NỮ TIÊN TRI MÙ : VANGA

NHÀ TIÊN TRI VANGA

ĐÔI MẮT MÙ LÒA

NHÌN THẤU TƯƠNG LAI

Không ai có thể phủ nhận khả năng dự báo các sự kiện tương lai tài ba của bà lão mù Vanga…

Bên cạnh nhà tiên tri Nostradamus, bà lão mù Vanga cũng là người khiến cả nhân loại ngỡ ngàng vì khả năng tiên đoán chính xác nhiều sự kiện trong tương lai như : Chiến tranh thế giới II, vụ tàu ngầm Kurst (Nga) bị chìm, vụ khủng bố tòa tháp đôi WTC ngày 11/9/2001 tại New York (Mỹ) hay thậm chí là thảm họa hạt nhân Nhật Bản mới xảy ra vào năm 2011… Liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kì lạ hay thực sự “bà lão mù” Vanga có một khả năng tiên tri đại tài ?

Nhà tiên tri Vanga là ai ?

Bà Vanga tên thật là Vangelia Pandeva Dimitrova, là một nhà tiên tri, đồng thời cũng là người chuyên nghiên cứu về thảo dược. Bà sinh ngày 31/1/1911, sống trọn cuộc đời tại thành phố Rupit, Bulgary và mất ngày 11/8/1996. Thuở ấu thơ, cô bé Vanga với tóc vàng, mắt xanh đã sớm mất đi người mẹ từ nhỏ, không lâu sau lại phải xa rời người cha vì ông nhận lệnh gia nhập quân đội Bulgary. Sau Chiến tranh thế giới I (1914-1918), mấy cha con sống tại một nông trại hoang tàn; tuy nhiên, giữa hoàn cảnh thiếu thốn ấy, cô bé Vanga vẫn kiếm tìm được niềm vui riêng cho bản thân mình. Đó là trò chơi chữa bệnh – tập tành kê đơn thuốc cho bạn bè quanh mình. Đây cũng là một trong những lí do để về sau này, bà có khả năng chữa trị bệnh cho mọi người bằng thảo dược.

Thế rồi một ngày kia, cơn bão lớn ập đến làng. Trời ban ngày bỗng tối sầm lại như đêm, gió giật tung cây cối, cuốn bay mái nhà. Một cơn lốc xoáy đã nhấc bổng cô bé Vanga lên không trung và cuốn tới cánh đồng xa tít tắp. Sau nhiều nỗ lực kiếm tìm, dân làng thấy Vanga nằm bất tỉnh trong đám đất đá với hai hốc mắt đã bị lấp đầy vì cát bụi. Và Vanga bị mù từ đây, dù chữa trị bằng cách nào cũng không khỏi. Thế nhưng, may mắn thay, cô bé sớm phát triển và có một “giác quan thứ sáu” vô cùng nhạy bén.

Bà Vanga bắt đầu có khả năng “nhìn thấu tương lai” vào năm 16 tuổi. Một nhà tiên tri nói rằng, bà có khả năng tiên tri siêu việt như vậy là do nhận được thông tin từ những hình nhân xa lạ mà người thường không thể nhìn thấy được. Bà có thể giao tiếp được với họ, tuy nhiên không thể giải thích được về nguồn gốc của chính họ.

Theo lời kể của Vanga, họ tới từ hành tinh Vamphim – hành tinh thứ ba tính từ Trái đất và đã sống trên hành tinh của chúng ta nhiều năm nay. Nhờ thông tin từ họ mà khi có một người đứng trước mặt bà, toàn bộ cuộc đời của người đó từ khi sinh ra cho tới lúc nằm xuống dần hiển hiện trước mắt như những thước phim sống động. Bà có thể đọc được tất cả nhưng không có khả năng thay đổi những điều này. Nghe qua thì có vẻ hoang đường nhưng không ai có thể phủ nhận khả năng dự báo các sự kiện tương lai tài ba của “bà lão mù ấy”. Khả năng ấy của bà đã được chứng thực và chính điều đó đã khiến cho bà trở thành một nhà tiên tri đại tài của nhân loại, chỉ đứng sau Nostradamus.

Đôi mắt lòa nhìn thấu tương lai

Sinh ra trong một gia đình li tán, thiếu thốn, khó khăn, là một người thất học nên bà không hề viết sách và nói bằng thứ tiếng rất khó nghe (thậm chí những buổi truyền hình trực tiếp về bà bằng tiếng Bulgary – tiếng mẹ đẻ của bà – vẫn phải có phụ đề để chính người Bulgary có thể hiểu được những gì bà nói). Những lời tiên tri của bà thường được những người giúp việc chuyển ngữ lại, những cuốn sách viết về bà cũng do người khác tập hợp lại và biên soạn. Tuy nhiên, khác với Nostradamus, bà Vanga luôn tỏ ra thận trọng với những lời tiên đoán về thảm họa toàn cầu hay số phận của các nguyên thủ quốc gia. Bà cũng chỉ tiết lộ những dự đoán này với một số người nhất định để tránh gây hoang mang cho dân chúng. Chính vì thế, so với Nostradamus, bà được ít người biết tới hơn. Nhưng những lời tiên đoán của bà khiến mọi người phải kinh ngạc vì tính chính xác lạ kì của chúng.

Bà bắt đầu dự đoán về số phận của những người thân trong gia đình. Khi cậu em trai tên Vasil gia nhập đảng phái chống đối nhà nước, bà đã gào khóc và khuyên nhủ hết lời vì cho rằng nếu làm như vậy, anh sẽ phải hứng chịu cái chết đau đớn ở tuổi 23. Vasil cho rằng đó là chuyện tầm phào nhưng sự việc đã xảy ra. Tháng 10 năm đó, cậu đã bị bắt, bị tra tấn một cách dã man và kết thúc cuộc đời bằng một cái chết đau đớn.

Trong những năm Chiến tranh thế giới II (1939-1945), bà đã tạo dựng được lòng tin vững chắc trong lòng dân chúng nhờ giúp đỡ họ biết được số phận người thân của mình ở chiến trường, còn sống hay đã hy sinh, thi thể đang nằm lại nơi nào… Nữ tiên tri cũng mách bảo nhiều ngưới cách để né tránh hòn tên, mũi đạn; cách chữa trị vết thương, cách tìm lại kỉ vật đã mất…

Hình ảnh trong cuộc Chiến tranh thế giới II.

Trước sự nổi tiếng bởi tài tiên đoán của bà, vào năm 1942, vua Bulgary khi này là Boris III đã tới thăm và ngỏ ý muốn bà dự đoán về số phận của mình. Bà không nói nhiều với ông, chỉ dặn dò : Hãy luôn ghi nhớ ngày 28/8. Hơn một năm sau, người dân Bulgary đã tường rõ tại sao bà lại nói với đức vua như vậy. Đúng ngày 28/8/1943, đức vua Boris III qua đời.

Vào năm 1952, bà Vanga nói rằng chỉ một năm nữa thôi, lãnh tụ Stalin sẽ mất. Ngay lập tức, bà đã gặp rắc rối với chính quyền Bulgary, bị họ bắt giữ vì tội tung tin đồn thất thiệt khiến người dân hoang mang. Song, thực tế đã chứng minh bà lần này lại đúng. Một năm sau, Stalin từ trần. Ai nấy cũng đều ngỡ ngàng khi nghe tin này và rùng mình khi nhớ lại lời tiên đoán rợn người của bà lão mù ấy một năm về trước. Chính quyền ngay lập tức phải trả tự do cho bà. Kể từ đây, các chính khách rất lo sợ khi được bà nhắc tên, vì đã được bà nói tới tên nghĩa là họ sẽ sớm gặp một biến cố lớn nào đó trong đời. Người ta kể lại rằng, Adoft Hitler – người đứng đầu chế độ phát xít Đức cũng đã từng đến gặp Vanga. Ông ra về với vẻ mặt tái mét và rầu rĩ nhưng không ai biết là vì lí do gì. Không lâu sau, Hitler tự tử dưới hầm và Chiến tranh thế giới II kết thúc (1945).

Thảm họa Kursk.

Về những thảm họa lớn, bà Vanga cũng đã nhiều lần khiến toàn nhân loại phải “sởn gai ốc” khi đã tiên đoán chính xác thảm họa hạt nhân Chernobyl xảy ra vào năm 1986 hay vào năm 1980, bà đã dự đoán rằng 20 năm sau, tàu ngầm nguyên tử Kursk sẽ chìm trong nước. Bà nói rằng “Vào thời điểm chuyển giao thế kỉ, khoảng tháng 8 năm 1999 hay năm 2000, Kursrt sẽ ngập chìm trong nước và cả thế giới sẽ rơi lệ về điều này”. Quả nhiên không sai, bởi vào đúng tháng 8 năm 2000, tàu ngầm nguyên tử Kurst của Nga (đặt theo tên của thành phố Kurst) đã gặp nạn và 118 thủy thủ trên tàu không còn cơ hội sống sót. Cả thế giới nói chung và nước Nga nói riêng vô cùng đau buồn trước sự tổn thất lớn không lấy gì bù đắp lại được này.

Năm 1989, bà lão mù Vanga đã đưa ra những dự đoán về một vụ khủng bố kinh hoàng “Đáng sợ ! Đáng sợ ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”. Lời tiên tri này của bà dần rơi vào lãng quên bởi người ta không hiểu lắm về nó. Chỉ cho tới khi hai tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới tại thành phố New York bị khủng bố tấn công thì người ta mới rùng mình khi liên tưởng lại và thấy được tính chính xác của lời tiên đoán. “Anh em sinh đôi” ở đây được gắn với hai tòa tháp đôi đã đổ sụp sau khi bị hai chiếc máy bay lao vào; “chim sắt” được ám chỉ tới máy bay; “lùm cây” trong tiếng Anh là “bush” (ám chỉ tới tổng thống Mỹ khi đó là Geogre Bush). Và quả nhiên là sau vụ khủng bố, máu của nhiều dân thường vô tội đã rơi.

Thảm họa tại Nhật Bản tháng 3/2011.

Thậm chí, bà Vanga cũng đã tiên đoán khá chính xác về thảm họa kép xảy ra tại Nhật Bản vào tháng 3 năm ngoái. Mặc dù đã mất vào năm 1996 nhưng bà đã đưa ra những lời dự đoán của mình về tương lai, trong đó bà nói về năm 2011 như sau : “Do những trận mưa phóng xạ nên ở Bắc Bán cầu, cả động vật lẫn thực vật đều sẽ bị tuyệt diệt vào tháng 3 năm 2011”. Đúng như lời bà, vào ngày 11/3/2011, cả thế giới bàng hoàng trước thảm họa kinh hoàng xảy ra tại Nhật Bản. Trận động đất với cường độ 9.0 độ richter cùng những con sóng thần cao tới 10m và sự rò rỉ phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân Fukushima I và Onagawa đã đưa nước Nhật bước vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới II với số người chết và mất tích nhiều không kể xiết.

Thế nhưng, cũng có nhiều sự kiện được bà dự đoán… trật lất. Bà cho rằng, xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của người Hindu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo và nguyên thủ quốc gia sẽ dẫn tới bùng nổ Chiến tranh thế giới III vào năm 2010 và kết thúc vào năm 2014. Theo bà, Ngày tận thế là kết quả do Cuộc Chiến tranh thế giới III dẫn đến thảm họa chiến tranh hạt nhân trên phạm vi toàn cầu, sự diệt vong của loài người và toàn bộ sự sống trên Trái đất. Thế nhưng, bây giờ đã là năm 2012 và thực tế đã chứng minh không hề có cuộc chiến tranh nào trên quy mô toàn cầu như vậy cả.

Tuy nhiên, người ta cũng khá quan tâm tới những lời tiên tri này của bà bởi với tình hình thế giới bất ổn như ngày nay: chiến tranh dầu mỏ, hạt nhân, vũ khí sinh học…; nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến quy mô lớn đến như vậy được bà đặt ra không phải là không có cơ sở.

Ngôi nhà của bà Vanga tại thành phố Rupit.

Bà Vanga qua đời vào năm 1996. Trước khi mất, bà nói rằng một cô bé mù 10 tuổi sống tại Pháp đã thừa kế được năng lực tiên tri của bà và thế giới sẽ sớm biết về người đó thôi. Tuy nhiên đã 16 năm trôi qua, thông tin về cô bé vẫn còn là một ẩn số bí ẩn chưa được khám phá…

Phú Lê post (theo Quang Khải)

HỘI ĐỀN TRẦN

Hai làng cũ Vạn Yên (thường gọi là Kiếp) và Dược Sơn (thường gọi là Bạc), nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, có chung ngôi đền mang tên là Kiếp Bạc, thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người đã lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên của nhân dân Đại Việt. Ngôi đền được dựng vào năm 1300 trong khu nhà cũ, nơi ông sống những năm cuối đời ở Dược Sơn, lăng mộ của ông cũng nằm trong khu vực đền Vạn Kiếp này.

Hàng năm, đền Vạn Kiếp vào hội lễ từ ngày 15 đến 20/8 âm lịch, nhưng ngày hội chính vào ngày 18 -ngày giỗ của Hưng Đạo Vương.

Theo truyền thống, ngày lễ đền Kiếp Bạc, tức ngày giỗ của Hưng Đạo Vương là một ngày thiêng liêng vì từ bao đời nay nhân dân ta tôn thờ Hưng Đạo Vương như người cha, và truyền nhau câu ngạn ngữ : Tháng Tám giỗ cha, là để chỉ ngày giỗ của ngài.

Những người theo tín ngưởng Tam – Tứ Phủ, nhận Đức Trần Hưng Đạo là người giữ căn giữ mạng, gọi ngài là Đức Trần Triều Đại Vương, hay Đức Thánh Trần.

Ở miền Bắc xưa, và hiện nay vẫn còn tục lệ những đứa trẻ sinh ra khó nuôi, cha mẹ đem đứa bé đến đền thờ ngài mà bán khoán cho Đức Ngài, để ngài nuôi dưỡng một số năm nào đó được họ quy ước. Trong những năm đó, dù đứa trẻ vẫn ở trong gia đình, nhưng họ không được đánh đòn dạy dỗ, vì họ tin là Đức Ngài đang nuôi nấng con mình, họ chỉ giữ hộ “con” của ngài mà thôi. Vì thế những ngày tết, ngày đản sinh, ngày giỗ của Đức Thánh Trần họ mua lễ vật và dẫn con đến đền mà viếng ngài.

Tới đủ số năm như quy ước, cha mẹ đứa trẻ sắm mâm xôi con gà, dẫn con đến đền mà xin lại để nuôi. Trong thời gian bán khoán cho ngài, đứa trẻ cũng được đổi họ đổi tên, nhưng nhất thiết đứa trẻ phải mang họ Trần.

Những người theo Tam phủ thờ nhà Trần, nên vào tháng 8 âm lịch này, ngoài việc đi đền (đa số về Kiếp Bạc nơi ngài ở và mất mà viếng) những người có căn đồng phải ra hầu một vấn (ở Sài Gòn có đền thờ Đức Trần Hưng Đạo tại đường Võ Thị Sáu, đền chỉ tổ chức những lễ nghi văn hóa tín ngưỡng để tưởng niệm ngài, ngoài ra không cho hầu đồng như ngoài Kiếp Bạc hay những đền thờ khác trong nước).

Đa số những người có căn mạng nhà Trần, khi ra hầu đồng tướng hình rất uy nghi dũng mãnh (không như các vấn hầu bên Tứ Phủ). Những người có căn Trần Triều thường khi ra hầu họ xuyên lình (nhiều mũi lình to cỡ 3, 4 ly dài độ bốn, năm tấc xuyên qua má… có khi cả một ngọn dáo, phải nhiều người nâng khi xuyên lình)

Vì thế tại đền Kiếp Bạc vào tháng 8, có rất nhiều khách không theo Tam Phủ cũng hiếu kỳ đi dự lễ.

Lễ hội tại đền Kiếp Bạc có thể nói còn long trọng hơn tại Phủ Giầy (như đã nói, Phủ Giầy thờ Tam Tòa Thánh Mẫu theo Tứ Phủ) cũng những nghi thức tế yết, tế chánh và tế tạ. Cũng cờ lọng, nhạc bát âm, cũng rước kiệu với từng đoàn thanh nam thanh nữ hộ giá tung hoa, rồi những người đóng các giá bên Tam, Tứ Phủ theo sau …

ĐỨC TỔ CHỬ ĐỒNG TỬ

Nói về Đức tổ Chử Đồng Tử, chúng ta không ai là không đọc qua sách bậc tiểu học về câu chuyện một thanh niên nghèo không có đến chiếc khố mang thân lấy được Tiên Dung công chúa. Chử Đồng Tử được dân gian thờ phụng là một vị thánh bất tử của dân tộc.

Ngàn đời từ thuở vua Hùng dựng nước, đến đời vua Hùng Vương thứ 3, ngài có người con gái là Tiên Dung công chúa sắc đẹp tuyệt trần, năm lên mười sáu Tiên Dung đã thích đi đây đi đó ngắm các danh thắng của đất nước mà chẳng màng lấy chồng dù vua cha rất muốn chọn phò mã cho nàng.

Thời đó ở làng Chử Gia (nay thuộc huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên) có gia đình ông Chử Cù Vân mất vợ một mình ở vậy nuôi con tên Chử Đồng Tử. Chẳng may một ngày nọ nhà lại bị cháy, hai cha con chỉ còn độc nhất một cái khố, nên ai đi đâu mới lấy khố mặc mà đi.

Khi ông Chử Cù Vân sắp mất , ông kêu Chử Đồng Tử mà nói :

- Nếu cha chết đi, con giữ lấy cái khố mà mặc.

Nói xong ông qua đời, Chử Đồng Tử thương cha khi mất mà không có cái khố che thân, nên chàng không nghe lời cha dặn lúc lâm chung, lấy cái khố độc nhất ấy quấn cho cha mà chôn cất. Còn chàng trần truồng, đêm ở trong chòi lá ngày ngâm mình dưới nước mò cua bắt ốc hay lưới cá bán lại cho các ghe thuyền đi qua.

Khi công chúa Tiên Dung đi chơi ngoạn cảnh đến bến sông nơi Chử Đồng Tử thường ngâm mình dưới nước. Là công chúa nên đi đến đâu cũng có tiền hô hậu ủng, chiêng trống cờ xí rợp trời, lính tráng tùy tùng hộ tống đông đảo. Chử Đồng Tử thấy thế sợ hải, liền chạy vào cồn cát mà vùi mình trốn. Than ôi, cũng chính chỗ này, công chúa Tiên Dung ra lệnh cho các tì nữ kéo màn che chắn cho nàng tắm.

Làn nước sông trong xanh mát rượi, Tiên Dung dội nước mà tắm liên tục khiến cát ở cồn cứ trôi đi, để lộ ra một chàng trai trẻ cường tráng không mảnh vải che thân. Còn công chúa đang độ trăng tròn, cũng đã thoát y để tắm, lộ ra một thân hình tuổi xuân phơi phới.

Công chúa nhìn thấy Chử Đồng Tử với tư thế trần truồng, nàng quá xấu hổ, nhưng cũng kịp hỏi rằng :

- Người là ai ? Sao lại ở nơi đây ?!

Chử Đồng Tử thành thật kể lại cuộc đời cơ hàn của mình cho công chúa Tiên Dung nghe. Công chúa nghe xong rất cảm động thương cảm cho Chử Đồng Tử, nàng nói :

- Ta nguyện sẽ không lấy chồng, nhưng hôm nay gặp chàng một cách tình cờ như thế này, âu là Nguyệt Lão đã se duyên cho hai chúng ta.

Đoạn sai tì nữ lấy quần áo đưa cho Chử Đồng Tử mặc vào rồi mời chàng lên trại mở tiệc chiêu đãi. Chử Đồng Tử được Tiên Dung ngỏ lời kết tóc se duyên, chàng nghỉ đến thân thế nghèo hèn của mình mà từ chối. Tiên Dung nói :

- Đây là ý trời sao chàng lại dám cãi lại ?

Chử Đồng Tử được công chúa thuyết phục, nên chàng chấp nhận cuộc hôn nhân.

Vua Hùng Vương nghe tin, ngài nổi trận lôi đình, nhất quyết không bằng lòng cuộc hôn nhân này. Nhà vua cho rằng Tiên Dung là công chúa là lá ngọc cành vàng lại chấp nhận lấy kẻ cùng đinh, không môn đăng hộ đối, thứ bậc trong xã hội quá chênh lệch.

 Tiên Dung hay tin dữ từ ý vua cha, nàng sợ quá cùng Chử Đồng Tử không dám trở về triều đình, cả hai đi trốn ở một thị trấn xa kinh thành, cùng nhau buôn bán qua ngày. Thị trấn ấy ngày càng đông dân, kẻ buôn người bán tấp nập, ai ai trong vùng cũng đều xem Tiên Dung là người đứng đầu trong vùng, và họ đặt tên nơi chốn ấy là chợ Thám (nay là chợ Đa Hòa).

Ngày nọ có người khách buôn đến khuyên Chử Đồng Tử nên đi xa làng để học thêm cách buôn bán. Tiên Dung cho là phải, nàng khuyên chồng nên đi xa học hỏi một thời gian rồi trở về.

Chử Đồng Tử ra đi, khi đến núi Quỳnh Lãng, chàng mãi mê ngắm cảnh đẹp nên đi đến một cái am nhỏ trên đỉnh núi lúc nào không hay. Ở đấy có đạo sĩ tên Phật Quang đang ngồi thiền, thấy chàng có dáng người tiên cốt, ông bảo sẽ truyền dạy cho Chử Đồng Tử học được phép tiên, chàng chấp nhận ở lại học đạo suốt cả năm trời. Trước khi xuống núi, đạo sĩ trao cho Chử Đồng Tử một cái gậy và một cái nón  nói rằng :

- Những quyền phép mầu nhiệm mà con đã học đều ở cả hai vật này. Nhưng con nhớ rằng, con chỉ dùng nó vào việc cứu nhân độ thế mà thôi.

Chử Đồng Tử vâng lời, chàng đi nhanh về quê nhà gặp lại Tiên Dung. Chàng truyền lại đạo pháp cho vợ cùng học, rồi cả hai bỏ làng xóm ra đi để cứu đời.

Khi đến địa đầu một vùng nọ (sau này người ta cho rằng nơi đó là ở địa phận Đông An, tỉnh Hải Hưng) Tiên Dung nhìn thấy một người con gái tuổi độ 18 có nhan sắc tuyệt đẹp, liền hỏi Chử Đồng Tử :

- Chàng có muốn lấy nàng kia làm thiếp không ?

Chử Đồng Tử mĩm cười như ngầm đồng ý, tức thì Tiên Dung tiến đến bên cô gái mà hỏi :

- Nàng là người trần tục hay là tiên ? Đức lang quân ta muốn lấy nàng làm thiếp. Ta vốn là công chúa Tiên Dung con vua Hùng đời thứ ba, nhưng cùng nàng làm chị em chắc là vui lắm.

Cô gái đáp :

- Tôi là tiên nữ Tây cung, đi xuống trần thưởng ngoạn gặp người, âu đây cũng do số trời định. Người cứ gọi tôi là Tây Sa.

Nói xong Tiên Dung và nàng Tây Sa kết làm chị em, đến chỗ Chử Đồng Tử làm lễ kết giao. Rồi ba người mở tiệc ăn mừng là người một nhà.

Lúc đó ở thôn ấp vùng này đang có dịch bịnh làm chết rất nhiều người, Chử Đồng Tử liền dùng gậy chỉ vào những người đã chết họ đều sống lại, còn Tây Sa lấy tờ giấy vàng viết chữ đỏ lên đấy, đốt lên rồi dùng tàn cho người bị bịnh uống, ai cũng hết bịnh. Ai nấy mừng rở kéo ra đầu làng bái tạ gia đình Chử Đồng Tử, chàng cảm động trước chân tình của mọi người, lại dùng gậy thần, nón thần hóa phép ra ngôi đình thật to và dặn mọi người lo nhang đèn trà quả sớm hôm, làng sẽ tai qua nạn khỏi làm ăn thịnh vượng.

Ba người đi qua các vùng mà ngày nay có tên là Kim Động, Tiên Lữ. Chử Đồng Tử đều hóa phép ra nhà cửa, đình, miếu cho người dân có nơi thờ phụng các vị nhiên thần.

Họ đi mãi cho đến một nơi thì trời đã chiều tối. Chữ Đồng Tử liền cùng nhị vị phu nhân ở lại đấy nghỉ ngơi định sáng sẽ đi tiếp, chàng cắm chiếc gậy chống nón lên để tạm nghỉ, ngờ đâu Chử Đồng Tử thấy hiện ra một tòa lâu đài lộng lẫy, tường dát vàng, đồ vật là những trân châu cẩm thạch quý giá, và hơn nữa trong lâu đài có cả lính lệ đứng chầu, và người hầu kẻ hạ đông vô số kể.

Sáng dậy, dân trong vùng cũng ngạc nhiên không kém khi thấy một tòa lâu đài tráng lệ xuất hiện, họ cùng nhau đến mừng cho vợ chồng Chử Đồng Tử.

Vua Hùng Vương nghe tin, ngài cho rằng vợ chồng Tiên Dung xây lâu đài như thế chắc muốn làm loạn, nên sai quân đi đánh. Các lính lệ trong lâu đài xin ra nghinh chiến, nhưng Tiên Dung phán rằng :

- Mọi việc đều do ý trời, vợ chồng ta có gây ra đâu, và ta làm sao dám chống với vua cha. Nếu ý trời muốn vợ chồng ta chết thì chúng ta sẽ chết, còn bằng không trời đất sẽ sắp đặt lại hết.

Binh lính của vua Hùng đến trước tòa lâu đài Chử Đồng Tử thì gần nửa đêm, đành hạ trại. Khi đến canh ba, bổng nhiên trời đất nổi lên một trận cuồng phong, chỉ trong phút chốc người vật và lâu đài vợ chồng Chử Đồng Tử đều bay lên trời. Và chỗ này chỉ còn là bãi đất trơ trọi giữa đầm lầy mênh mông. Mọi người đặt cho nơi đây cái tên là bãi Tự Nhiên và tên đầm là Nhất Dạ (hay Dạ Trạch), nay bãi đất và đầm thuộc xã Tự Nhiên huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây.

Khi cả ba người về trời, vua Hùng Vương mới vỡ ra họ là những thần tiên giáng thế cứu người, liền sắc phong cho Chử Đồng Tử là “Chử Đồng Tử Đại Vương Chí Thánh” còn nhị vị phu nhân là :

- Với công chúa Tiên Dung là “Tiên Dung công chúa thượng đẳng thiên tiên tôn thần”

- Với tiên nữ Tây Sa là “Nội trạch Tây cung công chúa huyền diệu tôn thần”.

Câu chuyện về Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân buổi sơ khai đã có những chuyện linh thiêng như thế, những đời sau càng có những chuyện kỳ bí hơn :

- Vào đời Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương 549 – 570) lấy đầm Dạ Trạch làm căn cứ chống quân Lương. Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân đã hiển thánh, từ trời cao cả ba xuống trần hổ trợ cho Triệu Quang Phục, vì ở đầm này vị tướng họ Triệu đánh mãi mà quân Lương không lui, nên sau khi Triệu Quang Phục thắp nhang cầu xin trời đất phù hộ cho ông đánh thắng giặc Lương ra khỏi bờ cõi đất Vạn Xuân. Quả nhiên sau đó Triệu Quang Phục đánh đâu thắng đó, năm 550 thu lại đất Long Biên khỏi tay nhà Lương. Và lên ngôi vua xưng hiệu Triệu Việt Vương.

- Một truyền thuyết khác kể về sự linh thiêng của Thánh tổ Chử Đồng Tử là, khi giặc Minh xâm lược nước (1414 – 1427), lúc ấy Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản quyết tâm đi tìm minh chúa để phò vua giải phóng ách đô hộ của giặc Minh. Hai người đến đền thờ Chử Đồng Tử để cầu mộng. Trong mộng, Nguyễn Trãi thấy một tiên nữ nhan sắc tuyệt trần xưng là công chúa Tiên Dung, phu nhân của Thánh tổ Chử Đồng Tử, đang ở trên thượng giới để họp bàn cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế thì nghe ở nhà có khách quý đến cầu xin, liền bỏ về trần. Cũng trong mộng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản thưa rằng đất Đại Việt đang loạn lạc, nhân dân lầm than bởi giặc Minh xâm chiếm đặt ách cai trị hà khắc, xin Thánh tổ ra tay cứu độ chúng sanh.

Nghe kể xong, Tiên Dung báo mộng rằng :

- Ở đất Lam Sơn (Thanh Hóa ngày nay) có người anh hùng áo vải tên Lê Lợi đang phất cờ khởi nghĩa chống Minh, nên tụ hội về đây, trời đã định Lê Lợi sẽ lên ngôi vua.

Nghe công chúa Tiên Dung báo mộng, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hản về Lam Sơn tụ nghĩa. Năm 1418, Lê Lợi xưng Bình Định Vương và khởi nghĩa chống quân Minh ròng rã 10 năm (1418 – 1427) mới giành được độc lập dân tộc. Lên ngôi vua lấy tên Lê Thái Tổ (1428 – 1433).

Do sự linh ứng của đền thờ Chử Đồng Tử nên Nguyễn Trãi có ghi bài văn cầu mộng của mình để lại tại nhà từ đường họ Nguyễn tại Thanh Hóa.

Việc tôn thờ Chử Đồng Tử là Thánh bất tử (một trong tứ thánh bất tử trong dân gian nước ta) đã đi sâu vào tâm thức người dân và trường tồn từ trước công nguyên đến nay.

Thiên Việt (trích sách Lễ tục dân gian đã xuất bản)

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 152 other followers

%d bloggers like this: