LỄ VÍA BÀ CHÚA XỨ

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

NÚI SAM – CHÂU ĐỐC

Từ 23/4 đến 27/4 âm lịch tới đây (nhằm ngày 25/5 đến 29/5/2011), được xem là ngày Vía của Bà Chúa Xứ Chậu Đốc. Chúng ta thử tìm hiểu qua “Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”, nếu các bạn chưa biết (nhưng thực tế người dân Nam bộ và miền Đông Nam Bộ, có lẽ đa số người biết đến nơi được gọi là linh thiêng này).

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc phường Núi Sam (trước đây là xã Vĩnh Tế), thuộc thị xã Châu Đốc là một di tích về lịch sử, kiến trúc & tâm linh, của tỉnh An Giang (xưa tên là Long Xuyên).

Nguồn gốc

Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh Núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng ông Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm nơi đây và đã hoàn tất  miếu vào năm 1824.

Kiến trúc

Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc Núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.

Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “Quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ thứ VI, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo.

Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng : Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đến phát hoang tìm thấy và đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng.

Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…

Việc thờ cúng

Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 ÂL hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm :

– Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 ÂL.

– Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị ông Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24/4 ÂL.

– Lễ túc yết và Lễ xây chầu : Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

– Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

– Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

Ý nghĩa việc thờ cúng

Nhà văn Sơn Nam viết :Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau…

Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài… Đây là dạng tu tiên, một dạng như : Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ hoặc Liễu Hạnh Công Chúa… nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên Núi Sam hội đủ : Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

Theo Nguyễn Đức Toàn, thì : Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở Châu Đốc… Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm : Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như : Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa… Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau :

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

Tạm dịch : Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mộng / (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

(trích Wikipedia)

ĐỌC THÊM :

Trong những ngày lễ vía Bà Chúa Xứ hàng năm từ 23 đến 27/4 ÂL, bá tánh thập phương đến dự rất đông. Trong những ngày vía có các nghi lễ được tổ chức thật tôn nghiêm như :

– Lễ “tắm Bà” (tương tự như lễ Mộc dục ở ngoài Bắc) được tổ chức vào giữa đêm 23/4 rạng sáng 24/4 ÂL. Vào lúc này mọi người đã tề tựu đông kín cả miếu, đặc biệt là những tín nữ trong tay cầm bông huệ trắng quì trước chính điện. Nghi thức “tắm Bà” bắt đầu khi một tấm màn giăng che kín tượng, hai quí bà được vào tắm cho Bà (lau bụi trên cốt tượng và rửa bằng một thứ nước trộn với quế pha nước hoa, rồi thay áo mão cho Bà).

– Lễ “thỉnh sắc” cử hành vào lúc 3 – 4 giờ chiều ngày 24/7. Đoàn rước sắc của Bà do các triều vua Nguyễn ban, từ Lăng Thoại Ngọc Hầu đi về miếu Bà thật trọng thể.

– Lễ “túc yết” cử hành vào nửa đêm ngày 24. Theo truyền thống dân làng Vĩnh Tế chọn ra những người lão thành lo lễ tế. Khi vào lễ họ mặc áo dài đầu đội khăn đống, xếp thành hai hàng đứng trước tượng Bà, cùng 8 học trò lễ hầu dâng, còn ông chánh bái đứng đối diện trước tượng.

Vật hiến tế là một con heo mao huyết, mâm xôi, trái cây và rượu. Khi dâng heo lên bàn cúng, chánh bái được 8 học trò lễ lần lượt dâng hương, dâng rượu lên Bà để ông đọc văn tế cầu xin quốc thái dân an, thần linh chứng giám. Đọc xong, các học trò lễ dâng tiếp hai lần rượu và cuối cùng là dâng trà.

– Tiếp sau lễ “túc yết” là lễ “xây chầu”. Những người hành lễ cũng áo dài, khăn đống, đứng xếp thành hai hàng trước tượng nhưng từ trước cửa điện trở ra là sân diễn cho đoàn hát bộ đang sẵn sàng. Ông chánh bái lấy cành dương nhúng vào chén nước cầm trên tay, vẩy lên và đọc lời cầu nguyện. Xong lễ, ông đánh ba hồi trống và khởi lệnh : “Ca công tiếp giá !” thì trống mõ của đoàn hát bộ tấu lên, theo đó là cuộc biểu diễn bắt đầu.

Các tuồng diễn là sự tích lịch sử như : Trưng Vương, Trần Bình Trọng… Sau đó khoảng 4 giờ sáng ngày 27 có lễ “cầu an” (giống như lễ “túc yết”). Vào 3 giờ chiều ngày 27/4 ÂL cử hành lễ đưa sắc về lại lăng Thoại Ngọc Hầu và hoàn tất những ngày lễ vía Bà Chúa Xứ.

– Tìm hiểu về cốt tượng Bà

Năm 1941, một nhà khảo cổ học thuộc trường Viễn Đông Bác cổ Maleret có đến khảo cứu về pho tượng và kết luận, tượng đá thuộc dạng tượng thần Vitnu thường thấy ở Ấn Độ, Lào, Campuchia và miền Trung Việt Nam (nơi ở của người Champa gốc Khmer, mà vào thế kỷ XII quân Khmer chiếm kinh thành của người Champa).

Nên theo truyền thuyết, bức tượng Bà Chúa Xứ do vua Miên tặng Đô thống Thoại Ngọc Hầu là không phải không có cơ sở. Như phần trên đã viết, khi Đô thống qua Miên làm công tác bảo hộ trấn Tây, ông đuổi tan quân Xiêm La đang xâm lược đất Miên, được vua Miên tặng cho pho tượng Bà, về tới quê nhà ông cho lập miếu để dân chúng thờ phụng (vào năm 1820), sau này, 1847 mới xây tiếp chùa Tây An….

Nguyễn Việt (trích trong Almanach “Phong tục thờ cúng” của tác giả, đã xuất bản)

LỜI BÀN THÊM : Hiện nay không chỉ có Miếu Bà Chúa Xứ ở Núi Sam – Châu Đốc (được gọi Miếu Bà hay còn gọi Miếu Bà 1), còn ngay tại Sài Gòn có rất nhiều Miếu Bà Chúa Xứ được lập ra thu hút bá tánh trong thành phố ngại đi xa (khoảng gần 300km), như Miếu Bà 2 trên đường Huỳnh Tấn Phát thuộc huyện Nhà Bè (gần phà Bình Khánh đi Cần Giờ); Miếu Bà 3 nằm trên cù lao Q9, trước khi ghé thăm có chùa Hội Sơn, đi đò thì đến chùa Phước Long nơi có phối tự thờ Bà; Miếu Bà 4 ở ngay bến đò Miếu Nổi – Gò Vấp (cuối đường Nguyễn Thái Sơn) thờ trong Tân Sa miếu, nếu đi đò mới ra miếu nổi Phù Châu của người Hoa; Miếu Bà 5 nằm cuối đường Trần Não Q2, Bà được thờ trong Đền Quan Thánh Đế Quân và cuối cùng…. trong hang cùng ngỏ hẽm nào cũng có nơi thờ Tượng Bà. Không biết các tỉnh thành khác trong nước có nhiều nơi phối tự như ở Sài Gòn không ?

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: