9 ĐIỀU KIÊNG KỴ TRONG TIẾT THANH MINH

5 DANH THẮNG PHẬT GIÁO

Ở CHÂU Á

NÊN ĐẾN HÀNH HƯƠNG

Phật giáo là một trong những hệ thống niềm tin có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới. Được hình thành từ hơn 2.500 năm trước, Phật giáo chỉ ra cho con người cách đoạn diệt khổ đau và triết lý Phật giáo đã bám rễ sâu rộng đến mọi ngóc ngách trên hành tinh này, kể từ những ngày đầu tiên ra đời.

Sức ảnh hưởng của Phật giáo trải dài với những tác động về niềm tin của hàng triệu con người trong lịch sử và cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khơi gợi niềm cảm hứng từ những danh thắng tuyệt vời nhất, đậm chất Phật giáo mà thế giới đã và đang được chiêm ngưỡng.

Tuy cùng một niềm cảm hứng, các chùa chiền và đền đài Phật giáo được kiến thiết với nhiều hình dáng và quy mô khác khau với những phong cách riêng biệt, đặc thù.

Dưới đây là 5 điểm tham quan Phật giáo nước ngoài tuyệt vời, tô điểm và in đậm hơn dấu ấn Phật giáo có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, mà theo mô tả của tác giả Nicholas Liusuwan, người chia sẻ các điểm tham quan này trên trang Huffington Post là “5 danh thắng Phật giáo độc nhất vô nhị mà bạn nhất định phải đến tham quan và chiêm bái”.

1/- Bảo tháp Đại Giác, Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) : Được đề xuất là di tích lịch sử Phật giáo đầu tiên nhất và đáng chiêm ngưỡng nhất trong danh sách các thắng tích, bảo tháp Đại Giác tọa lạc ở nơi Đức Phật lịch sử chứng đạt sự giác ngộ hoàn toàn với cây bồ-đề ngàn năm tuổi. Thánh địa này đặc trưng bởi tháp trung tâm được xây tạo bằng gạch cao gần 55 mét, bao bọc chung quanh là bốn tòa tháp nhỏ hơn.

Rải rác quanh ngôi đại tháp là các tháp nhỏ và các tôn tượng Đức Phật bên ngoài tháp trung tâm cùng với những bức tường khắc họa cuộc đời của Ngài. Ngôi tháp được tin là do A Dục vương xây dựng 200 năm sau khi Phật thành đạo. Bảo tháp Đại Giác được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2002.

2/- Chùa Shwedagon, Yangon (Myanmar) : Chùa Shwedagon (còn được gọi là chùa Vàng) có lẽ là một trong những ngôi chùa chói sáng nhất trên thế giới. Ngôi chùa lấp lánh ánh vàng có chóp cao khoảng 100 mét, được khảm hàng ngàn viên kim cương, hồng ngọc và các loại đá quý khác.

Đây được xem là thánh tích của Phật giáo; ấn tượng là ngôi tháp chính được đính viên kim cương 76 carat. Không ai biết rõ niên đại của ngôi chùa cổ theo truyền thống Nguyên thủy này; tuy nhiên các nhà sử học đều đồng tình rằng ngôi chùa có thể được kiến lập trong khoảng thế kỷ thứ VI-X. Về đêm, từ khoảng cách khá xa, ngôi chùa Vàng có thể được nhìn thấy rất rõ.

3/- Phật Quang Sơn, Cao Hùng (Đài Loan) : Chùa Phật Quang Sơn ở thành phố Cao Hùng (Đài Loan) có lịch sử lâu đời và “mang đến sự trải nghiệm Phật giáo khó phai cho thế giới hiện đại”. Ngôi chùa thuộc truyền thống Đại thừa này được thiết kế theo kiến trúc và đặc trưng đền đài truyền thống của Đông Nam Á, nổi bật với nhiều điện thờ tráng lệ, các tòa kiến trúc đồ sộ phục vụ cho nhiều hoạt động tôn giáo phong phú ngay trong nội viên.

Du khách có thể tham quan Bảo tàng Phật giáo Phật Quang Sơn, một trong những bảo tàng Phật giáo đương đại ấn tượng nhất trên thế giới. Bên trong bảo tàng bao gồm các triển lãm Phật giáo theo chủ đề đặc sắc và toàn diện, các lễ hội và sự kiện thường xuyên được diễn ra và đây còn là nơi lưu giữ xá-lợi răng của Đức Phật.

4/- Chùa Phra Dhammakaya, Pathum Thani (Thái Lan)  : Đây là ngôi chùa “vén màn” Phật giáo hiện đại trong thế giới ngày nay. Nổi tiếng với các phương pháp truyền đạo hiện đại, ngôi chùa Nguyên thủy này còn ấn tượng bởi diện tích rộng và phong cách thiết kế hiện đại.

Được kiến tạo năm 1970, ngôi chùa mang đặc trưng phong cách Thái chứa đựng bên trong đó nhiều cảnh quan đặc sắc, phải kể đến là ngôi tháp hiện đại và mỹ lệ với một ngàn tượng Phật, nhiều cổ vật Phật giáo và thiền đường có sức chứa đến hàng ngàn hành giả.

Ngôi chùa có diện tích khoảng 100 hecta, lớn gấp đôi diện tích Công quốc Monaco. Tuy vậy, ngôi chùa lại có hệ thống đường sá vào nội khu vô cùng hoàn chỉnh, được trang bị đầy đủ các phương tiện di chuyển đáp ứng mọi nhu cầu ngoạn cảnh của khách viếng chùa.

5/- Chùa Borobudur, Magelang (Indonesia) : Chùa Borobudur cổ xưa nằm trên đảo Java, Magelang (Indonesia) là điểm đến Phật giáo phổ biến nhất trong số năm danh thắng này. Ngôi chùa cũng là di sản văn hóa thế giới, được cấu trúc bằng nhiều nền tầng dẫn bước du khách vào hành trình của vũ trụ quan Phật giáo. Khu chùa được trang hoàng bằng nhiều ngôi tháp và rải rác với các bức điêu khắc mô tả về giáo lý nghiệp và những câu chuyện Phật giáo.

Ngôi chùa được xem là điểm hành hương thiêng liêng của Phật tử ở Indonesia và là nơi tổ chức Đại lễ Tam hợp hàng năm của đất nước này. (theo Trần Trọng Hiếu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 ĐIỀU KIÊNG KỴ

KHÔNG NÊN LÀM

TRONG TIẾT THANH MINH

Tiết Thanh Minh (vào tháng 3 âm lỊch, năm Mậu Tuất vào ngày 5/4 dươmh lịch) không chỉ là ngày lễ truyền thống đối với người Việt Nam mà còn là một trong 12 tiết khí quan trọng trong năm.

Trong tiết khí quan trọng này có 9 điều kiêng kỵ tuyệt đối bạn không nên làm trong tết Thanh Minh để tránh gặp xui xẻo. Đây không chỉ là dịp để con cháu bày tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, mà còn là cơ hội để gìn giữ truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Tiết Thanh Minh năm nay đang đến gần, có những điều gì cấm kỵ nên tránh trong những ngày này ? Sau đây là 9 điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, hãy chú ý chớ nên mắc phải những điều này.

1/. Tổ chức việc hỉ, sinh nhật hay tiệc tùng vui chơi giải trí : Tiết Thanh Minh là dịp con cháu hướng về nguồn cội, tưởng nhớ ông bà tổ tiên, tỏ lòng hiếu kính, nhớ thương người đã khuất. Nếu sinh nhật trùng hợp rơi đúng vào tiết Thanh Minh, tốt nhất nên tổ chức sớm vài ngày. Đặc biệt tuyệt đối không làm mừng thọ cho người già vào dịp này, không nhận hoa chúc mừng, cũng không ăn bánh sinh nhật ngày hôm đó.

Theo dân gian truyền lại, làm vậy sẽ tránh phạm điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh, giúp người già hưởng thêm phúc lộc, thượng thọ bình an. Tương tự, kết hôn là chuyện đại sự cả đời, không thích hợp tổ chức vào thời điểm này. Đám cưới là chuyện vui mừng, thường được tổ chức rình rang, mà tiết Thanh Minh âm phần thịnh, hoạt động chủ yếu là tế tổ, tảo mộ, tưởng nhớ người đã khuất nên làm lễ kết hôn không những không được may mắn mà còn có phần bất kính với tổ tiên.

Hơn nữa, thời điểm này trời thường mưa phùn rả rích, đường xá ướt át, lấm bẩn, ách tắc, mọi người ai cũng bận rộn với việc đi tảo mộ, sắp xếp tham dự đám cưới có phần khó khăn. Nếu có đi được cũng chỉ là tiện đường qua uống chén rượu chia vui, tạo cảm giác đám cưới của bạn không được mọi người coi trọng.

Ngoài ra, nếu do nhiều nguyên nhân mà không thể đi tảo mộ, ở nhà cũng nên hạn chế tổ chức tiệc tùng vui chơi giải trí, càng không nên chửi bới, đánh nhau hay nói lời báng bổ thánh thần, kẻo sau này hậu họa khôn lường.

2/. Mặc quần áo màu mè sặc sỡ : Theo quan niệm dân gian, trong tiết Thanh Minh đặc biệt cấm kị mặc đồ rực rỡ, ngay cả nội y hay trang sức đi kèm cũng phải chú ý không dùng màu đỏ, không mang theo vật kim loại dễ gây tiếng động. Có người lại cho rằng dịp này nên mặc quần áo rực rỡ như màu đỏ hoặc vàng, còn quần áo màu đen nhìn xui rủi, dễ nhiễm âm khí.

Đây là một suy nghĩ sai lầm. Tiết Thanh Minh đi tảo mộ là việc quan trọng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, mặc trang phục thanh lịch, chỉnh tề cũng chính là tỏ lòng tôn kính với người đã khuất. Đồ tối màu như màu đen, màu tím không chỉ trang trọng, nghiêm túc mà còn là màu sắc thể hiện sự nhung nhớ, tiếc thương với người đã khuất. Tuy nhiên, người có sức khỏe không tốt, phụ nữ hay trẻ em trong thời gian này vẫn có thể mang theo mình những đồ phong thủy màu đỏ để trừ tà đuổi quỷ.

3/. Đi du lịch hay thăm hỏi bạn bè, người thân : Tốt nhất nên tránh tiết Thanh Minh, chọn dịp khác đi thăm bạn bè, người thân. Lúc này đến chơi nhà, chẳng những không thích hợp mà còn có phần kém may mắn, là điềm xấu cho cả khách và gia chủ. Nếu thực sự cần thiết, hẹn gặp mặt ở bên ngoài là thích hợp nhất. Du lịch cũng là điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Đây là thời gian dành cho việc tảo mộ và cúng tế tổ tiên, tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và trân trọng quá khứ. Chỉ nên kết hợp tảo mộ cùng với về quê thăm lại cố hương, hít thở không khí trong lành mùa xuân nơi thôn dã. Nếu lỡ xếp lịch đi chơi vào thời điểm này thì phải đặc biệt chú ý, tránh đi đến những nơi núi non nhiều người đi tế lễ, không được nói chuyện xui rủi, càng không được buông lời bất kính với người đã khuất.

Ban đêm cũng nên hạn chế các hoạt động vui chơi giải trí. Khi thuê nhà nghỉ, khách sạn, tránh chọn phòng khuất nẻo, nằm cuối hành lang. Nếu phải để giày dép bên ngoài phòng, nên để mũi giày hướng ra ngoài. Không nên ở một mình nơi hoang vắng, dễ bị tổn hao nguyên khí.

4/. Tùy tiện chụp ảnh : Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển, số người sở hữu máy ảnh hay điện thoại có chế độ chụp ảnh ngày càng nhiều, song không phải ai cũng biết tùy tiện chụp ảnh cũng là một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

Không nên chụp ảnh ở nghĩa trang, lăng mộ. Không chụp ảnh với người lạ, đặc biệt sau 3 giờ chiều tuyệt đối không được chụp ảnh bừa bãi, vì biết đâu còn có thứ gì khác lọt vào trong ảnh của bạn. Gặp cây cổ thụ, đồ cổ hay nhà cửa, kiến trúc lâu đời cũng không nên tùy tiện chụp ảnh.

Người xưa cho rằng cây cối, đồ vật hay nhà cửa lâu năm đều có linh hồn trú ngụ, không cẩn thận phạm điều bất kính sẽ gây hậu họa khôn lường. Ban đêm không nên chụp ảnh trong gương, bởi gương thuộc tính âm, dễ nhuốm âm khí. Tiết Thanh Minh âm khí vượng, dù là chụp ảnh người khác hay chính mình trong gương cũng đều không tốt, không may có thể nhìn thấy thứ không nên thấy.

Tương tự, đi chơi đêm tốt nhất không nên chụp ảnh, cũng đừng lấy đèn pin soi rọi lung tung, dễ kích thích những thứ đen tối đi theo mình. Khi đi đền chùa, không nên đứng dưới chân tháp chụp ảnh. Tháp được dùng để trừ tà, dễ gây cảm giác bức bối, khó chịu cho người chụp ảnh.

Ngoài ra, nên cân nhắc trước khi chụp ảnh cùng tượng Thần, tượng Phật vì có thể gây tổn hao nguyên khí. Nên tránh chụp ảnh 3 người. Xưa kia các họa sư không bao giờ vẽ 3 người vào cùng một bức tranh, vì người ở giữa sẽ bị người ở 2 bên đè ép. Tuy nhiên, nếu 3 người là người một nhà hay bạn bè thân thiết thì không có vấn đề gì. Nếu chỉ là đồng nghiệp hay đối tác làm việc thì nên cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến vận khí của mình.

5/. Đi tảo mộ người ngoài : Đi tảo mộ là tập tục truyền thống trong tiết Thanh Minh. Những người đi tảo mộ xưa nay đều là con cháu trong nhà, người ngoài tốt nhất không nên tùy tiện đi theo. Dù sao cũng không phải người một nhà, đến mộ phần vào lễ Thanh Minh có thể khiến cho trường khí hỗn loạn, mất cân bằng, là điềm xấu nên tránh.

Có thể do nhiều nguyên nhân mà nhiều người gặp phải tình huống như đi tảo mộ cùng bạn bè, cấp dưới đi tảo mộ cùng cấp trên, đối tác làm ăn cùng đi tảo mộ… Khi đó, tốt nhất nên mang theo người vật phẩm phong thủy, bùa hộ thân để xua tan tà khí cũng như tránh phạm phải điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh.

6/. Chọn hoa cúng tùy tiện, màu sắc sặc sỡ : Theo truyền thống, tiết Thanh Minh là để bày tỏ sự mong đợi vạn vật mùa xuân bừng sống lại, vòng tuần hoàn của cuộc đời một lần nữa bắt đầu. Thời điểm này cũng là lúc trăm hoa đua nở, song không phải loại hoa nào cũng thích hợp dùng cho cúng tế.

Người xưa cho rằng, hoa cúng khi tảo mộ không nên quá sặc sỡ, mùi hương quá nồng đậm. Nên chọn sắc hoa trang nhã, mùi hương thuần khiết để tỏ lòng kính trọng tổ tiên. Xem chi tiết nên chọn hoa gì đi tảo mộ tiết Thanh Minh. Thông thường, các loại hoa màu trắng tượng trưng cho sự tiếc thương, khi tảo mộ có thể chọn hoa cúc trắng, hoa bách hợp trắng, hoa huệ, hoa mã đề.

Hoa hồng trắng, hoa dành dành hay các loài hoa có màu trắng trơn khác còn thể hiện sự thương tiếc và nhung nhớ. Hoa cúc vàng cũng là loại hoa phổ biến, được mọi người lựa chọn nhiều, bởi hoa màu vàng tượng trưng cho sự đau buồn và tưởng niệm. Ngoài ra, có thể dựa vào tuổi tác và sở thích của người đã khuất để chọn hoa cúng sao cho phù hợp.

Với người bề trên, người cao tuổi, có thể dùng hoa cúc vàng hoặc trắng, cũng có thể chọn hoa có nhiều sắc đỏ, hồng để thể hiện tình cảm nhớ nhung, thương tiếc của con cháu. Với người cùng thế hệ, nên chọn hoa có màu sắc trang nhã như hoa lay ơn, hoa loa kèn, hoa cẩm chướng… Còn với bạn bè thân thiết thì không cần quá câu nệ hình thức, có thể thoải mái lựa chọn loại hoa mà khi sinh thời người ấy yêu thích.

7/. Tảo mộ không đúng trình tự : Tảo mộ là chuyện linh thiêng, là dịp con cháu thể hiện lòng thành kính với ông bà tổ tiên, do đó phải được tiến hành tảo mộ theo trình tự, tránh bất kính với người đã khuất.

Thông thường, buổi lễ sẽ được diễn ra theo trình tự như sau : Dọn dẹp mộ phần – Lên hương – Dâng lễ – Mời rượu – Khấn vái – Hóa vàng mã. Khi tiến hành tảo mộ, cần chú ý giữ thái độ thành kính, không cười đùa, chạy nhảy lung tung, bằng không phạm phải kiêng kỵ tiết Thanh Minh thì hậu họa khôn lường.

Trước khi dọn dẹp mộ phần, nên thắp hương khấn gia tiên, xin phép được tu sửa, dọn dẹp cho phần mộ, số nén hương phải là số lẻ (1 hoặc 3 nén) vì số lẻ tượng trưng cho cõi âm. Chú ý phát quang cỏ rậm, nhổ bỏ cỏ dại, đắp bồi thêm đất, trồng thêm hoa tươi, quét dọn khu vực xung quanh cho sạch sẽ.

Kiểm tra xung quanh mộ, nếu bị chuột hay các loài thú khác đào xới làm tổ cần nhanh chóng xử lý. Nếu quanh mộ có nước, hay nước vào trong mộ cũng đều là điềm xấu, ảnh hưởng đến vận khí, tài lộc của con cháu đời sau. Lễ vật dâng lên phải được lựa chọn cẩn thận, nên là đồ chay, bởi dân gian quan niệmăn chay niệm Phật sẽ được siêu độ, mau chóng đầu thai.

Hoa quả là đồ tươi mới, tránh dâng hoa quả héo, dập nát. Số lượng hoa và trái cây phải là số lẻ. Chuẩn bị 2 ngọn đèn hoặc 2 cây nến, tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt. Lễ vật trên bàn có thể đặt chung song nếu có nhiều bát hương thì bát nào cũng phải thắp hương.

Khi hành lễ cúng gia tiên, có 2 hình thức là vái và lễ, được thực hiện sau khi đã bày lễ vật và thắp nhang đèn. Người làm lễ dùng hai tay dâng hương ở vị trí ngang trán, vái 3 vái rồi mới cắm hương vào bát hương. Tiếp theo con cháu trong nhà lần lượt dâng hương theo thứ bậc, ví dụ như cha, mẹ rồi đến trưởng nam, trưởng nữ, thứ nam, thứ nữ…

Sau khi hương cháy được khoảng 2/3 thì lễ tạ, hóa vàng và xin lộc về nhà để làm lễ gia thần và gia tiên ở nhà. Về chuyện xin lộc, có quan điểm cho rằng ngoài vấn đề tần số tâm linh thì đồ cúng ở mộ, nghĩa trang thường bị nhiễm vi khuẩn (vốn có rất nhiều ở nghĩa trang), ăn vào dễ bị ngộ độc hoặc ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, chỉ nên đem cho chim, cá ăn.

Điều này cũng khá có khoa học, chúng ta nên cân nhắc lựa chọn sao cho phù hợp. Ngoài ra, khi thắp hương cho các ngôi mộ trong khu vực của gia tiên, thông thường nên tuân theo thứ bậc từ các đời trước trở đi. Tuy nhiên, nếu khu mộ không được bố trí theo đúng trật tự thứ bậc trong dòng họ thì tùy duyên, thuận theo lối đi mà thắp, không nên quá cứng nhắc.

8/. Để tóc phủ trước trán, mua giày trong tiết Thanh Minh : Trong dân gian, tiết Thanh Minh còn được gọi là “tiết Quỷ”, bởi đây là lúc mà âm khí rất vượng, ma quỷ nhiễu nhương. Trong thời gian này, nếu có việc phải đi đêm thì phải đem theo vật hộ thân, có thể là cành dâu, cành liễu, bùa may mắn hay vật phẩm phong thủy đã được khai quang.

Đặc biệt nhớ để lộ trán, vì theo quan niệm dân gian thì trán là cánh cửa vận mệnh của con người, là nơi đèn thần soi rọi, không nên để tóc che phủ. Trong thời gian này cũng không nên mua giày mới, bởi trong tiếng Hán, chữ “hài” (giày) và chữ “tà” đồng âm, mua giày sẽ không may mắn, dễ bị tà ma theo đuổi. Nếu không chú ý, lỡ mua giày vào dịp này thì nên lấy giấy đỏ bọc giày để ngoài cửa 1 đêm, sáng hôm sau gỡ ra, đốt bỏ lớp giấy đỏ là được.

9/. Chồng mất 3 năm đầu, vợ không được đi tảo mộ : Một trong những điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh dân gian truyền lại: nếu chồng mới mất, trong 3 năm đầu người vợ không được đi tảo mộ. Nếu không cẩn thận phạm phải sẽ ảnh hưởng đến vận khí của người vợ.

Nếu cải giá, người chồng sau này có thể bị khắc chết, con cái cũng yếu ớt, dễ chết sớm. Tuy nhiên đây chỉ là phong tục của một số địa phương, nếu nơi bạn đang sống có kiêng kỵ điều này thì tốt nhất nên tuân theo, tránh sau này gặp nhiều chuyện phiền phức phải suy nghĩ.

Còn nếu nơi bạn sống không có phong tục này thì hoàn toàn có thể làm theo tâm nguyện của bản thân. Ngoài những điều đã nêu trên, còn một số điều kiêng kỵ tiết Thanh Minh như trước khi đi tảo mộ, nên dùng đồ chay tịnh để tỏ lòng thành kính với tổ tiên.

Người sức khỏe yếu, mới ốm dậy hay mới động dao kéo, phụ nữ có thai hoặc đang trong thời kì kinh nguyệt cũng không nên ra ngoài nhiều vào dịp này, càng không nên đi tảo mộ. Ngoài vấn đề tâm linh thì đây là thời điểm giao thông ách tắc, thời tiết nồm ẩm hoặc nắng gắt, người yếu dễ bị nhiễm bệnh, nên chú ý giữ gìn sức khỏe. (theo An Nhiên / Reatimes)

Ngọc Sương chuyển tiếp

Advertisements

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

NHỮNG NHÀ TIÊN TRI LỪNG DANH

VÀ NHỮNG TIÊN ĐOÁN VĨ ĐẠI

1/- NOSTRADAMUS :

Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ. Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế.

Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.

Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Ý, Do Thái và Ả Rập…

Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties” (tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỹ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.

Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, vợ của vua Henry đệ II.

Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.

– Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị

Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già

Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh

Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng

Hai vết thương và một cái chết thảm thương.

Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery – “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi.

Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh.

– Napoleon bại trận ở Nga : Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng:

Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga

Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố

Quân chủ lực sẽ phản công

Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng.

– Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon

Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém

Và nhanh chóng trở nên lớn mạnh

Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm

Khi ông giành được quyền lực tối cao.

Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba

Sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa

Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang

Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu.

Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

– Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966

Máu của thần công lý sẽ bao phủ London

Thành phố sẽ cháy vào năm 66

Vị phu nhân mất địa vị tối cao

Và nhiều nơi bị hủy hoại.

Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa.

Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này.

Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng.

Tiên tri về cái chết của mình : Trước khi qua đời vào ngày 1/7/1566, Nostradamus biết trước rằng, ông sẽ không sống hết ngày 1/7, như ông nói với viên thư ký: “Tôi sẽ chết trước lúc bình minh”. Vào đúng ngày ông qua đời, Catherine de Medici, Hoàng hậu của Vua Henry II (Pháp), người rất ủng hộ nhà tiên tri, đã phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia.

Tiên tri về việc mộ ông sẽ bị đào bới : Khi còn sống, Nostradamus biết mộ ông sẽ bị đào bới, phá hủy, Khi cuốn sách ghi những lời tiên tri của ông bị xếp vào loại sách cấm, những kẻ cuồng tín đã phá mộ ông vào tháng 5/1791.

Nhưng bật nắp mộ lên, bọn chúng thất kinh khi thấy trong bàn tay xác chết có một tấm kim loại khắc dòng chữ Tháng 5/1791 đầy bí ẩn.

– Tiên tri về Nhật thực ngày 11/8/1999 : Nostradamus có một lời tiên tri rất rõ ràng rằng “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào tháng thứ 7 của năm 1999.

Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc.

Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

2/- EMANUEL SWEDENBORG

Ở Thụy Điển có một người “thấy được tương lai” nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè… Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18.

Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom” (Stockhom là quê hương của ông). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi!

3/- KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG

Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bấm Độn.

Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của Gia Cát Lượng còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.

4/- JEAN DIXON

Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai – bà Jean Dixon. Khi 14 tuổi, nhà tiên tri “nhí” Jeane đã đưa ra dự đoán chuẩn xác về ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thời ấy có tên Carole Lombard. Khi đó, bà đã tiên đoán nữ minh tinh này sẽ gặp một tai nạn máy bay vào năm 1942 khiến cô tử vong. Vì vậy, bà đã khuyên Carole nên hủy chuyến bay trong tháng này vì máy bay sẽ phát nổ.

Tuy nhiên, ngôi sao này đã không tin và chỉ đồng ý tung đồng xu để đưa ra quyết định. Nếu đồng xu ngửa cô sẽ hủy, nếu là mặt sấp thì cô vẫn sẽ theo kế hoạch ban đầu. Khi đó, đồng xu đã tung là mặt sấp và ngôi sao Carole tiếp tục chuyến bay của mình.

Vào ngày 6/1/1942, khi trở về từ Indiana bằng máy bay TWA Skysleeper, cô và 21 hành khách khác cùng phi hành đoàn khởi hành từ Las Vegas đến Burbank, California đã đâm vào núi Table ở Nevada. Vụ tai nạn nghiêm trọng này đã cướp đi sinh mạng của Carole và tất cả những người khác.

Chính vì vậy, lời tiên tri của Jeane về vận hạn của nữ minh tinh nổi tiếng Carole đã trở thành hiện thực. Mặc dù có khả năng nhìn thấy trước tương lai nhưng bà đã không thể thay đổi được số mệnh của người đó.

Bên cạnh đó, nhà tiên tri này còn dự đoán chính xác về vụ ám sát Tổng thống Kennedy, cái chết của Tổng thống Franklin Roosevelt. Bà cũng tiên đoán chính xác việc Thủ tướng Anh Winston Churchill sẽ không tái đắc cử vị trí đó lần 2 trong cuộc bầu cử vào năm 1945.

Chưa dừng lại ở đó, bà cũng dự đoán một cách chính xác về Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjold sẽ tử vong trong một tai nạn máy bay và một vụ 3 phi hành gia NASA thiệt mạng trên mặt đất. Sự thật đã chứng minh lời tiên tri của bà Jeane là chuẩn xác khi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Dag gặp một tai nạn máy bay ở Bắc Rhodesia (nay là Zambia) vào tháng 9/1961 dẫn đến tử vong.

Sự kiện còn lại, phi hành gia Gus Grissom từng tham gia các chương trình không gian đầu tiên của NASA là Mercury và hai phi hành gia tham gia chương trình Apollo đã tử nạn khi hỏa hoạn xảy ra trên bệ phóng lúc diễn tập vào ngày 27/1/1967.

5/- VANGA

Vanga (tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova, sau khi kết hôn đổi thành Vangelia Gushcherova) là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của thế kỷ XX và đã để lại rất nhiều thông tin với những khía cạnh huyền bí đa dạng. Nhà tiên tri Vanga sinh ngày 31/01/1911 trong một gia đình tiểu nông thuộc thành phố Xtrumitse (Bulgary) và đã từ giã cõi đời ngày 11/08/1996 tại một bệnh viện ở thủ đô Sofia.

Khả năng đặc biệt của Vanga bắt đầu xuất hiện ít năm sau khi bị một trận cuồng phong bất ngờ cuốn theo cát bụi, hậu quả là bà phải chịu cảnh mù loà kể từ năm mới lên 12 tuổi.

Bà từng nói :“Những thứ tưởng như rất đáng sợ và nguy hiểm lại không đáng sợ. Những thứ mà sự nguy hiểm và đáng sợ của nó không thể hiện ra bên ngoài mới đáng sợ. Nó có thể gây ra một điều gì đó nghiêm trọng làm xáo trộn cuộc sống chúng ta”.

Bà Vanga luôn tin rằng, đã có những nền văn minh khác tồn tại trước chúng ta, ví như những người Atlan. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, người Atlan trao đổi ý nghĩ với nhau bằng hình ảnh. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là cách thức trao đổi thứ hai. Nền văn minh của người Atlan được coi là nền văn minh của bán cầu não phải, còn nền văn minh của loài người lại phát triển ở bán cầu não trái.

THƯỞNG THỨC CÙNG DANH HỌA :

CHÚA GIÊ-SU

CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI MÙ

Chúa là một bậc giác giả với vô vàn quyền năng to lớn mà với con người đó là những phép lạ nhiệm màu. Kinh thánh truyền rằng Ngài đã chữa bệnh cho rất nhiều người, từ người mù bẩm sinh, tới những kẻ ma quỷ ám, hay những bà già gù lưng suốt bao nhiêu năm trời sống trong khổ cực. Xuất phát từ lòng từ bi mà Chúa dùng quyền năng chữa bệnh chấm dứt những tháng ngày đau đớn của con người. Từ đó mà răn dạy con người hiểu về nguồn gốc của bất hạnh đó.

Trong quá khứ xưa nay, các bậc giác giả hạ thế không phải là thể hiện quyền năng hay chữa bệnh. Căn bệnh mà các bậc giác giả muốn chữa cho con người chính là tâm bệnh, một loại bệnh trong mê muội, từ đó mà chuốc lấy khổ đau. Lưu lại cho con người tâm pháp và giảng giải cho họ hiểu những căn nguyên của chính khổ đau đó.

Quyền năng chữa bệnh và ẩn ý từ bài học giáo huấn của Đức Chúa được thể hiện qua bức họa.

Tác phẩm hội họa ‘Chúa chữa bệnh cho người mù’ là tác phẩm của họa sĩ Lucas Van Leyden, sinh ở Hà Lan. Đây là một bức họa nổi tiếng mô tả cảnh mà Chúa Giê-su chữa lành bệnh cho người mù Gierico. Bức họa chia ra làm hai phía đối lập, bên trái của bức họa là chúa Giê su và những con người còn chứa nhiều thiện tâm, hài hòa, đại diện cho nhóm người dễ giác ngộ về pháp mà Chúa giảng.

Bên phải của bức họa là quảng đại những người giàu sang, tiêu biểu là một thân hình nam giới cao to và gương mặt hung dữ với vẻ thất thường đầy tham vọng trần tục có vẻ hoang dã, đây chính là nhóm người mà Chúa Gie-su sẽ phải khổ công cảm hóa, kiên trì giảng pháp để cải hóa những tâm tính bất hảo và độ họ tiếp thu được pháp mà Ngài giảng.

Điều đáng lưu ý hơn là con người ta nhìn thấy ngay kẻ hung ác kia ăn mặc trang hoàng sang trọng, họ mang tiền bạc tới để xây nhà thờ, dâng lên cho Chúa không phải là từ tâm thiện của con người họ, mà chính là bỏ tiền mua chuộc Chúa, muốn đặt bàn tay của mình lên vai Chúa Giê-su.

Sự vênh váo của kẻ giầu có, coi tiền bạc là quyền năng của bản thân, thường nhìn những con người khốn khổ bằng sự khinh rẻ, họ thường thiếu tình yêu thương với người khác. Khi tận mắt chứng kiến quyền năng của Giê-su thì lập tức trong đầu muốn dùng tiền mà mua chuộc, muốn biến chúa Giê-su trở thành người phục tùng và vâng lời của mình.

Chúa Giê-su có biết được điều đó không ? Ngài biết rõ tâm những người này ra sao, nhưng ngài vẫn thương họ, thương chính bởi sự mê muội, dốt nát ấy. Họ chẳng bao giờ hiểu tiền bạc không thể mang họ tới thiên đường, và cũng không thể giúp nguời ta tới được bên Chúa. Cái mà họ sẽ mang theo bên mình chính là tội phúc của chính họ.

Lucas Van Leyden đã rất khéo léo khi tô điểm cho những kẻ tham lam, vênh váo, kênh kiệu này và tập trung khắc họa chân dung của  người đàn ông  phô trương địa vị và quyền lực: trên đầu ông tua tủa những chiếc lông chim, cổ ông ta bật ra kiêu hãnh từ chiếc cổ áo để mở. Hai tay áo tinh tế và hợp thời trang bay phần phật và đung đưa. Hai tay áo biểu tượng cho túi tham mà ông ta đang sở hữu, nó tung bay là thể hiện của cái sở thích phô trương thanh thế, thích  thể hiện bản thân.

Chúa không hướng ánh mắt về ông ta, chẳng một cái liếc nhìn dẫu cho ông ta đang cố gắng thu hút sự chú ý của Giê-su về phía mình. Chúa nhìn thấu tâm can của hắn, nhưng vì lòng từ bi thương xót, Ngài sẽ vẫn cho họ cơ hội được đắc cứu.

Bức tranh thể hiện một nhóm khác, là sự xuất hiện của hai đứa trẻ, một đứa trẻ đi cùng người mù, nó ngẩng khuôn mặt ngây thơ cung kính nghe Chúa giảng nói. Nó thuộc nhóm người còn chứa nhiều thiện tâm, nó rất dễ được cảm hóa, một đứa khác nằm dưới chân kẻ giàu có vênh váo kia, mà chỉ về phía Chúa đang chữa bệnh, nó chính là hình ảnh phản ánh lên rằng một con người có tính thiện lương ban đầu nhưng lớn lên trong sự dạy dỗ chỉ vì bản thân và không phân biệt được thiện ác, tốt xấu, mà sẽ chỉ là kẻ đứng ngoài chỉ chỏ về quyền năng nơi Chúa chứ không thấm lời Ngài dậy. Những kẻ khó lòng thoát khỏi cái bóng của ma quỷ trong tâm.

Đối với Giê-su hay với bất kì một bậc giác giả nào, thì căn bệnh khó chữa nhất của loài người chính là căn bệnh từ trong tâm.

Giê-su hạ thế là lặng lẽ, trong suốt quá trình truyền đạo truyền pháp, ngài không ngưng nghỉ đôi chân, bất kì nơi nào đi qua đều là mầm nhân duyên thiện lành mà Giê-su gieo cấy.

Cảm hóa nhiều con người thiện lương theo đạo, hóa độ những kẻ còn hoài nghi về quyền năng nơi Chúa, thức tỉnh những con người đang lầm đường lạc lối.

Trong hết thảy những chuyến đi, Ngài thể hiện phép nhiệm màu mà người thường không có được, Ông cho người đời thấy đâu là bến bờ hạnh phúc thực sự, có biết bao căn bệnh được ông chữa khỏi, có những người tưởng chừng như chết đi mà được hồi sinh kì lạ. Quyền năng to lớn ấy làm biết bao nhiêu con chiên rơi lệ cảm tạ ân sâu.

Nhưng có một căn bệnh của con người mà chính bản thân Giê-su cũng phải chấp nhận lấy cái chết của mình để cảm hóa, đó chính là căn bệnh mê muội nhân tâm. Những kẻ từng ngày đi theo từng bước chân ngài, đã từng là môn đồ của ngài, nhưng trong tâm lại không chịu buông lòng tham, sự tàn ác. Những kẻ bị cám dỗ bởi ma quỷ để rồi không phân biệt được đâu mới là người sẽ cứu độ mình, đâu là người thực sự mà họ cần phải mang ơn

Chấp nhận làm nô lệ của quyền thế và đồng tiền mà bị sai khiến đủ điều. Những con người đó thật chẳng dễ dàng gì cứu cả. Và Chúa đã phải đánh đối lấy mạng sống của mình để mong hòng cứu rỗi linh hồn họ.

Và cái kết của những con người không chịu buông đi những túi tham lam vào tiền bạc, là cái chết của chính họ, bởi người có thể  thực sự cứu họ như Giê-su họ còn bán đứng thì ai có thể cứu họ đây, đồng tiền mà họ có liệu có thể cứu được mạng sống không? Cái chết của Judas cũng là để cảnh tỉnh cho con người mai sau biết buông bỏ đi lòng tham, thoát khỏi sự khống chế của ma quỷ trong tâm mình mà trở về với Đức Chúa.

Nỗ lực của chúa Giê-su trong suốt những năm tháng truyền đạo truyền pháp, bất chấp cực khổ, bất chấp hiểm nguy và mất đi cả tính mạng của mình. Điều ấy cũng là hi vọng duy nhất mà Ngài lưu lại cho con người về con đường phá bỏ mê muội, chấm dứt khổ đau, trở về với thiên đàng.

Rất nhiều những họa sĩ tôn giáo đã thành công khi thấu hiểu được tâm tư của Chúa mà khắc họa thành công về Giê su, có lẽ sự thành công trong bức họa lưu lại tên tuổi của họ với người đời sau này chính là cảnh giới tư tưởng mà họ ngộ được trong chính pháp lý mà Giê-su giảng.

Và mỗi một chặng đường lịch sử, lại có một bậc thánh giả hạ thế cứu độ chúng sinh. Khi con người sẽ phải đối diện với hiểm nguy, thì đất trời lại đón chào Giác giả tới cứu độ. Ai là người từ trong mê mà ngộ? Ai là người sẽ được đắc cứu, đó chính là duyên phận đáng trân quý của con người. Giê-su đã lấy cái chết để cảnh tỉnh thế nhân, thì nay trong cơn mê đó, ai là người thức tỉnh? Thiên đàng hay địa ngục, đó là lựa chọn của chính chúng ta.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

ĐOÁN TÍNH CÁCH QUA ĐỘ DÀI NGÓN TAY…

ĐOÁN TÍNH CÁCH

NHÌN ĐỘ DÀI CỦA NGÓN TAY…

Trong các ngón tay của bạn, ngón nào dài thứ 2 sau ngón giữa ? Trên thực tế, một việc đơn giản như thế cũng có thể nói lên tính cách của bạn. Cách bói tính cách qua độ dài ngón tay vừa đơn giản lại chính xác này rất được quan tâm tại Mỹ. Hãy cùng bạn bè, người thân thử xem sao nhé.

A/- Ngón áp út dài hơn ngón trỏ: người hấp dẫn quyến rũ : Đây là những người có ngoại hình ưa nhìn, xung quanh luôn có rất nhiều người yêu thích. Mặc dù họ không biết cách thăm dò đoán ý người khác qua cử chỉ và sắc mặt, nhưng họ không có ác ý gì, thậm chí họ có sức hút đến nỗi có thể biến yếu điểm này thành điểm nổi bật của bản thân.

Họ giỏi nhất về giải quyết các vấn đề, khi gặp phải khó khăn, hãy tìm giúp đỡ từ những người thuộc nhóm này. Trong kiểu người này thì đa phần là kỹ sư và những người làm công việc nghiên cứu. Có thể là do họ giỏi về tính toán, giải đố.

B/- Ngón trỏ dài hơn ngón áp út: người đáng tin và cũng rất tự tin : Người có ngón trỏ dài hơn ngón áp út lúc nào cũng tràn đầy tự tin vào bản thân, luôn làm tốt mọi nhiệm vụ được giao. Họ thích làm việc độc lập một mình hơn là làm việc theo tập thể và ghét bị quấy rầy. Chỉ cần để họ làm việc theo cách của họ, nhất định sẽ đạt được kết quả mỹ mãn. Giao phó công việc cho kiểu người này, bạn có thể hoàn toàn yên tâm. Họ không hài lòng với hiện tại mà luôn luôn có xu hướng theo đuổi những điều tốt đẹp hơn.

C/- Ngón áp út dài bằng ngón trỏ: người yêu thích hoà bình và chính nghĩa, không thích đấu đá : Những người thuộc nhóm này có tính thích nghi cao, thích chung sống hoà hợp với người khác, thích cuộc sống đơn giản, ổn định, ghét tranh cãi. Họ rất giỏi lấy lòng người khác, nhưng nếu một khi họ tức giận thì hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Bạn nhất định phải chú ý điểm này, phải hết sức cẩn thận, không nên chọc giận họ. (Quỳnh Chi theo Letu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

5 CÁCH NHẬN DẠNG

NGƯỜI THÂM ĐỘC

Dù giỏi che đậy đến mấy, người có tâm cơ thâm độc, xấu xa vẫn sẽ bị “lòi đuôi” ở những chỗ mà họ không ngờ đến nhất.

Trong cuộc sống của mỗi người, chúng ta đều có rất nhiều mối quan hệ, nếu không phải là tình thân, tình yêu, đồng nghiệp, đối tác thì những người còn lại hẳn sẽ thường được xếp vào tình bạn. Trong số đó, có không ít người chỉ là bạn “hờ”, nói một cách dễ hiểu, họ chỉ tiếp cận bạn với mục đích, ý đồ nào đó và sẽ trở mặt ngay khi hết giá trị lợi dụng.

Những người này thường có tài giao tiếp rất khéo, dẻo miệng và giỏi che đậy, nên nếu không tinh tế sẽ khó lòng nhận ra tâm cơ xấu xa của họ. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn, núi cao sẽ có núi cao hơn, dưới đây sẽ là 5 cách điểm mặt chỉ tên người tiếp cận bạn có ý đồ mờ ám và tóm gáy ngay trước khi họ kịp giở thủ đoạn.

1/. Nói không ngừng nghỉ về nhu cầu của mình : Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy chú ý đến những người luôn đặt câu chuyện của mình làm trung tâm trong tất cả các cuộc đối thoại.

Làm ra vẻ rất quan tâm đến cuộc sống của bạn, nhưng đó chỉ là đòn bẩy để họ nâng câu chuyện của mình lên. Họ không ngừng huyên thuyên với bạn về những thứ muốn có được và đạt được. Kể một cách chi tiết để bạn biết chính xác họ muốn bạn làm gì.Đừng để những lời ngọt ngào thôi miên lí trí, hơn lúc nào hết bạn cần tỉnh tảo khi tiếp cận với loại người này.

2/. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo : Không quy chụp tất cả, nhưng người có tâm địa không tốt thường sở hữu “chiếc lưỡi của một con quỷ”. Cái tài của họ là dùng lời nói để xoay chuyển tâm lí của bạn. Bằng cách nào đó, họ khiến bạn tin vào những lời nói dối của họ.

Đừng vội nghe những lời thuyết phục xuôi tai, bạn cần suy xét thật kĩ vấn đề, tuyệt đối không làm nếu cảm thấy lấn cấn. Hãy khôn ngoan đưa mình ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy, nếu không sớm muộn gì, bạn cũng sẽ bị họ cố gắng điều khiển và sai khiến.

3/. Luôn sai khiến và lợi dụng bạn : Những người tiếp cận bạn với tâm địa không tốt, họ không bao giờ lãng phí thời gian của mình, mà luôn tận dụng cơ hội sai khiến và lợi dụng khi ở gần bạn. Dù bạn không muốn nghe nhưng họ luôn lặp đi lặp lại một vấn đề như kiểu muốn tiêm nhiễm chúng vào đầu bạn để bạn phải giúp họ mới thôi.

Đừng ngại, thẳng thắn từ chối là cách đáp trả hay nhất đối với trường hợp này. Mặc kệ, họ liên tục thay đổi thái độ từ cứng rắn sang mềm mỏng, bi lụy thì cũng đừng dễ xiêu lòng nhé. Hãy thay đổi chủ đề hoặc rời đi.

4/. Bạn luôn thấy bất an và có cảm giác tồi tệ khi ở cùng họ : Trong nhiều tình huống, cảm giác bất an cũng là một thứ phán đoán chuẩn xác. Nếu bạn luôn cảm thấy không an toàn khi ở cạnh hoặc nói chuyện với một người nào đó thì hãy cẩn thận, đó có thể là linh cảm đúng đấy.

Khi một người có nhiều biểu hiện lạ hoặc một trong các dấu hiệu được nêu ra ở trên, và bạn cảm thấy luôn có cảm xúc tiêu cực tức tối, khó chịu,… thì tốt nhất nên tránh xa ra nhé. Nếu họ thực sự là người tốt, hãy để thời gian trả lời điều đó.

5/. Ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể bất thường : Kẻ nói dối thường ít khi nhìn thẳng vào mắt người đối diện mình, đơn giản là họ không tự tin vào lời nói và né tránh những biểu cảm không thật. Họ thường sử dụng quá nhiều ngôn ngữ cơ thể nhằm tạo sự tin tưởng ở người khác. Đừng để họ qua mặt bạn, hãy nhìn chầm chầm vào mắt họ, cái đuôi sẽ sớm lòi ra thôi, khi họ bắt đầu căng thẳng mồ hôi sẽ đổ, biểu cảm bối rối,…

Với người có trực giác tốt, họ sẽ dễ dàng nhận ra sự bất ổn từ những người xung quanh mình. Ngoài ra, người có tâm địa không tốt sớm muộn cũng sẽ tự “lòi đuôi cáo” mà thôi. Nhưng biết sớm vẫn hơn biết muộn, việc của bạn là nằm lòng 5 cách nhìn người mà đoán tâm tính ở trên để tránh bị người xấu lợi dụng. (Nguyễn Vi theo the thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

5 CON GIÁP NAM

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ GIA ĐÌNH ​

Theo quan niệm tử vi, nếu đàn ông thuộc 1 trong 5 con giáp dưới đây sẽ luôn coi gia đình là nơi quan trọng nhất. Họ dù có phải hi sinh bản thân mình hay làm bất cứ điều gì khác cũng không bao giờ bỏ rơi những người mình yêu thương.

Và nếu chị vợ nào đang có một anh chồng như thế thì hãy yêu thương, trân trọng anh ấy nhiều hơn nhé, bởi anh ấy chính là người sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh vợ suốt cuộc đời này đó!

1/- Đàn ông tuổi Tý : Có chết cũng không buông tay : Những người cầm tinh con Chuột được trời ban cho một đặc ân là có trí tuệ hơn người, thông minh, nhanh nhẹn và hoạt bát. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn có hành động quyết đoán, dứt khoát. Dù trong tình huống bé như con kiến hay sự kiện trọng đại, họ luôn biết cách tìm ra giải pháp để xử lý mọi việc một cách hoàn hảo nhất. Bởi vậy, người tuổi Tý luôn được mọi người nể phục.

Dù sở hữu tính cách như vậy nhưng khi rơi vào lưới tình, người tuổi Tý lại đánh mất hết lý trí để dành trọn tình yêu thương của mình cho một người phụ nữ hoàn toàn vô điều kiện. Bởi vậy, họ sẽ bất chấp hết tất cả để giữ người yêu thương bên cạnh mình.

Nếu yêu một người tuổi Tý, các chị sẽ luôn có cảm giác an toàn tuyệt đối. Bởi mẫu đàn ông này sẽ làm mọi việc để dành những điều tốt nhất cho người phụ nữ mà họ yêu thương.

2/- Có chồng tuổi Tuất, dù chết anh ấy cũng không bao giờ rời xa vợ : Những người cầm tinh con Chó thường mang tính cách khá trẻ con, bồng bột và có phần nông nổi. Vì thế nhiều người không có cái nhìn thiện cảm cho đàn ông tuổi Tuất.

Tuy nhiên, bạn đừng nghe người ta nói như vậy mà hiểu sai về người tuổi Tuất nhé. Bởi trong tình yêu, họ lại khác biệt hoàn toàn với sự chín chắn và trưởng thành hơn rất nhiều. Bởi họ dành tình yêu thương cho ai đó còn hơn cả bản thân mình.

Một khi đã yêu ai đó, người tuổi Tuất sẽ luôn nâng niu và trân trọng tuyệt đối. Cho dù đối phương có gây sai lầm thì tuổi Tuất cũng sẽ rộng lượng tha thứ để luôn có bạn ở bên trong cuộc đời mình.

3/- Tuổi Dần : Bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương : tuổi Dần quy tụ những người thông minh, tinh tường. Nhờ vậy, họ sẽ dễ dàng dành được cho mình những thành công đáng ngưỡng mộ trong sự nghiệp và cuộc sống. Ngoài ra, người tuổi Dần thường còn được mọi người yêu quý bởi tính cách hiền hòa, dễ chịu và lối cư xử rất có chừng mực.

Trong tình yêu, người tuổi Dần tỏ ra khá cẩn trọng, dè chừng và đưa ra những yêu cầu khá khắt khe với người vợ tương lai. Chính bởi vậy, họ sẽ mất khá nhiều thời gian để tìm được đối tượng ưng ý. Tuy nhiên, một khi đã tìm ra được người phụ nữ yêu thương của cuộc đời mình rồi thì họ sẽ bất chấp tất cả để được ở bên cạnh cô ấy. Chắc chắn tuổi Dần sẽ làm tất cả để bảo vệ tình yêu mà họ rất khó mà có được. Kể cả khi tình cảm của đối phương không còn nguyên vẹn như trước tuổi Dần cũng sẽ không bao giờ từ bỏ mà sẽ làm tất cả để dần dần kéo người ấy quay trở lại bên mình.

4/- Tuổi Sửu : Dành tình yêu chung thủy tuyệt đối cho “nửa kia” : Người tuổi Sửu thường có trái tim dịu dàng, ấm áp. Bởi vậy, trong tình yêu, họ luôn dành sự chân thành và hết mực quan tâm, chăm sóc cho người phụ nữ mà mình yêu thương.

Với bản tính ân cần, chu đáo, cộng với trái tim nồng ấm và sự chung thuỷ tuyệt đối, người tuổi Sửu có đủ tiêu chuẩn để trở thành một người yêu tuyệt vời luôn đem đến cảm giác hạnh phúc, ngất ngây trong men say tình yêu cho bạn. Họ luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ với bạn mọi lúc bạn cần.Nếu bạn đang trong mối quan hệ tình cảm với người tuổi Sửu thì đó chính là điều tuyệt vời nhất mà bạn nên trân trọng.

5/- Tuổi Ngọ : Dồn hết tâm trí vào người mình yêu thương : Đàn ông cầm tinh con Ngựa thường rất tự tin và quyết đoán. Họ luôn suy nghĩ rất chính chắn, sâu sắc về mọi thứ nên hầu như không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình.

Về tình yêu của người tuổi Ngọ: Khi đã xác định yêu ai đó, họ sẽ dồn hết tâm trí và tình yêu thương của mình cho cô ấy. Người ta thường nói những người cầm tinh con ngựa sẽ hay bay nhảy, dễ thay lòng nhưng trái lại, người tuổi Ngọ luôn cố sức vun vén cho hạnh phúc gia đình nên hiếm khi họ “liếc ngang liếc dọc” để tìm kiếm một đối tượng khác.

Lan Hương chuyển tiếp

CHUYỆN LUÂN HỒI Ở CÀ MAU (VN)

CON GÁI ÔNG CẢ HIÊU

VỪA CHẾT ĐÃ TÁI SINH

Thượng Tọa Thích Thiện Hoa đã nêu lên một số bằng chứng về hiện tượng luân hồi, những bằng chứng này được ghi lại trong cuốn Phật học Phổ Thông xuất bản tại Việt Nam vào cuối năm 1990. Sau đây là một trong những bằng chứng ấy :

Câu chuyện có thật này xảy ra tại làng Tân Việt ở Cà Mau (vùng Ðầm Giơi). Ở đây có một gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con. Người cha trong gia đình này là ông Cả Hiêu. Cô con gái trong gia đình được ông Cả Hiêu cưng chìu như trứng mỏng nhưng không may, cô bị bệnh và qua đời lúc 19 tuổi. Cả nhà ai cũng đau buồn thương xót, ông Cả Hiêu thì như điên như dại.

Câu chuyện không chấm dứt ở sự qua đời của cô gái mà lại là chuyện bắt đầu vì do sự trùng hợp nào đó, (mà sau này người trong hai vùng này mới tìm thấy thêm chi tiết).

Ở cách làng Tân Việt cũng có một cô gái bị bệnh (cùng thời gian với cô con gái ông Cả Hiêu) và qua đời. Người nhà khóc lóc, lo việc tẩm liệm thì bất ngờ ngày hôm sau cô gái sống lại làm mọi người vừa mừng vừa sợ. Cô gái tự nhiên mạnh khỏe, như không có gì gọi là đau ốm bệnh hoạn cả.

Ðiều lạ lùng là từ khi sống lại, cô gái này cứ một mực đòi người trong gia đình đưa cô đến nhà ông Cả Hiêu. Mọi người trong nhà đều hết sức ngạc nhiên vì không biết ông Cả Hiêu là ai.

Khi hỏi cô gái thì cô cho biết cha của cô chính là ông Cả Hiêu người làng Tân Việt. Người nhà nghỉ rằng cô gái có lẽ bị ma nhập, quỷ ám nên lo sợ, đi tìm thầy về cúng và trừ tà. Nhưng cô gái vẫn khăng khăng đòi đi gặp cha mình và bảo rằng cô biết rõ đường đến nhà ông Cả Hiêu. Cô mô tả đường đi, tả ngôi làng, tả cái nhà, số nhà từng chi tiết và kể về những người nhà ông Cả Hiêu nữa. Cô gái bảo ông bà Cả Hiêu là cha mẹ ruột của mình. Cuối cùng cha mẹ cô gái buộc lòng phải cùng đi theo chuyến xe đò đến làng Tân Việt để tìm hiểu thực hư.

Khi đến bến xe, mọi người xuống xe còn đang bỡ ngỡ không biết đi theo hướng nào để về nhà ông Cả Hiêu thì cô gái nói : “Ðừng có ngại, để con dẫn đường cho”. Thế rồi khi đến cổng nhà ông Cả Hiêu, cô gái tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và chạy nhanh vào nhà. Lúc đó hai vợ chồng ông Cả Hiêu đang ngồi trong nhà. Cô gái chạy lại ôm chầm lấy ông Cả Hiêu vừa khóc vừa nói : “Ba ơi, con đây ba ơi !”

Hai vợ chồng ông Cả Hiêu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì sảy ra thì vừa lúc cha mẹ cô gái bước vào nhà kể lại chi tiết câu chuyện cho vợ chồng ông Cả Hiêu nghe. Ông Cả Hiêu lấy làm lạ, cũng kể lại con gái mình bị bệnh đã qua đời cho cha mẹ cô gái nghe. Ông còn chỉ tay lên bàn thờ có đặt tấm ảnh của cô con gái con ông. Trong khi đó cô gái mới đến cứ đi lại trong nhà tự nhiên như là người đã ở đó từ lâu rồi.

Câu chuyện đến hồi kết thúc khi sự kiện đã rõ ràng; cô gái nhất quyết ông bà Cả Hiêu là cha mẹ mình và ông bà Cả Hiêu cũng chấp nhận điều đó vì cô gái nói rõ những chi tiết mà ngoài con gái ông Cả Hiêu ra khó có ai biết rõ chuyện gia đình ông bà. Thế là hai gia đình kết thân với nhau.

Dân chúng hai vùng Cà Mau, Bạc Liêu biết được một chuyện lạ lùng hãn hữu trên thế gian, họ bảo cô gái ấy có hồn là con của ông bà người làng Tân Việt nhưng thân xác lại là con của ông bà người làng Vĩnh Mỹ. Như câu chuyện Hồn Trương Ba da hàng thịt vậy.

Xuân Mai chuyển tiếp

8 PHÁP KHÍ THẦN THÔNG

QUẢNG ĐẠI CỦA BÁT TIÊN

VÀ CÂU CHUYỆN VƯỢT BIỂN LY KỲ

Nhắc đến các vị tiên trong truyền thuyết, không thể không nhắc tới tám vị tiên huyền thoại với những pháp khí kỳ lạ trong “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” (tám vị tiên vượt biển, triển hiện thần thông). Vậy, những pháp khí đó là gì, và câu chuyện vượt biển ly kỳ này bắt đầu như thế nào?

Một ngày, Vương Mẫu nương nương mở yến hội bàn đào và mời các vị thần tiên cùng tới tham dự. Bởi Vương Mẫu nương nương là nữ Thọ tinh, cai quản việc luyện thuốc trường sinh ở núi Côn Lôn, do vậy hội bàn đào của bà cũng vô cùng đặc biệt.

Tương truyền, vườn đào tiên được chính Vương Mẫu nương nương tự tay vun trồng, có hết thảy 3.600 cây. Phía trước là 1.200 cây với hoa nhỏ trái nhỏ, 3.000 năm mới chín, người ăn đào này thì thân thể nhẹ nhàng, thanh xuân mãi mãi.

Ở giữa là 1.200 cây, hoa nở thành tầng, trái thơm quả ngọt, 6.000 năm mới chín, ăn vào có thể cưỡi mây lướt gió, bay bổng lên chín tầng thiên. Phía sau là 1.200 cây, trái tím hạt vàng, 9.000 năm mới chín, người ăn vào sẽ phúc lộc cùng trời đất, thọ ngang cùng nhật nguyệt, mãi mãi bất lão trường sanh. Cho nên nói, bàn đào là vật báu của thiên địa mà chốn phàm trần không thể có.

Trong yến hội bàn đào, thần tiên khắp mười phương thế giới đều tề hội đông đủ, tiên khí bao phủ, mây lành vây quanh. Trong đó có tám vị tiên huyền thoại, được gọi là “Bát tiên”, đó là : Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hòa, và Hà Tiên Cô.

Mỗi vị tiên nhân đều có một đặc điểm khác nhau. Tào Quốc Cữu là thân thích của một vị hoàng đế thời nhà Tống; Lý Thiết Quải có dáng vẻ giống như người ăn mày với một bên chân tật nguyền nên phải chống gậy sắt; Hà Tiên Cô là một thiếu nữ trẻ xinh đẹp; Trương Quả Lão là một cụ già tóc bạc, gương mặt hồng hào, râu tóc phất phơ, thường cưỡi ngược trên lưng một con lừa; Hàn Tương Tử là cháu trai của Hàn Dũ, một nhà văn triều Đường, đặc biệt yêu thích thổi sáo; Hán Chung Ly lúc nào cũng phe phẩy một cây quạt ba tiêu, v.v. Họ đều là tiên nhân của Đạo gia, và thường tụ họp cùng nhau.

Trở lại với yến hội bàn đào, sau khi ăn uống no say, tám vị tiên nhân bái lạy Vương mẫu và cùng nhau quay về. Sau khi các vị tiên lên thuyền, Lã Động Tân đột nhiên nảy ra ý tưởng kỳ lạ, đề nghị mọi người không ngồi thuyền mà mỗi người hãy tự nghĩ cách để qua bờ bên kia.

Đầu tiên, Hán Chung Ly ném cây quạt ba tiêu xuống nước, rồi nằm ngửa trên đó để mặt quạt trôi đi. Lý Thiết Quải tháo bầu hồ lô đeo bên mình rồi thổi hơi vào, chiếc hồ lô biến thành lớn nổi trên mặt nước giống như một con thuyền, ông ngồi trên hồ lô tươi cười lướt sóng. Hà Tiên Cô cũng ném lá sen xanh xuống nước, trong phút chốc lá sen hoá lớn, Hà Tiên Cô nhẹ nhàng nhảy lên lướt sóng đuổi theo Lý Thiết Quải.

Lam Thái Hoà ném chiếc giỏ trống, đáy giỏ vừa chạm mặt nước, trong giỏ liền có hoa tươi nở rực rỡ, Lam Thái Hoà tay cầm phách ngọc rẽ sóng mà đi. Hàn Tương Tử ném ống sáo rồi nhảy lên, ống sáo trôi như một chiếc tàu, Hàn Tương Tử miệng thổi sáo, chân đạp sáo sang bờ bên kia. Lã Động Tân ném cây bảo kiếm, trong vòng một trượng, sóng biển lặng yên.

Tào Quốc Cữu tháo chiếc dây lưng ném xuống, Tào Quốc Cữu đứng trên dây giống như đứng trên lưng con rồng đang lắc đầu quẫy đuôi, rẽ sóng mà tiến. Trương Quả Lão cầm ngư cổ, từ tốn từ trong tay áo lấy ra một con lừa giấy, làm phép biến thành lừa thật rồi cưỡi ngược mà đi. Đây chính là câu chuyện “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” mà người ta vẫn nói.

Nhắc đến câu chuyện này, không thể không kể tới những pháp khí mà Bát tiên sử dụng. Những pháp khí này là “Bát Tiên ám”, cũng gọi là “Đạo gia bát bảo”, mang ý nghĩa cát tường, cũng đại diện cho tiên thuật vạn năng. Trong đó có hồ lô, phiến tử (cái quạt), bảo kiếm, liên hoa (bông sen), hoa lam (giỏ hoa), ngư cổ, địch tiêu, Âm Dương bản.

Vậy những pháp khí này có gì đặc biệt ?

Trương Quả Lão — Ngư Cổ (cái mõ hình con cá) : Bảo vật ngư cổ (trống cả) của Trương Quả Lão có thể nói về mạng sống của con người. “Gõ vào Ngư Cổ sẽ vang lên phạm âm”, nghĩa là có thể đoán trước sự việc xảy ra trong một đời người.

Lã Động Tân — Bảo Kiếm : “Kiếm hiện linh quang, yêu ma quỷ quái đều sợ hãi”, thanh bảo kiếm của Lã Động Tân có khả năng tránh tà, đuổi ma.

Hàn Tương Tử — Địch Tiêu (cây sáo ngang) : “Tử tiêu thổi ra âm thanh có thể ổn định hàng trăm cơn sóng lớn mạnh”, chiếc sáo của Hàn Tương Tử có khả năng khiến vạn vật sinh sôi nảy nở.

Hà Tiên Cô — Liên Hoa (đoá sen) : “Tay cầm liên hoa, không vướng bụi trần”, bông sen của Hà Tiên Cô có khả năng tu tâm dưỡng tính.

Lý Thiết Quải — Hồ Lô : “Trong hồ lô có chứa ngũ phúc”, hồ lô của Lý Thiết Quải có thể cứu giúp chúng sinh.

Hán Chung Ly — Phiến Tử (chiếc quạt) : “Khinh dao tiểu phiến lạc đào viên” (chỉ cần lắc nhẹ chiếc quạt cũng vui vẻ), chiếc quạt của Hán Chung Ly có khả năng cải tử hồi sinh.

Tào Quốc Cữu — Ngọc Bản (miếng ngọc) : “Ngọc bản thanh tẩy, tịnh hoá vạn vật”, tấm ngọc của Tào Quốc Cửu có khả năng thanh tẩy, tịnh hoá mọi vật chung quanh.

Lam Thái Hòa — Hoa Lam (giỏ hoa) : “Thứ cất chứa trong giỏ hoa không phải là vật của phàm trần”, chiếc giỏ của Lam Thái Hòa có khả năng quảng thông thần minh, giúp chư Thần gia tăng sức mạnh.

Những pháp khí của Bát tiên không chỉ là báu vật nơi tiên thánh, mà còn là biểu tượng cho trí huệ và pháp lực vô biên. Các vị tiên đều từ người thường mà tu thành, đều từng trải qua quá trình tu luyện gian khổ trước khi đắc Đạo thành tiên, trở thành bậc thánh thần, tiêu diêu tự tại nơi thiên giới. Câu chuyện về họ đã ghi dấu ấn cho một thời nhân thần đồng tại trong văn hoá Thần truyền phương Đông. (theo Thanh Bình)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

BÙA NGẢI CỦA ĐỒNG BÀO PA-KÔ

Logo TG tam linh

9-dinh-kim-ngan-1NGÔI ĐÌNH KIM NGÂN

NƠI TT PHÁP GHÉ THĂM

Bia đá, cột đình cổ, hoành phi câu đối, mái vòm, không gian cổ kính là những đặc trưng của ngôi đình lớn nhất trên phố cổ Hà Nội – đình Kim Ngân được Tổng thống Francois Hollande ghé thăm.

H1: Đình Kim Ngân là điểm dừng cuối cùng của Tổng thống Francois Hollande trong chuyến dạo chơi phố cổ Hà Nội chiều 6/9/2016. Đình tọa lạc tại số 42 phố Hàng Bạc (Hoàn Kiếm, Hà Nội) được xây dựng từ thời Hậu Lê, cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16, thờ ông Tổ bách nghệ (tổ trăm nghề) Hiên Viên. Đây được coi là một trong những đình cổ kính, rộng nhất trên địa bàn phố cổ.

H2: Tổng thống Francois Hollande được nghe giới thiệu sơ lược về lịch sử ngôi đình cũng như văn hóa người Việt tại đây.

9-dinh-kim-ngan-2

H3: Các giá trị chính mà di tích đình còn lưu truyền được, mang ý nghĩa lớn về mặt kiến trúc nghệ thuật và lịch sử tồn tại phát triển của một phường nghề ở Hà Nội. Vào thời Pháp thuộc, con phố Hàng Bạc có tên tiếng Pháp là Rue de changeurs (tức là phố Đổi Bạc, hay phố của những người nhiều tiền). Nơi đây quy tụ những thợ kim hoàn tinh xảo bậc nhất của đất kinh kỳ.

H4: Ngôi đình được xây theo kiến trúc truyền thống kiểu chữ “Công” với gỗ và gạch là vật liệu chính. Đại đình rộng 3 gian, hậu cung 3 gian được  nâng cao và là hậu cung kép, có sàn thờ và hệ thống vách ngăn riêng biệt.

9-dinh-kim-ngan-3

H5: Nối giữa hậu cung và tiền tế là ống muống (hành lang nối giữa hai dãy nhà) làm theo kiểu kiến trúc 2 tầng mái, mái trên liên kết với tiền tế, mái dưới tạo không gian hở của hai bên và lấy ánh sáng tự nhiên. Tấm hoành phi đặt trang trọng trên cao, hai cột lớn là hai câu đối. H6: Năm 2009, đình Kim Ngân được trùng tu tôn tạo, và nới rộng mặt bằng với diện tích 575 m2. Hiện trong đình kê những bộ bàn ghế và tấm hoành phi câu đối cổ.

9-dinh-kim-ngan-4

H7: Chiếc sập với nhiều hoạ tiết hoa văn đặt giữa đình. H8: Con công được thêu những họa tiết cầu kỳ đặt trang trọng trên lưng con ngựa phía hai bên lối đi vào hậu cung. H9: Ba tấm bia đá trên bức tường.

9-dinh-kim-ngan-5

H10: Sau ngày đánh chiếm Thủ đô (năm 1954) khuôn viên đình bị thu hẹp, tuy nhiên, tại đình vẫn lưu giữ bia đá, đồ thờ tự, tượng pháp… Về kiến trúc, ở đây vẫn còn nhiều họa tiết chạm khắc rất đẹp, độc đáo. H11: Cây cột đình cổ được kê cao lưu giữ bên trong khuôn viên đình. H12: Đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 10/2012. (theo Ngọc Thành)

9-bhutan-1BHUTAN :

THIÊN ĐƯỜNG TRẦN THẾ

GÂY TÒ MÒ

Bhutan – quốc gia nhỏ bé với hơn 700 nghìn dân được xem như viên ngọc quý nằm trên dãy Himalaya, quốc gia duy nhất tự nhận mình là vương quốc hạnh phúc, lấy chỉ số hạnh phúc của người dân để đo lường sự phát triển.

Sân bay nguy hiểm nhất thế giới, đường băng ngắn nhất thế giới

Bhutan từng là mảnh đất gây tò mò bậc nhất trên toàn thế giới bởi nó được khóa kín giữa những ngọn núi và những đường biên giới, hiếm khi hé mở cho người ngoài bước vào khám phá. Tuy nhiên, những năm gần đây, khi vị vua thứ 5 của Bhutan – người tốt nghiệp Đại học Oxford danh tiếng lên trị vì đất nước, Thiên đường cuối cùng (The last Shangri-la) trên thế giới – cách người ta gọi Bhutan bắt đầu mở cửa.

Bhutan không có chỗ cho người thích du lịch bụi hay đi phượt bởi không cấp visa tự do. Người nước ngoài chỉ có thể tới đây dưới dạng visa làm việc, kết hôn hoặc visa du lịch được xin bởi hàng trăm công ty du lịch nội địa sẵn sàng 9-bhutan-2cung cấp dịch vụ cực tốt từ đặt vé máy bay, xin giấy phép du lịch đến hướng dẫn cho du khách tham quan.

Khách Việt Nam tới Bhutan chưa nhiều nên nếu không đặt được tour du lịch của công ty thuộc sở hữu của người Việt tại Bhutan, có thể tham gia các chuyến đi với hướng dẫn viên nói tiếng Anh chuyên nghiệp.

Theo quy định của vương quốc hạnh phúc, mỗi ngày một khách du lịch phải chi tiêu cho ăn ở, đi lại 200 USD vào mùa thấp điểm (tháng 1 đến 2, tháng 6 đến tháng 8 và tháng 12) và 250USD vào mùa cao điểm. Nếu bạn có ý định đi Bhutan hãy sắp xếp hành lý để lên đường ngay bởi người dân đang kiến nghị Chính phủ yêu cầu nâng mức chi tiêu lên cao hơn nữa.

Để tới được Bhutan, hành khách có thể bắt chuyến bay từ Bangkok, Hongkong và Kalkata (Ấn Độ). Đường bay tới Bhutan chỉ có hai hãng hàng không của chính quốc gia này khai thác là Drukair (Royal Bhutan Airline) và Bhutan Airlines (hàng không tư nhân). Sân bay quốc tế Paro tại Bhutan là một trong những sân bay nguy hiểm nhất thế giới bởi nằm giữa địa hình núi non hiểm trở của dãy 9-bhutan-3Himalaya và một đường băng duy nhất cũng thuộc danh sách những đường băng ngắn nhất thế giới. Hiện tại, chỉ có 8 phi công được cấp phép bay tại sân bay này.

Hạnh phúc tới từ đâu ?

Người Bhutan vẫn rất thuần chất, người trẻ tuổi có sự hồn nhiên, trong sáng, lương thiện, người trung tuổi trải đời có sự từ bi và trí tuệ của Phật tử lâu năm. Trò chuyện với họ, chúng ta bị thu hút bởi năng lượng tích cực từ họ tỏa ra một cách âm thầm. Đi đường núi cả chục cây số, họ vẫn cười nói, ân cần giúp đỡ những người yếu mệt. Bhutan không có nhiều nơi giải trí ồn ào, sẽ rất khó để tìm một quán bar hay quán cà phê. Chính vì thế người Bhutan dành phần lớn thời gian rảnh để đọc sách hoặc tập luyện leo núi.

Hạnh phúc nơi đây còn xuất phát từ sự bình đẳng. Đàn ông và phụ nữ đều có sức khỏe và làm việc nặng ngang nhau. Trong hôn nhân, đàn ông được phép lấy 4 vợ và phụ nữ cũng được lấy 4 chồng. Tuy nhiên, đàn ông muốn lấy thêm vợ phải được sự đồng ý của người vợ đầu tiên. Mặc dù vậy, đàn ông và phụ nữ ở đất nước này sống độc thân khá nhiều, tỷ lệ ly hôn cũng xấp xỉ 50%.

Thiên đường huyền bí

Cũng tại quốc gia Phật giáo thống trị này, hơn 40% đàn ông đi tu. Ở các tu viện tôi đến thăm, gặp rất nhiều trẻ em, các em đều đi tu từ nhỏ. Đến năm 18 tuổi, 9-bhutan-4các em sẽ được tự lựa chọn tiếp tục tu hành hay trở về với cuộc sống đời thường.

Điều đáng chú ý là đền thờ và tu viện của Bhutan không bao giờ thiếu kinh luân xoay (mani hay còn gọi là bánh xe luân hồi). Đây được coi là pháp bảo của Mật tông. Người dân Bhutan thường tới quay đủ kinh luân xung quanh đền, miệng niệm chú Ommani padme hung. Người ta tin tưởng mạnh mẽ rằng, chỉ cần chạm tay vào và quay kinh luân thôi cũng đã tịnh hóa được vô số tội lỗi và tích tập được một lượng công đức.

Một trong những địa điểm nhất định phải tới ở Bhutan là ngôi đền Paro Taktsang hay Tiger’s nest (Hang Cọp) nằm chơi vơi trên vách đá của thung lũng Paro – nơi Guru Rinphoche (ngài Liên Hoa Sinh – người truyền bá đạo Phật vào Bhutan) đã ngồi thiền ba năm, ba tháng, ba tuần, ba ngày và ba giờ vào thế kỉ thứ VIII. Đây cũng là ngôi đền đặc biệt linh thiêng đối với Phật giáo vùng Tây Tạng, 9-bhutan-5hành thiền tại đây dù chỉ một phút thôi cũng có thể đạt được kết quả ngang với hành thiền hàng tháng ở những nơi khác.

Để tới được đây, du khách cần leo núi khoảng 2-3 giờ, hang núi nơi ngài Liên Hoa Sinh thiền chỉ được mở cửa một lần/năm vào tháng 2 để mọi người vào chiêm bái. Thung lũng Paro buổi sáng cũng là địa điểm năng lượng phát ra mạnh mẽ, những người nhạy cảm có thể lập tức cảm nhận được ngay vì thế nếu có thời gian, hãy dậy sớm, ngồi thiền và kết nối năng lượng của bạn với nguồn năng lượng khổng lồ này.

Nếu bạn là người thích mua sắm, tốt nhất đừng tới Bhutan. Đất nước này chỉ hợp với những người có khả năng tài chính, thích đi du lịch, yêu thích khám phá văn hóa, đạo Phật, có sức khỏe, sức bền và chịu đựng được đi bộ đường dài…(theo Thanh Hương báo Giao Thông)

Logo KH huyen bi

9-bua-yeu-1BÙA YÊU NGẢI YÊU CỦA

ĐỒNG BÀO PA KÔ

VÀ VÂN KIỀU

Đó là một trong những bí mật lớn nhất của đại ngàn Trường Sơn. Nhưng có những câu chuyện của chính những người biết “Bùa yêu” làm bởi loại cây cỏ lạ lùng. Một chiều mưa gió trên miền núi cao thuộc huyện A Lưới huyện Nam Đông – Nơi có bà con dân tộc Pa Kô.Vân Kiều sinh sống thuộc TT Huế Tôi vô tình được những người già trong thôn kể về những câu chuyện “Bùa yêu” của người Pa Kô, Vân Kiều từ bao đời nay.

Sẽ yêu cho đến tận lúc chết !

Anh Hồ Ray, trưởng thôn vừa là người dẫn đường, cũng vừa là phiên dịch viên cho Tôi, bởi như Anh Ray nói : “Hầu hết người già ở đây đều không biết tiếng Kinh, và cũng chỉ có những người già mới biết bí mật của “Ngãi Yêu” chứ người trẻ không ai biết cả !”.

Dẫn tôi vượt qua mấy con suối nhỏ, len lỏi vào trong vườn rẫy của bà Hồ Tuyen, 9-bua-yeu-2Anh Ray vừa đi vừa nói : “Người Pa Kô, Vân Kiều biết nhiều Bùa Ngải, nhưng chỉ có “Ngãi yêu” được nhiều người nghe, chứ Ngải độc thì không thể nói cho ai biết được ! Bà Tuyen ở đây biết nhiều Ngải lắm đó !”.

Căn lều chơi vơi giữa rừng chiều sau cơn mưa như buồn hơn, và càng làm cho sự huyễn hoặc tăng thêm khi Tôi vào nhà bà Hồ Tuyen. Cái tuổi 70 phảng phất trên nhan sắc của một con người đã qua biết bao mùa rẫy khắc khổ. Bà ngồi ăn trầu bên bếp lửa, thấy Anh Ray và Tôi vào bà vội kéo gọn mấy thanh củi cháy dở trong bếp lửa cho ngọn lửa bùng lên tỏa ấm căn lều.

Một lá “Ngải yêu”

Bà Hồ Tuyen cưới được chồng nhờ một cây “Ngải bí mật” ở trong rừng. Qua phiên dịch Anh Hồ Ray, bà kể : “Chỉ cần 1 lá Ngải thôi, mang về lấy nước sương trên lá cây, chà nát lá Ngải bằng tay rồi thấm nước sau đó lén bỏ vào túi áo quần, dưới chỗ nằm, hoặc xát lên người, thế là sẽ yêu cho đến tận lúc chết. Nhưng không được để “nó” biết, nếu “nó” biết sẽ phản tác dụng. Mỗi năm lại phải bỏ Ngải một lần và không được để người ruột thịt khác giới “dính” phải Ngải thì có tội lắm !”.

Già Làng Hồ A Tá Khỉn, 81 tuổi, cho biết thêm : “Cây Ngải hiện có đến mấy chục loại cùng họ. Trong đó có mấy loại cây có khả năng thông linh giữa con người và tạo hóa, là nguyên liệu chính để người Pa Ko, Vân Kiều xưa sử dụng làm “Bùa yêu”, 9-bua-yeu-3vẫn là điều bí ẩn muôn đời mà chỉ một số ít người biết được’!.

Trước, tại ngôi làng này, có một người đàn bà rất giỏi làm” Bùa yêu”, đó là bà Hồ Y Ko Nut (87 tuổi), có 4 đời chồng, 8 con, 16 cháu. Bà từng làm Ngải yêu cho hơn mấy chục người phụ nữ Pa Ko, Vân Kiều ở nhiều làng, mỗi lá” Ngải yêu” được đổi lấy vải,heo,gà,lúa ,ngô….

Nhận diện “Ngải yêu”

Phải mất cả buổi vận động, thuyết phục bằng tất cả sự chân thành, cộng với sự đảm bảo của “cán bộ trưởng thôn” Anh Hồ Ray, bà Tuyen mới hé lộ bí mật về Cây Ngải nuôi trong rừng của bà. Với lấy đồ nghề đi rừng, bà bước xuống cầu thang và nói với Anh Hồ Ray mấy câu bằng tiếng Pa Ko, chỉ thấy Anh Hồ Ray gật đầu rồi dặn Tôi không được đi theo.9-bua-yeu-4

Khoảng 1 giờ sau, bà Hồ Tuyen trở về và trên tay chỉ một có một bụi cây không thân, lá màu xanh hình bản kiếm dài vài tấc,

có củ nhỏ giống như loài địa lan. Tôi săm soi xem liệu đó có phải là cây “Ngải yêu” của bà Hồ Tuyen không. Anh Hồ Ray nói nhỏ : “Chỉ có mình bà Hồ Tuyen là biết loài cây này sống ở đây, ngoài ra không ai biết cả”.

Gia đình chị Hồ Vay Rom.

Bà Hồ Tuyen cho biết, trong làng có một người được bà cho Ngải, đã lấy được người chồng như ý mình là chị Hồ Vay Rom hơn 40 tuổi, đã có 3 đứa con.

Hồ Vay Rom kể lúc mới mười sáu tuổi, chị bắt chồng nhưng chưa kịp thì “chồng” chị ngã núi chết trong một lần đi săn. Dùng Ngải của bà Hồ Tuyen cho, chị cưới được người chồng thứ hai. Cách bỏ Ngải của bà Hồ Tuyen cũng đơn giản, chỉ xoa ngải lên tay và lưng “đối tượng”.

9-bua-yeu-5Hồ Tuyen còn kể, những năm sau giải phóng, trước cảnh mấy thầy cô giáo người Kinh tình nguyện lên đây dạy chữ cho đồng bào mà quên cả tuổi xuân nên nhiều năm không ai dám cưới, bà Hồ Tuyen đã cho Ngải để họ về xuôi tìm được vợ, chồng…

Theo các nhà khoa học, các loại thảo dược được đồng bào nuôi trồng, chăm sóc, bào chế và sử dụng theo phương pháp bí truyền, trở thành các loại ngải độc hại người hoặc ngải thuốc cứu người. Ngải rọm có công dụng tránh thai, phá thai, chữa bệnh máu trắng ở phụ nữ. Râu cọp là một loại Ngải cực độc. Lá ngón cũng vậy, chính là cây “đoạn trường thảo”. Nhân sâm Ngọc Linh nổi tiếng vốn được phát hiện từ loại Ngải được đồng bào gọi là cây “thuốc giấu”.

Riêng cây “Ngải yêu” lại là một loại Ngải đặc biệt. Còn công dụng “yêu”, là do nó có chứa chất kích thích tình dục, có hương liệu, khi bào chế, sử dụng với các thủ thuật đặc biệt sẽ để lại “mùi” và sự “thèm thuồng” khó quên, khó cưỡng lại. 9-bua-yeu-6Ngoài yếu tố tâm linh truyền thống tồn tại ở các tộc người còn khá gần với tự nhiên nguyên thuỷ, thì Ngải vẫn giải thích được bằng khoa học. Đó đều là cây thảo dược.

Bùa ngải chỉ là xúc tác ban đầu nối kết 2 người, còn về sau, thì như quy luật hôn nhân gia đình, sự gần gũi sẽ kết dính thành tình nghĩa, thành hạnh phúc, lúc đó đâu cần đến loại ngải kia.

Tiến sỹ Văn hóa Đào Phong Vinh cho biết : “Chỉ đáng tiếc, việc nghiên cứu khoa học để khai thác nguồn thảo dược quý hiếm, bí truyền của đồng bào dân tộc các khu vực trên vẫn chưa được thực hiện bởi các nhà dược học và dân tộc học. Nếu được, đó sẽ là một nguồn tài sản vô giá !”

Tr bang hoangRừng sâu núi thẩm không kém các chuyện về Bùa Ngãi. Tui được duyên gặp duyên nên được tiếp cận học được các loại Bí truyền nầy ! Mong giúp được các Bạn đang cần hàn gắn hôn nhân vì có người thứ 3 chen vào. Giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau hơn, giúp các bạn cần tìm ý trung nhân… Hãy suy nghĩ thật kỷ trước khi liên hệ với Tôi các Bạn nhé !

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

1a LogoTuongso

Tr Thay boi 4NHỮNG DẤU HIỆU TRỜI ĐỊNH

BẠN SẼ CÓ SỐ HƯỞNG LỘC

Dưới đây là những dấu hiệu cực kỳ hiếm gặp trong lòng bàn tay, vì thế người sở hữu chúng được xem là đã được trời định sẵn số phận may mắn hơn người.

H1: Nếu ở cuống ngón tay cái có những vòng tròn nối đuôi nhau tạo thành một chuỗi dài thì đó gọi là đường Nhẫn gia tộc. Người sở hữu dấu hiệu này sẽ sống sung sướng, hưởng thụ cả đời nhờ phúc từ gia đình, có thể là gia đình của mình hoặc gia đình bên vợ/chồng. Tuy nhiên bạn cần cẩn thận với miệng lưỡi thế gian và sự ganh ghét của những người xung quanh.

9-dau-hieu-1H2: Cũng nằm ở cuống ngón tay cái, đường Cổ cồn trắng gồm hai đường vòng cung song song nằm vắt ngang qua phần bắp thịt. Đây là dấu hiệu của người có tố chất lãnh đạo và tài năng xuất chúng, thường đứng đầu trong nhiều lĩnh vực và khó lòng chịu thua kém ai. Họ là những người dễ đạt được thành công trong cuộc sống nhờ tài năng, kiên trì và nỗ lực.

H3: Thông thường người ta chỉ có một đường Trí tuệ trong lòng bàn tay, nhưng nếu ai may mắn sở hữu hai đường, gọi là đường Song trí, thì người đó là thiên tài bẩm sinh, trí thông minh hơn người. Việc gì họ cũng làm giỏi hơn người khác và thành công nhanh hơn người khác. Vấn đề duy nhất của họ là sự tập trung.

H4: Nếu một người mà nắm tới 3 đường Sinh mệnh trong lòng bàn tay, gọi là đường Sủng ái, thì cuộc đời người đó luôn nhận được sự yêu mến, giúp đỡ hết mình từ người khác. Cuộc sống và công việc của họ luôn gặp được quý nhân phù trợ nên thuận lợi đủ đường, 9-dau-hieu-2đường công danh sự nghiệp rộng thênh thang. Có điều họ thường gặp khó khăn trong việc tự mình đưa ra những quyết định quan trọng.

H5: Người có đường Hi vọng trong lòng bàn tay thì cuộc sống luôn gặp nhiều may mắn, ít sóng gió hay biến cố, đời sống tinh thần và tình cảm luôn thuận lợi, không phải suy nghĩ hay lo âu nhiều. Con đường công danh hay sự nghiệp của họ cũng rộng mở nhờ biết xác định mục tiêu và quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.

H6: Người may mắn sở hữu đường Thập thần là người có trí tuệ và thông minh bẩm sinh, thiên hướng nghệ thuật mạnh mẽ, 9-dau-hieu-3có óc sáng tạo và tố chất nghệ sĩ. Tuy nhiên những người này thường rất nhạy cảm, tâm lý tình cảm không được ổn định nên đôi khi hơi bốc đồng và làm việc theo cảm hứng là chính.

H7: Người nào nắm chỉ tay hình con cá trong lòng bàn tay, gọi là đường Mắt cá, thì coi như đã nắm chặt phú quý, tài lộc trong tay. Đây là đường chỉ tay rất hiếm gặp, vì vậy ai sở hữu nó được xem là dấu hiệu trời ban, đường công danh thênh thang rộng mở. Có điều những người này hay suy nghĩ nóng vội, hấp tấp, dễ làm hỏng chuyện.

H8: Đường Minh tinh là dấu hiệu của những người thành công, bất kể xuất phát điểm thấp đến đâu. Những người này có thể không thông minh nhưng rất khôn ngoan và kiên trì, biết cái gì là tốt, là lợi cho mình,9-dau-hieu-4 lại có tố chất lãnh đạo và biết tạo dựng mối quan hệ tốt với những người xung quanh nên làm việc gì cũng thuận lợi.

H9: Đúng với tên gọi của nó, người có đường Hài hước thường rất vui tính, dí dỏm, thông minh và khôn khéo. Cuộc sống của họ là để mang lại tiếng cười cho người khác, nhờ thế họ cũng hay được người đời yêu mến, giúp đỡ. Có điều những người này bề ngoài vui vẻ nhưng trong lòng đôi khi gặp nhiều phiền muộn.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

Logo su kien 1

9-le-via-1ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

TẠI TÂY NINH

Tây Vương Mẫu, còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần từ bi trong truyền thuyết Trung Quốc, có diện mạo là một bà già hiền lành.

Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng bàn đào là giống đào tiên, ăn vào trẻ mãi không già. Có thuyết nói rằng thuở hỗn mang, tinh tuý trời đất sinh ra Nguyên Thuỷ Thiên vương, rồi sinh Thái Nguyên ngọc nữ. Thái Nguyên ngọc nữ sinh ra Thiên hoàng và Tây Vương Mẫu, Thiên hoàng sinh Địa hoàng, Địa hoàng sinh Nhân hoàng.

Truyền thuyết khác : Tây Vương Mẫu tức Dao Trì Kim Mẫu cai quản Tây Côn Lôn, cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình, Ngọc Hoàng Đại Đế là con thứ 10 (9 người anh trước bị Hậu Nghệ bắn chết) của bà và Thiên Đế, sau khi Thiên Đế bị Ma tộc hại, Ngọc Hoàng Đại Đế lên thay. Trong Tây Du Kí có nói 9-le-via-2Tây Vương Mẫu có 1 vườn bàn đào, sau bị Tôn Ngộ Không ăn trộm gần hết.

Có thuyết nói rằng Tây Vương Mẫu họ Dương tên Hồi và còn có tên là Uyển Cấm (Thiên Dao). Bà cùng chồng là Đông Vương Công (Hạo Thiên Thiên Đế) hòa hợp hai khí âm dương tạo ra trời đất thiên địa, họ là chủ nhân và cai quản mọi vật trên thế gian.

Theo giáo lý Cao Đài thì Tây Vương Mẫu do nhị khí âm dương mà thành, quyền phép vô biên vô giới, hữu hữu vô vô, nắm trọn thiên điều trong tay mà tác thành Càn Khôn thế giới, còn gọi là Kim Bàn Phật Mẫu. Bà cai quản các nữ thần còn chồng bà cai quản các nam thần.

Trong Tam Thế bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo, khi lên trời đều phải bái Mộc Công (Đông Vương Công), sau bái Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) mới có thể lên chín tầng mây và nhập vào trong Tam Thánh.

Tây Vương mẫu sau khi dùng phép thuật giúp cho Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu, còn tặng vua Thuấn địa đồ và phái sứ giả dạy cho cách sử dụng Bạch Ngọc địch (sáo) mà thổi thì hàng năm sẽ mưa gió thuận hòa,mùa màng sung túc.

9-le-via-3

Tây Vương mẫu có tất cả 9 người con trai, 23 con gái, nên phụ nữ muốn sanh con gái thì thường cầu khấn bà. Dân gian cho rằng Tây Vương Mẫu có thuốc Trường Sinh Bất Lão, sau đó đã tặng nó cho Hằng Nga.

Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 3 là ngày sinh Tây Vương Mẫu, và cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, nên cúng tế bà.

Đạo Cao Đài lấy ngày rằm tháng 8 là ngày Hội Yến Diêu Trì tức là ngày hội của Tây Vương Mẫu với con cái của Người, chứ không có ngày đản sanh.

9-le-via-4

Ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai ngày lễ quan trọng nhứt :

– Một là ngày Vía Trời hay Vía Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ vào ngày Mồng 9 tháng Giêng âm lịch.

– Hai là ngày Vía Đất hay Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU nhằm ngày tiết Trung Thu Rằm tháng 8 âm lịch.

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ thuộc tượng CÀN (Càn vi Thiên) và trong Bát Quái Tiên Thiên tượng Càn đứng số 1 cho nên ngày vía NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cũng cử hành vào tháng thứ nhứt hay tháng Giêng của mỗi năm âm lịch.

9-le-via-5

Còn Đức KIM TRÌ KIM MẪU thuộc tượng KHÔN (Khôn vi Địa) đứng số 8 cho nên vì lẽ đó ngày vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU được cử hành vào tháng 8 âm lịch.

Theo Bát Quái Tiên Thiên thì Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, và Khôn 8.

Kinh cúng trong dịp ngày lễ Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU có câu :

“ Trung Thu tháng Tám đêm rằm,

Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần”.

Ý nghĩa ngày vía Diêu Trì Kim Mẫu

Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ 9-le-via-6trong dịp Trung Thu.

Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng.

Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan. Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.

Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.9-le-via-7

Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào. (theo Chơn Tâm và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

Logo Phong su

Tr an uong 2ĂN CƠM CHAY XỨ ĐẠO CAO ĐÀI,

NGON THẤU TRỜI !

Chỉ mỗi cây chuối mà các dì, các chị ở Tòa Thánh Tây Ninh chế biến được mấy món, nào là nấu canh chua, bóp gỏi, xào với nghệ, ăn sống với tương hột,…

Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.

Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa 9-com-chay-1quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.

Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.

Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.

9-com-chay-2

Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.

9-com-chay-3

Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.

Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.

9-com-chay-4

Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.

Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.

9-com-chay-5

Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.

9-com-chay-6

Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.

9-com-chay-7

Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo bay gio ke

Tr cau hoi 2CẶP KHÁNH ĐÁ CỔ Ở

NGÔI CHÙA NGHÌN NĂM TUỔI THỜI LÝ

Chùa Long Cảm (Thanh Hóa) được xây dựng từ thời nhà Lý hiện lưu giữ đôi khánh đá tiếng ngân như chuông đồng. Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn ở thôn Trang Các (xã Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa).

Tuy nhỏ nhưng Long Cảm tự có cảnh trí rất đẹp với lối kiến trúc cổ kính và được bao bọc bởi đồng ruộng và làng mạc thôn quê yên bình.

Theo sư thầy trụ trì Thích Đàm Quang, Long Cảm là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Thanh. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này phù trợ, ban thêm sức 9-khanh-da-1mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ sai dựng ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.

Trải qua gần 10 thế kỷ, nhiều triều đại phong kiến đời sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách cũng coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét nghìn năm, được cung tiến qua các lần trùng tu.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, ấn tượng nhất với phật tử và du khách bốn phương khi đến vãn cảnh chùa Long Cảm là cặp khánh đá cổ đặt ở sân chùa. Hai chiếc khánh rất lớn, nặng khoảng 300-400 kg, cùng màu đá xanh xám, được treo ngay ngắn trên các trụ đá và đặt song song nhau.

Điểm khác của chúng là một chiếc có hoa văn chạm trổ hình đám mây, một chiếc đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Căn cứ vào các thư tịch cổ và văn tự khắc trên đôi khánh đá, các nhà nghiên cứu lịch sử đều có chung nhận định, chúng không có chung nguồn gốc cũng như niên đại.

Theo sư thầy Thích Đàm Quang, chiếc khánh lớn có họa tiết hoa văn vốn không phải của nhà chùa. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa Long Cảm cung tiến nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân.

9-khanh-da-2Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang từng mấy chục năm làm trụ trì ở đây cũng không rõ có từ bao giờ. “Không có cứ liệu rõ ràng nhưng thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng chùa, tức là đã nghìn năm nay rồi. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, niên đại chiếc khánh cổ gần hơn, vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300-400 năm trước. Trông nó giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, có thể do sử dụng nhiều…”, thầy Đàm Quang nhận định.

Điểm khác biệt lớn nhất của hai chiếc khánh cổ còn nằm ở tiếng ngân vang. Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, với chiếc khánh đá cũ chỉ cần lấy tay vỗ vỗ sẽ phát ra những tiếng kêu trầm bổng ngân dài. 9-khanh-da-3Nếu dùng vồ gỗ gõ mạnh, nó ngân như tiếng chuông đồng, vang xa. Còn với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra tiếng “lạch, cạch” trầm đục.

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo lý giải, sự khác nhau về âm thanh của đôi khánh cổ là do chất liệu đá. “Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”, ông Bảo nói.

Ông Bảo cho hay, núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (TP Thanh Hóa), cách chùa Long Cảm gần 30 km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, núi từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng nghìn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá để làm khánh, bia, tạc tượng và nhiều vật dụng khác.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất xa xưa. Trong cuốn Vân đài loại ngữ, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng : “Hoạch Sơn loại đá kêu vang / Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi / Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút 9-khanh-da-4trần ai lạc vần…”.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, khánh là một trong những pháp khí cổ xưa của Phật giáo. Hiện nay, không còn nhiều chiếc khánh đá cổ như ở chùa Long Cảm. “Âm thanh của khánh đá có tác dụng rất mầu nhiệm với người tu thiền. Các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên cũng đủ làm cho các ngài thức giấc” sư thầy Đàm Quang nói.

Hiện du khách thập phương vẫn thường tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá cổ mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người gõ khánh để cầu may mắn, bình an hay cầu tự. (theo Lê Hoàng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp