NHỮNG PHONG TỤC TANG MA

Logo TG tam linh

9-quat-ma-1NGHI LỄ “TẾ QUẠT MA”

CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Tế quạt ma hay là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường. Đây là nghi lễ còn ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa được biết đến.

H1: “Nhà minh tinh” trong tang lễ người Mường. H2: Quả còn dùng để thờ trong tang lễ.

H3: Khi tế quạt ma, những người là con dâu trong dòng họ của người quá cố phải mặc bộ đồ rất đẹp gồm: Váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm, phía trước đặt một chiếc ghế mây.

H4: Mục đích của nghi lễ quạt ma này nhằm tỏ lòng thương tiếc và yêu quý người đã chết, dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản. Động tác múa trong nghi lễ quạt ma thường rất đơn giản, người múa quay mặt về phía thầy mo, 9-quat-ma-2một tay cầm quạt che trước ngực, một tay cầm gậy chống xuống đất múa theo nhịp chiêng của thầy mo. Động tác từ người dâu cả đến người dâu cuối cùng theo thứ tự đuổi nhau bằng động tác múa hình sóng lượn.

H5: Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài được phủ áo vẩy rồng bằng vải. H6: Tế quạt ma được tiến hành khi nhà có tang từ khi xảy ra đám tang cho đến lúc đưa người chết về nơi yên nghỉ. Tham gia múa quạt mà là tất cả các con dâu trong gia đình người chết.

9-quat-ma-3

Họ được sắp sếp theo thứ bậc từ dâu cả đến các cô dâu ở bậc thấp nhất, đứng xung quanh quan tài người chết.

H7: Khi người chết tắt thở, con trai trưởng trong gia đình sẽ cầm dao nín thở chặt 3 9-quat-ma-4nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. H8: Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì hàng xóm láng giềng biết gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất. H9: Bên cạnh tế quạt ma, trong đám tang của người Mường còn có lễ tế nhà xe.

H10: Các nàng dâu phải quạt hầu trong lúc linh hồn người quá cố nhòm nhà xe.H11: Quan tài, dàn thả và sập vong trong tang lễ. H12: Cờ dùng trong tang lễ của người Mường. H13: Nơi thờ người quá cố trong tang lễ.9-quat-ma-5

H14: Quả còn và những thứ làm đẹp dùng cho người quá cố trong tang lễ. H15: Đoàn người phục vụ tang lễ dẫn linh hồn người quá cố nhòm nhà xe. H16; Thày mo người Mường làm lễ trong đám tang (theo Hoàng Lâm)

Xuân Mai chuyển tiếp

9-pha-quan-1aNHƯN QUAN VÀ TỤC PHÁ QUÀN

Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Ở miền Tây Nam Bộ, với nhiều gia đình không theo tôn giáo nào, khi có người thân qua đời, trong đám tang, lúc chuẩn bị an táng người bình dân thường làm lễ phá quàn, sau đó, nhân vật gọi là Nhưn quan điều khiển đạo tỳ.

Nhưn quan điều khiển đạo tỳ (những người khiêng quan tài) sẽ di quan đến huyệt mộ trong vườn nhà hoặc ngoài đồng ruộng để asn táng.

Để làm lễ phá quàn, đại diện chủ nhà mượn một người biết làm Nhưn quan cùng mười đến mười hai thanh niên khỏe mạnh trong xóm làm đạo tỳ. Đại diện chủ nhà mời cơm rượu những người này chu đáo để cám ơn họ trước về nỗi vất vả mà họ sắp làm để đưa cha, mẹ mình về với … đất !

Sự tích gắn với tập tục

Khi đi điền dã trong dân gian vùng Bạc Liêu – Hậu Giang – Đồng Tháp, chúng tôi được các bậc trưởng thượng kể cho nghe tích Điền Hoành – một tích gắn liền với lễ phá quàn. Điền Hoành là người hiếu nghĩa, giỏi võ nghệ nhưng đã bỏ nhà từ lâu đi làm thảo khấu.

Ngày kia, khi nghe tin lâu la báo tin rằng mẹ mình đã chết, Hoành quyết bằng mọi giá phải đánh cắp quan tài mẹ, ngay trong đêm, đem nhanh về núi, để có thể săn sóc phần mộ. Công việc không dễ dàng vì bọn cường hào đang theo dõi, chờ bắt. 9-pha-quan-1Khi bọn lâu la đã hoàn thành việc dọ thám, kế hoạch được triển khai…

Nửa đêm họ xuống núi. Cả bọn được lệnh ngậm thẻ để giữ im lặng, không hở môi. Anh ta cầm đuốc mở đường, chỉ huy bọn lâu la xông vào nhà “ăn cắp” trót lọt cái quan tài, rồi trở ra nhanh. Đi khỏi xóm một đổi, anh ta mới bắt đầu than khóc, họp lâu la hò hát cho đỡ mệt lúc khiêng lên sườn núi. Dọc đường, để chăm sóc cái quan tài không bị xao động, anh ta nhảy lên đứng trên mấy cây đòn khiêng để quan sát, đề phòng bọn cường hào đuổi theo…

Đó là sự tích và câu chuyện ấy lại gắn với cách di quan và an táng của người chết ở miền đất này.

Người biết nghi thức di quan và động quan đóng vai Nhưn quan, theo tích xưa thì đấy là tên cướp chịu tang cho mẹ, nên vẽ mặt dữ dằn (chân mày đen rậm, mặt tướng), thường mặc đồ đỏ, còn những người khiêng quan tài (đạo tỳ) thì mặc quần áo có kiểu thức rất đặc biệt như bọn lâu la, mỗi người ngậm một cây nhang tượng trưng cho thẻ lệnh. Trước khi hoạt cảnh diễn ra, tất cả đều thi lễ trước quan tài người quá cố.

Đoàn đạo tỳ lạy xong, Nhưn quan quay ra, hoạt cảnh chính thức bắt đầu, Nhưn quan tay cầm hai ngọn đuốc lửa cháy rực (cán làm bằng khúc tre tươi non thước tây, ngọn đuốc quấn bằng vải mùng tẩm dầu), chỉnh tề hàng ngủ.

Trước quan tài, thầy chùa hóa thân thành người giữ linh cữu, tay cầm dải vải màu vàng chừng hai thước tây, múa mấy bài quyền như để khử trừ yêu quái, gọi là “phá quàn”. Đoạn thầy cho hai đệ tử (những người này thường nằm trong ban nhạc lễ được chủ nhà thuê) đứng trước hàng cầm hai thanh tre tượng trưng như hai thanh đao, gác tréo, chận ngang như để gìn giữ chiếc quan tài ấy.

Thầy chùa cúng vái trước quan tài xong, quay ra hét lớn : Nghe tiếng quân reo ngoài ngõ… giờ kiết nhựt linh sàng đã đến hay sao… ta chẳng thấy Nhưn quan lai đáo … Nhưn Quan nhảy ra vừa múa vừa nói : Dạ dạ… Bẩm, Nhưn quan lai đáo… xin bẩm bạch tôn sư… có điều chi tôn sư chỉ dạy… (nói giọng mỉa mai rồi định xông vào).

Thầy chùa : Dang ra… Nhà ngươi là ai… từ đâu đến… hãy hài danh hài tánh, 9-pha-quan-2hài thị hài thiềng (thị, thành – nói trại đi), cho bổn sư được rõ…

Nhưn Quan : Như ta đây Thất Đài San quê ngụ… danh tánh thị Điền Hoành… nghe gia nhân mách bảo rành rành, gia trung nầy có một quan tài,… mà quan tài ấy đáng giá ngàn vàng trăm lượng… Ta sợ yêu tà cám dỗ,…nên ta mới hạ san xuống thu đoạt quan tài tịch tịch a !…

Thầy chùa : Hay, hay dữ a ! Ngươi mau cho ta xem qua chứng chỉ của vua ban đặng hãn tường chơn giả !

Nhưn Quan : Ạ… ạ… nhà ngươi đòi xem … thì đây là chiếu chỉ vua ban… ta trình lên để hắc bạch phân minh (thò tay lấy từ thắt lưng ra tờ giấy đỏ tượng trưng cho chiếu chỉ vua !)

Thầy chùa : Nếu nhà ngươi là tướng cướp đã phục thiện làm lành thì ta nói rõ, đây không phải hòm vàng mà là một quan tài ta đã giữ từ lâu, nay gặp lại nhà ngươi ! Ta sẵn sàng giao lại. Nhưng ta cho ngươi biết quan tài nầy làm bằng gỗ huỳnh đàn… đầu chạm vàng trang sức nặng ngàn cân… nhà ngươi có binh mã bao nhiêu mà đòi thu đoạt.

Nhưn quan : Quân của ta lớp lớp… hàng hàng… Dù quan tài có nặng vạn lần, ta đây cũng san bằng trở lực…

Khi Nhưn quan hát, thầy chùa ra vẻ lóng tai nghe, tỏ ý chấp thuận, đoạn hô to : Truyền ! Các tư kỳ sự ! (Truyền : Ai lãnh việc gì phải giữ lấy việc ấy).

Hai người cầm đao canh giữ trước quan tài lùi ra, thầy chùa cũng lui vào (chuẩn bị thay áo già để dẫn vong), công việc coi như đã giao lại cho Nhưn quan. Nhưn quan cầm đuốc lửa, vừa múa vừa tiến vào : Vâng lời thầy Đức Trọng, Cao Long ! Hỡi đạo hò đàng ta ! (Đạo tỳ đồng “dạ” hoặc “ơ” thật lớn).

Nhưn quan hét : Vậy chớ nào, như hà linh cửu ?

Nhưn quan bước vào bàn minh tinh đốt nhang, rồi khóc thương thảm thiết, lấy chiếc khăn tang trắng (được chuẩn bị sẵn để trên cái dĩa ở bàn minh tinh) quấn lên đầu mình. 9-pha-quan-3Nhạc cổ truyền: kìm, cò, tranh, sáo, tiêu, … đệm theo lời ca.

Nhưn quan ca điệu Nặng tình xưa

Mẹ (hoặc cha, tùy theo người mất) ơi ! Con đến muộn, mẹ giờ quy tiên; Bất hiếu nhi vô dụng, chẳng lo gì cho mẫu thân; Nay con quỳ lạy trước linh sàng; Mong mẹ tha thứ tội tình; Bản thân con giờ đây mất mẹ; Con biết tìm đâu được mẹ kính yêu; Bổn phận con – kể từ hôm nay; Không có mẹ hiền răn la dạy bảo; Mà chỉ còn, đưa tiễn từ liêm; Mẹ thứ tha cho đứa con bất đạo; Con lạy tạ, mẹ về cực lạc; Con làm tròn hiếu tử với mẫu thân; Nay con vĩnh biệt mẹ hiền… (khóc la thảm thiết).

Đoạn Nhưn quan nhảy múa ba vòng xung quanh trước quan tài, lăn qua cả dưới đáy hòm như để khám xét xem sự nặng nhẹ, khó dễ trong việc cử quan, lúc bấy giờ trên nắp quan tài người ta có để cái dĩa với mấy đồng bạc, Nhưn quan đưa tay ra bộ lấy bỏ vào túi, miệng ngậm dầu lửa phun vào ngọn đuốc, lửa bốc cao đỏ rực, trống, kèn, đờn tấu vang liên hồi, Nhưn quan quay phắt trở ra hô to :

– Hỡi đạo hò đàng ta ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ” vang dậy). Phải chính túc đai cáo… Cúc cung từ bái ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Y lịnh, đạo tỳ đồng lạy linh cửu theo một kiểu cách đặc biệt. Xong 4 lạy. Nhưn quan hát:

– Đây chi nài khó nhọc; Đó chớ nệ tiếc công; Nghiêng mình vàng đỡ lấy quan tài; Di linh cữu táng an phần mộ! (đạo tỳ đồng hô “dạ” hoặc “ơ”).

Sau đó, Nhưn quan điều khiển hai hàng đạo tỳ tiến vào (mỗi bên 5 – 6 người), chủ nhà dẹp nhanh các trướng, bàn đưa, bàn điếu, khiêng bàn minh tinh qua một bên, lư hương được con trai trưởng hoặc cháu nội lớn bưng, con dâu, hoặc đứa cháu lớn (có khi là con Út) theo che dù, theo sau là bài vị, hay ảnh chân dung người mất, và tấm triện (tấm giấy đỏ do thầy chùa viết bằng chữ Hán, với nội dung dẫn vong linh người quá cố về cõi hư vô).

Nhưn quan điều khiển tập thể đạo tỳ phò linh cữu đặt lên vai từ từ đưa ra khỏi nhà, bấy giờ, 9-pha-quan-4Nhưn quan bỏ đăng chúc (đèn), hai tay cầm hai chiếc sanh bằng cây tre, miệng hát lên, trong khi tay thì nhịp gõ:

– Bớ đạo tỳ ta ! (“ơ”) Hãy lẵng lặng mà nghe ba hồi sanh lịnh ! (gõ sanh: cắc, cắc).  – Một hồi sanh, ngồi đâu ngồi đó ! (cắc cắc… cắc).  – Hai hồi sanh, rán vó lên eo ! (cắc cắc… cắc).  – Ba hồi sanh, thượng lộ đăng đàng ! (cắc cắc… cắc)

Qua mỗi lệnh truyền và tiếp theo một hồi sanh, những động tác rập ràng thuần thục diễn ra đồng bộ trong không khí nghiêm mật và im lặng khác thường, nếu huyệt mộ ở sau vườn đất nhà thì đạo tỳ khiêng một lượt tới nơi mới để quan tài xuống ghế kê sẵn, còn nếu đường đi xa thì đưa quan tài lên chiếc nhà vàng (linh xa) từ từ chuyển động đúng theo động tác rất ăn ý của tập thể Nhưn quan, đạo tỳ. Để đánh tan cái u sầu nhất định trong giờ phút đau đớn này, Nhưn quan và đạo tỳ đồng cất giọng để tỏ lòng thương tiếc người chết :

Ô hô! Tam thốn khí tại thiên bang dụng, 

Nhứt đán vô thường vạn sự hưng. 

Người về âm cảnh quan liêu, 

Kẻ còn dương thế những triêu tịch sầu !

Thầy chùa lúc bấy giờ mặc áo già, tay cầm chiếc sênh, miệng tụng kinh để dẫn vong. Con cháu, dòng họ đưa tang tay cầm nhang lần lượt đi theo sau quan tài, ra khỏi nhà. 9-pha-quan-5Trên đường đi, trống đánh liên hồi, người ta còn rải vàng bạc dọc đường với ý nghĩa cho ma cũ lượm tiền xài, không theo phá để đạo tỳ khiêng quan tài nhẹ hơn,

… Đối với người Việt ở miền Tây Nam bộ thường không có hiện tượng “nằm lăn đường”, nhưng trong quá trình đưa đám, các con, cháu thường đi lùi, hai tay chống ngược với đạo tì thể hiện sự đau đớn, bịn rịn không muốn “đưa” cha mẹ về nhanh với … đất !

Đến nơi, người bưng lư hương đến trước, hàng được đạo tỳ đặt trên ghế, con cháu vái lạy lần nữa, rồi dưới sự hướng dẫn của Nhưn quan, hàng từ từ được đưa xuống đất (người ta để ở hai đầu hàng hai nửa cây cà bắp nối lại làm dây để thòng quan tài xuống huyệt), khi hàng chạm đáy, người ta dùng dao cắt bỏ dây, người con trai trưởng bỏ xuống huyệt nắm đất đầu tiên, sau đó các anh em con cháu khác lần lượt thực hiện thao tác ấy, nó thể hiện ý nghĩa con cháu táng an cho ông, bà cha, mẹ.

Lúc bấy giờ người ta đánh một trống dài nữa rồi dứt luôn (người ta kiêng không được đụng đến mặt trống sau khi đã chôn cất).

Những người hàng xóm được chủ nhà mượn lo việc chôn cất khỏa đất dần dần đến khi đầy, người ta đắp thành nắm mộ, trên cùng đắp chiếc chiếu cho người nằm dưới đất sâu đỡ lạnh.

Người đi đưa, dần dần trở về. Thầy chùa đi trước tụng kinh dẫn vong, người bưng lư hương quay về. Nhưn quan và đạo tỳ đã xong nhiệm vụ. Nhưn quan đi đến một quãng xa, lột “khăn tang” độc thần chú hóa bùa, làm phép “giải thoát”, rồi đốt đi. 9-pha-quan-6Coi như anh ta đã trở về người bình thường.

Một tập tục xưa mà các nhà nghiên cứu dân gian cho là gắn liền với hò đưa linh ở miền ngoài “di cư” vào đây đến nay vẫn còn đó, có điều nó đã ít nhiều thay đổi theo hướng chuyên nghiệp át dần nghi thức dân gian.

– Kim Hùng lễ phá quàn động quan (1:00’) : https://youtu.be/4o5Czd3J97E

Nhưn Quan và tục Phá Quàn :  https://youtu.be/nV8VZEDVVHY

Mời xem clip video do 7 Hiền quay :

https://www.youtube.com/watch? v=SaKpcJ9LCwI

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr buon 2HÒ ĐƯA LINH

KHÚC BIẾN TẤU ĐỘC ĐÁO

TRONG HÒ BIỂN NHÂN TRẠCH 

Xã Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, là một vùng quê có nhiều đời sinh sống, gắn bó với nghề đi biển. Với tính cách của người làng biển thật thà, chất phác sống chan hòa cởi mở, thân thiết ân tình trong tình làng nghĩa xóm cũng như giao hòa với biển khơi đó chính là nguồn gốc tạo nên những hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo trong đời sống tinh thần của người dân làng biển Nhân Trạch.

Khi nhắc đến các làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống của Nhân Trạch thì gợi mở đầu tiên trong tâm thức của mỗi người đó chính là những điệu hát khoan chèo cạn khỏe khoắn, mạnh mẽ và những điệu hò biển ngọt ngào, gắn bó với công việc và cuộc sống hằng ngày của ngư dân, được bao thế hệ người dân nơi đây giữ gìn, phát triển…

9-ho-dua-linh-1Trong lối hò biển được người dân xã Nhân Trạch lưu truyền và phát triển từ bao đời nay có lối hò múa quạt, hò múa hoa đăng, hát chèo cạn, hò đưa linh…Các loại hình hát khoan chèo cạn của hò biển Nhân Trạch được thực hiện đầy đủ trong lễ hội cầu ngư tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân thì hò đưa linh là một trong những hình thức diễn xướng độc đáo và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống của người dân làng biển.

Hò đưa linh ở làng biển Nhân Trạch – Bố Trạch vốn khởi phát là một hình thức diễn xướng dân gian được thực hiện trong lễ cầu ngư sau khi kết thúc bài xưng của các bà cai và điệu chèo cạn của các hò con. Dưới sự chỉ huy của 2 bà cai đứng trước đội hò con xướng lên giọng hò cái với điệu hò đưa linh trước biển đông rằng :

“Biển đông đài cát đại ngàn biển đông

Cúi đầu trăm lạy đức ông

Cầu cho thất ứng thất thông nhiều bề

Anh linh hiển hách nhiều bề……

Lý Nhân Nam vui thú hề

Đức bà đẹp ý ghép vô lạch nhà…”

Điệu hò đưa linh trong lễ cầu ngư được xướng lên cao vút cùng nhịp phách, tiếng trống và cả nhịp chiêng hòa cùng gió biển, sóng biển để ngưỡng vọng tới linh hồn Đức Ông, Đức Bà (cá Voi) để cầu cho làng biển Nhân Nam (tức làng Nhân Trạch) 9-ho-dua-linh-2được trời yên biển lặng, cá tôm đầy tàu cho cuộc sống càng thêm no đủ.

Đặc biệt điệu hò đưa linh ở Nhân Trạch không những chỉ được sử dụng trong lễ cầu ngư mà lối hò đưa linh còn được dùng để phục vụ đám tang của những ngư dân làng biển Nhân Trạch. Hò đưa linh lúc này được thực hiện với ý nghĩa là cầu nối để tiễn đưa linh hồn của người đã khuất về nơi an nghĩ cuối cùng. Hò đưa linh được diễn ra trong suốt thời gian có đám tang kể từ lúc phát tang cho tới khi mai táng xong.

Ở Nhân Trạch, hò đưa linh chỉ diễn ra trong đám tang của những người được xem là đã hưởng thọ trên đời (thường là những người qua đời tuổi 60 trở lên). Câu hò được cất lên vừa để chia buồn với gia chủ, vừa giúp linh hồn người chết siêu thoát nhưng hò cũng là để thưởng thức nét đẹp văn hóa của hình thức diễn xướng dân gian làng biển.

Người đến viềng đám tang trước là để chia buồn với gia chủ, tiếc thương người quá cố đồng thời còn để thưởng thức giọng hò hay, ngôn hay ý đẹp trong điệu hò đưa linh. Nội dung của các câu hò đưa linh trong đám tang được chuẩn bị rất công phu, tỉ mĩ. 9-ho-dua-linh-3Tùy theo gia cảnh, thân thế, cuộc đời của người chết mà có các bài hò khác nhau.

Thông thường nội dung của những câu hò đượm buồn, khéo léo hơn trong mỗi chặng hò, người hát có cách chọn lựa ngữ cảnh rất chu chỉnh để xướng hò cho phù hợp, ngân giọng hò ai oán, bi thương, tiếc nuối khi người lìa cõi đời. Khi hát hò đưa linh trong đám tang sẽ có hai người hát “hò cái” gõ phách (như bà cai trong hát hò khoan ở lễ cầu ngư) và 12 người còn lại hát “hò con” vừa hò vừa diễn xướng và phụ họa, cùng một người đánh trống đại.

Những câu hò trong hò đưa linh thường có nội dung kể lại cuộc đời của người đã mất, nói lên công cha nghĩa mẹ sinh thành, thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, kể nỗi lòng đau thương, luyến tiếc của con cháu khi phải chia tay cha mẹ, ông bà. Ví dụ như hò trong đám tang của người cha thọ tám mươi tuổi các câu hò được xướng lên rằng:

“Chia tay kẻ ở người đi

Lòng nào mà chẳng sầu bi não nề

Nay sinh từ giã thân kỳ

Đưa linh một khúc mà về tây phươn…….g…

Tám mươi năm gắn bó cuộc đờ

Bao nhiêu vất vả nuôi con trưởng thành

Năm trai ba gái ngời ngời

Nay về chín suối thương hoài cháu con…”

Những câu hò được xướng lên trong các đám tang nơi miệt biển Nhân Trạch như đồng vọng với tiếng trống, tiếng kèn và đồng vọng cùng lòng người 9-ho-dua-linh-4với mong cầu tiễn đưa linh hồn người đã mất siêu thoát về nơi cực lạc.

Qua bao thời gian, điệu hò đưa linh vẫn đang được người dân Nhân Trạch lưu giữ gắn bó bền chặt trong đời sống tinh thần của ngư dân quê biển. Điệu hò ấy được cất giữ trong tâm hồn mỗi một người dân Nhân Trạch, làm nên khúc biến tấu độc đáo của điệu hò biển – lớp văn hóa đặc sắc văn hóa của làng biển quê hương. (theo Lê Hữu LợiPhòng VHTT Bố Trạch) 

– Tham khảo clip về Hò Đưa Linh : https://youtu.be/B-U2XtjIiqo

– Hò Đưa Linh (Chèo Cạn) – Đua Ghe Làng Phương Diên (0:45’)

Hò Đưa Linh hay gọi là Chèo Cạn, một buổi như văn nghệ trên bải cát đêm trước ngày đua chính thức. Đây là một phong tục tập quán của Làng Phương Diên, Thừa Thiên Huế : https://youtu.be/VePqTxMpqmg

Xuân Mai chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: