HÀNH QUYẾT DÃ MAN KIỂU TÀU

NGHỆ THUẬT GIẾT NGƯỜI 

Đọc bài viết về những phương cách hành quyết dã man bên Tàu ngày xưa.

Nghệ thuật giết người của Tàu

Ở trong chăn mới biết chăn có rận ! Viết về nghệ thuật giết người của Tàu thì chỉ những văn sĩ Tàu viết mới chính xác, mới không bị mang tiếng là vẽ rắn thêm chân !

Chuyện này viết lại theo Đàn Hương Hình của Mạc Ngôn, một Văn Sĩ Tàu thời nay.

Xử tử phạm nhân thì thường là chặt đầu hay treo cổ,  ác hơn thì là đánh bằng gậy, kẹp chả, bó giò, bỏ bao tải thả trôi sông, năm ngựa phanh thây, chặt làm tám khúc … ác nữa thì như ở Trung Đông cho ném đá hoặc đóng đinh câu rút nạn nhân trên cây thập Tự Giá cho phạm nhân chết từ từ vì khổ sở, đau đớn mất máu … Nhưng giết người mà để cho đau đớn đến cùng cực, đau khổ đến phải toát hết mồ hôi trong người ra rồi mới được chết và người hành hình cũng phải vận dụng hết khả năng, tay nghề và cũng phải toát hết mồ hôi mới thi hành xong bản án thì  chỉ có ở bên Tàu !

Người thi hành án tử hình được gọi là Đao Phủ (dù có khi thi hành án không dùng đao). Ở bên Tàu, Đao Phủ là một nghề hẳn hoi  có ông Tổ đàng hoàng nên trước khi hành hình, Đao Phủ phải lấy trong làn ra một bó hương quí, nhẹ nhàng rút ra ba nén, châm lửa từ cây nến trên bàn thờ Tổ, rồi cắm vào lư hương, quì xuống khấn vái xin Tổ phù hộ, độ trì thì Tổ mới độ cho công việc được xuông sẻ.

Tương truyền rằng ông Tổ nghề Đao Phủ tên Cao Đào, một bậc đại hiền, một trang anh kiệt  thời Tam Hoàng Ngũ Đế,.  Suýt nữa kế vị ngôi vua của Đại Vũ. Các loại hình phạt ngày nay là do ông Tổ chế định ra. Ông này mắt phượng mày ngài, mặt đỏ như táo chín, mắt sáng như sao, râu ba chòm, tướng mạo như Quan Công thời Tam Quốc. Sư Tổ này giết người không cần dùng đao, chỉ dùng mắt nhìn vào gáy phạm nhân rồi lướt ngang một cái là đầu phạm nhân rơi ngay xuống đất !

Người đời vẫn quan niệm rằng Đao Phủ là loại tiện nhân và không được liệt vào một trong chín hạng người trong xã hội Tàu ! Nhưng Đao Phủ lại đại diện cho sự tôn nghiêm của đất nước. Đất nước có nghìn vạn pháp qui, nhưng thực thi thì phải nhờ vào Đao Phủ. Đao Phủ tuy là hạng đốn mạt nhưng công việc mà Đao Phủ đảm nhiệm không đốn mạt. Nghề này người đứng đắn không làm, kẻ lười biếng, ươn hèn không làm nổi. Nghề này mà phát triển thì triều đình hưng thịnh, nghề này tiêu điều thì khí số của triều đình cũng hết. Nó tiêu biểu cho tinh, khí,t hần cuả triều đình. Thiên hạ coi thường nghề Đao Phủ, nhưng một khi đã làm nghề này thì coi thường tất cả mọi người ! Từ người dân đen cho đến quan cực phẩm nếu có tội đều phải ngửa cổ ra cho Đao Phủ trị tội.

Thời Phong Kiến, Đao Phủ không được vào biên chế vì thế Đao Phủ năm không bổng lộc, tháng không lương phạn, họ sống nhờ bán những thứ thu nhặt từ người chết để làm thuốc và một đôi khi cũng được vua, quan thưởng cho chút ít.

Triều nhà Thanh, Ngục Áp Tư thuộc Bộ Hình chỉ có bốn Đao Phủ. Người cao tuổi nhất, kinh nghiệm nhất, tay nghề giỏi nhất được gọi là Già, (thí dụ người đó tên Kiệt thì gọi là Già Kiệt). Ba người còn lại căn cứ vào kinh nghiệm và tay nghề lần lượt có tên là Dì Cả, Dì Hai, Dì Út. Người giúp việc cho các Dì và Già được gọi là Cháu Ngoại. Đã là Đao Phủ thì phải là Đao Phủ của Ngục Áp Tư của Bộ Hình, chứ Đao Phủ của các Phủ, Huyện thì là những Đao Phủ tầm thường chỉ biết chặt đầu treo cổ… như một tên Đồ Tể mà thôi !

Muốn trở thành Đao Phủ thì trước nhất phải là cháu ngoại, làm những việc lặt vặt như quyét nhà, nấu cơm, giặt giũ… phải thực tập ở cửa hàng thịt lợn cho đến khi chọc một dao là đúng ngay yếu huyệt cổ, đường dao đi ngọt như đâm vào tảng đậu hũ, ấn thêm một nhát nữa, lưỡi dao rồi cả cán dao lút sâu trong cổ lợn, tiếng kêu im bặt, chỉ còn tiếng nấc cụt, rồi tiếng nấc cụt cũng không còn, con lợn run rẩy, chân run, da run, đám lông cũng run, rút dao ra không một giọt máu nhưng khi nghiêng con lợn, để chỗ cắt tiết chiếu thẳng xuống chậu hứng, vỗ một cái một giòng máu nóng sẽ vọt ra, phun thẳng vào cái chậu để ở xa !

Kỹ thuật đâm đã vậy, Kỹ thuật cắt, chặt cũng phải điêu luyện, cắt làm sao mà hô một lạng, một cân… là cắt đúng một lạng một cân… không hơn không kém, chặt cũng vậy, vết chặt phải chính xác, dứt khoát, chặt đâu trúng đó, chặt đứt rời thì dứt khoát phải đứt rời, nhưng chặt đứt tới da thì dứt khoát khi chặt xong thịt xương đứt nhưng da vẫn phải còn…

Sau khi học xong kỹ thuật đâm, cắt , chặt (chém) cháu ngoại sẽ được Già và các Dì tùy điều kiện chỉ bảo về cơ thể con người như kinh mạch, huyệt đạo… chỗ nào trong cơ thể con người đụng vào máu chảy nhiều, ít, chỗ nào làm tim đập nhanh chậm, chỗ nào làm hơi thở mạnh, yếu …., tóm lại Đao Phủ phải tinh thông về cơ thể con người như một bác sĩ khoa Phẩu-Thuật ngày nay .

Đao Phủ tinh thông được những việc trên phải là người có năng khiếu và phải mất thời gian khá lâu chứ không thể một sớm một chiều là đã có thể hành nghề được, nhưng đạt được như thế thì cũng mới chỉ là một Đao Phủ tẩm thưởng. Đao Phủ cũng giống như Thái Giám trong cung, Thái Giám dùng dao đoạn bộ đồ nghề để tịnh thân, thân tịnh rồi nhưng tâm chưa chết. Đao Phủ hành nghề bằng cây đao, bộ đồ nghề vẫn còn, thân chưa tịnh mà tâm thì đã chết rồi ! Một Đao Phủ xuất sắc thì đứng gần phụ nữ cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện ấy. Còn nghĩ đến chuyện ấy thì tâm vẫn còn động, tâm động thì hành xử sẽ không chính xác và công việc sẽ không được xuông sẻ !

Một Đao Phủ hạng nhất phải là một cao thủ chặt đầu người, một chuyên gia tinh thông các hình phạt tàn khốc của mọi thời đại, lại còn biết bổ xung thêm vào đấy những phát minh sáng tạo của riêng mình.

Trước khi thi hành án, theo đúng tục lệ thì sau khi sư phụ khấu đầu xong, các đệ tử cũng phải khấu đầu chín cái rồi đứng lên lùi sau sư phụ ba bước, Hai Dì chạy ra ngoài, một Dì bê vào một cái chậu men xanh, một Dì cầm chân, xách con gà trống lông trắng, mào đen, cả hai thứ được đặt trước bàn hương án. (phải là loại gà trống có lông trắng, mào đen thì mới linh thiêng và có nhiều tiết).  Một Dì quì trước hương án, tay cầm đầu, tay cầm chân căng cổ con gà ra cho Dì kia cắt tiết  (nếu cắt mà không chảy máu là điều thi hành án không thuận). Khi gà đã chảy hết máu, hai Dì dâng liễn tiết lên bàn thờ, vái một vái rồi bước lùi ra sau. Đao Phủ sẽ dầm tay trong liễn tiết như là muốn cho tay uống no tiết, sau đó xoa hai bàn tay lên mặt mình cùng Đao Phủ phụ việc, lúc này mặt của cả hai đều đỏ như mặt Sư Tổ. Phải bôi mặt bằng máu gà là để tà ma, quỉ quái biết rằng đây là đệ tử của Sư Tổ Cao Đào đi thi hành án. Lúc thi hành án thì Đao Phủ không phải là con người, mà là thần linh, là phép nước. Vì tượng trưng cho phép nước tôn nghiêm nên khi đứng trên Đài gặp Vua Đao Phủ cũng không phải chào, trong những buổi hành hình có Vua ngự lãm, lúc Vua đến, bá quan van võ đều phải phủ phục xuống chào thì Đao Phủ vẫn hiên ngang đứng như một tượng đá .

 Trước và trong khi thực hiện bản án phải nghiêm trang kính cẩn, cấm không được cười đùa, một câu nói gở, lỡ miệng, phạm húy… là rước hốn ma về nhà.

 Có một qui luật bất thành văn nhưng Đao Phủ phải làm là hàng năm cứ đến ngày 12 tháng 12 ÂL phải đến chùa ăn cháo thí vì ngày ấy chùa nào cũng có nấu cháo phát không cho những người nghèo khó. Hành đông này là để cáo với Phật Tổ rằng hành nghề đao phủ cũng như hành nghề ăn xin, chẳng qua là kiếm miếng ăn chứ không phải thích giết người, hành động ăn cháo thí là hòa đồng thân phận đao phủ với dân nghèo là một. Dù ở Ngục Áp Tư ngày nào cũng cơm thịt, nhưng cháo thí thì năm nào Đao Phủ cũng phải ăn .

Thi hành án xử trảm thì quá đơn giản với Đao Phủ, chỉ cần quan Giám Hình hô lớn : – Thi hành án.

Lập tức Đao Phủ phụ việc bước lên kéo ngược tóc phạm nhân để cổ vươn dài ra, bằng kinh nghiệm của mình, thoáng cái Đao Phủ đã nhìn thấy đót xương cổ cần thiết và sau một cái vặn người đúng cách Đao Phủ phụ việc đã nâng cao đầu phạm nhân trên tay cùng với tiếng :  – Mời đại nhân nghiệm thu .

 Có đầu lìa khỏi cổ rồi mắt vẫn còn trợn ngược, chân mày dựng đứng, hai hàm răng đánh vào nhau phát thành tiếng, có đầu ứa nước mắt, cũng có đầu nhắm mắt thanh thản và người ta tin rằng ngay lúc ấy cái đầu vẫn còn tiếp tục suy nghĩ ?

 Chém treo ngành thì cũng giống xử trảm chỉ khác ở chỗ đầu không đứt hẳn mà dính với người bằng một lớp da, Đao Phủ trong trường hợp này phải thật là điêu luyện vì nếu không thì một là đầu rơi xuống đất, hai là đầu không gục xuống được, cả hai trường hợp đều xem như thất bại !

Còn một cách chém ghê rợn hơn là chém ngang lưng. Chuyện kể về việc tên coi kho bạc của Hoàng Gia.

 Ngày xưa,những tên coi kho đều là những tên chuyên gia về trộm cắp. Coi kho tuy đồng lương rẻ mạt nhưng tên nào cũng nhà cao cửa rộng, thê thiếp đầy đàn. Khi vào kho tên nào cũng phải trần truồng, khi ra cũng vậy nhưng ngân khố năm nào cũng thâm hụt, không biết bao nhiêu quan coi kho đã bị chết, nhưng không ai nghĩ là bọn coi kho dở trò ma mãnh. Hàng ngày chúng dùng cái chùy bằng gỗ đàn hương để nống hậu môn. Chùy có hình dạng giống cu của con lừa chia ba cỡ, nhỏ, vừa và to. Lúc đầu nhỏ, sau vừa và cuối cùng to, ngày nào cũng nống, đêm nào cũng nống cho đến khi không còn nống được nữa mới thôi. Hậu môn là nơi da mỏng, bình thường một hạt cát không lọt nên chẳng ai khám xét nơi đó. Hôm ấy tên coi kho  to lớn tham lam nhét vào hậu môn tới ba đỉnh bạc, lúc rời kho hắn thở hổn hển, mông cành ra như kẹp cả một bọng cứt, viên quan thấy điệu bộ của hắn bất thường bèn đạp vào mông hắn một cái, tên coi kho quỵ xuống và một đỉnh bạc rớt ra khỏi hậu môn. Viên quan đạp thêm mấy đạp, hai đỉnh nữa chui ra, thế là mánh lới của những tên coi kho bị phát hiện ! (sau này những tên coi kho khi ra về đều bị vạch hậu môn ra khám)

Sự vụ tâu lên Vua, Vua ra lệnh cho Ngục Áp Tư nghĩ ra hình phạt, kết quả là những tên coi kho bị giết bằng những thanh sắt nung đỏ xiên vào hậu môn, riêng tên bị bắt quả tang thì bị tội chém ngang lưng, xử công khai coi như phân trần với xã hội sự oan uổng của những quan coi kho bị giết trước đây.

Đêm trước khi xứ án, đích thân Già phải mài lưỡi búa Tuyên Hóa vì từ thời Sư Tổ, chém ngang lưng thì phải chém bằng búa, Dí Cả, Dì Hai chuẩn bị thừng chạc, đôn, ghế … và để đề phòng còn mang thêm một thanh Đại Đao nữa.

Buổi sáng, tên coi kho được giải lên bục thi hành án. Tên này uống hơi nhiều rượu đoạn hồn nên say xỉn, mắt đỏ ngầu như mắt cá chày, miệng sủi bọt y hệt một con trâu điên. Vai hắn hích nổi ngàn cân nên khi hắn cựa Dì Cả, Dì Hai không sao giữ nổi. Hắn càng quậy người xem càng ồ lên thích thú  hắn càng quậy dữ ! Chật vật lắm mới trói được hắn vào cái đôn bằng gỗ, Dì Cả đè đầu, Dì Hai đè chân, hắn không hiền chút nào, hai tay vung loạn xạ, hai chân đạp như ngựa đá, xương sống uốn như rắn, lưng gồng lên như sâu đo. Quan Giám Hình sốt ruột, không đợi trói xong đã ra lệnh thi hành án. Già vung lưỡi búa lên quá đỉnh đầu rồi chém mạnh xuống, Soạt … một luồng ánh sáng trắng kéo theo một làn gió, Phụt… một làn sóng đỏ bắn tung tóe vào mặt Dì Cả  Dì Hai, mặt của  hai Dì dính đầy máu. Nhát chém không gọn, chỉ đứt có một nửa vì khi lưỡi búa hạ xuống, tên phạm vặn mính một cái, nên chỉ đứt một bên bụng ! Tiếng gào thảm thiết của hắn át cả tiếng reo hò của người xem, ruột của hắn tuồn ra ngoài bụng. phủ kín cái đôn gỗ. Lưỡi búa đã bập sâu vào đôn, cán búa dính đầy máu, trơn tuột không rút ra được để chém thêm nhát nữa, công chúng lại reo hò vì nghịch cảnh xảy ra. Tên phạm nhân tay nào chân nấy quẫy đạp lung tung, tiếng gào của hắn kinh thiên động địa, ngay lúc ấy Dì Cả tự động tiến lên vung đao, nghiến răng chặt một nhát, tên phạm đứt làm hai đoạn, Già quay lại bẩm Giám Quan  : – Án đã thi hành xong, mời Đại Nhân nghiệm thu !

Các Đại Nhận ngồi im như phỗng, mặt tái nhợt. Nửa người dưới của tên phạm vẫn đang co giật nhưng không mạnh, còn nửa người trên thì kinh khủng, tên phạm gần như hóa thân của con chuồn chuồn, mất nửa người dưới mà còn định cất cánh bay. Hắn chống hai tay xuống đất, dựng thẳng người lên, nhảy lóc cóc trên bục hành hình, máu và ruột gan của hắn quấn quanh chân của hai Dì, mặt hắn như dát vàng, nhẵn bóng, miệng hắn rộng như chiếc tam bản, gào to mà không nghe rõ gào câu gì ? chỉ thấy bọt máu phun phì phì. Kỳ dị nhất là cái đưôi sam cứ cong dần lên như đuôi con rết, dựng đứng sau gáy một lát, rồi mệt mỏi thả xuống, thẳng đuỗn. Công chúng nín thở, người yếu bóng vía thì hai tay bưng mặt, có người lợm giọng, nôn khan . Tên phạm vật vã khoảng hút tàn một tẩu thuốc mới ngã xuống, ngã rồi miệng vẫn nhai chóp chép, bịt tai lại cứ tưởng đó là tiếng trẻ con bú sữa ! Cả Già và hai Dì đều ướt đẫm mồ hôi !.

Nhưng giết người bằng cách chém như kể trên chỉ là để xử những vụ án tầm thường, có những vụ án lớn cần xử để làm gương thì Đao Phủ phải nặn óc, lật sách  tìm tòi rồi đưa ra những hình phạt được xem là khốc liệt nhất để cấp trên chọn lựa.

Như đã nói, Đao Phủ hạng nhất luôn có những phát minh sáng tạo của riêng mình thì Đai Diêm Vương là một hình phạt được xem như một thí dụ.

 Đai Diêm Vương còn gọi là  “Hai rồng vờn ngọc”. Chế tạo hình cụ này cực kỳ phiền phức, chỉ riêng cái đai thép, cứng không được mà mềm cũng không xong, nó phải là loại thép dẻo cao cấp mà chỉ thợ rèn lão luyện mới làm được ,khi đã có đai thép rồi thì lại phải mua da trâu chưa thuộc về cắt thành sợi, bện thừng dể lồng vào đai thép, phải ước chừng cái đầu phạm nhân cỡ nào dể khi chụp đai thép lên đầu thì hai mắt của hắn khớp với hai lỗ trên đai. Mục đích của Đai Diêm Vương là giết gà dọa khỉ, giết người này để răn đe những người khác, nên thời gian thụ hình chí ít cũng phải một giờ, phải hấp dẫn hơn là xem kịch, phạm nhân phải chảy cạn mồ hôi mới được chết, người hành sự cũng phải mồ hôi đầm đìa thì mới chứng minh được trình độ và giá trị của Đai Diêm Vương.

Người bị hành hình bị trói vào cột. Sau khi có lịnh thi hành án thì hai Đao Phủ bước tới chụp đai thép vào đầu phạm nhân, chụp xong, mỗi người lùi lại hai bước kéo căng sợi da trâu trong tay vừa kéo vừa dừng, sợi dây da trâu cũng vừa căng vừa dừng cùng với tiếng rú của phạm nhân, cứ căng là rú, dừng là im, căng rú, dừng im.. Đao Phủ lúc này là một Nhạc Sư cao thủ không phải đang giết người mà đang tạo ra những âm hưởng làm kinh động lòng người !

Thường thì chỉ một thời gian ngắn, phạm nhân sẽ ỉa đái trong quần, mùi xú uế sẽ bốc lên, người xem mặt xanh như tàu lá, không dám thở mạnh, có người ngất xỉu, thế là đã đạt được mục đích răn đe.Trong lúc đó Đao Phủ vẫn vận sức căng đều, cái đai xiết chặt từng li một, đầu nạn nhân thắt lại như quả bầu be, phạm nhân đã cạn mồ hôi. giờ đây rỉ ra một chất như mỡ cá, vừa tanh vừa khẳm vượt xa mùi cứt đái ở trong quần. Đó là lúc Đao Phủ quyết định, cả hai cùng ngả người về sau, đai thép kẹp hết cỡ hai con mắt phạm nhân lòi dần ra ngoài qua cái lỗ của đai thép, càng lồi càng to giống như quả trứng gà chui ra tứ lỗ đít con gà mái, sau đó là hai tiếng Bụp, Bụp vang lên, hai con ngươi của phạm nhân sẽ treo lủng lẳng dưới Đai Diêm Vương ! Gia hình đến đây thì Đao Phủ cũng ướt đẫm mồ hôi, nạn nhân cũng vẫn chưa được chết, chỉ mới ngất lịm đi thôi, lúc này thì đầu đã vỡ và tất nhiên máu với óc phải vọt ra lênh láng ! Chừng tàn một tẩu thuốc sau đó thì nạn nhân mới chết hẳn !

Đai Diêm Vương tuy là một cách hành hình ghê rợn nhưng chỉ khoảng một giờ là phạm đã chết, để nâng cao tính răn đe thì cái đau khổ phải được nâng cao liên tục, cái chết cũng phải được kéo dài hơn và án Lăng Trì là một điển hình !

Ai cũng từng biết lăng trì là xẻo từng miếng thịt cho đến chết nhưng ít người biết xẻo như thế nào ? Miếng nào trước, miếng nào sau, phải xẻo bao nhiêu nhát…? Muốn biết thì phải tìm đọc sách : ”Sách không phổ biến nơi thư quán“, sách này của một Già đời Minh truyền lại. Trong sách ghi rất nhiều loại hình phạt, cách thức thi hành án và những điều cần chú ý. đây là một trứ tác kinh điển về nghề đao phủ. Sách giải thích cặn kẽ cho Đao Phủ về hình phạt lăng trì. Lăng trì có ba cấp độ :

– Cấp một xẻo ba nghìn ba trăm năm mươi bảy miếng (3357)

 – Cấp hai xẻo hai nghìn tám trăm chín mươi sáu miếng (2896)

– Cấp ba xẻo một nghìn năm trăm tám mươi lăm miếng (1585)

Bất kể xẻo bao nhiêu miếng, nhưng miếng cuối cùng phải là vừa xẻo xong, phạm nhân chết liền. Do vậy, phải bắt đầu xẻo từ chỗ nào, miếng trước cách miếng sau bao lâu đều phải tính toán chính xác căn cứ vào giới tính, thể trạng của phạm. Nếu chưa xẻo đủ miếng mà phạm đã chết, hoặc đã đủ số miếng mà phạm  chưa chết thì phải coi đó là lỗi của Đao Phủ. Tiêu chuẩn tối thiểu của lăng trì là các miếng phải sàn sàn như nhau, đưa lên bàn cân không chênh lệch nhau mấy ! Điều này đòi hỏi khi thi hành án Đao Phủ phải bình tâm tĩnh khí, tâm phải chi li như sợi tóc, phải quyết đoán khi ra tay, vừa như thiếu nử thêu hoa, vừa như đồ tể giết lừa. Bất cứ sự nhu nhược chần chừ nào, bất cứ sự lơi lỏng nóng vội nào đều ảnh hưởng tới tay dao, làm cho động tác bị biến dạng. Làm được như trên không phải dễ, vì cơ bắp con người, sự liên kết giữa các bộ phận và đường gân, thớ thịt không giống nhau nên hướng dao và dùng sức ít nhiều đều dựa vào linh cảm. Những đao phủ thiên tài như Sư Tổ Cao Đào, cụ Trương Thang đều dùng tâm, dùng mắt xẻo thịt chứ không dùng dao dùng tay ! Xưa nay có hàng vạn án lăng trì nhưng thi hành đạt đến mức hoàn mỷ thì gần như không có, đại để là chỉ xẻo cho chết thôi, vì thế càng về sau số nhát dao càng ít đi, cho đến triều Thanh thì năm trăm nhát là nặng nhất. Nhưng thực hiện được năm trăm nhát thì cũng hiếm như lông phượng sừng lân rồi !

Đao Phủ bộ Hình hành sự cẩn trọng theo đúng qui củ của người xưa để lại, là xuất phát từ lòng tôn kính một chức nghiệp thiêng liêng lâu đời. Còn ở Châu, Phủ, Huyện.. rồng tôm lẫn lộn, hành nghề đao phủ đa số là bọn lưu manh, thổ phì, bọn chúng bớt xén, phạt xẻo năm trăm miếng mà xẻo được hai ba trăm là đã giỏi lắm rồi, phần lớn chặt người ra làm tám khúc, hoặc đâm chém lung tung cho đến chết.

 Đại để một vụ xử án Lăng Trì như sau :

Khi vừa có lệnh Khai đao thì Đao Phủ được đệ tử nhét vào tay một con dao nhỏ chuyên dùng xẻo thịt, khi phạm nhân còn đang hồi hộp thì đã bị vỗ một cái thật mạnh vào tim làm cho mắt trợn ngược lên, cùng với cái vỗ, tay kia đã khoanh một nhát ở ngực bên phải của phạm, miếng thịt được găm vào dao rồi đưa lên cho mọi người xem, ngay lúc ấy tên đồ đệ đứng gần bên đếm : Miếng thứ nhất ! Theo cách gọi của người trong nghề thì miếng thứ nhất để tạ trời.

 Nhát thứ hai bên ngực trái cũng chính xác và bằng như miếng thứ nhất, trên ngực của phạm giờ đây đã có hai cái lỗ bằng đồng xu nhưng chảy máu rất ít nguyên do trước khi khai đao, trái tim phạm nhân bị co rút bất chợt do cú vỗ nên tốc độ tuần hoàn của máu chậm hẳn lại .Đồ đệ tiếp tục đếm : Miếng thứ hai !

Đao Phủ trình làng những gì xẻo được trên người phạm là dựa trên cơ sở pháp luật và tâm lý : Một là biểu lộ sự vô tư của pháp luật, sự cẩn trọng của đao phủ, hai là tạo sự chấn đông tâm linh trong dân chúng đến xem hành hình để họ bớt phạm tội. Miếng thứ hai vứt xuống đất là để tạ đất .

Có một cái khăn lau làm bằng da bụng con dê dấp nước muối để lau vết cắt cho phạm, để nhát cắt giống như vết mới cắt trên vỏ cây. Miếng thứ ba cắt liền kề vết cũ nhưng vẫn phân minh,v ết nào ra vết nấy, có người gọi hình phạt lăng trì là xẻo vẩy cá, gọi như vậy thì hình tượng và xác đáng hơn. Miếng thứ ba quăng lên trời để tạ quỉ thần. Đồ đệ lại đếm  :Miếng thứ Ba !

Xẻo đến miếng thứ năm mươi thì cơ bắp trên ngực phạm đã hết, đến đây thì đồ đệ đổi dao mới cho Đao Phủ vì dao gặp máu người rất mau cùn, thường thì đến đây  các phạm đều gào thét vì đau đớn gây kinh sợ cho người xem, như thế mới  đạt mục đích giết gà dọa khỉ, nhưng nếu gặp phải phạm gan lì, không rên la thì đao phủ có kinh nghiệm sẽ có cách trị ! Số là các hảo hớn không sợ róc da, rút gân nhưng lại sợ mất bộ đồ nghề trong đũng quần, vì rằng không chỉ đau kinh khủng khi bị cắt cái đó, mà còn nỗi khiếp hãi về mặt tâm linh, sự nhục nhã về mặt nhân cách. Tuyệt đại đa số đàn ông thà chịu chặt đầu chứ không chịu thiến đi con giống, người đàn ông dù hung hăng đến mấy chỉ cần cắt bỏ cái trong đũng quần là mất sạch oai phong. Trong trường hợp này Đao Phủ sẽ dùng tay trái lôi cái ấy ra khỏi ổ và tay phải nhanh như chớp Soat .. và đồ đệ cao giọng đếm : Miếng thứ năm mươi mốt !

  Phạm nhân dù có gan lì đến mấy thì bây giờ cũng phải gào lên, càng gan lì thì tiếng gào càng khủng khiếp, cùng với tiếng gào là tiếng chửi rủa, thóa mạ, ở đây sẽ có một phá lệ là để tránh bớt bị xúc phạm, quan sẽ hạ lịnh cắt lưỡi, cắt lưỡi là không đúng trình tự, vì phạm sẽ mau chết, muốn phạm không chết trước nhát thứ năm trăm thì Đao Phủ phải múa tay cắt thật nhanh, đệ tử cũng phải đếm như máy và thịt của phạm liên tiếp bay ra như mưa đá …..!

…. Đến nhát thứ chín trăm bốn mươi bảy thì theo qui định có hai cách lựa chọn một là khoét đôi mặt , hai là xẻo đôi môi, thường thì Đao Phủ chọn khoét hai mắt. Khoét mắt để phạm trở thành con ma biết an phận, mắt không nhìn thấy thì tâm không loạn, xuống âm tào địa phủ khỏi phá khuấy, dương gian không cho phép quậy, âm gian cũng không cho phép quậy. Bất luận ở đâu, quậy là không cho phép. Nhát thứ bốn trăm chín mươi chín xẻo mũi và năm trăm là nhát dao đâm trúng tim phạm nhân !

Đến nhát thứ năm trăm thì phạm nhân xem như đã chết mà Đao Phủ thì cũng mệt đứt hơi vì phải mất cả nửa ngày mới xong công việc .

Song, nếu chỉ đến như vậy thì cũng chưa  nói lên hết được nghệ thuật giết người của Tàu, một đất nước có số dân đông nhất thế giới, một đất nước tự hào là nằm ở trung tâm của vũ trụ thì cũng phải có những cái sáng kiến gầm trời cuối đất không đâu có được, phải là Tàu thì mới có biệt tài làm cho tội nhân phải đau khổ đến tận cùng, đau khổ mà muốn chết cũng không xong, muốn sống cũng không được.

Đất nước Tàu thì cái gì cũng có, họ có một loại gỗ tên rất đẹp là Đàn Hương. Gỗ Đàn Hương rất cứng nhưng lại dẻo, thân gỗ có mùi thơm và luôn tiết ra chất dầu trơn tuột. Một Tổ Sư trong nghề đao phủ đả nghĩ ra cách dùng gỗ Đàn Hương vót thành một cái cọc đâm từ lỗ đít lên gáy rồi trói phạm vào một gốc cây. Hình phạt này gọi là Đàn Hương Hình.

 Thoạt nghe qua thì thật đơn giản nhưng khi hành sự thì mới thấy là cả một nghệ thuật mà không một dân tộc nào trên thế giới có thể nghĩ ra được.

 Án muốn thi hành thì phải có thời gian, trước hết là phải dựng một cái đài cao bằng gỗ, trên đài dựng một cây cột, trên cột đính một thanh ngang. Một bên đài phải lát một con đường bằng ván cho người thi hành án lên xuống. Những thứ cần dùng là hai thanh gỗ đàn hương loại tốt được vót nhọn hình thanh kiếm, hai trăm cân dầu thơm đã tinh luyện để đun kiếm đàn hương ít nhất một ngày, một đêm (như vậy mới bảo đảm đâm không dính ruột, không thấm máu), mười sợi dây thừng bằng da trâu chưa thuộc, một dùi đục bằng gỗ táo, một con gà trống lông trắng, mào đen, dao bầu hai con, gạo tẻ một trăm cân, bột trắng một trăm cân, trứng gà một trăm quả, thịt lợn hai mươi cân ,thịt trâu hai mươi cân, nhân sâm loại một, nửa cân, ấm sắc thuốc một cái, củi đun ba trăm cân, thùng gánh nước, hai cái, ang đựng nước một cái, chảo to một cái, chảo nhỏ một cái.

Đầu tiên là việc vót hai thanh kiếm, đầu nhọn nhưng lưỡi không sắc, dùng giấy nhám thô, rồi mịn đánh đi đánh lại cho đến khi có thể soi gương rồi thả hai thanh gươm vào trong chảo dầu đang sôi sùng sục, kế đến là nhào bột thả vào chảo dầu để đàn hương thấm mùi ngũ cốc, thanh kiếm đàn hương sẽ đi từ cốc đạo rồi xuyên suốt lên trên, đàn hương nhiễm vị ngũ cốc sẽ có lợi cho cơ thể phạm nhân. Bột xong thì bỏ thịt vào, thịt làm cho kiếm đàn hương thấm mùi thịt sau khi thấm mùi ngũ cốc, thấm mùi thịt thì gỗ đàn hương mới dẻo. Số thịt còn lại thì khi phạm thụ hình, đao phủ sẽ ăn thịt còn phạm thì húp nước.

Sau một ngày một đêm  hai thanh gỗ được vớt lên bóng lộn và nặng hơn trước nhờ đã thấm dầu nên vùa cứng vừa trơn.

Trước khi thi hành Đàn Hương Hình thì Đao Phủ cũng như thường lệ, phải bái Tổ, giết gà, bôi máu lên mặt. Phạm nhân phải nằm sấp trên một tấm ván, đao phủ phụ việc sẽ tiến hành việc trói chặt, sao cho không thể luồn được ngón tay dưới dây thừng. Khi nhận lệnh bắt đầu hành hình thì đao phủ phụ việc túm lấy đít quần của phạm khoanh một nhát lộ cả mông đít ra rồi nắm lấy cái dùi đục làm bằng gỗ táo, trong khi Sư Phụ đứng bên trái phạm nhân lựa mũi nhọn cắm vào dưới xương cụt, hai tay giữ chặt ra hiệu cho đệ tử bắt đầu đóng, cách đóng cọc này cũng phải có nghệ thuật, phải đều đều, không nhanh không chậm, không mạnh không nhẹ, cứ mỗi lần đóng thì chiếc cọc lại cắm sâu vào trong cơ thể, phạm nhân có gan dạ cách mấy thì cũng phải run lên bần bật, cái đầu cũng phải ngọ nguậy, cái cổ cũng phải dài ra, mồ hôi cũng phải chảy từng dòng đặc quánh như cháo vừa múc ra khỏi nồi. Gỗ đàn hương vốn đã trơn lại được tẩm dầu và cắm sâu từ từ nên không làm tổn thương nội tạng, thật là một án phạt tàn độc nhất trong thiên hạ !

 Phạm nhân có lỳ lợm cỡ nào thì rồi cũng phải kêu gào thảm thiết, tiếng kêu gào tự nhiên hòa hợp nhịp nhàng với tiếng dùi cui đóng vào cọc gỗ ,một ban nhạc chỉ có phạm nhân và đao phủ nhưng phát ra những âm thanh mà người nghe yếu bóng vía phải bưng mặt, bịt tai, có người run chân đứng không vững… Phải một hồi lâu thì cái cọc mới xuyên ra vai, phải một hồi lâu phạm nhân chịu đau khổ mà không địa ngục nào có thể so sánh được và, phải một hồi lâu người ta vẫn nghe tiếng kêu gào thảm thiết của phạm nhân !

Giờ đây phạm nhân đã thành một người bị cọc xiên từ đít lên tới vai và, tấm ván có phạm nhân được khiêng lên đài, tại đây phạm nhân sẽ được cắt dây trói và để hạn chế tiêu hao sức lực cũng như tránh tổn thương nội tạng do dãy dụa, người ta trói hai chân vào cột, hai tay vào xà ngang chỉ cái đầu là được tự do. Không lâu sau khuôn mặt phạm nhân sẽ bị xung huyết sưng to, miệng rỉ máu, mắt chỉ còn là một kẽ hở, lúc này người ta sẽ dùng một cái tù và bằng sừng trâu có đục lỗ để nhét đầu nhỏ vào mồm, đầu lớn hướng lên trên để đổ sâm cho phạm, có nước sâm thì mặt bớt sưng và miệng không rỉ máu. Từ đây cứ đúng giờ là phạm lại được đổ nước sâm, nước thịt.

Theo kinh nghiệm thì sau hai ngày hai đêm, ở đầu cọc nhô ra và đuôi cọc phía dưới sẽ làm mủ chảy nước vàng, mùi hôi thối sẽ xông lên nồng nặc quyến rũ lũ ruồi nhặng ở đâu bay tới, người phạm nhân nóng như lò lửa, tóc khô khốc như rơm gác bếp, trong lồng ngực thì có tiếng khò khè nhưng phạm nhân vẫn chưa được chết, người ta vẫn đổ nước thịt, nước sâm để phạm nhân phải sống cho đến ngày mà người ta muốn, nếu cần thì cho thầy thuốc tới tẩy rửa vết thương, làm mọi cách để ruồi nhặng không bu vào đẻ trứng, đổ thêm nước thịt, nước sâm.. .tóm lại là không được phép để cho phạm chết trước ngày đã định !

Đến ngày thứ tư thì thân hình của phạm nhân đã ngót đi nhiều, mặt nhỏ lại, mắt to ra, xương sườn hiện rõ sau làn da, chỉ đến khi ấy nước thịt cùng sâm cũng đã hết, người ta cũng đã mệt mỏi, chán chường thì phạm nhân mới được từ từ chết !

Giết người mà có tính toán chi li từng đường tơ kẽ tóc, có nghiên cứu tỉ mỉ từng chi tiết, có sách vở truyền lại từ đời này qua đời kia, có bổ sung thêm bớt theo từng thời đại, có ông Tổ phù hộ độ trì cho, đã thành một ngành nghề  thì cái cách giết người ấy đã không còn đơn giản nữa, nó đã trở thành một quốc sách, một nghệ thuật mà trên thế giới không nước nào sánh được  ! !

(Những ngày đầu năm Tân Mão) Đoàn Hồng post

Advertisements

4 phản hồi

  1. kinh khung ghe ron

  2. Pó tay với thằng Tàu Khựa

  3. Đây chính là cái tinh thần được gọi là đặc sắc Trung Cộng. Mọi cái đều được cực đoan hóa đến ghê rợn ngoài sức tưởng tượng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: