BÁNH TRUNG THU XƯA VÀ NAY

BÁNH TRUNG THU :

TỪ HUYỀN THOẠI

ĐẾN PHIỀN TOÁI

Người xưa ăn bánh Trung Thu khi mùa màng đã kết thúc, chiếc bánh Trung Thu như món lễ vật dâng lên Trời Đất đã ban cho mưa thuận gió hoà. Ngày nay, chiếc bánh Trung Thu đem biếu đã trở thành một biến dị của truyền thống, lãng phí của cải và phiền toái trong quan hệ giữa người với người.

Từ huyền thoại về chiếc bánh Trung Thu

Về nguồn gốc của Tết Trung Thu, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau. Tuy nhiên, đó không phải chủ đề chính của bài viết này. Người viết chỉ có một nhận định rằng, dù có theo thuyết nào thì Tết Trung Thu cũng không thể tách rời khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp của những dân tộc Châu Á chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nhất là những khu vực trồng lúa nước.

Khi canh tác nông nghiệp, người ta theo lịch pháp truyền thống (Hoàng lịch, còn gọi là Âm lịch, thực chất là một loại Âm Dương hợp lịch), nó gắn với sự biến đổi của thời tiết trong năm như mưa nắng, nóng lạnh, con nước lên xuống, sự thay nhau của các mùa v.v.

Cho nên, khi gặt xong mùa lúa, cũng là khoảng giữa tháng tám âm lịch. Đây cũng là thời điểm trăng tròn nhất, sáng đẹp nhất, thời tiết mát mẻ nhất và người nông dân đã làm xong việc quan trọng nhất là thu hoạch mùa màng. Gió mát, trăng thanh, con người thảnh thơi thì sẽ có lễ hội.

Tết Trung Thu gắn liền với trăng tròn, với lễ hội rước đèn, với múa lân… nhưng đặc biệt không thể thiếu bánh Trung Thu. Sau đây là truyền thuyết được nhắc tới nhiều nhất.

88 năm sau khi người Mông Cổ thiết lập ách cai trị trên toàn cõi Trung Hoa, tinh thần của Hán tộc bị ngoại nhân đè nén nặng nề. Đời sống của họ bị định đoạt hoàn toàn bởi những kẻ cai trị Mông Cổ. Để loại trừ cơ hội nổi dậy của người Hán, người Mông Cổ cấm họ không được sở hữu vũ khí, thậm chí đồ ăn cũng bị chia khẩu phần. Mật thám của triều đình ở khắp nơi. Đặc biệt là người Hán không được phép tụ tập đông người. Đó là một khó khăn cho việc nhóm họp, truyền tin và tổ chức cho cuộc nổi dậy quy mô lớn của Hán tộc chống lại Mông Cổ.

Vào năm 1368, thời gian cho cuộc nổi dậy đã đến. Thủ lĩnh của cuộc nổi dậy chống Mông Cổ là Chu Nguyên Chương đã được quân sư Lưu Bá Ôn bày cho một kế hoạch. Tết Trung Thu đang đến, thời gian này mọi gia đình vẫn ăn một loại bột nhồi mà sau này sẽ được hoàn thiện thành bánh Trung Thu như ngày nay.

Lưu Bá Ôn cử người tung tin đồn rằng: sắp có một bệnh dịch chết chóc và cách duy nhất để vượt qua là ăn một loại bánh Trung Thu đặc biệt, điều đó khiến người dân rất tích cực tìm mua bánh Trung Thu. Đồng thời, ông ta cũng cho người đi khắp các tiệm bán bánh Trung Thu để nhồi vào trong nhân bánh một mẩu thông điệp khiến người Hán đồng loạt nổi dậy vào Tết Trung Thu. Có thuyết cũng cho rằng, thông điệp đó nằm trên mặt bánh và người ta phải cắt bánh ra làm bốn miếng và ghép lại thì mới nhận được thông điệp.

Bởi người Mông Cổ không ăn bánh Trung Thu, cũng không đọc được Hán tự nên họ không biết được kế hoạch này. Vậy là cuộc nổi dậy của người Hán đã thành công, người Mông Cổ đã bị đuổi ra khỏi đất nước Trung Hoa và Chu Nguyên Chương lên ngôi lập ra triều Minh. Đây là truyền thuyết được nhắc đến nhiều nhất về bánh Trung Thu, mặc dù nó không nhất thiết là chính xác nhất. Tuy nhiên, nó liên quan đến chủ nghĩa dân tộc mang tính lịch sử của người Trung Quốc..

Đến cuối thời nhà Thanh, câu chuyện lại được lan truyền lần nữa, lần này chính thức bằng văn tự. Lý do là, Hán tộc liên hệ sự cai trị của một dân tộc thiểu số là Mãn Châu, mà họ không hoàn toàn phục tùng, với sự cai trị khi xưa của người Mông Cổ. Và câu chuyện nguồn gốc bánh Trung Thu là thể hiện ước vọng quật khởi của họ.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ Trung Quốc bị xâu xé bởi các cường quốc phương Tây, ví như một chiếc bánh ngọt bị ăn bởi 8 thực khách. Chiếc bánh ngọt biểu tượng Trung Quốc đó chính là bánh Trung Thu.

Một lần nữa, hình ảnh chiếc bánh Trung Thu lại xuất hiện trong một sự kiện chính trị khác là cuộc cách mạng Ô Dù ở Hồng Kông năm 2014. Những người chống đối đã tạo hình những thông điệp chính trị ở vỏ ngoài của chiếc bánh Trung Thu.

Hình tượng bánh Trung Thu trong văn học

Trong tiểu thuyết “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” của nhà văn Kim Dung, sau khi Trương Vô Kỵ đảm nhận chức Giáo Chủ Minh Giáo, liền tập hợp giáo chúng mở cuộc đại hội Minh Giáo vào ngày rằm tháng 8 ở Hồ Điệp Cốc tỉnh Hoài Bắc.

“Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, các lộ giáo chúng ngồi cả dưới đất, các giáo chúng chấp sự tổng đàn đem bánh nhân chay ra chia cho mọi người. Ai nấy thấy bánh tròn như mặt trăng nên gọi là bánh Trung Thu. Về sau người ta truyền tụng người Trung Hoa ăn bánh Trung Thu để thề giết quân Mông Cổ chính là từ đại hội của Minh giáo mà ra”.

Trong bộ truyện “Sở Lưu Hương Hệ Liệt” của nhà văn Cổ Long có bánh trung thu “Hằng Nga hận” do tiệm bánh Tam Nhật Khai sản xuất, nổi tiếng trên giang hồ.

Bánh Trung Thu xưa và nay

Khác biệt lớn nhất của bánh Trung Thu xưa với nay nằm ở phần nhân bánh. Bánh Trung Thu truyền thống của Trung Quốc thường có nhân đậu đỏ, chà là, hạt sen nhuyễn, táo ta, 5 loại hạt. Bánh Trung Thu theo phong cách Quảng Đông còn có trứng vịt muối.

Bạn đọc Việt Nam sống trong thời bao cấp hẳn còn nhớ bánh Trung Thu hồi ấy chỉ có một loại duy nhất: nhân thập cẩm. Bánh nhân thập cẩm gồm: thịt mỡ, mứt bí, lạp xưởng, lá chanh… đôi khi có cả hạt sen, hạt dưa. Nhân bánh rất ngọt, ngọt quá mức cần thiết và nhiều dầu.

Còn ngày nay, bánh Trung Thu ở khắp nơi đã quá khác biệt. Chúng ta không thể kể hết các loại bánh Trung Thu với các chủng loại nhân bánh khác nhau, vì làm sao chúng ta có thể liệt kê được trí tưởng tượng phong phú của con người. Bất cứ thứ gì ăn được đều có thể làm nhân bánh Trung Thu, từ trà xanh, dăm bông, kem phô mai (cream cheese), chocolate, khoai môn, đậu đỏ, đậu xanh, thịt lợn, khoai lang, sầu riêng, thạch sữa v.v. Đúng là phong phú thì có phong phú thật, nhưng có lẽ cũng hơi quá. Bánh Trung Thu hiện nay hầu như đã không còn hương vị truyền thống, cũng như ý nghĩa của bánh Trung Thu trong lễ hội đêm Rằm tháng 8 đã không còn như thuở ban đầu.

Đến phiền toái từ bánh Trung Thu

Người xưa ăn bánh Trung Thu là họ kỷ niệm một thời điểm quan trọng trong năm. Đó là khi mùa màng kết thúc, nếu trời cho mưa thuận gió hòa thì người nông dân sẽ được mùa. Và chiếc bánh Trung Thu được làm từ nông sản: bột mì, bột gạo, đậu đỏ, hạt sen, hạt bí, hạt dưa… là món quà mà mẹ thiên nhiên mang lại nhờ vào sự lao động cần cù của con người. Đó là lúc con người thảnh thơi để dâng cúng các sản vật này cho Trời Đất vì “ơn trời mưa nắng phải thì…” Đồng thời, họ cùng nhau vui vẻ thưởng thức sản phẩm do chính tay họ làm ra trong cảnh trăng thanh gió mát đầy khoan khoái.

Nhưng bánh Trung Thu ngày nay không phải là để ăn, mà là để biếu. Có nhiều người mượn lễ Trung Thu, mượn bánh Trung Thu để cầu cạnh, để nhờ vả, để gieo ân tình, để gặt quan hệ, để thể hiện sự có đi có lại, sự vay trả trả vay v.v. Do vậy, người được biếu không ăn bánh nhưng cũng phải mua bánh để biếu những người quan trọng khác.

Nếu coi việc biếu xén là đương nhiên, thì không được biếu sẽ thấy khó chịu, không biếu thì thấy áy náy.

Vì bánh là để biếu nên ai cũng cần đẹp mặt, cần sự sang trọng, sự độc đáo của hình thức. Chất lượng thực sự của bánh Trung Thu như một món ăn truyền thống được đặt xuống hàng thứ yếu.

Vì cần phải độc đáo, phải lạ nên người ta sẵn sàng tìm những nguyên liệu đắt tiền nhất làm nhân bánh mà không quan tâm xem nó có phù hợp với hương vị bánh Trung Thu hay không. Từ đó mới có các loại nhân bánh quái lạ như cua huỳnh đế, bào ngư, tôm càng, hạt sen tứ quý v.v. Người viết đảm bảo rằng nếu kim cương mà ăn được thì sẽ có người cho nó vào nhân bánh và sẽ có người mua để tặng.

Vì cả người tặng bánh lẫn người được tặng cần được đẹp mặt nên hình thức bánh phải rất cầu kỳ. Không cầu kỳ sao thể hiện được tấm lòng trân trọng đây? Cho nên vỏ hộp bánh bằng da Ý nhập khẩu, hộp bánh được thiết kế bằng chất liệu gỗ, sơn mài, hay nhôm dập nổi cao cấp… cũng không có gì là lạ.

Và bánh cũng cần phải đắt tiền thì may ra mới tạo được ấn tượng với những người quen xài sang, trong đời chưa cao lương mỹ vị nào chưa từng được nếm thử. Cho nên, trong hộp bánh mới kèm cả những thứ không liên quan gì như rượu Tây hay những thứ đồ kỳ quặc khác mà trí tưởng tượng bất kham nhất của con người có thể nghĩ ra được.

Một hộp bánh như thế có thể có giá lên tới hơn chục triệu đồng.

Một thứ bánh Á Đông người ta thường dùng kèm với trà mạn mà lại đi dùng với rượu Tây? Có khác gì đem xúc xích chấm vào mắm tôm. Thật là một cuộc giao chiến (không phải giao thoa) Đông Tây về văn hóa.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng phải thôi. Bánh Trung Thu mà dùng nhân “Tây” như chocolate hay cream cheese thì rõ là phải dùng với rượu Tây chứ còn gì nữa.

… và hậu quả của bánh Trung Thu đem biếu

Vì bánh là để đem biếu, không phải để ăn. Vả lại, cũng không phải ai cũng thích ăn bánh trung Thu vì nó quá ngọt. Trong bối cảnh nhiều người béo phì và tiểu đường như hiện nay, thì bánh trung Thu cũng sẽ nằm trong thực đơn phải kiêng cữ của họ. Cho nên nhiều bánh được biếu sẽ bị bỏ đi.

Theo trang BBC thì năm 2012, có 2 triệu bánh trung Thu bị vứt bỏ ở Hồng Kông. Đó mới chỉ tính riêng cho Hồng Kông. Còn không biết với Trung Quốc đại lục thì con số ấy còn lớn đến ngần nào nữa. Và 6 năm đã trôi qua, hiện nay thì không biết con số ấy thực tế ra sao.

Lãng phí không chỉ nằm ở số bánh Trung Thu bị vứt bỏ mà còn nằm ở những vật liệu đóng gói: hộp kim loại, sơn mài, lụa lót hộp… như kể trên. Thậm chí từng chiếc bánh nướng bánh dẻo còn được bọc bằng nilon, rồi được bọc tiếp bằng hộp giấy, và lại thêm lớp hộp hoặc túi ngoài.

Người ta ước tính chỉ riêng việc đóng gói bánh Trung Thu mỗi năm đã mất gần 375 triệu đô la Mỹ.

Việc xử lý những vật liệu bị vứt bỏ này là một vấn đề không đơn giản và tốn kém. Nhiều nhà hoạt động môi trường đã phải kêu trời vì vấn đề này.

Nhưng chuyện không chỉ có thế. Đôi khi, những quà tặng đắt tiền này đã xóa nhòa ranh giới giữa quà biếu và hối lộ.

Năm 2013, chính quyền Trung Quốc của ông Tập Cận Bình đã trừng trị thẳng tay đối với những món quà biếu ngoài kiểm soát của các quan chức chính quyền, những người dùng tiền của công để mua bánh Trung Thu đem biếu xén lẫn nhau và đám cánh hẩu thương mại.

Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho bánh Trung Thu

Hậu quả từ chiếc bánh Trung Thu đem biếu là sự biến dị của truyền thống, sự lãng phí của cải xã hội và sự tiêu cực trong quan hệ giữa người với người. Xét cho cùng, nó có nguyên nhân từ tính háo danh, hám lợi và quá chú trọng hình thức của người đời. Hạn chế được những tiêu cực ấy thì sẽ hạn chế được hậu quả của “hậu Trung Thu”.

Khi bạn tặng bánh Trung Thu cho người khác, xin đừng mang tâm truy cầu lợi ích hay gieo một món nợ ân tình trong tâm trí của người. Sau khi làm được điều ấy, điều còn lại bạn cần quan tâm là khẩu vị của người được tặng bánh.

Họ có thích ăn bánh Trung Thu hay không? Khẩu vị của họ ra sao?

Nếu họ thích, bạn hãy mua tặng họ một hộp bánh không quá cầu kỳ về hình thức, không kệch cỡm về khẩu vị nhưng tinh tế trong chất lượng để đảm bảo rằng người được tặng sẽ thực sự trân trọng sự quan tâm của bạn và họ sẽ dùng nó trong những bữa tiệc ấm cúng của gia đình. Đó là thứ tình cảm quý mến và vô tư mà bạn nên cho đi. Những người tinh tế và chân thành luôn biết đánh giá cao những điều ấy hơn bất cứ một vật phẩm màu mè diêm dúa nhưng giả tạo nào.

Bạn có thể không thích ăn bánh Trung Thu truyền thống, nhưng hãy trân trọng nó như một giá trị văn hóa mà người xưa để lại cho chúng ta. Còn tốt hơn nữa nếu thế hệ sau của chúng ta vẫn được chúng ta dạy dỗ để giữ được lòng trân quý ấy.

“Con người có tổ có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Trân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp thuộc về truyền thống luôn luôn là cái gốc để làm người trong bất kỳ thời đại nào.

Và nếu nhìn dưới góc nhìn ấy, thì bánh Trung Thu không chỉ là một chiếc bánh, đó là hương hồn của cha ông, là tâm tình của lịch sử vẫn chảy trong dòng máu mỗi người Việt chúng ta. (theo Bình Nguyên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐGH PHANXICÔ

VÀ “PHÉP LẠ” BÁNH TRUNG THU

Tờ báo NCR (National Catholic Reporter) mới đây đặt một câu hỏi : “Phải làm gì khi bạn cần tới 10.000 bánh trung thu mà lại cần thật gấp rút ?”. Câu trả lời là : “Hãy viết thư cho Đức Giáo Hoàng !”

Sự thực thì Đức Giáo Hoàng nghè khó của chúng ta đã không cung cấp tất cả 10.000 chiếc bánh trung thu đâu, nhưng nghĩa cử của Ngài đã tạo ra một ‘phép lạ’ giống như xưa khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi 5000 người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ.

Có người cho rằng phép lạ đích thực của ‘hiện tượng bánh hoá ra nhiều’ của Chuá xảy ra được, chính vì cử chỉ tượng trưng của Ngài đã khuyến khích ‘tinh thần san sẻ’ giữa những người ‘có’ và người ‘không có’ trong đám đông.

Chúng ta không dám ‘lạm bàn’ về phép lạ cuả Chuá vì làm như vậy là hoài nghi về quyền năng siêu nhiên của Thiên Chúa. Tuy nhiên ‘phép lạ bánh trung thu’ mới đây nếu có thể gọi được là ‘phép lạ’, thì rõ ràng đã xảy ra bởi vì tấm gương ‘san sẻ’ cho người nghèo cuả Đức Thánh Cha.

Câu chuyện như sau :

Đức Hồng Y Joseph Zen, 81 tuổi, giám mục về hưu của Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ để chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện, phục hồi chức năng của Hồng Kông.

Ngài thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, vì phong tục ở đây là tìm về gia đình trong ngày tết trung thu để có thể chia sẻ những tấm bánh với những người có mặt và không quên để dành những lát bánh cho những người vắng mặt cũng như những người quá cố.

Cho nên, theo Đức Hồng Y Zen, thì tấm bánh trung thu mang một ý nghĩa rất đặc biệt về niềm vui gia đình, về đoàn tụ và hạnh phúc. Tặng bánh trung thu cho tù nhân là một nghĩa cử đem lại nguồn an ủi và hy vọng cho họ.

Năm nay, Đức Hồng Y Zen ước vọng có được 10.500 chiếc bánh để tặng cho tất cả mọi tù nhân vào dịp Tết Trung Thu, ngày 19 tháng 9 mới đây. Biết rằng Đức Phanxicô là một người đầy lòng thương xót, Đức Hồng Y Zen nói với Asia News, “Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây “. Ngài đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng.

Đức Hồng Y đã đoán đúng. Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 của Đức Giáo Hoàng như sau : “Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu ! Thân ái ban phép lành, PP Phanxicô.

Đức Hồng Y Zen đã nắm bắt lấy cơ hội, Ngài đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm của ĐGH (dịch ra Hhán văn) và gửi cho những giáo hữu ở Hồng Kông xin họ hãy noi gương ĐTC.

Chỉ khoảng 2 tuẩn lễ, tiền quyên góp ào ạt đổ về, lên tới 170,000 đôla HK (22,000 USD, 464,574,000.00ĐVN), đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.

Vào đầu tháng Chín, Đức Hồng Y Zen cho biết, “Tôi đã gửi cho Đức Thánh Cha một hộp bánh Trung Thu và chúc lễ hội đến Ngài”. Đó là một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối. Ngài cho biết thêm “Khi tôi đến thăm các tù nhân vào cuối tháng Tám, họ nhắc nhở tôi về bánh trung thu”, Ngài mỉm cười “Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hổ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo”.

Chuyện vui đã không ngừng ở đây, nhiều nhà thờ và tổ chức dân sự cũng đã noi gương ĐTC, quyên góp bánh trung thu và phân phối đến những người cao tuổi sống một mình và đến các gia đình có thu nhập thấp. Niềm vui lễ hội đang lan rộng tới tất cả mọi người. (theo Têrêsa Thu Lan)

ĐẶC TRƯNG MÂM CỖ

TRUNG THU KHẮP CHÂU Á

Vòng quanh các quốc gia châu Á xem cách soạnị mâm cỗ đón trăng tròn.

1/. Trung Quốc : Ở Trung Quốc, loại bánh truyền thống hàng năm là bánh nướng. Chiếc bánh này ở Trung Quốc mang ý nghĩa đoàn tụ, đoàn viên, dựa theo một tích cổ.

Theo đó, một vị tướng lĩnh là Trương Sỹ Thành, đứng đầu khởi nghĩa chống quân Nguyện đã làm 1 loại bánh trung thu nhét mảnh giấy ghi: “Bát nguyện thập ngũ dạ sát Thát tử” (Đêm 15/8 giết giặc Thái – quân Nguyên). Nhờ có mẩu giấy đó, dân chúng mới biết được thông tin, đoàn kết lại đánh giặc, và giành chiến thắng.

Ở một số vùng như Quảng Châu, người dân còn có thêm lệ ăn ốc bắt từ sông vào dịp trung thu. Ở Phúc Kiến là tục ăn thịt vịt vì theo họ 15.8 âm lịch là thời điểm vịt ngon nhất. Ở Đài Loan, ngoài bánh nướng, người dân còn ăn thêm bánh dứa.

2/. Việt Nam : Ở Việt Nam, ngoài bánh nướng, còn có cả món bánh dẻo với lớp vỏ bên ngoài trắng muốt, mềm, dẻo, nhân bên trong là thập cẩm hay cốm. Chiếc bánh thơm hương này có thể được làm theo dáng tròn hoặc làm hình con cá, khiến trẻ em càng thêm vui thích.

Ngoài bánh nướng, bánh dẻo, mâm cỗ trông trăng của người Việt thường có thêm quả bưởi, làm thành hình chú chó rất khéo, quả hồng và trà xanh tao nhã.

3/. Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, trung thu là một ngày lễ vô cùng quan trọng, kéo dài tới 3 ngày. Thời điểm này, người dân tụ tập, mừng mùa vụ, cúng tổ tiên.

Bánh Songpyeon là đặc sản của ngày lễ này. Bánh được làm từ bột gạo, nặn hình trăng lưỡi liềm, có nhiều loại nhân khác nhau như: hạt dẻ, vừng đen, các loại đậu xanh, đỏ… Một số đặc sản trung thu khác của người Hàn là miến trộn japchae, bánh jeon và hoa quả

4/. Nhật Bản : Ở Nhật Bản, tết trung thu được gọi là Tsukimi. Cũng giống như các quốc gia châu Á khác, cả gia đình tụ tập cùng ngắm trăng và ăn những món ăn truyền thống.

Món bánh được làm nhiều nhất vào trung thu là dango, làm từ bột gạo, không nhân hoặc nhân đậu, hoa quả, rưới nước sốt bên trên.

Người Nhật cũng có truyền thống uống 1 cốc sake vào dịp này và tìm cách nhìn thấy bóng trăng tròn in trên cốc vì cho rằng điều này sẽ mang lại may mắn. Bóng trăng tròn in đáy cốc cũng được cho là sẽ giúp bà mẹ hiếm muộn có con. Mâm cỗ trung thu Nhật cũng không thể nào thiếu được những bông lau dịu dàng trong gió.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG

TÌM HIỂU VỀ PHƯƠNG PHÁP

HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG

Tức “Khai Quang Điểm Nhãn”

Đây là một tài liệu về cách HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG tức thuật KHAI QUANG ĐIỂM NHÃN sưu tập được mà quên mất nguồn :

“Tượng Phật mới thỉnh về từ các tiệm buôn cần tẩy uế, hay rửa cho sạch bụi. Dùng một bát nước sạch có thêm hương liệu từ hoa tươi như cánh sen, hoa hồng, hoa lài v.v…, rồi đọc trì chú bài “Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha” (21 hay 27  tức đọc 9×3 lần) dùng với ấn Bảo thủ và kiết tường. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống.

Trì chú Thanh Tịnh Pháp 7 hay 9 ngày. Dùng chỉ ngũ sắc kết lại thành dây. Ngũ sắc là năm mầu của ngũ hành: Vàng, Trắng, Đen (hay xanh da trời), Xanh lá cây, và Đỏ. Dùng chú tẩy uế rồi vừa kết chỉ vừa trì Lục tự Đại Minh Thần Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng”.

Sau khi đã đầy đủ, để kinh Bát Nhã phạn tự trên Kinh Đại Bi Sám Pháp, để Đại Bi Tâm chú phạn tự chồng trên kinh Bát Nhã, rồi cuốn tròn lại, cuộn sao cho thấy các chủng tử ở ngoài. Dùng dây chỉ ngũ sắc đã kết cột kinh lại. Có thể gấp lại và bỏ trong bao, dùng dây ngũ sắc cột miệng bao lại.

Vẽ 3 chủng từ Om Ah Hum (Phạn tự hay Tạng tự đều được) canh vẽ sao cho chữ Om nằm phần giữa hai lông mày, Ah ở miệng, và Hum ở cổ của tượng – khoản cách đều nhau. Hay in ra rồi lấy mực đỏ đồ lên. Khi vẽ chữ Om thì trì chữ OM, vẽ chữ Ah thì trì chú AH, vẽ chữ Hum thì trì chú HUM. Nếu tập vẽ các chủng từ, nên mang đi đốt.

Dùng giấy có Om Ah Hum dán ở trong lòng tượng đúng theo vị trí như trên. Để kinh đã cuốn dựng đứng trong lòng tượng. Để cho chữ viết đứng, đừng để ngược xuống. Niêm kín lỗ rỗng dưới lòng tượng lại. Phần này luôn trì “Nam Mô Thiên Thủ Thiên Nhãn – Quán Thế Âm Bồ Tát Linh Cảm Ứng”.

Tất cả vật dụng đều phải dùng chú để tẩy uế ! Sau đó đọc kinh an vị Phật (xem trong kinh nhật tụng)

Các tượng Phật Bồ Tát khác cũng làm như thế. Vẽ thêm chủng từ của vị Phật hay Bồ Tát của hình tượng ở phần đầu của chú Đại Bi Tâm phạn tự.

Hình Phật hay Bồ Tát cũng theo trên mà làm. Dùng nước thanh tịnh để lau chùi khung ảnh. Phần sau của hình thì vẽ các chủng tử Om Ah Hum như đã dẫn ở trên. Hay in ra dùng mực đỏ vẽ đồ lên các chủng từ rồi dán sau hình cũng được. Kinh và dây ngũ sắc để phía sau hình.

Đây là cách cho các bạn ở xa không phương tiện nhờ chư Tăng hay các thầy điểm nhãn cho hình tượng chư Phật hay Bồ Tát.

Hình tượng đã thờ lâu ngày không cần phải làm. Để đỡ tốn tiền mực, dùng hình kinh Bát Nhã phạn tự chữ đen trên nền trắng.

NHỮNG CÁCH KHÁC

Một cách khác của Thày Sương Mãn Thiên chỉ như sau : Tượng mới thỉnh về cũng làm sạch như đối với bát nhang. Các đồ trì chú cho vào tượng qua lỗ trống ở dưới đáy tương tự như khi cho vào bát nhang. Sau đó, dùng băng keo dán kín lỗ ở dưới lại. Lập đàn pháp của Tiên gia theo nghi quỹ sau :

Nghi thức cúng luyện phép :

Thường thường luyện vào các thời Tý – Ngọ – Mão – Dậu. Luyện theo trình tự như sau :

• Người luyện trước đó phải tắm rửa sạch sẽ.

• Thắp nhang 3 nén chắp tay cầm nhang theo hiệp chưởng ấn.

• Quán tưởng Linh phù như sau :

• Đọc CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI : (Ôm ram xóa ha) – 7 lần.

• Tịnh CHÚ TAM NGHIỆP : (ÁN SA PHẠ BÀ PHẠ – TRUẬT ĐÀ SA PHẠ –ĐẠT MA SA PHẠ – BÀ PHẠ TRUẬT ĐỘ HÁN) – 3 lần.

• Đọc CHÚ NIỆM HƯƠNG : (NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT) – 3 LẦN.

Nam mô hách hách dương dương.

Nhật xuất Đông Phương.

Vạn sự Thần Pháp kiết tường.

Hộ Thần đệ tử thủ chấp phần hương.

Họa Linh phù Tiên sư Tổ sư chứng giám.

Án Thiên linh linh.

Án Địa linh linh.

Ngã linh Thần phù lai ứng hiện.

Án Thiên viên – Địa phương – Thập nhị công chương.

Thần Phù đáo thử trừ Tà ma ,Quỷ mị bất đáo vãng lai.

Trừ bá bệnh ,trừ tai ương.

(Nam mô Phật tổ Minh dương Bồ tát ma ha tát ) – 3 lần. Xá 3 xá,sau đó cắm nhang trên bàn thờ.

• KIẾT ẤN HỘI TỔ : Bấm ngón tay cái vào ngón Tý của 2 lòng bàn tay, sau đó đưa lên bấm vào móng tay của ngón áp út, móc hai ngón trỏ và giữa vào nhau, ngón út dựng đứng.Đặt ấn Hội Tổ lên sát ngực và đọc CHÚ HỘI TỔ như sau :

• CHÚ HỘI TỔ :

(Nam mô Phật Tổ Như lai chứng minh.

Đạt ma Tổ sư chứng minh.

Nam mô Tam giáo Đạo sư Tam Thập lục Tổ.

Tổ Xiêm, Tổ Lèo, Tổ Miên, Tổ Mọi.

Mình dưới Châu giang – Bà lai đàng Chà.

Mẹ sanh, mẹ Lục, ông Lục Phật Tổ,Cửu Thiên Huyền nữ, Lỗ Ban chơn tử.

Thập nhị Thời Thần. 12 vị Thần Bùa, Thập lục ông Tà bà Tà, bà Lục.
Cảm ứng chứng minh cho Đệ tử là ….. – TUỔI …. đã thông Huệ Tâm, Huệ Nhãn, Huệ Nhĩ, Huệ Thiệt, Huệ Khẩu đắc quả Linh phù cứu Thế, trợ Dân)
– 3 lần.

• Xả ấn hội tổ lên trên đầu để khỏi đánh trúng các vong linh vô tình đứng gần.

• Đọc xong xá 3 xá.

• THỈNH TỔ LỖ BAN :

(Nam mô vạn Pháp Lỗ Ban.

Nam mô Tiên sư Lỗ Ban.

Nam mô vần vận chuyển.

Nam mô thanh tịnh vận chuyển .

Chư Thần vãng lai trợ trì Đệ tử … – Tuổi …. luyện phép cứu nhân độ Thế.

Sâm ăn băn khoăn – Ba ra rơ tá – Bơ rơ bơ rơ mặc mặc – Cẩn thỉnh Thần minh bảo trì cấp cấp như luật lệnh.) – 3 lần.

• Trong khi đọc Quán tưởng BÙA LỖ BAN như trên.

CHÚ KHAI QUANG – ĐIỂM NHÃN .

Lấy một thau nước sạch – Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm.
Nhúng ông Địa hay Thần Tài vào tắm. Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng. Cúng nhang, nến, nước lạnh cho tượng Phật hay rượu cho tượng Thần.
Bắt ấn Tý và đọc chú khai quan

CHÚ KHAI QUANG :

Phụng thỉnh Thổ Địa chi Thần

Hoặc – Phụng thỉnh Tài Thần.

Giáng hạ tại vị chứng minh –Kim vì ấn chú tên là ….Tuổi… Phát Tâm phụng thờ cốt vị. Xin ngài giáng hạ nhập vô – Hồn nhãn nhập nhãn – Hồn nhĩ nhập nhĩ – Hồn tâm nhập tâm – Túc bộ khai quờn –Tâm can, tì phế, thận – Cấp cấp linh linh.

Sau đó cầm ba cây nhang chỉ vào từng chỗ mà đọc :

Điểm nhãn nhãn thông minh .

Điểm nhĩ nhĩ thinh thinh.

Điểm khẩu khẩu năng thuyết.

Điểm phủ túc thông hành.

Cấp cấp như luật lệnh.

Khi quán tường tập luyện nhìn đèn cầy, nhìn nhang sao cho lá Bùa lọt toàn bộ vào trong ánh lửa. Khi luyện phép xong phải nói 3 lần : Tống Thần –Tống Thần – Tống Thần.

MỘT SỐ LÁ PHÙ CẦU TÀI

(có thể bỏ vào tượng hay dán trên bàn thờ).

Cách làm như trên thuộc phái Lỗ Ban của Đạo Tiên Gia. Còn theo Mật Tông thì sau khi đọc xong nghi quỹ của bổn tôn, các bạn chỉ cần trì 21 biến của BẠCH Y THẦN CHÚ, LỤC TỰ MINH CHÚ HAY CHUẨN ĐỀ… vào tượng. Sau cùng là hồi hướng cho các chư vị Thần là xong .

Trên đây là những hiểu biết cần thiết về bàn thờ Ông Địa – Thần Tài . Những điều đó chỉ giúp các bạn có khái niệm và những việc cần phải làm khi lập bàn thờ. Khi lập bàn thờ nên nhờ các vị có chuyên môn cao, đức hạnh trọng làm cho thì bàn thờ mới được linh nghiệm, đủ sức giúp cho thân chủ làm ăn phát đạt. Và điều sau cùng chúng tôi muốn nhắn nhủ các bạn : “CÓ ĐỨC MẶC SỨC MÀ HƯỞNG”, tu thân, tích đức mới là mọi nguồn suối của hạnh phúc. Chúc các bạn thành công. Thân ái.

GIẢI THÍCH THÊM

Bát nhang, Thần Tài – Ông Địa, ông Cóc trước khi đem thờ cúng bắt buộc phải qua công đoạn Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang). Thực chất đây là việc cung cấp cho các vật thờ cúng một nguồn năng lượng ban đầu và sau này trong quá trình thờ cúng, năng lượng đó ngày một tăng trưởng khiến cho độ linh thiêng ngày càng cao. Như vậy việc Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang) là làm tăng Linh khí của pho tượng và bát nhang trước khi thờ cúng.

Các Pháp Sư có những bài Chú hay những linh phù mượn sắc lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế, làm “Phép Trấn Thần” vào bát nhang hay ảnh tượng mới mua (thỉnh) về, nhằm không cho các vong linh hỗn tạp tá vào. Sau đó sên bùa hay dùng Thần Chú để gia trì vào tượng hoặc hình, cuối cùng dùng sắc lệnh đó để Hô Thần Nhập Tượng. Khi gia trì thì sẽ được nguyện lực của Thần Chú sên vào tượng hoặc hình, vì vậy mới có các vị theo chứng minh cho thân chủ khi van vái cúng bái và tạo được linh khí để có thể giúp đỡ cho họ. Nếu không thì chỉ là một tượng hoặc hình bình thường mà thôi, có thể dùng để An Tâm (Khai Quang Điểm Nhãn là làm tăng linh khí cho pho tượng chứ không phải điểm nhãn cho các vị Phật – Tiên – Thánh – Thần. Mỗi vị đều có 1 bài Chú thỉnh riêng).

Ngưới Á Đông chúng ta rất tin tưởng vào vấn đề tâm linh, 1 bức tượng, 1 vật thể, nếu gọi đúng tên, đúng lúc thì sự linh thiêng sẽ ứng nghiệm. Sự cầu khẩn đó ứng nghiệm không phải là ngẫu nhiên mà các vật thể đó đã được vị Thầy làm cho trở nên linh vật, huyền bí. Như vậy, việc khai mở một vật từ vô tri trở nên linh thiêng thì phải có những vị Thầy biết được bộ môn Khai Quang Điểm Nhãn, tức là phải biết mật mã để khai mở (Nếu không có khả năng Khai Quang thì 1 bức tượng chỉ là 1 khối đồng, 1 khối đất mà thôi ). Sự khác biệt giữa vật vô tri và vật linh thiêng là nhờ các Thầy Pháp Sư đọc Thần Chú, cộng thêm những nguyên tắc về tâm linh. Đi sâu vào vấn đề này rất phức tạp.

Vấn đề Bốc bát nhang và hô Thần nhập tượng (Khai quang), có nhiều ý kiến, chúng tôi xin ghi lại cho các bạn một số tài liệu để tham khảo .

“Khai: mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu.

Quang: sáng.

Khai Quang : là lễ dâng cúng Đức Phật (Khai Quang còn có nghĩa là Lễ Điểm Nhãn cho tượng Thần, Phật. Cũng có một số quan niệm hòa đồng cùng lễ Hô Thần Nhập Tượng ).

Điểm Nhãn : là lễ vẽ con mắt Phật.

Tóm lại, Khai Quang là khai mắt cho tượng Phật. Khi vẽ xong 1 tượng Phật, khi tạo xong một cốt Phật, trước khi thờ phượng, người ta làm lễ, niệm kinh, đọc Chú và điểm vào cặp mắt Phật, ấy là lễ Khai Quang. Cũng gọi là lễ Khai Quang Điểm Nhãn (Khi một tượng Phật được đắp và tô vẽ xong, đem tượng Phật đặt đúng vị trí rồi lựa ngày tổ chức lễ Khai Quang Điểm Nhãn cho tượng Phật, sau đó mới bắt đầu thờ cúng tượng Phật).

Vấn đề Khai Quang Điểm Nhãn :

” Khai Quang ” và ” Điểm Nhãn ” là 2 vấn đề hoàn toàn khác biệt với nhau trong một Nghi Thức Phật Giáo.

1. Điểm Nhãn :

Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì “Điểm Nhãn” không hề dính líu gì đến Nghi Thức Phật Giáo mà phát xuất từ giới họa sĩ của Trung Quốc thời xưa. Họ quan niệm rằng trong những bức tranh vẽ về người hay thú vật, tài nghệ của người họa sĩ được thể hiện qua việc vẽ con mắt. Họa sĩ chân tài thì vẽ con mắt có “Thần”, làm cho bức tranh linh hoạt, sống động, y như thật. Thế nên trong một họa phẩm, con mắt thường được vẽ cuối cùng và nếu như người họa sĩ này tôn trọng một bậc họa sư nào đó trong vùng thì cố thỉnh mời cho được vị này đến để “Điểm Nhãn” , tức là hoàn thành nét vẽ cuối cùng của bức tranh : con mắt.

Việc này lấy từ Điển Tích Vẽ Rồng Điểm Nhãn của Trung Quốc :

– “Lương Võ Đế sùng mộ việc trang hoàng Chùa Phật, nên thường sai Tăng Dao họa nơi các Chùa; Chùa An Lạc ở nơi Kim Lăng có vẽ 4 con rồng trắng song không có vẽ mắt. Tăng Dao thường bảo nếu chấm vẽ mắt rồng (Điểm Nhãn) thì nó sẽ bay đi. Người ta cố nài chấm vẽ mắt.

Trong chốc lát, sấm sét nổi lên phá vỡ bức tường, 2 con rồng cỡi mây bay lên trời, còn 2 con chưa vẽ mắt vẫn ở chỗ cũ” (Theo Lịch Đại Danh Họa Ký Đời Lương).

Do đó, trong quảng đại quần chúng mới ứng dụng Điển Tích này trước khi bắt đầu Lễ Hội Múa Lân Sư Rồng : Trước khi ” Khai Trương ” một con Lân mới, họ phải làm lễ “Khai Quang Điểm Tinh” tức là “Điểm Mắt Cho Lân” (Khi chế tạo đầu Lân, các nghệ nhân bao giờ cũng chừa lại 2 con mắt). Lân sau khi hoàn thành tại cơ sở sản xuất, thì phải tới Chùa hoặc trước bàn thờ Sư Tổ để làm lễ “Tinh Điểm Khai Quang” trước khi đem biểu diễn.

Sau khi lựa ngày tốt, các chú Lân – Rồng sẽ thực hiện Nghi Thức “Khai Quang Điểm Nhãn” với 1 dấu chấm CHÂU SA vào Giữa Trán hoặc Lưỡi để chính thức hoạt động. Cúng Tổ và điểm mắt rồi thì Lân – Rồng mới “sống dậy” và múa được; Khi Lân – Rồng đã cũ, thì người ta đốt cháy nó để “trả lại cho Trời”… Như vậy việc “Điểm Nhãn” là như thế.

2. Khai Quang :

Khai Quang theo như chúng tôi được biết là một phần nằm trong Nghi Lễ An Vị Phật. Một số Phật tử khi mới thiết lập bàn thờ Phật trong gia đình, hay khi thỉnh tôn tượng của Phật hay Bồ Tát về thờ, thường mời quý Thầy đến làm lễ an vị Phật, trong đó có Nghi Thức Khai Quang. Cũng có khi Phật tử mang những tôn tượng này đến Chùa để nhờ 1 vị Thầy Khai Quang dùm.

Nghi Thức này bao gồm các điểm chính yếu như sau : Vị Thầy dùng cái Kính đàn (Tức là kính soi mặt mới mua về chưa có ai soi vào đó ), 1 chén nước và 3 nén hương. Tôn tượng đó được phủ bằng 1 tấm vải vàng, sẽ được vị Thầy chủ lễ vừa đọc kinh vừa từ từ kéo ra và làm những công việc cụ thể như chiếu kính vào bức tượng, rảy nước… đồng thời vừa đọc Chú vừa lấy tay vẽ chữ “Án” (OM) bằng tiếng Phạn (Theo người Atlantis : Thượng Ðế là đấng tối cao, ít khi được nói đến tên, mà chỉ tôn xưng là Ngài. Khi cần cầu đến Thượng Ðế thì chúm môi lại tròn như chữ o và phát âm thanh “o” để chỉ mặt trời, và ngậm miệng lại phát âm thanh “om” (Nhiều câu chú trong kinh Phật có chữ “Ôm”, ta thường đọc là “Úm” hoặc “Án”). Nếu được như thế thì đó là căn nguyên của tiếng “Om” trong khi thiền vậy).

Nghi thức “Khai Quang” tựu chung là như vậy và quý Thầy của tất cả các tông phái Bắc Tông, Nam Tông và Mật Tông của VN đều sử dụng Nghi thức này nếu có yêu cầu của Phật tử.

TU VIỆN PHẬT GIÁO

TẠI  BHUTAN

Nhân ngày đại lễ Phật Đản 2554 sắp đến (15/4 ÂL), chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc những công trình kiến trúc Phật Giáo đặc sắc và hùng vĩ nhất. Đó là tu viện mang tên Tiger’s Nest (Paro Taktsang) ở đất nước Bhutan, thực sự đ ã  khiến du khách khắp nơi chỉ một lần ghé qua là phải nhớ mãi. Nhắc đến các công trình kiến trúc Phật giáo thì điều đầu tiên hiện ra trong suy nghĩ của nhiều người sẽ là một ngôi đền hoặc tu viện. Và một trong số đó trở nên rất nổi tiếng là tu viện Phật giáo Taktshang được xây dựng tại đất nước Bhutan.

Tu viện này nằm “chênh vênh” trên độ cao 3.108m so với đồng bằng Paro. Xây dựng từ năm 1692, tu viện Tiger’s Nest là một trong những địa điểm tín ngưỡng tôn giáo đặc sắc nhất đất nước Bhutan. Từ “Taktshang” dịch ra nghĩa là “Tu viện ẩn náu của hổ”, và “ẩn náu” đằng sau tu viện hùng vĩ này là cả một huyền thoại “sống”.

Truyện kể rằng khi xây dựng tu viện Taktshang từ thế kỷ 18, một nhân vật có thật trong lịch sử tên Guru Rinpoche được so sánh với vị Phật sống thứ hai bởi tài năng cũng như đức hạnh của ông về đạo Phật, danh tiếng của ông cùng tài truyền bá tư tưởng Phật giáo trải dài từ Tibet tới Bhutan. Trong mắt của những người mộ đạo thì vị Phật “sống” này có những sức mạnh kỳ bí khó lý giải liên quan đến khả năng tiêu diệt tà ma quỷ dữ.

Yeshe – vợ của vị vua đương triều cũng gia nhập những người sùng bái Guru Rinpoche, và cầu xin được biến thành một con hổ cái tình nguyện chở Phật trên lưng bay tới nơi Tu viện đang được xây dựng bây giờ. Một trong những hang động ở đây là nơi để Phật ngồi thiền và trầm ngâm, sau đó hang động đó trở thành địa điểm được tôn thờ nhất trong quần thể tu viện đồng thời cái tên “Tu viện ẩn náu của hổ” ra đời từ đó.

Vào ngày 19/4/1998 tại đây đã xảy ra một vụ hỏa hoạn thiêu trụi toàn bộ mái của tu viện, khiến chính phủ Bhutan phải bỏ ra một khoản tiền lớn để sửa chữa lại phần hư hỏng làm sao cho giống với nguyên bản nhất. Công việc vất vả đòi hỏi sự kiên nhẫn này kéo dài 1 năm và tới 2005 thì hoàn thành.

Ngày nay du khách có thể tới thăm quần thể Tu viện Taktshang bằng cách cưỡi la hoặc đi bộ trên những con dốc gần như dựng thẳng đứng, đặc biệt nếu không phải là người dân nơi đây thì du khách buộc phải được sự cho phép đặc biệt và đi kèm với hướng dẫn viên. Nhưng một khi đã bắt đầu chuyến du ngoạn bằng đường bộ thì du khách có thể tận hưởng cảm giác gần gũi với thiên nhiên trong phong cảnh núi rừng hùng vĩ. Tuy nhiên nếu không quen leo núi thì lời khuyên tốt nhất là hãy dùng ngựa hoặc la.

Du khách cũng phải kiên nhẫn trong chuyến đi dài để có thể tận hưởng cảm giác muốn chinh phục Tu viện cổ kính này, người leo bộ hay đi bằng lừa, ngựa cũng không thể nhìn thấy bóng dáng của công trình bởi nó đã bị cây cối che lấp. Bố trí dọc đường đi sẽ có một quán ăn nhỏ và đây là điểm ngắm cảnh lí tưởng cho những người thích dừng chân nán lại, những gì du khách nhìn thấy ở điểm dừng chân này sẽ tạo cảm giác hưng phấn hơn cho mọi người. Và từ đây du khách sẽ phải chuẩn bị tinh thần để “chinh phục” đoạn đường gập ghềnh khó khăn hơn toàn đá, thác nước và cảm nhận sự khác biệt giữa những hình ảnh mờ ảo nhìn ở dưới và sự đồ sộ của Tu viện khi tới gần hơn.

Điều gây ấn tượng và đáng nhớ nhất về công trình kiến trúc mang đậm tín ngưỡng phương Đông này đó là sự khác biệt giữa bốn ngôi đền trong tu viện, một ngôi đền được cho là nơi Phật Guru Rinpoche “trầm tư” trong 3 tháng và là nơi sinh ra của một trong những Lạt ma đứng đầu Tu viện.

Lời khuyên dành cho du khách đó là nên nghỉ ngơi và giữ sức để có thể đi xuống núi. Nếu ban đầu đi bộ lên thì chắc chắn du khách sẽ kiệt sức khi trở về, nhưng sự quyến rũ của quần thể Tu viện Taktshang này không ai có thể quên được.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

XEM SAO GIẢI HẠN

XEM SAO GIẢI HẠN

– Thiên Việt

Chúng ta từng nghe nói về những phương pháp soạn âm lịch còn gọi là “Lịch pháp”, là các cách vận hành an tọa các tinh đẩu trong lịch vạn sự.

Sau đây chúng tôi viết về khái niệm tốt xấu (cát – hung) của từng tinh đẩu trong văn hóa thần bí, phân tích tính chất của từng tinh đẩu đó, hầu giúp bạn đọc dễ dàng trong tham khảo khi tính sự cát hung của chúng liên quan đến đời sống hàng ngày của chúng ta.

– TÍNH CHẤT

Trong quan điểm cho rằng tinh đẩu trong âm lịch phương Đông là tinh tú có thật trong vũ trụ quan, mỗi tinh đẩu đều có ảnh hưởng đến cho cộng đồng xã hội, như sao chổi xuất hiện ở phương nào, người ta cho rằng nơi đó sẽ xảy đến đói kém hay binh biến; hay với cá nhân mỗi khi có sao kiết, sao hung ứng chiếu với mệnh vận con người.

Bang tinh Sao Han 2

Như năm tuổi có sao Thái Tuế chiếu mệnh, thường hay gặp tai ương bệnh tật hay cả chết chóc, do thông thường vào những năm tuổi nhất là vào tuổi 37, con người hay mang vận rủi thật nặng nề, có lúc nhà tan cửa nát, vì ngoài sao Thái Tuế (Mộc Tinh) chiếu mệnh, còn là năm nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô là hai ác tinh trong 9 sao hạn (Cửu diệu) hàng năm

Hay như sao “Thái Bạch (Kim Tinh) làm sạch cửa nhà”, rồi sao Hỏa Tinh tiếp bước theo sau để thành câu than thân trách phận “31 chưa qua, 33 đã tới” đó là nhữ̃ng năm mang đến đại hung cho mọi người, nhưng nhất là nam giới.

Xét qua tính chât của câu nói trên, năm 31 tuổi gặp sao Kim Tinh (Thái Bạch), năm 33 tuổi gặp sao Hỏa Tinh (Vân Hớn), hai sao này chủ về tai tinh (tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo, kiện thưa tranh cãi, tù tội, phá sản) v.v…

Cả 3 sao Mộc Tinh (lưu ý sao Thái Tuế khác tính chất với sao Mộc Đức trong Cửu Diệu, thuộc Triều ngươn tinh chủ về hôn sự), Kim Tinh (Thái Bạch), Hỏa Tinh (Vân Hớn) là những tinh đẩu có thật trong vũ trụ, nằm trong bộ sao Cửu Diệu hàng năm, cách tọa chiếu của chúng tính theo tuổi âm lịch như 2 bảng Sao Hạn sau đây :

Bang tinh Sao Han

2 bảng Sao Hạn trên là những năm trong mỗi người chúng ta gặp sao Cửu Diệu chiếu, tức tiểu hạn hàng năm, tuổi nam nữ xem riêng (trên bảng hình : nam xem sao bên trái, nữ xem sao bên phải, tuy cùng tuổi nhưng khác sao).

Tính chất sao Cửu Diệu như sau :

1- La Hầu : khẩu thiệt tinh, chủ về ăn nói thị phi, hay liên quan đến công quyền, nhiều chuyện phiền muộn, bệnh tật về tai mắt, máu huyết. Nam rất kỵ, nữ cũng bi ai chẳng kém. Kỵ tháng giêng, tháng bảy.

2- Kế Đô : hung tinh, kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám, đi làm ăn xa lại có tài lộc mang về.

3- Thái Dương : Thái dương tinh (măt trời) tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui, tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách.

4- Thái Âm : Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười. Nữ có bệnh tật, không nên sinh đẻ̉ e có nguy hiểm. Chủ về danh lợi, hỉ sự.

5- Mộc Đức (Mộc tinh) : Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng mười và tháng chạp.

6- Vân Hớn (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

7- Thổ Tú (Thổ tinh) : Ách Tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng tư, tháng tám.

8- Thái Bạch (Kim tinh) : Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng năm và kỵ màu trắng quanh năm.

9- Thủy Diệu (Thủy tinh) : Phước lôc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu.

Còn về hạn mỗi người hàng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu, còn về tính chất :

1- Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài

2- Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi

3- Ngũ Mộ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của

4- Thiên Tinh (Xấu) bị thưa kiện, thị phi

5- Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài

6- Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên

7- Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội

8- Diêm Vương (Xấu) người xa mang tin buồn

Với Sao Hạn mỗi năm, thí dụ như người tuổi Giáp Ngọ (1954) vào năm Mậu Tý (2008 tức được 55 tuổi âm lịch) sẽ gặp sao La Hầu, hạn Tam Kheo, mang ý nghĩa :

– Đề phòng khi ăn nói kẻo gặp chuyện thị phi, năm nay có thể liên quan đến công quyền gây nhiều chuyện phiền muộn. Coi chừng bệnh về tai mắt, máu huyết. Nam đại kỵ gặp La Hầu và nữ cũng buồn đau chẳng kém. Sao này kỵ vào tháng giêng, tháng bảy. Hạn Tam Kheo thuộc tiểu hạn không đáng lo, chỉ chủ về tay chân nhức mỏi.

Ngày xưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng thường lập đàn cúng sao để tự giải hạn, từ đó mọi người theo cách của Khổng Minh, hàng năm xem Sao Hạn mà cúng lễ cầu an (hội sao hàng năm vào mùng 8 tháng giêng âm lịch).

Nhìn bảng sao Cửu Diệu chúng ta thấy nam giới có hai năm tuổi găp sao Thái Tuế củng chiếu, là năm 37 và 49 trùng với sao La Hầu và Thái Bạch là nặng, còn nữ vào tuổi 37 với sao Kế Đô. Những năm khác nam có La Hầu, nữ gặp Kế Đô cũng không đáng lo vì không có sao Thái Tuế củng chiếu.

CÚNG SAO GIẢI HẠN

Năm nào ai gặp Sao Hạn nào thì cúng sao giải hạn theo tính chất của từng sao như cách sau đây :

Bài khấn mẫu : KHẤN CÚNG SAO GIẢI HẠN

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba cái rồi đọc :

Cung Thỉnh :

– Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Sao Kế Đô chiếu mạng) – Địa Võng Tôn Thần chư vị (Hạn Địa Võng –  ai gặp sao hạn nào, đọc tên sao hạn đó như đã diễn giải nơi trên).

Đệ tử lòng thành đốt nén nhang,

Cầu xin Phật Thánh giải tai ương,

Giúp trong lê thứ đều khương hão,

Gia nội nhân nhân đắc kiết tường..

Lại lạy 3 cái,rồi khấn tiếp :

– Việt Nam quốc, tỉnh thành……. con đang ở tại ngôi gia số…… đường……… Quận………. (địa chỉ).

– Tên là ……………. Niên canh……. (tức tuổi Can Chi) ……….. (mấy tuổi âm lịch)

Năm nay vận gặp Tinh Quân Hạn Thần : Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân, Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Thành tâm thiết lễ xin giải hạn nhương tinh,

Lòng thiền cúi lạy khả tấu khẩn cầu :

“TRUNG THIÊN TINH CHỦ BẮC CỰC – TỬ VI ĐẠI ĐẾ NGỌC HOÀNG BỆ Hạ.

Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân – Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Các ngài đang cai quản mạng căn, xem xét vận hạn, từ bi liên mẫn, phổ tế phàm thai, ân cao đức cả, soi thấu lòng thành.

Cầu cha mẹ an sinh trường thọ,

Phật Thánh đồng gia hộ cháu con,

Trong nhà đều hạnh phúc tăng long.

Lớn nhỏ thảy đều an lạc.

Nguyện xin Tinh Quân – Hạn Thần, giải trừ họa tai, bệnh tật. Dứt tà hung, gặp điều lành.

Con lòng thành khấu đầu khẩn xin.

Lạy ba lạy và niệm câu :

– Nam mô A Di Đà Phật !

– Nam mô Tiêu tai Giáng kiết tường Bồ tát.

(Lạy tất ba cái)

Tính chất Sao Hạn

1- THÁI BẠCH : Sao Kim Tinh  : lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19  – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

2- Sao THÁI DƯƠNG : Mỗi tháng cúng ngày 27 âl, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhựt Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

3-  Sao THÁI ÂM : Hàng tháng vào lúc 19 tới  21 giờ tối vào ngày 26 âl, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái.  Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl  – Kỵ  tháng 11 âl.

4- Sao KẾ ĐÔ  : Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âl nên cúng giải vào ngày 18 âl ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Thiên Vỉ Cung Phân Kế Đô tinh quân”, thắp 20 ngọn đèn, lạy 20 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần vỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21  đến 23 giờ

5- Sao LA HẦU là khẩu thiệt tinh :  sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âl nên cúng giải vào ngày 08 âl, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21  đến 23 giờ .

6- Sao THỦY DIỆU sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .

Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âl, nên cúng giải hạn vào ngày 21 â.l, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

7-  Sao THỔ TÚ tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âl, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âl, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

8- Sao MỘC ĐỨC tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ

9- Sao VÂN HỚN tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âl cúng ngày 29 âl, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

Cách Khấn : “Cung Thỉnh Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hớn Tinh Quân Vị Tiền”.

THẬP NHỊ ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN

Tại sao mọi nhà thường cúng lúc Giao thừa, vì ngoài việc đón vong linh ông bà cha mẹ “về” ăn tết cùng gia đình; trong dân gian mọi người còn nghĩ đến hàng năm đều có một vị hành khiển tức đương niên chi thần, trông coi cõi nhân gian việc làm tốt xấu của mọi người, để cuối năm về Thiên Đình báo cáo công tội mỗi người, mọi gia đình để có công thì thưởng làm ác thì phạt (thưởng phúc phạt ác) đôi khi thưởng phạt ngay sau công tội.

Các đương niên chi thần mang tên Tý, Sửu, Dần… cho đến Hợi, tức tên12 con giáp, đồng thời ứng với một vị tinh tú.

Vị hành khiển này trông coi tất cả mọi việc trên thế gian, làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người no ấm, hay trái lại sẽ gây ra tai ương dịch họa v.v..

Trong triết học Trung Quốc hay phương Tây, người ta đều đề cập đến vòng Hoàng đạo nằm trên vũ trụ, được chia thành 12 cung cách nhau 30o và đặt mỗi cung một tên từ Tý đến Hợi hay từ Bạch Dương đến Song Ngư.

Tên các con vật (Thập nhị chi) ứng với mỗi cung chỉ là hình dạng của các chòm sao có thật ở ngay cung đó, rồi hình tượng hóa thành tên gọi (theo phương Tây). Mỗi cung có ảnh hưởng đến tiết khí trên trái đất và con người đang sống trên hành tinh này.

Ngoài ra trong vũ trụ có sao Mộc (Jupiter) mà ta gọi là sao Thái Tuế, hàng năm đi ngang qua một cung trên đường Hoàng đạo, với chu kỳ 12 năm mới giáp hết vòng một quỹ đạo ứng với 12 cung trên.

Nên có thứ tự của vòng quay của sao Mộc, gặp 12 cung Hoàng đạo trong 12 năm như sau :

– Năm Thìn (Rồng)̀     0o- 30o           sao Bạch Dương

–           Tỵ (Rắn)          30 – 60            sao Kim Ngưu

–           Ngọ (Ngựa)    60 – 90           sao Song Nam

–           Mùi (Dê)        90 – 120           sao Bắc Giải

–           Thân (Khỉ)      120 – 150        sao Hải Sư

–           Dậu (Gà)        150 – 180       sao Xử Nữ

–           Tuất (Chó)     180 – 210        sao Thiên Xứng

–           Hợi (Lợn)        210 – 240      sao Hổ Cáp

–           Tý (Chuột)      240 – 270        sao Nhân Mã

–           Sửu (Trâu)       270 – 300      sao Nam Dương

–           Dần (Cọp)       300  – 330     sao Bảo Bình

–           Mão (Mèo) *     330 – 360   sao Song Ngư

* Lịch Trung Quốc gọi năm con mèo (Mão) là năm Thố tức con Thỏ.

Nên khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu v.v… vì vậy sao Mộc còn gọi là sao năm hay sao Thái tuế.

Chúng ta gọi sao Thái Tuế là vị “Hành khiển thập nhị chi thần” trông coi các đương niên hành khiển, tức dưới Thái Tuế có thêm vị Phán quan là mỗi vì sao một năm, là 12 vị hành khiển như đã nói; trông coi ghi chép việc làm trong dân gian để soạn tấu tâu trình trước Ngọc Đế cuối năm, và Ngọc Đế sẽ chỉ dụ cho vị Phán quan hành khiển sắp xuống trần thay người cũ mà thưởng phạt.

Riêng về người lại có 2 vị hành khiển và hành binh trông coi bản mệnh :

Hành Binh, Hành Khiển

Ngoài 12 vị hành khiển được gọi đương niên chi thần dưới trướng sao Thái Tuế tức “Hành khiển thập nhị chi thần”, luân phiên trông coi thế gian trong 12 năm.

Ngoài ra theo quan niệm, mỗi năm còn có một ông hành khiển và một ông hành binh cai quản số mạng con người qua Sao Hạn trong 12 năm đó, coi việc thưởng phúc phạt ác qua cách hành xử của mỗi người trong việc làm và sự an nguy (trong dân gian chỉ biết tên Sao Hạn như đã nói). Đi theo vị đương niên chi thần, là các vị hành khiển hành binh mỗi năm mang tên :

– Năm Tý :       Châu Vương hành khiển, Chúa Thiên Ôn hành binh

– Năm Sửu :   Triệu Vương hành khiển, Tam Thập Lục Thương hành binh

– Năm Dần :   Ngụy Vương hành khiển, Mộc Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Mão :   Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Thìn :    Sở Vương hành khiển, Hỏa Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Tỵ :       Ngô Vương hành khiển, Thiên Hạo Hứa Tào hành binh

– Năm Ngọ :   Tấn Vương hành khiển, Thiên Hạo Vương Tào hành binh

– Năm Mùi :    Tống Vương hành khiển, Ngũ Đảo Lầm Tào hành binh

– Năm Thân:   Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu Tống Tào hành binh

– Năm Dậu :   Lỗ Vương hành khiển, Ngũ Nhạc Cự Tào hành binh

– Năm Tuất :   Việt Vương hành khiển, Thiên Bá Thành Tào hành binh

– Năm Hợi :    Lưu Vương hành khiển, Ngũ Ôn Nguyễn Tào hành binh

Vị hành khiển thuộc quan văn, còn vị hành binh thuộc quan võ, coi trực tiếp qua Sao Hạn và cách tu thân tích đức mỗi người mà luận công tội thưởng phạt ngay trong năm.

Nói về đề mục này nhằm giúp mọi người tìm hiểu và cách khấn khi cúng vào đêm Giao thừa hàng năm.

CÁCH CÚNG NĂM TAM TAI :

Ngoài cúng Sao giải Hạn hàng năm, những tuổi gặp năm Tam Tai cũng nên cúng giải như sau :

1. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp năm Dần, Mão, Thìn thì có Tam Tai. Năm Dần là đầu Tam tai, năm Mão giữa Tam tai, năm Thìn cuối Tam Tai.

2. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp năm Thân, Dậu, Tuất thì có Tam Tai.

3. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp năm Tỵ, Ngọ, Mùi có Tam Tai.

4. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp năm Hợi, Ty, Sửu có Tam Tai.

Cúng thần Tam Tai: cổ nhân thường căn cứ Tam Tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai. Xem bảng sau đây:

Năm Tý: Ông Thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc

Năm Sửu:  Ông Đại Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc

Năm Dần: Ông Thiên Hình, cúng ngày 15, lạy về hướng Đông Bắc.

Năm Mão: Ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy hướng Đông

Năm Thìn: Ông Thiên Cướp, cúng ngày 13, lạy hướng Đông Nam.

Năm Tỵ: Ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy hướng Đông Nam.

Năm Ngọ: Ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy hướng Tây Nam

Năm Mùi: Ông Bạch Sát, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Thân: Ông Nhơn Hoàng, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Dậu: Ông Thiên Họa, cúng ngày 7, lạy hướng Tây.

Năm Tuất: Ông Địa Tai, cúng ngày 6, lạy về hướng Tây Bắc

Năm Hợi: Ông Địa Bại, cùng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.

Lễ cúng: Trầu cau: 3 miếng, thuốc lá: 3 điếu, muối, gạo, rượu, vàng tiền, hoa, quả. Lấy một ít tóc rối của người có hạn Tam Tai, bỏ vào một ít tiền lẻ, gói chung lại với gạo, muối, còn tiền vàng thì hóa, cúng tại ngã ba, ngã tư đường, vài tuổi và tên của mình, đem bỏ gói tiền, có tóc và muối gạo đó ở giũa đường mà về thì hạn đỡ.

Thiên Việt

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ TRONG TIẾT THANH MINH

5 DANH THẮNG PHẬT GIÁO

Ở CHÂU Á

NÊN ĐẾN HÀNH HƯƠNG

Phật giáo là một trong những hệ thống niềm tin có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới. Được hình thành từ hơn 2.500 năm trước, Phật giáo chỉ ra cho con người cách đoạn diệt khổ đau và triết lý Phật giáo đã bám rễ sâu rộng đến mọi ngóc ngách trên hành tinh này, kể từ những ngày đầu tiên ra đời.

Sức ảnh hưởng của Phật giáo trải dài với những tác động về niềm tin của hàng triệu con người trong lịch sử và cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khơi gợi niềm cảm hứng từ những danh thắng tuyệt vời nhất, đậm chất Phật giáo mà thế giới đã và đang được chiêm ngưỡng.

Tuy cùng một niềm cảm hứng, các chùa chiền và đền đài Phật giáo được kiến thiết với nhiều hình dáng và quy mô khác khau với những phong cách riêng biệt, đặc thù.

Dưới đây là 5 điểm tham quan Phật giáo nước ngoài tuyệt vời, tô điểm và in đậm hơn dấu ấn Phật giáo có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, mà theo mô tả của tác giả Nicholas Liusuwan, người chia sẻ các điểm tham quan này trên trang Huffington Post là “5 danh thắng Phật giáo độc nhất vô nhị mà bạn nhất định phải đến tham quan và chiêm bái”.

1/- Bảo tháp Đại Giác, Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) : Được đề xuất là di tích lịch sử Phật giáo đầu tiên nhất và đáng chiêm ngưỡng nhất trong danh sách các thắng tích, bảo tháp Đại Giác tọa lạc ở nơi Đức Phật lịch sử chứng đạt sự giác ngộ hoàn toàn với cây bồ-đề ngàn năm tuổi. Thánh địa này đặc trưng bởi tháp trung tâm được xây tạo bằng gạch cao gần 55 mét, bao bọc chung quanh là bốn tòa tháp nhỏ hơn.

Rải rác quanh ngôi đại tháp là các tháp nhỏ và các tôn tượng Đức Phật bên ngoài tháp trung tâm cùng với những bức tường khắc họa cuộc đời của Ngài. Ngôi tháp được tin là do A Dục vương xây dựng 200 năm sau khi Phật thành đạo. Bảo tháp Đại Giác được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2002.

2/- Chùa Shwedagon, Yangon (Myanmar) : Chùa Shwedagon (còn được gọi là chùa Vàng) có lẽ là một trong những ngôi chùa chói sáng nhất trên thế giới. Ngôi chùa lấp lánh ánh vàng có chóp cao khoảng 100 mét, được khảm hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc và các loại đá quý khác.

Đây được xem là thánh tích của Phật giáo; ấn tượng là ngôi tháp chính được đính viên kim cương 76 carat. Không ai biết rõ niên đại của ngôi chùa cổ theo truyền thống Nguyên thủy này; tuy nhiên các nhà sử học đều đồng tình rằng ngôi chùa có thể được kiến lập trong khoảng thế kỷ thứ VI-X. Về đêm, từ khoảng cách khá xa, ngôi chùa Vàng có thể được nhìn thấy rất rõ.

3/- Phật Quang Sơn, Cao Hùng (Đài Loan) : Chùa Phật Quang Sơn ở thành phố Cao Hùng (Đài Loan) có lịch sử lâu đời và “mang đến sự trải nghiệm Phật giáo khó phai cho thế giới hiện đại”. Ngôi chùa thuộc truyền thống Đại thừa này được thiết kế theo kiến trúc và đặc trưng đền đài truyền thống của Đông Nam Á, nổi bật với nhiều điện thờ tráng lệ, các tòa kiến trúc đồ sộ phục vụ cho nhiều hoạt động tôn giáo phong phú ngay trong nội viên.

Du khách có thể tham quan Bảo tàng Phật giáo Phật Quang Sơn, một trong những bảo tàng Phật giáo đương đại ấn tượng nhất trên thế giới. Bên trong bảo tàng bao gồm các triển lãm Phật giáo theo chủ đề đặc sắc và toàn diện, các lễ hội và sự kiện thường xuyên được diễn ra và đây còn là nơi lưu giữ xá-lợi răng của Đức Phật.

4/- Chùa Phra Dhammakaya, Pathum Thani (Thái Lan)  : Đây là ngôi chùa “vén màn” Phật giáo hiện đại trong thế giới ngày nay. Nổi tiếng với các phương pháp truyền đạo hiện đại, ngôi chùa Nguyên thủy này còn ấn tượng bởi diện tích rộng và phong cách thiết kế hiện đại.

Được kiến tạo năm 1970, ngôi chùa mang đặc trưng phong cách Thái chứa đựng bên trong đó nhiều cảnh quan đặc sắc, phải kể đến là ngôi tháp hiện đại và mỹ lệ với một ngàn tượng Phật, nhiều cổ vật Phật giáo và thiền đường có sức chứa đến hàng ngàn hành giả.

Ngôi chùa có diện tích khoảng 100 hecta, lớn gấp đôi diện tích Công quốc Monaco. Tuy vậy, ngôi chùa lại có hệ thống đường sá vào nội khu vô cùng hoàn chỉnh, được trang bị đầy đủ các phương tiện di chuyển đáp ứng mọi nhu cầu ngoạn cảnh của khách viếng chùa.

5/- Chùa Borobudur, Magelang (Indonesia) : Chùa Borobudur cổ xưa nằm trên đảo Java, Magelang (Indonesia) là điểm đến Phật giáo phổ biến nhất trong số năm danh thắng này. Ngôi chùa cũng là di sản văn hóa thế giới, được cấu trúc bằng nhiều nền tầng dẫn bước du khách vào hành trình của vũ trụ quan Phật giáo. Khu chùa được trang hoàng bằng nhiều ngôi tháp và rải rác với các bức điêu khắc mô tả về giáo lý nghiệp và những câu chuyện Phật giáo.

Ngôi chùa được xem là điểm hành hương thiêng liêng của Phật tử ở Indonesia và là nơi tổ chức Đại lễ Tam hợp hàng năm của đất nước này. (theo Trần Trọng Hiếu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ

KHÔNG NÊN LÀM

TRONG TIẾT THANH MINH

Tiết Thanh Minh (vào tháng 3 âm lỊch, năm Mậu Tuất vào ngày 5/4 dươmh lịch) không chỉ là ngày lễ truyền thống đối với người Việt Nam mà còn là một trong 12 tiết khí quan trọng trong năm.

Trong tiết khí quan trọng này có 9 điều kiêng kỵ tuyệt đối bạn không nên làm trong tết Thanh Minh để tránh gặp xui xẻo. Đây không chỉ là dịp để con cháu bày tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, mà còn là cơ hội để gìn giữ truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tiết Thanh Minh năm nay đang đến gần, có những điều gì cấm kỵ nên tránh trong những ngày này ? Sau đây là 9 điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, hãy chú ý chớ nên mắc phải những điều này.

1/. Tổ chức việc hỉ, sinh nhật hay tiệc tùng vui chơi giải trí : Tiết Thanh Minh là dịp con cháu hướng về nguồn cội, tưởng nhớ ông bà tổ tiên, tỏ lòng hiếu kính, nhớ thương người đã khuất. Nếu sinh nhật trùng hợp rơi đúng vào tiết Thanh Minh, tốt nhất nên tổ chức sớm vài ngày. Đặc biệt tuyệt đối không làm mừng thọ cho người già vào dịp này, không nhận hoa chúc mừng, cũng không ăn bánh sinh nhật ngày hôm đó.

Theo dân gian truyền lại, làm vậy sẽ tránh phạm điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, giúp người già hưởng thêm phúc lộc, thượng thọ bình an. Tương tự, kết hôn là chuyện đại sự cả đời, không thích hợp tổ chức vào thời điểm này. Đám cưới là chuyện vui mừng, thường được tổ chức rình rang, mà tiết Thanh Minh âm phần thịnh, hoạt động chủ yếu là tế tổ, tảo mộ, tưởng nhớ người đã khuất nên làm lễ kết hôn không những không được may mắn mà còn có phần bất kính với tổ tiên.

Hơn nữa, thời điểm này trời thường mưa phùn rả rích, đường xá ướt át, lấm bẩn, ách tắc, mọi người ai cũng bận rộn với việc đi tảo mộ, sắp xếp tham dự đám cưới có phần khó khăn. Nếu có đi được cũng chỉ là tiện đường qua uống chén rượu chia vui, tạo cảm giác đám cưới của bạn không được mọi người coi trọng.

Ngoài ra, nếu do nhiều nguyên nhân mà không thể đi tảo mộ, ở nhà cũng nên hạn chế tổ chức tiệc tùng vui chơi giải trí, càng không nên chửi bới, đánh nhau hay nói lời báng bổ thánh thần, kẻo sau này hậu họa khôn lường.

2/. Mặc quần áo màu mè sặc sỡ : Theo quan niệm dân gian, trong tiết Thanh Minh đặc biệt cấm kị mặc đồ rực rỡ, ngay cả nội y hay trang sức đi kèm cũng phải chú ý không dùng màu đỏ, không mang theo vật kim loại dễ gây tiếng động. Có người lại cho rằng dịp này nên mặc quần áo rực rỡ như màu đỏ hoặc vàng, còn quần áo màu đen nhìn xui rủi, dễ nhiễm âm khí.

Đây là một suy nghĩ sai lầm. Tiết Thanh Minh đi tảo mộ là việc quan trọng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, mặc trang phục thanh lịch, chỉnh tề cũng chính là tỏ lòng tôn kính với người đã khuất. Đồ tối màu như màu đen, màu tím không chỉ trang trọng, nghiêm túc mà còn là màu sắc thể hiện sự nhung nhớ, tiếc thương với người đã khuất. Tuy nhiên, người có sức khỏe không tốt, phụ nữ hay trẻ em trong thời gian này vẫn có thể mang theo mình những đồ phong thủy màu đỏ để trừ tà đuổi quỷ.

3/. Đi du lịch hay thăm hỏi bạn bè, người thân : Tốt nhất nên tránh tiết Thanh Minh, chọn dịp khác đi thăm bạn bè, người thân. Lúc này đến chơi nhà, chẳng những không thích hợp mà còn có phần kém may mắn, là điềm xấu cho cả khách và gia chủ. Nếu thực sự cần thiết, hẹn gặp mặt ở bên ngoài là thích hợp nhất. Du lịch cũng là điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Đây là thời gian dành cho việc tảo mộ và cúng tế tổ tiên, tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và trân trọng quá khứ. Chỉ nên kết hợp tảo mộ cùng với về quê thăm lại cố hương, hít thở không khí trong lành mùa xuân nơi thôn dã. Nếu lỡ xếp lịch đi chơi vào thời điểm này thì phải đặc biệt chú ý, tránh đi đến những nơi núi non nhiều người đi tế lễ, không được nói chuyện xui rủi, càng không được buông lời bất kính với người đã khuất.

Ban đêm cũng nên hạn chế các hoạt động vui chơi giải trí. Khi thuê nhà nghỉ, khách sạn, tránh chọn phòng khuất nẻo, nằm cuối hành lang. Nếu phải để giày dép bên ngoài phòng, nên để mũi giày hướng ra ngoài. Không nên ở một mình nơi hoang vắng, dễ bị tổn hao nguyên khí.

4/. Tùy tiện chụp ảnh : Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, số người sở hữu máy ảnh hay điện thoại có chế độ chụp ảnh ngày càng nhiều, song không phải ai cũng biết tùy tiện chụp ảnh cũng là một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Không nên chụp ảnh ở nghĩa trang, lăng mộ. Không chụp ảnh với người lạ, đặc biệt sau 3 giờ chiều tuyệt đối không được chụp ảnh bừa bãi, vì biết đâu còn có thứ gì khác lọt vào trong ảnh của bạn. Gặp cây cổ thụ, đồ cổ hay nhà cửa, kiến trúc lâu đời cũng không nên tùy tiện chụp ảnh.

Người xưa cho rằng cây cối, đồ vật hay nhà cửa lâu năm đều có linh hồn trú ngụ, không cẩn thận phạm điều bất kính sẽ gây hậu họa khôn lường. Ban đêm không nên chụp ảnh trong gương, bởi gương thuộc tính âm, dễ nhuốm âm khí. Tiết Thanh Minh âm khí vượng, dù là chụp ảnh người khác hay chính mình trong gương cũng đều không tốt, không may có thể nhìn thấy thứ không nên thấy.

Tương tự, đi chơi đêm tốt nhất không nên chụp ảnh, cũng đừng lấy đèn pin soi rọi lung tung, dễ kích thích những thứ đen tối đi theo mình. Khi đi đền chùa, không nên đứng dưới chân tháp chụp ảnh. Tháp được dùng để trừ tà, dễ gây cảm giác bức bối, khó chịu cho người chụp ảnh.

Ngoài ra, nên cân nhắc trước khi chụp ảnh cùng tượng Thần, tượng Phật vì có thể gây tổn hao nguyên khí. Nên tránh chụp ảnh 3 người. Xưa kia các họa sư không bao giờ vẽ 3 người vào cùng một bức tranh, vì người ở giữa sẽ bị người ở 2 bên đè ép. Tuy nhiên, nếu 3 người là người một nhà hay bạn bè thân thiết thì không có vấn đề gì. Nếu chỉ là đồng nghiệp hay đối tác làm việc thì nên cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến vận khí của mình.

5/. Đi tảo mộ người ngoài : Đi tảo mộ là tập tục truyền thống trong tiết Thanh Minh. Những người đi tảo mộ xưa nay đều là con cháu trong nhà, người ngoài tốt nhất không nên tùy tiện đi theo. Dù sao cũng không phải người một nhà, đến mộ phần vào lễ Thanh Minh có thể khiến cho trường khí hỗn loạn, mất cân bằng, là điềm xấu nên tránh.

Có thể do nhiều nguyên nhân mà nhiều người gặp phải tình huống như đi tảo mộ cùng bạn bè, cấp dưới đi tảo mộ cùng cấp trên, đối tác làm ăn cùng đi tảo mộ… Khi đó, tốt nhất nên mang theo người vật phẩm phong thủy, bùa hộ thân để xua tan tà khí cũng như tránh phạm phải điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

6/. Chọn hoa cúng tùy tiện, màu sắc sặc sỡ : Theo truyền thống, tiết Thanh Minh là để bày tỏ sự mong đợi vạn vật mùa xuân bừng sống lại, vòng tuần hoàn của cuộc đời một lần nữa bắt đầu. Thời điểm này cũng là lúc trăm hoa đua nở, song không phải loại hoa nào cũng thích hợp dùng cho cúng tế.

Người xưa cho rằng, hoa cúng khi tảo mộ không nên quá sặc sỡ, mùi hương quá nồng đậm. Nên chọn sắc hoa trang nhã, mùi hương thuần khiết để tỏ lòng kính trọng tổ tiên. Xem chi tiết nên chọn hoa gì đi tảo mộ tiết Thanh Minh. Thông thường, các loại hoa màu trắng tượng trưng cho sự tiếc thương, khi tảo mộ có thể chọn hoa cúc trắng, hoa bách hợp trắng, hoa huệ, hoa mã đề.

Hoa hồng trắng, hoa dành dành hay các loài hoa có màu trắng trơn khác còn thể hiện sự thương tiếc và nhung nhớ. Hoa cúc vàng cũng là loại hoa phổ biến, được mọi người lựa chọn nhiều, bởi hoa màu vàng tượng trưng cho sự đau buồn và tưởng niệm. Ngoài ra, có thể dựa vào tuổi tác và sở thích của người đã khuất để chọn hoa cúng sao cho phù hợp.

Với người bề trên, người cao tuổi, có thể dùng hoa cúc vàng hoặc trắng, cũng có thể chọn hoa có nhiều sắc đỏ, hồng để thể hiện tình cảm nhớ nhung, thương tiếc của con cháu. Với người cùng thế hệ, nên chọn hoa có màu sắc trang nhã như hoa lay ơn, hoa loa kèn, hoa cẩm chướng… Còn với bạn bè thân thiết thì không cần quá câu nệ hình thức, có thể thoải mái lựa chọn loại hoa mà khi sinh thời người ấy yêu thích.

7/. Tảo mộ không đúng trình tự : Tảo mộ là chuyện linh thiêng, là dịp con cháu thể hiện lòng thành kính với ông bà tổ tiên, do đó phải được tiến hành tảo mộ theo trình tự, tránh bất kính với người đã khuất.

Thông thường, buổi lễ sẽ được diễn ra theo trình tự như sau : Dọn dẹp mộ phần – Lên hương – Dâng lễ – Mời rượu – Khấn vái – Hóa vàng mã. Khi tiến hành tảo mộ, cần chú ý giữ thái độ thành kính, không cười đùa, chạy nhảy lung tung, bằng không phạm phải kiêng kỵ tiết Thanh Minh thì hậu họa khôn lường.

Trước khi dọn dẹp mộ phần, nên thắp hương khấn gia tiên, xin phép được tu sửa, dọn dẹp cho phần mộ, số nén hương phải là số lẻ (1 hoặc 3 nén) vì số lẻ tượng trưng cho cõi âm. Chú ý phát quang cỏ rậm, nhổ bỏ cỏ dại, đắp bồi thêm đất, trồng thêm hoa tươi, quét dọn khu vực xung quanh cho sạch sẽ.

Kiểm tra xung quanh mộ, nếu bị chuột hay các loài thú khác đào xới làm tổ cần nhanh chóng xử lý. Nếu quanh mộ có nước, hay nước vào trong mộ cũng đều là điềm xấu, ảnh hưởng đến vận khí, tài lộc của con cháu đời sau. Lễ vật dâng lên phải được lựa chọn cẩn thận, nên là đồ chay, bởi dân gian quan niệmăn chay niệm Phật sẽ được siêu độ, mau chóng đầu thai.

Hoa quả là đồ tươi mới, tránh dâng hoa quả héo, dập nát. Số lượng hoa và trái cây phải là số lẻ. Chuẩn bị 2 ngọn đèn hoặc 2 cây nến, tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt. Lễ vật trên bàn có thể đặt chung song nếu có nhiều bát hương thì bát nào cũng phải thắp hương.

Khi hành lễ cúng gia tiên, có 2 hình thức là vái và lễ, được thực hiện sau khi đã bày lễ vật và thắp nhang đèn. Người làm lễ dùng hai tay dâng hương ở vị trí ngang trán, vái 3 vái rồi mới cắm hương vào bát hương. Tiếp theo con cháu trong nhà lần lượt dâng hương theo thứ bậc, ví dụ như cha, mẹ rồi đến trưởng nam, trưởng nữ, thứ nam, thứ nữ…

Sau khi hương cháy được khoảng 2/3 thì lễ tạ, hóa vàng và xin lộc về nhà để làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà. Về chuyện xin lộc, có quan điểm cho rằng ngoài vấn đề tần số tâm linh thì đồ cúng ở mộ, nghĩa trang thường bị nhiễm vi khuẩn (vốn có rất nhiều ở nghĩa trang), ăn vào dễ bị ngộ độc hoặc ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, chỉ nên đem cho chim, cá ăn.

Điều này cũng khá có khoa học, chúng ta nên cân nhắc lựa chọn sao cho phù hợp. Ngoài ra, khi thắp hương cho các ngôi mộ trong khu vực của gia tiên, thông thường nên tuân theo thứ bậc từ các đời trước trở đi. Tuy nhiên, nếu khu mộ không được bố trí theo đúng trật tự thứ bậc trong dòng họ thì tùy duyên, thuận theo lối đi mà thắp, không nên quá cứng nhắc.

8/. Để tóc phủ trước trán, mua giày trong tiết Thanh Minh : Trong dân gian, tiết Thanh Minh còn được gọi là “tiết Quỷ”, bởi đây là lúc mà âm khí rất vượng, ma quỷ nhiễu nhương. Trong thời gian này, nếu có việc phải đi đêm thì phải đem theo vật hộ thân, có thể là cành dâu, cành liễu, bùa may mắn hay vật phẩm phong thủy đã được khai quang.

Đặc biệt nhớ để lộ trán, vì theo quan niệm dân gian thì trán là cánh cửa vận mệnh của con người, là nơi đèn thần soi rọi, không nên để tóc che phủ. Trong thời gian này cũng không nên mua giày mới, bởi trong tiếng Hán, chữ “hài” (giày) và chữ “tà” đồng âm, mua giày sẽ không may mắn, dễ bị tà ma theo đuổi. Nếu không chú ý, lỡ mua giày vào dịp này thì nên lấy giấy đỏ bọc giày để ngoài cửa 1 đêm, sáng hôm sau gỡ ra, đốt bỏ lớp giấy đỏ là được.

9/. Chồng mất 3 năm đầu, vợ không được đi tảo mộ : Một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh dân gian truyền lại: nếu chồng mới mất, trong 3 năm đầu người vợ không được đi tảo mộ. Nếu không cẩn thận phạm phải sẽ ảnh hưởng đến vận khí của người vợ.

Nếu cải giá, người chồng sau này có thể bị khắc chết, con cái cũng yếu ớt, dễ chết sớm. Tuy nhiên đây chỉ là phong tục của một số địa phương, nếu nơi bạn đang sống có kiêng kỵ điều này thì tốt nhất nên tuân theo, tránh sau này gặp nhiều chuyện phiền phức phải suy nghĩ.

Còn nếu nơi bạn sống không có phong tục này thì hoàn toàn có thể làm theo tâm nguyện của bản thân. Ngoài những điều đã nêu trên, còn một số điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh như trước khi đi tảo mộ, nên dùng đồ chay tịnh để tỏ lòng thành kính với tổ tiên.

Người sức khỏe yếu, mới ốm dậy hay mới động dao kéo, phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì kinh nguyệt cũng không nên ra ngoài nhiều vào dịp này, càng không nên đi tảo mộ. Ngoài vấn đề tâm linh thì đây là thời điểm giao thông ách tắc, thời tiết nồm ẩm hoặc nắng gắt, người yếu dễ bị nhiễm bệnh, nên chú ý giữ gìn sức khỏe. (theo An Nhiên / Reatimes)

Ngọc Sương chuyển tiếp

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

VÀ NHỮNG TIÊN ĐOÁN VĨ ĐẠI

1/- NOSTRADAMUS :

Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.

Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.

Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Ý, Do Thái và Ả Rập…

Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, vợ của vua Henry đệ II.

Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.

– Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già

Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh

Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng

Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery – “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi.

Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

– Napoleon bại trận ở Nga : Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga

Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố

Quân chủ lực sẽ phản công

Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

– Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém

Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh

Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm

Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba

Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa

Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang

Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

– Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London

Thành phố sẽ cháy vào năm 66

Vị phu nhân mất địa vị tối cao

Và nhiều nơi bị hủy hoại.

Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.

Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.

Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.

Tiên tri về cái chết của mình : Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”. Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.

Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới : Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.

Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.

– Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999 : Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.

Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc.

Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

2/- EMANUEL SWEDENBORG

Ở Thụy Điển có một người “thấy được tương lai” nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè… Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.

Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom” (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!

3/- KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG

Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bấm Độn.

Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của Gia Cát Lượng còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

4/- JEAN DIXON

Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai – bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri “nhí” Jeane đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay sẽ phát nổ.

Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.

Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những người khác.

Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh của người đó.

Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.

Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất. Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.

Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.

5/- VANGA

Vanga (tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng. Nhà tiên tri Vanga sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh viện ở thủ đô Sofia.

Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.

Bà từng nói :“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.

Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những nền văn minh khác tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.

THƯỞNG THỨC CÙNG DANH HỌA :

CHÚA GIÊ-SU

CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI MÙ

Chúa là một bậc giác giả với vô vàn quyền năng to lớn mà với con người đó là những phép lạ nhiệm màu. Kinh thánh truyền rằng Ngài đã chữa bệnh cho rất nhiều người, từ người mù bẩm sinh, tới những kẻ ma quỷ ám, hay những bà già gù lưng suốt bao nhiêu năm trời sống trong khổ cực. Xuất phát từ lòng từ bi mà Chúa dùng quyền năng chữa bệnh chấm dứt những tháng ngày đau đớn của con người. Từ đó mà răn dạy con người hiểu về nguồn gốc của bất hạnh đó.

Trong quá khứ xưa nay, các bậc giác giả hạ thế không phải là thể hiện quyền năng hay chữa bệnh. Căn bệnh mà các bậc giác giả muốn chữa cho con người chính là tâm bệnh, một loại bệnh trong mê muội, từ đó mà chuốc lấy khổ đau. Lưu lại cho con người tâm pháp và giảng giải cho họ hiểu những căn nguyên của chính khổ đau đó.

Quyền năng chữa bệnh và ẩn ý từ bài học giáo huấn của Đức Chúa được thể hiện qua bức họa.

Tác phẩm hội họa ‘Chúa chữa bệnh cho người mù’ là tác phẩm của họa sĩ Lucas Van Leyden, sinh ở Hà Lan. Đây là một bức họa nổi tiếng mô tả cảnh mà Chúa Giê-su chữa lành bệnh cho người mù Gierico. Bức họa chia ra làm hai phía đối lập, bên trái của bức họa là chúa Giê su và những con người còn chứa nhiều thiện tâm, hài hòa, đại diện cho nhóm người dễ giác ngộ về pháp mà Chúa giảng.

Bên phải của bức họa là quảng đại những người giàu sang, tiêu biểu là một thân hình nam giới cao to và gương mặt hung dữ với vẻ thất thường đầy tham vọng trần tục có vẻ hoang dã, đây chính là nhóm người mà Chúa Gie-su sẽ phải khổ công cảm hóa, kiên trì giảng pháp để cải hóa những tâm tính bất hảo và độ họ tiếp thu được pháp mà Ngài giảng.

Điều đáng lưu ý hơn là con người ta nhìn thấy ngay kẻ hung ác kia ăn mặc trang hoàng sang trọng, họ mang tiền bạc tới để xây nhà thờ, dâng lên cho Chúa không phải là từ tâm thiện của con người họ, mà chính là bỏ tiền mua chuộc Chúa, muốn đặt bàn tay của mình lên vai Chúa Giê-su.

Sự vênh váo của kẻ giầu có, coi tiền bạc là quyền năng của bản thân, thường nhìn những con người khốn khổ bằng sự khinh rẻ, họ thường thiếu tình yêu thương với người khác. Khi tận mắt chứng kiến quyền năng của Giê-su thì lập tức trong đầu muốn dùng tiền mà mua chuộc, muốn biến chúa Giê-su trở thành người phục tùng và vâng lời của mình.

Chúa Giê-su có biết được điều đó không ? Ngài biết rõ tâm những người này ra sao, nhưng ngài vẫn thương họ, thương chính bởi sự mê muội, dốt nát ấy. Họ chẳng bao giờ hiểu tiền bạc không thể mang họ tới thiên đường, và cũng không thể giúp nguời ta tới được bên Chúa. Cái mà họ sẽ mang theo bên mình chính là tội phúc của chính họ.

Lucas Van Leyden đã rất khéo léo khi tô điểm cho những kẻ tham lam, vênh váo, kênh kiệu này và tập trung khắc họa chân dung của  người đàn ông  phô trương địa vị và quyền lực: trên đầu ông tua tủa những chiếc lông chim, cổ ông ta bật ra kiêu hãnh từ chiếc cổ áo để mở. Hai tay áo tinh tế và hợp thời trang bay phần phật và đung đưa. Hai tay áo biểu tượng cho túi tham mà ông ta đang sở hữu, nó tung bay là thể hiện của cái sở thích phô trương thanh thế, thích  thể hiện bản thân.

Chúa không hướng ánh mắt về ông ta, chẳng một cái liếc nhìn dẫu cho ông ta đang cố gắng thu hút sự chú ý của Giê-su về phía mình. Chúa nhìn thấu tâm can của hắn, nhưng vì lòng từ bi thương xót, Ngài sẽ vẫn cho họ cơ hội được đắc cứu.

Bức tranh thể hiện một nhóm khác, là sự xuất hiện của hai đứa trẻ, một đứa trẻ đi cùng người mù, nó ngẩng khuôn mặt ngây thơ cung kính nghe Chúa giảng nói. Nó thuộc nhóm người còn chứa nhiều thiện tâm, nó rất dễ được cảm hóa, một đứa khác nằm dưới chân kẻ giàu có vênh váo kia, mà chỉ về phía Chúa đang chữa bệnh, nó chính là hình ảnh phản ánh lên rằng một con người có tính thiện lương ban đầu nhưng lớn lên trong sự dạy dỗ chỉ vì bản thân và không phân biệt được thiện ác, tốt xấu, mà sẽ chỉ là kẻ đứng ngoài chỉ chỏ về quyền năng nơi Chúa chứ không thấm lời Ngài dậy. Những kẻ khó lòng thoát khỏi cái bóng của ma quỷ trong tâm.

Đối với Giê-su hay với bất kì một bậc giác giả nào, thì căn bệnh khó chữa nhất của loài người chính là căn bệnh từ trong tâm.

Giê-su hạ thế là lặng lẽ, trong suốt quá trình truyền đạo truyền pháp, ngài không ngưng nghỉ đôi chân, bất kì nơi nào đi qua đều là mầm nhân duyên thiện lành mà Giê-su gieo cấy.

Cảm hóa nhiều con người thiện lương theo đạo, hóa độ những kẻ còn hoài nghi về quyền năng nơi Chúa, thức tỉnh những con người đang lầm đường lạc lối.

Trong hết thảy những chuyến đi, Ngài thể hiện phép nhiệm màu mà người thường không có được, Ông cho người đời thấy đâu là bến bờ hạnh phúc thực sự, có biết bao căn bệnh được ông chữa khỏi, có những người tưởng chừng như chết đi mà được hồi sinh kì lạ. Quyền năng to lớn ấy làm biết bao nhiêu con chiên rơi lệ cảm tạ ân sâu.

Nhưng có một căn bệnh của con người mà chính bản thân Giê-su cũng phải chấp nhận lấy cái chết của mình để cảm hóa, đó chính là căn bệnh mê muội nhân tâm. Những kẻ từng ngày đi theo từng bước chân ngài, đã từng là môn đồ của ngài, nhưng trong tâm lại không chịu buông lòng tham, sự tàn ác. Những kẻ bị cám dỗ bởi ma quỷ để rồi không phân biệt được đâu mới là người sẽ cứu độ mình, đâu là người thực sự mà họ cần phải mang ơn

Chấp nhận làm nô lệ của quyền thế và đồng tiền mà bị sai khiến đủ điều. Những con người đó thật chẳng dễ dàng gì cứu cả. Và Chúa đã phải đánh đối lấy mạng sống của mình để mong hòng cứu rỗi linh hồn họ.

Và cái kết của những con người không chịu buông đi những túi tham lam vào tiền bạc, là cái chết của chính họ, bởi người có thể  thực sự cứu họ như Giê-su họ còn bán đứng thì ai có thể cứu họ đây, đồng tiền mà họ có liệu có thể cứu được mạng sống không? Cái chết của Judas cũng là để cảnh tỉnh cho con người mai sau biết buông bỏ đi lòng tham, thoát khỏi sự khống chế của ma quỷ trong tâm mình mà trở về với Đức Chúa.

Nỗ lực của chúa Giê-su trong suốt những năm tháng truyền đạo truyền pháp, bất chấp cực khổ, bất chấp hiểm nguy và mất đi cả tính mạng của mình. Điều ấy cũng là hi vọng duy nhất mà Ngài lưu lại cho con người về con đường phá bỏ mê muội, chấm dứt khổ đau, trở về với thiên đàng.

Rất nhiều những họa sĩ tôn giáo đã thành công khi thấu hiểu được tâm tư của Chúa mà khắc họa thành công về Giê su, có lẽ sự thành công trong bức họa lưu lại tên tuổi của họ với người đời sau này chính là cảnh giới tư tưởng mà họ ngộ được trong chính pháp lý mà Giê-su giảng.

Và mỗi một chặng đường lịch sử, lại có một bậc thánh giả hạ thế cứu độ chúng sinh. Khi con người sẽ phải đối diện với hiểm nguy, thì đất trời lại đón chào Giác giả tới cứu độ. Ai là người từ trong mê mà ngộ? Ai là người sẽ được đắc cứu, đó chính là duyên phận đáng trân quý của con người. Giê-su đã lấy cái chết để cảnh tỉnh thế nhân, thì nay trong cơn mê đó, ai là người thức tỉnh? Thiên đàng hay địa ngục, đó là lựa chọn của chính chúng ta.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

ĐOÁN TÍNH CÁCH QUA ĐỘ DÀI NGÓN TAY…

ĐOÁN TÍNH CÁCH

NHÌN ĐỘ DÀI CỦA NGÓN TAY…

Trong các ngón tay của bạn, ngón nào dài thứ 2 sau ngón giữa ? Trên thực tế, một việc đơn giản như thế cũng có thể nói lên tính cách của bạn. Cách bói tính cách qua độ dài ngón tay vừa đơn giản lại chính xác này rất được quan tâm tại Mỹ. Hãy cùng bạn bè, người thân thử xem sao nhé.

A/- Ngón áp út dài hơn ngón trỏ: người hấp dẫn quyến rũ : Đây là những người có ngoại hình ưa nhìn, xung quanh luôn có rất nhiều người yêu thích. Mặc dù họ không biết cách thăm dò đoán ý người khác qua cử chỉ và sắc mặt, nhưng họ không có ác ý gì, thậm chí họ có sức hút đến nỗi có thể biến yếu điểm này thành điểm nổi bật của bản thân.

Họ giỏi nhất về giải quyết các vấn đề, khi gặp phải khó khăn, hãy tìm giúp đỡ từ những người thuộc nhóm này. Trong kiểu người này thì đa phần là kỹ sư và những người làm công việc nghiên cứu. Có thể là do họ giỏi về tính toán, giải đố.

B/- Ngón trỏ dài hơn ngón áp út: người đáng tin và cũng rất tự tin : Người có ngón trỏ dài hơn ngón áp út lúc nào cũng tràn đầy tự tin vào bản thân, luôn làm tốt mọi nhiệm vụ được giao. Họ thích làm việc độc lập một mình hơn là làm việc theo tập thể và ghét bị quấy rầy. Chỉ cần để họ làm việc theo cách của họ, nhất định sẽ đạt được kết quả mỹ mãn. Giao phó công việc cho kiểu người này, bạn có thể hoàn toàn yên tâm. Họ không hài lòng với hiện tại mà luôn luôn có xu hướng theo đuổi những điều tốt đẹp hơn.

C/- Ngón áp út dài bằng ngón trỏ: người yêu thích hoà bình và chính nghĩa, không thích đấu đá : Những người thuộc nhóm này có tính thích nghi cao, thích chung sống hoà hợp với người khác, thích cuộc sống đơn giản, ổn định, ghét tranh cãi. Họ rất giỏi lấy lòng người khác, nhưng nếu một khi họ tức giận thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Bạn nhất định phải chú ý điểm này, phải hết sức cẩn thận, không nên chọc giận họ. (Quỳnh Chi theo Letu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

5 CÁCH NHẬN DẠNG

NGƯỜI THÂM ĐỘC

Dù giỏi che đậy đến mấy, người có tâm cơ thâm độc, xấu xa vẫn sẽ bị “lòi đuôi” ở những chỗ mà họ không ngờ đến nhất.

Trong cuộc sống của mỗi người, chúng ta đều có rất nhiều mối quan hệ, nếu không phải là tình thân, tình yêu, đồng nghiệp, đối tác thì những người còn lại hẳn sẽ thường được xếp vào tình bạn. Trong số đó, có không ít người chỉ là bạn “hờ”, nói một cách dễ hiểu, họ chỉ tiếp cận bạn với mục đích, ý đồ nào đó và sẽ trở mặt ngay khi hết giá trị lợi dụng.

Những người này thường có tài giao tiếp rất khéo, dẻo miệng và giỏi che đậy, nên nếu không tinh tế sẽ khó lòng nhận ra tâm cơ xấu xa của họ. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, núi cao sẽ có núi cao hơn, dưới đây sẽ là 5 cách điểm mặt chỉ tên người tiếp cận bạn có ý đồ mờ ám và tóm gáy ngay trước khi họ kịp giở thủ đoạn.

1/. Nói không ngừng nghỉ về nhu cầu của mình : Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy chú ý đến những người luôn đặt câu chuyện của mình làm trung tâm trong tất cả các cuộc đối thoại.

Làm ra vẻ rất quan tâm đến cuộc sống của bạn, nhưng đó chỉ là đòn bẩy để họ nâng câu chuyện của mình lên. Họ không ngừng huyên thuyên với bạn về những thứ muốn có được và đạt được. Kể một cách chi tiết để bạn biết chính xác họ muốn bạn làm gì.Đừng để những lời ngọt ngào thôi miên lí trí, hơn lúc nào hết bạn cần tỉnh tảo khi tiếp cận với loại người này.

2/. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo : Không quy chụp tất cả, nhưng người có tâm địa không tốt thường sở hữu “chiếc lưỡi của một con quỷ”. Cái tài của họ là dùng lời nói để xoay chuyển tâm lí của bạn. Bằng cách nào đó, họ khiến bạn tin vào những lời nói dối của họ.

Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy khôn ngoan đưa mình ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy, nếu không sớm muộn gì, bạn cũng sẽ bị họ cố gắng điều khiển và sai khiến.

3/. Luôn sai khiến và lợi dụng bạn : Những người tiếp cận bạn với tâm địa không tốt, họ không bao giờ lãng phí thời gian của mình, mà luôn tận dụng cơ hội sai khiến và lợi dụng khi ở gần bạn. Dù bạn không muốn nghe nhưng họ luôn lặp đi lặp lại một vấn đề như kiểu muốn tiêm nhiễm chúng vào đầu bạn để bạn phải giúp họ mới thôi.

Đừng ngại, thẳng thắn từ chối là cách đáp trả hay nhất đối với trường hợp này. Mặc kệ, họ liên tục thay đổi thái độ từ cứng rắn sang mềm mỏng, bi lụy thì cũng đừng dễ xiêu lòng nhé. Hãy thay đổi chủ đề hoặc rời đi.

4/. Bạn luôn thấy bất an và có cảm giác tồi tệ khi ở cùng họ : Trong nhiều tình huống, cảm giác bất an cũng là một thứ phán đoán chuẩn xác. Nếu bạn luôn cảm thấy không an toàn khi ở cạnh hoặc nói chuyện với một người nào đó thì hãy cẩn thận, đó có thể là linh cảm đúng đấy.

Khi một người có nhiều biểu hiện lạ hoặc một trong các dấu hiệu được nêu ra ở trên, và bạn cảm thấy luôn có cảm xúc tiêu cực tức tối, khó chịu,… thì tốt nhất nên tránh xa ra nhé. Nếu họ thực sự là người tốt, hãy để thời gian trả lời điều đó.

5/. Ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể bất thường : Kẻ nói dối thường ít khi nhìn thẳng vào mắt người đối diện mình, đơn giản là họ không tự tin vào lời nói và né tránh những biểu cảm không thật. Họ thường sử dụng quá nhiều ngôn ngữ cơ thể nhằm tạo sự tin tưởng ở người khác. Đừng để họ qua mặt bạn, hãy nhìn chầm chầm vào mắt họ, cái đuôi sẽ sớm lòi ra thôi, khi họ bắt đầu căng thẳng mồ hôi sẽ đổ, biểu cảm bối rối,…

Với người có trực giác tốt, họ sẽ dễ dàng nhận ra sự bất ổn từ những người xung quanh mình. Ngoài ra, người có tâm địa không tốt sớm muộn cũng sẽ tự “lòi đuôi cáo” mà thôi. Nhưng biết sớm vẫn hơn biết muộn, việc của bạn là nằm lòng 5 cách nhìn người mà đoán tâm tính ở trên để tránh bị người xấu lợi dụng. (Nguyễn Vi theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

5 CON GIÁP NAM

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ GIA ĐÌNH ​

Theo quan niệm tử vi, nếu đàn ông thuộc 1 trong 5 con giáp dưới đây sẽ luôn coi gia đình là nơi quan trọng nhất. Họ dù có phải hi sinh bản thân mình hay làm bất cứ điều gì khác cũng không bao giờ bỏ rơi những người mình yêu thương.

Và nếu chị vợ nào đang có một anh chồng như thế thì hãy yêu thương, trân trọng anh ấy nhiều hơn nhé, bởi anh ấy chính là người sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh vợ suốt cuộc đời này đó!

1/- Đàn ông tuổi Tý : Có chết cũng không buông tay : Những người cầm tinh con Chuột được trời ban cho một đặc ân là có trí tuệ hơn người, thông minh, nhanh nhẹn và hoạt bát. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn có hành động quyết đoán, dứt khoát. Dù trong tình huống bé như con kiến hay sự kiện trọng đại, họ luôn biết cách tìm ra giải pháp để xử lý mọi việc một cách hoàn hảo nhất. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn được mọi người nể phục.

Dù sở hữu tính cách như vậy nhưng khi rơi vào lưới tình, người tuổi Tý lại đánh mất hết lý trí để dành trọn tình yêu thương của mình cho một người phụ nữ hoàn toàn vô điều kiện. Bởi vậy, họ sẽ bất chấp hết tất cả để giữ người yêu thương bên cạnh mình.

Nếu yêu một người tuổi Tý, các chị sẽ luôn có cảm giác an toàn tuyệt đối. Bởi mẫu đàn ông này sẽ làm mọi việc để dành những điều tốt nhất cho người phụ nữ mà họ yêu thương.

2/- Có chồng tuổi Tuất, dù chết anh ấy cũng không bao giờ rời xa vợ : Những người cầm tinh con Chó thường mang tính cách khá trẻ con, bồng bột và có phần nông nổi. Vì thế nhiều người không có cái nhìn thiện cảm cho đàn ông tuổi Tuất.

Tuy nhiên, bạn đừng nghe người ta nói như vậy mà hiểu sai về người tuổi Tuất nhé. Bởi trong tình yêu, họ lại khác biệt hoàn toàn với sự chín chắn và trưởng thành hơn rất nhiều. Bởi họ dành tình yêu thương cho ai đó còn hơn cả bản thân mình.

Một khi đã yêu ai đó, người tuổi Tuất sẽ luôn nâng niu và trân trọng tuyệt đối. Cho dù đối phương có gây sai lầm thì tuổi Tuất cũng sẽ rộng lượng tha thứ để luôn có bạn ở bên trong cuộc đời mình.

3/- Tuổi Dần : Bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương : tuổi Dần quy tụ những người thông minh, tinh tường. Nhờ vậy, họ sẽ dễ dàng dành được cho mình những thành công đáng ngưỡng mộ trong sự nghiệp và cuộc sống. Ngoài ra, người tuổi Dần thường còn được mọi người yêu quý bởi tính cách hiền hòa, dễ chịu và lối cư xử rất có chừng mực.

Trong tình yêu, người tuổi Dần tỏ ra khá cẩn trọng, dè chừng và đưa ra những yêu cầu khá khắt khe với người vợ tương lai. Chính bởi vậy, họ sẽ mất khá nhiều thời gian để tìm được đối tượng ưng ý. Tuy nhiên, một khi đã tìm ra được người phụ nữ yêu thương của cuộc đời mình rồi thì họ sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh cô ấy. Chắc chắn tuổi Dần sẽ làm tất cả để bảo vệ tình yêu mà họ rất khó mà có được. Kể cả khi tình cảm của đối phương không còn nguyên vẹn như trước tuổi Dần cũng sẽ không bao giờ từ bỏ mà sẽ làm tất cả để dần dần kéo người ấy quay trở lại bên mình.

4/- Tuổi Sửu : Dành tình yêu chung thủy tuyệt đối cho “nửa kia” : Người tuổi Sửu thường có trái tim dịu dàng, ấm áp. Bởi vậy, trong tình yêu, họ luôn dành sự chân thành và hết mực quan tâm, chăm sóc cho người phụ nữ mà mình yêu thương.

Với bản tính ân cần, chu đáo, cộng với trái tim nồng ấm và sự chung thuỷ tuyệt đối, người tuổi Sửu có đủ tiêu chuẩn để trở thành một người yêu tuyệt vời luôn đem đến cảm giác hạnh phúc, ngất ngây trong men say tình yêu cho bạn. Họ luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ với bạn mọi lúc bạn cần.Nếu bạn đang trong mối quan hệ tình cảm với người tuổi Sửu thì đó chính là điều tuyệt vời nhất mà bạn nên trân trọng.

5/- Tuổi Ngọ : Dồn hết tâm trí vào người mình yêu thương : Đàn ông cầm tinh con Ngựa thường rất tự tin và quyết đoán. Họ luôn suy nghĩ rất chính chắn, sâu sắc về mọi thứ nên hầu như không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình.

Về tình yêu của người tuổi Ngọ: Khi đã xác định yêu ai đó, họ sẽ dồn hết tâm trí và tình yêu thương của mình cho cô ấy. Người ta thường nói những người cầm tinh con ngựa sẽ hay bay nhảy, dễ thay lòng nhưng trái lại, người tuổi Ngọ luôn cố sức vun vén cho hạnh phúc gia đình nên hiếm khi họ “liếc ngang liếc dọc” để tìm kiếm một đối tượng khác.

Lan Hương chuyển tiếp

CHUYỆN LUÂN HỒI Ở CÀ MAU (VN)

CON GÁI ÔNG CẢ HIÊU

VỪA CHẾT ĐÃ TÁI SINH

Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã nêu lên một số bằng chứng về hiện tượng luân hồi, những bằng chứng này được ghi lại trong cuốn Phật học Phổ Thông xuất bản tại Việt Nam vào cuối năm 1990. Sau đây là một trong những bằng chứng ấy :

Câu chuyện có thật này xảy ra tại làng Tân Việt ở Cà Mau (vùng Ðầm Giơi). Ở đây có một gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con. Người cha trong gia đình này là ông Cả Hiêu. Cô con gái trong gia đình được ông Cả Hiêu cưng chìu như trứng mỏng nhưng không may, cô bị bệnh và qua đời lúc 19 tuổi. Cả nhà ai cũng đau buồn thương xót, ông Cả Hiêu thì như điên như dại.

Câu chuyện không chấm dứt ở sự qua đời của cô gái mà lại là chuyện bắt đầu vì do sự trùng hợp nào đó, (mà sau này người trong hai vùng này mới tìm thấy thêm chi tiết).

Ở cách làng Tân Việt cũng có một cô gái bị bệnh (cùng thời gian với cô con gái ông Cả Hiêu) và qua đời. Người nhà khóc lóc, lo việc tẩm liệm thì bất ngờ ngày hôm sau cô gái sống lại làm mọi người vừa mừng vừa sợ. Cô gái tự nhiên mạnh khỏe, như không có gì gọi là đau ốm bệnh hoạn cả.

Ðiều lạ lùng là từ khi sống lại, cô gái này cứ một mực đòi người trong gia đình đưa cô đến nhà ông Cả Hiêu. Mọi người trong nhà đều hết sức ngạc nhiên vì không biết ông Cả Hiêu là ai.

Khi hỏi cô gái thì cô cho biết cha của cô chính là ông Cả Hiêu người làng Tân Việt. Người nhà nghỉ rằng cô gái có lẽ bị ma nhập, quỷ ám nên lo sợ, đi tìm thầy về cúng và trừ tà. Nhưng cô gái vẫn khăng khăng đòi đi gặp cha mình và bảo rằng cô biết rõ đường đến nhà ông Cả Hiêu. Cô mô tả đường đi, tả ngôi làng, tả cái nhà, số nhà từng chi tiết và kể về những người nhà ông Cả Hiêu nữa. Cô gái bảo ông bà Cả Hiêu là cha mẹ ruột của mình. Cuối cùng cha mẹ cô gái buộc lòng phải cùng đi theo chuyến xe đò đến làng Tân Việt để tìm hiểu thực hư.

Khi đến bến xe, mọi người xuống xe còn đang bỡ ngỡ không biết đi theo hướng nào để về nhà ông Cả Hiêu thì cô gái nói : “Ðừng có ngại, để con dẫn đường cho”. Thế rồi khi đến cổng nhà ông Cả Hiêu, cô gái tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và chạy nhanh vào nhà. Lúc đó hai vợ chồng ông Cả Hiêu đang ngồi trong nhà. Cô gái chạy lại ôm chầm lấy ông Cả Hiêu vừa khóc vừa nói : “Ba ơi, con đây ba ơi !”

Hai vợ chồng ông Cả Hiêu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì sảy ra thì vừa lúc cha mẹ cô gái bước vào nhà kể lại chi tiết câu chuyện cho vợ chồng ông Cả Hiêu nghe. Ông Cả Hiêu lấy làm lạ, cũng kể lại con gái mình bị bệnh đã qua đời cho cha mẹ cô gái nghe. Ông còn chỉ tay lên bàn thờ có đặt tấm ảnh của cô con gái con ông. Trong khi đó cô gái mới đến cứ đi lại trong nhà tự nhiên như là người đã ở đó từ lâu rồi.

Câu chuyện đến hồi kết thúc khi sự kiện đã rõ ràng; cô gái nhất quyết ông bà Cả Hiêu là cha mẹ mình và ông bà Cả Hiêu cũng chấp nhận điều đó vì cô gái nói rõ những chi tiết mà ngoài con gái ông Cả Hiêu ra khó có ai biết rõ chuyện gia đình ông bà. Thế là hai gia đình kết thân với nhau.

Dân chúng hai vùng Cà Mau, Bạc Liêu biết được một chuyện lạ lùng hãn hữu trên thế gian, họ bảo cô gái ấy có hồn là con của ông bà người làng Tân Việt nhưng thân xác lại là con của ông bà người làng Vĩnh Mỹ. Như câu chuyện Hồn Trương Ba da hàng thịt vậy.

Xuân Mai chuyển tiếp

8 PHÁP KHÍ THẦN THÔNG

QUẢNG ĐẠI CỦA BÁT TIÊN

VÀ CÂU CHUYỆN VƯỢT BIỂN LY KỲ

Nhắc đến các vị tiên trong truyền thuyết, không thể không nhắc tới tám vị tiên huyền thoại với những pháp khí kỳ lạ trong “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” (tám vị tiên vượt biển, triển hiện thần thông). Vậy, những pháp khí đó là gì, và câu chuyện vượt biển ly kỳ này bắt đầu như thế nào?

Một ngày, Vương Mẫu nương nương mở yến hội bàn đào và mời các vị thần tiên cùng tới tham dự. Bởi Vương Mẫu nương nương là nữ Thọ tinh, cai quản việc luyện thuốc trường sinh ở núi Côn Lôn, do vậy hội bàn đào của bà cũng vô cùng đặc biệt.

Tương truyền, vườn đào tiên được chính Vương Mẫu nương nương tự tay vun trồng, có hết thảy 3.600 cây. Phía trước là 1.200 cây với hoa nhỏ trái nhỏ, 3.000 năm mới chín, người ăn đào này thì thân thể nhẹ nhàng, thanh xuân mãi mãi.

Ở giữa là 1.200 cây, hoa nở thành tầng, trái thơm quả ngọt, 6.000 năm mới chín, ăn vào có thể cưỡi mây lướt gió, bay bổng lên chín tầng thiên. Phía sau là 1.200 cây, trái tím hạt vàng, 9.000 năm mới chín, người ăn vào sẽ phúc lộc cùng trời đất, thọ ngang cùng nhật nguyệt, mãi mãi bất lão trường sanh. Cho nên nói, bàn đào là vật báu của thiên địa mà chốn phàm trần không thể có.

Trong yến hội bàn đào, thần tiên khắp mười phương thế giới đều tề hội đông đủ, tiên khí bao phủ, mây lành vây quanh. Trong đó có tám vị tiên huyền thoại, được gọi là “Bát tiên”, đó là : Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hòa, và Hà Tiên Cô.

Mỗi vị tiên nhân đều có một đặc điểm khác nhau. Tào Quốc Cữu là thân thích của một vị hoàng đế thời nhà Tống; Lý Thiết Quải có dáng vẻ giống như người ăn mày với một bên chân tật nguyền nên phải chống gậy sắt; Hà Tiên Cô là một thiếu nữ trẻ xinh đẹp; Trương Quả Lão là một cụ già tóc bạc, gương mặt hồng hào, râu tóc phất phơ, thường cưỡi ngược trên lưng một con lừa; Hàn Tương Tử là cháu trai của Hàn Dũ, một nhà văn triều Đường, đặc biệt yêu thích thổi sáo; Hán Chung Ly lúc nào cũng phe phẩy một cây quạt ba tiêu, v.v. Họ đều là tiên nhân của Đạo gia, và thường tụ họp cùng nhau.

Trở lại với yến hội bàn đào, sau khi ăn uống no say, tám vị tiên nhân bái lạy Vương mẫu và cùng nhau quay về. Sau khi các vị tiên lên thuyền, Lã Động Tân đột nhiên nảy ra ý tưởng kỳ lạ, đề nghị mọi người không ngồi thuyền mà mỗi người hãy tự nghĩ cách để qua bờ bên kia.

Đầu tiên, Hán Chung Ly ném cây quạt ba tiêu xuống nước, rồi nằm ngửa trên đó để mặt quạt trôi đi. Lý Thiết Quải tháo bầu hồ lô đeo bên mình rồi thổi hơi vào, chiếc hồ lô biến thành lớn nổi trên mặt nước giống như một con thuyền, ông ngồi trên hồ lô tươi cười lướt sóng. Hà Tiên Cô cũng ném lá sen xanh xuống nước, trong phút chốc lá sen hoá lớn, Hà Tiên Cô nhẹ nhàng nhảy lên lướt sóng đuổi theo Lý Thiết Quải.

Lam Thái Hoà ném chiếc giỏ trống, đáy giỏ vừa chạm mặt nước, trong giỏ liền có hoa tươi nở rực rỡ, Lam Thái Hoà tay cầm phách ngọc rẽ sóng mà đi. Hàn Tương Tử ném ống sáo rồi nhảy lên, ống sáo trôi như một chiếc tàu, Hàn Tương Tử miệng thổi sáo, chân đạp sáo sang bờ bên kia. Lã Động Tân ném cây bảo kiếm, trong vòng một trượng, sóng biển lặng yên.

Tào Quốc Cữu tháo chiếc dây lưng ném xuống, Tào Quốc Cữu đứng trên dây giống như đứng trên lưng con rồng đang lắc đầu quẫy đuôi, rẽ sóng mà tiến. Trương Quả Lão cầm ngư cổ, từ tốn từ trong tay áo lấy ra một con lừa giấy, làm phép biến thành lừa thật rồi cưỡi ngược mà đi. Đây chính là câu chuyện “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” mà người ta vẫn nói.

Nhắc đến câu chuyện này, không thể không kể tới những pháp khí mà Bát tiên sử dụng. Những pháp khí này là “Bát Tiên ám”, cũng gọi là “Đạo gia bát bảo”, mang ý nghĩa cát tường, cũng đại diện cho tiên thuật vạn năng. Trong đó có hồ lô, phiến tử (cái quạt), bảo kiếm, liên hoa (bông sen), hoa lam (giỏ hoa), ngư cổ, địch tiêu, Âm Dương bản.

Vậy những pháp khí này có gì đặc biệt ?

Trương Quả Lão — Ngư Cổ (cái mõ hình con cá) : Bảo vật ngư cổ (trống cả) của Trương Quả Lão có thể nói về mạng sống của con người. “Gõ vào Ngư Cổ sẽ vang lên phạm âm”, nghĩa là có thể đoán trước sự việc xảy ra trong một đời người.

Lã Động Tân — Bảo Kiếm : “Kiếm hiện linh quang, yêu ma quỷ quái đều sợ hãi”, thanh bảo kiếm của Lã Động Tân có khả năng tránh tà, đuổi ma.

Hàn Tương Tử — Địch Tiêu (cây sáo ngang) : “Tử tiêu thổi ra âm thanh có thể ổn định hàng trăm cơn sóng lớn mạnh”, chiếc sáo của Hàn Tương Tử có khả năng khiến vạn vật sinh sôi nảy nở.

Hà Tiên Cô — Liên Hoa (đoá sen) : “Tay cầm liên hoa, không vướng bụi trần”, bông sen của Hà Tiên Cô có khả năng tu tâm dưỡng tính.

Lý Thiết Quải — Hồ Lô : “Trong hồ lô có chứa ngũ phúc”, hồ lô của Lý Thiết Quải có thể cứu giúp chúng sinh.

Hán Chung Ly — Phiến Tử (chiếc quạt) : “Khinh dao tiểu phiến lạc đào viên” (chỉ cần lắc nhẹ chiếc quạt cũng vui vẻ), chiếc quạt của Hán Chung Ly có khả năng cải tử hồi sinh.

Tào Quốc Cữu — Ngọc Bản (miếng ngọc) : “Ngọc bản thanh tẩy, tịnh hoá vạn vật”, tấm ngọc của Tào Quốc Cửu có khả năng thanh tẩy, tịnh hoá mọi vật chung quanh.

Lam Thái Hòa — Hoa Lam (giỏ hoa) : “Thứ cất chứa trong giỏ hoa không phải là vật của phàm trần”, chiếc giỏ của Lam Thái Hòa có khả năng quảng thông thần minh, giúp chư Thần gia tăng sức mạnh.

Những pháp khí của Bát tiên không chỉ là báu vật nơi tiên thánh, mà còn là biểu tượng cho trí huệ và pháp lực vô biên. Các vị tiên đều từ người thường mà tu thành, đều từng trải qua quá trình tu luyện gian khổ trước khi đắc Đạo thành tiên, trở thành bậc thánh thần, tiêu diêu tự tại nơi thiên giới. Câu chuyện về họ đã ghi dấu ấn cho một thời nhân thần đồng tại trong văn hoá Thần truyền phương Đông. (theo Thanh Bình)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp