AI MUỐN CÓ CON TRAI ?

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

CỦA THIÊN VIỆT

Sách do Cty CP Văn Hóa Văn Lang in và phát hành. Mang tựa “Bí Ẩn Âm Dương Ngũ Hành Trong Thiên Can Địa Chi” (Khám Phá Môn “Bát Tự Hà Lạc” Qua Kho Tàng Văn Hoá Phương Đông). Tác giả : THIÊN VIỆT. Xuất bản : 7/2010 – NXB Hải Phòng. Số Trang : 404 trang, kích thước 13.5×21 cm. Giá bán: 55,000 đ

Nội dung trong lời mở đầu sách có đoạn : “…. Khi nói đến Thiên Can và Địa Chi (gọi tắt là Can Chi) tức muốn nói đến Âm Dương – Ngũ Hành về biện chứng tiêu trưởng và sinh khắc, thoát thai từ tám quẻ Bát Quái của Hà Đồ – Lạc Thư được con người tìm thấy cách đây 65 thế kỷ.

Từ những truyền thuyết mang tính truyền kỳ trên đất nước Trung Hoa thời cổ đại, những dấu hiệu bí ẩn được hai thời vua Phục Hy và Hạ Vũ ghi nhận, khi thấy chúng xuất hiện trên lưng hai con Long Mã (Hà Đồ) và Kim Quy (Lạc Thư) ở sông Hoàng Hà và sông Lạc Dương.

Khi nghiên cứu giữa Hà Đồ và Lạc Thư, thấy chúng có mối tương quan thông ước với nhau, như hai biểu tượng tối sơ ban đầu của nền tri thức thời thượng cổ Trung Hoa, người đời sau dùng nó đem ứng dụng vào mọi lĩnh vực, từ đó sản sinh ra nhiều môn học như : toán, vật lý, hóa học, phương vị…nhất là môn triết học, thần học…, luận về thuyết biến đổi trong Bát Quái, về Âm Dương tiêu trưởng và Ngũ Hành sinh khắc chế biến mà cho đến nayđược gọi là môn khoa học huyền bí.

Vì thế để tìm hiểu về những bí ẩn của Can Chi, chúng ta phải nắm bắt thấu đáo sự biến đổi mang tính ẩn tàng của Âm Dương, Ngũ Hành nằm trong đó….

Xin trân trọng giới thiệu. Sách hiện bày bán trong các nhà sách khắp nơi trong nước.

Thiên Việt

UỐNG NƯỚC GIẾNG

ĐẺ CON TRAI

Người dân xóm 11, xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) từ lâu tin rằng uống nước giếng Thùng ở cuối xóm có thể sinh con. Vì thế “Giếng Thùng” được xem là “báu vật” của người dân xã Hưng Thông, không chỉ bởi nguồn nước rất mát lành mà nhiều người quan niệm uống nước ở đây sẽ đẻ được con trai.

Cụ Hoàng Văn Bạn (80 tuổi) ở xóm 11 cho biết, từ những năm cuối 1960 cho đến những năm 1990, người dân trong làng hầu hết đều sinh con trai. Có những cặp vợ chồng sinh liền 4 đến 5 đứa con trai một lúc, rất nhiều người muốn sinh con gái cũng không được.

Cũng vì sinh nhiều con trai nên thế hệ 70 – 80 thế kỷ trước của làng có rất nhiều người chưa lấy được vợ hoặc phải đi tìm vợ nơi khác bởi trong làng rất hiếm con gái.

Theo quan niệm của người dân, sở dĩ có hiện tượng trên là bởi trước đây, dân làng uống chung nguồn nước giếng Thùng ở cuối xóm. Giếng được xây dựng từ năm 1912, khi chưa có giếng khoan thì đây là nơi cung cấp nước ăn, tắm rửa, sinh hoạt cho đa số người dân trong xóm. Nước rất trong mát, đầy ắp cả 4 mùa nên dân làng rất quý trọng.

Từ những năm 1950-1960, dân làng bắt đầu sử dụng giếng khoan và đến nay hầu hết các hộ đã có nguồn nước tại nhà, do vậy giếng Thùng ít được sử dụng. Hiện giờ chỉ một số hộ gần đó hoặc các hộ muốn có con trai mới tới đây gánh nước này về. Tuy nhiên, cũng từ những năm 1980, quan niệm uống nước giếng Thùng đẻ con trai của một số gia đình trong xóm đã lan đi các làng khác, người dân trong vùng vẫn thường xuyên tới gánh nước về ăn để kiếm quý tử.

Đến nay, mặc dù tỷ lệ sinh nam – nữ trong làng đã cân bằng nhưng tin đồn uống nước giếng Thùng vẫn tồn tại và lâu lâu lại rộ lên khiến cho nhiều cặp vợ chồng đến đây để cầu tự, xin nước. Nhiều người dân đã đóng góp tiền của để tu sửa, xây cất lại giếng. Trong các ngày lễ, ngày rằm, ở giếng này luôn có người đến làm lễ cúng…

Trước những thông tin trên, ông Lê Đình Nhường khẳng định, những lời đổn thổi trên là vô căn cứ bởi tỷ lệ trai – gái trong xóm mấy năm gần đây là cân bằng, một số hộ dân uống nước đó quanh năm nhưng trong nhà vẫn sinh toàn con gái. “Mặc dù những tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt nhưng người dân trong xóm vẫn luôn xem giếng Thùng là tài sản quý, là báu vật bởi nguồn nước trong mát, ngọt lành và không bao giờ cạn của nó”.

Trường Long

PHONG THỦY CHO NAM N

Vừa rồi tôi có hồi âm cho một anh bạn, có lấy địa lý phong thủy ra làm thí dụ thực tế, chẳng may email gửi về hỏi thăm nhiều quá. Cho nên để trả lời chung, tôi xin có một bài viết về cách xem Phong Thủy. Bài này chỉ mang tính chất phương hướng khi xây dựng nhà cửa.

Tuy nhiên vì trang blog có hạn, nên bài viết chỉ nói đến hướng tốt hướng xấu để tính toán khi xây dựng nhà hay mua nhà, chưa thể dẫn giải phần phân kim đặt cửa, đặt cổng nhà (nếu cửa, cổng đã đặt đúng hướng nhà tức đã góp khoảng 70 đến 80% tính chất phương hướng).

1- TÌM CUNG PHI

Mỗi tuổi nam nữ đều có một Cung Phi riêng, còn gọi là Trạch Cung. Trong Lục Thập Hoa Giáp 60 năm, từ năm Giáp Tý đến Quý Hợi tức 60 tuổi này chỉ gói ghém vào 8 cung Bát Quái gồm :

KHẢM, CHẤN, TỐN, LY là người thuộc Đông Trạch và

KHÔN, ĐOÀI, KIỀN, CẤN là người thuộc Tây Trạch.

(xem bảng Cung Phi ở trang cố định và bảng phân Đông và Tây Trạch bên đây)

Theo 8 cung trên tạo hóa khi tạo dựng ra thiên nhiên đã định vị trí, ngũ hành và tính chất như sau :

KIỀN : Trời – thuộc Kim – Tây Bắc

ĐOÀI : Đầm lầy – thuộc Kim – Chánh Tây

KHẢM : Nước – thuộcThủy – Chánh Bắc

KHÔN : Đất – thuộc Thổ – Tây Nam

CẤN : Núi – thuộc Thổ – Đông Bắc

LY : Lửa – thuộc Hỏa – Chánh Nam

CHẤN : Sấm sét – thuộc Mộc – Chánh Đông

TỐN : Gió – thuộcMộc – Đông Nam

Theo biểu đồ trên, các nhà Lý Số đã tính Cung Phi, nam nữ sinh Đông trạch sẽ hợp với hướng và tuổi Đông Trạch, còn nam nữ Tây Trạch sẽ hợp với hướng và tuổi theo Tây Trạch về xây dựng, an táng hoặc gả cưới. Nếu không cùng nhóm Cung Phi sẽ sinh khắc kỵ.

2- TÍNH CHẤT 8 HƯỚNG (Tứ phương Tám hướng) :

Lưu ý : Qua 2 bảng phương hướng tốt xấu của mỗi tuổi được tính như sau :

– Hướng tốt gồm : Sinh Khí, Phúc Đức, Thiên Y và Phục Vì

– Hướng xấu gồm : Tuyệt Mạng, Ngũ Quỹ, Lục Sát và Họa Hại

– Xem tuổi cất nhà, mua nhà xem theo hướng tốt mỗi tuổi Cung Phi như đã dẫn.

– Chỉ coi Cung Phi tuổi người chồng (nếu chồng mất, đang độc thân mới lấy tuổi nữ để xem).

– Xem hướng nhà phải coi hướng mặt tiền nhà (huyền quan) đối diện với hướng la bàn. Còn khi xuất hành phải xem theo hướng la bàn (vì mặt người đang đối diện với hướng đó)

a/- Cửu Tinh – Ngũ Hình :

– Sinh Khí : sao Tham Lang, dương mộc, thượng cát

– Thiên Y : sao Cự Môn, dương thổ, thứ cát

– Phúc Đức : sao Vũ Khúc, dương kim, cát

– Phục Vì : sao Tả Phù – Hữu Bật, âm thủy, cát.

– Ngũ Quỷ : sao Liêm Trinh, âm hỏa, đại hung

– Tuyệt Mạng : sao Phá Quân, âm kim, đại hung

– Lục Sát : sao Văn Khúc, dương thủy, thứ hung

– Họa Hại : sao Lộc Tồn, âm thổ, thứ hung

Như thế các sao Tham Lang, Cự Môn, Văn Khúc, Vũ khúc thuộc dương tinh, nằm tại các dương cung như Kiền, Khảm, Cấn, Chấn. Còn âm cung là Tốn, Ly, Khôn, Đoài là âm tinh.

Nên có câu “cung vi nội, tinh vi ngoại” tức nội khắc ngoại bán hung, ngoại khắc nội đại hung; dương tinh khắc âm cung, bất lợi cho nữ giới, còn âm tinh khắc dương cung bất lợi cho nam giới.

âm cung, bất lợi cho nữ giới, còn âm tinh khắc dương cung bất lợi cho nam giới.

b/- Tám cung cát hung

– Cung Sinh Khí, Phục Vì : ứng với năm, tháng : Hợi , Mão, Mùi.

– Cung Phúc Đức, Tuyệt Mạng : ứng với năm, tháng : Tỵ, Dậu, Sửu.

– Cung Thiên Y, Họa Hại : ứng với năm, tháng : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

– Cung Ngũ Quỷ : ứng với năm, tháng : Dần, Ngọ, Tuất

– Cung Lục Sát : ứng với năm, tháng : Thân, Tý, Thìn

Như vào năm hay tháng mang tên các Địa Chi trên đây sẽ ứng với cát hay hung, tùy theo Ngũ hành sinh khắc mỗi người.

c/- Tính chất cát hung

– Sinh Khí (đại cát) : vào được cung này thăng quan tiến chức, phú quý, đông con cháu, thân hữu xa gần thường hội tụ không cô độc. Đến năm Hợi, Mão, Mùi mọi sự đều như ý.

– Thiên Y (thứ cát) : đường chồng vợ phải hợp với cung phi, nếu không sẽ sinh mối bất hòa trong gia đạo. Con cái khoảng ba người đều có tâm đức tốt. Tài lộc vô ra như nước vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tật bệnh được tiêu trừ.

– Phúc Đức (cát) : nam nữ hợp cung tài lộc đắc, đại thọ, số chăn nuôi tốt đẹp, về già an hưởng phúc lộc. Các năm Tỵ, Dậu, Sửu có tài lộc như ý.

– Phục Vì (cát) : luôn có người giúp đỡ không sợ thiêu ăn thiếu mặc, gái ít hơn trai. Nên đặt bếp đúng hướng Phục Vì sẽ giữ được tiền bạc lâu dài và sinh nở dễ dàng vì có Thiên Ất quý nhân độ mạng. Tốt vào các năm Hợi, Mão, Mùi.

– Tuyệt Mạng (đại hung) : bổn mạng phạm cung suy, đau yếu bệnh tật kinh niên , đường con cái cũng không tốt đẹp, số không được thọ, tiền bạc bất nhất. Đề phòng các năm Tỵ, Dậu, Sửu.

– Ngũ Quỷ (đại hung) : gia chủ thường gặp tiếng thị phi, tranh chấp, không có người phục dịch, người phụ giúp thường sinh thói hư tật xấu. Gặp nguy tai vào các năm Dần, Ngọ, Tuất.

– Lục Sát (thứ hung) : Tán tài, khẩu thiệt, kiện thưa đến pháp luật, không nuôi được gia súc, trồng trọt sẽ thất bại, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.

– Họa Hại (thứ hung) : Số phải tù tội, bệnh tật, tài chính suy sụp, con cái khó dạy, vợ chồng không thủy chung.Ứng vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Như thế tôi đã trình bày diễn giải đủ các tuổi.

NGÀY THÁNG ĐẠI LỢI CHO CÔ DÂU

– Nữ tuổi Tý – Ngọ : tháng 6, tháng chạp đại lợi. Tháng giêng, 7 kỵ người mai mối đến. Tháng 2, 8 kỵ cha mẹ chồng, tháng 3, 9 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 4, 10 kỵ chú rể, tháng 5, 11 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Sửu – Mùi : tháng 5, 11 đại lợi. Tháng 4, 10 kỵ mai mối. Tháng 3, 9 kỵ cha mẹ chồng, tháng 2, 8 kỵ cha mẹ vợ. Tháng giêng, 7 kỵ chú rể, tháng 6, tháng chạp kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Dần – Thân : tháng 2, 8 đại lợi. Tháng 3, 9 kỵ mai mối đến. Tháng 4, 10 kỵ cha mẹ chồng, tháng 5, 11 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 6, tháng chạp kỵ chú rể, tháng giêng, 7 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Mão – Dậu : tháng giêng, 7 đại lợi. Tháng 6, tháng chạp kỵ mai mối. Tháng 5, 11 kỵ cha mẹ chồng, tháng 4, 10 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 3, 9 kỵ chú rể, tháng 2, 8 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Thìn – Tuất : tháng 4, 10 đại lợi. Tháng 5, 11 kỵ mai mối. Tháng 6, tháng chạp kỵ cha mẹ chồng, tháng giêng, 7 kỵ cha mẹ vợ. Tháng 2, 8 kỵ chú rể, tháng 3, 9 kỵ cô dâu.

– Nữ tuổi Tỵ – Hợi : tháng 3, 9 đại lợi. Tháng 2, 8 kỵ mai mối. Tháng giêng, 7 kỵ cha mẹ chồng, tháng 6, tháng chạp kỵ cha mẹ vợ. Tháng 5, 11 kỵ chú rể, tháng 4, 10 kỵ cô dâu.

Còn ngày cô dâu về nhà chồng tính theo 8 cung được gọi “Giá thú Châu Đường” gồm : Phu, Cô, Đường, Ông, Đệ, Táo, Phụ, Trù, theo tháng đủ tháng thiếu. Tháng đủ (30 ngày) thuận chiều, tháng thiếu (29 ngày) tính nghịch chiều đồng hồ (hình 1).

Khi đã xét ngày tốt theo lịch nhưng muốn chính xác, tháng đủ đếm thuận từ 1 Phu là mùng 1, sang mùng 2 là Cô, mùng 3 là Đường cho đến ngày âm lịch đã chọn.Tháng thiếu đi từ 1 Phụ là mùng 1, nghịch qua Táo mùng 2, Đệ mùng 3, Ông mùng 4 v.v… Đến ngày âm lịch đã chọn. Được một trong bốn chữ Đường, Trù, Táo, Đệ là ngày tốt về nhà chồng.

Trong đó theo phép quyền biến, gặp chữ Ông hay Cô mà cha mẹ chồng nếu không có mặt trong ngày cưới vẫn sử dụng được, chỉ trừ Phu hay Phụ là kỵ.

Nói về tục làm rể và đi sêu; theo tập quán nếu đi làm rể hay đi ở rể, các gia đình nhà trai thường tính ngày “Nhập tế châu đường” như gái về nhà chồng. Cách tính cũng theo 8 cung Bát Quái như “Giá thú châu đường”, nhưng tên cách vận hành theo hình 2.

Tháng đủ tính thuận từ 1 Phu là mùng 1, mùng 2 là Cô, mùng 3 là Đệ v.v… Tháng thiếu tính nghịch từ 1 Hộ, mùng 2 tại Trù, mùng 3 tại Táo v.v…

Được chữ Môn, Hô, Trù, Táo là ngày tôt. Còn gặp bốn chữ Phu, Cô, Ông, Đệ nên tránh.

THỦ CUNG SA

“Thủ cung sa” là một vết xăm màu đỏ chu sa trên cánh tay phải người con gái, cốt yếu đánh dấu cô gái hãy còn trinh nguyên, vì khi giao hợp lần đầu tức khắc dấu xăm “thủ cung sa” sẽ tan biến mất.

Tục xăm dấu “thủ cung sa” có từ đời Hán Vũ Đế, ông vua thường đa nghi các cung tần mỹ nữ sống trong cung cấm, vì trạng thái tâm lý bị bỏ rơi và vì đường tình dục quá mãnh liệt quên đi thân phận hầu vua, sinh ra vụng trộm chuyện chăn gối với giới hầu cận, bài học ái phi nhà Tần vụng trộm tình ái với Lã Bất Vi mà có Doanh Chính, làm Hán Vũ Đế không thể phai mờ trong trí nhớ.

Dã sử Trung Quốc cho rằng Lã Bất Vi nguyên là một thương nhân chuyên mua bán bất cứ vật gì hay điều gì, có thể đem lại lợi ích cho mình kể cả buôn vua. Bất Vi đầu tư từ Tần Trang Tương Vương Tử Sở khi còn bị nước Triệu giữ làm con tin, khi về Tần lên ngôi Hoàng đế, Lã Bất Vi lại cung tiến người ái thiếp đẹp nhất của mình cho Tử Sở.

Khốn nỗi Tử Sở rất yếu đường sinh lý từ khi ở nước Triệu đã bị đối xử tệ bạc, ăn uống thiếu chất trong nhiều năm làm suy dinh dưỡng đến thể chất, khiến nàng ái phi luôn nhớ đến người tình cũ. Lúc đó Lã Bất Vi đã mang đến chức thừa tướng trong triều (quả là một cuộc đầu tư đầy lợi lộc) nên thừa cơ hội ra vào nơi cung cấm, ăn nằm với người ái thiếp xưa để có thai, sinh ra Doanh Chính tức Hoàng đế Tần Thủy Hoàng sau này.

Tử Sở biết việc ái phi của mình vụng trộm với Lã Bất Vi nhưng tính tình nhu nhược, lại nhớ đên công lao của Lã Bât Vi khi Tử Sở còn làm con tin ở nước Triệu, nên đành im lăng, châp nhân Doanh Chính là con ruôt của mình. Cũng vì đường sinh lý yếu kém, Tử Sở không có con để lựa chọn nên khi băng hà, Doanh Chính được chính thức lên nối ngôi.

Vua Hán mới sai nội giám dùng Bích hổ (con thằn lằn) nuôi chúng với chu sa, đến đời thứ ba (F2) thứ tư (F3) toàn thân con bích hổ đã có màu đỏ sậm, lúc đó mới đem chúng ra nướng chín rồi phơi khô, tán thành bột xăm. Dùng bột bích hổ làm màu xăm lên cánh tay các cung tần mỹ nữ chưa được ăn nằm cùng vua, ai mất dấu xăm này sẽ bị đem đi chém đầu vì tội “khi quân phạm thượng”. Dấu này được gọi “thủ cung sa” từ đó.

Tục đánh dấu xăm “thủ cung sa” ban đầu còn trong phạm vi cung cấm triều đình, sau lan ra các nhà quyền quý để khỏi “bó chân” con gái, rồi trong dân dã ai cũng thấy cách dánh dấu xăm “thủ cung sa” hiệu nghiệm lại rẻ tiền, không nguy hại như tục “bó chân”, nên dùng nó để theo dõi quản lý con gái của mình.

THẤT XUẤT

Sau khi nhận diện người con gái qua những phần về Tam tòng Tứ đức, từ đó có thể suy ra sau này họ có thể phạm vào những tội trong thất xuất.

Thất xuất gồm bảy tội được gán cho người phụ nữ :

– Tội thứ nhất : Không sinh được con cái (nhất là không sinh được con trai), phạm vào đạo Tam tòng và phụ dung tức tội bất hiếu, nhà chồng không có người để nối dõi tông đường dòng tộc, chồng có quyền cưới thêm vợ khác để thực hiện việc truyền nòi giống.

– Tội thứ hai : Dâm loàn, tức lẵng lơ hay có tình nhân, là phạm vào đạo Tam tòng và phụ hạnh, là tội bất nghĩa.

– Tội thứ ba : Không tôn kính cha mẹ chồng, là phạm vào phụ ngôn tức tội bất hiếu, bất kính.

– Tội thứ tư : Lắm điều, cũng phạm phải phụ ngôn, làm trong gia đạo náo động, gây nhiều tiếng thị phi không tốt.

– Tội thứ năm : Trộm căp tài sản nhà chông, là phạm vào phụ hạnh, mang tính gian phi, lừa đảo.

– Tội thứ sáu : Ghen tuông là phạm vào đạo Tam tòng, do ngày xưa đàn ông được ưu đãi có quyền đa thê. Người vợ ghen tuông sẽ làm trong nhà xáo động, và mất tính diệu hiền của người phụ nữ qua phần phụ ngôn.

– Tội thứ bảy : Có ác tật là các bệnh truyền nhiễm như lao, cùi hủi, thần kinh… phạm phải phụ dung.

Trong thất xuất người vợ gặp các tội trên sẽ bị đuổi ra khỏi gia đình chồng. Nhưng có một trong ba điều được gọi “tam bất khả xuất”, là không thể đuổi ra khỏi nhà :

– Điều thứ nhất : người phụ nữ từng chịu đại tang bên chồng trong ba năm.

– Điều thứ hai : khi lấy nhau còn nghèo khó, sau này có nhà cao cửa rộng, giàu có.

– Điều thứ ba : bị đuổi về nhà nhưng gia đình cha mẹ anh chị em ruột không chấp nhận, vì thời phong kiến thường có quan niệm, khi đã xuất giá phải “tòng phu”, phải giữ tròn câu Tam tòng Tứ đức, không còn là con trong gia đình, mọi quyền lợi đều không có.

Đối với điều thứ ba, gia đình chồng chỉ cho ở lại khi phạm phải những tội : không sinh được con, lắm điều và ghen tuông là những tội nhẹ có thể sửa đổi hay chấp nhận được, nhưng chỉ xem như đầy tớ trong nhà, không còn quyền hạn. Còn phạm những tội khác phải chấp nhận hình phạt, dù phải ly tổ tha phương cầu thực.

THIÊN VIỆT

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: