ôm con vật cưng màu đen trong lòng, còn anh người yêu bên cạnh thì choàng tay qua ôm eo một cách tình tứ. Anh chàng này mặc áo phông màu xanh, đại để là có in dòng chữ gì đó trên ngực áo.

7/. Những vị sư ở ngôi nhà ma ám Hull House

Tấm ảnh đen trắng đã sờn rách này do Dale Kaczmarek tình cờ chụp tại Hull House ở thành phố Chicago, Illinois tháng 11/1980.

Tác giả khẳng định không có nhân vật nào quanh quẩn trong ống kính vào thời điểm bấm máy, nhưng trong tấm hình lại hiện lên mờ ảo 4 nhà sư đứng ở những bậc cuối cùng dưới chân cầu thang.

“Thầy” đứng chính giữa thể hiện đúng động tác nhà Phật: chắp hai tay vào nhau, trong khi 3 vị còn lại đứng xuyên qua thành cầu thang, và hình như là không có đầu.

8/. Xương người hiện hình

Sát rạt bên phải Bill Rodgers – anh chàng vận động viên khỏe khoắn 4 lần vô địch giải marathon thành phố Boston và New York – là một bộ xương người không lẫn đi đâu được. Xương sườn, xương cột sống, xương chậu – từng chiếc hiện rõ mồn một như thể lúc ấy có hình mẫu giả ở bên.

Christophe DiCesare – sinh viên trường ĐH New York ở bang Geneseo – đã chụp bức ảnh tại phòng C2D1, ký túc xá Erie Hall năm 1985 bằng máy 35MM.

Sau nhiều lần tìm hiểu và “giở lại lịch sử”, lũ sinh viên quậy cuối cùng cũng điều tra ra lý lịch của con ma xương xẩu. Đó là một cậu chàng có tên “Tommy”, đã treo cổ tự vẫn ngay trong ký túc xá vài năm trước. Kể từ đó, sinh viên sống ở đây thỉnh thoảng hay bị những cú kéo giật bí hiểm. Thậm chí có đêm, một sinh viên còn suýt rụng tim khi nhìn thấy một anh bạn mặc áo phông bóng bầu dục kẻ sọc, với cái đầu ngoẹo hẳn sang một bên.

9/. Dáng hình của tâm tưởng

Bức ảnh được chụp bằng chiếc máy ảnh Polaroid cổ lỗ sĩ vào năm 1959, tại một ngôi nhà thuộc phía bắc Hanover Park, bang Illinois đã bị phá sập từ lâu. Không có gì đáng nói với bé gái đang trầm ngâm suy tư bên thềm tam cấp, tuy nhiên điều không ai giải thích nổi là vật thể gì nửa trong nửa đục đang di chuyển dọc cầu thang kia ?

Như thể vùng khói hư ảo ấy đang tuôn ra từ cơ thể bé gái, mà theo trí tưởng tượng phong phú của một số người thì nó xuất phát từ sâu bên trong tâm khảm cô. Một sự hiện hình của ý nghĩ, hay nói cách khác là ngoại chất linh hồn đi ra từ một cơ thể đang tồn tại. Bức hình này được xếp vào thể loại ảnh tâm linh.

10/. Lửa trời

Đó là một chiều Chủ nhật nắng ấm vào tháng 6/1980 tại Thung lũng Three Gap, cách thị trấn Revelstoke, British Columbia, Canada 12 dặm về phía tây. Bức ảnh chụp hai chị em gái đang dừng chân tại một khách sạn bên đường, dốc đá dựng thẳng đứng sau lưng. Nhưng vì sao dãy núi lại bị cắt ngọt một cách kỳ lạ đến vậy, và những ánh sáng đang vần vũ trên bầu trời kia là cái gì ? Khó đổ lỗi cho thiết bị chụp, bởi đó là loại máy thuộc loại hiện đại nhất lúc bấy giờ – máy ảnh Balda sử dụng phim tráng cuộn cỡ 120.

11/. Bóng ma khoác áo lính

Một người đi viếng mộ tại nghĩa trang Liên bang, nằm gần Biệt thự Carnton ở Franklin, bang Tennessee chụp lại khung cảnh này một cách rất tình cờ. Thoáng nhìn qua tưởng như không có điều gì bất thường hết, tuy nhiên nếu soi kỹ lên góc trên cùng bên phải của bức ảnh, lảng vảng sau những hàng cây là bóng dáng của một quân nhân. Nhìn kỹ hơn nữa thì rõ là trang phục của quân đội Liên bang.

12/. Ma ở Gettysburg

Bức ảnh do cô Chris Payne từ thị trấn Woodbridge, bang New Jersey chụp trong lần tham quan thực địa chiến trường Gettysburg năm 1988, bằng chiếc máy ảnh Instamatic 110 có sử dụng ánh sáng flash trong thời điểm chạng vạng tối. Ngay cạnh cô em Terri Payne – người phụ nữ trong ảnh, phía bên bánh xe kia của khẩu súng thần công là một đám bụi leo lét nửa xanh nửa trắng kỳ lạ.

Tất nhiên vào lúc chụp cả hai chị em không nhìn thấy dị vật này. Thêm nữa, đám bụi cũng tuyệt nhiên không xuất hiện trên bất kỳ bức ảnh khác trong cuộn phim chụp cùng thời điểm bấy giờ. Có người còn nói rằng họ nhìn thấy lờ mờ một khuôn mặt ẩn trong làn sương hư ảo.

13/. Một quả cầu bí hiểm ở nghĩa địa

Chưa ai giải thích vì sao lại có quả cầu trôi lơ lửng trong đêm tối giữa nghĩa địa Mt. Thabor, bắc bang Illinois. Bức ảnh được một người tên là Dale Kaczmarek chụp vào đêm hè tháng 6/1998 bằng máy Polaroid.

14/. Gương mặt lạ trên nghĩa địa

Một người xa lạ trên đường phố Eastwood, Manila (Indonesia) đã chụp giúp 2 cô gái tấm hình bằng điện thoại Nokia 7250. Không hiểu, nụ cười tươi tắn kia có méo xệch đi không nếu họ biết rằng, có con ma đang… vồ lấy tay cô bạn bên phải đòi chụp ké.

15/. Vệt sáng kỳ lạ

Tháng 6/1979, tác giả chụp bức ảnh với mục đích phản ánh nạn đào phá bừa bãi tại khu nghĩa trang Forest Home thuộc vùng Forest Park, bang Illinois. Tuy nhiên, khi tấm hình được rửa ra từ máy Instamatic 110 thì người ta phát hiện một vệt sáng trắng kỳ lạ, có vẻ như bốc lên từ một nấm mồ. Phóng to hơn nữa thì thấy hiện rõ gương mặt của một người đàn ông ở phía cuối đường ánh sáng.

16/. Những bóng ma trên tàu Watertown

Chuyện về chiếm hạm Watertown có thể coi là câu chuyện ma kinh điển do chính tiến sĩ Hereward Carrington – vị giám đốc lỗi lạc của Viện Tâm linh Hoa Kỳ – kể lại, đồng thời được tường thuật tiết trong tạp chí nội bộ của công ty đóng tàu.

Tháng 12/1924, tàu Watertown chuẩn bị nhổ neo cho hành trình qua Đại Tây Dương và hai thủy thủ James Courtney và Michael Meehan được giao nhiệm vụ dọn sạch khoang hành lý. Tuy nhiên trong lúc làm việc bất ngờ xảy ra vụ rò rỉ hơi ga, họ đã chết ngạt trước khi có người kịp đến cứu. Theo tập quán ngành hàng hải, người ta thả 2 cái xác về biển khơi vào ngày mùng 4/12. Chạng vạng tối ngày hôm sau, cả con tàu được phen náo loạn khi chứng kiến bóng dáng 2 chiếc đầu thủy thủ bập bềnh trên sóng nước ngay bên mạn tàu. Kể từ đó, hai gương mặt ma quái này thường xuất hiện và không lần nào không gây chuyện đứng tim.

Có người nhanh tay đã chụp được bức hình trong đêm kinh hoàng đó và chuyển nguyên vẹn cả máy lẫn phim cho thuyền trưởng Keith Tracy nhờ cất giữ. Khi tàu cập bến New Orleans, vị thuyền trưởng đã gửi thẳng tới văn phòng công ty ở New York. Tại đây, tấm hình chụp 2 khuôn mặt ma đã được in ra, phóng to và trở thành 1 trong những bức ảnh ma nổi tiếng nhất thế giới.

17/. Chiếc đầu bay ?

Bức hình chụp góc làm việc trong một xưởng máy tính có vẻ không có gì bất thường cho đến khi tác giả phóng to ra. Trên màn hình vi tính (đã tắt), không thể chối vào đâu được hình ảnh trôi nổi của một chiếc đầu không kèm thân mình, và chắc chắn không phải là hình phản chiếu của ai đó. Người chụp bức ảnh linh cảm đó là bóng ma người chồng đã quá cố của cô, nhưng xem ra khuôn mặt trẻ hơn nhiều so với lúc ông từ trần.

18/. Ma ở trang trại Myrtle

Ít nhất là đã có 10 vụ chết người, trong đó có 1 vụ tự tử xảy ra trong trang trại Myrtle, được tướng Bradford xây dựng vào năm 1796 tại vùng St. Francisville, bang Louisiana. “Vị khách” viếng thăm thường xuyên nhất là hồn ma Chloe – một bà nô lệ da đen tự tử để sám hối tội lỗi đã giết 2 cô bé gái. Bà này trước đã từng bị Clarke Woodruff – người con rể của tướng Bradford cắt tai vì tội nghe trộm, sau đó trả thù bằng cách trộn lá trúc đào vào bánh sinh nhật của bọn trẻ con.

Người ta kháo nhau rằng, bóng ma từ khu nghĩa trang dành cho nô lệ đêm đêm vẫn hiện về làm công việc nhà, và 2 cô bé bị đầu độc vẫn chơi đùa trên những dãy hàng lang dài hun hút. Bức ảnh này ghi lại bóng dáng của 1 hồn ma, mà nhiều người cho rằng đó là hồn ma Chloe, đang đứng giữa hai dãy nhà.

19/. Mặt ma tại bảo tàng Blackpool

Một phụ nữ tên Pauline Brannigan kể rằng, bà tình cờ chụp hình ông chồng trước cửa viện bảo tàng hình nhân sáp Blackpool và chỉ phát hiện ra khuôn mặt kỳ quái khi phóng ảnh. Theo tìm hiểu của bà, rất có khả năng đó là khuôn mặt của Ena Sharples – một nhân vật được nặn tượng sáp đang trưng bày bên trong, cũng là người đã chết và mai táng ở Blackpool.

Khi gửi tấm hình tới ban quản lý Bảo tàng, bà Brannigan đã nhận được nhiều phản hồi quan tâm kèm theo lời quả quyết: sự việc kỳ lạ này không chỉ đơn thuần được giải thích bằng sự phản chiếu hay các hiện tượng vật lý tương tự…

Hải Minh

LUÂN HỒI QUẢ BÁO

HIỆN TƯỢNG LUÂN HỒI

VÀ NHỮNG BÍ ẨN

Những câu chuyện chưa thể lý giải

Khoa học hiện đại vẫn chưa thể chứng minh được việc có kiếp sau hay kiếp trước của con người hay không ? Tất cả vẫn chìm trong sự kỳ bí với nhiều sự việc mà con người không thể giải thích nổi…

Luân hồi là gì ?

Theo quan điểm của nhiều người, cuộc sống chưa kết thúc khi con người qua đời, mà linh hồn sau khi thoát ra khỏi thể xác chết, đã đầu thai trở lại một kiếp sống khác theo bánh xe luân hồi, cứ mãi như thế cho đến khi nó được đến cõi Niết Bàn. Cuộc sống của con người trên trần thế thực ra chỉ là một “kiếp”, thân xác chỉ là nơi cư trú của linh hồn mà thôi. Nhưng điều ngạc nhiên là không phải chỉ Phật giáo mới có khái niệm luân hồi và ý niệm về sự đầu thai, mà các khái niệm đó cũng tồn tại ở nhiều tôn giáo khác.

Ý niệm về sự luân hồi xuất hiện trong đạo Hồi, đạo Do Thái, Ấn Độ giáo, trong quan niệm của người cổ Hy Lạp, và nhiều vùng miền trên thế giới. Điều đáng kinh ngạc là nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quyển sách Bible của đạo Thiên Chúa nguyên thủy có nhiều khác biệt so với hiện nay, trong đó từng có cả những nội dung về sự luân hồi đầu thai, nhưng đã bị một số thế lực chỉnh sửa và lược bỏ đi vào khoảng thế kỷ 4 và 5 vì những nguyên do bí ẩn.

Trường hợp tiêu biểu và nổi tiếng nhất về sự đầu thai và luân hồi chuyển kiếp có lẽ là việc đi tìm Đạt Lai Lạt Ma hay Ban Thiền Lạt Ma của Phật giáo Tây Tạng sau khi các Lạt Ma ấy qua đời. Những vị sư phụ trách việc này tiến hành tìm kiếm đứa trẻ nào sinh ra đúng vào thời điểm Lạt Ma qua đời. Họ dựa vào những dấu hiệu và kiến thức đặc biệt của đứa trẻ mà tương hợp với vị Lạt Ma đó khi còn sống, và cả những mô tả của vị Lạt Ma trước khi viên tịch về kiếp sau của mình, để xác định xem đứa trẻ có phải là vị Lạt Ma ấy đầu thai hay không.

Tại các quốc gia phương Tây, các nhà nghiên cứu đã bỏ nhiều thời gian và công sức nghiên cứu hiện tượng luân hồi. Kết quả là : Không ai giải thích nổi tại sao những người “kiếp sau” lại có cách cư xử, thói quen rất giống những người đã khuất, thậm chí biết cả những bí mật riêng tư của họ, có những vết bớt khi mới sinh tương hợp kỳ dị với những vết thương của người đã khuất, hoặc những đứa trẻ đi còn chưa vững đã biết ngoại ngữ, biết làm toán, biết chơi đàn… giống y như những người mà chúng nói là chính chúng trong tiền kiếp, mặc dù không ai chỉ dạy chúng cả.

Các kết quả thu được đó đã gây ra luận chiến dai dẳng giữa một bên thừa nhận, và một bên phủ nhận hiện tượng luân hồi. Những người thừa nhận nói rằng, cách duy nhất để lý giải bí ẩn này là khoa học buộc phải công nhận hiện tượng luân hồi như một thực tại khách quan hiển nhiên mà thôi.

Những hiện tượng kỳ bí

Trên thực tế có rất nhiều trường hợp kỳ lạ đã xảy ra và thật khó có thể giải thích nổi tại sao những người ở “kiếp sau” lại có cách cư xử, thói quen, thậm chí họ biết cả những bí mật của những người ở “kiếp trước”. Mặc dù một số sự kiện nhớ lại kiếp sống trước – theo nhiều người đã được ghi chép lại và thử nghiệm một cách khoa học, khoa học chưa chính thức chấp nhận đầu thai như là một hiện tượng chứng minh được.

Theo khoahoc.com.vn, thì vào ngày 29/4/2005, vợ chồng anh Chaudhary sống tại Ahmedabad (Ấn Độ) vô cùng đau xót khi đứa con trai 13 tuổi tên là Rakesh bị tai nạn xe máy và mất 5 ngày sau đó. Vài giờ trước khi Rakesh qua đời, vợ anh Chaudhary là Minaben bắt đầu có ảo giác, cô nói với chồng là Rakesh về nhà tạm biệt mẹ và hứa sẽ quay lại. Một năm sau đó, vào ngày 22/4/2006, cô Minaben sinh hạ một bé trai và đặt tên con là Rakesh.

Rakesh và người anh đã mất giống nhau như đúc, và có cách cư xử giống hệt nhau. Điểm đặc biệt hơn là cậu biết tất cả những chỗ anh trai mình để đồ chơi, nhận ra những người họ hàng chưa bao giờ gặp. Không chỉ có vậy, khi được đưa về quê của anh Chuadhary ở Palanpur, cậu bé cũng biết luôn tên của người chị họ Anila mới gặp lần đầu, cô bé này vốn ngày xưa là bạn thân của người anh trai đã mất của cậu. Rakesh cũng rủ cô bé chạy ra cái cây nơi 2 người thường chơi với nhau ngày xưa.

Cách đây hơn một thế kỷ, một ác quỷ đã xuất hiện giữa thế gian ngay tại nước Pháp. Tên của hắn là Gilles de Rais với chức vụ Thống chế. Hắn giết người không gớm tay, giết người với hăng say thích thú. Lúc bị đưa lên giàn hỏa “con quỷ dữ” đã gào lên khủng khiếp cùng với lời nguyền : “Ta sẽ trở lại thế gian này…”. Và mới đây, tại Hoa Kỳ xuất hiện một kẻ sát nhân kỳ dị với phương cách giết người hệt như Gill de Rais khi xưa.

Con “quỷ” này đã gieo bao khủng khiếp trong một ngôi nhà vắng lặng thay vì tòa lâu đài bí mật của thời xưa cổ, con quỷ dữ này có tên là C. Jeffrey Dahmer, cách giết người của hắn y hệt ác quỷ Gilles de Rais nhưng kinh khiếp hơn, rùng rợn hơn, ghê tởm hơn. Điều này khiến người ta nghĩ đến lời nguyền ghê gớm của tên sát nhân cách đây hơn một thế kỷ.

Tiền kiếp và hậu kiếp vẫn là điều bí ẩn

Có bao giờ bạn trải qua một cảm giác dường như “đã từng nhìn thấy” hay “đã từng ở” một nơi mà cả đời bạn chưa từng biết ? Nhiều nhà khoa học khẳng định, chúng ta đã từng trải qua nhiều tiền kiếp trong quá khứ, và sẽ còn những kiếp sau.

Dưới đây là một số trường hợp được nghiên cứu bởi các chuyên gia về lĩnh vực luân hồi.

Chiến binh từ quá khứ

Đại tướng George Smith Patton (11/11/1885 – 21/12/1945) là một trong những viên tướng vĩ đại nhất lịch sử Hoa Kỳ, một nhà chiến lược kỳ tài lừng danh thế giới. Một bộ phim đã được làm năm 1970 để vinh danh ông. Tính ông nghiêm khắc và luôn luôn chủ trương “kỷ luật sắt, kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Người hùng ấy, lạ lùng thay, rất tin vào sự luân hồi. Ông thường bảo : “Cuộc đời và cuộc sống là một vòng tuần hoàn chuyển tiếp. Ðời tôi cũng nằm trong một vòng tuần hoàn chuyển tiếp nào đó”. Một sĩ quan cao cấp của quân đội Hoa Kỳ kể lại câu chuyện mà ông nhớ mãi về tướng Patton.

Hôm đó, tướng Patton đến thăm một địa danh lịch sử tại Ý. Ðó là vùng đất nằm cạnh sông Métaure, nơi mà xưa kia, trong trận chiến ác liệt giữa những đoàn quân dũng mãnh của đế chế Carthage và đế chế La Mã, đã để lại trên chiến trường hàng ngàn tử thi, mặc dù hai bên đều do những chiến lược gia và danh tướng chỉ huy.

Hình ảnh bi tráng ấy đã đi vào quá khứ, và cách thời của tướng Patton đến hơn 1800 năm, nhưng khi tướng Patton cùng các tướng lĩnh và một số nhà sử học đến thăm vùng đất này, và thử luận bàn về những chiến thuật và chiến lược của trận đánh ấy thì điều kỳ dị đã xảy ra.

Trong khi tướng Patton nghe một viên Đại tá trình bày những địa điểm đóng quân của hai phe Carthage và La Mã, ông nhiều lần tỏ ý không hài lòng. Sau cùng, tướng Patton cắt ngang lời viên Đại tá và nói : “Xin lỗi Đại tá, mặc dù Ðại tá là chuyên gia nghiên cứu các trận chiến trong chiến tranh La Mã, nhưng tôi khẳng định rằng đoàn kỵ binh của tướng Hasdrubul trong trận này không phải đóng tại địa điểm đầu kia mà Ðại tá đã trình bày. Tôi quả quyết điều này vì một lẽ rất dễ hiểu là vào lúc ấy, chính tôi đã có mặt tại đó…”.

Và rồi, tướng Patton nghiêm nét mặt, đưa cao chiếc can cầm ở tay lên chỉ về một địa điểm trước mặt và nói thật chậm rãi, rõ rang : “Ðó là địa điểm mà đoàn kỵ binh của Hasdrubul đã đóng quân, và tôi nhắc lại, lúc ấy tôi đã ở đó !…”, “Nó đây, chiến trường là đây. Những người Carthage đã phòng thủ thành phố trước cuộc tấn công của 3 quân đoàn La Mã. Người Carthage kiêu hùng và can đảm, nhưng họ đã không trụ vững được. Họ đã bị tàn sát. Những người đàn bà Ả Rập đã lột quân phục, kiếm và những ngọn giáo của họ. Những người lính đã nằm trần trụi dưới mặt trời, 2.000 năm trước đây. Và tôi đã ở đó !”.

Trong những lần dừng chân nơi chiến trận hay những lúc nghỉ ngơi, tướng Patton thường nói đến những địa danh và những chiến trường cổ xưa mà ông đã từng có mặt, tuy những nơi đó đã đi vào quá khứ xa xăm hay chỉ còn lại trong các pho sử liệu của các thư viện. Trong nhật ký của mình, tướng Patton thường ghi lại những cảm nghĩ lạ lùng của mình về kiếp trước.

Có đoạn ông viết : “Tôi tin là có tiền kiếp và hậu kiếp. Tôi tin, thật ra là tôi biết, rằng tôi đã có ít nhất là một quãng đời trước đây trong binh nghiệp và hiện nay tôi lại đầu thai lần nữa vào đời binh nghiệp”. Về sau, nhà văn đồng thời là nhà tư tưởng nổi tiếng Aldons Huxley (26/7/1894 – 22/11/1963) đã trình bày trường hợp của tướng Patton cùng câu chuyện lạ lùng xảy ra trong lần đi thăm chiến trường La Mã cổ xưa ấy, trong một hội nghị quốc tế có chủ đề “Ứng dụng của Khoa tâm lý học” tổ chức lần thứ 14 vào năm 1961. Aldons Huxley phát biểu : “Không riêng gì tướng Patton mà ngay cả chúng ta, đôi lúc ở những thời điểm nào đó trong đời bỗng ta có những cảm giác, những suy nghĩ, cái nhìn kỳ lạ mà ý thức của chúng ta như bỗng nhiên hé mở, có khi ta bắt gặp một hình ảnh, một sinh hoạt, một tiếng nói, một cảnh tượng, một con người mà hình như ta có lần đã thấy, đã nghe, đã ở, đã đi qua, mặc dù trong cuộc đời chưa bao giờ gặp.

Ðó là quá khứ, quá khứ ấy không phải trong một cuộc đời hay nói khác đi là trong “một kiếp” mà là trước đó nữa. Cảm nhận ấy đôi khi vượt ra khỏi những cảm nhận của các giác quan thông thường của con người chúng ta, mà thuộc về quá khứ xa xăm, hay có thể gọi là tiền kiếp”. Tờ báo Paris Match danh tiếng đã đăng tải trường hợp của Đại tướng Patton vào ngày 23/3/1989.

Những câu chuyện kỳ bí

Không chỉ có trường hợp của tướng George Smith Patton được lịch sử ghi nhận mà còn có nhiều những trường hợp khác trên thế giới như trường hợp của Chaokun Radzh-sutadzharn, sinh ngày 12/10/1908 ở miền trung Thái Lan, tên thường gọi là Choti. Cha cậu tên là Nai Pae, mẹ là Nang Rieng.

Ngay khi mới biết nói, cậu bé đã khẳng định mình là Nai Leng (tên người bác ruột của cậu bé đã mất từ trước khi cậu bé ra đời). Đáng chú ý, cậu có thói quen gõ bàn giống hệt như người bác trai, có thể nói và đọc được các thứ tiếng mà người bác lúc sinh thời từng học, và biết chính xác từng chi tiết một trong cuộc đời ông ta. Sau này Choti đi tu ở một ngôi chùa ở Bangkok và sau đó xuất bản cuốn sách về cuộc luân hồi chuyển kiếp của chính mình.

Tờ báo Pattaya Daily News cũng công bố một trường hợp khác xảy ra tại làng Nathul, phía bắc Myanmar, cô gái Ma Tin Aung Myo sinh ngày 26/12/1953 trong một gia đình có 3 chị em gái. Ngay từ nhỏ, cô bé luôn tự xem mình là con trai, và luôn miệng nói rằng mình là người lính Nhật đã bị quân đồng minh bắn chết cách ngôi nhà của cha mẹ cô bé gần 100m. Cô bé rất sợ máy bay, nhất định không chịu mặc quần áo con gái, nói tiếng Myanmar rất khó khăn, thích ăn và nấu các món ăn theo khẩu vị của người Nhật, và luôn buồn nhớ quê hương Nhật Bản. Ma Tin Aung Myo cho biết gia đình trước kia của “cô” ở miền Bắc nước Nhật.

Trước khi nhập ngũ, “cô” là chủ một cửa hiệu nhỏ nhưng khi vào quân đội thì làm đầu bếp. Cô sống độc thân không chịu lập gia đình, bởi cô “là đàn ông” và chỉ có thể kết hôn với phụ nữ mà thôi. Những trường hợp như trên vẫn là bí ẩn với thế giới loài người cho đến khi nào khoa học có thể chứng minh một cách đầy đủ nhất bản chất của hiện tượng này.

Đi tìm lời giải về hiện tượng luân hồi

Các nhà nghiên cứu về hiện tượng luân hồi, qua các tài liệu thu thập được từ cổ đại đến nay, đã tìm hiểu phân tích một số trường hợp đặc biệt có liên quan giữa những sự chuyển sinh của hàng loạt linh hồn với những thời gian và thời đại tương ứng.

Từ lâu nhiều người đã thắc mắc rằng nếu quả thật có số mệnh, có luân hồi thì tại sao lại có trường hợp hai trái bom nguyên tử của Mỹ đã tiêu diệt hai thành phố Hiroshima và Nagazakji của Nhật Bản và giết chết một lúc hàng chục vạn người ? Tại sao hàng triệu người dân Do Thái bị đưa vào phòng hơi ngạt của Đức Quốc Xã để chết một cách tức tưởi ? Chỉ riêng ở trại giam Auschwitz cũng đã có trên một triệu người bị giết. Những trường hợp ấy thuyết luân hồi quả báo giải thích ra sao ?

Lý giải hiện tượng

Nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới, các nhà sử học, địa lý học, xã hội học, phong tục học… nhận thấy có những giai đoạn thời gian liên quan đến sự phát triển hay suy thoái về nhiều mặt. Dân số, phong tục, nền văn minh… cũng như cả về mặt khí hậu, thiên tai (động đất, núi lửa, sóng thần, lũ lụt, hạn hán).

Như trường hợp của ông Edgar Cayce người Hoa Kỳ có khả năng biết được tiền kiếp của người khác khi đưa họ vào giấc ngủ thôi miên, ông đã thu thập được vô số trường hợp khác nhau về những gì liên hệ tới hiện tượng đầu thai và quả báo mà tài liệu có khoảng 30.000 hồ sơ còn lưu trữ tại viện nghiên cứu các hiện tượng siêu hình ở Virginia Beach thuộc tiểu bang Florida.

Chính nhờ các tài liệu này mà nhà biên soạn Gina Cerminara đã có thể viết lời giải thích tuy không phải là cho tất cả và hữu lý tuyệt đối cho những câu hỏi trên. Câu trả lời sẽ là có những nhóm linh hồn đầu thai hàng loạt trở lại để sống trên quả đất và theo thời gian đã định, theo hoàn cảnh thời đại, môi trường, những con người ấy sẽ gặp nhau cùng một nơi chốn nào đó để một lần hay lần lượt chịu quả báo. Điều này giải thích được nguyên nhân nào có sự chết đồng loạt : Như trận động đất ở Nhật Bản năm 1923 đã giết hại hơn 140.000 người (đó là chỉ riêng ở TP Tokyo thôi). Hay trận động đất ở Lisbon, Portugal năm 1755 đã khiến 60.000 người chết… Riêng ở Ý, trận phun lửa của hỏa diệm sơn Venus chôn vùi toàn bộ TP Pompeii với hàng vạn dân cư. Tro nóng của núi lửa đã khiến cho nhiều người chết nhanh đến độ có người vẫn giữ nguyên dáng đứng, ngồi hay biểu lộ các cử chỉ hốt hoảng, kinh hoàng… sau này khi khai quật thành phố trở lại mới thấy rõ điều đó.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong trường hợp gọi là chết đồng loạt ấy thật sự đôi khi vẫn còn một số người hoặc duy nhất còn một người sống sót. Trường hợp này được giải thích bằng nhiều lập luận.

Thứ nhất có thể những người còn sống sót chưa đến hạn kỳ phải chịu đại nạn. Có người còn sống sót nhưng đôi khi họ lại còn bị đau khổ đày đọa hơn những người đã chết trước đó. Trong một trại giam người Do Thái của Đức Quốc Xã, có lần hai tù nhân vượt trại trốn vào rừng. Sau bao gian nan nguy hiểm, một người bị quân Đức bắt lại, người thứ hai thoát được. Khi trở về trại thì những người bị giam trong các căn trại ấy đã bị bỏ vào lò hơi ngạt hết. Bọn Đức liền đẩy người này vào nhóm người Do Thái thứ 2 ở những trại kế tiếp để chờ đợi ngày vào phòng hơi ngạt.

Có quả báo ?

Khi ngày ấy đến, trong lúc đoàn người bị đưa lên xe chuẩn bị di chuyển thì một người Do Thái nổi điên xông vào đám lính Đức cấu xé. Nhân cuộc lộn xộn xảy ra, người này trốn khỏi đám đông chạy vào ẩn trong một nhà kho. Tuy nhiên, lính canh bắt được người này bị đánh đập vô cùng tàn nhẫn và cuối cùng anh ta cũng bị đưa vào phòng hơi ngạt. Hồ sơ người này đã được quân Đức lưu trữ và thường dùng để làm gương cho những người trốn trại.

Qua hồ sơ ấy, ta thấy rõ rằng người này tưởng là may mắn nhưng quả thật anh ta không may mắn chút nào, nếu so với những người Do Thái trước đó đã vào lò hơi ngạt. Những người ấy chỉ chết một lần, còn anh ta, trước khi chết lại bị đày đọa. Tuy nhiên, có khi người sống sót lại được an toàn cho đến mãn đời, ấy là do nghiệp quả báo của họ phải chịu sự lo sợ kinh khiếp nhưng chưa chết ngay được.

Như trường hợp cô Helen Hix kinh sợ đến độ chết đi sống lại nhiều lần trước khi bị đưa lên ngồi ghế điện. Khi dòng điện 10.000 volt truyền vào ghế điện thì cô thét lên nhưng kỳ lạ thay điện cao thế ấy lại không giết được cô mà chỉ làm cháy xém một vài nơi ở tay và chân thôi.

Điều kỳ lạ này cho ta một giải thích mới theo nghĩa quả báo luân hồi là tội nhân phải chịu hình phạt rùng rợn làm khổ đau khiếp đảm từ tinh thần đến thể xác nhiều lần. Về chu kỳ lịch sử, thời đại và sự xuất hiện của những nhân vật lịch sử vào những thời kỳ tương ứng chính là hạn kỳ, giai đoạn mà những linh hồn nào đó đã được luân hồi tái sinh trở lại. Có những linh hồn chờ đợi hoàn cảnh sự kiện thích ứng cho mình để nhắm đúng thời gian đầu thai.

Những nhà thông thái, những người làm nên lịch sử, sáng chế, phát minh, phát triển văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, tạo cuộc cách mạng, làm thay đổi thể chế chính trị nào đó đều là những người mà trước đây họ cũng đã có những tài năng tương ứng và sự luân hồi là cả một sự tiến hóa, hơn nữa có thể họ chưa đạt ý nguyện về những công việc, những hoài bão từ tiền kiếp nên họ mong chờ sẽ được chuyển sinh trở lại để hoàn tất những gì mà mình đang bỏ dở chưa hoàn thành.

Xét về mặt khoa học kỹ thuật, câu hỏi được đặt ra là những nhà khoa học, phát minh tài ba xuất hiện ở những thế kỷ trước và những thế kỷ hiện nay như Galilée, Einstein… có phải là cùng phát xuất chỉ từ một vài người thông minh nào ở thời đại xa xưa và qua sự tiến hoá của hiện tượng luân hồi mà giờ đây họ lại tái sinh và có lẽ trong những thế kỷ kế tiếp họ sẽ lại tái sinh…

Huỳnh Văn Yên post

BÍ ẨN LINH HỒN

BÍ ẨN CỦA LINH HỒN

Bạn có tin ở linh hồn ? Bạn không tin ở linh hồn ?

Thật khó trả lời, vì đó là một khái niệm mà chưa bao giờ con người thực sự làm chủ. Nhưng giải thích sự tồn tại và vận động của thế giới xung quanh và thậm chí là của chính bản thân mình là nhu cầu không bao giờ vơi cạn của con người. Vì thế, các nhà khoa học vẫn luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời về linh hồn.

Từ một câu chuyện kỳ lạ tại Tây Tạng

Tại vùng đất huyền bí nhất trên thế giới, Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền một sự kiện hết sức kỳ lạ về “Người cầu vồng”. Sự kiện xảy ra năm 1998 tại Kham, khu vực hẻo lánh phía đông Tây Tạng, sự biến mất kỳ lạ của vị Lạt ma Khenpo A-chos. Ông là một trong các vị Lạt ma có uy tín nhất trong vùng, thường xuyên thuyết giảng về đạo Phật dù Chính phủ Trung Quốc có những quy định rất khắt khe về việc này.

Vào tuổi 80 vị Lạt ma vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Một hôm, Lạt ma Khenpo A-chos lên nằm trên giường của mình, miệng lẩm bẩm câu thần chú Tây Tạng “Om mani padme hum” (Úm Ma Ni Bát Dị Hồng) và qua đời. Ngay sau đó, cầu vồng xuất hiện trên căn phòng nhỏ của ông suốt cả ngày.

Những người học trò của Khenpo A-chos tổ chức lễ cầu kinh để linh hồn người thầy siêu thoát. Nhưng hiện tượng lạ thường xảy ra : da thịt của vị Lạt ma bắt đầu hồng hào trở lại. Dường như Khenpo A-chos đang từ từ tái sinh. Học trò của ông đi hỏi ý kiến một vị Lạt ma và được lời khuyên hãy bọc thi thể của thầy lại và tiếp tục cầu kinh. Họ làm đúng như lời chỉ dẫn. Một tuần sau, khi mở tấm áo bọc thi thể vị Lạt ma, người ta chỉ thấy vài sợi tóc còn sót lại trên gối, thi thể của Khenpo A-chos đã hoàn toàn biến mất. Từ đó người Tây Tạng gọi ông là “Người cầu vồng”.

Câu chuyện thần bí lan ra khắp nơi. Cha Francis Tiso – một cha đạo dòng thánh Benedict tại Mỹ cũng nghe được câu chuyện kỳ bí này. Ông là một trong những chuyên gia nghiên cứu về đạo Phật và đã có học vị tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cha Francis Tiso tổ chức một chuyến đi đến Kham để ghi lại lời kể của những người đã chứng kiến sự kiện. Người mà cha Tiso muốn gặp nhất là vị Lạt ma đã được các học trò của Lạt ma A-chos hỏi ý kiến. Vị Lạt ma nói với cha Tiso rằng sự biến mất của Lạt ma A-chos là do một lực vật chất xuất phát từ trong linh hồn của ông ấy. Đây không phải là một câu nói mang hàm ý triết học hoặc ẩn dụ, điều ông muốn nói ở đây là một sự thực đã xảy ra. Vị Lạt ma đưa cho cha Tiso xem một bức ảnh của Lạt ma A-chos khi ông đã qua đời.

Bằng mắt thường có thể nhìn thấy rất rõ một luồng ánh sáng phát ra từ thân thể của Lạt ma A-chos. Xem bức ảnh, cha Tiso thốt lên : “Đây là sự giao hoà giữa cái có thể và không thể, giữa một con người hiện hữu và con người siêu phàm. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được cơ sở để chứng minh rằng nó có thật”.

Điều mà cha Tiso muốn tìm trong sự kiện xảy ra tại Kham cũng nằm trong vấn đề lớn mà ông đang nghiên cứu, đó là có hay không sự tồn tại của linh hồn con người. Hiện nay, những cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề này vẫn diễn ra quyết liệt. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ, nếu có sự tồn tại của linh hồn thì làm sao để xác định được. Những người cho rằng linh hồn là có thật dựa vào các tài liệu tôn giáo để chứng minh cho sự tồn tại của nó, còn người phản đối thì cho rằng các lập luận đó quá mơ hồ và không thể đủ độ tin cậy khi được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học.

Những kiểm chứng khoa học

Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.

Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn”.

Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…

“Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất” – Lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói.

Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước.

Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.

Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.

Pim van Lommel, bác sĩ chuyên khoa tim người Đan Mạch cũng đồng ý với quan điểm của Greyson. Lommel cho rằng con người không chỉ có một ý thức, trong khi họ đang ở trong tình trạng hấp hối thì những ý thức khác hoạt động và mở rộng phạm vi của nó nhiều hơn so với bất cứ thời điểm nào trước đó. Lúc đó họ có thể hồi tưởng lại những khoảng thời gian xa xôi nhất trong quá khứ và cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bình thường sự vật và con người xung quanh. Trong khi đó, thần kinh trung ương của họ vẫn đang ngừng hoạt động.

Những giả thiết trên đã đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu : Ý thức là sản phẩm của não bộ. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Bởi vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. Nhưng các thí nghiệm ở trên thì đều chứng minh cho điều ngược lại.

Còn hai học giả của trường Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích sự tồn tại của linh hồn bằng quá trình lượng tử. Theo hai ông, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, các ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể một người ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này, và chúng cũng ngừng hoạt động. Nhưng sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. Và đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.

Vậy nếu người đó không tỉnh lại được nữa thì các chuỗi lượng tử đó sẽ di chuyển đi đâu ? Tiếp tục mở rộng giả thuyết của Hameroff và Penrose, bác sĩ Ian Stevenson đã nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh! Sau khi Ian Stevenson mất, con trai ông là Tucker tiếp tục theo đuổi giả thuyết này. Tucker tiến hành phỏng vấn rất nhiều trẻ em, trong số đó ông đã tập hợp được 1.400 em có khả năng biết được những sự kiện xảy ra trước khi chúng sinh. Thậm chí một vài em còn có thể kể rất rõ những sự kiện trong cả các giai đoạn phát triển rất sớm của lịch sử loài người.

Thực tế cho đến nay, dù có tập hợp được tất cả các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì chúng ta cũng không thể nào biết được chính xác liệu có sự tồn tại của linh hồn hay không, và nếu có tồn tại thì chúng sẽ tồn tại ở dạng nào. Có lẽ khoa học không phải lúc nào cũng là giải pháp tối ưu cho tất cả mọi vấn đề. Như lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói : “Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất.”

Ảo thần

Theo mô tả của những người đã từng rơi vào trạng thái ảo thân, có một quả cầu bạc xuất hiện trên đầu, và “linh hồn” của họ chui vào quả cầu đó.

“Ảo thân” hay “du thần” (out of body experience – OBE) là trạng thái như cơ thể bị phân tách thành hai nửa, dạng như hồn vía và thể xác. Trong đó, phần “thần” vẫn quan sát được thể xác và thế giới xung quanh. Những trường hợp OBE thường được tả giống như người trong mơ, hoặc nửa tỉnh nửa mê nhưng 5 giác quan vẫn hoạt động bình thường. Một thống kê cho thấy có tới 15% người được hỏi từng bị ảo thân.

Những người đã từng rơi vào trạng thái này kể lại, họ thấy một quả cầu màu bạc đường kính khoảng 15 cm xuất hiện phía trên đầu (đôi khi là một đường hầm và ánh sáng xuất hiện ở phía cuối). “Linh hồn” của họ chui vào đó và quả cầu bắt đầu chuyển động xuyên qua trần nhà lên phía trên. Một sợi dây bạc gọi là quang tuyến níu giữ giữa quả cầu “linh hồn” và thể xác của họ. Sau đó quả cầu bạc lớn mãi, vượt ra ngoài vũ trụ, thậm chí có người còn mô tả quả cầu bạc đã đưa họ tới tận… sao Mộc.

Nếu ở tình trạng OBE lâu hơn 5 phút, sẽ có cảm giác kéo căng ở trán, thái dương, cơ thể rung động, theo những người này là do sợi quang tuyến bị căng quá mức. Không chỉ lang thang khắp vũ trụ, những người ảo thân còn mô tả gặp cả Chúa trời, thiên thần hộ mệnh (đôi khi có dạng một con thú nào đó, được cho là nắm giữ tất cả các bí mật của thế giới) hoặc bất cứ điều gì họ muốn. Khi đã chán chu du thiên hạ, “hồn” của họ sẽ trở về theo trình tự ngược lại. Quả cầu bạc sẽ thu nhỏ dần, về trái đất, về căn nhà, đến bên thân thể họ và chui qua đường… ngón chân để trở lại bình thường.

Một vật bất ly thân của các OBE chuyên nghiệp là cuốn nhật ký xuất vía, chuyên ghi lại những kinh nghiệm hoặc khó khăn của các chuyến “du ngoạn” kiểu OBE. Với họ, việc gặp thiên thần hộ mệnh là quá đơn giản. Họ có thể vượt qua được các rào cản “năng lượng” để chuyển động tới những vùng cấm kỵ của vũ trụ.

Các tay OBE chuyên nghiệp còn cho rằng họ có thể “đọc vị” suy nghĩ của các nhà lãnh đạo cao cấp, đó là đẳng cấp “gián điệp OBE”. Nghĩa là họ dùng phương pháp “du thần” để thâm nhập những khu vực được bảo vệ tuyệt mật, hoặc đi vào ý nghĩ của các nhà lãnh đạo, để thu thập thông tin, thậm chí là điều khiển họ làm những công việc có lợi.

Bản thân Cơ quan tình báo Mỹ cũng từng có thời kỳ hoang mang trước các câu chuyện của OBE. Có thời điểm CIA đã chiêu mộ 16 OBE chuyên nghiệp để thử nghiệm làm hàng rào “năng lượng”.

Đằng sau “nhật ký xuất vía”

Nhà cận tâm lý học Susan Blackmore (Mỹ) đã tìm cách khám phá những bí mật của OBE. Khi còn là sinh viên, bà đã trực tiếp thực nghiệm OBE trên bản thân mình, và mô tả khá giống với “nhật ký xuất vía” của các tay OBE chuyên nghiệp: “Thần” thoát ra qua một đường hầm và bay lên, cũng có một sợi dây bạc nối “thần” với thể xác. Nó vượt qua khu giảng đường Oxford, thấy nước Anh ở phía dưới và cuối cùng, vượt qua Đại Tây Dương tới New York. Sau đó Susan trở về phòng của mình tại Oxford và thu nhỏ, thu nhỏ… chui qua ngón chân vào cơ thể.

Susan thú nhận bà đã sử dụng một số loại ma túy như bồ đà (gây ảo giác mạnh) để đạt được điều này chứ không phải luyện tập theo “giáo trình” của các OBE chuyên nghiệp. Qua đó, bà cho rằng, OBE là một tình trạng mất phản xạ của thần kinh thị giác, gây ảo giác (gần giống với tình trạng các kinh nghiệm cận tử  hoặc một bệnh tâm thần có tên là “ảo giác thần tiên”). Nó có thể bị chi phối bởi thuốc gây mê, ma túy hoặc sang chấn tâm lý.

Những câu chuyện về OBE được thêu dệt ngày càng phong phú nhưng lại không có một bằng chứng nào rõ ràng. Điều này đã làm một người Mỹ là ông James Randi nảy ra sáng kiến. Vào năm 1964, ông đã thành lập một quỹ để thưởng cho ai đưa ra bằng chứng về những khả năng đặc biệt, với mức thưởng ban đầu là 1.000 USD, và hiện nay đã lên tới 1 triệu USD. Điều kiện tham dự khá đơn giản, chỉ cần chứng minh (dưới sự giám sát của ban giám khảo) rằng mình có khả năng siêu nhiên nào đó như gọi hồn, ngoại cảm thấu thị, nhân điện, thần giao cách cảm… Từ năm 1997 tới 2005 đã có 650 người nộp đơn nhưng không ai vượt qua được vòng sơ khảo.

“BỖNG DƯNG”… MUỐN CHẾT

Cuộc sống của những người dân ở chốn núi rừng vẫn còn những tập tục lạc hậu đã ăn sâu trong tiềm thức. Và, một trong những điều “bí ẩn” đó là nạn tự tử diễn ra khá phổ biến tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định. Đâu là nguyên nhân khiến những con người chân chất này tìm đến thế giới khác?

Đang chăm chú đào mấy gốc mì (sắn), người vợ không ngờ chồng mình lại đột nhiên dùng rựa cứa mạnh vào cổ để tự tử. Đêm trước, hai vợ chồng họ có chuyện xích mích với nhau, anh chồng dọa : “Tao nói mày không nghe thì tao chết cho rồi”. Máu từ cổ người chồng vọt ra, người vợ kinh hoàng la lên. Những người làm rẫy xung quanh vội đưa nạn nhân đi cấp cứu…

Trên đây chỉ là một trong số hàng chục vụ tự tử xảy ra thời gian qua trong cộng đồng người H’rê ở huyện An Lão (Bình Định). Tỉnh này hiện có một cộng đồng người H’rê khoảng 7.000 người, tập trung chủ yếu ở huyện An Lão, sống bằng nghề làm rẫy và chăn nuôi. Những năm gần đây, nạn tự tử trong cộng đồng này đột nhiên gia tăng. Nhiều vụ nguyên nhân các nạn nhân tìm đến cái chết hết sức đơn giản, lắm khi làm cho người tìm hiểu vụ việc phải bất ngờ.

Bài toán nan giải

Sau hội thao quân sự địa phương, Hưng, 26 tuổi, một dân quân xã An Nghĩa (An Lão) lầm lũi vào rừng để… thắt cổ chết. Đơn giản vì trước đó anh không hoàn thành bài thi bắn súng trúng mục tiêu nên bị bạn bè chọc quê… Còn Dốp, 22 tuổi, ở xã An Dũng, lại tìm đến cái chết bằng một chai thuốc trừ sâu vì giận vợ đã không làm thịt gà trong một đêm tiếp bạn nhậu. Tương tự, Cư, 22 tuổi, là công an viên xã An Hưng, cũng uống cạn một chai thuốc sâu vì không trấn áp được một đối tượng càn quấy ở địa phương. Mới nhất là vụ Trần Say 19 tuổi, ở làng Hà Lũy, xã Canh Thuận, huyện miền núi Vân Canh, Bình Định, sau khi cãi nhau với vợ đã bỏ đi đâu không rõ. Rạng sáng ngày 20/10/2010, bà con trong làng đi làm sớm đã phát hiện Say treo cổ chết bên đường…

Nhiều trường hợp “bỗng dưng muốn chết” xuất phát từ những lý do hết sức “dễ hiểu” như thế. Có em học sinh đòi gia đình mua xe máy, cha mẹ không mua vì không có tiền, thế là buồn, vào rừng thắt cổ chết. Một chàng trai bị cô gái từ chối tình yêu vì “mày uống nhiều rượu, cái bụng tao không yêu mày nữa !”, vậy là chàng liền uống thuốc tự tử….

Tại huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), nơi chủ yếu là người Bana sinh sống, có ông N. ở làng L7, xã Vĩnh Hảo, là thông gia với ông K. ở làng bên. Một lần, ông K. sang thăm nhà ông N., được ông này đãi bia. Đến khi ông N. sang nhà ông K. thăm lại, vì hoàn cảnh khó khăn, ông K. chỉ tiếp khách bằng rượu. Sau đó ít ngày, người làng có lời ra tiếng vào, chê bai ông K. hà tiện. Vài hôm sau, ông K. thắt cổ tự tử. Dự đám tang ông K. về, nghĩ vì mình mà ông K. chết, thế là ông N. cũng thắt cổ chết theo…

Đau lòng hơn cả là cái chết của sơn nữ Đ.T.H ở làng 4, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh. Lấy chồng sớm, mới 18 tuổi H. đã có hai con. Sự nghèo khó khiến cho hạnh phúc của vợ chồng cô luôn bấp bênh. Rồi mâu thuẫn giữa đôi vợ chồng trẻ xảy ra, trong lúc cạn nghĩ, H. đã quyên sinh để lại hai đứa con thơ nheo nhóc…

Hàng loạt những cái chết “lãng xẹt” diễn ra trên khắp các vùng dân cư ở chốn núi rừng heo hút đã khắc họa nên bức tranh hết sức đáng báo động về sự bế tắc trong đời sống tinh thần, cùng quẫn trong hành vi của một bộ phận người thiểu số. Cái chết của các nạn nhân không chỉ để lại nỗi đau cho những người thân trong gia đình mà còn đặt ra một bài toán khá nan giải đối với các cơ quan chức năng địa phương.

Đi tìm ẩn số

Hầu hết những trường hợp tự tử đều ở trong độ tuổi lao động, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; hình thức tự tử phổ biến nhất là uống thuốc diệt cỏ và thắt cổ. “Họ muốn chết, mình không kịp trở tay; sẵn có thuốc diệt cỏ trong nhà, uống vào là xong”, Đinh Hnhao, cán bộ xã Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh), buồn rầu nói.

Một lãnh đạo Công an huyện An Lão cho biết : Thật khó lý giải khi số lượng các vụ tự tử tăng đột biến nhưng nguyên nhân trực tiếp của từng vụ lại hết sức đơn giản. Đa phần là do mâu thuẫn, xung khắc rất bình thường, trong quan hệ gia đình, láng giềng, bè bạn, đồng nghiệp… Số vụ tự tử vì lý do tình ái, vì các căn bệnh về thần kinh chiếm tỷ lệ không đáng kể và không có vụ nào có dấu hiệu của tội phạm xúi giục, giúp người khác tự tử hoặc dấu hiệu tội phạm bức tử.

Có nhiều vụ biểu hiện sự lạm dụng chất kích thích để tăng thêm “quyết tâm” trong việc thực hiện hành vi tự tử. Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám tử thi các vụ tự tử cho thấy : 70% số đối tượng tự tử trước khi hành động đều uống nhiều rượu. Ông Đinh Yang Kinh, Trưởng ban Dân vận Huyện ủy Vĩnh Thạnh, khẳng định : “Rượu là một trong những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự tử. Không chỉ bó hẹp trong không gian lễ hội hay sinh hoạt văn hóa truyền thống, uống rượu giờ đây đã bị lạm dụng, thậm chí trở thành nhu cầu thường xuyên của một số người. Hơn nữa, người miền núi tính tự ái rất cao, một khi họ cảm thấy xấu hổ vì một điều gì đấy, lại nghĩ đến chuyện… tự tử”. Tập quán và kỹ năng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, nghèo khó cũng được xác định là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn nạn tự tử…

Ngoài ra, theo nhận định của Công an huyện An Lão, một số vụ tự tử có dấu hiệu “lây lan” theo quan hệ huyết thống, theo đơn vị làng, cụm dân cư.

Nạn tự tử ở các vùng miền núi không còn là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề xã hội. Hậu quả nó cướp đi sinh mạng của nhiều người, ảnh hưởng xấu tới đời sống của các bản làng người dân tộc thiểu số nói riêng và trật tự an toàn xã hội của địa phương nói chung. Rõ ràng, đây là một hiện tượng không bình thường. Dù các ngành chức năng ở Bình Định đã rất nỗ lực trong việc đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng theo chúng tôi, ngoài những biện pháp như đã áp dụng (tuyên truyền, vận động, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho vùng cao…), các cơ quan chức năng ở Bình Định cần đầu tư nghiên cứu một cách toàn diện (có sự tham gia của các nhà nghiên cứu xã hội học) để tìm đúng nguyên nhân đã gây ra tình trạng tự tử trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Như vậy mới có thể giải quyết được tận gốc vấn đề nhức nhối này.

Theo thống kê, từ đầu năm 2009 đến nay, tại 2 huyện miền núi An Lão và Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) đã xảy ra 41 vụ tự tử. Trong đó, có 25 vụ dẫn tới tử vong và 16 vụ nhờ phát hiện kịp thời nên nạn nhân được cứu sống. Đối tượng tự tử chủ yếu là người các dân tộc Bana và H’rê.

Trước thực trạng đó, mới đây UBND tỉnh Bình Định đã ban hành công văn về việc ngăn chặn tình trạng tự tử, tự sát vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành, chủ tịch UBND các huyện có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong người dân đa số là đồng bào dân tộc, miền núi hãy biết quý trọng tính mạng, cuộc sống của bản thân và mọi người xung quanh.

Đinh Xuân Thu – Nhơn Phong