BÁNH TRUNG THU XƯA VÀ NAY

BÁNH TRUNG THU :

TỪ HUYỀN THOẠI

ĐẾN PHIỀN TOÁI

Người xưa ăn bánh Trung Thu khi mùa màng đã kết thúc, chiếc bánh Trung Thu như món lễ vật dâng lên Trời Đất đã ban cho mưa thuận gió hoà. Ngày nay, chiếc bánh Trung Thu đem biếu đã trở thành một biến dị của truyền thống, lãng phí của cải và phiền toái trong quan hệ giữa người với người.

Từ huyền thoại về chiếc bánh Trung Thu

Về nguồn gốc của Tết Trung Thu, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau. Tuy nhiên, đó không phải chủ đề chính của bài viết này. Người viết chỉ có một nhận định rằng, dù có theo thuyết nào thì Tết Trung Thu cũng không thể tách rời khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp của những dân tộc Châu Á chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nhất là những khu vực trồng lúa nước.

Khi canh tác nông nghiệp, người ta theo lịch pháp truyền thống (Hoàng lịch, còn gọi là Âm lịch, thực chất là một loại Âm Dương hợp lịch), nó gắn với sự biến đổi của thời tiết trong năm như mưa nắng, nóng lạnh, con nước lên xuống, sự thay nhau của các mùa v.v.

Cho nên, khi gặt xong mùa lúa, cũng là khoảng giữa tháng tám âm lịch. Đây cũng là thời điểm trăng tròn nhất, sáng đẹp nhất, thời tiết mát mẻ nhất và người nông dân đã làm xong việc quan trọng nhất là thu hoạch mùa màng. Gió mát, trăng thanh, con người thảnh thơi thì sẽ có lễ hội.

Tết Trung Thu gắn liền với trăng tròn, với lễ hội rước đèn, với múa lân… nhưng đặc biệt không thể thiếu bánh Trung Thu. Sau đây là truyền thuyết được nhắc tới nhiều nhất.

88 năm sau khi người Mông Cổ thiết lập ách cai trị trên toàn cõi Trung Hoa, tinh thần của Hán tộc bị ngoại nhân đè nén nặng nề. Đời sống của họ bị định đoạt hoàn toàn bởi những kẻ cai trị Mông Cổ. Để loại trừ cơ hội nổi dậy của người Hán, người Mông Cổ cấm họ không được sở hữu vũ khí, thậm chí đồ ăn cũng bị chia khẩu phần. Mật thám của triều đình ở khắp nơi. Đặc biệt là người Hán không được phép tụ tập đông người. Đó là một khó khăn cho việc nhóm họp, truyền tin và tổ chức cho cuộc nổi dậy quy mô lớn của Hán tộc chống lại Mông Cổ.

Vào năm 1368, thời gian cho cuộc nổi dậy đã đến. Thủ lĩnh của cuộc nổi dậy chống Mông Cổ là Chu Nguyên Chương đã được quân sư Lưu Bá Ôn bày cho một kế hoạch. Tết Trung Thu đang đến, thời gian này mọi gia đình vẫn ăn một loại bột nhồi mà sau này sẽ được hoàn thiện thành bánh Trung Thu như ngày nay.

Lưu Bá Ôn cử người tung tin đồn rằng: sắp có một bệnh dịch chết chóc và cách duy nhất để vượt qua là ăn một loại bánh Trung Thu đặc biệt, điều đó khiến người dân rất tích cực tìm mua bánh Trung Thu. Đồng thời, ông ta cũng cho người đi khắp các tiệm bán bánh Trung Thu để nhồi vào trong nhân bánh một mẩu thông điệp khiến người Hán đồng loạt nổi dậy vào Tết Trung Thu. Có thuyết cũng cho rằng, thông điệp đó nằm trên mặt bánh và người ta phải cắt bánh ra làm bốn miếng và ghép lại thì mới nhận được thông điệp.

Bởi người Mông Cổ không ăn bánh Trung Thu, cũng không đọc được Hán tự nên họ không biết được kế hoạch này. Vậy là cuộc nổi dậy của người Hán đã thành công, người Mông Cổ đã bị đuổi ra khỏi đất nước Trung Hoa và Chu Nguyên Chương lên ngôi lập ra triều Minh. Đây là truyền thuyết được nhắc đến nhiều nhất về bánh Trung Thu, mặc dù nó không nhất thiết là chính xác nhất. Tuy nhiên, nó liên quan đến chủ nghĩa dân tộc mang tính lịch sử của người Trung Quốc..

Đến cuối thời nhà Thanh, câu chuyện lại được lan truyền lần nữa, lần này chính thức bằng văn tự. Lý do là, Hán tộc liên hệ sự cai trị của một dân tộc thiểu số là Mãn Châu, mà họ không hoàn toàn phục tùng, với sự cai trị khi xưa của người Mông Cổ. Và câu chuyện nguồn gốc bánh Trung Thu là thể hiện ước vọng quật khởi của họ.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ Trung Quốc bị xâu xé bởi các cường quốc phương Tây, ví như một chiếc bánh ngọt bị ăn bởi 8 thực khách. Chiếc bánh ngọt biểu tượng Trung Quốc đó chính là bánh Trung Thu.

Một lần nữa, hình ảnh chiếc bánh Trung Thu lại xuất hiện trong một sự kiện chính trị khác là cuộc cách mạng Ô Dù ở Hồng Kông năm 2014. Những người chống đối đã tạo hình những thông điệp chính trị ở vỏ ngoài của chiếc bánh Trung Thu.

Hình tượng bánh Trung Thu trong văn học

Trong tiểu thuyết “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” của nhà văn Kim Dung, sau khi Trương Vô Kỵ đảm nhận chức Giáo Chủ Minh Giáo, liền tập hợp giáo chúng mở cuộc đại hội Minh Giáo vào ngày rằm tháng 8 ở Hồ Điệp Cốc tỉnh Hoài Bắc.

“Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, các lộ giáo chúng ngồi cả dưới đất, các giáo chúng chấp sự tổng đàn đem bánh nhân chay ra chia cho mọi người. Ai nấy thấy bánh tròn như mặt trăng nên gọi là bánh Trung Thu. Về sau người ta truyền tụng người Trung Hoa ăn bánh Trung Thu để thề giết quân Mông Cổ chính là từ đại hội của Minh giáo mà ra”.

Trong bộ truyện “Sở Lưu Hương Hệ Liệt” của nhà văn Cổ Long có bánh trung thu “Hằng Nga hận” do tiệm bánh Tam Nhật Khai sản xuất, nổi tiếng trên giang hồ.

Bánh Trung Thu xưa và nay

Khác biệt lớn nhất của bánh Trung Thu xưa với nay nằm ở phần nhân bánh. Bánh Trung Thu truyền thống của Trung Quốc thường có nhân đậu đỏ, chà là, hạt sen nhuyễn, táo ta, 5 loại hạt. Bánh Trung Thu theo phong cách Quảng Đông còn có trứng vịt muối.

Bạn đọc Việt Nam sống trong thời bao cấp hẳn còn nhớ bánh Trung Thu hồi ấy chỉ có một loại duy nhất: nhân thập cẩm. Bánh nhân thập cẩm gồm: thịt mỡ, mứt bí, lạp xưởng, lá chanh… đôi khi có cả hạt sen, hạt dưa. Nhân bánh rất ngọt, ngọt quá mức cần thiết và nhiều dầu.

Còn ngày nay, bánh Trung Thu ở khắp nơi đã quá khác biệt. Chúng ta không thể kể hết các loại bánh Trung Thu với các chủng loại nhân bánh khác nhau, vì làm sao chúng ta có thể liệt kê được trí tưởng tượng phong phú của con người. Bất cứ thứ gì ăn được đều có thể làm nhân bánh Trung Thu, từ trà xanh, dăm bông, kem phô mai (cream cheese), chocolate, khoai môn, đậu đỏ, đậu xanh, thịt lợn, khoai lang, sầu riêng, thạch sữa v.v. Đúng là phong phú thì có phong phú thật, nhưng có lẽ cũng hơi quá. Bánh Trung Thu hiện nay hầu như đã không còn hương vị truyền thống, cũng như ý nghĩa của bánh Trung Thu trong lễ hội đêm Rằm tháng 8 đã không còn như thuở ban đầu.

Đến phiền toái từ bánh Trung Thu

Người xưa ăn bánh Trung Thu là họ kỷ niệm một thời điểm quan trọng trong năm. Đó là khi mùa màng kết thúc, nếu trời cho mưa thuận gió hòa thì người nông dân sẽ được mùa. Và chiếc bánh Trung Thu được làm từ nông sản: bột mì, bột gạo, đậu đỏ, hạt sen, hạt bí, hạt dưa… là món quà mà mẹ thiên nhiên mang lại nhờ vào sự lao động cần cù của con người. Đó là lúc con người thảnh thơi để dâng cúng các sản vật này cho Trời Đất vì “ơn trời mưa nắng phải thì…” Đồng thời, họ cùng nhau vui vẻ thưởng thức sản phẩm do chính tay họ làm ra trong cảnh trăng thanh gió mát đầy khoan khoái.

Nhưng bánh Trung Thu ngày nay không phải là để ăn, mà là để biếu. Có nhiều người mượn lễ Trung Thu, mượn bánh Trung Thu để cầu cạnh, để nhờ vả, để gieo ân tình, để gặt quan hệ, để thể hiện sự có đi có lại, sự vay trả trả vay v.v. Do vậy, người được biếu không ăn bánh nhưng cũng phải mua bánh để biếu những người quan trọng khác.

Nếu coi việc biếu xén là đương nhiên, thì không được biếu sẽ thấy khó chịu, không biếu thì thấy áy náy.

Vì bánh là để biếu nên ai cũng cần đẹp mặt, cần sự sang trọng, sự độc đáo của hình thức. Chất lượng thực sự của bánh Trung Thu như một món ăn truyền thống được đặt xuống hàng thứ yếu.

Vì cần phải độc đáo, phải lạ nên người ta sẵn sàng tìm những nguyên liệu đắt tiền nhất làm nhân bánh mà không quan tâm xem nó có phù hợp với hương vị bánh Trung Thu hay không. Từ đó mới có các loại nhân bánh quái lạ như cua huỳnh đế, bào ngư, tôm càng, hạt sen tứ quý v.v. Người viết đảm bảo rằng nếu kim cương mà ăn được thì sẽ có người cho nó vào nhân bánh và sẽ có người mua để tặng.

Vì cả người tặng bánh lẫn người được tặng cần được đẹp mặt nên hình thức bánh phải rất cầu kỳ. Không cầu kỳ sao thể hiện được tấm lòng trân trọng đây? Cho nên vỏ hộp bánh bằng da Ý nhập khẩu, hộp bánh được thiết kế bằng chất liệu gỗ, sơn mài, hay nhôm dập nổi cao cấp… cũng không có gì là lạ.

Và bánh cũng cần phải đắt tiền thì may ra mới tạo được ấn tượng với những người quen xài sang, trong đời chưa cao lương mỹ vị nào chưa từng được nếm thử. Cho nên, trong hộp bánh mới kèm cả những thứ không liên quan gì như rượu Tây hay những thứ đồ kỳ quặc khác mà trí tưởng tượng bất kham nhất của con người có thể nghĩ ra được.

Một hộp bánh như thế có thể có giá lên tới hơn chục triệu đồng.

Một thứ bánh Á Đông người ta thường dùng kèm với trà mạn mà lại đi dùng với rượu Tây? Có khác gì đem xúc xích chấm vào mắm tôm. Thật là một cuộc giao chiến (không phải giao thoa) Đông Tây về văn hóa.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng phải thôi. Bánh Trung Thu mà dùng nhân “Tây” như chocolate hay cream cheese thì rõ là phải dùng với rượu Tây chứ còn gì nữa.

… và hậu quả của bánh Trung Thu đem biếu

Vì bánh là để đem biếu, không phải để ăn. Vả lại, cũng không phải ai cũng thích ăn bánh trung Thu vì nó quá ngọt. Trong bối cảnh nhiều người béo phì và tiểu đường như hiện nay, thì bánh trung Thu cũng sẽ nằm trong thực đơn phải kiêng cữ của họ. Cho nên nhiều bánh được biếu sẽ bị bỏ đi.

Theo trang BBC thì năm 2012, có 2 triệu bánh trung Thu bị vứt bỏ ở Hồng Kông. Đó mới chỉ tính riêng cho Hồng Kông. Còn không biết với Trung Quốc đại lục thì con số ấy còn lớn đến ngần nào nữa. Và 6 năm đã trôi qua, hiện nay thì không biết con số ấy thực tế ra sao.

Lãng phí không chỉ nằm ở số bánh Trung Thu bị vứt bỏ mà còn nằm ở những vật liệu đóng gói: hộp kim loại, sơn mài, lụa lót hộp… như kể trên. Thậm chí từng chiếc bánh nướng bánh dẻo còn được bọc bằng nilon, rồi được bọc tiếp bằng hộp giấy, và lại thêm lớp hộp hoặc túi ngoài.

Người ta ước tính chỉ riêng việc đóng gói bánh Trung Thu mỗi năm đã mất gần 375 triệu đô la Mỹ.

Việc xử lý những vật liệu bị vứt bỏ này là một vấn đề không đơn giản và tốn kém. Nhiều nhà hoạt động môi trường đã phải kêu trời vì vấn đề này.

Nhưng chuyện không chỉ có thế. Đôi khi, những quà tặng đắt tiền này đã xóa nhòa ranh giới giữa quà biếu và hối lộ.

Năm 2013, chính quyền Trung Quốc của ông Tập Cận Bình đã trừng trị thẳng tay đối với những món quà biếu ngoài kiểm soát của các quan chức chính quyền, những người dùng tiền của công để mua bánh Trung Thu đem biếu xén lẫn nhau và đám cánh hẩu thương mại.

Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho bánh Trung Thu

Hậu quả từ chiếc bánh Trung Thu đem biếu là sự biến dị của truyền thống, sự lãng phí của cải xã hội và sự tiêu cực trong quan hệ giữa người với người. Xét cho cùng, nó có nguyên nhân từ tính háo danh, hám lợi và quá chú trọng hình thức của người đời. Hạn chế được những tiêu cực ấy thì sẽ hạn chế được hậu quả của “hậu Trung Thu”.

Khi bạn tặng bánh Trung Thu cho người khác, xin đừng mang tâm truy cầu lợi ích hay gieo một món nợ ân tình trong tâm trí của người. Sau khi làm được điều ấy, điều còn lại bạn cần quan tâm là khẩu vị của người được tặng bánh.

Họ có thích ăn bánh Trung Thu hay không? Khẩu vị của họ ra sao?

Nếu họ thích, bạn hãy mua tặng họ một hộp bánh không quá cầu kỳ về hình thức, không kệch cỡm về khẩu vị nhưng tinh tế trong chất lượng để đảm bảo rằng người được tặng sẽ thực sự trân trọng sự quan tâm của bạn và họ sẽ dùng nó trong những bữa tiệc ấm cúng của gia đình. Đó là thứ tình cảm quý mến và vô tư mà bạn nên cho đi. Những người tinh tế và chân thành luôn biết đánh giá cao những điều ấy hơn bất cứ một vật phẩm màu mè diêm dúa nhưng giả tạo nào.

Bạn có thể không thích ăn bánh Trung Thu truyền thống, nhưng hãy trân trọng nó như một giá trị văn hóa mà người xưa để lại cho chúng ta. Còn tốt hơn nữa nếu thế hệ sau của chúng ta vẫn được chúng ta dạy dỗ để giữ được lòng trân quý ấy.

“Con người có tổ có tông. Như cây có cội, như sông có nguồn”. Trân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp thuộc về truyền thống luôn luôn là cái gốc để làm người trong bất kỳ thời đại nào.

Và nếu nhìn dưới góc nhìn ấy, thì bánh Trung Thu không chỉ là một chiếc bánh, đó là hương hồn của cha ông, là tâm tình của lịch sử vẫn chảy trong dòng máu mỗi người Việt chúng ta. (theo Bình Nguyên)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐGH PHANXICÔ

VÀ “PHÉP LẠ” BÁNH TRUNG THU

Tờ báo NCR (National Catholic Reporter) mới đây đặt một câu hỏi : “Phải làm gì khi bạn cần tới 10.000 bánh trung thu mà lại cần thật gấp rút ?”. Câu trả lời là : “Hãy viết thư cho Đức Giáo Hoàng !”

Sự thực thì Đức Giáo Hoàng nghè khó của chúng ta đã không cung cấp tất cả 10.000 chiếc bánh trung thu đâu, nhưng nghĩa cử của Ngài đã tạo ra một ‘phép lạ’ giống như xưa khi Chúa Giêsu làm phép lạ cho 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi 5000 người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ.

Có người cho rằng phép lạ đích thực của ‘hiện tượng bánh hoá ra nhiều’ của Chuá xảy ra được, chính vì cử chỉ tượng trưng của Ngài đã khuyến khích ‘tinh thần san sẻ’ giữa những người ‘có’ và người ‘không có’ trong đám đông.

Chúng ta không dám ‘lạm bàn’ về phép lạ cuả Chuá vì làm như vậy là hoài nghi về quyền năng siêu nhiên của Thiên Chúa. Tuy nhiên ‘phép lạ bánh trung thu’ mới đây nếu có thể gọi được là ‘phép lạ’, thì rõ ràng đã xảy ra bởi vì tấm gương ‘san sẻ’ cho người nghèo cuả Đức Thánh Cha.

Câu chuyện như sau :

Đức Hồng Y Joseph Zen, 81 tuổi, giám mục về hưu của Hồng Kông, từ 4 năm nay vẫn làm việc mục vụ để chăm sóc tù nhân, những người cải huấn, cai nghiện, phục hồi chức năng của Hồng Kông.

Ngài thường mua bánh trung thu mỗi năm cho nơi Ngài tới thăm, vì phong tục ở đây là tìm về gia đình trong ngày tết trung thu để có thể chia sẻ những tấm bánh với những người có mặt và không quên để dành những lát bánh cho những người vắng mặt cũng như những người quá cố.

Cho nên, theo Đức Hồng Y Zen, thì tấm bánh trung thu mang một ý nghĩa rất đặc biệt về niềm vui gia đình, về đoàn tụ và hạnh phúc. Tặng bánh trung thu cho tù nhân là một nghĩa cử đem lại nguồn an ủi và hy vọng cho họ.

Năm nay, Đức Hồng Y Zen ước vọng có được 10.500 chiếc bánh để tặng cho tất cả mọi tù nhân vào dịp Tết Trung Thu, ngày 19 tháng 9 mới đây. Biết rằng Đức Phanxicô là một người đầy lòng thương xót, Đức Hồng Y Zen nói với Asia News, “Tôi đoán rằng Ngài cũng sẽ quan tâm đến việc tặng bánh trung thu cho các tù nhân ở đây “. Ngài đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng.

Đức Hồng Y đã đoán đúng. Ngài nhận được hồi âm vào ngày 7 tháng 8 của Đức Giáo Hoàng như sau : “Thưa Đức Hồng Y quí mến, tôi sẵn sàng tham gia việc tặng bánh trung thu cho các anh chị em của chúng ta trong các nhà tù của Hồng Kông, Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta ở ngưỡng cửa Thiên Đàng. Chúc mừng Tết Trung Thu ! Thân ái ban phép lành, PP Phanxicô.

Đức Hồng Y Zen đã nắm bắt lấy cơ hội, Ngài đã in nhiều tấm thiệp với lời hồi âm của ĐGH (dịch ra Hhán văn) và gửi cho những giáo hữu ở Hồng Kông xin họ hãy noi gương ĐTC.

Chỉ khoảng 2 tuẩn lễ, tiền quyên góp ào ạt đổ về, lên tới 170,000 đôla HK (22,000 USD, 464,574,000.00ĐVN), đủ để mua bánh cho mọi tù nhân.

Vào đầu tháng Chín, Đức Hồng Y Zen cho biết, “Tôi đã gửi cho Đức Thánh Cha một hộp bánh Trung Thu và chúc lễ hội đến Ngài”. Đó là một hộp bánh nhân hạt sen có 2 lòng đỏ trứng muối. Ngài cho biết thêm “Khi tôi đến thăm các tù nhân vào cuối tháng Tám, họ nhắc nhở tôi về bánh trung thu”, Ngài mỉm cười “Tôi chắc chắn rằng họ đã biết việc Đức Thánh Cha Phanxicô hổ trợ sự kiện này, vì họ thường theo dõi tin tức trên các báo”.

Chuyện vui đã không ngừng ở đây, nhiều nhà thờ và tổ chức dân sự cũng đã noi gương ĐTC, quyên góp bánh trung thu và phân phối đến những người cao tuổi sống một mình và đến các gia đình có thu nhập thấp. Niềm vui lễ hội đang lan rộng tới tất cả mọi người. (theo Têrêsa Thu Lan)

ĐẶC TRƯNG MÂM CỖ

TRUNG THU KHẮP CHÂU Á

Vòng quanh các quốc gia châu Á xem cách soạnị mâm cỗ đón trăng tròn.

1/. Trung Quốc : Ở Trung Quốc, loại bánh truyền thống hàng năm là bánh nướng. Chiếc bánh này ở Trung Quốc mang ý nghĩa đoàn tụ, đoàn viên, dựa theo một tích cổ.

Theo đó, một vị tướng lĩnh là Trương Sỹ Thành, đứng đầu khởi nghĩa chống quân Nguyện đã làm 1 loại bánh trung thu nhét mảnh giấy ghi: “Bát nguyện thập ngũ dạ sát Thát tử” (Đêm 15/8 giết giặc Thái – quân Nguyên). Nhờ có mẩu giấy đó, dân chúng mới biết được thông tin, đoàn kết lại đánh giặc, và giành chiến thắng.

Ở một số vùng như Quảng Châu, người dân còn có thêm lệ ăn ốc bắt từ sông vào dịp trung thu. Ở Phúc Kiến là tục ăn thịt vịt vì theo họ 15.8 âm lịch là thời điểm vịt ngon nhất. Ở Đài Loan, ngoài bánh nướng, người dân còn ăn thêm bánh dứa.

2/. Việt Nam : Ở Việt Nam, ngoài bánh nướng, còn có cả món bánh dẻo với lớp vỏ bên ngoài trắng muốt, mềm, dẻo, nhân bên trong là thập cẩm hay cốm. Chiếc bánh thơm hương này có thể được làm theo dáng tròn hoặc làm hình con cá, khiến trẻ em càng thêm vui thích.

Ngoài bánh nướng, bánh dẻo, mâm cỗ trông trăng của người Việt thường có thêm quả bưởi, làm thành hình chú chó rất khéo, quả hồng và trà xanh tao nhã.

3/. Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, trung thu là một ngày lễ vô cùng quan trọng, kéo dài tới 3 ngày. Thời điểm này, người dân tụ tập, mừng mùa vụ, cúng tổ tiên.

Bánh Songpyeon là đặc sản của ngày lễ này. Bánh được làm từ bột gạo, nặn hình trăng lưỡi liềm, có nhiều loại nhân khác nhau như: hạt dẻ, vừng đen, các loại đậu xanh, đỏ… Một số đặc sản trung thu khác của người Hàn là miến trộn japchae, bánh jeon và hoa quả

4/. Nhật Bản : Ở Nhật Bản, tết trung thu được gọi là Tsukimi. Cũng giống như các quốc gia châu Á khác, cả gia đình tụ tập cùng ngắm trăng và ăn những món ăn truyền thống.

Món bánh được làm nhiều nhất vào trung thu là dango, làm từ bột gạo, không nhân hoặc nhân đậu, hoa quả, rưới nước sốt bên trên.

Người Nhật cũng có truyền thống uống 1 cốc sake vào dịp này và tìm cách nhìn thấy bóng trăng tròn in trên cốc vì cho rằng điều này sẽ mang lại may mắn. Bóng trăng tròn in đáy cốc cũng được cho là sẽ giúp bà mẹ hiếm muộn có con. Mâm cỗ trung thu Nhật cũng không thể nào thiếu được những bông lau dịu dàng trong gió.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

LỄ GIỖ ĐỨC THÁNH TRẦN

20/8 ÂL LỄ GIỖ

ĐỨC THÁNH

TRẦN HƯNG ĐẠO

Dân gian có câu “Tháng Tám giỗ Cha / Tháng Ba tiệc Mẹ” để nói đến ngày giỗ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Nên hàng năm tại Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo ở số 36 Võ Thị Sáu, P. Tân Định, Q.1, đều diễn ra lễ giỗ chính thức, lễ giỗ lần thứ 711 là vào năm 2011 tưởng nhớ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Năm nay sẽ không ngoài thong lệ đó sẽ được cử hành từ rằm tháng 8 âm lịch cho đến hết ngày 20/8 AL.

Năm 2011 tại đền Kiếp Bạc, Côn Sơn tỉnh Hải Dương từ ngày 15 đến ngày 18/8 âm lịch năm Tân Mão, tại lễ hội, ngoài những nghi lễ và trò chơi dân gian truyền thống đã được duy trì, phục dựng hàng năm như lễ khai ấn, lễ rước bộ, lễ khai hội dâng hương tưởng niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, còn có nhiều nghi lễ cổ truyền được bổ sung, nâng cao về nội dung, chất lượng, như lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu.

Trong phần hội, ngoài các trò chơi dân gian truyền thống như đua thuyền, biểu diễn múa rối, năm nay sẽ tổ chức thi bắt vịt, nấu cơm. Đây là hoạt động nhằm tái hiện lại cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Đặc biệt năm 2011 đã tổ chức lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày mất của người vào sáng 20/8 âm lịch tại nội tự đền Kiếp Bạc và núi mâm xôi với sự tham gia của nhân dân 3 làng : Vạn Yên, Bắc Đẩu, Dược Sơn (theo Tuấn Anh)

Lễ hội đền Trần Thương

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Đền thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và song thân của người. Là một vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Trong tâm đức người dân, ông là Đức Thánh Cha. Trần Hưng Đạo được thờ ở nhiều nơi ở Hà Nam mà Trần Thương là ngôi đền quy mô, bề thế nhất.

Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh : Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh).

Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng.

Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái.

Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Lễ hội đền Trần ở Vũng Tàu

Ngày 20/08 Âm Lịch hàng năm, lễ giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được tổ chức tại Hội đền thờ Đức Thánh Trần: số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu.

Đại lễ giỗ Đức Thánh Trần là dịp để đông đảo nhân dân tưởng nhớ công ơn vị tướng tài ba của dân tộc, ba lần đánh bại quân Nguyên Mông đem lại thái bình cho đất nước. Đây là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp được gìn giữ từ đời này sang đời khác tại nhiều địa phương trên cả nước. Vào dịp lễ hội, hàng vạn lượt khách thập phương và người dân địa phương cùng tham dự lễ khai mạc và lễ dâng hương.

Lễ hội đền Trần ở Hòn Đất – Kiên Giang

Không chỉ du lịch sinh thái được mọi người biết đến nhiều mà việc đi thắp hương cầu phúc, an lành trong các dịp đầu năm. Đền thờ Đức Thánh Trần cũng là một địa chỉ quen thuộc. Trong các vị anh hùng dân tộc ở nước ta vào thời phong kiến, rõ ràng không có nhân vật nào được quảng đại quần chúng nhân dân tự nguyện phụng thờ nhiều như Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, mà bà con thường gọi một cách tôn kính là Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương sinh năm 1226 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là thôn Bảo Lộc, Mỹ Phúc, ngoại thành Nam Định. Ông là một bậc kỳ tài trong dòng dõi tôn thất nhà Trần: một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị xuất sắc và một nhà văn hóa lớn. Đặc biệt ông dám xóa bỏ những hiềm thù riêng trong tôn tộc để gây lại mối đoàn kết hầu chống lại kẻ thù chung. Trong ba lần giặc Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta : 1258, 1285 và 1287, với vai trò Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ lực lượng, ông đã làm cho quân Nguyên ba phen thất bại nhục nhã. Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi bị bắt sống và Thoát Hoan phải chui vào một ống đồng trốn chạy về Tàu. Ông qua đời ngày 20/8 năm Canh Tý (1300), được vua phong tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công, trong sự ngưỡng vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Ngoài đền thờ chính nơi ấp phong của ông ở Vạn Kiếp, nhân dân trong nước nhiều nơi dựng đền miếu thờ ngài. Đặc biệt tại ấp Tà Lốc xã Sơn Kiên huyện Hòn Đất, Kiên Giang, ở biên giới Tây Nam xa xôi, nơi cư trú của nhiều đồng bào từ miền Bắc vào lập nghiệp, cũng có một đền thờ Đức Thánh Trần và hàng năm bà con đều cúng tế nghiêm cẩn. Lý do xây dựng đền thờ cũng hết sức cảm động.

Theo ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng Ban Quản lý Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên, thì đền thờ ban đầu nằm ở Nam Thái Sơn, một xã hẻo lánh bên kia sông đối diện với thị trấn Hòn Đất. Trong đợt di dân vào Nam Thái Sơn hồi năm 1941 có nhiều bà con gốc gác ở Mỹ Phúc, Nam Định. Để việc làm ăn nơi xa xôi bớt cô quạnh và có thêm hơi ấm cội nguồn, một vị bô lão trong lần về thăm quê đã xin được một dúm chân hương (tăm nhang) từ ngôi đền thờ Đức Thánh Trần ở Yên Thắng. Từ một ít chân hương đất tổ nầy những bà con ở Nam Thái Sơn đã dựng lên một ngôi đền thờ sơ sài để có chỗ lui tới gởi gắm tâm linh.

Sau năm 1975, nhiều bà con Nam Thái Sơn đã di dời ra Bình Sơn, Mỹ Lâm, Bình Giang, Sơn Kiên và thị trấn Hòn Đất… để có điều kiện phát triển công việc làm ăn. Số bà con còn ở lại không nhiều. Để tiện cho những người ở xa về cúng kiến, năm 1994 bà con đã quyết định dời ngôi đền thờ từ Nam Thái Sơn về xã Sơn Kiên, Hòn Đất, ngay địa điểm hiện nay.

Mỗi năm Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên tổ chức cúng tế hai lần: một lần vào ngày 10/3 và một lần vào 20/8 âm lịch. Từ lâu rồi lễ cúng không còn bó hẹp trong cộng đồng bà con di dân từ miền Bắc mà đã trở thành một lễ hội chung cho cả người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong tiếng chiêng trống rộn ràng, Đội tế nữ của xã Mỹ Lâm (gốc dân Nam Định) với đồng phục áo dài, mấn đỏ và đai lưng kim tuyến rực rỡ đang nghiêm trang tế lễ. Còn một đội tế nam và một đội tế nữ ở các địa phương lân cận và các câu lạc bộ dưỡng sinh của những người cao tuổi ở Rạch Giá cũng tham gia, vì lễ giỗ Đức Thánh Trần kéo dài đến hai ngày.

Đặc biệt trong lễ giỗ đức Trần Hưng Đạo không có đãi ăn. Bà con đem nhiều vật phẩm vào cúng rồi sau đó chia lộc thánh. Cũng con từ thành phố Sài Gòn, Cần Thơ, thị xã Rạch Giá và các nơi nườm nượp đổ về.

Lễ Húy Nhật Đức Thánh Trần và Quân chủng Hải Quân

Mỗi năm vào tháng Mười dương lịch, tại Paris, Thủ đô nước Pháp đều có ngày húy nhật của Đức Thánh Trần Hưng Đạo do Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH – Pháp quốc tổ chức.

Nhiều năm trước Anh Chị Đặng Vũ Lợi, Chủ tịch Hội Hải Quân Hàng Hải Paris  gửi giấy mời nhưng tôi chưa một lần có  dịp tham dự vì ở rất xa Paris. Phần tôi vốn đã không mấy có cảm tình với Quân chủng Hải Quân dầu tôi có một đời yêu lính.

Trước đây hình ảnh anh lính Hải Quân trong tiềm thức tôi mờ nhạt, bởi dư luận nói rằng lính Hải Quân là những chàng Hoàng tử hào hoa, là thần tượng của những người đep kiêu sa, mỗi bến một người tình, lả lướt đa tình như con tầu lướt trên sóng biển. Yêu Hải Quân là tự sát, là biến mình thành “góa phụ ngây thơ “.

Tháng Tám năm 2000, tại Quận 13 Paris tôi tình cờ gặp lại Anh Chị Đặng Vũ Lợi. Anh Chị rất thiết tha mời tôi đến tham dự ngày Thánh Tổ Hải Quân. Tôi có hẹn Anh Chị  :

“Nếu em còn có thể trở về, xin hứa sẽ có mặt cùng Anh Chị vào ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo“.

Cuối tháng Tám năm 2000, tôi đã vào tù bên nước Anh gần một năm tiếp đến lại lật thêm năm cuốn lịch ở Hoa Kỳ.

Ngày trở về cùng cận ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và lần này tôi tận mắt nhìn thấy buổi lễ tế cổ truyền, từng bước đi của Ban tế tự như có một trời hồn nước uy linh.

Trong lịch sử chúng ta đã từng đọc thấy rất nhiều về lòng trung quân ái quốc, nay thời buổi “đất trời nổi cơn gió bụi“, thế sự nhiễu nhương biết tìm đâu người khí tiết kiên trung. Một lần đến nơi đặt tượng Đức Thánh Trần uy nghi tại số 16 Rue de Juilly, 77290 Mytry- Mory, France đã cho tôi một cảm giác khó quên. Thường thì trong nhân gian chúng ta chỉ thấy số đông người thờ ông Thần Tài, Thần Hộ Mạng, chớ mấy ai thờ vị Anh hùng đại công thần của Tổ Quốc. Trước khuôn viên nhà rộng rãi có đền thờ tượng Thánh Trần lẫm liệt.

Trời Paris hôm nay nắng ấm nhưng tôi nghe đâu đây tiếng sóng Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang mồ chôn xác giặc.

“Nam đế Sơn hà, Nam đế cư“ Lý Thường Kiệt.

Năm năm lao tù Mỹ quốc, tôi có duyên đọc được quyển Hải Sử của Đô Đốc Đặng Cao Thăng giúp tôi hiểu đứng đắn hơn về Quân chủng Hải Quân và tại sao Hải Quân lại chọn Đức Hưng Đạo Vương làm Thánh Tổ.

“Hải Quân ơi,

Anh là những Anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm nơi bóng tối âm u

Chưa một lần được hưởng ánh Vinh hoa

Nhưng tận tụy và âm thầm cứu nước“ 

(Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy)

Hải Quân Ngụy Văn Thà, cháu con Trần Quốc Tuấn, người tuổi trẻ anh hào đánh giặc trên Biển Đông. Anh chết theo tầu cho Quê hương được sống. Hải Quân Hồ Tấn Quyền vì TRUNG  tử nạn, và hình ảnh tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Paris có phải chăng chữ TRUNG  là truyền thống của Hải Quân ?

Thì ra anh lính Hải Quân đâu chỉ có hào hoa

“Anh là lính đa tình

 Nhưng tình Non Sông rất nặng“

Cảm ơn Đô Đốc Đặng Cao Thăng đã soi sáng sự thật qua cuốn Hải Sử, cảm ơn Ông Bà Hải Quân Đặng Vũ Lợi đã duy trì bản sắc văn hóa dân tộc trên xứ người “Văn hóa còn, nước Việt còn“.

Cảm ơn những người anh, những người bạn Hải Quân xa gần bên tôi và xin thứ lỗi cho tôi đã một lần trong tôi Hải Quân mờ nhạt.

Đứng giữa trời Paris, tâm can vằng vặc

Bạch Đằng giang réo gọi Hồn Quê

Hỡi ai tỉnh, hỡi ai còn đang mê ?

(Nguyễn Thị Ngọc Hạnh – viết tại Paris nhân ngày Lễ Húy Nhật Thánh Tổ Hải Quân  Đức Trần Hưng Đạo) (tổng hợp từ nhiều nguồn)

“BÙA RIU” TRÊN VÙNG CAO

Từ lâu, trong những câu chuyện về miền núi, người ta vẫn nhắc đến một thứ bùa, khiến những người vốn không có tình cảm bỗng trở nên quyến luyến, nhớ thương nhau, đó là bùa yêu… Thực thực, ảo ảo của bùa yêu càng khiến cho vùng cao trở nên kỳ bí, đầy chất liêu trai.

Chuyến công tác tại vùng miền núi Tuyên Quang, tôi đã có dịp đi tìm lời giải của bùa yêu. Theo người dân địa phương, bùa yêu còn được gọi bằng một cái tên khác là “bùa riu”. Ở vùng này có nhiều tộc người sinh sống, trong đó người dân tộc Tày chiếm số lượng đông thứ nhì, sau người Kinh. Và họ truyền tai nhau rằng, chỉ có người Tày mới biết thả “bùa riu”.

Huyền bí những chuyện tình

Thổ Bình (huyện Chiêm Hoá – Tuyên Quang) là một xã thuần nông, nằm cách tỉnh lỵ cả trăm kilomet đường rừng. Cảm nhận đầu tiên khi đến vùng này, ấy là vẫn còn giữ được những nét đặc trưng của một xã vùng cao : những nếp nhà sàn ẩn khuất sau luỹ tre làng, những người dân hiền lành trong những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.

Hỏi về câu chuyện “bùa riu”, ai cũng e dè, ngại ngần không muốn đề cập đến. Gặng hỏi mãi, họ thừa nhận rằng có thứ bùa khiến con người ta say đắm, mê mẩn nhau ấy. Tôi được giới thiệu để gặp một nhân vật mà theo họ, đã từng bị thả “bùa riu”. Anh Thuỳ đang kể lại chuyện mình bị thả bùa

Người tôi tìm gặp là một thanh niên ngoài 30 tuổi. Gặng hỏi anh về chuyện “bùa riu”, anh Mai Nhân Thuỳ kể :

– “Năm tôi học lớp 11, tôi chơi với người bạn ấy rất bình thường thôi, không bao giờ có suy nghĩ yêu đương gì đối với người đó cả. Sau đó, tôi có tâm trạng rất khác, lúc nào cũng nhớ đến người ta, lúc nào cũng muốn gặp người ta, một ngày không gặp tôi không thể chịu nổi, phải tìm mọi cách để được gặp. Một thời gian sau, tự tôi cảm thấy chán ghét người đó, cảm giác rất ghét, không còn muốn nhìn mặt người đó nữa. Sau thời gian đó, tôi nghĩ lại, có thể là do tôi bị thả bùa yêu. Bùa yêu chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, nếu muốn duy trì thì người đó phải thả tiếp, nếu không tự khắc nó mất đi.

Tôi bị “bùa riu” trong trường hợp nào thì tôi không biết. Người ấy sống cùng bản với tôi, giờ tôi không muốn nhắc đến tên nữa, vì họ đã lấy chồng, có con rồi.”

Ở bản Phu này người ta còn rỉ tai nhau rằng chị Pêêc biết thả “bùa riu”. Chẳng thế mà người đàn bà lam lũ, xấu xí, bàn tay co quắp vì dị tật ấy lại có thể khiến cho người đàn ông đã có vợ và hai người con trai mê mẩn mình. Chị Pêêc đã sinh một đứa con gái. Không công khai bố đứa bé là con ai nhưng dường như ai ở cái bản này cũng biết đó là con của người đàn ông đã có gia đình kia.

Tôi tìm gặp người đàn bà ấy trong một buổi chiều muộn. Chị sống cùng đứa con gái nhỏ trong một gian nhà tranh. Cái nghèo hiển hiện trong từng vật dụng của mẹ con chị : cái chén vại sứt miệng cáu bẩn, chiếc chõng tre ọp ẹp… Tôi hỏi chị về chuyện “bùa riu”, chị thừa nhận “Có đấy, nhưng chỉ làm vào dịp tết là linh nghiệm nhất, ngày thường người ta không làm bùa đâu.”

Nhưng khi tôi hỏi chị có biết thả thứ bùa đó không, chị lắc đầu và từ giây ấy, tuyệt nhiên chị không nhắc gì đến câu chuyện “bùa riu” nữa.

Hỏi thêm về thứ bùa bí ẩn này, tôi được Noóng – một cô gái dân tộc Tày – kể : “Trước kia ở đây có chị Loan Coong đem lòng yêu một anh lái xe đường dài tên Chiến. Anh này đã có vợ con ở phố rồi nên chẳng để ý đến chị ấy đâu. Thế mà một thời gian sau, mọi người thấy anh Chiến quấn quýt chị Loan Coong lắm, bỏ cả việc lái xe để ở lại đây. Đã có người trong bản nhìn thấy chị ấy đến nhờ bà Ngấm làm bùa mà. Giờ thì anh kia đã bỏ vợ, lấy chị ấy và lên phố sống rồi”.

Để chứng minh cho lời kể của mình, Noóng dẫn tôi đến cuối bản, chỉ cho tôi ngôi nhà trước đây của chị Loan Coong. Gian nhà tranh không người ở hoang tàn, cũ nát. “Thỉnh thoảng thấy chị ấy về quê, chắc để làm bùa đấy, vì thứ bùa này chỉ có tác dụng trong một thời gian nhất định, muốn duy trì phải làm lại” – Noóng thì thầm chỉ đủ cho tôi nghe.

Lời niệm chú của bùa yêu

Trong câu chuyện Noóng kể, tôi nghe được thông tin về người biết thả “bùa riu”.

Vào vai một người thất tình, tôi tìm gặp một bà Ngấm để xin học cách làm bùa. Bà Ngấm đang đọc lời niệm chú của bùa yêu

Bà Ngấm năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng còn khá minh mẫn. Sau lần ngã khi leo lên bậc thang nhà sàn, bà Ngấm chỉ có thể nằm để tiếp chuyện tôi. Sau một hồi than vãn, năn nỉ, bà lão đồng ý dạy tôi cách thả “bùa riu” vào một ngày rằm trong tháng.

Bà Ngấm dặn tôi cách thức thả bùa : “Khi gần người mình yêu, miệng lẩm nhẩm đọc lời thần chú bằng tiếng dân tộc, vừa đọc vừa đặt tay lên vai người mình yêu. Nhớ là phải bí mật, không để đối tượng biết việc làm đó, nếu không tự nhiên sẽ ghét nhau lắm đấy”.

Rồi bà đọc để tôi chép lại lời thần chú:

“Cằm câu pấu mác phung lấn khoẳn

Cằm câu pấu mác mặn lấn ăn

Cằm câu pấu báo đai lừm me

Cằm câu pấu báo ké lừm rườn

Mừ mí hăn câu mừ hảy

Mừ hăn câu nả phằng khua mà thú…

Thương câu nắc

Rặc câu lai”

Tạm dịch là:

Lời tao thổi vào quả mơ, quả mơ rụng

Lời tao thổi vào quả mận, quả mận rơi

Lời tao thổi khiến con trai độc thân quên mẹ

Lời tao thổi khiến đàn ông có vợ quên nhà

Mày không nhìn thấy tao, mày khóc

Mày nhìn thấy tao mày cười, tìm về

Thương tao rất nhiều

Yêu tao rất nhiều”

Thay cho lời kết

Một thời gian sau đó, tôi có dịp trở lại vùng núi Tuyên Quang và ghé thăm bà Ngấm – người đã truyền dạy cho tôi những lời niệm chú bùa yêu mà tôi chưa có dịp tự mình kiểm chứng hôm nào. Bà Ngấm đã yếu hơn nhiều sau lần bị ngã ấy, giờ đây bà chỉ có thể ngồi được một lát rồi lại phải nằm xuống giường ngay vì lưng vẫn đau mỏi. chuyện của thế giới tâm linh thì khó có thể biết trước được

Đã quá trưa, tôi ở lại dùng bữa cùng gia đình bà cụ. Một điều khá đặc biệt là bữa cơm ấy được chính anh con trai bà Ngấm chuẩn bị. Thậm chí, mọi việc chăm sóc, thuốc men, vệ sinh cá nhân của bà cụ cũng một tay anh con trai làm, điều mà trước đây là công việc của chị con dâu của bà Ngấm.

Sau bữa trưa, tôi tế nhị hỏi thăm về chị con dâu. Bất ngờ, bà cụ buồn rầu thổ lộ : “Nó về bên ngoại rồi. Chúng nó đang xin xã để được bỏ nhau, làm đơn rồi”. Tôi thắc mắc, rằng tại sao bà cụ không truyền cho con trai cách làm bùa yêu, để anh ấy giữ gìn hạnh phúc gia đình mình, bà cụ lắc đầu tỏ vẻ bất lực : “Nó không yêu nhau nữa rồi, đã làm bùa nhưng không có tác dụng gì”.

Tôi chào bà cụ ra về, đầu vẫn vảng vất câu niệm chú bà truyền dạy hôm nào : “Lời tao thổi khiến con trai (con gái) độc thân quên mẹ. Lời tao…” (theo Xuân Giao)

Xuân Mai chuyển tiếp

XEM SAO GIẢI HẠN

XEM SAO GIẢI HẠN

– Thiên Việt

Chúng ta từng nghe nói về những phương pháp soạn âm lịch còn gọi là “Lịch pháp”, là các cách vận hành an tọa các tinh đẩu trong lịch vạn sự.

Sau đây chúng tôi viết về khái niệm tốt xấu (cát – hung) của từng tinh đẩu trong văn hóa thần bí, phân tích tính chất của từng tinh đẩu đó, hầu giúp bạn đọc dễ dàng trong tham khảo khi tính sự cát hung của chúng liên quan đến đời sống hàng ngày của chúng ta.

– TÍNH CHẤT

Trong quan điểm cho rằng tinh đẩu trong âm lịch phương Đông là tinh tú có thật trong vũ trụ quan, mỗi tinh đẩu đều có ảnh hưởng đến cho cộng đồng xã hội, như sao chổi xuất hiện ở phương nào, người ta cho rằng nơi đó sẽ xảy đến đói kém hay binh biến; hay với cá nhân mỗi khi có sao kiết, sao hung ứng chiếu với mệnh vận con người.

Bang tinh Sao Han 2

Như năm tuổi có sao Thái Tuế chiếu mệnh, thường hay gặp tai ương bệnh tật hay cả chết chóc, do thông thường vào những năm tuổi nhất là vào tuổi 37, con người hay mang vận rủi thật nặng nề, có lúc nhà tan cửa nát, vì ngoài sao Thái Tuế (Mộc Tinh) chiếu mệnh, còn là năm nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô là hai ác tinh trong 9 sao hạn (Cửu diệu) hàng năm

Hay như sao “Thái Bạch (Kim Tinh) làm sạch cửa nhà”, rồi sao Hỏa Tinh tiếp bước theo sau để thành câu than thân trách phận “31 chưa qua, 33 đã tới” đó là nhữ̃ng năm mang đến đại hung cho mọi người, nhưng nhất là nam giới.

Xét qua tính chât của câu nói trên, năm 31 tuổi gặp sao Kim Tinh (Thái Bạch), năm 33 tuổi gặp sao Hỏa Tinh (Vân Hớn), hai sao này chủ về tai tinh (tai nạn, bệnh tật hiểm nghèo, kiện thưa tranh cãi, tù tội, phá sản) v.v…

Cả 3 sao Mộc Tinh (lưu ý sao Thái Tuế khác tính chất với sao Mộc Đức trong Cửu Diệu, thuộc Triều ngươn tinh chủ về hôn sự), Kim Tinh (Thái Bạch), Hỏa Tinh (Vân Hớn) là những tinh đẩu có thật trong vũ trụ, nằm trong bộ sao Cửu Diệu hàng năm, cách tọa chiếu của chúng tính theo tuổi âm lịch như 2 bảng Sao Hạn sau đây :

Bang tinh Sao Han

2 bảng Sao Hạn trên là những năm trong mỗi người chúng ta gặp sao Cửu Diệu chiếu, tức tiểu hạn hàng năm, tuổi nam nữ xem riêng (trên bảng hình : nam xem sao bên trái, nữ xem sao bên phải, tuy cùng tuổi nhưng khác sao).

Tính chất sao Cửu Diệu như sau :

1- La Hầu : khẩu thiệt tinh, chủ về ăn nói thị phi, hay liên quan đến công quyền, nhiều chuyện phiền muộn, bệnh tật về tai mắt, máu huyết. Nam rất kỵ, nữ cũng bi ai chẳng kém. Kỵ tháng giêng, tháng bảy.

2- Kế Đô : hung tinh, kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám, đi làm ăn xa lại có tài lộc mang về.

3- Thái Dương : Thái dương tinh (măt trời) tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui, tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách.

4- Thái Âm : Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười. Nữ có bệnh tật, không nên sinh đẻ̉ e có nguy hiểm. Chủ về danh lợi, hỉ sự.

5- Mộc Đức (Mộc tinh) : Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng mười và tháng chạp.

6- Vân Hớn (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

7- Thổ Tú (Thổ tinh) : Ách Tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng tư, tháng tám.

8- Thái Bạch (Kim tinh) : Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng năm và kỵ màu trắng quanh năm.

9- Thủy Diệu (Thủy tinh) : Phước lôc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu.

Còn về hạn mỗi người hàng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu, còn về tính chất :

1- Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài

2- Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi

3- Ngũ Mộ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của

4- Thiên Tinh (Xấu) bị thưa kiện, thị phi

5- Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài

6- Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên

7- Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội

8- Diêm Vương (Xấu) người xa mang tin buồn

Với Sao Hạn mỗi năm, thí dụ như người tuổi Giáp Ngọ (1954) vào năm Mậu Tý (2008 tức được 55 tuổi âm lịch) sẽ gặp sao La Hầu, hạn Tam Kheo, mang ý nghĩa :

– Đề phòng khi ăn nói kẻo gặp chuyện thị phi, năm nay có thể liên quan đến công quyền gây nhiều chuyện phiền muộn. Coi chừng bệnh về tai mắt, máu huyết. Nam đại kỵ gặp La Hầu và nữ cũng buồn đau chẳng kém. Sao này kỵ vào tháng giêng, tháng bảy. Hạn Tam Kheo thuộc tiểu hạn không đáng lo, chỉ chủ về tay chân nhức mỏi.

Ngày xưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng thường lập đàn cúng sao để tự giải hạn, từ đó mọi người theo cách của Khổng Minh, hàng năm xem Sao Hạn mà cúng lễ cầu an (hội sao hàng năm vào mùng 8 tháng giêng âm lịch).

Nhìn bảng sao Cửu Diệu chúng ta thấy nam giới có hai năm tuổi găp sao Thái Tuế củng chiếu, là năm 37 và 49 trùng với sao La Hầu và Thái Bạch là nặng, còn nữ vào tuổi 37 với sao Kế Đô. Những năm khác nam có La Hầu, nữ gặp Kế Đô cũng không đáng lo vì không có sao Thái Tuế củng chiếu.

CÚNG SAO GIẢI HẠN

Năm nào ai gặp Sao Hạn nào thì cúng sao giải hạn theo tính chất của từng sao như cách sau đây :

Bài khấn mẫu : KHẤN CÚNG SAO GIẢI HẠN

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba cái rồi đọc :

Cung Thỉnh :

– Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân (Sao Kế Đô chiếu mạng) – Địa Võng Tôn Thần chư vị (Hạn Địa Võng –  ai gặp sao hạn nào, đọc tên sao hạn đó như đã diễn giải nơi trên).

Đệ tử lòng thành đốt nén nhang,

Cầu xin Phật Thánh giải tai ương,

Giúp trong lê thứ đều khương hão,

Gia nội nhân nhân đắc kiết tường..

Lại lạy 3 cái,rồi khấn tiếp :

– Việt Nam quốc, tỉnh thành……. con đang ở tại ngôi gia số…… đường……… Quận………. (địa chỉ).

– Tên là ……………. Niên canh……. (tức tuổi Can Chi) ……….. (mấy tuổi âm lịch)

Năm nay vận gặp Tinh Quân Hạn Thần : Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân, Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Thành tâm thiết lễ xin giải hạn nhương tinh,

Lòng thiền cúi lạy khả tấu khẩn cầu :

“TRUNG THIÊN TINH CHỦ BẮC CỰC – TỬ VI ĐẠI ĐẾ NGỌC HOÀNG BỆ Hạ.

Thiên Vĩ Cung Phân Kế Đô Tinh Quân – Địa Võng Tôn Thần chư vị.

– Các ngài đang cai quản mạng căn, xem xét vận hạn, từ bi liên mẫn, phổ tế phàm thai, ân cao đức cả, soi thấu lòng thành.

Cầu cha mẹ an sinh trường thọ,

Phật Thánh đồng gia hộ cháu con,

Trong nhà đều hạnh phúc tăng long.

Lớn nhỏ thảy đều an lạc.

Nguyện xin Tinh Quân – Hạn Thần, giải trừ họa tai, bệnh tật. Dứt tà hung, gặp điều lành.

Con lòng thành khấu đầu khẩn xin.

Lạy ba lạy và niệm câu :

– Nam mô A Di Đà Phật !

– Nam mô Tiêu tai Giáng kiết tường Bồ tát.

(Lạy tất ba cái)

Tính chất Sao Hạn

1- THÁI BẠCH : Sao Kim Tinh  : lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19  – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

2- Sao THÁI DƯƠNG : Mỗi tháng cúng ngày 27 âl, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhựt Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

3-  Sao THÁI ÂM : Hàng tháng vào lúc 19 tới  21 giờ tối vào ngày 26 âl, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái.  Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl  – Kỵ  tháng 11 âl.

4- Sao KẾ ĐÔ  : Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âl nên cúng giải vào ngày 18 âl ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Thiên Vỉ Cung Phân Kế Đô tinh quân”, thắp 20 ngọn đèn, lạy 20 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần vỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21  đến 23 giờ

5- Sao LA HẦU là khẩu thiệt tinh :  sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âl nên cúng giải vào ngày 08 âl, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21  đến 23 giờ .

6- Sao THỦY DIỆU sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .

Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âl, nên cúng giải hạn vào ngày 21 â.l, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

7-  Sao THỔ TÚ tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âl, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âl, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

8- Sao MỘC ĐỨC tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ

9- Sao VÂN HỚN tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âl cúng ngày 29 âl, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

Cách Khấn : “Cung Thỉnh Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hớn Tinh Quân Vị Tiền”.

THẬP NHỊ ĐƯƠNG NIÊN HÀNH KHIỂN

Tại sao mọi nhà thường cúng lúc Giao thừa, vì ngoài việc đón vong linh ông bà cha mẹ “về” ăn tết cùng gia đình; trong dân gian mọi người còn nghĩ đến hàng năm đều có một vị hành khiển tức đương niên chi thần, trông coi cõi nhân gian việc làm tốt xấu của mọi người, để cuối năm về Thiên Đình báo cáo công tội mỗi người, mọi gia đình để có công thì thưởng làm ác thì phạt (thưởng phúc phạt ác) đôi khi thưởng phạt ngay sau công tội.

Các đương niên chi thần mang tên Tý, Sửu, Dần… cho đến Hợi, tức tên12 con giáp, đồng thời ứng với một vị tinh tú.

Vị hành khiển này trông coi tất cả mọi việc trên thế gian, làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người no ấm, hay trái lại sẽ gây ra tai ương dịch họa v.v..

Trong triết học Trung Quốc hay phương Tây, người ta đều đề cập đến vòng Hoàng đạo nằm trên vũ trụ, được chia thành 12 cung cách nhau 30o và đặt mỗi cung một tên từ Tý đến Hợi hay từ Bạch Dương đến Song Ngư.

Tên các con vật (Thập nhị chi) ứng với mỗi cung chỉ là hình dạng của các chòm sao có thật ở ngay cung đó, rồi hình tượng hóa thành tên gọi (theo phương Tây). Mỗi cung có ảnh hưởng đến tiết khí trên trái đất và con người đang sống trên hành tinh này.

Ngoài ra trong vũ trụ có sao Mộc (Jupiter) mà ta gọi là sao Thái Tuế, hàng năm đi ngang qua một cung trên đường Hoàng đạo, với chu kỳ 12 năm mới giáp hết vòng một quỹ đạo ứng với 12 cung trên.

Nên có thứ tự của vòng quay của sao Mộc, gặp 12 cung Hoàng đạo trong 12 năm như sau :

– Năm Thìn (Rồng)̀     0o- 30o           sao Bạch Dương

–           Tỵ (Rắn)          30 – 60            sao Kim Ngưu

–           Ngọ (Ngựa)    60 – 90           sao Song Nam

–           Mùi (Dê)        90 – 120           sao Bắc Giải

–           Thân (Khỉ)      120 – 150        sao Hải Sư

–           Dậu (Gà)        150 – 180       sao Xử Nữ

–           Tuất (Chó)     180 – 210        sao Thiên Xứng

–           Hợi (Lợn)        210 – 240      sao Hổ Cáp

–           Tý (Chuột)      240 – 270        sao Nhân Mã

–           Sửu (Trâu)       270 – 300      sao Nam Dương

–           Dần (Cọp)       300  – 330     sao Bảo Bình

–           Mão (Mèo) *     330 – 360   sao Song Ngư

* Lịch Trung Quốc gọi năm con mèo (Mão) là năm Thố tức con Thỏ.

Nên khi sao Mộc đi vào cung Tý năm đó gọi là năm Tý, đến cung Sửu năm đó là năm Sửu v.v… vì vậy sao Mộc còn gọi là sao năm hay sao Thái tuế.

Chúng ta gọi sao Thái Tuế là vị “Hành khiển thập nhị chi thần” trông coi các đương niên hành khiển, tức dưới Thái Tuế có thêm vị Phán quan là mỗi vì sao một năm, là 12 vị hành khiển như đã nói; trông coi ghi chép việc làm trong dân gian để soạn tấu tâu trình trước Ngọc Đế cuối năm, và Ngọc Đế sẽ chỉ dụ cho vị Phán quan hành khiển sắp xuống trần thay người cũ mà thưởng phạt.

Riêng về người lại có 2 vị hành khiển và hành binh trông coi bản mệnh :

Hành Binh, Hành Khiển

Ngoài 12 vị hành khiển được gọi đương niên chi thần dưới trướng sao Thái Tuế tức “Hành khiển thập nhị chi thần”, luân phiên trông coi thế gian trong 12 năm.

Ngoài ra theo quan niệm, mỗi năm còn có một ông hành khiển và một ông hành binh cai quản số mạng con người qua Sao Hạn trong 12 năm đó, coi việc thưởng phúc phạt ác qua cách hành xử của mỗi người trong việc làm và sự an nguy (trong dân gian chỉ biết tên Sao Hạn như đã nói). Đi theo vị đương niên chi thần, là các vị hành khiển hành binh mỗi năm mang tên :

– Năm Tý :       Châu Vương hành khiển, Chúa Thiên Ôn hành binh

– Năm Sửu :   Triệu Vương hành khiển, Tam Thập Lục Thương hành binh

– Năm Dần :   Ngụy Vương hành khiển, Mộc Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Mão :   Trịnh Vương hành khiển, Thạch Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Thìn :    Sở Vương hành khiển, Hỏa Tinh Liễu Tào hành binh

– Năm Tỵ :       Ngô Vương hành khiển, Thiên Hạo Hứa Tào hành binh

– Năm Ngọ :   Tấn Vương hành khiển, Thiên Hạo Vương Tào hành binh

– Năm Mùi :    Tống Vương hành khiển, Ngũ Đảo Lầm Tào hành binh

– Năm Thân:   Tề Vương hành khiển, Ngũ Miếu Tống Tào hành binh

– Năm Dậu :   Lỗ Vương hành khiển, Ngũ Nhạc Cự Tào hành binh

– Năm Tuất :   Việt Vương hành khiển, Thiên Bá Thành Tào hành binh

– Năm Hợi :    Lưu Vương hành khiển, Ngũ Ôn Nguyễn Tào hành binh

Vị hành khiển thuộc quan văn, còn vị hành binh thuộc quan võ, coi trực tiếp qua Sao Hạn và cách tu thân tích đức mỗi người mà luận công tội thưởng phạt ngay trong năm.

Nói về đề mục này nhằm giúp mọi người tìm hiểu và cách khấn khi cúng vào đêm Giao thừa hàng năm.

CÁCH CÚNG NĂM TAM TAI :

Ngoài cúng Sao giải Hạn hàng năm, những tuổi gặp năm Tam Tai cũng nên cúng giải như sau :

1. Tuổi Thân, Tý, Thìn gặp năm Dần, Mão, Thìn thì có Tam Tai. Năm Dần là đầu Tam tai, năm Mão giữa Tam tai, năm Thìn cuối Tam Tai.

2. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất gặp năm Thân, Dậu, Tuất thì có Tam Tai.

3. Tuổi Hợi, Mão, Mùi gặp năm Tỵ, Ngọ, Mùi có Tam Tai.

4. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu gặp năm Hợi, Ty, Sửu có Tam Tai.

Cúng thần Tam Tai: cổ nhân thường căn cứ Tam Tai rơi vào năm nào, ứng với năm đó có một ông thần, và vào ngày nhất định hàng tháng, hướng nhất định tiến hành lễ dâng hương để giải trừ Tam Tai. Xem bảng sau đây:

Năm Tý: Ông Thần Địa Vong, cúng ngày 22, lạy về hướng Bắc

Năm Sửu:  Ông Đại Hình, cúng ngày 14, lạy về hướng Đông Bắc

Năm Dần: Ông Thiên Hình, cúng ngày 15, lạy về hướng Đông Bắc.

Năm Mão: Ông Thiên Hình, cúng ngày 14, lạy hướng Đông

Năm Thìn: Ông Thiên Cướp, cúng ngày 13, lạy hướng Đông Nam.

Năm Tỵ: Ông Hắc Sát, cúng ngày 11, lạy hướng Đông Nam.

Năm Ngọ: Ông Âm Mưu, cúng ngày 20, lạy hướng Tây Nam

Năm Mùi: Ông Bạch Sát, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Thân: Ông Nhơn Hoàng, cúng ngày 8, lạy hướng Tây Nam.

Năm Dậu: Ông Thiên Họa, cúng ngày 7, lạy hướng Tây.

Năm Tuất: Ông Địa Tai, cúng ngày 6, lạy về hướng Tây Bắc

Năm Hợi: Ông Địa Bại, cùng ngày 21, lạy về hướng Tây Bắc.

Lễ cúng: Trầu cau: 3 miếng, thuốc lá: 3 điếu, muối, gạo, rượu, vàng tiền, hoa, quả. Lấy một ít tóc rối của người có hạn Tam Tai, bỏ vào một ít tiền lẻ, gói chung lại với gạo, muối, còn tiền vàng thì hóa, cúng tại ngã ba, ngã tư đường, vài tuổi và tên của mình, đem bỏ gói tiền, có tóc và muối gạo đó ở giũa đường mà về thì hạn đỡ.

Thiên Việt

NHỮNG PHONG TỤC KINH DỊ

10 HỦ TỤC KINH DỊ

GÂY PHẨN NỘ Ở ẤN ĐỘ

Đây là những hủ tục kinh dị, đầy phẫn nộ tưởng như chỉ có ở thế kỷ xa xưa nào đó nhưng vẫn tồn tại ở đất nước này cho tới tận ngày nay.

1/. Hôn nhân sắp đặt : Ngày nay các nước trên thế giới đã giảm thiểu việc sắp đặt hôn nhân, thì ở Ấn Độ, hủ tục này vẫn đang tồn tại và phát triển mạnh.

Thay vì tự do yêu đương, lựa chọn người bạn đời cho mình, người Ấn Độ thường dựa trên ý kiến của cha mẹ, họ hàng, bạn bè, người thân và vẫn đang lựa chọn bạn đời cho con cái, họ hàng của mình dựa trên tầng lớp xã hội, tôn giáo, tử vi.

2/. Giết người vì danh dự : Giết người vì danh dự là một trong những hủ tục gây sốc nhất tại Ấn Độ vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nếu một thành viên làm điều gì đó đi ngược lại với quy tắc, quy định của gia đình, dòng họ, cộng đồng, họ có thể bị bài xích thậm chí bị giết để tránh mang ô nhục cho gia đình, cộng đồng.

3/. Của hồi môn : Theo truyền thống, vào ngày cưới, gia đình nhà gái sẽ tặng cho con gái của mình một món quà chủ yếu là trang sức vàng. Đây được gọi là “Stree-Dhan” tức tài sản của người phụ nữ.

Tuy nhiên, theo thời gian, phong tục này đã bị thay đổi. Hầu hết các gia đình sẽ trả bằng tiền mặt, tài sản. Phong tục này bị lên án bởi nhiều người coi phẩm giá của người con gái được đo bằng tiền, hơn nữa còn đặt áp lực tài chính nặng nề cho nhiều gia đình. Nhiều cô dâu bị giết hoặc bị tra tấn dã man vì của hồi môn. Nhiều gia đình phải tự sát vì bất lực không có hồi môn cho con gái.

4/. Giết bé gái : Vì áp lực phải trao của hồi môn, nên cũng không lạ khi nhiều gia đình coi phụ nữ là một gánh nặng. Bên cạnh đó, nhiều gia đình còn lo sợ con gái mình sẽ không xinh đẹp, trắng trẻo, hoặc có thể bị hãm hiếp nên không có ai cưới.

Trái lại, đàn ông lại là người nối dõi của gia đình và đem của hồi môn về cho gia đình. Do đó, khi biết mình đang mang thai bé gái, nhiều người đã phá thai bằng cách nuốt các loại thảo mộc. Nếu sinh con gái, nhiều người còn giết con bằng cách để bé sặc sữa, cho ăn muối, ăn viên kẹo lớn thậm chí chôn sống.

5/. Tảo hôn : Tại Ấn Độ, độ tuổi kết hôn hợp pháp của một người phụ nữ là 18 tuổi và 21 tuổi đối với đàn ông. Kể từ năm 1929, tảo hôn đã không được pháp luật của nước này công nhận. Tuy nhiên, tục tảo hôn còn rất phổ biến đặc biệt ở làng quê Ấn Độ.

Tại những vùng quê này, hầu hết các chàng trai, cô gái ở tuổi vị thành niên đều thừa nhận đã kết hôn dù ai cũng hiểu, đặt lên vai những đứa trẻ trách nhiệm về hôn nhân, gia đình ở độ tuổi này là quá sớm.

6/. Đánh rơi trẻ sơ sinh : Một trong những nghi lễ gây phẫn nộ nhất ở Ấn Độ là đánh rơi đứa trẻ sơ sinh. Tại đền thờ Sri Santeswar gần Indi, Karnataka, nghi lễ này đã được phổ biến khoảng 700 năm nay.

Để trẻ được ban phước lành, đứa trẻ thường được đánh rơi từ độ cao khoảng 15 mét và đám đông ở dưới sẽ tìm cách đón lấy em bé. Hủ tục này bị lên án mạnh mẽ bởi Ủy ban Quốc gia về Bảo vệ quyền trẻ em Ấn Độ vì những mối nguy hiểm tiềm tàng.

7/. Xua đuổi phụ nữ :  Ở Ấn Độ, người ta rất mê tín dị đoan và nhiều định kiến xã hội. Theo đó, có một số phụ nữ được cho là “Dosh Mangal” – người sẽ gây nhiều nguy hiểm cho cuộc sống của chồng. Để xua đuổi người phụ nữ này, họ thường bắt những cô gái này kết hôn với một cái cây hoặc với một con vật.

8/. Tuốt tóc : Có một nghi lễ rất phổ biến của người Ấn Độ là buộc người phụ nữ phải hiến dâng mái tóc của mình cho Chúa. Họ tin rằng càng hiến dâng nhiều tóc thì Chúa càng ban phước cho người ấy. Thậm chí những người Kỳ Na Giáo còn tiến hành một nghi thức đau đớn và gây phẫn nộ hơn là tuốt tóc của các tu sĩ cho đến khi hói, trọc đầu.

Các thánh Jain và tu sĩ sẽ tiến hành nghi lễ này một đến hai lần trong năm như là một dấu hiệu cho thấy họ đã từ bỏ những thú vui trần tục và có sức chịu đựng đau đớn.

9/. Tự tra tấn : Muharram là tháng đầu tiên của lịch Hồi giáo và là tháng kỷ niệm trận Karbala. Trong trận đánh này nhà tiên tri Hussein ibn Ali đã bị giết chết cùng với 72 chiến binh.

Cộng đồng người hồi giáo Ấn Độ đã tiến hành nghi lễ để tưởng nhớ đến sự hy sinh của họ. Một phần của nghi lễ này là tự đánh bằng roi, dao và than khóc khi thân thể trần truồng bằng chuỗi dao lam. Họ nghĩ mình sẽ được thần linh chấp nhận và ban phước lành khi ngâm mình trong máu mà không cảm thấy đau đớn.

10/. Những nghi lễ kinh dị sau khi chết : Theo người Ấn Độ, thánh Aghori là thành viên của một giáo phái Hindu thờ phụng Chúa Shiva. Giáo phái được biết đến với các nghi lễ kinh dị sau khi chết.

Họ không cấm kỵ ma túy, rượu, hành vi tình dục kỳ cục. Sau khi có người chết, họ sẽ bôi nhọ thi thể bằng tro hỏa táng, sử dụng xương và xác chết của con người làm bát hoặc đồ trang sức. Các thành viên của giáo phái thậm chí ăn thịt đồng loại một cách công khai. Họ thậm chí còn giao hợp với các cơ quan của thi thể. (theo Quỳnh TrangEm đẹp)

TỤC LỆ ĐEO KHUYÊN MŨI

CỦA PHỤ NỮ ẤN ĐỘ

Ở Ấn khuyên mũi được coi là một trong những quy định bắt buộc đối với phụ nữ theo đạo Hindu. Nhìn vào đây, người ta có thể phân biệt được đâu là người theo đạo Hindu, và đâu là người đi theo Hồi giáo.

Đeo khuyên mũi ở Ấn không chỉ là cách sống của cá nhân mà còn là phong tục này còn là hôn nhân, là con cái, là sức khỏe, và trên hết là một tín ngưỡng rất mực linh thiêng.

Người ta gọi những chiếc khuyên mũi này là: “Nath” và thường đeo ở phần vách ngăn (sụn giữa hai lỗ mũi) theo quy định xa xưa. Tuy nhiên, ngày này, điều lệ tôn giáo được nới lỏng hơn với việc cho phép phụ nữ đeo “nath” ở cánh mũi bên trái hoặc phải. Thế nhưng người Ấn vẫn có sự ưu tiên đặc biệt dành cho lỗ mũi bên trái.

Phụ nữ Ấn lên 16 tuổi đã bắt đầu xỏ những chiếc khuyên đầu tiên. Nếu chậm trễ, cô gái đó sẽ đứng trước nguy cơ “ế” bởi không được Parvathi – nữ thần hôn nhân phù hộ.

Ở một số vùng, đây còn là cách người ta nhận biết một cô gái đã có chồng hay chưa. Phụ nữ xuất giá sẽ đeo khuyên, ngược lại gái còn son sẽ thì không được phép. Người có càng nhiều khuyên sẽ nhận được sự ngưỡng mộ và tôn kính của xã hội. Điều đó chứng tỏ người phụ nữ này có đời sống hôn nhân hạnh phúc và bền vững trong nhiều năm.

CHẤM ĐỎ Ở GIỮA TRÁN PHỤ NỮ ẤN

CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

Nếu không phải tâm linh, không phải truyền thống, thì cái chấm đỏ giữa trán của những người phụ nữ Ấn Độ có nghĩa là gì ?

Trong những bức ảnh về phụ nữ Ấn Độ, có lẽ điều hấp dẫn người xem không chỉ bởi đôi mắt to, hàng lông mày rậm, thần thái sắc nét mà còn bởi một chấm đỏ giữa hai hàng lông mày. Điều này trở nên quen thuộc đến nỗi cứ mỗi khi nhìn thấy hình tượng này, không cần phải hỏi cô từ đâu đến mà chỉ cần nói rằng, cô ở vùng nào của Ấn Độ là đủ.

Chấm đỏ này được gọi là “bindi”, trong tiếng Ấn nghĩa là “chấm nhỏ, giọt nước” và mang trong mình rất nhiều ý nghĩa từ biểu trưng cho đến vật chất.

Ý nghĩa tâm linh : Có nguồn gốc từ một phong tục cổ xưa của Ấn Độ giáo, Bindi tượng trưng cho sức mạnh để bảo vệ phái nữ và gia đình của họ. Vị trí giữa hai hàng lông mày chính là nơi tập trung mọi trí tuệ và sự thông minh của con người, chính vì vậy mà khi được đánh dấu bằng chấm đỏ hoặc đá quý thì sẽ phát huy tác dụng triệt để. Điều này còn giúp cho chủ nhân tránh được sự cám dỗ của ma quỷ.

Ngoài ra, người Ấn Độ còn coi chấm đỏ Bindi này là con mắt thứ ba giúp nhìn thấy mọi việc và tâm can của những kẻ xấu. Màu đỏ trên đó còn tượng trưng cho danh dự, tình yêu và sự thịnh vượng.

Thể hiện tình trạng hôn nhân : Ở miền Nam Ấn Độ, chỉ có những phụ nữ đã lấy chồng mới được chấm chấm đỏ này lên trán. Và người chấm bindi lên trán cô dâu không phải ai khác mà chính là người chồng của cô ngay trong ngày cưới của họ. Bindi thường được chấm bằng son nên còn gọi là chấm châu sa, một số địa phương còn dùng cả máu của người chồng để làm việc này ! Hành động đó như là lời tuyên thệ cho việc làm vợ, làm mẹ là điều vô cùng thiêng liêng, cao quý và cần được tôn vinh.

Sau khi kết hôn nếu như người phụ nữ nào quên chấm bindi sẽ lập tức bị quở trách rằng có hành động lừa dối chồng. Thậm chí ở nhiều nơi còn quy định rằng, việc ngừng không chấm bindi cũng có nghĩa là chồng đã qua đời. Theo đó, phụ nữ đã góa chồng sẽ không được có chấm đỏ trên trán nữa.

Ý nghĩa khoa học : Ở một số khu vực của Ấn Độ, có rất nhiều gia đình không thể tiếp cận với nguồn i-ốt có lợi cho sức khỏe nên thường xuyên gây ra các bệnh như ung thư vú, u nang xơ tuyến vú và các biến chứng trong quá trình mang thai.

Dựa vào điều này, một trung tâm nghiên cứu y khoa của Ấn Độ đã nghĩ ra sáng kiến tráng mặt sau của bindi bằng i-ốt và chấm đỏ này sẽ cung cấp tới 150 microgram i-ốt hấp thụ qua da. Tuổi thọ của một chấm bindi dạng này là vào khoảng 30 ngày. Giải pháp được cho là khá hữu hiệu bởi tính tiện lợi và giá cả rẻ hơn rất nhiều so với việc dùng thực phẩm hay thuốc bổ sung.

Ngoài ra, vị trí chấm bindi còn chứa khá nhiều các loại dây thần kinh quan trọng cho nên nếu thường xuyên xoa bóp chỗ này sẽ làm dịu tâm trí, thư giãn các cơ trên mặt, cổ lưng hay thậm chí là thính giác, giảm nếp nhăn. (theo Anh Đào – Trí thức trẻ)

TỶ PHÚ KIM CƯƠNG ẤN

LÀM ĐÁM CƯỚI CHO 250 CÔ DÂU

Tỉ phú kim cương từng nhiều lần tổ chức đám cưới tập thể cho các cô dâu có hoàn cảnh khó khăn. Hơn 250 cặp đôi ở Ấn Độ đã làm đám cưới tập thể hôm 24.12. Chủ hôn lễ là tỉ phú kim cương Ấn Độ Mahesh Savani tại bang miền tây Gujarat. Năm ngoái, tỉ phú Savani cũng tổ chức đám cưới tương tự cho hàng trăm cặp đôi.

Savani cho biết ông quyết định chi tiền tổ chức đám cưới cho những cặp đôi này vì đây là một nghĩa cử đẹp. Những cô dâu làm đám cưới đều mồ côi cha. Những năm trước, Savani trao tặng số hiện vật trị giá 150 triệu đồng cho các cặp đôi tham gia lễ cưới. Năm nay, cô dâu cũng nhận được số hiện vật giá trị tương đương.

Nghĩa cử của Savani được người dân trong vùng mến mộ và truyền tai nhau. Số lượng người xin được Savani làm đám cưới mỗi lúc một đông. Tờ Daily Mail của Anh cũng đăng tải hàng loạt bức ảnh về đám cưới đặc biệt này. Những cô dâu mặc trang phục truyền thống, đeo trang sức và cười tươi khi đứng ở sân khấu chính. Tỉ phú Savani là người chủ trì bữa tiệc.

Tục lệ của Ấn Độ yêu cầu cô dâu đưa của hồi môn cho chú rể. Những của hồi môn này có giá trị khá lớn nên gây nhiều khó khăn cho các gia đình nghèo khó. “Tôi nhận trách nhiệm như cha của họ”, tỉ phú Savani nói. Nếu một cô dâu có cha đã mất hoặc gia cảnh nghèo khó, khả năng cô kết hôn là rất thấp.

PHONG TỤC CƯỚI HỎI “QUÁI ĐẢN”

CỦA CÁC BỘ TỘC CHÂU PHI

Nhổ nước bọt lên người, nhìn lượng vàng trên người để kén vợ, bắt cóc cô dâu… là một vài phong tục cưới hỏi kỳ quặc của các bộ tộc ở châu Phi.

Hôn nhân, cưới hỏi được coi là một trong những nghi lễ thiêng liêng, đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời của mỗi con người. Tuy nhiên, ở nhiều bộ tộc của châu Phi, phong tục cưới hỏi vẫn mang nặng vẻ hủ tục. Cùng điểm lại một vài nghi lễ cưới hỏi độc đáo của các bộ tộc châu Phi dưới đây.

1/. Bộ tộc Maasai – bố cô dâu nhổ nước bọt lên người con gái : Phong tục cưới của bộ tộc Maasai ở Kenya vô cùng đặc biệt. Các cô gái trong bộ tộc sẽ không được tự do yêu đương cũng như quyết định ai là chồng mình mà phải theo sự sắp đặt của cha mẹ.

Họ cũng không được phép ly dị và phải chung sống với người chồng suốt đời kể cả người đó có vũ phu hay đối xử tệ bạc với mình. Cha cô dâu sẽ ngồi ở nhà và nhận lễ vật của nhà trai và quyết định ai sẽ là con rể mình phụ thuộc vào số tài sản họ mang tới.

Vào lễ cưới, cô dâu sẽ được mặc những bộ quần áo rực rỡ cùng bộ trang sức nặng nề. Trước khi chính thức về nhà chồng, cha của cô sẽ nhổ một bãi nước bọt lên ngực cô dâu để tượng trưng cho những điều may mắn nhất.

Một điểm đặc biệt mà ít có bộ tộc nào có được đó là tuy cuộc sống hôn nhân bị sắp đặt như vậy nhưng phụ nữ của Maasai lại được hưởng một “đặc quyền” kỳ lạ khi kết hôn. Đó là họ được phép “cặp bồ” khi có chồng nhưng với điều kiện không được có thai ngoài hôn nhân. (H1-2-3)

2/. Bộ tộc Ashanti – nhìn vàng trên cơ thể để kén chồng/vợ : Nằm ở phía Nam đất nước Ghana, thuộc Tây Phi, bộ tộc Ashanti nổi tiếng với sự “giàu có”. Điều này được thể hiện rõ nét qua những khối vàng đeo lủng lẳng khắp cơ thể.

Với người Ashanti, hôn nhân là vô cùng quan trọng. Bởi vậy mà những chàng trai, cô gái của bộ tộc này tìm vợ/chồng dựa trên số lượng vàng mà đối phương đeo trên cơ thể. Một người đeo càng nhiều vàng chứng tỏ anh/cô ấy có cả gia tài khổng lồ. Điều này cũng có nghĩa, họ rất đáng tin cậy, kính trọng để có thể chọn làm người “hợp tác” cùng.

Người đàn ông trong bộ tộc Ashanti có thể lấy nhiều vợ, tuy nhiên, họ gần như không có chuyện ly dị. Nếu chuyện ly hôn xảy ra thì cả hai bên gia đình nhà chồng và vợ sẽ phải có trách nhiệm hàn gắn mối quan hệ này. Bởi người Ashanti cho rằng, điều này là một việc làm có lỗi với thế giới linh hồn và sẽ cố gắng không làm bất cứ điều gì khiến thần thánh phật lòng. (H4-5)

3/. Bộ tộc Himba – nhà trai tới bắt cóc cô dâu : Bộ tộc Himba cư trú ở phía Bắc của Namibia. Những cư dân này sống theo lối du mục, sinh tồn chủ yếu bằng săn bắn và hái lượm. Một điểm đặc biệt là phụ nữ ở bộ tộc này rất “biết cách làm đẹp”, cùng với thân hình đẹp như một lợi thế trời ban nên họ được phong danh hiệu – phụ nữ đẹp nhất “lục địa đen”.

Có lẽ chính bởi vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” này mà nhà trai có tục lệ bắt cóc cô dâu vào ngày cưới. Theo đó, chú rể cùng gia đình sẽ tới nhà gái để bắt cóc cô dâu.  Trước đó, các cô gái được mẹ tặng cho chiếc khăn da bò như một món vật gia truyền được truyền từ mẹ sang con gái qua các đời. Khi cô dâu bị chú rể và gia đình chồng “bắt cóc” về làm vợ, họ phải dùng chiếc khăn da bò đó để che mặt để tránh bị chú rể khác cướp mất. (H6-7)

4/. Bộ tộc Rashaida – chỉ cưới người trong bộ lạc : Là một bộ tộc nhỏ của quốc gia Eritrea nên người dân Rashaida vẫn giữ những truyền thống và nghi lễ độc đáo của mình. Theo phong tục truyền thống, người Rashaida chỉ được phép cưới người trong bộ tộc, nếu trót để ý hoặc đi ngược lại với phong tục của bộ tộc, người đó sẽ bị cả bộ tộc lên án. Phong tục này khá giống với văn hóa nông thôn Việt Nam thời xưa, khi có một “luật bất thành văn” rằng chỉ được phép lấy người trong làng.

Trước khi hôn lễ được cử hành, những cô gái luôn phải dùng mạng che mặt có tên gọi là Burga như một cách để giữ phẩm giá trước khi chính thức theo về nhà chồng. Vào ngày cưới, cô dâu Rashaida sẽ mặc bộ trang phục màu đỏ cùng nhiều loại trang sức có giá trị như để chứng minh với bộ tộc về vẻ đẹp cũng như sự giàu có của gia đình mình.

Trong lễ cưới, cô dâu sẽ nhảy điệu nhảy truyền thống của mình như một lời cảm ơn khách mời đã đến tham dự. Sau đó, những cư dân của bộ tộc sẽ cùng nhau nhảy múa, vui đùa và thưởng thức thịt dê… (H8-9) (theo Kenh 14)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

PHONG TỤC NGÀY TẾT

NGUỒN GỐC NHỮNG PHONG TỤC

NGÀY TẾT CỔ TRUYỀN

Tết có nhiều phong tục, nét đẹp vậy nhưng bạn có tự tin là mình đã hiểu rõ về Tết cổ truyền của dân tộc hay chưa ?

1/. Tên gọi “Tết Nguyên Đán” : Tết Nguyên Đán có phiên âm gốc là cụm từ Tiết Nguyên Đán. Theo tiếng Hán, Tiết là tiết khí trong lịch của những nước nông nghiệp, Nguyên nghĩa là khởi đầu và Đán là buổi sáng sớm.

Ngày mồng một Tết Ta không bao giờ trước ngày 21/1 và sau 19/2 (Dương lịch) do quy luật ba năm nhuận một tháng của Âm lịch.

2/. Tục mừng tuổi (lì xì) : Tục lệ mừng tuổi đầu năm (lì xì) xuất phát từ một truyền thuyết của Trung Quốc. Chuyện cổ kể rằng có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa, thích xoa đầu trẻ con và khiến đứa trẻ đau đầu, sốt cao, làm các bậc cha mẹ không dám ngủ để canh phòng.

Năm đó có cặp vợ chồng đã lớn tuổi mới sinh được mụn con trai. Tết năm ấy, có 8 vị tiên dạo qua nhà, biết trước cậu bé này sẽ gặp tai họa với yêu quái liền hóa thành 8 đồng tiền đồng, ngày đêm túc trực bên bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại, đặt lên gối con rồi đi ngủ.

Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện, vừa giơ tay định xoa đầu đứa trẻ thì từ bên chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực khiến nó kinh hoàng bỏ chạy. Từ đó người lớn  thường bỏ tiền vào bao đỏ (hồng bao), lì xì cho trẻ em kèm những lời chúc khỏe mạnh, chóng lớn…

3/. Màu đỏ trong ngày Tết : Màu đỏ được xem là màu của tài lộc và may mắn. Vì vậy trong các dịp lễ Tết màu đỏ xuất hiện khắp nơi, từ bàn thờ gia tiên cho đến góc bếp, cửa sổ, lối đi, góc vườn… Màu đỏ thể hiện tâm lý của gia chủ, cầu mong thần may mắn sẽ gõ cửa khắp nơi.

4/. Mâm ngũ quả : Ngày Tết, mọi gia đình Việt chuẩn bị mâm ngũ quả đặt lên bàn thờ với năm loại quả khác nhau. Theo quan niệm, năm thứ quả tượng trưng cho ngũ hành (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ) ứng với mệnh của con người. Đồng thời, số lẻ được cho rằng mang lại may mắn, phát triển.

5/. Tục dựng cây nêu trước nhà : Quan niệm xưa tin rằng, dựng cây nêu trước cửa, kèm theo những đồ vật như vàng mã, bùa trừ tà…, cùng tiếng kêu của khánh nhỏ, để báo cho ma quỷ biết nhà có người ở, không được tới quấy nhiễu.

6/. Ăn dưa kiệu : Người Việt Nam cho rằng vào ngày đầu năm mới nếu hũ dưa kiệu vừa ăn không bị quá chua hay meo mốc cũng được xem là điềm đoán cho sự may mắn của một năm.

7/-. Hoa đào, hoa mai trong ngày Tết : Ở Việt Nam, ngày Tết không thể thiếu hoa đào hoặc hoa mai trang trí trong nhà. Theo khí hậu và thổ nhưỡng mà mỗi miền lại ưa chuộng loại cây khác nhau, miền Bắc là hoa đào và miền Nam là hoa mai.

Theo quan niệm của người xưa, từng có hai vị thần trú tại cây hoa đào che chở cho dân chúng khỏi sự quấy phá của lũ quỷ dữ. Chỉ cần thấy đào, ma quỷ sẽ sợ hãi. Do đó, vào những ngày tết, khi hai thần lên gặp Ngọc Hoàng, người dân tự bảo vệ bằng cách bẻ cành đào về cắm trong lọ. Cây đào giúp xua đuổi ma quỷ, màu đỏ tượng trưng cho may mắn, nên hoa đào đỏ thường không thể thiếu trong nhà người miền Bắc ngày tết.

Khác với miền Bắc, người miền Nam chọn hoa mai vào dịp tết. Bên cạnh yếu tố khí hậu, màu vàng của mai tượng trưng cho sự cao sang, phú quý. Không chỉ thế, màu vàng cũng mang ý nghĩa phát triển nòi giống. Thêm nữa, màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, luôn nằm ở vị trí trung tâm, thể hiện vai trò quan trọng.

NHỮNG PHONG TỤC

ĐÓN NĂM MỚI THÚ VỊ

GIÚP CẦU MAY KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI

Phong tục đón Tết độc đáo đã trở thành một phần cuộc sống của người dân ở nhiều nơi trên thế giới, ẩn chứa nguyện ước của họ về một năm mới an lành.

Châu Á

1/. Trung Quốc : Giống như Việt Nam, Trung Quốc đón tết chính theo lịch âm nhưng trong dịp năm mới sắp đến, người Trung Quốc vẫn sẽ trở về quê nhà và quây quần bên gia đình. Ở đây, mọi người sẽ làm những bàn tiệc lớn để ăn uống, chúc tụng và chờ đón thời khắc năm cũ trôi qua, năm mới kéo đến.

Người Trung Quốc cũng có thói quen đốt pháo giấy giống như khi đón Tết nguyên đán, trong khi đó, các thành phố lớn của Trung Quốc cũng bắn pháo hóa chào mừng như các nước khác.

2/. Nhật : Năm mới ở Nhật được gọi là Oshogatsu. Trong những dịp này, người Nhật sẽ trang trí nhà mình thật đẹp với lá thông hoặc tre và các sợi dây. Họ tin răng nó có thể xua đuổi ma quỷ và mang lại sức khỏe, trường thọ cho gia đình.

Vào thời điểm giao thừa, các ngôi chùa đạo Phật ở Nhật sẽ rung chuông 108 lần biểu tượng cho 108 điều sân si và niềm không may của con người, giúp thanh lọc tâm hồn cho một năm mới đến. Ngoài ra, người Nhật Bản cũng tặng nhau những tấm thiệp năm mới cho người thân, bạn bè và cho trẻ con lì xì mừng tuổi như nhiều nước châu Á khác.

3/- Hàn Quốc : Ở Hàn Quốc, những ngày đầu năm mới cũng là dịp con cái thăm viếng và chúc thọ ông bà, cha mẹ, bạn bè đến thăm nhau và chúc nhau những điều may mắn trong những ngày sắp tới. Tuy nhiên, phong tục đón năm mới Âm lịch ở Hàn Quốc có phần cầu kỳ hơn như mâm cỗ cúng đêm Giao thừa lên tới 20 món, nghi lễ đón năm mới và nghi lễ cúng tổ với nhiều yêu cầu khắt khe.

Đặc biệt, trong những ngày Tết, trước cửa nhà người Hàn Quốc thường treo một chiếc “Bok jo ri” (một chiếc xẻng tết bằng rơm) với ý nghĩa hốt thóc gạo rơi vãi bên ngoài và cầu chúc cả nhà no đủ quanh năm.

4/- Singapore : Đối với người Singapore, Tết Âm lịch gắn liền với Lễ hội mùa xuân gồm 3 sự kiện nổi bật: Lễ hội Hoa đăng, Lễ hội Singapore River Hongbao và Lễ hội đường phố Chingay. Trong đó lễ hội Đường phố Chingay là hoạt động sôi nổi nhất, thu hút hàng chục ngàn du khách và người dân địa phương cùng tham gia diễu hành trên đường phố.

Lễ hội thường diễn ra vào thứ 7 đầu tiên của năm mới và kết thúc trước rằm tháng Giêng tại vịnh Marina với điểm nổi bật là những cổ xe khổng lồ được trang hoàng lộng lẫy, các nghệ sĩ trong trang phục lấp lánh và các tiết mục nghệ thuật đa dạng đầy màu sắc.

5/. Philippines : Tại Philippines, hình tròn tượng trưng cho tài lộc, do vậy, đến đêm giao thừa, người dân sẽ mặc lên mình những món đồ có dạng tròn, bao gồm đồ có họa tiết chấm bi, chất đầy túi các loại tiền xu hoặc ăn những trái cây dạng tròn. Nếu muốn cầu tài lộc, hãy nhớ mang theo mình những loại quả tròn và mặc đồ có hình chấm bi dịp năm mới này.

Châu Âu

6/. Anh : Ngày nay, người dân nước Anh thường tập trung quanh quảng trường Trafalgar Square để chờ đón tiếng chuông từ tháp đồng hồ Big Ben, báo hiệu một năm mới đã đến. Trong truyền thống của xứ sở xương mù, người Anh thường có tập tục xông đất vào đầu năm mới. Một vị khách, thường là nam giới, sẽ được mời đi qua cửa sau để vào nhà, và tặng cho chủ nhà một món quà như tiền, bánh mì, than đá để chúc gia chủ sẽ có được may mắn, đủ đầy trong năm nay.

7/. Ireland : Nếu bạn đang muốn đường tình duyên của mình khởi sắc trong năm mới, có thể học hỏi cách người Ireland đặt nhánh tầm gửi dưới gối trước khi đi ngủ đêm giao thừa để cầu mong cho chuyện tình cảm tốt đẹp hơn. Tại Ireland, những người còn độc thân sẽ đặt nhánh cây tầm gửi, cây nhựa ruồi, hoặc cây thường xuân dưới gối với ước nguyện sẽ sớm tìm thấy người bạn đời của mình.

8/. Tây Ban Nha : Vào đúng nửa đêm, người Tây Ban Nha sẽ ăn 12 quả nho trong 12 tiếng chuông mừng năm mới để gặp may mắn cả năm. Mỗi quả nho tượng trưng cho một tháng trong năm vào cần được ăn trong thời khắc Giao thừa. Nếu sau 12 tiếng chuông ai không ăn hết nho thì điều đó được coi là không may.

Người Tây Ban Nha cũng kiêng bước chân trái đầu tiên khi ra vào nhà vào đêm giao thừa hay đi ra khỏi nhà vào sáng hôm sau. Đồng thời, mặc đồ lót đỏ cũng sẽ mang may mắn đến cho cả năm nhưng hãy nhớ rằng phải là đồ người khác cho thì mới được!

9/. Hà Lan : Giống như người Việt Nam ăn bánh chưng vào tết Nguyên Đán, người Hà Lan có truyền thống thưởng thức món bánh Olie bollen – một loại bánh có hình tròn để đón năm mới. Bởi theo quen niệm của người dân nước này, cắn một miếng bánh phồng to vào ngày đầu năm có nghĩa là bạn sẽ được hưởng những điều tốt đẹp, trọn vẹn trong năm tiếp theo.

Một phong tục thú vị khác ở Hà Lan là đốt cây thông noel. Những cây thông được giữa lại từ Giáng sinh sẽ được mang đi đốt thành những đống lửa lớn, như một nghi lễ giúp người Hà Lan xua đi những điều đen đủi của năm trước. Người dân Hà Lan cũng có thói quen dọn dẹp căn nhà của họ vào dịp năm mới.

10/. Ý : Trước đây, người Ý có thói quen đón năm mới bằng cách vứt tất cả những thứ đồ không cần đến qua của sổ. Tuy nhiên ngày nay, người ta ưa chuộng phong tục đón năm mới an toàn hơn là mặc đồ lót màu đỏ và ăn đậu lăng hầm.

Trước khi qua năm mới, chuông sẽ điểm 12 tiếng đếm ngược về lúc 0 giờ của ngày mới, và cứ mỗi tiếng chuông vang lên người ta lại ăn một muỗng đậu hầm. Trong quan niệm của người Ý, đậu hầm đại diện cho tiền xu, vì vậy ai ăn được càng nhiều thì sẽ càng may mắn.

11/. Scotland : Đêm giao thừa ở Scotland được gọi là “Đêm của Nến”. Để chuẩn bị cho năm mới, mọi người thường dọn dẹp nhà cửa và thanh lọc nhà bằng nghi lễ đốt nhánh cây bách xù và đem xông khắp nhà. Vào đêm nay, các gia đình cũng sẽ đặt những đồng tiền trước cửa, khi chủ nhà ra mở cửa vào sáng ngày hôm sau, đồng tiền đó sẽ là đồng tiền phát tài của cả năm.

Người Scotland cũng có tục xông nhà như người Anh. Họ tin tưởng rằng, việc mời một anh chàng đẹp trai, cao ráo với nước da hơi ngăm vào nhà đầu tiên của năm mới thì có nghĩa là may mắn cũng sẽ đến theo.

Châu Mỹ

12/. Mỹ : Trong đêm cuối cùng của một năm, người Mỹ thường đốt đi những vật dụng cũ không dùng tới. Thời điểm nay, mọi người sẽ tụ tập ở các nhà thờ và quảng trường lớn để cùng nhau hát hò, chúc tụng và chờ đợi khoảng khắc giao thừa đang đến gần. Đúng 12 giờ đêm, các nhà thờ ở Mỹ sẽ đồng loạt gióng chuông báo hiệu. Người Mỹ sẽ đồng loạt hô: “Chúc mừng năm mới” và giành cho nhau những cái ôm hôn nồng thắm nhất.

13/. Chile :  Không giống như các nước châu Âu, người thị trấn Talca ở Chile sống tại khu vực Nam Mỹ có thói quen đón giao thừa ngay trong những nghĩa trang của người chết. Người Chile tin rằng giao thừa chính là dịp để sưởi ấm cho những ngôi mộ lạnh lẽo, nơi những người thân đã khuất trở về và chờ đợi họ mỗi năm. Đón giao thừa tại nghĩa trang sẽ giúp những người yêu thương nhau có thể cùng bắt đầu một năm mới hạnh phúc.

Ở nghĩa trang, người ta sẽ mở những bản nhạc cổ điển và thắp những cây nên lung linh trước mọ người thân, cùng nhau kể lại những câu chuyện về gia đình và đón chào năm mới đến gần.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG KIÊNG KỴ NÊN TRÁNH

TRONG NGÀY TẾT

ĐỂ MAY MẮN CẢ NĂM

Người Việt quan niệm, những ngày đầu năm mới nếu gặp nhiều điều tốt thì sẽ may mắn cả năm và ngược lại. Xuất phát từ quan niệm đó nên từ xưa trong dân gian có rất nhiều kiêng kỵ trong ngày Tết Âm lịch.

1/- Không quét nhà vào ngày mồng Một : Trước Tết các gia đình đều quét dọn nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng nên vào ngày Tết không cần dọn dẹp nữa. Những ngày đầu năm, các gia đình đều kiêng quét nhà bởi theo quan niệm nếu quét nhà là sẽ hất tài lộc ra khỏi cửa.

2/- Không đổ rác ngày mồng Một : Phong tục này xuất phát từ câu chuyện của người Trung Quốc. Truyện kể rằng ngày xưa có một người lái buôn được Thủy thần tặng một nàng hầu tên là Như Nguyệt. Kể từ khi có nàng hầu này về nhà, ông ta bỗng trở nên giàu có. Đến một năm, đúng ngày mùng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi, bị ông chủ đánh đập, mắng nhiếc thậm tệ nên nàng tủi thân, biến vào đống rác. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đấy, ông ta trở lại nghèo khó. Bởi vậy, người Việt Nam quan niệm nếu đổ rác ngày mồng Một thì cũng hết tài lộc của gia đình.

3/- Không cho lửa đầu năm :  Lửa tượng trưng cho màu đỏ, cho sự may mắn nên vào những đầu năm, mọi người đều kiêng kỵ cho lửa người khác.

4/- Không cho nước đầu năm : Nước là một trong những nguyên tố khởi nguyên của vũ trụ nên người Việt Nam quan niệm, nước tượng trưng cho sự sinh sôi ”Tiền vào như nước”. Hình ảnh nước đầy ăm ắp tượng trưng cho sự may mắn, sinh sôi, mát lành

5/- Không đi chúc Tết sáng mồng Một : Người Việt Nam thường tránh đi chúc Tết sáng đầu năm vì không muốn xông đất nhà người khác. Với người Việt Nam người xông đất rất quan trọng, ảnh hưởng đến cả gia đình trong một năm. Ngày mồng một Tết người Việt Nam thường chỉ đi thăm họ hàng, người thân.

6/- Không làm đổ vỡ đồ dung : Người Việt Nam quan niệm đổ vỡ đồ dùng trong nhà như bát đĩa, ấm chén, gương trong ngày đầu năm báo hiệu cho sự chia lìa, đổ vỡ nên rất kiêng kị.

7/- Không tranh cãi, bất hòa : Vào những ngày Tết, mọi người thường cố giữ hòa khí, không tranh cãi, gắt gỏng dù có khó chịu đến thế nào. Người lớn tránh quát mắng, trẻ con không khóc lóc để giữ cho hòa khí một năm luôn vui vẻ, hòa thuận.

8/- Kiêng quan hệ nam nữ : Trong ngày Tết, mùng 1, ngày rằm, người phương Đông có quan niệm kiêng khem, tránh việc gần gũi nam nữ. Bởi lẽ, theo quan niệm cổ xưa, việc quan hệ nam nữ vào những ngày này sẽ dẫn đến những điều vận hạn đen đủi, không may mắn, thậm chí là đại hạn.

9/- Không vay mượn đầu năm : Ngày đầu năm đều tránh cho vay, đi vay, đòi nợ hay trả nợ.Vì theo quan niệm, nếu đi vay thì cả năm sẽ túng thiếu cùng quẫn còn cho vay thì tiền bạc phân tán, không được may mắn, phát đạt.

10/- Kiêng để tang vào ngày mồng Một : Ngày mồng Một là ngày vui của tất cả mọi người nên những nhà nào có tang sẽ được cất khăn tang trong vòng ba ngày, nếu có người mất đúng vào ngày mồng Một thì gia chủ sẽ không phát khăn tang ngay mà để sang sáng mồng Hai, còn nếu nhà có người mất vào ngày 30 thì gia chủ thường thực hiện tang lễ trong ngày hôm đó tránh để sang ngày mồng Một. Những gia đình có tang tránh đi chúc Tết, thăm hỏi người khác.

11/- Kiêng nói những điều xui : Những phát ngôn đầu năm sẽ có ảnh hưởng đến những chuyện sẽ xảy ra trong năm. Vì vậy, bạn đừng nên nói những từ xui xẻo như “Chết mất” hay ” Tiêu rồi”,”Hỏng rồi”. Đó là những từ không may mắn, thay vào đó bạn nên nói chuyện với mọi người bằng những từ ngữ dễ chịu, vui vẻ, và những câu mang lại may mắn không chỉ cho bản thân mà cho cả người xung quanh mình.

12/- Kiêng ăn món xui : Ngày đầu năm, người Việt không ăn những món như thịt vịt, cá mè, thịt chó vì theo quan niệm đó là những món ăn không tốt cho năm mới. Ngoài ra, một số vùng không ăn tôm vì sợ… đi giật lùi như tôm. Nếu ăn trong ngày Tết, công việc sang năm sẽ lùi chứ không thể tiến tới.

13/- Kiêng mua đồ xui : Dân gian có câu “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”, mua gì đầu năm cũng là một việc rất quan trọng bởi nó là món hàng đầu tiên gia chủ mang về nhà. Món hàng mua đầu năm được coi là mua để lấy hên, lấy lộc, bởi “của mua là của được”. Món hàng này mang nhiều ý nghĩa tâm linh hơn thực dụng. Đầu năm kiêng mua dao, thớt, chày, cối… Người ta hay mua muối ngay sáng sớm mùng Một với hàm ý cả năm đậm đà, ý vị.

14/- Xông nhà khi không hợp tuổi : Xông nhà hay còn gọi là xông đất, đây là phong tục tập quán lâu đời của người Việt. Nếu như có một người khách đầu tiên đến chúc Tết gia đình bạn trong năm mới thì người đó chính là người xông đất cho gia đình bạn. Nếu như người đó hợp tuổi với gia đình bạn, hoặc là người luôn gặp may mắn trong cuộc sống thì gia đình bạn sẽ có được nhiều điều may mắn trong năm mới. Vì vậy, những người “nặng vía”, không hợp tuổi với gia chủ đừng nên đến xông nhà ngày đầu năm. Người có tang không nên xông đất nhà người khác để tránh xui xẻo.

15/- Đóng cửa sẽ đói nghèo tù túng : Trong dịp Tết, trừ khi phải ra khỏi nhà đi chơi, thăm hỏi… vì theo tín ngưỡng dân gian từ sớm mồng một đến trước ngày rằm tháng giêng, Ngọc Hoàng cùng chư vị thần tiên sẽ giáng phàm du lý từng nhà và nếu đóng kín cổng, các vị coi như sự bất kính mà giận dỗi bỏ đi và cả năm, thậm chí nhiều năm sau gia đình sẽ không được hưởng phúc, sẽ bị đói nghèo, tù túng.

16/- Tắm rửa, gội đầu hao mòn kiến thức, phúc lành : Ở nhiều nơi, trong dịp Tết thường kiêng tắm rửa, gội đầu trong ngày Tết bởi e ngại thần tướng hao mòn, kiến thức, tài năng cùng phúc lành đã có trong năm cũ bị trôi sạch. Cũng kiêng giặt giũ vào mồng một Tết vì nó ứng với ngày thủy bá, vị thần của sự sinh sôi, thịnh vượng, việc xả đi nhiều nước sẽ làm tổn phúc lộc.

17/- Ăn dở, bỏ thừa cả năm mất mùa, đói khát : Dù món ăn ngày Tết thế nào, cũng tránh ăn nhè, nhả bã, bỏ phí, nếu không cả năm sẽ bị mất mùa, đói khát… Đặc biệt tránh để thừa cơm, gạo khiến sau này lấy phải người chồng/vợ bị rỗ nặng.

Tránh chống đũa vào bát gây sự chậm trễ trong công việc, thua lỗ khi buôn bán và nếu làm nghề nấu ăn thì rất ít khách. Để chữa lại việc bỏ dở ăn uống, ở các lần sau người ta thường ăn cam, dưa, xoài, đu đủ… nhờ có màu đỏ hồng, vị ngọt thơm sẽ mang lại sự may mắn và thành công… Trẻ con thường được khuyên không ăn chân gà tránh viết xấu như gà bới, văn phong cẩu thả, lại hay gây lộn.

18/- Kiêng mở tủ vào mùng Một : Dù là loại tủ gì, kể cả tủ quần áo, cũng không nên mở vào ngày mùng 1 Tết, bởi việc này sẽ làm thất thoát tiền tài và vận may suốt cả năm. Vì thế, người xưa thường chuẩn bị sẵn quần áo cần mặc, treo ra ngoài trước giao thừa.

19/- Kiêng ăn đuôi cá : Ở miền Bắc có một số nơi cầu may năm mới bằng việc ăn cá chép – loài cá vượt vũ môn hóa rồng. Nếu ăn cá chép trong ba ngày đầu năm mới thì trong năm đó sẽ được hanh thông trong chuyện học hành, thăng tiến. Tuy nhiên, nhằm tăng sự may mắn, người ta tránh ăn phần đuôi, để luôn có dư thừa, tích lũy của cải trong năm mới, chứ không chỉ đủ ăn đủ mặc.

20/- Kiêng trượt chân, vấp ngã : Trẻ con, thanh niên thường được người có tuổi dặn dò phải đi đứng cẩn thận, ngay ngắn trong ngày Tết, tránh trượt chân, vấp ngã vì như vậy sẽ bị dông cả năm. Trượt chân hay vấp ngã tượng trưng cho sự xui xẻo, trục trặc trong công việc.

21/- Kiêng ngồi hoặc đứng trước cửa : Việc đứng hay ngồi án ngữ trước cửa chính trong dịp năm mới không chỉ vô duyên mà còn được coi là hành động gây phương hại đến vượng khí gia đình. Luồng khí tốt lành của năm mới trên đường vào nhà sẽ bị chặn lại, hao tán đi, khiến gia đình đó không được may mắn, thành công, hạnh phúc.

22/- Kiêng vỗ vai, quàng vai người khác : Hành động thân mật, bỗ bã này nếu được bạn thực hiện trong những ngày đầu năm mới thì rất có thể gây ra sự khó chịu, thậm chí phản ứng tiêu cực. Nhiều người cho rằng khi bị người khác vỗ vai, quàng vai vào dịp Tết, họ sẽ bị xui xẻo, gặp chuyện buồn về tình duyên hay hạnh phúc gia đình.

Thật ra ngay cả trong những ngày bình thường, nhiều người Việt đương đại cũng tránh tối đa việc bị người khác vỗ vai hay quàng vai.

23/- Kiêng chúc Tết người đang nằm ngủ : Ngày xưa đất tuy rộng nhưng không phải gia đình nào cũng có nhà to để phân ra thành phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách. Vì thế không hiếm trường hợp, khách đến nhà chúc Tết vào sáng mùng một, thấy vẫn có người nằm ngủ do phải thức khuya vào tối giao thừa.

Đã đến nhà người ta thì phải xởi lởi mà chúc Tết, thế nhưng họ không chúc người đang nằm ngủ đó. Nếu không, lời chúc tốt đẹp lại bị xem như lời trù ẻo, muốn cho người ta phải nằm li bì trên giường bệnh. Vì thế, nếu có lòng, khách phải đợi đến khi người đó ngủ dậy mới nói ra lời chúc với họ.

24/- Kiêng đánh thức người khác trong ngày mùng 1 Tết : Gặp trường hợp đi chúc Tết nhà người ta, muốn dành lời chúc cho người đang ngủ nhưng không thể đợi lâu, tốt nhất là vị khách nên chờ dịp khác chứ không được đánh thức anh ta dậy. Không chỉ khách, ngay cả người nhà cũng không nên đánh thức ai trong ngày này, mà phải để người ta tự dậy. Nếu không, người nằm ngủ đó sẽ phải chịu sự thúc giục của người khác trong công việc quanh năm.

25/- Kiêng mặc quần áo màu trắng, đen : Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh… để tạo nên sự hưng phấn và vui vẻ. (Nguyên Thảo (tổng hợp – Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Xuân Mai chuyển tiếp

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

LUẬN BÀN VỀ BÙA NGÃI

Trong thế giới của pháp thuật tồn tại nhiều bí kíp kỳ lạ. Bùa ngải là một trong số đó, những câu chuyện đồn đại xung quanh chúng vẫn là những điều đầy hấp dẫn và nhuốm màu huyền bí.

Thuật luyện những giống thực vật đặc biệt và truyền cho chúng những khả năng siêu nhiên để sai khiến vào thực hiện những nhiệm vụ như đoán biết tương lai, cải tạo số phận, hay chữa trị bệnh nan y… thời xa xưa khá thịnh hành ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Campuchia, Lào và khu vực Đông Nam Á. Người ta gọi đó là luyện ngải và họ tin rằng ngải giúp con người chế ngự sức mạnh huyền bí.

Những pháp sư cao thủ dành cả cuộc đời mình để luyện “công lực”, họ có thể biểu diễn những kỹ năng kinh dị như nhúng tay vào vạc dầu sôi, hay dùng đinh đâm xuyên qua người… Sau khi đã luyện thành cao thủ, họ sẽ tìm và chăm sóc một số loài thực vật mà theo họ có khả năng đặc biệt để truyền các “công lực” sang.

Các thầy pháp thuộc diện cao thủ bao giờ cũng là những tay chuyên luyện bùa ngải hay độc trùng. Thông qua việc nuôi ngải, luyện độc trùng, các pháp sư khẳng định quyền năng của họ, qua đó đánh giá tài cao thấp.

Theo những câu chuyện lưu truyền về thế giới bùa ngải, loại ngải quý hiếm nhất phải kể đến là Phù phấn ngải. Đây là một loại thực vật giống với hoa lan đất nhưng có bộ rễ lớn hơn, thường mọc trong rừng thẳm. Loại ngải này có một lớp bột mịn phủ trên lá, nếu ai vô ý đụng phải sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, sau đó toàn thân sưng phù, đau đớn trong khoảng 100 ngày sẽ chết nếu không được các vị cao tăng cứu chữa. Vì nếu được tôi luyện đúng cách sẽ trở thành một loại ngải cứu người rất quý.

Những cao tăng muốn tìm được loại ngải này phải vào sâu trong rừng thẳm. Khi tìm được phải loại bỏ lớp phấn độc bên ngoài một cách rất khéo rồi đem trồng vào một chậu đất nung, sau đó cho các chất tượng trưng cho Ngũ hành vào (gồm có đất núi, diêm sinh, sắt, gỗ mục, muối biển). Sau khi nuôi trồng ngải rồi, người ta đặt ngải lên bàn thờ và bắt đầu luyện ngải bằng các huyền phép của bản thân.

Khi ngải được luyện xong trong nó sẽ có 2 phần được gọi là thiên năng (năng lực tự nhiên) và linh phù (năng lực của người luyện). Các tay luyện ngải cao cấp còn nuôi ngải bằng trứng gà, hoặc máu gà. Họ cho rằng làm như vậy ngải sẽ mạnh hơn.

Nhưng với những người non tay, luyện cách này có thể gây nguy hại cho chính họ. Phù phấn ngải luyện xong dùng để trị bệnh mất trí, hoảng sợ thậm chí có thể tìm được người bị mất tích.

Một loại ngải còn quý hiếm hơn và bị thất truyền hàng trăm năm là Bạch đại ngải. Người ta cho rằng Bạch đại ngải mọc ở đâu thì các loài thú dữ đều hoảng sợ và không dám sinh sống ở quanh đó. Nếu ai đó trồng loại ngải này mà không biết về tu luyện thì sẽ nguy hại cho bản thân. Trước khi nhổ cây phải ngâm một bài bùa chú, đại khái : “Nhiệm màu thay, nhiệm màu thay / Bạch đại ngải, Bạch đại ngải…”. Nếu loài ngải này mà được một cao tăng luyện thì sẽ trở thành một loại có thể giúp con người cải tử hoàn sinh.

Những thầy pháp sư thiếu “nhân cách”, chạy theo vụ lợi cá nhân hay rình rập để luyện một loại ngải hại người đó là ngải yêu hay bùa mê, thuốc lú. Đó là thứ ngải để “lừa tình”. Ai bị trúng ngải đó tâm thần mê man, không biết gì về đạo lý, bỏ nhà cửa chạy theo tiếng gọi của ái tình. Những người bị trúng ngải yêu có dáng điệu luôn suy tư, hờ hững với xung quanh.

Loại Mê tâm ngải có tác dụng tương tự. Cây Mê tâm lá màu xanh sẫm to bản hình cái kiếm, hoa màu tím đen có đốm trắng, có mùi hắc rất khó chịu. Người trúng ngải này sẽ mất ăn mất ngủ, tâm thần bất loạn. Những kẻ muốn dùng ngải mê tâm hại người bắt buộc phải biết tên tuổi của nạn nhân thì mới thành công. Những tay nuôi loại ngải này thường bị dân làm ngải coi thường, liệt vào loại mờ ám.

Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ. Muốn tìm được loại Huyết nhân ngải phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nhìn thấy và nhổ được vì ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu.

Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú, luyện để loài Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách.

Tại Trung Hoa có một loài thực vật rất quý hiếm mọc trong rừng sâu, trên những thân cây gỗ mục. Có những pháp sư cả đời đi tìm không thể thấy, nhưng nếu ai có duyên sẽ gặp được đó là loại Mai hoa xà vương ngải. Theo những tài liệu về bùa ngải thì loài này có thân mềm mại, lá xanh có đốm vàng trông như rồng cuốn. Hoa nở màu sắc vàng, hồng rực rỡ, có mùi hương vô cùng quyến rũ. Xung quanh cây ngải này có nhiều rắn chúa Mai hoa đến ở vì thế nên người ta lấy tên Mai hoa xà vương để đặt cho nó.

Loại ngải này nếu luyện được thành công, khi ngậm vào miệng sẽ giúp thân thể cứng rắn như thép, dao chém không đứt. Nếu chẳng may ngải Mai hoa chết, người luyện ngải phải làm lễ ma chay rất trang trọng và đem chôn cây ngải trên vùng núi cao thoáng mát.

Ngày nay, những câu chuyện đậm màu huyền bí vẫn là đề tài hấp dẫn những người hiếu kỳ trong lúc “trà dư, tửu hậu”. Mặt khác, các nhà Đông y học đang tiếp tục nghiên cứu những loài thực vật rất quý hiếm đó nhằm bảo tồn và phát hiện những dược chất giúp ích thực sự cho con người.

TÌM HIỂU VỀ

THUẬT TƯỚNG SỐ CỔ ĐẠI

TRUNG QUỐC

Trong cuộc mưu sinh trên cõi đời này, con người luôn đặt ra cho mình hàng loạt câu hỏi cuộc đời này sẽ ra sao, sẽ đi về đâu, mình sẽ gặp may mắn hay xui rủi, khoẻ mạnh hay bệnh tật, giàu hay nghèo.v.v. và người ta đã đi tìm câu trả lời trong các thuật tướng số.

Ở Trung Quốc thì thuật tướng số và tử vi là có ảnh hưởng hơn cả. Từ Khổng Tử cho đến các nho gia đời sau rất nhiều người đã nghiên cứu và tinh thông tướng số. Ngày nay thì thuật tướng số vẫn còn rất thịnh hành ở nhiều nơi như Ma Cao, Đài Loan, Hồng Kông và cả Trung Quốc đại lục nữa.

Khởi nguồn và quá trình phát triển của Tướng thuật cổ đại Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước có nền văn minh cổ đại với bề dày lịch sử đến 5000 năm. Trong suốt chặng đường lịch sử huy hoàng nà thì tướng thuật đã được hình thành từ văn hoá truyền thống cổ đại Trung Quốc và cũng sở hữu một cội nguồn lịch sử sâu xa. Thuật xem tướng đã được ra đời và thịnh hành trong dân gian từ cổ xưa cho đến thời hiện đại ngày nay, nó không phải là một hình thức bói toán thiếu cơ sở mà đã được hình thành và phát triển trải qua hàng ngàn năm trước đây.

Tướng thuật còn gọi là tướng mệnh hay mệnh tướng học bao gồm xem tướng sao, tướng tay, tướng mặt, tướng xương, tướng người, là một loại phương thuật truyền thống. Nó có lịch sử lâu đời và là một hiện tượng xã hội xuất hiện ở hầu khắp các xã hội loài người. Trong thời kỳ coi trọng sự kiểm nghiệm các giá trị văn hoá truyền thống như hiện nay thì việc đánh giá và thẩm định đối với tướng thuật là điều cần thiết.

Lý luận cơ bản của thuật tướng số cổ đại Trung Quốc

1/- Thiên can địa chi : Thiên can địa chi là hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước có nền văn hóa Á Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,  Đài Loan, Singapore và một số quốc gia khác. Nó được áp dụng với tổ hợp chu kỳ sáu mươi trong âm lịch nói chung để xác định tên gọi của thời gian cũng như trong chiêm tinh học. Người ta cho rằng nó có xuất xứ từ thời nhà Thương ở Trung Quốc. Trong đời sống thì hệ can chi được gọi đơn giản là 12 con giáp.

2/- Âm dương ngũ hành ; Âm dương ngũ hành vốn là hai khái niệm triết học gắn liền với nhau, có thể bao quát toàn bộ giới tự nhiên và xã hội con người. Mối quan hệ máu thịt giữa văn hoá thuật số Trung Quốc cổ đại với văn hoá phong kiến chính thống đã quyết định việc tướng thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết âm dương ngũ hành.

Các nhà tướng thuật thời cổ không chỉ mô phỏng những tư tưởng chính thống của giới phong kiến khi dùng nguyên lý âm dương biến hoá và lý luận ngũ hành sinh khắc để giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội, mà còn phát triển thêm một bước là đem lại cho chúng những quan niệm mang tính huyền bí và ứng dụng vào các thuật số như xem bói, tinh mệnh, tướng pháp,… để suy đoán về vận mệnh cá nhân tướng thuật cổ đại Trung Quốc cho rằng trời đất vạn vật đều có thể quy vào ngũ hành, cũng có nghĩa là con người và vạn vật tự nhiên có cùng nguồn gốc sinh ra.

Xét về lý luận của ngũ hành thì hình thể, khí chất của con người cũng có thể phân thành năm hình thái là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, từ đó hình thành nên tướng pháp ngũ hành.

3/- Phương pháp xem tướng số theo tứ trụ : Phương pháp này tương tự như tử vi nhưng phức tạp và khó nắm vững hơn vì thế ít người biết. Nó còn có thể giúp con người tìm ra giải pháp cho các cung mệnh có vấn đề. Phương pháp này do Lạc Lộc sáng tạo từ đi nhà Ðường bên Trung hoa. Nhưng theo một tài liệu khác thì ông ta sống ở đời nhà Hán cách nay trên 2000 năm.

Có thể đúng  vì học thuyết ngũ hành xuất hiện vào thời kỳ này ở Trung Hoa và toàn bộ khoa tứ trụ đều xây dựng trên ngũ hành. Có thể thấy rõ được trọng tâm  lý luận của Lạc Lộc chính là trụ năm. Phương pháp này sau đó được nhà thông thái của Hoàng gia nhà Ðường, thâm cưú bổ túc thêm nhưng vẫn còn dưới dạng các bài phú.

Khoa này cũng dùng cát thần và hung sát tương tự trong tử vi để giải đoán  vận mệnh. Chúng ta chỉ cần sử dụng khoảng 15 thần sát thường dùng là đủ vì cốt tuỷ vẫn phải là ngũ hành sinh khắc chế hoá.

Bàn luận về thuật tướng số Trung Quốc

1/- Có phải người xưa đều tin vào tướng số ? Tướng số không phải là mê tín vốn đã có từ thời xa xưa. Vì cuộc đời một người đã được định sẵn. Tướng số tồn tại chính vì muốn bảo cho con người biết rằng nên sống thuận theo tự nhiên. Các việc tốt, việc xấu con người gặp trong đời đều do nhân duyên, không phải chuyện vô duyên vô cớ. Và nếu như con người muốn kiếp sau được sống hạnh phúc thì chắc chắn kiếp này phải làm nhiều việc thiện tích đức, không làm việc xấu việc ác. Kỳ thực đây là một bộ phận của văn hóa thần truyền.

Tất cả các triều đại từ thời xa xưa cho đến nay từ vương tôn quý tộc đến bá tánh bình dân đều thích xem tướng mong sao biết trước tương lai, mời lành tránh dữ. Các nhân vật chính trị hiện nay cũng rất thích xem tướng, nếu như gặp được thầy đoán mệnh vào hàng cao nhân, vị thầy này sẽ khuyên người kia làm nhiều việc thiện, tích nhiều âm đức, như vậy thì cuộc đời chính trị mới bền lâu.

2/- Thuật tướng số giống như một môn khoa học dự báo : Thuật tướng số lý luận về số phận con người hay số phận cuộc đời. Từ những tri thức về những quy luật khách quan của khoa học tướng số có thể giúp chúng ta khám phá ra những bí ẩn của con người và cuộc đời, sự kiện và quá trình có thể hay tất nhiên sẽ xảy ra…

Nói là khoa học dự đoán không phải là không có sở chứng cứ. Bởi mỗi người sinh ra đều có giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, đó là cơ sở khoa học để xem số mệnh con người. Tiếp đó là hình hài của mỗi người, thể hiện ở cái bên trong ra cái bên ngoài cũng là cơ sở để xem tướng mạo. Rồi sự tác động của tự nhiên, cùng với vận nước, vận nhà cũng ảnh hưởng đến số phận con người và cuộc đời.

Suy cho cùng thuật tướng số giống như một thứ khoa học dự báo có pha chút thần bí duy tâm. Chính vì lẽ đó mà nó luôn là vấn đề nóng của xã hội suốt hàng ngàn năm nay. Trong một thời gian dài, thuật tướng số bị coi là mê tín, là tàn tích của xã hội phong kiến và đã bị cấm đoán một cách nghiêm ngặt. Thế nhưng cái gì càng cấm lại càng khơi gợi tính tò mò của con người. Thuật tướng số vẫn tìm mọi cách lưu hành một cách lén lút vụng trộm.

Có thể thấy thuật tướng số từ lâu đã có sức lôi cuốn rất mạnh mẽ đối với rất nhiều người, nhiều giới trên một phạm vi hết sức rộng lớn. Dù muốn hay không chúng ta cũng không thể phủ nhận đây là một hiện tượng văn hoá đã cắm rễ rất sâu vào đời sống con người. Và chúng ta cũng không thể phê phán nó một cách đơn giản, một chiều.

Thuật tướng số cổ đại Trung Quốc đã phần nào cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện, thấu đáo về vấn đề tướng số từ góc độ của một nhà khoa học công tâm và sòng phẳng đi sâu tìm hiểu, phân tích và đánh giá cái hợp lý cũng như cái không hợp lý.

6 CHUYỆN TÂM LINH HUYỀN BÍ

TỪNG CHẤN ĐỘNG NĂM 2013

Những câu chuyện tâm linh, những vấn đề ngoại cảm đã trở thành những chủ đề nóng trong thời gian vừa qua. Điều bí ẩn phía sau chúng thực hư ra sao vẫn là tâm điểm chú ý rất nhiều từ phía dư luận.

H1: Được đưa ra đầu năm 2013, kế hoạch xây cầu vượt 4 làn qua vị trí đàn Xã Tắc ở Hà Nội đã gây tranh cãi gay gắt trong giới nghiên cứu lịch sử, văn hóa ở Việt Nam. Luồng ý kiến phản đối cho rằng việc xây cầu vượt là “đi trên đầu tổ tiên”, trong khi những người ủng hộ nhấn mạnh những ý nghĩa về mặt giao thông nếu công trình này được xây dựng.

H2: Vào tháng 4, chuyện một “hòn đá lạ” được đặt làm… bùa chú ở phía bên trái, ngay trước cửa vào hậu cung của nơi tôn nghiêm ở Đền Thượng thuộc quần thể di tích Đền Hùng, Phú Thọ đã khiến nhiều người ngạc nhiên và hoang mang. Sau khi bị nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa phản đối, những người quản lý di tích đã phải di dời hòn đá khỏi khu vực này.

H3: Khi chuyện về “hòn đá lạ” Đền Hùng chưa lắng xuống thì chuyện cột đá Thề trước cửa Đền Thượng bị người ta ngang nhiên dời đi để thay bằng một khối đá hoa cương lạ lẫm. Về vấn đề này, ban giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng giải thích rằng, cột đá cũ không phải là hiện vật cổ mà mới chỉ được dựng lên từ năm 1968, việc thay bằng một cột đá mới đẹp hơn là điều hợp lý.

H4: Cuối tháng 10, cả nước bàng hoàng trước vụ việc bác sĩ của thẩm mỹ viện Cát Tường vứt xác của chị Lê Thị Thanh Huyền xuống sông Hồng phi tang sau khi làm nạn nhân thiệt mạng. Trong quá trình tìm kiếm xác chị Huyền, rất nhiều người tự xưng là “nhà ngoại cảm” xuất hiện và “phán” như đinh đóng cột về địa điểm có xác nạn nhân, nhưng cho đến nay cuộc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả.

H5: Chương trình “Trở về từ ký ức” do VTV trình chiếu vào tháng 11 đã gây sốc khi cho rằng phần lớn hoạt động tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở Việt Nam là lừa bịp để trục lợi. Chương trình này khiến năng lực của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng bị đặt vào vòng nghi vấn. Cùng thời gian này, nhà ngoại cảm “rởm” Nguyễn Thanh Thúy bị bắt vì đã tiến hành lừa đảo bằng chiêu bài “tìm hài cốt liệt sĩ” trên quy mô lớn.

H6: Vào ngày 7/12, tại cánh đồng Chằm, thôn Phú Mỹ (xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Hà Nội), người dân đã phát hiện một ngôi mộ cổ, kích thước dài khoảng 2m, rộng khoảng 70 cm, được kết cấu bởi 3 lớp, ngoài cùng là lớp gỗ mỏng – tiếp đó là lớp nhựa thông dày bao quanh bên trong là quan tài. Sau khi mở nắp mộ, các nhà khảo cổ đã thấy một xác ướp phụ nữ còn nguyên vẹn nằm trong dầu thơm. Sau khi nghiên cứu, mộ cổ sẽ được tiến hành hoàn táng. (theo Kiến thức)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN 9 CHIẾC GIẾNG

CHƯA BAO GIỜ CẠN

BÊN CHÂN NÚI ĐỌI

Nằm cách thành phố Phủ Lý hơn 10km, xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) nổi tiếng với làng nghề “trống Đọi Tam”, ngôi chùa cổ Long Đọi Sơn với hơn 1000 năm lịch sử, và lễ hội “Tịch Điền” vua xuống đi cày hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch cầu mùa màng bội thu.

Ngoài ra, Đọi Tam còn nổi tiếng với 9 chiếc giếng bên chân núi Đọi chưa bao giờ cạn và được mệnh danh là “9 mắt rồng” có từ thủa xa xưa. Về Đọi Tam hỏi thăm về 9 chiếc giếng được mệnh danh là “9 mắt rồng”, bên chân núi Đọi, những người dân nơi đây sẽ kể vanh vách về truyền thuyết của 9 giếng nước chưa bao giờ cạn đã gắn bó với họ từ thuở “khai thiên lập địa”.

Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Cũng chẳng ai biết 9 chiếc giếng này có tự bao giờ, chỉ biết khi sinh ra họ đã thấy và được nghe ông cha kể về sự tích của chúng. Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, sự tích 9 giếng mắt rồng không có sử sách nào ghi chép lại mà do người trong làng truyền miệng cho nhau đời này qua đời khác.

Tương truyền, xa xưa, làng Đọi Sơn xảy ra một cuộc đại hạn hán kéo dài trong nhiều năm liền. Những cánh đồng, làng mạc đều khô cằn vì thiếu nước, đói khát, mất mùa triền miên. Mặc dù người dân trong làng đã mời thầy về lập đàn cầu mưa nhưng vẫn vô vọng. Nạn hạn hán tiếp tục hoành hành, khiến cây cỏ héo khô, đất cằn cỗi… khiến người dân trong làng phải bỏ xứ mà đi tìm “miên đất mới”.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt

Nhưng chính lúc người dân bỏ đi nhiều nhất, trong một đêm tối, mây đen bắt đầu kéo đến đen kịt cả một vùng, gió bắt đầu nổi lên, từ trong những đám mây đen, người dân nhìn thấy 9 con rồng không biết từ đâu xuất hiện và bắt đầu phun mưa ngập trắng chân núi Đọi, cứu cả dân làng thoát khỏi trận hạn hạn lịch sử. Sau 9 ngày 9 đêm, 9 con rồng nhất loạt dừng lại và hóa thân thành 9 chiếc giếng nằm rải rác quanh chân núi Đọi.

Theo cụ Đinh Trọng Tế, một cao niên ở Đọi Nhất, xã Đọi Sơn cho biết: “Cả 9 chiếc giếng ở đây tượng trưng cho 9 mắt của 9 con rồng thiêng xưa kia đã phun mưa cứu cả làng khỏi nạn hạn hán. Dưới giếng có những hòn đá nổi lô nhô được xem là những cái vảy và móng rồng…”.

Ở đình Thánh Cả trên đỉnh núi Đọi nằm trong đình cũng có một cái giếng mắt rồng chứa đầy bí ẩn. Vì nằm trong đình nên quanh năm chiếc giếng này được đóng kín. Mặc dù nằm trên cao, nhưng chiếc giếng này quanh năm đầy nước và thường xuyên đùn lên ùng ục nguồn nước nóng ấm vào mùa đông.

Còn ở xóm Thái Bình, thôn Đọi Nhất có một giếng rồng được gọi là giếng sống, miệng chiếc giếng có đường kính khoảng 2 mét, sâu 3 mét. Điều đặc biệt nhất là lượng nước dưới giếng rất ít, chỉ sâu 60cm, nhưng với hơn 30 chiếc máy bơm của các hộ dân bơm cả ngày lẫn đêm nhưng lượng nước trong giếng không bao giờ vơi đi đến một đốt ngón tay.

Điều đặc biệt ở những chiếc giếng này dù cắm hàng trăm máy bơm phục vụ nước cho cả làng nhưng giếng chưa bao giờ cạn. Hiện một số giếng mắt rồng là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ người dân sống xung quanh núi Đọi. Có giếng được cắm hàng chục máy bơm hút nước ngày đêm nhưng nước giếng vẫn không hề cạn.

Nhiều người đặt câu hỏi, 9 con rồng phải có 18 giếng nước – tương ứng với 18 mắt? Người làng cũng kể rằng, năm 2003, cố Giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng đã đến Đọi Sơn tìm hiểu về 9 mắt rồng nhưng cũng chưa đưa ra được lời lý giải nào.

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt. Trong số 9 chiếc giếng, do tác động của con người, thời gian và chiến tranh, có 1 chiếc đã bị san lấp, người dân nơi đây gọi là giếng rồng mù. (theo Đức Văn)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

THẦN BÍ VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

MỘT NHÀ CÓ 3 CON GIÁP

HỢI – MÃO – THÌN

Tiền tài đến một cách tình cờ

Chỉ cần gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì mọi chuyện sẽ hóa rủi thành lành

Trong cuộc sống này không gì quý hơn tình thân, anh chị em máu mủ ruột thịt. Bởi dù đi đâu, làm gì thì nhà vẫn là nơi duy nhất chúng ta có thể quay về mà không phải đắn đo suy nghĩ. Từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, ai cũng có lúc vấp phải khó khăn trong cuộc đời. Những lúc như thế này thì chỉ có cha mẹ, anh chị em hay thậm chí là vợ chồng mới là người giúp chúng ta trải qua kiếp nạn, đồng hành cùng chúng ta vượt qua giông bão.

Bởi thế trong 12 con giáp, nếu gia đình nào có người thân thuộc 3 con giáp này thì hãy cứ yên tâm, mọi chuyện rồi cũng sẽ qua, sau cơn mưa trời sẽ lại sáng. Cùng xem đó là con giáp nào nhé !

1/- Tuổi Hợi : Trong số 12 con giáp, tuổi Hợi được xem là tuổi sung sướng nhất. Chính vì vậy những người thuộc tuổi này trời sinh có vận mệnh giàu có cùng sự đối đãi hậu thuẫn của thượng đế.

Nếu như trong gia đình bạn có người thân thuộc con giáp này thì giống như trong nhà có một “nồi vàng”. Không chỉ đơn giản mang đến tài lộc, mà những người tuổi Hợi còn mang đến cả vận may và hạnh phúc.

Họ không chỉ có khả năng đem tài vận lớn đến cho gia đình, mà còn khiến vận may của gia đình ngày càng tăng cao. Có đôi lúc khó khăn, nhưng nếu có tuổi Hợi trong nhà thì mọi thứ sẽ qua hết, kể cả cha mẹ, con cái đều được họ bảo bọc, che chở.

2/- Tuổi Mão : Những người tuổi Mão trời sinh có trí thông minh và óc sáng tạo tuyệt vời. Họ có một nguồn sinh lực vô cùng dồi dào và sẽ đạt được nhiều thành tựu trong xã hội. Với những “tài sản” mà tuổi Mão có được, bao gồm vật chất và tinh thần thì họ hoàn toàn có khả năng chăm sóc và cung ứng một đời cho gia đình của mình.

Gia đình có khó khăn, có sóng gió, nhưng chỉ cần tuổi Mão may mắn, có vận mệnh tốt thì mọi thứ cũng sẽ tốt lên theo.

Tuổi Mão đa số sống tình cảm, họ không bao giờ vị kỷ cho riêng mình mà sẽ luôn nhìn lại gia đình, giúp đỡ gia đình thịnh vượng. Không những thế họ còn là niềm tự hào của cha mẹ, anh em khi làm được những điều tuyệt vời.

3/- Tuổi Thìn : Trời sinh những người tuổi Thìn có vận mệnh giàu có phú quý. Một khi có ý định làm ăn và dốc hết sức mình vào công việc họ ưa thích thì chắc chắn họ sẽ làm giàu.

Nếu như trong nhà bạn có người thân thuộc con giáp này, nhất định phải đối đãi thật tốt. Bởi vì họ không chỉ đem phúc lợi tài lộc mà còn có khả năng giúp cả gia đình thịnh vượng.

Tùy hoàn cảnh của từng gia đinh mà bạn có thể không thấy được điều đó, nhưng trong tử vi những người tuổi Thìn có khả năng mang đến vận may cho cả nhà, khiến các thành viên trong gia đình có cuộc sống ấm no. (theo TTVN)

NHỮNG CHUYỆN THẦN BÍ

VỀ LOÀI RẮN 5 ĐẦU

Tới nay, người ta vẫn chưa thể xác minh loài rắn này thật sự tồn tại hay chỉ là sản phẩm trong trí tưởng tượng của con người.

Rắn luôn là loài động vật gây tranh cãi trên thế giới. Với nhiều quốc gia, rắn là hóa thân của tà ác. Nhưng đối với một số nước phương Đông như Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia… rắn đã trở thành một biểu tượng tâm linh và được tôn thờ. Người ta có thể bắt gặp hình ảnh rắn thần tại bất cứ đền, miếu nào.

H1: Tại Campuchia, rắn 5 đầu là hiện thân của thánh thần và là vị thần bảo hộ cho đất nước hưng thịnh. Có thể thấy, tượng rắn 5 đầu hoặc 7 đầu được khắc nhiều trên các khu di chỉ hoặc các đền miếu.

H2: Bức tượng thần rắn 7 đầu Naga đặt tại cổng vào đền Angkor Wat, Campuchia. Đây là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết nước này.

H3: Tượng thần rắn Naga tại Thái Lan. Tại đây, rắn được coi như hồn của âm vật, là thần mẹ, mang lại may mắn cho con người.

H4: Tại Ấn Độ, rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử và thiêng liêng. Thậm chí, người Ấn còn dành riêng một lễ hội dành cho rắn vào tháng 8 hàng năm với tên gọi Naga Panchami.

H5: Cách đây một thời gian, bức ảnh chụp một chú rắn 5 đầu xuất hiện tại gần đền thờ Karnataka từng khiến dư luận xôn xao, có người tin rằng, rắn 5 đầu có thật nhưng cũng có ý kiến cho rằng đó chỉ là sản phẩm của photoshop. H6: Chú rắn này bề ngoài trông giống hệt hổ mang bành, tuy nhiên thay vì chỉ có một chiếc đầu thì nó có tới 5 chiếc đầu.

H7: Dù bức ảnh bị nghi ngờ về độ xác thực nhưng trong tự nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận một trường hợp rắn 3 đầu mới và chú rắn này đã chết yếu khi còn nhỏ. H8: Một hình ảnh khác về chú rắn đột biến sở hữu hai chiếc đầu. H9: Dù vậy, bất luận rắn 5 đầu có thật hay chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thì không thể phủ nhận được ý nghĩa của loài vật đặc biệt này về mặt tâm linh với mỗi người. (theo Đất Việt)

NGƯỜI PHƯƠNG ĐÔNG ĐÓN

TẾT TRUNG THU NHƯ THẾ NÀO ?

Tết Trung thu sắp đến (đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm) là một trong những lễ hội lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số quốc gia châu Á khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…

H1: Là một trong những lễ hội truyền thống lớn được tổ chức hàng năm, Tết Trung thu ở một số nước châu Á có những phong tục vô cùng độc đáo.

H2: Người Nhật Bản đón Tết Trung thu vào ngày 5/8 âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ này, người dân tổ chức nhiều hoạt động khá náo nhiệt. Người Nhật vừa ngắm trăng tròn vừa ăn những món ăn truyền thống, trong đó không thể thiếu món bánh gạo nếp.

H3: Trẻ em Nhật Bản vui Tết Trung thu với lễ hội rước cá chép vô cùng độc đáo. Một số nơi trên đất nước Nhật Bản như các miếu, điện thờ tổ chức những lễ hội ngắm trăng với quy mô lớn.

H4: Vào ngày Rằm tháng Tám, người Hàn Quốc tưng bừng đón Tết Trung thu có tên gọi lễ Chuseok. Đây là ngày lễ mang ý nghĩa hội mùa. Do vậy, người dân thường lựa chọn các sản phẩm mới thu hoạch được như thịt, cá, rau, hoa quả, bánh gạo… để chế biến các món ăn thành kính dâng lên tổ tiên. H5: Lễ Chuseok diễn ra trong 5 ngày. Vào dịp lễ này, người dân Hàn Quốc cũng đi tảo mộ, sum họp gia đình và tặng quà cho những người thân.

H6: Người gốc Hoa ở Singapore cũng đón Tết Trung thu với nhiều hoạt động sôi nổi. Vào ngày lễ lớn này, các thành viên trong gia đình đoàn viên, quây quần bên nhau cũng như tỏ lòng biết ơn trời đất vì những cơ hội tốt mà mình may mắn có được. H7: Đặc biệt, người ta còn tặng quà cho người thân, bạn bè, đối tác kinh doanh… để thể hiện tấm chân tình và lời chúc phúc của mình.

H8: Vào ngày Rằm tháng Tám, người dân Thái Lan tổ chức lễ cúng trăng. Theo phong tục truyền thống, mọi người sẽ ngồi quây quần bên bàn thờ để thành tâm cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất. (theo Tâm Anh tổng hợp)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NGỤ Ý THẦN BÍ

CỦA 21 LOÀI ĐỘNG VẬT

TRONG KINH PHẬT

Nhà Phật lấy Từ Bi làm trung tâm, coi hết thảy chúng sinh là bình đẳng, bao gồm cả động vật. Voi tượng trưng cho cao quý; Sư tử là ẩn dụ của dũng mãnh và vĩ đại; Rùa vàng thể hiện tính sinh tử niết bàn…

Giáo lý nhà Phật cho rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau. Nhưng vì quan hệ nhân quả nên hình thái sinh mệnh mới khác nhau mà thôi. Chư Phật căn cứ vào đặc tính khác nhau của chúng sinh mà thuyết Pháp với giáo lý khác nhau để độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Trong các thuyết Pháp của Phật, ví dụ về động vật rất sinh động và hình tượng, trong đó, các câu chuyện ngụ ngôn về động vật khá thú vị và mang nội hàm sâu sắc. Đây cũng là một phương thức hữu hiệu để Đức Phật giáo hóa chúng sinh.

Dưới đây là giải thích sơ lược về 24 động vật thường được nhắc đến trong kinh Phật.

1/. Rồng : Trong kinh Phật, rồng là một trong bát bộ bảo vệ Phật Pháp. Kinh Phật viết rằng, họ nhà rồng có các loại khác nhau. Thủ lĩnh họ nhà rồng gọi là Long vương, có uy lực lớn mạnh nên được bảo vệ Phật.

Ngoài ra có một loại là “Phi Pháp hành long vương”, do không thuận theo Pháp, chuyên làm điều bất thiện, không kính Sa Môn và Bà La Môn, nên phải chịu quả khổ cát nóng đốt thân và chịu cái khổ bị chim Gia-lâu-la (Garuda) bắt ăn thịt. Trong các vua rồng, Ngũ đại long vương và Bát đại long vương là nổi tiếng nhất.

2/. Voi : Trong Phật giáo, voi tượng trưng cho sự cao quý. Phật giáo thường lấy vua voi để ngụ ý cử chỉ của Phật. Theo “Đại Bát nhã ba la mật đa kinh”, Phật có 80 tướng tốt, tiến dừng như vua voi, bước đi như vua ngỗng, dung nghi như vua sư tử.

Voi trắng ngụ ý không nhiễm chút phiền não, là tượng trưng cho chủng tính cao quý trong Phật giáo. Trong “Ma ha chỉ quán”, voi trắng sáu ngà đại diện cho sáu thần thông vô lậu của Bồ Tát. Voi có sức mạnh, biểu thị cho Pháp thân có năng lực lớn. Voi trắng sáu ngà biểu thị cho Lục độ (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ).

Trong các loài động vật, rồng và voi là loài có sức mạnh nhất ở dưới nước và trên mặt đất, do đó trong kinh điển thường gộp chung hai loài lại, lấy “Long Tượng” (rồng voi) để ví dụ rằng Bồ Tát có năng lực dũng mãnh hoặc uy nghi. Người đời sau còn mở rộng “Long Tượng” thành sức mạnh thiền định đặt biệt, hoặc ca ngợi các cao tăng đại đức, uy nghi, và trang nghiêm là “Pháp môn long tượng”.

3/. Sư tử : Sư tử là vua các loài thú, do đó rất nhiều kinh luận trong Phật giáo đều dùng sư tử để tỷ dụ Phật vô úy và vĩ đại. Như “Đại trí độ luận” có ghi, sư tử là vua loài bốn chân, độc bộ vô úy, có thể hàng phục tất cả. Phật cũng như vậy, ở giữa 96 ngoại đạo, Ngài hàng phục tất cả, do đó gọi là nhân sư tử.

Trong “Lược xuất kinh” viết : “Dưới gốc cây bồ đề, có được tất cả trí huệ vô tướng tối cao, dũng mãnh Thích Sư Tử (Sư Tử Thích Ca Mâu Ni dũng mãnh)”.

Phật thuyết Pháp bằng âm thanh vô úy, như tiếng gầm của sư tử, do đó cũng gọi Phật thuyết Pháp là “Sư tử gầm” (Sư tử hống). Ngoài ra, Pháp môn mà chư Phật Bồ Tát nhiếp hóa chúng sinh cũng gọi là “Sư tử Pháp môn”, tức là lấy vua sư tử để hiển thị công đức của chư Phật Bồ Tát.

Trong “Niết bàn kinh” lấy tiếng gầm của sư tử để liệt kê 21 việc, tương xứng với Pháp môn của Bồ Tát. “Bảo vũ kinh” liệt kê 10 thiện Pháp của Bồ Tát, so sánh với vua sư tử.

4/. Trâu : Trong Phật giáo, trâu cũng là động vật tượng trưng cho sự cao quý, có đủ uy nghi và đức hạnh. Trong 80 tướng tốt trên thân Như Lai, thì có một tướng là “bước đi an bình, như vua trâu (Ngưu vương)”.

Trong đức hiệu của Phật cũng dùng “nhân trung ngưu” để ca ngợi đức hạnh của Phật quảng đại vô biên. Trong “Pháp hoa kinh” dùng xe trâu để tỷ dụ Bồ Tát thừa, dùng xe trâu trắng lớn để tỷ dụ Phật thừa – Đại thừa diệp Pháp. Thiền tông dùng trâu để ví với tâm chúng sinh, như bức tranh “Thập ngưu đồ” (10 con trâu) nổi tiếng, tức là lấy chăn trâu làm chủ đề để đại diện cho 10 cảnh giới của người tu hành.

5/. Ngựa : Trong 32 tướng của Phật, có một tướng là “Mã âm tàng tướng”, cũng gọi là “Âm mã tàng tướng”, “Mã vương ẩn tàng tướng”, có ý nghĩa là Phật đã siêu thoát khỏi dục vọng nam nữ, mà hiển thị ra Mã âm tàng tướng.

Các kinh điển Phật giáo thường dùng ngựa tỷ dụ tâm niệm của chúng sinh, như “Tâm viên ý mã” (Tâm vượn, ý ngựa), tức là tâm ý bất định, như con ngựa hoang điên cuồng chạy. Trong kinh điển cũng dùng ngựa ngụ ý phân biệt bốn loại căn cơ của chúng sinh. Trong “Tạp A hàm kinh” có liệt kê 4 loại ngựa, ví với 4 tầng thứ ngộ đạo của con người.

6/. Lừa : Trong kinh điển, sữa lừa và sữa trâu là tỷ dụ cho người có vẻ đúng mà thực ra là sai. Cũng giống như sữa trâu và sữa lừa, tuy giống nhau ở màu sắc, nhưng sữa trâu tích lại có thể thành bơ, sữa lừa tích lại thì thành phân.

Trong Thiền tông, lừa thường được ví với những người căn khí thấp kém. Ngoài dùng trong câu “Lư tiền mã hậu” (trước lừa sau ngựa) để chỉ trích việc học người khác chỉ biết rập khuôn lời nói hành vi của người ta, mà không có bản sắc độc đáo riêng của mình. Thiền tông còn dùng “Cầu (hoặc Kiệu) yên lừa” để tỷ dụ sự ngu muội, không biết phân biệt thật giả.

7/. Lạc đà : Trong kinh điển, lạc đà tượng trưng cho tâm tính khó điều phục được, hoặc đại diện cho tâm tư rối loạn, chỉ tâm niệm tùy theo lục căn chạy theo ngoại cảnh, không thể nào ở yên một chỗ được. Trong “Ma ha chỉ quán” viết: “Người tâm rối loạn, là cái ác trong những cái ác, như voi say không khóa, giẫm nát hồ hoa, như lạc đà chọc mũi, lật đổ gùi hàng”.

8/. Dê : Các kinh điển Phật giáo thường dùng dê để so sánh kẻ phàm phu không phân biệt được thế gian pháp với tu hành, lúc nào cũng buông thả tam độc “tham, sân, si”, tham ngũ dục “sắc, thanh, hương, vị, xúc”.

Trong “Đại trí độ luận”, dùng “Mắt trâu dê” để nói mắt phàm tục. Thiền tông dùng “dê chạm mũi” để tỷ dụ người học mê muội không biết Pháp. Vì mắt dê không phân biệt được thức ăn, cái gì chạm vào mũi là ăn, nên mới dùng nó để tỷ dụ.

9/. Lợn : Trong Phật Pháp, Lợn tiêu biểu cho tính ngu si của sinh mệnh. 10/. Chó : Trong Phật Pháp, chó đại diện cho nhị độc “Tham, sân”. 11/. Mèo : Trong Thiền tông, mèo được ví với người hoàn toàn vô tri mù tịt về giáo lý nhà Phật. Như “Mèo đen bò trắng” chỉ động vật không biết gì, dùng để tỷ dụ người không hiểu Phật Pháp.

12/. Chuột : Trong kinh Phật thường có 2 loại chuột màu đen và trắng để tỷ dụ thời gian, ý nói sinh mệnh vô thường. 13/. Khỉ : Do tâm tính hiếu động, nông nổi, khó bắt, khó điều phục, thường bỏ một lấy một, cho nên trong kinh điển thường dùng khỉ để tỷ dụ tâm xằng bậy của kẻ phàm phu. 14/. Hươu : Theo “Tỳ nại da tạp sự”(Các câu chuyện ở Vinaya) ghi chép, Phật trong đời quá khứ đã từng là vua hươu, vì cứu bầy hươu nên đã mất đi tính mạng, và khi lâm chung đã phát nguyện rằng, sau này trở thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác sẽ độ hươu thoát khỏi lưới sinh mệnh.

15/. Thỏ : Thỏ trong “Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục kinh” (Kinh tất cả các tiên nhân trí sáng suốt, các nhân duyên từ tâm không được ăn thịt) chép : Trong các đời của Phật, Ngài đã từng là vua thỏ, vì để Phật Pháp có thể ở lâu dài với thế gian, vua thỏ tự nguyện nhảy vào trong lửa, cúng dường tiên nhân, tiên nhân do đó mà đau buồn, phát nguyện sẽ không ăn thịt nữa

Kinh Phật cũng dùng lông thỏ biểu thị hiện tượng vật chất cực kì vi tế, như “Bụi lại có bụi nhỏ, bụi nước, bụi lông thỏ, bụi lông dê…”. Kinh Phật còn dùng “Lông rùa sừng thỏ” để tỷ dụ những cái không thể có được.

16/. Rùa : Kinh Phật thường dùng rùa vàng (Kim quy) để ví với Phật tính thấu hiểu sinh tử, nghĩa là có thể đến bờ biên kia của cõi niết bàn. Thuyết rằng con người nếu hiểu Phật tính sẽ có thể bơi qua biển sinh tử,  tới cõi niết bàn, giống như rùa có thể bơi dưới nước và lên trên cạn vậy. Ngoài ra trong kinh Phật còn dùng “Quy tàng lục” (Rùa thu giấu 6 bộ phận thân thể) để ví với việc Phật tử nên giữ gìn lục căn thanh tịnh, giống như rùa giữ gìn đầu, đuôi và tứ chi của mình. Quy tàng lục gồm :

1/. Rùa thu giấu đầu ví với chúng sinh giữ cho mắt mình luôn thanh tịnh.

2/. Rùa thu giấu chân trái trước, ví với chúng sinh giữ gìn đôi tai của mình, không nghe những âm thanh tạp loạn, mê hoặc bên ngoài thì tất cả những điều trần tục không thể làm rối loạn tâm can.

3/. Rùa thu giấu chân phải trước ví với chúng sinh giữ gìn chiếc mũi của mình, không ngửi những hương vị nơi phàm trần, thì tất cả mùi hương nơi phàm trần cũng không thể nhiễu loạn tâm trí.

4/. Rùa thu giấu chân trái sau ví với chúng sinh giữ gìn chiếc lưỡi, vị giác của mình, không nếm bất kể mùi vị gì, thì tất cả các mùi vị trên cõi thế gian cũng không thể xâm phạm.

5/. Rùa thu giấu chân phải sau, ví với chúng sinh giữ gìn thân thể, không động chạm thì tất cả xúc giác phàm tục cũng không thể làm hại mình.

6/. Rùa giấu đuôi, ví với chúng sinh giữ gìn ý niệm, không biết tới pháp nơi trần tục thì tất cả các pháp ấy cũng không thể nhiễu loạn tâm ý chúng sinh.

17/. Sài (chó rừng), lang (chó sói) : Phật giáo thường dùng hai loại động vật này để tỷ dụ địa ngục ghê sợ. Như trong 16 tiểu địa ngục thì có “Sài lang địa ngục”. Trong đó, chó rừng và chó sói tranh nhau cắn xé tội nhân, làm thịt nát xương tan, máu chảy như nước, vô cùng đau khổ. Trong kinh Phật cũng dùng “sói tham” để hình dung mức độ tham dục quá mức như đặc tính của sói vậy.

18/. Công : Do công có thể ăn tất cả các loài trùng độc nên trong kinh điển Phật giáo, công thường tượng trưng cho Bản Tôn (Phật, Bồ Tát) có thể nhận hết ngũ độc, phiền não của chúng sinh.

Trong “Bạch bảo khẩu sao” có ghi, đuôi công biểu thị trừ tai họa, đuôi công 3 cọng biểu thị giũ bỏ tam độc tham, sân, si, để đắc chứng Tam bộ Như Lai. Đuôi công 5 cọng biểu thị giũ bỏ phiền não ngũ thức nhãn, nhĩ, tị, thiệt, ý (Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý), để đắc chứng quả vị Ngũ trí viên giác.

19/. Ngỗng : Trong kinh điển nhà Phật thường dùng vua ngỗng để tỷ dụ lúc Phật bước đi, dáng vẻ an tường, chậm rãi. Như “Ương quật ma la kinh” (Kinh Angulimala) có ghi, “Lúc đó, Thế Tôn như vua ngỗng an tường bước đi 7 bước”. Trong “Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh” (Kinh Kinh Hoa Nghiêm Phật Đại Phương Quảng) thì đưa ra vua ngỗng trên trời có 5 chủng công đức:

1/- Cảm hóa, hòa hợp tùy thời – 2/- Tiếng kêu vô úy – 3/- Ăn vừa đủ thích hợp – 4/- Tâm không phóng túng an dật – 5/- Không nghe lời xiểm nịnh của các loài chim.

20/. Gà : Trong kinh điển Phật giáo, gà là một trong 12 con giáp. Theo “Đại phương đẳng đại tập kinh – tịnh mục phẩm” (Tập kinh Đại Phương Đẳng – phần đôi mắt thanh tịnh) có ghi: 12 con giáp cứ 12 ngày ngày lại đổi phiên canh gác một lần, thường là 12 con giáp đi khắp nơi giáo hóa chúng sinh tại Diêm Phù Đề.

12 con vật giáp là do Bồ Tát hiển hiện nhằm giáo hóa độ chúng sinh. Trong suốt một ngày một đêm sẽ có một con vật đi khắp nhân gian cảm hóa chúng sinh; những con vật còn lại thì cư ngụ một cách yên ổn, cứ quay vòng luân phiên như vậy. Trong kinh điển Phật giáo cũng từng dùng hình ảnh chú gà vàng để ví với bản thân chúng sinh vốn đã có tâm thanh tịnh. Trong “Tạo tượng độ lượng kinh” (Kinh độ lượng tạo hình) thì lấy hình ảnh “khuôn mặt tròn như trứng gà” để hình dung gương mặt của Bồ Tát.

21/. Bồ câu : Bồ câu cũng là động vật thường thấy trong các kinh điển Phật giáo. Như khi hiển thị đồ hình luân hồi “Ngũ thú sinh tử luân” của chúng sinh nơi ngũ thú, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, sinh tử lưu chuyển không ngừng, bồ câu biểu thị cho phiền não của lòng tham.

Yên Huỳnh chuyển tiếp