CON MA TRONG HÍ VIỆN WASHINGTON

NƯỚC MẮT PHỤ NỮ

LÀM ƯỚT ÁO THẦY TU‏

(Một câu chuyện như bộ phim “Tiếng chim hót trên bụi mận gai”)

Hầu hết mọi người đều biết, một khi vị tu sĩ nào đã được thụ phong chức Linh Mục rồi, thì vị Linh Mục đó tuyệt đối phải tuân hành các giáo điều của Giáo Hội Công Giáo truyền dạy, mà một trong các giáo điều đó là tất cả các Linh Mục phải duy trì tình trạng độc thân và không được phép luyến ái với bất cứ một người phụ nữ nào sau khi đã được thụ phong chức Linh Mục.

Nếu vị Linh Mục nào muốn lập gia đình hoặc vì một lý do gì lỡ vi phạm vào 2 giáo điều vừa kể trên, bắt buộc vị Linh Mục đó phải tự mình tình nguyện nạp đơn lên Giáo Quyền, xin phép được từ bỏ thiên chức Linh Mục của mình, để trở thành một thường dân ngoài đời, không còn năng quyền của một Linh Mục, để cử hành những phép bí tích trong Nhà Thờ, tại những nơi thờ phượng hay tại tư gia nữa; ngoại trừ trường hợp chỉ có một số rất ít, những vị Mục Sư đã lập gia đình rồi, thuộc vài giáo phái Tin Lành, nạp đơn xin được phép chuyển nhập vào Giáo Hội Công Giáo và đơn xin sẽ được Giáo Quyền Tối Cao trong Giáo Hội Công Giáo cứu xét và nếu đơn xin được chấp thuận, thì những vị Mục Sư này sẽ trở thành những vị Linh Mục trong hàng ngũ Linh Mục của Giáo Hội Công Giáo, hoặc có một số ít các Thầy Phó Tế Vĩnh Viễn đã có gia đình rồi, nhưng chẳng may người vợ qua đời sớm và theo nội quy của Giáo Hội Công Giáo, một khi người chồng đã được chịu chức Phó Tế Vĩnh Viễn (Permanent Deacon) rồi, thì sau khi vợ qua đời, không được phép lấy vợ khác, nhưng được Giáo Quyền ban cho một đặc ân, như trong trường hợp các con đã tới tuổi trưởng thành và chúng nó đã có thể tự lập được cuộc sống, thì những Phó Tế nằm trong tình trạng độc thân này, đều có thể nạp đơn xin trở thành Linh Mục lên Giáo Quyền cứu xét và nếu đơn xin được chấp thuận, thì chỉ phải học thêm môn Thần Học từ 1 cho đến 2 năm nữa, là hội đủ điều kiện chịu chức Linh Mục nếu muốn.

Sau đây chúng tôi xin tường thuật lại một câu chuyện có thật của một vị Linh Mục giải thích cho chúng tôi nghe về lý do tại sao Ngài không còn là Linh Mục nữa và Ngài đã được Giáo Quyền cho phép cởi bỏ áo tu sĩ, để có một cuộc sống ngoài đời bình thường như trăm ngàn giáo dân khác và Ngài đã lập gia đình. Câu chuyện của cựu Linh Mục này do chính Ngài tâm sự với chúng tôi như sau :

Cứ mỗi năm Tết đến, khi tôi còn là Linh Mục, tôi đều về Việt Nam nghỉ phép thường niên 3 tuần lễ, với mục đích duy nhất là chỉ để thăm viếng thân mẫu của tôi đã già yếu, mà người Công Giáo thường xưng hô với thân phụ mẫu của một Linh Mục là Ông Bà Cụ Cố nếu lớn tuổi hoặc Ông Bà Cố nếu còn trẻ tuổi. Năm đầu tiên  tôi về thăm thân mẫu của tôi và một hôm, có một cặp vợ chồng quen thân với Bà Cố tức Mẹ tôi, họ nghe được tin tôi từ Hoa Kỳ về thăm Bà Cố, nên họ đến thăm chào hỏi tôi và bà vợ của ông chồng này, tình cờ kể lại cho tôi nghe một câu chuyện khá thương tâm, về một thiếu phụ bị chồng bỏ, ở cùng trong xứ đạo với Mẹ tôi, chị ta rất ngoan đạo, Mẹ tôi cũng biết rõ chị này không bao giờ bỏ Lễ ngày Chủ Nhật. Chị đang phải nuôi 2 đứa con trai, đứa lớn 11 tuổi, đứa nhỏ 9 tuổi, chồng của chị bỏ nhà ra đi, không một lời từ biệt với vợ và 2 con, biệt tăm tích đã gần một năm nay rồi, để đi theo tiếng gọi của tình yêu mới với một cô gái trẻ đẹp, kém chị ta cả chục tuổi.

Hàng ngày chị phải dậy thật sớm thổi mấy nồi xôi đậu xanh và đậu đen, để cùng với đứa con trai lớn mang xôi ra chợ bán, đến gần xế trưa 2 Mẹ con mới trở về nhà, vội vàng ăn uống xong xuôi đâu đấy, rồi 2 Mẹ con lại cùng với đứa con trai út, rời nhà để đi ra chợ làm phu khuân vác, dọn dẹp sạch sẽ cho các sập bán hàng lẻ ở ngoài chợ, 3 Mẹ con làm tới tối mịt mới quay trở về nhà. Ngày nào cũng như ngày ấy, cả 3 Mẹ con không được nghi ngơi, ngoại trừ sáng sớm ngày Chủ Nhật, 3 Mẹ con đi dự Thánh Lễ xong, lại ra chợ tiếp tục làm những công việc hàng ngày mà 3 Mẹ con vẫn làm và kể từ khi chồng chị bỏ nhà ra đi, 2 đứa con chị phải nghỉ học ở nhà giúp đỡ Mẹ những công việc lao động vừa được kể trên, mới kiếm được đủ tiền nuôi sống 3 Mẹ con cho đến ngày hôm nay.

Tôi vừa nghe kể xong câu chuyện này, động lòng thương xót và tội nghiệp cho 2 đứa trẻ nhỏ không được đi học, nên tôi liền yêu cầu cặp vợ chồng này, hãy dẫn tôi đến thăm 3 Mẹ con chị ta ở tại nhà chị ta, để tôi nói cho người Mẹ biết là tôi sẵn sàng giúp đỡ chị, bằng cách bảo trợ tài chánh cho 2 đứa con chị được tiếp tục cắp sách đi học trở lại, cho tới khi chúng học xong bậc trung học. Sau khi chị nghe tôi nói thế, chị tỏ ra rất xúc động, chị nói :

– Con xin hết lòng đội ơn Cha, những điều Cha nói làm con cứ ngỡ là con đang nằm chiêm bao, vì đây là điều ước mong duy nhất của con, mà hàng ngày con cầu xin Chúa ban xuống cho con cách riêng, để làm sao con có thể đưa 2 con của con trở lại trường học, như trước kia hàng ngày, chồng của con vẫn đưa 2 con đến trường, khi anh ấy vẫn còn ở nhà với con. Giờ đây thật là sung sướng hạnh phúc biết bao cho con và 2 con của con, vì Cha đã thay mặt Thiên Chúa đến đây để đáp ứng lời cầu nguyện của con từ bấy lâu nay.

Nhờ vào số tiền hàng năm của tôi gửi về cho chị và chị coi tôi như là người Bố đỡ đầu tinh thần cho 2 con của chị, để giúp đỡ cho 2 cháu được tiếp tục đi học, như tôi đã hứa và sau khi chị trang trải tiền học phí, tiền mua sách vở cho 2 con, chị cho tôi biết vẫn còn dư thừa chút đỉnh, nên 2 cháu không cần phải làm bất cứ một công việc gì nặng nhọc, để phụ giúp chị như trước kia nữa, mà chúng chỉ biết vùi đầu vào sách vở, đến cuối năm cả 2 cháu đều được lãnh nhận phần thưởng danh dự, là 2 học sinh giỏi nhất lớp, được nhà trường khen thưởng và mỗi cháu còn nhận được một trăm Mỹ kim của tôi với tư cách là Bố đỡ đầu tinh thần của chúng từ Hoa Kỳ gửi về, để tưởng thưởng cho chúng học giỏi.

Như đã nói ở phần trên, mỗi năm tôi về Việt Nam một lần, để thăm nom sức khoẻ của thân mẫu tôi, mỗi lần về như thế, tôi đều có ghé nhà chị ta để đón 2 đứa con của chị về nhà Mẹ của tôi ăn cơm vài ba lần và để thăm hỏi sức khoẻ của chúng, đồng thời cũng để kiểm điểm lại sự học hành của chúng xem chúng học hành tới đâu. Lẽ dĩ nhiên, những lần tôi đến đón chúng về nhà Mẹ tôi, thì không bao giờ có Mẹ chúng đi theo chúng.

Qua những kinh nghiệm trong công tác Tông Đồ Mục Vụ của tôi là một Linh Mục cho tôi biết, việc gì phải đến thì nó sẽ đến, ngoại trừ Thiên Chúa hay Thượng Đế ra, không ai có thể biết trước được việc gì sẽ xẩy đến cho mình. Tất cả 6 lần trong 6 năm liên tục, tôi về Viêt Nam để thăm viếng thân mẫu tôi và cũng như mọi năm, trong thời gian 3 tuần lễ tôi ở nhà Mẹ tôi, tôi đều có đến đón 2 đứa con tinh thần của tôi về nhà Mẹ tôi ăn cơm và trò chuyện với chúng vài tiếng đồng hồ, xong rồi tôi lại lái xe đưa chúng về nhà Mẹ của chúng, thả chúng xuống trước cửa nhà, mà tôi không cần phải xuống xe để dẫn chúng vào nhà, lúc đón cũng như lúc đưa chúng về, chỉ có một lần Mẹ chúng thấy tôi tới, thì chị vội vàng chạy ra chỗ xe tôi đang đậu để chờ chúng, chị mời tôi vào nhà uống trà, có 2 đứa con cũng ngồi cùng cả đấy, chúng tôi trao đổi với nhau vài ba câu chuyện xã giao, kéo dài khoảng 15 phút, thì tôi đứng dậy xin cáo biệt chị ra về, vì còn phải chở Mẹ tôi đưa tôi đến thăm Cha Chánh Xứ họ đạo Nhà Thờ Tân Định, như đã có hẹn trước với Ngài.

Năm nay tôi về VN là lần thứ 6 như mọi năm, để thăm Mẹ tôi. Cũng như thường lệ, tôi lái xe đến đón 2 đứa con tinh thần, luôn luôn chúng nó đã đứng chờ sẵn ở trước cửa nhà, khi xe tới, chẳng cần phải nói lời nào, tự động chúng mở cửa xe phía sau và leo lên xe ngay. Nhưng lần này, khác hẳn những lần trước, chỉ thấy Mẹ chúng đang đứng chờ trước cửa nhà và khi xe của tôi vừa chạy tới, thì chị chạy vội ra, mời tôi vào trong phòng khách ngồi chờ 2 cháu, chị cho biết là 2 cháu còn đang mắc bận thay áo quần trong phòng tắm. Trong lúc tôi ngồi trong phòng khách đợi 2 cháu, thì chị ngồi trên chiếc ghế cách xa, đối diện với tôi và nói :

– Thưa Cha, con hết lòng tạ ơn Cha đã giúp đỡ cho 2 đứa con của con được đi học liên tục gần 6 năm qua, ơn trời biển bao la này của Cha dành cho 2 con của con, tất cả chúng con không biết đến bao giờ mới có thể đền đáp lại ơn này cho Cha, nhưng chúng con sẽ luôn luôn ghi tạc ơn này tận đáy lòng chúng con, cho tới khi chúng con lìa đời. Hôm nay con dám mạnh dạn, để xin Cha cho phép con được bầy tỏ sự thầm kín chân thành nhất từ đáy lòng của riêng con với Cha, là xin Cha bảo lãnh cho 2 đứa con của con được sang Hoa Kỳ tiếp tục sự học của chúng, để chúng nó có một cơ hội tiến thân trên con đường học vấn và nhờ đó, chúng nó sẽ có thể trở thành những nhân tài nổi danh trên thế giới mai sau, góp phần làm vẻ vang cho dân tộc Việt Nam ở quốc ngoại.

Để có thể thực hiện được ý nguyện thầm kín này của con, con xin Cha vì tấm lòng nhân từ bác ái của Cha, xin Cha hãy bằng lòng làm giấy hôn thú giả với con một cách kín đáo, chỉ có Cha và con biết chuyện này mà thôi và khi sang tới Hoa Kỳ, con và 2 con của con sẽ cư trú tại một tiểu bang khác, cách xa tiểu bang nơi Cha đang ở, để tránh sự dòm ngó dị nghị của mọi người chung quanh, không làm phương hại đến thanh danh của Cha là một Linh Mục thánh thiện, rồi gắng đợi đến 2 năm sau, Cha mới làm giấy ly dị con, tới lúc đó chúng con đã trở thành thường trú nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ rồi, chúng con không còn sợ bị trục xuất trả về VN nữa.

Tôi cố gắng ngồi yên lặng để nghe chị nói hết lời, chứ thực ra, vừa nghe chị nói đến câu làm giấy hôn thú giả, thì tôi đã hết hồn, cảm tưởng như có quân khủng bố đang đặt trái bom dưới nệm ghế tôi ngồi và tôi cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, để giải thích cho chị hiểu rõ rằng:

Đối với Luật Công Giáo, không bao giờ cho phép một Linh Mục làm một điều gì dối trá trước mặt Chúa và hơn thế nữa, đối với luật pháp Hoa Kỳ lại càng chết tươi, ăn năn tội chẳng kịp, hành động giả vờ lấy nhau làm vợ làm chồng, không chóng thì muộn cũng sẽ bị chính quyền Hoa Kỳ phát giác, tới lúc đó người phối ngẫu ở Hoa Kỳ, sẽ được mời đi nghỉ mát nhiều năm trong trại tù và có thể cộng thêm một số tiền phạt vạ nữa; còn người phối ngẫu từ nước ngoài tới, thì ở trong tư thế sẵn sàng khăn gói quả mướp, chờ ngày lên đường bị tống xuất trở về quê cũ. Vì mới cách đây vài năm tại tiểu bang California, chính quyền tiểu bang hợp tác với chính quyền liên bang, đã khám phá ra cùng một lúc, nhiều cặp vợ chồng giả vờ lấy nhau (Fraud Marriage), nhưng không hề ăn ở với nhau một ngày nào và để áp dụng đúng theo Luật Di Trú Hoa Kỳ (US Immigration Law) đã quy định, thì tất cả những người phạm pháp này, đều bị truy tố ra Toà Án Di Trú (US Immigration Court) xét xử.

Nếu can phạm ở đây có quốc tịch, thì chỉ lãnh bản án đi nghỉ mát nhiều năm trong nhà tù, còn nếu can phạm chỉ là thường trú nhân thôi, thì sau khi đã mãn hạn thời gian nghỉ mát ở tù về, thì có thể sẽ bị Sở Di Trú trục xuất đương sự trả về nguyên quán, riêng những can phạm từ nước ngoài vào, thì bị tạm giam để chờ ngày lên đường về quê cha đất tổ. Tôi vừa mới nói tới đây, chưa kịp giải thích thêm, thì chị đã chạy nhào tới ôm chặt lấy tôi trong vòng tay của chị, ngả đầu lên vai tôi, khóc nức nở, làm ướt đẫm chiếc áo chùng thâm của tôi đang mặc trên người và lần này không còn phải là trái bom nổ chậm đặt dưới nệm ghế tôi đang ngồi nữa, mà hình như có ai đang chích mũi thuốc mê vào người tôi, đưa tôi vào thế mê hồn trận, nên tôi không còn biết trời trăng mây nước ra sao nữa, rồi chị cứ vừa khóc vừa tỉ tê kể lể tràng giang đại hải bên tai tôi, nào là em đã thương yêu Cha từ nhiều năm nay rồi, em biết rõ có một số Linh Mục đã được Giáo Quyền cho phép cởi áo tu sĩ ra ngoài đời lập gia đình có sao đâu, lấy vợ đâu có phải là một hành động xấu xa gì, trái lại hành động này là một hành động can đảm, đáng phục, vì dám công khai thú nhận một sự thật tình yêu công chính, không việc gì phải sợ sệt, dấu diếm trước giáo hội và trước giáo dân của mình. Như thế, rõ ràng trường hợp của Cha, nếu Cha bằng lòng lấy em làm vợ, là vì lòng nhân từ bác ái của Cha, để cứu giúp một thiếu phụ với 2 đứa con còn nhỏ dại vượt trùng dương hàng ngàn dặm, để đến được bến bờ tự do hạnh phúc, chứ đâu có phải vì Cha ham mê sắc dục hay vì mê gái 2 con trông mòn con mắt của em đâu, mà đến nỗi làm Cha phải xin từ bỏ chiếc áo chùng thâm để lấy em và nếu sự việc này cho rằng Cha phạm tội trước mặt Chúa, thì hoàn toàn lỗi tại em vì em đã cám dỗ Cha, chứ Cha đâu có cám dỗ em, Chúa biết rõ từng sợi tóc trên đầu của mỗi người, nên Chúa sẽ hiểu rõ việc làm này của Cha, vì con người ta chỉ có thể che mắt thế gian, chứ không thể nào che mắt Chúa được v.v…..

Mà thôi, đúng là ma đưa lối quỷ đưa đường, cứ tìm những phút dặm trường mà đi, sự thể đã ra nông nỗi này rồi, biết nói gì hơn, một khi đôi con tim của hai kẻ đã cùng nhau hoà chung một điệp khúc tình ca bất hủ, mà những ai thương yêu nhau vẫn còn nhớ câu hát: Thương Nhau Cởi Áo Cho Nhau, Về Nhà Mẹ Hỏi Qua Cầu Gió Bay. Thế là tôi đành phải nhắm mắt đưa chân, để thề hứa với chị, là sau khi tôi được giáo quyền cho phép cởi bỏ chiếc áo chùng thâm này ra, thì tôi sẽ quay trở về VN cưới chị làm vợ chính thức và đem 3 Mẹ con chị sang đoàn tụ với tôi ở Hoa Kỳ.

Đúng 1 năm sau, sau khi tôi được Giáo Quyền cho phép tôi trở thành thường dân, tôi đã giữ đúng như lời thề hứa trước kia với chị và tôi đã trở về VN cưới chị làm vợ và đã đưa cả 3 Mẹ con chị sang Hoa Kỳ chung sống với tôi. Đến lúc này, tôi mới hiểu rõ rằng, trong mỗi một cuộc sống của con người trên trần thế, dù lập gia đình hay sống độc thân, trong mọi hoàn cảnh khác biệt nhau và trong mọi môi trường sinh sống khác biệt nhau, mỗi người đều phải trả cho cái giá đắt hoặc rẻ của nó, mà mỗi người đã tự chọn lựa môi trường cho cuộc sống của mình.

Nhưng ngay bây giờ, nếu ai hỏi tôi : Nên Lập Gia Đình hay Nên Đi Tu, thì tôi thực tâm sẽ trả lời họ rằng :  Nên Đi Tu thì hơn, như người ta thường nói Tu Là Cõi Phúc, Tình Là Giây Oan. Vì tôi là người đã có diễm phúc được từng trải  nhiều năm sống trong 2 môi trường khác biệt nhau này, mà nhờ đó, tôi mới biết rõ đời sống vợ chồng không đơn giản như tôi nghĩ khi tôi còn đang trong thiên chức Linh Mục. Quả thật đúng như câu nói : Có nằm trong chăn mới biết chăn có rận và giờ đây, làm tôi nhớ lại những lời nhắn nhủ chân thành của một Linh Mục lớn tuổi, mà tôi kính trọng Ngài như người Anh Cả của tôi, đã nói với tôi trước ngày tôi về VN lần đầu :

– Tôi biết Cha có một đời sống rất thánh thiện (Religious life) với lòng tự tin mãnh liệt (Strongly self-confident) vào Đấng Quyền Năng Tối Cao sáng tạo ra trời đất và con người chúng ta, đó là 2 yếu tố tiên quyết, cần phải có đối với những vị tu hành thuộc bất cứ tôn giáo nào, mà Cha đã có, nhưng trên thực tế, nếu có 2 yếu tố này vẫn chưa đủ sức lực, để chống chọi lại những cạm bẫy cám dỗ của đồng tiền và tình dục, mà chúng ta luôn luôn cần phải ý thức và tự cảnh giác lòng mình trước những cạm bẫy cám dỗ này, kẻo không, chúng ta sẽ bị rơi vào cạm bẫy, rồi tới lúc đó lại đổ vạ cho ma quỷ cám dỗ chúng ta. Vậy xin Cha hãy ghi nhớ 2 câu nói sau đây trong đời sống tu hành của chúng ta là :

Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh và Lúa Chín Đầy Đồng, Nhưng Thợ Gặt Thì Ít, chứ không thiếu như nhiều người tưởng lầm. Nhiều lúc ngồi một mình thầm lặng để suy ngẫm lại những lời nhắn nhủ này, tôi mới cảm thấy thấm thía cho cuộc đời hiện tại của tôi.

Phó Tế Nguyễn Mạnh San

CHUYỆN HUYỀN BÍ CÓ THẬT

Tin tức về sự trục trặc trong show ca nhạc thu hình của Trung tâm Asia tại Hoa Thịnh Đốn vào ngày 16/4/2005 đã sớm bay về San Jose, một thành phố mà trong thời gian gần đây được mệnh danh là “thị trấn âm nhạc”, hay “thành phố âm nhạc” vì có lẽ không có nơi nào trên thế giới (ngoại trừ Sài Gòn mà người viết không biết chắc) có nhiều show trình diễn ca nhạc như ở đây – San Jose.

Lần này, Trung Tâm Asia chọn rạp The National Theater tại Hoa Thịnh Đốn làm nơi trình diễn. Rạp The National Theater nằm cách tòa Bạch Ốc 3 dãy phố và nằm đối diện với Freedom Plaza, hay còn gọi là Công Trường Tự Do. …

Xuất trưa bị… trục trặc kỹ thuật trầm trọng một cách khó hiểu…

Sau khi nghe tin show của trung tâm Asia suýt bị bễ vào xuất trưa, chúng tôi đã liên lạc ngay với một số nghệ sĩ thân hữu và được xác nhận điều đó là một sự thật.

Tới giờ khai diễn xuất 1 giờ trưa, công việc chuẩn bị kỹ thuật vẫn còn bị trục trặc. Đó là điều khá lạ vì những ai quen biết với những show thu hình của Asia đều biết rằng trung tâm thường thuê mướn rạp gần cả tuần, để thiết kế, để set-up sân khấu, máy móc, phông màn, và để diễn tập,… Chuyện trục trặc đến suýt tí bễ show thu hình là gần như khó xảy ra vì dàn kỹ thuật chuyên nghiệp và thượng thặng, tất cả người thực hiện cho show là chuyên nghiệp nhiều năm trong nghề… Thế nhưng, trục trặc kỹ thuật đã xảy ra…

Theo lời của một MC thì 9 camera thu hình đã không hoạt động được ngay từ đầu xuất trưa và chiếc máy projector chính (trong số 3 projectors) để phóng hình ảnh lên màn ảnh cũng bị trục trặc. Các chuyên viên kỹ thuật cấp tập làm việc, sữa chữa, nhưng làm kiểu gì vẫn không sao sữa chữa được. Chuyên viên kỹ thuật kiểm tra điện đầy đủ, và thiết bị đều tốt, nhưng máy vẫn không làm việc được,…

Các chuyên viên kỹ thuật chạy đua với thời gian, đầu bù tóc rối nhưng vẫn đầu hàng. Họ thay máy khác vào, lấy máy projectors đang vận hành tốt ở địa điểm khác lấp vào cũng không giải quyết được vấn đề… Chuyên viên kỹ thuật lo lắng và tâm sự rằng trong đời họ chưa bao giờ gặp chuyện trục trặc kỳ quái như vậy, dù với kinh nghiệm mấy mươi năm trong nghề…

Tới gần 3 giờ chiều, xuất diễn 1 giờ trưa vẫn còn chưa bắt đầu được… Khán giả bắt đầu khó chịu, và một số yêu cầu trả tiền vé để ra về… Trong bối cảnh “tuyệt vọng” này, chương trình đành phải khai mạc lúc 3 giờ chiều, dù không thu được hình… Nhiều tiết mục phải bị cắt để kết thúc xuất trưa đúng như dự định để còn đón xuất tối vào.

Chương trình xuất trưa diễn ra trong tình trạng projector chính không hoạt động được và 9 máy quay phim hoàn toàn không thu hình được. Như thế, cho dù show diễn ra, thì coi như không thu hình được và sẽ không có DVD ca nhạc “Hành Trình 30 Năm” và toi luôn cả triệu Mỹ kim…

Một không khí ngột ngạt và lo lắng bao trùm trong hậu trường sân khấu. Và nhiều nghệ sĩ bắt đầu chuyền tai nhau chuyện con ma trong rạp…

Trong phần sau của bài này, chúng tôi sẽ mời quý độc giả theo dõi câu chuyện ma rùng rợn của rạp The National Theater mà oan hồn là một kịch sĩ …

Các nghệ sĩ trong hậu trường đã bắt đầu nghĩ đến chuyện cúng ma nên các nghệ sĩ bắt đầu đi mua hoa quả, nhang đèn, bánh trái để cúng… Hậu trường sân khấu thay vì là những màn chuẩn bị cho chương trình bây giờ là cảnh cúng kính, cầu nguyện, khói nhan đèn bốc lên nghi ngút

Các nghệ sĩ Công giáo thì nắm tay nhau đọc kinh. Các nghệ sĩ Phật Giáo thì vừa đọc kinh, vái lạy và cúng kính… Không khí thật u tịch và thiêng liêng….

Trong lúc tuyệt vọng, hai nhạc sĩ đứng trên sân khấu cầu nguyện linh hồn nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Duy Khánh, vong hồn của hàng trăm ngàn người tỵ nạn chết trên đường vượt biên bằng đường bộ, trên biển sống linh chết thiêng về đây phù hộ trung tâm Asia, thương lượng với nhà văn oan hồn này để show diễn được, quay hình được…..

Và phép lạ đã xảy ra…

Trong lúc ca sĩ đang trình diễn một ca khúc thì bỗng dưng như một phép lạ xảy ra : Trên trần cao, một miếng plastic rớt ngay xuống sân khấu, sát bên cạnh người ca sĩ này (may là không rớt vào người anh ta) và bỗng dưng ngay sau đó 9 máy camera thu hình hoạt động bình thường, và chỉ còn chiếc projector chính không hoạt động được mà thôi.

Và từ đó show diễn trở nên xúc động và tưng bừng hơn…

Khán giả và nghệ sĩ như lên tinh thần và như một chiếc thuyền ra khơi trên đường vượt biên bị chết máy, trôi dạt trong tầm bất định và con tàu rơi vào tình trạng vô kiểm soát thì bỗng dưng mọi thứ gần như trở lại bình thường…

Trước show diễn buổi tối 15 phút, trục trặc cuối cùng – projector chính – cũng đã tự dưng hoạt động trở lại để đón khách vào xuất tối một cách hoàn chỉnh.

Khi được hỏi vì sao máy không hoạt động, các chuyên viên kỹ thuật họ trả lời : “Chúng tôi không hiểu vì sao”, và khi máy móc hoạt động trở lại, họ cũng trả lời câu giống nhau : “Chúng tôi không hiểu vì sao.” Họ còn nói them : “Trong đời mấy mươi năm làm nghề này, chúng tôi mới gặp chuyện như thế này.”

Câu chuyện về hồn ma John McCullough,

Sau bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn… hấp dẫn

Bất cứ cái nhà hát lừng danh nào trên thế giới đều phải có ít nhất… một con ma, và nhà hát National Theatre ở Washington DC cũng không thoát được cái lệ này. Vong hồn của John McCullough, một kịch sĩ lừng danh của Mỹ trong những năm của thế kỷ 19, được đồn đãi đã bay lượn thẫn thờ trong nhà hát vào những đêm tối đen.

Tương truyền John McCullough, một kịch sĩ cổ điển với cái giọng oang oang như lệnh vỡ của các nhân vật quen thuộc của Shakespeare, đã gây lộn ôm xồm với một kịch sĩ khác, không tiếng tăm bằng ông. Bề ngoài thì có vẽ trận cãi nhau tơi bời là để tranh nhau một vai nổi bật trên sân khấu mà bất cứ kịch sĩ nào lúc đó cũng mơ ước. Nhưng kỳ thật bên trong đã có một… bóng hồng chen vào. Mỹ nhân đó chính là nữ kịch sĩ của nhà hát mà cả hai đều đem lòng yêu say đắm.

Lời qua tiếng lại thế nào cũng to tiếng, to tiếng thế nào cũng có tiếng… to hơn, đó là tiếng súng, thế mới là oan gia ! John McCullough ngã sõng soài chết tươi trên cái sàn gỗ mà ông đã bao lần nghe thiên hạ vỗ tay hoan hô mình vang trời. Không rõ chuyện gì đã xảy ra sau đó. Có thể nhà hát muốn tránh một scandal khổng lồ, hay sợ thân nhân người kịch sĩ xấu số biết chuyện sẽ đòi một đám táng… tầm cỡ quốc gia, hay để phi tang các dấu vết của tội ác, chỉ biết ngay trong đêm, dưới ánh đèn leo lét, thi thể đẫm máu của ông được chôn ngay vào một cái hầm rượu nhỏ tối tăm bẩn thỉu ngay cạnh sân khấu. Một vài núm đất vô tình đó vẫn còn hiện diện đến ngày nay, trong cái móng vững vàng của Nhà Hát Quốc Gia. Nhưng sau bao nhiêu năm tháng, bây giờ cái móng nhà hát đã được đổ xi măng đặc cứng, như thế thi hài và câu chuyện của kịch sĩ thời danh tưởng chừng như bị đóng… xi măng luôn !

Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi ông qua đời, bóng ma của John McCullough bắt đầu xuất hiện. Cứ mỗi lần khai diễn một suất hát mới, người ta thấy dường như hồn ma đi kiểm tra chỗ này chỗ nọ, như chắc là mọi chuyện đã hoàn hảo cho đêm khai trương, trước khi màn nhung mở ra.

Có người thấy hồn ma ăn mặc bộ đồ của Hamlet, vai đầu tiên McCullough diễn ở Washington D.C., kẻ khác thấy ông ta trong vai nổi tiếng nhất, quan La Mã Virginius. Một kịch sĩ, vốn biết ông thuở sinh thời, đã giật bắn mình khi thấy ông ngồi… rất tỉnh trên hàng ghế khán giả, mà ánh sáng đốt bằng gas cho thấy rõ mồn một. Đến cuối thế kỷ 19, nhiều người, từ gác đêm, canh cửa và những người khác thấy hồn ma thơ thẩn khắp nơi, nhất là trong cái buồng riêng mà ông rất ưa thích trong nhà hát.

Tờ Washington Post số ra ngày chúa nhật 4/10/1896, có tường thuật “câu chuyện ma rùng rợn” của Frederic Bond, một kịch sĩ vang danh và là bạn thân của John McCullough. Một đêm kia, Bond đang một mình tập diễn lại một vai mà ông phải trình diễn sau này. Chợt ông nghe có ai to tiếng. Nhìn ra hai cánh gà, không thấy ai, nhìn xuống hàng ghế khán giả, trống trơn ! Bond tưởng mình nghe lầm, ông quay lại chú tâm tập luyện màn diễn. Tiếng động kỳ lạ lại nổi lên, Bond nhìn dáo dác, phen này ông tin là đã có ai đang phá bĩnh mình. Thình lình ông thấy gai ốc nổi cùng mình khi ông có cảm giác rõ rệt có ai đó đang bay lượn gần ông. Gần như Bond sắp thét lên kinh hoàng khi thấy một hình người lướt qua sân khấu và dừng lại trước mặt ông. Bây giờ thấy rõ mặt hình nhân, Bond thét lớn : “John McCullough, John !”

Nhưng bóng người đã quay lưng, bước đi trang nghiêm về hướng cánh gà và biến mất

Ngay lập tức Bond lại thấy… một con ma thứ nhì xuất hiện. Đó là Eddie Specht, vốn tạ thế không lâu trước đó. Specht là một thanh niên rất sùng kính McCullough, thường hay ở lại một mình bắt chước tác phong oai vệ của thần tượng sau một vỡ diễn. Giờ đây bóng ma Specht đi theo “bóng ma thần tượng” và cùng biến mất với chủ ! Nhiều người sau đó vẫn thấy hai thầy trò xuất hiện kiểu như thế nhiều lần trong nhà hát.

Vào những năm 1930, Sở Cảnh Sát Washington DC, sau gần 50 năm sau vụ án, muốn khai quật nền nhà hát, bốc hài cốt kịch sĩ bất hạnh, tìm ra ánh sáng nội vụ và mai táng kịch sĩ ở một nghĩa trang xứng đáng. Nhưng kế hoạch này bị khán giả và các nhân viên nhà hát phản đối kịch liệt. Họ nói cảnh sát không nên phá rối nơi yên nghỉ ngàn thu được kịch sĩ rất yêu thích là nằm ngay bên dưới sân khấu mình từng được ái mộ vang dội.
Chưa biết huyền thoại “con ma lừng danh John McCullough” là chuyện thêu dệt hay có thật, nhưng đùng một cái vào năm 1984, khi người ta trùng tu và phục hồi nhà hát này, các công nhân đào được một… khẩu súng lục kiểu những năm 1850 ngay dưới sân khấu. Khẩu súng này sau đó được chuyển về viện Smithsonian Institution. Tang vật của vụ ám sát lừng danh chăng ? Bí ẩn vẫn còn dày đặc…

Và những nghệ sĩ Việt trong ngày 16/4/2005 đã tin rằng hồn ma của kịch sĩ John McCullough đã phá bĩnh show của Asia và họ đã tận tình cúng kính và cầu nguyện cho show được bình an…

Nguồn đọc thêm :

http://vutruhuyenbi.com/forum/viewtopic.php?f=4&t=5697#ixzz2131wajz1

Lan caysu post

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: