CẬN TỬ NGHIỆP

CÓ TRƯỜNG HỢP CẬN TỬ

ĐƯỢC TÁI SINH HAY KHÔNG ?

Cận Tử Nghiệp = Hiện tượng con người lúc “hấp hốí – đang chết”. – Có người ra đi nhẹ nhàng thanh thản. Có người phát phiền phát nhạt, trăn trở, thật là khó thăng. Tôi đã quan sát vài trường hợp, cả 2 trường hợp như vậy.

– Luận thuyết nhà Phật cho là : Người ra đi nhẹ nhàng là hiện tượng như là báo trước kiếp sau gặp được “nghiệp lành”. Người ra đi khó khăn phải lãnh “nghiệp báo” nặng hơn kiếp này.

Đúng sai chưa rõ, vị nào am tường, xin khai triển thêm. (Uyển)

Cận tử – Ranh giới giữa sự sống và cái chết

Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó. Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết : Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp

Từ lâu, điều bí ẩn về sự tồn tại mối liên hệ giữa con người và những thế giới khác đã trở thành một đề tài hấp dẫn giới khoa học. Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi có hay không sự tồn tại ranh giới giữa sự sống và cái chết, hay điều gì sẽ xảy ra với ý thức của con người khi chết đi ? Các nhà khoa học đã phát hiện ra những câu chuyện thú vị về các trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng có tên gọi khoa học là “cận tử”.

Nghiên cứu về các trường hợp cận tử trong nhiều năm qua, các nhà khoa học tại Trường đại học Southampton (Anh) đã tập hợp được nhiều tài liệu giá trị phục vụ việc nghiên cứu khoa học về trạng thái cận tử.

Nghiên cứu hơn 1.500 bệnh nhân bị mắc bệnh tim trong vòng 3 năm, mục đích của các nhà khoa học ngoài việc tìm cách điều trị, còn nhằm tìm hiểu về hiện tượng gì sẽ xảy ra khi trong cơ thể con người không còn hoạt động của tim và não. Công trình nghiên cứu này đã thu hút được sự quan tâm của hàng loạt các trung tâm khác nhau tại Mỹ, bao gồm các trung tâm nghiên cứu thuộc các bệnh viện ở Cambridge, Birmingham và Swansea… Tại nơi điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh tim trong các trung tâm này, hàng loạt thiết bị máy ghi hình, máy chụp ảnh tự động được lắp đặt nhằm theo dõi những hiện tượng xảy ra đối với bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những bệnh nhân trải qua hiện tượng cận tử sẽ kể lại với các bác sĩ những sự việc mà họ đã nhìn thấy trong khi ý thức rời khỏi cơ thể họ (khi xảy ra những sự việc này, bệnh nhân hoàn toàn ở trong trạng thái hôn mê). Sau đó, những sự việc này được đem so sánh với những hình ảnh đã được ghi lại bằng các thiết bị ghi hình và máy chụp ảnh tự động.

Theo TS. Sam Parnia – người đứng đầu chương trình nghiên cứu về ý thức con người của Mỹ, thì việc bố trí một cuộc theo dõi và so sánh nêu trên sẽ giúp loại bỏ giả thuyết cho rằng cái chết chỉ là một hiện tượng đơn lẻ. Ông cho biết : Chết không phải là một khoảnh khắc đặc biệt, thay vào đó, nó là một quá trình bắt đầu từ khi tim ngừng đập, phổi ngừng hoạt động, hoạt động chức năng não dần bị suy giảm và ý thức rời khỏi cơ thể con người. Quá trình này nhìn từ khía cạnh sinh học, thì tương tự như khi người ta rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Nó có thể diễn ra và kết thúc trong vòng một vài giây cho tới một giờ hoặc hơn thế. Tuy nhiên, trong khi diễn ra cái chết, dưới sự can thiệp của các thiết bị y tế, quá trình này bị cản trở, nhịp tim được phục hồi lại bình thường và quá trình diễn ra cái chết kết thúc, bệnh nhân sống lại. Trong số hơn 1.500 bệnh nhân được theo dõi nêu trên, các bác sĩ cho biết có 10-20% số bệnh nhân từng trải qua hiện tượng tim bị ngừng đập và chết lâm sàng vẫn duy trì được nhận thức tỉnh táo. Trong khi chết lâm sàng, họ vẫn nhận biết được chi tiết các sự việc đã diễn ra xung quanh nơi giường bệnh của mình.

Heather Sloan – một y tá làm việc tại Southampton (Anh) cho biết : Cô từng bị rơi vào trạng thái cận tử bí ẩn khi bị một cơn sốc do chảy máu nội tạng. Điều cuối cùng mà cô nhớ được là việc cô được đưa vào bệnh viện. Sau đó, cô nhận thấy mình đang đứng cạnh giường của một bệnh nhân. Theo thói quen nghề nghiệp, Sloan bắt đầu tiến hành các thao tác kiểm tra nhiệt độ và huyết áp cho bệnh nhân. Song cô bất ngờ nhận ra rằng bệnh nhân đang nằm trên giường bệnh đó lại chính là cơ thể của mình.

Cô Heather cũng kể lại rằng : Khi ấy cô có cảm giác như mình đang từ từ bay lên không trung. Phía trên đầu là hàng trăm người đang đứng đợi cô, họ nói cho cô biết rằng cô đã bị mất đứa con nằm trong bụng mình. Y tá Heather bất chợt nhận ra rằng mình đang bị chết. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau đó, Heather đột ngột thoát khỏi tình trạng cận tử. Cô dường như quay trở lại với thể xác của chính mình và tỉnh lại.

Khi tỉnh lại, các y tá kể lại cho Heather biết là cô vừa bị mất đứa con chưa kịp chào đời, điều mà trên thực tế, cô đã biết trước trong lúc rơi vào trạng thái cận tử. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã giúp y tá Heather Sloan hiểu được cảm giác khi ý thức rời khỏi cơ thể cô là một hiện tượng khoa học. Việc người bệnh thường nhìn thấy mình bị rơi vào một đường hầm tối đen và vầng sáng ở cuối đường hầm hay gặp lại những người thân đã quá cố đôi khi chỉ là một ảo giác. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì đây vẫn còn là một vấn đề khó lý giải.

Trường hợp của Gary Williams – một bệnh nhân người Anh là một ví dụ khác về hiện tượng cận tử xảy ra trong bệnh viện. Gary kể lại rằng anh phải trải qua một ca phẫu thuật nguy hiểm vì mắc bệnh tim. Các bác sĩ đã bơm vào cơ thể anh một loại thuốc kháng sinh mà Gary vốn bị dị ứng với nó. Mặc dù trong suốt quá trình tiến hành phẫu thuật, bản thân Gary đã được gây mê và không biết gì, song ngay sau khi hiện tượng dị ứng với kháng sinh xảy ra, anh bỗng nhận thấy dường như anh đang lơ lửng và đang từ từ bay lên không trung, thoát khỏi cơ thể đang nằm bất động của mình. Bệnh nhân cũng cho biết, khi đó anh nhìn thấy chị gái mình đang ở bên cạnh giường bệnh và cầu xin các bác sĩ điều gì đó. Ngay sau đó Gary nhìn thấy các bác sĩ tiến hành tiêm cho mình. Anh bỗng nhiên có cảm giác như mình bắt đầu hạ thấp xuống và quay trở lại với cơ thể đang nằm yên bất động trên giường bệnh. Ngay sau khi tỉnh lại, Gary đã kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho các bác sĩ trực tiếp phẫu thuật cho anh, và các bác sĩ khẳng định rằng hiện tượng mà anh gặp phải chính là một dạng cận tử

Trong trường hợp của một bệnh nhân khác sống tại Pari (Pháp), một phụ nữ có tên là Mulholland kể lại rằng bà đã từng chết và cảm nhận thấy cái chết của mình khi tim ngừng đập. Bà thấy mình đang rời khỏi thân thể và từ từ bay lên trần nhà. Trong lúc ấy, mặc dù các bác sĩ khẳng định là cơ thể bệnh nhân đã được gây mê và không hề nhận biết được gì, song khi bà Mulholland kể lại cho họ nghe những gì bà đã nhìn thấy trong phòng phẫu thuật của mình và những gì các bác sĩ đã thao tác trong quá trình tiến hành phẫu thuật cho bà, thì họ vô cùng ngạc nhiên. Bà Mulholland cũng cho biết: Khi đang dần bay lên không trung, bà đã ra sức để với xuống, chỉ vì không muốn xa rời chồng và con gái, nên bà đã cố không để mình rời khỏi cơ thể đang nằm bên dưới.

Sau ca phẫu thuật, bà Mulholland đã tỉnh dậy và biết rằng mình đã rơi vào trạng thái cận tử. Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, bà không thể vượt qua căn bệnh hiểm nghèo và đã chết thực sự.

Trong một số trường hợp khác, tác giả của cuộc gặp gỡ và nói chuyện với nhiều trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng cận tử, y tá Shirley Learthart kể lại rằng: Trong suốt 10 năm phục vụ trong các bệnh viện của Anh, bà đã từng tiếp xúc, nói chuyện và nghe rất nhiều câu chuyện từ những bệnh nhân khác nhau bị rơi vào cận tử. Họ không quen biết nhau, song tất cả những câu chuyện mà họ kể về tình trạng họ từng trải qua thì đều có một nội dung khá tương tự nhau. Trong thời gian trải qua cận tử, họ hầu như đều bị rơi vào một đường hầm tối đen với duy nhất một nguồn ánh sáng chói chang ở phía cuối đường hầm. Họ đang tiến về phía ánh sáng ấy, thì bỗng nhiên, như bị kéo trở lại và sau đó thấy mình tỉnh lại.

Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó. Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết: Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp

Huỳnh Thị Mỹ Nhàn post (theo Minh Ngọc – tổng hợp SK & ĐS)

Đọc thêm :

MỘT CÂU CHUYỆN VỀ 

CẬN TỬ NGHIỆP

Một chuyện kể rằng, một hôm, tại một tu viện nọ vị sư trụ trì khẩn cấp truyền gọi các đệ tử đến rồi long trọng cử người đại đệ tử kế vị viện chủ, sau đó sư kể cho họ nghe câu chuyện bí mật trọng đại của mình.

Một lần, sư tham thiền nhập định tự biết mình sắp nhập diệt, nên hai ngày trước, nhân đêm trăng sáng đã đi dạo quanh tu viện để giả từ. Vô tình vị ấy đi lần xuống chân núi, rồi dừng chân bên bờ suối, ngắm bóng trăng in trên mặt nước. Thình lình có cô bé, tuổi chừng đôi tám, đi đến bên dòng suối, yên chí đó là chốn không người, nên cởi bỏ chiếc váy, thản nhiên xuống tắm.

Diễn tiến xảy ra thật bất ngờ, không cách gì ngăn chặn kịp, khiến vị sư phải giữ yên lặng, cho cô bé đỡ thẹn thùng. Sư nhắm mắt lại, nhưng không biết do oan nghiệp tự kiếp nào, trong một thoáng sư bỗng khởi niệm ý nghĩ hiếu kỳ là muốn nhìn cho rõ. Vọng niệm phát khởi từ sự tò mò tưởng chừng vô hại mà hậu quả nguy hiểm không phương cứu vãn.

Trở về hậu liêu tọa thiền nhập định, sư biết mình sẽ sớm lìa đời với cận tử nghiệp ác hại đeo đuổi khiến sư phải đọa sanh làm thân con rận, sống trong chiếc váy cô bé để thỏa mãn vọng niệm nhìn cho rõ trước kia.

Do vậy, sư khẩn thiết yêu cầu chúng đệ tử hoàn thành hai điều tâm nguyện giúp sư sớm được siêu thoát. Một là, sư ủy thác người đại đệ tử, chờ đợi đúng ba ngày sau khi sư mệnh chung, phải đích thân tìm đến nhà người tiều phu ngụ dưới chân núi mua chuộc chiếc váy cô bé đang mặc, đem về đặt bên cạnh thi thể tổ, luân phiên tụng Kinh Nghiệp báo bốn ngày, đoạn đem hỏa thiêu chung với nhục thân của sư. Hai là, sư dặn dò chôn bình hài cốt của sư trên lối đi duy nhất lên xuống núi, hầu mỗi khi dẫm chân lên đó, chúng đệ tử sẽ nhớ đến oan nghiệp của sư mà xa lìa vọng niệm sàm sỡ.

(Chuyện này dựa trên một sự kiện có thật xảy ra tại Huế. Tuy nhiên, người thuật chuyện cho rằng vị sư hoàn toàn không mất định lực và khởi lên tà niệm với cô gái. Đây chỉ là một phương tiện để sư giáo hóa cho chúng đệ tử về sự quan trọng của cận tử nghiệp và đặc biệt là sự nguy hiểm của nữ sắc đối với người tu hành.

Lý do là vì : ở đoạn cuối có nhắc đến tình tiết sư thiền định và biết được mình sẽ tái sinh làm con rận trong chiếc váy. Tình tiết này cho thấy, sư là người đã đắc đạo, đã đạt được năng lực Túc mệnh minh (biết được kiếp sau) thì hẳn nhiên sư đã diệt trừ hoàn toàn tham ái nên chuyện sư khởi lên “ước muốn nhìn thấy rõ” là hoàn toàn vô lý)

TUỔI GIÀ CẬN KỀ CẬN TỬ 

Để thấy trước cõi vô hình

Lần trước, khi nói chuyện về đề tài Tuổi Già, chúng tôi có hứa với quý vị rằng sẽ nói về giai đoạn tiếp theo tuổi già. Quý vị có thể hiểu rằng tôi sẽ bàn về cái chết vì rõ ràng sau già là chết. Nhưng tôi không dám nói về sự chết vì nhiều lý do : lý do đơn giản nhất là đã chết đâu, biết gì mà nói; lý do thứ nhì là việc ấy để dành cho các y sĩ hoặc các nhà tôn giáo; lý do thứ ba là thông thường người ta … “kiêng” nói về chết ! Vì thế tôi sẽ chỉ nói về cận tử nghiệp và từ đó nói về sự  chuẩn bị cho cái chết theo quan niệm của đạo Phật.

Thông thường, con người ai cũng ham sống sợ chết. Sợ chết có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là phải xa lìa những người thân yêu. Ngoài lý do tình cảm ấy, còn lý do kinh tế là mất mát hết những của cải mà mình đang có, càng có nhiều thì càng tiếc nhiều….
… Còn lý do nữa là vì chưa thực hiện hết những chương trình hoạt động của mình về mặt này hay mặt khác. Có lẽ lý do đáng kể là sợ bước vào một khung cảnh mới sau khi chết, một khung cảnh hết sức lạ mà chỉ có một mình đơn độc chới với giữa dòng. Vua Trần Thái Tông nói về chết mà không hề nhắc một chữ chết, chỉ nói đến một mình lão ngư ông cô đơn trong biển cả bão táp dữ dội, lúc tạnh thì thuyền đã chìm rồi.

Các vị tu hành dạy chúng ta rằng khi đã hiểu lý vô thường, đã biết chắc rằng sau sinh, lão, bệnh thì cái chết phải đến – chắc chắn là sẽ đến – thì nên coi chết là chuyện thường . Vì vậy nên các vị ấy khuyên nên suy nghĩ về cái chết mà chẳng run sợ. Khi đã hiểu rồi thì phải bình thản chuẩn bị cho cái chết.

Đạo Phật quan niệm rằng chết không phải là hết hoàn toàn và cũng quan niệm rằng không có một linh hồn bất biến trường tồn sau khi thể xác đã tan biến. Phật giáo dùng danh từ đoạn kiến để nói về ý kiến cho rằng chết là hết hẳn và dùng danh từ thường kiến để nói về ý kiến cho rằng có linh hồn vĩnh cửu. Thế thì đạo Phật nói gì ? Đạo Phật bảo rằng : xác thân tứ đại tan rã nhưng còn thần thức và thần thức vô hình ấy mang cái nghiệp vô hình đi vào một kiếp sống mới. Nếu gọi thần thức ấy là linh hồn, hương hồn, vong linh, hương linh … cũng không sao miễn rằng đừng nhận nó là trường tồn bất biến.

Thông thường, người ta hay dùng chữ “đầu thai” để chỉ việc “đi vào một kiếp sống mới”. Chữ này không đúng hẳn như chúng tôi sẽ nói sau đây. Phải dùng chữ “tái sinh” mới hợp.

Sau khi một người chết rồi thì sau 49 ngày (là tối đa), thần thức vô hình mang cái nghiệp vô hình tái sinh vào một trong sáu cảnh giới hay sáu thú gọi là sáu nẻo luân hồi : địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh (loài vật), a-tu-la (thần), người (nhân), trời (chư thiên). Sự tái sinh ấy được thực hiện qua một trong bốn cách sinh sau này : thấp sinh, thai sinh, noãn sinh và hóa sinh.

Thấp sinh là sinh nơi ẩm ướt (rắn, cá …). Noãn sinh là sinh do từ trứng mà nở ra (chim, gà, vịt …). Thai sinh là sinh từ bào thai (người, trâu, bò ngựa…); nói “đầu thai” là dùng trong trường hợp này. Hóa sinh là hóa ra theo sức mạnh của nghiệp, không như ba cách trên, đó là trường hợp bị đọa xuống cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ.

Còn bốn cảnh giới hay bốn thánh đạo dành cho các bậc tu hành thoát khỏi sinh tử luân hồi: thanh văn, duyên giác, bồ-tát, Phật. Người phàm như chúng ta khó có hy vọng nhập vào dòng của bốn đường thánh đó. Thông thường, thần thức của người mới chết mang cái nghiệp của người ấy vào một kiếp sống mới. Kiếp này như thế nào, vào cảnh giới nào, sướng hay khổ, chính là do cái nghiệp ấy.

Phật tử chúng ta biết rõ rằng mỗi người có ba nghiệp : thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp , gọi chung là nghiệp. Mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động có định ý (chứ không phải vô tình) đều gây nên nghiệp, nói rõ ra đó là những nghiệp nhân vô hình tích lũy trong thần thức (a-lại-da) đợi đủ duyên thì sẽ trổ quả, tức là nghiệp quả. Theo luật nhân quả thì nhân lành sẽ cho quả lành, nhân ác sẽ cho quả ác, nhân trung hòa sẽ cho quả trung hòa. Tùy theo cái nghiệp ấy mà thần thức sẽ tái sinh vào cảnh giới tương ứng, thí dụ như khi sống mà giữ đúng năm giới thì được tái sinh làm người, khi sống mà tu thập thiện thì sẽ tái sinh vào cõi trời v v… Cái nghiệp mà chúng tôi vừa nói bao gồm luôn cái nghiệp của đời này và nghiệp của các kiếp trước. Sau khi tái sinh rồi thì lại có lúc phải chết.

Chúng tôi mới đọc một bài  nhan đề “Đời sống mong manh, chết là điều chắc chắn” trong đó tác giả là Hòa Thượng K. Sri Dhammananda viết rằng : “Theo Phật giáo, chết xảy ra trong bốn nguyên nhân sau đây :

1/ Mạng căn hay thọ mạng ấn định của chúng sinh mỗi loài đã hết. Cái chết này gọi là mạng triệt. 

2/ Năng lượng Nghiệp gây nên sự sanh của người chết đã kiệt. Cái chết này gọi là nghiệp dĩ. 

3/ Sự chấm dứt cùng một lúc của hai nguyên nhân trên. 

4/ Cuối cùng có thể do những hoàn cảnh bên ngoài như tai nạn, biến cố bất ngờ, hiện tượng thiên nhiên hay nghiệp quả từ kiếp trước không đề cập tại điều 2.

Có một sự tương đồng rất đúng để giải nghĩa bốn trường hợp trên đây. Nó tương tự như chiếc đèn dầu. Ánh sáng đèn dầu có thể tắt vì một trong những nguyên nhân:

1/ Bấc trong ngọn đèn cháy đã hết. Điều này giống như thời gian cho một kiếp đã hết. 

2/ Dầu đã cạn, giống như nghiệp lực đã hết. 

3/ Bấc hết và dầu cạn cùng một lúc. 

4/ Hậu quả của những yếu tố bên ngoài nhu gió thổi làm tắt đèn”.

Hòa thượng Rastrapal cho biết rằng mỗi người sắp chết có thể thấy một trong năm hình ảnh sau đây :

1/ thấy lửa đốt, như vậy là sẽ bị đọa xuống địa ngục. 

2/ thấy xung quanh mình tối tăm, đó là dấu hiệu bị đọa vào cảnh ngạ quỷ. 

3/ thấy rừng rú, súc vật, muông thú, đó là sắp bị đọa làm súc sinh. 

4/ thấy thân nhân đã khuất về đón, ấy là sẽ tái sinh làm người. 

5/ thấy cảnh cung điện trên cảnh trời, ấy là sắp vào cảnh giới của chư thiên.

Ông Hải Trần dịch bài ấy (The five visions of a dying man)  đã chú thích như sau : Tỳ-kheo Tịnh Đức có bình luận thêm rằng nếu người hấp hối thấy máu hay đâm chém hoặc hình ảnh có sắc thái giận dữ thì sẽ tái sinh trong cõi a-tu-la.

Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài này là cận tử nghiệp tức là cái nghiệp gây ra lúc sắp chết. Cận tử nghiệp rất mạnh, nó dắt thần thức đi tái sinh. Thí dụ như người sắp chết khởi cái tâm tham lam, sân hận … nói chung là khởi cái tâm ác thì sẽ tái sinh vào cảnh ác, cảnh khổ. Chúng ta tự hỏi: như vậy là không công bằng vì nếu người đó cả đời làm thiện mà nay chỉ vì một phút khởi tâm ác lúc lâm chung lại mất hết phước đức hay sao. Không, chúng ta cần biết thêm các chi tiết như sau: nếu bị sinh vào đường ác thì người ấy chỉ chịu một thời gian ngắn thôi, rồi sẽ chết đi để sinh vào cảnh tương ứng với tích lũy nghiệp tốt chứ không phải cận tử nghiệp xấu. Nếu như người sắp chết khởi tâm lành – tâm từ bi chẳng hạn – thì cận tử nghiệp dẫn dắt người đó vào cõi lành một thời gian nào đó rồi tích lũy nghiệp mới tác động sau.

Chúng ta đã được nghe kể nhiều trường hợp cận tử nghiệp làm hại người ta ra sao. Một vị thiền sư vào lúc cuối đời chăm lo vườn mía ở sau chùa. Năm ấy, mía rất tốt nên vị thiền sư suốt ngày quanh quẩn với mấy cây mía. Khi tịch, thiền sư tái sinh thành một con sâu trong đốt mía.

Một ông nhà giàu khi hấp hối quá tiếc tiền của nên thần thức bị lôi kéo luẩn quẩn quanh nhà, khi thấy con chó dưới bếp sắp đẻ thì tái sinh vào bụng chó rồi làm kiếp súc sinh.

Một ông vua công đức cũng khá, khi hấp hối có quan hầu đứng quạt bên cạnh. Chẳng may, ông quan lỡ tay đánh rơi cái quạt vào mặt nhà vua, ông vua nổi sân nên tái sinh vào đường ác.

Cận tử nghiệp đôi khi có ích như truyện sau đây : một người kia nghiệp cũng không tốt gì một hôm đi vào rừng bỗng gặp con hổ nhảy đến đuổi và vồ. Người ấy cuống quá chỉ hét lên được hai tiếng “Mô Phật” rồi chết. Do cái niệm về Phật ấy mà được tái sinh vào đường lành. (Nên nhớ rằng nghiệp lành cũ của người đó có giữ một vai trò nào đó, chứ không phải chỉ có hai chữ đó thôi !)

Tóm lại cái cận tử nghiệp mạnh đến nỗi nó có thể ngăn không cho người ta được tái sinh theo ước nguyện của mình khi tu tập. Nó có thể chuyển cái nghiệp lành thành ác và ngược lại nó có thể chuyển nghiệp ác thành lành. Tuy nhiên, chỉ một thời gian nào đó thôi rồi thì mọi sự lại tiến hành theo cách bình thường. Phật tử chúng ta biết rõ điều ấy nên ngay từ lúc này phải ra sức chuẩn bị. Chuẩn bị như thế nào ?

Một là hàng ngày tạo nghiệp lành, thanh tịnh hóa thân khẩu ý. Làm việc bố thí, hay cứu giúp người gặp nạn, người bệnh tật chẳng hạn … Không cần phải làm việc lớn nếu không đủ phương tiện, vấn đề là có làm và làm với tâm trong sạch, nói rõ ra là bố thí ba-la-mật : không biết của cho là nhiều hay ít, không biết người nhận là ai, không mong cầu phước báo … Làm như vậy để tích lũy thiện nghiệp.

Hai là sám hối tất cả những việc không tốt mà mình đã phạm từ khi biết suy nghĩ. Sám  hối để xóa bớt ác nghiệp. Vậy là một mặt tăng thiện nghiệp, một mặt giảm ác nghiệp. Tôi đã được nghe một vị xuất gia kể chuyện một nhà sư kia hấp hối quá lâu, nghe tụng kinh hoài ở bên cạnh mà vẫn không chết được, sau nhà sư ấy phải xin sám hối về một tội rất nặng mà nhà sư ấy không làm nhưng đã bao che cho thủ phạm thoát khỏi lưới pháp luật. Khi tụng kinh sám hối rồi, nhà sư ấy mới ra đi nổi. Vậy nên rút kinh nghiệm là không được để tội ở trong lòng. Rất có thể tội không ai biết mà chỉ một mình mình biết thôi cho nên người ta hay tránh nghĩ tới.

Ba là tha thứ cho tất cả những ai đã làm khổ mình về phương diện này hay phương diện khác. Thí dụ có một người kia vay nợ mình mà không trả. Người ấy sẽ phải trả nợ mình trong một kiếp sau. Thật tình, không ai thích “được trả nợ” trong kiếp sau vì cuộc sống lúc đó chẳng vui gì (ta vẫn nói “của nợ” để chỉ những cái xấu). Vì thế mình nên nguyện xóa nợ cho người ấy.

Bốn là gây một cái nếp ở trong tâm sao cho cận tử nghiệp hoàn toàn tốt lành. Muốn thế thì làm sao ? Phải chăm niệm Phật để cho lúc nào tâm mình cũng chỉ nhớ nghĩ về Phật, chỉ có những niệm về Phật chứ không có ác niệm, tà niệm, tạp niệm. Phải thuộc làu làu ít nhất một chú, thí dụ như chú Đại Bi, chú Bát nhã, để cho những chú ấy luôn luôn ở trong óc mình, lúc nào cũng sẵn sàng bật ra. Lúc hấp hối, những điều ấy giúp cho cận tử nghiệp được lành. Cộng thêm với thường nghiệp (tức là nghiệp hàng ngày) thiện nữa thì rất tốt.

Năm là đề phòng không cho những niệm xấu xẩy đến vào lúc hấp hối. Đó là những niệm về tham lam, sân hận, oán thù. Nói rõ ra, không tiếc nuối cái gì hết, tiền bạc, danh vọng, nhà cửa, ruộng vườn. Không giận ai, oán ai, trách ai cả. Xả hết, buông hết; tập buông xả ngay từ bây giờ chứ không đợi đến lúc lâm chung, vì đến lúc ấy không thể kịp được. Rất có thể lúc ấy bị bệnh tật hành, đau đớn, đâu có đủ tỉnh táo để tự nhủ mình rằng đừng tiếc, đừng hận ! Phải tập ngay từ bây giờ nó mới thành nếp được.

Tóm lại, người già nên chuẩn bị ngay từ lúc này cho cái thường nghiệp được lành, cho cái cận tử nghiệp được lành bằng mấy cách vừa nêu trên đây.

Chúng tôi đã trình bày xong những ý kiến của chúng tôi. Đã đến lúc xin được ngưng. Tuy nhiên, nhớ lại bài nói chuyện của một vị hòa thượng, chúng tôi xin thêm vài dòng :

Có người lo trước việc ma chay cho mình. Lẽ dĩ nhiên, lo xa là tốt. Lo hãng bảo hiểm, lo giao việc tổ chức hậu sự cho một hãng chuyên về việc tang để cho khi vào việc thì con cháu đỡ lúng túng. Có người bàn đến việc thiêu hay chôn, cái đó tùy ý mỗi người nhưng nên nói cho con cháu biết ý của mình và dặn rõ thêm là cứ tùy duyên, nghĩa là gặp cảnh nào thì thuận theo cảnh đó cho bớt phiền hà. Tránh cái việc bắt buộc con cháu phải thế này phải thế nọ, thí dụ như bắt buộc mang tro về tận quê xa xôi ! Còn việc ma chay thì nên hết sức đơn giản, theo đúng nghi thức Phật giáo. Đừng rềnh rang, đừng ăn uống trả nợ miệng. Nếu có chút tiền thì con cháu, bạn bè nên làm các việc phước rồi hồi hướng công đức cho người quá vãng.

Nguyễn Thị Thùy Lan post

Advertisements

CÂU CHUYỆN LUÂN HỐI

CẬU BÉ JAMES LEININGER

VÀ “HIỆN TƯỢNG TÁI SINH”

Cha của James là Bruce C. Leininger, một thạc sỹ chuyên ngành khoa học xã hội. Mẹ Andrea của cậu là một phụ nữ đa tài, giỏi về hội họa, múa, và văn học. Cô từng theo học ba lê tại New York và San Francisco . Sau khi tốt nghiệp trường trung học cô là một vũ công ba lê chuyên nghiệp suốt 10 năm trước khi quyết định nghỉ ngơi để chăm sóc gia đình.

Cậu bé James Leininger (Sinh ngày 10/4/1998) từ khi còn rất nhỏ đã không chơi với thứ gì khác ngoại trừ máy bay, cha mẹ cậu kể lại. Nhưng khi cậu bé lên 2 tuổi, những chiếc máy bay mà cậu yêu thích lại thường xuất hiện trong những cơn ác mộng lặp đi lặp lại tới 4 lần một tuần, làm James la hét và quẫy đạp dữ dội. Dường như bé đang chiến đấu với một cái gì đó hoặc là đang bị nhốt trong lồng, và cố gắng thoát ra ngoài. Cách duy nhất để bé thoát khỏi ác mộng là cha mẹ phải lay bé dậy. Trong giấc mơ, cậu bé thường la lớn : “Máy bay rơi bốc cháy, người đàn ông trẻ không thoát ra được”.

Andrea kể mẹ cô là người đầu tiên nghĩ rằng có thể James đang nhớ lại kiếp trước của mình. Ban đầu, Andrea nói, cô rất hoài nghi. Cha mẹ James cho biết cậu bé chỉ xem các chương trình truyền hình thiếu nhi mà thôi, còn họ thì không hề xem các phim tài liệu thời Thế chiến thứ II hay bàn luận gì về chiến tranh cả. Trong một cuốn băng video thu vào năm James 3 tuổi, người ta thấy cậu bé xem xét kỹ lưỡng một chiếc máy bay như thể viên phi công đang kiểm tra trước khi bay vậy.

Một lần khác, Andrea mua cho cậu bé một chiếc máy bay đồ chơi và chỉ cho cậu xem một thứ trông như một trái bom bên dưới. James đã chỉnh cô ngay, bảo rằng đó là một drop tank (thùng chứa xăng phụ phía dưới thân máy bay, có thể thả rơi xuống nếu cần thiết). “Tôi chưa từng nghe nói về drop tank. Tôi còn không biết đó là cái gì nữa”.

Rồi những cơn ác mộng của cậu bé ngày càng tệ hơn. Mẹ của Andrea bảo cô nên đến gặp tiến sỹ Carol Bowman, một bác sỹ chuyên khoa trong lĩnh vực nghiên cứu luân hồi tái sinh. Bowman còn là tác giả của cuốn sách “Tiền kiếp của những đứa trẻ : Ký ức tiền kiếp ảnh hưởng đến con bạn như thế nào”, viết sau khi chính con trai của bà gặp phải những cơn ác mộng và những hồi tưởng lạ lùng tương tự như thế.

Andrea đã gọi điện cho bà tiến sỹ ngay lập tức. Với sự hướng dẫn của Bowman, Andrea bắt đầu khuyến khích James chia sẻ những kí ức của bé ngay sau cơn ác mộng. Kết quả là, những cơn ác mộng đã giảm hẳn. James cũng diễn đạt rõ ràng hơn về quá khứ của mình, Andrea kể lại.

Tiến sỹ Bowman cho biết James đang ở một lứa tuổi có thể dễ nhớ lại về kiếp trước nhất. Bà nói : “Chúng chưa gặp những tác động văn hóa, chưa bị những kinh nghiệm sống của kiếp này lấn át, nên ký ức có thể trào dâng dễ dàng hơn… Việc trẻ nhỏ mơ về tiền kiếp không phải là chuyện hiếm gặp. Chúng ta thường chú ý tới ác mộng bởi vì chúng quấy phá giấc ngủ, và thường là những câu chuyện xúc động và rất thực, giống như trường hợp của James vậy. Ác mộng thường tái diễn luôn, khi đứa trẻ hồi tưởng lại những sự kiện đầy kịch tính ấy mãi. Ở một mức độ nào đó, chúng đang tìm cách giải quyết cho những ký ức nhiễu loạn ấy. Khi Andrea đã biết được sự việc mà James nhớ lại trong giấc mơ – là chiếc máy bay rơi – điều đó đã giúp cậu bé vượt qua được chấn thương tinh thần”.

Nhưng tác dụng phụ của điều đó – đúng như tiến sỹ Bowman đã dự đoán trước – những hồi ức của James về chiếc máy bay rơi và về người đàn ông đã không thể thoát ra, trở nên chi tiết hơn, thực tại hơn. James bắt đầu hồi tưởng lại trong khi tỉnh, một cách rõ ràng, về việc máy bay của cậu cất cánh khỏi mặt nước và quân Nhật đã bắn rơi nó như thế nào. James kể với cha là cậu từng lái một chiếc máy bay hiệu Corsair. Cậu bé còn nói cậu đã phục vụ trên chiếc hàng không mẫu hạm có tên là USS Natoma Bay trong cuộc chiến với Nhật Bản. Những chi tiết rõ ràng và kỳ lạ này đã buộc Bruce cha cậu, tiến hành một cuộc điều tra nghiên cứu với sự giúp đỡ của vợ để chứng minh tất cả chuyện này không phải là sự thật. Cả 2 vợ chồng hoài nghi và không muốn tin vào điều đó.

Tuy nhiên cuộc nghiên cứu kéo dài suốt gần 5 năm trời với hàng ngàn tài liệu, những cuộc phỏng vấn cá nhân và các nguồn tin của quân đội, Bruce và Andrea cuối cùng đã phải chắc chắn một điều : con trai họ có mối liên hệ kỳ lạ với một phi công Hải quân Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh thế giới thứ II, có tên là James M. Huston, đã hy sinh vào năm 1945 trong khi đang làm nhiệm vụ, trên vùng trời Iwo Jima, Nhật Bản.

Những điều lạ lùng khi mới 20 tháng tuổi

Bruce và Andera kể rằng họ bắt đầu thấy những dấu hiệu lạ thường ngay từ khi James hơn 1 tuổi rưỡi. Andrea kể cậu bé cứ luôn luôn quấn quít bên những chiếc máy bay : Cậu chơi với máy bay đồ chơi suốt nhiều tiếng đồng hồ không biết chán và reo lên mỗi khi trông thấy một chiếc máy bay nào đó băng qua bầu trời.

Khi chuyển nhà từ Richardson, Texas, tới Lafayette vào tháng 2/2000, Bruce đã dẫn James tới Bảo tàng Máy bay Cavanaugh tại Addison, Texas. Cậu con trai ông như bị thôi miên bởi những chiếc máy bay tại Viện bảo tàng ấy. Chú bé cứ thơ thẩn quanh quẩn khu vực Thế chiến II của Bảo tàng. Khi ông cố gắng đưa James trở về nhà sau gần 3 tiếng ở đó, James gào khóc. Để thỏa mãn sự tò mò và vỗ về cậu, Bruce đã mua cho cậu một băng video trình diễn máy bay Thiên thần Xanh Hải quân (Navy Blue Angels) tại Bảo tàng. James đã xem nó nhiều đến nỗi cuộn băng gần như nát cả ra.

Vào tháng 4/2000, sau khi đã ổn định nơi ở mới tại Lafayette, những cơn ác mộng của James bắt đầu xuất hiện. Bruce và Andrea cho rằng ác mộng là do James chưa quen với ngôi nhà mới. Nhưng khi ác mộng diễn ra triền miên, thì cha mẹ cậu bé đã phải quan tâm đặc biệt đến con mình.

Trong lúc đó, thì những đồ dùng trong nhà đã phải hứng chịu bộ sưu tập máy bay của James. Cậu bé thả những chiếc máy bay đồ chơi của mình rơi đâm thẳng xuống mặt bàn và ghế. Andrea nhớ lại, vừa đưa tay chỉ vô số những vết trầy xước trên mặt bàn phòng khách. Chiếc bàn đã là bãi đáp cho máy bay của cậu bé. Máy bay đâm xuống mặt đất đã là một nỗi ám ảnh dai dẳng đối với James, đến nỗi khi bất kỳ ai đề cập đến bay lượn, thì James lập tức buột miệng kêu “Máy bay rơi cháy rồi”. Điều đó khiến Andrea rất lo lắng.

Từ tháng 7 cho tới tháng 9/2000, James đã bắt đầu kể với cha mẹ rằng chiếc máy bay trong những ác mộng ấy đã bị quân Nhật bắn rơi sau khi cất cánh từ một con tàu trên mặt biển. Khi James được hỏi liệu cậu có biết viên phi công ấy là ai không, cậu chỉ đáp gọn “James”.

Andrea hỏi James loại máy bay mà cậu đã lái trong những giấc mơ, và cậu nói nó là một chiếc “Corsair”. Vậy là, sau nhiều lần cố lấy thêm thông tin sau những ác mộng ấy, Bruce và Andrea đã nghe James nói “Natoma”. Bất chợt nảy ý thử tìm hiểu thực hư, Bruce đã tìm kiếm trên mạng với từ khóa “Natoma”. Kết quả là : có tồn tại một tàu sân bay mang tên USS Natoma Bay, đóng tại Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Bruce đã nghĩ rằng đó chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên thôi.

Vào tháng 10/2000, lại thêm một mảnh câu đố đã được làm sáng tỏ. Sau một cơn ác mộng khác, James đã nói với cha mẹ cái tên Jack Larsen, và cậu bảo đó là Larsen mà cùng bay với James. Tháng sau, James lại có thêm một chút thông tin nữa làm kinh hoàng người cha vốn luôn nghi ngờ. Bruce lướt xem một quyển sách tựa đề “Trận chiến giành Iwo Jima” của tác giả Derrick Wright mà ông vừa nhận được từ một Câu lạc bộ sách lịch sử. Trong khi Bruce đọc, James đã nhảy vào lòng bố để xem tranh vẽ. Khi chờ xem tranh thì James ngồi im nhìn vào trang sách. Thình lình, James chỉ vào một bức tranh của Iwo Jima gần Chichi Jima và nói, “Bố, đó là nơi máy bay của con bị bắn rơi”. Bruce choáng váng.

Vài tuần sau, với những cuộc tìm kiếm nhờ mạng Internet, Bruce đã tới một trang web đề cập đến Hội Natoma Bay. Ông đã liên lạc với Leo Pyatt, người về sau nhận mình đã từng là nhân viên điện đài trên một máy bay chiến đấu Avenger thuộc phi đội VC-81. Bruce không thể cầm lòng, và hỏi Pyatt liệu có chiếc phi cơ Corsair nào đã bay trên Vịnh Natoma không. Pyatt bảo không – chỉ có những chiếc máy bay Avenger và Wildcat thôi. Rồi Bruce hỏi Pyatt có người nào ở đó tên Jack Larsen không. Pyatt bảo ông biết Jack Larsen, nhưng không biết điều gì đã xảy ra với ông ta cả.

Sau khi nhận ra nhiều chi tiết từ đứa con trai 2 tuổi của mình không hiểu vì sao lại hiện thực như vậy, Bruce bị ám ảnh, ông cố gắng bác bỏ bởi vì muốn tin rằng đó chỉ là những “trùng hợp ngẫu nhiên”. Ông bắt đầu lần tìm được những hồ sơ của quân đội từ khắp nước Mỹ. Mục tiêu cuối cùng của ông là để chứng minh việc này không phải là sự thật. Do đó, ông phải tìm Jack Larsen.

Những mảnh câu đố ghép nối thành bức tranh hoàn chỉnh

Bruce không thể tìm được điều gì về Jack Larsen trong các hồ sơ quân đội sau khi con trai họ đề cập đến cái tên ấy. Ông đã tìm kiếm từ mọi danh sách mà ông có thể tìm được từ các Hồ sơ lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ về những người đã chết trong khi phục vụ cho USS Natoma Bay và tất cả các tàu sân bay khác trong suốt Thế chiến II. Có nhiều Larsen và Larson đã hy sinh, nhưng không có Larsen nào ở USS Natoma Bay. Ông đã tìm kiếm hơn một năm, nhưng không có kết quả. Ông suýt nữa đã bỏ cuộc.

Vấn đề là ở chỗ : Bruce đang tìm kiếm một người đã chết. Sau khi dự Cuộc sum họp Vịnh Natoma vào tháng 9/2002, Bruce mới khám phá ra rằng Jack Larsen vẫn còn sống khỏe mạnh tại Springdale, Ark. Sau khi nói chuyện với những cựu quân nhân của chiếc tàu sân bay USS Natoma Bay và gia đình họ, Bruce được biết là có 21 người đã tử trận khi phục vụ cho USS Natoma Bay.

Một trong số những người đó là trung úy James McCready Huston con, thuộc phi đội máy bay chiến đấu VC-81, bị bắn rơi khi mới 21 tuổi trong một nhiệm vụ tấn công đặc biệt vào tàu vận chuyển tại bến cảng Futami Ko ở Chichi Jima, theo như các báo cáo đã được giải mật. Huston đã tình nguyện tham gia vào nhiệm vụ này. Anh là phi công duy nhất của tàu USS Natoma Bay bị bắn rơi tại Chichi Jima.

Đôi vợ chồng nhà Leininger còn nhận ra rằng James đã ký tên mình là “James 3″ trên những bức vẽ chì màu về các máy bay trong Thế chiến II. Cậu thậm chí còn nói mình là “James 3″ – nhiều tháng trước cuộc đoàn tụ ấy – ngụ ý rằng James Huston đã theo tên cha là James, và James Leininger là James thứ 3.

Tới thời điểm đó, Bruce nói ông trở nên nản chí bởi vì nỗ lực chứng minh rằng cậu con trai mình không có tiền kiếp nào cả đang đi nhầm hướng. “Tất cả những bức vẽ của nó đều là máy bay đang chiến đấu, và nó biết chủng loại của những chiếc máy bay. Thậm chí nó còn vẽ cả lá cờ mặt trời đỏ của quân Nhật”, Bruce nói. “Nhưng sau khi nó vẽ “James 3″ lần đầu tiên, tôi mới hỏi nó tại sao lại thế. James nói “Con là thứ 3. Con là James thứ 3″. Nó đã tự gọi mình như thế khi chỉ mới có 3 tuổi. Tôi nghĩ nó đang vật lộn với chuyện gì đó chưa được giải quyết, nếu không thì đã không vẽ mãi những bức tranh ấy…”.

Kiên quyết tìm cho ra ngọn nguồn, Bruce đã tới thăm Larsen ở Akansas vào tháng 9 năm 2002 và hỏi ông về James Huston. Larsen không rõ điều gì đã xảy ra với Huston, nhưng ông chắc chắn là máy bay của Huston đã bị trúng đạn vào ngày 3/3/1945 – cái ngày mà Huston đã không trở về sau nhiệm vụ và vì vậy không rõ là Huston đã chết hay là bị quân địch bắt. Larsen đã là phi công yểm trợ cho Huston trong cái ngày tiến về Chichi Jima ấy.

Sau khi cố gắng kiểm tra các hồ sơ của phi đội VC-81, ông khám phá ra là Huston đã bị bắn rơi trong một chiếc máy bay chiến đấu hiệu FM2 Wildcat chứ không phải là một chiếc Corsair, và không có ai trong Cuộc sum họp đó đề cập gì tới những chiếc máy bay Corsair cất cánh từ USS Natoma Bay. Bruce nói điểm không chính xác đó đã giúp ông nuôi hy vọng rằng tất cả chuyện này chỉ là một chuỗi trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.

Hoài nghi tan biến

Để cho chắc, Bruce cố gắng tìm những thành viên của gia đình Huston. Vào tháng 2/2003 ông đã liên lạc với Anne Huston Baron, là chị của Huston, hiện đang sống tại Los Gatos, California. Qua nhiều cuộc điện đàm, nhà Leininger và bà Barron đã trở thành bạn, và bà đồng ý gửi cho Bruce những hình ảnh của người em trai khi trong quân ngũ. Những gói ảnh đã đến được tay Bruce vào tháng 2 và tháng 3/2003.

Trong một gói ảnh có một bức hình của Huston đang đứng trước một chiếc máy bay chiến đấu Corsair – đúng loại mà James nhắc đi nhắc lại mãi. Theo Bruce, các cuộc phỏng vấn với những thợ bảo dưỡng máy bay và các hồ sơ quân đội đã giải mật, thì trước khi Huston gia nhập USS Natoma Bay và VC-81, anh đã là thành viên của một phi đội ưu tú đặc biệt, là phi đội VF-301 Devil’s Disciples, từ tháng 1 tới tháng 8 năm 1944. Phi đội ưu tú này đã bay thử những chiếc Corsair dùng cho tàu sân bay, và chỉ có 20 phi công được tuyển chọn cho trách nhiệm này. Tuy nhiên, phi đội VF-301 đã bị giải tán sau 8 tháng và Huston được gửi về phi đội VC-81 vào mùng 8/10/1944.

Khi biết được việc này, Bruce nói, tất cả những hoài nghi trong ông đã tan biến. “Tôi không có câu trả lời nào cho việc này, nên tôi cũng không thể giải thích gì cả”, Bruce nói. “Tất cả những giấc mơ có thể là ngẫu nhiên, nhưng có những nhân tố kỳ dị mà bạn buộc phải tính đến. Sét có thể đánh trúng một lần, nhưng khi sét đánh 8, 9 lần thì bạn không thể bảo đó là ngẫu nhiên được”.

Bruce đã không kể cho bà Barron về câu chuyện siêu nhiên của đứa con trai cho đến tận tháng 10/2003. Khi cuối cùng ông kể với bà rằng cậu em trai của bà có thể là James, bà nói rằng bà đã choáng. Sau đó, vào ngày 15/10/2003, Bruce và Andrea nhận được một lá thư của bà Barron, cùng với một số đồ đạc cá nhân của Huston. Trong thư bà nói rằng không những là bà cảm thấy James gần gũi, mà còn thực sự tin câu chuyện này.

“Cậu bé không thể biết được những việc này – đơn giản là không thể – cho nên tôi tin cậu bé là một phần của em trai tôi”, bà Barron nói. Giờ đây bà gọi cậu bé 6 tuổi là James 3. Và đến lượt mình, cậu cũng xem người phụ nữ 86 tuổi ấy là chị của mình.

Khi Bruce khám phá thêm những thông tin về Huston, vợ chồng nhà Leininger đã tìm thấy những mối liên hệ kỳ lạ khác nữa giữa Huston và con trai của họ. James có 3 búp bê lính Mỹ và đặt tên chúng là Leon, Walter và Billie – đúng tên của 3 phi công bạn của Huston. Theo hồ sơ của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Trung úy Leon Stevens Conner, Thiếu úy Walter John Devlin và Thiếu úy Billie Rufus Peeler nằm trong số 21 người tử trận của USS Natoma Bay. Họ cùng là các thành viên của phi đội máy bay VC-81 với Huston. Bruce hỏi tại sao cậu lại đặt tên cho búp bê như vậy. Cậu bé trả lời : “Bởi vì họ đã chào đón con khi con đến thiên đường”.

Sau khi nghe James nói, Bruce chỉ còn biết rời khỏi phòng trong im lặng sững sờ.

James cũng giải thích cho cha mình rằng máy bay hiệu Corsair thường có lốp phẳng và có xu hướng luôn nghiêng sang trái như thế nào. Sau khi kiểm tra với các nhà sử học quân sự tại Viện bảo tàng Lone Star Flight ở Galveston, Texas, Hoa Kỳ, lời cậu nói đã được xác minh là đúng sự thật. Andrea nhớ lại lần đầu tiên khi cô làm món bánh mì thịt cho James ăn, James đã nói với cô rằng cậu đã không ăn món bánh mì thịt kể từ khi ở Natoma Bay . Vì vậy, Bruce và Andrea liên lạc với một số cựu chiến binh của tàu sân bay USS Natoma Bay, và họ biết được rằng bánh mì thịt là một món ăn chính của phi đoàn.

Ngày máy bay của James Huston bị bắn rơi

Sau khi phát hiện chi tiết về chiếc máy bay Corsair là thật, vẫn còn một điểm cần phải được xác minh : máy bay của Huston bị bắn rơi như thế nào. Có đúng là nó bị hỏa lực phòng không của quân Nhật bắn trúng động cơ, trên vùng trời Iwo Jima như lời James nói hay không ?

Tuy nhiên, không ai trong số các phi công yểm trợ của Huston, gồm Jack Larsen, Bob Greenwalt hoặc William Mathson Jr. thuộc phi đội VC-81 đã nhìn thấy máy bay của anh bị bắn rơi vào ngày 03 tháng 3 năm 1945.

Vào tháng 6 năm 2003, một cựu chiến binh khác đã giúp Bruce. Đó là Jack Durham, thành viên của phi đội ném bom và phóng ngư lôi VC-83 của tàu USS Sargent Bay mà đã bay song song với phi đội của Huston vào ngày định mệnh đó. Theo lời Durham, ông đã thấy máy bay của Huston bị bắn hạ bởi hỏa lực phòng không của Nhật. Hơn thế nữa, điều này cũng được xác nhận bởi các báo cáo của phi đội VC-83.

Sau khi nghiên cứu thêm nhiều hồ sơ của phi đội VC-83 và đọc các nhật ký chiến tranh của họ, Bruce đã liên lạc với các thành viên của phi đội VC-83 là Richardson, Bob Skelton và Ralph Clarbour. Tất cả họ đều khẳng định rằng không những máy bay của Huston bị bắn hạ, mà họ còn thấy nó bị trúng đạn ở động cơ, gây ra một tiếng nổ. Clarbour cho biết máy bay của ông đã bay ngay sau chiếc máy bay của James M. Huston Jr. trong cuộc đột kích gần Iwo Jima vào ngày 3/3/1945: “Tôi có thể nói rằng, anh ấy đã bị bắn ngay vào chính giữa động cơ”. Sau đó máy bay của Huston đâm xuống bến cảng Futami Ko, đúng nơi James đã chỉ ra trong cuốn sách lịch sử mà 2 cha con xem vào tháng 11 năm 2000.

Thế là mọi chi tiết các giấc mơ của James đều đã được xác minh là sự thật, và vợ chồng nhà Leininger đã toại nguyện. Thông qua nhiều nhân chứng, nhiều cuộc phỏng vấn cá nhân và các hồ sơ quân đội, Bruce và Andrea tin chắc con trai mình chính là James Huston. Không chỉ có họ, mà nhiều người từng là thân nhân và bạn bè của Huston khi tiếp xúc với James đều đi đến kết luận : James 3 là James Huston đầu thai trở lại.

James tiếp tục nhớ lại những kỷ niệm cuộc đời quá khứ của mình, thậm chí tới tận ngày hôm nay, nhưng tiến sỹ Bowman cho biết trẻ em thường bị mất khả năng nhớ những kỷ niệm về tiền kiếp kể từ năm lên 7.

Khi được hỏi tình cảm 2 vợ chồng dành cho đứa con trai có bị ảnh hưởng hay không khi biết nó có thể là một người khác, Bruce trả lời : “Không có gì thay đổi cả. Tôi không nhìn con mình và tự hỏi : “Có phải con trai mình đây không ? Vì đó là con trai của tôi”.

Mỹ Nhàn post (theo Minh Trí : dailymail.co.uk)