TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN (4)

SƠ LƯỢC VỀ

TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

NGƯỜI VIỆT

– Trần Văn Giang

(Bài 4 – Hết)

Các Dòng tu Thiên Chúa có mặt tại Việt Nam

Tìm hiểu về Thiên Chúa giáo Việt Nam không thể không biết đến các dòng tu của các tu sĩ đã hy sinh và đóng góp công lao rất lớn cho sự chấn hưng đạo Thiên Chúa.  Xin liệt kê một số dòng tu chính tiêu biểu Dòng tu Nam và Dòng tu Nữ:

Dòng Đa minh :  Thành lập từ thế kỷ 12 bởi Thánh Đa Minh.  Tu sĩ Đa minh là những giáo sỉ Thiên chúa giáo đầu tiên đặt chân đến Việt Nam.  Chẳng hạn giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz vào năm 1550 từ Malacca đổ bộ lên Hà Tiên và sau đó từ cửa biển Bà Rịa đi Quảng Ðông.

Dòng Tên (Sociata Jesu – Jesuites) : Thành lập nam 1540, là một dòng thông thái.  Các tu sĩ dòng này có học vấn uyên bác, không riêng về thần học mà cả ngôn ngữ.  Cha Đắc lộ (Alexander De Rhodes) người sáng chế ra chữ quốc ngữ thuộc dòng này.  Ngày 15/1/1615 hai Linh Mục Buzomi (người Ý) và Diego Carvalho cùng ba thày giúp việc tới Ðà Nẵng. Sau đó ngày 15/1/1627 – nhằm ngày lễ kính thánh Giuse – Linh Mục Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) đã cập bến Cửa Bạng (Thanh Hóa) tiếp tay cho các Cha Buzimo. Và từ đó phát triển sự nghiệp truyền đạo không những bằng mục vụ thường xuyên, nhưng nhất là bằng cách hoàn bị việc thành lập chữ Quốc Ngữ.

Như vậy, giáo sĩ dòng Tên đến Việt Nam khá sớm, chỉ sau dòng Đa minh

Dòng Chúa Cứu thế (Redemptionistes) : Sáng lập năm 1732 bởi thánh Alphonso Maria Ligorio. Giáo sĩ dòng này đến Việt Nam từ năm 1925.

Dòng PhanXiCô : Thành lập vào thế kỷ 13, Truyền bá nếp sống thanh đạm, đơn giản. Từ năm 1583 đã có vết chân hai Giáo Sĩ P. Alfara và B. Ruyz tại miền Nam Việt Nam, nhưng vì gặp rất nhiều khó khăn nguyên do từ cạnh tranh giữa hai khối Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha, việc truyền đạo của Dòng Phanxicô bị gián đoạn và sau cùng bị bỏ dở. Mãi đến năm 1711 Dòng Phanxicô trở lại hoạt động tại giáo phận Ðàng Trong (một nửa tỉnh Ðồng Nai và kiêm luôn Cao Miên). Nhưng thời cuộc lúc đó cũng không may mắn hơn trước.

Dòng các sư huynh trường công giáo (còn gọi là dòng La san) : Chủ đích nguyên tủy giúp về vấn đế văn hóa, trường học cho giới nghèo.  Sáng lập bởi Cha St. Jean Baptiste de la Salle vào thế kỷ 17.

Trong nước Việt Nam dòng này đã lập ra 20 trường La san,  Riêng Saigon có 4 trường mà nổi tiếng nhất là trường Lasan Tabert có trên 3500 học sinh. Các học sinh trường La san ở Việt Nam, trái lại, lại thuộc gia đình khá giả !

Dòng Mến Thánh giá : (tiếng Pháp: de Amantes The mule Croix, tiếng Anh : Congregation of the Holy Cross Lovers) là một dòng tu dành cho những người nữ Công giáo do Giám mục Lambert de la Motte (vị Giám mục thừa sai của MEP đầu tiên ở xứ Nam Kỳ, Đông Dương, còn gọi là Giáo phận Đàng Trong) thành lập vào năm 1670, Đàng Ngoài năm (1671),

Đây là tu hội nữ đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Hiện nay, dòng này phục vụ trong nhiều giáo phận ở Việt Nam. Một vài chi dòng ở Mỹ, Thái Lan và Lào. Mến Thánh Giá là dòng tu nữ đầu tiên mang bản sắc Á Đông, vừa chiêm niệm vừa hoạt động, có lời khấn, sống thành cộng đoàn theo một bản luật được gọi là “Hiến Chương Hội Dòng Mến Thánh Giá,” trực thuộc Đấng Bản Quyền sở tại và hướng về việc truyền giáo.

Dòng các Mẹ trường (Couvent Des Oiseaux) : Đây cũng là một dòng nữ tu công giáo. Du nhập vào Việt Nam năm 1935 (Hà nội).  Nhà chính của dòng này ở Đà Lạt có một trường trung học là Couvent Des Oiseaux gồm 400 nữ sinh, và một trường ở Saigon là Regina Pacis có trên 1000 học trò.

Tóm lại, Thiên chúa giáo mang lại những quan điểm mới mẻ về Thượng đế (một đấng tối cao cai trị cả vũ trụ mà mọi người có thể khẩn cầu), vũ trụ (do đấng toàn năng tạo lập ra) và loài người (gía trị tâm linh của con người – làm con người phải được tôn trọng bình đẳng không phân biệt học thức, địa vị xã hội).  Triết lý của Thiên Chúa giáo đã là sức mạnh trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ; chủ trương con người được ban cho sự tự do và phải có trách nhiệm về hành động của chính mình.  Luân lý không phải là sự phục tùng những luật lệ của kẻ mạnh, mà phải tránh phạm những tội lổi với Thượng đế.  Thiên Chúa giáo cũng có nhiều chuyện huyền hoặc khó giải thích; nhưng Kitô hữu lại xem sự huyền hoặc đó là những “thiêng liêng !”

Tóm lại, sự truyền đạo của Thiên Chúa giáo trùng hợp cả về không gian, thời gian và cường độ với phong trào thực dân trên thế giới cho nên Thiên Chúa giáo bị đa số dân các nước thuộc địa xem như một công cụ của chương trình thuộc địa.  Ngoài ra, Đạo Thiên chúa đã đến sau (đầu thế kỷ 16) mà ý tưởng lại mới lạ (chỉ sùng bái một thần – Thiên Chúa – ngoại giả không lễ, bái, tế tự gì thêm nữa…) cho nên bị Vua (trên phương diện quốc gia) và ngay cả dân chúng (nhiều địa phương) phần vì tinh thần bài ngoại, phần thì lầm tưởng theo đạo Công giáo là bỏ ông bà tổ tiên [3].  Vấn đề này vẫn còn được tranh cãi và dễ gây chia rẽ đối với sức mạnh và đoàn kết dân tộc.  Tuy nhiên có một sự kiện tương đối rõ rệt: Thiên Chúa giáo vào Việt Nam lâu trước khi thực dân Pháp đến chiếm và đô hộ Việt Nam (Giáo sĩ Thiên Chúa Giáo I-Nê-Khu lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam năm 1533 là người Hòa lan, không phải người Pháp; cũng không phải người Tây ban nha hay Bồ Đào Nha!).

6/- Đạo Tin lành

Đạo Tin Lành còn gọi là Cơ đốc giáo, cùng nguồn gốc với Thiên Chúa Giáo, Tin thờ Đức Chúa Giêsu và Đức Chúa Trời; và cũng đồng một giáo lý.

Đến đầu thế kỷ 16, ở Châu Âu, ông Martin Luther cùng với một số đồng bạn đã khởi xướng thuyết Cải Cách để lập thành Giáo Hội Tin Lành (gốc gọi là Thệ Phản – Protestant), dần dần với nhiều nhóm nhỏ với những giáo thuyết khác biệt ở nhiều nơi. Đa số đều chỉ nhận Đức Tin làm căn bản và chỉ muốn dựa hoàn toàn vào Sách Thánh, thay vì còn phải vâng phục vào phán quyết của Giáo Quyền phổ quát của Giáo Chủ Kitô Giáo ở La Mã mà Đạo Tin Lành cho là quá đáng (!)  Đồng thời Đạo Tin lành tạo nên một số nghi thức thánh lễ mới riêng biệt không theo Giáo hội La mã.

Tiết lễ

Tin Lành vẫn giữ một số tiết lễ của Thiên Chúa giáo nhưng không quá quan tâm về ngày lễ. Chỉ giữ lại các lễ vinh danh Chúa Giêsu còn thì bỏ các lễ khác mà Tin Lành cho là không có chi phối gì đến đức tin và đời tín ngưỡng.

Tin lành chỉ có 4 tiết lễ : Giáng sinh, Phục sinh, Thăng thiên và lễ Ngũ tuần.

Các Chức Việc  

Hội Thánh Tin Lành không có phẩm trật,  Chính Chúa đứng đầu Thánh linh và ngự trị tại Hội thánh, còn lại tất cả đều bình đẳng, đều là chi thể của thân Chúa.

Tuy nhiên, vì công việc nhà Chúa, nên Hội Thánh có các chức nhiệm như sau:

Chấp sự

Mỗi Chi hội cử một số Chấp sự (có nghĩa là đầy tớ của Hội thánh) để coi việc tài chánh cho Hội Thánh và phụ tá cho Mục sư trong mọi công việc của Hội Thánh.

Truyền đạo

Truyền đạo có nhiệm vụ đi giảng đạo để giảng rao Tin lành. Những người này phải học qua nhiều lớp Kinh thánh.  Họ có thể là phó Mục sư.

Mục sư

Các vị truyền đạo sau một thời gian (ít nhất là hai năm) có thể được Hội Thánh phong chức Mục sư.

Mục sư lo phân phát lời Chúa, thực hành các nghi lễ của Hội Thánh, quản trị Hội Thánh theo kỷ luật Thánh của Chúa, chủ tọa các buổi họp của Hội Thánh.

Nhiệm vụ của Mục sư rất quan trọng nên việc tấn phong cũng rất kỹ lưỡng.

Các Thánh Lễ

Thiên Chúa Giáo có các Bí tích, Tin lành cũng có một số bí tích nhưng ít hơn, họ gọi là Thánh lễ : Báp tiêm, Tiệc thánh, Hôn phối và An táng.

Đạo Tin Lành đến Việt Nam

Năm 1887 có Mục sư A.B Simpsom và năm 1893 có Mục sư David Lelachan của Hội Truyền giáo Cơ Đốc và Giáo Liên Hiệp từ Canada có đến Saigon và cổ võ việc truyền giáo.  Tuy nhiên Việt Nam đã đặt dưới sự bảo hộ củ Pháp; và căn cứ vào Hiệp ước đã ký với Việt Nam; người Pháp chỉ cho phép Thiên Chúa Giáo được tự do truyền giáo, còn các tôn giáo khác đều bị ngăn cấm.

Năm 1905, Hội truyền giáo Tin Lành Nam Trung hoa mở một hạt truyền giáo ở Long Châu; nhưng lần này cũng không thành tựu vì người Pháp không đồng ý,

Năm 1911 Tin Lành mới được du nhập vào Việt Nam nhưng chỉ được phép hoạt đông giới hạn ở một số nhượng địa; bắt đầu hoạt động tại Đà nẵng.  Năm 1920 Đạo Tin lành mới được tự do truyền đạo.  Đạo Tin Lành truyền giáo mạnh hơn các giáo phái khác vì có đầy đủ phương tiện và đi sâu vào dân chúng hơn.

Đà nẵng có một trường dạy Kinh Thánh để huấn luyện các Mục sư Tin Lành. Hiện ở Việt Nam có nhiều chi nhánh Tin Lành ở rải rác khắp các tỉnh chinh phục các tín đồ bằng cách truyền giáo trực tiếp hoặc bằng những lớp Kinh Thánh hàm thụ, như trường hàm thụ Sion tại Saigòn. Các Mục sư Tin Lành cũng chú trọng tới phương diện bác ái xã hội: mở những phòng đọc sách và những lớp sinh ngữ cho người lớn tuổi. Không có một bản thống kê rõ rệt về số tín đồ Tin Lành vì có nhiều chi nhánh khác nhau. (Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử, tr. 182).

Tóm lại, đạo Tin lành, tuy là cũng sung tín Đức chúa Giêsu, nhưng cũng đã từng bị người “amh em” (hang lãnh đạo giáo hội Thiên chúa giáo La mã và các chính quyên thân Thiên Chúa giáo La mã) kỳ thị và cản trở sự truyền đạo và phát triển….  Khi Thiên Chúa giáo La Mã bị cấm đạo thì có sự phản đối mạnh mẽ (có cả sự can thiệp quân sự để giải quyết sự “cấm” này).  Nhưng lại quay ra “cấm đạo” khác thì kể cũng hơi “lạ!”

8/- Đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài là một tôn giáo vừa độc thần vừa đa thần (?) thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Tên gọi “Cao Đài” theo nghĩa đen chỉ “một nơi cao,” nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.”

Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Thầy.

Người phát sinh ra Đạo Cao đài là ông Ngô Văn Chiêu (còn gọi là Quận Chiêu, từng làm quận trưởng ở Phú quốc).  Ông con nhà nghèo khó sinh năm 1878 tại Bình Tây, Chợ Lớn. Ông rất ưa đồng bóng và cầu cơ. Sau khi chiêu tập các đồng chí, ngày 7 tháng 10 năm 1926 nhóm của ông đã xin Thống Đốc Nam Kỳ cho hành đạo. Cũng năm đó, lễ ra mắt tôn giáo, có Lê Văn Trung được phong làm giáo tông, Phạm Công Tắc là Hộ pháp. Giáo tông và Hộ pháp đều có nhiều phụ tá giúp đỡ. Tòa thánh Cao đài giáo đặt tại Tây Ninh trên 1 diện tích rộng hơn 100 mẫu. (Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử tr. 165).

Tín đồ Cao đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được “Đức Cao Đài” trực tiếp chỉ định. Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là “Nền đạo lớn phổ độ lần thứ Ba.”

Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ những người chung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏỉ vòng luân hồi.

Chức sắc : phải độc thân, ăn chay trường.

Tín đồ gồm 2 hạng : Thượng thừa (chay trường, diệt dục); Hạ thừa (chay từ 2 đến 10 ngày trong 1 tháng).

Kinh nguyện, Lễ vật : Mỗi ngày cầu kinh 4 lần: sáng, trưa, chiều và 12 giờ khuya. Lễ vật: chén trà, chén nước lã, 3 chén rượu (bất cứ rượu gì), hoa tươi, 1 ngọn đèn chong ngày đêm.  Lúc cầu kinh thắp thêm 2 ngọn nến.

Cao đài lấy con mắt làm biểu hiệu. Con mắt là Thiên nhãn được vẽ lại trong cảnh bồng lai. Mắt này do Ông (Quận Chiêu) sáng lập đã nhìn thấy 2 lần ở nơi khác nhau trên quận Phú Quốc là nơi Ông làm Quận trưởng.

Cầu cơ là lối duy nhất để hỏi ý Trời do đức Hộ Pháp tại Tây Ninh đứng đầu.   (NS. Legio Mariae, tháng 3 năm 1971 tr.33)

Tuy được khai sinh chính thức vào năm 1926, Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài, đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ (hơn một nửa là nông dân), với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao Đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa kỳ, Âu châu và Úc.

9/- Đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH)  

Giáo Chủ của Phật giáo Hòa Hảo là Đức thầy Huỳnh Phú Sổ.

Đức thầy Huỳnh Phú Sổ người sáng lập ra Đạo Phật Giáo Hòa Hảo, sinh vào ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày 15 tháng giêng năm 1920 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang) gần biên giới Việt – Miên.

Ngài là người con trai cả của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm, một hương tộc nổi tiếng và được tôn kính bởi dân chúng khắp vùng.

Sau khi đậu cấp bằng Tiểu học tại Tân Châu, Đức Giáo Chủ vì đau yếu liên miên, đã phải thôi học. Vì gia đình khá giả, Ngài có thể có đủ điều kiện học đến cấp cao, nhưng vì sự bệnh hoạn nói trên, khiến ngài không tiếp tục được.  Trong mấy năm từ 15 đến 21 tuổi, Đức Giáo Chủ mắc phải chứng bịnh trầm kha mà không một thầy thuốc Đông Y hay Tây Y nào trị được. Thì ra đó là cơ hội mà các đấng Thiêng Liêng dọn sửa phần xác thịt để Đức Giáo Chủ tiếp nhận những điển quang tinh anh mạnh mẽ sau nầy.

Kịp đến ngày 18 tháng 5 năm Kỹ Mão (1939), một ngày dáng ghi nhớ, một cuộc lễ vô cùng tôn nghiêm được cử hành tại Tổ Đình để cho Đức Giáo Chủ “Đền Linh Khứu sơn trung thọ mạng.”  Bấy giờ Đức Giáo Chủ được 21 tuổi. Mặc dù còn bịnh hoạn dây dưa, gương mặt Ngài trông vẫn đẹp đẽ khôi ngô và trí huệ Ngài trở nên dị thường tỏ ngỏ. Bắt đầu từ đó Ngài chữa bịnh thuyết pháp và sáng tác Thi Văn Kệ Giảng.

Từ tháng 5 năm 1936, nhiều bịnh tà, bịnh điên nan y, đã được đưa đến tận làng Hòa Hảo và được chữa khỏi.  Ngài đã chữa khỏi muôn vạn dân lành. Vì vậy mà số người đến xin trị bịnh càng lúc càng đông. Kẻ ở xa xôi tận miền Trung hoặc Sài Gòn, Chợ Lớn, cũng như người ở gần gũi miệt Sa Đéc, Cần Thơ đua nhau đến nhờ Ngài cứu chữa.

Phương pháp của Đức Giáo Chủ rất đơn giản. Tùy theo triệu chứng của bịnh nhân, Ngài khi thì nước lã, giấy vàng, lúc thì đưa bông trang, lá bưởi…  Một điều đáng để ý là mỗi khi trị bịnh cho người nào là Ngài khuyên họ nên niệm Phật tưởng Trời và vái van Thần Thánh bởi vì :

Thành lòng nước lã nên hồ,

Hữu tâm chí đức cam lồ Phật ban.

Số người được cứu sống rất đông. Nhờ sự cứu bịnh đó của Ngài, Đức Giáo Chủ trong một thời gian ngắn khoảng một năm (1939-1940), đã thu hút được một số đông quay về ngưỡng mộ.

Thế mới hay Ngài đã thực hành phương pháp dự định trước kia là “dùng huyền diệu của Tiên Gia độ bịnh cho kẻ có căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ bi của Chư Vị với Trăm Quan.”  Người ta đã cảm đức và ghi ân, nên đã trùng trùng quy y Phật Pháp.

Sau ngày “chịu lịnh Tây Phương thọ ký,” tức là ngay 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Đức Giáo Chủ ít trầm mặc và nói nhiều hơn xưa. Gặp ai Ngài nói nấy. Ngài nói về sắc diện, tính tình và tương lai của người đối thoại để gần cuối câu chuyện, Ngài khuyên làm lành, lánh dữ và nên tin Phật, xem Kinh.

Thế là trong số thập phương thiện tín tới viếng Giáo Chủ ngoài những người xin bùa, thỉnh thuốc, từ ấy lại có thêm nhiều người đến để, hoặc nghe Ngài giảng giải giáo lý nhiệm mầu, hoặc đọ sức thử tài xem coi sở kiến của Ngài có áp phục được họ chăng. Nhiều học giả đương thời sau một lần gặp Đức Giáo Chủ thì đều phục tài kính đức.

Lại nữa, lời văn của Đức Giáo Chủ có mãnh lực hấp dẫn quần chúng một cách lạ thường nên nhiều thính giả sau khi gặp Ngài liền phát tâm tu hành theo Đạo.

Ai đã từng theo dõi gót Ngài trong cuộc khuyến nông năm 1945, trong vòng 2 tháng với không biết bao nhiêu lý luận khác nhau, đều phải công nhận Ngài là bậc “mồm sông bút sấm.”

Những cuộc thuyết pháp kể trên, nếu cộng với 107 lần chu du khuyến nông thuyết giáo trên gần khắp miền Nam năm 1945, chúng ta có thể nói Ngài đã trải qua trên một ngàn lần khuyến thuyết quan trọng với hằng ngàn đề tài khác biệt. Và nhờ những cuộc thuyết pháp này mà người mộ đạo quy căn, ngày càng đông thêm.

Nhưng công đức vĩ đại lớn nhất của Đức Huỳnh Giáo Chủ trong việc truyền giáo là việc viết ra Kệ Giảng. Nhờ Kệ Giảng đó mới được phổ truyền một cách sâu rộng chủ trương canh tân Phật Giáo của Ngài và nhờ đó mà hằng triệu người mộ đạo và quay về với chân tính, tự tâm.

Những tác phẩm của Đức Giáo Chủ viết ra, phần nhiều thuộc thể văn vần. Ngài viết, dầu tản văn hay vận văn, điều đáng để ý là khi cầm bút thì cứ viết thẳng một mạch, không dùng giấy nháp. Có thể kể những tác phẩm trường thiên sau đây của Đức Giáo Chủ  :

1. “Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm,” tức quyển nhứt, văn lục bát, dài 910 câu xuất bản lần đầu năm 1939.

2. Kệ Dân của Người Khùng,” tức quyển nhì, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

3. “Sấm Giảng,” tức quyển ba, văn lục bát dài 612 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

4. “Giác Mê Tâm Kệ,” tức quyển thứ tư, văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu, xuất bản lần đầu năm 1939.

5. “Khuyến Thiện,” tức cuốn thứ năm, đoạn nhứt và đoạn chót viết bằng lối lụt bát, đoạn giữa viết bằng lối thất ngôn, dài 756 câu, xuất bản lần đầu năm 1942.

6. “Tôn Chỉ Hành Đạo.”  Quyển này viết bằng văn xuôi, xuất bản lần đầu năm 1945. Tuy văn xuôi, quyển này có một đặc sắc là giản dị mà lưu loát, âm hưởng du dương nhịp nhàng.

Từ năm 1943, Ngài tham gia hoặc làm cố vấn một số phong trào chính trị.  Năm1946, Ngài cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng gọi tắt là “Đảng Dân xã” bao gồm cả lực lượng võ trang nòng cốt trong Hòa Hảo ở một số tỉnh miền Tây.

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 (tức ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh Hợi), chi đội trưởng Vệ Quốc Quân Bửu Vinh và Thanh Tra Chánh Trị miền Tây Nam Bộ Trần Văn Nguyên, âm mưu mời Ngài đến họp và hãm hại Ngài tại ngọn rạch Đốc Vàng Hạ, nay thuộc xã Tân Phú, tỉnh Đồng Tháp. Trong lúc họp, Bửu Vinh đã cho quân của Việt Minh phục kích và giết các tự vệ quân của Đức Giáo Chủ.  Sau biến cố này không một ai rõ tin về Ngài nữa (!)

Liền ngày sau, Việt Minh đã phát động một chiến dịch đại quy mô nhằm tiêu diệt tất cả các chức sắc và cán bộ PGHH.

Kể từ ngày Đức Giáo Chủ ra đi (1947) cho đến nay, đoàn thể PGHH vẫn một lòng tin tưởng Ngài không thể bị hãm hại; và Ngài sẽ trở về để hoàn tất sứ mạng thiêng liêng tại Hội Long Hoa đúng như những lời tiên tri trong kinh giảng.

Nghi lễ

Đạo Hoà Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Đạo Hoà Hảo chủ trương giúp đỡ người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém. Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Họ cho đó là những sự phung phí thay vì dùng tiền đó dể giúp đỡ những người thực sự cần đến.

Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo gọi là Tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo Hòa Hảo không xây dựng chùa chiền có tượng ảnh thờ. Vật thờ của đạo Hòa Hảo hiện nay là tấm vải có màu nâu (dà) sẫm (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư tưởng của Phật giáo: “Phật tại tâm, tâm tức Phật.”  Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguyên nhân.

Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hoa, nuớc lạnh tinh khiết. Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông thiên. Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng và kinh Phật do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ soạn với mục đích tĩnh tâm và cầu vãng sanh Tịnh Độ.  Kinh đọc sáng và chiều dài độ hai phút, Chay lạt: 4 ngày: rằm, mồng 1, 14 và 29. Nhập đạo do 2 tín đồ giới thiệu với Ban trị sự.

Tổ đình

Ngôi nhà đầu tiên có tên Tổ đình, là nơi sinh trưởng Huỳnh Phú Sổ, là nơi khai sáng đạo Phật giáo Hoà Hảo (xưa thuộc làng Hoà Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.).  Sau này các ngôi nhà thờ phụng của Phât giáo Hòa hảo đều gọi là Tổ đình.  Tổ đình có một ban Phụng tự lo lắng về các khoản nhu cầu cần có để duy trì, bảo trì Tổ đình và các cơ quan của Đức Ông để lại như là: Cứu Tế Viện, Thư Viện, Hành Hương Lữ Viện, Đài Chiến Sĩ Hòa Hảo, v..v..   ban Phụng tự không có quyền hạn gì về việc lãnh đạo tôn giáo.

PGHH có khoảng 2 triệu tín đồ sống tập chung tại các tỉnh miền Hậu giang.

Lời kết

Tôn giáo nào cũng vậy, Thánh nào cũng vậy, cũng chỉ dạy người ta làm lành, làm việc phải.  Thử nhìn lại, Khổng giáo dậy phải học và thực hành chữ Nhân, Phật giáo nhắc nhở tâm từ bi, Thiên Chúa Giáo đề cao lòng bác ái… Rõ ràng là các tôn giáo lớn đền có cùng một mẫu số chung là “thương yêu và giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình” có gì là lạ lùng đâu?  Con người nông cạn, hời hợt nhưng lại cực đoan, cố chấp, xấu tính, thường không xem xét sự việc đến nơi đến chốn, cứ thấy lạ tai, lạ mắt, không vừa ý với mình thì đem lòng hiềm nghi.  Hậu quả chỉ gây nên họa loạn, chiến tranh để mà giết lẫn nhau.  Làm như vậy mới thực là điều trái với tôn chỉ của chính tôn giáo của cá nhân mình đang sùng tín,

Ngoài ra, các xã hội văn minh đều tôn trọng tự do tín ngưỡng.  Bản thản mình còn lạc hậu hay sao mà lại lấy ý riêng của mình để bài bác, ngăn cấm, bêu riếu tín ngưỡng của người khác.  Một Đạo thịnh hay suy là vì có số người tôn kính đạo đó nhiều hay ít; hoặc những tín đồ tôn tín đạo của mình như thế nào; chớ không phải vì thói quen ghen ghét hẹp hòi của cái tâm ác mình soi vào.

Trần Văn Giang  (Tháng 6/28/2011)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: