THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

VỊ TRÍ 5 NỐT RUỒI XUI XẺO

MÚA BÓNG RỖI Ở NAM BÔ

Múa bóng rỗi còn được gọi là múa bóng hoặc bóng rỗi, là một loại hình nghệ thuật dân gian hết sức độc đáo của người Nam bộ. Loại hình này có từ thời khẩn hoang, lập ấp, theo dấu chân của các tiền nhân trong công cuộc Nam tiến cách đây hơn 300 năm.

Clip : múa bóng rỗi  :

https://youtu.be/j-yOODvPdw8

https://youtu.be/pMVvMi7P_RU

Múa bóng rỗi thường gắn với các dịp cúng bà (bà Chúa Xứ, bà Hỏa, Ngũ Hành nương nương…). Đặc biệt, ở một số ngôi đình Nam bộ, nhất là những ngôi đình có miễu bà Chúa Xứ thì múa bóng rỗi diễn ra hàng năm, thu hút đông đảo người dân từ các nơi đến tham dự.

Nghệ thuật múa bóng rỗi có liên quan chặt chẽ đến tục thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung và ở Nam bộ nói riêng. Các vị nữ thần được thờ ở Nam bộ là kết quả của quá trình giao lưu, hỗn dung văn hóa của nhiều lớp cư dân người Khmer, Việt, Chăm, Hoa.

Chẳng hạn, bà Chúa Ngọc vốn gốc là vị nữ thần Pô I Nư – Nagar – bà mẹ xứ sở của người Chăm đã được Việt hóa. Khi người Việt đặt chân vào Trung và Nam Trung bộ, theo truyền thống thờ Mẫu sẵn có từ quê nhà, người xưa đã Việt hóa vị thần Chăm này bằng tên Thánh Mẫu Thiên Y Ana, mà dân gian gọi ngắn gọn là bà Chúa Ngọc.

Còn bà Chúa Xứ (Châu Đốc) và Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) lại là kết quả giao lưu và hỗn dung tín ngưỡng giữa người Việt và người Khmer. Với tâm thức thờ Mẫu từ quê hương Bắc bộ và Trung bộ, người Việt vào Nam bộ đã bắt gặp tục thờ nữ thần của người Khmer là bà Neang Khmau – nữ thần Đất và tạo nên hình tượng bà Chúa Xứ, được dân gian thờ phụng từ phạm vi vùng, làng tới gia đình.

Đây là vị nữ thần có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp nhất ở Nam bộ. Còn bà Thiên Hậu thì khắp Nam bộ nơi nào cũng có chùa, miễu, cung thờ. Vị nữ thần này do những người Hoa di cư mang tới hồi thế kỷ XVII.

Về phương diện nghi lễ, nếu nơi nào có tục thờ nữ thần thì thường có diễn xướng múa bóng. Đây là kết quả của giao lưu văn hóa Chăm – Việt, cụ thể hơn là người Việt đã Việt hóa điệu múa pajao của các bà bóng người Chăm để tạo ra múa bóng. Nghi thức múa bóng của người Chăm quy định người múa bóng phải là thiếu nữ đồng trinh hoặc người phụ nữ đẹp. Còn ở Nam bộ, phần lớn những người hành nghề múa bóng là người pêđê trẻ tuổi hoặc phụ nữ lớn tuổi. Những người này cho rằng việc hành nghề của họ là do có căn, có số, hay còn gọi là căn đồng. Các bà bóng nếu gốc là nam thì đều ăn mặc, đi đứng, nói năng, cư xử như một phụ nữ.

Múa bóng rỗi có hai bộ phận là múa bóng và hát rỗi. Múa thông qua những động tác tạo hình biểu hiện sự kính dâng lễ vật lên thần linh. Đây là phần lúc nào cũng được mọi người quan tâm chờ đón. Một số bà bóng chịu khó tập luyện nên trình diễn những động tác múa khá điêu luyện, khéo léo như làm xiếc, khiến người xem lúc nào cũng hồi hộp, tò mò chờ đợi. Múa dâng lễ vật lên thần linh thường có các điệu sau:

Người ta dùng một chén đựng đầy bông trang đưa cho bà bóng. Bà bóng tiếp nhận chén, bắt đầu thể hiện những điệu múa uốn lượn cơ thể, tay chân, miệng hát rỗi theo nhịp sên, phách của ban nhạc. Động tác cuối cùng của múa dâng bông là để chén bông trên đầu, múa lượn bằng cổ đôi ba vòng rồi quỳ xuống. Sau đó có người bước đến lấy chén bông trên đầu đặt lên bàn thờ.

Mâm vàng là một thứ đồ mã đã dán trên chiếc mâm nhôm. Người ta dùng các loại giấy khác màu để tạo hình ngôi tháp. Tùy theo địa phương, theo lò của các bà bóng mà hình dạng, màu sắc của mâm vàng có những sắc thái khác nhau. Mâm vàng hình tháp là lễ vật mang tính linh thiêng để dâng lên các nữ thần.

Múa mâm vàng có nhiều động tác, như dùng tay cuộn để dâng mâm, đội mâm lên đỉnh đầu, trên trán, trên cằm, trên môi, chuyển mâm trên vai, trên lưng, thậm chí dùng bàn chân để dâng mâm. Hình tượng múa mang tính thần kỳ, còn nghệ thuật gần với xiếc tạp kỹ. Khi một người múa dâng mâm thì có vài người khác chơi đàn cò, kèn, thanh la, trống, tạo nên không khí vừa linh thiêng vừa sôi động. Sau khi múa xong, người ta đem đốt ngôi tháp đó đi.

Một mâm trầu cau được phủ vải đỏ sẵn sàng để bà bóng bưng lên và múa. Múa xong thì đem lộc này dâng thần linh và phát cho mọi người để lấy lộc. Cũng có người dùng tiền để mua lộc này.

Tiết mục này lúc nào cũng gây được sự hứng thú cho người xem. Bà bóng dùng bảy, tám chiếc ghế chồng lên nhau, rồi dùng miệng cắn chân ghế và múa. Mỗi động tác uốn éo của bà bóng thường nhận được một tràng pháo tay và người ta thi nhau để tiền vào lòng những chiếc ghế đó như là sự tưởng thưởng cho công sức và sự khéo léo của người múa.

Bà bóng dùng hai nhánh bông huệ dài, một cắn ở miệng, một để thẳng đứng, đầu của nhánh thẳng xuống tiếp xúc với đầu của nhánh còn lại. Trên các nhánh huệ này có rất nhiều tiền của người xem gắn vào để thưởng công. Khi thể hiện những điệu múa thuần thục, nhuần nhuyễn, bà bóng di chuyển liên tục mà nhánh huệ không bao giờ rớt.

Động tác này cũng gần như một tiết mục xiếc của bà bóng. Bà bóng dùng miệng cắn một đầu cán dao, mũi dao đưa ra ngoài. Năm, sáu cây dao còn lại được chất thẳng đứng trên con dao nằm ngang. Bà bóng di chuyển nhiều lần, múa đẹp mà dao cũng không bị rớt.

Động tác này làm người múa khá tốn sức, đồng thời còn đòi họ sự điêu luyện nữa. Quả là nguy hiểm khi một bà bóng đã ngoài 60 tuổi dùng tay nâng khạp quay nhiều lần, sau đó chỉ đặt một cạnh của miệng khạp lên trán mình rồi buông tay ra, lắc lư điệu múa. Thực hiện thành công điệu múa này, bà bóng nhận được nhiều tiền hơn cả. Người ta thi nhau thảy tiền vào khạp để thưởng công.

Đây là một màn trình diễn độc đáo. Người múa dùng một chai rượu, trong đó phân nửa có sẵn rượu, để nằm ngay giữa đỉnh đầu. Người múa cứ lắc lư cơ thể, di chuyển qua lại mà chai rượu không bị lăn xuống đất. Sau nhiều động tác múa, nhảy khá điệu nghệ, người múa quỳ xuống, từ từ cúi đầu. Người khác cầm một cái dĩa, trong đó có một cái ly nhỏ để trước mặt người múa. Người múa cúi đầu sao cho rượu trong chai chảy được vào ly (không hề dùng tay) và chai rượu cũng không bị rớt xuống.

Ngoài tài nghệ múa, bà bóng còn có khả năng sáng tác lời ca theo yêu cầu của gia chủ, của người chủ tế… theo nền nhạc đệm có sẵn. Người hát rỗi mặc lễ phục đứng trước bàn thờ nữ thần, tay cầm trống nhỏ, gọi là trống rỗi, vừa gõ làm nhịp cho hát mời nữ thần về dự nghi lễ. Lời hát tha thiết ca ngợi các vị nữ thần, mời các vị về ngôi đền để chứng kiến cảnh mọi người đang trông chờ và phù hộ, độ trì cho họ.

Múa bóng rỗi là một nghệ thuật diễn xướng và hát để thể hiện truyền thống tri ân, uống nước nhớ nguồn của con người đối với thần linh, đối với tổ tiên và những người đã khuất. Trang phục của các bà bóng vì thế cũng rất cầu kỳ, đầy đủ áo, mũ, váy, khăn choàng cổ, ngạch quan. Việc trang điểm cũng kỹ, đậm phấn son. Đây quả là một nét đẹp văn hóa theo hình thức diễn xướng nghi lễ dân gian, thể hiện được giá trị văn hóa nghệ thuật cao, cần được bảo tồn và phát huy. (theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Xuân Mai chuyển tiếp

VÒNG ĐÁ PHONG THỦY

ĐEO TAY PHẢI HAY TRÁI

ĐỂ MAY MẮN, TRÁNH HỌA?

Vòng đá phong thủy là vật phẩm mang lại may mắn. Vậy, đeo vòng phong thủy thế nào để phù hợp với bản mệnh và ngũ hành của gia chủ ?

Vòng đá phong thủy không chỉ là đồ vật trang sức mà còn được xem là vật phẩm khai vận, mang lại những điều may mắn cát tường theo quan điểm của các chuyên gia phong thủy. Nhưng khi đeo vòng tay phong thủy cần phải chú ý rất nhiều những cấm kỵ trong ngũ hành. Sau đây là một số lưu ý khi đeo vòng tay phong thủy.

Phong thủy có quan niệm “trái vào phải ra”, có nghĩa là tay trái là “tay sạch” còn tay phải là “tay xú uế” vì mọi người thường dùng tay phải để làm mọi việc bao gồm cả những việc vệ sinh không được sạch sẽ. Chính vì lý do đó tay phải cần được làm sạch; còn tay trái được coi là “thuần khiết”, vì vậy khi đeo vòng phong thủy nên đeo ở tay trái, có như vậy mới hấp thu được những năng lượng tinh khiết của vòng.

Còn theo quan niệm dưỡng sinh của Trung y, việc điều hòa âm dương rất quan trọng, vòng tay phong thủy có tác dụng cân bằng khí huyết rất tốt đặc biệt là vòng ngọc phỉ thúy. Vòng ngọc phỉ thúy chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng. Khi đeo vòng ngọc phỉ thúy, con người sẽ hấp thụ được những nguyên tố quý báu đó, giúp cho khí huyết lưu thông, thần kinh ổn định và rất có lợi cho tim. Tim nằm ở bên trái nên đeo vòng phong thủy ở bên trái.

Còn xét theo yếu tố sinh hoạt đời thường, đa phần mọi người dùng tay phải nhiều hơn tay trái cho nên đeo vòng phong thủy ở bên trái an toàn hơn so với bên phải.

Do mọi người thường sử dụng tay phải để làm mọi việc nên các khớp và gân tay phải thường to hơn tay trái, nên phụ nữ thường đeo vòng ở tay trái để tránh việc khó khăn khi tháo và đeo vòng. (theo Bảo Khanh)

Xuân Mai chuyển tiếp

NHỮNG ĐỒ VẬT

KHÔNG NÊN

ĐỂ ĐẦU GIƯỜNG

vừa tổn thọ vừa sống không “yên”

Đừng tưởng để gì ở đầu giường cũng được nhé ! Có ngày rước họa vào thân như chơi đấy. Theo các chuyên gia phong thủy, phòng ngủ nói chung và giường ngủ nói riêng là nơi đại kị đối với việc bố trí đồ đạc lung tung. Không chỉ ảnh hưởng đến tuổi thọ, những đồ vật đặt sai chỗ ở đầu giường còn khiến cuộc sống của bạn khó có lúc bình yên.

1/- Dao, kiếm đồ sắc nhọn : Những vật này tượng trưng cho tà khí, mang lại điềm báo về sự chết chóc và tang tóc. Nhiều chuyên gia phong thủy cho rằng, Dao, kiếm thường mang theo bên mình sát khí rất nặng nên nếu để ở đầu giường bạn có thể bị nặng đầu, chóng mặt và gặp ác mộng khi ngủ. Chúng sẽ khiến bạn luôn gặp áp lực trong công việc, ảnh hưởng đến các mối quan hệ vì người luôn “đằng đằng sát khí”.

2/- Di ảnh người quá cố : Đầu giường ngủ không để di ảnh người đã mất vì dễ bị bong đè , mộng mị. Những người yếu bóng vía hoặc đang có vấn đề sức khỏe càng phải cẩn thận với cách sắp xếp này vì chúng có thể khiến thể trạng của bạn thêm mệt mỏi do âm khí vây quanh. Tốt nhất, nên đặt di ảnh người quá cố ở một nơi được thờ riêng với sự tôn nghiêm cần có.

3/- Gương : Trong phong thủy, gương là đồ vật chứa nhiều yếu tố nhạy cảm nhất. Nếu đặt gương ở đầu giường bạn sẽ dễ gặp ác mộng, bị bóng đè… Chưa dừng lại ở đó, chiếc gương sẽ phản chiếu hình ảnh từ đầu xuống chân khi bạn đặt ở đầu giường, sinh ra cảm giác bất an, lo sợ cho người ngủ kể cả khi đang say giấc. Đó là lí do bạn thường cảm thấy nhức đầu và chóng mặt vào sáng hôm sau.

4/- Búp bê : Theo truyền thuyết châu Âu cổ, búp bê là hiện thân của những bé gái xấu số. Vì thế, những con búp bê này thường ẩn chứa nhiều điềm báo không lành, đặc biệt khi chúng có một khiếm khuyết trên cơ thể. Nhiều người tin rằng, khi đặt một con búp bê bị sứt mẻ một phần cơ thể hay gương mặt có nét kì dị sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng đáng sợ, trong đó có vấn đề mộng du. .

5/- Bể cá hoặc tranh sơn thủy : Nhiều gia đình thường bố trí hồ cá hoặc tranh phong thủy ngay giường ngủ để tạo cảnh quan và cảm giác thoải mái. Tuy nhiên, đó là điều đại kị vì chúng thuộc nước, khi đặt vào trường hợp này mang “hành thủy”, ảnh hưởng xấu đến gia chủ lẫn sức khỏe và tài lộc. Chúng khiến bạn dễ bị hiểu lầm, bất hòa và tình cảm gia đình dễ rạn nứt.

Ông bà ta xưa có câu “có thờ có thiêng có kiêng có lành”. Do đó, hãy lưu ý khi trang trí phòng ngủ để luôn có được giấc ngủ ngon cùng tâm thái an yên, vui vẻ bạn nhé !

Phan Tất Đại chuyển tiếp

4 CON GIÁP NỮ

CÀNG VỀ GIÀ CÀNG SƯỚNG

Những con giáp này không chỉ có cuộc sống giàu sang, hạnh phúc. Mà tài lộc của họ còn mang nhiều phúc khí cho cả những người xung quanh.

1/- Tuổi Hợi : Sự may mắn của người tuổi Hợi khiến người khác phải phát hờn, và ao ước được như Hợi. Không chỉ gặp dữ hóa lành, trong khi người khác không biết phải làm sao để kiếm được nhiều tiền thì cơ hội kiếm tiền cứ tự tìm đến Hợi.

Dù ‘làm biếng chảy thây’ nhưng với việc làm giàu thì con giáp này không nề hà khó khăn, vất vả. Thêm vào đó, sự chân thành, hòa nhã của Hợi giúp họ luôn được lòng người khác.

Ngoài ra, Hợi nữ còn là người phụ nữ có trái tim nhân hậu. Họ sẽ không ngại ngần chìa tay giúp đỡ người khác. Đây chính là điểm giúp Hợi dễ dàng có được một tấm chồng như ý.

2/- Tuổi Mùi : Quý cô tuổi Mùi là người nhanh nhạy, khôn khéo và cực kỳ thông minh. Họ biết cách cân bằng cuộc sống và các mối quan hệ. Mùi sống chẳng làm mất lòng ai, cũng chẳng bao giờ đâm thọc nói xấu ai bao giờ.

Trong công việc, Mùi có rất nhiều cơ hộ để thăng tiến, làm giàu. Phụ nữ tuổi Mùi sau 40 đã có thể hưởng phú quý giàu sang, ngồi chơi cũng có tiền.

3/- Tuổi Ngọ : Không cần nói mọi người cũng biết được, những người tuổi Ngọ là những người yêu thích sự tự do, không ràng buộc. Trước khi kết hôn thì họ luôn muốn “ngao du sơn thủy” cùng bạn bè, qua đó tự mình học tập trải nghiệm nhiều thứ.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn, tính cách của họ lại thay đổi bất ngờ. Lúc này họ sẽ đặt hết tâm tư tình cảm vào gia đình của mình. Những người tuổi Ngọ từ trước đến nay không tin tưởng cũng không quá cố gắng nỗ lực đạt được mục tiêu cho riêng mình.

Nhưng vận mệnh của những người cầm tinh con Ngựa sau 35 tuổi sẽ có biến đổi rõ rệt. Họ may mắn hơn, phúc đức hơn, và quan trọng hơn hết sẽ có một cuộc sống sung túc, an nhiên, gia đình bình ăn, hạnh phúc muôn đời.

4/- Tuổi Sửu : Trên thực tế những người tuổi Sửu đa số khó khăn. Trời sinh họ có số phải làm việc, do đó họ rất chăm chỉ và cần cù. Đối với họ, khao khát làm giàu và phát triển cuộc sống bản thân luôn thường trực trong tâm trí không phải ai cũng hiểu được.

Ngoài ra, họ luôn cố gắng để trau dồi kinh nghiệm và thay đổi cách nhìn về một sự vật sự việc để giải quyết tinh tế, sâu sắc hơn. Đến tuổi trung niên, cuộc sống của tuổi Sửu bắt đầu bước qua giai đoạn mới, tài vận và phúc đức bắt đầu “gõ cửa” nhà của những người tuổi Sửu.

Đôi khi họ nghĩ rằng, do làm việc vất vả bao năm cũng đã đến lúc được báo đáp. Điều này cũng đúng, nhưng theo tử vi những người tuổi Sửu càng lớn tuổi thì vận mệnh càng tốt dần lên, bên cạnh đó người thân con cháu trong nhà cũng được hưởng lây.

5 VỊ TRÍ NỐT RUỒI

KHÔNG MẠT VẬN

THÌ CŨNG XUI XẺO

Nếu bạn sở hữu những nốt ruồi này thì trong cuộc sống bạn sẽ gặp phải không ít rắc rối.

1/- Nốt ruồi ở gáy : Nốt ruồi ở khu vực này được gọi là nốt ruồi “khổ tình”. Người có nốt ruồi ở gáy tuy sự nghiệp thành công nhưng tình cảm lại rất trắc trở, phải trải qua rất nhiều cuộc tình thì mới đi đến được hôn nhân. Nhưng cho dù có tiến đến hôn nhân thì nguy cơ ly hôn cũng rất cao.

2/- Nốt ruồi ở ấn đường : Ấn đường nằm ở giữa hai lông mày, là nơi để nhận biết vận thế của một người có suôn sẻ hay không.

Nếu trên ấn đường xuất hiện nốt ruồi thì có nghĩa chủ nhân sở hữu nốt ruồi đó sẽ có vận thế không tốt. Họ thường kém may mắn trong mọi việc, làm việc gì cũng gặp khó khăn, cuộc sống không thuận lợi. Cách hóa giải tốt nhất là xóa bỏ nốt ruồi ở ấn đường

3/- Nốt ruồi nằm ở hai bên trán, gần chân tóc, ngang với vị trí lông mày : Rất nhiều người có nốt ruồi ở vị trí này. Đây là dấu hiệu báo điểm hung, bạn nên cẩn thận, cần phải đặc biệt chú ý an toàn khi đi ra ngoài. Họ có nguy cơ gặp phải nguy hiểm và tai họa bất ngờ, đặc biệt khi tham gia giao thông.

4/- Trên xương đòn : Đây là nốt ruồi dự báo về sự nghiệp. Những người có nốt ruồi trên xương đòn thì phần lớn sự nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn, vất vả. Chỉ một hành động nhỏ thôi nhưng chủ nhân cũng phải trả giá đắt cho hành động của mình.

5/- Nốt ruồi ở sơn căn : Sơn căn là khu vực sống mũi nằm giữa hai mắt, và nằm ở dưới ấn đường. Nếu sơn căn có nốt ruồi, thì vận thế của người sở hữu nốt ruồi đó rất kém.

Cho dù có làm bất cứ việc gì cũng khó thành công, cả đời không làm nên nghiệp lớn. Người có nốt ruồi ở sơn căn dù có cố gắng nỗ lực, phấn đâu đến đâu thì kết quả thu về cũng rất nhỏ bé, cả đời phải sống vất vả. Cách hóa giải tốt nhất là xóa bỏ nốt ruồi ở sơn căn để xua đuổi tà khí.

Xuân Mai chuyển tiếp

NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

NGÀY TAM NƯƠNG

VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

– Kay Nguyễn

Thời xưa làm nông thì hay “trông trời trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Thời nay làm ăn phương Tây hay phương Đông gì cũng phải trông ngày cả. Không phải mê tín gì, nhưng chúng ta đều là động vật có hệ thần kinh cao cấp, nhạy cảm, và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường chung quanh, nhất là khi môi trường trái đất vốn chịu năng lượng xung động rất cao từ mặt trăng – vệ tinh xoay chung quanh và gần trái đất nhất.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến các bạn một khái niệm khá thông dụng về cách tính giai đoạn của mặt trăng để :

– Nếu không tin thì khi nghe người khác nói cũng không bị bỡ ngỡ

– Nếu tin thì để KHÔNG bị ảnh hưởng đến chuyện làm ăn, đến các tính toán quan trọng của mình và doanh nghiệp.

Đó là khái niệm ngày “tam nương” (của phương Đông) và Nguyệt Kỳ (moon phase) – khái niệm này, thật ngạc nhiên, cả phương Đông và phương Tây đều dùng và hoàn toàn trùng khớp nhau.

Ngày Tam Nương

Tam Nương là ba trang tuyệt sắc Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự, ba nường được coi là “quậy” nhất lịch sử Trung Quốc, với sắc đẹp ma mị khuynh thành đổ quốc gây không biết bao nhiêu là tang thương cho các thành bang.

Muội Hỉ khiến chấm dứt 500 năm trị vì của nhà Hạ (2100 BC – 1600 BC). Đát Kỷ làm sụp đổ nhà Thương (1600 – 1066 BC). Bao Tự làm tang hoang nhà Tây Chu (1066 – 771 BC).

Ngày Tam Nương chính là ngày sinh và ngày mất của 3 nường này, nên một tháng có 6 ngày Tam Nương, tính theo lịch âm (các bạn nên lấy viết ghi lại) là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Ngày nào của gái nào thì thú thật cả hội Lý Số Trung Quốc vẫn còn đang tranh luận nên tôi không biết đâu ! Chỉ biết vào các ngày âm lịch vừa kể trên, đừng nên làm chuyện gì mới mẻ : xây nhà, gả con, xuất hành, khởi nghiệp, giới thiệu sản phẩm mới, sáp nhập công ty… Vì xác suất thất bại hoặc phải làm đi làm lại là rất cao. Chưa kể đây còn là ngày của nhiều thảm họa.

Tôi xin phép được trích dẫn một vài ví dụ khá thuyết phục vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều vị học giả khoa học huyền bí ở Trung Quốc và Việt Nam.

1/.  Tàu ngầm nguyên tử Kursk chìm vào ngày 12/8/2000. Toàn bộ 118 thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm hiện đại nhất của Nga đã ra đi lúc con tàu bị chìm xuống đáy biển Barents sau hai vụ nổ. Nó đã rời cảng vào một ngày Tam Nương.

2/.  Hội đồng dân tộc Afghanistan họp tại Đức để thành lập chính phủ, dự định vào ngày 12, sau đó họ lùi lại vào ngày 13 Âm lịch. Đất nước này đến nay vẫn còn bất ổn.

3/. Cuộc chiến Iraq đã xảy ra vào ngày Tam Nương 18 tháng Hai Quí Mùi.  Đến bây giờ, đất nước này vẫn chưa thật ổn định.

Ngày này nguy hiểm ở chỗ là nó đúng bất chấp mọi lá số tử vi, cứ mỗi tháng lại xảy ra 6 ngày mệt mỏi này, nên lưu ý ghi nhận lại kết quả để nghiệm lý cho riêng mình và tự nhiên rút ra kết luận, chứ tôi cũng không muốn hù dọa gì quý vị cả. Bản thân tôi và mấy anh bạn làm công ty riêng về dịch vụ, (mấy anh này thì tin theo phương Đông lắm), cứ họp hành gì quan trọng với khách hàng là đều né ra mấy ngày này, nếu buộc phải vô họp cũng chỉ tán chuyện vòng vòng cho hết giờ rồi nán lại quyết định vào ngày hôm sau.

Có mấy lần sếp lớn của khách hàng bắt quyết luôn vào ngày Tam Nương, y như rằng lúc nào gói dịch vụ cũng bị cắt giảm tối đa hoặc đội kinh phí do khủng hoảng, hoặc thậm chí bị hủy bỏ hoàn toàn. Sợ thật !

Nguyệt Kỳ (Moon Phase)

Mấy anh bạn làm chung thì theo Phương Đông nên tôi cũng theo luôn cho tiện, chứ gốc rễ thì tôi vẫn là người theo truyền thống khoa học huyền bí của phương Tây vì tử vi Phương Tây, cách tính transit (vận hạn), bài Tarot, bói sỏi Runes, chỉ tay, quả cầu thủy tinh, con lắc, bói bã trà… nhiêu đó đủ xỉu rồi còn tính thêm ngày âm, bốc phệ, mai hoa, lục nhâm, bát môn… nữa chắc chết, riết rồi ngày nào cũng muốn ngồi nhà ngáp ruồi đọc sách cho lành !

Tuy nhiên phương Tây vẫn có cái Nguyệt Kỳ kiêng kỵ khá là khớp với cái Tam Nương này, nên tôi xin chia sẻ ở đây để thấy được cái kỳ diệu của Đông-Tây hội ngộ.

Nguyệt Kỳ của Phương Tây dùng y chang lịch âm của mình. Nếu các bạn còn nhớ 12 cung hoàng đạo, hãy tưởng tượng là có một dải băng dài chia làm 12 vùng trời bao xung quanh trái đất.

Cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới, một cung hoàng đạo mới, và tạo thành một dòng năng lượng mới (theo từng cung) ảnh hưởng tới toàn bộ sự sống trên trái đất. Ít nhất là vào ngày rằm, chúng ta thấy rõ nhất là nước triều lên, và người ta dễ khóc dễ cười dễ nổi khùng nhất, vì 90% cơ thể là nước – trong các tế bào.

Các án mạng hầu hết đều xảy ra vào trăng rằm, khi truyền thuyết phương Tây là một số người hóa sói (werewolf).

Trong một tháng, New Moon (trăng non) là kỳ trăng của sự Dưỡng Nuôi, khi năng lượng trong vũ trụ hoàn toàn thuận lợi để con người bắt đầu một việc gì đó quan trọng. Các dự án hùn hạp, làm ăn, hợp đồng nên được khởi sự tính toán vào lúc Trăng Non để nhận được nhiều thông tin và sự thông thái nhất của những người tính toán.

Trăng Non di chuyển qua cung hoàng đạo thứ 2 vào khoảng ngày 3 AL (Tam Nương) và cung thứ 3 vào ngày 7 AL (Tam Nương), nên 2 ngày nào coi như giao thời, “tranh tối tranh sáng” theo cách tính phương Tây, làm việc hay bị dở dở ương ương.

Waxing Moon / Half Moon (bán nguyệt) là từ ngày 8 – 13 AL, đó là kỳ trăng của sự Hành Động và Độc Lập, đây là lúc tập trung hành động để giải quyết vấn đề chứ không còn ngồi tính như lúc Trăng Non nữa. Phương Đông mình kỵ 13 AL (Tam Nương) cũng chính là vì đây là giai đoạn chuyển từ bán nguyệt sang trăng tròn.

Full Moon (trăng tròn) là từ 14 – 18 AL, trong đó có ngày 15 trăng hoàn toàn đối diện mặt trời (Moon opposition Sun). “Trai mùng một, gái hôm rằm” là đây, vì những người có tử vi sinh vào trăng tròn, cả ở Đông lẫn ở Tây, đều có quá nhiều năng lượng đối lập trong cuộc sống, dễ gây xung động lớn trong cuộc đời. Đây là thời điểm Gặt Hái theo quan niệm phương Tây.

Ngày 18 AL (Tam Nương) là kỳ chuyển của trăng thành Waning Moon (trăng khuyết), từ 18 – 27 AL, trong đó né ngày 22 (Tam Nương) vì là giai đoạn giao cung hoàng đạo. Thời kỳ này chúng ta nên nội liễm nhiều thứ: năng lượng, hoạt động, tính toán. Đây là thời khắc suy gẫm, đánh giá được – mất… Ai đùng đùng đi khởi đầu cái mới thì lỗ ráng chịu !

Trăng tàn (Balsamic Moon) 28 – 29.5 (phương Đông làm tròn thành 30 – kỳ thực trăng đi hết một vòng trái đất chỉ mất 29.5 ngày nên lâu lâu mình có tháng nhuận AL là vậy) chính là thời kỳ các “phù thủy” khoái nhất vì đây là lúc con người có giác quan thứ 6 mạnh nhất, thích hợp để cúng tế, học hỏi lĩnh hội cái mới trong địa hạt khoa học huyền bí. Còn các việc khác trong cuộc sống cứ để nhàn nhạt theo guồng mà chạy là tốt nhất.

Đọc bài này xong không phải để e sợ, mà để sống đúng với chu kỳ vũ trụ hơn, và cảm thấy một sự giao thoa Đông Tây tuyệt đẹp ! J.P. Morgan, nhà tài phiệt lớn nhất nước Mỹ đầu thế kỷ 20, là người luôn có những quyết định công việc theo kỳ trăng. Giờ đây ngân hàng đầu tư J.P. Morgan Chase là một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới hiện tại (trụ sở ở Sài Gòn là ở 29 Lê Duẩn). Vì dù cho chúng ta có dùng phương pháp nào, ở nền văn minh nào, để soi rọi con người và vũ trụ đi chăng nữa, thì nếu phương pháp đó là chuẩn, chúng sẽ cho cùng một kết quả ! (theo Kay Nguyễn)

Nói thêm về ngày Tam nương sát

Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch.

Chữ Hán Nôm : Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN).

Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau :

1/. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 (ngày Mão) mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý, cai trị ? – 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN – 1600 TCN).

2/. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) (sinh ngày 13 tử ngày 18 (ngày Thìn) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN – 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN – 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân.

3/. Bao Tự (sinh ngày 22 tử ngày 27 (ngày Mùi) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết, cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN – 771 TCN). Vua U chưa bao giờ thấy Bao Tự cười, ra lệnh ai làm cho nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng.

Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hoả đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U). Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, vua U cho đốt lửa trên hoả đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh đó là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.

Theo dân gian Trung Quốc, còn theo phong tục tập quán của Việt Nam thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng Đế sai 3 cô gái xinh đẹp (Tam nương) xuống hạ giới (giáng hạ) để làm mê muội và thử lòng con Người (nếu ai gặp phải) làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v.

oOo

Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thọ tử, Trùng tang, Trùng phục, Ly sàng, Không phòng, Hoang ốc, Thiên hình, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

Xem ngày tốt xấu quan trọng nhất là xem sao của ngày đó, lịch vạn sự đã nghiên cứu và xây dựng ứng dụng xem ngày tốt xấu để phục vụ các bạn hàng ngày.

NHỮNG HUYỀN THOẠI

CÓ THỰC TRÊN TRÁI ĐẤT

Thế giới thần thoại có đủ các vương quốc huyền bí và cảnh giới tồn tại song song với chúng ta. Người ta cho rằng đâu đó trên Trái Đất có điểm giao thoa giữa nơi con người sinh sống và chỗ của các vị thần. Giá như chúng ta nắm được mật khẩu để mở những cánh cửa thần kỳ đó….

1/- Yomi No Kune (nghĩa là cõi âm theo tiếng Nhật) Yomi No Kune là một phần của thần thoại Nhật Bản có xuất xứ từ thời kỳ Phật giáo được truyền bá rộng rãi.

Theo truyền thuyết, vạn vật được tạo nên bởi một vị thần tên là Izanagi và vợ Izanami. Sau khi Izanami hạ sinh ra lửa và chết đi, người chồng đau khổ đã làm cuộc hành trình sang thế giới bên kia để hồi sinh người vợ. Với sự gần gũi nổi bật trong các truyền thuyết khác, người chồng đã phát hiện ra một nơi tối tăm và ảm đạm, nơi các linh hồn có thể giữ nhục thân khỏi bị mục nát vĩnh viễn. Izanagi bị cấm không được nhìn vào vợ mình cho đến khi họ lên đến mặt đất, nhưng cũng giống như các nghịch lý huyền thoại khác, ông chợt thoáng nhìn qua và thấy cơ thể mục nát, đầy giòi bọ của bà.

Tức giận vì ông dám nhìn bà trong tình trạng đó, Izanami đã gửi quỷ nanh dữ đến để đuổi ông quay trở lại âm phủ mãi mãi, nhưng ông thoát được và phong ấn Yomi No Kune bằng một phiến đá khổng lồ. Đáp trả lại, Izanami nguyền rằng sẽ lấy đi 1.000 sinh mạng xuống cõi âm mỗi ngày và Izanagi cũng hứa sẽ tạo nên 1.005 sinh mạng mới nơi dương gian, quả thực âm giới chuyện huyền bí có thật.

Ngày nay, du khách đến thăm khu Matsue của Nhật Bản có thể ghé qua tảng đá được cho là Izanagi đã sử dụng để phong ấn cõi âm. Yomotsu Hirasaka, tên chính thức của lối vào, theo truyền thuyết nằm sau một trong những tảng đá gần đền Iya. Không rõ chính xác tảng đá nào giấu lối vào. Mộ của Izanami cũng nằm gần đó cùng với đền thờ.

2/ Xibalba : Ở đỉnh cao quyền lực, đế chế Maya trải dài cả vùng Mexico và Trung Mỹ, còn niềm tin của người dân vào thế giới bên kia rất mạnh mẽ. Nơi an nghỉ cuối cùng của họ là Xibalba, nơi chỉ người chết mới vào được và chỉ sau khi linh hồn đã vượt qua hàng loạt các thử thách, từ vượt qua con sông đầy bò cạp và máu, băng qua động dơi rồi đi theo một con chó có thể nhìn thấy trong bóng tối. Có nhiều lối ra vào Xibalba và các nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện thêm một lối khác ở bán đảo Yucatan. Các di tích lòng đất và phần chìm dưới nước làm nên một mê cung khổng lồ các hang động chứa đựng những điềm dữ theo những gì người Maya nghĩ rằng đang chờ họ phút cuối.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 11 đền thờ khác nhau trong những hang động, cùng với bằng chứng về sự hiến tế người. Một số hiện vật được để lại cho người chết, bao gồm đồ gốm, các hòn đá chạm khắc và gốm sứ. Các nhà khảo cổ khai quật các hang động cũng đã tìm thấy các cột đá khổng lồ và các cấu trúc được xây dựng dưới nước, một minh chứng cho thời gian, nỗ lực và kiên trì để xây nên ngôi đền. Mặc dù không rõ liệu huyền thoại của Xibalba được xây dựng xung quanh việc khám phá ra các hang động hay các hang động làm nên huyền thoại, có điều chắc chắn rằng cả hai có liên quan tới nhau.

3/ Các cánh cổng của Guinee (nước cộng hòa Ghi-nê) : Theo tập tục phù thủy, các cánh cổng của Guinee có tác dụng nào đó để kết nối linh hồn người sống với chết. Do có nhiều môn tà thuật với đặc điểm khác nhau, nên việc mô tả các cánh cửa này cũng nhiều khác biệt. Trong ma thuật ở New Orleans, nơi tồn tại các linh hồn sau khi chết thường hay tranh cãi xem ai là người kế tiếp sẽ đi đầu thai.

“The Gates of Guinee” là những cái cổng đó để vào thế giới bên kia, có tất cả 7 cổng. Phải mất 7 ngày để đi qua tất cả các cổng này, và nếu như linh hồn nào không vượt qua được, họ có thể trở lại dương thế trong hình hài một thây ma. Một số tay phù thủy tin rằng 7 cánh cổng này được đặt tại bảy nghĩa trang khác nhau ở New Orleans, mặc dù vị trí chính xác và số thứ tự của các cánh cổng là một bí mật được giữ kín hoàn toàn.

Các manh mối nghe nói đã lan truyền khắp thành phố và mọi nghĩa trang, để cho những ai có đủ kiến thức giải mã chúng, thường mang hình thức các dấu hiệu của ma thuật. Các cổng được cho là dễ tìm và mở ra nhất vào thời điểm các ngày lễ như Mardi Gras và lễ các Thánh, nhưng việc tìm ra chúng chỉ là sự khởi đầu của vấn đề. Các cánh cổng phải được tiếp cận và mở ra theo đúng thứ tự, mỗi cổng có một người giám hộ mà đòi hỏi phải có khẩu quyết phù hợp. Mở cửa sai thứ tự hoặc làm phật lòng giám hộ sẽ cho phép các ác linh nguy hiểm thoát qua cổng và tiến vào thế giới chúng ta.

4 / Khu vườn của Hesperides : Theo thần thoại Hy Lạp, thần Gaia đã tặng Hera một món quà cưới là những cây trổ ra quả táo bằng vàng, được cất giữ an toàn trong khu vườn của Hesperides. Hercules được giao nhiệm vụ đánh cắp một quả táo vàng trong lần trả công thứ 11 của ông, và ông đã hoàn thành bằng cách giúp thần Atlas nâng quả đất trong lúc người khổng lồ Titan chọc lấy một trong những trái cây vàng.

Lối vào khu vườn hiện nay được cho là nằm ở Lixus, một thành phố ven biển ở Ma-rốc. Nơi đây từng là một cảng tàu thuyền La Mã nhộn nhịp, các vách tường và tòa nhà của Lixus hiện nay chỉ còn chút di tích đã bị phá hủy gần hết. Di tích cho thấy phần còn lại của một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thành phố, sản xuất pa tê làm từ ruột cá lên men. Vị trí của các khu vườn được đề cập đến trong một văn bản dưới thời Hellenistic Hy Lạp, nhưng cũng có những địa điểm khác được đề cập đến, bao gồm Cyrene và một trong những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Libya.

5 / Newgrange Newgrange : Newgrange Newgrange là một hầm mộ rộng lớn được xây dựng ở thung lũng Boyne, Ireland hơn 5.000 năm trước đây. Công trình không chỉ thể hiện sự hiểu biết thông thái về thiên văn mà còn là một trong những lối vào thế giới khác của người Celt. Theo thần thoại Celtic, các vị thần đã di chuyển qua lại giữa các thế giới của họ và trần gian thông qua nghi thức nhất định và các thánh địa như Newgrange.

Người ta vẫn cho rằng Newgrange là lối đi vào một sảnh tiệc nguy nga tráng lệ dành cho những đấng gọi là Các vị chủ nhân của Ánh sáng, còn có lời đồn nó dẫn đến một vùng đất của những người trường sinh bất lão, hoặc vô bệnh. Nguồn thực phẩm và thức uống ở đó là vô hạn, ngoài ra còn có các loại cây thần kỳ liên tục sinh ra trái chín.

Thần thoại cổ xưa nhất xung quanh Newgrange kể rằng đây là nhà của sinh mệnh hiện thân cho dòng sông Boyne và là nơi có giếng cội nguồn của mọi trí huệ trên thế giới. Cây cối ở gần giếng rớt hạt vào trong nước, đem các tri thức mà nó tích tụ đến với cõi người. Các cư dân tiếp theo của thế giới khác liên quan đến Newgrange là thần Dagda, một trong những vị thần lâu đời nhất của Ai-len, người có quan hệ đến tri thức, mặt trời và bầu trời. Con trai ông là Oengus có quan hệ chặt chẽ với Newgrange, được sinh ra sau một ngày duy nhất và gia tăng quyền năng từ ngọn đồi để sống trong chín tháng. Sau đó, Oengus đã lừa đưa Dagda xuống cổng hầm mộ, nơi được cho rằng ông đã canh giữ ở đó đến ngày nay.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

PHONG TỤC NGÀY TẾT

Logo phong tuc

9-nam-moi-1NGƯỜI VIỆT ĐÓN TẾT

NHƯ THẾ NÀO ?

– Thiên Việt

Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp về với mọi nhà. Là ngày hội lớn nhất trong năm, ai ai cũng đều được nghỉ ngơi sau 360 ngày làm việc lo cơm áo gạo tiền. Đây là một phong tục của người Á Đông, những nước khi xưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa tín ngưỡng Trung Hoa, mà nước ta là một trong số các nước đó.

Vì thế những ngày trước trong và sau Tết Nguyên Đán, luôn là những ngày mà mọi người thường đi theo tục lệ truyền thống dân gian đã có hơn từ ngàn năm nay, trong tục lệ còn có tín ngưỡng và tâm linh. Nhân ngày Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp đến, chúng tôi xin có bài viết về phong tục ngày tết :

LỊCH SỬ NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết là một ngày bắt đầu một năm mới, một tháng mới tính theo Âm lịch. Trong truyền thuyết, vào thời kỳ Ngũ Đế, vua của nước Trung Hoa này có tên Chuyên Húc, ông gọi tháng giêng là Nguyên, 9-mua-lanngày mùng một là Đán. Còn sách Nhĩ Nhã : Nguyên có nghĩa bắt đầu, Đán là sớm.

Vào đời nhà Thương (thế kỷ thứ 5 Tr.CN – Trước công nguyên) lấy tháng Sửu (tháng 12, tháng chạp), còn đời Chu (thế kỷ thứ 4 Tr.CN) lấy tháng Tý (tháng 11), còn đời Tần (thế kỷ thứ 3 Tr.CN) lấy tháng Hợi (tháng 10).

Đến đời Hán Vũ Đế (tứ năm 136 Tr.CN đến 25 sau CN) căn cứ vào thiên văn và sự tuần hoàn của vũ trụ qua bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, ông thấy mùa xuân hoa nở xanh tươi thời tiết đang giá rét chuyển qua ấm áp nên lấy ngày đầu tháng Dần (tháng 1 – tháng giêng) làm ngày đầu năm mới, và cho tổ chức hội hè đón xuân.

Tết nguyên Đán có nguồn gốc là vậy.

Nước Việt Nam chúng ta có cả ngàn năm bị giặc phương Bắc đô hộ, nên phong tục ấy đã được người dân chấp nhận từ hàng ngàn năm qua, và cứ qua mỗi đầu năm mới, trong nét văn hóa đó có những thay đổi cho phù hợp với nhân văn tại mỗi miền. Nhưng những nét chính đón mừng năm mới không thể bỏ những tục lệ sau đây :

9-ong-tao-1TỤC CÚNG  ÔNG TÁO

Ngày 23 tháng Chạp hàng năm (trước tết Nguyên Đán) là ngày ông Táo lên trời để trình với Ngọc Hoàng Thượng Đế mọi việc hung kiết trong một gia đình năm qua. Theo quan niệm của người Việt, ngày này là ngày bộ ba Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ vắng mặt ở trần gian nên công việc lúc này tạm ngừng.

Mọi người lo việc đón Tết. Hệ thống triều đình, làng xã, các dấu triện sẽ không xác nhận giấy tờ, văn bản gì nữa. Nho sinh làm lễ tạ trường, thợ săn làm lễ đóng cửa rừng v.v… Nhà nào cũng mua cá chép làm ngựa cho ông Táo về trời. Ngày hôm đó, gia đình nào cũng làm mâm cơm cúng thật thịnh soạn, khấn trước bàn thờ, kể rõ mọi việc trong năm và mong muốn trong năm mới mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tục cúng ông Công, ông Táo liên quan tới câu chuyện về một sự tích. Chuyện kể rằng vợ chồng Trọng Cao, Thị Nhi không có con, buồn phiền thường cãi nhau. Một lần vì cáu giận, Trọng Cao đánh vợ, Thị Nhi tức giận bỏ đi. Thị Nhi gặp Phạm Lang và họ thành vợ thành chồng. Mãi thấy vợ không trở về, 9-ong-tao-2Trọng Cao hối hận bỏ nhà đi tìm vợ. Hết tiền ăn đường, Trọng Cao phải đi xin ăn. Một ngày kia, Trọng Cao vào đúng nhà Thị Nhi xin ăn. Thị Nhi nhận ra chồng cũ liền hậu đãi.

Đúng lúc ấy Phạm Lang về. Sợ chồng hiểu lầm Thị Nhi liền dấu Trọng Cao vào đống rơm. Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao chết cháy.  Thương người chồng cũ, Thị Nhi nhảy vào đám lửa chết theo, Phạm Lang thấy vậy, nhảy vào cứu cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng cảm kích, cho ba người làm Táo quân.

Bởi vậy sau này, trong lễ cúng ông Táo bao giờ cũng có một mũ đàn bà màu vàng để giữa hai mũ đàn ông màu đen để hai bên, tượng trưng cho hai ông một bà. Cũng có nơi chỉ đặt một mũ nam và một đôi hia. Mũ đặt trên chiếc kệ bên dưới mỗi mũ để 100 vàng thoi. 9-phao-noTrong thực tế, mũ áo này thay đổi theo màu sắc của ngũ hành.

Năm hành là : kim mũ màu vàng – mộc mũ màu trắng –  thủy mũ màu xanh – hỏa mũ màu đỏ và thổ mũ màu đen (Năm hành được tính theo Lục Thập Hoa Giáp, thí dụ như năm Đinh Dậu có hành là Hỏa – Sơn Hạ Hỏa)

Bài vị ở bàn thờ Thổ Công thuờng ghi như sau :

“Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Thổ Địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”

Khi sửa lễ cúng ông Công, ông Táo người ta đều đốt bài vị cũ, thay bài vị mới. Sau khi lễ xong thì hóa vàng, hóa luôn cả mâm mũ năm truớc và thả một con cá chép còn sống xuống ao, cá sẽ hóa rồng để đưa ông Táo cưỡi lên chầu trời.

TỤC “GỬI TẾT” VÀ “BIẾU TẾT”

Theo tục của người Việt, con cái trong gia đình đã lớn, ra ở riêng hết, tết đến phải quy tụ về nhà tổ đường (nơi thờ tự chính, đấng Cửu huyền thất tổ như ông bà, cha me…) nếu cha mẹ còn sống, còn cha mẹ đã chết, người con cả (con trai trưởng) 9-bieu-tet-1sẽ đại diện gia đình để cùng nhau làm mâm cơm cúng bái tổ tiên (nếu người cha mẹ hay người con trưởng đại diện cho cả một chi tộc thì lễ tại tổ đường sẽ đông đảo hơn một gia đình).

Bởi vậy, các con thứ hoặc ngành thứ, vào dịp tết có tục phải gửi lễ hoặc gửi góp giỗ đến nhà anh con cả để cùng tưởng niệm Tổ Tiên gồm gà, hoa quả, vàng nhang. Nay mọi người thường gửi bằng tiền, nhằm giúp gia đình anh con cả có điều kiện soạn mâm cơm cúng giỗ tết chu đáo hơn.

Nay nhiều người hiểu sai từ “gửi tết” bằng từ “biếu tết”, vì “gửi tết” có ý nghĩa như một nhiệm vụ phải có của những người con gia đình nhớ đến ông bà cha mẹ đã quá vãng. Còn “biếu tết” chỉ là sự kính trọng giữa người dưới đối với người trên, giữa những người cùng làm ăn, những người đã, đang giúp đỡ mình hay gia đình mình, với hàng xóm láng giềng, hay bạn hữu thân thiết. Tục “gửi tết” còn đối với những người trong họ tộc nhưng khác chi, khác nhánh v.v.. cũng chung một gốc ông bà, gửi tết về cúng kiến giỗ chạp tuy nhiên không có nghĩa vụ ràng buộc như người trong gia tộc.

9-bieu-tet-2Tục này thường diễn ra sau ngày rằm tháng Chạp đến hết ngày 30 hoặc 29 Tết nếu có tháng đủ tháng thiếu trong âm lịch.

TỤC TRỒNG CÂY NÊU

Nêu là một cây tre để cả ngọn cắm ở trong sân nhà. Trên ngọn nêu là túm lá dừa, lá lông gà, lá thiên tuế hoặc những chiếc bánh, những con cá bằng đất nung cùng một tán tròn bằng tre, phía dưới dán giấy đỏ. Cạnh cây nêu, vôi bột được rắc theo hình cung tên, mũi tên hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ.

9-cay-neuTục này được gắn liền với một câu chuyện kể về cuộc tranh giành đất đai giữa người và ma quỷ. Nhờ có chiếc áo cà sa của Phật, người đã thắng. Áo cà sa được treo trên ngọn cây nêu, áo tỏa hào quang đến đâu, quỷ phải lui tới đó. Cuối cùng ma quỷ phải chạy ra biển Đông ở. Nhưng nuối tiếc vùng đất xưa, bọn ma quỷ vẫn muốn quay về.

Bởi vậy, để dọa ma quỷ, người trồng cây nêu trước sân nhà vào năm mới có ý nghĩa là vậy (Nhưng nay dựng cây nêu ngày tết chỉ còn ở những vùng quê mà thôi).

Ngoài ra, trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng ngoài”  thì ở ngoài miền Bắc, người ta trồng cây nêu bên cạnh nhà, cột nêu cao hơn nóc nhà, trên ngọn cột một cái thúng hay cái hộp nhỏ có đục nhiều lỗ, bên trong đựng thoi vàng giấy, bạc giấy để cha mẹ đã chết về nhận vào cuối năm có  tiền ăn tết.

9-cung-giao-thua-1ĐÓN ÔNG BÀ

Vì sao có tục đón ông bà ? vì ngày 23 tháng Chạp khi đưa ông táo về trời tâu lên Ngọc Hoàng những chuyện trong năm cũ của gia đình và nhận lời phán xét của Ngọc hoàng cho năm mới.

Ngày này ông bà cha mẹ (người đã chết) cũng phải về chầu âm phủ để được Diêm vương phán xét việc đầu thai hay chưa, ai được phong thần phong thánh v.v… cho nên từ 25 tháng chạp, đến ngày cuối năm (trước khi cúng đón ông bà cha mẹ) người người đến nghĩa trang thăm mộ gia tiên (rẩy mả) trước thăm viếng sau sửa sang lại ngôi mả cho thật sạch sẻ để ông bà về đón tết.

Nên từ 23 tháng chạp trở đi việc nhang khói, đánh chuông đánh trống tại các đình chùa đền miếu đều không có, mọi sự tại các nơi này yên tĩnh.

9-don-ong-baTrong ngày 29 (hoặc 30 tết), các gia đình tổ chức mâm cơm mặn vào lúc giữa trưa, trước là đón ông Công, ông Táo sau là đón ông bà cha mẹ về ăn tết cùng gia đình mình trong 3 ngày tết (đến khi hạ nêu thì tiễn ông bà). Tục này hiện nay rất phổ biến, không loại trừ những người bên đạo Thiên chúa, vì đây là sự thành kính, hiếu thảo của con cái với tổ tiên mà thôi. Trong ngày đón ông bà, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu (nếu cúng tại tổ đường thì không khí đông vui, như đã vào tết).

CÚNG GIAO THỪA

Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của cụ Phan Kế Bính có viết về Lễ cúng giao thừa.

– “Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc trần gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế đêm giao thừa là để tiễn ông cũ và đón ông mới”. 9-nam-moi-2Đó là ý nghĩa của việc cúng giao thừa ngay vào lúc trừ tịch (0 giờ ngày mới, tháng mới, năm mới), nhiều gia đình tổ chức rất long trọng, các đình chùa, miếu mạo cũng chuẩn bị thật trang nghiêm nhằm tống cựu nghinh tân.

Khi cúng giao thừa bàn thờ được lập giữa trời chứ không phải trong nhà. Có nơi cúng các hoa quả ngày tết, có nơi cúng mặn. Ngày xưa, lễ vật thường gồm một đầu heo hoặc con gà, bánh chưng xanh, bánh kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu và giấy tiền vàng bạc, đôi khi có thêm áo mũ của vị hành khiển năm mới.

Khi đúng nữa đêm, các nơi đánh chuông đánh trống, còn tại mỗi gia đình chủ nhà thắp 3 nén nhang (có người dùng 3 cây nhang đại, cháy cả ngày chưa tàn) khấn vái trời đất, khấn vái ông hành khiển mới, xin cho gia đình được một năm may mắn và những vận rủi sớm đi qua.

Theo quan niệm dân gian mỗi năm có một ông hành khiển, qua báo chí ta vẫn thấy vị hành khiển 9-cung-giao-thua-2của năm mới mang tên 1 trong 12 con giáp (theo đúng năm được gọi tên), người xưa gọi là Thập nhị hành khiển vương hiệu.

Vị thần cai quản trong năm được gọi là dương niên chi thần. Mỗi chi thần này còn có một phán quan giúp việc (Vị thần hành khiển trong năm lo việc thi hành những mệnh lệnh trên thượng giới, trình lên Ngọc hoàng Thượng đế những việc đang điều hành, còn vị phán quan lo ghi chép công tội của mọi gia đình, mọi địa phương v.v..)

TỤC HÁI LỘC

Sau giao thừa, người Việt thường có một cuộc “du xuân” để cầu may mắn. 9-hai-locNgười ta thường đến đền, chùa để làm lễ. Khi ra về ngắt một cành hoa hoặc một nhánh cây gọi là hái lộc. Về nhà, cành lộc thường đuợc trưng tại gian nhà chính và gìn giữ trọn một năm mới bỏ đi. Người Việt chúng ta tin tưởng rằng việc hái lộc để lấy may. Cành lộc thường là cành đa, cây đa lại là cây sống rất lâu. Chọn cành đa là họ mong muốn sẽ trường thọ, nhiều tiền bạc, đông con nhiều cháu.

9-xong-datTỤC XÔNG ĐẤT

Vào ngày mồng một Tết, ai là người bước chân vào đất hoặc nhà người khác đầu tiên được cho là người xông đất. Theo quan niệm, người xông đất là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của gia chủ trong một năm. Nếu người xông đất tốt thì mọi việc trong năm sẽ thuận buồm xuôi gió, ngược lại, người xông đất xấu sẽ gặp rủi ro.

“Xấu” và “tốt” ở đây có nghĩa là hợp duyên hợp vía. “Duyên” và “vía” ở đây cũng có thể là tính tình, đạo đức tư cách của người tới xông đất; cũng có thể là người xông đất năm đó có tuổi hợp với tuổi của gia chủ hay không.

Vì vậy người ta cố tránh đến nhà nhau vào sáng sớm mùng một tết, còn ai được gia chủ có nhã ý mời tới xông đất thì khi đến cũng phải rất thận trọng. Trước hết, trước khi bước vào đất của gia chủ, người xông đất phải cười vui vồn vã với gia chủ, lì xì cho con cái gia chủ thật mau mắn, sau đó mới chúc tết lẫn nhau…

KIÊNG NGÀY MÙNG MỘT TẾT

Quan niệm vào ngày mùng một tết là ngày đầu tiên trong năm, nếu  mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mùng một Tết, người ta chúc mừng nhau những điều hay. Ngoài ra người dân còn kiêng cữ  một số việc như sau:

– Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mùng hai mùng ba mới hốt đi vì sợ Thần giữ của theo rác ra đi.

– Kiêng cho lửa, vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn”. Cho lửa là cho đi sự may mắn

– Kiêng làm vỡ ly chén, tô, đĩa vì sợ sự đổ vỡ.

Tr Cuoi 12– Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hòa.

– Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mồng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm

– Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.

– Kiêng khóc than để tránh sự ảm đạm trong cả năm.

– Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.

– Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của”, hệt như việc trả nợ.

– Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình

– Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mùng một vì sợ Tr Cuoi xua 3đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.

– Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành”phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.

TỤC HỨNG NƯỚC ĐẦU NĂM

Ở nông thôn (và có thể ở cả trong thành phố) người dân quan niệm rằng đầu năm mà có người gánh nước tới nhà thì có nghĩa là tiền vào nhà như nước. Bởi vậy, những người gánh nước thuê đầu năm được gia chủ đón tiếp rất niềm nở và được thưởng tiền nhiều gấp mười lần ngày thường. Còn nơi thành phố, vì quá trình hiện đại hóa, nên đa số gia đình đều có nước thủy cục, việc thuê người gánh nước không còn ai phục vụ cho điều này nửa. Vì thế vào nửa đêm, các gia đình mở vòi nước cho chảy tràn hồ chứa nước, xem như tiền vào nhà như nước.

TỤC MỪNG TUỔI

Năm mới mọi người lớn thêm một tuổi, người lớn có tục lì xì (mừng tuổi) cho người ít tuổi hơn mình, 9-mung-tuoinhư lời nhắn nhủ, tiền lì xì ấy sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, mà vun đắp tương lai.

Tiền lì xì còn gọi là tiền “mở hàng để lấy may”. Tại Chợ Lớn, các thương gia thường lì xì cho khách hàng một bao lì xì màu đỏ trong đựng một tờ  giấy bạc mới, dù người đó có mua hàng hay không, họ cho là “tiền mở hàng” lì xì càng nhiều phong bao, họ cho là trong năm sẽ phát đạt (vì như thế tức trong năm nhiều khách hàng hơn)

Trẻ em lại thích tiền mừng tuổi, người lớn cho rằng như vậy trong năm có nhiều niềm vui trong cuộc sống, qua sự ngây thơ của trẻ nhỏ khi được bao lì xì thì cười nói tíu tít v.v…

TỤC HÓA VÀNG

Trong ba ngày tết, thông thường vào chiều ngày mùng 3, nhà nhà có tục hóa vàng (tiễn ông bà), nhiều gia đình cũng mời bà con trong họ tộc đến để dự lễ này.

Lễ hóa vàng như đã nói, tiễn đưa ông bà cha mẹ về lại tổ đường, hay chùa chiền mà họ đã gửi hương linh (theo truyền thuyết khi người chết, họ vẫn còn 3 hồn, một hồn ở nơi chôn cất, một ở nơi chết hoặc là chốn thờ tự và một hồn ở suối vàng). Sau còn ý nghĩa khác, mời họ hàng phá mồi (tức dùng hết những món ăn ngày tết đã 9-hoa-vangmua sắm trong nhà như dưa hấu, bánh chưng, thịt mở, dưa hành v.v…)

Lễ hóa vàng là đốt hết các loại giấy tiền vàng bạc đã để trên bàn thờ, khi đã đốt hết người ta đổ vào đống tro những chén rượu cúng. Tục lệ cho rằng, có như vậy ở cõi âm các vị ông bà cha mẹ mới có tiền tiêu xài trong năm mới.

Có nơi (nhiều vùng nông thôn) vẫn có tục mua 2 cây mía dùng trong việc thờ tổ tiên trong 3 ngày tết, trong ngày hóa vàng họ hơ mía trên đống tàn còn đang rực đỏ, có ý chuyển giao cho tổ tiên có gánh quải tiền về, cũng là khí giới chống bọn cướp vàng nơi cõi âm.

HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM

THÁNG GIÊNG (theo âm lịch)

– Từ mùng 1 đến mùng 3 :  Tết Nguyên Đán

– Từ mùng 2 đến mùng 3 : Hội cướp đò, xã Gia Thanh, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Lễ duyệt bia xã Hiền Quan, 9-le-hoi-1huyện Tam Thanh, Phú Thọ.

– Mùng 3 : Hội đình Tích Sơn, xã Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. – Hội Lô làng Cọi, xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, Thái Bình. – Hội tung còn Bạch Hạc, xã Bạch Hạc, TP. Việt Trì, Phú Thọ.

– Mùng 4 đến mùng 7 : Hội vật Bảo Giàn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc. – Hội vật Liễu Đôi, xã Nam Cúc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam – Hội pháo Đồng Kỵ, xã Đông Quang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Quế Võ, Bắc Ninh. – Hội Ó (chợ bán gà) xã Xuân Ó, Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội kéo dây (kéo co) làng Phùng, xã Tân Thịnh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa – Hội Chấp, xã Hữu Chấp, huyện Yên Phong, Bắc Ninh – Hội làng Đông Hồ, xã Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh

– Mùng 5 : Hội Đống Đa, quận Đống Đa, Hà Nội. – Hội Lịch Diệp (làng nghề dệt) xã Trại Chính, huyện Nam Ninh, Nam Định

– Từ mùng 6 đến 12 : – Hội Mê Linh, xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc – Hội làng Vân Sa (làng dệt lụa) xã Tân Hồng, huyện Ba Vì, Hà Tây – Hội Gióng Sóc Sơn, xã Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. – Hội Đuồm, xã Đông Đạt, huyện Phú Lương, Thái Nguyên. – Hội Cơm Hòm, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên – Hội hát dặm Quyền Sơn, làng Canh Dịch, thôn Quyền Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam. – Hội Rưng, làng Vân Trưng, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc – Hội Đền Đìa, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, Thái Bình

9-le-hoi-2– Từ mùng 6 đến rằm tháng ba : Hội Chùa Hương, xã Đục Khê, huyện Mỹ Đức, Hà Tây.

– Mùng 7 đến ngày 15 : Hội làng Hy Cường (rước chúa Ga) xã Hy Cường, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội vật Vĩnh Nộ, xã Cao Xá, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội chen, xã Nga Hoàng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh

– Mùng 8 : – Hội Vó (làng nghề đồng) xã Quang Bố, huyện Gia Lương, Bắc Ninh. – Hội du xuân, 4 xã kết nghĩa du xuân Yên Phụ, Yên Hậu, Yên Tiến, Yên Vĩ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh

– Mùng 10 : Hội voi, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. – Hội vật làng Sình, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Huế – Hội Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội – Hội Dô, xã Hiệp Tuyết, huyện Quốc Oai, Hà Tây. – Lễ hội Bà Chúa Kho – Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh

– Ngày 11 : Hội Trò trám, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Hội đánh cá Lũng Giang, xã Lũng Giang, Lũng Sơn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội Phù Ủng, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, Hưng Yên – Hội Thương Liệt, xã Đông Tân, huyện Đông Hưng, Thái Bình

– Ngày 12 : Hội rước vua sống, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội

– Ngày 13 : Hội Lim, xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội phết Hiền Quan, xã Hiền Quan, huyện Tam Thanh, Phú Thọ

– Ngày rằm (15) : Lễ Thượng ngươn, hội lớn của Phật Giáo, các chùa chiền đều mở cửa – Hội xuân Núi Bà, núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh –thien-viet Lễ vía chùa Bà Bình Dương, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương – Hội đền Và, huyện Ba Vì, Hà Tây

– Ngày 15 đến ngày 21 : Hội chèo vùng Gối, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Tây

– Ngày 17 : Hội chùa Tứ Pháp, xã Văn Lâm, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên

– Ngày 18 đến 23 : Hội Côn Sơn, xã Côn Sơn, huyện Chí Linh, Hải Dương

– Ngày 20 : Hội hoa Vị Khê, xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, Nam Định

Thiên Việt

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp

NHỮNG PHONG TỤC TANG MA

Logo TG tam linh

9-quat-ma-1NGHI LỄ “TẾ QUẠT MA”

CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Tế quạt ma hay là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường. Đây là nghi lễ còn ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa được biết đến.

H1: “Nhà minh tinh” trong tang lễ người Mường. H2: Quả còn dùng để thờ trong tang lễ.

H3: Khi tế quạt ma, những người là con dâu trong dòng họ của người quá cố phải mặc bộ đồ rất đẹp gồm: Váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm, phía trước đặt một chiếc ghế mây.

H4: Mục đích của nghi lễ quạt ma này nhằm tỏ lòng thương tiếc và yêu quý người đã chết, dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản. Động tác múa trong nghi lễ quạt ma thường rất đơn giản, người múa quay mặt về phía thầy mo, 9-quat-ma-2một tay cầm quạt che trước ngực, một tay cầm gậy chống xuống đất múa theo nhịp chiêng của thầy mo. Động tác từ người dâu cả đến người dâu cuối cùng theo thứ tự đuổi nhau bằng động tác múa hình sóng lượn.

H5: Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài được phủ áo vẩy rồng bằng vải. H6: Tế quạt ma được tiến hành khi nhà có tang từ khi xảy ra đám tang cho đến lúc đưa người chết về nơi yên nghỉ. Tham gia múa quạt mà là tất cả các con dâu trong gia đình người chết.

9-quat-ma-3

Họ được sắp sếp theo thứ bậc từ dâu cả đến các cô dâu ở bậc thấp nhất, đứng xung quanh quan tài người chết.

H7: Khi người chết tắt thở, con trai trưởng trong gia đình sẽ cầm dao nín thở chặt 3 9-quat-ma-4nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. H8: Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì hàng xóm láng giềng biết gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất. H9: Bên cạnh tế quạt ma, trong đám tang của người Mường còn có lễ tế nhà xe.

H10: Các nàng dâu phải quạt hầu trong lúc linh hồn người quá cố nhòm nhà xe.H11: Quan tài, dàn thả và sập vong trong tang lễ. H12: Cờ dùng trong tang lễ của người Mường. H13: Nơi thờ người quá cố trong tang lễ.9-quat-ma-5

H14: Quả còn và những thứ làm đẹp dùng cho người quá cố trong tang lễ. H15: Đoàn người phục vụ tang lễ dẫn linh hồn người quá cố nhòm nhà xe. H16; Thày mo người Mường làm lễ trong đám tang (theo Hoàng Lâm)

Xuân Mai chuyển tiếp

9-pha-quan-1aNHƯN QUAN VÀ TỤC PHÁ QUÀN

Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Ở miền Tây Nam Bộ, với nhiều gia đình không theo tôn giáo nào, khi có người thân qua đời, trong đám tang, lúc chuẩn bị an táng người bình dân thường làm lễ phá quàn, sau đó, nhân vật gọi là Nhưn quan điều khiển đạo tỳ.

Nhưn quan điều khiển đạo tỳ (những người khiêng quan tài) sẽ di quan đến huyệt mộ trong vườn nhà hoặc ngoài đồng ruộng để asn táng.

Để làm lễ phá quàn, đại diện chủ nhà mượn một người biết làm Nhưn quan cùng mười đến mười hai thanh niên khỏe mạnh trong xóm làm đạo tỳ. Đại diện chủ nhà mời cơm rượu những người này chu đáo để cám ơn họ trước về nỗi vất vả mà họ sắp làm để đưa cha, mẹ mình về với … đất !

Sự tích gắn với tập tục

Khi đi điền dã trong dân gian vùng Bạc Liêu – Hậu Giang – Đồng Tháp, chúng tôi được các bậc trưởng thượng kể cho nghe tích Điền Hoành – một tích gắn liền với lễ phá quàn. Điền Hoành là người hiếu nghĩa, giỏi võ nghệ nhưng đã bỏ nhà từ lâu đi làm thảo khấu.

Ngày kia, khi nghe tin lâu la báo tin rằng mẹ mình đã chết, Hoành quyết bằng mọi giá phải đánh cắp quan tài mẹ, ngay trong đêm, đem nhanh về núi, để có thể săn sóc phần mộ. Công việc không dễ dàng vì bọn cường hào đang theo dõi, chờ bắt. 9-pha-quan-1Khi bọn lâu la đã hoàn thành việc dọ thám, kế hoạch được triển khai…

Nửa đêm họ xuống núi. Cả bọn được lệnh ngậm thẻ để giữ im lặng, không hở môi. Anh ta cầm đuốc mở đường, chỉ huy bọn lâu la xông vào nhà “ăn cắp” trót lọt cái quan tài, rồi trở ra nhanh. Đi khỏi xóm một đổi, anh ta mới bắt đầu than khóc, họp lâu la hò hát cho đỡ mệt lúc khiêng lên sườn núi. Dọc đường, để chăm sóc cái quan tài không bị xao động, anh ta nhảy lên đứng trên mấy cây đòn khiêng để quan sát, đề phòng bọn cường hào đuổi theo…

Đó là sự tích và câu chuyện ấy lại gắn với cách di quan và an táng của người chết ở miền đất này.

Người biết nghi thức di quan và động quan đóng vai Nhưn quan, theo tích xưa thì đấy là tên cướp chịu tang cho mẹ, nên vẽ mặt dữ dằn (chân mày đen rậm, mặt tướng), thường mặc đồ đỏ, còn những người khiêng quan tài (đạo tỳ) thì mặc quần áo có kiểu thức rất đặc biệt như bọn lâu la, mỗi người ngậm một cây nhang tượng trưng cho thẻ lệnh. Trước khi hoạt cảnh diễn ra, tất cả đều thi lễ trước quan tài người quá cố.

Đoàn đạo tỳ lạy xong, Nhưn quan quay ra, hoạt cảnh chính thức bắt đầu, Nhưn quan tay cầm hai ngọn đuốc lửa cháy rực (cán làm bằng khúc tre tươi non thước tây, ngọn đuốc quấn bằng vải mùng tẩm dầu), chỉnh tề hàng ngủ.

Trước quan tài, thầy chùa hóa thân thành người giữ linh cữu, tay cầm dải vải màu vàng chừng hai thước tây, múa mấy bài quyền như để khử trừ yêu quái, gọi là “phá quàn”. Đoạn thầy cho hai đệ tử (những người này thường nằm trong ban nhạc lễ được chủ nhà thuê) đứng trước hàng cầm hai thanh tre tượng trưng như hai thanh đao, gác tréo, chận ngang như để gìn giữ chiếc quan tài ấy.

Thầy chùa cúng vái trước quan tài xong, quay ra hét lớn : Nghe tiếng quân reo ngoài ngõ… giờ kiết nhựt linh sàng đã đến hay sao… ta chẳng thấy Nhưn quan lai đáo … Nhưn Quan nhảy ra vừa múa vừa nói : Dạ dạ… Bẩm, Nhưn quan lai đáo… xin bẩm bạch tôn sư… có điều chi tôn sư chỉ dạy… (nói giọng mỉa mai rồi định xông vào).

Thầy chùa : Dang ra… Nhà ngươi là ai… từ đâu đến… hãy hài danh hài tánh, 9-pha-quan-2hài thị hài thiềng (thị, thành – nói trại đi), cho bổn sư được rõ…

Nhưn Quan : Như ta đây Thất Đài San quê ngụ… danh tánh thị Điền Hoành… nghe gia nhân mách bảo rành rành, gia trung nầy có một quan tài,… mà quan tài ấy đáng giá ngàn vàng trăm lượng… Ta sợ yêu tà cám dỗ,…nên ta mới hạ san xuống thu đoạt quan tài tịch tịch a !…

Thầy chùa : Hay, hay dữ a ! Ngươi mau cho ta xem qua chứng chỉ của vua ban đặng hãn tường chơn giả !

Nhưn Quan : Ạ… ạ… nhà ngươi đòi xem … thì đây là chiếu chỉ vua ban… ta trình lên để hắc bạch phân minh (thò tay lấy từ thắt lưng ra tờ giấy đỏ tượng trưng cho chiếu chỉ vua !)

Thầy chùa : Nếu nhà ngươi là tướng cướp đã phục thiện làm lành thì ta nói rõ, đây không phải hòm vàng mà là một quan tài ta đã giữ từ lâu, nay gặp lại nhà ngươi ! Ta sẵn sàng giao lại. Nhưng ta cho ngươi biết quan tài nầy làm bằng gỗ huỳnh đàn… đầu chạm vàng trang sức nặng ngàn cân… nhà ngươi có binh mã bao nhiêu mà đòi thu đoạt.

Nhưn quan : Quân của ta lớp lớp… hàng hàng… Dù quan tài có nặng vạn lần, ta đây cũng san bằng trở lực…

Khi Nhưn quan hát, thầy chùa ra vẻ lóng tai nghe, tỏ ý chấp thuận, đoạn hô to : Truyền ! Các tư kỳ sự ! (Truyền : Ai lãnh việc gì phải giữ lấy việc ấy).

Hai người cầm đao canh giữ trước quan tài lùi ra, thầy chùa cũng lui vào (chuẩn bị thay áo già để dẫn vong), công việc coi như đã giao lại cho Nhưn quan. Nhưn quan cầm đuốc lửa, vừa múa vừa tiến vào : Vâng lời thầy Đức Trọng, Cao Long ! Hỡi đạo hò đàng ta ! (Đạo tỳ đồng “dạ” hoặc “ơ” thật lớn).

Nhưn quan hét : Vậy chớ nào, như hà linh cửu ?

Nhưn quan bước vào bàn minh tinh đốt nhang, rồi khóc thương thảm thiết, lấy chiếc khăn tang trắng (được chuẩn bị sẵn để trên cái dĩa ở bàn minh tinh) quấn lên đầu mình. 9-pha-quan-3Nhạc cổ truyền: kìm, cò, tranh, sáo, tiêu, … đệm theo lời ca.

Nhưn quan ca điệu Nặng tình xưa

Mẹ (hoặc cha, tùy theo người mất) ơi ! Con đến muộn, mẹ giờ quy tiên; Bất hiếu nhi vô dụng, chẳng lo gì cho mẫu thân; Nay con quỳ lạy trước linh sàng; Mong mẹ tha thứ tội tình; Bản thân con giờ đây mất mẹ; Con biết tìm đâu được mẹ kính yêu; Bổn phận con – kể từ hôm nay; Không có mẹ hiền răn la dạy bảo; Mà chỉ còn, đưa tiễn từ liêm; Mẹ thứ tha cho đứa con bất đạo; Con lạy tạ, mẹ về cực lạc; Con làm tròn hiếu tử với mẫu thân; Nay con vĩnh biệt mẹ hiền… (khóc la thảm thiết).

Đoạn Nhưn quan nhảy múa ba vòng xung quanh trước quan tài, lăn qua cả dưới đáy hòm như để khám xét xem sự nặng nhẹ, khó dễ trong việc cử quan, lúc bấy giờ trên nắp quan tài người ta có để cái dĩa với mấy đồng bạc, Nhưn quan đưa tay ra bộ lấy bỏ vào túi, miệng ngậm dầu lửa phun vào ngọn đuốc, lửa bốc cao đỏ rực, trống, kèn, đờn tấu vang liên hồi, Nhưn quan quay phắt trở ra hô to :

– Hỡi đạo hò đàng ta ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ” vang dậy). Phải chính túc đai cáo… Cúc cung từ bái ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Y lịnh, đạo tỳ đồng lạy linh cửu theo một kiểu cách đặc biệt. Xong 4 lạy. Nhưn quan hát:

– Đây chi nài khó nhọc; Đó chớ nệ tiếc công; Nghiêng mình vàng đỡ lấy quan tài; Di linh cữu táng an phần mộ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Sau đó, Nhưn quan điều khiển hai hàng đạo tỳ tiến vào (mỗi bên 5 – 6 người), chủ nhà dẹp nhanh các trướng, bàn đưa, bàn điếu, khiêng bàn minh tinh qua một bên, lư hương được con trai trưởng hoặc cháu nội lớn bưng, con dâu, hoặc đứa cháu lớn (có khi là con Út) theo che dù, theo sau là bài vị, hay ảnh chân dung người mất, và tấm triện (tấm giấy đỏ do thầy chùa viết bằng chữ Hán, với nội dung dẫn vong linh người quá cố về cõi hư vô).

Nhưn quan điều khiển tập thể đạo tỳ phò linh cữu đặt lên vai từ từ đưa ra khỏi nhà, bấy giờ, 9-pha-quan-4Nhưn quan bỏ đăng chúc (đèn), hai tay cầm hai chiếc sanh bằng cây tre, miệng hát lên, trong khi tay thì nhịp gõ:

– Bớ đạo tỳ ta ! (“ơ”) Hãy lẵng lặng mà nghe ba hồi sanh lịnh ! (gõ sanh: cắc, cắc).  – Một hồi sanh, ngồi đâu ngồi đó ! (cắc cắc… cắc).  – Hai hồi sanh, rán vó lên eo ! (cắc cắc… cắc).  – Ba hồi sanh, thượng lộ đăng đàng ! (cắc cắc… cắc)

Qua mỗi lệnh truyền và tiếp theo một hồi sanh, những động tác rập ràng thuần thục diễn ra đồng bộ trong không khí nghiêm mật và im lặng khác thường, nếu huyệt mộ ở sau vườn đất nhà thì đạo tỳ khiêng một lượt tới nơi mới để quan tài xuống ghế kê sẵn, còn nếu đường đi xa thì đưa quan tài lên chiếc nhà vàng (linh xa) từ từ chuyển động đúng theo động tác rất ăn ý của tập thể Nhưn quan, đạo tỳ. Để đánh tan cái u sầu nhất định trong giờ phút đau đớn này, Nhưn quan và đạo tỳ đồng cất giọng để tỏ lòng thương tiếc người chết :

Ô hô! Tam thốn khí tại thiên bang dụng, 

Nhứt đán vô thường vạn sự hưng. 

Người về âm cảnh quan liêu, 

Kẻ còn dương thế những triêu tịch sầu !

Thầy chùa lúc bấy giờ mặc áo già, tay cầm chiếc sênh, miệng tụng kinh để dẫn vong. Con cháu, dòng họ đưa tang tay cầm nhang lần lượt đi theo sau quan tài, ra khỏi nhà. 9-pha-quan-5Trên đường đi, trống đánh liên hồi, người ta còn rải vàng bạc dọc đường với ý nghĩa cho ma cũ lượm tiền xài, không theo phá để đạo tỳ khiêng quan tài nhẹ hơn,

… Đối với người Việt ở miền Tây Nam bộ thường không có hiện tượng “nằm lăn đường”, nhưng trong quá trình đưa đám, các con, cháu thường đi lùi, hai tay chống ngược với đạo tì thể hiện sự đau đớn, bịn rịn không muốn “đưa” cha mẹ về nhanh với … đất !

Đến nơi, người bưng lư hương đến trước, hàng được đạo tỳ đặt trên ghế, con cháu vái lạy lần nữa, rồi dưới sự hướng dẫn của Nhưn quan, hàng từ từ được đưa xuống đất (người ta để ở hai đầu hàng hai nửa cây cà bắp nối lại làm dây để thòng quan tài xuống huyệt), khi hàng chạm đáy, người ta dùng dao cắt bỏ dây, người con trai trưởng bỏ xuống huyệt nắm đất đầu tiên, sau đó các anh em con cháu khác lần lượt thực hiện thao tác ấy, nó thể hiện ý nghĩa con cháu táng an cho ông, bà cha, mẹ.

Lúc bấy giờ người ta đánh một trống dài nữa rồi dứt luôn (người ta kiêng không được đụng đến mặt trống sau khi đã chôn cất).

Những người hàng xóm được chủ nhà mượn lo việc chôn cất khỏa đất dần dần đến khi đầy, người ta đắp thành nắm mộ, trên cùng đắp chiếc chiếu cho người nằm dưới đất sâu đỡ lạnh.

Người đi đưa, dần dần trở về. Thầy chùa đi trước tụng kinh dẫn vong, người bưng lư hương quay về. Nhưn quan và đạo tỳ đã xong nhiệm vụ. Nhưn quan đi đến một quãng xa, lột “khăn tang” độc thần chú hóa bùa, làm phép “giải thoát”, rồi đốt đi. 9-pha-quan-6Coi như anh ta đã trở về người bình thường.

Một tập tục xưa mà các nhà nghiên cứu dân gian cho là gắn liền với hò đưa linh ở miền ngoài “di cư” vào đây đến nay vẫn còn đó, có điều nó đã ít nhiều thay đổi theo hướng chuyên nghiệp át dần nghi thức dân gian.

– Kim Hùng lễ phá quàn động quan (1:00’) : https://youtu.be/4o5Czd3J97E

Nhưn Quan và tục Phá Quàn :  https://youtu.be/nV8VZEDVVHY

Mời xem clip video do 7 Hiền quay :

https://www.youtube.com/watch? v=SaKpcJ9LCwI

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr buon 2HÒ ĐƯA LINH

KHÚC BIẾN TẤU ĐỘC ĐÁO

TRONG HÒ BIỂN NHÂN TRẠCH 

Xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, là một vùng quê có nhiều đời sinh sống, gắn bó với nghề đi biển. Với tính cách của người làng biển thật thà, chất phác sống chan hòa cởi mở, thân thiết ân tình trong tình làng nghĩa xóm cũng như giao hòa với biển khơi đó chính là nguồn gốc tạo nên những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo trong đời sống tinh thần của người dân làng biển Nhân Trạch.

Khi nhắc đến các làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống của Nhân Trạch thì gợi mở đầu tiên trong tâm thức của mỗi người đó chính là những điệu hát khoan chèo cạn khỏe khoắn, mạnh mẽ và những điệu hò biển ngọt ngào, gắn bó với công việc và cuộc sống hằng ngày của ngư dân, được bao thế hệ người dân nơi đây giữ gìn, phát triển…

9-ho-dua-linh-1Trong lối hò biển được người dân xã Nhân Trạch lưu truyền và phát triển từ bao đời nay có lối hò múa quạt, hò múa hoa đăng, hát chèo cạn, hò đưa linh…Các loại hình hát khoan chèo cạn của hò biển Nhân Trạch được thực hiện đầy đủ trong lễ hội cầu ngư tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân thì hò đưa linh là một trong những hình thức diễn xướng độc đáo và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống của người dân làng biển.

Hò đưa linh ở làng biển Nhân Trạch – Bố Trạch vốn khởi phát là một hình thức diễn xướng dân gian được thực hiện trong lễ cầu ngư sau khi kết thúc bài xưng của các bà cai và điệu chèo cạn của các hò con. Dưới sự chỉ huy của 2 bà cai đứng trước đội hò con xướng lên giọng hò cái với điệu hò đưa linh trước biển đông rằng :

“Biển đông đài cát đại ngàn biển đông

Cúi đầu trăm lạy đức ông

Cầu cho thất ứng thất thông nhiều bề

Anh linh hiển hách nhiều bề……

Lý Nhân Nam vui thú hề

Đức bà đẹp ý ghép vô lạch nhà…”

Điệu hò đưa linh trong lễ cầu ngư được xướng lên cao vút cùng nhịp phách, tiếng trống và cả nhịp chiêng hòa cùng gió biển, sóng biển để ngưỡng vọng tới linh hồn Đức Ông, Đức Bà (cá Voi) để cầu cho làng biển Nhân Nam (tức làng Nhân Trạch) 9-ho-dua-linh-2được trời yên biển lặng, cá tôm đầy tàu cho cuộc sống càng thêm no đủ.

Đặc biệt điệu hò đưa linh ở Nhân Trạch không những chỉ được sử dụng trong lễ cầu ngư mà lối hò đưa linh còn được dùng để phục vụ đám tang của những ngư dân làng biển Nhân Trạch. Hò đưa linh lúc này được thực hiện với ý nghĩa là cầu nối để tiễn đưa linh hồn của người đã khuất về nơi an nghĩ cuối cùng. Hò đưa linh được diễn ra trong suốt thời gian có đám tang kể từ lúc phát tang cho tới khi mai táng xong.

Ở Nhân Trạch, hò đưa linh chỉ diễn ra trong đám tang của những người được xem là đã hưởng thọ trên đời (thường là những người qua đời tuổi 60 trở lên). Câu hò được cất lên vừa để chia buồn với gia chủ, vừa giúp linh hồn người chết siêu thoát nhưng hò cũng là để thưởng thức nét đẹp văn hóa của hình thức diễn xướng dân gian làng biển.

Người đến viềng đám tang trước là để chia buồn với gia chủ, tiếc thương người quá cố đồng thời còn để thưởng thức giọng hò hay, ngôn hay ý đẹp trong điệu hò đưa linh. Nội dung của các câu hò đưa linh trong đám tang được chuẩn bị rất công phu, tỉ mĩ. 9-ho-dua-linh-3Tùy theo gia cảnh, thân thế, cuộc đời của người chết mà có các bài hò khác nhau.

Thông thường nội dung của những câu hò đượm buồn, khéo léo hơn trong mỗi chặng hò, người hát có cách chọn lựa ngữ cảnh rất chu chỉnh để xướng hò cho phù hợp, ngân giọng hò ai oán, bi thương, tiếc nuối khi người lìa cõi đời. Khi hát hò đưa linh trong đám tang sẽ có hai người hát “hò cái” gõ phách (như bà cai trong hát hò khoan ở lễ cầu ngư) và 12 người còn lại hát “hò con” vừa hò vừa diễn xướng và phụ họa, cùng một người đánh trống đại.

Những câu hò trong hò đưa linh thường có nội dung kể lại cuộc đời của người đã mất, nói lên công cha nghĩa mẹ sinh thành, thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, kể nỗi lòng đau thương, luyến tiếc của con cháu khi phải chia tay cha mẹ, ông bà. Ví dụ như hò trong đám tang của người cha thọ tám mươi tuổi các câu hò được xướng lên rằng:

“Chia tay kẻ ở người đi

Lòng nào mà chẳng sầu bi não nề

Nay sinh từ giã thân kỳ

Đưa linh một khúc mà về tây phươn…….g…

Tám mươi năm gắn bó cuộc đờ

Bao nhiêu vất vả nuôi con trưởng thành

Năm trai ba gái ngời ngời

Nay về chín suối thương hoài cháu con…”

Những câu hò được xướng lên trong các đám tang nơi miệt biển Nhân Trạch như đồng vọng với tiếng trống, tiếng kèn và đồng vọng cùng lòng người 9-ho-dua-linh-4với mong cầu tiễn đưa linh hồn người đã mất siêu thoát về nơi cực lạc.

Qua bao thời gian, điệu hò đưa linh vẫn đang được người dân Nhân Trạch lưu giữ gắn bó bền chặt trong đời sống tinh thần của ngư dân quê biển. Điệu hò ấy được cất giữ trong tâm hồn mỗi một người dân Nhân Trạch, làm nên khúc biến tấu độc đáo của điệu hò biển – lớp văn hóa đặc sắc văn hóa của làng biển quê hương. (theo Lê Hữu LợiPhòng VHTT Bố Trạch) 

– Tham khảo clip về Hò Đưa Linh : https://youtu.be/B-U2XtjIiqo

– Hò Đưa Linh (Chèo Cạn) – Đua Ghe Làng Phương Diên (0:45’)

Hò Đưa Linh hay gọi là Chèo Cạn, một buổi như văn nghệ trên bải cát đêm trước ngày đua chính thức. Đây là một phong tục tập quán của Làng Phương Diên, Thừa Thiên Huế : https://youtu.be/VePqTxMpqmg

Xuân Mai chuyển tiếp

ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

Logo su kien 1

9-le-via-1ĐẠI LỄ DIÊU TRÌ KIM MẪU

TẠI TÂY NINH

Tây Vương Mẫu, còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần từ bi trong truyền thuyết Trung Quốc, có diện mạo là một bà già hiền lành.

Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng bàn đào là giống đào tiên, ăn vào trẻ mãi không già. Có thuyết nói rằng thuở hỗn mang, tinh tuý trời đất sinh ra Nguyên Thuỷ Thiên vương, rồi sinh Thái Nguyên ngọc nữ. Thái Nguyên ngọc nữ sinh ra Thiên hoàng và Tây Vương Mẫu, Thiên hoàng sinh Địa hoàng, Địa hoàng sinh Nhân hoàng.

Truyền thuyết khác : Tây Vương Mẫu tức Dao Trì Kim Mẫu cai quản Tây Côn Lôn, cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình, Ngọc Hoàng Đại Đế là con thứ 10 (9 người anh trước bị Hậu Nghệ bắn chết) của bà và Thiên Đế, sau khi Thiên Đế bị Ma tộc hại, Ngọc Hoàng Đại Đế lên thay. Trong Tây Du Kí có nói 9-le-via-2Tây Vương Mẫu có 1 vườn bàn đào, sau bị Tôn Ngộ Không ăn trộm gần hết.

Có thuyết nói rằng Tây Vương Mẫu họ Dương tên Hồi và còn có tên là Uyển Cấm (Thiên Dao). Bà cùng chồng là Đông Vương Công (Hạo Thiên Thiên Đế) hòa hợp hai khí âm dương tạo ra trời đất thiên địa, họ là chủ nhân và cai quản mọi vật trên thế gian.

Theo giáo lý Cao Đài thì Tây Vương Mẫu do nhị khí âm dương mà thành, quyền phép vô biên vô giới, hữu hữu vô vô, nắm trọn thiên điều trong tay mà tác thành Càn Khôn thế giới, còn gọi là Kim Bàn Phật Mẫu. Bà cai quản các nữ thần còn chồng bà cai quản các nam thần.

Trong Tam Thế bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo, khi lên trời đều phải bái Mộc Công (Đông Vương Công), sau bái Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) mới có thể lên chín tầng mây và nhập vào trong Tam Thánh.

Tây Vương mẫu sau khi dùng phép thuật giúp cho Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu, còn tặng vua Thuấn địa đồ và phái sứ giả dạy cho cách sử dụng Bạch Ngọc địch (sáo) mà thổi thì hàng năm sẽ mưa gió thuận hòa,mùa màng sung túc.

9-le-via-3

Tây Vương mẫu có tất cả 9 người con trai, 23 con gái, nên phụ nữ muốn sanh con gái thì thường cầu khấn bà. Dân gian cho rằng Tây Vương Mẫu có thuốc Trường Sinh Bất Lão, sau đó đã tặng nó cho Hằng Nga.

Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 3 là ngày sinh Tây Vương Mẫu, và cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, nên cúng tế bà.

Đạo Cao Đài lấy ngày rằm tháng 8 là ngày Hội Yến Diêu Trì tức là ngày hội của Tây Vương Mẫu với con cái của Người, chứ không có ngày đản sanh.

9-le-via-4

Ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu

Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai ngày lễ quan trọng nhứt :

– Một là ngày Vía Trời hay Vía Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ vào ngày Mồng 9 tháng Giêng âm lịch.

– Hai là ngày Vía Đất hay Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU nhằm ngày tiết Trung Thu Rằm tháng 8 âm lịch.

Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ thuộc tượng CÀN (Càn vi Thiên) và trong Bát Quái Tiên Thiên tượng Càn đứng số 1 cho nên ngày vía NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cũng cử hành vào tháng thứ nhứt hay tháng Giêng của mỗi năm âm lịch.

9-le-via-5

Còn Đức KIM TRÌ KIM MẪU thuộc tượng KHÔN (Khôn vi Địa) đứng số 8 cho nên vì lẽ đó ngày vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU được cử hành vào tháng 8 âm lịch.

Theo Bát Quái Tiên Thiên thì Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, và Khôn 8.

Kinh cúng trong dịp ngày lễ Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU có câu :

“ Trung Thu tháng Tám đêm rằm,

Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần”.

Ý nghĩa ngày vía Diêu Trì Kim Mẫu

Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ 9-le-via-6trong dịp Trung Thu.

Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng.

Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan. Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.

Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.9-le-via-7

Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào. (theo Chơn Tâm và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

Logo Phong su

Tr an uong 2ĂN CƠM CHAY XỨ ĐẠO CAO ĐÀI,

NGON THẤU TRỜI !

Chỉ mỗi cây chuối mà các dì, các chị ở Tòa Thánh Tây Ninh chế biến được mấy món, nào là nấu canh chua, bóp gỏi, xào với nghệ, ăn sống với tương hột,…

Năm nào cũng vậy, cứ sắp đến Tết Trung thu là khắp các ngả đường, những chiếc xe khách đủ cỡ với đủ biển số các tỉnh nối đuôi nhau đổ về Tòa Thánh Tây Ninh (huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) để dự đại lễ vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu – một trong hai lễ lớn của đạo Cao Đài.

Nhớ hồi còn nhỏ, cái cảnh người – xe nườm nượp từ khắp nơi đổ về khiến Tây Ninh vốn bình yên bỗng rộn ràng hẳn lên làm người bản xứ như tôi cũng nôn nao. Dịp này, trong đạo tổ chức triển lãm các loại hoa 9-com-chay-1quả, bánh trái và múa lân, múa rồng nên nếu không đi học thì coi như bọn tôi lê la ở đó cả ngày.

Do khách thập phương đổ về dự lễ đông nên trong đạo tổ chức luôn chuyện ăn uống cho mọi người. Bất kể giờ nào, chỉ cần đến Trai đường là có cơm chay lót dạ miễn phí. Tụi tôi dù không phải khách thập phương nhưng dạo chơi đói cái bụng lại vào đây chực cơm.

Thực phẩm ở đây do người địa phương cung cấp, chế biến là do các dì, các chị, nói chung ai có gì góp nấy. Người Tây Ninh vốn sùng đạo và thích làm công quả nên Trai đường không bao giờ thiếu thực phẩm.

9-com-chay-2

Đừng nghĩ cơm chay thì đơn điệu, qua bàn tay vén khéo của các dì, các chị những thứ rau củ thường ngày bỗng thành bao nhiêu món ngon. Riêng chuối cây (được mang về từ núi Bà Đen) là có thể làm gỏi, nấu canh chua, xào với nghệ hay chấm sống với tương hột.

9-com-chay-3

Thực đơn những bữa cơm ở Trai đường hầu như không trùng nhau. Món mặn chủ đạo thường là muối sả và mắm sắc còn canh, rau, món xào thì thay đổi liên tục. Cũng bầu cũng bí, cũng rau muống, bắp chuối nhưng mỗi bữa cơm mỗi cách chế biến khác nhau.

Còn nhớ hồi còn nhỏ, cứ tới bữa chực cơm trai đường. Không phải xin xỏ gì, cứ việc đến khu vực để chén đũa lấy một bộ rồi coi bàn nào trống thì ngồi. Tụi tôi thường phân công đứa lấy chén, đứa giành chỗ (không phải sợ thiếu đồ ăn mà giành chỗ ngồi gần nhau cho vui). Nghĩ cũng lạ, chỉ ăn canh chua rau muống, muối sả, rau sống chấm tương thôi mà ngon thấu trời.

9-com-chay-4

Nhiều khi thấy toàn con nít lóc chóc, các cô các bác chạy bàn ưu ái cho thêm vài trái chuối, trái quýt tráng miệng. Sướng nhất đời rồi còn gì.

Lớn lên, đi học rồi đi làm xa nên đón những cái tết Trung thu ở quê nhà cứ thưa dần. Dù vậy, hễ có dịp về quê đúng rằm tháng Tám, tôi lại tranh thủ ghé Trai đường “ăn chực”. Dĩ nhiên lớn rồi có ý thức hơn, trước khi ăn cũng dành thời gian xuống bếp phụ xắt, gọt rau củ; ăn xong lại phụ rửa chén mới về.

9-com-chay-5

Qua bao nhiêu năm, Trai đường vẫn rộn ràng tấp nập như ngày nào và đồ ăn ở đây thì phải nói ngon hơn, phong phú hơn gấp bội. Bây giờ đời sống khá giả, người ta hiến nhiều thức ăn hơn xưa nên cung luôn vượt cầu. Trên bàn ăn Trai đường bây giờ không chỉ 3-4 món như xưa mà có khi lên cả chục món.

9-com-chay-6

Trai đường bây giờ cũng hiện đại hơn xưa, nước nôi đầy đủ, bàn ghế khang trang, cơm nấu bằng lò hấp, người phụ việc ai cũng phải đeo bao tay để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Lẽ thường cái gì miễn phí thì hay gặp phải cảnh chen lấy hoặc chất lượng kém nhưng cơm Trai đường ở Tòa Thánh Tây Ninh thì ngược lại. Ở đây đông thì có đông nhưng không bao giờ có cảnh bon chen, thức ăn chỉ là món chay nhưng ai ăn một lần cũng phải bất ngờ vì sao mà ngon quá đỗi.

9-com-chay-7

Vì vậy, Tết Trung, có đi Tây Ninh đừng quên ghé Tòa Thánh Tây Ninh dùng một bữa cơm chay với người dân xứ đạo Cao Đài. Bảo đảm bạn sẽ không chỉ ghé 1 lần mà thôi !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo bay gio ke

Tr cau hoi 2CẶP KHÁNH ĐÁ CỔ Ở

NGÔI CHÙA NGHÌN NĂM TUỔI THỜI LÝ

Chùa Long Cảm (Thanh Hóa) được xây dựng từ thời nhà Lý hiện lưu giữ đôi khánh đá tiếng ngân như chuông đồng. Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn ở thôn Trang Các (xã Hà Phong, Hà Trung, Thanh Hóa).

Tuy nhỏ nhưng Long Cảm tự có cảnh trí rất đẹp với lối kiến trúc cổ kính và được bao bọc bởi đồng ruộng và làng mạc thôn quê yên bình.

Theo sư thầy trụ trì Thích Đàm Quang, Long Cảm là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Thanh. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này phù trợ, ban thêm sức 9-khanh-da-1mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ sai dựng ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.

Trải qua gần 10 thế kỷ, nhiều triều đại phong kiến đời sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách cũng coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét nghìn năm, được cung tiến qua các lần trùng tu.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, ấn tượng nhất với phật tử và du khách bốn phương khi đến vãn cảnh chùa Long Cảm là cặp khánh đá cổ đặt ở sân chùa. Hai chiếc khánh rất lớn, nặng khoảng 300-400 kg, cùng màu đá xanh xám, được treo ngay ngắn trên các trụ đá và đặt song song nhau.

Điểm khác của chúng là một chiếc có hoa văn chạm trổ hình đám mây, một chiếc đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Căn cứ vào các thư tịch cổ và văn tự khắc trên đôi khánh đá, các nhà nghiên cứu lịch sử đều có chung nhận định, chúng không có chung nguồn gốc cũng như niên đại.

Theo sư thầy Thích Đàm Quang, chiếc khánh lớn có họa tiết hoa văn vốn không phải của nhà chùa. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa Long Cảm cung tiến nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân.

9-khanh-da-2Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang từng mấy chục năm làm trụ trì ở đây cũng không rõ có từ bao giờ. “Không có cứ liệu rõ ràng nhưng thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng chùa, tức là đã nghìn năm nay rồi. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, niên đại chiếc khánh cổ gần hơn, vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300-400 năm trước. Trông nó giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, có thể do sử dụng nhiều…”, thầy Đàm Quang nhận định.

Điểm khác biệt lớn nhất của hai chiếc khánh cổ còn nằm ở tiếng ngân vang. Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, với chiếc khánh đá cũ chỉ cần lấy tay vỗ vỗ sẽ phát ra những tiếng kêu trầm bổng ngân dài. 9-khanh-da-3Nếu dùng vồ gỗ gõ mạnh, nó ngân như tiếng chuông đồng, vang xa. Còn với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra tiếng “lạch, cạch” trầm đục.

Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo lý giải, sự khác nhau về âm thanh của đôi khánh cổ là do chất liệu đá. “Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”, ông Bảo nói.

Ông Bảo cho hay, núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (TP Thanh Hóa), cách chùa Long Cảm gần 30 km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, núi từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng nghìn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá để làm khánh, bia, tạc tượng và nhiều vật dụng khác.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất xa xưa. Trong cuốn Vân đài loại ngữ, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng : “Hoạch Sơn loại đá kêu vang / Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi / Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút 9-khanh-da-4trần ai lạc vần…”.

Sư thầy Thích Đàm Quang cho hay, khánh là một trong những pháp khí cổ xưa của Phật giáo. Hiện nay, không còn nhiều chiếc khánh đá cổ như ở chùa Long Cảm. “Âm thanh của khánh đá có tác dụng rất mầu nhiệm với người tu thiền. Các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên cũng đủ làm cho các ngài thức giấc” sư thầy Đàm Quang nói.

Hiện du khách thập phương vẫn thường tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá cổ mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người gõ khánh để cầu may mắn, bình an hay cầu tự. (theo Lê Hoàng)

Phan Tất Đại chuyển tiếp