PHONG TỤC NGÀY TẾT

NGUỒN GỐC NHỮNG PHONG TỤC

NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN

Tết có nhiều phong tục, nét đẹp vậy nhưng bạn có tự tin là mình đã hiểu rõ về Tết cổ truyền của dân tộc hay chưa ?

1/. Tên gọi “Tết Nguyên Đán” : Tết Nguyên Đán có phiên âm gốc là cụm từ Tiết Nguyên Đán. Theo tiếng Hán, Tiết là tiết khí trong lịch của những nước nông nghiệp, Nguyên nghĩa là khởi đầu và Đán là buổi sáng sớm.

Ngày mồng một Tết Ta không bao giờ trước ngày 21/1 và sau 19/2 (Dương lịch) do quy luật ba năm nhuận một tháng của Âm lịch.

2/. Tục mừng tuổi (lì xì) : Tục lệ mừng tuổi đầu năm (lì xì) xuất phát từ một truyền thuyết của Trung Quốc. Chuyện cổ kể rằng có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa, thích xoa đầu trẻ con và khiến đứa trẻ đau đầu, sốt cao, làm các bậc cha mẹ không dám ngủ để canh phòng.

Năm đó có cặp vợ chồng đã lớn tuổi mới sinh được mụn con trai. Tết năm ấy, có 8 vị tiên dạo qua nhà, biết trước cậu bé này sẽ gặp tai họa với yêu quái liền hóa thành 8 đồng tiền đồng, ngày đêm túc trực bên bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại, đặt lên gối con rồi đi ngủ.

Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện, vừa giơ tay định xoa đầu đứa trẻ thì từ bên chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực khiến nó kinh hoàng bỏ chạy. Từ đó người lớn  thường bỏ tiền vào bao đỏ (hồng bao), lì xì cho trẻ em kèm những lời chúc khỏe mạnh, chóng lớn…

3/. Màu đỏ trong ngày Tết : Màu đỏ được xem là màu của tài lộc và may mắn. Vì vậy trong các dịp lễ Tết màu đỏ xuất hiện khắp nơi, từ bàn thờ gia tiên cho đến góc bếp, cửa sổ, lối đi, góc vườn… Màu đỏ thể hiện tâm lý của gia chủ, cầu mong thần may mắn sẽ gõ cửa khắp nơi.

4/. Mâm ngũ quả : Ngày Tết, mọi gia đình Việt chuẩn bị mâm ngũ quả đặt lên bàn thờ với năm loại quả khác nhau. Theo quan niệm, năm thứ quả tượng trưng cho ngũ hành (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ) ứng với mệnh của con người. Đồng thời, số lẻ được cho rằng mang lại may mắn, phát triển.

5/. Tục dựng cây nêu trước nhà : Quan niệm xưa tin rằng, dựng cây nêu trước cửa, kèm theo những đồ vật như vàng mã, bùa trừ tà…, cùng tiếng kêu của khánh nhỏ, để báo cho ma quỷ biết nhà có người ở, không được tới quấy nhiễu.

6/. Ăn dưa kiệu : Người Việt Nam cho rằng vào ngày đầu năm mới nếu hũ dưa kiệu vừa ăn không bị quá chua hay meo mốc cũng được xem là điềm đoán cho sự may mắn của một năm.

7/-. Hoa đào, hoa mai trong ngày Tết : Ở Việt Nam, ngày Tết không thể thiếu hoa đào hoặc hoa mai trang trí trong nhà. Theo khí hậu và thổ nhưỡng mà mỗi miền lại ưa chuộng loại cây khác nhau, miền Bắc là hoa đào và miền Nam là hoa mai.

Theo quan niệm của người xưa, từng có hai vị thần trú tại cây hoa đào che chở cho dân chúng khỏi sự quấy phá của lũ quỷ dữ. Chỉ cần thấy đào, ma quỷ sẽ sợ hãi. Do đó, vào những ngày tết, khi hai thần lên gặp Ngọc Hoàng, người dân tự bảo vệ bằng cách bẻ cành đào về cắm trong lọ. Cây đào giúp xua đuổi ma quỷ, màu đỏ tượng trưng cho may mắn, nên hoa đào đỏ thường không thể thiếu trong nhà người miền Bắc ngày tết.

Khác với miền Bắc, người miền Nam chọn hoa mai vào dịp tết. Bên cạnh yếu tố khí hậu, màu vàng của mai tượng trưng cho sự cao sang, phú quý. Không chỉ thế, màu vàng cũng mang ý nghĩa phát triển nòi giống. Thêm nữa, màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, luôn nằm ở vị trí trung tâm, thể hiện vai trò quan trọng.

NHỮNG PHONG TỤC

ĐÓN NĂM MỚI THÚ VỊ

GIÚP CẦU MAY KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI

Phong tục đón Tết độc đáo đã trở thành một phần cuộc sống của người dân ở nhiều nơi trên thế giới, ẩn chứa nguyện ước của họ về một năm mới an lành.

Châu Á

1/. Trung Quốc : Giống như Việt Nam, Trung Quốc đón tết chính theo lịch âm nhưng trong dịp năm mới sắp đến, người Trung Quốc vẫn sẽ trở về quê nhà và quây quần bên gia đình. Ở đây, mọi người sẽ làm những bàn tiệc lớn để ăn uống, chúc tụng và chờ đón thời khắc năm cũ trôi qua, năm mới kéo đến.

Người Trung Quốc cũng có thói quen đốt pháo giấy giống như khi đón Tết nguyên đán, trong khi đó, các thành phố lớn của Trung Quốc cũng bắn pháo hóa chào mừng như các nước khác.

2/. Nhật : Năm mới ở Nhật được gọi là Oshogatsu. Trong những dịp này, người Nhật sẽ trang trí nhà mình thật đẹp với lá thông hoặc tre và các sợi dây. Họ tin răng nó có thể xua đuổi ma quỷ và mang lại sức khỏe, trường thọ cho gia đình.

Vào thời điểm giao thừa, các ngôi chùa đạo Phật ở Nhật sẽ rung chuông 108 lần biểu tượng cho 108 điều sân si và niềm không may của con người, giúp thanh lọc tâm hồn cho một năm mới đến. Ngoài ra, người Nhật Bản cũng tặng nhau những tấm thiệp năm mới cho người thân, bạn bè và cho trẻ con lì xì mừng tuổi như nhiều nước châu Á khác.

3/- Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, những ngày đầu năm mới cũng là dịp con cái thăm viếng và chúc thọ ông bà, cha mẹ, bạn bè đến thăm nhau và chúc nhau những điều may mắn trong những ngày sắp tới. Tuy nhiên, phong tục đón năm mới Âm lịch ở Hàn Quốc có phần cầu kỳ hơn như mâm cỗ cúng đêm Giao thừa lên tới 20 món, nghi lễ đón năm mới và nghi lễ cúng tổ với nhiều yêu cầu khắt khe.

Đặc biệt, trong những ngày Tết, trước cửa nhà người Hàn Quốc thường treo một chiếc “Bok jo ri” (một chiếc xẻng tết bằng rơm) với ý nghĩa hốt thóc gạo rơi vãi bên ngoài và cầu chúc cả nhà no đủ quanh năm.

4/- Singapore : Đối với người Singapore, Tết Âm lịch gắn liền với Lễ hội mùa xuân gồm 3 sự kiện nổi bật: Lễ hội Hoa đăng, Lễ hội Singapore River Hongbao và Lễ hội đường phố Chingay. Trong đó lễ hội Đường phố Chingay là hoạt động sôi nổi nhất, thu hút hàng chục ngàn du khách và người dân địa phương cùng tham gia diễu hành trên đường phố.

Lễ hội thường diễn ra vào thứ 7 đầu tiên của năm mới và kết thúc trước rằm tháng Giêng tại vịnh Marina với điểm nổi bật là những cổ xe khổng lồ được trang hoàng lộng lẫy, các nghệ sĩ trong trang phục lấp lánh và các tiết mục nghệ thuật đa dạng đầy màu sắc.

5/. Philippines : Tại Philippines, hình tròn tượng trưng cho tài lộc, do vậy, đến đêm giao thừa, người dân sẽ mặc lên mình những món đồ có dạng tròn, bao gồm đồ có họa tiết chấm bi, chất đầy túi các loại tiền xu hoặc ăn những trái cây dạng tròn. Nếu muốn cầu tài lộc, hãy nhớ mang theo mình những loại quả tròn và mặc đồ có hình chấm bi dịp năm mới này.

Châu Âu

6/. Anh : Ngày nay, người dân nước Anh thường tập trung quanh quảng trường Trafalgar Square để chờ đón tiếng chuông từ tháp đồng hồ Big Ben, báo hiệu một năm mới đã đến. Trong truyền thống của xứ sở xương mù, người Anh thường có tập tục xông đất vào đầu năm mới. Một vị khách, thường là nam giới, sẽ được mời đi qua cửa sau để vào nhà, và tặng cho chủ nhà một món quà như tiền, bánh mì, than đá để chúc gia chủ sẽ có được may mắn, đủ đầy trong năm nay.

7/. Ireland : Nếu bạn đang muốn đường tình duyên của mình khởi sắc trong năm mới, có thể học hỏi cách người Ireland đặt nhánh tầm gửi dưới gối trước khi đi ngủ đêm giao thừa để cầu mong cho chuyện tình cảm tốt đẹp hơn. Tại Ireland, những người còn độc thân sẽ đặt nhánh cây tầm gửi, cây nhựa ruồi, hoặc cây thường xuân dưới gối với ước nguyện sẽ sớm tìm thấy người bạn đời của mình.

8/. Tây Ban Nha : Vào đúng nửa đêm, người Tây Ban Nha sẽ ăn 12 quả nho trong 12 tiếng chuông mừng năm mới để gặp may mắn cả năm. Mỗi quả nho tượng trưng cho một tháng trong năm vào cần được ăn trong thời khắc Giao thừa. Nếu sau 12 tiếng chuông ai không ăn hết nho thì điều đó được coi là không may.

Người Tây Ban Nha cũng kiêng bước chân trái đầu tiên khi ra vào nhà vào đêm giao thừa hay đi ra khỏi nhà vào sáng hôm sau. Đồng thời, mặc đồ lót đỏ cũng sẽ mang may mắn đến cho cả năm nhưng hãy nhớ rằng phải là đồ người khác cho thì mới được!

9/. Hà Lan : Giống như người Việt Nam ăn bánh chưng vào tết Nguyên Đán, người Hà Lan có truyền thống thưởng thức món bánh Olie bollen – một loại bánh có hình tròn để đón năm mới. Bởi theo quen niệm của người dân nước này, cắn một miếng bánh phồng to vào ngày đầu năm có nghĩa là bạn sẽ được hưởng những điều tốt đẹp, trọn vẹn trong năm tiếp theo.

Một phong tục thú vị khác ở Hà Lan là đốt cây thông noel. Những cây thông được giữa lại từ Giáng sinh sẽ được mang đi đốt thành những đống lửa lớn, như một nghi lễ giúp người Hà Lan xua đi những điều đen đủi của năm trước. Người dân Hà Lan cũng có thói quen dọn dẹp căn nhà của họ vào dịp năm mới.

10/. Ý : Trước đây, người Ý có thói quen đón năm mới bằng cách vứt tất cả những thứ đồ không cần đến qua của sổ. Tuy nhiên ngày nay, người ta ưa chuộng phong tục đón năm mới an toàn hơn là mặc đồ lót màu đỏ và ăn đậu lăng hầm.

Trước khi qua năm mới, chuông sẽ điểm 12 tiếng đếm ngược về lúc 0 giờ của ngày mới, và cứ mỗi tiếng chuông vang lên người ta lại ăn một muỗng đậu hầm. Trong quan niệm của người Ý, đậu hầm đại diện cho tiền xu, vì vậy ai ăn được càng nhiều thì sẽ càng may mắn.

11/. Scotland : Đêm giao thừa ở Scotland được gọi là “Đêm của Nến”. Để chuẩn bị cho năm mới, mọi người thường dọn dẹp nhà cửa và thanh lọc nhà bằng nghi lễ đốt nhánh cây bách xù và đem xông khắp nhà. Vào đêm nay, các gia đình cũng sẽ đặt những đồng tiền trước cửa, khi chủ nhà ra mở cửa vào sáng ngày hôm sau, đồng tiền đó sẽ là đồng tiền phát tài của cả năm.

Người Scotland cũng có tục xông nhà như người Anh. Họ tin tưởng rằng, việc mời một anh chàng đẹp trai, cao ráo với nước da hơi ngăm vào nhà đầu tiên của năm mới thì có nghĩa là may mắn cũng sẽ đến theo.

Châu Mỹ

12/. Mỹ : Trong đêm cuối cùng của một năm, người Mỹ thường đốt đi những vật dụng cũ không dùng tới. Thời điểm nay, mọi người sẽ tụ tập ở các nhà thờ và quảng trường lớn để cùng nhau hát hò, chúc tụng và chờ đợi khoảng khắc giao thừa đang đến gần. Đúng 12 giờ đêm, các nhà thờ ở Mỹ sẽ đồng loạt gióng chuông báo hiệu. Người Mỹ sẽ đồng loạt hô: “Chúc mừng năm mới” và giành cho nhau những cái ôm hôn nồng thắm nhất.

13/. Chile :  Không giống như các nước châu Âu, người thị trấn Talca ở Chile sống tại khu vực Nam Mỹ có thói quen đón giao thừa ngay trong những nghĩa trang của người chết. Người Chile tin rằng giao thừa chính là dịp để sưởi ấm cho những ngôi mộ lạnh lẽo, nơi những người thân đã khuất trở về và chờ đợi họ mỗi năm. Đón giao thừa tại nghĩa trang sẽ giúp những người yêu thương nhau có thể cùng bắt đầu một năm mới hạnh phúc.

Ở nghĩa trang, người ta sẽ mở những bản nhạc cổ điển và thắp những cây nên lung linh trước mọ người thân, cùng nhau kể lại những câu chuyện về gia đình và đón chào năm mới đến gần.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG KIÊNG KỴ NÊN TRÁNH

TRONG NGÀY TẾT

ĐỂ MAY MẮN CẢ NĂM

Người Việt quan niệm, những ngày đầu năm mới nếu gặp nhiều điều tốt thì sẽ may mắn cả năm và ngược lại. Xuất phát từ quan niệm đó nên từ xưa trong dân gian có rất nhiều kiêng kỵ trong ngày Tết Âm lịch.

1/- Không quét nhà vào ngày mồng Một : Trước Tết các gia đình đều quét dọn nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng nên vào ngày Tết không cần dọn dẹp nữa. Những ngày đầu năm, các gia đình đều kiêng quét nhà bởi theo quan niệm nếu quét nhà là sẽ hất tài lộc ra khỏi cửa.

2/- Không đổ rác ngày mồng Một : Phong tục này xuất phát từ câu chuyện của người Trung Quốc. Truyện kể rằng ngày xưa có một người lái buôn được Thủy thần tặng một nàng hầu tên là Như Nguyệt. Kể từ khi có nàng hầu này về nhà, ông ta bỗng trở nên giàu có. Đến một năm, đúng ngày mùng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi, bị ông chủ đánh đập, mắng nhiếc thậm tệ nên nàng tủi thân, biến vào đống rác. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đấy, ông ta trở lại nghèo khó. Bởi vậy, người Việt Nam quan niệm nếu đổ rác ngày mồng Một thì cũng hết tài lộc của gia đình.

3/- Không cho lửa đầu năm :  Lửa tượng trưng cho màu đỏ, cho sự may mắn nên vào những đầu năm, mọi người đều kiêng kỵ cho lửa người khác.

4/- Không cho nước đầu năm : Nước là một trong những nguyên tố khởi nguyên của vũ trụ nên người Việt Nam quan niệm, nước tượng trưng cho sự sinh sôi ”Tiền vào như nước”. Hình ảnh nước đầy ăm ắp tượng trưng cho sự may mắn, sinh sôi, mát lành

5/- Không đi chúc Tết sáng mồng Một : Người Việt Nam thường tránh đi chúc Tết sáng đầu năm vì không muốn xông đất nhà người khác. Với người Việt Nam người xông đất rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả gia đình trong một năm. Ngày mồng một Tết người Việt Nam thường chỉ đi thăm họ hàng, người thân.

6/- Không làm đổ vỡ đồ dung : Người Việt Nam quan niệm đổ vỡ đồ dùng trong nhà như bát đĩa, ấm chén, gương trong ngày đầu năm báo hiệu cho sự chia lìa, đổ vỡ nên rất kiêng kị.

7/- Không tranh cãi, bất hòa : Vào những ngày Tết, mọi người thường cố giữ hòa khí, không tranh cãi, gắt gỏng dù có khó chịu đến thế nào. Người lớn tránh quát mắng, trẻ con không khóc lóc để giữ cho hòa khí một năm luôn vui vẻ, hòa thuận.

8/- Kiêng quan hệ nam nữ : Trong ngày Tết, mùng 1, ngày rằm, người phương Đông có quan niệm kiêng khem, tránh việc gần gũi nam nữ. Bởi lẽ, theo quan niệm cổ xưa, việc quan hệ nam nữ vào những ngày này sẽ dẫn đến những điều vận hạn đen đủi, không may mắn, thậm chí là đại hạn.

9/- Không vay mượn đầu năm : Ngày đầu năm đều tránh cho vay, đi vay, đòi nợ hay trả nợ.Vì theo quan niệm, nếu đi vay thì cả năm sẽ túng thiếu cùng quẫn còn cho vay thì tiền bạc phân tán, không được may mắn, phát đạt.

10/- Kiêng để tang vào ngày mồng Một : Ngày mồng Một là ngày vui của tất cả mọi người nên những nhà nào có tang sẽ được cất khăn tang trong vòng ba ngày, nếu có người mất đúng vào ngày mồng Một thì gia chủ sẽ không phát khăn tang ngay mà để sang sáng mồng Hai, còn nếu nhà có người mất vào ngày 30 thì gia chủ thường thực hiện tang lễ trong ngày hôm đó tránh để sang ngày mồng Một. Những gia đình có tang tránh đi chúc Tết, thăm hỏi người khác.

11/- Kiêng nói những điều xui : Những phát ngôn đầu năm sẽ có ảnh hưởng đến những chuyện sẽ xảy ra trong năm. Vì vậy, bạn đừng nên nói những từ xui xẻo như “Chết mất” hay ” Tiêu rồi”,”Hỏng rồi”. Đó là những từ không may mắn, thay vào đó bạn nên nói chuyện với mọi người bằng những từ ngữ dễ chịu, vui vẻ, và những câu mang lại may mắn không chỉ cho bản thân mà cho cả người xung quanh mình.

12/- Kiêng ăn món xui : Ngày đầu năm, người Việt không ăn những món như thịt vịt, cá mè, thịt chó vì theo quan niệm đó là những món ăn không tốt cho năm mới. Ngoài ra, một số vùng không ăn tôm vì sợ… đi giật lùi như tôm. Nếu ăn trong ngày Tết, công việc sang năm sẽ lùi chứ không thể tiến tới.

13/- Kiêng mua đồ xui : Dân gian có câu “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”, mua gì đầu năm cũng là một việc rất quan trọng bởi nó là món hàng đầu tiên gia chủ mang về nhà. Món hàng mua đầu năm được coi là mua để lấy hên, lấy lộc, bởi “của mua là của được”. Món hàng này mang nhiều ý nghĩa tâm linh hơn thực dụng. Đầu năm kiêng mua dao, thớt, chày, cối… Người ta hay mua muối ngay sáng sớm mùng Một với hàm ý cả năm đậm đà, ý vị.

14/- Xông nhà khi không hợp tuổi : Xông nhà hay còn gọi là xông đất, đây là phong tục tập quán lâu đời của người Việt. Nếu như có một người khách đầu tiên đến chúc Tết gia đình bạn trong năm mới thì người đó chính là người xông đất cho gia đình bạn. Nếu như người đó hợp tuổi với gia đình bạn, hoặc là người luôn gặp may mắn trong cuộc sống thì gia đình bạn sẽ có được nhiều điều may mắn trong năm mới. Vì vậy, những người “nặng vía”, không hợp tuổi với gia chủ đừng nên đến xông nhà ngày đầu năm. Người có tang không nên xông đất nhà người khác để tránh xui xẻo.

15/- Đóng cửa sẽ đói nghèo tù túng : Trong dịp Tết, trừ khi phải ra khỏi nhà đi chơi, thăm hỏi… vì theo tín ngưỡng dân gian từ sớm mồng một đến trước ngày rằm tháng giêng, Ngọc Hoàng cùng chư vị thần tiên sẽ giáng phàm du lý từng nhà và nếu đóng kín cổng, các vị coi như sự bất kính mà giận dỗi bỏ đi và cả năm, thậm chí nhiều năm sau gia đình sẽ không được hưởng phúc, sẽ bị đói nghèo, tù túng.

16/- Tắm rửa, gội đầu hao mòn kiến thức, phúc lành : Ở nhiều nơi, trong dịp Tết thường kiêng tắm rửa, gội đầu trong ngày Tết bởi e ngại thần tướng hao mòn, kiến thức, tài năng cùng phúc lành đã có trong năm cũ bị trôi sạch. Cũng kiêng giặt giũ vào mồng một Tết vì nó ứng với ngày thủy bá, vị thần của sự sinh sôi, thịnh vượng, việc xả đi nhiều nước sẽ làm tổn phúc lộc.

17/- Ăn dở, bỏ thừa cả năm mất mùa, đói khát : Dù món ăn ngày Tết thế nào, cũng tránh ăn nhè, nhả bã, bỏ phí, nếu không cả năm sẽ bị mất mùa, đói khát… Đặc biệt tránh để thừa cơm, gạo khiến sau này lấy phải người chồng/vợ bị rỗ nặng.

Tránh chống đũa vào bát gây sự chậm trễ trong công việc, thua lỗ khi buôn bán và nếu làm nghề nấu ăn thì rất ít khách. Để chữa lại việc bỏ dở ăn uống, ở các lần sau người ta thường ăn cam, dưa, xoài, đu đủ… nhờ có màu đỏ hồng, vị ngọt thơm sẽ mang lại sự may mắn và thành công… Trẻ con thường được khuyên không ăn chân gà tránh viết xấu như gà bới, văn phong cẩu thả, lại hay gây lộn.

18/- Kiêng mở tủ vào mùng Một : Dù là loại tủ gì, kể cả tủ quần áo, cũng không nên mở vào ngày mùng 1 Tết, bởi việc này sẽ làm thất thoát tiền tài và vận may suốt cả năm. Vì thế, người xưa thường chuẩn bị sẵn quần áo cần mặc, treo ra ngoài trước giao thừa.

19/- Kiêng ăn đuôi cá : Ở miền Bắc có một số nơi cầu may năm mới bằng việc ăn cá chép – loài cá vượt vũ môn hóa rồng. Nếu ăn cá chép trong ba ngày đầu năm mới thì trong năm đó sẽ được hanh thông trong chuyện học hành, thăng tiến. Tuy nhiên, nhằm tăng sự may mắn, người ta tránh ăn phần đuôi, để luôn có dư thừa, tích lũy của cải trong năm mới, chứ không chỉ đủ ăn đủ mặc.

20/- Kiêng trượt chân, vấp ngã : Trẻ con, thanh niên thường được người có tuổi dặn dò phải đi đứng cẩn thận, ngay ngắn trong ngày Tết, tránh trượt chân, vấp ngã vì như vậy sẽ bị dông cả năm. Trượt chân hay vấp ngã tượng trưng cho sự xui xẻo, trục trặc trong công việc.

21/- Kiêng ngồi hoặc đứng trước cửa : Việc đứng hay ngồi án ngữ trước cửa chính trong dịp năm mới không chỉ vô duyên mà còn được coi là hành động gây phương hại đến vượng khí gia đình. Luồng khí tốt lành của năm mới trên đường vào nhà sẽ bị chặn lại, hao tán đi, khiến gia đình đó không được may mắn, thành công, hạnh phúc.

22/- Kiêng vỗ vai, quàng vai người khác : Hành động thân mật, bỗ bã này nếu được bạn thực hiện trong những ngày đầu năm mới thì rất có thể gây ra sự khó chịu, thậm chí phản ứng tiêu cực. Nhiều người cho rằng khi bị người khác vỗ vai, quàng vai vào dịp Tết, họ sẽ bị xui xẻo, gặp chuyện buồn về tình duyên hay hạnh phúc gia đình.

Thật ra ngay cả trong những ngày bình thường, nhiều người Việt đương đại cũng tránh tối đa việc bị người khác vỗ vai hay quàng vai.

23/- Kiêng chúc Tết người đang nằm ngủ : Ngày xưa đất tuy rộng nhưng không phải gia đình nào cũng có nhà to để phân ra thành phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách. Vì thế không hiếm trường hợp, khách đến nhà chúc Tết vào sáng mùng một, thấy vẫn có người nằm ngủ do phải thức khuya vào tối giao thừa.

Đã đến nhà người ta thì phải xởi lởi mà chúc Tết, thế nhưng họ không chúc người đang nằm ngủ đó. Nếu không, lời chúc tốt đẹp lại bị xem như lời trù ẻo, muốn cho người ta phải nằm li bì trên giường bệnh. Vì thế, nếu có lòng, khách phải đợi đến khi người đó ngủ dậy mới nói ra lời chúc với họ.

24/- Kiêng đánh thức người khác trong ngày mùng 1 Tết : Gặp trường hợp đi chúc Tết nhà người ta, muốn dành lời chúc cho người đang ngủ nhưng không thể đợi lâu, tốt nhất là vị khách nên chờ dịp khác chứ không được đánh thức anh ta dậy. Không chỉ khách, ngay cả người nhà cũng không nên đánh thức ai trong ngày này, mà phải để người ta tự dậy. Nếu không, người nằm ngủ đó sẽ phải chịu sự thúc giục của người khác trong công việc quanh năm.

25/- Kiêng mặc quần áo màu trắng, đen : Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh… để tạo nên sự hưng phấn và vui vẻ. (Nguyên Thảo (tổng hợp – Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Xuân Mai chuyển tiếp

Advertisements

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

Trong thế giới của pháp thuật tồn tại nhiều bí kíp kỳ lạ. Bùa ngải là một trong số đó, những câu chuyện đồn đại xung quanh chúng vẫn là những điều đầy hấp dẫn và nhuốm màu huyền bí.

Thuật luyện những giống thực vật đặc biệt và truyền cho chúng những khả năng siêu nhiên để sai khiến vào thực hiện những nhiệm vụ như đoán biết tương lai, cải tạo số phận, hay chữa trị bệnh nan y… thời xa xưa khá thịnh hành ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia, Lào và khu vực Đông Nam Á. Người ta gọi đó là luyện ngải và họ tin rằng ngải giúp con người chế ngự sức mạnh huyền bí.

Những pháp sư cao thủ dành cả cuộc đời mình để luyện “công lực”, họ có thể biểu diễn những kỹ năng kinh dị như nhúng tay vào vạc dầu sôi, hay dùng đinh đâm xuyên qua người… Sau khi đã luyện thành cao thủ, họ sẽ tìm và chăm sóc một số loài thực vật mà theo họ có khả năng đặc biệt để truyền các “công lực” sang.

Các thầy pháp thuộc diện cao thủ bao giờ cũng là những tay chuyên luyện bùa ngải hay độc trùng. Thông qua việc nuôi ngải, luyện độc trùng, các pháp sư khẳng định quyền năng của họ, qua đó đánh giá tài cao thấp.

Theo những câu chuyện lưu truyền về thế giới bùa ngải, loại ngải quý hiếm nhất phải kể đến là Phù phấn ngải. Đây là một loại thực vật giống với hoa lan đất nhưng có bộ rễ lớn hơn, thường mọc trong rừng thẳm. Loại ngải này có một lớp bột mịn phủ trên lá, nếu ai vô ý đụng phải sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, sau đó toàn thân sưng phù, đau đớn trong khoảng 100 ngày sẽ chết nếu không được các vị cao tăng cứu chữa. Vì nếu được tôi luyện đúng cách sẽ trở thành một loại ngải cứu người rất quý.

Những cao tăng muốn tìm được loại ngải này phải vào sâu trong rừng thẳm. Khi tìm được phải loại bỏ lớp phấn độc bên ngoài một cách rất khéo rồi đem trồng vào một chậu đất nung, sau đó cho các chất tượng trưng cho Ngũ hành vào (gồm có đất núi, diêm sinh, sắt, gỗ mục, muối biển). Sau khi nuôi trồng ngải rồi, người ta đặt ngải lên bàn thờ và bắt đầu luyện ngải bằng các huyền phép của bản thân.

Khi ngải được luyện xong trong nó sẽ có 2 phần được gọi là thiên năng (năng lực tự nhiên) và linh phù (năng lực của người luyện). Các tay luyện ngải cao cấp còn nuôi ngải bằng trứng gà, hoặc máu gà. Họ cho rằng làm như vậy ngải sẽ mạnh hơn.

Nhưng với những người non tay, luyện cách này có thể gây nguy hại cho chính họ. Phù phấn ngải luyện xong dùng để trị bệnh mất trí, hoảng sợ thậm chí có thể tìm được người bị mất tích.

Một loại ngải còn quý hiếm hơn và bị thất truyền hàng trăm năm là Bạch đại ngải. Người ta cho rằng Bạch đại ngải mọc ở đâu thì các loài thú dữ đều hoảng sợ và không dám sinh sống ở quanh đó. Nếu ai đó trồng loại ngải này mà không biết về tu luyện thì sẽ nguy hại cho bản thân. Trước khi nhổ cây phải ngâm một bài bùa chú, đại khái : “Nhiệm màu thay, nhiệm màu thay / Bạch đại ngải, Bạch đại ngải…”. Nếu loài ngải này mà được một cao tăng luyện thì sẽ trở thành một loại có thể giúp con người cải tử hoàn sinh.

Những thầy pháp sư thiếu “nhân cách”, chạy theo vụ lợi cá nhân hay rình rập để luyện một loại ngải hại người đó là ngải yêu hay bùa mê, thuốc lú. Đó là thứ ngải để “lừa tình”. Ai bị trúng ngải đó tâm thần mê man, không biết gì về đạo lý, bỏ nhà cửa chạy theo tiếng gọi của ái tình. Những người bị trúng ngải yêu có dáng điệu luôn suy tư, hờ hững với xung quanh.

Loại Mê tâm ngải có tác dụng tương tự. Cây Mê tâm lá màu xanh sẫm to bản hình cái kiếm, hoa màu tím đen có đốm trắng, có mùi hắc rất khó chịu. Người trúng ngải này sẽ mất ăn mất ngủ, tâm thần bất loạn. Những kẻ muốn dùng ngải mê tâm hại người bắt buộc phải biết tên tuổi của nạn nhân thì mới thành công. Những tay nuôi loại ngải này thường bị dân làm ngải coi thường, liệt vào loại mờ ám.

Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ. Muốn tìm được loại Huyết nhân ngải phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nhìn thấy và nhổ được vì ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu.

Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú, luyện để loài Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách.

Tại Trung Hoa có một loài thực vật rất quý hiếm mọc trong rừng sâu, trên những thân cây gỗ mục. Có những pháp sư cả đời đi tìm không thể thấy, nhưng nếu ai có duyên sẽ gặp được đó là loại Mai hoa xà vương ngải. Theo những tài liệu về bùa ngải thì loài này có thân mềm mại, lá xanh có đốm vàng trông như rồng cuốn. Hoa nở màu sắc vàng, hồng rực rỡ, có mùi hương vô cùng quyến rũ. Xung quanh cây ngải này có nhiều rắn chúa Mai hoa đến ở vì thế nên người ta lấy tên Mai hoa xà vương để đặt cho nó.

Loại ngải này nếu luyện được thành công, khi ngậm vào miệng sẽ giúp thân thể cứng rắn như thép, dao chém không đứt. Nếu chẳng may ngải Mai hoa chết, người luyện ngải phải làm lễ ma chay rất trang trọng và đem chôn cây ngải trên vùng núi cao thoáng mát.

Ngày nay, những câu chuyện đậm màu huyền bí vẫn là đề tài hấp dẫn những người hiếu kỳ trong lúc “trà dư, tửu hậu”. Mặt khác, các nhà Đông y học đang tiếp tục nghiên cứu những loài thực vật rất quý hiếm đó nhằm bảo tồn và phát hiện những dược chất giúp ích thực sự cho con người.

TÌM HIỂU VỀ

THUẬT TƯỚNG SỐ CỔ ĐẠI

TRUNG QUỐC

Trong cuộc mưu sinh trên cõi đời này, con người luôn đặt ra cho mình hàng loạt câu hỏi cuộc đời này sẽ ra sao, sẽ đi về đâu, mình sẽ gặp may mắn hay xui rủi, khoẻ mạnh hay bệnh tật, giàu hay nghèo.v.v. và người ta đã đi tìm câu trả lời trong các thuật tướng số.

Ở Trung Quốc thì thuật tướng số và tử vi là có ảnh hưởng hơn cả. Từ Khổng Tử cho đến các nho gia đời sau rất nhiều người đã nghiên cứu và tinh thông tướng số. Ngày nay thì thuật tướng số vẫn còn rất thịnh hành ở nhiều nơi như Ma Cao, Đài Loan, Hồng Kông và cả Trung Quốc đại lục nữa.

Khởi nguồn và quá trình phát triển của Tướng thuật cổ đại Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước có nền văn minh cổ đại với bề dày lịch sử đến 5000 năm. Trong suốt chặng đường lịch sử huy hoàng nà thì tướng thuật đã được hình thành từ văn hoá truyền thống cổ đại Trung Quốc và cũng sở hữu một cội nguồn lịch sử sâu xa. Thuật xem tướng đã được ra đời và thịnh hành trong dân gian từ cổ xưa cho đến thời hiện đại ngày nay, nó không phải là một hình thức bói toán thiếu cơ sở mà đã được hình thành và phát triển trải qua hàng ngàn năm trước đây.

Tướng thuật còn gọi là tướng mệnh hay mệnh tướng học bao gồm xem tướng sao, tướng tay, tướng mặt, tướng xương, tướng người, là một loại phương thuật truyền thống. Nó có lịch sử lâu đời và là một hiện tượng xã hội xuất hiện ở hầu khắp các xã hội loài người. Trong thời kỳ coi trọng sự kiểm nghiệm các giá trị văn hoá truyền thống như hiện nay thì việc đánh giá và thẩm định đối với tướng thuật là điều cần thiết.

Lý luận cơ bản của thuật tướng số cổ đại Trung Quốc

1/- Thiên can địa chi : Thiên can địa chi là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,  Đài Loan, Singapore và một số quốc gia khác. Nó được áp dụng với tổ hợp chu kỳ sáu mươi trong âm lịch nói chung để xác định tên gọi của thời gian cũng như trong chiêm tinh học. Người ta cho rằng nó có xuất xứ từ thời nhà Thương ở Trung Quốc. Trong đời sống thì hệ can chi được gọi đơn giản là 12 con giáp.

2/- Âm dương ngũ hành ; Âm dương ngũ hành vốn là hai khái niệm triết học gắn liền với nhau, có thể bao quát toàn bộ giới tự nhiên và xã hội con người. Mối quan hệ máu thịt giữa văn hoá thuật số Trung Quốc cổ đại với văn hoá phong kiến chính thống đã quyết định việc tướng thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết âm dương ngũ hành.

Các nhà tướng thuật thời cổ không chỉ mô phỏng những tư tưởng chính thống của giới phong kiến khi dùng nguyên lý âm dương biến hoá và lý luận ngũ hành sinh khắc để giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội, mà còn phát triển thêm một bước là đem lại cho chúng những quan niệm mang tính huyền bí và ứng dụng vào các thuật số như xem bói, tinh mệnh, tướng pháp,… để suy đoán về vận mệnh cá nhân tướng thuật cổ đại Trung Quốc cho rằng trời đất vạn vật đều có thể quy vào ngũ hành, cũng có nghĩa là con người và vạn vật tự nhiên có cùng nguồn gốc sinh ra.

Xét về lý luận của ngũ hành thì hình thể, khí chất của con người cũng có thể phân thành năm hình thái là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, từ đó hình thành nên tướng pháp ngũ hành.

3/- Phương pháp xem tướng số theo tứ trụ : Phương pháp này tương tự như tử vi nhưng phức tạp và khó nắm vững hơn vì thế ít người biết. Nó còn có thể giúp con người tìm ra giải pháp cho các cung mệnh có vấn đề. Phương pháp này do Lạc Lộc sáng tạo từ đi nhà Ðường bên Trung hoa. Nhưng theo một tài liệu khác thì ông ta sống ở đời nhà Hán cách nay trên 2000 năm.

Có thể đúng  vì học thuyết ngũ hành xuất hiện vào thời kỳ này ở Trung Hoa và toàn bộ khoa tứ trụ đều xây dựng trên ngũ hành. Có thể thấy rõ được trọng tâm  lý luận của Lạc Lộc chính là trụ năm. Phương pháp này sau đó được nhà thông thái của Hoàng gia nhà Ðường, thâm cưú bổ túc thêm nhưng vẫn còn dưới dạng các bài phú.

Khoa này cũng dùng cát thần và hung sát tương tự trong tử vi để giải đoán  vận mệnh. Chúng ta chỉ cần sử dụng khoảng 15 thần sát thường dùng là đủ vì cốt tuỷ vẫn phải là ngũ hành sinh khắc chế hoá.

Bàn luận về thuật tướng số Trung Quốc

1/- Có phải người xưa đều tin vào tướng số ? Tướng số không phải là mê tín vốn đã có từ thời xa xưa. Vì cuộc đời một người đã được định sẵn. Tướng số tồn tại chính vì muốn bảo cho con người biết rằng nên sống thuận theo tự nhiên. Các việc tốt, việc xấu con người gặp trong đời đều do nhân duyên, không phải chuyện vô duyên vô cớ. Và nếu như con người muốn kiếp sau được sống hạnh phúc thì chắc chắn kiếp này phải làm nhiều việc thiện tích đức, không làm việc xấu việc ác. Kỳ thực đây là một bộ phận của văn hóa thần truyền.

Tất cả các triều đại từ thời xa xưa cho đến nay từ vương tôn quý tộc đến bá tánh bình dân đều thích xem tướng mong sao biết trước tương lai, mời lành tránh dữ. Các nhân vật chính trị hiện nay cũng rất thích xem tướng, nếu như gặp được thầy đoán mệnh vào hàng cao nhân, vị thầy này sẽ khuyên người kia làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, như vậy thì cuộc đời chính trị mới bền lâu.

2/- Thuật tướng số giống như một môn khoa học dự báo : Thuật tướng số lý luận về số phận con người hay số phận cuộc đời. Từ những tri thức về những quy luật khách quan của khoa học tướng số có thể giúp chúng ta khám phá ra những bí ẩn của con người và cuộc đời, sự kiện và quá trình có thể hay tất nhiên sẽ xảy ra…

Nói là khoa học dự đoán không phải là không có sở chứng cứ. Bởi mỗi người sinh ra đều có giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, đó là cơ sở khoa học để xem số mệnh con người. Tiếp đó là hình hài của mỗi người, thể hiện ở cái bên trong ra cái bên ngoài cũng là cơ sở để xem tướng mạo. Rồi sự tác động của tự nhiên, cùng với vận nước, vận nhà cũng ảnh hưởng đến số phận con người và cuộc đời.

Suy cho cùng thuật tướng số giống như một thứ khoa học dự báo có pha chút thần bí duy tâm. Chính vì lẽ đó mà nó luôn là vấn đề nóng của xã hội suốt hàng ngàn năm nay. Trong một thời gian dài, thuật tướng số bị coi là mê tín, là tàn tích của xã hội phong kiến và đã bị cấm đoán một cách nghiêm ngặt. Thế nhưng cái gì càng cấm lại càng khơi gợi tính tò mò của con người. Thuật tướng số vẫn tìm mọi cách lưu hành một cách lén lút vụng trộm.

Có thể thấy thuật tướng số từ lâu đã có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ đối với rất nhiều người, nhiều giới trên một phạm vi hết sức rộng lớn. Dù muốn hay không chúng ta cũng không thể phủ nhận đây là một hiện tượng văn hoá đã cắm rễ rất sâu vào đời sống con người. Và chúng ta cũng không thể phê phán nó một cách đơn giản, một chiều.

Thuật tướng số cổ đại Trung Quốc đã phần nào cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện, thấu đáo về vấn đề tướng số từ góc độ của một nhà khoa học công tâm và sòng phẳng đi sâu tìm hiểu, phân tích và đánh giá cái hợp lý cũng như cái không hợp lý.

6 CHUYỆN TÂM LINH HUYỀN BÍ

TỪNG CHẤN ĐỘNG NĂM 2013

Những câu chuyện tâm linh, những vấn đề ngoại cảm đã trở thành những chủ đề nóng trong thời gian vừa qua. Điều bí ẩn phía sau chúng thực hư ra sao vẫn là tâm điểm chú ý rất nhiều từ phía dư luận.

H1: Được đưa ra đầu năm 2013, kế hoạch xây cầu vượt 4 làn qua vị trí đàn Xã Tắc ở Hà Nội đã gây tranh cãi gay gắt trong giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa ở Việt Nam. Luồng ý kiến phản đối cho rằng việc xây cầu vượt là “đi trên đầu tổ tiên”, trong khi những người ủng hộ nhấn mạnh những ý nghĩa về mặt giao thông nếu công trình này được xây dựng.

H2: Vào tháng 4, chuyện một “hòn đá lạ” được đặt làm… bùa chú ở phía bên trái, ngay trước cửa vào hậu cung của nơi tôn nghiêm ở Đền Thượng thuộc quần thể di tích Đền Hùng, Phú Thọ đã khiến nhiều người ngạc nhiên và hoang mang. Sau khi bị nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa phản đối, những người quản lý di tích đã phải di dời hòn đá khỏi khu vực này.

H3: Khi chuyện về “hòn đá lạ” Đền Hùng chưa lắng xuống thì chuyện cột đá Thề trước cửa Đền Thượng bị người ta ngang nhiên dời đi để thay bằng một khối đá hoa cương lạ lẫm. Về vấn đề này, ban giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng giải thích rằng, cột đá cũ không phải là hiện vật cổ mà mới chỉ được dựng lên từ năm 1968, việc thay bằng một cột đá mới đẹp hơn là điều hợp lý.

H4: Cuối tháng 10, cả nước bàng hoàng trước vụ việc bác sĩ của thẩm mỹ viện Cát Tường vứt xác của chị Lê Thị Thanh Huyền xuống sông Hồng phi tang sau khi làm nạn nhân thiệt mạng. Trong quá trình tìm kiếm xác chị Huyền, rất nhiều người tự xưng là “nhà ngoại cảm” xuất hiện và “phán” như đinh đóng cột về địa điểm có xác nạn nhân, nhưng cho đến nay cuộc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả.

H5: Chương trình “Trở về từ ký ức” do VTV trình chiếu vào tháng 11 đã gây sốc khi cho rằng phần lớn hoạt động tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở Việt Nam là lừa bịp để trục lợi. Chương trình này khiến năng lực của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng bị đặt vào vòng nghi vấn. Cùng thời gian này, nhà ngoại cảm “rởm” Nguyễn Thanh Thúy bị bắt vì đã tiến hành lừa đảo bằng chiêu bài “tìm hài cốt liệt sĩ” trên quy mô lớn.

H6: Vào ngày 7/12, tại cánh đồng Chằm, thôn Phú Mỹ (xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội), người dân đã phát hiện một ngôi mộ cổ, kích thước dài khoảng 2m, rộng khoảng 70 cm, được kết cấu bởi 3 lớp, ngoài cùng là lớp gỗ mỏng – tiếp đó là lớp nhựa thông dày bao quanh bên trong là quan tài. Sau khi mở nắp mộ, các nhà khảo cổ đã thấy một xác ướp phụ nữ còn nguyên vẹn nằm trong dầu thơm. Sau khi nghiên cứu, mộ cổ sẽ được tiến hành hoàn táng. (theo Kiến thức)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN 9 CHIẾC GIẾNG

CHƯA BAO GIỜ CẠN

BÊN CHÂN NÚI ĐỌI

Nằm cách thành phố Phủ Lý hơn 10km, xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) nổi tiếng với làng nghề “trống Đọi Tam”, ngôi chùa cổ Long Đọi Sơn với hơn 1000 năm lịch sử, và lễ hội “Tịch Điền” vua xuống đi cày hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch cầu mùa màng bội thu.

Ngoài ra, Đọi Tam còn nổi tiếng với 9 chiếc giếng bên chân núi Đọi chưa bao giờ cạn và được mệnh danh là “9 mắt rồng” có từ thủa xa xưa. Về Đọi Tam hỏi thăm về 9 chiếc giếng được mệnh danh là “9 mắt rồng”, bên chân núi Đọi, những người dân nơi đây sẽ kể vanh vách về truyền thuyết của 9 giếng nước chưa bao giờ cạn đã gắn bó với họ từ thuở “khai thiên lập địa”.

Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Cũng chẳng ai biết 9 chiếc giếng này có tự bao giờ, chỉ biết khi sinh ra họ đã thấy và được nghe ông cha kể về sự tích của chúng. Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, sự tích 9 giếng mắt rồng không có sử sách nào ghi chép lại mà do người trong làng truyền miệng cho nhau đời này qua đời khác.

Tương truyền, xa xưa, làng Đọi Sơn xảy ra một cuộc đại hạn hán kéo dài trong nhiều năm liền. Những cánh đồng, làng mạc đều khô cằn vì thiếu nước, đói khát, mất mùa triền miên. Mặc dù người dân trong làng đã mời thầy về lập đàn cầu mưa nhưng vẫn vô vọng. Nạn hạn hán tiếp tục hoành hành, khiến cây cỏ héo khô, đất cằn cỗi… khiến người dân trong làng phải bỏ xứ mà đi tìm “miên đất mới”.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt

Nhưng chính lúc người dân bỏ đi nhiều nhất, trong một đêm tối, mây đen bắt đầu kéo đến đen kịt cả một vùng, gió bắt đầu nổi lên, từ trong những đám mây đen, người dân nhìn thấy 9 con rồng không biết từ đâu xuất hiện và bắt đầu phun mưa ngập trắng chân núi Đọi, cứu cả dân làng thoát khỏi trận hạn hạn lịch sử. Sau 9 ngày 9 đêm, 9 con rồng nhất loạt dừng lại và hóa thân thành 9 chiếc giếng nằm rải rác quanh chân núi Đọi.

Theo cụ Đinh Trọng Tế, một cao niên ở Đọi Nhất, xã Đọi Sơn cho biết: “Cả 9 chiếc giếng ở đây tượng trưng cho 9 mắt của 9 con rồng thiêng xưa kia đã phun mưa cứu cả làng khỏi nạn hạn hán. Dưới giếng có những hòn đá nổi lô nhô được xem là những cái vảy và móng rồng…”.

Ở đình Thánh Cả trên đỉnh núi Đọi nằm trong đình cũng có một cái giếng mắt rồng chứa đầy bí ẩn. Vì nằm trong đình nên quanh năm chiếc giếng này được đóng kín. Mặc dù nằm trên cao, nhưng chiếc giếng này quanh năm đầy nước và thường xuyên đùn lên ùng ục nguồn nước nóng ấm vào mùa đông.

Còn ở xóm Thái Bình, thôn Đọi Nhất có một giếng rồng được gọi là giếng sống, miệng chiếc giếng có đường kính khoảng 2 mét, sâu 3 mét. Điều đặc biệt nhất là lượng nước dưới giếng rất ít, chỉ sâu 60cm, nhưng với hơn 30 chiếc máy bơm của các hộ dân bơm cả ngày lẫn đêm nhưng lượng nước trong giếng không bao giờ vơi đi đến một đốt ngón tay.

Điều đặc biệt ở những chiếc giếng này dù cắm hàng trăm máy bơm phục vụ nước cho cả làng nhưng giếng chưa bao giờ cạn. Hiện một số giếng mắt rồng là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ người dân sống xung quanh núi Đọi. Có giếng được cắm hàng chục máy bơm hút nước ngày đêm nhưng nước giếng vẫn không hề cạn.

Nhiều người đặt câu hỏi, 9 con rồng phải có 18 giếng nước – tương ứng với 18 mắt? Người làng cũng kể rằng, năm 2003, cố Giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng đã đến Đọi Sơn tìm hiểu về 9 mắt rồng nhưng cũng chưa đưa ra được lời lý giải nào.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt. Trong số 9 chiếc giếng, do tác động của con người, thời gian và chiến tranh, có 1 chiếc đã bị san lấp, người dân nơi đây gọi là giếng rồng mù. (theo Đức Văn)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

VỊ TRÍ 5 NỐT RUỒI XUI XẺO

MÚA BÓNG RỖI Ở NAM BÔ

Múa bóng rỗi còn được gọi là múa bóng hoặc bóng rỗi, là một loại hình nghệ thuật dân gian hết sức độc đáo của người Nam bộ. Loại hình này có từ thời khẩn hoang, lập ấp, theo dấu chân của các tiền nhân trong công cuộc Nam tiến cách đây hơn 300 năm.

Clip : múa bóng rỗi  :

https://youtu.be/j-yOODvPdw8

https://youtu.be/pMVvMi7P_RU

Múa bóng rỗi thường gắn với các dịp cúng bà (bà Chúa Xứ, bà Hỏa, Ngũ Hành nương nương…). Đặc biệt, ở một số ngôi đình Nam bộ, nhất là những ngôi đình có miễu bà Chúa Xứ thì múa bóng rỗi diễn ra hàng năm, thu hút đông đảo người dân từ các nơi đến tham dự.

Nghệ thuật múa bóng rỗi có liên quan chặt chẽ đến tục thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung và ở Nam bộ nói riêng. Các vị nữ thần được thờ ở Nam bộ là kết quả của quá trình giao lưu, hỗn dung văn hóa của nhiều lớp cư dân người Khmer, Việt, Chăm, Hoa.

Chẳng hạn, bà Chúa Ngọc vốn gốc là vị nữ thần Pô I Nư – Nagar – bà mẹ xứ sở của người Chăm đã được Việt hóa. Khi người Việt đặt chân vào Trung và Nam Trung bộ, theo truyền thống thờ Mẫu sẵn có từ quê nhà, người xưa đã Việt hóa vị thần Chăm này bằng tên Thánh Mẫu Thiên Y Ana, mà dân gian gọi ngắn gọn là bà Chúa Ngọc.

Còn bà Chúa Xứ (Châu Đốc) và Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) lại là kết quả giao lưu và hỗn dung tín ngưỡng giữa người Việt và người Khmer. Với tâm thức thờ Mẫu từ quê hương Bắc bộ và Trung bộ, người Việt vào Nam bộ đã bắt gặp tục thờ nữ thần của người Khmer là bà Neang Khmau – nữ thần Đất và tạo nên hình tượng bà Chúa Xứ, được dân gian thờ phụng từ phạm vi vùng, làng tới gia đình.

Đây là vị nữ thần có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp nhất ở Nam bộ. Còn bà Thiên Hậu thì khắp Nam bộ nơi nào cũng có chùa, miễu, cung thờ. Vị nữ thần này do những người Hoa di cư mang tới hồi thế kỷ XVII.

Về phương diện nghi lễ, nếu nơi nào có tục thờ nữ thần thì thường có diễn xướng múa bóng. Đây là kết quả của giao lưu văn hóa Chăm – Việt, cụ thể hơn là người Việt đã Việt hóa điệu múa pajao của các bà bóng người Chăm để tạo ra múa bóng. Nghi thức múa bóng của người Chăm quy định người múa bóng phải là thiếu nữ đồng trinh hoặc người phụ nữ đẹp. Còn ở Nam bộ, phần lớn những người hành nghề múa bóng là người pêđê trẻ tuổi hoặc phụ nữ lớn tuổi. Những người này cho rằng việc hành nghề của họ là do có căn, có số, hay còn gọi là căn đồng. Các bà bóng nếu gốc là nam thì đều ăn mặc, đi đứng, nói năng, cư xử như một phụ nữ.

Múa bóng rỗi có hai bộ phận là múa bóng và hát rỗi. Múa thông qua những động tác tạo hình biểu hiện sự kính dâng lễ vật lên thần linh. Đây là phần lúc nào cũng được mọi người quan tâm chờ đón. Một số bà bóng chịu khó tập luyện nên trình diễn những động tác múa khá điêu luyện, khéo léo như làm xiếc, khiến người xem lúc nào cũng hồi hộp, tò mò chờ đợi. Múa dâng lễ vật lên thần linh thường có các điệu sau:

Người ta dùng một chén đựng đầy bông trang đưa cho bà bóng. Bà bóng tiếp nhận chén, bắt đầu thể hiện những điệu múa uốn lượn cơ thể, tay chân, miệng hát rỗi theo nhịp sên, phách của ban nhạc. Động tác cuối cùng của múa dâng bông là để chén bông trên đầu, múa lượn bằng cổ đôi ba vòng rồi quỳ xuống. Sau đó có người bước đến lấy chén bông trên đầu đặt lên bàn thờ.

Mâm vàng là một thứ đồ mã đã dán trên chiếc mâm nhôm. Người ta dùng các loại giấy khác màu để tạo hình ngôi tháp. Tùy theo địa phương, theo lò của các bà bóng mà hình dạng, màu sắc của mâm vàng có những sắc thái khác nhau. Mâm vàng hình tháp là lễ vật mang tính linh thiêng để dâng lên các nữ thần.

Múa mâm vàng có nhiều động tác, như dùng tay cuộn để dâng mâm, đội mâm lên đỉnh đầu, trên trán, trên cằm, trên môi, chuyển mâm trên vai, trên lưng, thậm chí dùng bàn chân để dâng mâm. Hình tượng múa mang tính thần kỳ, còn nghệ thuật gần với xiếc tạp kỹ. Khi một người múa dâng mâm thì có vài người khác chơi đàn cò, kèn, thanh la, trống, tạo nên không khí vừa linh thiêng vừa sôi động. Sau khi múa xong, người ta đem đốt ngôi tháp đó đi.

Một mâm trầu cau được phủ vải đỏ sẵn sàng để bà bóng bưng lên và múa. Múa xong thì đem lộc này dâng thần linh và phát cho mọi người để lấy lộc. Cũng có người dùng tiền để mua lộc này.

Tiết mục này lúc nào cũng gây được sự hứng thú cho người xem. Bà bóng dùng bảy, tám chiếc ghế chồng lên nhau, rồi dùng miệng cắn chân ghế và múa. Mỗi động tác uốn éo của bà bóng thường nhận được một tràng pháo tay và người ta thi nhau để tiền vào lòng những chiếc ghế đó như là sự tưởng thưởng cho công sức và sự khéo léo của người múa.

Bà bóng dùng hai nhánh bông huệ dài, một cắn ở miệng, một để thẳng đứng, đầu của nhánh thẳng xuống tiếp xúc với đầu của nhánh còn lại. Trên các nhánh huệ này có rất nhiều tiền của người xem gắn vào để thưởng công. Khi thể hiện những điệu múa thuần thục, nhuần nhuyễn, bà bóng di chuyển liên tục mà nhánh huệ không bao giờ rớt.

Động tác này cũng gần như một tiết mục xiếc của bà bóng. Bà bóng dùng miệng cắn một đầu cán dao, mũi dao đưa ra ngoài. Năm, sáu cây dao còn lại được chất thẳng đứng trên con dao nằm ngang. Bà bóng di chuyển nhiều lần, múa đẹp mà dao cũng không bị rớt.

Động tác này làm người múa khá tốn sức, đồng thời còn đòi họ sự điêu luyện nữa. Quả là nguy hiểm khi một bà bóng đã ngoài 60 tuổi dùng tay nâng khạp quay nhiều lần, sau đó chỉ đặt một cạnh của miệng khạp lên trán mình rồi buông tay ra, lắc lư điệu múa. Thực hiện thành công điệu múa này, bà bóng nhận được nhiều tiền hơn cả. Người ta thi nhau thảy tiền vào khạp để thưởng công.

Đây là một màn trình diễn độc đáo. Người múa dùng một chai rượu, trong đó phân nửa có sẵn rượu, để nằm ngay giữa đỉnh đầu. Người múa cứ lắc lư cơ thể, di chuyển qua lại mà chai rượu không bị lăn xuống đất. Sau nhiều động tác múa, nhảy khá điệu nghệ, người múa quỳ xuống, từ từ cúi đầu. Người khác cầm một cái dĩa, trong đó có một cái ly nhỏ để trước mặt người múa. Người múa cúi đầu sao cho rượu trong chai chảy được vào ly (không hề dùng tay) và chai rượu cũng không bị rớt xuống.

Ngoài tài nghệ múa, bà bóng còn có khả năng sáng tác lời ca theo yêu cầu của gia chủ, của người chủ tế… theo nền nhạc đệm có sẵn. Người hát rỗi mặc lễ phục đứng trước bàn thờ nữ thần, tay cầm trống nhỏ, gọi là trống rỗi, vừa gõ làm nhịp cho hát mời nữ thần về dự nghi lễ. Lời hát tha thiết ca ngợi các vị nữ thần, mời các vị về ngôi đền để chứng kiến cảnh mọi người đang trông chờ và phù hộ, độ trì cho họ.

Múa bóng rỗi là một nghệ thuật diễn xướng và hát để thể hiện truyền thống tri ân, uống nước nhớ nguồn của con người đối với thần linh, đối với tổ tiên và những người đã khuất. Trang phục của các bà bóng vì thế cũng rất cầu kỳ, đầy đủ áo, mũ, váy, khăn choàng cổ, ngạch quan. Việc trang điểm cũng kỹ, đậm phấn son. Đây quả là một nét đẹp văn hóa theo hình thức diễn xướng nghi lễ dân gian, thể hiện được giá trị văn hóa nghệ thuật cao, cần được bảo tồn và phát huy. (theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Xuân Mai chuyển tiếp

VÒNG ĐÁ PHONG THỦY

ĐEO TAY PHẢI HAY TRÁI

ĐỂ MAY MẮN, TRÁNH HỌA?

Vòng đá phong thủy là vật phẩm mang lại may mắn. Vậy, đeo vòng phong thủy thế nào để phù hợp với bản mệnh và ngũ hành của gia chủ ?

Vòng đá phong thủy không chỉ là đồ vật trang sức mà còn được xem là vật phẩm khai vận, mang lại những điều may mắn cát tường theo quan điểm của các chuyên gia phong thủy. Nhưng khi đeo vòng tay phong thủy cần phải chú ý rất nhiều những cấm kỵ trong ngũ hành. Sau đây là một số lưu ý khi đeo vòng tay phong thủy.

Phong thủy có quan niệm “trái vào phải ra”, có nghĩa là tay trái là “tay sạch” còn tay phải là “tay xú uế” vì mọi người thường dùng tay phải để làm mọi việc bao gồm cả những việc vệ sinh không được sạch sẽ. Chính vì lý do đó tay phải cần được làm sạch; còn tay trái được coi là “thuần khiết”, vì vậy khi đeo vòng phong thủy nên đeo ở tay trái, có như vậy mới hấp thu được những năng lượng tinh khiết của vòng.

Còn theo quan niệm dưỡng sinh của Trung y, việc điều hòa âm dương rất quan trọng, vòng tay phong thủy có tác dụng cân bằng khí huyết rất tốt đặc biệt là vòng ngọc phỉ thúy. Vòng ngọc phỉ thúy chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng. Khi đeo vòng ngọc phỉ thúy, con người sẽ hấp thụ được những nguyên tố quý báu đó, giúp cho khí huyết lưu thông, thần kinh ổn định và rất có lợi cho tim. Tim nằm ở bên trái nên đeo vòng phong thủy ở bên trái.

Còn xét theo yếu tố sinh hoạt đời thường, đa phần mọi người dùng tay phải nhiều hơn tay trái cho nên đeo vòng phong thủy ở bên trái an toàn hơn so với bên phải.

Do mọi người thường sử dụng tay phải để làm mọi việc nên các khớp và gân tay phải thường to hơn tay trái, nên phụ nữ thường đeo vòng ở tay trái để tránh việc khó khăn khi tháo và đeo vòng. (theo Bảo Khanh)

Xuân Mai chuyển tiếp

NHỮNG ĐỒ VẬT

KHÔNG NÊN

ĐỂ ĐẦU GIƯỜNG

vừa tổn thọ vừa sống không “yên”

Đừng tưởng để gì ở đầu giường cũng được nhé ! Có ngày rước họa vào thân như chơi đấy. Theo các chuyên gia phong thủy, phòng ngủ nói chung và giường ngủ nói riêng là nơi đại kị đối với việc bố trí đồ đạc lung tung. Không chỉ ảnh hưởng đến tuổi thọ, những đồ vật đặt sai chỗ ở đầu giường còn khiến cuộc sống của bạn khó có lúc bình yên.

1/- Dao, kiếm đồ sắc nhọn : Những vật này tượng trưng cho tà khí, mang lại điềm báo về sự chết chóc và tang tóc. Nhiều chuyên gia phong thủy cho rằng, Dao, kiếm thường mang theo bên mình sát khí rất nặng nên nếu để ở đầu giường bạn có thể bị nặng đầu, chóng mặt và gặp ác mộng khi ngủ. Chúng sẽ khiến bạn luôn gặp áp lực trong công việc, ảnh hưởng đến các mối quan hệ vì người luôn “đằng đằng sát khí”.

2/- Di ảnh người quá cố : Đầu giường ngủ không để di ảnh người đã mất vì dễ bị bong đè , mộng mị. Những người yếu bóng vía hoặc đang có vấn đề sức khỏe càng phải cẩn thận với cách sắp xếp này vì chúng có thể khiến thể trạng của bạn thêm mệt mỏi do âm khí vây quanh. Tốt nhất, nên đặt di ảnh người quá cố ở một nơi được thờ riêng với sự tôn nghiêm cần có.

3/- Gương : Trong phong thủy, gương là đồ vật chứa nhiều yếu tố nhạy cảm nhất. Nếu đặt gương ở đầu giường bạn sẽ dễ gặp ác mộng, bị bóng đè… Chưa dừng lại ở đó, chiếc gương sẽ phản chiếu hình ảnh từ đầu xuống chân khi bạn đặt ở đầu giường, sinh ra cảm giác bất an, lo sợ cho người ngủ kể cả khi đang say giấc. Đó là lí do bạn thường cảm thấy nhức đầu và chóng mặt vào sáng hôm sau.

4/- Búp bê : Theo truyền thuyết châu Âu cổ, búp bê là hiện thân của những bé gái xấu số. Vì thế, những con búp bê này thường ẩn chứa nhiều điềm báo không lành, đặc biệt khi chúng có một khiếm khuyết trên cơ thể. Nhiều người tin rằng, khi đặt một con búp bê bị sứt mẻ một phần cơ thể hay gương mặt có nét kì dị sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng đáng sợ, trong đó có vấn đề mộng du. .

5/- Bể cá hoặc tranh sơn thủy : Nhiều gia đình thường bố trí hồ cá hoặc tranh phong thủy ngay giường ngủ để tạo cảnh quan và cảm giác thoải mái. Tuy nhiên, đó là điều đại kị vì chúng thuộc nước, khi đặt vào trường hợp này mang “hành thủy”, ảnh hưởng xấu đến gia chủ lẫn sức khỏe và tài lộc. Chúng khiến bạn dễ bị hiểu lầm, bất hòa và tình cảm gia đình dễ rạn nứt.

Ông bà ta xưa có câu “có thờ có thiêng có kiêng có lành”. Do đó, hãy lưu ý khi trang trí phòng ngủ để luôn có được giấc ngủ ngon cùng tâm thái an yên, vui vẻ bạn nhé !

Phan Tất Đại chuyển tiếp

4 CON GIÁP NỮ

CÀNG VỀ GIÀ CÀNG SƯỚNG

Những con giáp này không chỉ có cuộc sống giàu sang, hạnh phúc. Mà tài lộc của họ còn mang nhiều phúc khí cho cả những người xung quanh.

1/- Tuổi Hợi : Sự may mắn của người tuổi Hợi khiến người khác phải phát hờn, và ao ước được như Hợi. Không chỉ gặp dữ hóa lành, trong khi người khác không biết phải làm sao để kiếm được nhiều tiền thì cơ hội kiếm tiền cứ tự tìm đến Hợi.

Dù ‘làm biếng chảy thây’ nhưng với việc làm giàu thì con giáp này không nề hà khó khăn, vất vả. Thêm vào đó, sự chân thành, hòa nhã của Hợi giúp họ luôn được lòng người khác.

Ngoài ra, Hợi nữ còn là người phụ nữ có trái tim nhân hậu. Họ sẽ không ngại ngần chìa tay giúp đỡ người khác. Đây chính là điểm giúp Hợi dễ dàng có được một tấm chồng như ý.

2/- Tuổi Mùi : Quý cô tuổi Mùi là người nhanh nhạy, khôn khéo và cực kỳ thông minh. Họ biết cách cân bằng cuộc sống và các mối quan hệ. Mùi sống chẳng làm mất lòng ai, cũng chẳng bao giờ đâm thọc nói xấu ai bao giờ.

Trong công việc, Mùi có rất nhiều cơ hộ để thăng tiến, làm giàu. Phụ nữ tuổi Mùi sau 40 đã có thể hưởng phú quý giàu sang, ngồi chơi cũng có tiền.

3/- Tuổi Ngọ : Không cần nói mọi người cũng biết được, những người tuổi Ngọ là những người yêu thích sự tự do, không ràng buộc. Trước khi kết hôn thì họ luôn muốn “ngao du sơn thủy” cùng bạn bè, qua đó tự mình học tập trải nghiệm nhiều thứ.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn, tính cách của họ lại thay đổi bất ngờ. Lúc này họ sẽ đặt hết tâm tư tình cảm vào gia đình của mình. Những người tuổi Ngọ từ trước đến nay không tin tưởng cũng không quá cố gắng nỗ lực đạt được mục tiêu cho riêng mình.

Nhưng vận mệnh của những người cầm tinh con Ngựa sau 35 tuổi sẽ có biến đổi rõ rệt. Họ may mắn hơn, phúc đức hơn, và quan trọng hơn hết sẽ có một cuộc sống sung túc, an nhiên, gia đình bình ăn, hạnh phúc muôn đời.

4/- Tuổi Sửu : Trên thực tế những người tuổi Sửu đa số khó khăn. Trời sinh họ có số phải làm việc, do đó họ rất chăm chỉ và cần cù. Đối với họ, khao khát làm giàu và phát triển cuộc sống bản thân luôn thường trực trong tâm trí không phải ai cũng hiểu được.

Ngoài ra, họ luôn cố gắng để trau dồi kinh nghiệm và thay đổi cách nhìn về một sự vật sự việc để giải quyết tinh tế, sâu sắc hơn. Đến tuổi trung niên, cuộc sống của tuổi Sửu bắt đầu bước qua giai đoạn mới, tài vận và phúc đức bắt đầu “gõ cửa” nhà của những người tuổi Sửu.

Đôi khi họ nghĩ rằng, do làm việc vất vả bao năm cũng đã đến lúc được báo đáp. Điều này cũng đúng, nhưng theo tử vi những người tuổi Sửu càng lớn tuổi thì vận mệnh càng tốt dần lên, bên cạnh đó người thân con cháu trong nhà cũng được hưởng lây.

5 VỊ TRÍ NỐT RUỒI

KHÔNG MẠT VẬN

THÌ CŨNG XUI XẺO

Nếu bạn sở hữu những nốt ruồi này thì trong cuộc sống bạn sẽ gặp phải không ít rắc rối.

1/- Nốt ruồi ở gáy : Nốt ruồi ở khu vực này được gọi là nốt ruồi “khổ tình”. Người có nốt ruồi ở gáy tuy sự nghiệp thành công nhưng tình cảm lại rất trắc trở, phải trải qua rất nhiều cuộc tình thì mới đi đến được hôn nhân. Nhưng cho dù có tiến đến hôn nhân thì nguy cơ ly hôn cũng rất cao.

2/- Nốt ruồi ở ấn đường : Ấn đường nằm ở giữa hai lông mày, là nơi để nhận biết vận thế của một người có suôn sẻ hay không.

Nếu trên ấn đường xuất hiện nốt ruồi thì có nghĩa chủ nhân sở hữu nốt ruồi đó sẽ có vận thế không tốt. Họ thường kém may mắn trong mọi việc, làm việc gì cũng gặp khó khăn, cuộc sống không thuận lợi. Cách hóa giải tốt nhất là xóa bỏ nốt ruồi ở ấn đường

3/- Nốt ruồi nằm ở hai bên trán, gần chân tóc, ngang với vị trí lông mày : Rất nhiều người có nốt ruồi ở vị trí này. Đây là dấu hiệu báo điểm hung, bạn nên cẩn thận, cần phải đặc biệt chú ý an toàn khi đi ra ngoài. Họ có nguy cơ gặp phải nguy hiểm và tai họa bất ngờ, đặc biệt khi tham gia giao thông.

4/- Trên xương đòn : Đây là nốt ruồi dự báo về sự nghiệp. Những người có nốt ruồi trên xương đòn thì phần lớn sự nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn, vất vả. Chỉ một hành động nhỏ thôi nhưng chủ nhân cũng phải trả giá đắt cho hành động của mình.

5/- Nốt ruồi ở sơn căn : Sơn căn là khu vực sống mũi nằm giữa hai mắt, và nằm ở dưới ấn đường. Nếu sơn căn có nốt ruồi, thì vận thế của người sở hữu nốt ruồi đó rất kém.

Cho dù có làm bất cứ việc gì cũng khó thành công, cả đời không làm nên nghiệp lớn. Người có nốt ruồi ở sơn căn dù có cố gắng nỗ lực, phấn đâu đến đâu thì kết quả thu về cũng rất nhỏ bé, cả đời phải sống vất vả. Cách hóa giải tốt nhất là xóa bỏ nốt ruồi ở sơn căn để xua đuổi tà khí.

Xuân Mai chuyển tiếp

NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

NGÀY TAM NƯƠNG

VÀ NGUYỆT KỴ LÀ GÌ ?

– Kay Nguyễn

Thời xưa làm nông thì hay “trông trời trông đất trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Thời nay làm ăn phương Tây hay phương Đông gì cũng phải trông ngày cả. Không phải mê tín gì, nhưng chúng ta đều là động vật có hệ thần kinh cao cấp, nhạy cảm, và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường chung quanh, nhất là khi môi trường trái đất vốn chịu năng lượng xung động rất cao từ mặt trăng – vệ tinh xoay chung quanh và gần trái đất nhất.

Hôm nay tôi xin giới thiệu đến các bạn một khái niệm khá thông dụng về cách tính giai đoạn của mặt trăng để :

– Nếu không tin thì khi nghe người khác nói cũng không bị bỡ ngỡ

– Nếu tin thì để KHÔNG bị ảnh hưởng đến chuyện làm ăn, đến các tính toán quan trọng của mình và doanh nghiệp.

Đó là khái niệm ngày “tam nương” (của phương Đông) và Nguyệt Kỳ (moon phase) – khái niệm này, thật ngạc nhiên, cả phương Đông và phương Tây đều dùng và hoàn toàn trùng khớp nhau.

Ngày Tam Nương

Tam Nương là ba trang tuyệt sắc Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự, ba nường được coi là “quậy” nhất lịch sử Trung Quốc, với sắc đẹp ma mị khuynh thành đổ quốc gây không biết bao nhiêu là tang thương cho các thành bang.

Muội Hỉ khiến chấm dứt 500 năm trị vì của nhà Hạ (2100 BC – 1600 BC). Đát Kỷ làm sụp đổ nhà Thương (1600 – 1066 BC). Bao Tự làm tang hoang nhà Tây Chu (1066 – 771 BC).

Ngày Tam Nương chính là ngày sinh và ngày mất của 3 nường này, nên một tháng có 6 ngày Tam Nương, tính theo lịch âm (các bạn nên lấy viết ghi lại) là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27. Ngày nào của gái nào thì thú thật cả hội Lý Số Trung Quốc vẫn còn đang tranh luận nên tôi không biết đâu ! Chỉ biết vào các ngày âm lịch vừa kể trên, đừng nên làm chuyện gì mới mẻ : xây nhà, gả con, xuất hành, khởi nghiệp, giới thiệu sản phẩm mới, sáp nhập công ty… Vì xác suất thất bại hoặc phải làm đi làm lại là rất cao. Chưa kể đây còn là ngày của nhiều thảm họa.

Tôi xin phép được trích dẫn một vài ví dụ khá thuyết phục vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều vị học giả khoa học huyền bí ở Trung Quốc và Việt Nam.

1/.  Tàu ngầm nguyên tử Kursk chìm vào ngày 12/8/2000. Toàn bộ 118 thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm hiện đại nhất của Nga đã ra đi lúc con tàu bị chìm xuống đáy biển Barents sau hai vụ nổ. Nó đã rời cảng vào một ngày Tam Nương.

2/.  Hội đồng dân tộc Afghanistan họp tại Đức để thành lập chính phủ, dự định vào ngày 12, sau đó họ lùi lại vào ngày 13 Âm lịch. Đất nước này đến nay vẫn còn bất ổn.

3/. Cuộc chiến Iraq đã xảy ra vào ngày Tam Nương 18 tháng Hai Quí Mùi.  Đến bây giờ, đất nước này vẫn chưa thật ổn định.

Ngày này nguy hiểm ở chỗ là nó đúng bất chấp mọi lá số tử vi, cứ mỗi tháng lại xảy ra 6 ngày mệt mỏi này, nên lưu ý ghi nhận lại kết quả để nghiệm lý cho riêng mình và tự nhiên rút ra kết luận, chứ tôi cũng không muốn hù dọa gì quý vị cả. Bản thân tôi và mấy anh bạn làm công ty riêng về dịch vụ, (mấy anh này thì tin theo phương Đông lắm), cứ họp hành gì quan trọng với khách hàng là đều né ra mấy ngày này, nếu buộc phải vô họp cũng chỉ tán chuyện vòng vòng cho hết giờ rồi nán lại quyết định vào ngày hôm sau.

Có mấy lần sếp lớn của khách hàng bắt quyết luôn vào ngày Tam Nương, y như rằng lúc nào gói dịch vụ cũng bị cắt giảm tối đa hoặc đội kinh phí do khủng hoảng, hoặc thậm chí bị hủy bỏ hoàn toàn. Sợ thật !

Nguyệt Kỳ (Moon Phase)

Mấy anh bạn làm chung thì theo Phương Đông nên tôi cũng theo luôn cho tiện, chứ gốc rễ thì tôi vẫn là người theo truyền thống khoa học huyền bí của phương Tây vì tử vi Phương Tây, cách tính transit (vận hạn), bài Tarot, bói sỏi Runes, chỉ tay, quả cầu thủy tinh, con lắc, bói bã trà… nhiêu đó đủ xỉu rồi còn tính thêm ngày âm, bốc phệ, mai hoa, lục nhâm, bát môn… nữa chắc chết, riết rồi ngày nào cũng muốn ngồi nhà ngáp ruồi đọc sách cho lành !

Tuy nhiên phương Tây vẫn có cái Nguyệt Kỳ kiêng kỵ khá là khớp với cái Tam Nương này, nên tôi xin chia sẻ ở đây để thấy được cái kỳ diệu của Đông-Tây hội ngộ.

Nguyệt Kỳ của Phương Tây dùng y chang lịch âm của mình. Nếu các bạn còn nhớ 12 cung hoàng đạo, hãy tưởng tượng là có một dải băng dài chia làm 12 vùng trời bao xung quanh trái đất.

Cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới, một cung hoàng đạo mới, và tạo thành một dòng năng lượng mới (theo từng cung) ảnh hưởng tới toàn bộ sự sống trên trái đất. Ít nhất là vào ngày rằm, chúng ta thấy rõ nhất là nước triều lên, và người ta dễ khóc dễ cười dễ nổi khùng nhất, vì 90% cơ thể là nước – trong các tế bào.

Các án mạng hầu hết đều xảy ra vào trăng rằm, khi truyền thuyết phương Tây là một số người hóa sói (werewolf).

Trong một tháng, New Moon (trăng non) là kỳ trăng của sự Dưỡng Nuôi, khi năng lượng trong vũ trụ hoàn toàn thuận lợi để con người bắt đầu một việc gì đó quan trọng. Các dự án hùn hạp, làm ăn, hợp đồng nên được khởi sự tính toán vào lúc Trăng Non để nhận được nhiều thông tin và sự thông thái nhất của những người tính toán.

Trăng Non di chuyển qua cung hoàng đạo thứ 2 vào khoảng ngày 3 AL (Tam Nương) và cung thứ 3 vào ngày 7 AL (Tam Nương), nên 2 ngày nào coi như giao thời, “tranh tối tranh sáng” theo cách tính phương Tây, làm việc hay bị dở dở ương ương.

Waxing Moon / Half Moon (bán nguyệt) là từ ngày 8 – 13 AL, đó là kỳ trăng của sự Hành Động và Độc Lập, đây là lúc tập trung hành động để giải quyết vấn đề chứ không còn ngồi tính như lúc Trăng Non nữa. Phương Đông mình kỵ 13 AL (Tam Nương) cũng chính là vì đây là giai đoạn chuyển từ bán nguyệt sang trăng tròn.

Full Moon (trăng tròn) là từ 14 – 18 AL, trong đó có ngày 15 trăng hoàn toàn đối diện mặt trời (Moon opposition Sun). “Trai mùng một, gái hôm rằm” là đây, vì những người có tử vi sinh vào trăng tròn, cả ở Đông lẫn ở Tây, đều có quá nhiều năng lượng đối lập trong cuộc sống, dễ gây xung động lớn trong cuộc đời. Đây là thời điểm Gặt Hái theo quan niệm phương Tây.

Ngày 18 AL (Tam Nương) là kỳ chuyển của trăng thành Waning Moon (trăng khuyết), từ 18 – 27 AL, trong đó né ngày 22 (Tam Nương) vì là giai đoạn giao cung hoàng đạo. Thời kỳ này chúng ta nên nội liễm nhiều thứ: năng lượng, hoạt động, tính toán. Đây là thời khắc suy gẫm, đánh giá được – mất… Ai đùng đùng đi khởi đầu cái mới thì lỗ ráng chịu !

Trăng tàn (Balsamic Moon) 28 – 29.5 (phương Đông làm tròn thành 30 – kỳ thực trăng đi hết một vòng trái đất chỉ mất 29.5 ngày nên lâu lâu mình có tháng nhuận AL là vậy) chính là thời kỳ các “phù thủy” khoái nhất vì đây là lúc con người có giác quan thứ 6 mạnh nhất, thích hợp để cúng tế, học hỏi lĩnh hội cái mới trong địa hạt khoa học huyền bí. Còn các việc khác trong cuộc sống cứ để nhàn nhạt theo guồng mà chạy là tốt nhất.

Đọc bài này xong không phải để e sợ, mà để sống đúng với chu kỳ vũ trụ hơn, và cảm thấy một sự giao thoa Đông Tây tuyệt đẹp ! J.P. Morgan, nhà tài phiệt lớn nhất nước Mỹ đầu thế kỷ 20, là người luôn có những quyết định công việc theo kỳ trăng. Giờ đây ngân hàng đầu tư J.P. Morgan Chase là một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới hiện tại (trụ sở ở Sài Gòn là ở 29 Lê Duẩn). Vì dù cho chúng ta có dùng phương pháp nào, ở nền văn minh nào, để soi rọi con người và vũ trụ đi chăng nữa, thì nếu phương pháp đó là chuẩn, chúng sẽ cho cùng một kết quả ! (theo Kay Nguyễn)

Nói thêm về ngày Tam nương sát

Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch.

Chữ Hán Nôm : Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN).

Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau :

1/. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 (ngày Mão) mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý, cai trị ? – 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN – 1600 TCN).

2/. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) (sinh ngày 13 tử ngày 18 (ngày Thìn) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN – 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN – 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân.

3/. Bao Tự (sinh ngày 22 tử ngày 27 (ngày Mùi) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết, cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN – 771 TCN). Vua U chưa bao giờ thấy Bao Tự cười, ra lệnh ai làm cho nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng.

Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hoả đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U). Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo. Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khốn nguy ngập, vua U cho đốt lửa trên hoả đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh đó là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.

Theo dân gian Trung Quốc, còn theo phong tục tập quán của Việt Nam thì vào những ngày đó Ngọc Hoàng thượng Đế sai 3 cô gái xinh đẹp (Tam nương) xuống hạ giới (giáng hạ) để làm mê muội và thử lòng con Người (nếu ai gặp phải) làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc v.v.

oOo

Trong khoa Chiêm Tinh thì ngày Tam nương, Nguyệt kỵ không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác như : Sát chủ, Thọ tử, Trùng tang, Trùng phục, Ly sàng, Không phòng, Hoang ốc, Thiên hình, Chu tước hắc đạo, Bạch hổ hắc đạo, Thiên lao hắc đạo, Huyền vũ hắc đạo, Câu trận hắc đạo, Dương công kỵ, Thập ác đại ma, Lục nhật phá quần. v.v..

Xem ngày tốt xấu quan trọng nhất là xem sao của ngày đó, lịch vạn sự đã nghiên cứu và xây dựng ứng dụng xem ngày tốt xấu để phục vụ các bạn hàng ngày.

NHỮNG HUYỀN THOẠI

CÓ THỰC TRÊN TRÁI ĐẤT

Thế giới thần thoại có đủ các vương quốc huyền bí và cảnh giới tồn tại song song với chúng ta. Người ta cho rằng đâu đó trên Trái Đất có điểm giao thoa giữa nơi con người sinh sống và chỗ của các vị thần. Giá như chúng ta nắm được mật khẩu để mở những cánh cửa thần kỳ đó….

1/- Yomi No Kune (nghĩa là cõi âm theo tiếng Nhật) Yomi No Kune là một phần của thần thoại Nhật Bản có xuất xứ từ thời kỳ Phật giáo được truyền bá rộng rãi.

Theo truyền thuyết, vạn vật được tạo nên bởi một vị thần tên là Izanagi và vợ Izanami. Sau khi Izanami hạ sinh ra lửa và chết đi, người chồng đau khổ đã làm cuộc hành trình sang thế giới bên kia để hồi sinh người vợ. Với sự gần gũi nổi bật trong các truyền thuyết khác, người chồng đã phát hiện ra một nơi tối tăm và ảm đạm, nơi các linh hồn có thể giữ nhục thân khỏi bị mục nát vĩnh viễn. Izanagi bị cấm không được nhìn vào vợ mình cho đến khi họ lên đến mặt đất, nhưng cũng giống như các nghịch lý huyền thoại khác, ông chợt thoáng nhìn qua và thấy cơ thể mục nát, đầy giòi bọ của bà.

Tức giận vì ông dám nhìn bà trong tình trạng đó, Izanami đã gửi quỷ nanh dữ đến để đuổi ông quay trở lại âm phủ mãi mãi, nhưng ông thoát được và phong ấn Yomi No Kune bằng một phiến đá khổng lồ. Đáp trả lại, Izanami nguyền rằng sẽ lấy đi 1.000 sinh mạng xuống cõi âm mỗi ngày và Izanagi cũng hứa sẽ tạo nên 1.005 sinh mạng mới nơi dương gian, quả thực âm giới chuyện huyền bí có thật.

Ngày nay, du khách đến thăm khu Matsue của Nhật Bản có thể ghé qua tảng đá được cho là Izanagi đã sử dụng để phong ấn cõi âm. Yomotsu Hirasaka, tên chính thức của lối vào, theo truyền thuyết nằm sau một trong những tảng đá gần đền Iya. Không rõ chính xác tảng đá nào giấu lối vào. Mộ của Izanami cũng nằm gần đó cùng với đền thờ.

2/ Xibalba : Ở đỉnh cao quyền lực, đế chế Maya trải dài cả vùng Mexico và Trung Mỹ, còn niềm tin của người dân vào thế giới bên kia rất mạnh mẽ. Nơi an nghỉ cuối cùng của họ là Xibalba, nơi chỉ người chết mới vào được và chỉ sau khi linh hồn đã vượt qua hàng loạt các thử thách, từ vượt qua con sông đầy bò cạp và máu, băng qua động dơi rồi đi theo một con chó có thể nhìn thấy trong bóng tối. Có nhiều lối ra vào Xibalba và các nhà nghiên cứu gần đây đã phát hiện thêm một lối khác ở bán đảo Yucatan. Các di tích lòng đất và phần chìm dưới nước làm nên một mê cung khổng lồ các hang động chứa đựng những điềm dữ theo những gì người Maya nghĩ rằng đang chờ họ phút cuối.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 11 đền thờ khác nhau trong những hang động, cùng với bằng chứng về sự hiến tế người. Một số hiện vật được để lại cho người chết, bao gồm đồ gốm, các hòn đá chạm khắc và gốm sứ. Các nhà khảo cổ khai quật các hang động cũng đã tìm thấy các cột đá khổng lồ và các cấu trúc được xây dựng dưới nước, một minh chứng cho thời gian, nỗ lực và kiên trì để xây nên ngôi đền. Mặc dù không rõ liệu huyền thoại của Xibalba được xây dựng xung quanh việc khám phá ra các hang động hay các hang động làm nên huyền thoại, có điều chắc chắn rằng cả hai có liên quan tới nhau.

3/ Các cánh cổng của Guinee (nước cộng hòa Ghi-nê) : Theo tập tục phù thủy, các cánh cổng của Guinee có tác dụng nào đó để kết nối linh hồn người sống với chết. Do có nhiều môn tà thuật với đặc điểm khác nhau, nên việc mô tả các cánh cửa này cũng nhiều khác biệt. Trong ma thuật ở New Orleans, nơi tồn tại các linh hồn sau khi chết thường hay tranh cãi xem ai là người kế tiếp sẽ đi đầu thai.

“The Gates of Guinee” là những cái cổng đó để vào thế giới bên kia, có tất cả 7 cổng. Phải mất 7 ngày để đi qua tất cả các cổng này, và nếu như linh hồn nào không vượt qua được, họ có thể trở lại dương thế trong hình hài một thây ma. Một số tay phù thủy tin rằng 7 cánh cổng này được đặt tại bảy nghĩa trang khác nhau ở New Orleans, mặc dù vị trí chính xác và số thứ tự của các cánh cổng là một bí mật được giữ kín hoàn toàn.

Các manh mối nghe nói đã lan truyền khắp thành phố và mọi nghĩa trang, để cho những ai có đủ kiến thức giải mã chúng, thường mang hình thức các dấu hiệu của ma thuật. Các cổng được cho là dễ tìm và mở ra nhất vào thời điểm các ngày lễ như Mardi Gras và lễ các Thánh, nhưng việc tìm ra chúng chỉ là sự khởi đầu của vấn đề. Các cánh cổng phải được tiếp cận và mở ra theo đúng thứ tự, mỗi cổng có một người giám hộ mà đòi hỏi phải có khẩu quyết phù hợp. Mở cửa sai thứ tự hoặc làm phật lòng giám hộ sẽ cho phép các ác linh nguy hiểm thoát qua cổng và tiến vào thế giới chúng ta.

4 / Khu vườn của Hesperides : Theo thần thoại Hy Lạp, thần Gaia đã tặng Hera một món quà cưới là những cây trổ ra quả táo bằng vàng, được cất giữ an toàn trong khu vườn của Hesperides. Hercules được giao nhiệm vụ đánh cắp một quả táo vàng trong lần trả công thứ 11 của ông, và ông đã hoàn thành bằng cách giúp thần Atlas nâng quả đất trong lúc người khổng lồ Titan chọc lấy một trong những trái cây vàng.

Lối vào khu vườn hiện nay được cho là nằm ở Lixus, một thành phố ven biển ở Ma-rốc. Nơi đây từng là một cảng tàu thuyền La Mã nhộn nhịp, các vách tường và tòa nhà của Lixus hiện nay chỉ còn chút di tích đã bị phá hủy gần hết. Di tích cho thấy phần còn lại của một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thành phố, sản xuất pa tê làm từ ruột cá lên men. Vị trí của các khu vườn được đề cập đến trong một văn bản dưới thời Hellenistic Hy Lạp, nhưng cũng có những địa điểm khác được đề cập đến, bao gồm Cyrene và một trong những hòn đảo ngoài khơi bờ biển Libya.

5 / Newgrange Newgrange : Newgrange Newgrange là một hầm mộ rộng lớn được xây dựng ở thung lũng Boyne, Ireland hơn 5.000 năm trước đây. Công trình không chỉ thể hiện sự hiểu biết thông thái về thiên văn mà còn là một trong những lối vào thế giới khác của người Celt. Theo thần thoại Celtic, các vị thần đã di chuyển qua lại giữa các thế giới của họ và trần gian thông qua nghi thức nhất định và các thánh địa như Newgrange.

Người ta vẫn cho rằng Newgrange là lối đi vào một sảnh tiệc nguy nga tráng lệ dành cho những đấng gọi là Các vị chủ nhân của Ánh sáng, còn có lời đồn nó dẫn đến một vùng đất của những người trường sinh bất lão, hoặc vô bệnh. Nguồn thực phẩm và thức uống ở đó là vô hạn, ngoài ra còn có các loại cây thần kỳ liên tục sinh ra trái chín.

Thần thoại cổ xưa nhất xung quanh Newgrange kể rằng đây là nhà của sinh mệnh hiện thân cho dòng sông Boyne và là nơi có giếng cội nguồn của mọi trí huệ trên thế giới. Cây cối ở gần giếng rớt hạt vào trong nước, đem các tri thức mà nó tích tụ đến với cõi người. Các cư dân tiếp theo của thế giới khác liên quan đến Newgrange là thần Dagda, một trong những vị thần lâu đời nhất của Ai-len, người có quan hệ đến tri thức, mặt trời và bầu trời. Con trai ông là Oengus có quan hệ chặt chẽ với Newgrange, được sinh ra sau một ngày duy nhất và gia tăng quyền năng từ ngọn đồi để sống trong chín tháng. Sau đó, Oengus đã lừa đưa Dagda xuống cổng hầm mộ, nơi được cho rằng ông đã canh giữ ở đó đến ngày nay.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

PHONG TỤC NGÀY TẾT

Logo phong tuc

9-nam-moi-1NGƯỜI VIỆT ĐÓN TẾT

NHƯ THẾ NÀO ?

– Thiên Việt

Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp về với mọi nhà. Là ngày hội lớn nhất trong năm, ai ai cũng đều được nghỉ ngơi sau 360 ngày làm việc lo cơm áo gạo tiền. Đây là một phong tục của người Á Đông, những nước khi xưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa tín ngưỡng Trung Hoa, mà nước ta là một trong số các nước đó.

Vì thế những ngày trước trong và sau Tết Nguyên Đán, luôn là những ngày mà mọi người thường đi theo tục lệ truyền thống dân gian đã có hơn từ ngàn năm nay, trong tục lệ còn có tín ngưỡng và tâm linh. Nhân ngày Tết Nguyên Đán Đinh Dậu sắp đến, chúng tôi xin có bài viết về phong tục ngày tết :

LỊCH SỬ NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết là một ngày bắt đầu một năm mới, một tháng mới tính theo Âm lịch. Trong truyền thuyết, vào thời kỳ Ngũ Đế, vua của nước Trung Hoa này có tên Chuyên Húc, ông gọi tháng giêng là Nguyên, 9-mua-lanngày mùng một là Đán. Còn sách Nhĩ Nhã : Nguyên có nghĩa bắt đầu, Đán là sớm.

Vào đời nhà Thương (thế kỷ thứ 5 Tr.CN – Trước công nguyên) lấy tháng Sửu (tháng 12, tháng chạp), còn đời Chu (thế kỷ thứ 4 Tr.CN) lấy tháng Tý (tháng 11), còn đời Tần (thế kỷ thứ 3 Tr.CN) lấy tháng Hợi (tháng 10).

Đến đời Hán Vũ Đế (tứ năm 136 Tr.CN đến 25 sau CN) căn cứ vào thiên văn và sự tuần hoàn của vũ trụ qua bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, ông thấy mùa xuân hoa nở xanh tươi thời tiết đang giá rét chuyển qua ấm áp nên lấy ngày đầu tháng Dần (tháng 1 – tháng giêng) làm ngày đầu năm mới, và cho tổ chức hội hè đón xuân.

Tết nguyên Đán có nguồn gốc là vậy.

Nước Việt Nam chúng ta có cả ngàn năm bị giặc phương Bắc đô hộ, nên phong tục ấy đã được người dân chấp nhận từ hàng ngàn năm qua, và cứ qua mỗi đầu năm mới, trong nét văn hóa đó có những thay đổi cho phù hợp với nhân văn tại mỗi miền. Nhưng những nét chính đón mừng năm mới không thể bỏ những tục lệ sau đây :

9-ong-tao-1TỤC CÚNG  ÔNG TÁO

Ngày 23 tháng Chạp hàng năm (trước tết Nguyên Đán) là ngày ông Táo lên trời để trình với Ngọc Hoàng Thượng Đế mọi việc hung kiết trong một gia đình năm qua. Theo quan niệm của người Việt, ngày này là ngày bộ ba Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ vắng mặt ở trần gian nên công việc lúc này tạm ngừng.

Mọi người lo việc đón Tết. Hệ thống triều đình, làng xã, các dấu triện sẽ không xác nhận giấy tờ, văn bản gì nữa. Nho sinh làm lễ tạ trường, thợ săn làm lễ đóng cửa rừng v.v… Nhà nào cũng mua cá chép làm ngựa cho ông Táo về trời. Ngày hôm đó, gia đình nào cũng làm mâm cơm cúng thật thịnh soạn, khấn trước bàn thờ, kể rõ mọi việc trong năm và mong muốn trong năm mới mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tục cúng ông Công, ông Táo liên quan tới câu chuyện về một sự tích. Chuyện kể rằng vợ chồng Trọng Cao, Thị Nhi không có con, buồn phiền thường cãi nhau. Một lần vì cáu giận, Trọng Cao đánh vợ, Thị Nhi tức giận bỏ đi. Thị Nhi gặp Phạm Lang và họ thành vợ thành chồng. Mãi thấy vợ không trở về, 9-ong-tao-2Trọng Cao hối hận bỏ nhà đi tìm vợ. Hết tiền ăn đường, Trọng Cao phải đi xin ăn. Một ngày kia, Trọng Cao vào đúng nhà Thị Nhi xin ăn. Thị Nhi nhận ra chồng cũ liền hậu đãi.

Đúng lúc ấy Phạm Lang về. Sợ chồng hiểu lầm Thị Nhi liền dấu Trọng Cao vào đống rơm. Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao chết cháy.  Thương người chồng cũ, Thị Nhi nhảy vào đám lửa chết theo, Phạm Lang thấy vậy, nhảy vào cứu cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng cảm kích, cho ba người làm Táo quân.

Bởi vậy sau này, trong lễ cúng ông Táo bao giờ cũng có một mũ đàn bà màu vàng để giữa hai mũ đàn ông màu đen để hai bên, tượng trưng cho hai ông một bà. Cũng có nơi chỉ đặt một mũ nam và một đôi hia. Mũ đặt trên chiếc kệ bên dưới mỗi mũ để 100 vàng thoi. 9-phao-noTrong thực tế, mũ áo này thay đổi theo màu sắc của ngũ hành.

Năm hành là : kim mũ màu vàng – mộc mũ màu trắng –  thủy mũ màu xanh – hỏa mũ màu đỏ và thổ mũ màu đen (Năm hành được tính theo Lục Thập Hoa Giáp, thí dụ như năm Đinh Dậu có hành là Hỏa – Sơn Hạ Hỏa)

Bài vị ở bàn thờ Thổ Công thuờng ghi như sau :

“Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Thổ Địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”

Khi sửa lễ cúng ông Công, ông Táo người ta đều đốt bài vị cũ, thay bài vị mới. Sau khi lễ xong thì hóa vàng, hóa luôn cả mâm mũ năm truớc và thả một con cá chép còn sống xuống ao, cá sẽ hóa rồng để đưa ông Táo cưỡi lên chầu trời.

TỤC “GỬI TẾT” VÀ “BIẾU TẾT”

Theo tục của người Việt, con cái trong gia đình đã lớn, ra ở riêng hết, tết đến phải quy tụ về nhà tổ đường (nơi thờ tự chính, đấng Cửu huyền thất tổ như ông bà, cha me…) nếu cha mẹ còn sống, còn cha mẹ đã chết, người con cả (con trai trưởng) 9-bieu-tet-1sẽ đại diện gia đình để cùng nhau làm mâm cơm cúng bái tổ tiên (nếu người cha mẹ hay người con trưởng đại diện cho cả một chi tộc thì lễ tại tổ đường sẽ đông đảo hơn một gia đình).

Bởi vậy, các con thứ hoặc ngành thứ, vào dịp tết có tục phải gửi lễ hoặc gửi góp giỗ đến nhà anh con cả để cùng tưởng niệm Tổ Tiên gồm gà, hoa quả, vàng nhang. Nay mọi người thường gửi bằng tiền, nhằm giúp gia đình anh con cả có điều kiện soạn mâm cơm cúng giỗ tết chu đáo hơn.

Nay nhiều người hiểu sai từ “gửi tết” bằng từ “biếu tết”, vì “gửi tết” có ý nghĩa như một nhiệm vụ phải có của những người con gia đình nhớ đến ông bà cha mẹ đã quá vãng. Còn “biếu tết” chỉ là sự kính trọng giữa người dưới đối với người trên, giữa những người cùng làm ăn, những người đã, đang giúp đỡ mình hay gia đình mình, với hàng xóm láng giềng, hay bạn hữu thân thiết. Tục “gửi tết” còn đối với những người trong họ tộc nhưng khác chi, khác nhánh v.v.. cũng chung một gốc ông bà, gửi tết về cúng kiến giỗ chạp tuy nhiên không có nghĩa vụ ràng buộc như người trong gia tộc.

9-bieu-tet-2Tục này thường diễn ra sau ngày rằm tháng Chạp đến hết ngày 30 hoặc 29 Tết nếu có tháng đủ tháng thiếu trong âm lịch.

TỤC TRỒNG CÂY NÊU

Nêu là một cây tre để cả ngọn cắm ở trong sân nhà. Trên ngọn nêu là túm lá dừa, lá lông gà, lá thiên tuế hoặc những chiếc bánh, những con cá bằng đất nung cùng một tán tròn bằng tre, phía dưới dán giấy đỏ. Cạnh cây nêu, vôi bột được rắc theo hình cung tên, mũi tên hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ.

9-cay-neuTục này được gắn liền với một câu chuyện kể về cuộc tranh giành đất đai giữa người và ma quỷ. Nhờ có chiếc áo cà sa của Phật, người đã thắng. Áo cà sa được treo trên ngọn cây nêu, áo tỏa hào quang đến đâu, quỷ phải lui tới đó. Cuối cùng ma quỷ phải chạy ra biển Đông ở. Nhưng nuối tiếc vùng đất xưa, bọn ma quỷ vẫn muốn quay về.

Bởi vậy, để dọa ma quỷ, người trồng cây nêu trước sân nhà vào năm mới có ý nghĩa là vậy (Nhưng nay dựng cây nêu ngày tết chỉ còn ở những vùng quê mà thôi).

Ngoài ra, trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng ngoài”  thì ở ngoài miền Bắc, người ta trồng cây nêu bên cạnh nhà, cột nêu cao hơn nóc nhà, trên ngọn cột một cái thúng hay cái hộp nhỏ có đục nhiều lỗ, bên trong đựng thoi vàng giấy, bạc giấy để cha mẹ đã chết về nhận vào cuối năm có  tiền ăn tết.

9-cung-giao-thua-1ĐÓN ÔNG BÀ

Vì sao có tục đón ông bà ? vì ngày 23 tháng Chạp khi đưa ông táo về trời tâu lên Ngọc Hoàng những chuyện trong năm cũ của gia đình và nhận lời phán xét của Ngọc hoàng cho năm mới.

Ngày này ông bà cha mẹ (người đã chết) cũng phải về chầu âm phủ để được Diêm vương phán xét việc đầu thai hay chưa, ai được phong thần phong thánh v.v… cho nên từ 25 tháng chạp, đến ngày cuối năm (trước khi cúng đón ông bà cha mẹ) người người đến nghĩa trang thăm mộ gia tiên (rẩy mả) trước thăm viếng sau sửa sang lại ngôi mả cho thật sạch sẻ để ông bà về đón tết.

Nên từ 23 tháng chạp trở đi việc nhang khói, đánh chuông đánh trống tại các đình chùa đền miếu đều không có, mọi sự tại các nơi này yên tĩnh.

9-don-ong-baTrong ngày 29 (hoặc 30 tết), các gia đình tổ chức mâm cơm mặn vào lúc giữa trưa, trước là đón ông Công, ông Táo sau là đón ông bà cha mẹ về ăn tết cùng gia đình mình trong 3 ngày tết (đến khi hạ nêu thì tiễn ông bà). Tục này hiện nay rất phổ biến, không loại trừ những người bên đạo Thiên chúa, vì đây là sự thành kính, hiếu thảo của con cái với tổ tiên mà thôi. Trong ngày đón ông bà, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tề tựu (nếu cúng tại tổ đường thì không khí đông vui, như đã vào tết).

CÚNG GIAO THỪA

Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của cụ Phan Kế Bính có viết về Lễ cúng giao thừa.

– “Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc trần gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế đêm giao thừa là để tiễn ông cũ và đón ông mới”. 9-nam-moi-2Đó là ý nghĩa của việc cúng giao thừa ngay vào lúc trừ tịch (0 giờ ngày mới, tháng mới, năm mới), nhiều gia đình tổ chức rất long trọng, các đình chùa, miếu mạo cũng chuẩn bị thật trang nghiêm nhằm tống cựu nghinh tân.

Khi cúng giao thừa bàn thờ được lập giữa trời chứ không phải trong nhà. Có nơi cúng các hoa quả ngày tết, có nơi cúng mặn. Ngày xưa, lễ vật thường gồm một đầu heo hoặc con gà, bánh chưng xanh, bánh kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu và giấy tiền vàng bạc, đôi khi có thêm áo mũ của vị hành khiển năm mới.

Khi đúng nữa đêm, các nơi đánh chuông đánh trống, còn tại mỗi gia đình chủ nhà thắp 3 nén nhang (có người dùng 3 cây nhang đại, cháy cả ngày chưa tàn) khấn vái trời đất, khấn vái ông hành khiển mới, xin cho gia đình được một năm may mắn và những vận rủi sớm đi qua.

Theo quan niệm dân gian mỗi năm có một ông hành khiển, qua báo chí ta vẫn thấy vị hành khiển 9-cung-giao-thua-2của năm mới mang tên 1 trong 12 con giáp (theo đúng năm được gọi tên), người xưa gọi là Thập nhị hành khiển vương hiệu.

Vị thần cai quản trong năm được gọi là dương niên chi thần. Mỗi chi thần này còn có một phán quan giúp việc (Vị thần hành khiển trong năm lo việc thi hành những mệnh lệnh trên thượng giới, trình lên Ngọc hoàng Thượng đế những việc đang điều hành, còn vị phán quan lo ghi chép công tội của mọi gia đình, mọi địa phương v.v..)

TỤC HÁI LỘC

Sau giao thừa, người Việt thường có một cuộc “du xuân” để cầu may mắn. 9-hai-locNgười ta thường đến đền, chùa để làm lễ. Khi ra về ngắt một cành hoa hoặc một nhánh cây gọi là hái lộc. Về nhà, cành lộc thường đuợc trưng tại gian nhà chính và gìn giữ trọn một năm mới bỏ đi. Người Việt chúng ta tin tưởng rằng việc hái lộc để lấy may. Cành lộc thường là cành đa, cây đa lại là cây sống rất lâu. Chọn cành đa là họ mong muốn sẽ trường thọ, nhiều tiền bạc, đông con nhiều cháu.

9-xong-datTỤC XÔNG ĐẤT

Vào ngày mồng một Tết, ai là người bước chân vào đất hoặc nhà người khác đầu tiên được cho là người xông đất. Theo quan niệm, người xông đất là người có ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh của gia chủ trong một năm. Nếu người xông đất tốt thì mọi việc trong năm sẽ thuận buồm xuôi gió, ngược lại, người xông đất xấu sẽ gặp rủi ro.

“Xấu” và “tốt” ở đây có nghĩa là hợp duyên hợp vía. “Duyên” và “vía” ở đây cũng có thể là tính tình, đạo đức tư cách của người tới xông đất; cũng có thể là người xông đất năm đó có tuổi hợp với tuổi của gia chủ hay không.

Vì vậy người ta cố tránh đến nhà nhau vào sáng sớm mùng một tết, còn ai được gia chủ có nhã ý mời tới xông đất thì khi đến cũng phải rất thận trọng. Trước hết, trước khi bước vào đất của gia chủ, người xông đất phải cười vui vồn vã với gia chủ, lì xì cho con cái gia chủ thật mau mắn, sau đó mới chúc tết lẫn nhau…

KIÊNG NGÀY MÙNG MỘT TẾT

Quan niệm vào ngày mùng một tết là ngày đầu tiên trong năm, nếu  mọi việc diễn ra tốt đẹp thì cả năm sẽ trôi chảy, thuận lợi. Bởi vậy, vào ngày mùng một Tết, người ta chúc mừng nhau những điều hay. Ngoài ra người dân còn kiêng cữ  một số việc như sau:

– Kiêng quét nhà. Nếu quét thì vun rác vào góc nhà. Sang sáng mùng hai mùng ba mới hốt đi vì sợ Thần giữ của theo rác ra đi.

– Kiêng cho lửa, vì lửa tượng trưng cho “vận đỏ”, “may mắn”. Cho lửa là cho đi sự may mắn

– Kiêng làm vỡ ly chén, tô, đĩa vì sợ sự đổ vỡ.

Tr Cuoi 12– Kiêng chửi mắng đánh đập con cái để mong cả năm yên ổn, thuận hòa.

– Kiêng đòi nợ, vay nợ vì nếu phải trả nợ vào ngày mồng một thì sẽ mất mát, thua thiệt quanh năm

– Kiêng nói những câu “mất”, “chết” để khỏi diễn ra sự mất mát, chết chóc trong cả năm.

– Kiêng khóc than để tránh sự ảm đạm trong cả năm.

– Kiêng để đèn thắp trên bàn thờ hết dầu vì như vậy có nghĩa là cuộc đời sẽ tàn lụi.

– Kiêng cho mượn đồ vật dụng vì đấy là hình thức “trao của”, hệt như việc trả nợ.

– Kiêng ngồi giữa cửa vì sợ cản trở sự trôi chảy, trót lọt của gia đình

– Người gia đình có tang không được đến chúc tết người khác vào ngày mùng một vì sợ Tr Cuoi xua 3đem sự rủi ro tới cho gia chủ và giảm lòng hiếu thảo với người đã khuất.

– Kiêng đi vào giờ xấu. Giờ “xuất hành”phải là giờ hoàng đạo và khi đi phải chọn hướng tốt mà đi.

TỤC HỨNG NƯỚC ĐẦU NĂM

Ở nông thôn (và có thể ở cả trong thành phố) người dân quan niệm rằng đầu năm mà có người gánh nước tới nhà thì có nghĩa là tiền vào nhà như nước. Bởi vậy, những người gánh nước thuê đầu năm được gia chủ đón tiếp rất niềm nở và được thưởng tiền nhiều gấp mười lần ngày thường. Còn nơi thành phố, vì quá trình hiện đại hóa, nên đa số gia đình đều có nước thủy cục, việc thuê người gánh nước không còn ai phục vụ cho điều này nửa. Vì thế vào nửa đêm, các gia đình mở vòi nước cho chảy tràn hồ chứa nước, xem như tiền vào nhà như nước.

TỤC MỪNG TUỔI

Năm mới mọi người lớn thêm một tuổi, người lớn có tục lì xì (mừng tuổi) cho người ít tuổi hơn mình, 9-mung-tuoinhư lời nhắn nhủ, tiền lì xì ấy sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều, mà vun đắp tương lai.

Tiền lì xì còn gọi là tiền “mở hàng để lấy may”. Tại Chợ Lớn, các thương gia thường lì xì cho khách hàng một bao lì xì màu đỏ trong đựng một tờ  giấy bạc mới, dù người đó có mua hàng hay không, họ cho là “tiền mở hàng” lì xì càng nhiều phong bao, họ cho là trong năm sẽ phát đạt (vì như thế tức trong năm nhiều khách hàng hơn)

Trẻ em lại thích tiền mừng tuổi, người lớn cho rằng như vậy trong năm có nhiều niềm vui trong cuộc sống, qua sự ngây thơ của trẻ nhỏ khi được bao lì xì thì cười nói tíu tít v.v…

TỤC HÓA VÀNG

Trong ba ngày tết, thông thường vào chiều ngày mùng 3, nhà nhà có tục hóa vàng (tiễn ông bà), nhiều gia đình cũng mời bà con trong họ tộc đến để dự lễ này.

Lễ hóa vàng như đã nói, tiễn đưa ông bà cha mẹ về lại tổ đường, hay chùa chiền mà họ đã gửi hương linh (theo truyền thuyết khi người chết, họ vẫn còn 3 hồn, một hồn ở nơi chôn cất, một ở nơi chết hoặc là chốn thờ tự và một hồn ở suối vàng). Sau còn ý nghĩa khác, mời họ hàng phá mồi (tức dùng hết những món ăn ngày tết đã 9-hoa-vangmua sắm trong nhà như dưa hấu, bánh chưng, thịt mở, dưa hành v.v…)

Lễ hóa vàng là đốt hết các loại giấy tiền vàng bạc đã để trên bàn thờ, khi đã đốt hết người ta đổ vào đống tro những chén rượu cúng. Tục lệ cho rằng, có như vậy ở cõi âm các vị ông bà cha mẹ mới có tiền tiêu xài trong năm mới.

Có nơi (nhiều vùng nông thôn) vẫn có tục mua 2 cây mía dùng trong việc thờ tổ tiên trong 3 ngày tết, trong ngày hóa vàng họ hơ mía trên đống tàn còn đang rực đỏ, có ý chuyển giao cho tổ tiên có gánh quải tiền về, cũng là khí giới chống bọn cướp vàng nơi cõi âm.

HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM

THÁNG GIÊNG (theo âm lịch)

– Từ mùng 1 đến mùng 3 :  Tết Nguyên Đán

– Từ mùng 2 đến mùng 3 : Hội cướp đò, xã Gia Thanh, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Lễ duyệt bia xã Hiền Quan, 9-le-hoi-1huyện Tam Thanh, Phú Thọ.

– Mùng 3 : Hội đình Tích Sơn, xã Tích Sơn, thị xã Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. – Hội Lô làng Cọi, xã Vũ Hội, huyện Vũ Thư, Thái Bình. – Hội tung còn Bạch Hạc, xã Bạch Hạc, TP. Việt Trì, Phú Thọ.

– Mùng 4 đến mùng 7 : Hội vật Bảo Giàn, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc. – Hội vật Liễu Đôi, xã Nam Cúc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam – Hội pháo Đồng Kỵ, xã Đông Quang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Quế Võ, Bắc Ninh. – Hội Ó (chợ bán gà) xã Xuân Ó, Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội kéo dây (kéo co) làng Phùng, xã Tân Thịnh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa – Hội Chấp, xã Hữu Chấp, huyện Yên Phong, Bắc Ninh – Hội làng Đông Hồ, xã Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh

– Mùng 5 : Hội Đống Đa, quận Đống Đa, Hà Nội. – Hội Lịch Diệp (làng nghề dệt) xã Trại Chính, huyện Nam Ninh, Nam Định

– Từ mùng 6 đến 12 : – Hội Mê Linh, xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc – Hội làng Vân Sa (làng dệt lụa) xã Tân Hồng, huyện Ba Vì, Hà Tây – Hội Gióng Sóc Sơn, xã Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. – Hội Đuồm, xã Đông Đạt, huyện Phú Lương, Thái Nguyên. – Hội Cơm Hòm, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên – Hội hát dặm Quyền Sơn, làng Canh Dịch, thôn Quyền Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam. – Hội Rưng, làng Vân Trưng, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc – Hội Đền Đìa, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, Thái Bình

9-le-hoi-2– Từ mùng 6 đến rằm tháng ba : Hội Chùa Hương, xã Đục Khê, huyện Mỹ Đức, Hà Tây.

– Mùng 7 đến ngày 15 : Hội làng Hy Cường (rước chúa Ga) xã Hy Cường, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội vật Vĩnh Nộ, xã Cao Xá, huyện Phong Châu, Phú Thọ. – Hội chen, xã Nga Hoàng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh

– Mùng 8 : – Hội Vó (làng nghề đồng) xã Quang Bố, huyện Gia Lương, Bắc Ninh. – Hội du xuân, 4 xã kết nghĩa du xuân Yên Phụ, Yên Hậu, Yên Tiến, Yên Vĩ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh

– Mùng 10 : Hội voi, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk. – Hội vật làng Sình, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Huế – Hội Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội – Hội Dô, xã Hiệp Tuyết, huyện Quốc Oai, Hà Tây. – Lễ hội Bà Chúa Kho – Cổ Mễ, Vũ Ninh, Bắc Ninh

– Ngày 11 : Hội Trò trám, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, Phú Thọ – Hội đánh cá Lũng Giang, xã Lũng Giang, Lũng Sơn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội Phù Ủng, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, Hưng Yên – Hội Thương Liệt, xã Đông Tân, huyện Đông Hưng, Thái Bình

– Ngày 12 : Hội rước vua sống, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội

– Ngày 13 : Hội Lim, xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh – Hội phết Hiền Quan, xã Hiền Quan, huyện Tam Thanh, Phú Thọ

– Ngày rằm (15) : Lễ Thượng ngươn, hội lớn của Phật Giáo, các chùa chiền đều mở cửa – Hội xuân Núi Bà, núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh –thien-viet Lễ vía chùa Bà Bình Dương, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương – Hội đền Và, huyện Ba Vì, Hà Tây

– Ngày 15 đến ngày 21 : Hội chèo vùng Gối, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Tây

– Ngày 17 : Hội chùa Tứ Pháp, xã Văn Lâm, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên

– Ngày 18 đến 23 : Hội Côn Sơn, xã Côn Sơn, huyện Chí Linh, Hải Dương

– Ngày 20 : Hội hoa Vị Khê, xã Nam Điền, huyện Nam Ninh, Nam Định

Thiên Việt

SỰ KIỆN LỄ GIÁNG SINH

Logo su kien 1

NGOng gia Noel 1UỒN GỐC

LỄ GIÁNG SINH TỪ A ĐẾN Z

Ngày xửa ngày xưa, lúc chưa có lễ Noël tức Lễ Giáng Sinh, mỗi năm vào mùa này ở châu Âu mọi người tổ chức một lễ dành riêng cho đạo Thiên chúa dưới những hình thức như ở :

Ý (Rome): Từ 17 đến 24 tháng 12, một sự vô trật tự ngự trị toàn thành phố Rome: Mọi người lau rửa nhà cửa sạch sẽ, trang hoàng thật đẹp, nấu nướng rồi mời nô lệ của họ ngồi cùng bàn ăn uống.

Tại Pháp và vài vùng châu Âu thời Trung Cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến giữa thế kỷ 15), khoảng cuối tháng 12, người ta tổ chức lễ Cuồng. Đám đông mang mặt nạ, cải trang tu sĩ nhà thờ, mặc ngược áo lễ, đi khắp các đường phố, chế nhạo châm biếm lễ nhà thờ, và múa những điệu vũ khêu gợi… Lễ này bị cấm nhiều lần và bị cấm hẳn vào cuối thế kỷ 15.

Thờ cúng thần Mithras : Khoảng tiết Đông Chí (Soltice d’hiver), vị thần Mithras (Mặt Trời) được hình tượng chiến đấu với bò rừng. Ngày 25 tháng 12, người ta giết bò đực và rải máu khắp cánh đồng : đất trở nên mầu mỡ hơn và mùa màng tốt đẹp hơn. 10-noel-1Tại Rome, ngày này là ngày có đêm dài nhất, người ta làm lễ đón Mặt trời trở về, tượng trưng bằng một bé sơ sinh.

LỄ GIÁNG SINH

Chữ Giáng sinh có nguồn gốc từ chữ natalis, nghĩa là ngày sinh ra đời. Đặc biệt là hồi mới có đạo Thiên chúa, không có ngày Noël. Thật vậy, Thánh kinh không nói rõ ngày Giáng sinh. Có vài Giáo hoàng định ngày sinh của Chúa Jésus khoảng tháng 3 hay tháng 4.

Noël được phát minh năm 354 khi Giáo hoàng Liberus muốn biến đổi cách tôn thờ Thần Mithras mà người ta sùng bái mỗi lần tiết Ðông chí đến dưới dạng một bé sơ sinh, được thay thế bởi sự sinh ra đời của Chúa Jésus. Ðể tránh nhầm lẫn, ông đã lấy ngày 25 tháng 12 cho lễ này.

LỊCH SỬ ÔNG GIÀ NOËL : Nguồn gốc Ông Già Noël là một hình ảnh được tưởng tượng từ khi tiết Ðông chí đến (ngày 21 tháng 12). Cái chụp của ống khói chứa đầy quà cáp – ban đầu là trái cây, tượng trưng cho sự đổi mới (renouveau) của Thiên nhiên.

Ông Già Noël không có biên giới : Père Noël ở Pháp, Father Christmas Anh, Babbo Natale Ý, Weihnachtsmann Đức, Santa Claus Mỹ … 9-noel-1Khi những người Hà Lan định cư bên Mỹ, tên Thánh Nicolas tiếng Hà Lan là Sinter Klass, trở thành Santa Claus. Ông Già Noël có nguồn gốc từ Thánh Nicolas : râu dài, áo choàng đỏ ngồi trên lưng con lừa. Theo thời gian, Ông Già Noël có hình dáng một ông già mập bụng tròn, tóc râu bạc trắng, cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu (tuần lộc) bay trên không kéo.

Tên Ông Già Noël Tên “Ông Già Noël” có thể do biệt danh của Thánh Nicolas, thánh bổn mạng cho trẻ con, luôn luôn làm lễ ngày 6 tháng 12 ở miền Ðông Âu Châu, như Ðức.. Thánh Nicolas mang đến bánh, kẹo. Ông Già Noël cho những quà chắc chắc hơn. Có lúc người ta thử bỏ truyền thống này, nhưng không thành công

Vào thế kỷ thứ 4, truyền thuyết cho rằng thánh Nicolas là linh mục rất nhân từ. Ông ban nhiều phép lạ, cứu ba sĩ quan vô tội khỏi bị án tử hình, cứu các thủy thủ khi tàu bị lâm nạn, cứu ba cô gái giữ gìn phẩm hạnh… Một bài hát còn kể lại chuyện ông cứu ba đứa trẻ ban đêm đi lạc vào nhà một tên đồ tể và bị tên này giết rồi chặt khúc ra đem ướp muối. Bảy năm sau Saint Nicolas đi ngang qua và cứu chúng sống lại. Bởi vậy Thánh Nicolas là thánh bảo hộ cho trẻ con, cho người đi biển và cho những chàng trai trẻ còn độc thân cũng như Thánh Catherine bảo hộ cho các cô gái trẻ chưa lập gia đình…

Lễ của Thánh Nicolas là 6/12, ngày ông mất. Trong đêm 5-6 tháng 12, ông bay lên trời với con ngựa chở đầy quà và bánh kẹo cho trẻ em. Ông đáp xuống để quà trong đôi giày ống của trẻ ở miền Bắc và miền Đông nước Pháp và nhiều vùng tại châu Âu, như Đức, Bỉ.. Để đáp lễ, họ để cà rốt và củ cải cho ngựa của thánh Nicolas ăn.

Lịch sử và nguồn gốc cây Noël : Giữa năm 2000 và 1200 trước Công nguyên, người ta đã nói về một loại cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Dân tộc Celte dùng lịch theo chu kỳ Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Cây Epicea liên kết với ngày 24 tháng 12. Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi hoa, quả và lúa mì.

Năm 354, nhà Thờ làm lễ Giáng sinh đầu tiên cho Chúa Jésus, lấy ngày 25 tháng 12 để cạnh tranh với lễ đa thần trên. Nếu Noël được phát minh vào ngày 25/12/354, thì Cây Noël được phát minh rất trễ sau này.

Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7 có một nhà tu người Đức, Thánh Boniface (sinh năm 680), muốn thuyết phục các tu sĩ Đức tại vùng Geismar rằng cây sồi không phải là một loài cây thiêng liêng. Ông đốn một cây sồi và khi cây ngã, nó đè tan nát hết tất cả mọi vật, trừ một cây thông non. Từ huyện thoại này, chuyện kể thêm rằng Thánh Boniface đã cho rằng sự ngẫu nhiên trong sáng đó là một phép lạ và tuyên bố “kể từ nay, ta gọi tên cây này là cây Chúa Hài đồng Jésus. Từ đó người ta trồng cây thông con để làm lễ Giáng sinh

Vào thế kỷ thứ 11, cây Noël được trang hoàng bằng những trái táo đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng, Cay Noel 1trên đó người ta treo trái táo của bà Eva. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 12, cây thông Noel được xuất hiện tại Âu Châu, nói chính xác hơn là vùng Alsace (Pháp). Người ta gọi “cây Noël” lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.

Thế kỷ thứ 14, người ta trang trí cây thông bằng những trái táo của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kỳ đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến.

Từ năm 1560, những người theo đạo Tin Lành phát triển truyền thống cây thông Noël. Thế kỷ 12I và 13 các cây thông chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cành thông.

Năm 1738, Marie Leszczynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noël trong lâu đài Versailles. Tại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây thông, nơi đầu tiên có truyền thống này. Các nước Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa bằng cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh.

Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây thông tại điện Tuileries .

Làm lễ Giáng sinh quanh một cái cây, biểu tượng của cây trên Thiên Ðàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Ðức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, Cay Noel 2có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kỳ đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.

Đầu thế kỷ thứ 19 cây Noël được nhập vào nước Anh từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noël là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo, cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu. Cây Noël được thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Noël cũng được những nước Áo, Thụy sĩ, Phần Lan, Hòa Lan, tán thưởng trong thời kỳ này. Hiện nay, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng sinh và trưng cây Noël. Giờ đây cây Noël là hạnh phúc của mọi người, từ trẻ con cho tới người già.

Nguồn gốc hang đá chúa Hài đồng : Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong dịp lễ Giáng Sinh do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.

Ðêm 24/12 tại các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Ngày này, người ta vẫn dựng máng cỏ trong gia đình để tưởng niệm nơi Jesus ra đời.

Qủa thực, Marie và Joseph sống ở Nazareth. Khi Marie mang thai, thì diễn ra sự kiện điểm dân số, người dân được sinh ra ở thành phố nào phải trở về thành phố ấy để điểm danh. Joseph vốn là người Bethleem. 10-noel-2Nên cả hai đi từ Nazareth đến Bethleem. Trên đường di chuyển, hai người đã trú chân trong một chuồng cừu và Marie đã sinh hạ Jesus ở đấy. Jesus được đặt nằm trong chiếc máng ăn cho cừu.

Theo truyền thống, máng cỏ phải dựa lưng vào tường, xung quanh được trát bằng đất bùn, mái được lợp bằng một viên đá tảng, các thanh củi dùng để làm kèo. Người ta còn dùng thêm trái thông, sợi rơm và sỏi trắng lượm từ bờ biển, để trang trí sao cho khung cảnh trông thật tự nhiên. Ngoài ra, không thể thiếu tượng của đức mẹ Marie đang bồng chúa hài nhi, Joseph, những người chăn cừu, cừu, bò, thiên thần và một ngôi sao. Chiếc máng cỏ sẽ ở trong nhà đến tận ngày mùng 2 tháng hai, ngày chúa Jésus được làm lễ rửa tội.

Chiếc gậy kẹo : Vào những năm 1800, một người làm kẹo ở Ấn Độ muốn biểu đạt ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh qua một biểu tượng được làm bằng kẹo. Ông bắt đầu thực hiện ý tưởng của mình bằng cách uốn cong một trong những thỏi kẹo của mình thành hình một chiếc gậy kẹo.

Qua cây gậy kẹo của mình, ông đã kết hợp những biểu tượng thể hiện tình yêu và sự hi sinh của Chúa Giê su. Màu trắng biểu hiện cho sự trong trắng và vô tội của chúa Giê su. Sau đó, ba sọc nhỏ tượng trưng cho những đau đớn mà Ðức Chúa đã phải chịu trước khi ngài chết trên cây thập ác. Ba sọc đó còn biểu hiện ba ngôi thiêng liêng của Chúa (sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần). Ông thêm vào một sọc đậm để tượng trưng cho máu mà Chúa đã đổ cho loài người. Khi nhìn vào cái móc của cây gậy, ta thấy nó giống hệt cây gậy của người chăn cừu vì chúa Giê su chính là người chăn dắt con người. Nếu bạn lật ngược cây gậy, nó sẽ trở thành chữ J tượng trưng cho chữ cái đầu tiên của tên chúa Giê su (Jesus). Nhờ có người thợ làm kẹo đó mà mọi người đều biết được lễ Giáng Sinh nói về điều gì.

Ngôi sao Giáng Sinh : Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt. Ngôi sao trong lễ Giáng Sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy.

Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc. Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế.

Quà tặng trong những chiếc bít tất : Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái đến tuổi lập gia đình Giang sinhnhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của 3 cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi.

Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến mức nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Câu truyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo bít tất bên lò sưởi dể hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được nhiều quà nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất bên cạnh lò sưởi dể nhận quà như ước mơ từ ông già Noel

Cây tầm gửi và cây ô rô : Hai trăm năm trước khi Chúa Giê su ra đời, người ngoại đạo dùng cây tầm gửi để kỉ niệm ngày Mùa Ðông đến. Họ thường hái loại cây ký gửi này và dùng nó để trang trí cho ngôi nhà của mình. Họ tin tưởng rằng loại cây này có một khả năng chữa trị đặc biệt đối với mọi loại bệnh tật từ bệnh vô sinh của phụ nữ cho đến ngộ độc thức ăn.

Những người dân ở bán đảo Xcăngđinavi cũng coi cây tầm gửi là biểu tượng của hoà bình và sự hòa thuận. Họ còn đồng nhất hình tượng cây tầm gửi với nữ thần tình yêu của họ là thần Frigga. Phong tục hôn nhau dưới bóng cây tầm gửi hẳn là xuất phát từ từ niềm tin này. Lúc đầu nhà thờ cấm sử dụng cây tầm gửi trong lễ Giáng Sinh vì nguồn gốc ngoại đạo của nó. Thay vì sử dụng tầm gửi, các cha đạo đề nghị dùng cây ô rô làm loại cây dùng cho Lễ Giáng Sinh.

Bài hát Giáng sinh : Bài Jingle bell do nhạc sĩ J.Pierpont sáng tác nhưng lại đặt vào chùm bài hát trong danh sách những bản nhạc dân ca nổi tiếng của Mỹ với tên gọi American song bag của nhà thơ Carl Sandburg. Bài này không phải sáng tác cho đêm Noel như người ta lầm tưởng. Lời bài hát đậm tính dân dã mộc mạc, diễn tả tâm hồn của người dân Mỹ hướng đến một mùa tuyết rơi thật tốt lành. Hình ảnh ông Noel với túi quà đồ chơi, ngồi trên xe tuần lộc với tiếng chuông leng keng diễn tả sinh động, quyến rủ làm cho người ta Giang sinh 3thích nghêu ngao, nó vô tình trở thành bài hát Giáng sinh.

https://youtu.be/NJ8U6TEO-qE

https://youtu.be/DxB-BZykXWA

Bài Silent Night, Holy Night có xuất xứ từ Đức với tựa đề “Stille Natch, Heiligo Natch” do linh mục Joseph Mohr sáng tác khi cuộc chiến Đức – Áo – Phổ kết thúc. Sau này được phổ biến sang Áo, Mỹ… nay đã được dịch ra gần 100 thứ tiếng.

Bữa ăn Reveillon : Tại Alsace, Pháp, bữa ăn này phải gồm có tam hành là thủy (cá chép, con hàu), không khí (gà tây hay ngỗng) và mộc (thịt heo). Tập tục ăn gà tây là do thủy thủ của nhà thám hiểm Christophe Colomb du nhập từ Mehico.

Bánh Buche Noel : Tổ tiên người phương Tây thường nhóm củi trong ống khói nhà, 9-noel-5họ tin rằng lửa càng kêu lách cách thì các thần dữ sẽ tránh xa. Ngày nay, tập tục biến dần vì không mấy nhà còn ống khói. Thay vào đó, theo sáng kiến của một thợ làm bánh ở Pháp, năm 1875, người ta làm chiếc bánh ngọt có hình cây củi để mọi người thưởng thức trong đêm Noel và lưu truyền cho đến nay.

Thiệp Giáng Sinh : Vào thời cổ Ai Cập và La Mã, người ta có thói quen gửi lời chúc mừng đầu năm khắc trên những mảnh gỗ. Đến năm 1843, tại Anh quốc, Sir Henry Cole, vì quá bận bịu trong công việc làm ăn không thể viết thư được nhân mùa Giáng Sinh và muốn giúp phát triển hệ thống Bưu điện nên đã in một số thiệp gửi đến các đồng sự của ông. Lần ấy, đã có hàng ngàn tấm thiệp được in và bán với giá một “shilling”.

Nến Giáng Sinh : Có nhiều truyền thuyết kể về những cây nến đêm Giáng Sinh. 9-noel-3Nhiều người cho rằng Martin Luther là người đầu tiên có sáng kiến thắp nhiều cây nến trên các cành cây thông mùa Giáng Sinh. Khi trở về nhà vào một đêm mùa đông gần lễ Giáng Sinh, ông đã sững sờ trước vẻ đẹp của ánh sáng từ các ngôi sao chiếu rọi trên cành cây thông nhỏ trước cửa nhà mình. Ông tái hiện lại cảnh tượng này bằng cách gắn các cây nến lên cành của cây thông Noel trong nhà để tượng trưng cho Ngôi Sao trên làng Bê-lem. Có một huyền thoại khác kể rằng một bé trai nọ bị đi lạc đêm Giáng Sinh nhang nhờ ánh đèn nến nới cửa sổ phòng mẹ, đã tìm được lối về đến nhà.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

Logo do day

noel-4KHẮP NƠI ĐÈN HOA

CHỜ ĐÊM GIÁNG SINH

Noel đã trở thành một ngày hội và là một nét văn hóa chung của người Việt. Tại các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội, việc chuẩn bị cho ngày lễ kỷ niệm biến cố Thiên Chúa Giáng sinh (Noel) được chú ý đầu tư công sức từ khá sớm.

H1: Nhà thờ Cửa Bắc được trang trí lộng lẫy. H2: Nhà thờ Lớn uy nghi trong đêm. Nơi đây luôn là tâm điểm của người dân Hà Nội trong đêm Giáng sinh. H3: Một góc nhà thờ Hàm Long.

H4: Nhà thờ xứ Kẻ Sét hơn 100 năm tuổi, một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất tại Hà Nội.

10-den-hoa-1

H5: Lung linh và đã sẵn sàng cho đêm Giáng sinh.

Có lẽ tâm điểm của trang trí Giáng sinh của Nhà thờ là hang đá, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần trong nghèo hèn và lạnh lẽo, 10-den-hoa-2để sống cuộc sống đơn sơ, nghèo khó của người cùng đinh trong xã hội.

H6: Hang đá Nhà thờ Kẻ Sét: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an cho người ngay lành dưới thế. H7: Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ đơn sơ.

H8: Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp Hà Nội. H9: Hang đá với máng cỏ nơi sinh Chúa Hài Đồng ở Đền Đức Mẹ Hằng cứu giúp (Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội).

10-den-hoa-310-den-hoa-4

H10: Một sân khấu cho văn nghệ đêm Noel. H11: Hang đá tại một xứ đạo ở Cao Bằng.

Không chỉ việc trang trí ở các nhà thờ Công giáo, Tin lành nói lên niềm háo hức, phấn chấn và tâm trạng của những Kitô hữu mà những hoạt động vì người nghèo, thăm hỏi, động viên những người hoạn nạn, đau khổ đã diễn ra từ khá sớm nhân mùa Giáng Sinh để đem tình yêu thương đến với tha nhân. Đặc biệt, mùa Giáng Sinh với người Công giáo cũng là mùa hòa giải của các Kitô hữu nêu cao tinh thần yêu thương, 10-den-hoa-5hóa giải những va chạm và bất hòa.

H12: Những chương trình văn nghệ, thánh ca sẽ diễn ra tại hầu khắp các nhà thờ. H13: Một màn tập dượt đồng ca chào đón Giáng sinh.

H14: Noel là niềm vui không chỉ của người lớn, của tín hữu Công giáo, mà là của cả con trẻ đơn sơ, thánh thiện. H15: Những chú tuần lộc sáng bừng lên tại một khách sạn lớn ở Hà Nội. Đây cũng là điểm được rất nhiều bạn trẻ Hà Thành tìm đến tham quan, chụp hình vào dịp Giáng sinh. (theo Minh Thư – Hạnh Thúy – Vietnamnet)

Quế Phượng chuyển tiếp