THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

BÙA NGẢI CỦA ĐỒNG BÀO PA-KÔ

Logo TG tam linh

9-dinh-kim-ngan-1NGÔI ĐÌNH KIM NGÂN

NƠI TT PHÁP GHÉ THĂM

Bia đá, cột đình cổ, hoành phi câu đối, mái vòm, không gian cổ kính là những đặc trưng của ngôi đình lớn nhất trên phố cổ Hà Nội – đình Kim Ngân được Tổng thống Francois Hollande ghé thăm.

H1: Đình Kim Ngân là điểm dừng cuối cùng của Tổng thống Francois Hollande trong chuyến dạo chơi phố cổ Hà Nội chiều 6/9/2016. Đình tọa lạc tại số 42 phố Hàng Bạc (Hoàn Kiếm, Hà Nội) được xây dựng từ thời Hậu Lê, cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, thờ ông Tổ bách nghệ (tổ trăm nghề) Hiên Viên. Đây được coi là một trong những đình cổ kính, rộng nhất trên địa bàn phố cổ.

H2: Tổng thống Francois Hollande được nghe giới thiệu sơ lược về lịch sử ngôi đình cũng như văn hóa người Việt tại đây.

9-dinh-kim-ngan-2

H3: Các giá trị chính mà di tích đình còn lưu truyền được, mang ý nghĩa lớn về mặt kiến trúc nghệ thuật và lịch sử tồn tại phát triển của một phường nghề ở Hà Nội. Vào thời Pháp thuộc, con phố Hàng Bạc có tên tiếng Pháp là Rue de changeurs (tức là phố Đổi Bạc, hay phố của những người nhiều tiền). Nơi đây quy tụ những thợ kim hoàn tinh xảo bậc nhất của đất kinh kỳ.

H4: Ngôi đình được xây theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ “Công” với gỗ và gạch là vật liệu chính. Đại đình rộng 3 gian, hậu cung 3 gian được  nâng cao và là hậu cung kép, có sàn thờ và hệ thống vách ngăn riêng biệt.

9-dinh-kim-ngan-3

H5: Nối giữa hậu cung và tiền tế là ống muống (hành lang nối giữa hai dãy nhà) làm theo kiểu kiến trúc 2 tầng mái, mái trên liên kết với tiền tế, mái dưới tạo không gian hở của hai bên và lấy ánh sáng tự nhiên. Tấm hoành phi đặt trang trọng trên cao, hai cột lớn là hai câu đối. H6: Năm 2009, đình Kim Ngân được trùng tu tôn tạo, và nới rộng mặt bằng với diện tích 575 m2. Hiện trong đình kê những bộ bàn ghế và tấm hoành phi câu đối cổ.

9-dinh-kim-ngan-4

H7: Chiếc sập với nhiều hoạ tiết hoa văn đặt giữa đình. H8: Con công được thêu những họa tiết cầu kỳ đặt trang trọng trên lưng con ngựa phía hai bên lối đi vào hậu cung. H9: Ba tấm bia đá trên bức tường.

9-dinh-kim-ngan-5

H10: Sau ngày đánh chiếm Thủ đô (năm 1954) khuôn viên đình bị thu hẹp, tuy nhiên, tại đình vẫn lưu giữ bia đá, đồ thờ tự, tượng pháp… Về kiến trúc, ở đây vẫn còn nhiều họa tiết chạm khắc rất đẹp, độc đáo. H11: Cây cột đình cổ được kê cao lưu giữ bên trong khuôn viên đình. H12: Đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 10/2012. (theo Ngọc Thành)

9-bhutan-1BHUTAN :

THIÊN ĐƯỜNG TRẦN THẾ

GÂY TÒ MÒ

Bhutan – quốc gia nhỏ bé với hơn 700 nghìn dân được xem như viên ngọc quý nằm trên dãy Himalaya, quốc gia duy nhất tự nhận mình là vương quốc hạnh phúc, lấy chỉ số hạnh phúc của người dân để đo lường sự phát triển.

Sân bay nguy hiểm nhất thế giới, đường băng ngắn nhất thế giới

Bhutan từng là mảnh đất gây tò mò bậc nhất trên toàn thế giới bởi nó được khóa kín giữa những ngọn núi và những đường biên giới, hiếm khi hé mở cho người ngoài bước vào khám phá. Tuy nhiên, những năm gần đây, khi vị vua thứ 5 của Bhutan – người tốt nghiệp Đại học Oxford danh tiếng lên trị vì đất nước, Thiên đường cuối cùng (The last Shangri-la) trên thế giới – cách người ta gọi Bhutan bắt đầu mở cửa.

Bhutan không có chỗ cho người thích du lịch bụi hay đi phượt bởi không cấp visa tự do. Người nước ngoài chỉ có thể tới đây dưới dạng visa làm việc, kết hôn hoặc visa du lịch được xin bởi hàng trăm công ty du lịch nội địa sẵn sàng 9-bhutan-2cung cấp dịch vụ cực tốt từ đặt vé máy bay, xin giấy phép du lịch đến hướng dẫn cho du khách tham quan.

Khách Việt Nam tới Bhutan chưa nhiều nên nếu không đặt được tour du lịch của công ty thuộc sở hữu của người Việt tại Bhutan, có thể tham gia các chuyến đi với hướng dẫn viên nói tiếng Anh chuyên nghiệp.

Theo quy định của vương quốc hạnh phúc, mỗi ngày một khách du lịch phải chi tiêu cho ăn ở, đi lại 200 USD vào mùa thấp điểm (tháng 1 đến 2, tháng 6 đến tháng 8 và tháng 12) và 250USD vào mùa cao điểm. Nếu bạn có ý định đi Bhutan hãy sắp xếp hành lý để lên đường ngay bởi người dân đang kiến nghị Chính phủ yêu cầu nâng mức chi tiêu lên cao hơn nữa.

Để tới được Bhutan, hành khách có thể bắt chuyến bay từ Bangkok, Hongkong và Kalkata (Ấn Độ). Đường bay tới Bhutan chỉ có hai hãng hàng không của chính quốc gia này khai thác là Drukair (Royal Bhutan Airline) và Bhutan Airlines (hàng không tư nhân). Sân bay quốc tế Paro tại Bhutan là một trong những sân bay nguy hiểm nhất thế giới bởi nằm giữa địa hình núi non hiểm trở của dãy 9-bhutan-3Himalaya và một đường băng duy nhất cũng thuộc danh sách những đường băng ngắn nhất thế giới. Hiện tại, chỉ có 8 phi công được cấp phép bay tại sân bay này.

Hạnh phúc tới từ đâu ?

Người Bhutan vẫn rất thuần chất, người trẻ tuổi có sự hồn nhiên, trong sáng, lương thiện, người trung tuổi trải đời có sự từ bi và trí tuệ của Phật tử lâu năm. Trò chuyện với họ, chúng ta bị thu hút bởi năng lượng tích cực từ họ tỏa ra một cách âm thầm. Đi đường núi cả chục cây số, họ vẫn cười nói, ân cần giúp đỡ những người yếu mệt. Bhutan không có nhiều nơi giải trí ồn ào, sẽ rất khó để tìm một quán bar hay quán cà phê. Chính vì thế người Bhutan dành phần lớn thời gian rảnh để đọc sách hoặc tập luyện leo núi.

Hạnh phúc nơi đây còn xuất phát từ sự bình đẳng. Đàn ông và phụ nữ đều có sức khỏe và làm việc nặng ngang nhau. Trong hôn nhân, đàn ông được phép lấy 4 vợ và phụ nữ cũng được lấy 4 chồng. Tuy nhiên, đàn ông muốn lấy thêm vợ phải được sự đồng ý của người vợ đầu tiên. Mặc dù vậy, đàn ông và phụ nữ ở đất nước này sống độc thân khá nhiều, tỷ lệ ly hôn cũng xấp xỉ 50%.

Thiên đường huyền bí

Cũng tại quốc gia Phật giáo thống trị này, hơn 40% đàn ông đi tu. Ở các tu viện tôi đến thăm, gặp rất nhiều trẻ em, các em đều đi tu từ nhỏ. Đến năm 18 tuổi, 9-bhutan-4các em sẽ được tự lựa chọn tiếp tục tu hành hay trở về với cuộc sống đời thường.

Điều đáng chú ý là đền thờ và tu viện của Bhutan không bao giờ thiếu kinh luân xoay (mani hay còn gọi là bánh xe luân hồi). Đây được coi là pháp bảo của Mật tông. Người dân Bhutan thường tới quay đủ kinh luân xung quanh đền, miệng niệm chú Ommani padme hung. Người ta tin tưởng mạnh mẽ rằng, chỉ cần chạm tay vào và quay kinh luân thôi cũng đã tịnh hóa được vô số tội lỗi và tích tập được một lượng công đức.

Một trong những địa điểm nhất định phải tới ở Bhutan là ngôi đền Paro Taktsang hay Tiger’s nest (Hang Cọp) nằm chơi vơi trên vách đá của thung lũng Paro – nơi Guru Rinphoche (ngài Liên Hoa Sinh – người truyền bá đạo Phật vào Bhutan) đã ngồi thiền ba năm, ba tháng, ba tuần, ba ngày và ba giờ vào thế kỉ thứ VIII. Đây cũng là ngôi đền đặc biệt linh thiêng đối với Phật giáo vùng Tây Tạng, 9-bhutan-5hành thiền tại đây dù chỉ một phút thôi cũng có thể đạt được kết quả ngang với hành thiền hàng tháng ở những nơi khác.

Để tới được đây, du khách cần leo núi khoảng 2-3 giờ, hang núi nơi ngài Liên Hoa Sinh thiền chỉ được mở cửa một lần/năm vào tháng 2 để mọi người vào chiêm bái. Thung lũng Paro buổi sáng cũng là địa điểm năng lượng phát ra mạnh mẽ, những người nhạy cảm có thể lập tức cảm nhận được ngay vì thế nếu có thời gian, hãy dậy sớm, ngồi thiền và kết nối năng lượng của bạn với nguồn năng lượng khổng lồ này.

Nếu bạn là người thích mua sắm, tốt nhất đừng tới Bhutan. Đất nước này chỉ hợp với những người có khả năng tài chính, thích đi du lịch, yêu thích khám phá văn hóa, đạo Phật, có sức khỏe, sức bền và chịu đựng được đi bộ đường dài…(theo Thanh Hương báo Giao Thông)

Logo KH huyen bi

9-bua-yeu-1BÙA YÊU NGẢI YÊU CỦA

ĐỒNG BÀO PA KÔ

VÀ VÂN KIỀU

Đó là một trong những bí mật lớn nhất của đại ngàn Trường Sơn. Nhưng có những câu chuyện của chính những người biết “Bùa yêu” làm bởi loại cây cỏ lạ lùng. Một chiều mưa gió trên miền núi cao thuộc huyện A Lưới huyện Nam Đông – Nơi có bà con dân tộc Pa Kô.Vân Kiều sinh sống thuộc TT Huế Tôi vô tình được những người già trong thôn kể về những câu chuyện “Bùa yêu” của người Pa Kô, Vân Kiều từ bao đời nay.

Sẽ yêu cho đến tận lúc chết !

Anh Hồ Ray, trưởng thôn vừa là người dẫn đường, cũng vừa là phiên dịch viên cho Tôi, bởi như Anh Ray nói : “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của “Ngãi Yêu” chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Dẫn tôi vượt qua mấy con suối nhỏ, len lỏi vào trong vườn rẫy của bà Hồ Tuyen, 9-bua-yeu-2Anh Ray vừa đi vừa nói : “Người Pa Kô, Vân Kiều biết nhiều Bùa Ngải, nhưng chỉ có “Ngãi yêu” được nhiều người nghe, chứ Ngải độc thì không thể nói cho ai biết được ! Bà Tuyen ở đây biết nhiều Ngải lắm đó !”.

Căn lều chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa như buồn hơn, và càng làm cho sự huyễn hoặc tăng thêm khi Tôi vào nhà bà Hồ Tuyen. Cái tuổi 70 phảng phất trên nhan sắc của một con người đã qua biết bao mùa rẫy khắc khổ. Bà ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy Anh Ray và Tôi vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn lều.

Một lá “Ngải yêu”

Bà Hồ Tuyen cưới được chồng nhờ một cây “Ngải bí mật” ở trong rừng. Qua phiên dịch Anh Hồ Ray, bà kể : “Chỉ cần 1 lá Ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá Ngải bằng tay rồi thấm nước sau đó lén bỏ vào túi áo quần, dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng. Mỗi năm lại phải bỏ Ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải Ngải thì có tội lắm !”.

Già Làng Hồ A Tá Khỉn, 81 tuổi, cho biết thêm : “Cây Ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Pa Ko, Vân Kiều xưa sử dụng làm “Bùa yêu”, 9-bua-yeu-3vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người biết được’!.

Trước, tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm” Bùa yêu”, đó là bà Hồ Y Ko Nut (87 tuổi), có 4 đời chồng, 8 con, 16 cháu. Bà từng làm Ngải yêu cho hơn mấy chục người phụ nữ Pa Ko, Vân Kiều ở nhiều làng, mỗi lá” Ngải yêu” được đổi lấy vải,heo,gà,lúa ,ngô….

Nhận diện “Ngải yêu”

Phải mất cả buổi vận động, thuyết phục bằng tất cả sự chân thành, cộng với sự đảm bảo của “cán bộ trưởng thôn” Anh Hồ Ray, bà Tuyen mới hé lộ bí mật về Cây Ngải nuôi trong rừng của bà. Với lấy đồ nghề đi rừng, bà bước xuống cầu thang và nói với Anh Hồ Ray mấy câu bằng tiếng Pa Ko, chỉ thấy Anh Hồ Ray gật đầu rồi dặn Tôi không được đi theo.9-bua-yeu-4

Khoảng 1 giờ sau, bà Hồ Tuyen trở về và trên tay chỉ một có một bụi cây không thân, lá màu xanh hình bản kiếm dài vài tấc,

có củ nhỏ giống như loài địa lan. Tôi săm soi xem liệu đó có phải là cây “Ngải yêu” của bà Hồ Tuyen không. Anh Hồ Ray nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Hồ Tuyen là biết loài cây này sống ở đây, ngoài ra không ai biết cả”.

Gia đình chị Hồ Vay Rom.

Bà Hồ Tuyen cho biết, trong làng có một người được bà cho Ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị Hồ Vay Rom hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con.

Hồ Vay Rom kể lúc mới mười sáu tuổi, chị bắt chồng nhưng chưa kịp thì “chồng” chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng Ngải của bà Hồ Tuyen cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ Ngải của bà Hồ Tuyen cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng”.

9-bua-yeu-5Hồ Tuyen còn kể, những năm sau giải phóng, trước cảnh mấy thầy cô giáo người Kinh tình nguyện lên đây dạy chữ cho đồng bào mà quên cả tuổi xuân nên nhiều năm không ai dám cưới, bà Hồ Tuyen đã cho Ngải để họ về xuôi tìm được vợ, chồng…

Theo các nhà khoa học, các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại ngải độc hại người hoặc ngải thuốc cứu người. Ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. Râu cọp là một loại Ngải cực độc. Lá ngón cũng vậy, chính là cây “đoạn trường thảo”. Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại Ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”.

Riêng cây “Ngải yêu” lại là một loại Ngải đặc biệt. Còn công dụng “yêu”, là do nó có chứa chất kích thích tình dục, có hương liệu, khi bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” và sự “thèm thuồng” khó quên, khó cưỡng lại. 9-bua-yeu-6Ngoài yếu tố tâm linh truyền thống tồn tại ở các tộc người còn khá gần với tự nhiên nguyên thuỷ, thì Ngải vẫn giải thích được bằng khoa học. Đó đều là cây thảo dược.

Bùa ngải chỉ là xúc tác ban đầu nối kết 2 người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tiến sỹ Văn hóa Đào Phong Vinh cho biết : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc các khu vực trên vẫn chưa được thực hiện bởi các nhà dược học và dân tộc học. Nếu được, đó sẽ là một nguồn tài sản vô giá !”

Tr bang hoangRừng sâu núi thẩm không kém các chuyện về Bùa Ngãi. Tui được duyên gặp duyên nên được tiếp cận học được các loại Bí truyền nầy ! Mong giúp được các Bạn đang cần hàn gắn hôn nhân vì có người thứ 3 chen vào. Giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau hơn, giúp các bạn cần tìm ý trung nhân… Hãy suy nghĩ thật kỷ trước khi liên hệ với Tôi các Bạn nhé !

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

1a LogoTuongso

Tr Thay boi 4NHỮNG DẤU HIỆU TRỜI ĐỊNH

BẠN SẼ CÓ SỐ HƯỞNG LỘC

Dưới đây là những dấu hiệu cực kỳ hiếm gặp trong lòng bàn tay, vì thế người sở hữu chúng được xem là đã được trời định sẵn số phận may mắn hơn người.

H1: Nếu ở cuống ngón tay cái có những vòng tròn nối đuôi nhau tạo thành một chuỗi dài thì đó gọi là đường Nhẫn gia tộc. Người sở hữu dấu hiệu này sẽ sống sung sướng, hưởng thụ cả đời nhờ phúc từ gia đình, có thể là gia đình của mình hoặc gia đình bên vợ/chồng. Tuy nhiên bạn cần cẩn thận với miệng lưỡi thế gian và sự ganh ghét của những người xung quanh.

9-dau-hieu-1H2: Cũng nằm ở cuống ngón tay cái, đường Cổ cồn trắng gồm hai đường vòng cung song song nằm vắt ngang qua phần bắp thịt. Đây là dấu hiệu của người có tố chất lãnh đạo và tài năng xuất chúng, thường đứng đầu trong nhiều lĩnh vực và khó lòng chịu thua kém ai. Họ là những người dễ đạt được thành công trong cuộc sống nhờ tài năng, kiên trì và nỗ lực.

H3: Thông thường người ta chỉ có một đường Trí tuệ trong lòng bàn tay, nhưng nếu ai may mắn sở hữu hai đường, gọi là đường Song trí, thì người đó là thiên tài bẩm sinh, trí thông minh hơn người. Việc gì họ cũng làm giỏi hơn người khác và thành công nhanh hơn người khác. Vấn đề duy nhất của họ là sự tập trung.

H4: Nếu một người mà nắm tới 3 đường Sinh mệnh trong lòng bàn tay, gọi là đường Sủng ái, thì cuộc đời người đó luôn nhận được sự yêu mến, giúp đỡ hết mình từ người khác. Cuộc sống và công việc của họ luôn gặp được quý nhân phù trợ nên thuận lợi đủ đường, 9-dau-hieu-2đường công danh sự nghiệp rộng thênh thang. Có điều họ thường gặp khó khăn trong việc tự mình đưa ra những quyết định quan trọng.

H5: Người có đường Hi vọng trong lòng bàn tay thì cuộc sống luôn gặp nhiều may mắn, ít sóng gió hay biến cố, đời sống tinh thần và tình cảm luôn thuận lợi, không phải suy nghĩ hay lo âu nhiều. Con đường công danh hay sự nghiệp của họ cũng rộng mở nhờ biết xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.

H6: Người may mắn sở hữu đường Thập thần là người có trí tuệ và thông minh bẩm sinh, thiên hướng nghệ thuật mạnh mẽ, 9-dau-hieu-3có óc sáng tạo và tố chất nghệ sĩ. Tuy nhiên những người này thường rất nhạy cảm, tâm lý tình cảm không được ổn định nên đôi khi hơi bốc đồng và làm việc theo cảm hứng là chính.

H7: Người nào nắm chỉ tay hình con cá trong lòng bàn tay, gọi là đường Mắt cá, thì coi như đã nắm chặt phú quý, tài lộc trong tay. Đây là đường chỉ tay rất hiếm gặp, vì vậy ai sở hữu nó được xem là dấu hiệu trời ban, đường công danh thênh thang rộng mở. Có điều những người này hay suy nghĩ nóng vội, hấp tấp, dễ làm hỏng chuyện.

H8: Đường Minh tinh là dấu hiệu của những người thành công, bất kể xuất phát điểm thấp đến đâu. Những người này có thể không thông minh nhưng rất khôn ngoan và kiên trì, biết cái gì là tốt, là lợi cho mình,9-dau-hieu-4 lại có tố chất lãnh đạo và biết tạo dựng mối quan hệ tốt với những người xung quanh nên làm việc gì cũng thuận lợi.

H9: Đúng với tên gọi của nó, người có đường Hài hước thường rất vui tính, dí dỏm, thông minh và khôn khéo. Cuộc sống của họ là để mang lại tiếng cười cho người khác, nhờ thế họ cũng hay được người đời yêu mến, giúp đỡ. Có điều những người này bề ngoài vui vẻ nhưng trong lòng đôi khi gặp nhiều phiền muộn.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

Logo su kien 1

9-le-via-1ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

TẠI TÂY NINH

Tây Vương Mẫu, còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần từ bi trong truyền thuyết Trung Quốc, có diện mạo là một bà già hiền lành.

Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng bàn đào là giống đào tiên, ăn vào trẻ mãi không già. Có thuyết nói rằng thuở hỗn mang, tinh tuý trời đất sinh ra Nguyên Thuỷ Thiên vương, rồi sinh Thái Nguyên ngọc nữ. Thái Nguyên ngọc nữ sinh ra Thiên hoàng và Tây Vương Mẫu, Thiên hoàng sinh Địa hoàng, Địa hoàng sinh Nhân hoàng.

Truyền thuyết khác : Tây Vương Mẫu tức Dao Trì Kim Mẫu cai quản Tây Côn Lôn, cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình, Ngọc Hoàng Đại Đế là con thứ 10 (9 người anh trước bị Hậu Nghệ bắn chết) của bà và Thiên Đế, sau khi Thiên Đế bị Ma tộc hại, Ngọc Hoàng Đại Đế lên thay. Trong Tây Du Kí có nói 9-le-via-2Tây Vương Mẫu có 1 vườn bàn đào, sau bị Tôn Ngộ Không ăn trộm gần hết.

Có thuyết nói rằng Tây Vương Mẫu họ Dương tên Hồi và còn có tên là Uyển Cấm (Thiên Dao). Bà cùng chồng là Đông Vương Công (Hạo Thiên Thiên Đế) hòa hợp hai khí âm dương tạo ra trời đất thiên địa, họ là chủ nhân và cai quản mọi vật trên thế gian.

Theo giáo lý Cao Đài thì Tây Vương Mẫu do nhị khí âm dương mà thành, quyền phép vô biên vô giới, hữu hữu vô vô, nắm trọn thiên điều trong tay mà tác thành Càn Khôn thế giới, còn gọi là Kim Bàn Phật Mẫu. Bà cai quản các nữ thần còn chồng bà cai quản các nam thần.

Trong Tam Thế bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo, khi lên trời đều phải bái Mộc Công (Đông Vương Công), sau bái Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) mới có thể lên chín tầng mây và nhập vào trong Tam Thánh.

Tây Vương mẫu sau khi dùng phép thuật giúp cho Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu, còn tặng vua Thuấn địa đồ và phái sứ giả dạy cho cách sử dụng Bạch Ngọc địch (sáo) mà thổi thì hàng năm sẽ mưa gió thuận hòa,mùa màng sung túc.

9-le-via-3

Tây Vương mẫu có tất cả 9 người con trai, 23 con gái, nên phụ nữ muốn sanh con gái thì thường cầu khấn bà. Dân gian cho rằng Tây Vương Mẫu có thuốc Trường Sinh Bất Lão, sau đó đã tặng nó cho Hằng Nga.

Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 3 là ngày sinh Tây Vương Mẫu, và cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, nên cúng tế bà.

Đạo Cao Đài lấy ngày rằm tháng 8 là ngày Hội Yến Diêu Trì tức là ngày hội của Tây Vương Mẫu với con cái của Người, chứ không có ngày đản sanh.

9-le-via-4

Ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai ngày lễ quan trọng nhứt :

– Một là ngày Vía Trời hay Vía Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ vào ngày Mồng 9 tháng Giêng âm lịch.

– Hai là ngày Vía Đất hay Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU nhằm ngày tiết Trung Thu Rằm tháng 8 âm lịch.

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ thuộc tượng CÀN (Càn vi Thiên) và trong Bát Quái Tiên Thiên tượng Càn đứng số 1 cho nên ngày vía NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cũng cử hành vào tháng thứ nhứt hay tháng Giêng của mỗi năm âm lịch.

9-le-via-5

Còn Đức KIM TRÌ KIM MẪU thuộc tượng KHÔN (Khôn vi Địa) đứng số 8 cho nên vì lẽ đó ngày vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU được cử hành vào tháng 8 âm lịch.

Theo Bát Quái Tiên Thiên thì Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, và Khôn 8.

Kinh cúng trong dịp ngày lễ Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU có câu :

“ Trung Thu tháng Tám đêm rằm,

Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần”.

Ý nghĩa ngày vía Diêu Trì Kim Mẫu

Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ 9-le-via-6trong dịp Trung Thu.

Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng.

Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan. Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.

Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.9-le-via-7

Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào. (theo Chơn Tâm và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

Logo Phong su

Tr an uong 2ĂN CƠM CHAY XỨ ĐẠO CAO ĐÀI,

NGON THẤU TRỜI !

Chỉ mỗi cây chuối mà các dì, các chị ở Tòa Thánh Tây Ninh chế biến được mấy món, nào là nấu canh chua, bóp gỏi, xào với nghệ, ăn sống với tương hột,…

Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.

Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa 9-com-chay-1quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.

Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.

Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.

9-com-chay-2

Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.

9-com-chay-3

Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.

Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.

9-com-chay-4

Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.

Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.

9-com-chay-5

Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.

9-com-chay-6

Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.

9-com-chay-7

Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo bay gio ke

Tr cau hoi 2CẶP KHÁNH ĐÁ CỔ Ở

NGÔI CHÙA NGHÌN NĂM TUỔI THỜI LÝ

Chùa Long Cảm (Thanh Hóa) được xây dựng từ thời nhà Lý hiện lưu giữ đôi khánh đá tiếng ngân như chuông đồng. Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn ở thôn Trang Các (xã Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa).

Tuy nhỏ nhưng Long Cảm tự có cảnh trí rất đẹp với lối kiến trúc cổ kính và được bao bọc bởi đồng ruộng và làng mạc thôn quê yên bình.

Theo sư thầy trụ trì Thích Đàm Quang, Long Cảm là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Thanh. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này phù trợ, ban thêm sức 9-khanh-da-1mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ sai dựng ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.

Trải qua gần 10 thế kỷ, nhiều triều đại phong kiến đời sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách cũng coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét nghìn năm, được cung tiến qua các lần trùng tu.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, ấn tượng nhất với phật tử và du khách bốn phương khi đến vãn cảnh chùa Long Cảm là cặp khánh đá cổ đặt ở sân chùa. Hai chiếc khánh rất lớn, nặng khoảng 300-400 kg, cùng màu đá xanh xám, được treo ngay ngắn trên các trụ đá và đặt song song nhau.

Điểm khác của chúng là một chiếc có hoa văn chạm trổ hình đám mây, một chiếc đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Căn cứ vào các thư tịch cổ và văn tự khắc trên đôi khánh đá, các nhà nghiên cứu lịch sử đều có chung nhận định, chúng không có chung nguồn gốc cũng như niên đại.

Theo sư thầy Thích Đàm Quang, chiếc khánh lớn có họa tiết hoa văn vốn không phải của nhà chùa. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa Long Cảm cung tiến nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân.

9-khanh-da-2Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang từng mấy chục năm làm trụ trì ở đây cũng không rõ có từ bao giờ. “Không có cứ liệu rõ ràng nhưng thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng chùa, tức là đã nghìn năm nay rồi. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, niên đại chiếc khánh cổ gần hơn, vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300-400 năm trước. Trông nó giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, có thể do sử dụng nhiều…”, thầy Đàm Quang nhận định.

Điểm khác biệt lớn nhất của hai chiếc khánh cổ còn nằm ở tiếng ngân vang. Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, với chiếc khánh đá cũ chỉ cần lấy tay vỗ vỗ sẽ phát ra những tiếng kêu trầm bổng ngân dài. 9-khanh-da-3Nếu dùng vồ gỗ gõ mạnh, nó ngân như tiếng chuông đồng, vang xa. Còn với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra tiếng “lạch, cạch” trầm đục.

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo lý giải, sự khác nhau về âm thanh của đôi khánh cổ là do chất liệu đá. “Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”, ông Bảo nói.

Ông Bảo cho hay, núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (TP Thanh Hóa), cách chùa Long Cảm gần 30 km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, núi từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng nghìn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá để làm khánh, bia, tạc tượng và nhiều vật dụng khác.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất xa xưa. Trong cuốn Vân đài loại ngữ, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng : “Hoạch Sơn loại đá kêu vang / Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi / Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút 9-khanh-da-4trần ai lạc vần…”.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, khánh là một trong những pháp khí cổ xưa của Phật giáo. Hiện nay, không còn nhiều chiếc khánh đá cổ như ở chùa Long Cảm. “Âm thanh của khánh đá có tác dụng rất mầu nhiệm với người tu thiền. Các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên cũng đủ làm cho các ngài thức giấc” sư thầy Đàm Quang nói.

Hiện du khách thập phương vẫn thường tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá cổ mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người gõ khánh để cầu may mắn, bình an hay cầu tự. (theo Lê Hoàng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

2 DÒNG SUỐI CHỮA BỆNH HUYỀN BÍ

Logo tim hieu

2 Dac lo 1SAU 351 NĂM MỚI GẶP

M ALEXANDRE DE RHODES

Người đã khai sinh ra mẫu tự Việt Nam

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng. Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ”.

H1&2: Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã “giải phóng ” nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu.

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, 9 Dac lo 2đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

H3: Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

9 Dac lo 3Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

H4: Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi “hồ hởi”. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi “tham quan” và nói về lịch sử nhà thờ.

H5: Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

9 Dac lo 4

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi : “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không ?”.

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố. Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

H6: Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

9 Dac lo 5

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

H7: Năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 15 xu và 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá trình phát triển tiếng Việt.

H8&9: Năm 1960 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng phát hành một bộ 4 con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài Gòn gần Dinh Độc Lập. (nguồn Văn Khang / Văn Khố Ức Trai / Đại Học Chiến Tranh Chính Trị VNCH)

Logo KH huyen bi

9 Nguyen cau 7HAI DÒNG SUỐI

CÓ KHẢ NĂNG CHỮA BỆNH

Tồn tại như một món quà của Thượng đế, hai dòng suối tự nhiên này đã giúp rất nhiều người chữa lành bệnh một cách kỳ diệu. Tuy nhiên cho đến nay người ta vẫn không thể lý giải được nguyên nhân tại sao.

God’s Acre Healing Springs – Mỹ

God’s Acre Healing Springs là dòng suối tự nhiên có niên đại hơn một triệu năm, nằm phía sau nhà thờ lâu đời Baptist, thị trấn Blackville, bang South Carolina, Mỹ. Hàng năm, ước tính có hàng nghìn người trên khắp thế giới không quản ngại đường xa mang đủ các loại vật dụng đến Healing Springs lấy nước vì họ tin vào khả năng của dòng suối thánh có thể chữa lành bách bệnh.

Healing Springs bắt nguồn từ những ngọn núi cao cách hàng trăm dặm về phía Bắc, chảy ngầm xuyên qua các khối đá, do đó hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm. 9 Suoi than 1Sau khi đến định cư ở đây, người Mỹ bản địa đã đổi Healing Springs lấy ngô với một lái buôn Châu Âu.

Trải qua nhiều lần mua đi bán lại, năm 1944, người chủ cuối cùng của dòng suối thánh đã quyết định trả nó về cho Chúa để mọi người dân có thể tự do đến lấy nước, tận hưởng phước lành ngài ban tặng.

Theo trang Daily Mail, câu chuyện về khả năng cải tử hoàn sinh của Healing Springs bắt đầu khi cuộc cách mạng giành độc lập chống lại đế quốc Anh diễn ra ở Mỹ (1775-1783). Năm 1781, sau trận chiến đẫm máu tại Windy Hill Creek (phía Bắc Blackville), bốn binh lính Anh bị viên chỉ huy bỏ lại trong tình trạng thương nặng, nằm thoi thóp chờ chết. Rất may sau đó họ được một người dân bản địa tốt bụng phát hiện và kéo đến suối Healing Springs.

Sau khi được cho uống và tắm nước suối, những lính Anh không những thoát chết mà còn dần khỏe mạnh, tìm lại được về khu trại lính khiến đồng đội và viên chỉ huy vô cùng kinh ngạc. Câu chuyện hồi phục kỳ diệu của những binh lính được truyền tai nhau đi khắp nơi. 9 Suoi than 2Và kể từ đó đến nay trải qua hàng thế kỷ, bất chấp những tiến bộ vượt bậc của y học người dân vẫn đổ xô đến Healing Springs để lấy nước và mong đợi sự kỳ diệu từ dòng nước của Chúa trời tạo ra.

Năm 2012, bà Annabelle Galik, 51 tuổi, sống tại Goose Creek được chuẩn đoán mắc ung thư phổi chỉ sống được thêm bốn tháng. Thay vì nằm chờ đến ngày cuối đời, bà đã tìm đến Blackville để lấy nước uống hàng ngày và áp dụng biện pháp chữa trị truyền thống.
Đã ba năm trôi qua kể từ ngày bà được bác sĩ thông báo bà đang cận kề cái chết, Galik vẫn duy trì được sức khỏe và rất biết ơn nguồn nước suối : “Tôi thường tắm ở đây nếu có cơ hội. Dòng suối thuộc về Chúa và nếu Ngài vẫn lưu giữ nó ở đây, chắc chắn nó sẽ mang lại những lợi ích tốt đẹp” – bà Galik bày tỏ.

“Bố tôi thường uống nước ở đây và ông đã sống đến 90 tuổi” – anh Walter Tobin sống cách Blackville 80 km, thường ghé qua suối lấy nước về dùng trên đường đến thăm em gái cho hay.

Trên thực tế, Sở Y tế và Quản lý môi trường địa phương đã tiến hành thử nghiệm mẫu nước tại Healing Springs. 9 Lo Duc 1Và thật bất ngờ, nước tại dòng suối không những không hề nhiễm các loại khuẩn thường thấy mà còn được đánh giá sạch sẽ và tinh khiết.

Dòng suối thánh tại Lourdes – Pháp

Nổi tiếng nhờ khả năng chữa bệnh kỳ diệu, hàng năm dòng suối thánh tại Lourdes thu hút 8 triệu lượt khách trên khắp thế giới ghé thăm. Bắt nguồn từ hang đá nhỏ tên là Massabielle, gần nhà thờ Lourdes thuộc thị trấn Lourdes, tỉnh Hautes – Pyrénées, miền tây nước Pháp, dòng suối gắn liền với câu chuyện huyền bí về thánh nữ bất tử Bernadette Soubirous.

Tương truyền, vào ngày 11/2/1858, năm Bernadette 14 tuổi, khi đang dạo chơi trên đồi Pyrénées, Đức mẹ Maria bất ngờ hiện ra trước mặt em. Bà chỉ dẫn Bernadette đào một khoảng đất và sẽ có một dòng suối chảy ra, hãy uống nước từ dòng suối đó vì nó có thể chữa được mọi bệnh tật.

Bernadette không hề cảm thấy sợ hãi trái lại vô cùng tò mò. Em làm theo lời bà chỉ dẫn thì quả nhiên thấy một dòng nước phun ra từ trong lòng đất. Khi Bernadette quay lại chỗ cũ thì Đức mẹ đã biến mất.

9 Lo Duc 2Cũng trong năm này, Bernadette là người duy nhất được chứng kiến dung nhan Maria hiện lên 18 lần. Sau đó, Bernadette trở thành nữ tu và qua đời ở tuổi 35. Tuy nhiên sau khi được chôn cất 30 năm dưới lòng đất, thi thể của Bernadette không có dấu hiệu thối rữa mà còn nguyên vẹn, hồng hào như người sống đang say giấc nồng.

Đã 157 năm trôi qua, từ khoảng đất được đào lên, dòng suối vẫn chảy nước mãi không ngừng. Theo tư liệu tại cơ quan y tế của thị trấn Lourdes ghi nhận, khoảng hơn 7000 trường hợp đã được chữa khỏi bệnh một cách kỳ diệu nhờ nước suối.

Bà Catharine Latapie, 38 tuổi, sống tại Lourdes có cánh tay phải bị liệt từ lâu do cây đổ vào người. Sau khi nghe được câu chuyện của Bernadette Soubirous, sáng sớm ngày 1/3/1858, Catharine đã đến hang đá nơi có dòng suối và ngâm cánh tay trong hồ nhỏ đã được tạo để trữ nước.

Khi trở về nhà ngay lập tức cánh tay của Catharine có cảm giác và các ngón tay có thể cử động được. Bà sinh đứa con thứ ba ngay trong ngày hôm đó và sau này đứa bé cũng trở thành một vị linh mục.

9 Lo Duc 3Và gần đây là bà Danila Castelli, sinh năm 1946, người Mỹ mắc chứng huyết áp cao bất thường ở tuổi 34 không rõ nguyên nhân. Sau khi trải qua hàng loạt phẫu thuật từ cắt bỏ tử cung đế loại bỏ khối u xơ đến cắt bỏ tuyến tụy, rồi u bàng quang nhưng tình hình vẫn không được cải thiện.

Năm 1988, Danila Castelli quyết định tìm đến Lourdes với hy vọng cuối cùng. Ngay lần đầu tiên tắm bằng nước suối, Danila đã có cảm giác nhẹ nhõm lạ thường. Sau đó không lâu, Danila đã gửi thông báo cho cơ quan y tế Lourdes là bà đã khỏi hẳn bệnh và trở lại cuộc sống bình thường.

Trải qua bao thế kỷ cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học, nhưng năng lực siêu nhiên của God’s Acre Healing Springs và dòng suối thánh tại Lourdes vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

3 Logo ptuc - tnguong

Cung 1NHNG ĐIU CHÚ Ý

KHI MUA Đ CÚNG

Ngày 9/8 (tức 5/5 AL) vừa qua là Tết Đoan ngọ, hay còn gọi là tết diệt sâu bọ. Người dân thường cúng vào sáng sớm nhưng thực chất Tết Đoan Ngọ được tiến hành vào giờ chính Ngọ (giữa trưa), khoảng từ 11h tới 13h.

Lễ vật để cúng thường gồm: Hương, hoa, vàng mã; nước; rượu nếp và các loại hoa quả như mận, hồng xiêm, dưa hấu, vả, chuối; và các loại đồ ăn như xôi, chè, bánh ú tro.

Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch, là một ngày Tết truyền thống tại Trung Quốc cũng như một số nước Đông Á như Triều Tiên và Việt Nam.

Ở Việt Nam, dân gian còn gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Tết giết sâu bọ, 9 Doan ngo 1là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng.

Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Đoan Ngọ

Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông là vị trung thần nước Sở và còn là nhà văn hóa nổi tiếng. Tương truyền ông là tác giả bài thơ Ly Tao (thuộc thể loại Sở từ) nổi tiếng trong văn hóa cổ Trung Hoa, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong với họa mất nước.

Do can ngăn vua Hoài Vương không được, lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh, lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông cúng Khuất Nguyên.

9 Doan ngo 2Ngoài ra, có truyền thuyết khác về sự bắt nguồn của ngày tết Đoan ngọ, nhiều nguồn tin cho rằng tập tục tết Đoan Ngọ là bắt nguồn từ Hạ Trí trong thời cổ, có người thì cho rằng, đây là sự tôn sùng vật tổ của người dân vùng sông Trường Giang.

Truyền thuyết Tết Đoan ngọ tại Việt Nam

Vào một ngày sau vụ mùa, nông dân ăn mừng vì trúng mùa nhưng sâu bọ năm ấy lại kéo dày ăn mất cây trái, thực phẩm đã thu hoạch.

Nhân dân đau đầu không biết làm cách nào để có thể giải được nạn sâu bọ này, bỗng nhiên có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân. Ông chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng gồm đơn giản có bánh ú, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động thể dục. Nhân dân làm theo chỉ một lúc sau đó sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượt. Lão ông còn bảo thêm : 9 Doan ngo 3Sâu bọ hằng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm vào đúng ngày này cứ làm theo những gì ta đã dặn thì sẽ trị được chúng.

Dân chúng biết ơn định cảm tạ thì ông lão đã đi đâu mất. Để tưởng nhớ việc này, dân chúng đặt cho ngày này là ngày “Tết diệt sâu bọ”, có người gọi nó là “Tết Đoan ngọ” vì giờ cúng thường vào giữa giờ Ngọ. Bởi vậy, không thể quan niệm Tết Đoan Ngọ của người Việt bắt nguồn từ Trung Quốc như một số người vẫn lầm tưởng như hiện nay.Cung 4

Ý nghĩa Tết Đoan Ngọ

Ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ được được coi là Tết diệt sâu bọ và thờ cúng tổ tiên. Người Việt Nam còn gọi Tết Đoan ngọ là “Tết giết sâu bọ” vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Tết Đoan Ngọ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình sum họp đầm ấm.

Ngoài ra, ngày Đoan Ngọ là ngày dân chúng cúng lễ để đánh dấu một thời tiết mới, mừng sự trong sáng, quang đãng, đồng thời để cầu bình an.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Logo Xem tu vi

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

TIẾT THANH MINH & TẾT HÀN THỰC

Logo su kien 1

9 Han thuc 1TẾT HÀN THỰC

LÀ NGÀY NÀO ?

Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch (năm 2016 vào ngày thứ bảy 9/4/ dương lịch). “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”. Tuy nhiên, không ít người vẫn nhầm lẫn về ngày này.

Tết Hàn Thực là một ngày tết vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch. “Hàn Thực” nghĩa là “thức ăn lạnh”. Hàng năm vào ngày này, nhiều gia đình cho xay bột, đồ đỗ xanh, làm bánh trôi, bánh chay, nấu xôi chè lễ Phật và cúng gia tiên, có lẽ đó cũng là một cách tưởng niệm người thân trong những ngày tháng cuối xuân, chứ ít người biết đến hai chữ “Hàn Thực” gắn với một điển tích ở Trung Quốc, được biết tới nhiều qua tiểu thuyết Đông Chu liệt quốc.

Đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công nước Tấn, gặp loạn nên phải bỏ nước lưu vong sống cảnh nay trú nước Tề, mai ở nước Sở. Bấy giờ, có một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, 9 Han thuc 2theo phò vua đã giúp đỡ nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi phải lén cắt một miếng thịt đùi mình nấu lên dâng vua. Vua ăn xong, hỏi ra mới biết đem lòng cảm kích vô cùng.

Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn Văn Công trong vòng mười chín năm trời, cùng nhau nếm mật nằm gai, khổ luyện thành tài. Về sau, Tấn Văn Công giành lại được ngôi vương, trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng rất hậu cho những người có công khi tòng vong, nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không oán giận gì, nghĩ mình theo vua phò vua là chuyện nên làm, ông cho rằng những việc đó đâu có gì đáng nói.

Vì thế, ông về nhà đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Tấn Văn Công về sau nhớ ra, cho người đi tìm Tử Thôi. Nhưng vì là người không tham danh vọng, Tử Thôi nhất quyết không quay về lĩnh thưởng, Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng (muốn thúc ép Tử Thôi quay về). 9 Han thuc 3Không ngờ Tử Thôi quyết chí, hai mẹ con cùng chịu chết cháy trong rừng.

Vua đau lòng, thương xót nên đã lập miếu thờ và hạ lệnh trong dân gian phải kiêng đốt lửa ba ngày, chỉ ăn đồ nguội nấu sẵn tưởng niệm Giới Tử Thôi. Cũng từ đó, ngày mùng 3/3 âm lịch hằng năm được coi là ngày Tết Hàn thực, nhằm tưởng nhớ đến công ơn dưỡng dục của những người đã khuất. Vào những ngày này, người dân đều ăn đồ nấu chín để nguội với tấm lòng thành kính nhất.

Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng Tết Hàn thực của người Việt vẫn mang những sắc thái riêng, mang đậm chất Việt. Vào ngày này người Việt không kiêng lửa, vẫn nấu nướng bình thường. Điều đặc biệt, người Việt còn sáng tạo nên bánh trôi, bánh chay với ý nghĩa tượng trưng đó là những thức ăn nguội – hàn thực.

Như thế rõ ràng Tết Hàn thực của ta mang màu sắc dân tộc riêng, trường tồn trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hai thứ bánh trôi và chay đều làm từ bột gạo nếp thơm. Bánh trôi nặn viên nhỏ, ngoài trắng, trong nhân đường đỏ, thả luộc trong nồi nước sôi, khi bánh nổi lên mặt nước vớt ra vừa chín tới vì thế bà Hồ Xuân Hương viết :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bẩy nổi ba chìm với nước non

Còn bánh chay thì nặn tròn dẹt, không nhân, đặt lên đĩa nhỏ, khi ăn đổ nước đường lên trên.

Tết Hàn thực của người Việt không liên hệ tới Giới Tử Thôi mà những món ăn ngày này làm ra đều được cúng gia tiên với ý nghĩa con cháu đều hướng về tổ tiên, nguồn cội. Và cũng trong dịp này, dù ai đi đâu,9 Han thuc 4 ở đâu đến ngày mùng 3/3 âm lịch cũng cố gắng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình .

Ngày nay, cứ mỗi dịp tết Hàn thực về, người dân mọi vùng quê đều làm bánh trôi, bánh chay. Còn ở thị thành, ngày xuân đi du ngoạn, khách cũng được hưởng hương vị bánh trôi, bánh chay từ các quán hàng. Ngày nay trên các tỉnh thành, trong những khu phố du khách có dịp được tận hưởng hương vị bánh trôi bánh chay mà tưởng đến chuyện xưa nhiều điều thú vị

9 Thanh minh 1LAI LỊCH CÁC TẬP TỤC

VỀ TIẾT THANH MINH

Thanh minh”清明 (trong sáng) là một trong 24 tiết khí của lịch pháp cổ đại, thường rơi vào khoảng trước hoặc sau ngày 5 tháng 4 Dương lịch, sau Đông chí 108 ngày. Sở dĩ gọi là thanh minh vì lúc này mùa đông đã kết thúc, thời tiết đã bắt đầu ấm áp, bầu trời trong xanh. Tết thanh minh là một trong những ngày lễ truyền thống lớn của người Trung Quốc.

Đi tảo mộ trong tiết Thanh minh đã trở thành một tập tục quan trọng trong dân gian và truyền cho đến ngày nay, chỉ có khác là hình thức đơn giản hơn trước. Trước đây tập tục đi tảo mộ là một gia đình, một dòng họ đi tảo mộ cho ông bà tổ tiên, mở rộng đến do tổ chức, đoàn thể tập thể đi tảo mộ cho các liệt sĩ. Mỗi khi đến ngày thanh minh, mọi người đến các nghĩa trang liệt sĩ, đặt trước mộ những bó hoa tươi, hay vòng hoa, một cành tùng, bày tỏ lòng tưởng nhớ các liệt sĩ.

9 Thanh minh 2Tiết Thanh minh đúng vào lúc vào xuân, tuy là bắt nguồn từ tế lễ tổ tiên, nhưng trong quá trình phát triển lâu dài cũng xen lẫn cả những nội dung chơi xuân. Hoạt động này được gọi là hoạt động đi chơi xuân. Có những nơi còn gọi tết Thanh minh là tết chơi xuân.

Trong thời cổ còn có tập tục đi chơi xuân hái rau dại, tập tục này đến nay không còn nữa. Trong thời gian trước và sau Thanh minh là các cô gái, phụ nữ đi chơi xuân, hái rau dại tươi và non về gói sủi cảo, gói bánh rất thơm ngon với mùi vị khác thường. Có một số phụ nữ còn thích gài bông hoa rau khúc màu trắng trên đầu. Hôm Thanh minh, còn có tập tục thả diều, kéo co, chơi đu.

Người Việt chúng ta có tục ăn Tết Thanh Minh, Nguyễn Du trong truyện Kiều có câu : “Thanh Minh trong Tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”. Từ thời Lý Việt Nam đã tiếp nhận tết Hàn thực, vì tết này nằm trong tiết Thanh Minh, nhưng ý nghĩa của ngày tết này đã biến đổi và mang đậm màu sắc truyền thống người Việt, phù hợp với tâm lý cũng như cuộc sống thường nhật của người Việt.

Vào ngày tết Hàn thực, người Việt không kiêng lửa, mọi việc nấu nướng vẫn được thực hiện, chỉ có điều người Việt dùng bánh trôi – bánh chay cho tết Hàn thực với ý nghĩa tượng trưng đó là những Cung 3thức ăn nguội – hàn thực. Vì vậy người Việt còn gọi tết Hàn thực bằng một tên gọi khác là tết bánh trôi – bánh chay.

Con cháu dù làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tưởng nhớ tổ tiên và sum họp với gia đình. Tết Thanh minh mang ý nghĩa cội nguồn, nhắc chúng ta không quên hướng về quê cha đất tổ. Người dân nhiều nơi kết hợp Tết Thanh minh với Tết Hàn thực, tức ngày bánh trôi bánh chay, được tổ chức vào ngày 3 tháng Ba âm lịch.

Tuy nhiên, trên thực tế Tết Thanh minh đi theo quy luật vận hành của mặt trời – lịch dương, chứ không theo lịch mặt trăng – lịch âm, thường rơi vào ngày 4 hoặc ngày 5 của tháng Tư dương lịch.

1a LogoTuongso

9 Ban tay 1CÓ ĐƯỜNG CHỈ TAY NÀY,

YÊU ĐƯƠNG NHIỀU ĐAU KHỔ

Nhìn vào đường chỉ tay, chúng ta có thể nắm bắt khá chuẩn câu chuyện tình duyên của chính mình và người xung quanh.

1/. Cuối đường chỉ tay chia thành 2 hướng : Bạn là người có số đào hoa. Tuy nhiên, sự phân nhánh của đường tình duyên cũng báo hiệu về sự tan vỡ. Bạn nên chuẩn bị sẵn tinh thần cho việc phải đối mặt với những lần hợp-tan trong tình cảm, hay có nhiều thứ 3 xuất hiện.

Bạn cần có một cách ứng xử thực sự khéo léo trong mọi tình huống nếu không 4 Ban tay 2muốn đi đến những kết cục buồn.

2/. Cuối đường tình duyên tách thành hình đinh 3 : Người có đường chỉ tay này rất nhạy bén trong chuyện tình cảm, số đa tình, đào hoa. Nhưng bạn cũng là một người có “tiêu chuẩn” cao, kén chọn trong việc tìm bạn đời.

Một phần khác là con người bạn cũng không đủ quyết đoán để lựa chọn giữa lý trí và tình cảm. Do đó, bạn thường gặp không ít chuyện đau đầu vì chuyện này.

3/. Cuối đường chia ra làm 3 nhánh, nhánh chính đậm và dài nhất : Việc này cho thấy mâu thuẫn của bạn trong việc yêu và cưới. Rất có thể bạn sẽ yêu một người nhưng lại quyết định bất ngờ lấy một người khác, hoặc một trường hợp bạn nghĩ sẽ không bao4 Ban tay 3 giờ xảy ra.

Bạn cũng thường xuyên do dự, thiếu dứt khoát trong các quyết định liên quan đến chuyện tình cảm và sẽ có vài lần lỡ dở với tình yêu đích thực của đời mình.

4/. Cuối đường chia 3 nhánh đậm bằng nhau : Bạn là một người tốt bụng, nhân hậu, sẽ là một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho đối phương. Nhưng ngược lại bạn có phần cả nể, dễ bị mềm lòng. Vậy nên, điều bạn cần là lựa chọn thật kỹ và xác định rõ đối tượng để gắn bó, không nên phó thác cho số phận hay sự gán ghép từ gia đình, bạn bè.

5/. Cuối đường chia nhánh nhỏ hướng lên trên : Bạn là người khiêm nhường, có tính cách chan hòa, suy nghĩ thấu đáo mọi việc và được nhiều người yêu quý.

4 Ban tay 4Sở hữu đường chỉ tay này, bạn có thể phần nào yên tâm về câu chuyện tình duyên của mình khi nó diễn ra êm đềm, không gặp phải nhiều sóng gió, trắc trở và trong mắt đối phương bạn là người mà không ai có thể thay thế.

6/. Chia thành nhiều nhánh nhỏ hướng xuống dưới : Càng có nhiều đường nhỏ đi xuống, càng cho thấy những dấu hiệu về sự đổ vỡ, tổn thương. Bên cạnh đó, xung quanh mối quan hệ giữa bạn và người yêu thường có những mối quan hệ lập lờ khác. Có thể chính bạn cũng khó lý giải được những mối quan hệ đó.

7/. Những nhánh nhỏ hướng lên trên : Điều này cho thấy những mối quan hệ của bạn thường rất rõ ràng. Bạn cũng là người có tinh thần bác ái, sống và làm việc về quyền lợi tập thể, cũng như tương lai của bạn đời. Cũng từ đấy, trong chuyện tình cảm bạn cũng nhận được rất nhiều sự ái mộ đặc biệt từ đối phương.

4 Ban tay 58/. Đầu đường có các nhánh nhỏ hướng lên trên : Bạn là người có đời sống tình cảm phong phú, được nhiều người theo đuổi bởi sức thu hút mạnh đối với các đối tượng khác giới. Do đó, bạn nên rõ ràng trong chuyện tình cảm cũng như các ứng xử để tránh gặp phải những chuyện rắc rối, hiểu nhầm.

9/. Đầu đường chia 2 nhánh tạo hình mũi tên : Trong chuyện tình cảm cũng như cuộc sống gia đình của bạn rất dễ gặp phải những mâu thuẫn, tranh cãi. Nhưng trong trường hợp bạn có nhiều hơn 2 nhánh ở vị trí này, nó báo hiệu bạn là người có khả năng sinh nở tốt. (theo Thế giới trẻ : Trên đây là những thông tin mang tính tham khảo)

2 Ngan co tay 1DỰ ĐOÁN TUỔI THỌ

VÀ VẬN MỆNH QUA

NGẤN HẰN CỔ TAY

Chỉ cần nhìn ngấn hằn ở cổ tay, bạn có thể nắm được tình trạng sức khỏe cũng như vận mệnh và tuổi thọ của mình. Bạn có biết rằng, người nào càng có nhiều đường ngấn ở cổ tay thì càng sống thọ không ?

Chắc hẳn bạn đã quá quen thuộc với việc xem tướng số qua những đường chỉ ở lòng bàn tay. Nhưng theo Metaphysics Knowledge, những đường ngấn ở cổ tay – hay còn gọi là đường Rascette – cũng mang nhiều ý nghĩa không kém trong việc dự đoán tuổi thọ và vận mệnh của mỗi con người.

Cụ thể, số lượng ngấn sẽ cho biết bạn có trường thọ hay không. Nếu đường ngấn đầu tiên rõ ràng và không bị gián đoạn, bạn sẽ sống ít nhất 23-28 năm. Trong khi, các đường tiếp theo sẽ lần lượt tương ứng với 46-56 năm, 69-84 năm và hơn 84 năm.

2 Ngan co tay 2Rất hiếm người sở hữu 4 đường ngấn trên cổ tay. Phần lớn đều chỉ có khoảng từ 2 đến 3 ngấn. Trong đó, đường ngấn đầu tiên được xem là quan trọng nhất. Ý nghĩa của đường ngấn hằn cổ tay đầu tiên như sau:

– Ngấn đầu tiên : Đường rõ ràng, sắc nét sẽ đại diện cho người sở hữu sức khỏe tốt. Ngược lại, bạn có thể sẽ phải đối mặt với những vấn đề không mong muốn như bệnh tật, ốm đau.

Với phụ nữ, đường ngấn cong, hướng vào phía lòng bàn tay hoặc không rõ ràng, đó là biểu hiện của bệnh phụ khoa, gây khó khăn trong việc thụ thai, kinh nguyệt không đều đặn. Trường hợp tương tự ở đàn ông cũng sẽ gặp vấn đề với tuyến tiền liệt và các vấn đề liên quan đến sinh sản.

– Ngấn thứ hai : Ngấn này thường mang ý nghĩa dự đoán vận mệnh của mỗi cá nhân. Người được xem giàu có, hạnh phúc sẽ sở hữu đường ngấn rõ ràng, sắc nét, trên một đường thẳng và không có nhiều ngấn phụ.

– Ngấn thứ ba: Nếu cũng sở hữu đường ngấn sắc nét, bạn có thể là một nhân vật nổi tiếng hoặc có tầm ảnh hưởng lớn với những người xung quanh.

– Ngấn thứ tư: Ngấn này thường song song với ngấn thứ ba và cũng đại diện cho mức độ nổi tiếng của người mang nó. (theo Tuổi trẻ thủ đô)

Logo TG tam linh

7 nhan qua 1KHÔNG MUỐN GẶP BÁO ỨNG

PHẢI TRÁNH 7 VIỆC NÀY

7 việc nhất định không nên làm để tránh nhân quả báo ứng trong cuộc đời mỗi con người.

“Nhân quả báo ứng chính là làm thiện được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. “Luật nhân quả” chính là phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng.

Mỗi hành vi xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi đó. Và cũng căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác nhau. Nếu như một người có thể bình an, vui vẻ và khoan khoái mà vượt qua cuộc đời này, thì người đó quả thực vô cùng may mắn. Nhưng nếu muốn tận lực để nghĩ cách thoát khỏi những thống khổ và phiền não này, Cau hoi 5để chúng ta mỗi ngày đều được sống một cách vui vẻ tự tại, không nuối tiếc, thì cũng không phải là điều quá khó – chỉ cần bạn tin tưởng vào “nhân quả”, nhớ kỹ câu “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, đồng thời ghi nhớ một số việc nhất định không được làm sau đây, vì những việc này ảnh hưởng cực kỳ lớn tới cả cuộc đời của bạn.

1/. Bất hiếu với cha mẹ : Cha mẹ sinh ra ta và nuôi dưỡng ta, ân đức sâu đậm, trong kinh Phật có nói rằng, con người báo đáp vài tỷ kiếp cũng chưa hết được ân đức của cha mẹ. Người bất hiếu với cha mẹ, trời đất đều khó tha thứ. Hơn nữa, ngay cả cha mẹ mình còn không hiếu lễ kính trọng, làm sao có thể lãnh đạo người khác? Làm sao có thể thuyết phục công chúng?

2/. Tham dâm háo sắc : Người tham dâm háo sắc, trong tâm có tà, thiếu ngay thẳng chính khí, sự nghiệp sẽ rất không thuận lợi, là việc làm vi phạm đạo đức, không thể viên mãn. Hơn nữa, người tham dâm háo sắc, sức khỏe khẳng định là bị hao tổn,9 Nhan qua 2 làm sao có thể không mắc bệnh?

3/. Yêu chuộng tiện nghi, cực kỳ keo kiệt, rất ít khi làm việc thiện : Người trong tâm tham lam và keo kiệt, nghèo khó thường sẽ không rời xa, không làm việc thiện, không có phúc đức, miệng ăn núi lở. Kiểu người này không có lòng thương người, không có nhân duyên, cũng nhất định khuyết thiếu tâm giúp đỡ người khác, vậy có thể nào thành công trong sự nghiệp được? Mặc dù có thể nhất thời vui vẻ, sung sướng, nhưng cuối cùng thi tiền tài cũng ra đi.

4/. Thường xuyên sát sinh : Mỗi một sinh mệnh tồn tại, đều có nhân duyên đặc biệt của nó; các sinh mệnh được sinh ra không phải là để tạo điều kiện cho con người sát sinh. 9 Nhan qua 3Người thường xuyên sát sinh, trong tâm khuyết thiếu thiện niệm, làm sao có thể đạt được thành công trong sự nghiệp và gặp hoàn cảnh tốt trong cuộc đời?

5/. Không tôn kính bậc thầy, kiêu căng ngạo mạn : Đã là thầy giáo của mình, dẫn dắt mình, khẳng định là có chỗ ưu tú hơn mình. Nếu như mình không có chút khiêm tốn nhã nhặn nào, luôn cho rằng họ giảng chỗ này không tốt, làm không tốt hay là dẫn dắt không đúng, vậy thì làm sao có thành tựu gì đây? Bởi vì trong tâm lúc nào cũng phập phồng không yên, không có “vương giả phong phạm”.

9 Nhan qua 4Khổng Tử viết: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư” (mấy người đồng hành, trong đó nhất định có thể lấy một người làm thầy của mình), người không khiêm tốn, lẽ nào có thể là người rộng lượng?

6/. Trộm cắp : Khái niệm trộm cắp vô cùng rộng, chỉ cần đó không phải là đồ của mình mà chiếm dụng nó thành của mình, cho dù là cầm một tờ giấy hay một cây bút của công ty thì đều được coi là trộm cắp. Mặc dù chúng ta có lúc làm như thế mà trong tâm thấy rất quang minh chính đại, cũng rất thản nhiên, nhưng đó vẫn là một hành vi loại này. Nó làm tiêu hao rất nhiều phúc đức của bản thân mình, hơn nữa, bạn sẽ một lúc nào đó phát hiện ra mình cũng sẽ bị tổn thất một cái gì đó tương đương. Còn có một nhóm những người chuyên môn đi trộm cắp, nhưng cho dù “trở lên giàu có” rồi, thì cuối cùng vẫn rơi vào kết cục nghèo khổ bi thảm.

7/. Thường hay nói láo : Sự hòa thuận giữa người với người, ăn ở phải đạo, coi trọng sự chân thành lẫn nhau, kiêng kỵ “hư tình giả ý” (đạo đức giả). Bất luận là người nhà ruột thịt thân thích hay mối quan hệ bạn bè với cấp trên, chỉ cần bạn thường ngày dùng ngôn ngữ chân thật, thành tâm đối xử tử tế, nhất định sẽ đạt được tín nhiệm của người khác. 9 Nhan qua 5Ngược lại, thường xuyên bịa đặt những chuyện giả tạo dù chỉ một chút, hoặc là đã dưỡng thành “thuyết hoang tâm bất hoảng” (nói dối mà trong tâm không chút sợ hãi), dần dần thành “phản xạ có điều kiện” mà thuận miệng nói láo với bất kỳ ai, có khi chỉ vì một câu nói dối tùy tiện mà phải trả giá vô cùng thê thảm.

Nếu như bạn không dính dáng gì đến bảy điều kể trên, thành thật chúc mừng bạn ! Bạn hẳn là một người tôn quý có phúc. Dù cho hiện tại bạn có gặp khó khăn gì, cũng nhất định sẽ “liễu ám hoa minh” (trong hoàn cảnh khó khăn mà tìm được lối thoát), xua tan màn đêm và nhìn thấy ánh sáng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TÀI LỘC 12 CON GIÁP NĂM 2016

Logo TG tam linh

H DphuongXEM TIỀN BẠC VÀ CÔNG VIỆC

CỦA 12 CON GIÁP NĂM 2016

Trong 12 con giáp tuổi nào sẽ phát đạt trong chuyện tiền bạc cũng như công việc trong năm Bính Thân 2016 ?

1/- Tuổi Tý : Sự nghiệp vất vả – Người tuổi Tý sinh vào các năm 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008.

Năm 2016, người tuổi Tý trở nên nhạy bén, mẫn cảm hơn, nhưng tư duy lại trở nên phức tạp, tính tình hay thay đổi. Cũng vì đó mà công danh sự nghiệp trở nên vất vả, long đong, lận đận, bôn ba.D1 Tuoi Ty

Dù bạn đang đi học hay đã đi làm, làm công ăn lương hay tự kinh doanh thì năm nay bạn đều dễ được mọi người tin tưởng, giao cho trọng trách lớn, từ đó có cơ hội để thể hiện tài năng sở trường của mình.

Để có hiệu quả tốt hơn, nên chuẩn bị trước, có kế hoạch rõ ràng, tìm cách phát huy hiệu quả, năng suất để tránh lao tâm khổ tứ vô ích.

2/- Tuổi Sửu: Sự nghiệp thăng hoa – Người tuổi Sửu sinh vào năm 1937, 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009.

Sự nghiệp về cơ bản là ổn định, nhất là đối với dân công sở, mối quan hệ giữa các đồng nghiệp cũng hòa thuận, giúp cho công việc thuận lợi hơn. 2 Tuoi SuuCòn nếu bạn kinh doanh ngoài, hay tự mở công ty, tuy năm nay không mở mang mới được nhiều nhưng cũng có thu hoạch đáng kể, kêu gọi được nguồn vốn, cũng như người tài, nếu biết tận dụng thời cơ, xây dựng uy tín cũng như thương hiệu, sẽ là nền tảng tốt cho sự nghiệp sau này.

3/- Tuổi Dần: Hưởng thụ nhiều – Người tuổi Dần sinh vào các năm 1938, 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010.

Mọi việc đến với bạn đều rất nhẹ nhàng, tự tại, thoải mái, hầu như không có gì làm bạn cảm thấy phiền nhiễu. Tuy nhiên, đây là năm có nhiều thay đổi, cũng không nên lo lắng sợ hãi nhiều, cần chủ động với thời cơ và thách thức, khắc phục khó khăn.D3 Tuoi Dan

Xét tổng thể, đây là năm khá thuận lợi, không vất vả; tuy vậy, cũng không nên vì thế mà ỷ lại, bỏ mất cơ hội của mình. Cần giữ đầu óc tỉnh táo, bình tĩnh với các mối quan hệ, không tỏ thái độ thiếu thiện chí khi hợp tác, thì việc khó nào cũng sẽ giải quyết được ổn thỏa.

4/- Tuổi Mão: Nhạy bén hơn – Người tuổi Mão sinh vào năm 1939, 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011.

Năm nay cầu tài cầu lộc thuận lợi, sao xấu không tác động nhiều đến người tuổi Mão, nên bạn cũng có nhiều cơ hội để phát triển. Bạn có cơ hội thể hiện tài năng trong lĩnh vực của mình, 4 Tuoi Maonếu biết nắm bắt thì đây cũng là thời điểm để thể hiện giá trị thật của bản thân. Do tác dộng của trường khí trong năm, bạn cũng phải dồn nhiều thời gian và sức lực cho công việc, mới có được thành tựu và ngợi khen của mọi người. Nêp lập sẵn kế hoạch, phân tích lợi hại, tập trung phát huy hiệu quả làm việc, sẽ có lợi cho bạn.

5/- Tuổi Thìn: Sự nghiệp vất vả nhưng cuối năm thì khả quan hơn – Người tuổi Thìn sinh vào năm 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012.

5 Tuoi ThinNăm Bính Thân này là một năm có nhiều biến động và thay đổi, nhưng nhận được nguồn năng lượng tích cực của năm nên những thay đổi thường có lợi, mục tiêu đề ra cũng dễ đạt được, có thể biến mơ ước thành hiện thực. Tuy có giai đoạn vất vả, nhưng thành quả thu được cũng làm bạn hài lòng.

Trong công việc cũng có nhiều mối quan hệ xã giao hơn, nhưng cũng có xấu có tốt, quan trọng là bạn phải biết phân biệt công tư, để tránh những rắc rối không cần thiết.

6/- Tuổi Tỵ: Những ai làm về tư duy sự nghiệp thuận lợi hơn – Người tuổi Tỵ sinh vào năm 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013.

6 Tuoi RanSự nghiệp: Năm 2016 này có lợi khi phát huy sở trường trong trạng thái hay lĩnh vực có tính chất tĩnh tại như quy hoạch, nghiên cứu, tư duy… Trong khi đó trạng thái động, có tính tích cực như kinh doanh, thi đua, quyết tâm… lại không có lợi.

Do đó bạn rất dễ rơi vào trạng thái thất vọng chán chường khi có rất nhiều kế hoạch, dự kiến mà cuối cùng không thực hiện được. Nhất là khi bạn là lãnh đạo nơi công sở, không nên đặt mục tiêu quá xa vời, cũng như cần giải quyết công việc theo lý trí mới có được sự kính trọng của mọi người.

7/- Tuổi Ngọ: Thích được khen ngợi trong công việc – Người tuổi Ngọ sinh các năm 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014.D7 Tuoi Ngo

Nếu được coi trọng, đề bạt, người tuổi Ngọ sẽ cố gắng hết mình để chứng tỏ năng lực bản thân cho dù công việc có vất vả đến đâu. Bên cạnh đó, người tuổi Ngọ cũng không muốn tiết lộ điểm yếu của mình nhưng họ cũng sẽ nhận lỗi nếu biết mình sai.

Trong năm nay, người tuổi Ngọ coi trọng sự nghiệp hơn bao giờ hết, họ dành nhiều thời gian cho công việc, học hành, tuy vậy, họ có thể đón nhận kết quả không được như kỳ vọng. Nguyên nhân là do bạn dành quá nhiều tâm trí vào việc khích lệ người khác và khẳng định bản thân. Những bạn có cơ hội thăng tiến thì cần hết sức chú ý lời ăn tiếng nói của mình để tránh mất tất cả.

8 Tuoi Mui8/- Tuổi Mùi: Không có nhiều biến động lớnNgười tuổi Mùi sinh vào năm 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015.

Do tác động của trường khí trong năm nên người tuổi Mùi có mong muốn thành công khá mãnh liệt, nhưng đây cũng là một năm đầy biến động với tuổi Mùi. Những mong muốn tích cực trong lòng, những hoài bão đang ấp ủ sẽ thúc đẩy bạn hoạt động mạnh mẽ, tuy quá trình này cũng vất vả, nhưng kết quả cuối năm thu về cũng làm bạn hài lòng. Ngoài ra năm nay bạn cũng có vận đào hoa trong công việc, còn đào hoa này là xấu hay tốt, còn do cách xử lý ứng xử của bạn. Chỉ có điều cần lưu ý, cần tách bạch việc công việc tư, nếu không muốn có nhiều rắc rối đến với mình.

9/- Tuổi Thân: Khá xấu về sự nghiệp – Người tuổi Thân sinh vào năm 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004.D9 Tuoi Than

Năm nay có nhiều thay đổi khó lường trước, trong đầu có nhiều ý tưởng hay nhưng ít có hành động để biến thành hiện thực.

Do chịu tác động xấu từ trường khí trong năm mà bạn không có tập trung thực sự vào công việc, mong muốn chuyển đổi công việc khá cao, hoặc bỏ việc để đi học tiếp nâng cao tri thức… Bạn có quá nhiều điều muốn thay đổi mà không biết bắt đầu từ đâu, nên ảnh hưởng không nhỏ đến công việc hiện tại.

10 Tuoi Dau10/- Tuổi Dậu: Quan tâm đến sự nghiệp – Người tuổi Dậu sinh vào năm 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005.

Vào năm 2016 các bạn khá bận rộn và vất vả, trong lòng cũng luôn cảm thấy bất an, mọi việc không như ý. Nên chấp nhận dành nhiều thời gian, công sức cũng như tiền bạc để hoàn thành mục tiêu, dù đó là công việc hay là học tập, tuy vậy do quá quan tâm đến kết quả nên bạn cũng thất vọng không ít.

11/- Tuổi Tuất: Thuận lợi trong tài lộcNgười tuổi Tuất sinh vào năm 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006.D11 Tuoi Tuat

Năm nay bạn có cơ hội thể hiện khả năng của mình trong công việc, chỉ cần nắm chắc cơ hội, 2016 sẽ là năm rạng rỡ của bạn. Tất nhiên, để đến với vinh quang cũng cần nhiều nỗ lực, có cả đắng cay ngọt bùi, bạn phải dành nhiều thời gian và công sức hơn cho công việc, nhưng khi đã thành công, áp lực và những cản trở cũng sẽ dần biến mất. Để mọi chuyện trở nên thuận lợi hơn, đầu năm bạn cần lập kế hoạch cẩn thận, phân tích thiệt hơn, 12 Tuoi Hoitừ đó giúp công việc thuận lợi hơn.

12/- Tuổi Hợi: Sự nghiệp ổn định – Người tuổi Hợi sinh vào năm 1935, 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007.

Sẽ có lợi cho bạn nếu tính chất công việc của bạn có tính ổn định, ít phải thay đổi, có nghĩa là công việc càng tĩnh tại năm nay càng có lợi cho bạn. Năm nay không nên đầu tư sang lĩnh vực mới vì sẽ không có lợi. (theo Netnews.vn)

Logo KH huyen bi

9 Xem tay 2Thuật xem tướng tay : 

LUẬN VỀ NGÓN CÁI

– Đặng Xuân Xuyến

Đây là ngón quan trọng nhất của bàn tay, thể hiện tư tưởng “thống trị” người khác của người đó. Kích cỡ, hình dáng và sắc thái ngón cái sẽ quyết định giá trị “quyền lực” thực của người đó như thế nào.

Ngón cái thường có 2 đốt : Đốt dưới tượng trưng cho người bố, đốt trên tượng trưng cho người mẹ.

Tướng thuật đưa ra một số tướng cách của ngón tay cái với những ước đoán như sau:

– Ngón cái quen quặp lại, nằm dưới những ngón khác lúc bàn tay nắm lại : Là biểu hiện của người hay hành động theo bản năng.

– Ngón cái có đốt 1 quặp lại : Là biểu hiện của người hà tiện, keo kiệt, ích kỷ.

– Ngón cái ngoãng ra quá xa : Là biểu hiện của người thích sống tự do, thoải mái, nhưng lại có xu hướng tiêu cực, không tốt.

– Ngón cái có đốt trên nở rộng, trông cồng kềnh, thô kệch : Là người rất bảo thủ, ngoan cố, thậm chí có thể hiếp đáp người khác.

9 Xem tay 1– Ngón cái có đốt thứ 2 dài hơn đốt thứ nhất, lại được chia ra làm 2, 3 đốt nhỏ nữa (do 1 hoặc 2 chỉ nhỏ nằm ngang, rất sâu, rất rõ cho ta cảm giác như thêm 1, 2 đốt nữa) : Là người hay lý sự, nóng tính nhưng biết cách chế ngự những hành động quá khích ở chừng mực nhất định nên đã giữ cho họ những khoảng an toàn.

– Đốt trên có văn giao nhau : Bố chết trước.

– Đốt trên có văn ngoằn ngoèo như lưỡi câu : Mẹ chết trước.

– Đốt trên có 2 hình tròn (oo) được gọi là thiên tử nhãn : Là người có kiến thức văn học uyên thâm.

– Đốt thứ nhất có hình như viên bi, với gò Thái Âm bị rạch, đường Tâm Đạo cắt ngang bàn tay, có vòng Kim Tinh xấu xí, có một đường riêng đi từ gò Hỏa Tinh tới giữa ngón trỏ và ngón giữa: Là dấu hiệu của người có tính ghen kinh khủng.

– Ngón cái ngắn, với đốt thứ nhất tròn như viên bi trong khi các ngón khác có móng rộng, ngắn và dễ gãy, gò Thái Âm lại bị rạch nát và đường Trí Đạo chúi vào gò Thái Âm hoặc chúi xuống với hình chẽ, hoặc vòng lên gò Hỏa Tinh trong bàn tay mềm với nhiều đường xanh xao : Là người vì giận dữ mà điên khùng, có những hành động, ứng xử của người bị “trục trặc” về thần kinh.

– Ngón cái có đốt trên dài hơn đốt dưới : Là người sống thiên về tình cảm, giải quyết mọi việc cơ bản đều chú trọng yếu tố tình cảm, dẫu vậy, người có ngón tay kiểu này phần nhiều là người thẳng tính, tình lý phân minh.

9 Xem tay 3– Ngón cái có đốt thứ 2 (đốt giáp bàn tay) dài hơn đốt trên : Là người chỉ dựa vào lý lẽ để giải quyết mọi việc, sống quá thực tế, khôn ngoan và nhiều dục vọng.

– Ngón cái dài tương đương với ngón út : Là người ôn hòa, nhạy cảm và sống tình cảm, có trách nhiệm với các việc mình làm cũng như với những người xung quanh. Nếu khớp ngón cái cứng là người khó tiếp xúc, hay đề cao cảnh giác và sống khá thực tế. Còn nếu khớp ngón cái dẻo là người thích tiêu xài phung phí, bốc đồng, cởi mở và dễ hòa hợp với cái mới.

– Ngón cái cao gần đến đốt giữa ngón trỏ : Là người ích kỷ, luôn coi mình là trung tâm vũ trụ, nếu lại to ngang nữa sẽ là người nhiều tham vọng, không từ bất kỳ thủ đoạn nào để đạt được mục tiêu của mình.

– Còn ngón cái dài nhưng thon : Là người có tham vọng nhưng lại không rõ ràng vì thiếu động cơ.

– Ngón cái cứng : Là người tuy bướng bỉnh, thực tế nhưng là người thẳng thắn, kiên định và tốt bụng. Nhưng ngón cái cứng mà lại dài thì lại là người dễ mù quáng trước những đòi hỏi của mình.

– Ngón cái mềm dẻo : Là người ứng xử linh hoạt, nếu mềm dẻo và cong ngược là người từ tâm, có sức chịu đựng khó khăn gian khổ, nhưng quá mềm dẻo thì lại là người thiếu từ tâm.9 Xem tay 4

– Ngón cái mềm, sắc đẹp và hình dáng cũng đẹp : Là người có nhiều dục vọng, dễ sa ngã và sẵn sàng chạy theo dục vọng.

– Ngón cái rộng : Là người sáng suốt, ham làm việc nhưng ưa lý luận, hay gây gổ.

– Ngón cái nhọn : Là người thích khoa trương, tính nóng nảy, mọi việc đều theo kiểu chóng no chóng chán.

– Ngón cái có đầu ngón bè ra, trông thô kệch : Là người thích cuộc sống cô đơn, buồn vui vô cớ.

– Ngón cái có đầu ngón chù vù như đầu đạn : Là người tính tình nóng nảy, dữ dằn và háo sắc.

– Ngón cái ngắn, đốt thứ nhất quặp lại như càng cua, lúc nào cũng để vào trong lòng bàn tay (không phải ngả vào), trong khi các ngón tay khác đều nhẵn nhụi : Là dấu hiệu của người có thể do vô tình hoặc cố ý mà giết người. Nếu thêm ngôi sao ở cuối vòng Kim Tinh nữa thì là kẻ máu lạnh, ham 4-ngon-cai-1thích việc giết người.

– Ngón cái xiêu vẹo : Là người sức khỏe yếu, bệnh tật, không làm nên việc gì.

– Ngón cái ngắn, thấp: Là người sống thiếu thực tế, thiên về tình cảm, nhiều tham vọng nhưng không mưu mô thủ đoạn, tâm tính bất định, thường chạy theo dục vọng trước mắt, bất chấp hậu quả. Nhưng nếu ngón cái quá ngắn thì lại là người nhẹ dạ, cả tin, dễ bị người khác lừa gạt.

– Ngón cái ngắn mà bàn tay lại mềm : Là dấu hiệu của người nhút nhát, thậm chí còn là kẻ hèn nhát nếu thiếu đường Tâm Đạo hoặc đường Trí Đạo.

– Ngón cái ngửa (cong) sâu về phía lưng bàn tay : Là người không trung thực, có tài phóng đại sự việc. (trích Khám Phá Bí Ẩn Con Người Qua Bàn Tay của tác giả)

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo van de

khiNGHĨ VỀ BỘ KHỈ TAM KHÔNG

TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY

Hình tượng 3 con khỉ : Con thì dùng tay che hai mắt, con thì dùng tay bịt hai tai và con thì dùng tay bịt miệng lại… đã nói lên sự khôn ngoan của người biết giữ lễ.

Đây là một phương châm xử thế : Không nhìn những việc gì xấu, không nghe những lời nói xấu, không nói điều xấu xa đê tiện.

Người ta cho rằng nguồn gốc của triết lý Tam Không nói trên có lẽ đã được một nhà sư Phật Giáo thuộc tông phái Thiên Thai (Tiantai Zong) – Trung Quốc, đề cập đến trong tác phẩm của ông ta: “Không thấy – không nghe & không nói” vào khoảng thế kỷ thứ VIII.

Sau đó thì tư tưởng nầy được du nhập vào Nhật Bản với sự ra đời của hình tượng điêu khắc 3 con khỉ. Ngày nay hình tượng bộ khỉ Tam Không xưa nhất là tác phẩm của nhà điêu khắc Hidari Jingoro (1594-1634) được thấy thờ tại đền Toshogu ở Nikko, Nhật 9 Tam Khi 1Bản.

Theo ngôn ngữ Nhật Bản thì :

– Nizaru: Tôi không nhìn điều xấu.

– Kikazaru: Tôi không nghe điều xấu.

– Iwazaru: Tôi không nói điều xấu.

Đó là triết lý của Đức Khổng Tử trong Luận Ngữ: Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn. Không nhìn, không thấy những điều trái lễ, không nghe những điều trái lễ và không nói những điều gì trái lễ.

Tư tưởng trên được thánh Gandhi đem áp dụng làm phương châm trong đời sống và trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ. Lúc nào ông cũng mang theo bên mình hình tượng bộ khỉ Tam Không.

Triết lý không thấy, không nghe, không nói cũng bị nhiều người diễn giải khác đi:

– Có người thấy và nói ra nhưng họ không bao giờ nghe theo những gì người khác nói.

– Có người không bao giờ thấy bất cứ gì, nhưng họ nghe người khác và nói ra.

– Có người nghe và thấy nhiều việc nhưng họ không bao giờ nói ra hết.

9 Tam khi 2Theo triết lý Đông phương, mọi sự vật trong đời đều bị chi phối bởi lý âm và dương đối nghịch với nhau. Cử chỉ của 3 con khỉ có thể nói lên tính chất tương phản của âm dương trong cuộc sống hằng ngày.

Theo Tây phương, hình ảnh của bộ khỉ 3 không đã nói lên một sự tự kiểm duyệt (autosensure) và đồng thời có hàm ý sự vô trách nhiệm, hèn nhát và ích kỷ của bản thân:

– Không muốn nhìn, muốn thấy những điều gì có thể gây khó khăn, tạo thêm vấn đề cho mình (tránh khỏi bị rắc rối, phiền phức, tránh khỏi bị mất công).

– Không muốn nói ra những điều mình biết vì có thể bị đụng chạm, tạo thêm nhiều rắc rối.

– Không muốn nghe để có thể “giả đò” làm như mình không biết gì hết.

Đôi khi chúng ta có thể thấy thêm một con khỉ thứ tư nữa đang khoanh tay hoặc bỏ thỏng tay. Nhưng có lẽ con khỉ nầy đã được kỹ nghệ đồ vật kỷ niệm chế thêm nhằm mục đích kinh doanh. Con khỉ thứ tư nầy có tên là Shizaru và có ý nghĩa là phi lễ vật động hay không làm điều xấu xa

Ba con khỉ trong xã hội ngày nay :

Xã hội vật chất ngày nay đã tạo nên con người ích kỷ qua phương châm: Muốn sống bình an phải “giả đui, giả điếc, giả câm”, ai chết mặc ai.

Thật vậy, trong đời sống hằng ngày có khi triết lý Tam không (không thấy, không nghe, không nói) đã giúp chúng ta có được sự an ổn trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Khi 2Ứng dụng triết lý Tam Không vào Trung Quốc ngày nay: Ai chết mặc ai ! Hãy xem 2 video clip rất nhẫn tâm :

– Xe đụng 1 bà cụ và sự thờ ơ, vô cảm của dân chúng ngoài đường 

Người Việt – trong xứ và hải ngoại – có vô cảm không? Biết, thấy và nghe nhưng không làm để mình được khỏe và bình an:

– Người Việt “đành phải vô cảm” để tự bảo vệ mình ?

… “Tâm lý “đành phải vô cảm” diễn ra khá phổ biến khi điều đầu tiên người ta nghĩ chính là sự an toàn của bản thân và gia đình.

Tôi suy nghĩ rất nhiều về chuyện dạy con làm người. Về lý thuyết, tôi phải dạy con làm người chính trực, có lòng trắc ẩn và sẵn sàng chia sẻ. Nhưng trong thâm tâm, tôi cũng lo cho sự an toàn của con và của chính bản thân mình bởi xã hội ngày nay quá nhiều bất trắc. Khi 4Có lần, tôi đang đưa con đi học thì thấy một người phụ nữ đang bị một nhóm người xông vào đánh. Tôi chỉ liếc nhìn một cái rồi phóng xe qua rất nhanh. Về nhà, con tôi bảo: Bố ơi, sao lúc nãy bố không dừng lại cứu cô kia? Tôi buột miệng bảo: Không, dây vào để mà phải vạ à ? Nói xong, tôi bỗng thấy mình sao mà ích kỷ! Nhưng mà, có lẽ lần sau tôi vẫn sẽ làm thế…”. (vnMedia).

– Việt Nam là một trong những nước “ít cảm xúc” nhất thế giới? Việt Nam đứng thứ 13 trong bảng xếp hạng những quốc gia mà người dân ít có cảm xúc nhất, theo một cuộc khảo sát quốc tế.” (VnExpress)

– Người Việt hạnh phúc thứ nhì thế giới ? Quỹ Kinh Tế Mới (NEF) đánh giá Việt Nam đứng thứ hai trong bảng xếp hạng Chỉ Số Hạnh Phúc Hành Tinh (HPI) của năm 2012

Kết luận: Tâm viên – Ý mã

Hình ảnh bộ khỉ Tam Không đã nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của “tâm viên, Tr bang hoangý mã” trong phép Thiền.

Hãy dùng cái tâm của mình để mà nhìn, nghe và nói.

Chúng ta phải biết kiểm soát cái tâm vọng động chẳng khác gì con khỉ chạy lăng xăng.

Tâm viên là vượn tâm, là tâm loạn động như vượn khỉ. Loài khỉ thường hay nhảy nhót, khoọt kheẹt, đứng ngồi không yên, thường chuyền hết từ cành cây này sang cành cây khác, lại hay phá phách, bắt chước nên người đời có câu “liếng khỉ”.

Tâm người ta cũng thế, không khi nào được yên, cứ lăng xăng, lộn xộn, suy nghỉ, nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, đó là tâm viên. Tâm này sẽ đưa con người đến loạn động, phát sinh ra đủ thứ phiền não, cấu uế, nếu không tu hành Giới – Định – Tuệ. Như chiếc kiềng ba chân vững chắc không làm rơi rớt đồ đạc khi để lên trên, “dù ai nói ngửa, nói nghiêng, ta đây vẫn vững như kiền ba chân”cũng là vậy. Bởi vì tâm chúng sinh bị vô minh che lấp nên phần nhiều hướng ác nhiều hơn thiện. Chu yVì thế nên có câu: “Giữ xét tâm viên, quán sát thực tướng” (Tâm Viên Ý Mã… -quangduc.com).

Nhưng, dù là pháp nào chăng nữa thì việc thực hành cũng là trình tự đưa tâm từ trạng thái nhiều vọng tưởng về trạng thái ít vọng tưởng rồi về nhất tâm, về sau từ từ đạt đến vô tâm, rồi liễu tâm, ngưng dứt dòng suy nghĩ miên man, liên tục của ý thức. Nhà Phật quan niệm rằng sự suy nghĩ liên tục, miên man, của ý thức, còn gọi là “tâm viên ý mã“, tức là tâm ý vọng tưởng chạy nhẩy như con vượn, con ngựa, có tác hại là đã che mờ mất Chân Tâm, Trí Tuệ Bát Nhã”. (Cách ngồi thiền đúng phương pháp – Thư Viện Hoa Sen).

Kiều Văn chuyển tiếp